Đối chiếu sứ điệp truyện Hồng Bàng Thị
với sứ điệp của nền văn hóa khác
I. Nét chính yếu của truyện Hồnng Bàng Thị của Vũ Quỳnh trong tác phẩm Lĩnh Nam Chích Quái (1492)
Truyện Hồng Bàng Thị của
Vũ Quỳnh có thể được xem là Bản Kinh tóm lược những trục giác về nhân tính linh
thiêng làm nên Văn Hiến, nghĩa là làm giềng mối suy tư và đạo lý của người Việt
Nam.
Qua các âm hưởng thi ca của
câu truyển, trong không qua 2 trang gấy A4, Truyện Hồng Bàng Thị gợi lên
những trục giác nền tảng làm nên hồn của Minh Triết Việt Nam :
- Hồng Bàng Thị (Hồng là
lớn ; Bàng là rộng khắp, Thị là dân tộc, là họ của ai làm người hay cộng đồng
con người . Thaénh ngũ đó nhằm chỉ tính con người phổ quát, vượt qua những ranh
giới cá nhân, gia đình, sắc tộc hay quốc gia ….). Trực giác ấy đưa
bản văn lên hàng những Kinh Sách Minh Triết của nhân loại trong bất cứ nền văn
hóa nào.
- Nhân tính là kết tinh bởi
tương giao thần thánh giữa Lạc Long Quân: (Lạc là niềm vui, thỏa thích, tha thường
gọi là Mỹ ; Long biểu thị sự cao quí, siêu việt, ta thường gọi là Chân ; Quân
là điều hành, dẫn dắt, ta thường gọi là Thiện) và Âu Cơ là thân,phận con
người nơi dương thế (Âu là lo, là nhớ Ai ; Cơ là tính toán làm một việc gì). Do
bởi mối tương giao thần thánh nầy, con người được sinh ra, được định nghĩa, như
là những sinh vật khác thường, linh thiêng, vượt lên vũ trụ và những định luật
tụ nhiên mà con người hiểu biết và có thể chế ngự. Nhân tính linh ư vạn vật ấy
được diễn tả qua ba đặc tính : * Một là đươc hình thành do giao thoa giữa
thần (Lạc Long Quân) và người (Âu Cơ) trong Một Năm (biểu thị của Thời viên
mãn) và tại Long Trang (Vùng Đất của Thần thánh). Nhân tính ấy cao cả vì đạt đến
mức hoàn bị (hoàn thành sau bảy ngày : số bảy là biểu tượng đạt mức thần linh=
thất hóa). * Hai là mối tương giao không thể tách rời giữa những con người với
nhau, tương giao phát xuất từ mối tương giao căn nguyên Lạc Long Quân- Âu Cơ.
Và đồng thời con người là bình đẳng vì cũng phát sinh do cùng một mối tương
giao nầy : Bọc trứng 100 con biểu thị cho nét cao cả của con người qua
tên gọi là đồng bào. * Ba là yếu tính linh thiêng, thần thánh của nhân tính qua
việc mô tả những con người đồng bào ấy : họ không ăn không uống mà vẫn lớn mạnh.
- Hiện sinh con người được
định nghĩa qua nhiều hình ảnh. * Một là cuộc chiến làm người, cuộc chiến phi
thường làm nên đạo lý và con đường hoàn thành nhân tính, cuộc chiến biểu thị
qua thân phận Âu Cơ : Âu Cơ biểu thị cho sư yếu đuối căn nguyên của hiện sinh bị
điều ác khống chế. Nàng là vợ Đế Lai, một sức mạnh, một ham muốn chỉ lo cho
mình và ham mê của cải … mà vứt bỏ Kẻ khác và những người khác. Nhưng Âu
Cơ cũng là hiện thân của tương giao gắn bó với Lạc Long Quân. * Hai là trong cuộc
chiến làm người giửa hai tương giao, hoặc theo và nhớ Đế Lai hoặc theo và nhớ Lạc
Long Quân, Âu Cơ lại nhớ Đế Lai vì Lạc Long Quân lại thường khuất mật, ẩn
kín trong cuộc sống dương thế của nàng. Âu Cơ thật sự có thể phạm lỗi và đã phạm
lỗi vì bỏ mất tương giao thần thánh với Lạc Long Quân. * Ba là vấn đề tiếng nói
lương tâm : Hoàng Đế chận Âu Cơ không cho nàng về Bắc gặp Đế Lai : Hoàng Đế có
nghĩa là Nền Vàng. Vàng là màu của Thổ, là Trung Cung trong Ngũ Hành, nói lên mối
tương giao vương giả Trời-Người cư ngụ trong tâm hồn con người. Hoàng Đế là ĐạoTâm,
là tiếng nói lương tri ngăn chận con người làm điều ác. * Bốn là Đạo Tâm, Trong
Âu-Cơ, trong hiện sinh con người bị giằng co giữa Thiện và Ác mà con người, tự
căn nguyên đều có thể, Lạc Long Quân đến và hứa với con người con đường hành đạo
và giải thoát : Lạc Long Quân nhắn với Âu Cơ và con cái nàng phải luôn ở trong
tương giao với Ông (Chồng và Cha) qua Nỗi Nhớ ghi khắc nơi Tương Dạ : Tương là
cùng nhau, Dạ gợi lên hai ý niệm, lòng người và cũng là ban đêm hoặc là ẩn kín.
Nói theo cách khác Nỗi Nhớ ghi khắc nơi Tương Dạ là sức mạnh linh thiêng
đưa con người ra khỏi sự chết của cao ngạo, cô đơn, ngã chấp… nói tóm là sự Ác,
và thúc đẩy con người gặp Kẻ Khác, Đấng Siêu Việt, Đấng Tối Cao mà con người
không thể thấy, không thể biết được, nhưng cư ngụ ngay nơi Tâm sâu kín của
mình, từ đó con người mới có thể gắn bó thương yêu nhau, tôn trọng phẩm giá tự
do và siêu việt cao cả của mỗi người.
II. Đối chiếu sứ điệp
Truyện Hồng Bàng Thị với sứ điệp thiết yếu của các nền văn hóa khác
• Hy lạp (thế kỷ
-V)
Socrate : ἄνθρωπον σοφία,
Minh Triết là Học Làm Người. (x. Platon, Đt. Biện hộ Socrate)
Nhân sinh là xung đột giữa
hai mối tương giao đối nghịch : tương giao Thần-Người làm nên nhân tính trong sấm
ngôn « người ơi, hãy sống nhân tính của mình » và nhân tính cô đơn, tư mãn
trong châm ngôn triết học « tự mình biết mình » (x. x. Platon, Đt.
Charmide)
Eschyle và Sophocle . Thần
lưc ban sư sống cho nhân tính là tương giao giữ người và Kẻ Khác : hôn nhân giữa
người và Đấng Siêu Việt (Γάμος μεγίστος).
Nhân sinh là xung đột phi
thường ( Ἀπόλεμος ὅδε γ᾽ ὁ πόλεμος) giữa hai mối tương giao đối nghịch :
tương giao giữa người và Đấng Siêu Việt và tương quan ta với ta = ta làm nên ta
: cao ngạo, tự mãn. (x. Prométhée bị trói của Eschyle và Œdipe Vua của
Sophocle)
• Phật học (thế kỷ
-VI): Bụt là Người gặp (Ngộ Duyên) Ánh Sáng bờ bên kia soi dẫn và ban sư sống.
Nhân sinh chân thật là Con Đường diệt Dục (ta muốn thân ta, và không biết Ai Khác), - là đón nhận Ánh Sáng từ bờ bên kia soi dẫn và ban sư sống, nối kết với Siêu Việt và tha nhân, - là vượt qua chấp ngã, cô đơn, tự mình ham muốn chính mình thôi, để lên đường gặp Kẻ Khác và gần với người khác (2 con đường tiếp cận nhân tính của Hoàng Tử Tất Đạt Đa).
• Lão học (thế kỷ
-VI): Đạo khả đạo phi Thường Đạo ; Danh khả danh phi Thường Danh (ch. I,
Đạo Đức Kinh)
Đạo mà con người tụ mình
làm ra, không phải Đạo làm người. Tên (ý nghĩa nhân tính)mà con người tư gọi, tự
định nghĩa cho mình, không phải là lý lịch thật sự của con người.
Huyền chi hựu huyền ;
chúng diệu chi môn. (ch. I, Đạo Đức Kinh)
Phải làm tối, hay xóa bỏ tụ mãn, để đi vào mầu nhiệm cao siêu khôn dò của nhân tính.
• Nho học (thế kỷ -VI): Nhân tâm duy nguy, Đạo Tâm duy vi, doãn chấp quyết Trung (Kinh Thư) ; An thổ, đôn hồ Nhân ; cố năng Ái. (Kinh Dịch) ; Chữ Nhân (仁) , chữ Vương (王) trong Vương Đạo hình dung mối tương giao giữa con người với Siêu Việt và tha nhân.
• Thánh kinh Do thái-kitô giáo
Nhân tính là Hơi Thở, là
Lửa từ Thiên Chúa Siêu Việt thổi vào con người. Nhân tính là tương giao linh động,
là giao ước nối kết con người với Thiên Chúa Siêu Việt.
Với Kitô giáo, Người toàn
vẹn và chân thật là Đức Giêsu Kitô, Đấng sinh ra từ Hơi Thở của Thiên Chúa và sự
ưng thuận của Người Nữ Maria.
Trái ngược với Người chân
thật là Người cao ngạo, tự mãn, tự định nghĩa nhân tính mình do ước muốn riêng,
tài trí riêng của mình, đẩy Thiên Chúa và kẻ khác ra ngoài mối tương giao
làm nên nhân tính.
Trong đoạn Phúc Âm tường
thuật cuộc tử nạn Chúa Giêsu, Thánh sử Gioan chỉ rõ Đức Giêsu Kitô là Người, là
Sự Thật.
«Sự thật là gì?»
Gioan, 18,38
«Nầy là Người» Gioan,
19,5
Trong cuộc sống làm Người
nơi dương thế, ý nghĩa toàn vẹn (hoàn tất) của Người đó được diễn tả là nỗi
khát khao, nỗi NHỚ Thiên Chúa Siêu Việt.
«Ta khát» Gioan,
19, 28
«Mọi sự hoàn thành»
Gioan, 19,30.
27/9/2017
Nguyễn Đăng Trúc
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét