Các giá trị tinh thần trước những thách đố của kỷ nguyên mới
I- Vấn đề canh tân xã hội của chúng ta trong bối cảnh thế giới ngày nay
Cuối thế kỷ 19 đến tiền
bán thế kỷ 20, sau những năm tháng bất đắc dĩ phải tiếp cận với xã hội, văn hóa
Tây phương, dân tộc Việt Nam chúng ta, đặc biệt là tầng lớp sĩ phu đã có dịp
nêu lên vấn đề canh tân xã hội, thay đổi tâm thức, cập nhật các trào lưu tiến bộ
của nhân loại. Từ những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đến những chủ trương
Tây phương hóa của Tự Lực Văn Đoàn, từ việc hình thành các đảng phái chính trị
đến việc thành lập các chế độ Cộng hòa và chế độ Mác xít…, dần dà trong nhiều
sinh hoạt xã hội, chúng ta như đã rời khỏi khung trời hạn hẹp của một vùng Viễn
Đông đóng kín để đặt mình vào trào lưu văn hóa của Tây phương đang bành trướng,
được hiểu là bước tiến phổ quát trong vận mệnh chung của nhân loại.
Vào cuối thế kỷ 20, nghĩa
là trong thời buổi hiện tại của chúng ta đang sống, thực trạng khó khăn của đất
nước lại buộc chúng ta phải nêu lên vấn đề canh tân xã hội, nhưng vấn đề nêu
lên phức tạp gấp nhiều lần. Một mặt thực trạng đó đối chiếu với nhịp sống chung
của các dân tộc trên thế giới còn quá tiêu cực, khi sinh hoạt xã hội của chúng
ta còn dậm chân, tự trói buộc vào một cơ chế mà lịch sử nhân loại đã chứng thực
như một thất bại ê chề. Mặt khác trong bối cảnh chung của sinh hoạt nhân loại
mà các mối giao lưu văn hóa, kỹ thuật, chính trị đang ảnh hưởng trực tiếp đến vận
mệnh của dân tộc chúng ta, nhiều hiện tượng tiêu cực xã hội xảy đến dồn dập,
tiên đoán cho những giai đoạn khủng hoảng. Có người bi quan còn nghĩ đến một
tương lai kinh hoàng, nếu con người ngày hôm nay không kịp thời tìm những giải
pháp để điều chỉnh và cải cách. Nói cách khác trong nổ lực nêu lên vấn đề canh
tân cuộc sống xã hội đất nước, chúng ta không còn có sẵn hai mẫu mực để chọn lựa
và đối chiếu một cách dễ dàng như vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, không chỉ nêu
lên các phương cách tổ chức và áp dụng hay hội nhập, nhưng là lúc cần xét lại tận
căn những giá trị nền tảng của chính con người và xã hội để can đảm đề xuất những
phương cách sinh hoạt thích ứng với các giá trị đó.
II-Những khó khăn và mâu
thuẫn của xã hội hôm nay
a- Vấn đề đặc
loại của xã hội Việt Nam chúng ta
Tâm thức chung của cách đặt
vấn đề canh tân xã hội của chúng ta còn bị giới hạn trong khung cảnh của một cuộc
tương tranh thuần chính trị giữa một bên là cơ chế chuyên chính xã hội chủ
nghĩa theo học thuyết Mác-xít và bên kia là thế giới tự do. Tình trạng này đã
làm cho chúng ta nhớ lại tâm thức của xã hội và triều đình nhà Nguyễn vào thế kỷ
19. Vấn đề canh tân của xã hội thời bấy giờ đã vướng mắc vào một sự kiện thực tế
do thâm ý thực dân của ngoại bang. Nhân danh bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc
gia, triều đình từ khước luôn những đề nghị canh tân của các minh nho thời bấy
giờ. Ngày nay thực trạng của một chế độ chuyên chính đi kèm với một lý thuyết
Mác xít đầy ảo tưởng đã làm cho bên này và bên kia hụt chân trước những vấn đề
canh tân mà thế giới đang đặt ra và sớm muộn lại ảnh hưởng đến trên cuộc sống của
chúng ta trong tương lai.
b- Vấn đề mâu thuẫn
của văn minh thế giới
Nói đến tiến bộ văn minh
thế giới, một từ ngữ đặc biệt mới xuất hiện là toàn cầu hóa nhằm
nói đến các dự kiến phát triển trong tương lai gần, nghĩa là vào đầu thiên niên
kỷ thứ III. Toàn cầu hóa ở đây lại được hiểu là phổ cập
hóa nền văn hóa và văn minh đặc loại của Tây phương.
Nếu dùng lại từ ngữ của
triết gia Karl Jaspers, chúng ta chứng kiến rằng nhân loại có hai thời
trục có tính cách quyết định cho hướng phát triển văn hóa nhân loại.
Thời trục đầu :
Những xuất hiện của các thánh nhân, triết nhân, văn hào từ thế kỷ thứ 7 đến thế
kỷ thứ 4 trước công nguyên đã tạo nên những nền văn hóa đặc loại của các vùng,
như Lão, Khổng tại Trung Hoa, Phật tại Ấn Độ, Héraclite, Parménide, Socrate tại
Hy Lạp, các tiên tri Do Thái…
Thời trục thứ hai :
Nhưng đến thời Phục Hưng của xã hội Tây Phương và sau đó là các thế kỷ 17, 18,
19, tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiến hóa lịch sử, tính phổ quát của lý trí…cô đọng
trong các tiền đề của trào lưu Triết học ánh sáng và với các lý
thuyết nhân bản khác nhau. Thời trục nầy như một làn sóng lan tràn dần
ra khắp các vùng trên thế giới. Đây là một thời trục đầy lạc quan về khả năng
vô tận của lý trí con người, có lúc đi đến độ như ứng dụng câu của Protagoras,
một nhà ngụy luận Hy Lạp thời Socrate: “Con người là thước đo vạn vật”,
mà gần đây chúng ta còn nghe lại các bài hát của chế độ Cộng sản Việt Nam “Bàn
tay ta làm nên tất cả”. Nỗi lạc quan đó, được nữ Giáo sư Chantal Delsol cô
đọng lại như sau trong cuốn “Le Souci contemporain” (Ed.
Complexe) như sau :
“Chúng ta đã từng tin rằng
chúng ta có thể cải biến tận căn con người và xã hội: khi thì do triết lý tiến
bộ từ Condorcet hứa hẹn với chúng ta rằng chiến tranh, bệnh tật, nghèo đói có
thể được khử trừ, có khi do các ý hệ tiên đoán một tương lai rạng rỡ”.
Một cách hầu như chính thức,
thế giới của toàn cầu hóa ngày nay được hiểu là cộng đồng nhân
loại đang sinh hoạt trong khung cảnh giới hạn của một trào lưu văn hóa, văn
minh Tây phương nầy.
Trên bình diện tiến bộ
khoa học kỹ thuật, nổ lực thực hiện một số định chế xã hội, chính trị, không ai
có thể chối cãi nhiều đóng góp tích cực của trào lưu văn hóa của thời đại được
gọi là thời tân kỳ ấy.
Nhưng, nỗi lạc quan để
thiết định bản tính con người như chỉ là một sinh vật hiểu biết, khai
thác thiên nhiên vật chất, tự sức mình làm nên nhân cách và quyết định vận mệnh
của mình, - (một lối thiết định phẩm giá nhân tính dựa trên cùng
một chuẩn mực của bất cứ sinh vật tự nhiên nào trong vũ trụ, nói cách khác là một
sinh vật mất hết chiều kích “linh ư vạn vật”, thì thực tại lịch sử ngày
hôm nay đang chứng minh ngược lại. Nền nhân bản của con người lao tác (homo
faber) của Mác-xít đã chứng thực những thất bại với sự sụp đổ của bức
tường Bá Linh. Các nền nhân bản vô thần khác của các trào lưu triết lý và mốt sống
tự do cá nhân tuyệt đối, hư vô chủ nghĩa, tương đối chủ nghĩa, con người kinh tế
tiêu thụ, con người chơi (homo ludens) kế tiếp xuất hiện trong thế giới
của tự do kinh tế thị trường…cũng không giải đáp được những ước vọng thâm sâu
nơi con người. Và điểm thất bại ê chề nhất của văn hóa được gọi là nhân bản Tây
phương là có quá nhiều thuyết nhân bản. Những định
nghĩa dị dạng và mâu thuẫn nhau về nhân tính đã đưa đến tình trạng tương tranh
quyết liệt giữa các khối chính trị, tâm thức hoài nghi về sự hiện hữu của chân
lý và về các chuẩn mực đạo đức nền tảng. Hiện trạng xã hội mất hướng ngày nay tố
giác giấc mơ võ đoán dựa trên những tiền đề xây dựng nên chính điểm khởi phát của
nền văn hóa thời tân kỳ Tây phương.
Một tiền đề then chốt của
văn hóa Tây phương phổ quát trong thời tân kỳ của chúng ta đó là tiền kiến cho
rằng những giá trị linh thiêng của nhân tính, những giá trị tinh thần, chẳng
qua chỉ là là những khả năng của lý trí hiểu biết sự vật khách quan. Tiền
kiến nầy đang bị thách thức để đối đầu với những hiện tượng xã hội đang xảy ra,
những hiện tượng kinh hoàng vốn là hệ quả của chính nền văn hóa nầy. Chúng tôi
xin chỉ nêu lên một vài sự kiện đặc trưng :
- Người
ta đã minh chứng rằng trong việc tiêu diệt những người Do Thái vô tội trong các
lò sát sinh, hơi ngạt, là kết quả của một cuộc vận dụng trí năng đến mức tối
đa, với những kỹ thuật hết sức tân thời.
- Khoa
học kỹ thuật lý trí đã dồn nổ lực để hình thành ra bom nguyên tử, cũng như các
loại vũ khí vi trùng có thể tiêu diệt trọn bộ nhân loại.
- Có rất
nhiều phát minh trong lãnh vực truyền thông tân kỳ nhằm rút ngắn khoảng cách
không gian, xóa dần khoảng cách thời gian; nhưng chưa bao giờ con người cảm thấy
cô đơn và lạc lõng hơn lúc này, nhất là những vùng dân cư được hưởng những
phương tiện văn minh vật chất cao độ nhất.
- Trình
độ hiểu biết được nâng cao đồng nhịp với những sáng kiến của khoa học kỹ thuật,
sản xuất lương thực và của cải vật chất, nhưng các mối tương quan xã hội trên
bình diện phối trí lao động, phân phối các sản phẩm, phẩm chất của các sinh hoạt
văn hóa và cộng đồng ngày càng trở nên khó khăn, và đôi lúc hầu như không còn
được lưu ý đến nữa.
- Và lấy
một hiện tượng tiêu biểu về sự mâu thuẫn của nền văn hóa, văn minh ngày nay làm
thí dụ có tính cách điển hình: Chúng ta chứng kiến nổ lực của các nhà khoa học,
các chương trình quy mô của các chính phủ, các tổ chức đại học và y tế, các hệ
thống bảo hiểm đang tích cực để kéo dài tuổi thọ của con người. Nhưng sự gia
tăng tuổi thọ lại đi kèm với phẩm chất tiêu cực trong từng giây phút sống của
con người. Con người thời đại của chúng ta càng ngày càng cảm thấy cô đơn, chán
chường, như ý nghĩ cuộc sống đã trốn thoát đi đâu rồi ! Hiện tượng tự tử trong
giới trẻ gia tăng, đặc biệt các thành phố lớn và phát triển về mặt kinh tế,
chưa kể đến những cuộc tự sát tập thể trong một số các giáo phái đã từng xảy ra
trong các thập niên gần đây…
III- Các phản
ứng trước những khó khăn và mâu thuẫn của văn minh ngày nay
Ý thức về những hiện trạng
tiêu cực của xã hội mình đang sống, những phản ứng của cá nhân hay từng nhóm, từng
lứa tuổi, từng lớp quần chúng nhằm ly khai chống đối nếp suy tư, tập tục, cơ chế,
trật tự ưu thắng của xã hội đương thời… luôn hiện hữu trong mỗi giai đoạn của lịch
sử loài người. Thông thường hơn nữa, mỗi một thời đại đều quay nhìn lại thực trạng
xã hội mình và xem đó là tình trạng nguy kịch hơn cả, kèm theo những giải pháp
tưởng chừng có thể giải quyết dứt khoát những sai lầm của quá khứ cũng như hiện
tại.
Những phản ứng có tính
cách xã hội trước nền văn minh và nếp sống văn hóa ngày nay cũng mang những đặc
tính tương tự.
Thêm vào đó, chúng ta nhận
ra rằng thường các giải pháp đưa ra là cái nhìn đối nghịch với
những nếp sống và quan điểm đang chi phối cuộc sống xã hội hiện tại.
- Trước
trào lưu toàn cầu hóa về mặt không gian qua mẫu mực của văn
minh Tây phương đang thịnh hành, phong trào quốc gia quá khích tôn vinh chủ
nghĩa chủng tộc, độc tôn vùng miền, quốc gia đi kèm với việc bài xích sự hiện
diện của người dị chủng trong môi trường sống của mình.
- Một số
giáo phái đi tìm những nơi hoang vắng, tạo thành những cộng đồng riêng lẻ sống
ngoài lề sinh hoạt chung của xã hội.
- Người
ta hoài nghi về niềm tin liên quan đến thời gian lịch sử được xem như cuộc
thăng tiến không ngừng và đồng bộ trong cuộc phát triển kinh tế, xã hội và cuộc
sống tinh thần. Từ tôn giáo, triết học, nghệ thuật…nhiều phong trào quay lại với
quá khứ thật xa xưa, hoặc truy tìm những giá trị văn hóa, tôn giáo mà khởi thủy
của thời tân kỳ xem là lạc hậu, man rợ, thiếu ý thức…
- Đặc
biệt trong một số tôn giáo lớn, nhiều khuynh hướng gọi là nguyên tuyền (intégriste)
cơ bản (fondamentaliste) nuối tiếc một thời vàng son của thời tôn giáo
toàn trị về mặt trần tục đã dấy lên những vùng ảnh hưởng, những phong trào chống
lại nếp sống tân kỳ, tạo ra những xung đột bạo lực, bất tương dung, vượt ra
ngoài các sứ điệp yêu thương và giải thoát của các niềm tin tôn giáo.
- Trong
khuynh hướng phản ứng ngược lại với trật tự hiện hữu của xã hội, người ta dần dần
dững dưng hoặc chống đối các giá trị và định chế truyền thống; người ta thường
nhắc đến tình trạng mất niềm tin vào các tôn giáo lớn, thiếu hứng khởi trong
sinh hoạt chính trị, nhưng ngay cả ý thức đạo đức và nổ lực trau dồi văn hóa
cũng không còn được quan tâm. Điều đáng ghi nhận hơn nữa, là sự xuất hiện của
nhiều nhóm trẻ tôn vinh các giá trị tiêu cực, đôi lúc đi đến những hành vi bạo
loạn và tội ác: Những nhóm suy tôn Satan, phá tán các mồ mả, đập phá các nơi thờ
tự của các tôn giáo…
- Về
các sinh hoạt định chế hiện hành đang chi phối sinh hoạt chính thức của xã hội,
phản ứng rất đa dạng, nhưng khung cảnh chung cho chúng ta thấy một tình trạng bất
cập để giải quyết vấn đề :
o
Những phản ứng còn nằm trên bình diện điều chỉnh hoặc khử trừ có tinh
cách kỹ thuật. Nói cách khác, các hiện tượng chống kháng lại các định chế,
và đằng sau đó là sự mong chờ những giải đáp trung thực và thích hợp với ước vọng
và bản tính con người, chỉ được nhìn như những hiện tượng hoàn toàn tiêu cực về
mặt xã hội. Lý do thâm sâu là các định chế hiện hành, kể cả tôn giáo, không vượt
ra khỏi tiền kiến về nền tảng được xem là vững chắc, phổ quát của vũ trụ quan,
nhân sinh quan xây dựng nên thời đại tân kỳ ngày nay. Tôn giáo và tầng lớp trí
thức không còn đóng vai tiên tri hay còn gọi là khai sáng ; nếu còn giữ khoảng
cách không trở thành công chức cho các định chế chính trị, xã hội, thì cũng
không vượt ra khỏi những tiền đề văn hóa của một thời kỳ lịch sử rất giới hạn tạo
nên nền văn minh tân kỳ.
o
Trong dư luận và nơi cảm nhận của quần chúng, các định chế, tầng lớp trí thức
và các tôn giáo còn loay hoay trong cuộc tương tranh giữa khuynh hướng
tiến bộ nghĩa là tôn vinh nền văn hóa văn minh tân kỳ hiện hành,
và khuynh hướng bảo thủ, quay về một quá khứ được xem là vàng
son nhằm chống lại nền văn minh được xem là một xã hội quá tục hóa. Hậu
quả là các hiện tượng bất thường của xã hội ngày nay hoặc được đánh giá là do hậu
quả của xã hội văn minh tân thời, hoặc bị lên án là tác dụng của khuynh hướng
phản động, bảo thủ mà phát sinh.
o Tình
trạng bất cập và hụt chân của các định chế trước những khám phá của khoa học kỹ
thuật. Cuộc hội thảo của các nhà khoa học và triết gia tại Tokyo, Nhật
bản năm 1995 đã đồng thanh lên tiếng báo động :
“Lần đầu tiên, các nhà
khoa học và triết gia đồng thanh quả quyết rằng chúng ta đã đi vào thời đại sống
còn của nhân loại và thúc đẩy các giới hữu trách có biện pháp thích ứng cho một
hoàn cảnh đang bùng nổ” (trích phúc trình của triết
gia Michel Random về cuộc hội thảo tại Tokyo, 1995 đăng trên tạp chí Le Nouvel
Observateur – hors-série số 28, tr.52).
Hoàn cảnh xã hội bùng nổ
khi khoa học tiếp cận sự sống và bản chất của con người không còn nêu lên phẩm
giá đăc loại của nhân tính : người ta khai thác thân xác và tinh thần con người
như khai thác các vật thể trong thiên nhiên. Người ta khai thác những khám phá
về di truyền học, miễn dịch học bất chấp những nguy cơ trong việc áp dụng và
đưa ra thị trường. Gần đây sự kiện con cừu Dolly được “biến chế” từ một
tế bào vô tính do viện Roslin đã làm cho dư luận choáng váng…
Mọi người choáng váng vì
hai lý do :
- Thứ
nhất, những tiên liệu bảo chứng cho giá trị của khám phá khoa học nay đã vượt
qua. Tương quan giữa tiến bộ khoa học và hạnh phúc con người không
còn nền tảng nào chắc chắn nữa khi khoa học đang trên đường tác tạo một giống
người như một sinh vật nào khác vượt lên trên mọi dự đoán.
- Thứ
hai, giá trị tối thượng của con người vốn là nhân tính “linh ư vạn vật”,
giá trị linh thiêng ấy đã bị thời tân kỳ chuyển thành khả năng lý trí để hiểu
biết các sự vật. Nay chân lý và phẩm giá về nhân tính phải chăng chỉ được đo lường
qua sự hữu hiệu của việc áp dụng sự hiểu biết này vào việc làm
chủ thiên nhiên và hưởng dụng những sản phẩm vật chất do bàn tay và trí năng
con người làm ra ?
Tiền đề văn hóa nền tảng
đó của thời đại tân kỳ, vốn được xem là một giá trị thần thánh mới mặc nhiên
cho phép khoa học có thể mạnh dạn khẳng định “Cái gì có thể làm được trong
lãnh vựa khoa học đều có thể được phép làm”. Và khi các định chế xã hội, từng
lớp trí thức và tôn giáo cũng đang nằm trong khung văn hóa được xem là phổ
quát, là một định mệnh không cưỡng lại được của lịch sử nhân loại, thì xã hội
khó lòng tìm được một giải pháp thỏa đáng.
- Mặt
khác, ngoài tình trạng bế tắc về việc canh tân nền tảng các định chế, những hiện
tượng xã hội tiêu cực như thất nghiệp, phát triển nghịch chiều giữa tiến bộ
khoa học-kỹ thuật và phẩm chất đời sống của cá nhân và xã hội… dần dà đưa quần
chúng đi vào tình trạng thu mình lại, cá nhân chủ nghĩa, để mặc, hoặc thực hiện
một nếp sống dựa trên “chủ nghĩa tương đối về các giá trị. Ý thức về
công ích và dấn thân phục vụ đồng loại nhường chỗ cho những ưu tư giải thoát cá
nhân. Các giá trị linh thiêng, đạo đức nay chỉ được xem như là một cảm nghiệm
riêng tư của lòng mình, đôi lúc bất chừng và tùy hứng, để phản ứng lại những dự
phóng ảo tưởng của các ý thức hệ đang chi phối nhân loại.
IV – Một đôi điều suy
nghĩ
a - Trước
những dự án cải cách của nhà nước Cộng sản Việt Nam hiện nay
Dự án cải cách của nhà nước
Cộng sản Việt Nam (CSVN) muốn tìm một lối thoát để sống còn, dựa trên một tổng
hợp rất kỳ lạ: đó là hạ tầng cơ sở kinh tế theo chế độ thị trường bên cạnh một
chế độ chính trị đối nghịch là chế độ CS chuyên chính. Trong khuôn khổ cuộc
trao đổi này, chúng tôi không bàn đến vấn đề khả thi hay những hậu quả kinh tế,
chính trị của cuộc tổng hợp đó. Nhưng trên bình diện văn hóa, chúng ta nhận thấy
rằng việc tổng hợp này ngay từ đầu bị chi phối bởi những tiền đề cố hữu :
- Con người và xã hội
được định nghĩa là sinh vật được làm nên bởi vật chất, biến đổi vật chất bằng
lao tác và hưởng dụng vật chất.
- Nhũng tiền đề về
con người và xã hội như thế dựa trên tính khách quan của lịch sử.
Thời gian qua đi, niềm
tin về một thiên đàng trần thế sẽ được thực hiện nhờ cuộc cách mạng CS đã không
thể biện minh được nữa trước những thực tế lịch sử khách quan mà nhân loại đã
trải qua.
Và trong ý hướng ứng dụng
kinh tế thị trường vào xã hội Việt Nam, nhà nước CS như chỉ biết có quá khứ và
không hề biết đến những khủng hoảng, ít nhất về mặt văn hóa, mà các quốc gia
đang phát triển nhờ kinh tế thị trường phải đối đầu.
Cuộc khủng hoảng đó, hàn
lâm viện Jacques-Yves Cousteau đã cô đọng trong lần phát biểu tại Tokyo, 1995:
“Một nhà độc tài vô
danh và vô hình rất tàn nhẫn, Ông Thị Trường, đang hành xử một loại uy quyền độc
đoán. Sự thay đổi quyền uy nguy hiểm nầy biểu lộ một sự suy thoái của nếp sống
văn minh, đi đến tình trạng man rợ, từ dân chủ đi đến một nền độc tài không thể
xác định” (Tạp chí Nouvel Observateur số 28, tr. 53).
b – Khủng
hoảng các giá trị phát xuất từ đâu?
Một số những hiện tượng
xã hội tiêu cực, hoặc đáng lo ngại đang xảy ra cho thời đại chúng ta, không có
nghĩa là xã hội hiện nay chúng ta đang sống là một hỏa ngục. Và chúng ta cũng
không vội vàng phi bác một cách hồ đồ và đồng loạt những giá trị tích cực mà thời
đại tân kỳ đã cống hiến cho lịch sử nhân loại. Nhưng những giới hạn và bế tắc của
những tiền đề xây dựng nên nếp văn minh của thời đại tân kỳ đó buộc ta phải đặt
lại vấn đề. Những giới hạn và bế tắc có thể được nêu lên, vì khi đối chiếu những
thành quả của nền văn minh đó đem lại với những hứa hẹn có thể đáp ứng trọn vẹn
tất cả những yêu sách và khát vọng của con người, thì có sự bất tương hợp.
Trong dòng phát triển văn
hóa của Phương Tây Hy Lạp, các giá trị sinh hoạt con người được qui chiếu vào
nhận thức về nhân tính như là một sinh vật có lý tính. Nhưng
thuở bình minh của nền văn hóa đó, con người có lý tính nghĩa
là được tham dự vào sự sống vượt lên trên các sinh vật, sự sống đó gọi là “Logos”.
Héraclite nêu lên “Logos” này, nhưng đồng thời nhấn mạnh không ai trong
cõi người ta có thể sở đắc hay hiểu thấu đáo được “Logos” là gì. Socrate
cũng nêu lên câu châm ngôn khác trên đền thờ Delphes “người ơi hãy tự
biết mình”, đề cao sự hiểu biết như là giá trị tối thượng của nhân tính,
nhưng đi đôi với châm ngôn đó, vị thầy của văn hóa Tây phương cũng cho rằng “điều
mà ông biết, đó là ông không biết gì cả”.
Nhưng cái mới trong giòng
lịch sử văn hóa Tây phương và hiện nay đang phổ biến tràn lan trên thế giới làm
khởi phát thời đại tân kỳ, là “Logos” mà con người thoáng nhận ra và
luôn mãi phải lắng nghe và đi tìm của Héraclite và Socrate, nay được hiểu là khả
năng hiểu biết của con người về bản chất sự vật và còn hơn nữa là biến đổi sự vật.
Đồng thời cũng nhờ có khả năng lý trí nầy, con người có được phẩm giá của mình
nơi quyền tự do và tự lập. Vì thế cũng có thể là đã lo âu cho một tương lai đen
tối của thời đại tân kỳ đang mở ra, hoặc có thể là để tuyên dương cho những
khám phá mới mẻ của nhân loại. F. Nietszche dùng miệng một người mất trí mà hô
to giữa công trường “Thượng Đế đã chết, tất cả chúng ta đã là những tên
đồ tể sát thần”.
Tiêu chuẩn để đo lường
các giá trị từ nay không còn là Chân lý vượt lên trên khả năng của con người mà
con người phải biết lắng nghe, đối chiếu và tự kiểm, nhưng nay giá trị được đo
lường và thiết định dựa trên sự hữu hiệu của các nổ lực hiểu biết và thể hiện tự
do, hạnh phúc, mà khả năng con người lý trí, vốn được xem như vô hạn, có thể
triển khai.
Thực tế cho thấy rằng lý
trí phổ quát mà mỗi cá nhân đều sở đắc không phổ quát như nỗi lạc quan của các
nhà tư tưởng thời tân kỳ chủ xướng: những ý hệ nhân tăng mâu thuẫn nhau, những
nền nhân bản liên tục thay nhau xuất hiện ; việc sở đắc các kiến thức khoa học
cũng không đem lại trọn vẹn những ước mong hoàn thành nhân tính con người. Và bế
tắc của thời đại tân kỳ như điều mà F. Nietszche đã tiên đoán là con người đang
mệt mỏi về thân phận làm người, con người đang phiêu lưu vào sa mạc của hư vô
chủ nghĩa, mà ngôn ngữ ngày nay gọi là khủng hoảng tận
căn các giá trị.
Trước tình trạng này, nhiều
nhà tư tưởng Tây phương đã giật mình tự vấn về “con người suy tư” của
truyền thống văn hóa; và một trong những triết gia đã mạnh dạn nói rằng:
“Điều làm cho chúng ta
suy tư hơn cả trong thời đại của chúng ta, một thời đại làm ta phải suy nghĩ,
đó là chúng ta chưa từng suy tư” (Heidegger –
Qu’appelle-t-on penser? Bản dịch của Aloys Becker và Gérard Granel. PUF. Paris
4è éd, 1983. tr.24)
Tại sao chúng ta chưa từng
suy tư?
Các giá trị tinh thần nằm
trong khuôn khổ của bản tính con người “linh ư vạn vật”. Nhưng nếu
đặc tính thiêng liêng là suy tư lại được xây dựng trên sự hiểu biết về sự vật
và từ sự hiểu biết này xây dựng lại bản tính con người và thần thánh; phải
chăng đây là sự hiểu lầm và sử dụng lầm tận căn hay không? Các nền thần
học, đạo đức, nhân bản ngày nay đã không đặt vấn đề con người, Thượng
đế là “cái gì” hay sao? Làm sao một nền văn hóa có thể đi xa những kinh
nghiệm thông thường của con người dưới phố khi đặt câu hỏi “con người
là gì?”, “cha tôi là gì?”, “mẹ tôi là gì?” Và nếu phải đề
cập đến các giá trị thiêng liêng, đạo đức về nhân tính, thì nền văn hóa dựa
trên tiền đề về sự hiểu biết sự vật (về những cái gì) làm nền
tảng khởi phát liệu sẽ cống hiến được những nội dung nào cho khát vọng tự nhiên
của tâm hồn con người ?
Từ “cái gì” đến “ai” như
trọng tâm của suy tư, phải chăng là một thách đố của văn hóa nhân loại cho
Thiên niên kỷ sắp đến ?
c - Câu chuyện của
chúng ta
“Ôn cố tri tân”.
Chúng ta tự hào về nền nền văn hiến dân tộc, chúng ta muốn đóng góp phần mình
vào sinh hoạt chung của nhân loại. Trong muôn vàn điều đáng tự hào và những giá
trị tích cực có thể cống hiến, có một câu chuyện được lưu truyền phản ảnh những
thao thức về giá trị gọi là Cương thường hay Đạo
làm người. Đó là câu chuyện Họ Hồng Bàng.
Đế Lai đem theo vợ mình là nàng Âu Cơ nhằm chiếm đất nước của Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân. Đế Lai chỉ nghĩ đến quyền lực của mình và tìm cách vơ vét các tài vật thiên nhiên trong xứ (nhũng cái gì), bỏ mặc nàng Âu Cơ và tùy tùng (những ai) trong trại.
Âu Cơ trong nỗi cô đơn khắc khoải, được Lạc Long Quân, con người bất tử, cứu thoát và được nâng lên làm người bạn đồng sàng với chàng. Trong cuộc gặp gỡ Đất – Trời – Người nầy, nàng sinh hạ trăm con và gây dựng nên dân tộc mới.
Nhưng Lạc Long Quân vốn là Thần Thánh, nên sau một năm gần gũi với Âu cơ thì ẩn mặt.
Trong nỗi nhớ nhung về người bạn Thần Thánh Lạc Long Quân, Âu Cơ và các con chỉ còn có duyên gặp gỡ chồng và cha tại Tương Dạ.
Ngày nay con người chỉ muốn sống “sống bởi bánh”, nghĩ tới việc sở đắc tài vật và quyền uy cho cá nhân và thực thi bạo lực, con người “chấp ngã” đó của Đế Lai phải chăng đã đến lúc nên nhường đất trời cho một thế hệ con người mới. Con người mới ấy sẽ biết ân cần, ưu lo nghĩ đến một Lạc Long Quân rất gần, nhưng luôn ẩn mặt và gặp gỡ mỗi người, muôn người nơi Tương Dạ hay còn gọi là Tâm Linh.
3/8/2012
Nguyễn Đăng Trúc
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét