Tiếp cận tư tưởng Việt Nam: Tư tưởng Nguyễn Du qua Đoạn Trường Tân Thanh
Tiếp cận Tư tưởng Việt
Nam
Quyển 2
Tư tưởng Nguyễn Du
qua Đoạn Trường Tân
Thanh
Định Hướng Tùng Thư
Trung Tâm Nguyễn Trường Tộ
Tái bản 2004
Mục Lục
Tư tưởng Nguyễn Du Trong
Đoạn Trường Tân Thanh
Chương
I Vấn đề quốc học và tác phẩm ĐTTT
Chương
II Hệ thống tư tưởng trong ĐTTT
II.1- Từ nhan đề của tập
thơ
II.2 - Từ bố cục tổng
quát tác phẩm
Chương III
Phân tích bản văn ĐTTT
III.1- Phần dẫn nhập
Xây dựng nền tảng của tư
tưởng
a. Chủ đề của tác phẩm
b. Những điểm nổi bật
trong sáu câu thơ mở đầu
c. Cảm thức về hữu hạn
tính
d. Chữ Tài chữ Mệnh khéo
là ghét nhau
III.2 - Câu truyện Kiều
Kiều thân phận con người
a. Những chỉ dẫn cần thiết
để đi vào việc phân tích tư tưởng truyện Kiều
b. Nội dung của tượng
trưng nhân vật Kiều
III.3 - Cõi người ta là
cuộc chiến Tài-Mệnh
a. Hữu tình ta lại gặp ta
b. Tính và Tình
c. Trời xa
d. Cuộc phiêu lưu lịch sử
và các nổ lực giải phóng
e. Chân trời của hy vọng,
thời chung mãn
III.4 - Phần Tổng Luận
Trời và Người, Thiện-căn
và Tâm
a. Ngẫm hay muôn sự tại
Trời
b. Tài và Tâm
Chương IV Yếu
tính của tư tưởng qua tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh
Phụ
chú Chữ Trời trong ĐTTT
Tài liệu tham khảo
Chương I
Vấn đề quốc học và tác phẩm
Đoạn Trường Tân Thanh
Học giả Dương Quảng Hàm,
trong cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu[1], ở phần tổng kết về lịch sử văn học đã
đưa ra nhận định tiêu cực về một nền quốc học độc đáo của dân tộc Việt Nam như
sau:
"Những tác phẩm về
triết học đã hiếm phần nhiều lại là những sách chú giải, phu diễn (như
Tứ thư thuyết ước của Chu An, Dịch kinh phu thuyết và Thư kinh diễn nghĩa của
Lê Quý Đôn, Hy kinh trắc lãi của Phạm Đình Hổ), chứ không có sách nào là
cái kết quả của tư tưởng độc lập, của công sáng tạo đặc sắc cả.
Bởi thế, nếu xét về mặt
triết học, thì ta phải nhận rằng nước ta không có quốc học, nghĩa là cái học đặc
biệt, bản ngã của dân tộc ta".
Và khi dành một chương
riêng để khảo sát về truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du [2], tác giả họ Dương đã đánh giá
tư tưởng của truyện ấy qua câu mở đề rất ngắn ở mục Triết lý truyện Kiều
như sau:
"Cái triết lý
trong truyện Kiều là mượn ở Phật giáo" [3] .
Tiếp theo mục nầy, là mục
nói đến Luân lý truyện Kiều, một đề tài thường được nêu lên nhiều
hơn cả trong các công trình nghiên cứu về giá trị của tác phẩm nầy.
Các nhận định trên đây của
học giả Dương Quảng Hàm có thể xem là tiêu biểu cho hướng
nghiên cứu của phần lớn các công trình khảo sát tư tưởng Truyện Kiều thường
được nhắc đến, dù mỗi tác giả nêu lên những lập luận khác nhau để xét xem triết
lý trong truyện là mượn từ Phật giáo hay Nho giáo, đôi lúc còn đối chiếu với cả
quan điểm đấu tranh giai cấp theo biện chứng duy vật về lịch sử.
Sự kiện trong kho tàng
văn học Việt Nam không có những tác phẩm với lối trình bày có hệ thống mạch lạc
và với lối văn đặc loại để diễn đạt tư tưởng như ở trong truyền thống văn hoá
Trung hoa, Ấn độ, Hy lạp...là một sự kiện khách quan [4]. Nhưng qui chiếu vào phương cách diễn tả
đặc loại nầy, để đi đến kết luận "rằng nước ta không có quốc học",
nghĩa là không có một lối tư tưởng điều hành cuộc sống con người, phải chăng học
giả họ Dương đã lẫn lộn giữa nội dung và hình thức? hoặc nói cách khác giữa tư
tưởng và một phương cách để diễn đạt tư tưởng?
Thứ đến, việc đối chiếu
văn học nước ta vào các truyền thống văn hoá phải chăng đòi hỏi trước
tiên có một sự phân tích chính các bản văn để khai phá nét tinh túy của
chúng trước khi đi tìm những ảnh hưởng, có thể rất đa biệt, chi phối một tác phẩm.
Trong trường hợp truyện Kiều của Nguyễn Du, vấn đề khảo sát về
văn hoá, tư tưởng Việt Nam xuyên qua tác phẩm nầy lại khó khăn hơn nữa. Đây là
một tác phẩm chuyển dịch từ một áng văn của Văn học Trung hoa, mà nội dung câu
truyện hầu như sao y lại bản gốc [5], như thế đào sâu tư tưởng nơi truyện Kiều
của Nguyễn Du phải chăng cũng chỉ là làm công việc khảo sát tư tưởng của văn
hoá Trung hoa xuyên qua bản chuyển dịch nầy? Nếu có chăng một vài nét đặc biệt,
thì dường như được xem là chỉ nằm trong khuôn khổ tài năng và kỹ thuật văn
chương, như nhận xét sau đây của Dương Quảng Hàm:
"Tác phẩm của ông
thật có phần sáng tạo đặc sắc: ông sắp xếp nhiều việc một cách khác để cho hợp
lý hơn hoặc để tránh sự trùng điệp; ông thay đổi nhiều điều tiểu tiết để tả cảnh
ngộ hoặc tình hình các vai trong truyện một cách rõ rệt hơn; ông lại bỏ đi nhiều
chỗ thô tục (như đoạn kể rõ "vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề")
và nhiều đoạn rườm, thừa, không bổ ích cho sự kết cấu câu chuyện" [6].
Gần đây, học giả Hán
Chương Vũ Đình Trác, trong luận án Triết học "Triết lý nhân bản Nguyễn
Du" đã nêu lên "những dị biệt gốc rễ" giữa hai tác phẩm
Việt Hoa để cho thấy nét cá biệt về mặt tư tưởng của nhà văn hoá Việt Nam; và
tác giả luận án nầy đã đưa ra mười bảy (17) điểm quan trọng [7]. Và ở một nơi khác trong luận văn, học giả
họ Vũ đã dựa vào những nét đặc sắc riêng của tư tưởng Nguyễn Du trong truyện kiều
để nhận xét rằng:
"Nguyễn Du đã chắt lọc
hết tâm can với những tinh tuý của tâm hồn Việt Nam, để xây dựng tác phẩm nầy" [8].
Với chủ để "Triết
lý nhân bản" và với công trình đối chiếu hai bản văn, học giả họ Vũ đã
minh chứng có một lối tư tưởng riêng kết tụ những nét tinh túy của tâm
hồn Việt Nam qua nổ lực sáng tác độc đáo khi chuyển dịch bản văn Trung
hoa qua các vần thơ nôm. Ít nhất, với công trình nghiên cứu nầy và một số các
tác phẩm tương tự, ta thấy câu nói quá dứt khoát và tiêu cực của học giả họ
Dương cho rằng: "nước ta không có quốc học" cần phải xét lại.
Học giả Dương Quảng Hàm đã nhận xét là nước ta không có quốc học. Và nhận xét
đó hàm ngụ tiên kiến về một sự am tường về nội dung chữ học và
phương thức sinh hoạt của nó. Ở đây chúng ta đóng ngoặc những tiêu chuẩn do các
truyền thống, thường được xem như đã là đương nhiên, để dặt vấn đề lại từ căn
cơ nội dung chữ "học".
Chữ "quốc học"
được học giả họ Dương nói đến đây nằm trong khung của một loại tư duy đặc biệt
gọi là triết học:
"Nếu xét về mặt
triết học, thì ta phải nhận rằng nước ta không có quốc học" [9].
Khi đưa quốc học vào mấu
móc triết học để định giá, thì hẳn chữ triết học đó phải mặc nhiên được xem là
thiết yếu cho văn hóa. Và chữ học đi kèm chữ quốc học và triết
học phải được hiểu là sinh lực của nền văn hóa đó.
Triết học, từ ngữ đó được
dùng xuyên qua lối chuyển dịch của người Trung hoa khi cập nhật truyền thống tư
tưởng Tây phương. Từ nguyên tự tiếng Tây phương, đến cách hiểu của các nhà dịch
thuật Trung hoa, và việc lấy lại từ ngữ hán-việt nầy của người Việt chúng ta, mọi
người đều chân nhận tầm quan trọng thiết yếu của nội dung hàm ngụ trong từ ngữ ấy;
nó đã được xem là một qui ước phổ quát để gợi lên ý thức về phần cốt lõi của một
nền văn hoá, mặc dù xuyên qua lịch sử của mỗi vùng, mỗi dân tộc, mỗi tác giả, mỗi
thời đại...nó được gọi bằng những từ ngữ khác nhau với những cách đặt vấn đề và
lối diễn tả khác nhau.
Trong cuộc sống thường
ngày của người Việt chúng ta, thay vì chữ học chúng ta thường
dùng chữ đạo để nêu lên những tiêu chuẩn nền tảng giải thích
giá trị, phê phán hành vi của mỗi người trong mỗi hoàn cảnh riêng: đạo
làm con, đạo vợ chồng, đạo làm dân, đạo trời đất, đạo Tâm... và âm hưởng nầy
cũng hiện diện trong các phương thức biểu lộ có tính cách văn chương, bình dân
hay bác học qua các thế kỷ.
Nhưng chữ triết học, lại
đòi hỏi một tiến trình hình thành phát triển có tính cách đặc biệt. Ta thường gọi
là "học", hàm ngụ những nổ lực suy tư sâu hơn, rộng hơn để tìm
ra một nhất quán, nối kết những yếu tố rời rạc vào một nền tảng chung. Phương
thức diễn đạt, liên hệ đến tầm vóc của lối suy tư nầy, đòi hỏi một nhất thống,
nối kết từng sự kiện vào một nền tảng duy nhất.
Một cách hậu thiên, qua nếp
sống của dân tộc, chúng ta đã chứng nghiệm được rằng có một sự nhất quán như thế
trong nội dung, và một hiện tượng qui chiếu từng hoàn cảnh riêng lẽ của sinh hoạt
con người vào một số trực giác nền tảng. Và lối "triết học" bất
thành văn nầy rất độc đáo khi đưa nếp sống của người Việt chúng ta đối chiếu với
cách suy tư và sinh hoạt của các dân tộc khác.
Nhưng về mặt văn học,
nghĩa là toàn bộ những sáng tác văn chương, thành văn cũng như văn chương truyền
khẩu, phải nhận một cách khách quan, phương thức diễn đạt có tầm vóc sâu rộng
đó rất hiếm hoi.
Chúng tôi đã khám phá được
công trình đầu tiên về lối suy tư như thế, được viết thành văn, qua tác phẩm Lĩnh
Nam Chích Quái, được Vũ Quỳnh hiệu chính lại một cách qui mô trong quyển I
của sách nầy [10] .
Ở đây chúng ta đặt vấn đề
xem tác phẩm Đọan Trường Tân Thanh có phải là một tác phẩm văn
học, phản ảnh những yêu sách về suy tư triết học (theo nghĩa chung của nó) hay
không?
- Trước hết về
mặt nội dung, chúng ta đã thấy phương thức cập nhật vấn đề tư tưởng một
cách rốt ráo, qua việc nêu lên chủ đề của tác phẩm đến ngọn nguồn là thân
phận con người nói chung.
Đến đây nhiều người sẽ
nêu lên vấn đề:
Căn cơ của truyền thống
triết học Tây phương (mà chúng ta gián tiếp vay mượn ngôn ngữ đó) đòi hỏi phải
đi đến một vấn đề rốt ráo hơn nữa, đó là vấn đề hữu thể tổng
quát, nghĩa là đào sâu nền tảng chung không những để đặt nền tảng cho cuộc sống
con người, mà còn truy nguyên về bản tính vũ trụ và thần thánh (Thượng-đế). Hệ
luận, là truyền thống đó đã thiết định được các bộ môn học về vũ trụ (khoa học
thiên nhiên), con người (khoa học nhân văn) và Thượng-đế (thần học) [11]
Phải chăng quan niệm nầy
có lẽ ảnh hưởng nhiều đến đường hướng nghiên cứu của Dương Quảng Hàm, khi tác
giả nhận định rằng "dân tộc ta không có quốc học"!
Thực ra phải chân nhận rằng
nhận thức đó là quan điểm phổ thông nhất trong quần chúng Tây phương cũng như
trong giới nghiên cứu văn học nước ta. Tuy nhiên quan điểm nầy chỉ là một
phương thức đặt vấn đề tư tưởng của một vùng văn hoá nhất định, dù nó
có nhiều ảnh hưởng nhất, đặc biệt đã đi vào truyền thống giáo dục của Tây
phương. Hơn nữa, về nội dung, sự kiện lấy thân phận con người "cõi người
ta" làm khung trời thiết yếu và duy nhất cho tư duy văn hoá đã là nét
độc đáo của nền văn hoá Việt Nam; nét độc đáo đó là một yếu tố tạo nên phần cốt
lõi của "quốc học", điều mà Dương Quảng Hàm chưa truy cứu.
- Về
phương diện diễn tả, tuy dùng lối văn thơ và dùng câu truyện Kiều để
gián tiếp trình bày các nội dung tư tưởng qua hình ảnh một câu truyện tiểu thuyết
tượng trưng, tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh đã có kết cấu mạch
lạc trong bố cục:
- phần mở đầu nêu lên chủ đề;
- thân bài dùng câu truyện để khai triển
các nội dung liên hệ;
- và kết luận đưa ra một hệ thống tư tưởng,
giải đáp những vấn đề nêu lên ở phần dẫn nhập.
[1] Dương
Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, xb lần thứ 1, tại Hà Nội, 1941, in lần
thứ 10, Sài gòn, 1968, tr. 458 do Bộ giáo dục, Trung tâm học liệu xb.
[2] Sđd,
chương thứ 18, các trang 377, 380, 38.
[3] Sđd,
tr. 380.
[4] Chúng
tôi đã có dịp nêu lên nhận định nầy trong cuốn "Văn Hiến, nền tảng của
minh triết", Định Hướng Tùng thư xb, Reichstett, Pháp, 1996, tr. 32.
[5] Xem
Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học sử yếu, tr. 378: "Khi ta so
sánh nguyên văn quyển Kim Vân Kiều truyện nầy (do tác giả hiệu là Thanh tâm tài
nhân) với nguyên văn truyện Kiều của Nguyễn Du thì ta thấy rằng đại cương tình
tiết hai quyển giống nhau: các việc chính, các vai nói đến trong truyện Kiều đều
có cả trong cuốn tiểu thuyết Tàu".
[6] Sdđ,
tr. 379.
[7] Xem
Hán Chương Vũ Đình Trác, Triết lý nhân bản Nguyễn Du, Hội
hữu xb, California 1993, các trang từ 269-279.
[8]
Sđd, tr. 301.
[9] Dương
Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, tr. 458.
[10] Xem
Nguyễn Đăng Trúc, Văn hiến nền tảng của Minh triết, Định Hướng
Tùng thư xb, Reichstett, 1996.
[11] Xem
A.G Baumgarten, Metaphysica, IIe éd (17430) ớ 2 "Ad
metaphysicam referentur ontologia, cosmologia, psychologia et theologia
naturalis".
tập I
vấn đề triết học
trong thời đại khoa học
Vấn đề triết học
Việt Nam có triết học hay
không? Câu hỏi nầy đặt ra cho chúng ta, tưởng chừng như triết học là một yếu tố
quan trọng cho sinh mệnh của dân tộc.
Nhưng lịch sử của nhân loại
vào cuối thế kỷ 20 đồng thời cho chúng ta có cảm tưởng lối đặt vấn đề như thế
xem ra phản động, lỗi thời.
Và đó là một vấn đề cống
hiến cho chúng ta suy tư.
Cuối thế kỷ 19, F.
Nietzsche khám phá rằng bước đi của triết học truyền thống khởi từ thời Socrate
của Hy-lạp đã dựa trên những nền tảng lung lay; tiến trình của triết học đó
không phải là sự sinh động của tư tưởng con người, nhưng là một giấc mơ liên lỉ
của những con người trốn chạy trước những thách đố đầy cam go của cuộc sống, vốn
là một bi kịch của Thiên nhiên. Nói cách khác càng hướng về tương lai, vận mệnh
của nhân loại chịu sự chi phối của lối tư tưởng triết học truyền thống sẽ đi dần
đến cảnh tiêu điều. Ông gọi tiến trình đó là "sa mạc lớn dần".
Trong tiền bán thế kỷ 20,
triết gia M. Heidegger dựa vào sự kiểm thảo về nền tảng triết học của Kant, xác
minh rằng hư vô chủ nghĩa mà F. Nietzsche nêu lên trong câu nói "Thượng
đế đã chết" đi liền với thắc mắc "Phải chăng chúng ta sẽ lạc
loài trong cõi hư vô bất định?" không phải chỉ là một chủ trương nói
ngược lại những nội dung tích cực về hữu thể của triết học truyền thống.
Nhưng
"hư vô chủ nghĩa
đúng hơn, nếu được suy tư ngay tự yếu tính của nó, là một vận hành nền tảng của
Lịch sử Tây phương. Nó mang một tầm quan trọng sâu xa đến độ tiến trình khai
triển nó chỉ có thể được đem lại những tai ương cho toàn thế giới. Hư vô chủ
nghĩa, trong lịch sử của thế giới, là một vận hành đẩy đưa các dân tộc trên
trái đất vào khối quyền lực của thời tân kỳ" [1].
Nói cách khác, các nhà tư
tưởng đã thấy rằng chuyển biến của lịch sử nhân loại được điều hành bởi lối triết
học truyền thống nầy sẽ đào thải chính sinh hoạt gọi là triết học, đồng thời
xoá luôn ý định nguyên thủy đồng hóa tư tưởng con người với lối suy tư triết học
đó. Vào thời kỳ mà Martin Heidegger nêu lên những nhận định trên, sinh hoạt triết
học đang phát triển cao độ, đặc biệt những năm sau cuộc đại chiến lần thứ
hai [2].
Cũng khoảng vào thời gian nầy, vào giữa thế kỷ 20, G. Gusdorf nhận định rõ hơn
về sự suy tàn hầu như tất yếu của triết học trong Thời tân kỳ của lịch sử nhân
loại đang diễn ra như sau:
" Sự phân
công trí thức càng ngày càng rõ nét giản lược nhà siêu hình học, không còn có một
lãnh vực rõ rệt nào để đối chiếu, vào vai trò đáng phiền của một chuyên gia về
các ý tưởng tổng quát. Mỗi một lãnh vực của hiểu biết chịu chi phối bởi sự hướng
dẫn của những kỹ thuật gia có khả năng chuyên môn, không chỉ giỏi nói mà còn hoạt
động hữu hiệu. Triết gia được đánh giá là một mẫu người không có tài năng
chuyên môn nào cả, lời nói ra không có một ý nghĩa gì thiết thực, nên vấn đề đặt
ra là có nên nuôi thêm một miệng ăn không mang lại lợi ích gì nữa hay không - Vấn
đề mà một vài chế độ chính trị đã có cách trả lời thoả đáng...Nhân loại ngày
nay đã trở nên trưởng thành, sở đắc những phương tiện mới để hiểu biết và hành
động. Siêu hình học từ nay chỉ là bộ xương khô đã bị chôn vùi từ một thời dĩ
vãng. Sự ngoan cố tồn tại có thể làm trở ngại cho sự tiến bộ cần thiết của văn
minh. Vấn đề là xem xét siêu hình học ngày nay có một ý nghĩa và một phần vụ
nào không? " [3].
Câu trả lời vào cuối thế
kỷ 20 dựa vào thực tế lịch sử, là "không".
Nói rằng
"không", không có nghĩa là bộ môn triết học không còn nằm trong các
chương trình học cấp trung và đại học ở các quốc gia, hay sách vở viết về triết
học không còn được xuất bản và lưu hành. Nhưng "không" ở đây có nghĩa
rằng vai trò mà triết học được truyền thống văn hóa Tây phương đánh giá như là
thắc mắc về nền tảng của tư tưởng và sinh hoạt con người thì ngày nay đã được
giải quyết bằng khoa học, tiêu chuẩn vững chắc để đánh giá chân lý. Triết học
bây giờ được xem là một bộ môn nghiên cứu về tiến trình kiến thức tiền khoa học,
hoặc là tổng số những giả thuyết thúc đẩy khoa học phát triển và sẽ được xác
minh lại dựa trên những tiêu chuẩn của chính khoa học.
Platon cho rằng điểm khởi
đầu và động lực thúc đẩy suy tư triết học là sự ngạc nhiên. Nhưng
tâm thức con người ngày nay đánh giá sự ngạc nhiên đó chẳng qua là tình cảm của
con người ở vào tình trạng chưa phát triển về sự hiểu biết khoa học. Jean Brun
nhận định về tâm thức phổ biến của con người văn minh ngày nay như sau:
" Các bộ môn
khoa học và thiên nhiên, các bộ môn khoa học về con người, các ngành khoa học về
kinh tế, các chủ thuyết triết học thực nghiệm, cũng như các chủ thuyết triết học
về lịch sử, muốn giải thoát chúng ta khỏi một sự ngạc nhiên được quan niệm như
là mặt trái của sự ngu muội, một dấu chứng của một tình trạng thiếu hiểu biết,
vướng mắc những hậu quả của tâm thức tiền luận lý " [4].
Như thế đặt vấn đề dân tộc
Việt Nam có hay không có triết học để làm gì? Chúng ta phải chăng đang sống
trong một xã hội nới rộng có tính cách toàn cầu, mà văn minh khoa học kỹ thuật
Tây phương được tiếp nhận như một tiến trình tiến hóa phổ quát, thế thì câu hỏi
có lẽ xem ra hữu lý và cấp thiết hơn cho sinh mệnh của dân tộc là "Dân
tộc Việt Nam đã có những tiến trình phát triển khoa học như thế nào",
thay vì đặt câu hỏi có tính cách xa xỉ về vấn đề triết học?
Trước thắc mắc nầy, có
người lại nêu lên, cũng rất tổng quát, rằng khoa học chỉ giải quyết vấn đề
"thành công", còn triết học là ưu tư cho vấn đề "thành
nhân".
Nhận định nầy buộc ta phải
đào sâu thêm về chính nội dung và nền tảng triết học.
Điều mà chúng ta gọi là
"thành nhân" cũng là điều mà triết học muốn tìm đến, dù chúng ta có
dùng chữ đó theo một nghĩa rộng rãi (như khi dùng chữ triết học
Đông phương, triết học Việt Nam) hay dùng theo nghĩa hẹp
đúng theo truyền thống trường ốc và lối suy tư đặc loại của Tây phương.
Vấn đề hiện nay làm ta ngạc
nhiên là tại sao còn tồn tại một nỗi nhớ nhung nào đó để thoáng thấy một sự
phân cách giữa "thành nhân" và "thành công", trong khi tiến
trình lịch sử được hướng dẫn bởi tư tưởng truyền thống triết học Tây phương chứng
thực là khoa học được nhìn nhận như là sự hoàn thành của triết học. Thắc mắc đó
phải chăng là vết tích của một quá trình lịch sử quá khứ mà một số người lạc hậu
chưa gột bỏ được để đồng hành với đà tiến hóa của nhân loại, hay đây chính là
triệu chứng con người giật mình trước lịch sử đang trên đà dẫn đưa nhân loại đến
sự hủy diệt nhân tính.
Trả lời câu thắc mắc đó
buộc ta quay lại xem giữa mục tiêu của triết học đặt ra ngay từ bước đầu và tiến
trình mà triết học đã thực hiện qua lịch sử có ăn khớp với nhau, hay từng gặp
phải những bước sẩy trật.
[1] M.
Heidegger, Chemins qui ne mènent nulle part, 1949, trad. Wolfgang
Brokmeier - Nlle, éd., Gallimard, 1962.
[2] Xem
câu nói của M. Heidegger trong Qu'appelle-t-on penser? 1954
"có ai ngày nay có thể cho rằng chúng ta chưa hề tư tưởng, khi nơi
nơi đều có sự lưu tâm đến triết học, đều muốn truyền bá triết học ngày càng rộng
rãi, và mọi người muốn biết về tình hình tiến triển của nó?" Trad. A.
Becker et g. Granel, P.U.F, Paris, 1959, tr. 23.
[3] G.
GUSDORF - Traité de Métaphysique - Armand Colin, Paris, 1956,
trg. 81.
[4] Jean
BRUN, Les Conquêtes de l'homme et la séparation ontologique, PUF
Paris, 1961,trg. 1.
Những tiền đề
của triết học truyền thống
Theo các tác phẩm cổ điển,
"triết học bắt nguồn ở Milet vào thế kỷ thứ 6 trước công
nguyên" [1].
Khi nêu lên lối suy nghĩ
phổ cập nầy của người Tây phương qua các thế kỷ, G. Gusdorf ngạc nhiên về lối
nhận định còn mơ hồ, thiếu kiểm chứng:
" Như thế
thì trước thế kỷ thứ 6 không có gì xảy ra hay sao, và những nơi khác ngoài
Milet thì sao?" [2].
Nhưng, mỗi lần đối đầu với
những xã hội văn minh khác, những nếp suy tư khác mình, thì như để biện minh
cho nền tảng suy tư triết học truyền thống Hy-lạp Tây phương, người ta vội đưa
ra một đặc tính phổ quát như một đặc quyền đương nhiên của truyền thống ấy về sở
đắc chân lý nhằm tuyển lựa, thanh lọc mọi yếu tố dị biệt. Nhưng liệu Tây phương
hóa được đồng hóa với một tiến trình phổ biến chân lý cho mọi dân tộc theo một
mẫu mực riêng của mình như thế, thực sự có một cơ sở nào vững chắc để xác minh
không? Cho đến nay, người ta thường dựa vào thực tế lớn mạnh của Tây phương về
đủ mọi mặt trên các phần đất của thế giới để mặc nhiên nhìn nhận tính phổ quát
nầy, nhưng sự kiến hiệu của sức mạnh bên ngoài trong một giai đoạn của lịch sử
nhân loại có phải là một tiêu chuẩn tất yếu để định giá tư tưởng và triết học
không?
Kỳ thực ngay khi nêu danh
Socrate như một mấu móc khởi nguyên cho lịch sử của triết học truyền thống, thì
người ta đã chứng kiến một thực tế ngược lại quan điểm nầy: Socrate được đánh
giá là người tiền phong đưa chân lý từ trời xuống nơi tâm hồn của con người,
Socrate đó đã không phải là người ở bên lề của một xã hội lịch sử lấy sự kiến
hiệu của hành động thay cho suy tư khám phá chân lý hay sao? Socrate đã không bị
những quyền lực xã hội chính thức lên án tử hình, và đồng thời lại được truyền
thống triết học tuyên dương là con người xem ra như thua cuộc trước phán đoán của
xã hội lịch sử đương thời, nhưng đã chiến thắng trong chân lý hay sao?
Nhưng Socrate chết cho
chân lý và đi ngược với trào lưu lịch sử đó đã bị truyền thống triết học lãng
quên; người ta chỉ còn biết đến một Socrate được giản lược vào nhân vật đề cao
lý trí vạn năng của con người trong sự hiểu biết về chính mình, cũng như thần
thánh và vũ trụ bên ngoài:
" Lịch sử
triết học, được đồng hóa với kỷ nguyên Socrate, tự cho mình có phận vụ tập hợp
những hình ảnh của những ai đã đặt vấn đề triết học như Socrate và khai triển vấn
đề theo đúng các phương pháp tương tự như phương pháp của ông. Nên khởi đầu
cũng đã là hoàn tất. Bắt đầu với Socrate, thì chấm dứt cùng với ông ấy; người
ta thu hẹp toàn bộ tư tưởng nhân loại vào mấy bức tường của một truyền thống.
Tên của Khổng Tử sẽ không được nhắc đến, kể cả tên của Đức Phật - và tên của Đức
Giêsu chỉ được nêu lên qua ngõ ngách của một lối biến thể, gọi tên là học thuyết
Socrate Kitô giáo. Emile Bréhier nói rõ ràng như thế nầy: Nếu không có sự trung
gian của Socrate, không có triết học Kitô giáo (Histore de la
Philosophie T.I., trang 494) " [3].
Socrate đã được tôn vinh
là khởi đầu và là điểm chấm dứt của triết học vì triết học chỉ được hiểu là sự
"hiểu biết".
"Hiểu biết" được
rút ra từ câu châm ngôn ghi trước mặt tiền đền thờ Delphes "Người ơi
hãy tự biết mình", mà Socrate nhắc lại như tóm kết về sự khôn ngoan mà
ông truyền bá; nhưng nội dung của nó đã không được hiểu trong toàn bộ tương
quan giữa câu nầy và cảm nhận riêng của Socrate:
"Người ơi hãy tự
biết mình"
"Và tôi, Socrate
tôi tự thú là điều tôi biết duy nhất chính là tôi không biết gì cả" [4].
Thực ra cái mới nơi
Socrate là lấy chính cuộc đời, cảm hứng và kinh nghiệm của mình để diễn tả nỗi
khắc khoải nơi tâm hồn con người hướng về chân lý thay cho lối diễn tả bằng thi
ca, huyền thoại và bi kịch trước đó của Hy-lạp. Kinh nghiệm thiết thân nầy đi
kèm với một lối nói thông thường của những đối thoại, giao tiếp hằng ngày của
con người trong cuộc sống thực tế. Nhưng hình thức trình bày mới nầy không mảy
may xoá bỏ hay lờ đi những thảm kịch cam go của thân phận làm người; một
thân phận bị thúc bách bởi lời mời gọi ý thức về bản tính chân thật của mình, đồng
thời lại cảm nhận một giới hạn không vượt qua nổi.
Vượt lên trên hình thức
diễn tả trước thời ông, Socrate đã dám cập nhật bi kịch làm người từng được
trình bày ở đằng xa, trong huyền thoại và lối diễn tả có tính cách quần chúng về
sân khấu, bi kịch, để đưa vào hiện sinh và ngôn ngữ của mỗi người, và cụ thể là
của cuộc đời ông.
Tuy thế, F. Nietzsche đã
nêu lên một Socrate mơ mộng ngây ngô chủ trương lấy sự hiểu biết của mình để
xác minh nền tảng chân lý như một vật có sẵn trong tầm tay, một Socrate đã chấm
dứt truyền thống bi kịch Hy-lạp... Nhận định như thế phải chăng còn câu chấp về
hình thức diễn đạt hoặc giả không muốn biết đến một Socrate nào khác ngoài hình
ảnh giản lược của truyền thống triết học gán cho Socrate!
Truyền thống triết học
Tây phương, mặc dù vẫn có trong tay những tài liệu nầy về Socrate (phần
lớn qua các tác phẩm của Platon), nhưng lạ thay mỗi lần nhắc
lại Socrate như bậc thầy khai sáng ra triết học thì người ta lại chuyển ông
thành một nhân vật trong bài thơ về Hữu thể của Parménide.
Phần mở đầu của bài thơ ấy
hầu như diễn tả tóm gọn nội dung mà truyền thống Tây phương gán cho Socrate:
"Những con ngựa
cái chở tôi, đã dẫn tôi viễn du theo đúng như những gì mà lòng tôi có thể mong
ước, vì chúng đưa tôi qua con đường phong phú của mạc khải thần thánh; con đường
xuyên qua cái thị thành, dẫn lối kẻ hiểu biết " [5].
Tư tưởng ví như một giấc
mơ, vuợt lên trên thân phận con người trong thời gian - không gian, để đi vào cảnh
vực của chân lý mở toang ra cho con người.
Từ trong chân trời mới
đó, từ nay triết học mở ra, đặt nền trên một xác quyết:
"Suy tư và hữu thể
chính là đồng nhất" [6].
"Hiểu biết" được
gọi là suy tư triết học khi đặt nền sự suy tư đó trên sự am tường tiên thiên rằng
"suy tư và hữu thể chính là đồng nhất thể", và con
người nắm được khả năng quán triệt sự đồng nhất nầy.
Đó là hai tiền đề căn bản
thiết định bản chất và tiến trình của triết học Tây phương giải minh câu nói của
G. Gusdorf: người ta khởi đầu với Socrate, thì cũng chấm dứt với ông.
Thực ra chính trong bài thơ của Parménide cũng đã có một câu tương tự:
"Mọi sự đến với
tôi là một, từ nơi đó tôi khởi đầu, và cũng chính nơi ấy tôi sẽ trở về lại"[7].
Nói một cách khác
"tất yếu rằng
điều có thể suy tư và nói lên được, điều đó phải là hữu thể" [8].
Xuyên qua lịch sử triết học
Tây phương và ảnh hưởng của lối thiết định bản chất và tư tưởng con người khởi
từ các tiền đề được xem là tất yếu và không cần xét lại nầy, đã có nhiều phương
cách để khai triển về hai lãnh vực suy tư và hữu thể; và từ đó có những hình thức
diễn đạt khác nhau.
Nhưng tiêu chuẩn có thể
đánh giá chân lý của triết học là làm sao tìm được sự tương hợp giữa suy tư, đối
tượng của suy tư (hữu thể) và phương cách diễn đạt, tiền kiến rằng cả ba là một
nhất thể.
Chúng ta không liệt kê ra
đây những diễn tiến của lối suy tư triết học nầy qua nhiều thời đại lịch sử, rất
đa tạp với những hệ thống và tên gọi khác nhau. Nhưng cuộc viễn du có qua "bao
nhiêu thị thành", nghĩa là xuyên qua bao hệ thống khác nhau thì
hai tiền đề trên vẫn là tiêu chuẩn để xác minh tên gọi của chúng.
Và câu hỏi đáng làm ta
suy nghĩ vào thời đại của chúng ta là tại sao có sự đào thải triết học đồng thời
với sự xuất hiện của khoa học.
Thông thường người ta
tránh né trả lời trực tiếp vào nội dung của thắc mắc về sự đào thải bộ môn và
sinh hoạt triết học, hoặc về sự quên lãng tính cách nền tảng tối thượng của suy
tư triết học được đồng hóa với yếu tính của con người, mà chỉ nhắc lại sự phân
biệt có tính cách truyền thống giữa triết học và khoa học dựa vào đối tượng
riêng của mỗi bộ môn. Khoa học được hạn chế vào các đối tượng hữu hình, có thể
nói thuộc trật tự thiên nhiên, vật chất, còn triết học có đối tượng là "con
người suy tư", hiểu biết được nguyên lý của các sự vật [9].
Thực ra sự phân biệt đó
không còn ăn khớp với diễn tiến sinh hoạt của khoa học ngày nay. Một mặt những
sinh hoạt được xem là phần đất riêng của triết học truyền thống đều chuyển dần
qua lãnh vực của khoa học, được gọi chung một cách như đã quen thuộc là khoa học
nhân văn, ngay cả bộ môn gọi là khoa học tôn giáo. Và trong viễn tượng đó, người
ta không hiểu tại sao triết học còn tự nhận rằng sự hiểu biết các nguyên lý của
các sự vật là phần đất riêng của mình, trong lúc khoa học còn tiến hóa và truy
tìm về nguồn gốc của vũ trụ, cũng như của sinh vật người?
Vào những năm tháng chúng
ta đang sống, trước những khó khăn của xã hội mà người ta đánh giá là do hậu quả
của phát triển và áp dụng không ý thức của các bộ môn khoa học, đặc biệt là
khoa học kỹ thuật, thì tưởng chừng như có sự xét lại tận căn về một cái gì bất ổn
sâu xa hơn. Nhưng sự thể không xảy ra như thế. Khi gặp những hậu quả còn hạn chế
và tiêu cực của một ngành khoa học nầy, thì một nền khoa học khác lại phát sinh
để tìm phương thức giải quyết. Nếu có nguy cơ nguyên tử, ô nhiễm môi sinh, thì
có khoa học môi sinh đáp ứng nhu cầu điều chỉnh...
Người ta một lần nữa lại
phân biệt sinh hoạt thuần túy khoa học và tâm thức con người lấy khoa học làm nền
tảng cho toàn bộ suy tư và hành động của con người. Nói cách khác phải phân biệt
khoa học và khoa học chủ nghĩa. Phần sau nầy được xếp là thuộc về một tư duy
thuần triết lý.
Nhưng tại sao một triết
thuyết lại chối từ bản chất triết học của mình? Và tại sao sinh hoạt triết học
truyền thống không đủ sinh lực để biện minh cho sự tồn tại của mình trong tâm
thức của con người thời đại chúng ta?
F. Nietzsche diễn tả tình
trạng nầy là "Sa mạc lớn dần". Và để giải thích câu nói bóng bảy nầy,
M. Heidegger khi chân nhận suy tư là sinh lực của con người, thì khẳng định
không tương nhượng rằng: "Khoa học không suy tư gì cả " [10].
Và còn hơn thế nữa, truyền thống triết học, trong đó chủ nghĩa khoa học là một
bước đường cuối cùng, tự đồng hóa sinh hoạt của mình như là một nỗ lực suy tư
cao độ và nền tảng, thì thực sự nó cũng chưa từng suy tư bao giờ:
" Điều đáng
làm ta suy tư hơn cả trong thời đại đang thúc đẩy chúng ta suy tư, thời đại hôm
nay của chúng ta, đó là chúng ta chưa từng suy tư "[11].
Thời đại đáng làm ta suy
tư vì triết học tự nhận là suy tư đang tự hủy chính mình, cống hiến cho chúng
ta một dấu chỉ để truy tìm bước sa sẩy căn nguyên của sự đồng hóa nầy, đồng thời
để đặt lại vấn đề về bản chất uyên nguyên của suy tư gắn liền với thân phận con
người.
[1] G.
Gusdorf, Traité de Métaphysique, ed Armand Colin, Paris, 1956,
trg. 7.
[2] Sđd.,
tr.1.
[3] Sđd.,
tr. 8.
[4] PLATON, Apologie 21b,
23b.
[5] Sđd.,
số III
[6] Sđd.
Số III
[7] Sđd.,
số V.
[8] Sđd.,
số VI.
[9] Xem
A. G. Baumgarten, Metaphysica 11e éd. (1743) :
"Siêu hình học là bộ môn chứa đựng những nền tảng tối thượng về sự vật do
sự hiểu biết của con người".
[10] M.
Heidegger, Qu'appelle-t-on penser? Trad A. Becker et G.Granel, PUF
1ère éd 1959 - 4è éd, 1983, tr. 26.
[11] Sđd.,
tr. 24.
Những tiền đề triết học của
thời đại tân kỳ
Vào cuối thế kỷ 18, Kant
là người đầu tiên trong truyền thống triết học, giật mình đặt lại vấn đề tương
quan giữa triết học và tư tưởng. Điều làm cho Kant đặt vấn đề là làm sao dung hợp
được kiến thức triết học luận lý - siêu hình học truyền thống và kiến thức khoa
học không những hiểu biết suông mà còn tác dụng trên các sự vật của thiên
nhiên. Lối đặt vấn đề đó được ông gọi tên là một sự kiểm thảo lại lý tính, xét
kỷ lại khả năng và qui luật của sự hiểu biết. Công trình kiểm thảo của Kant
khám phá ra rằng hai tiền đề từng được xem như đã là đương nhiên (= tiên thiên)
về triết học kỳ thực không dựa trên những nền tảng vững chắc; chúng chỉ là
nhũng tiền kiến hồ đồ, một giấc ngủ võ đoán. Điều được gọi là tất yếu, Định mệnh,
Cần thiết...trong bài ca của Parménide để làm bàn đạp chuyển thân phận con người
lên địa vị của một kẻ hiểu biết bản chất của hữu thể, vượt qua những hạn định của
không gian thời gian, chỉ là một ảo tưởng. Lấy nhân vật Platon như tiêu biểu
cho truyền thống triết học cũ, Kant diễn tả sự thiếu nền tảng của bộ môn nầy
qua bao thế kỷ như sau:
"Con chim bồ câu
nhẹ nhàng bay lượn tự do lướt qua làm không khí đang cản nó, có thể tưởng tượng
rằng một khoảng không nào đó không có không khí còn giúp nó bay lượn thoải mái
hơn nữa. Cũng thế Platon đã vứt bỏ thế giới khả giác vì thế giới nầy tạo nhiều
hạn chế cho trí năng, và bằng đôi cánh của những ý tưởng, ông phiêu lưu vào cõi
bên kia trong một khoảng không của trí năng thuần túy. Ông không lưu ý rằng tất
cả nổ lực của ông không giúp ông đạt được một lãnh vực nào cả, vì ông không có
một điểm nào để dựa, không có một điểm nào để vận dụng sức lực của mình hầu
phát triển trí năng. Nhưng định mệnh thông thường của lý trí con người trong tiến
trình suy tư là hoàn tất vội vã căn nhà của mình, rồi sau đó mới truy tìm xem nền
tảng của nó có thật sự đã xây dựng hay chưa" [1].
Qua kiểm thảo nầy, Kant
gián tiếp cho thấy: lý trí mà triết học truyền thống tuyên dương như tiềm năng
vô tận của sự hiểu biết là một tên gọi mơ hồ, không ăn nhập gì với lý trí của
con người trong thân phận thực tế gắn liền với bản tính hữu hạn của nó.
Và khả năng lý trí hữu hạn
thực sự đã thành công một cách hữu hiệu trong việc nối kết được trí năng và sự
vật, theo Kant đó là các ngành khoa học, đặc biệt là toán học và vật lý học.
"Từ những môn
khoa học đó, vì chúng thực sự có đó rồi, nên cần đặt vấn đề làm thế nào chúng
có thể xây dựng được; và sự kiện chúng phải có thể xây dựng được và được chứng
thực bởi thực tại của chúng" [2].
Khi nhận định về các
nguyên lý xây dựng nên các kiến thức của các bộ môn khoa học, Kant khám phá rằng
"trong tất
cả các loại khoa học lý thuyết thuộc lý trí, luôn có những phán đoán tổng hợp
tiên nghiệm. Các phán đoán toán học, tất cả, đều tổng hợp" [3].
Nên
"Vấn đề cá biệt của
lý trí thuần túy nằm ở trong câu: Làm thế nào để có thể xây dựng được các phán
đoán tổng hợp tiên nghiệm ?" [4].
Suy tư triết học luôn dựa
trên lý trí và có phận vụ đặc biệt là kiểm thảo về lý trí nầy. Nói thế nghĩa là
gì? Theo Kant, việc triển khai lý trí để có những kiến thức là việc làm của
khoa học, nhưng triết học, nay được ông gọi là "triết học tiên nghiệm"
phải được đồng hóa với công việc kiểm thảo của lý trí. Nền triết học mới đó có
tên là "môn khoa học cá biệt".
"Từ những phân
tích đó cho ta ý tưởng về một môn khoa học cá biệt, có thể gọi tên là kiểm thảo
lý trí thuần lý...Tôi dùng chữ siêu nghiệm để chỉ tất cả kiến thức một cách tổng
quát không phải hướng đến các đối tượng, nhưng hướng đến phương cách hiểu biết
của chúng ta về các đối tượng được xét xem là khả dĩ thực hiện được một cách tổng
quát"[5].
Nói một cách khác, suy tư
triết học nay là truy nguyên những khả năng của lý trí con người để giải thích
được nền tảng xây dựng nên các kiến thức về các đối vật thuộc lãnh vực của các
bộ môn khoa học.
Theo Kant, điều tất yếu
không còn phải như Parménide nêu lên trong bài thơ của ông, là con người có được
định mệnh cao quí quán thông được bản chất sự vật, nhưng điều tất yếu là con
người bị ràng buộc chấp nhận có được một lý trí hữu hạn để hiểu biết được hiện
tượng của các sự vật. Từ tiền đề mới nầy, mỗi lần nói đến chữ lý trí gắn liền với
bản tính con người, thì cũng tiên thiên nói đến suy tư như sự thụ đắc các kiến
thức về các hiện tượng của các sự vật và sự kiểm thảo về các điều kiện tổng
quát về các kiến thức đó. Suy tư đầu gọi là sự hiểu biết khoa học, suy tư thứ
hai là sự hiểu biết của một môn cá biệt gọi là triết học siêu nghiệm. Mỗi một
kiến thức nào của lý trí con người, trong điều kiện hữu hạn của bản tính con
người đều cần có hai yếu tố.
"Nếu đặc tính tiếp
nhận của trí khôn chúng ta nhằm thâu lượm những biểu tượng mỗi khi trí khôn bị
tác động một cách nào đó bất kỳ, được gọi là cảm năng, thì khả năng tự tạo ra
các biểu tượng hoặc là sự bộc phát tự nhiên của sự hiểu biết, là trí năng...Hai
đặc tính đó, không có cái nào ưu tiên hơn cái nào. Không có cảm năng, không có
vật nào có thể cống hiến cho chúng ta được; không có trí năng, không đối vật
nào được suy tư" [6].
Cảm năng ở đây hẳn nhiên
có liên quan đến giác quan, nhưng đối với Kant khi nói đến cảm năng là nói đến
khả năng của lý trí hay bản tính con người không những tiếp nhận các cảm giác
đa biệt, hỗn tạp, mà biến những dữ kiện nhất thời, hỗn độn đó thành những biểu
tượng có thể làm đối tượng cho trí năng khai thác. Ông gọi những điều kiện tiên
thiên, nghĩa là vốn sẵn có trong bản tính con người rồi, để có thể tiếp cận và
thu nhận các kiến thức của con người về sự vật bên ngoài, là thời
gian và không gian.
"Không gian không
gì khác hơn là một mô thức thuần túy của tất cả những hiện tượng của các giác
quan hướng ra bên ngoài, nghĩa là điều kiện cảm nhận khả giác của chủ tri, nhờ
đó chúng ta mới có thể có một trực giác về thế giới chung quanh" [7].
Và
"Không gian được
biểu tượng như một lượng số vô tận được cống hiến" [8].
"Thời gian không gì
khác hơn là mô thức cảm nhận bên trong, nghĩa là trực giác về chính chúng ta và
trạng thái bên trong của chúng ta...Thời gian là điều kiện hình thức tiên thiên
của tất cả các hiện tượng. Không gian, như mô thức thuần túy của trực giác thế
giới bên ngoài nên chỉ được giới hạn như một điều kiện tiên thiên chỉ hướng đến
các hiện tượng bên ngoài mà thôi " [9].
Và
"Thời gian chỉ có
một chiều kích..." [10].
"Sự vô tận của thời
gian không có ý nghĩa gì hơn là tất cả độ lớn có hạn định của thời gian chỉ có
thể xuất hiện được do những giới hạn của một thời gian duy nhất làm nền tảng
cho chúng. Nên biểu tượng nguyên ủy của thời gian phải được cống hiến cho ta
như là vô tận" [11].
Trước đây các triết gia
truyền thống khởi từ Parménide đã vội vàng nhảy vào sự vô tận vượt không gian
thời gian nhờ lý trí có tiềm năng thần thánh, nên sớm lãng quên thế giới hữu
hình, nay còn mai mất xảy ra trước mắt.
Nay Kant khởi đầu bằng những
kiến thức thực tế mà lý trí con người hữu hạn đã đạt được qua các bộ môn khoa học
để kiểm thảo khả năng của lý trí đó. Kỳ cùng, tuy phương pháp có khác nhau,
nhưng những tiền đề nền tảng của suy tư triết học nơi Parménide và Kant không hề
thay đổi:
- Suy tư là hiểu
biết về sự vật: sự tương hợp giữa trí năng và đối vật.
- Con người tự
mình đạt đến cõi vô tận qua suy tư triết học (trong
bài thơ Hữu thể học của Parménide) hay tự mình hoàn
thành vô tận như tiềm năng có sẵn trong mình (qua triết học siêu nghiệm
của Kant).
Thực thế, vì mặc nhiên chấp
nhận sự tương ứng giữa bản chất và hiện tượng như một tiền đề tiên thiên nên cuộc
cách mạng tư tưởng của Kant là một sự cập nhật tư tưởng triết học truyền thống
trước sự xuất hiện của khoa học, hơn là một sự xét lại tận căn về nền móng tư
tưởng như Kant mong muốn: Kant nhận chân được thân phận hữu hạn của lý trí,
nhưng đồng thời Kant tiền kiến rằng tiềm năng của hữu hạn tính đó song
hành và ăn khớp với vô hạn. Như thế suy tư triết học từ nay
không phải vội vàng nhảy vào lý trí thần thánh và thế giới của sự thật uyên
nguyên, của bản chất sự vật, cũng không phải sự ưu tư dằn vặt về sự giằng co ngột
ngạt giữa vô hạn và hữu hạn, nhưng là mạnh dạn khai thác những kiến thức càng
ngày càng nhiều, càng sâu xa từ khả năng hữu hạn của mình. Việc khai thác các
kiến thức nầy tuy được thực hiện trong thời gian hạn chế nhưng sẽ có ý nghĩa vững
chắc của nó vì được bao trùm bằng một thời gian vô tận mà con người hữu hạn đã
có được một cách tiên thiên. Vì thế không những kiến thức khoa học, sự tiến bộ
của khoa học, mà tiến trình toàn bộ lịch sử của nhân loại nói chung là vận hành
sinh hoạt từng giai đọan liên tục của thời gian vô tận được thực hiện do chính
nỗ lực của lý trí con người.
" Lịch sử...làm...ta
hy vọng rằng khi nhìn (trong những nét lớn) cuộc chơi của tự
do nơi ý chí của con người thì có thể sẽ khám phá ra nơi ấy một giòng trôi chảy
đều đặn; và mặc dù nơi cuộc sống của các cá nhân giòng đời còn rối rắm và bất
chừng, thì trong toàn bộ nhân loại vẫn có thể thấy có một sự phát triển liên tục
của các khả năng bẩm sinh của mình " [12].
Do đó đặc tính cá biệt của
triết học nay gọi là môn khoa học đặc loại, là quay nhìn lại xét xem làm thế
nào lý trí thuần túy có thể khai triển chính mình để xây dựng các phán đoán tổng
hợp tiên thiên [13].
Một khi tổng hợp tiên
thiên hàm ngụ đặc tính nối kết những hiện tượng đa tạp, hữu hạn vào nhất thống
toàn bộ có tính cách vô hạn, thì bấy giờ khoa học là triển khai khả năng nhận
thức của lý trí trên đối vật; còn triết học là một khoa học đặc loại, vì có đối
tượng đặc loại của nó, đó chính là lấy chính khả năng của lý trí của con người
nhận thức làm đối tượng. Nhưng cả hai bộ môn nầy đều có một vận hành chung đặt
nền tảng trên các phán quyết tổng hợp tiên thiên.
Suy tư theo Kant là sự hiểu
biết được kết hợp vào một nhất thống đưa hữu hạn qui chiếu vào vô hạn. Sự hiểu
biết khoa học có được sự nhất thống là do sự nối kết các biểu tượng của cảm
năng vào các nhận thức của trí năng. Sự nối kết nầy do một khả năng kỳ bí, mà
triết học truyền thống không lưu ý đến đó là trí tưởng tượng tiên nghiệm.
Trí tưởng tượng tiên nghiệm còn gọi là trí tưởng tượng sản xuất (imagination
productrice) để phân biệt với trí tưởng tượng trong kinh nghiệm về các đối tượng
vật chất cá biệt (imagination reproductrice).
"Chúng ta có một
trí tưởng tượng thuần túy, như là một khả năng nền tảng của tâm hồn con người.
Nó là nguyên lý tiên thiên cho bất cứ một nhận thức nào. Nhờ khả năng nầy,
chúng ta nối kết một bên là cái đa tạp của trực giác với bên kia là điều kiện của
sự nhất thống cần thiết nơi tự thức (Aperception) thuần
túy " [14].
Nhưng khả năng kỳ lạ của
con người là trí tưởng tượng tiên nghiệm còn có một địa vị đặc biệt hơn nữa.
"Nguyên lý về sự
thống nhất cần thiết của tổng hợp thuần túy của trí tưởng tượng, trước tự thức,
đó là nguyên lý của khả tính của tất cả mọi sự hiểu biết, nhất là của kinh nghiệm " [15].
Tự thức tiên nghiệm được
hiểu là cái tôi suy tư "nền tảng tạo sự nhất thống cho sinh hoạt của lý
trí". Nhưng nói rằng trí tưởng tượng tiên nghiệm còn trước cả tự thức, như
thế nghĩa là gì?
Phải chăng, chữ trước có
nghĩa là điều kiện tiên thiên để nối kết thời gian và tự thức, vì:
"Trí tưởng tượng
là một khả năng tự biểu tượng hóa một đối vật cho mình trong trực giác mà không
cần sự có mặt của nó" [16].
Nói cách khác nếu "tự
thức" lại là một đối tượng của lý trí linh hoạt như một tổng hợp tiên
thiên, thì trí tưởng tượng tiên thiên là tên gọi cho tác năng tổng hợp của
chính "cái tôi lý trí đó".
Kỳ cùng theo lối nhận xét
của M. Heidegger về thời gian của Kant thì :
"Thời gian và
"cái tôi suy tư" nay không còn bất tương hợp, không đối nghịch nhau bởi
một sự khác biệt về bản tính, nhưng chúng đồng nhất "[17].
Và chính Heidegger đã nhận
định rằng trong Kant, "trí tưởng tượng tiên nghiệm là thời gian uyên
nguyên " [18].
Nên cũng có thể nói thêm
rằng:
"Trí tưởng tượng
tiên nghiệm là ngã uyên nguyên". Rốt
ráo, kiểm thảo về nền móng lý trí thuần lý của con người hữu hạn mà Kant dày
công suy tư một cách hết sức chu đáo, thì nền móng đó lại chính là trí tưởng tượng
tiên nghiệm. Vấn đề là "ngã hiểu biết sự vật", trí tưởng tượng tiên
thiên có phải là chân tính con người, hay đây là một chặng đường phải vượt qua
để mở ra với cõi người ta.
Trước hết tại sao chúng
ta đã dài dòng một cách bất tương xứng khi bàn đến Kant trong khung cảnh của vấn
đề tư duy triết học một cách tổng quát?
Chúng ta dừng lại lâu với
tư tưởng Kant vì nỗ lực của Kant là hệ thống hóa lại trào lưu tư tưởng của Tây
phương khởi từ Phong trào Phục hưng, còn gọi là nhân bản, nhằm cập nhật truyền
thống triết học; mặt khác từ cách đặt vấn đề tư tưởng và khai triển hệ thống của
mình, Kant tạo ra cái khung văn hóa của Tây phương kéo dài từ đầu thế kỷ 19 cho
đến cuối thế kỷ 20 nầy được gọi chung là thời Tân kỳ.
Thời Tân kỳ đó
khác gì với thời Thượng cổ và Trung cổ?
Theo cách trình bày của
G. Gusdorf về tiến trình lịch sử triết học ta có thể gọi thời Thượng cổ là thời
của Văn hóa Hy-lạp, La-mã, trước thời ảnh hưởng của Kitô giáo trong thế giới
Tây phương. Và thời Trung cổ là thời kéo dài tư tưởng đó khi tiếp nhận và đồng
hóa những ngôn ngữ và nội dung của sứ điệp Kitô giáo. Tại sao nói là sự nối dài
của tư tưởng Hy-lạp, La-mã? Vì đúng như nhận xét của E. Bréhier, không có sự
can thiệp của Socrate, không thể có cái gọi là triết học Kitô giáo. Phải chăng
có một khoảng cách rất xa giữa sứ điệp Kitô giáo và truyền thống triết học Tây
phương - Hy Lạp mà một số các tác giả người Kitô giáo ứng dụng? Câu hỏi cần phải
nêu lên, vì ta thấy có một sự xa lạ khó giải thích giữa sự thẩm định một thánh
nhân theo tiêu chuẩn của sứ điệp Phúc âm, và một mẫu người lý tưởng theo tiêu
chuẩn của triết học Kinh viện. Trong khuôn khổ của lịch sử triết học Tây
phương, không suy tư và diễn tả theo đúng mẫu mực của siêu hình học - luận lý
truyền thống thì không thể gọi là suy tư triết học; và tiền đề đó không thay đổi,
ngay cả trong nội dung triết học thường được xếp loại là chịu ảnh hưởng Kitô
giáo; điển hình là những nhà tư tưởng như Phanxicô thành Assisi, Blaise Pascal
dường như không phải là những triết gia.
Những nhà tư tưởng
tiên phong cho Thời Tân kỳ manh nha từ thời phục hưng của Âu châu, còn được gọi
là nghiên cứu gia nhân bản, đã chuyển đổi từ cái cũ (cổ) qua mới (kim) như thế
nào?
Sự biến đổi đó được thực
hiện trong nhiều lãnh vực, chính trị, kinh tế, nghệ thuật và cả trong các ngành
khoa học. Trên bình diện lịch sử, thần quyền gắn bó với thế quyền đồng thời với
hiện tượng ưu thắng của vai trò của tổ chức giáo hội trong sinh hoạt văn hóa, đặc
biệt là triết học; tất cả những sự kiện đó giải thích tại sao cuộc đổi mới của
thời Phục hưng được hiểu một cách chung là nỗ lực trần tục hóa. Về mặt tư tưởng
triết học, song song với sự xa cách ảnh hưởng ưu thắng của triết học kinh viện,
người ta truy tìm lại nguyên bản những tài liệu Hy-lạp, La-mã cổ xưa đồng thời
cập nhật với những khám phá mới về khoa học thiên nhiên. Triết học Tây phương
như tách làm hai từ dạo nầy: một bên là triết học kinh viện vẫn tiếp tục đóng
khung theo khuôn khổ truyền thống của mình và dè dặt, đôi lúc còn lên án, hay
xung đụng với nền triết học có thể gọi là thế tục đang ảnh hưởng dần trên cuộc
sống xã hội. Và bên kia, sau một thời kỳ truy cứu các bản văn xưa của Hy-lạp,
La-mã đã tìm được phương thức chuyển từ hai tiền đề của truyền thống luận lý -
siêu hình học của triết học vào khung cảnh xã hội mới. Nhưng phải đợi đến tài
năng đặc biệt của René Descartes (1596-1650) mới có được một lối diễn tả cô động
và triệt để làm nền móng cho tư tưởng triết học Thời đại Tân kỳ. Nền tảng đó
tóm gọn trong câu "Cogito, ergo sum = tôi suy tư, vậy tôi hiện
hữu". Tiền đề nầy được xem là (Fundamentum absolutum inconcussum
veritatis) nền tảng tuyệt đối không thể bàn cãi của chân lý.
Cái mới ở đây so với
cái cũ của truyền thống triết học như thế nào?
Trước hết, René Descartes
đã nói rõ ra một điều mà truyền thống cũ đã miệt mài thực hiện mà không truy rõ
căn nguồn: Truyền thống cũ đã nhân danh Socrate để khai thác giấc mơ của
Parménide về hữu thể và lý trí. Nhưng cái mới của Thời-tân-kỳ cô
đọng trong câu của Descartes là đưa suy tư ở cõi không hạn định của thời gian -
không gian (cogitare) đồng tính với một hữu thể (esse) nơi
vùng trời vô định của Parménide vào cái tôi của một thời gian hiện tại mà
Socrate đã nêu lên trong câu: "người ơi hãy tự biết mình". Nhưng điểm
tựa mong manh của một giây phút hiện tại của một "cái tôi", dù tôi đó
là tôi suy tư, làm sao có thể thiết định được tính phổ quát và sự nhất thống của
tư tưởng?
Và phải đợi đến Kant, hơn
một thế kỷ sau đó, mới khai triển một cách rốt ráo hơn như chúng ta lược qua ở
phần trên.
Do đó, về mặt lịch sử triết
học thời tân kỳ có thể nói được, là khởi phát từ René Descartes, nhưng có được
những mấu móc nơi tư tưởng của Kant.
Nếu nhìn từ thắc mắc về bản
chất của suy tư, thì Thời-tân-kỳ như chúng ta phân tích không
phải là một cuộc vượt thoát ra khỏi các tiền đề nơi Bài Thơ Về Hữu Thể Học của
Parménide, nhưng là nỗ lực khai thác tận căn nội dung của chúng và ứng dụng vào
lịch sử. Những thắc mắc tiên khởi đặt ra cho Kant, đó là sự vướng mắc của thân
phận hữu hạn và chân lý tuyệt đối, cũng như cái lạ lùng nơi trí tưởng tượng
tiên nghiệm, một khả năng tiên thiên xây dựng nên toàn bộ kiến thức, thì dường
như lại không còn đáng làm cho con người của thời mới bận tâm,
trước những khám phá liên tục của khoa học và hiệu năng của tiến bộ kỹ thuật.
Phần còn lại được Thời
Tân kỳ lưu ý về triết học đó là việc triển khai "các phán đoán tổng hợp
tiên nghiệm" trong mọi địa hạt của cuộc sống. Triết học nay xem như đã hết
phận vụ của mình khi cống hiến một trời mới đất mới tức là khoa học, nhờ đó con
người ý thức được mình có sẵn những khả năng tiên thiên để khai thác các hiện
tượng thiên nhiên luôn cống hiến cho mình để làm chất liệu. Trời mới đất mới đã
sẵn có mô thức là vô cùng - vô tận trong khả năng con người (thời gian,
không gian là trực giác tiên thiên có độ lớn vô tận đã nằm sẵn trong con người
và thuộc quyền năng của nó); nên với những tổng hợp liên tục
trong mỗi thời gian, con người tự làm nên mình, hoàn thành bản tính vô tận
trong lịch sử của mình. Làm người (thành nhân) nay rõ ràng đồng hóa với
thành công trong việc hiểu biết dần hồi các sự vật và sử dụng chúng. Vì mọi
sự hiểu biết được quan niệm là phán đoán tổng hợp tiên thiên, vừa hàm ngụ việc
triển khai kiến thức về các đối vật, vừa qui kết vào sự nhất thống của lý trí,
tức là bản thể con người.
Trong nỗ lực suy tư dựa
trên phán đoán tổng hợp tiên nghiệm nầy, con người không còn phải tìm một chân
lý nào khác ngoài những gì được tiền kiến là đã nằm trong khả năng thực sự của
thân phận hữu hạn nơi mình. Chân lý theo quan niệm tân kỳ nầy nay dựa trên các
sự kiện xảy ra trong thực tế của thời gian không gian kèm theo tính tiến bộ của
nó, và có tên là sự hữu hiệu (efficacité). Và nếu có sự sai trật
vì không có sự tương ứng giữa khả năng tiên thiên của trí năng và kinh nghiệm
thực tế, thì chân lý còn được gọi là sự điều chỉnh, hay biện minh (vérification,
justification).
Cập nhật với Thời đại Tân
kỳ, các bộ môn trước đây có ít nhiều liên quan đến suy tư triết học thì nay
chuyển dần thành những môn khoa học đặc loại, tóm kết vào ngành khoa học nhân
văn. Nên nhiều phân khoa thần học của Kitô giáo cũng chuyển dần thành một lãnh
vực của bộ môn khoa học tôn giáo nói chung. Suy tư trước đây được truyền thống
triết học đồng hóa vào tên tuổi của mình, nay mang một tên gọi mới hết sức phổ
quát là khoa học; sự kiện đó không phải là một sự lạm dụng về phía khoa học,
nhưng là một điều mà M, Heidegger cho là định mệnh của chính dòng suy tư ấy.
Nhưng Thời Tân-kỳ có đặc
điểm khác nữa đi song hành. Bên cạnh Ánh-sáng tràn đầy đã mọc
lên trên trái đất và con người chỉ biết bước đi một cách lạc quan, không dè dặt,
còn có Bóng-tối của hư vô chủ nghĩa.
Thực vậy, Descartes và
Kant đã đưa Chân-lý trường cửu xuống tầm tay hữu hạn của con người dựa trên tiền
kiến lạc quan quá mức về sự tương hợp giữa lý trí hữu hạn và chân lý.
Descartes cũng như
Kant đều tiên thiên cho rằng có một trật tự thường hằng vững chãi của lý trí
tuyệt đối, song song với sự điều hành của vũ trụ đổi thay. Và hai cảnh vực Đất
- Trời đó đều có trong con người như những hạt mầm. Sự kiện đó như hiển nhiên
đã được chứng thực trong việc ứng dụng toán học vào vật lý. Ý niệm về sự tương
hợp nầy hoàn toàn xa lạ với người Hy-lạp xưa và cả những nhà khoa học thời
Trung cổ[19]. Do đó khi con người nhận thức rõ rệt và
chắc chắn, dù trong một giây phút có thể qua đi thì nó phải là một chân lý trường
cửu. Nếu thực sự đã có các kinh nghiệm bảo chứng sự tương hợp giữa toán học và
vật lý như một dữ kiện hiển nhiên, thì cũng tiền kiến được một cách dễ dàng rằng
phải có sự tương hợp giữa bản thể và hiện tượng, hay trật tự thuần lý trí và thế
giới bên ngoài. Đó là cái khung của suy tư gọi là lý trí tự nhiên nơi mỗi người;
và khai triển lý trí đó là suy tư triết học. Ngoài cái khung đầy hứa hẹn và
sáng chói nầy của ánh-sáng lý trí, những lệch lạc bất thường của đời sống cá
nhân, hay sa sẩy của lịch sử, những đam mê cuồng loạn vô lý, những khắc khoải về
sự hữu hạn, cái chết của mình, của người...thì được đánh giá rằng hoặc do những
khuynh hướng thấp kém còn vướng mắc sự sống của thân xác, lệch lạc của trí tưởng
tượng (nơi Descartes), hoặc đó là một lãnh vực riêng của lòng
tin tôn giáo không liên quan đến tư duy triết học.
Nhưng bên cạnh nổ lực vừa
muốn quán triệt Đất - Trời qua lý trí con người, thì "mảnh vườn nhân
sinh" có những mặt trái đã thực sự diễn ra, còn trước cả khám phá ra khoa
học và cũng không biến dần đi với những tiến bộ của kiến thức khoa học. Trước
thực tế nầy, con người lại hoài nghi về "Cái hiểu biết" của
Descartes.
Bên cạnh hứng khởi của cuộc
cách mạng 1789 thắp sáng ngọn đuốc của tư tưởng Thời-đại Ánh-sáng, người ta
cũng khó lòng che dấu nỗi hãi hùng trước từng triệu cái chết bất chừng và phi
lý. Người ta ngỡ ngàng về sự mâu thuẫn của ước mơ thực hiện tình huynh đệ với cảnh
người giết người một cách tàn ác, ước mơ tự do trong tù ngục của hận thù và lo
sợ.
Tuy thế giấc mơ của
Ánh-sáng lý trí vẫn lên đường với lịch sử qua các cuộc cách mạng liên tục trong
mọi lãnh vực. Tiếp theo Kant, các triết gia cố nới rộng các phương cách ứng dụng
của phán đoán tổng hợp tiên nghiệm, để khai triển những nội dung còn bỏ dở
trong tư tưởng của Kant: Fichte, Schelling, Hegel, Comte, Marx...Nhưng bóng
đêm, nghĩa là những gì triết lý ánh sáng xem là tiêu cực cũng bắt đầu khởi
phát.
Ở Pháp, vùng đất thắp lên
bó đuốc cách mạng Ánh-sáng chứng kiến bóng đêm của phong trào văn chương lãng mạn,
đề cao vai trò của tình cảm, trí tưởng tượng, muốn thoát ly khỏi ràng buộc của
lý trí khô khan để trầm mình vào thế giới mông lung, huyền bí của thiên nhiên .
Ở Đức bóng đêm đi
vào suy tư tôn giáo, triết học nhiều hơn. Triết gia triệt để khai thác bóng đêm
nầy là F. Nietzsche.
Khả năng tổng hợp tiên
nghiệm mà Kant xem là nền tảng dần dà được khai triển sâu rộng. Một mặt người
ta thắc tại sao Kant buộc phải dừng lại ở trí tưởng tượng tiên nghiệm; và tại
sao lý trí hữu hạn lại phải cần đến những Ý niệm Điều-hành Tối cao chỉ được nêu
lên như một giả thiết? Nếu lý trí con người đã dựa trên một vài khám phá khoa học
đã xảy ra trong thời gian như một sự hiển nhiên để thắc mắc về cái có thể
và phải có thể của khả năng lý trí, thì tại sao cuối cùng lại phải dựa trên một
ý tưởng điều hành như lý tưởng của lý trí để làm gì? Sự hiển nhiên của kinh
nghiệm hay lý tưởng điều hành, cái gì trong hai yếu tố đó là nền tảng cho lý
trí con người? Nếu dựa trên sự hiển nhiên của kinh nghiệm khoa học, thì không
có gì bảo chứng cho sự tuyệt đối vượt thời gian làm nền tảng cho cái gọi là
tiên thiên của cảm năng và sự vững chắc của trí năng suy tưởng cả. Nếu lấy
nguyên lý điều hành làm điểm tựa, thì lý trí hữu hạn làm sao có thể có được chiếc
cầu để thiết định có sự tương hợp giữa nguyên lý điều hành nầy, vốn chỉ được
xem như giả thiết, đối chiếu với Bản-chất của tuyệt đối?
Đến giới hạn nầy Kant lại
nhảy vào lãnh vực niềm tin tôn giáo. Nhưng trong tiến trình phân tích kiểm thảo
lý trí, Kant lại hàm ngụ dự kiến tách rời niềm tin tôn giáo và suy tư triết học.
Như thế suy tư triết học
mắc cạn vì tự nó chưa giải quyết tận căn nền tảng của mình như Kant mong muốn.
Một mặt việc kiểm thảo chưa bao hàm hết các hiện tượng xảy ra trong thực tế
của cuộc sống vì đã bỏ lửng những yếu tố được xem là phi lý; và mặt khác việc
kiểm thảo nầy xác minh được trí tưởng tượng tiên nghiệm nền tảng vững chắc của
lý trí con người, nhưng không có gì bảo chứng được rằng trí tưởng tượng
tiên nghiệm như khả năng tác tạo kiến thức con người lại cũng có thể chỉ là một
ảo giác mà thôi?
Hegel (1770-1831) triệt để
hơn Kant, không dừng lại nơi một vài tổng hợp tiên nghiệm đứt đoạn của mỗi lý
trí của con người trong những khoảng thời gian nhất định, và để sót lại những
sa sẩy bất chừng mà lý trí hữu hạn không làm sao giải thích được, do đó còn kêu
cầu đến tôn giáo như một lãnh vực ngoại tại đối với tư duy triết học. Đối với
Hegel, toàn bộ biến chuyển của vũ trụ thiên nhiên là một tiến trình hình thành
của một Hữu-thể tối cao, tự đặt mình ra trong thời gian bằng cách tự phủ định
mình, rồi triển nở chính mình trong một tổng hợp mới. Sinh lực nầy có tên là Lịch
sử Phổ quát vừa thuộc về lý trí vừa mang tính chất hữu hình của vật chất. Lý
trí cũng là cuộc sống trong sự "tự phủ định", chết đi rồi lại có thể
tiếp tục hiện hữu thành tiền đề mới trong bộ máy biện chứng, nối kết giữa Hữu-thể
tinh thần và thời gian trôi chảy. Từ đó không còn có gì hiện hữu trong thời
gian gọi là bất ngờ, sơ sẩy, nhưng tất cả đều hữu lý, vì tất cả đều là những hiện
tượng có tính cách biện chứng của một lý trí vô tận đang hình thành.
Giới hạn của lý trí con
người đặt ra lúc ban đầu nơi Kant, cũng như thắc mắc người ta đặt cho Kant về
tính cách bấp bênh của sự tương hợp giữa các ý niệm điều hành tối cao và bản chất
của Tuyệt đối, và ngay cả sự hiện diện của những sai trật, sa sẩy trong việc sử
dụng khả năng lý trí qua kinh nghiệm về thế giới vật chất cũng như trong hành
vi đạo đức, giới hạn đó nay không còn là những vướng mắc cho suy tư biện chứng
nơi Hegel.
Tất cả đều được bao trùm
trong vận hành toàn bộ của Lịch sử phổ quát vừa hữu lý, vừa sinh động của Tinh
thần nhập thể: Chân lý là biến hóa để hình thành, và có thể nói ngược lại mọi
biến hóa đều là chân lý.
Mọi sự nay là ánh sáng của
lý trí đang thắp sáng hơn lên nữa trong tiến hóa không ngừng của lịch sử; và
nguồn năng lực là những xung đụng của có - không, ngày - đêm, sự sống - sự chết...,
được gọi là biện chứng tinh thần đang triển nở. Kỳ cùng, điều ta không thể
hiểu là tại sao Hegel ở trong một giai đoạn đang hình thành của toàn bộ Tinh thần,
lại cập nhật được tình trạng hoàn tất của lịch sử phổ quát để lạc quan (hay
ngây ngô!) xây dựng toàn bộ hệ thống của tinh thần, vốn chưa ở vào
giai đoạn kết thúc?
[1] KANT, Critique
de la Raison pure, in Emmanuel Kant, Oeuvres Philosophiques, Ed
Gallimard, Paris 1982, trg. 746.
[2] Sđd.,
tr. 773.
[3] Sđd.,
tr. 768.
[4] Sđd.,
tr.772.
[5] Sđd.,
tr. 776-777.
[6] Sđd.,
tr. 812.
[7] Sđd.,
tr. 788.
[8] Sđd.,
tr. 786.
[9] Sđd.,
tr. 794 - 795.
[10] Sđd.,
tr. 792.
[11] Sđd.,
tr. 793.
[12] Kant, La
philosophie de l'histoire (Opuscules), trd. S. Piobetta, Paris 1947,
tr. 59.
[13] Xem Sđd Kant Critique
de la Raison pure, tr. 772.
[14] Sđd.
A. 24, trích dẫn trong Kant et le problème de la
Métaphysique của M. Heidegger, trad. A. de Waelhens et W. Biemel,
Gallimard, Paris 1965, tr. 142.
[15] Sđd.,
A. 118.
[16] KANT, Critique
de la Raison pure, tr.. 867.
[17] M.
Heidegger, Kant et le prolème de la métaphysique, tr. 246.
[18] Sđd., tr.
242.
[19] Xem
J. Brun - L'Europe Philosophique, éd. Stock, Paris 1988, tr. 169.
Tác động của chữ Tài và
chữ Mệnh từ thân phận làm người của Kiều
Một ngày của kiếp
con người
Đoạn văn kế tiếp mô tả
hai sự kiện: ngày hội Đạp Thanh và cuộc gặp gỡ giữa Kiều và Đạm Tiên.
Tác giả vận dụng kỷ thuật
văn chương để diễn tả hai khung cảnh có thời gian - không gian bên ngoài khác
nhau:
- Ngày hội là cảnh ngày gắn liền với
ánh sáng rực rỡ của Mặt trời. Không gian là sân khấu của các niềm vui
chung đụng, dù có cảnh buồn của lễ Tảo mộ, dù có "thoi vàng
vó rắc, tro tiền giấy bay". Ở cảnh ngày nầy có sự
tập họp của nhiều thành tố, thiên nhiên, đoàn lũ, vật dụng như ngựa
xe...xa gần, sống chết..., nhưng trong giòng nước dập dìu, nô nức đó không
thấy ai gặp ai (từ câu 39-50).
- Thế giới gặp gỡ có
thời gian tượng trưng là buổi tàn của ngày "chiều chiều bóng ngã về
Tây". Không gian là con đường về nhỏ hẹp "ngọn tiểu
khê..., nhịp cầu nho nhỏ..., nấm mồ, ngọn cỏ" với những nét riêng
biệt của mỗi vật thể. Không gian của con người không phải là sự chung đụng,
tập họp, nhưng mỗi người như cách biệt nhau: "chị em thơ thẩn dan
tay ra về". Giới hạn hay khoảng cách không gian của sự
vật lại đi kèm với cảm xúc về một sự gần giũi ẩn kín của một ai.
Trong cảnh nao nao, buồn đó (Mà sao hương khói vắng tanh thế mà!
- câu 59) có những sự hé lộ đáng lưu ý:
- Cảm thức buồn của Kiều và sự vô tâm của
Thúy Vân:
Lòng đâu sẵn mối thương tâm (câu 81)
Vân rằng: chị cũng nực cười (câu 105).
- Kiều mở ra với nỗi khổ chung của mọi
người và của thân phận thâm sâu của con người.
Đau đớn thay , phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
(câu 83-84).
Rằng hồng nhan tự nghìn xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu
(câu 107-108)
- Con người gặp con người, mở ra tình
"chị em":
Hữu tình ta lại gặp ta
Chớ nề u hiển, mới là chị em (câu 127-128)
Toàn bộ tiểu đoạn nầy bắt
đầu từ câu 51 và kết thúc ở câu 132.
Cả hai thế giới, tuy được
diễn tả qua những hình ảnh khác nhau, lồng vào khoảng thời gian khác nhau,
nhưng chúng tượng trưng cho những đối lực Tài - Mệnh của một
ngày của nghiệp làm người. Sự kiện trùng hợp giữa các đối lực (coincidentia
oppositorum) xuất hiện trong thắc mắc của Kiều:
Rằng: "Sao
trong tiết Thanh minh
Mà sao hương khói vắng
tanh thế mà? (câu 59-60).
Nếu đoạn đầu (từ câu
9-38), cuộc tương tranh giữa tài và mệnh được diễn tả trong khả tính của thân
phận con người, thì ở đoạn nầy phác họa một "cõi người ta toàn diện"
với tượng trưng có tính cách phổ quát và rốt ráo. Mấy chữ cuối của câu thơ cuối
đoạn: "bài cổ thi", có giá trị như một lời sấm phát
xuất chân tính mặc khải hết về thân phận con người tại thế: "Gốc cây, lại
vạch một bài cổ thi".
Như thế, nội dung chữ Tài được
diễn tả ở đây là những nội dung nào?
Đạp bằng được mọi khoảng
cách gọi là tự nhiên, như thiên nhiên đối với con người, con người với nhau,
con người với vật dụng, cõi chết và cõi sống..., Tài là một khả năng
tổng hợp để tạo một thế giới với những đặc điểm:
- Tổng hợp tất cả các đối vật thành một tất
cả, tính theo lượng số.
- Mọi sự vật đã được bao bọc ổn cố
trong ánh nắng của ban ngày. Mặt trời như đã xuất lộ từ hồi nào, một sự kiện
hiển nhiên, không cần được ý thức và nhắc đến như một thắc mắc phải tra vấn.
- Mọi sự vật, biến cố đều hàm ngụ trong
âm hưởng của ngày hội, vui hoặc đã được biến thành niềm
vui.
- Song song với tổng hợp thành một thực
thể đồng nhất nầy, mọi sự vật đều được tập trung, trừ cảm thức về thân phận
con người. Hoặc nói theo ngôn ngữ triết học hiện đại đây là thế giới đã được
khách thể hoá thành đối vật (monde objectivé). Và Tài có
thể gọi là tiến trình đối vật hoá vũ trụ (l'objectivation du
monde).
Và chữ Mệnh ở
đây được diễn tả qua những nội dung nào?
Mệnh xuất
hiện trước hết như cảm thức về sự xa cách và giới hạn:
Mặt trời được nhắc đến.
Hình ảnh tượng trưng ở đây không phải là cảnh bình minh, con người chờ tiếp nhận
ánh sáng, dù mặt trời chưa mọc và đang chờ đón mặt trời. Nhưng mặt trời
đã ngã về Tây, cũng trong nội dung của hình ảnh tượng trưng
trên, nghĩa là mặt trời đã khuất, chỉ còn lại ánh dọi của nó. Nhưng đặc điểm của
lối nói nầy như hàm ngụ sự vắng bóng mặt trời lại có phần lỗi
của người ở trong. Lỗi theo nghĩa "tội nguyên tổ" hay "tiền
khiên" trong nội dung: Kiếp trần, biết dũ bao giờ cho xong?
(câu 2930). Lỗi được qui cho kiếp trần vì mặc lấy khả tính lầm lạc. Dostoievski
gọi đó là gánh oan nghiệt của tự do. Nhưng nhận thức buổi chiều tà, đúng là trực
giác nguy cơ về sự xa cách, ly biệt với Mặt Trời (hay Chân tính), hoặc nói theo
lối nói của Heidegger là sự "rút lui của Chân tính" ngay khi
Chân tính hé lộ ra trong hiện sinh; sự rút lui, ẩn dấu, khước từ hay siêu việt
lại là lời nói nguyên sơ của Chân tính nhắc nhở con người quay lại với thân phận
chân thực của mình.
Từ trực giác xa cách với
Chân tính, con người nhận ra hữu hạn tính với năng lực riêng của
nó. Nó từ chối thế giới an bình, ổn cố, tự nhiên - di nhiên cũ, cũng như cả sức
tổng hợp để quán xuyến tất cả, vô biên giới của chữ Tài, để thấy sự cách biệt
trong các mối tương giao: người với đất, người với người.
Chị em thơ thẩn dan tay
ra về (câu 52).
Nao nao dòng nước uốn
quanh
....
Sè sè nắm đất bên đường
Dàu dàu ngọn cỏ, nửa vàng nửa xanh (các câu 55,
57-58).
Nhưng chính cảm thức hữu
hạn đó cũng cống hiến nhận thức tính cá biệt của mỗi vật, mỗi người, đặc biệt
là mở ra chân trời của thế giới người mà chân tính của nó ẩn dấu đằng sau
"hồng nhan", nghĩa là hình hài bên ngoài như một sinh vật
trong thiên nhiên mà thôi.
Nguyễn Du đã dùng hình ảnh
văn chương của một kẻ đã chết, (Đạm Tiên) lại là một phụ nữ, để gợi lên cái gì
vượt lên khả năng của "dục vọng con mắt" hay khả năng nhận thức
sự vật; Đạm Tiên ấy là tượng trưng cho Chân tính siêu việtcủa con người tại thế.
Khổ cứu độ
Khổ, đau, buồn là những từ
ngữ được lặp đi lặp lại trong tiểu đoạn nầy. Vượt lên trên cảm giác có tính
cách tâm lý được dùng như là những hình ảnh văn chương, Khổ là
một lối nói cô động về cảm thức thân phận con người trần thế nhằm diễn tả sâu sắc,
cắn vào da thịt hay toàn bộ cuộc sống. Cảm nhận được các tương quan mở ra như
là những chiều kích kết dệt nên nhà của nhân tính, nhưng đồng thời cũng cảm nhận
hữu hạn tính của phận mình; hữu hạn vì đang xa cách, đồng thời có thể mãi làm
cho xa cách. Làm sao có thể đạp đổ cái khung hữu hạn tính gắn liền với phận
mình! Một vòng quay phi lý và bế tắc! Đó là nội dung cô động của "khổ"
trong truyện Kiều, trùng hợp với chữ "khổ" trong nhà Phật hay
"khổ nạn" của Kitô giáo.
Vấn đề đặt ra ở đây là ý
thức hay trực giác về khổ, tự nó có phải là phương thuốc rốt
ráo để giải phóng con người một cách dứt khoát, tân tạo hay tái lập những tương
quan Đất - Trời - Người chân thực hay không? Trước hết chữ Tự mình hàm
ngụ rằng con người là một thực thể cô độc, hay "ngã chấp", vật
thể không tương quan đó chỉ nằm trong ngôn ngữ của chữ Tài và
thế giới của nó. Trực giác về chân trời của "cõi người ta" gắn
liền với việc thiết định chân tính như những tương quan.
Nên tự giải phóng, dù quan niệm như một cố gắng tìm tự do cá nhân, hay hạnh
phúc tập thể, ngay cả cho toàn nhân loại, dựa trên chính việc làm "tự
mình" của cá nhân hay tập thể như thế, đều mâu thuẫn với yêu sách của
nội dung chữ khổ, mà con người cảm nhận và muốn thoát ra. Lịch
sử nhân loại với những bước tiến về văn minh và kỹ thuật, cũng như những giải
pháp canh tân xã hội đã chứng thực rằng hoàn cảnh sống của con người thoải mái
và tiến bộ hơn. Nhưng trong bản văn nầy của Đoạn Trường Tân Thanh,
tình trạng con người nhắc đến để thực hiện một mẫu mực xã hội tốt đẹp theo
"ý mình", cảnh vực thiên đàng trần thế bên ngoài đó, một mặt, tự
nó, không có gì làm cho con người vui hay buồn, vì chưa đi vào cảnh vực của
lời tra vấn về chân tính như các mối tương quan. Mặt khác, nếu nó đi vào lời
tra vấn của Chân tính, nghĩa là hàm ngụ sự đánh giá về sức cố gắng của con người
để hoàn thành nhân tính mình như những tương quan, thì bất cứ hoàn cảnh nào xảy
đến cũng gắn liền với câu chất vấn ngược lại của mệnh, và nỗi khổ bấy
giờ lại xuất hiện: nỗi khổ nầy không tha cho kẻ giàu hay nguời nghèo, thông
minh hay ngu dốt, lành mạnh hay bệnh tật, lạc hậu hay tân tiến...
Rằng hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuốt
cay thế nào! (câu 489-490).
Còn ngậm đắng nuốt cay,
vì không ai, không thời nào con người tự mình gỡ được cho mình
thân phận làm người tại thế gắn liền với nỗi khổ nầy cả!
Nhưng điều làm ta ngạc
nhiên là, trong Đọan Trường Tân Thanh, và ngay đoạn nầy, dường như
có mở ra một ngưỡng cửa về sự giải thoát hay đúng hơn là duyên cứu độ. Và
điểm nầy là dấu quan trọng nhất để nhận ra sự khác biệt căn cơ giữa các nền
nhân bản thuyết, thường được hiểu và được phổ biến hiện nay khi nhắc đến chữ nầy,
và lối tra vấn về Chân tính của con người tại thế trong tư tưởng của Nguyễn Du.
Sự giải thoát hay chính từ
ngữ đó, cũng rất hiếm hoi trong ngôn ngữ truyền thống triết học Tây phương. Gần
đây và chỉ rất gần đây, đặc biệt sau triết học của Hegel, triết gia đã
dùng những hứng khởi từ Kitô giáo để đưa ý niệm nầy vào trong tư tưởng
triết học, đồng thời chuyển đổi nội dung chữ cứu độ thành tự cứu thoát hay giải
phóng. Phong trào nhân bản dấn thân tiếp theo Hegel và Karl Marx lại phổ biến rộng
rãi ý tưởng đó trong sinh hoạt xã hội và chính trị.
Văn hoá Trung hoa, đặc biệt
Khổng hay Lão, ngay cả các Kinh như Kinh Dịch, Kinh Thư mô tả rất rõ sự xa cách
giữa Chí Thiện, Đạo với thực trạng của nhân sinh. Nhưng lạ thay để lấp trống
khoảng cách nầy thì vấn đề nêu lên khá đơn giản:
Sách Trung Dung nói rằng:
Trên không oán trời, dưới
không trách người. Nên người quân tử sống bình dị để theo Mệnh. Còn tiểu nhân
làm liều để cầu may. [1]
Theo Mệnh và Mệnh là
Thiên mệnh, một cái gì vượt trên sức con người, xem ra như chữ nói đến việc
vươn tới, mà không lý đến việc có đạt được hay không.
Còn Đạo Đức kinh thì viết:
Đồng với Đạo, thì Đạo vui
mà nhận
. . . . . . . .
Đồng với sự mất Đạo,
thì mất Đạo cũng vui tiếp.. [2].
Cả hai Nho cũng như Lão
có gợi lên sự xa cách do tự nơi hành vi của con người và lạc quan về con đường
đi đến hoặc trở về với Đạo. Ít nhất nơi tư tưởng Trung hoa Nho - Lão đã bỏ sót
bên lề thân phận Nữ Oa đội đá vá trời một cách tuyệt vọng!
Phần Nguyễn Du trong câu
kết dùng lại rất nhiều những từ ngữ của nhà Nho như "trách Trời gần, trời
xa, thiện căn, Tâm, Mệnh", nhưng qua câu truyện Kiều, với nội
dung Mệnh gắn liền với khổ lại gần với tư tưởng
bi kịch về thân phận con người của bi kịch Hy lạp, tư tưởng nhà Phật và Kitô
giáo hơn.
Trong bi kịch Hy lạp, đặc
biệt trong bản văn Oedipe làm vua của Sophocle, khổ gắn
liền với thân phận làm người khi Oedipe thấy thế giới của tài trí đã cắt đứt
tương quan với Cha Trời, đã buộc Mẹ Đất phải thắt cổ tự vẫn vì tội vô luân do
con người mang lại. Con đường đi lui không còn, và tới cũng không tìm ra một
sinh lộ nào. Khổ chỉ mở ra được Chân tính của thực tại con người
tại thế như một bế tắc, hàm ngụ một lời kêu cầu. Nhưng dù sao nhận thức được
chân tính của thân phận con nguời tại thế tại thế như một kẻ mù (Oedipe đâm
mù hai mắt tượng trưng cho ý thức về sự giả ảo của Tài) và là một kẻ
lưu lạc (Oedipe tự đày đi biệt xứ).
Nơi nhà Phật mà Nguyễn Du
múc lấy nhiều hứng khởi, thì có hai nội dung chính về con đường giải thoát liên
quan đến khổ. Nhận rõ thân phận con người tại thế là khổ cũng
đã đồng nghĩa với giải thoát. Câu đó nghĩa là gì? Dục, Ngã, thế giới của Karma hay Tài có
tương liên với nhau và cùng ở trong một trật tự, trật tự của mê lầm. Nhận thức
được khổ hàm ngụ hai điều: ngộ hay gặp Chân tính không
thể diễn tả, đồng thời là bước qua hay chết đi cảnh vực cũ trong đó là Dục
và Ngã. Làm sao ngộ được Chân tính, nhà Phật dùng chữ Duyên, được Nguyễn Du lặp
lại nguyên tự trong hình ảnh tượng trưng là Giác Duyên.. Một biến cố bất ngờ xảy
đến, không do tự tính toán hay tài sức con người. Sự giải thoát như duyên đưa
vượt qua một cảnh giới mới, nên còn gọi là cứu độ. Trong Kitô giáo, bất cứ
trang nào của Thánh kinh cũng đều qui về nỗi khổ của con người và sự cứu độ của
Thiên Chúa. Nhưng duyên trong nhà Phật ở đây lại là tình thương của Thiên Chúa
hiện thân trong cơn đau khổ cùng tột của Con Ngài là Đức Kitô. Con Người Kitô
đó đã thể hiện nỗi khổ là chết mình đi và được đưa vào bờ bến của sự sống lại.
Sức mạnh cứu độ trong
Kitô giáo phát xuất từ tình yêu của Thiên Chúa, nhưng tình yêu đó cứu độ khi có
sự chết đi để được đưa vào sự sống chân thật.[3]
Trong ý nghĩa của chữ khổ là
nghiệp con người tại thế, Đạm Tiên là chân tính ẩn dấu sẽ lên tiếng mời gọi con
người:
Hữu tình ta lại gặp ta,
Chớ nề u hiển mới là chị
em (câu
128-129).
Chữ hữu tình ở
đoạn gặp Đạm Tiên nầy, hàm ngụ trong cảnh "khổ" như trên đã
trình bày. Đạm Tiên tượng trưng cho lời ẩn kín vừa phủ nhận thế giới bên ngoài,
vui, thiếu bóng con người, vừa giúp Kiều bước vào thế giới của "khổ"
hướng kề chân tính. Tiềm năng trong tiếng đàn bạc mệnh nay linh hoạt, giúp Kiều
nhận ra lời ẩn kín. Kiều như vượt qua một thế giới cũ đi vào cảnh vực bên kia,
nên có câu: « Chớ nề u hiền ». Chính cái bất ngờ hầu như
phi lý của câu truyện là gặp gỡ người từ cõi bên kia, mà tình theo
nghiã nầy mới linh hoạt và mở ra được tương giao thật: Ta lại gặp ta.
Hẳn nhiên, theo nghĩa đen
là Kiều gặp Đạm Tiên, nhưng hai chữ ta nầy còn mang nhiều âm
hưởng nữa:
- Tôi tìm lại được Chân tính của tôi
- Tôi gặp được người khác, nhưng cùng
nhân tính như tôi, từ đó có thể nhận ra và gọi người đối diện tôi là chị
em - nên có chữ chúng ta.
Nhưng cũng như câu truyện
Lạc Long Quân đã cho Âu Cơ đồng sàng để hoàn thành nhân tính siêu việt, ở đây
câu truyện cũng nhuốm màu huyền thoại, gợi, lên một niềm tin hay hy vọng soi
sáng cho những bước đường còn đầy nguy cơ của thân phận con người tại thế (còn
gọi là cứu cánh tính của con người) vào thời chung mãn.
- Tính và Tình
Nên câu tuyệt diệu ngụ
trong Tính Tình (câu 184) [4].
Câu tuyệt diệu
Trong đoạn trước, chữ hữu
tình là sức mạnh phát ra từ Kiều, tương ứng với sức mạnh nơi Đạm Tiên.
Tình đó cũng là Đức tức là sức mạnh của Đạo, nối con
người với Đạo, và cũng nối kết con người lại với nhau. Sức mạnh
đó tự nhiên, không phải theo nghĩa tự nhiên - siêu nhiên trong lối nói của tư
tưởng truyền thống Tây phương, nhưng vốn gắn liền với thân phận con người trong
tại thế (xem câu 3249 - Đã mang lấy nghiệp vào thân).
Ở trong đọan nầy hai chữ hữu
tình lại là nằm trong một câu thơ làm nền giải thích thế giới của Kim
Trọng trong tương quan Thuý Kiều. Hình ảnh người đã khuất và kẻ còn sống trước
mặt gợi lên hai cảnh vực về sự xuất lộ ra của Chân tính và sự rút lui của
Chân tính, theo lối diễn tả của Heidegger, hay cả của Đạo Đức Kinh. Sức mạnh nầy
cũng là Đức của Đạo, một sức mạnh tự nhiên làm nên thân phận
con người tại thế. Vì sức mạnh tự nhiên nầy, mà câu thơ kế tiếp nói rõ: "Đố
ai gỡ rối tơ mành cho xong!". Nhưng toàn diện thân phận con người tại
thế, hay Chân tính của nó trong phận tại thế không phải chỉ là
sức mạnh nầy hay sức mạnh kia, nhưng là cuộc chiến giữa đôi bên. Pascal đã từng
nhận xét: "Ai làm thiên thần, thì cũng làm con vật" nhằm gợi
lên trực giác về cuộc chiến nầy.
Đoạn văn nầy (một đoạn
văn tiêu biểu về tài năng văn chương của Nguyễn Du, và có thể nói là tinh hoa của
cái đẹp trong ngôn ngữ và thi ca Việt Nam), thường được nghiên cứu với chủ đề
"Mối tình Kim Trọng - Thuý Kiều" như một cuộc tình đôi lứa đi
kèm với những tranh luận về vấn đề luân lý gia đình và xã hội.
Trong lối văn tượng trưng
mà ưu tư chính là gợi lên thắc mắc về thân phận con người tại thế một
cách rốt ráo, chúng ta thấy các nhà tư tưởng thường không có chủ tâm đi vào vấn
đề luân lý, nhận thức khoa học, chẳng hạn như Kiều tự vẫn, đã đêm khuya lại
quay trở lại tìm Kim Trọng (Đoạn Trường Tân Thanh), Lạc Long Quân dành vợ của Đế
Lai (Họ Hồng Bàng), Công chúa Tiên Dung cãi lại lệnh cha và vua (Đầm Nhất Dạ),
An Tiêm vô ơn, nghịch lại với vua (chuyện Dưa Hấu)...
Chủ đề cuộc chiến Tài
- Mệnh vẫn là chủ đề của đoạn nầy, và hơn thế nữa chủ đề đó được nêu
lên qua những tượng trưng phản ảnh những hoàn cảnh tinh tế nhất.
Chủ đề đó được diễn tả ở
đây bằng sự tương phản trong những mẫu người, để đi đến một nhận định có tính
cách hệ thống rất cô động:
Người mà đến thế thì
thôi,
Đời phồn hoa cũng là đời
bỏ đi
(= nói đến Đạm Tiên)
Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì
hay không?
(= Kim Trọng)
Ngổn ngang trăm mối bên
lòng,
(= Kinh nghiệm về cuộc chiến nội tâm)
Nên câu tuyệt diệu ngụ
trong Tính Tình (179-184).
(Phát
biểu về chân tính con người tại thế)
Nếu có thể nói đến hệ thống
tư tưởng của Nguyễn Du, sáu câu thơ nầy là bản tóm lược.
Dùng lại chữ của Nguyễn
Du, ta thấy tinh hoa của Đoạn Trường Tân Thanh là sự tra vấn về
"Tính-Tình" qua kinh nghiệm của cuộc chiến Tài - Mệnh tạo
nên trăm mối nơi Tâm con người.
Lão Tử gọi Đạo và Đức,
sách Trung Dung gọi là Tính và Đạo, còn Nguyễn Du
gọi Tính và Tình. Cũng một nội dung ấy, nhưng kinh
nghiệm và cách diễn tả khác nhau tạo thành những truyền thống văn hoá khác
nhau. Cũng có thể gượng ứng dụng ngôn ngữ triết học truyền thống Tây phương để
nói Tính là Hữu thể (l'Être) và Tình là sự xuất lộ của Tính trong
trần thế (L'Existence). Gượng nói vì đây là hai cách thế để diễn đạt chân tính
về con người, nhưng cũng chỉ là chân tính của con người ấy. Nhưng điểm gay cấn ở
chỗ nầy, mà một cách nào đó Nguyễn Du cho đấy là tuyệt diệu, ngôn ngữ tôn giáo
gọi là kỳ bí, mầu nhiệm, đó là: Tại sao trong thân phận con
người tại thế, Tình lại có thể xa Tính, mặc dù tại
thế là sự xuất hiện của Tính qua sức mạnh của nó là Tình? Tại
sao có sự xa cách nầy để có cuộc chiến giữa Tài và Mệnh và
có con đường cứu độ? "Có thể" đó là căn của "khổ". Nguyễn
Du cũng như các truyền thống văn hoá nhân loại cổ xưa không dùng chữ có
thể là tự do theo nghĩa làm theo điều mình muốn,
như quan niệm tự do trong thời Tân kỳ. Nhưng có thể nầy được
diễn tả rõ rệt trong mỗi đoạn của tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh là có
thể gắn liền với cuộc chiến và khổ. Trong
sách Sáng-thế của Thánh kinh Do Thái và Kitô giáo, mạc khải Thiên Chúa ẩn kín
đi đôi với sự mạc khải về thân phận con người có thể lầm lạc,
và khổ:
Ta sẽ đổ dồn những khổ
đau trong những lúc sanh đẻ, trong khổ đau ngươi sẽ sanh con cái"
(St. 3,17).
Ngươi sẽ bươi đất để sinh
sống trong những khổ đau suốt chuỗi ngày của đời người..."
(St. 3,17).
Trán đổ mồ hôi, ngươi mới
có bánh để ăn cho đến khi trở về lại bụi đất...(St. 3,19).
"Khổ tuyệt diệu"
vì "khổ" mở ra tư tưởng về tương quan Tính và Tình như một sức
mạnh cứu thoát, kỳ cùng là "hồn" làm nên thảm kịch tin và hy vọng
đưa Đoạn Trường Tân Thanh vào danh sách những tác phẩm văn hoá
điển hình của lịch sử nhân loại.
Vì Tình là
sự xuất lộ của Tính, vừa mở ra cho con người lại vừa che dấu hay
rút lui; nên con người hoàn thành nhân tính của mình trong cuộc chiến nầy.
Tư tưởng tra vấn chân
tính của con người, vì thế, chỉ có thể được thực hiện trong tư thế nầy của
Tính, nói cách khác là phải đi vào nội dung của Tình và sức
năng động của nó. Nên Nguyễn Du không bàn cãi "một cách vu vơ"
về Tính mà tra vấn về Tính bằng cách diễn đạt
kinh nghiệm "ngổn ngang trăm mối của "Tình".
[1] Trung
Dung, chương 30: Thượng bất oán Thiên, hạ bất vưu nhân. Cố quân tử cư dị sỹ
ư mệnh, tiểu nhân hành hiểm dĩ kiêu hạnh
[2] Lão
Tử, Đạo Đức Kinh
[3] Đến
đây có một vấn đề nêu ra. Tư tưởng vì được đồng hoá với triết học, mà triết học
đó phải xây dựng trên nền tảng siêu hình học của Hy lạp; tiền kiến đó không những
chi phối thế giới Tây phương, kể cả tư tưởng thần học Kitô giáo, mà còn ảnh hưởng
trên nền văn hoá của thế giới hiện nay. Tư tưởng xét trong khung nhỏ hẹp nầy
như không hề lưu ý hay biết đến một lối tra vấn nào khác về chân tính, xuyên
qua việc tra vấn trong thân phận tại thế của con người. Nên tư tưởng tự đóng
khung trong thế giới nhận thức về sự vật mà nguời ta luôn gán cho là một sự suy
tư theo lý trí tự nhiên. Chữ tự nhiên hàm hồ nầy đã được nêu lên
trong các cuộc tranh cãi ở sách Mạnh Tử. Ta nêu lên câu hỏi:
Tự
nhiên dựa vào cái gì? Hay dựa vào khả tính siêu việt của
con người hay của những ai? Trực giác về siêu việt tính của con người
thuộc về tự nhiên của trật tự nào? Trực giác về hữu hạn tính của
con người có phải là tự nhiên không?
Qua phần diễn tả của Nguyễn
Du trong phần nầy, hai phần tự nhiên nêu trên đều gắn liền với con người: Con
người có thể lạc lầm đi vào thế giới của Tài, và con người có thể lắng nghe được
âm vang của Mệnh, dù ở đây âm vang đó còn dội lên như một sự phủ nhận.
Dấu tích âm vang nầy còn tìm thấy trong các ngôn ngữ của nhiều dân tộc khác
nhau: Vô hạn, vô cùng, siêu việt...
Việc phân chia tư tưởng ở
phần tự nhiên gồm nhận thức thường nghiệm, triết học và khoa học..., còn những
tra vấn về siêu việt tính, sự cứu độ là thuần túy mặc khải tôn giáo, hàm ngụ
như không phải thuộc khuôn viên của lý trí tự nhiên, vô tình đẩy ra bên lề những
nhà tư tưởng nhà văn hoá lớn của nhân loại như Phanxicô Assisi, Pascal,
Dostoievski..., kể cả các thánh hiền Đông phương. Và hơn thế nữa tách rời những
ưu tư tôn giáo ra khỏi lãnh vực của văn hoá nói chung. Nếu tư tưởng triết học
được đóng khung trong lối đặt vấn đề của siêu hình học Tây phương, thì đúng như
lời Dương Quảng Hàm đã nhận xét, Nguyễn Du không phải là một triết nhân và cũng
không phải là nhà tư tưởng. Nhưng nếu tư tưởng là sự tra vấn về chân tính của
thân phận con người tại thế, thì đã đến lúc xét lại việc sử dụng từ ngữ tự
nhiên nầy.
[4] Trong
đoạn văn mô tả cuộc gặp gỡ Kim Trọng - Kiều cho đến lúc Kiều gặp nạn, nghĩa là
từ câu 133 đến 568, các nhà phê bình văn học, đặc biệt là Bùi Kỷ, Trần Trọng
Kim, đã ghép cảnh gặp gỡ lần đầu giữa hai người trong dịp ngày hội Đạp Thanh
vào đoạn chúng ta vừa phân tích, có lẽ đã dựa vào khung không gian liên tục của
câu truyện (từ câu 133-243). Trên bình diện tư tưởng, lối xếp thành chương, đoạn
như thế cũng rất có ý nghĩa: nó gợi lên sự xung đột giữa hai tương quan hay hai
trật tự khác nhau của sự gặp gỡ: một với Đạm Tiên, tượng trưng cho con người
trong chiều sâu ẩn kín, và một với Kim Trọng như hình hài con người trước mắt.
Nhưng nếu chúng ta đọc hết
cả đọan văn nầy, chúng ta cũng thấy tiểu đọan đó cũng được dùng để diễn tả trọng
tâm chủ đề đặt ra là cuộc va chạm Tài - Mệnh được nêu lên
trong khung cảnh của mối tình Kim Trọng - Kiều.
Nói tóm lại tiểu đọan nầy
là gạch nối giữa hai đoạn, nhưng trong mục tiêu truy cứu nội dung tư tưởng Đọan-trường
Tân-thanh, chúng tôi đã chọn lối xếp đặt lại bố cục câu truyện, để dễ đi
vào sự nhất quán của tư tưởng nêu lên trong chủ đề.
Phương thức diễn tả nội
dung phức hợp của chữ Hữu Tình
"Cõi người ta" ở
trong đoạn nầy được Kiều cảm nhận như là ngổn ngang
trăm mối. Đây không phải là cảnh tượng xã hội bên ngoài giữa các tầng lớp
giai cấp chủ - thợ, tư bản - vô sản, nam - nữ, già - trẻ..., hoặc tình trạng
phức tạp của các đối tượng nhận thức, ngày càng đòi hỏi phải sâu sát hơn, hay số
lượng của những dự án ngày càng tăng theo nhịp đòi hỏi của ước muốn nào bất kỳ
của con người. Nguyễn Du gắn liền "ngổn ngang trăm mối" với
cái khung "bên lòng" hay trong "cõi lòng". Ngỗn
ngang là "vô trật tự" hay tệ hơn nữa là sự xung đột giữa hai
trật tự vốn đang cư ngụ trong "Tình", nhưng cả hai không có
cùng vùng trời, cùng ngôn ngữ để hiểu nhau.
Tình trạng "ngổn
ngang" đó được thể hiện ngay trong lối bố cục và các mẫu đối thoại
trong đoạn nầy; Kiều nói một đường, Kim Trọng mẹ
của Kiều hiểu một nẻo; chưa kể đến những biến chuyển bất chừng
lúc Kiều tiếp nhận lời cảnh tỉnh của Đạm Tiên hay khi quyết
tâm quên tất cả đánh liều nhắm mắt "vì hoa nên đánh đường tìm hoa"
(câu 443).
Hai thi hào của Đức vào
thời cận đại, trước trào lưu nhân bản đang ở vào thời cao độ, đã nhận ra thực
trạng của thân phận con người tại thế và các khung trời khác nhau, hoặc ẩn hay
hiện của nó xuyên qua cuộc sống của con người thời đại.
Trong kịch phẩm Faust,
J-W-Goethe, ở phần cuối truyện đã mượn lời Méphistophéles nói với Faust thế nầy:
"ở đây, thuộc về ta!".
Và ta thấy cũng trong tác
phẩm nầy, cõi người ta "ở đây thuộc về ta" nầy vui tươi rực
sáng như ban ngày của Hội Đạp Thanh hay cảnh huy hoàng khi Kiều lần đầu gặp Kim
Trọng.
"Nầy hãy xem, hãy
xem đoàn lũ đổ xô ra vườn và ra đồng! thuyền bè dập dìu vui tươi rẽ sóng bên
sông, ngang dọc!... và con thuyền cuối tách xa những chiếc khác, chở đầy đến mạn
thuyền. Những nẻo đường xa xôi nhất trên núi cũng rực sáng qua những tia óng
ánh của áo quần. Ta đã nghe tiếng rộn trong làng; đấy thật đúng là thiên đàng của
dân chúng; lớn nhỏ, người người nhảy múa: ở đây ta cảm được ta là người, nơi
đây ta dám là người" [1].
"Cõi người ta"
đầy vui tươi đó, Kiều cũng đã gặp, tức khắc sau cuộc tương ngộ lần đầu với Đạm
Tiên. Âm hưởng ở đây không phải cung đàn bạc mệnh u uẩn, nhưng là tiếng nhạc
vàng:
Nhạc vàng đâu đã tiếng
nghe gần gần (câu 134).
Tuyết in sắc ngựa câu dòn
Cỏ pha mùi áo nhuộm non
da trời (câu 139-140).
Nhưng từ đằng sau, trên
hay dưới chân trời mở toang đầy ánh sáng đó, Đại-ký-ức hay âm vang của cung đàn
bạc mệnh vẫn ngân lên.
Trong bài thơ Đại-ký-ức,
thi hào Hölderlin đã nhận ra thân phận tại thế của con người tự nhận là nhân bản
chúng ta hôm nay như sau:
Một dấu chỉ (một
quái vật), đấy là chúng ta, và (một sự xuất lộ) mất hết sự
sống, chúng ta nay trơ trơ không cảm được khổ đau, và hầu như chúng ta đã mất lời
để nói, nơi xứ lạ.
Đại-ký-ức đó nơi đoạn nầy
của Đoạn Trường Tân Thanh là sự giật mình nhận ra lại "lòng
ta". Trong "cơn tỉnh cơn mê" trước mắt, con người nhận
ra khủng hoảng trong bước hụt chân giữa hai trật tự:
Chập chờn cơn tỉnh, cơn
mê
Rốn ngồi chẳng tiện, dứt
về chẳng khôn,
Bóng tà như giục
cơn buồn,
Khách đã lên ngựa, người
còn ghé theo" (câu 165-168).
Nhạc vàng và cung đàn bạc
mệnh, Đạm
Tiên và Kim Trọng, vui dòn mỏng của những lần gặp gỡ chen
lẫn với nỗi buồn dai dẳng vì xa cách:
Đủ điều trung khúc ân cần,
Lòng xuân phơi phới, chén
xuân tàng tàng
Ngày vui ngắn chỉ đầy
gang
Trông ra ác đã ngậm gương
non đoài (câu 423-426).
Tóm lại, bằng nhiều hình ảnh,
tâm tình khác nhau, đoạn nầy chỉ gợi lên một cuộc chiến giữa hai sức mạnh giằng
kéo của "Hữu Tình".
Nhưng trong cuộc tranh chấp
đó, nhiều chi tiết của Đoạn Trường Tân Thanh hé lộ ra đây
không phải là một cuộc xung đột giữa hai yếu tố trái nghịch, có-không, vui-buồn
ở trên một bình diện hay trong một trật tự (xét về mặt hữu thể học) như lối biện
chứng của Hegel.
Cái buồn khổ nơi cung đàn
bạc mệnh không phải ở trong cùng trật tự với cái buồn nơi Kim Trọng. Không
phải vì hai đối tượng khác nhau của tác động buồn, nhưng tất cả nỗi buồn-vui
trong tương quan Kim - Kiều hàm ngụ trong cái vui phổ
quát của thế giới "bây giờ, thuộc về ta". Buồn vọng lên từ cây
đàn bạc mệnh gắn liền với số đoạn trường không nằm trong lãnh vực tâm lý, nhưng
có thể nói là một lối nói tượng trưng hướng về "Khổ"
thuộc về hữu thể học.
Ta có những đoạn văn nói
về sự khác biệt nầy:
- Cái vui của ngày hội Đạp Thanh bao phủ
cả cảnh âm u của cảnh mồ mả trong lễ Tảo mộ, "Thoi vàng vó rắc,
tro tiền gió bay" (câu 50).
- Cảnh buồn vào buổi xế chiều vẫn vui
khi Kim Trọng xuất hiện (câu 133-164).
- Thúy Vân nực
cười vì cảm thức đau xót người xưa của Kiều (câu 106).
- Người mẹ chỉ hiểu cái buồn của Kiều trong
câu chuyện Đạm Tiên được nàng kể lại như chỉ là nỗi buồn
vu vơ trong một giấc mộng thoáng qua (câu 235-236).
- Kim Trọng không hiểu gì về đàng sau
câu nói của Kiều:
Anh hoa phát tiết ra
ngoài
Nghìn thu bạc mệnh, một đời
tài hoa (câu 415-416).
Câu nói có tính cách sấm
ngôn của một thầy bói, gợi lên thân phận con người tại thế; nhưng với lối hiểu
của Kim Trọng, mệnh bạc và tài hoa theo nghĩa khổ đau và sắc đẹp -
tài ba theo nhận thức thường nghiệm nên đã trả lời bạo miệng.
Sinh rằng giải cấu là
duyên,
Xưa nay nhân định thắng
Thiên cũng nhiều" (câu 419-420).
Nhiều tác giả gợi lên câu
nầy để cho rằng Nguyễn Du có tư tưởng lạc quan về nỗ lực "cãi mệnh"
của con người. Kỳ thực, làm sao sắp gần câu nầy với giá phải trả cho sự cứu độ
Kiều là nàng phải chết đi con người cũ, để được duyên cứu? Và
làm sao lại có câu nầy trong phần Tổng luận: "Ngẫm hay muôn sự tại trời"
(câu 3240). Nếu nhận xét nầy có gần gũi với nhận định về sự lạc quan trên đây,
thì đó là về mặt tâm lý, xã hội thuộc lãnh vực thường nghiệm. Nghĩa là nó đúng
trong khung ngôn ngữ của Kim Trọng. Nhưng"khổ" dấy
lên từ cung đàn bạc mệnh mà Kiều phát biểu, gắn liền với chân
tính con người tại thế "Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong" (câu
244).
Sự chen chân giữa hai trật
tự tâm lý và hữu thể học qua lối văn tượng trưng, đặc biệt ở đoạn nầy không những
tạo một cảnh "ngổn ngang" trong chính bản văn, mà còn cống hiến
cho chúng ta nhiều lối giải thích về tư tưởng truyện Kiều, lắm lúc
xa lạ với nhau như "nỗi khổ" của Kiều được Đạm
Tiên báo mộng và cách hiểu của mẹ nàng!
Chữ Tình trong quan niệm
Tính - Tình của Nguyễn Du
Blaise Pascal trong "Pensées" đã
nói đến một trật tự gọi là "Lý của con tim" để mở ra
một lối tư tưởng trật ra bên lề của truyền thống triết học Tây phương dựa vào
lý trí được hiểu là khả năng nhận thức sự vật. Trong Đoạn Trường Tân
Thanh, Nguyễn Du đã dùng chữ Tình trong khuôn khổ của
Tương quan Tính-Tình, đưa câu truyện nầy vượt qua mức độ của một tiểu
thuyết mô tả những cảm xúc thường nghiệm đến cảnh giới con người thắc mắc về
chân tính của mình.
Nhìn với tiên kiến phê
bình văn học dựa vào khung trời của tâm lý, xã hội, và đối chiếu với những
chung đụng gay cấn của mối tình Kim Trọng - Kiều, nhiều tác giả đã
ví Truyện Kiều như một tác phẩm văn chương thuộc trường
phái lãng mạng của văn học Tây phương, đặc biệt là văn học Pháp vào thời
cận đại. Trong bối cảnh nghiên cứu nầy, đôi đường có những khác biệt, vì lãng mạng
Tây phương diễn đạt sức năng động phi lý của tình cảm con người
gắn liền với sức mạnh tự nhiên của thể lý, tiếp theo sau hay chống lại thế giới
hữu lý của truyền thống nhận thức và đạo lý dựa trên lý trí: Cõi âm u, sinh động
tình cảm buồn rầu thay cho lối phân tích, vô cảm, trật tự nề nếp... Còn tính
lãng mạng nơi Đoạn Trường Tân Thanh có những dữ kiện của Lãng
mạng Tây phương nhưng cũng có những giới hạn: Có việc táo bạo vượt qua khuôn
phép luân lý truyền thống (như ban đêm lại đi tìm trai), nhưng cũng có đặt
ra những bức tường không vượt qua được như lập trường bảo vệ chữ trinh trong
tình cảm trai gái. lưu tâm đến quyền uy của cha mẹ...
Nhưng chữ Tình của Đoạn
Trường Tân Thanh có thực sự nằm trong nội dung tình cảm thông thường nầy,
làm đối tượng cho lối văn mô tả sự kiện xảy ra trước mắt, hay đây là một lối
nói tượng trưng đưa vào cảnh vực hữu thể học? Phong trào lãng mạng Tây phương ở
Đức không phát triển trong lãnh vực tiểu thuyết tình cảm như Pháp (tiểu thuyết
lãng mạng Pháp ảnh hưởng nhiều đến trào lưu lãng mạng của văn chương
Việt Nam vào cuối tiền bán thế kỷ 20): Tình trong phong trào
lãng mạng Đức nằm trong khuôn khổ triết học, được đồng hoá với đà sinh
lực của Vũ Trụ, kéo con người vào sự tổng hợp của toàn thể,
đẩy lui dần lý trí được tiên kiến là giấc mơ của cá thể muốn tách rời khỏi Đại
Nhất là Thiên Nhiên nguyên thủy. Hầu hết các triết gia của Đức vào cuối thế kỷ
18 và đầu thế kỷ 19 chịu ảnh hưởng của những chữ Tình nầy.
Đoạn Trường Tân Thanh thật
sự không có chủ tâm mô tả tình cảm như đà sống thể hiện ưu thắng trong tình cảm
lứa đôi, cũng không hề nêu lên chữ Tình như hình ảnh năng lực
của Thiên Nhiên Đại Nhất, (mà Nietzsche dùng từ ngữ Dionysos để tượng trưng)
tranh chiến với lý trí (Apollon)[2].
Trước hết về mặt hữu thể học, cũng nằm trong ưu tư đi tìm căn cơ là chân tính
như cách đặt vấn đề chữ Tình của trào lưu tư tưởng về "sự sống"
của Đức, nhưng có sự khác biệt hữu-thể-học giữa hai quan niệm như trong phần
chúng ta đã khảo sát về nội dung các câu thơ Dẫn nhập (từ 1-6).
Chân tính được nêu lên
không phải là nền tảng cho "tất cả mọi sự vật" tiền kiến
là cái gì đã xuất lộ trước mắt; chân tính mà Đoạn
Trường Tân Thanh tra vấn là chân tính của con người tại thế, thuộc
"cõi người ta", thế giới của những ai chứ
không phải những cái gì.
Cuộc chiến Tài-Mệnh thể
hiện trong chữ Tình là hai lực đối chọi của nhưng có
thể gắn liền với thân phận con người tại thế. Những tình cảm, hình ảnh
nêu lên là chất liệu được dùng để tượng trưng cho các đối lực thuần túy con người
ẩn dấu đàng sau các hiện tượng trước mắt. Hẳn nhiên việc sử dụng các hình ảnh
cho thích hợp, lấy cảnh vực Tình hay Lý để
khai triển đó là những chi tiết đáng đào sâu để thấy nét đặc sắc của tài năng
và phương cách diễn đạt độc đáo của mỗi tác giả, mỗi truyền thống văn hoá, mỗi
thời đại; nhưng ở đây vấn đề chính được đặt ra là đưa các hình thức văn chương
lại vào chính những ưu tư nguyên ủy của tác phẩm hay chủ đề của nó.
Thứ đến, việc đối chiếu
chữ Tình trong Tính.-Tình vào trật tự của
tình cảm thường nghiệm và tiếp theo đó là những phán đoán, biện minh về mặt
luân lý lại càng xa lạ với chủ đề hơn nữa. Những tiền đề "Trăm năm
trong cõi người ta" (câu 1), những nội dung đi sâu vào tận căn của
thân phận con người như "Ví đem vào tập đoạn trường, thì treo giải nhất,
chi nhường cho ai" (câu 210) hay tiếng ngân của cung đàn bạc mệnh qua
tay Kiều diễn tả tóm gọn toàn bộ nhân sinh (xem
câu 471-488), làm sao có thể xếp lối đặt vấn đề của Nguyễn Du vào mục tiêu duy
nhất là mô tả những tình cảm nhất thời của các mối tình đôi lứa!
Chữ "Tình"
trong Tính-Tình được diễn tả qua hình ảnh rốt ráo là sự xung đột
giữa Tài qua các câu:
Nàng rằng: Khoảng vắng
đêm trường,
Vì hoa nên phải đánh đường
tìm hoa (câu 442-442).
và Mệnh qua các câu:
Ví đem vào tập đoạn trường
Thì treo giải nhất, chi
nhường cho ai (câu 209-210).
Hoa là
cái sức lôi cuốn hay lực bên ngoài; nhưng cũng là từ việc đánh giá chân tính cư
ngụ nơi bên ngoài đó, mà con người tự mở ra để đi tìm. Tìm bên ngoài như
là mở ra để thiết lập một tương quan, nhưng tìm hàm
ngụ là thực hiện ý của mình. Đó là tương quan giả, như Đế Lai về
Phương Nam tìm của lạ theo ý mình. Người trở thành đồ
vật, chất liệu làm thoả mãn ý mình, tưởng rằng hoàn thành nhân tính trong
nỗ lực chiếm hữu "hoa" để làm lớn cái tôi của mình lên. Về mặt
hữu thể học thì đây chỉ còn là thế giới cái tôi, chưa mở ra với ai khác để có
được sự sống nhân tính như một tương quan thật. Buồn, vui được nhắc đến đây tượng
trưng cho sự gần gũi hay xa cách giả tạo (xét về mặt hữu thể học khi đối chiếu
với khổ căn nguyên) giữa tôi và đối tượng tôi tìm. Trong các văn bản tôn giáo,
thế giới nầy gọi là tôn vinh thần tượng (Idolâtrie), mà nhà Phật
gọi là thế giới của Karma, có căn nơi ngã, xuất hiện
từ dục. Sự giả ảo được nêu lên không nằm trong khuôn khổ nhận thức
thường nghiệm và cả trong lối đặt vấn đề có hay không của
siêu hình học truyền thống Tây phương. Kim Trọng, người vẫn là người,
nhưng trong thế giới mở ra của Kiều, Kim Trọng (trong tương
quan với Kiều) đã bị tha hoá vì ý muốn của Kiều.
Và chữ Tình được Kiều khai triển trong mối
tương giao với Kim Trọng như thế, lại gắn liền với thân phận
con người trần thế của nàng như một nghiệp chướng, và đó chính là một
trong những nội dung khổ của nhân sinh: "Đố ai gỡ mối
tơ mành cho xong" ( câu 244).
"Đoạn trường"
khổ đứt ruột, tưởng chừng như ở một nơi nào khác xét về lối nhận thức thường
nghiệm nhưng, nỗi khổ nầy không ở chỗ nào khác hơn là "âm vang"
từ chính sự xuất lộ của chữ Tình trên. Hình ảnh tượng trưng về
Đạm Tiên hay thế giới kẻ chết cũng chỉ gợi lên cái ẩn kín bên trong tương quan
con người mở ra với ai khác để hoàn thành chân tính của mình.
Tương quan ẩn kín của
chân tính liên hệ với con người tại thế như thế nào?
Nó đồng thời xuất hiện với
sự khai triển Tính do con người; xuất hiện nơi câu trả lời cho sự khai triển nầy
qua âm vang "không phải", và âm vang nầy dội lên nơi cảm thức
"khổ đứt ruột".
Đến đây ta hiểu được, tại
sao qua cách đặt vấn đề về chân tính dựa vào kinh nghiệm "trong cõi người
ta" chân tính thường được gọi là "Vô" (theo nghĩa động
từ, tức là sự phủ định). Vô là nền của chân tính, không phải
cái có - không của nhận thức thường nghiệm, nhưng trong trực giác về khả
năng nghe được lời phủ định phát ra từ chân tính. Đây
là sự trả lời "không phải" khi Augustinô chất vấn Mặt trời, Mặt
trăng và vũ trụ xem có phải là chân tính hay Thượng đế hay không. Đây cũng là
âm hưởng của những chữ Vô để nói đến căn nguyên bao trùm những
cái có trước mắt, trong tất cả các nền văn hoá: Vô cùng,
Infini... Chữ Vô (động từ ) nầy đẩy lui tất cả Tài hay nỗ lực thần
tượng hoá (idolâtrie) phát xuất từ bất cứ ý định nào của
con người. Và "sự phủ định" nầy không tương quan gì với lối
nói xã hội về "hữu thần" hay "vô thần", tiền
kiến thần ở trong tầm tay con người hữu hạn và có thể gọi tên được như hòn sỏi
hay củ khoai trước mắt.
Và "lời phủ định"
làm đau con người, vì xé con người ra khỏi cái tôi đóng kín của
thế giới nó có theo ý của riêng nó. Lời phủ định cũng là lời của chân tính
nguyên sơ (= như lối nói của Pascal là Lý của con tim) mà con người đã tiếp nhận
để làm người, nhưng đồng thời có thể lạm dụng nó (= Tài).
Nhưng Tính nguyên
sơ lại không xuất lộ như hòn sỏi trước mắt, mà chỉ xuất lộ tiêu cực khi
con người lạm dụng nó, qua âm hưởng chối từ sự lạm dụng nầy. Kiếp con
người tại thế không những là chiến trường của hai cực đối kháng ấy, mà còn cảm
thức chới với không tìm được lối ra, vì cửa vào chân tính tích cực chưa mở.
"Chưa" như một sự đợi chờ một duyên bất ngờ đến từ
chân tính để cứu độ; hoặc chưa và luôn mãi chưa khi nhìn vào thực trạng của
thân phận con người tại thế!
- Trời xa
Xung
đột giữa công lý ẩn kín và các nỗ lực biện minh của con người
Socrate nói rằng "Điều
mình biết chính là mình không biết chi cả!" và đó là đầu mối tư tưởng;
thì những người lên án tử hình ông lại nói: "con người là thước đo vạn
vật". Hai bên không ở trong một trật tự để hiểu nhau; và đã có một mạng
người phải chịu án tử hình.
Nhưng... Lịch sử của truyền
thống tư tưởng Tây phương lại lấy trật tự của "con người làm thước
đo vạn vặt" để quay lại tôn vinh Socrate làm bậc thầy của triết học; bậc
thầy được hiểu như được khai phá quyền năng hiểu biết vô tận trong tầm tay con
người để định cho chính mình con đường hoàn thành nhân tính!
Đoạn-Trường Tân-thanh,
mở đầu câu chuyện lưu lạc của Kiều nơi đất khách quê người, bằng
cuộc chiến bất tương dung giữa thước đo do con người và chân tính hay công
lý, mẫu mực của mọi thước đo; cuộc chiến xảy ra ngay tại "nhà Kiều
đang cư ngụ". Từ câu 569-776, tác giả Đoạn-trường Tân-thanh mô
tả cảnh gia thế Kiều bị tai vạ, đầu mối đẩy Kiều vào
con đường hoạn nạn.
Nỗi "khổ"
hay "tính thảm kịch" của sự kiện là kẻ vô tội phải gánh lấy
"khổ", khi khổ được cảm nhận được là hậu quả đương
nhiên của tội. Trước công lý tiếng Kiều kêu oan, trời xanh thinh lặng:
Oan nầy còn một kêu Trời,
nhưng xa! (câu 569).
Hầu như tất cả các thảm kịch
làm nên những tác phẩm chi phối văn hoá nhân loại đều diễn tả nỗi oan nầy:
Oedipe vô tội, không nhận ra cha tưởng là kẻ thù và đã giết: oan!
Prométhée vì lòng thành
muốn cứu giúp con người, mà phải bị trời xanh (Zeus) phạt để kên kên moi
gan: oan!
Job kẻ đạo hạnh, gặp phải
cảnh nhà tan cửa nát, vợ bỏ và bị bệnh phong cùi: oan!
Và con người trong Thánh
vịnh Thánh kinh Cựu ước kêu lên Thiên Chúa của mình, Thiên Chúa vốn được mặc khải
là luôn gần và nâng đỡ họ, nhưng mọi sự đều thinh lặng: oan! ("Lạy
Chúa tôi, lạy Chúa tôi, tại sao Ngài đã bỏ tôi") [3].
Những người trẻ sơ sinh
vô tội đã bị giết, như là vì có Tin mừng Đấng Cứu độ giáng trần tại
Bê-lem: Oan! [4]
Định luật nhân quả, được
con người hiểu và lấy làm tiêu chuẩn cho kiến thức sự vật, tưởng có thể đo được
Công lý, nhưng trước sự kiện nầy, lai bể bung. Thực tế con người vô tội chịu khổ
đau dẫn đưa vào tra vấn về tương quan giữa chân tính và thân phận con người tại
thế qua câu hỏi: Con người đã làm gì trái công lý, khi chỉ vì mang thân phận
làm người, để vừa phải gánh nỗi khát khao chân tính vừa lầm lạc không tìm được
đường về ?
Một lối nhận thức cho rằng
định luật nhân quả vốn đủ để biện minh Công lý, khi hiểu chữ kiếp làm
người như một vòng quay của thời gian, và phải tìm nguyên do việc làm sai trái
trong kiếp trước. Chữ kiếp nầy được hiểu theo nhận thức thường
nghiệm là hoàn cảnh phải gánh chịu hay được hưởng của một con người trong một
khâu của vận hành nhân quả của vũ trụ Đại nhất.
Trong Kinh thánh Tân ước,
Gioan đã ghi lại thắc mắc của các môn đệ Đức Giêsu về nguyên nhân của kiếp đau
thương của một người mù từ thuở sơ sinh như sau:
"Thưa Thầy, ai đã
phạm tội, nó hay cha mẹ nó, để phải sinh ra mù như thế?" [5].
Và câu trả lời của Đức
Giêsu đã làm họ hụt chân:
"Không phải người
nầy, cũng không phải cha mẹ nó đã phạm tội, nhưng là để các việc làm của Thiên
Chúa được thể hiện trong người ấy" [6].
Mẫu đối thoại nầy cô động
toàn bộ những mẫu đối thoại khác nhau trong sách Job. Job kêu la đến Trời xanh
để buộc Trời xanh phải đích thân trả lời về oan nghiệt của mình đang chịu; những
bạn bè Job lại tìm đủ mọi lý chứng nhân quả, không những để giải thích nguyên
nhân của khổ mà còn để an ủi Job, trong viễn tượng hứa hẹn một tương lai tốt đẹp
hơn! Nhưng Trời cao đã nói với những người dùng lý luận nhân quả để an ủi Job rằng:
"Cơn giận của ta bừng lên chống lại ngươi (Eliphaz de Tếmân) và
hai bạn ngươi, các ngươi đã không nói về ta cho đúng như tôi tớ ta là Job đã
nói" [7].
Trong Đoạn-Trường
Tân-Thanh, tác giả có lúc qua miệng một vài nhân vật, đặc biệt
là Kiều, để nói đến chữ kiếp trong khuôn khổ nhân quả nầy:
Biết bao duyên nợ thề bồi,
Kiếp nầy thôi thế thì
thôi còn gì?
Tái sinh chưa dứt hương
thề,
Làm thân trâu ngựa đền ghì trúc mai..." (câu 705-708).
Nhưng trước hết những câu
trong Kiều thường phải được hiểu trong mạch văn và diễn tiến của
toàn chủ đề: có lúc là một nhận xét thường nghiệm liên quan đến một bước tìm mò
mẫm của con người đang lưu lạc, có lúc cô động một nội dung tư tưởng liên hệ đến
chủ đề.
Câu trên là một phản ứng
của Kiều, thoáng hiện ra như một giải pháp mà nàng nghĩ ra được. Thực
ra trong toàn bộ câu truyện, Nguyễn Du ưu tư về chân tính của thân phận con người
tại thế, và kiếp hay nghiệp làm người không
gì hơn là cuộc chiến Tài-Mệnh trong mỗi con người hôm nay, và
cũng là mãi mãi cho những ai là người có thân:
Trời kia bắt làm người có
thân (câu
3241)
....
Đã mang lấy nghiệp vào
thân (câu
3249).
"Nhân"
là nghiệp làm người và "quả" cũng là nghiệp đó trong lối tiếp
nhận của con người. Cũng như lối nói Đại-ký-ức là một sự nhớ lại, kỳ thực đó là
Lời của chân tính ẩn kín trong mình được con người thoáng nhận ra.
Trời xa hay Trời
làm thinh trước lời kêu "oan" của con người, thông
thường được cảm nhận như là, hoặc do lỗi người (nhưng con người tự xét mình
không có lỗi) hoặc do lỗi Trời vì công lý của trời bất công, hay theo ngôn ngữ
của Nietzsche là do tính Trời hay báo thù (ảnh hưởng lối nói của Eschyle trong
Prométhée bị trói)..., nhưng tất cả các phản ứng nầy đều đã tiền kiến một nền
công lý dựa trên định luật nhân quả trong tầm hiểu biết của con người.
Ở đây Nguyễn Du đào sâu
vào thảm kịch con người tại thế rốt ráo hơn so với truyện họ Hồng Bàng. Trong
truyện lập quốc Họ Hồng Bàng, có sự xa cách của Lạc Long Quân và Âu Cơ, vì thế
giới tại thế của Âu Cơ cách trở với Thuỷ Phủ, là chân trời xa lạ nơi Long Quân
cư ngụ. Vì cách trở nên có sự lầm lạc của Âu Cơ đi về phương Bắc, nhưng khi bế
tắc, nàng kêu van, thì Long Quân lại xuất hiện (Vũ Quỳnh đã không, hay chưa,
khai triển bước đi kỳ lạ của Âu Cơ về lại phương Bắc, và trong hành trình lầm lạc
nầy, tương quan giữa Âu Cơ và Long Quân thực sự như thế nào).
Trong Đoạn-trường
Tân-thanh, Kiều gặp nạn kêu đến Trời xanh nhưng Trời vẫn
xa, làm ngơ dù nàng vô tội! Đây chính là nét đặc sắc riêng của tư tưởng Nguyễn
Du so với Vũ Quỳnh trước ông.
Những lời kêu van đến Trời
luôn được lặp lại trong mỗi bước đường lưu lạc của Kiều sau nầy;
nhưng ở đoạn nào Trời cũng xa và thinh lặng:
Trăng già đội địa làm
sao?
Cầm dây chẳng lựa buộc
vào tự nhiên! (câu 687-688).
Cũng liều nhắm mắt đưa
chân,
Mà xem con tạo xoay vần đến
đâu (câu
1115-1116).
Hoá nhi thật có nỡ lòng,
Làm chi dày tía, vò hòng,
lắm nao (câu 1129-1130).
Nghĩ đời mà ngán cho đời!
Tài tình chi lắm, cho trời
đánh ghen! (câu 2153-2154).
Thế nhưng cay nghiệt là
Trời tuy xa nhưng đồng thời lại thấy vướng mắc với Trời:
Biết thân chạy chẳng khỏi
Trời
Cũng liền mặt phấn, cho rồi
ngày xanh (câu 2163-2164).
Trời xa, nhưng không phải
cách trở bởi một khoảng cách, không gian, thời gian như hai sự vật biệt lập để
có thể lồng vào hai giai đoạn hay hai nơi làm xuất hiện tương quan nối kết nhân
đến quả. Jean Brun đã từng gợi lên hai cảnh khác nhau về xa cách nầy: có sự xa
cách tương ứng với nhận thức sự vật (séparation ontique), và
có sự xa cách trong cảm thức đặc loại của hữu thể con người (séparation
ontologique) [8].
Các châm ngôn có tính cách phổ biến trong các loại ngôn ngữ khác nhau cũng đã
hé lộ sự phân biệt nầy: "xa mặt, cách lòng" chẳng hạn. Câu nầy
nói lên sự tương hợp hai trật tự giữa "mặt" là sự vật thấy trước mắt,
và "lòng" là nguồn nối kết của thế giới con người. Nhưng kỳ thực
trong thực tế, không nhất thiết có sự tương hợp giữa hai cảnh vực nầy, và trái
lại, nỗ lực con người càng làm cho gần "mặt" bao nhiêu thì
"lòng" càng xa cách bấy nhiêu. Nguyễn Du đã mô tả thực trạng bất
tương hợp nầy trong ngày hội Đạp Thanh; nơi đây có sự gần gũi làm nên đoàn lũ,
nhưng người không gặp người.
Trời xa, của Nguyễn Du
không nằm trong định luật nhân quả, nhưng trong cảm thức tra vấn về hữu thể con
người tại thế, thuộc cõi người ta. Xa tưởng như ở trước mặt mà làm thinh, không
đi vào mối tương giao mà con người có khả năng thiết lập được. Đồng thời con
người tiền cảm một lối tương giao nào đó của Trời buộc mình vào, như Trời thật
gần với mình, nhưng con người không có con đường nào để am tường (= Biết
thân chạy chẳng khỏi Trời).
Và chính sự xuất lộ của cảm
thức xa - gần nầy của chân tính đã làm xuất lộ đồng thời cảm
thức về hữu hạn tính của thân phận con người tại thế, gắn liền với "khổ".
Cuộc chiến trước đây được
tượng trưng qua sự chung đụng trong cuộc đời Kiều qua các cuộc
gặp gỡ Đạm Tiên và với Kim Trọng, nay được chuyển
qua cuộc vật lộn giữa Trời và Người, Chân
tính và Hiện sinh, Tính và Tình.
Như Job, hoàn cảnh gặp tai biến của Kiều vọng lên tiếng kêu oan muốn
tra vấn về thực tại của chân tính, đòi buộc Trời Xanh phải
đích thân phân xử.
Nhưng câu trả lời của
chân tính là làm thinh như để con người có thể (vấn đề tự do)
tự xoay xở.
Con đường xoay xở của Kiều
là hình ảnh của lịch sử tìm mọi phương cách để "biện minh" (justification) trước
sự ẩn kín của Công lý. Kiều và những ai liên hệ đến "khổ" của
Kiều đều được đưa vào vận hành nầy của lịch sử con người. Song song với những nỗ
lực mà Jean Brun gọi là những nỗ lực đi tìm các giải pháp (Les
conquêtes de l'homme) thì cảm thức về sự xa cách hữu thể học (La
séparation ontologique) đi kèm.
Cơn khát công lý xuất hiện
nơi cảm thức thiếu vắng mối tương giao gần gũi Đất-Trời-Người
Cảm thức xa cách với Trời
trong cơn tai biến tại nhà đi đôi với phán quyết phải từ bỏ quê cũ mà ra đi:
Đau lòng tử biệt sinh ly (câu
617)
Thôi con còn nói chi con
Sống nhờ đất khách, thác
chôn quê người (câu 889-990)
Từ đây góc biển, bên trời
Nắng mưa thui thủ, quê
người một thân (câu 899-990)
Bất cứ một giai đoạn nào
trong cuộc lưu lạc của Kiều sau nầy đều có những câu nói về cảnh bơ vơ, lưu lạc
trên quê người như:
Chung quanh những nước
non người (câu 1055)
Thương thay thân phận lạc
loài
(câu 25).
Vui là vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó mặn mà với
ai?
( câu 1247-1248).
Chỉn e quê khách một mình
(câu 2021)
Bơ vơ nào đã biết đâu là
nhà (câu
2034)
Rằng: Nàng muôn dặm một
thân
(câu 2095)
Tức lòng cố quốc, tha
hương
Đường kia, nỗi nọ, ngỗn
ngang bồi hồi (câu 245-2246).
Và vào cuối giai đoạn
phiêu lưu nầy, Kiều nhận ra toàn thể vận hành xoay xở của nàng như sau:
Chân trời, mặt bể lênh
đênh,
Nắm xương biết gửi tử
sinh chốn nào? (câu 2667-2667).
[1] J-W-Goethe, Faust,
đoạn "trước của thành phố.
[2] Xem
Nietzsche , La Naissance de la tragédie.
[3] Tv 22,
2
[4] Xem Mt.2,16
[5] Ga
9, 12.
[6] Ga 9,
3 .
[7] Jb.
V,7.
[8] Xem
Jean Brun Les conquêtes de l'homme et la séparation ontologique,
PUF, Paris, 1961.
Nỗi oan ức, nỗi khổ của
phận làm người trước Công lý là cảm thức hố thẳm giữa nổ lực tìm đường cứu
thoát và bến bờ của Chân lý
Con đường chấm dứt "khổ"
bằng "diệt thân", nghĩa là chấm dứt cuộc sống làm người do tự
ý muốn con người, đã được gợi lên nhiều lần như là phương thức tối hậu, nhưng
liệu đây có phải là giải pháp tối hậu không?
- Người cha đã đề nghị giải pháp nầy:
Liều mình ông đã gieo đầu
tường vôi (câu 667).
-
- Còn Kiều thì mỗi lần đau thương, là mỗi
lần toan tự vẫn:
Phòng khi nước đã đến
chân,
Dao nầy thì liệu với thân sau nầy (câu 800-801).
Sẵn
dao tay áo, tức thì giở ra (câu 982).
Và "chết"
như trốn nợ làm người không những không phải là giải pháp hữu hiệu vì nó chỉ là
một giải pháp ứng dụng cho khung trời của nhân quả, có và không,
trong trật tự của nhận thức đồ vật. Nhưng "nhân quả" theo
nghĩa tượng trưng là mang nợ làm người, thì lại phải được trả bằng giá khác nữa:
Âm vọng từ chân tính qua lời nói của Đạm Tiên trong giấc mơ phủ
định con đường đó:
Rĩ rằng: Nhân qủa dở dang
Đã toan trốn nợ đoạn
tràng được sao,
Số rằng nặng kiếp má đào,
Người dù muốn quyết, trời
nào đã cho!
Hãy xin hết kiếp liễu bồ.
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò
về sau" (câu 995-1000).
Và giải pháp còn lại là
liều và buông xuôi:
Cũng liều nhắm mắt đưa
chân,
Mà xem con Tạo xoay vần đến
đâu"
(câu 2163-2164).
Nét độc đáo của Nguyễn
Du, là ngoài tự mãn và buông xuôi vô vọng, còn thấy hé lộ chân trời của niềm
tin và hy vọng. Ở đây, trong con đường lưu lạc của con người tại thế, có hai đối
lực chi phối tạo nên cuộc chiến:
Một là âm vọng của niềm
tin và hy vọng:
Sông Tiền Đường sẽ hò hẹn
về sau.
Và mặt kia là buông xuôi,
quên lãng hoặc thách thức:
Cũng liều.... mà xem....
Chung đụng của hai lực nầy
đẫn đến câu hỏi quyết liệt mà M. Heidegger đã dùng đến kết thúc tác phẩm chính
yếu của M. Heidegger, "Hữu thể và thời gian":
Có một con đường
nào dẫn đưa thời gian nguyên sơ (có thể hiểu là nghiệp con người tại
thế) vào nghĩa của hữu thể? Thời gian có phải tự mình khai
mở ra như chân trời của hữu thể không? [1].
- Cuộc phiêu lưu của Lịch sử và các nổ
lực giải phóng
"Khổ" là
nghiệp con người tại thế, nghiệp đó vô căn, nếu căn được hiểu là
khung bền vững của nhận thức con người đã có được để mở ra với vũ trụ thiên
nhiên, đặt thần thánh, con người trong khung nhận thức nầy. Khổ vô căn,
khi căn tiền kiến rằng sự xa cách với Trời Xanh, với chân tính
của con người có thể xoá bỏ do tự khả năng của thân phận con người tại thế,
không khác gì khả năng đúc con bò vàng để tôn vinh đó là Thiên Chúa.
Tai nạn đến cho gia
đình Kiều và cho Kiều là tượng trưng của một khắc
khoải tư tưởng, như một cú sét bên tai làm con người đi vào cơn "khủng
hoảng" hé lộ âm vọng của lời tra vấn về thân phận của mình tại thế. Tất
Đạt Đa đã chứng nghiệm cơn khủng hoảng nầy khi bước chân ra khỏi thành, còn
Abram trong sách Sáng Thế choáng váng trước âm vọng từ trời cao buộc mình lìa
quê cũ để lên đường làm người lữ hành trên đất khách.
Thời gian-không gian
riêng dành cho phận làm người là cuộc hành trình nơi xứ lạ, được gọi là lịch sử.
Sử tính là cuộc chiến của Tài và Mệnh, của hai đối
lực chân tính và mê lầm, nhưng hai đối lực nầy, chân và giả, không phải ở trên
cùng một trật tự đối kháng của nhận thức sự vật.
Hegel đã từng chịu ảnh hưởng
của Héraclite về cuộc chiến làm nên sức sống vũ trụ và con người. Nhưng nơi
Héraclite, cuộc chiến đó một bên là Logos, nền tảng vô căn,
vì Logos không phải ở trong chân trời của nhận thức các đối
kháng trong thiên nhiên hay tâm lý con người, mà con người có thể khai thác; và
bên kia là toàn bộ cái có-không làm nên thế giới thuộc khả năng con người tại
thế. Hegel, là triết gia trong truyền thống siêu hình học Tây phương, đã hiểu
cuộc chiến trong tư tưởng Héraclite như là sự xung dụng của hai yếu tố trái nghịch
nhau trong cùng một trật tự, tiền kiến rằng bên trên cuộc chiến nầy chân tính
đã mở tung ra như vòng tròn của Parménide làm nền vững chắc cho mọi vận hành
bên trong. Vòng tròn đó đã trao cho con người như một sự hiển nhiên, một "a
priori" tiên thiên hữu thể học không còn phải ưu tư hay bàn cãi nữa.
Trong lịch sử văn học Tây phương, Hegel, là triết gia đã có công xướng xuất đề
tài về lịch sử và vận hành của nó như một biện chứng giữa tinh thần và vật chất,
không khác lối suy diễn thông thường về Kinh Dịch Trung Hoa về bản chất vũ trụ
và cuộc sống con người như là sự kết hợp và xung dụng giữa hai thành tố
âm-dưong (theo một lối hiểu kỳ lạ về âm-dương làm như văn hoá Trung Hoa
và đặc biệt là tư tưởng Nho-Lão dừng lại trong nỗ lực khai phá nhận thức khoa học
thiên nhiên, đồng hoá cõi người ta với thế giới cây cỏ!). Sử tính theo lối
hiểu của Hégel là năng lực của Tài, có khả năng chuyền đổi Sử tính
căn nguyên[2],
tức là cuộc chiến Tài và Mệnh, thành những nố thắt
gỡ trong khung trời mà nó tạo ra. Khả năng chuyển đổi đó được gọi là nghiệp
chướng, Karma, có đầy năng lực nhưng là năng lực làm quên chân tính. Giả hay quên hàm
ngụ thật và nhớ, cũng sử dụng các năng lực thật và nhớ nầy,
nhưng quay ngược lại mối tương quan. Tương quan của thật và nhớ là
nối kết Ai với ai, hàm ngụ "khổ"
vì thân phận con người gắn liền với xa cách như phần trước đã
trình bày. Tương quan của giả và quên là sự mở
ra để lập tương quan nhưng đồng thời đánh mất tương quan thật. Phật gọi là khả
năng biến "khổ" thành "dục", nghĩa là muốn dùng
việc mở ra, nhưng đồng thời và trước đó muốn thu lại tất cả mọi sự trong một tổng
hợp xây dựng nên cái Tôi đơn độc của mình. Kant gọi cái tôi
tổng hợp nầy là Tôi tiên nghiệm, nghĩa là luôn mở ra để nhận
thức, nhưng đồng thời tiên kiến sẽ lớn lên cái tôi đó qua các
kiến thức thu thái được. Tinh thần trong tư tưởng của Hégel mở ra với vật chất
qua các cuộc xung đột và tổng hợp, để kỳ cùng Tinh thần đó hoàn thành mình do
mình và cho mình.
Sử tính căn nguyên hé lộ
trong tư tưởng Nguyễn Du là cuộc chiến, một bên là toàn bộ mở ra của Tài hay lịch
sử theo nghĩa Hegel, và bên kia là Mệnh một âm hưởng âm thầm của
chân tính xa cách, nhưng rất gần, phủ định toàn bộ thế giới của chữ Tài.
-
Tại nhà, Họ Chung, vì từ tâm đã đề xuất một giải pháp lo lót để tạm gỡ rối.
Nhưng kết quả là đưa Kiều vào tay Mã Giám Sinh.
- Mưu
trí giả dối của Sở Khanh làm cho Kiều tưởng đó hẳn là một con
đường thoát, nhưng kết quả là tạo thêm duyên cớ để Kiều sa
chân vào "làng chơi".
- Thúc
Sinh, người yêu "hoa" đã tìm cách chuộc Kiều, nhưng đưa Kiều vào
cảnh khổ nơi nhà Hoạn Thư.
- Nỗi
lòng trắc ẩn của mụ Quản gia tại nhà Hoạn Thư cũng chỉ tạm an ủi Kiều trong
chốc lát.
- Ý Hoạn Thư muốn đưa Kiều vào
Cửa Không, kinh kệ, xuất gia với tên Trạc Tuyền:
Đưa nàng đến trước Phật
đường,
Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia... (câu 1919-1920).
Nhưng kinh kệ, hình thức
tôn giáo bên ngoài không phải con đường giải thoát.
- Giác
Duyên xuất lộ lần đầu "Chiêu ẩn am" cũng chỉ cho Kiều ẩn
núp tị nạn một thời gian ngắn. Kiều không thoát nạn lần nầy,
vì vướng phải mấy "chuông vàng, khánh bạc" Kiều mang theo trong người
để chạy nạn. Một mặt nàng dựa vào tài vật bên ngoài để mong sống còn, mặt khác
lòng nàng chưa thành, muốn qua con đường dối trá để tìm chân tính:
Lạ
lùng, nàng hãy tìm đường nói quanh (câu 2042).
Nói cách khác, dầu có bàn
tay cứu độ, con người còn ở trong vòng vi của "Tài" thì "không
ai gỡ mối tơ mành cho xong". Và Kiều lại phải rơi vào
tay Bạc Bà.
- Từ Hải, họ tên đó, là hiện tượng của
giải pháp phổ quát dựa trên sức lực của hành động con người:
Râu hùm, hàm én, mày
ngài (đẹp)
Vai năm tấc rộng, thân mười
thước cao (mạnh).
Đường đường một đấng anh
hào (oai hùng),
Côn quyền hơn sức, lược
thao gồm tài (tài ba).
Đội trời, đạp đất, ở đời
(tự do)
Giang hồ quen thói vẫy
vùng (bao
khắp vũ trụ)
Gươm đàn nửa gánh, non
sông một chèo (quyền uy trên con người), (câu
2167-2174)...
Nói tóm đây là hình ảnh
tượng trưng của con người có tất cả mọi cái. Kiều tưởng chừng
đây là con đường thoát, nhưng đến đây, chính nàng là nguyên nhân làm chết con
người đó.
Khóc rằng trí dũng có thừa,
Bởi nghe lời thiếp, đến cơ hội nầy ! (câu 2529-2530).
Nói cách khác hình ảnh tượng
trưng Từ Hải diễn tả nội dung rốt ráo của chữ Tài [3], con
người đã vận dụng hết tâm lực để tìm cách thoát khỏi cái khổ của thân phận tại
thế của mình. Cái chết của Từ Hải, trong ý nghĩa tượng trưng nầy, do
chính Kiều có nghĩa rằng thế giới giả tạo trở lại với sự giả tạo
của mình, tương tự như lối nói của sách Sáng thế trong Cựu ước:
Vì người là đất bụi
và người sẽ trở lại với bụi
đất (St.
3,19).
Mặt nào trông thấy nhau
đây?
Thà liều sống chết
một ngày với nhau
(ĐTTT câu 2529-2530)
Kỳ cùng cái chết của Tứ Hải
gắn liền với con đường tự vẫn của Kiều trên sôngTiền Đường. Đến
bước đường cùng và nhận thức được đó là đường cùng, bấy giờ thì chân trời của
sông Tiền Đường mới xuất hiện.
Triều đâu nổi tiếng đùng
đùng,
Hỏi ra mới biết rằng sông
Tiền Đường.
Nhớ lời thần mộng rõ
ràng,
Nầy thôi hết kiếp đoạn
trường là đây!
(câu 2619-2622).
"Lời thần mộng rõ
ràng" khi bước đường trước mắt hết lối, bấy giờ tiếng của chân tính ẩn
dấu được cảm nhận trọn nghĩa của nó, tiếng đó là "không phải", phủ
định tất cả một cách rất rốt ráo; tất cả những dự phóng mở ra của Tài trong
thế giới cái gì không phải là chân tính của con người: tất cả mọi sự
vật, thần thánh, con người được Tài thiết định đều không ở
trong chân tính của chúng.
Tự vẫn của Kiều trên
sông Tiền Đường không ở trong khung cảnh của Tài, như bất cứ một giải
pháp tự vẫn nào trước đây: của cha Kiều hay của chính Kiều. Cái chết
lần nầy nằm trong một cảnh giới của ngôn ngữ tượng trưng, như câu nói của thánh
Phanxicô thành Assisi: "Chính lúc chết đi, là khi vui sống muôn đời" [4].
Cái chết của diệt "ngã" trong ngôn ngữ nhà Phật, có nghĩa là sự chiến
thắng của Sự sống mới đưa con người từ khung trời đóng kín, thế giới của Karma,
của chấp ngã, để các mối tương giao chân thật của cõi người ta được linh hoạt.
Chữ hữu tình trong
thế tương tranh giữa hai đối lực khác nhau giữa Tài và Mệnh, nay
là Giác duyên, một sự hiểu biết đến một cách bất ngờ, một cuộc gặp
gỡ không phải trong khuôn khổ của tiền kiến do tự con người, nhưng đến từ chân
tính ẩn dấu.
Giác Duyên ấy
không phải đến giờ phút nầy mới xuất hiện; nhưng những lần trước, vì còn nặng
lòng với chữ Tài mà Kiều không nhận ra, và sự cứu độ không thực hiện nơi nàng.
Trong cơn lưu lạc, lời của Giác Duyên vẫn dội bên tài nàng,
như lời chối từ cảnh an bình, vui tươi của thực tại, "nơi đây thuộc về
tôi" [5],
đồng thời nói "tiên tri" về một kỳ hội họp tương lai với sư Tam Hợp.
Gặp sư Tam hợp, vốn là
tiên tri,
Báo cho hội họp chi kỳ
(câu 2406-2407).
Tiên tri, tiền định (câu
2409) được nhắc đến đây lời hứa từ Giác Duyên hay niềm tin, sự
trông đợi luôn ở trong con người như một dấu ấn, bất chấp sự lãng quên chân
tính do năng lực của Tài. Tiên tri ở đây không có nghĩa bói toán,
tiên đoán một sự kiện nào đó xảy ra trong tương lai của thời gian, không gian
bên ngoài, liên quan đến nhận thức vận hành của thế giới sự vật. "Tiên
tri" là lối nói như trực giác phát xuất từ "Đại-ký-ức" tức
là sự nhắc nhở con người quay lại với chân tính của mình, lời nhắc nhở đó
"tiền định" tức là có trước hoặc nói cách khác là từ chối tự căn những
dự tính của Tài. Chữ tiên tri gợi lên hình ảnh những
nhân vật trong Cựu ước của Do Thái giáo, thường chỉ được hiểu là tiên đoán một
sự kiện xảy ra, nhưng ý nghĩa thực của nó là người được Thiên Chúa sai đến để
nói Lời của Ngài, nhắc con người quay tìm lại chân tính của mình.
Và Giác Duyên tiên tri về
Tam Hợp (vốn là tiên tri) gợi lại niềm tin và chờ đợi cái gì?
Tam hợp sẽ cho hay Kiều sẽ
chết đi và được cứu vớt do Giác Duyên. Tam Hợp, nguyên tự nầy gợi lên chữ sum họp,
hay tương giao gặp gỡ (hợp) và gặp gỡ ba (Tam = gặp Trời, gặp
Người, gặp Đất); những tương giao mở ra làm nên chân tính con người. Nhưng các
tương giao đó chỉ xuất lộ khi Tài chấm dứt với cái chết của Kiều theo
nghĩa tượng trưng.
Lịch sử như chấm dứt
trong lời nhắc nhở (hay lời tiên tri nầy). Nhưng đến bao giờ Kiều mới
thực sự "chết" đi con người cũ trên sông Tiền Đường, vì còn tại thế
thì Tài và Mệnh vẫn còn tương tranh? Ngày nào
còn con người tại thế thì lịch sử vẫn còn, nhưng trên bình diện hữu thể học hay
nói cách khác là từ nỗ lực vươn lên hướng về "Tâm", mỗi giây
phút là một cuộc chiến chết đi - sống lại.
- Chân trời của niềm hy vọng
Thời chung mãn
Đoạn-Trương Tân-Thanh dành
một chương khá dài (từ câu 2737-3240) để nói đến tiến trình đoàn tụ của Kiều và
các người thân trong gia đình, đặc biệt là gần gũi lại với Kim Trọng.
Lối trình bày nầy chúng
ta cũng gặp trong Đạo-Đức-kinh hoặc trong những đoạn Thánh kinh Do Thái giáo gợi
lên cảnh chung mãn của nhân loại:
Đi ra cái sống, đi vào
cái chết...
Ai biết cái đạo nhiếp
sinh đó
Đi đường không gặp thú dữ
Vào trận không bị đao
thương
Tê không chỗ đâm
Cọp không chỗ vấu
Đao không chỗ phạm [6].
hoặc:
Kẻ sống sức mạnh của Đạo
Như con trẻ còn thơ
Đội tùy không cắn,
Thú dữ không ăn
Ác điểu không xớt.
[7]
Vì tội lỗi xưa Ta sẽ quên
và mặt ta không nhìn đến,
Vì Ta sẽ tạo một trời mới
và một đất mới
Và người ta không còn nhớ
đến quá khứ nữa,
Không để tâm đến nó nữa...
Chó sói và chiên con sẽ gặm
cỏ chung
Sư tử sẽ ăn rơm như bò và
rắn sẽ ăn đất bụi [8]
Ở phần đầu đoạn nầy tác
giả Đoạn Trường Tân Thanh mở ra một chân trời mới:
Nạn xưa, trút sạch làu
làu
(câu 2737)
Trút sạch nạn xưa, khi chết
đi toàn bộ con người cũ của Tài.
Ai có thể làm cho con người
cũ của Kiều chết đi? Ai có thể ra tay cứu độ đưa nàng Kiều đó
vào chân trời mới?
Ở đây Đoạn Trường
Tân Thanh làm nổi bật hai yếu tố kết hợp với nhau để sự cứu độ được thực
hiện.
Theo lời của Sư Tam Hợp
giải thích thì:
Sư rằng: "Phúc hoạ
đạo trời,
Cỗi nguồn, cũng ở lòng
người mà ra.
Có trời mà cũng tại ta.
Tu là cõi phúc tình là giây oan"
(câu 2655-2658).
Phúc, họa nghĩa
là những sự kiện xảy ra khác nhau tùy cách đánh giá của con người là phúc hay
hoạ, nhưng mọi sự xảy ra là việc của Trời.
Cỗi nguồn ở lòng người:
chân tính dù ẩn dấu, được hay mất, lệ thuộc vào trách nhiệm con người có
thể đón nhận như là một hồng ân hay từ khước: con đường tu hoặc
có thể mãi sai lạc.
Câu tiếp cũng nói đến
trách nhiệm con người. Câu nầy ở trong một trật tự khác với câu nói của Kim Trọng
trước đây: "Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều". Kim Trọng
nói theo nội dung cầu may dựa vào kinh nghiệm thường nghiệm, tiên kiến Trời là
bộ máy mù quáng quay theo định luật nhân quả, còn nhân định là dự kiến phát xuất
từ ý muốn con người. Ta sẽ chỉ thấy được sự khác biệt rõ hơn trong đoạn tiếp.
Tu theo nghĩa ở đây không
phải đi vào chùa, mặc áo cà sa (Kiều đã thất bại trong việc tìm kiếm
nầy), nhưng nghĩa thực của nó là gìn giữ chân tính của mình. Đó là trách nhiệm
của con người, chứ không phải tu là tìm một giải pháp thoát nạn theo ý mình.
Vì thế con đường trở lại
chân tính gọi là phúc. Và tình ở đây theo nghĩa là Tài, không phải là sức cảm
nhận hay hướng về một ai trong chân tính của người đó.
Ở một đoạn khác, lời của
bà Tam Hợp đạo cô, lại nói rõ hơn:
Thủa công đức ấy ai bằng?
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi (câu 2687-2688).
Trong cuộc chiến của Tài
- Mệnh, Kiều chông chênh có khi như buông xuôi theo Tài,
có lúc biết lắng nghe lời Mệnh. Nhưng trong hoàn cảnh tại thế,
mức độ đó đã là một công đức, dù nhìn từ yêu sách tuyệt đối thì không có nghĩa
gì. Hàm ngụ nơi đây như có lòng Từ Tâm của trời. Nhưng kỳ cùng câu cuối của Đạo
cô Tam Hợp lại mở ra một phán quyết có tính cách dứt khoát phát xuất từ trực
giác của niềm tin và hy vọng:
Duyên
ta mà cũng phúc Trời chi không! (câu 2694).
Cứu độ là duyên đến cho
ta và cũng phải hiểu là phúc từ Trời. Nhưng muốn phúc đó đến
Giác Duyên phải ra tay thả bè; con người cần cả người khác tiếp tay để hoàn
thành việc của Trời thực hiện cho mình:
Giác Duyên dù nhớ nghĩa
nhau
Tiền đường thả một bè lau rước người (câu 2691-2692).
Martin Heidegger trong
tác phẩm chính "Hữu thể và thời gian", đã chấm dứt đoạn đường
tư tưởng của mình nơi lời tra vấn sự hiện hữu hay không của con đường dẫn thân
phận con người tại thế (hay thời gian nguyên thuỷ) đến nghĩa của hữu thể (hay
Chân tính). Và tiếp đó, trong câu cuối tác phẩm nầy, lại mở ra một tâm thức khắc
khoải có tính cách nền tảng, trường kỳ của tư tưởng: Thời gian nói chung có phải
là chốn Chân tính mở ra cho con người hay không? Câu hỏi nầy không phải là sự
nghi ngờ, dè dặt cần thiết, một tiến trình chuẩn bị để đi vào sự xác quyết
không dè dặt về nền tảng của Chân tính trong khả năng của "tôi suy
tư" làm khởi điểm mở ra vận hành nhận thức các sự vật trong hệ thống triết
học Descartes, vị thầy của Thời đại tân kỳ đi kèm với các nền nhân bản đang phổ
biến. Câu hỏi của Heidegger ở cuối tác phẩm của mình có thể ví như nỗi khắc khoải
của Kiều khi Từ Hải đã chết do chính nàng: "Tôi khao
khát chân tính, nhưng thân phận tại thế của tôi trong lịch sử đã đến cùng đường,
có chăng con đường nào khác đưa thân phận tại thế nầy đến với chân tính?"
Đoạn-Trường Tân-thanh mở
ra chân trời của niềm hy vọng: Chân trời đó không phải một cõi khác theo nghĩa
của hiện hữu sự vật (ordre ontique), nhưng một cõi khác trong
các mối tương quan làm nên chân tính con người (ordre
ontologique). Cõi mới nầy là các mối tương quan tìm lại chân tính mình
làm phát sinh một niềm vui mới. Cũng Kim Trọng, cũng Kiều,
cũng bản đàn Kiều vổ, nhưng, Kim Trọng xưa xuất
hiện với nhạc vàng và niềm vui không phát ra từ chân tính, nay chàng xuất hiện
trong chân trời mới được nhìn từ Tâm của chàng:
Chàng rằng: Phổ ấy tay
nào?
Xưa sao sầu thảm, nay sao
vui vầy?
Tẻ vui bởi tại lòng nầy,
Hay là khổ tận, đến ngày cam lai? (câu 3207-3210).
Nên Thiên-đàng, Niết-bàn
không phải nơi nào sau, trên hay dưới theo trật tự của sự vật, nhưng là tương
quan chân thật giữa người với người, giữa người với Trời, giữa người với thế giới
chung quanh, trong cuộc sống thường nhật của mình.
Nhưng tương quan chân thật
đó mãi vẫn còn là cõi chung mãn của niềm hy vọng trước những nguy cơ của
Tài và Mệnh đang tương tranh trong thân phận con người tại thế; và câu hỏi
rốt ráo hàm ngụ ở đây là: Duyên nào nữa cho phép tôi vĩnh viễn chết đi
con người cũ để vĩnh viễn cư ngụ trong nhà chân tính, quê thật của con
người tôi?
[1] Martin
Heidegger, Être et Temps, trad François Vezin, Ed
Gallimard, Paris, 1986, tr. 506
[2] Theo
lối nói của Heidegger là thời gian căn nguyên.
[3] Sự
xuất hiện của một Hồ Tôn Hiến trong nguyên bản, cũng như trong Đoạn Trường
Tân Thanh dấy lên nhiều lời phê bình khá gay gắt về giá trị liên tục của
toàn câu truyện. Cả hai tác giả nêu lên hình ảnh bá đạo, giả hình của khung cảnh
xã hội-chính trị: quan trên trí tá, vô tâm, quan dưới ngu si, hèn nhát...một mặt
như phản ảnh nỗi chán chê của hai tác giả đối với xã hội đương thời; nhưng mặt
khác cũng gợi lên khung cảnh văn hoá chết chìm, ngủ yên trong những hình thức
hay cơ cấu xã hội bên ngoài. Phải chăng đây cũng là tâm thức của con người ngày
nay đối với các cơ chế và quyền hành xã hội, tiêu biểu cho nét giả tạo của cõi
nhân sinh? Nhưng có biện minh như thế nào, thì cốt lõi câu truyện xét về mặt nhất
quán của chủ đề có thể chấm dứt phần lưu lạc của Kiều nơi cái chết của Từ Hải.
[4] Kinh
Hoà-bình.
[5] Xem
câu 2397-2416 cuộc đối thoại giữa Giác duyên và Kiều sau
khi Kiều được báo về các mối oan nghiệt trước đó.
[6] Đạo
Đức Kinh, chương 50.
[7] sđd.
chương 55.
[8]
ISAIA, 65, 12; 16; 17; 25
Trời và Người, Thiện-căn
và Tâm
Phần tổng luận chỉ có 14
câu: từ câu 3241 đến 3254, và được chia làm hai đoạn chính:
- Đoạn đầu:
12 câu (từ câu 3241-3252). Bắt đầu bằng chữ "Ngẫm", đoạn
nầy đã trả lời cho từng nội dung được nêu lên trong sáu câu đầu ở phần dẫn
nhập. Về nội dung, nó trùng hợp với những tư tưởng đã được Đạo Cô Tam hợp
giải thích cho Giác duyên về lý do có sự xung khắc Tài-Mệnh trong
cuộc đời của Kiều (xem từ câu 2651-2649). Cái khác ở đây
là Nguyễn Du minh nhiên chuyển nhân vật Kiều vào thân phận
con người tại thế của bất cứ ai, đồng thời hệ thống hoá tư tưởng cho có mạch
lạc.
- Đoạn hai:
chỉ có 2 câu (3253-3254): Đoạn nầy thường được xem là giả tạo, và đôi lúc
còn bị đánh giá là hai câu làm hỏng toàn bộ tác phẩm vốn được xem là nét
tinh hoa của văn chương Việt Nam. Kỳ thực, chúng ta sẽ thấy, nhờ hai câu nầy,
Nguyễn Du đã đẩy phần tinh hoa tư tưởng của ông đến mức cao độ. Ông rút tỉa
bài học của toàn bộ tư tưởng đã được triển khai để áp dụng vào việc đánh
giá nỗ lực sáng tác của mình, đồng thời khai lộ cho thấy khoảng cách không
thể lấp đầy giữa bất cứ Tài nào của con người với Chân
tính nơi Thiện-căn tại Tâm.
- Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Câu đầu phần Tổng luận nầy
rõ rệt là câu trả lời cho câu cuối (câu 6) phần dẫn nhập:
Trời xanh quen thói má hồng
đánh ghen
Câu cuối phần dẫn nhập ấy
hàm ngụ đoạn đường cuối hay phần kết luận của con đường đi tìm, đồng
thời nó cũng là một câu hỏi: Phải chăng trời xanh quen thói má hồng đánh ghen?
Cuộc chiến Tài-Mệnh,
nếu chỉ xem như hai lực đối kháng như có với không, ngày và đêm cùng ở trong một
trật tự hay khung trời của nhận thức sự vật, thì phải được xem câu "Trời
xanh quen thói má hồng đánh ghen" như là một kết luận có tính cách khẳng
định.
Trời được gọi tên
là Mệnh và Tài là má hồng, hay
cũng có thể hiểu Trời là Định mệnh tất yếu và mù quáng kẻ thù của tự do con người.
Nhưng nếu đây là một khẳng định, thì Truyện Kiều đã không có
những can thiệp bất ngờ của Đạm Tiên, Giác Duyên, Tam hợp Đạo cô và duyên cứu độ.
Chính trong câu khẳng định
nầy của con đường đi tìm đã hàm ngụ sự phủ định của Mệnh,
dấy lên niềm tin, niềm hy vọng có một câu trả lời khác, và chuyển phán quyết ấy
vào lời tra vấn về chân tính.
Phản tỉnh khác với tổng hợp
Ngẫm :
Sau đoạn kết Truyện Kiều mô tả cảnh Giác Duyên cứu Kiều và
khung cảnh đoàn tụ, Nguyễn Du mới khởi đầu phần Tổng luận bằng chữ
"".
Ngẫm theo
lối nói của triết học là phản tỉnh (réflexion), tức là sự quay
lại. Trong truyện Đoạn Trường Tân Thanh, ta có thể nói đây là sự trở
về lại nhà mình của Kiều. Nhưng trong phân tích về Truyện
Kiều, ta đã thấy tai tương không phải đâu xa mà phát xuất từ căn nhà cũ ấy.
Như thế việc quay lại không phải là trở lui thuở ấu thơ thuộc không gian, thời
gian như J. J Rousseau nghĩ, hay trở về cái không là gì cả trước khi con
người xuất hiện, đi ngược lại cái có mở ra trước mắt.
Ngẫm là
phản tỉnh theo đúng nghĩa ở đây là tỉnh ngộ, tức
là gặp được và thấy chân trời hay mối tương quan mới mà trước
đây không hề thấy, mặc dù đã có trông chờ hàm ngụ nơi câu hỏi phần cuối đoạn đường
đi tìm. Như vậy phản tỉnh hay ngẫm là phần cốt lõi của tư tưởng. Không
phải chỉ là tìm, mà còn gặp.
Phản tỉnh như thế có khác
gì với tư tưởng tổng hợp của triết học truyền thống?
Tổng hợp trong tư tưởng
triết học truyền thống là đoạn kết của một chuỗi vận hành suy tư liên tục, thường
được gọi là phần tổng hợp cuối cùng dựa vào sự nối kết các yếu tố khác trong luận
chứng. Kant thì cho rằng tổng hợp cuối nầy đưa đến sự đồng nhất hoá của các
hành vi nhận thức vào ngã tiên nghiệm. Còn Hegel thì cho rằng tổng hợp cuối
cùng là sự hoàn thành của tinh thần sau một vận hành biện chứng của các thành tố
đối nghịch.
Nơi chữ Ngẫm của Đoạn
Trường Tân Thanh, trái lại Ngẫm theo nghĩa phản tỉnh là
tình trạng bể tung của cái thế giới cũ của vận hành lưu lạc trước đây, để thấy
được một tương quan mới. Chân trời cũ được chiếu sáng bởi tương quan mới nầy,
chứ không phải nó là sự tổng hợp những thành tố kết dệt nên ngôi nhà suy tư
liên tục.
Câu truyện của Tất Đạt Đa
cho ta thấy rõ hơn con đường tư duy của Nguyễn Du. Chính khi ngộ tức
là gặp bấy giờ mới thấy rõ tại sao con đường tìm kiếm chân lý
qua con đường khổ hạnh trước đây lại phải bế tắc.
Và phản tỉnh là
thấy hay gặp, nhưng gặp cái gì?
Nguyễn Du phát biểu liên
tiếp sau chữ Ngẫm:
Muôn sự tại trời
Chữ muôn sự đó
được diễn giải thêm trong các câu tiếp:
Trời kia đã bắt làm người
có thân
Bắt phong trần phải phong
trần
Cho thanh cao mới được phần
thanh cao
Có đâu thiên vị người nào
Chữ tài, chữ mệnh dồi dào cả hai"
(câu 3242-3246).
Trước hết ta thấy câu trả
lời không nằm trong lối đối chất hàng ngang với câu hỏi đặt ra.
Không nói đến Trời ghen
hay không ghen, cũng không nói đến tại sao trời xanh và má hồng phải xung khắc...
Nhưng với một nội dung
hoàn toàn khác, mới, soi dọi tận căn, không phải chỉ rõ sự sai trái của cách đặt
vấn đề cũ, mà còn mở ra một tương quan sâu-rộng hơn, đáp ứng không phải vừa tâm
sự chờ đợi của thắc mắc dấy lên từ khả năng đặt vấn đề của con người, mà dư
tràn ước vọng ấy.
Cả toàn bộ thân phận con
người tại thế đã được trời với tay để có tương quan.
Và từ tương quan nầy qua
các câu 3241 đến câu 3246, Nguyễn Du hé lộ những nét căn bản, với lối dùng chữ
riêng của mình:
Tương quan tại Trời,
nhưng cần Người để hoàn
thành
Qua toàn bộ Đoạn-trường
Tân-thanh, chúng ta thấy chưa hay đúng hơn là không có một chỗ nào
Nguyễn Du dừng lại để mô tả con người hay Trời dựa trên khuôn (hay là phạm trù)
bản chất, trả lời cho câu hỏi cái gì, như một hiện hữu đứng riêng,
trụ một mình. Chúng ta không thấy có lối nói như con người là xác hồn, hay Trời
là Đấng tự hữu, vô chất, vô hình... Mỗi nhân vật, mỗi đề tài như Tài, Mệnh,
duyên, khổ...đều là một tượng trưng cho sự linh hoạt của một thứ tương
quan. Nói theo lối phân tích ngữ vựng, đây là một động từ.
Hẳn nhiên từ đầu cho đến
cuối, tương quan nêu lên rõ rệt là tương quan Trời với Người,
nhưng ở đây không nêu lên vấn đề thắc mắc về hiện hữu có hay không. Trời
hàm ngụ là lối cư xử của Trời với Người, và má hồng là lối diễn tả
một lối cư xử của Người với Trời.
Trong phần Dẫn Nhập, các
lối cư xử đó hàm ngụ những mối tương quan như thế nào?
Trong câu hỏi dấy lên từ
cuộc chiến đang xảy ra trước mắt, tương quan không những phát xuất từ nỗi đau của
tác giả, mà hàm ngụ lời nói chung của ai mang kiếp con người. Con người đã nhận
ra hai mối tương quan khác nhau và khó lòng dung hợp.
Qua chữ Tài, con
người tự mình mở ra tương quan và buộc trời phải đồng hoá với mút đầu kia như một
đối vật do tự mình nghĩ ra. Khi xem ra hanh thông thì gọi trời là Đấng
ban phúc, Trời gần; khi gặp tai ương thì trời là Con tạo, Hoá nhi, Trời
già, Trời xa, Định mệnh ác nghiệt...Nhưng chỉ khi gặp trở ngại, thì bấy giờ con
người mới ở vào một trạng thái kỳ dị, như nghe được một cái gì khác lạ.Chúng ta
đã phân tích rằng câu "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen"
vừa là câu kết của Tài, như lối mở ra của người, nhưng đồng thời lại
hàm ngụ một câu thắc mắc, chờ đợi một câu trả lời của đâu đó, hé lộ trong lời
chối từ "không phải".
Như thế ở phần dẫn nhập,
tác giả đã cho thấy có một tương giao phát xuất từ con người theo nguyên tắc
nhân quả biến dạng thành nhiều hình thức đối chiếu:
- hễ có tài thì mệnh
xuất hiện
- hễ tài được
thì mệnh ghen
Xem ra như đã có hai mối
tương giao khác nhau, nhưng kỳ thực cả hai chìm vào một trò chơi chung trong định
luật tương giao phổ quát do con người tự thiết định: tương giao dựa trên nguyên
tắc đồng nhất và hệ luận là nguyên tắc nhân quả. Biện chứng của Hegel và Chữ
Tài của Nguyễn Du trong giai đoạn nầy có điều tương hợp: Tài của
Nguyễn Du là khả năng tự mở ra, và tự tạo ra đối tượng trước mắt là Trời, như một
sản phẩm của ý minh, để có tương quan đi ra. Không khác gì Tinh-thần của Hegel
tự tống mình ra trong vật chất để có sự hoàn thành (= devenir) hay
thể hiện sự sống.
Hegel không hề thấy còn
có câu hỏi nào dấy lên từ mối xung khắc nầy, vì tiền kiến hữu thể học dựa trên
nguyên tắc đồng nhất đã chận lối; nên tiếp tục đi tới, qua nhiều tổng hợp cuối
cùng là sự biến hoá của một ngã tinh thần cô đơn.
Nguyễn Du trái lại, trong
cuộc xung khắc giữa hai lực phát xuất từ dự phóng của Tài, thì giật
mình đặt lại câu hỏi chờ đợi một câu trả lời từ bên kia bờ của Tài.
Trong phần Truyện
Kiều, ta chứng kiến đồng thời vừa là sự chung đụng của hai đối lực Trời-Người,
khi xa khi gần tùy hoàn cảnh, trong khung mở ra của Tài; vừa là cuộc
vật lộn đến chí tử giữa từng đợt mở ra của Tài với bên kia là
lời chối từ của Mệnh và sự can thiệp của duyên từ trời.
Đến giai đoạn kết, Đạo cô
Tam hợp người tiên tri, mới khai mở ý nghĩa của toàn bộ cuộc tranh chấp nầy
trong bốn câu:
Sư rằng: "Phúc họa đạo
trời,
Cỗi nguồn, cũng ở lòng
người mà ra.
Có trời mà cũng tại ta
Tu là cõi phúc tình là
dây oan" (câu 2655-2658).
Các câu nầy có khác gì với
các câu đầu phần tổng luận là "ngẫm hay muôn sự tại trời" hay
không?
Nếu nhìn chữ cỗi
nguồn đi với chữ lòng người, và chữ tại tiếp theo là
chữ ta, ta thấy dường như có một trật tự nhân quả đảo ngược giữa
đôi bên; kỳ thực trong các mối của tương quan được nêu lên
trong hai nơi nầy, ta sẽ thấy nội dung không có gì khác nhau.
Thứ nhất, tương quan nay
không còn là sự xung khắc giữa hai đối lực Trời-Người như hai vật thể,
nhưng là tương quan trong chân tính thuộc cõi người ta. Vì đồng thuận nên
đôi bên đều là nguyên nhân và cũng là hậu quả để mối tương quan thật sự được
hình thành và linh hoạt. Nhân quả là lối nói tạm thời, như là một điều kiện
tiên quyết để có tương quan, chứ không dựa trên nguyên tắc nhân quả phát xuất từ
nguyên tắc đồng nhất. Chẳng hạn, lấy khung trời của tương quan yêu thương để thấy
rõ hơn: Yêu là một tương quan của anh A chị B không thể nói mình là nhân hay kẻ
kia là quả. Nó thuộc một trật tự khác với lối nhận thức và khung trời nhận thức
sự vật.
Khi nói "cỗi nguồn ở
tại lòng người mà ra" hoặc chữ tại ta, đấy là câu nói từ
phía bên kia, từ lời tiên tri hay kẻ chuyển lời của Trời. Và để nhắc nhở người
về trách nhiệm của mình, thì Đạo cô Tam hợp lại nói đến điều kiện tiên quyết
cũng là phần của người (= tại người).
Còn ở phần tổng luận, con
người tỉnh ngộ, từ chân trời cũ nay đã chứng thực con đường mới mở ra cho mình,
bấy giờ thú nhận điều kiện tiên quyết phải có phần của Trời thì tương quan mới ở
trong chân tính của nó (= tại Trời).
Nếu cả hai nơi nầy, tác
giả không chủ tâm nêu lên Trời như Đấng Tạo dựng dựa trên nguyên tắc nhân quả để
suy tư, sự kiện đó cũng không liên quan gì đến sự xác quyết tư tưởng Nguyễn Du
hữu thần hay vô thần cả.
Dù có những đoạn diễn tả
sự tha hoá ý niệm về tương quan với Thần do Tài,
nhưng chữ "trời" được nhắc đến cách nầy hay cách khác trong mỗi đoạn [1]
cho thấy việc nhìn nhận có thần, có trời đã là điều hiển nhiên như việc nhìn nhận
có người, có đất. Và Trời, Người, Đất đó đều được Nguyễn Du đưa vào trong mối
tương giao với con người tại thế. Nhưng ở đây vấn đề là mối tương giao ấy, vốn
được trực giác là chân tính của con người, thì liệu Thần, Người hay Đất trong
cuộc sống của thân phận con người tại thế nầy, có thật sự ở trong chân tính của
chúng không? Hay nói cách khác Thượng đế sáng tạo có nguy cơ nằm trong khuôn khổ
của định luật nhân quả của Tài không? Và con người có thể dừng
lại đây để thiết định được tương quan của chân tính con người tại thế chưa? Và
khi hé thấy dấu tích của Trời hay lời phủ định toàn bộ thế giới của Tài,
Trời kia xuất lộ như một động từ phủ định (= vô), thì chữ "vô"
nầy có thể được lồng vào nội dung của phán quyết vô thần hay hữu thần theo lối
nói của tư tưởng triết học truyền thống dựa trên Hữu-Vô của
Parménide không?
Điểm đặc biệt của Nguyễn
Du,
qua lời phát biểu của Đạo cô Tam hợp và mấy câu đầu phần tổng luận, là
Trời chỉ hé lộ và chỉ được nêu lên trong khung của lời tra vấn về chân tính con
người tại thế. Trời không được nhìn như một thực thể đứng riêng để có
người chiêm ngắm một cách vô tri hay khách quan. Trời không bất động, cô đơn,
cũng như người không phải một bản chất đứng độc lập như một "ngã nào"
riêng lẻ; Trời gắn liền với tư tưởng là Trời đã ở trong một tương quan
với người, và người là người đã ở trong mối tương quan với Trời.
Nên câu "Phúc họa
tại trời" của Đạo cô Tam hợp cũng như các câu:
Trời kia bắt làm người có
thân,
Bắt phong trần phải phong
trần
Cho thanh cao mới được phần
thanh cao
Có đâu thiên vị người nào
Chữ tài, chữ mệnh dồi dào
cả hai
là nói đến yêu sách của mối
tương quan đôi đường gắn bó với nhau, bất cứ nhìn từ toàn bộ "người có
thân" hay nhìn từ những hoàn cảnh thăng trầm riêng lẻ của thân phận
con người tại thế.
Lấy làm lạ tại sao ở đây,
trong phần tổng luận, không có một lối nói khác qua những từ ngữ tích cực, lạc
quan..., mà vẫn dùng lại những lối nói nhân hình hoá để nói về trời: Bắt,
cho, thiên vị...Tại sao ở đây, ngôn ngữ thời chung mãn vẫn là ngôn ngữ được
dùng vào thuở còn lầm lạc?
Trước hết, những từ ngữ
nhân cách hoá ở phần dẫn nhập "ghét", "quen thói...
đánh ghen" có những âm hưởng khác với những từ ngữ "bắt",
"cho", "thiên vị" ở phần tổng luận.
Chưa kể đến đặc tính về
giá trị của các chữ "ghét" và "quen thói... đánh ghen"
những chữ đó diễn tả cuộc chiến của hai đối lực ở cùng một trật tự hoàn toàn đồng
tính về mặt hữu thể học. Nói cách khác chúng diễn tả một cuộc đối đầu của hai đối
thủ được tiền kiến như cùng một bản chất với nhau. Sự xếp hàng trời xanh đồng đẳng
tính với người về mặt hữu thể học hàm ngụ rằng tài trí con người có thể am tường
trước về Trời xanh để định đoạt về cuộc chiến giữa đôi bên. Tuy gọi là Trời
xanh, nhưng khoảng cách xa hay gần lại hoàn toàn do ý muốn và phán đoán của tài
trí con người định đoạt. Khi được một điều hay thì trời là bạn: chẳng hạn
"Thông minh vốn sẵn tính trời"; khi gặp hoạn nạn, thì Trời là
kẻ thù: "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen".
Việc tôn vinh trời, hay
nguyền rủa từ chối trời ở đây là phản ứng hậu thiên của một hành động làm nên một
hình ảnh Trời theo ý người. Trời ở đây là sản phẩm của "Dục"
hay "Tài" của "Ngã", là con bò vàng được tôn
vinh làm thần thánh đã từng được nói đến trong Sách Xuất hành của Cựu ước [2] .
Ở phần Tổng luận, trước
các động từ "bắt", "cho", "thiên
vị", có chữ Trời kia siêu vượt lên khả năng vươn tới
của Tài-Trí con người. Nói "Trời kia" là nói đến một sự hiện hữu mà
không sự hiện hữu nào con người thấy được có thể trùng hợp. Héraclite hay Lão Tử
gọi một cách nghịch thường là Sự hiện diện vắng mặt (Présence
absente) hay "Đạo khả đạo vô Thường Đạo" - Và Phật là
kẻ đã gặp, thì lại làm thinh không nói gặp ai hay cái gì.
Hai từ ngữ "bắt"
và "cho" vừa hàm ngụ toàn bộ cuộc sống lúc vui cũng như lúc buồn,
vừa diễn tả một sự Hiện Hữu làm đầu mối cho tương quan tạo nên nhân tính, đồng
thời lại khai mở hai đặc tính:
- Chủ động và trên trước ở
đầu kia là Trời.
- Tuy tương quan muốn được
thiết lập và hoàn thành còn là "tại người", nhưng người ở đây phải hiểu
trong chân tính của nó. Chân tính đó phải được xây dựng trên tương quan thật,
nghĩa là vượt lên "chấp ngã" là đầu mối của các tương quan giả tạo do
chỉ từ ý muốn con người (= Tài).
Nếu dùng chữ để diễn
tả năng lực tạo nên tương quan, thì ý muốn của người không thể thay hay đồng
hoá với ý muốn của Trời. Tương quan là hoà, nghĩa là sự gắn bó giữa
hai hữu thể khác biệt, không thể thay thế cho nhau. Trái với loại tương quan giả
tạo do một ý muốn duy nhất gọi là đồng, tiền kiến phát sinh ra các
tổng hợp đồng đẳng hoá (identification par synthèses). Nên ở
đây không đặt vấn đề nhân bản hàm ngụ sự hất cẳng Thần bản, hoặc ngược lại;
nhưng là thắc mắc về chân tính con người dựa trên các mối tương quan. Và
chỉ trong chân tính là tương quan, mới có thể đề cập được nội dung của tự do
liên quan đến thân phận con người tại thế.
Nhưng dù có những nội
dung khác biệt về cách sử dụng thuật ngữ nhân cách hoá ở hai phần dẫn nhập và tổng
luận, thì chính lối dùng chữ của sinh hoạt con người để nói đến Trời vẫn là vấn
đề đáng thắc mắc.
Câu trả lời có thể được
giải thích qua hai nhận xét sau đây.
Trời siêu việt,
theo Nguyễn Du, như đã chọn chính "con người có thân" hay thân phận
con người tại thế làm nơi cư ngụ.
Nói cách khác, ưu tư của
tác giả là tra vấn về sự hiện diện của Trời siêu việt ngay trong "cõi
người ta, ở đây và bây giờ" chứ không phải ở một cảnh giới trước hay
sau cuộc sống hiện tại.
Nếu phải dùng chữ cảnh giới,
thì cảnh giới của Chân tính cũng là khung cảnh của thời gian - không gian thực
tại trước mắt, nhưng cùng một thực tại trước mắt mà có thể có nhiều loại tương
quan. Cũng là người đối diện với người, nhưng có những tương quan hững hờ như
không có, hoặc cũng có thể gắn bó, yêu thương. Và chúng ta sẽ hiểu tại sao có
câu "Thiện căn ở tại lòng ta". Nói tóm Siêu việt tính, Trời
cao không có một con đường nào khác để tìm ngoài các mối tương giao kết dệt nên
"cõi người ta".
Nhận xét thứ hai liên
quan đến âm hưởng đặc biệt của cách dùng các từ ngữ có đặc tính nhân cách hoá
đã nói ở phần trên. Tuy dùng ngôn ngữ con người để nói Trời kia,
nhưng ở phần Tổng luận ta thấy dồn dập những tác động có tính cách chủ động của
Trời. Sự kiện đó gợi lên yêu sách không nhân nhượng của chân tính trước
những toan tính tương đối hoá dựa vào Tài trí con người. Chân tính là chân
tính, không tương nhượng một lối biện minh nhất thời hay tùy hứng chiều theo
hoàn cảnh và dựa vào ý muốn đơn phương nào của con người.
b- Tài và Tâm
Hai câu
Có đâu thiên vị
người nào,
Chữ tài chữ mệnh dồi
dào cả hai
chuyển từ nền của chân
tính con người tại thế đến thực tại của nó.
Câu đầu nêu lên chân tính
phổ quát của thân phận con người tại thế. Câu truyện tượng trưng của Kiều,
cũng như câu truyện của Job trong Cựu ước là những hình ảnh nổi
bật, đã gợi lên cho ta thấy có một thảm kịch. Nhưng đi vào ý nghĩa của chính
thân phận con người tại thế, thì mỗi giây phút, mỗi hoàn cảnh của bất cứ ai,
vào bất cứ thời đại nào, của "cõi người ta" đều là một cuộc tương
tranh Tài-Mệnh. Thân phận đó đầy nguy cơ lầm lạc, nhưng chất chứa
bên trong là cuộc chiến để tìm về hay hoàn thành, với niềm tin tưởng và
hy vọng cứu độ. Ở đây không có vấn đề bi quan hay lạc quan, chủ quan hay khách
quan, tiền kiến có chữ "quan" là việc đánh giá do tự tài năng con người.
Đây là sự chân nhận chân tính của thân phận con người nơi kẻ phản tỉnh hay ngộ.
Chính sự xuất lộ của chân tính nầy soi dọi cho ta thấy bi quan hay lạc quan là
một phán đoán thiên lệch do "Tài", dựa trên một tiêu chuẩn tự
con người thiết định lấy. Chúng ta đọc được sự biến thiên vô hình vạn trạng của
các tiêu chuẩn nầy trong lối nói nghịch thường của Đạo Đức Kinh, hay sự đổi
thay bất chừng của các giá trị diễn tiến qua từng thời đại, hay tâm thức của mỗi
người.
Câu tiếp: "Chữ tài,
chữ mệnh dồi dào cả hai" rõ rệt nói lên một mặt là yêu
sách của tương quan chỉ được khai mở trong cuộc chiến, mặt khác là hữu hạn tính
của con người tại thế.
Nội dung nầy cho thấy sự
khác biệt rõ nét nhất về cách đặt vấn đề tư tưởng giữa Nguyễn Du và truyền thống
triết học Hy lạp - Tây phương.
Tiền kiến về nguyên tắc đồng
nhất lấy hữu thể cô độc tự tại, tự đủ cho mình làm nền tảng: chân lý được hiểu
tôi là tôi, anh là anh, cục đá là cục đá như những cái gì không cần mở ra với
ai khác và khi mở ra thì mặc nhiên cho rằng có một sự tha hoá hay mất đi sự bền
vững về bản ngã của mình...Tiền kiến đó buộc tư tưởng phải được hiểu là nỗ lực
tự hoàn thành trong thời gian (thời gian cũng được xem là khả năng tiên thiên
có sẵn trong mình, xem Kant) để thu tóm tất cả vào ngã của mình, nói cách khác
tư tưởng là tiến trình tổng hợp tiên thiên để ta làm nên ta. Càng có nhiều,
càng biết nhiều thì hoàn thành được bản ngã mình nhiều hơn.
Nhưng nơi Nguyễn Du, tư
tưởng được hiểu là cuộc chiến để khai mở ra với ai khác, vượt thắng ngã
đồng nhất nầy để thể hiện chân tính trong tương quan.
Tương quan không có nghĩa
là sự đổi thay hay tiếp cận trong khung thời gian - không gian để có những biến
hoá thuộc lãnh vực của vật thể bên ngoài, bị chi phối bởi nguyên tắc nhân quả.
Tương quan của chân tính
con người tại thế ở trong thời gian nhưng không thuộc về sự chi phối bởi định
luật đổi thay của thời gian. Cái nhìn của tôi lên khuôn mặt của người đối diện
có thể mở ra một tương quan gần gũi hay xa cách, mà thế giới bên ngoài không hề
có một thay đổi gì khác. Và cảnh giới khác lạ với cảnh giới bên ngoài ấy đó mới
thực là nét siêu việt của "cõi người ta", làm đối tượng cho tư
tưởng.
Vì tiền kiến về tư tưởng
nằm trong khung của nguyên tắc đồng nhất, nên được gọi là chân lý khi có những
tương hợp giữa nhận thức và phán đoán của trí năng và sự vật bên ngoài. Câu nói
đơn sơ đó hàm ngụ rằng trí năng đã là toàn năng để tự mình quán xuyến hết tất cả
tương quan giữa hai phía; mặt khác trí năng đó cũng đã tiên liệu đối vật sẽ
hoàn toàn mở ra toàn bộ chân tính của nó cho mình. Nơi đây hẳn không có Mệnh để
gợi lên lời phản kháng. Lấy lại lời Nguyễn Du, thì đúng là Tài đã
dồi dào trong lối tư tưởng nầy.
Nhưng, kiến thức khoa học
và kỹ thuật đã đạt được những thành quả hữu hiệu, xác minh cho giá trị của lối
tư duy nầy để áp dụng cho việc hiểu biết và biến cải vật chất! Vấn đề đặt ra
nơi đây là sự hữu hiệu của kiến thức sự vật có phải
là tư tưởng không? Nói cách khác nếu thấu suốt tất cả thế giới những
cái gì, như là tài của trí năng, thì có tiếp cận được
"cõi người ta" theo lối đặt vấn đề tư tưởng của Nguyễn Du
không?
Theo diễn tiến câu truyện
của Kiều, tất cả không trừ một cái gì trong nỗ lực của Tài,
đều bị khước từ bởi Mệnh, trên bình diện của câu tra vấn về chân
tính như một tương quan.
Tài chỉ
đi vào khung tư tưởng khi được lôi kéo vào tương quan của chân tính; và trong
thân phận con người tại thế tương quan đó được xuất lộ trong cuộc chiến với Mệnh.
Nhưng Mệnh cũng
chỉ có nghĩa khi gắn với Tài. Mệnh như lời phủ định từ phía
bên kia, xuất lộ ra trong thân phận con người tại thế như ấn tích của
một sự vắng mặt của chân tính nơi Tài.
Vì thế Mệnh thường
được nói cách khác như thiếu vắng tự căn (khổ) mà không ai, không một cái gì
trong tầm tay với của con người tại thế có thể lấp đầy được. Khổ nầy
của nhà Phật, nỗi khắc khoải của tâm con người nơi Augustinô không có một vướng
mắc nào với chủ trương bi quan về cuộc sống theo lời phê phán có-không, lạc
quan hay bi quan của nếp tư tưởng truyền thống triết học. Khổ là sinh lực nền tảng
của chân tính con người đưa con người vượt thắng "ngã chấp" của Tài để
mở ra các mối tương quan. Mệnh không dồi dào vì
trong thân phận tại thế, không ai thấy được Trời kia, nên cũng
không ai tự mình thay Trời làm chủ chân lý.
Kỳ cùng cuộc chiến tài-mệnh
không phải một câu chuyện cá biệt, nhất thời của riêng ai, nhưng gắn chặt với
"con người có thân", là cuộc chiến giữa tự mãn và tin tưởng-hy
vọng. Tư tưởng, văn hoá bấy giờ là lời cảnh tỉnh để nhắc con người và xã hội bất
cứ lúc nào, trong hoàn cảnh nào về sự hiện hữu của cuộc chiến nầy trong những
bước đường lưu lạc của lịch sử.
[1] Xem
phần phụ đính về chữ Trời ở cuối sách
[2] Xem Xuất
hành 32, 1-6.
Có Tài, mà cậy chi
tài!
Chữ tài liền với
chữ tai một vần.
Chữ mà ở
giữa câu "có tài mà cậy chi tài!" dấy lên hai nhận xét khác
nhau:
"Có tài"
hai chữ nầy xác định một hiện trạng. Chữ có hàm ngụ một vật
mình đang là sở hữu chủ và thuộc quyền sử dụng của mình. Nguyễn Du xác nhận
"tài" nầy như một yếu tố cấu tạo nên bản tính con người có thân.
Yếu tố đó sách Trung Dung
gọi là: Mừng, giận, thương, vui chưa phát ra, ấy là Trung [1].
Tác giả không truy cứu những khả năng đặc loại của chữ Tài nầy
như khả năng tình cảm, ý chí, hay trí năng...để đưa ra những học thuyết duy lý,
duy chí, duy cảm,... như truyền thống triết học khai thác. Chữ Tài được
nêu lên hàm ngụ toàn bộ khả năng con người có thể có trong tay; và điều đáng
suy nghĩ và đưa vào lãnh vực của tư tưởng lại ở phần sau chữ mà: cậy
chi tài!
Và chữ Tài trong
cuộc chiến với Mệnh là nội dung của chữ "cậy tài"
nầy.
Tài tự
nó không tư tưởng gì cả, như câu nói của Heidegger, "Khoa học không tư
tưởng gì ráo", vì tư tưởng không phải xác định hay triển khai
"tài" của mình có, nhưng là tra vấn về tương quan làm nên chân tính.
Khi "cậy tài", nghĩa là chỉ biết đến cái tài của mình đang có,
để tự sản xuất ra kẻ khác theo ý mình và tự thiết
định các mối tương quan giả tạo, bấy giờ đúng là tai họa. Chữ tài trong
câu "chữ tài liền với chữ tai một vần" không những là "cậy
tài", mà còn hàm ngụ "Khả tính con người cậy tài".
Chính khả tính có thể sai
lầm nầy là câu chất vấn thống thiết nhất của con người kêu lên Trời xanh về
gánh nặng tự do bám lấy thân phận con người [2],
đồng thời cũng là thách đố buộc con người phải uy dũng hoàn thành thân phận
mình trong chân tính.
Đã mang lấy nghiệp
vào thân
Cũng đừng trách lẫn
Trời gần trời xa.
Chữ "Thân"
nhắc lại nội dung "người có thân" ở câu thứ 2 (tức câu 3242)
trong phần tổng luận. Ở đây nó cũng có nghĩa là chữ "mình".
Nhưng ngoài chủ đích dùng chữ "thân" cho liên vận trong câu
thơ lục bát, chữ "thân" còn nói đến hình hài con người, có sinh có tử
trong thời gian - không gian hữu hạn. "Thân" là thân phận tại thế của
con người. Và vì thế chữ nghiệp ở đây gắn liền với các câu thơ
đi trước: Nghiệp phải thực hành chân tính của mình trong cuộc
chiến tài-mệnh, nghiệp có thể lầm lạc.
Câu "Cũng đừng trách
lẫn Trời gần trời xa" không phải là lối an ủi hay khuyên nhẫn nhục rán chịu
đựng hết kiếp con người cho xong chuyện. Tâm tình đó trái ngược lại với cuộc đời
lưu lạc đến cùng và duyên gặp gỡ trên sông Tiền Đường trong truyện Kiều.
Nội dung thực của nó là sự
chối từ khung trời phán đoán của Tài về "Trời gần Trời xa"
theo dự kiến riêng của mình. Trời chân thực mà con người cần thiết lập mối
tương quan để thể hiện chân tính của mình không phải bất cứ một loại Trời nào
do Tài sản xuất ra, nên việc trách cứ Trời gần Trời xa như thế không có căn cứ ở
đâu cả.
Thiện căn ở tại
lòng ta
Chữ Tâm kia mới bằng
ba chữ tài
Chúng ta có thể lấy toàn
bộ phần tổng luận nơi các câu thơ đi trước hai câu thơ nầy để đối chiếu với một
câu duy nhất mà Đạo cô Tam Hợp đã trả lời cho Giác Duyên:
Sư rằng: "Phúc họa đạo trời"
(câu 2655)
Và câu chúng ta đang nêu
lên đây: "Thiện căn ở tại lòng ta" tương ứng với câu "Cỗi
nguồn cũng bởi lòng người mà ra" (câu 2656).
Nhưng câu kế tiếp "Chữ
Tâm kia mới bằng ba chữ Tài" không nằm trong khuôn khổ tranh chấp giữa Tâm và Tài như
đã trình bày về cuộc chiến Tài và Mệnh. Đây
là sự so sánh giữa hai cảnh vực hoàn toàn cách biệt.
Vì có sự đứt đoạn trong lối
hành văn ở câu thứ hai nầy đối chiếu với các câu thơ đi trước, có tác giả giải
thích rằng chữ Tài ở đây cũng mang một ý nghĩa hoàn toàn khác
với chữ Tài được sử dụng trong toàn bộ Truyện Kiều. Chữ Tài được
hiểu như là một yếu tố kết dệt nên nhân tính trong tam tài Thiên-Địa-Nhân. Và
chữ "mới bằng" trong câu thơ lại được hiểu là tương hợp hay
tương đương.
Theo thiển ý chúng tôi, một
mặt Nguyễn Du không hề nêu lên một chữ tài nào như một yếu tố
trong tam tài Trời-Đất-Người cả. Chữ có tài trong
câu thơ "có tài, mà cậy chi tài!" là nói đến toàn bộ tài năng
con người, mà con người có sẵn. Chữ tài ấy cũng không thể xếp vào nội
dung Tam tài như những chiều kích mở ra làm nên nhân tính. Mặt
khác lối nói "mới bằng ba" hay bằng mười lần, trăm ngàn lần, đều
có nghĩa như nhau; như thế chữ ba vô định nầy khó lòng ghép vào chữ Tam trong Tam
Tài. Và rốt ráo hơn cả là sự nhất quán tư tưởng của toàn tác phẩm Đoạn-Trường
Tân Thanh: Tài luôn là mối nguy cơ, mà Nguyễn Du muốn cảnh
tỉnh con người và xã hội... Câu thơ nầy có thể nói cách khác: Cảnh vực giác ngộ
Chân tính của Tâm thì khác xa và đáng giá muôn muôn lần so với cảnh vực giả tạo
của Tài
Thiện và Tâm
Hai chữ nầy dùng lại hoàn
toàn tiếng Trung hoa. Tuy chữ Thiện có thể dịch là tốt lành, nhưng trong phần
chú thích của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, hai vị nầy chỉ giải thích "Thiện
căn là cái gốc Thiện" [3].
Qua lối giải thích đó, ta thấy chữ Thiện như đã quen thuộc không những với các
bậc Nho gia, mà ngay cả trong ngôn ngữ dân gian
Tâm thức chung để đánh
giá con người ưu tiên dựa vào tiêu chuẩn "Thiện".
Nếu ba giá trị tối thượng
thường được nhắc đến trong các nền văn hoá nói chung là Chân, Thiện, Mỹ, thì
chúng ta cũng ngạc nhiên là Mỹ và Chân thường ít được lưu ý trong mối bận tâm của
văn hoá Việt Nam chúng ta. Trong ngôn ngữ Việt Nam thường dùng, ta thấy khó
lòng áp dụng chữ Thiện cho một vật nào ngoài con người và thần thánh. Người ta
có thể nói gỗ nầy là gỗ thật, cái bàn nầy đẹp, nhưng khó lòng nói rằng con gà nầy
tốt lành. Nếu có dùng chữ nầy thì ít nhất nó hàm ngụ việc nhân cách hoá hay chỉ
một tương quan nào đó với con người. Hơn thế nữa khi dùng chữ Thiện đượcViệt
Nam hoá thì chữ "tốt từ chữ Thiện" chỉ nhằm nói đến cảnh vực riêng của
con người mà thôi.
Bấy giờ ta có thể đối chiếu
hai câu:
Thiện căn ở tại
lòng ta
(câu 3251)
Và Cội nguồn, cũng
bởi lòng người mà ra
(câu
2656).
Thiện căn và Cội
nguồn được dùng trong hai nơi, trước hết không phải là nền tảng để từ
đó có nhận thức hay đánh giá một cái gì bất kỳ, nhưng nằm trong khuôn khổ chân
tính của "Cõi người ta".
Thứ đến theo nội dung nhất
quán của bản văn, cõi người ta được nêu lên để tra vấn về chân tính của nó,
không đặt nền trên câu hỏi cái gì, thuộc phạm trù bản chất, nhưng kết
dệt bằng những mối tương quan, đặc biệt là tương quan Trời và Người.
Đây là điểm quan trọng để
thấy sự khác biệt về lối đặt vấn đề tư tưởng của Nguyễn Du và triết học Tây
phương dựa trên nền tảng hữu thể học truyền thống.
"Thiện",
"Tốt lành" trong truyền thống triết học là một thuộc tính của
Hữu thể. Hữu thể tối thượng cũng có tính Thiện tối thượng được hiểu là một cái
gì hiện hữu tự tại, bền vững, không nương tựa vào bất kỳ cái gì khác, hay tương
quan với cái gì bất kỳ. Nói cách khác tự thân, hữu thể tối thượng hoàn hảo. Con
người dựa trên hữu thể tự tại đó để định nghĩa hữu thể của mình; và hữu thể còn
được hiểu là có lý tính, nên trong khuôn khổ triết học truyền thống Tây phương
thuộc tính Thiện phải đáp ứng những đòi hỏi thiết yếu sau đây:
- Thiện phải qui chiếu vào chân lý thuộc
hữu thể lý tính.
- Thiện là tự hoàn thành bản tính thường
trụ của mình nơi mình và cho mình.
Như thế, ta thấy cái
biết đi trước và đặt nền hay hướng dẫn hành động để có thể đánh giá rằng
hành động có ăn khớp với hiểu biết hay không; khi có sự trùng hợp giữa tri và
hành thì đó là thiện. Từ đó sẽ triển khai có được một bộ môn học truy cứu về
thuộc tính Thiện nầy gọi là đạo đức học, đi sau hữu thể học và luận lý - tri thức
học.
Và khi quay trở lại với
chữ "Thiện", hay Đạo-Đức (Lão Tử) trong truyền thống suy tư
khác với truyền thống triết học dựa trên hữu thể học nầy, thì người ta đánh giá
rằng đây chỉ là một loại suy tư thực tiễn, chưa phải là triết học đúng nghĩa.
Nhận xét của Dương Quảng Hàm về sự thiếu vắng một nền "quốc học"
trong truyền thống văn hoá Việt Nam có lẽ cũng nằm trong lối đánh giá đó.
Trong Đoạn Trường
Tân Thanh, ưu tư nền tảng của tư tưởng không phải câu hỏi về bản chất sự vật
nhưng là nỗi khắc khoải về tâm trạng bất cập của mình trước yêu sách về mối
tương quan mà tự mình không thiết định được. Nên Thiện đây
không phải là một thuộc tính bởi bản chất của cái gì, dù là trời được hiểu như
một vật bất động, cộng thêm trăm nghìn thiện tính khác mà con người có thể nghĩ
ra để gán cho Bản tính tự tại nầy; cũng không phải là đặc tính của một hành vi
ăn khớp với lý tính làm nên bản tính con người (như Kant chủ trương). Nhưng Thiện là
Chân tính con người tại thế được hoàn thành trong mối tương quan Trời-Người. Từ Thiện
căn nầy mọi cái tốt mới múc lấy sinh lực của nó. Cũng trong dòng tư tưởng
nầy thánh Augustinô nói rằng:
Hãy yêu, rồi làm gì
thì làm
"Yêu" ở
đây là tương quan được thiết lâp, từ đó mọi sinh hoạt con người sẽ mặc lấy sinh
lực của "yêu". Như thế "Thiện" là sự sống, là động từ chứ
không phải một vật bất động làm đối tượng cho nhận thức.
Ở đây không còn nói đến Mệnh
để đối nghịch với "Tài", vì hai câu ta đang phân tích (câu
3251-3251) diễn tả một phán quyết chung mãn. "Tài" là con người tự
mình mở ra một tương quan giả tạo, tiếng vọng của Chân tính trong Mệnh là
phủ định, một mặt khước từ toàn bộ con người cô độc và tự mãn đó (con người lầm
lạc hay thế giới giả tạo), mặt khác cảnh giác con người về sự có mặt nhưng ẩn
kín của chân tính là tương quan. Ở đây "Tài" đã đến thời chấm
dứt, như con người đã chết con người lưu lạc của mình trên sông Tiền Đường, và
một cuộc sống mới, khác, mở ra và bấy giờ Đạo cô Tam hợp lên tiếng về cội nguồn
là chân tính.
Chân tính, Thiện căn
hay tương quan nền tảng đó không phải người gần Trời hay người xa Trời, khi trời
cũng như người được hiểu trong thế giới của "Tài". Nhưng Trời
- Người gặp gỡ tại lòng ta, hoặc nói cách khác Tâm, lòng ta là
nơi Trời - Người gặp gỡ.
Ở đây tác giả Nguyễn Du
(trong câu tiếp) dùng chữ Tâm để lặp lại nội dung chữ "tại lòng ta".
Tác giả như nêu lên câu nói bất hủ của kinh Thượng Thư:
"Tâm con người dễ
sai trái, Tâm của Đạo lại tinh tế. Đạt được điều thiết yếu và nguyên sơ cần giữ
lấy gốc bên trong" [4] .
Thực vậy, câu "Thiện
căn ở tại lòng ta" dễ đưa đến ngộ nhận, khi hiểu "lòng ta"
đây là ý muốn riêng tư của mỗi người, hoặc tâm thức đổi thay tùy hoàn cảnh. Nói
cách khác cái gì ta thích thì ta làm, đó là điều tốt nhất! Nhưng một mặt toàn bộ
tác phẩm, tác giả đã gián tiếp trình bày sự khác biệt của "nhân tâm"
và "đạo tâm" đúng như trong Kinh Thư: "Tài"
đúng là "nhân tâm" theo nghĩa tiêu cực mà Kinh Thư nêu lên. Mặt
khác vì trong câu "Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài" đã hàm ngụ
sự khác biệt đó.
Tuy ta có thể hiểu được Tâm ở
đây là "Tâm đạo", Đạo tinh tế vượt lên trăm ngàn lần con đường
đi của "Tài" hay nói theo Đạo Đức Kinh là "nhân vi",
nhưng điều ta vẫn thắc mắc là hầu như vào câu kết tác giả mới vụt nói đến chữ
Tâm, và để lửng [5] .
Vũ Quỳnh trong truyện Họ
Hồng Bàng đã nói đến Đạo Tâm và giải thích chu đáo hơn, qua chữ Tương Dạ [6],
đồng thời nêu rõ đấy là nơi hẹn hò của Long Quân với Âu Cơ và các con nàng.
Trong Đoạn Trường
Tân-thanh, chỉ có một dấu vết nhỏ khác trong câu nói của Đạo cô Tam hợp
(câu 2656): "Cỗi nguồn, cũng ở lòng người mà ra" tương quan với
câu tiếp: "Có trời mà cũng tại ta" (câu 2657).
Như thế qua chữ Tâm trong
tác phẩm nầy ta chỉ có thể thấy nội dung cô đọng được khai lộ:
Trước hết là chính ý
nghĩa tượng trưng của chữ Tâm: Tâm là điểm chuẩn mà mọi yếu tố hay
sinh hoạt phải qui về. Nhưng Tâm còn gợi lên rằng định chuẩn đó ẩn dấu và luôn ẩn
dấu.
Nếu đối chiếu hai câu của
Đạo cô Tam Hợp và hai câu đặc biệt nầy trong phần tổng kết, ta có thể hiểu Tâm
qua câu "Có trời mà cũng tại ta".Tâm được hiểu là tương quan Trời-Người mà
trách nhiệm tu dưỡng nó là phần vụ đặc biệt của con người.
Đạo Tâm không nhân bản
hay thần bản, nhưng là sự cảnh giác để Nhân-Thần gặp gỡ trong "cõi người
ta".
Và cuối cùng nếu đối chiếu
với câu truyện Kiều, thì Tâm là Giác duyên, ơn cứu độ của
Trời đến với con người để chấm dứt con đường của "Tài" và mở
ra Trời mới-Đất mới của Thiện Căn; chốn cư ngụ của Thần Thánh. Tâm theo nghĩa nầy
đúng là trăm ngàn lần hơn (= bằng ba) những gì tài trí con người
có thể tạo ra.
Câu kết nghịch thường
Lời quê, chắp nhặt,
dông dài,
Mua vui cũng được
một vài trống canh (câu 3253-3254).
Đây là hai câu ngắn gọn
Nguyễn Du sử dụng để kết luận toàn bộ tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh;
kết luận đó cũng là lời tự đánh giá về tài năng văn chương cũng như nỗ lực xây
dựng tư tưởng của mình.
Hai câu thơ phản ảnh những
gì tiêu cực, tệ hại nhất mà bất cứ nhà phê bình nào cũng có thể dùng một trong
các cụm chữ đó để loại bỏ giá trị của một bản văn:
Lời quê :
hình thức văn chương cục mịch, thô thiển.
Chắp nhặt :
ý tưởng rời rạc, thiếu mạch lạc.
Dông dài :
lối diễn tả vụng về, nhàm chán.
Mua vui :
sử dụng để làm trò hề cho thiên hạ.
Cũng được một vài trống
canh : chữ cũng được nói lên giá trị không
cần thiết, ngay cả trong việc mua vui. Trống canh vừa có nghĩa là khoảnh khắc
ngắn, trong đêm hàm ngụ rằng không có giá trị sinh hoạt cho cuộc sống (= ban
ngày), vừa gợi lên những trò giải trí phù du của lớp người được đánh giá là xướng
ca vô loại.
Nói tóm lại, Đoạn
Trường Tân Thanh được tác giả tự đánh giá là không có giá trị gì tích
cực cả!
Phải chăng lối tự phủ nhận
nầy là một lớp bùn giả tạo tác giả tự trét vào mặt mình để đánh lạc hướng con mắt
xoi mói của vua quan nhà Nguyễn, hầu tránh tai họa cho sinh mạng và sự nghiệp của
tác giả?
Từ chính những gì đã viết
ra trong bản văn nầy, chúng ta có một số yếu tố để thấy thắc mắc trên có thể được
nêu lên.
Trước hết, nhìn dưới khía
cạnh xã hội, chính trị thì vai trò Từ Hải, một nhân vật tự xưng hùng, xưng bá
nghịch lại với triều đình, đã được mô tả một cách tích cực như một nhân vật hào
hiệp, mà Kiều thuận tình yêu thương và cảm mến. Bên cạnh đó là những người đại
diện cho quyền lực chính thức đương thời là Hồ Tôn Hiến, Thổ quan, những nhân vật
trí trá, vô tâm hèn nhát và ngu si.
Nhưng các yếu tố nầy đã
có trong bản gốc từ tiếng Trung Hoa, hơn thế nữa việc thẩm định thái độ
khe khắt của vua quan Nhà Nguyễn đến mức nào từ phía tác giả cũng như về phía
các nhà sử học còn là những xác xuất. Nên nếu đó là một lý do buộc Nguyễn Du phải
gượng gạo thêm hai câu cuối nầy vào tác phẩm của mình, thì không phải là không
có căn cứ nhưng chúng ta sẽ thấy còn nhiều yếu tố khác nữa.
Nhìn từ những câu thơ viết
ra trong tác phẩm nầy liên quan đến hai câu thơ cuối, ta lại có một chứng lý
khác. Trong cuộc gặp gỡ trong đêm với Kim Trọng, sau khi được Kim Trọng ca tụng
về bốn câu thơ Kiều phẩm đề trên bức họa treo ở nhà
chàng, Kiều tâm sự:
Nghĩ mình phận mỏng cánh
chuồn,
Khuôn xanh biết có vuông
tròn mà hay?
Nhớ từ năm hãy thơ ngây.
Có người tưởng sẽ đoán
ngay một lời.
Anh hoa phát tiết ra
ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh, một đời tài hoa
(câu
411-416).
Nếu mượn lấy nhân vật Kiều trong
hoàn cảnh nầy để diễn tả tâm sự của mình, thì Nguyễn Du chắc hẳn cho rằng Đoạn
Trường Tân Thanh đúng là nét tinh hoa do tài năng xuất chúng của ông
đã được ông thực hiện. Nhưng trong tương quan nhân quả má đào - mệnh bạc,
"anh hoa" đã phát tiết ra ngoài thì hẳn phải gặp nghiệp chướng hoặc
cho sinh mệnh ông, hoặc cho số phận bèo bọt của tác phẩm, ông mạnh dạn đi bước
trước tự hủy công trình của mình, hoặc giả phá được nghiệp chướng chăng? Nhưng
bên ngoài những viện dẫn lý do có tính cách tâm lý và xã hội, chúng ta thử đi
vào chính sự nhất quán tư tưởng của toàn tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh mà
chúng ta đã phân tích, để mở ra những lời giải thích khác.
Trước hết là khung cảnh của
nền văn hoá Á Đông mà Nguyễn Du chịu ảnh hưởng và phản ảnh ra trong hai câu thơ
nầy.
Khung cảnh văn hoá đó yêu
sách một thái độ khiêm nhu nơi kẻ sĩ, cũng như đánh giá như lời văn, chữ viết
chỉ là một phương tiện bất đắc dĩ so với sự sinh hoạt phong phú của Đạo trong
cuộc sống con người.
Thái độ khiêm nhu có khi
trở thành một qui ước xã hội, và được sử dụng như một lối đề cao mình một cách
giả tạo. Nhưng dù nó có bị méo mó đến đâu, thì cá nhân liên hệ hay xã hội cũng
đã cảm nhận thái độ đó như một yêu sách. Khiêm nhu được xem là một thái độ đạo
đức của kẻ sĩ, vì đằng sau thái độ nầy là sự chân nhận thân phận hữu hạn của
con người trước chân lý mà không ai là sở hữu. Con người có thể tìm hay
gặp Chân lý, chứ chưa ai là Chân lý hay tạo ra Chân lý cả. Khổng Tử đã truyền
đạt lại Chân lý vốn từ Đại-ký-ức, Phật đã gặp Chân lý mà không gọi tên được;
Lão dứt khoát phân biệt Đạo do bất cứ ai bày ra như con đường nhân vi giả ảo và
Đạo thường vốn vi diệu, nên đã từng nói:
Nên, thánh nhân làm
Mà không ỷ vào mình,
Xong việc thì không ở lại,
Không muốn ai thấy hiền đức
của mình [7].
Trong trường hợp nầy của
Nguyễn Du, sau phần Tổng luận nghiêm túc, trang trọng tưởng chừng như khuôn
vàng thước ngọc mà tài năng ông có thể tạo nên được, thì tác giả cảnh tỉnh người
đọc và cho chính cả tác giả.
Đây là Con Đường mà tác
giả đã gặp; nhưng lối diễn tả do tài của tác giả về Con Đường nầy, đúng như thằng
hề nhảy múa trước ngai vua, có một sự cách xa diệu vợi giữa Tâm và Tài,
giữa sự linh hoạt cao cả của Thiện căn và toàn bộ nổ lực văn chương mà tác giả
dày công sáng tác. Hơn thế nữa, duyên của tác giả ngộ được Thiện Căn đến mức
đó, nhưng so với chân tính của Đạo thì Con Đường còn tinh tế hơn trăm ngàn lần;
và ngoài ra còn phải chân nhận những duyên khác đến với vô số con người trong
cõi người ta.
Nên nếu đối chiếu với câu
"Có tài mà cậy chi tài!" trong phần đi trước, cũng như toàn
câu truyện của Kiều phải chết cả thế giới tài của mình để đến
bên lề đạo Tâm, thì ta thấy lời tự phê của Nguyễn Du đối với tác phẩm của mình,
không phải phần thêm vào một cách gượng gạo, nhưng đúng là lối dẫn nhập cho người
đọc trước khi đi vào chủ tâm chính của tác giả: là tra vấn về chân tính con người
tại thế, luôn vi diệu và luôn mãi làm mọi người thắc mắc.
Và điểm đặc biệt hơn cả,
hai câu nầy giúp chúng ta thấy được cái khác biệt sâu xa nhất giữa giấc mơ đồng
nhất hoá con người với Chân tính của Parménide đã khai mở nền hữu thể học của
Truyền thống Triết học, và cảm thức chân thành về hữu hạn tính của con người tại
thế thuộc cõi người ta.
[1] Trung
Dung, chương I : Hỷ, nộ, ai, lạc chi vị phát, vị chi Trung.
[2] Xem
quan điểm tự do của Dostoievski trong Nicolas BERDIAEFF, l’esprit
de Dostoievski, ed. Stock, 1974.
[3] Xem
Nguyễn Du, Truyện Thúy Kiều, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu đính và
chú giải, bản in lần thứ tám, Tân Việt, Sàigòn x.b tr. 206, chú thích 7.
[4] I, Ngu
Thư III, Đại Vũ Mô, 15 [Nhân tâm duy nguy; Đạo Tâm duy vi. Duy tinh
duy nhất, doãn chấp quyết trung].
[5] Chữ Tâm theo
nghĩa được dùng trong phần Tổng luận nầy chỉ được sử dụng một lần duy nhất ở
đây. Trong toàn tác phẩm chữ Tâm được dùng đôi lần nhưng với những ý nghĩa
khác:
Đã nguyền hai chữ đồng
Tâm (câu 555)
Từ rằng: "Tâm phúc
trương cờ (câu 2179)
Hai bên ý hợp Tâm đầu (câu
2205)
Từ rằng: "Tâm phúc
tương tri (câu 2219)
Tâm thành đã thấu đến Trời (câu
2717)
Mấy lời Tâm phúc ruột
rà (câu 3183)
[6] Xem
Nguyễn Đăng Trúc, Văn Hiến, Nền tảng của Minh triết, Định hướng x.b,
1996 [Tương Dạ = Đêm hay Lòng gặp gỡ])
[7] Đạo
Đức Kinh , Thị dĩ thánh nhân; vi nhi bất thị, công thành nhi bất xử, kỳ
bất dục kiến hiền, chương 77.
Chương IV
Yếu tính của tư tưởng
qua tác phẩm
Đoạn-Trường Tân-Thanh
Hình thức diễn tả của tác
phẩm Đoạn Trường Tân Thanh vay mượn lối văn chương tiểu thuyết.
Phương thức dùng một câu truyện có tính cách tượng trưng xuyên qua các hình ảnh
cụ thể trong cuộc sống của một cá nhân nhằm gợi lên những nội dung tư tưởng về
thân phận con người nói chung, không phải là một sáng kiến độc đáo của Nguyễn
Du; trong kho tàng văn hoá nhân loại, nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng hướng
dẫn nếp sống con người cũng sử dụng hình thức diễn đạt nầy: Chẳng hạn các bản kịch
của Sophocle, Eschyle; các bản văn Cựu ước như sách Sáng thế, sách Job; kịch bản
Faust của Goethe; Tây Du ký của văn chương Trung Hoa; các tác phẩm tiểu thuyết
cũa Dostoievski; quyển I của Lĩnh Nam Chích Quái...Nhưng trong hình thức diễn tả
nầy, Nguyễn Du có được đặc sắc riêng là dùng phần dẫn nhập của Đoạn-Trường
Tân-Thanh để minh nhiên nêu lên rõ chủ đề suy tư, và sắp đặt lại thành
một hệ thống, dù rất cô động, trong phần tổng luận. Điểm đặc sắc nầy xích gần
tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh với lối trình bày tư tưởng của
các tác phẩm văn hoá ứng dụng lối văn chương hệ thống hoá có tính cách trừu tượng
hơn, như Trung Dung, Đạo Đức kinh hoặc các luận văn triết học Tây phương.
Nhưng điểm quan trọng
không phải ở trong lối hình thức văn chương, dù rằng nỗ lực nầy của Nguyễn Du
là một công trình xuất sắc trong tiến trình văn học Việt Nam.
Điểm quan trọng mà chúng
ta đã phân tích rõ trong phần dẫn nhập, là điểm khởi phát thiết định đâu là
khung trời của tư tưởng. Nói cách khác điều gì đáng gọi là tư tưởng hay yếu
tính của tư tưởng là gì?
Tư tưởng bao giờ cũng là
câu tra vấn cho đến cùng để có được câu trả lời về nền tảng tối hậu. Nhưng tra
vấn về việc gì? Nếu lấy hình ảnh của một vụ án, chúng ta có thể đặt câu hỏi: có
gì oan ức cần phải xử cho ra lẽ, nội dung nào cần được nêu lên để tra vấn?
Truyền thống triết học
cho rằng nội dung thiết yếu của vụ án là thắc mắc về nền tảng thiết định bản chất
của mọi sự hiện hữu. Mệnh đề nầy thoạt tiên xem ra như đã đạt được đến mức rốt
ráo. Kỳ thực, đằng sau khởi điểm "thắc mắc" nầy còn có những vấn nạn
nguyên sơ hơn nữa chưa từng được xác minh, mà truyền thống triết học nầy xem
như đương nhiên, thường được gọi theo ngôn ngữ chuyên môn là tiên thiên (a
priori), nghĩa là vốn đã như thế. Trong những vấn nạn đó, theo sách
Job phải lưu ý đến lời chất vấn nầy của công lý, đó là vấn đề thân trạng của chủ
thể đặt câu hỏi. Sách Job viết:
Ta sẽ chất vấn ngươi và
ngươi cho ta hay.
Ngươi đã ở đâu khi ta đã
dựng nên trái đất?
Hãy nói đi, nếu sự hiểu
biết của ngươi minh bạch"[1].
Nỗi khắc khoải về thân trạng
nầy là thắc mắc nguyên sơ của bi kịch Hy lạp, đặc biệt trong các kịch bản của
Sopocle (xem Oedipe vua), cũng như các tác giả truyện Bánh dày, Bánh chưng
trong Lĩnh Nam Chích Quái. Lang Liệu hoang mang về thân trạng của mình trước ý
định của cha. Lang Liệu đã nghe nhưng không hiểu. Trong sách Sáng Thế ký của Cựu
ước, Adam và Evà đã hái trái hiểu biết để phân định tốt xấu, tráo đổi thân trạng
của mình làm thân trạng của Giavê Thiên Chúa, nên đã sai lạc.
Ta sẽ thấy Triết học Tây
phương khi nêu lên thắc mắc về nền tảng đã tiền kiến rằng câu hỏi nầy phát xuất
do tự khả năng mình, theo ý mình. Trên bình diện hữu thể học, mọi sự như đã ở
trong quyền lực của con người, từ nguồn gốc câu hỏi, sự kiện nêu lên câu hỏi (mọi
sự hữu) và nền tảng của nó, đều đã được thiết định. Bước nhảy vọt ra khỏi thân
trạng của mình như thế cũng là bước khởi đầu hay bình minh của tư tưởng triết học
truyền thống.
Thực vậy, trước khi xác định
nền tảng cho lối suy tư triết học nầy, trong Bài Ca Hữu Thể Parménide
đã diễn tả bước nhảy vọt kỳ lạ trên đây một cách khá chi tiết. Trong giấc mơ,
Thần thánh đã đưa con người lên trời xanh vượt qua ngưỡng cửa phân chia
Đêm-Ngày để sống trong cõi hiểu biết đầy ánh sáng của Hữu thể. Trong cõi đó mọi
sự đều ở trong chân lý, vì "Bất luận ta bắt đầu từ đâu, vì ta sẽ trở lại
nơi đây" [2].
Từ nay tư tưởng sẽ dựa trên nền tảng duy nhất có tính cách căn cơ về thân trạng
nầy: "Hữu thể không phân chia, vì toàn thể hữu thể đồng nhất với chính
mình" [3].
Do đó có thể nói Hữu thể là Hữu thể, và Vô thể là Vô thể; và tư tưởng thuộc về
hữu thể nầy nên "tư tưởng và đối vật của tư tưởng trùng hợp nhau" [4].
Rồi tác giả còn nói thêm,
đó là Định mệnh đã trói buộc như thế.
Có gì khác giữa bài ca hữu
thể nầy và bi kịch Hy lạp đặc biệt trong bản kịch "Oedipe vua" của
Sophocle? Sophocle gợi ý rằng sự hiểu biết ngày là ngày, đêm là đêm của Oedipe
hàm ngụ sự quên lãng một tương quan thiết yếu, nên đã tạo ra tình trạng cô độc
của Oedipe. Oedipe đã giết cha mình là Laios, dành thân trạng của cha để ăn nằm
với chính mẹ mình mà không hay. Bi kịch chính là nỗi oan của lạc lầm gắn với kiếp
con người tại thế. Nên tư tưởng gắn liền với thảm kịch không khởi đầu từ sự hiểu
biết ngày là ngày đêm là đêm; nhưng là nỗi khắc khoải khi nghe được tiếng gọi từ
Đại-ký-ức thức tỉnh con người về thân phận lầm lạc mình đang sống, đồng thời cảm
nhận tình trạng bất cập về mối tương giao với người cha Laios, mà mình đã giết
mất rồi.
Ngược lại, điểm khởi phát
của Triết học Truyền thống đã tiên liệu sự đồng nhất tính giữa Laios và Oedipe.
Đây là hình ảnh để nói lên nguyên tắc đồng nhất hay tác động đồng nhất hoá.
Nguyên tắc đồng nhất ấy hàm ngụ một sự vững chắc cô đơn của Hữu thể bất động tự
đủ cho mình, đồng thời cũng hàm ngụ sự đồng nhất giữa tư tưởng và vật thể mình
muốn biết. Ứng dụng nguyên tắc nầy vào sự trôi chảy của thời gian, người ta sẽ
có tính hữu lý hay tất định của nguyên tắc nhân quả. Như thế Nguyên tắc đồng nhất
được xem là nền tảng bất khả kháng và hiển nhiên đi trước cả câu hỏi về
nền tảng của mọi sự hữu. Thắc mắc về nền tảng ở đây xuất lộ như là một thắc
mắc giả tạo, qua lối đặt câu hỏi: Cái gì? Tuy đấy là một câu hỏi,
nhưng đã hàm ngụ một câu trả lời, hay nói cách khác buộc câu trả lời phải nằm
trong chính cái nền mình đã có sẵn trước trong tay. Tại sao như thế? Vì cái
gì trong câu hỏi nầy phải được hiểu vừa là cái nền chung, lại vừa đồng
hoá với khả năng con người nêu câu hỏi.
Nói cách khác "Cái
gì" xuất lộ ra trong sinh hoạt con người vừa như một câu hỏi và đồng
thời cũng tiên liệu được câu trả lời. Nói theo Parménide, tự nó, hữu thể dù ở
đâu đâu đi nữa, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng không thể phân chia, nhưng
đồng nhất với mình, tự đủ cho mình. Nên từ nền tảng nầy mọi câu hỏi có thể đều
được phát biểu như nhau: Thiên Chúa là gì? Con người là gì?
Cha tôi là gì? Củ khoai là gì? Kỳ cùng tôi là
gì?
Hữu thể học nầy chi phối
vận mệnh của lối đặt vấn đề tư tưởng của truyền thống triết học Tây phương, từ
Aristote cho đến nay.
Người ta thường nhắc đến
Nietzsche như kẻ thù của tư tưởng truyền thống triết học, vì đặt ngược lại vấn
đề, không phải Hữu mà là Vô là nền tảng của
Thiên nhiên và cuộc sống con người. Nhưng Vô của Nietzsche trong hư vô chủ
nghĩa của ông lại đã nằm trong khung Hữu-Vô nầy.
Ông đã táo bạo nêu lên khả
năng nói ngược lại: Hữu là Vô là Vô là Hữu,
nhưng Vô hay Hữu của Nietzsche cũng tiền kiến
tiêu chuẩn đặt vấn đề của Parménide. Nietzsche mặc dù đã quay lại truy cứu thời
bi kịch Hy lạp, nhưng không vượt qua được tiền kiến hữu thể học của triết học
truyền thống. Ông đã tìm ra nơi bi kịch, căn cơ Vô làm nền cho tư tưởng. Nhưng
"Vô" của Nietzsche, cũng như Hữu của
Parménide đều là tính đồng nhất giữa khả năng con người và chân tính hay vô
chân tính. Nietzsche chưa nhận ra cái khác về cách đặt vấn đề
tư tưởng nơi bi kịch, ông chỉ nêu lên cái ngược lại trong
khung trời Đêm-Ngày, Hữu-Vô của Oedipe lúc chưa tỉnh ngộ hoặc
trong sự đối nghịch Hữu-Vô của Parménide. Heidegger nhấn mạnh
rằng hư vô chủ nghĩa tự căn không phải nằm trong lối nói ngược lại với Hữu của
hữu thể học truyền thống, nhưng hư vô chủ nghĩa là vận mệnh chung của toàn bộ hữu
thể học, bao gồm việc nhấn mạnh Hữu hoặc Vô của nó:
Hư vô chủ nghĩa đúng hơn,
nếu được suy nghĩ trong yếu tính của nó, là vận hành nền tảng của Lịch sử Tây
phương" [5].
Nói cách khác chữ "ai"
gắn liền với cõi người ta chưa hề bao giờ được nêu lên thành câu hỏi.
Hư-vô phát
xuất từ bước trật chân căn bản về thân trạng của câu thắc mắc về tư tưởng, do
hành vi đồng-nhất-hoá đi trước nó như nghiệp chướng của thân phận con người tại
thế. Đồng-nhất-hoá là một lối nói của nhà Phật về chữ Karma tạo ngã-chấp. Sách
Sáng thế dùng hiện tượng bàn tay hái trái cây hiểu biết để đồng
nhất hoá mình với Thiên Chúa. Từ lúc ấy mọi sự hiện hữu đều là cái gì,
kể cả con người và Thượng đế.
Hư vô không
phải là không thực hiện được cái gì trong viễn tượng của hữu
thể học truyền thống. Lịch sử chứng minh con người đã dùng kiến thức của mình để
hiểu biết nhiều chuyện, làm được những điều mình ước muốn một cách hữu hiệu.
Con người đã từng nối dài cuộc sống, rút ngắn lại thời gian xa cách bằng các
phát minh kỹ thuật giao thông, xoá bỏ ngăn cách không gian bằng kỷ thuật truyền
thông điện tử...nhưng tất cả không giải thích được tại sao giữa ngày hội Đạp
Thanh, muôn người chen chúc, Kiều lại không thấy bóng dáng một
ai để tương giao; và tại sao gần đến như vợ chồng, cùng giường mà xa cách vì
khác mộng!
Gioan, một trong những
nhà chép Kinh Thánh Tân ước đã nói về hư vô như sau:
"Họ đã ra đi, lên
thuyền; đêm đó, họ đã không bắt được gì" [6].
Họ không bắt được gì, vì
toàn bộ nỗ lực của họ nằm ở trong khung của đêm đó. Toàn bộ
có-không được Parménide cho là đã sáng tỏ trong cảnh ngày hoàn toàn khai mở:
Người-Trời- Đất đã được đồng nhất hoá. Nhưng ngày đó là đêm cho chân tính, vì
chân tính không là cái gì tự đứng một mình, dù là Trời, người
hay Đất - Mà chân tính là tương quan, là sự sống đặc loại của con người.
Trở lại với lối đặt vấn đề
tư tưởng của Đoạn Trường Tân Thanh.
Thắc mắc nguyên ủy nêu
lên trong phần dẫn nhập phát xuất không phải là ưu tư về sự hiểu biết bản chất
của một cái gì; nhưng từ đầu, khung của tư tưởng là "cõi
người ta" của ai và những ai. Chữ ai gói
gọn chân tính con người tại thế ngỡ ngàng về thân trạng mình, được
đặt thành vấn nạn trong mối xung khắc tài-mệnh dấy lên trong
mình, làm con người đau khổ, nhưng không biết do từ đâu đến. Con người đã nghe
lời chất vấn gián tiếp qua Mệnh để thấy được rằng quê thật hay
chân tính của mình là một tương quan; nhưng thực trạng của thân phận tại thế của
mình lại chìm vào "ngày của Tài", mà toàn bộ không có đường
mở ra. Con đường duy nhất mở ra không phải do tự nơi Tài, vốn
là ngã chấp luôn cố thủ đóng kín mình lại trong giấc mơ đầy an
bình của riêng mình. Nhưng Mệnh là lời quấy rầy đến từ Chân
tính, phủ định toàn bộ hư vô nơi Tài. Sự xung
khắc khởi đầu cho thắc mắc về Chân tính, hay còn gọi là khởi đầu của
tư tưởng, không liên quan gì đến xung khắc có-không, tinh thần-vật chất theo biện
chứng pháp của Hegel - là xung khắc giữa hai đối cực trong khuôn khổ của Tài.
Xung khắc Tài-Mệnh là cuộc vật lộn giữa nghiệp chướng đồng-nhất-hoá
do ý chí quyền lực của ngã cô đơn, và chân tính thúc bách một sự mở ra để
có tương quan; giữa trật tự của các cái gì và cõi
người ta.
Nếu nền móng cho tư tưởng
triết học truyền thống là nguyên tắc đồng nhất, hay đúng hơn là hành vi đồng nhất
hoá (indentification), thì trong thân phận con người tại thế
tư tưởng chỉ xuất hiện khi có lời chất vấn của chân tính, ta có thể nói là âm vọng
của Đại-ký-ức, đến với con người, làm con người thấy hụt chân, hay thiếu vắng
tương quan làm nền cho thân trạng của mình. Cảm thức thiếu vắng nầy, về phía
con người, là điều kiện tiên quyết của tư tưởng. Cảm thức thiếu nền lại
là nền cho tư tưởng. Ngôn ngữ tôn giáo gọi là lòng khiêm hạ, hay tinh
thần nghèo (tâm hư = lòng trống rỗng).
"Phúc cho những kẻ
nghèo trong thần trí" [7].Tư
tưởng phát xuất từ cảm thức thiếu vắng, hàm ngụ niềm tin hay hy vọng Thời Chung
Mãn trong đó Trời-Người sẽ nối kết. Bao lâu thân phận con người còn tại thế,
chân tính của nó gắn liền với hữu hạn tính của "Thời tại thế nầy", được
cảm nhận như cơn khát hay khổ căn nguyên làm sức mạnh đẩy con người vươn tới Thời
Chung Mãn, vươn mãi lên đến tương giao Thái Hoà. Tương quan Trời-Người trong
chánh nghiệp của con người có thân là khổ cứu độ, vọng lên từ "lòng
ta", lòng của bất cứ ai là người.
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ Tâm kia mới bằng ba
chữ Tài.
Thiện căn là Chân
tính, và nay là Phúc thật cho những ai lìa quê an bình giả
tạo của Tài, để làm người lữ hành trên bước đường đầy thách đố của Đạo
Tâm.
Nhưng, Duyên nào đây sẽ
đưa người lữ hành trên bước đường lưu lạc, xa quê đến bến bờ thời chung mãn?
[1] Jb
38, 3-4.
[2] PARMÉNIDE,
Fgt. 3.
[3] sđd
, Fgt. 8.
[4] sđd,
Fgt. 8.
[5] Xem
M. Heidegger, Chemins qui ne mènent nulle part-Gallimard, Paris,
1980, tr. 263.
[6] Ga 21,
3).
[7] Mt.
5,3.
Phụ chú
_________________________
Kiều của NGUYỄN DU
(1766-1820),
một gia
sản văn hóa nhân loại
Vĩ nhân không chỉ là người
nắm bắt thời đại bằng tư duy của mình, mà còn giúp con ngời nơi cõi nầy đụng chạm
đến vô tận.
Vì thế tự căn nét
siêu việt trong tác phẩm và nơi cuộc sống người ấy cống hiến một tấm gương soi
dẫn mọi thời đại, mỗi một người trong toàn thể nhân loại.[1]
** * Tóm lược bài chia sẻ
về Văn hóa Truyện Kiều của Nguyễn Du trong buổi trình diễn Nhạc của nhạc
sĩ Quách VĩnhThiện tại Conservatoire de Musique J.S. Bach, Bussy Saint-Georges
ngày 12/4/2009
Thi phẩm Kiều của Nguyễn
Du là một lời được cảm hứng[2], một tư
tưởng.
Vì là lời được cảm
hứng, thi phẩm đó ở bên kia bờ của việc mô tả hay biện
minh cho một thời đại hay một xã hội nào bất kỳ. Lời ấy không bị ràng buộc bởi
những định chế và các giá trị đang chi phối nếp suy tư của xã hội, nhưng đặt vấn
đề về ngay chính nền tảng của chúng nhân danh một quyền uy khác hơn quyền uy
đương đại, đó là quyền uy của sự thật, của ý nghĩa về nhân
tính con người. Vì vậy lời được cảm hứng không quan
tâm đến việc mô tả những thực tại xã hội, những tập tục của một cộng đòan, những
sáng kiến, giấc mơ hay tình cảm của một nhân vật. Nhưng đưa tòan bộ thực tại
con người, kể cả những nền tảng và định chế xã hội, trực diện với một câu chất
vấn duy nhất và căn đế : chất vấn về ý nghĩa của nhân tính.
Con người là vấn nạn cho
chính mình, đó là một câu chất vấn duy nhất gợi hứng cho đạo lý
các thánh hiền, cho minh triết của những nhà tư tưởng đi tiên phong trong
các nền văn hoá khác nhau của nhân lọai
Khi tiếp cận được lời thi
ca, cảm hứng được câu chất vấn đến từ bờ bên kia, - lời vượt
lên trên những kiến thức giới hạn của con người-, các thánh hiền và các nhà tư
tưởng chạm đến con tim con người bất cứ nơi đâu và bất cứ thời đại nào. Sứ điệp
của họ được tiếp nhận như là gia sản văn hóa đối với toàn thể
nhân loại và đi vào Đại Ký Ức của các dân tộc.
Nếu gia sản văn hoá của
nhân loại không chuyển đạt điều gì khác hơn là ý nghĩa về nhân tính, thì sứ điệp
văn hóa ấy cũng hé lộ cho thấy thân phận con người tự căn vốn kỳ lạ và mâu thuẫn.
Nét kỳ lạ ấy là dấu chỉ linh ư vạn vật của nhân tính buộc con
người phải dấn thân vào Cuộc Chiến bi thảm, nhưng hào hùng để
có thể chu tòan Mệnh làm người của mình.
Dưới ánh sáng của lời được
cảm hứng từ bên kia bờ, Cuộc Chiến ngoại thường nầy [thánh hiền
trong văn hóa Hy Lạp gọi là Khôn Ngoan về nhân tính (άνθρωπίνη σοφία)[3] hay Đức
Lý (Ήθος)] vượt lên trên các hình thái đối nghịch của vũ trụ,
trên các biện chứng tư duy và tranh chấp xã hội, trên mọi hình thức tự phủ định
ý chí muốn sống hay con đường khổ hạnh để tu thân… Cuộc Chiến ngoại thường nầy
là :
- Cuộc Chiến giữa Đạo sâu
kín, chân thực, đối nghịch với những đạo giả tạo do trí
năng vạch ra (xem Đạo Đức Kinh của Lão-tử, quyển 1,
chương 1).
- Cuộc Chiến giữa một nhân tính đặt nền
tảng trên Ngã đơn độc, tự mãn bên nầy bờ của
bến mê và một nhân tính đích thực (Phi Ngã) bên kia bờ của Ngã mê
lầm đó, trong đạo lý Phật giáo.
- Cuộc Chiến giữa Vương Đạo của chính
nhân quân tử và Bá Đạo của tiểu nhân, theo Khổng giáo.
- Cuộc Chiến giữa Tài (Τέχνη)
và Mệnh (Μοίρα) trong Bi Triết của Hy Lạp (đặc
biệt trong Prométhée bị trói của Eschyle và trong Œdipe-Vua của
Sophocle:
“Tài (Τέχνη) quá
yếu so với uy quyền của Mệnh”[4].
“Cuộc chiến vinh quang
mang nguồn sinh lưc cho quê hương, xin Trời đừng dẹp tắt.”[5]
- Cuộc Chiến (Πόλεμος) giữa Lời siêu
việt (Λόγος ) và lý lẽ con người trong tư tưởng của
Héraclite.
- Cuộc Chiến giữa một bên là Đạo Công
Chính và Chân Lý[6],
– Đạo được linh hứng bởi Thần Khí và được hướng dẫn bởi những ái nữ
của Thần Mặt Trời –, và bên kia là con đường bế tắc của
mê lầm mà mọi người đang đi, không trừ một ai[7] trong
Thi Ca của Parménide.
- Cuộc Chiến mà Socrate là một chứng tá
sống động trong cuộc sống, trong cái chết bi thương nhưng vinh quang,
trong lời giáo huấn ngược đời của ông.
- Cuộc Chiến giữa nhân tính đặt nền tảng
trên (Tài), trí năng đo lường các sự vật trong vũ trụ,
và một nhân tính khác được cảm hứng bởi « Lý của Con
Tim » (Đạo Tâm) trong tư tưởng Pascal...
Chính cuộc chiến đấu bi
hùng đó đã khơi nguồn cảm hứng cho tư tưởng gia-thi sĩ Nguyễn Du và được diễn đạt
qua hai câu thơ đầu tiên của truyện Kiều:
Trăm năm trong cõi người
ta,
Chữ Tài chữ Mệnh khéo là
ghét nhau (Kiều, c. 1-2)
Toàn bộ thi phẩm Kiều là
một sự triển khai trực giác độc đáo nầy.
Nhân vật Kiều thể hiện cuộc
chiến giữa hai căn tính con người, một căn tính đặt nền tảng trên chữ Tài và
căn tính kia trên chữ Mệnh, ở ngay giữa cuộc sống.
Lời thi ca nơi
Âm vọng Khổ Đau từ bờ bên kia (qua bóng dáng Đạm Tiên)
thức tỉnh Kiều nhận ra một Kiều hồng nhan gắn liền với Nghiệp (Tài),
và một Kiều chân thực bên trong (thanh cao) của Mệnh mà
Giác Duyên sẽ cống hiến, sau cái chết rốt ráo của Nghiệp nơi sông
Tiền-Đường, giao thoa giữa Tài và Mệnh.
Con đường của Tài xuyên
qua những hình ảnh tượng trưng như :
- Sự tự vẫn : con đường vô sinh,
vô cảm.
- Thúc Sinh –
biểu tượng cho khóai lạc cá nhân và lòng trắc ẩn thường tình.
- Con đường khắc kỷ ở trong một am thất,
- Từ Hải –
biểu tượng sự giải phóng xã hội...
Nhưng những con đường giải
thoát của Tài đều bế tắc.
Tuy nhiên Lời từ bên
kia bờ không ngừng âm thầm nhắc rằng thế giới Ảo-tưởng
của Tài sẽ tàn, và Con Đường khác của Mệnh sẽ hé lộ nhờ Giác
Duyên :
- Đạo của Mệnh, Đạo-Tâm tuyệt đối ở bên
kia bờ của Tài và đòi hỏi cái chết tận căn của Tài (Kiều
hồng nhan phải chết trên sông Tiền Đường để sống lại Kiều Giác Duyên).
- Đạo của Chữ Tâm là Đạo duy nhất của sự
cứu rỗi, Đạo tuyệt hảo (Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài). (Kiều c.3252).
Từ hai thế kỷ nay, thi phẩm
Kiều của Nguyễn Du đã cảm hứng tâm hồn và qui hợp con dân Việt-nam. Trong tương
lai, hội ngộ nguồn cảm hứng tư tưởng thi ca của nhân lọai, thi phẩm Kiều hẳn sẽ
cống hiến cho mọi dân tộc trên thế giới một lời mời gọi cấp bách để có thể nhận
ra bí nhiệm vô tận, đó chính là CON NGƯỜI.
Một bí ẩn từ Truyện
Kiều của Nguyễn Du
Trong gần hai thế kỷ,
Truyện Kiều của Nguyễn Du đi vào Đại Ký Ức của người Việt. Mỗi người, mỗi
sinh hoạt tiếp nhận những lời thơ Kiều như một nguồn cảm hứng, một kho tàng tài
liệu hay một lời biện minh.
Nguồn sinh lực của
Truyện Kiều khó mà cạn, vì đây là một lời thơ, một lời cảm hứng đến từ ‘Vô
Phương’ bên kia bờ của không gian và lịch sử. Tuy nhiên điều đáng làm cho chúng
ta hôm nay ngạc nhiên, đó là qua gần hai trăm năm, nguồn cảm hứng đến với Truyện
Kiều của Nguyễn Du, nguồn cảm hứng còn được gọi là Lời-Mới-Làm-Đứt-Ruột - Đoạn
Trường Tân Thanh - mà Đạm Tiên là hiện thân làm sứ giả truyền đạt cho Kiều, nguồn
cảm hứng kỳ lạ ấy dường như không một bậc thức giả nào lưu ý. Mà nếu có nhắc đến,
thì người ta cũng chỉ biết lặp lại lời của Vương Quan[8],
một con người ở-bên-ngoài cảm thức của nỗi-đau-làm-người mà Nguyễn
Du muốn truyền đạt qua nhân vật Kiều.
Trong Truyện Kiều, người
nghe được từ miệng Đạm Tiên lời làm đứt ruột nhắc nhở ý nghĩa làm người, người
hoàn thành cái chết của thế giới mê lầm do Tài đã được Đạm Tiên loan báo, người
nhận ra Đạm Tiên là lời cứu độ khi gián tiếp cho hay Đạm Tiên cũng là Giác
Duyên, người duy nhất ấy trong truyện Kiều không ai khác hơn là Kiều, kẻ hữu-tình-ta-lại-gặp-ta[9] với
Đạm Tiên.
Thế nhưng, Đạm Tiên, lời
làm cho cổ nhân bên kia bờ miệt mài say đắm[10],
nay con người bên nầy bờ đã đẩy lui vào dĩ vãng xa xăm, nếu không nói
là đã biến lời âm thầm làm đứt ruột nầy - lời của lương tri, lời đạo
nghĩa - thành một con điếm, một nấm mộ bị lãng quên bên lề đường.
Hai trăm năm ca tụng mối
tình Kim Trọng-Thúy Kiều đến độ quên tương-giao-hữu-tình-bên-trong giữa Đạm
Tiên và Kiều ; hai trăm năm tôn vinh Từ Hải hiệp nghĩa giang hồ khí phách
đến độ quên đi cuộc-vượt-qua uy dũng từ cõi chết của Tài đến ơn cứu độ của Mệnh!
Phải chăng hai trăm năm đó cũng là nghiệp quên lãng của phận làm người ‘đã
mang lấy nghiệp vào thân’ (Kiều, c. 3249) !
Trước bỉ ẩn lịch sử nầy,
thử hỏi có lời nào của Đạm Tiên giúp ta nêu lên hai vấn nạn nầy :
Kiều là gia sản văn
hóa của dân Việt Nam và của nhân loại, phải chăng chỉ vì Nguyễn Du có công chọn
được một truyện tình cảm xã hội của một tác giả người Tàu và đã chuyển được qua
tiếng Việt một cách hết sức văn chương?
Hay đã đến lúc chúng ta lại
cần một « lới mới làm đứt ruột » để đọc lại Truyện Kiều
và tiếp nhận được sứ điệp tư tưởng của nhà văn hóa Nguyễn Du ?
____________________
Chữ Trời
trong Đoạn Trường Tân
Thanh
Dựa vào chính từ ngữ
chính xác được dùng: Trời hay chữ hán-việt Thiên,
cũng như dựa vào một trong hai thành tố tương quan làm nền tảng cho yếu tính của
con người tại thế, một bên là người và bên kia là trời (hoặc một
thuộc tính của trời nầy mà cách gọi tên đổi thay tùy mức cảm nhận về mối tương
giao đó, hoặc tùy hoàn cảnh làm xuất lộ một mối tương quan cá biệt), chúng tôi
sắp xếp bản liệt kê sau đây:
A- Trời được
nêu lên như một vật gì bao la làm khung cho vũ trụ, hoặc một hiện tượng thời tiết
của vũ trụ thiên nhiên. Trời đây là đối tượng của nhận
thức thường nghiệm
Cỏ
non xanh tận chân trời (câu 41)
Tiếng
mau sầm sập như trời đổ mưa (câu 484)
Chữ Trời nầy
được dùng trong các câu: 140, 449, 546,899,910, 914, 1041, 1603,1637, 1639,
1876, 2062, 2248, 2251, 2441, 2550, 2628, 2924, 2943, 3049.
B- Trời được
dùng như tĩnh từ, một đặc tính tự nhiên di nhiên, bẩm sinh (inné), hoặc
vốn đã là như thế. Từ ngữ chuyên môn của triết học truyền thống gọi là tiên
thiên hay tiên nghiệm (a priori).
Thông minh vốn sẵn tính trời (câu 29).
Xem các câu: 150, 494, 1065, 2239, 2922.
C- Trời còn
chỉ về nhà vua, hàm ngụ một quyền lực tối thượng trong cuộc sống xã hội.
Năm mây, bỗng thấy chiếu trời (câu 2947).
D- Và Trời trong
tương quan với con người để kết dệt nên cõi người ta. Có lúc trời xuất
hiện như một tài năng theo dự phóng của Tài dựa trên nguyên tắc nhân quả; có
lúc Trời là trời kia vượt trên
khả năng vươn tới của con người, nhưng con người thấy cần để đặt nền cho tương
quan chân thật của nhân tính.
"Trời xanh quen
thói má hồng đánh ghen (câu 6).
Phủ phàng chi mấy Hoá
công (câu 85)
Khuôn xanh biết
có vông tròn mà hay (câu 412)
Xưa nay nhân định thắng Thiên cũng
nhiều (câu 420)
Ông Tơ gàn
quản chi nhau (câu 449)
Oan nầy còn một kêu trời,
nhưng xa (câu 596)
Trời làm
chi cực bấy Trời! (câu 659)
Trăng già độc
địa làm sao! (câu 688)
Rủi may âu cũng sự Trời (câu
817)
Tiếng oan đã muốn vạch Trời kêu
lên (câu 892)
Nàng rằng; "Trời
thẳm đất dày!" (câu 979)
Người dù muốn quyết, Trời nào
đã cho! (câu 998)
Túc nhân âu cũng có Trời ở
trong (câu 1018)
Trên đầu có bóng Mặt
trời rạng soi (câu 1030)
Mà xem Con Tạo xoay
vần đến đâu (câu 1116)
Hoá nhi thật
có nở lòng (câu 1129)
Nàng rằng: "Trời nhé
có hay" (1179)
Chủ trương đành đã chị
Hằng ở trong (câu 1340)
Bây giờ đất thấp, Trời cao
(câu1817)
Chúa Xuân để
tội cho mình cho hoa! (câu 1946)
Không dưng chưa dễ mà bay
đường Trời (câu 2100)
Chứng minh có đất, có Trời
(câu 2125)
Tài tình chi lắm,
cho Trời đánh ghen (câu 2154)
Biết thần chạy chẳng khỏi
Trời (câu 2163)
Đội Trời, đạp
đất, ở đời (câu 2171)
Đạo Trời báo
phục chỉn ghê (câu 2309).
Nàng rằng: "Lồng lộng Trời cao!
(câu 2381)
Dễ đem gan óc, đền
ghì Trời mây (câu 2416)
Chọc Trời, quấy
nước, mặc dù (câu 2472).
Tấm lòng phó mặc
trên Trời, dưới sông (câu 2634)
Trời làm
chi đến lâu ngày càng thương (câu 2649)
Sư rằng: "Phúc họa đạo Trời (câu
2655)
Có Trời mà
cũng có ta (câu 2657)
Bán mình đã động hiếu tâm
đến Trời (câu 2684)
Khi nên, Trời cũng
chiều người (câu 2689)
Duyên ta mà cũng
phúc Trời chi không! (câu 2694)
Tâm thành đã thấu đến Trời (câu
2717).
Hơn người trí dũng,
nghiêng Trời uy linh (câu 2904)
Cõi trần mà lại thấy người Cửu
nguyên (câu 3000)
Rằng: trong tác hợp Cơ
Trời (câu 3063)
Dưới dày có đất, trên cao
có Trời (câu 33086)
Trời còn
để có hôm nay (câu 3121)
Ngẫm hay muôn sự tại Trời
(câu 3241)
Trời kia
đã bắt làm người có thân (câu 3242)
Cũng đừng trách lẫn Trời gần,
Trời xa (câu 3250)
E- Và
âm hưởng của Lời từ Trời trong Mệnh như Lời phủ nhận thế giới
của Tài , cũng như tác động của Trời là Duyên bất ngờ đến cứu
độ để mở ra tương quan Trời-Người là Thiện-căn,
mà nhà của nó là Tâm.
[1]Karl
JASPERS, Les grands philosophes, tome 1, trad. C.
Floquet et autres, Plon, Paris, 1989, tr.36.
[2] Socrate
đã mô tả thi ca (lời được cảm hứng) như sau: « Không phải do
tài năng nào của mình mà các thi sĩ làm thơ, nhưng là do cảm hứng từ một quyền
năng của Thần. Vì nếu dựa vào một tài năng trình bày lưu loát như người ta thường
làm được trong các bộ môn nào đó, thì phải chăng thi ca cũng chỉ là một bộ môn
nào bất kỳ hay sao! Bởi vậy, Thần đã xóa hết tài năng lý trí con người để dùng
họ làm thi sĩ, cho họ nhập Thần và trở nên những tiên tri của Trời. Nhờ thế khi
nghe lời thơ của các thi sĩ, thì chúng ta hiểu được rằng không phải do chính
tài năng họ mà họ có được những giá trị cao cả, bởi lẽ lúc ấy họ đã bị tước hết
tài trí của mình rồi; nhưng chính Thần nói, Thần chuyển lời của Thần đến với
chúng ta qua trung gian các thi sĩ ! » (PLATON, Ion. 534 c-d;
534 e..).
[3] cf.
PLATON, Biện hộ Socrate 20 d-e.
[4]
ESCHYLE, Prométhée bị trói c..514.
[5] SOPHOCLE, Œdipe-Vua,
c. 879-880.
[6]
Sđd. II 4.
[7] Sđd. V
9.
[8] Kiều, c.62 :
Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi !
[9] c.127.
[10] Xem
c.64. Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh.
Tài liệu tham khảo
Tài liệu Việt ngữ
Bùi Kỷ
Trần Trọng Kim Hiệu
chính và chú giải Truyện Thúy Kiều, bản in thứ tám, Tân Việt, Sàigòn.
Dương Quảng
Hàm Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Bộ Giáo
dục, in lần thứ 10, Sàigòn 1968.
Đào Duy
Anh Việt Nam Văn Hoá Sử Cương, Quan Hải Tùng thư, Huế
1938.
Khảo luận về Kim Vân Kiều,
Quan Hải Tùng thư, Huế 1943
Hiệu khảo, chú giải, xb. Văn Học, Hà Nội 1984
Đặng Trần Côn
Chinh Phụ Ngâm Khúc, Đoàn Thị Điểm diễn nôm, Văn Bình Tôn Thất Lương diễn giải,
xb. Tân Việt, Huế 1950
Khuyết
Danh Đại Việt Sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, xb. Thành
phố Hồ Chí Minh, 1993
Lê Quý Đôn Toàn Tập
Khoa học Xã hội, Hà Nội xb, 1978.
Lê Ngọc Trụ, Bửu Cầm
Thư mục về Nguyễn Du, Sàigòn, Bộ Giáo dục, xb. 1965.
Lê Văn
Hoè Nho giáo và Truyện Kiều, Đời Mới số 39,
1953.
Lê Văn
Siêu Việt Nam Văn Minh Sử Cương, tái bản, Khởi
Hành, Đức quốc 1990.
Lý Tế
Xuyên Việt Điện U Linh Tập, bản dịch Lê Hữu Mục,
Sàigòn 1962.
Một nhóm Giáo
sư Kỷ niệm đệ II bách chu niên
thi hào Nguyễn Du, trong Văn Hoá Nguyệt San, số đặc biệt, Sàigòn 1965.
Một số tác giả
Lịch sử Văn học Việt Nam, Khoa học Xã hội xb,Hà Nội, 1980.
Nguyễn Đăng
Trúc Văn Hiến, Nền Tảng của
Minh Triết, Định Hướng xb, Reichstett, Pháp, 1996.
Nguyễn
Khoa Khảo luận Đoạn Trường Tân Thanh, Khai Trí, Sàigòn
1960.
Nguyễn Thạch
Giang Truyện Kiều, Đại học và Trung học chuyên
nghiệp, Hà Nội 1973
Nguyễn Trãi Toàn Tập
xb. Khoa học, Hà Nội 1976
Ô
n Như Hầu
Cung Oán Ngâm Khúc, dẫn giải, Văn Bính Tôn Thất Lương, Huế 1950.
Phạm Quỳnh
Truyện Kiều, trong Nam Phong, số 30, 1919
Phan Huy Chú
Lịch triều Hiến chương loại chí, 1821 tái bản.
Phan Bội Châu Khổng
Học Đăng, xb. Khai Trí 1973 Sàigòn.
Trần Thế Pháp
Lĩnh Nam Chích Quái, Vũ Quỳnh hiệu chính,
Lê Hữu Mục dịch, xb. Khai
Trí, Sàigòn 1960.
Trần Trọng Kim Việt
Nam Sử lược, tái bản, Institut de l’Asie du Sud-Est, Paris.
Nho
giáo 2 quyển, xb.
Bô Giáo dục, Sàigòn 1971.
Trần Văn Đoàn
Bản thể và Bản chất của Việt triết, trong Vietnamologia, số 2, Montréal 1996.
Viện Văn học
Kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du, xb. Khoa học Xã hội,Hà Nội 1971.
Vũ Đình
Trác Triết học Nhân bản Nguyễn Du, xb. Hội Hữu,
California 1993.
Lão Tử Đạo Đức
Kinh Quốc văn chú giải, bản dịch của Hạo Nhiên Nghiêm Toàn,
xb. Khai trí, Sàigòn 1970
Kinh
Thư Bộ Văn hoá Giáo
dục Sàigòn 1965.
Khổng cấp Trung
Dung Bộ Giáo dục, Sàigòn 1972.
Đại học Bộ Giáo dục,
Sàigòn 1972.
Tài liệu ngoại ngữ
Alquié,
Ferdinand
La nostalgie de l'être,
Paris 1950
Aristote La Métaphysique,
(commentaire de J. Tricot), Nouvelle Ed. J. Vrin, 2 vol., Paris 1986.
Saint
Augustin Confessions, trad. A. Mandouze, Ed Seuil, Paris 1982.
Bachelard,
Gaston La dialectique de la
durée, Paris 1936.
La terre et les rêveries
du repos, Paris, 1948.
Bréhier,
Emile Histoire de la Philosophie, PUF, Paris, Nlle éd, 1981.
Brun,
Jean Les conquêtes de l’homme
et la séparation ontologique, PUF, Paris, 1961.
Les Stoiciens, PUF,
Paris, 1957.
L 'Europe Philosophe, 25
siècles de pensée occidentale, Ed. Stock. 1988.
Brunschvicg,
Léon Le progrès de la
Conscience dans la Philosophie occidentale, 2 vol., Paris,1927.
Burnet,
John L’Aurore de la philosophie grecque, trad.
Reymond, Paris, 1919.
Canguilheim,
Georges La connaissance de la vie, Paris 1952.
Chestov,
Léon Le pouvoir des clefs, trad. B. de Schloezer, Paris 1928
Childe Gordon
Crayssac, Réné What
happened in history, Ed. Harmondsworth, 8e Ed 1960.
Kim Van Kieu, le célèbre
poème annamite de Nguyen Du, Ed. Lê Van Tan, Ha Noi, 1926.
Delacroix, Henri Le
Langage et la pensée, Paris 1924.
Descartes,
René Oeuvres,
Ed. Adam, Tannery.
Diès,
Auguste La définition de l’être et la nature des idées dans
le "Sophiste" de Platon, 2e éd, Paris 1932.
Dufrenne, Mike et Ricoeur
Paul Karl Jaspers et la Philosophie de l' existence, Paris, 1947.
Eliade,
Mircea Traité d’histoire des religions, Payot, Paris 1949.
Le mythe de l’éternel
retour, Gallimard, Paris 1969.
Eschyle
Oeuvres, trad. Paul Mazon, Ed. les Belles lettres.
Gilson, Etienne
L’être et l’essence, J. Vrin, 2e éd, Paris 1987.
Goethe,
Jean Wolfgang
Faust, trad. Gérard de Nerval, Ed Flammarion, Paris 1964.
Gusdorf,Georges
Mythe et Métaphysique, Paris, 1956.
Hegel,
G.W La phénoménologie de l' esprit, trad.
J. Hyppolite, 2vol. Paris 1939-1941.
Leçons sur l’histoire de
la philosophie, trad. J. Gibelin, Paris 1954.
Heidegger,
Martin Être et
Temps, trad. F. Vezin, Ed. Gallimard, Paris.
Kant et le problème de la
métaphysique, trad. A. de Waelhens et W. Biemel, Ed Gallimard, Paris 1953.
Qu’appelle-t-on penser?
trad. A. Becker et G. Granel, PUF, Paris 1959.
Qu’appelle-t-on penser?
trad. A. Becker et G. Granel, PUF, Paris 1959.
Introduction à la
métaphysique, trad. G. Kahn, Et. Gallimard, Paris 1967.
Chemins qui ne mènent
nulle part, trad W. Brokmeier, Gallimard, Paris 1962.
Hölderlin,
Friedrich Hymnes, Elégies et
autres, trad Guerne, Flammarion, Paris 1983.
Hyppolite, Jean
Etudes sur Marx et Hegel, Paris 1955.
Jaspers,
Karl La situation spirituelle de notre époque, trad;
Paris, Louvain 1952.
Nietzsche et le
Christianisme, trad. Jean Hersch, Paris 1494
Kant,
Emmanuel
Critique de la raison pure, trad. Barni et Archambault. 2 vol. Paris 1934.
La philosophie de l'
histoire, trad. Stéphanne Piobetta, Paris 1947.
Kierkegaard,
Soren Le concept d' angoisse, trad.
P.H Tisseau, Paris 1935.
Riens philosophiques,
trad. K. Ferlov et J. T. Gateau, Paris 1937.
Lévinas,
Emmanuel Difficile Liberté, Ed. A.
Michel, Paris 1963.
Le temps et l' autre,
PUF, Paris 1983.
Mallarmé,
Stéphane Divagations, Paris; s. d.
Marx Karl,
Engels. Friedrich
Nietzsche
S.
Friedrich L' Idéologie allemande, trad. H.
Auger et autres, Ed. sociales, Paris 1976
La naissance de la
tragédie, trad. Geneviève Bianquis, Paris 1938.
Ainsi parlait
Zarathoustra, trad. M. Betz, Paris 1936.
Le Gai Savoir, trad. A.
Vialatte, Paris 1950.
La volonté de puissance,
trad. G Bianquis, 2 vol. Paris 1942.
Parménide
Le Poème, présenté par Jean Beaufret, PUF, Paris 1955.
Pascal, Blaise
Les penseurs grecs avant
Socrate,
de Thalès de Milet à
Prodicos Pensées et opuscules, petite édition de L.
Brunschvicg, lib. Hachette, Paris 1946.
trad. Jean Voilquin
Flammarion, Paris 1964.
Philosophes
taoistes Lao-Tseu, Tchouang-Tseu, Lie-Tseu, trad.
Liou Kia-Hway, ed. Gallimard, Paris 1980.
Platon
Oeuvres, trad. E. Chambry, Les Belles lettres.
Scheler,
Max Nature et formes de la sympathie, trad. M.
Lefèbvre, Payot, Paris.
Le formalisme en éthique
et l’éthique matériale des valeurs, trad. M. de Gandillac, Ed Gallimard,
Paris 1955.
Schuhl,
P.M Essai sur la formation de la pensée grecque,
Paris 1934.
Sophocle
Oeuvres, trad. A. Dain et P. Mazon, 3 vol, coll. Belles Oeuvres.
Spenlé,
Edouard
Novalis. Essai sur l’idéalisme romantique en Allemagne, Paris 1903.
Spengler,
Oswald Le déclin de
L’occident, trad. M. Tazerout, 2 vol, Paris 1948.
Schopenhauer,
Arthur Du monde comme volonté et comme représentation,
trad. A. Burdeau, PUF, Paris 1966.
Teilhard de Chardin,
Pierre Le phénomène
humain, Ed, Seuil, Paris 1955.
Toynbee, Arnold A Study
of History, Ed. Oxfod University Press and, Thames and Hudson Ltd, London 1972.
Trần Đức Thảo
Phénoménologie et Matérialisme Dialectique, Ed. Gordon Breach Paris 1971.
Waelhens, A.
de
Phénoménologie et Vérité, Paris 1953.
Wahl,
Jean Etudes Kierkégaardiennes, Paris
1938.
Walpola,
Ruhaha
L’enseignement du Bouddha, du seuil, Paris 1961.
Whitehead, Alfred
North Symbolism, its Meaning and Effect, Cambridge 1929.
17/11/2011
Nguyễn Đăng Trúc
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét