Một tài liệu ngôn ngữ
học đối chiếu Nhật - Hoa - Việt
Trong cuốn văn phạm của
mình, Arte da lingoa de Iapam (Ngữ pháp tiếng Nhật), ấn hành tại
Trường Kỳ (Nagasaki) năm 1604, linh mục Bồ Đào Nha dòng Tên João Rodrigues khẳng
định: «Muốn viết ngôn ngữ này bằng mẫu tự của chúng ta, chúng ta chủ
yếu phải sử dụng cách viết La Tinh và Bồ Đào Nha, vì hai lý do: cách phát
âm của tiếng Nhật có ít nhiều nét giống với tiếng Bồ trong một vài âm và mặt
khác, tại Nhật bản, các giáo sĩ và các thầy sử dụng tiếng nói và chữ viết Bồ
Đào Nha để giao tiếp với nhau[1]. ». Qua lời nhận xét có vẻ vô thưởng
vô phạt này, ta phát hiện được cả một vấn đề giao lưu văn hóa.
Những ngôn ngữ lớn tại
Đông Á, đặc biệt là tiếng Hoa, tiếng Nhật và tiếng Việt mà chúng tôi giới hạn
trong bài này, đều có một dạng chữ viết trước thời kỳ gọi là tân kỷ nguyên được
mở ra qua chuyến du hành của Vasco da Gama. Tuy nhiên, một trong những công
trình nổi bật nhất của các nhà thừa sai thuộc Padroado (qui
chế bảo trợ) Bồ Đào Nha tại Phương Đông,[2] và đặc biệt là của những linh mục
dòng Tên, đó là việc phiên âm các ngôn ngữ này theo mẫu tự La Tinh, với hệ quả
là họ nghiên cứu cách phát âm và văn phạm của các ngôn ngữ ấy. Quả thật, phát
âm chính là điều mà linh mục Rodrigues đặt lên hàng đầu trong các suy tư của
mình, ngay cả trước việc nêu lên mục đích tôn giáo. Nhưng công trình nầy không
phải vô thưởng vơ phạt xét về mặt thuần túy văn hóa, công việc nghiên cứu ngôn
ngữ mà các nhà thừa sai thực hiện được người ta giải thích nhiều cách khác
nhau.[3]
Tại các nước chịu ảnh hưởng
của Trung Hoa, trong số đó bao gồm Nhật Bản và Việt Nam hiện nay, chữ Hán có một
ảnh hưởng văn hóa rất lớn. Chúng tôi sẽ không bàn rộng về giá trị nội tại của
chữ ấy : nó tập trung vào ngữ nghĩa và kéo theo một mối quan hệ mặc nhiên
giữa chủ thể với đối tượng của diễn từ, với ý nghĩa của một từ.[4] Trái lại, mọi hệ thống mẫu tự đặt tầm
quan trọng vào chính diễn từ, nghĩa là vào sự giao lưu bằng tiếng nói giữa chủ
thể và người đối thoại ; quan hệ giữa một chữ với ý nghĩa của nó phải
thông qua một sự phân tích lời nói : tiếng nói được tách rời ra rồi kết hợp
lại theo chữ viết và cách đọc. Chuyển đổi từ chữ Hán sang mẫu tự, đối với các
nhà nho, thoạt nhìn, là đánh mất đi ý nghĩa, là nghèo đi về mặt văn hóa.
Tài liệu mà chúng tôi muốn
trình bày hôm nay cũng đặt Hán tự vào chỗ danh dự, xếp ở giữa trang giấy. Sau
đó, phần chủ yếu là dựa theo mẫu tự La Tinh mà phiên âm ba ngôn ngữ chính trong
vùng[5]. Việc chọn lựa này không phải chỉ vì lợi
ích của những người nhận thư, nghĩa là những người Âu từng quen thuộc với lối
viết tượng âm mà không biết gì về cách viết tượng hình : thực ra nó phản ảnh
một sự chọn lựa triệt để của các linh mục Bồ Đào Nha chuyên về ngôn ngữ học tại
Viễn Đông, ấy là dùng chữ viết để phục vụ cho ngôn ngữ nói.
Chủ trương thay đổi chữ
viết do các linh mục thừa sai Kitô giáo đề xướng, mà chúng ta có dịp nêu lên
đây, đã không làm cho Trung Hoa và Nhật Bản xáo trộn gì trong lãnh vực này.
Nhưng đối với Việt Nam thì khác, vì những công việc được tiến hành năm 1632 lại
chuẩn bị cho các chuyển biến văn hóa xã hội vào thế kỷ XX.
Tài liệu
Văn bản viết tay mà chúng
tôi trình ra đây là một văn bản gốc được lưu giữ ở Rôma, tại kho lưu trữ lịch sử
của dòng Tên, trong bộ sưu tập « Jap.-Sin.[6] » mà những ai quan tâm đến
Viễn Đông từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII đều biết rõ.[7] Tài liệu này gồm 10 trang ; giấy
– loại giấy phương đông – và mực chưa bị hư hao gì sau ba thế kỷ rưỡi qua.
Khởi đầu là bức thư giới
thiệu dài một trang, do một linh mục Bồ Đào Nha là André Palmeiro ký tên. Linh
mục André Palmeiro lúc bấy giờ là bề trên dòng Tên tại Áo Môn[8]. Bức thư này cho phép xác định được những
người viết và người nhận ẩn danh là những người nào, cũng như xác định được
tính chất và mục đích của chính tài liệu này. Văn kiện này đã được biên soạn
theo lời yêu cầu của một nhân vật quan trọng ở Châu Âu, vì người ấy muốn biết
rõ, trên cơ sở khoa học, về những ngôn ngữ mà các thừa sai gặp gỡ tại Viễn
Đông. Theo linh mục Palmeiro, việc biên soạn được trao phó cho một nhóm người
mà ngày nay ta có thể gọi là ban chuyên viên ngôn ngữ. Linh mục là người trực
tiếp giám sát và bảo đảm phẩm chất cho công trình này.
Thân của tài liệu không
mang chữ ký, nhưng những phần được viết bằng mẫu tự La tinh hẳn là từ tay của
Alexandre de Rhodes[9], và như vậy, Alexandre de Rhodes được xem
là thư ký của nhóm. Cần phải hiểu rằng đây không phải là tác phẩm của một người
riêng lẻ, mà là tổng hợp của một công trình tập thể trong một thời gian lâu
dài. Văn kiện này là một chứng từ hàng đầu, vào thời điểm được ký (tháng năm
1632), về tiến trình chính xác của các cuộc nghiên cứu mà các thừa sai Bồ Đào
Nha đã tiến hành tại Áo Môn.
Văn bản được trình bày
theo bảy cột song song. Ở giữa là chữ Hán, do một nhà nho viết bằng bút lông.
Bên phải của hàng chữ này là ký âm để đọc tiếng Hoa, với các chỉ dẫn về thanh
điệu. Các cột còn lại được trình bày như sau : phía cực tả là tiếng La
Tinh, rồi đến tiếng Nhật viết theo mẫu tự La Tinh, và phía hữu là tiếng Việt viết
theo mẫu tự La Tinh, cùng với hai cột chú thích – rất tỉ mỉ – cách phát âm tiếng
Hoa và nhất là phát âm tiếng Việt. Văn bản được bổ sung bằng một lời dẫn nhập tổng
quát và những ghi chú về nhiều mặt, viết bằng tiếng La Tinh ; các ghi chú
đó đặc biệt tập trung vào cú pháp. Về nội dung của các cột viết tiếng Đông
Phương, trước tiên là toàn bộ văn bản Kinh Lạy Cha theo ba
ngôn ngữ, rồi đến một bản từ vựng ngắn với độ chừng 50 từ thông dụng, và cuối
cùng là những từ để đếm số.
Người nhận, mục đích và bối
cảnh
Tên người nhậân không được
ghi ra trong chính tài liệu này. Khi nhắc đến người nhận, linh mục André
Palmeiro cho biết rằng đấy là một nhân vận quan trọng tại Rôma mà các linh mục
dòng Tên phải tuân phục hay trực thuộc. Thực ra, có một giả thuyết mà chúng tôi
cho là hợp lý : người nhận không ai khác hơn là giám mục Francesco Ingoli,
vị thư ký đầy năng lực của Thánh Bộ Truyền Giáo (Bộ Truyền Bá Đức Tin) mới được
thành lập. Thật vậy, vào thời điểm này, giám mục Ingoli cho tiến hành một cuộc
điều tra rộng rãi để biết rõ hơn những dân tộc mà các nhà thừa sai tiếp xúc. Có
một mẫu điều tra mà chúng tôi thấy rất gần với những thông tin nêu lên trong
văn bản của chúng ta ở đây : đó là mẫu đã được trao năm 1629 cho một linh
mục dòng Carme, Epifanio di S. Giovanni, khi vị nầy đi kinh lý ở Phương
Đông. Hiện nay một bản sao của mẫu ấy còn được bảo tồn trong kho lưu trữ của
nhà dòng[10]. Chúng tôi nghĩ rằng mẫu đã gởi cho vị bề
trên dòng Tên tại Áo Môn cũng có một nội dung tương tự như vậy. Đây là phần
chính yếu :
« Cha phải thu thập
những thông tin về các dân tộc sống trên mọi đất nước mà cha đi qua : muốn
như thế, cha phải ghi lại về lối sống, phong tục và kỹ năng của họ ; rồi về
thương mại, nghệ thuật và khoa học mà cha tìm thấy nơi quê hương của họ ;
về tôn giáo cùng với các tín điều, về các chức sắc trong tôn giáo ấy, về chính
quyền, và cuối cùng về các vua chúa mà họ sống dưới [quyền]…. [Cha tìm hiểu] về
ngôn ngữ mà các dân tộc ấy dùng để nói ; nếu có nhiều ngôn ngữ, thì hãy đặc
biệt ghi lại ngôn ngữ nào được sử dụng nhiều nhất, chủ yếu là trong giới bình
dân… Cha tìm hiểu về chữ mà họ dùng để viết ; về các chữ này, cha tìm cách
hỏi những văn sĩ ưu tú mà cha gặp được, để ghi lại một bảng chữ cái, kể cả những
dấu nối và dấu phân câu mà họ dùng ; cha cũng chú ý ghi lại bằng mẫu tự La
Tinh tương ứng, với cách phát âm, để ta có thể so sánh ; và nếu các dân tộc
ấy có văn phạm và từ điển của ngôn ngữ mình ; thì cha làm thế nào để có được
một bản mà gởi về Rôma, với điều kiện là giá cả không quá cao. »[11]
Giá trị của tài liệu
Vì sao văn bản này không
được nhiều người biết đến ? Tôi nghĩ rằng vấn đề xuất phát từ việc
người ta xếp nó vào trong một hồ sơ nhỏ mang đề mục miscellanea (linh
tinh) về Nhật Bản và Trung Hoa. Quả thật, các chuyên viên về Nhật bản và Trung
Hoa có trong tầm tay một nguồn tài liệu về thời kỳ ấy, gồm các bản thảo và bản
in, rất dồi dào và đầy đủ hơn văn bản này nhiều ; vì thế họ đã bỏ qua tài
liệu này. Thực ra, giá trị ngôn ngữ học của văn kiện này liên quan nhiều nhất đến
tiếng Việt. Các nhà nghiên cứu rất thiếu về các tài liệu làm bằng chứng cho sự
tiến triển của tiếng Việt thời xưa[12], và các giai đoạn của lối viết tượng âm
theo mẫu tự La Tinh vẫn còn ít được biết đến.[13]
Thời kỳ sáng tạo mãnh liệt
của chữ viết theo mẫu tự La Tinh bắt đầu từ 1618 và chấm dứt vào năm 1651,
nghĩa là năm xuất bản cuốn từ điển và cuốn giáo lý bằng chữ viết theo mẫu tự La
Tinh[14]. Công cuộc sáng tạo này được các linh mục
dòng Tên người Bồ Đào Nha chủ trương và tiến hành. Đối với thời kỳ này thì cho
đến nay người ta chỉ mới có được một hai di cảo vắn tắt. Hiện tại, tài liệu xưa
nhất có liên quan và được ghi vào danh mục là một bức thư thường niên (lettre
annuelle) gởi từ Đàng Trong, do linh mục dòng Tên người Bồ Đào Nha là linh mục
Gaspar Luis ký vào năm 1621 ; nhưng bức thư ấy chỉ có được năm từ riêng lẻ.
Những dấu thanh điệu xuất hiện lần đầu tiên năm 1626 dưới ngòi bút của linh mục
António de Fontes. Lần theo các báo cáo thường niên được viết bằng tiếng Bồ Đào
Nha hay tiếng La Tinh dành cho các độc giả Âu châu, và được sao lại ở Áo Môn, ở
Lisboa hay ở Rôma, bởi những nhà sao chép không biết tiếng Việt, ta có được hai
ba mươi chữ riêng lẻ, mà linh mục dòng Tên Đỗ Quang Chính đã lọc ra cho khoảng
thời gian từ 1621 đến 1656.[15] Chỉ có mỗi một câu trọn vẹn được
ghi trong một tác phẩm do một người Ý là Christoforo Borri ấn hành tại Âu Châu
năm 1631, nhưng cách phân tích về phát âm thì còn rất sai sót.[16] Theo ý kiến chung, muốn có được một
văn bản liên tục bằng tiếng Việt, dù là viết bằng chữ nôm hay bằng mẫu tự La
Tinh, thì phải đợi cho đến năm 1650.[17]
Do quá thiếu tư liệu nên
nhiều sử gia đã dựng lên các lý thuyết, ít hợp lý nhưng lại rất phổ biến trong
văn chương liên quan đến Việt Nam, với cùng điểm chung là giảm thiểu sự đóng
góp đặc thù của con người và của ngôn ngữ Bồ Đào Nha vào chữ viết tiếng Việt
theo mẫu tự La Tinh. Chúng tôi đã có dịp phản đối những cách nhìn rập khuôn đó.[18] Để tạo cơ sở cho điều mình nói, từ
nay chúng tôi có được trong tay một văn kiện độc đáo, với mục đích ngôn ngữ học
rõ ràng và được biên soạn do những chuyên viên uyên bác nhất mà ta có được tại
Áo Môn, kể từ 1632, nghĩa là ở ngay chính giữa đoạn đường đi từ khởi điểm của
việc hình thành chữ viết theo mẫu tự La Tinh cho đến khi nó chín muồi. Tài liệu
ấy có thể xem là một mắt xích còn thiếu và có tầm quan trọng hàng đầu để tái hiện
lịch sử chữ quốc ngữ. Ngoài ra, văn kiện ấy còn ghi lại những suy tư của các tác
giả liên quan đến thực trạng các ngôn ngữ trong vùng, và giúp ta định vị chính
xác các chủ trương ngôn ngữ học trong những kế hoạch của các nhà thừa sai thuộc qui
chế bảo trợ padroado Bồ Đào Nha tại Đông Phương.
Nội dung ngôn ngữ học :
ngữ âm và cú pháp
Muốn dựa trên ngữ âm La
Tinh để viết ba ngôn ngữ nêu trên, các nhà biên soạn xác định rằng mình tuân
theo những qui tắc chính tả của tiếng Ý. Chỉ cần xem xét tài liệu thì sẽ thấy
ngay rằng cách làm ấy là một cách làm bất thường, chỉ vì muốn chiều theo nhân
cách của người nhận thôi : rất nhiều nét sửa chữa và nhiều điều bất hợp lý
cho thấy rằng các qui tắc của Bồ Đào Nha là những qui tắc duy nhất mà người ta
thường tuân theo,[19] phù hợp với lời khẳng định trên của
João Rodrigues.
Bản văn tiếng Hoa
và những nhận xét về ngôn ngữ Trung Hoa
Đối với tiếng Hoa, mà vị
trí quan trọng được khẳng định trong văn bản này, các tác giả hẳn đã có nhiều
tư liệu[20]. Các văn bản đầu tiên là do Matteo Ricci
tự tay viết và in khắc gỗ từ năm 1605.[21] Một người gốc miền Flandre là
Nicolas Trigault đã tiếp nối với một tác phẩm nhằm mục đích thuần túy dạy học,
được biên soạn cùng với các nhà nho người Hoa, cuốn 西儒耳目資 Xi-ru er-mu-zi (Tây
nho nhĩ mục tư), cuốn từ điển ‘dùng làm mắt và tai cho người Âu học tiếng
Hoa’[22], được in khắc gỗ tại Bắc Kinh năm 1626
và ít ra là một bản đã đến được Áo Môn năm 1632 ; chúng tôi không thể so
sánh một cách có hệ thống với tác phẩm ấy, vì không cách nào tìm ra được.[23]
Ricci phân biệt 26 âm đầu,
43 vần ; Trigault trình bày 24 phụ âm và độ chừng 50 âm cuối. Thế nhưng bản
thảo năm 1632, chỉ ghi lại 22 âm đầu khác nhau, và khoảng 32 âm cuối ;
đúng là số lượng từ có giới hạn và kết quả hẳn sẽ mỹ mãn nếu người ta chọn nhiều
từ hơn. Một bước tiến lớn của Trigault là đã hệ thống hóa việc ghi chữ, trong
khi đó cách ghi của Ricci thường noi theo cách viết Bồ Đào Nha cùng với những
điều bất hợp lý của cách viết này (ví dụ phải viết ‘c’ hoặc ‘ç’ thay vì /ts/
tùy theo vị trí ; viết ‘c’, ‘q’ hay ‘k’ thay vì /k/ tùy theo vị trí ;
‘j’ hay ‘g’ thay vì /z³/ cũng vậy, v.v. ; lẫn lộn giữa ‘i’ và ‘e’ sau bán
nguyên âm /j/, giữa ‘u’ và ‘o’ sau bán nguyên âm /w/...). Phần ký âm trên văn bản
mà ta xét đây vẫn để lộ những bất hợp lý xuất phát từ chữ viết của ngôn ngữ Âu
Châu, nhưng có chú ý đến các thói quen của Ý hơn là của Bồ (/ts/ được ghi là
‘ts’ thay vì ‘c/ç’, /s³/ ghi là ‘sc[i]’ thay vì ‘x’, /ts³/ ghi là ‘c[i]’ thay
vì ‘ch’, v.v). Sự chọn lựa này đã được giải thích ở phần trên, cũng như sự bất
hợp lý của tác giả, vì ta thấy những cách viết thông thường ‘theo kiểu Bồ Đào
Nha’ xuất hiện lại ở nhiều nơi.
Về phần thanh điệu, Ricci
cũng như Trigault đều ghi một đồ thị tương ứng với từng cao độ trong năm thanh
điệu của tiếng Hoa kinh điển[24], trong khi đó văn bản của chúng ta chỉ
giới hạn trong 4 thanh như tiếng Hoa phổ thông hiện nay. Chúng tôi nghĩ rằng lý
do để chọn như thế đã được nêu ra rõ ràng : viết chữ bằng mẫu tự La Tinh
là nhằm đáp ứng nhu cầu nói cho đúng, và dựa trên lối phát âm ‘theo giọng kinh
đô’, nghĩa là theo tiếng Bắc Kinh, hơn là ngôn ngữ được dạy trong các nhà trường.
Chúng tôi dành cho những
nhà nghiên cứu tiếng Hoa nào quan tâm đến niên sử việc xem xét vì sao thanh điệu
cổ điển thứ năm (gọi là thanh ‘vào’) trong văn bản này lại được đồng hóa với
thanh điệu thứ tư (gọi là thanh ‘xuống’), khi mà hiện nay những âm trong tiếng
cổ điển tương đương với thanh điệu thứ năm này lại được chia đều ra cho tất cả
4 thanh kia. Ta chỉ cần lưu ý rằng văn bản này xa rời ngôn ngữ kinh điển, mà
các nhà nho rất thiết tha, để đến gần hơn với ngôn ngữ được sử dụng trong thực
tế.[25] Còn việc chọn lựa tiếng nói theo
‘giọng kinh đô’ thì không phải là do ý thức hệ. Việc thống nhất ngôn ngữ theo một
chuẩn mực, chuẩn mực của giới hành chánh trung ương, được xem như là cần thiết
để đảm bảo cho việc giao tiếp bằng lời được hữu hiệu, cũng có thể nói rằng để
cho việc đầu tư vào ngôn ngữ được có lợi nhất. Người dân ở Áo Môn, hiện đang sống
trong những năm chuyển tiếp, hẳn khó chịu khi thấy rằng các linh mục dòng Tên,
từ thế kỷ XVII, đã chọn tiếng Bắc Kinh làm chuẩn mực bắt buộc trong Trường của
họ tại Áo Môn...
Có một thực tế, mà thoạt
đầu sẽ khiến cho độc giả ngạc nhiên, nhưng lại thêm một lý do để cho các tác giả
của văn bản này chuộng ngôn ngữ nói, mặc cho uy tín không thể chối cãi của chữ
viết. Thật vậy, có trên dưới 15 trường hợp, cách phát âm đề ra tương ứng với một
cụm từ tiếng Hoa dịch đúng những chữ La Tinh ghi ở cột thứ nhất, và như thế có
nghĩa là đúng với cách nói tiếng Hoa,[26] trong khi đó chữ Hán cùng một nghĩa
lại đọc hoàn toàn khác : chữ ấy tương ứng với ngôn ngữ viết, nghĩa là với
văn chương bác học.
Trên phương diện ngữ
nghĩa và cú pháp, nội dung chuẩn xác và sự thành công của bản văn được sử dụng
liên tục nơi kinh Lạy Cha cống hiến một dấu chỉ không thể xem thường : chỉ
ngoại trừ bốn chữ, bản văn này vẫn giữ nguyên cho đến giữa thế kỷ XX.[27]
Bản văn tiếng Nhật
Đối với tiếng Nhật, các
nhà biên soạn đã dựa vào công trình của linh mục João Rodrigues,[28] được gọi là « Tçuzzu »
(người thông ngôn) ; vị nầy có mặt tại Trường Áo Môn vào thời kỳ ấy và hẳn
là đã tham gia vào việc biên soạn văn bản này. Bản văn Kinh Lạy Cha tiếng
Nhật thì giống hệt như kinh trong cuốn giáo lý đã được xuất bản tại Amacusa (Nhật
Bản) từ năm 1592,[29] ngoại trừ một vài điều chỉnh nhỏ :
bỏ dấu phụ trong các âm dài, thêm ba nét, và dịch từ ngữ tiếng Bồ ‘vontade’,
nghĩa là ‘ý’ [vâng ý Cha], mà lạ thay, trong bản xưa chữ
này lại được giữ nguyên tiếng Bồ. Trái lại, đến năm 1632, người ta vẫn chưa tìm
được tiếng Nhật nào tương đương với ‘tentatio’ (cám dỗ).[30] Dưới mắt một độc giả ngày nay, văn
phong của kinh này hẳn là cổ xưa, đặc biệt là những công thức xưng hô, nhưng
người ta hiểu nghĩa bản văn ấy một cách dễ dàng. Ta cũng đặc biệt lưu ý rằng bản
văn mà người công giáo Nhật bản đang sử dụng hiện nay vẫn ở trong chiều hướng của
bản dịch xưa kia, điều này chứng tỏ chất lượng của công trình thực hiện vào thế
kỷ XVI.
Sự chọn lựa cơ bản, mà
các nhà thừa sai dòng Tên tuân giữ sít sao từ cuối thế kỷ XVI, để ghi lại tiếng
Nhật, ấy là bỏ đi các chữ Hán và chữ Nhật để thay bằng các mẫu tự La Tinh. Lý
do chủ yếu cũng giống như trường hợp nêu trên đối với tiếng Hoa : muốn cho
gần gũi với ngôn ngữ nói. Chữ viết hiragana hiện nay được xem
như là một cách viết tượng thanh rất phù hợp với tiếng Nhật ; nhà biên soạn
cuối cùng cho văn bản năm 1632 không phải là không biết điều này, nhưng lưu ý rằng
cách viết đó ít được sử dụng vì uy thế của chữ viết kanji (hán
tự), nghĩa là chữ nho. Trong thực tế hằng ngày, hai loại chữ viết, kanji và hiragana,
luôn xen lẫn vào nhau, khiến người ta buộc phải học tập thật lâu mới làm quen
được với cách viết. Luis Fróis ghi lại từ thế kỷ XVI sự ngạc nhiên của các nhà
thừa sai : « Ở quê nhà, chúng ta dùng sách để học các loại văn chương
và khoa học khác nhau ; còn họ thì lại bỏ suốt đời để học cách đọc chữ ».[31] Phần các linh mục dòng Tên, các vị
muốn rằng học trò và anh em linh mục người Nhật dành thì giờ để học văn chương
và khoa học hơn là học thư pháp. Do đó, họ đã buộc những người ấy học tiếng Bồ
cũng như sử dụng mẫu tự La Tinh để viết tiếng Nhật, như linh mục Rodrigues đã
ghi trong cuốn văn phạm của mình.
Cách phát âm rất đơn giản
của tiếng Nhật có thể dễ dàng ghi lại bằng mẫu tự La Tinh. Ta sẽ không ngạc
nhiên khi thấy có một sự liên tục hầu như hoàn chỉnh về các nguyên tắc viết chữ
từ thời João Rodrigues cho đến ngày nay, thông qua văn kiện mà ta đang xét đây.
Bản văn tiếng Việt
Nếu phát âm tiếng Nhật
đơn giản thì trái lại phát âm tiếng Việt lại rất phức tạp : ngôn ngữ này
có một hệ thống phát âm đa dạng vào bậc nhất so với các ngôn ngữ trong vùng. Nếu
so sánh với tiếng Hoa thì sự khác biệt cũng tương tự như thế :[32] trong tiếng Bắc Kinh có độ chừng 30
vần, thì tiếng Việt có hơn 120 vần. Trong các ngôn ngữ đơn âm, người ta gọi ‘vần’
là nguyên âm mang thanh điệu cộng với phụ âm hay bán phụ âm theo sau, nếu có.
Ta có thể nói rằng những phần tiếng Hoa và tiếng Nhật trong văn bản 1632 thì hầu
như đã hoàn chỉnh để có thể viết bằng lối chữ tượng thanh một cách hiệu quả.
Nhưng đừng ngạc nhiên là mọi việc khác hẳn đối với phần tiếng Việt, vì đây là một
ngôn ngữ khó khăn, và thêm vào đó, ngôn ngữ này chỉ mới được nghiên cứu từ khoảng
15 năm trước đó mà thôi.
Có 23 âm đầu khác nhau
trong các từ đơn âm tiếng Việt, được ghi lại trong văn bản này bằng những ký hiệu
khác nhau ; vì vậy, dù cho có vài sai sót trong phân tích, quả thật các âm
ấy đã tương ứng với 25 âm đầu mà ta tìm thấy trong cuốn Từ điển 1651
cho cùng số từ vựng ấy. Qua sự tương ứng đó, ta có thể đánh giá được ưu điểm là
đã chọn chính tả Bồ Đào Nha làm hệ thống chính yếu cho cách viết tiếng Việt bằng
chữ cái, vì xét về âm vị thì tiếng Bồ phong phú hơn nhiều so với tiếng
Castillan (Tây Ban Nha) hay tiếng Ý. Trong trường hợp tiếng Việt, tỉ lệ thành
công thì gần giống như đối với tiếng Hoa.
Trái lại, việc ghi vần tiếng
Việt vẫn còn khá thiếu sót : Đối với cùng một số lượng từ vựng, văn bản
này sử dụng 39 vần, so với 52 vần sẽ xuất hiện 20 năm sau trong từ điển. Đặc biệt
là có một sự lẫn lộn giữa những tận cùng có âm mũi, âm họng hay không, và trong
lãnh vực này thì các ngôn ngữ gốc La Tinh không có những âm tương ứng. Một sự
thiếu tương ứng như thế giữa chữ viết và tiếng nói, vào thời điểm ấy, là một trở
ngại rất lớn, ngăn cản không cho các nhà thừa sai giao tiếp với người đối thoại
Việt Nam một cách hữu hiệu và trôi chảy. Thật vậy, vào năm 1632, công trình
đang dở dang, và sẽ được tiếp tục độ chừng 15 năm nữa trước khi đi đến chữ quốc
ngữ mà chúng ta đã quen thuộc.
Sự thiếu sót đáng ngạc
nhiên nhất là cách ghi dấu thanh điệu. Tiếng Việt có sáu thanh điệu hết thảy,
và sẽ được ghi trong Từ điển 1651 một cách chính xác đáng chú
ý.[33] Nhưng vào năm 1632, dù có nhấn mạnh
đến đòi hỏi không thể tránh né là phải làm chủ các thanh điệu mới có thể giao
tiếp thành công, thì người biên soạn văn bản chỉ ghi lại có bốn thanh điệu
thôi ; và khi mô tả sơ lược, thì người ấy đồng hóa với các thanh điệu
trong tiếng Hoa. Phải giải thích việc này như thế nào ? Thực ra, các thanh
điệu tìm thấy trong văn bản nay nơi hai ngôn ngữ của lục địa là những thanh điệu
mà João Rodrigues đã dùng khi đề cập đến thơ ca Nhật bản – những bài thơ được
viết bằng chữ nho.[34] Tất cả mọi linh mục dòng Tên tiên
phong đã từng học qua tiếng Nhật một cách chuyên sâu ; cần phải một thời
gian dài thì họ mới ra khỏi được những qui tắc được thiết lập trong Arte
da lingoa de Iapam, là cuốn sách gối đầu giường của họ.
Kinh Lạy Cha,
cũng như những kinh căn bản khác trong giáo lý công giáo, đều đã được linh mục
Francisco de Pina và một thanh niên học thức Việt Nam[35] dịch ra tiếng Việt vào năm 1618.
Nhưng không bản dịch nào của các kinh ấy đã đến tay chúng ta, ngoại trừ đoạn dịch
sáu từ đầu tiên của kinh Lạy Cha được ghi ra như một ví dụ văn
phạm trong cuốn Từ điển 1651.[36] Vì thế, bản văn trong tài liệu của
chúng ta đây có một giá trị lịch sử rất lớn. Nếu ta so sánh với bản văn được
người công giáo Việt Nam sử dụng cho đến thế kỷ XX, ta sẽ nhận ra hơn một chục
sửa đổi nhỏ trên một bản văn mà phần cơ bản vẫn còn được giữ nguyên. Các điểm mới
đều liên quan đến cách diễn đạt vụng về, cách chọn từ ngữ, và chỉ có một sửa đổi
duy nhất liên quan đến cú pháp. Bản văn 1632 chứa đựng lối chừng một phần ba số
từ vay mượn của tiếng Hoa,[37] điều nầy nhằm bảo đảm cho các khái
niệm được chính xác, đồng thời giữ được mức độ dễ hiểu đối với người thất học.
Để có một cái nhìn so sánh, thì một bài báo kinh tế hay một văn bản triết học
ngày nay phải cần đến 80% từ Hán Việt.
Một chặng đường
trong hành trình viết tiếng Việt theo mẫu tự La Tinh
Những nhận định trên đây,
liên quan đến phần tiếng Việt của văn bản, đi ngược lại với một với một định kiến
khá kiên cố, ấy là muốn biến Alexandre de Rhodes thành nhà thiên tài Âu Châu
duy nhất về ngôn ngữ học từng gia công vào tiếng Việt, và đặc biệt xem vị nầy
là người sáng chế ra những dấu thanh điệu.[38] Muốn phản bác, thì chỉ cần nêu lên
rằng bảy năm sau ngày Alexandre de Rhodes đến Việt Nam, ông vẫn còn rất lúng
túng khi muốn cho người Việt hiểu được điều ông nói. Cá nhân Alexandre de
Rhodes có quan tâm đến vấn đề ngôn ngữ học, đấy là một điều không thể nghi ngờ.
Nhưng vào năm 1632, khi người ta xếp ông vào số những chuyên viên tiếng Việt
sành sỏi nhất, thì khả năng của ông vẫn còn thua xa Gaspar do Amaral.
Hãy lưu ý rằng lúc bấy giờ
vị linh mục này đang cư ngụ tại xứ Đàng Ngoài để truyền giáo, nên ông không có
thời gian rảnh rỗi để tham gia vào việc biên soạn tài liệu nêu ra đây. Ta có thể
lấy làm tiếc, bởi vì ông biết rõ sáu thanh điệu của tiếng Việt. Trái lại, số
thanh điệu mà Rhodes biết được vào năm 1632 là những thanh điệu đã được João
Rodrigues giải thích từ năm 1604, đối với tiếng Hoa và tiếng Nhật. Hai dấu bổ
sung, rất cần thiết để viết tiếng Việt cho đúng, được xuất hiện lần đầu tiên
cũng vào năm 1632 trong báo cáo thường niên về miền truyền giáo xứ Đàng Ngoài,
do giáo sĩ Gaspar do Amaral gởi về Áo Môn.[39]
Mẫu tự và tôn ti của các
thứ tiếng tại Việt Nam
Công việc của các nhà thừa
sai trên đất Việt Nam đã giúp họ đặt ra rõ ràng và rốt ráo hơn vấn đề tôn ti giữa
các loại tiếng ; điều mà họ đã nghĩ đến từ khi còn ở Nhật Bản.[40] Ngôn ngữ chính thức của Việt Nam là
tiếng Hán, và vị trí ưu tiên này được giữ cho đến đầu thế kỷ XX. Vào đầu thế kỷ
XV, có một toan tính nhằm sử dụng tiếng Việt và loại trừ tiếng Hán, nhưng đã đi
đến thất bại. Phải đợi đến thế kỷ XVIII thì các tác phẩm văn chương tiếng Việt
mới có chỗ đứng. Dù sao đi nữa, vào thế kỷ XVII, tiếng Hán là ngôn ngữ
chính thức nên cũng là môn chủ yếu của toàn bộ chương trình học vấn. Tiếng Hán
trước hết là một ngôn ngữ viết, nhưng ở Việt Nam lại đọc theo một cách khác với
mọi nơi, và cũng khác với cách đọc và cách nói ở mọi nơi bên Trung Hoa. Tình trạng
này chỉ cho phép một số nhỏ nhà nho ưu tú tiếp cận với việc nước, đặc biệt với
thế giới tư tưởng, và các nhà nho ấy bỏ cả đời ra mà học.
Tiếng Việt có chữ viết của
mình, gọi là chữ nôm ; đó là một cách viết căn cứ trên chữ Hán mà trước đó
người viết buộc phải biết rồi. Như vậy, cách viết ấy vô cùng phức tạp hơn cách
viết theo mẫu tự của tiếng Nhật. Hơn nữa, chữ nôm bị nghi ngờ, vì chính chữ đó
đã giúp loan truyền những quan điểm thiếu kỷ cương và những tư tưởng mới. Vì thế
việc in ấn chữ nôm bị cấm chỉ và kìm hãm vào thế kỷ XVIII. Một vài thi sĩ làm
thơ tiếng Việt vào thời ấy phải làm ‘chui’ và bị xem là những người lập dị.
Khi các thừa sai dòng Tên
đến Việt Nam, các ngài bị đặt trước tình trạng phải chọn lựa giữa nhiều phương
án. Việc sử dụng chữ Hán, đặc biệt là sử dụng các cuốn giáo lý chữ Hán từ Trung
Hoa đem sang, chỉ dành cho số ít người ưu tú gần gũi với các nhà lãnh đạo chính
trị, khi nào họ vui lòng đón nhận. Nhưng các thầy giảng được tuyển mộ tại chỗ,
mà một số không biết chữ, thì được khuyến khích sử dụng chữ nôm : chữ này
giúp cho họ vừa ghi chép kiến thức của mình bằng tiếng Việt, vừa có thể truyền
lại cho dân chúng thất học. Đồng thời, các ngài cũng phát triển một cách viết
theo chữ cái vần la tinh, vì đó là chữ viết duy nhất giúp người Âu học tiếng Việt
cho nhanh. Ngoài ra, cách viết này thì đơn giản, khiến cho người bản địa đang sống
trong miền truyền giáo cũng có thể học đọc dễ dàng.
Cho đến khoảng 1750, lối
viết này vẫn còn giữ một vị trí thứ yếu so với chữ nôm, nhưng lại cho phép người
Việt và người Âu giao tiếp với nhau qua chữ viết, và – cần phải nói rõ – cũng
giúp cho người Âu quản lý và kiểm soát những bản văn Kitô giáo. Vì các thầy giảng,
rồi các linh mục Việt Nam, sử dụng chữ viết này, nên họ bị xếp vào loại những
người chống lại trật tự kỷ cương. Thế nhưng không phải vì vậy mà họ lại xa rời
nền văn hóa Việt Nam. Muốn hạn chế nguy cơ chống đối, thì phải cấm học chữ này :
nhưng, ngược lại, sựï thể đã không xảy ra như thế.
Kết luận
Việc soạn thảo một tài liệu
ngôn ngữ học đối chiếu, gồm ba hay đúng hơn bốn thứ tiếng, đã giúp cho các tác
giả nói rõ suy tư của mình về vấn đề này. Các nhà thừa sai có mặt tại Viễn Đông
là để truyền bá Kitô giáo ; nhưng công cuộc truyền giáo đó phải được thiết
định trong bối cảnh xã hội mà chữ Hán ưu thắng trong mọi lãnh vực. Học chữ Hán
gắn liền với việc học tứ thư, ngũ kinh, nghĩa là những tác phẩm kinh điển của
Khổng giáo. Các vị truyền giáo bấy giờ phải chọn lựa giữa hai chiến lược. Chiến
lược được biết đến nhiều nhất là chiến lược của Matteo Ricci, một người rất
thông thạo về chữ Hán nên có thể đàm đạo với các trí thức ưu tú ở Trung Hoa và
nghiên cứu tư tưởng Khổng Mạnh.
Chiến lược của Trường Áo
Môn được phác họa trên đây thì khác hẳn. Vấn đề ở Trung Hoa là làm sao hạ xuống
vừa tầm với dân chúng bằng cách sử dụng một ngôn ngữ nói gần sát với trình độ của
họ. Tại Nhật Bản, và nhất là tại Việt Nam, vấn đề là làm sao dùng tiếng nói thường
ngày để đối lập với tiếng Hán của các nhà học thức, và qua đó đề ra cho người
dân trong nước cách giải phóng mình khỏi sự lệ thuộc vào tư tưởng Trung Hoa.
Cái mất mát về văn hóa sẽ được đền bù dư dật khi họ có được một cách thức để diễn
đạt dễ dàng và để suy nghĩ, và cách ấy cũng còn có khả năng
chuyển tải những khái niệm căn bản của Kitô giáo. Cũng còn chứ
không phải chỉ để chuyển tải các khái niệm ấy mà thôi.
Cách viết theo mẫu tự La
Tinh – nghĩa là thiết lập một bảng chữ cái La Tinh – là một công cụ để thực hiện
kế hoạch đó. Bồ Đào Nha đã đi qua con đường này. Thời đại tân kỳ không chỉ là
thời đại của những cuộc du hành lớn để mà khám phá, nhưng còn là thời đại mà tiếng
nói của các quốc gia tự khẳng định mình để loại bỏ sự thống trị của tiếng La
Tinh. Các nhà ngữ pháp và chính tả Bồ Đào Nha ở thế kỷ XVI, như João de Barros,
Péro de Maglhães de Gândavo hay Duarte Nunes do Leão, đã giúp cho tiếng nói dân
gian trở thành một phương tiện chuyển tải tư tưởng. Muốn như thế, cần phải làm
một số việc, trong đó có việc phân tích tỉ mỉ và tìm chữ viết cho tiếng nói
này. Viết tiếng Hoa, tiếng Nhật hay tiếng Việt theo mẫu tự La Tinh phải được
xem là nối tiếp đường hướng đó ; vả lại, chúng tôi đã chứng minh rằng họ
đã áp dụng khá sít sao các nguyên tắc chính tả được đề ra để mà viết chữ Việt
Nam.
Sau này, tiếng Hoa đã tiếp
tục đi theo con đường riêng của mình, và tiếng Nhật đã tìm thấy trong bảng mẫu
tự của mình một cách thức để đổi mới và mở ra với tư tưởng hiện đại. Trái lại,
sau khi đã chính thức bỏ qua và khinh bỉ ‘chữ viết của các thừa sai’, cuối cùng
nước Việt Nam đã chấp nhận nó hoàn toàn vào thập niên 30. Chiến thắng tối hậu của
lối chữ xa xưa xuất phát từ chữ Bồ và đạo ‘Gia Tô’ chủ yếu không phải là do ảnh
hưởng của Kitô giáo hay chính sách thuộc địa của Pháp đối với đất nước này. Nó
xuất phát từ ý thức của chính mọi người có tinh thần quốc gia không phân biệt
chính kiến, vì họ nghĩ rằng đất nước sẽ không bao giờ ngóc đầu lên được nếu
không có một công cụ giáo dục quần chúng qua một thứ tiếng mà người bình dân có
thể hiểu được. Thế là chữ quốc ngữ đương nhiên nổi bật lên, vì chữ đó rất đơn
giản và đã hoàn chỉnh.
Lisboa (Bồ Đào Nha),
Torre do Tombo, 7 tháng 11 năm 1998
St. Louis (Missouri),
tháng 4 năm 2000
Strasbourg (Alsace),
tháng 5 năm 2002
[1] “No
escreuer esta lingoa ẽ nossa letra seguimos principalmente a ortographia
latina, & a Portuguesa, assi por ter a pronũciação de Iapão semelhança cõ a
Portuguesa em algũas syllabas como sam, Cha, chi, cho, chu, nha, nho,
nhu, &c como tãbem por qõ ẽ Iapão os Padres, & Irmãos entre si vsam
da lingoa & ortographia Portuguesa.” Arte da Lingoa de Iapam
composta pello Padre Ioão Rodriguez Portugues da Cõpanhia de iesv diuidida em
tres livros [...], Namgasaqui no Collegio de Iapão da Companhia de
iesv Anno 1604, tr. 45. – Bản in lại do Doi Tadao ấn hành, với lời dẫn nhập,
Tokyo, 1976, tr. 122.
[2] Các
nhà thừa sai Tây Ban Nha đã góp phần mình vào việc nghiên cứu có hệ thống các
ngôn ngữ, nhưng công việc này được thực hiện dưới sự chỉ đạo của người Bồ Đào
Nha, là những người có uy thế trong lịch sử. Đối với tiếng Nhật, chỉ cần nêu ra
đây cuốn Ars grammatica Japonicae linguae (Văn Phạm tiếng Nhật)
của linh mục dòng Đa Minh, Diego Collado, xuất bản tại Rôma đúng vào năm 1632,
và hình như còn có một cuốn trước đó nữa là cuốn Arte y Vocabulario de
la lengua japonesa (Ngữ pháp và từ vựng tiếng Nhật) của một linh mục
dòng Âu Tinh đồng hương với D. Collado, Hernando de San José Ayala, qua đời năm
1617. Đối với tiếng Hoa, Pedro Chirino, dòng Tên, đã đề tặng từ năm 1604 một cuốn
sách mỏng tựa là Dictionnarium Sino-Hispanicum (Từ điển Hoa -
Tây Ban Nha), vẫn còn dưới dạng bản thảo, dựa theo tiếng Hoa đang được sử dụng
vào thời ấy ở Manila.
Về Padroado (qui
chế bảo trợ) Bồ Đào Nha và lịch sử cuộc bảo trợ ấy, đề nghị tham khảo Roland
Jacques, De Castro Marim à Faðfo : Naissance et développement du
padroado portugais d’Orient des origines à 1659, (Từ Castro
Marim đến Hoài Phố [Hội An] : sự ra đời và phát triển của qui chế bảo trợ
Bồ Đào Nha tại Đông Phương, từ lúc khởi đầu đến năm 1659), Lisboa, Fundação
Calouste Gulbenkian, Serviço de Educação, 1999.
[3] Xem
John DeFrancis, Colonialism and language policy in Viet Nam (Chủ
nghĩa thuộc địa và chính sách ngôn ngữ tại Việt Nam), Den Haag/Paris/New York,
Mouton, 1977.
Nói chung, chữ viết gắn
liền với quyền lực : “Khi chữ viết ra đời thì nó xuất hiện trong các xã hội
có tôn ti trật tự thật rõ nét và tạo ra những quan hệ rất chặt chẽ giữa chữ viết
với các loại quyền lực : đếm và chia của cải, thu thuế, chứng tỏ với người
khác là mình có khả năng tác động lên các đấng linh thiêng, v.v.” (Jean-Michel
Builles, Manuel de linguistique descriptive, le point de
vue fonctionnaliste, [Cẩm nang ngôn ngữ học mô tả, theo quan điểm tiện
dụng], Paris, Nathan, 1998, tr. 26). Nếu người ngoài nào muốn can thiệp để sửa
đổi cách viết thì người ấy đương nhiên bị xem là có hành động chống lại chính
quyền.
[4] “Một
ngôn ngữ và chữ viết của nó, dù tượng hình hay tượng thanh, không chỉ là một
trình độ hiểu biết mà thôi, nhưng còn là một cái gì đó tạo ra một cấu trúc cho
con người. Qua một ngôn ngữ và một chữ viết đặc thù, lộ ra một cách nhận thức
và tiếp cận thế giới một cách độc đáo. Và khi ngôn ngữ và chữ viết đặt ưu tiên
cho ngữ nghĩa, chiết tự, không gian và hình ảnh so với tiếng nói và cách phân
tích từng mảng, thì thật là thú vị nếu ta quan sát rằng một số khía cạnh của
văn hóa Trung Hoa [...] có thể được suy ra một phần từ chính tính chất của chữ
nho” Joešl Bellassen, Les idéogrammes chinois ou l’empire du sens,
[Chữ nho hay giang sơn của ngữ nghĩa] Paris, You-Feng, 1995, tr. 11).
[5] Có
nghĩa là : tiếng Nhật, tiếng Hoa và tiếng Việt là ba ngôn ngữ nổi bật
trong những quốc gia mà các nhà thừa sai dòng Tên thuộc Trường Áo Môn (tỉnh
dòng Nhật bản) đến hoạt động, nhưng các tiếng đó cũng được sử dụng trên những đất
nước mà chính thành phố này (Áo Môn) có quan hệ thương mại đặc biệt.
[6] Jap.-Sin. là
chữ tắt để chỉ các tỉnh dòng Nhật bản (provincia japonica) và Trung Hoa
(vice-provincia sinica).
[7] Rôma,
kho lưu trữ của dòng Tên, mục Jap/Sin (Nhật -Hoa), hồ sơ 194 (Miscellanea
Iap./Sin), cuốn VII. Xưa kia được sắp xếp dưới đề mục : Jap./Sin.
I, 199-200. Tựa được ghi trong danh mục : “Epistola P. Andr. Palmeiro,
Macao 8.5.1632, cum paradigmate orationis Dominicae Pater Noster in
lingua Sinica, Japonica, Annamitica” (Thư của André Palmeiro, viết tại Áo Môn
ngày 8 tháng 5 năm 1632, với một phụ bản về kinh Chúa dạy, Kinh Lạy Cha,
bằng tiếng Hoa, tiếng Nhật và tiếng Annam).
[8] André
Palmeiro, sinh tại Lisboa năm 1569, đã xuống tàu đi Đông Phương năm 1617 ;
ngài giữ chức “giám quản các miền truyền giáo” (Visiteur des missions =
đại diện cho bề trên tổng quyền dòng Tên) tại Nhật Bản và Trung Hoa từ 1626 đến
1635. Với tư cách là thừa sai tại Trung Hoa, ngài đã chủ tọa hội nghị Kiating
(Thượng Hải) về các danh xưng của Thiên Chúa, ở đấy ngài chống lại các danh
xưng “Thiên” và “Thượng Đế”. Trong khi thi hành nhiệm vụ, ngài đã thăm miền
truyền giáo Đàng Trong (Việt Nam) năm 1631. Ngài qua đời tại Áo Môn năm 1635.
[9] Alexandre
de Rhodes là một trong những nhà thừa sai nổi danh nhất tại Việt Nam. Ra đời tại
Avignon trong lãnh địa Giáo Hoàng năm 1693, ngài xuống tàu tại Lisboa để sang
Phương Đông năm 1619. Năm 1625-1626, ngài truyền giáo tại Đàng Trong, ở đấy
ngài học tiếng Việt dưới quyền linh mục Francisco de Pina. Năm 1630, ngài truyền
giáo tại Đàng Ngoài, rồi từ 1630 đến 1640, ngài cư ngụ tại Trường Áo Môn và coi
sóc những người Hoa dự tòng và tân tòng. Giữa năm 1640 và 1645, có ba lần ngài
đến cư trú lâu ngày tại Đàng Trong, trước khi bị trục xuất. Năm 1651, ngài xuất
bản tại Rôma một cuốn sách rất nổi tiếng, cuốn từ điển Việt-Bồ-La, và một cuốn
giáo lý bằng tiếng Việt và tiếng La Tinh. Ngài qua đời tại Ispahan (Ba Tư) năm
1660
[10] Hồ
sơ lịch sử lưu trữ của Thánh Bộ Phúc Âm, đề mục Istruzioni, tập Istruzioni
diverse (1623-1638), tờ 134v. Chúng tôi trích dẫn theo bài
viết của Josef Metzler “Il nuovo corso missionario iniziato con la fondazione
della Sacra Congregazione ‘De Propaganda Fide’, nei confronti delle culture
locali”, trong Evangelizzazione e Culture. Atti del Congresso
Internazionale Scientifico di Missiologia (Rom, 5-12 tháng 10 năm
1975), Rôma, Pont. Università Urbaniana, 1976 : tập. 2, tr. 374-400
[11] “[Dovrà]...
pigliare informazioni di tutti li popoli, per li quali passerà, con notare la
loro natura, costumi, et habilità, li trafichi, arti e scientie, che in quelli
si troverà, la Religione, e dogmi loro, e li ministri di quella, del governo politico,
e finalmente li Prencipi sotto quali vivono... [...] delle lingue con li quali
quei popoli parlano, e se ne havranno più, noti in particolar quella che più in
uso, massimamente presso la plebe... [...] S’informerà de caratteri, con li
quali scrivono, e d’esse ne procurerà da migliori scrittori, che habbino, un
alfabeto con le sue ligature, e punti, che usano, avvertendo anche di notar li
caratteri latini, che à quelli corrispondono, e la lor pronuncia per saperne
dar ragguaglio, e se havrano quei popoli gramatiche, e dittionarij delle loro
lingue e vedrà di procurar gli esemplari per mandar à Roma se non saranno di
notevole spesa.” (J. Metzler, bài viết nêu trên, tr. 377-378)
[12] Năm
1994, giáo sư Vương Lộc đã công bố một tài liệu tiếng Hoa có thể lên đến tận cuối
thế kỷ XVI, có một bảng từ vựng tiếng Việt với cách đọc được ký âm bằng chữ nho
(Annam dịch ngữ, Vương Lộc giới thiệu và chú thích, Hà Nội, Trung tâm Từ
điển học / Nxb. Đà Nẵng, 1995). Nhưng các chữ nho chỉ có thể giúp một cách đọc
gần đúng mà thôi, vì không có dấu thanh điệu.
[13] Xem
Roland Jacques, “Le Portugal et la romanisation de la langue
vietnamienne : Faut-il réécrire l’histoire ?” (Bồ Đào Nha và công
trình sáng chế chữ quốc ngữ. Phải chăng cần viết lại lịch sử ?),
trong Revue Française d’Histoire d’Outre-Mer, số 85, 1998, tr.
21-54.
[14] Hai
tác phẩm này được xuất bản tại Rôma năm 1651 dưới tên của Alexandre de
Rhodes : Catechismus pro ijs, qui volunt suscipere Baptismum, in
octo dies divisus (Giáo lý dành cho những ai muốn chịu Phép Rửa, chia
ra tám ngày), Rôma, S.C. de Propaganda Fide, [1651]. Bản in lại : Phép
giảng tám ngày. Catechismus in octo dies divisus. Catéchisme divisé en huit
jours, lời tựa của Nguyễn Khắc Xuyên, André Marillier ghi lại theo đúng
chính tả Việt Nam ngày nay, Henri Chappoulie dịch ra tiếng Pháp, Tp Hồ Chí
Minh, Tủ Sách Đại Kết, 1993 – Dictionnarium annamiticum, lusitanum et
latinum, Rôma, Thánh Bộ Truyền Giáo, 1651, 645 trang ; tái bản với bản
dịch ra tiếng Việt hiện nay : Từ Điển Annam-Lusitan-Latinh, Hồ
Chí Minh-Ville, Nxb. Khoa học Xã hội, 1991.
[15] Giuse
Đỗ Quang Chính, SJ, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620, Sài Gòn, 1972,
174 p. ; tái bản tại Paris, Đường Mới, 1985.
[16] Thực
ra Chr. Borri đã vĩnh viễn rời Việt Nam năm 1622 sau hai hay ba năm cư trú. Là
một nhà thiên văn rất giỏi, sau này ngài đã làm việc với tư cách ấy tại triều
đình Tây Ban Nha. Ngài cũng quan tâm đến ngôn ngữ học nhưng với một kết quả
khiêm tốn hơn. Xem Christofor Borri, Relatione della nvova Missione
delli PP. della Compagnia di Giesv, al Regno della Cocincina, scritta dal Padre
Christoforo Borri Milanese della medesima Compagnia, che fù vno de primi
ch’entrarono in detto Regno, Rôma, Francesco Corbelletti, 1631, tr. 107-109
– bản dịch tiếng pháp : Relation de la novvelle Mission
des Peres de la Compagnie de Iesvs, au royavme de la Cochinchine [...]
(Quan hệ của miền truyền giáo mới của các tu sĩ dòng Tên, tại Đàng Trong...),
Lille, Pierre de Rache, 1631.
[17] Kho
lưu trữ tại Rôma của dòng Tên còn giữ một văn bản chữ nôm, với cách phiên âm bằng
mẫu tự La Tinh và bản dịch La Tinh, có lẽ được viết vào năm 1648 (Jap.Sin.,
tập 80, tờ 78v-79) : Đây là một văn kiện phê chuẩn bản văn tiếng
Việt được sử dụng cho công thức rửa tội, do nhiều thầy giảng Đàng Ngoài ký tên.
[18] Xem
Roland Jacques, “Le Portugal et la romanisation de la langue vietnamienne...”
(bài viết nêu trên).
[19] Trong
tác phẩm nêu trên của Chr. Borri, ta cũng thấy những qui định theo tiếng
Ý ; điều này rất hợp lý đối với một tác phẩm viết bằng tiếng Ý và dành cho
độc giả Ý. Khi chữ quốc ngữ đã được hoàn chỉnh, người ta vẫn giữ lại một trong
các cách viết của Ý (âm đầu ‘gi-’) ; các tác giả biện minh cho cách viết
này dựa theo các tiêu chuẩn ngữ học. Về vấn đề này, xem luận văn của chúng
tôi L’oeuvre de quelques pionniers portugais dans le domaine de la
linguistique vietnamienne jusqu’en 1650 (Công trình của vài nhà tiền
phong Bồ Đào Nha trong lãnh vực ngôn ngữ học Việt Nam cho đến năm 1650), bảo vệ
năm 1995 ở Institut National des Langues et Civilisations Orientales (Viện Quốc
gia Ngôn ngữ và Văn minh Đông Phương ) tại Paris.
[20] Xem
Luo Shen-Yi (慎儀羅 La Thận Nghi),
“Les premiers systèmes de notation alphabétique utilisés dans les études de
phonologie chinoise” (những bản chữ cái đầu tiên được sử dụng trong các cuộc
nghiên cứu âm vị học tiếng Hoa), trong Succès et échecs de la rencontre
Chine et Occident du XVIe au XXe siècle. Actes
du Ve colloque international de sinologie, (Thành công và
thất bại của cuộc gặp gỡ giữa Trung Hoa và Phương Tây từ thế kỷ XVI đến XX. Văn
kiện của khóa hội thảo quốc tế lần thứ V về Trung Hoa Học) Chantilly 1986, San
Francisco, Ricci Institute for Chinese-Western Cultural History / Đài Loan và
Paris, Institut Ricci, 1993, tr. 191-200.
[21] Tác
phẩm có tên Principes d’évangélisation (天學傳概 Thiên học truyện khái), với tựa
phụ là Merveilles en lettres occidentales (西字奇迹 Tây tự kỳ tích),
được lưu giữ ở thư viện Vatican. Xem La Thận Nghi, tài liệu nêu trên, tr.193.
Cũng xem thư mục trên.
[22] Cụm
từ này là dịch sát từng chữ tựa đề tiếng Hoa, được ghi theo mẫu tự La Tinh là
Xiru ermuzi, và tiếng Hán Việt là Tây nho nhĩ mục tư. Đấy là tựa mà
Trigault đã đặt cho tác phẩm của mình. Nếu không theo sát từng chữ, ta có thể dịch
“từ điển các biểu đồ và các cách phát âm dành cho người Phương Tây”.
[23] Theo
chúng tôi biết, bản duy nhất đã xếp vào đề mục hiện nay đang được lưu giữ tại
Thư Viện Đông Phương Thượng Hải : Sáu tập, với tổng số 425 trang.
[24] Xem
Hoang Qichen, “Macau, ponte do intercâmbio cultural entre a China e o Ocidente
do século XVI ao século XVIII” (Áo Môn, nơi trao đổi văn hóa giữa Trung Hoa và
Phương Tây từ thế kỷ XVI đến XVIII), trong RC-Revista de Cultura [Tạp
chí Văn Hoá – Áo Môn], bộ 2, số 21, 1994, tr. 153-177 ; tr. 171.
[25] Thực
ra, việc làm này phát xuất từ những nỗ lực để thiết lập bảng từ vựng của tiếng
Hoa, được thực hiện trong các cuộc trao đổi văn hoá tại Áo Môn, qua đó người ta
đã tạo được bản thảo của một bảng từ vựng Bồ-Hoa, giữa năm 1580 và 1588. Nhưng
vào thời ấy, việc xác định cách phát âm vẫn còn lập lờ giữa nhiều tiếng nói địa
phương. Về vấn đề này, đề nghị xem những nhận xét của Luís Filipe Barreto, bài
“O estatuto de Macau (séculos XVI e XVII)”, trong Olhares Cruzados,
số 32, 10-12. 1997, tạp chí Oceanos (Lisboa, Comissão Nacional
para as Comemorações dos Descobrimentos Portugueses – Ủy ban Quốc gia đặc trách
Tưởng niệm các Khám phá của Bồ Đào Nha) tr. 133-148. Đoạn có liên quan được in ở
các trang 144-147.
[26] Hệ
thống ký âm mà bản văn này sử dụng cho thấy rằng hệ thống đó rất thích hợp để dạy
cho những người nói tiếng Âu Châu học nói tiếng Việt. Sự thành công của hệ thống
này xuất phát từ các lý do sau : đối với khoảng 120 từ được sử dụng, bảng
ký âm trung Hoa dùng 24 âm đầu khác nhau ; trong bản văn này ta tìm ra 22
âm, tương ứng khá chính xác với hệ thống ký âm được sử dụng trong Dictionnaire
classique de la langue chinoise (Từ điển giáo khoa tiếng Hoa) của F.S.
Couvreur [Xuất bản lần thứ 3, Ho Kien Fou, Nhà in Mission Catholique, 1911, in
lại tại Đài Loan năm 1966]. Về phần các vần, ta có 29 vần trong bảng ký âm và
32 vần trong bản văn này. Xem chi tiết ở phụ trương.
[27] Một
trong 4 chữ nói trên chỉ được thay thế sau 1887. Xem ở phần phụ trương bảng so
sánh của chúng tôi giữa hai cuốn giáo lý được ấn hành năm 1917 và 1921.
[28] João
Rodrigues sinh tại Sernancelhe (Bồ Đào Nha) năm 1561. Ngài đến Nhật bản năm
1576, nhập dòng Tên năm 1580 và được thụ phong linh mục năm 1596. Ngài được làm
việc tại cung đình Nhật bản từ 1591 đến 1596 với tư cách là thông ngôn. Ngài giữ
mãi chức danh “tçuzzu” (thông ngôn trưởng). Ngài bị đày sang Áo Môn năm 1610 và
một trong các mối quan tâm của ngài là làm sao dịch ra tiếng Hoa những khái niệm
thần học Kitô giáo. Năm 1630-1631, ngài phục vụ dưới trướng nhà Minh một thời
gian ngắn, cũng với tư cách là thông ngôn, rồi qua đời tại Áo Môn năm 1633.
Ngài là tác giả của hai cuốn sách căn bản về tiếng Nhật : ngoài cuốn Arte
da lingoa de Iapam nêu trên (in tại Trường Kỳ từ 1604 đến 1608), còn
có một cuốn văn phạm thứ hai, Arte breve da lingoa de Iapão, được ấn
hành tại Áo Môn năm 1620. Về João Rodrigues, xem Michael Cooper, Rodrigues
the Interpreter : An Early Jesuit in Japan and China (Rodrigues
người Thông Ngôn : một linh mục dòng Tên tiên khởi tại Nhật Bản và Trung
Hoa), New York/Tokyo, Weatherhill, 1974.
[29] Nippo
no Iesvs no companhia no Superior yori Christan ni soêtoê no cotouari uo
tagaino mondóno gotoqu xidai uo vacachi tamoê Doctrina, Iesvs no companhia
no Collegio Amacusa [Trường dòng Tên Amacusa], 1592, 114 trang.
[30] Người
ta chỉ đổi chữ ‘tentaçã’ trong tiếng Bồ (bản in, sic) bằng chữ
‘tentatio’ trong tiếng La tinh (bản thảo).
[31] “Nós
estudamos diversas artes e ciências pelos nossos livros ; eles toda a vida
gastam em conhecer o coração dos caracteres”. Câu trích đẫn này được rút ra từ
“Tratado em que se contém muito sucinta e abreviadamente algumas
contradições e diferenças de costumes entre a gente da Europa e esta provincia
de Japão” (Tiểu luận trình bày rất vắn tắt vài mâu thuẫn và khác biệt giữa
phong tục của người Âu và cư dân tại tỉnh dòng Nhật Bản), được xuất bản với tựa
đề là Europa-Japão. Um diálogo civilizacional no século XVI,
(Âu Châu – Nhận Bản. Một cuộc đối thoại về văn minh ở thế kỷ XVI) do José
Manuel García et Raffaella D’Intino, Lisboa, Comissão nacional para as
Comemorações dos Descobrimentos Portugueses (Ủy ban quốc gia đặc trách Tưởng niệm
các Khám phá của Bồ Đào Nha), 1993, tr. 138.
[32] Trong
cuốn Relatione (Bản kiù thuật) xuất bản năm 1631, Chr.
Borri nhấn mạnh đến sự kiện này : “Il parlare de’ Cocincinesi, benche sia
simile à quello de’ Cinesi in vna particolarità, vsando cosi questi, come
quelli parole tutte monosillabe proferite, e pronuntiate con varietà de’ toni,
& accenti ; con tutto ciò nel materiale istesso delle parole
differiscono totalmente, sendo in oltre il Cocincinese più copioso, &
abondante de’ vocali, e però più dolce, e più soaue ; più ricco d’accenti,
e toni, e però più melodico, e consonante” (tr. 78). Phỏng dịch : “Tiếng
nói của người Nam Việt quả là giống người Hoa ở điểm là hai bên đều sử dụng những
từ đơn âm, được phát âm theo những thanh điệu và âm sắc khác nhau ; tuy
nhiên, hai ngôn ngữ ấy hoàn toàn khác nhau về mặt từ vựng. Hơn nữa, người Nam
Việt có số nguyên âm nhiều hơn và đa dạng hơn, vì thế tiếng nói của họ dịu
dàng, tinh tế hơn ; thanh điệu và âm sắc cũng dồi dào hơn, vì thế êm ái,
du dương hơn.”
[33] Giọng
nói của các khu vực nam Việt Nam, kể cả khu vực Quảng Nam, nơi mà các linh mục
dòng Tên tiến hành những cuộc nghiên cứu ngôn ngữ học đầu tiên, hiện nay có một
hệ thống năm thanh điệu khác nhau. Tuy nhiên không có gì cho phép ta nghĩ rằng
việc chuyển từ sáu xuống thành năm thanh điệu đã được khởi sự từ giữa thế kỷ
XVII : Trong cuốn Từ điển, cũng như trong các văn bản khác vào
thời kỳ này, không nơi nào ta thấy có sự lẫn lộn giữa hai thanh điệu (hỏi và ngã),
điều mà ngày nay thường thấy xảy ra nơi những người viết tiếng Việt
[34] Arte
da lingoa de Iapam, tr. 173-174 trong tác phẩm gốc, tr. 349-351 trong bản
in lại năm 1976
[35] “Người
thanh niên này, tên rửa tội là Phêrô, có một kiến thức về chữ nghĩa nên đã giúp
đỡ nhiều cho các cha để dịch ra tiếng bản địa kinh Pater noster, Ave
Maria, Credo (Lạy Cha, Kính Mừng, Tin Kính) và Thập giới (Mười điều
răn), những kinh mà Kitô hữu đã học thuộc lòng. Các cha cũng đã biên soạn trong
ngôn ngữ này các điểm tín lý ; qua đó người ta tuyên xưng đầy đủ là có một
Thiên Chúa, (tuyên xưng) các mầu nhiệm Ba Ngôi, Nhập Thể và Cứu Chuộc, và sự cần
thiết phải thông phần vào công nghiệp của Đức Kitô, Chúa chúng ta, nhờ đức tin
và các bí tích thánh. Kitô hữu đã ghi lại bằng chữ, và bắt đầu lần chuỗi như
bên quê nhà chúng ta” (Francisco Eugenio, “Annua del Collegio di Macã del
1618” (Niên giám của Trường Áo Môn năm 1618), bản gốc tại Rôma, kho lưu trữ
của dòng Tên, Jap.-Sin., tập 114, tờ 176-185. Muốn đọc bản văn gốc
và nội dung của đoạn này, cũng như những nhận xét của chúng tôi về các dịch giả,
có thể tham khảo bài viết của chúng tôi “Le Portugal et la romanisation de la
langue vietnamienne...”, tr. 36-37 và chú thích 54.
[36] Xem
ở phần phụ trương bảng so sánh giữa bản viết tay năm 1632 và bản in năm 1651.
Trong bản in, câu này được ghi tại chương 5 của “Linguae annamiticae seu
tunchinensis breuis declaratio” đặt ở phần phụ trương của từ điển. Lạ thay, cuốn Catechismus
in octo dies divisus (Phép giảng tám ngày), cũng được Alexandre de
Rhodes xuất bản năm 1651, lại không ghi chép một bản kinh nào ; cuốn sách
này hẳn là một cẩm nang cho các thầy giảng hơn là một cuốn giáo lý
(catechismus) theo nghĩa truyền thống của từ này.
Không còn nghi ngờ gì là
loại tác phẩm này từng hiện hữu : các báo cáo thường niên cho ta thấy bằng
chứng. Tuy nhiên, rủi thay, không một bản nào của thế kỷ XVII còn được lưu giữ.
Theo chúng tôi biết, bản xưa nhất là cuốn giáo lý của Bá Đa Lộc (Pigneau de
Béhaine), in khắc gỗ bằng chữ nôm năm 1774 (Thư Viện Vatican, Borg.Tochin.
32) ; một bản viết tay chuyển ra chữ viết theo mẫu tự La Tinh còn được bảo
tồn tại kho lưu trữ của Hội Truyền Giáo Paris (số 1095).
Trái lại, chúng tôi không
tính đến codex (bộ văn bản viết tay) 7968 trong
Thư Viện Quốc Gia tại Lisboa. Bộ văn bản này chứa đựng những bản văn để cử hành
thánh lễ và vì thế có kinh Lạy Cha bằng chữ La Tinh, chữ nôm
và chữ Việt viết bằng mẫu tự La Tinh ; đây là một bản thảo được biên soạn
giữa 1739 và 1754 : thật vậy, lời tựa của văn bản ấy nói rõ rằng phần tiếng
Việt chỉ nhằm mục đích giải thích bản văn La Tinh và không được đọc nguyên văn
như thế.
Tuy nhiên, bản quốc ngữ
xưa nhất của kinh Lạy Cha có thể được phục hồi dựa trên lời
bình luận cuốn giáo lý, mà ta có thể tìm thấy bản thảo tại kho lưu trữ của Hội
Truyền Giáo Paris (V 1100, không tựa đề, không ghi ngày, 508 trang, khổ
16) ; chính tả sử dụng trong văn bản cho phép ta xác định rằng bản này được
viết vào đầu thế kỷ XVIII. Xem chi tiết ở phần phụ trương.
[37] Trong
tiếng Việt, những vay mượn tiếng Hoa thường được phát âm theo cách riêng của
người Việt, và đôi khi có một ngữ nghĩa đặc biệt. Ta có thể so sánh cách vay mượn
này với cách mà các ngôn ngữ gốc La Tinh hiện nay vay mượn nơi tiếng Hy Lạp cổ.
[38] Chúng
tôi chỉ cần đơn cử ra đây Pierre-Richard Féray, Le Viêt-nam, Paris,
P.U.F., 1984 : “Le P. Alexandre de Rhodes, de 1650 à 1660, eut l’idée de
romaniser l’écriture. Le Quoc-ngu était né...” (Từ 1650 đến
1669, Alexandre de Rhodes có sáng kiến tạo ra cách viết theo mẫu tự La Tinh. Chữ
quốc ngữ đã ra đời...) (tr. 18). Ta cũng có thể kể tên nhiều sử gia từng nghiên
cứu thời kỳ truyền giáo tại Việt Nam.
[39]. Báo
cáo này được ký tại Kẻ Chợ (Hà Nội hiện nay), ngày 31 tháng 12 năm 1632. Còn
hai bản tại kho lưu trữ ở Rôma của dòng Tên: Jap.-Sin 85,tờ
125-174 và Jap.-Sin.88, tờ 117-158v; rất lâu về
sau người ta sao lại một bản, hiện được giữ tại Biblioteca da Ajuda tại Lisboa
(Jesuítas na Ásia 49/V/31, tờ 215-263) : bản này không thể sử
dụng cho những nghiên cứu ngôn ngữ học tiếng Việt.
[40]. Về
vấn đề này, xem Georg Schurhammer, Das kirchliche Sprachenproblem in
der Japanischen Jesuitenmission des 16. und 17. Jahrhunderts, Tokyo,
Deutsche Gesellschaft fušr Natur- und Vošlkerkunde Ostasiens, 1928.
26/5/2012
Roland Jacques
Nguyễn Đăng Trúc
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét