Không nơi nương tựa
Lời giới thiệu
Khát vọng sống và ý chí
tuyệt vời của một em bé trong tận cùng của sự hắt hủi và vùi dập
Không nơi nương tựa” là
câu chuyện thật của chính tác giả, kể về thời thơ ấu bị vùi dập đau thương của
mình - một trong những trường hợp hắt hủi và bạo hành trẻ em nghiêm trọng nhất
lịch sử bang California, Hoa Kỳ. Em bé Dave Pelzer đã bị chính mẹ ruột bỏ đói
và đánh đập tàn nhẫn. Ngườ mẹ luôn nghiện ngập và bất ổn về mặt tinh thần của cậu
luôn bày ra những trò không thể đoán trước được, ác độc và gây nguy hiểm đến
tính mạng của cậu. Dave phải học cách đối phó với những ngón đòn của người mẹ
ruột của chính mình để sống sót vì bà ta đã không còn coi cậu là con trai của
mình, mà chỉ là một tên nô lệ; trong mắt bà ta, Dave không phải là một đứa bé,
mà là một “con vật”.
Chỗ ngủ của Dave là một
chiếc cũi nhỏ và cũ kỹ đặt dưới tầng hầm, còn quần áo của cậu thì rách nát và
luôn bốc mùi nồng nặc. Cậu chỉ được mẹ quẳng cho những mẩu thức ăn dư thừa, ôi
thiu. Thế giới bên ngoài không hay biết gì về những cơn ác mộng có thật của cậu
bé đáng thương ấy. Cậu không có bất kỳ ai để nương tựa, chỉ có những giấc mơ dẫn
đường cho cậu tiếp tục sống - giấc mơ về một người nào đó quan tâm đến cậu, yêu
thương cậu và gọi cậu là con.
Qua mỗi cuộc chống chọi của cậu bé ấy trong bóng tối cay nghiệt, bạn sẽ thấy như bản thân mình cũng cảm nhận được nỗi đau của cậu, an ủi nỗi cô đơn của cậu và cùng cậu tranh đấu cho sự sống còn. Câu chuyện đầy sức thuyết phục này sẽ giúp chúng ta nhận định rõ hơn về bản chất của nạn bạo hành trẻ em, đồng thời biết rằng chúng ta hoàn toàn có khả năng tạo nên một điều gì đó khác biệt để chấm dứt thực trạng đau lòng này.
Dave Pelzer được xem là một
trong những phát ngôn viên quốc gia làm việc hiệu quả nhất và đáng tin cậy nhất,
chuyện hoạt động trong các nhóm hội, tổ chức chuyên nghiệp về dịch vụ nhân quyền.
Những thành tích nổi bật của Dave đã nhận được những lời khen tặng từ đích thân
cựu Tổng thống Ronald Reagan và George Bush. Năm 1993, Dave được vinh danh là một
trong mười Đại diện tiêu biểu nhất của Thanh niên Hoa Kỳ và năm 1994, Dave là
công dân duy nhất của nước Mỹ vinh dự được trao tặng giải thưởng Thanh niên
tiêu biểu nhất thế giới. Dave còn được chọn làm người rước đuốc trong Thế Vận Hội
năm 1996. Dave đã cống hiến cả cuộc đời mình để giúp nhiều người khác thoát khỏi
nghịch cảnh.
Dave là tác giả của quyển
The Lost Boy - phần hai trong bộ ba tác phẩm của ông, và phần cuối là A Man
Named Dave.
Dave sống một cuộc sống
bình lặng ở Rancho Mirage, California với vợ, con trai Stephen và chú rùa cưng
tên Chuck.
“Không nơi nương tựa là một
quyển sách hấp dẫn và làm xúc động lòng người. Đây là một trong những tựa sách
có ý nghĩa trong thời đại chúng ta và là quyển sách nên đọc đối với những ai
đang đi tìm bí mật của sức mạnh nội tại”.
- Vicki Binniger
Giám đốc điều hành Hội
Cha Mẹ, Trung tâm Điều trị, Can thiệp và Phòng chống Bạo hành Trẻ em California
“Ký ức tuổi thơ của Dave
Pelzer là bằng chứng cho sự chiến thắng của ý chí con người. Quyển sách đã lột
tả được một cách rõ ràng nhất sự ngược đãi mà cậu bé phải chịu đựng dưới bàn
tay của người mẹ và sự bàng quan vô cảm đến khó tin của những người xung quanh
trước hoàn cảnh khốn khổ của cậu. Lòng dũng cảm và sự quyết tâm của Pelzer sẽ
còn giúp ích rất nhiều cho hàng triệu trẻ em đang phải sống và chịu đựng sự ngược
đãi trong thầm lặng”.
- Mark Riley
Liên hiệp Phúc lợi Trẻ em
Hoa Kỳ
“Để biết thế nào là sự
giày vò về tinh thần lẫn thể xác của bạo hành trẻ em cũng như để biết đứa trẻ ấy
quyết chí thế nào để sống sót sau tất cả, hãy đọc quyển sách hết sức cảm động
và rất thuyết phục này. Hy vọng rằng quyển sách sẽ giúp chúng ta tập trung vào
việc ngăn chặng nạn bạo hành trước khi quá muộn”.
- Anne Cohn Donnelly
Ủy ban Phòng chống Bạo
hành Trẻ em Quốc Gia
“Dave Pelzer là người sống
sót vĩ đại vì đã chiến thắng quá khứ bị ngược đãi của mình. Câu chuyện của Dave
sẽ giúp chúng ta hiểu rằng mỗi năm còn có hàng trăm ngàn đứa trẻ vô tội khác bị
tra tấn và đối xử tàn bạo”.
- Glenn A.Goldberg
Cựu Giám đốc điều hành của
Cục Chống Bạo hành Trẻ em California
“Khi cầm quyển sách này
trong tay, tôi đã không thể buông xuống. Đây là quyển sách hay nhất về đề tài bạo
hành trẻ em mà tôi từng được đọc. Khi độc giả đi cùng David qua nỗi sợ hãi, mát
mát, bị cô lập, nỗi đâu và cả những cơn giận dữ tột cùng để đến được với niềm
tin sau cùng, thì thế giới tối tăm của đứa trẻ bị ngược đãi cũng được phơi bày
ra ánh sáng, dù nó từng chứa đựng nhiều nỗi đau. Chúng ta đã nghe thấu được tiếng
khóc than của những đứa trẻ bị ngược đãi qua đôi mắt, đôi tay và thân thể của
Dave Pelzer. Không nơi nương tựa khiến tôi chỉ muốn ôm chặt lấy những người
thân yêu của mình trong tình yêu thương”.
- Valerie Bivens
Nhân viên xã hội Tổ chức
Bảo vệ Trẻ em California
Quyển sách này được dành
tặng cho con trai Stephen của tôi - đứa con mà cùng với lòng lành của Chúa, đã
chỉ cho tôi biết thế nào là tình yêu và hạnh phúc bằng đôi mắt của một đứa trẻ.
Quyển sách này cũng được
dành tặng cho các thầy cô giáo cũng như hội đồng giáo vụ của Trường tiểu học
Thomas Edison, trong đó có:
Thầy Steven E.Ziegler
Cô Athena Konstan
Thầy Peter Hansen
Cô Joyce Woodworth
Cô Janice Woods
Cô Betty Howell
và cô y tá của trường.
Xin được dành tặng cho tất
cả các thầy cô, những người đã can đảm và mạo hiểm cả sự nghiệp của mình trong
cái ngày định mệnh ấy, ngày 5 tháng 3 năm 1973.
Các thầy cô đã cứu vớt cuộc
đời em.
Lời cảm ơn
Xin gửi lời cảm ơn đến
Jack Canfield, đồng tác giả của bộ sách Chicken Soup for the Soul, vì sự tận tụy
và tấm lòng bác ái rộng mở của ông. Jack thực sự là một trong số ít những người
có thẻ giúp nâng đỡ tâm hồn của rất nhiều người khác, không một chút ngần ngại.
Xin gửi lời cảm ơn đến
Nancy Michell và Kim Wiele trong nhóm cộng sự của Canfield, vì sự nhiệt thành
và hỗ trợ tận tâm của họ. Chân thành biết ơn các chị.
Xin gửi lời cảm ơn đến
Peter Vesgo công tác ở Trung tâm Truyền thông Sức khỏe (HCI), cũng như cảm ơn
Christine Belleris, Metthew Diener, Kim Wiess và toàn thể nhóm cộng sự nhiệt
thành ở HCI vì sự tận tụy, tính chuyên nghiệp và sự nhã nhặn hàng ngày của họ
đã khiến cho công việc xuất bản quyển sách này trở thành một niềm vui thú. Gửi
lời cảm ơn rất nhiều đến Irene Xanthos và Lori Golden vì tinh thần làm việc
không mệt mỏi. Và gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Bộ phận Thiết kế Mỹ thuận
vì sự hăng say và hết mình của các bạn trong công việc.
Xin gửi lời cảm ơn đặc biệt
đến nữ biên tập viên Marsah Donohoe, người đã dành rất nhiều thời gian để biên
tập quyển sách này, giúp mang đến cho độc giả một câu chuyện có nội dung mạch lạc
và chính xác dưới cái nhìn của một đứa trẻ.
Xin gửi lời cảm ơn đến
Patty Breitman, người làm việc cho Dự án Xuất bản Breitman vì sự đóng góp mang
tính khơi nguồn của cô, cùng sự hỗ trợ về tài chính rất chu đáo để giúp tôi xuất
bản cuốn sách này.
Xin gửi lời cảm ơn đến
Cindy Adams vì sự tin tưởng tuyệt đối mà cô đã dành cho tôi.
Xin gửi lời đặc biệt cảm
ơn đến Ric và Don ở khu nhà nghỉ Rio, nơi có căn nhà cũ của gia đình tôi năm
xưa, vì đã đem đến cho chúng tôi một không gian hoàn hảo trong suốt quá trình
làm cuốn sách này.
Và cuối cùng, xin gửi lời
cảm ơn đến Phyllis Colleen. Tôi chúc cô luôn được hạnh phúc, an lành.
Lời tác giả
Tên một số nhân vật trong
quyển sách này đã được thay đổi để giữ bí mật đời tư của họ. Quyển sách này là
phần đầu trong một bộ ba câu chuyện, miêu tả thực trạng bị ngược đãi dưới cái
nhìn của một đứa trẻ. Giọng điệu và ngôn ngữ được sử dụng trong quyển sách phản
ánh lứa tuổi và cách suy nghĩ của đứa trẻ trong khoảng thời gian đặc biệt đó.
Quyển sách này viết về cuộc
sống của nhân vật chính từ năm bốn tuổi đến năm mười hai tuổi.
Phần thứ hai của bộ ba,
quyển The Lost Boy, viết về diễn biến tiếp theo về cuộc sống của nhân vật vào
khoảng thời gian nhân vật mười hai đến mười tám tuổi.
Chương 1
Giải thoát
Ngày 5 tháng 3 năm 1973,
thành phố Daly, California.
Tôi dậy muộn. Nếu không rửa
xong đống bát đĩa kia đúng giờ, sáng nay tôi sẽ không được ăn sáng. Vì tối qua
chẳng được ăn gì nên giờ tôi phải cố làm sao có cái gì đó cho vào bụng. Mẹ đang
rượt đuổi avf hét mắng hai người anh em trai của tôi. Nghe thấy tiếng chân huỳnh
huỵch của mẹ ngoài hành lang nhà bếp, tôi vội vã nhúng tay vào bồn rửa bát,
nhưng không kịp rồi. Mẹ đã nhìn thấy hai tay tôi bên ngoài chậu nước.
BỐP! Mẹ tát mạnh vào mặt
tôi khiến tôi ngã bổ nhào xuống sàn nhà. Tôi biết tốt hơn là mình nên dứng yên
đó mà chịu trận. Tôi đã học được một điều cay đắng là mẹ xem việc tôi ngã, chảy
máu hay khóc lóc như một hành động thách thức; và điều đó có nghĩa là tôi sẽ nhận
thêm nhiều trận đòn khác hay tệ hơn là sẽ bị bỏ đói. Tôi lồm cồm dậy và né
tránh cái nhìn của bà, trong khi bà vẫn quát vào tai tôi những từ ngữ đã trở
nên quá quen thuộc.
Những lời đe dọa của mẹ
khiến tôi dè dặt hẳn, tôi thì thào:
- Làm ơn! Chỉ cần cho con
ăn thôi. Mẹ cứ đánh con nữa đi, nhưng con cần được ăn!
Cú đánh tiếp theo của mẹ
tôi dúi đầu tôi vào tường. Như đã giải tỏa được cơn tức giận, mẹ lao ra khỏi
nhà bếp. Những giọt nước mắt chịu đựng chảy dài trên mặt tôi. Khi biết chắc mẹ
đã đi khỏi, tôi thở phào nhẹ nhõm. Mẹ có thể đánh tôi bao nhiêu cũng được,
nhưng tôi không bao giờ để mẹ vùi dập nghị lực sống của tôi.
Rửa xong bát đĩa, tôi dọn
dẹp nhà cửa. Phần thưởng cho tất cả những việc này là một bữa ăn sáng - gọi là
bữa ăn sáng, nhưng thực ra đó chỉ là những mẩu thức ăn thừa trong khẩu phần của
cậu em trai của tôi. Ngày hôm nay như thế là đã may mắn lắm. Nhưng tôi phải
ngón thật nhanh trước khi mẹ thay đổi ý. Trước giườ mẹ vẫn thường như thế. Mẹ sử
dụng thức ăn như một thứ vũ khí lợi hại. Mẹ sẵn sàng quẳng phần thức ăn thừa ít
ỏi vào thùng rác vì biết thế nào tôi cũng moi nó ra mà ăn. Mẹ nắm hết mọi suy
nghĩ và hành động của tôi.
Vài phút sau đó tôi nhảy
vội lên chiếc xe trở hàng của gia đình. Vì phải lo dọn dẹp nhà cửa nên tôi bị
trễ giờ, và mẹ phải chở tôi đi học. Thường ngày tôi vẫn chạy bộ đến trường, mỗi
lần như vậy tôi đều đến nơi vừa kịp lúc lớp học bắt đầu nên tôi cũng chẳng thó
được chút thức ăn nào từ phần ăn trưa của những bạn khác.
Mẹ để anh tôi xuống xe
trước và giữ tôi lại để thông báo cho tôi biết kế hoạch ngày mai. Mẹ sẽ đưa tôi
sang nhà cậu. Mẹ nói Dan sẽ “chăm sóc” tôi. Giọng mẹ như hăm dọa. Tôi nhìn mẹ
làm ra vẻ sợ hãi. Tuy vậy, trong thâm tâm, tôi lại nghĩ dù cậu có nghiêm khắc đến
mấy, nhưng chắc chắn cậu sẽ không đối xử với tôi giống như cách của mẹ.
Tôi lao ra khỏi xe, mẹ
hét với theo bảo tôi quay lại do tôi bỏ quên hộp cơm trưa. Khẩu phần cơm trưa của
tôi suốt ba năm nay vẫn vậy - chỉ là hai chiếc bánh sandwich phết bơ đậu phộng
và một vài thanh cà rốt bé tí, trước khi tôi đóng cửa mẹ còn nói với theo:
- Này, nếu như cô giáo có
hỏi thì nhớ nói là do mày bị va vào cửa nhé. - Rồi bằng một giọng rất ít khi
dành cho tôi, mẹ nói tiếp - Một ngày tốt lành nhé!
Tôi nhìn theo đôi mắt đỏ
hoe sưng húp của mẹ, đó là vết tích của một ngày dài căng thẳng hôm qua. Mái
tóc óng ả, mượt mà ngày xưa của mẹ giờ chỉ còn là một búi tóc xơ xác. Mẹ ít khi
trang điểm. Do thừa cân nên lúc nào trông mẹ cũng nặng nề, và mẹ biết rõ điều
đó.
Vì đến lớp khá muộn nên
tôi phải nên văn phòng báo cáo. Cô nhân viên phòng giáo vụ với mái tóc đã điểm
bạc chào cười tôi. Lát sau, giám thị nhà trường đến gọi tôi vào văn phòng rồi
hướng dẫn tôi làm thủ tục vào lớp. Cô giám thị nhìn mặt và tay tôi rồi hỏi:
- Mắt em sao thế?
Tôi cúi đầu ấp úng:
- Vâng, do em sơ ý va vào
cửa ạ.
Cô mỉm cười và mở ngăn
kéo lấy tập hồ sơ. Sau khi lật qua vài trang, cô dừng lại và chỉ vào tờ giấy:
- Đây, hôm thứ Hai tuần
trước em cũng nói như vậy. Em có nhớ không?
Tôi vội vàng đính chính:
- Vâng, em chơi bóng và bị
va vào cột. Chỉ là sơ ý thôi ạ.
Tôi luôn cố gắng thuyết
phục giám thị là tôi sơ ý tự gây thương tích cho mình. Nhưng cô ấy hẳn đã hiểu
là còn nguyên nhân nào khác. Cô khuyên tôi nên nói thật. Cuối cùng, tôi đã
không thể nói dối được nữa và phải thú nhận mọi chuyện, mặc dù tôi biết lẽ ra
tôi phải tìm cách nào đó để bảo vệ mẹ.
Cô giám thị an ủi tôi và
bảo tôi cởi áo ngoài. Năm ngoái chúng tôi cũng từng rơi vào tình huống này rồi
nên ngay lập tức tôi làm theo cô. Chiếc áo sơ-mi dài tay này tôi đã mặc liên tục
trong hai năm trời nên bị thủng nhiều lỗ còn hơn cả miếng pho mát Thụy Sĩ nữa.
Mẹ tôi bắt tôi mặc đi mặc lại chiếc áo này như muốn tôi phải xấu hổ trước bạn
bè. Chiếc quần tôi đang ămcj thì bạc phếch, còn đôi giày thì sờn cũ và rách mũi
đến mức ngón chân của tôi có thể thò ra ngọ nguậy. Giám thị nhìn những vết bầm
và trầy xước trên cơ thể tôi rồi cẩn thận ghi vào hồ sơ. Cô quan sát những vết
cưa trên mặt tôi và cố gắng tìm lại những vết thương có đã bỏ qua ở lần ghi trước.
Cô bảo tôi há to miệng rồi nhìn vào những dấu răng mẻ của tôi do bị đập vào cạnh
bàn. Có vẻ như cô không để xót bất kỳ dấu vết tổn thương nào của tôi. Cuối cùng
cô sửng sốt nhìn vào vết sẹo tên bụng tôi và kêu lên:
- Mẹ đánh em vào chỗ này
phải không?
- Vâng thưa cô. - Tôi trả
lời. “Ôi không”. Tôi nghĩ thầm - “mình lại phạm sai lầm nữa rôi”. Như đọc được
nỗi lo lắng trong mắt tôi, cô giám thị đặt hồ sơ xuống và dịu dàng ôm tôi vào
lòng. “Chao ôi! Cô ấy mới ấm áp làm sao”. Tôi không còn muốn đi đâu nữa, chỉ
mong được ở lại trong vòng tay của cô mãi mãi. Tôi nhắm nghiền mắt, trong lòng
cứ sợ giây phút ngắn ngủi này sẽ không bao giờ có nữa...
Cô giám thị xoa nhẹ đầu
tôi. Thế mà tôi cũng không chịu nổi, phải co người lại vì vết sưng tấy trên
trán. Khi cô vừa đi khỏi, tôi vội vã mặc quần áo vào, tôi không muốn ai nhìn thấy
những vết thâm tím trên cơ thể mình. Một lát sau, cô giám thi quay trở lại cùng
với thầy hiệu trưởng Hansen và hai giáo viên của tôi, cô Wood và thầy Zierler.
Thầy hiệu trưởng biết tôi rất rõ. Tôi đến văn phòng của thầy nhiều hơn bất kỳ học
sinh nào khác trong trường này. Đọc xong phần ghi chép về tôi trong hồ sơ giám
thị, thầy nâng cằm tôi lên. Tôi ngượng ngùng không dám nhìn vào mắt thầy, vì
lúc nào thầy cũng muốn biết nhiều hơn, nhiều hơn nữa về mẹ tôi, rằng tại sao mọi
chuyện lại xảy ra như thế. Tôi thường tránh nói bất kỳ điều gì với thầy về mẹ.
Một năm trước có lần thầy mời mẹ tôi lên để hỏi về những vết trầy xước trên người
tôi. Lúc đó thầy không biết chuyện gì đã xảy ra.Thầy chỉ biết tôi là kẻ ngỗ nghịch
luôn đánh cắp thức ăn trưa của các bạn trong lớp. Nhưng chỉ ngay ngày hôm sau
khi tôi lên lớp, thầy biết tôi lại bị mẹ đánh khi nhìn thấy những vết bầm mới,
thầy không bao giờ mời mẹ tôi đến trường nữa.
Thầy Hansen quay sang nói
lớn với mọi người rằng không thể để tình trạng này kéo dài. Nghe thầy nói thế,
tôi sợ tái mặt. “Thầy lại gọi cho mẹ mất thôi” - Tôi bắt đầu hình dung đến những
cảnh tượng khủng phiếp có thể xảy ra. Rồi không thể kìm được nữa, tôi òa khóc,
người run lên bần bật. Tôi láp bắp van xin thầy đừng gọi điện cho mẹ: “Xin thầy
làm ơn! Làm ơn đừng gọi cho mẹ em hôm nay. Thầy không biết hôm nay là thứ Sáu
sao?”
Thầy Hansen đành phải hứa
với tôi là sẽ không gọi cho ẹm tôi, rồi thầy bảo tôi hãy về lớp. Tôi chỉ còn kịp
chạy thảng đến lớp Tiếng Anh của cô Woodworth. Hôm nay là ngày thi viết toàn
bang mà tôi lại chưa chuẩn bị gì. Tôi vốn là học sinh giỏi, nhưng mấy tháng qua
tôi gần như bỏ mặc mọi thứ trên đời, kể cả việc chạy chốn nỗi đau khổ của mình
bằng cách vùi đầu vào những bài tập trong lớp.
Khi tôi vừa bước chân vào
lớp, tất cả học sinh trong lớp đều bịt mũi lại và xì xào bàn tán về tôi. Người
dạy thế là một cô giáo trẻ, cô cũng xua xua tay tỏ vẻ khó chịu. Cô ấy không
quen với cái mùi của tôi, nhưng tôi chưa kịp về đến chỗ ngồi của mình ở phía cuối
lớp, gần cánh cửa sổ đang mở toang, thì bị gọi ngược lên văn phòng của thầy hiệu
trưởng. Cả căn phòng xôn xao vì những tiếng thì thào nói về tôi - một đứa học
sinh lớp năm luôn bị xa lánh.
Tôi đi như chạy về phía
phòng hành chính vả chỉ trong giây lát đã có mặt ở đó. Cổ họng tôi vẫn khô rát
và nóng như lửa đốt - hậu quả của “trò chơi” mẹ đã bày ra ngày hôm qua. Cô nhân
viên phòng giáo vụ dẫn tôi vào phòng họp của giáo viên. Sau khi mở cửa, tôi phải
mất ít phút mới có thể định thần trở lại. Trước mặt tôi là thầy chủ nhiệm
Ziegler, giáo viên dạy Toán của tôi - cô Moss, cô y tá của trường, thầy Hansen
và một viên cảnh sát đang ngồi quanh chiếc bàn dài. Chân tôi tê cứng. Tôi không
biết mình nên bỏ chạy hay đứng lại đó để mọi việc muốn ra sao thì ra. Thầy
Hansen vẫy tôi vào, còn cô nhân viên phòng giáo vụ thì từ từ khép cửa lại. Tôi
ngồi xuống ngay đầu bàn, vội vàng lên tiếng thanh minh rằng hôm nay mình chẳng
lấy cắp thứ gì cả... Mọi người đều mỉm cười khiến không khí trở nên dịu lại.
Tôi không hình dung được rằng họ đang cố gắng cứu lấy tôi.
Viên cảnh sát giải thích
tại sao họ lại mời ông ấy đến. Tôi co rúm người lại trên chiếc ghế mình đang ngồi.
Viên cảnh sát yêu cầu tôi kể rõ về mẹ tôi cho ông ấy nghe. Tôi lắc đầu từ chối.
Đã có quá nhiều người biết được bí mật của tôi, rồi bà sẽ nhanh chóng biết được
điều đó mất thôi. Bỗng một giọng nói dịu dàng vang lên trấn an tôi. Tôi nghĩ đó
là cô Moss. Cô ấy nói với tôi rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn. Tôi hít một hơi thật
sâu, siết chặt hai bàn tay vào nhau và ngập ngừng kể câu chuyện giữa tôi và mẹ.
Rồi cô y tá bảo tôi đứng dậy và chỉ cho viên cảnh sát vết sẹo trên ngực tôi.
Không một chút suy nghĩ, tôi nói ngay rằng nó chỉ là một tai nạn, rằng mẹ không
bao giờ cố ý làm tôi bị thương như vậy cả. Tôi vừa khóc vừa cài lại nút áo và
nói với họ rằng mẹ chỉ phạt tôi vì tôi không ngoan. Tôi chỉ ước sao họ cứ để
tôi được một mình. Thực tâm, tôi cảm thấy sao mình dối trá quá. Nhưng sau ngần ấy
năm trời, tôi hiểu rằng sẽ chẳng ai có thể làm được điều gì cho tôi cả.
Sau ít phút đó, các thầy
cô bảo tôi tạm ra ngoài ngồi. Khi tôi vừa khép cánh cửa lại, những người lớn ngồi
ở phòng ngoài đều nhìn tôi và lắc đầu ra chiều đồng cảm. Tôi ngọ nguậy trên ghế,
mắt chăm chú nhìn cô nhân viên phòng giáo vụ đánh máy. Trong lúc chờ đợi thầy
Hansen cho gọi tôi trở lại phòng, tôi có cảm giác thời gian như ngừng trôi. Cô
Wood và thầy Ziegler rời khỏi phòng họp. Trông họ khá vui vẻ, nhưng đồng thời
cũng thoáng chút lo lắng. Cô Wood quỳ xuống choàng tay ôm lấy tôi. Tôi nghĩ
mình sẽ không bao giờ quên được mùi nước hoa thoảng trên tóc cô. Rồi cô quay mặt
bước đi, để tôi không thấy cô khóc. Vậy nên tôi bắt đầu thấy lo lắng thực sự.
Thầy Hansen trao cho tôi một cái khay thức ăn trưa được mua trong căng-tin nhà
trường. “Chúa ơi, đến giờ ăn trưa rồi sao!” - Tôi tự hỏi.
Tôi ăn ngấu ăn nghiến số
thức ăn ấy nhanh đến nỗi chẳng kịp thưởng thức mùi vị của chúng. Tôi ăn xong bữa
trưa của mình trong một thời gian kỷ lục. Ngay sau đó, thầy hiệu trưởng trở lại
với một gói bánh quy, thầy còn dặn tôi không nên ăn quá nhanh như vậy. Tôi chẳng
biết chuyện gì đang diễn ra nữa. Lúc ấy tôi đoán rằng cha tôi - hiện đang sống
ly thân với mẹ - sẽ đến đón tôi. Nhưng tôi biết đó chỉ là điều huyễn hoặc mà
thôi. Viên cảnh sát hỏi tôi địa chỉ và số điện thoại nhà tôi. “Biết ngay mà!” -
Tôi thở hắt ra - “Lại quay về địa ngục rồi. Lại quay về địa ngục với mẹ nữa rồi!”.
Viên cảnh sát ghi chú
thêm vài điều, còn thầy Hansen và cô y tá đứng một bên theo dõi. Rồi ông ấy gấp
cuốn sổ ghi chép của mình lại rồi nói với thầy Hansen, khuôn mặt thầy ướt đẫm mồ
hôi. Tôi có thể cảm nhận được dạ dày của mình đang quặn thắt lại. Lúc đó tôi chỉ
muốn chạy ngay vào nhà vệ sinh để nôn ra hết mọi thứ mà thôi.
Thầy Hansen mở cửa ra, tất
cả các thầy cô giáo đang ăn trưa quay sang nhìn tôi chăm chú. Tôi xấu hổ vô
cùng. “Họ biết hết cả rồi” - Tôi nhủ thầm - “Họ đã biết hết sự thật về mẹ, một
sự thật không thể chối cãi”. Nhưng họ cần phải biết rằng tôi không phải là một
đứa trẻ hư đốn ngỗ nghịch. Tôi khát khao được mọi người yêu thương quý mến. Tôi
lầm lũi đi về phía hành lang. Thầy Ziegler đang ôm lấy cô Wood. Cô đang khóc.
Tôi nghe thấy tiếng cô sụt sịt. Cô lại ôm lấy tôi rồi vội vã bước đi. Thầy
Ziegler nắm chặt tay tôi.
- Hãy là một cậu bé ngoan
em nhé! - Thầy trìu mến nói với tôi.
- Vâng thưa thầy! Em sẽ cố
gắng! - Lúc ấy tôi chỉ có thể nói với thầy như vậy. Cô y tá đứng yên lặng bên cạnh
thầy Hansen. Tất cả mọi người đều vẫy chào tạm biệt tôi. Giờ tôi biết mình sắp
bị bỏ tù rồi. “Cũng tốt thôi” - Tôi tự nhủ “Ít ra thì bà ấy cũng không thể đánh
đập được mình khi mình ở trong tù”.
Tôi cùng viên cảnh sát đi
qua căng-tin để ra ngoài. Tôi nhìn thấy mấy đứa bạn cùng lớp đang chơi bóng
ném. Khi nhìn thấy tôi, vài đứa dừng chơi và gào lên: “David bị bắt! David bị bắt!”.
Nhưng viên cảnh sát vỗ lên vai tôi trấn an rằng mọi chuyện đều ổn cả. Khi chiếc
xe cảnh sát lăn bánh đưa tôi rời khỏi trường tiểu học Thomas Edison, tôi nhìn
thấy vẻ mặt kinh ngạc của một vài đứa bạn khác khi chứng kiến tôi bị giải đi
như vậy. Trước khi tôi đi khỏi, thầy Ziegler nói với tôi rằng thầy sẽ kể cho
các bạn tôi biết sự thật. Một khi mọi người đã biết rằng tôi không phải là một
học sinh hư hỏng thì tôi sẵn sàng đánh đổi bất cứ điều gì để được tiếp tục học
cùng các bạn của mình.
Vài phút sau, xe đưa
chúng tôi đến đồn cảnh sát Daily. Chẳng hiểu sao tôi lại nghĩ rằng có thể mẹ
đang ở đó, vì thế tôi không muốn ra khỏi chiếc xe. Viên cảnh sát mở cửa xe rồi
chậm rãi dẫn tôi đi qua một khúc quanh để tiến đên một căn phòng lớn. Ở đó
không có ai khác ngoài chúng tôi. Viên cảnh sat ngồi xuống chiếc ghế ở góc
phòng và bắt đầu đánh máy. Tôi chăm chú nhìn viên cảnh sát trong khi miệng vẫn
nhấm nháp món bánh quy thơm ngon. Tôi muốn kéo dài thời gian thưởng thức những
cái bánh ngon lành ấy, càng lâu càng tốt. Không biết đến bao giờ tôi mới lại được
cho ăn no như vậy.
Hơn một giờ trưa, viên cảnh
sát mới hoàn tất công việc giấy tờ của mình. Ông lại hỏi số điện thoại nhà tôi.
- Để làm gì ạ? - Tôi hỏi
bằng giọng lo sợ.
- Chú phải gọi cho mẹ của
cháu, David ạ. - Ông từ tốn trả lời.
- Không! - Tôi nói như ra
lệnh - Đưa cháu về trường! Chú không hiểu à? Không được để cho mẹ cháu biết
cháu đã nói những gì đâu!
Ông ấy trấn an tôi bằng một
gói bánh quy khác trong lúc tay ông ấy chậm rãi quay số 7-5-6-2-4-6-0. Nhìn những
con số quay đều trên chiếc điện thoại màu đen, tôi đứng lên và tiến về phía ông
ấy, cả người tôi như căng ra khi cố lắng nghe từng hồi chuông diện thoại ở đầu
dây bên kia. Mẹ tôi nhấc điện thoại. Giọng nói của bà làm tôi thấy sợ. Viên cảnh
sát phẩy tay ra hiệu cho tôi tránh sang một bên, rồi ông hít một hơi thật sâu
trước khi nói chuyện với mẹ tôi. “Chào bà Pelzer! Tôi là cảnh sát thành phố
Daily. Con trai David của bà hôm nay sẽ không về nhà. Thằng bé sẽ được giám hộ
bởi Cục bảo vệ trẻ em vị thành niên San Mateo. Có vấn đề gì, bà cứ gọi cho họ
nhé”. Rồi ông gác điện thoại và nhìn tôi mỉm cười.
- Giờ thì đâu còn gì là
quá khó khăn, phải không nào?
Nhưng vẻ mặt của viên cảnh
sát cho tôi biết rằng ông đang muốn tự khẳng định với chính mình hơn là muốn
làm cho tôi yên lòng.
Đi thêm vài dặm đường nữa,
chúng tôi đã ở trên đại lộ 280, thẳng ra khu vựa ngoại ô thành phố Daily. Tôi
quay sang phía bên phải và trông thấy biển báo “Đường cao tốc đẹp nhất thế giới”.
Xe đưa chúng tôi rời nội vi thành phố, viên cảnh sát mỉm cười nhẹ nhõm và nói:
- David Pelze, cháu được
tự do.
- Cái gì cơ?- Tôi hỏi lại,
tay vẫn khư khư giữ chặt lấy túi thức ăn của mình - Cháu không hiểu. Chẳng phải
chú đang đưa cháu đến trại giam nào sao?
Ông ấy lại mỉm cười, nhẹ
nhàng siết lấy vai tôi:
- Không đâu David ạ. Cháu
không cần phải lo lắng gì nữa cả, chú nói thật đấy. Mẹ cháu sẽ không bao giờ có
thể làm tổn thương cháu nữa đâu.
Tôi tựa người vào thành
ghế. Một tia nắng ấm áp chiếu thẳng vào mặt tôi. Tôi khẽ lách người để tránh
tia nắng ấy, một giọt nước mắt từ đâu bỗng nhiên chảy dài trên gò má tôi.
- Mình được tự do rồi
sao?
Chương 2
Thời tươi đẹp
Khoảng thời gian trước
khi tôi bị mẹ đối xử tàn nhẫn, gia đình tôi là một gia đình kiểu mẫu theo phong
cách “Brady Bunch” [1] những năm 60. Cha mẹ yêu thương anh em chúng tôi hết mực.
Mỗi ý thích của anh em chúng tôi đều được cha mẹ đáp ứng với tất cả tình yêu
thương và sự quan tâm chăm sóc.
Chúng tôi sống trong một
căn hộ bình thường có hai phòng ngủ. Gia đình tôi luôn được hàng xóm đánh giá
là gia đình mẫu mực. Tôi vẫn còn nhớ vào những ngày nắng đẹp, tôi thường tựa
mình vào ô cửa sổ trong phòng khách, phóng tầm mắt về phía những ngọn tháp màu
cam sáng chói trên chiếc cầu Golden Gate và ngắm nhìn đường chân trời tuyệt đẹp
của San Francisco.
Cha tôi là ông Stephen
Joseph. Cha là lính cứu hỏa và là trụ cột của gia đình. Nơi làm việc của cha nằm
ở trung tâm San Francisco. Cha tôi cao 1,8 mét và nặng khoảng 85 ký. Bờ vai rộng
và đôi cánh tay rắn chắc của ông khiến cho bất cứ người đàn ông nào cũng phải
ganh tỵ. Mái tóc của cha cùng màu với đôi chân mày đen rậm. Tôi luôn thích thú
khi cha nháy mắt và âu yếm gọi tôi bằng cái tên “cọp con”.
Mẹ tôi là Catherine
Roerva. Bà là một phụ nữ trung bình cả về dáng dấp lẫn diện mạo. Tôi không nhớ
được màu tóc hay màu mắt của mẹ, nhưng bà là một người phụ nữ yêu thương con với
cả tấm lòng. Điều đáng quý nhất ở mẹ chính là sự quyết đoán. Mẹ thường đưa ra
nhiều ý kiến và bà luôn là người đóng vai trò quyết định trong mọi vấn đề của
gia đình. Năm tôi lên bốn hay năm tuổi gì đó, tôi nhớ có lần mẹ bảo rằng mẹ bị
bệnh, và tôi vẫn nhớ cái cảm giác của lúc ấy, tôi cảm thấy dường như bà không
còn là chính mình nữa. Hôm ấy cha đi làm ở đồn cứu hỏa. Sau khi dọn xong bữa tối
cho chúng tôi, mẹ hối hả đi về phía nhà xe, vừa đi vừa phết sơn lên những dấu
chân của mình. Bà vừa ho liên hồi, vừ dùng cọ quệt như điên những mảng sơn màu
đỏ lên mỗi dấu chân. Sơn chưa khô hẳn thì bà đã bắt đầu dán lên đó những miếng
lót sàn bằng cao su. Từng vệt sơn đỏ dính bê bết len mấy miếng lót cao su, dính
cả lên người của mẹ. Xong, mẹ quay trở vào nhà và buông người xuống ghế trường
kỷ. Tôi còn nhớ đã hỏi mẹ rằng tại sao bà lại đặt mấy miếng lót lên khi sơn hãy
còn ướt. Bà cười trả lời:
- Mẹ muốn gây bất ngờ cho
cha con đấy mà.
Đối với việc nội trợ, mẹ
là người cực kỳ kỹ tính và luôn đòi hỏi mọi thứ phải thật sạch sẽ. Sau khi dọn
bữa sáng cho tôi và hai người anh em trai của tôi là Ronald và Stan, mẹ lại
quét dọn, khử trùng, cọ rửa và hút bụi mọi thứ trong nhà. Mẹ không bỏ sót một
gian phòng hay ngóc ngách nào. Khi mấy anh em chúng tôi lớn hơn một chút, mẹ bắt
đầu nhắc nhở chúng tôi phải giữ gìn phòng ốc sạch sẽ. Mẹ còn biến mảnh sân trước
nhà thành một vườn hoa nhỏ với đủ các sắc màu và tẩn mẩn chăm bón khu vườn ấy mỗi
ngày. Với mẹ, nơi nào bà chạm vào là ở phải sạch bóng. Bà không bao giờ cho
phép mình làm điều gì đó nửa vời. Mẹ thường khuyên anh em chúng tôi phải luôn cố
gắng trong mọi việc.
Mẹ tôi còn là một đầu bếp
siêu hạng. Tôi nghĩ rằng việc sáng tạo ra các món ăn mới lạ chính là sở thích của
mẹ. Điều này được thẻ hiện rất rõ vào những ngày có cha tôi ở nhà. Những ngày
này, mẹ sẽ dành nhiều thời gian hơn để chuẩn bị cho cả nhà một bữa ăn thật thịnh
soạn. Còn vào những ngày cha đi làm, mẹ lại đưa mấy anh em chúng tôi đi tham
quan thành phố. Một ngày nọ, mẹ đưa chúng tôi đến thăm Phố Người Hoa ở San
Francisco. Trong lúc lái xe quanh các con đường ở đó, mẹ kể cho chúng tôi nghe
về văn hóa và lịch sử của người Trung Hoa. Khi trở về nhà, mẹ bật đĩa hát lên,
cả gian nhà bỗng chốc tràn ngập những giai điệu phương Đông trầm bổng tuyệt vời.
Mẹ còn trang trí phòng ăn với những ngọn đèn lồng Trung Hoa. Tối hôm ấy, mẹ mặc
một bộ kimono và cho chúng tôi ăn những món ăn lạ nhưng cực kỳ ngon miệng. Sau
bữa tối, mẹ cho chúng tôi mỗi đứa vài cái bánh quy. Đó là loại bánh ngọt gập lại
và có chữ bên trong. Rồi bà đọc những dòng chữ ấy cho chúng tôi nghe. Tôi có cảm
giác thông điệp trong miếng bánh sẽ đưa tôi đến với vận số của mình. Dòng chữ
trong miếng bánh của tôi có nội dung: “Hãy yêu thương và tôn kính mẹ của con, bởi
mẹ là suối mát nuôi lớn cuộc đời con”.
Thời gian đó, nhà tôi
nuôi rất nhiều chó mèo. Chúng tôi còn có nhiều hồ cá với các loại cá lạ và một
con rùa tên Thor. Tôi nhớ nhất con rùa này vì mẹ đã để tôi đặt tên cho nó. Tôi
lấy làm tự hào vì các anh em trai của tôi đều đã được đặt tên cho các con vật
nuôi trong nhà, bây giờ mới đến lượt tôi. Tôi đã đặt tên nó theo tên của một
nhân vật hoạt hình mà tôi yêu thích.
Các hồ cá lớn nhỏ có dung
tích từ 25 đến 50 lít hầu như ở khắp nơi trong nhà. Có ít nhát hai cái trong
phòng khách, còn ngay trong phòng của anh em chúng tôi là một hồ nuôi cá nước
ngọt. Mẹ đã tô điểm cho hồ cá thật bắt mắt với những viên sỏi nhiều màu sắc,
thành hồ cũng được mẹ trang trí công phu. Nhờ bàn tay khéo léo của mẹ, các hồ
cá trở nên thật sống động. Thuở ấy, anh em chúng tôi thường xúm xít quanh bể cá
nghe mẹ kể chuyện về những loài cá khác nhau.
Trong suốt những năm
tháng hạnh phúc ấy, đối với gia đình chúng tôi, các kỳ nghỉ chính thức bắt đầu
từ dịp lễ Halloween. Một đêm tháng Mười nọ, khi trăng trên bầu trời đêm đã tròn
vành vạnh, mẹ giục cả ba anh em chúng tôi ra trước sân ngắm “quả bí đỏ khổng lồ”
trên nền trời cao vút. Khi chúng tôi trở về phòng ngủ của mình, mẹ bảo chúng
tôi hãy nhìn xem phía dưới gối của mỗi đứa có thứ gì. Ôi, đó là những chiếc xe
đua đồ chơi hiệu Matchbox. Ba anh em tồi cùng nhảy cẫng lên vui sướng, còn
gương mặt của mẹ thì rạng ngời hạnh phúc.
Một ngày sau lễ Tạ ơn, mẹ
xuống dưới tầng hầm rồi mang lên mấy chiếc hộp bán đầy bụi, bên trong là vô số
những vật dụng dùng để trang trí cho lễ Giáng sinh. Mẹ đứng trên một cái thang
và đính các dây kim tuyến đủ sắc màu lên trần và tường nhà. Sau khi mẹ hoàn tất,
khắp các gian phòng như được khoác chiếc áo mới. Mẹ còn cắm những cây nến đỏ đủ
kích cỡ lên những chiếc kệ nhỏ xinh làm bằng gỗ sồi trong phòng ăn. Các hình vẽ
bông tuyết được mẹ điểm xuyết trên khắp các cửa sổ trong nhà. Các dãy đèn thì
nhấp nháy chạy quanh cửa sổ phòng ngủ của anh em chúng tôi. Mỗi tối, khi ngắm
nhìn ánh sáng dịu nhẹ, huyền ảo hắt ra từ phía cửa sổ, tôi lại thích thú mỉm cười
rồi rút người vào chăn, nhắm nghiền mắt để tận hưởng niềm hạnh phúc mơn man khắp
da thịt.
Cây thông của gia đình
chúng tôi không bao giờ thấp dưới hai mét rưỡi. Mỗi dịp Giáng sinh về, cả nhà
tôi lại quây quần bên nhau hàng giờ liền để trang trí cho nó. Cứ mỗi một năm,
ba anh em chúng tôi lại thay phiên nhau được cha công kênh lên cao bằng đôi tay
rắn chắc của ông để treo hình thiên thần lên đỉnh của cây thông. Sau khi trang
trí cây thông và dùng xong bữa tối, cả nhà lại xím xít leo lên xe ngựa để ghé
thăm hàng xóm và chiêm ngưỡng cách trang trí của họ. Cứ mỗi mùa Giáng sinh về,
mẹ lại có thêm nhiều ý tưởng mới và độc đáo hơn và anh em tôi biết ngôi nhà của
mình lúc nào cũng là ngôi nhà được trang trí đẹp nhất. Khi trở về nhà, mẹ bảo
chúng tôi ngồi xuống cạnh bếp lửa trong phòng khách để cùng uống rượu trúng. Rồi
mẹ bắt đầu kể chuyện cho chúng tôi nghe, trong lúc đó thì đài phát thanh phát
bài “Giáng sinh trắng” do ca sĩ Bing Crosby trình bày. Suốt những ngày nghỉ đó,
tôi hào hứng đến nỗi chẳng thể nào ngủ được. Có khi mẹ phải bế và đu đưa tôi
trong tay khi tôi mãi lắng nghe tiếng tí tách của bếp lửa hồng mà mắt nhắm mắt
mở.
Ngày lễ Giáng sinh càng đến
gần, mấy anh em chúng tôi lại càng trở nên phấn khích. Đống quà tặng đặt dưới gốc
cây thông cứ cao dần lên từng ngày. Và vào đúng đêm Giáng sinh, mỗi anh em
chúng tôi nhận được cả chục hộp quà.
Vào đêm Giáng sinh, sau bữa
ăn tối đặc biết và hát mừng Chúa giáng sinh, chúng tôi được phép mở một món quà
của mình. Sau đó, cha mẹ giục chúng tôi nhanh chóng về phòng ngủ. Nằm trên giường,
tôi cứ ngóng tai nghe tiếng chuông xe trượt tuyết của ông già Noel. Nhưng năm
nào tôi cũng ngủ quên trước khi kịp nghe tiếng xe tuần lộc dừng lại trên nóc
nhà của mình.
Trời mới tờ mờ sáng, mẹ
nhón chân rón rén vào phòng chúng tôi và thì thầm: “Ông già Noel đến rồi kìa
các con!” để đánh thức chúng tôi dậy.
Một dịp Giáng sinh nọ, mẹ
tặng mỗi đứa chúng tôi một chiếc mũ Tonka màu vàng bằng nhựa cứng và bảo chúng
tôi đội lên rồi “diễu hành” khắp phòng khách. Sau đó, mẹ mặc áo khoác mới vào
cho chúng tôi rồi giục chúng tôi chạy ra sân sau để ngắm cây thông khổng lồ
trong nhà qua làn kính cửa sổ. Một lần nọ, khi đứng ngoài sân nhìn vào nhà, tôi
đã thấy bà khóc. Tôi hỏi tại sao mẹ lại khóc như vậy thì bà nói rằng bà khóc vì
quá hạnh phúc khi có được một mái ấm thật sự.
Công việc của một người
lính cứu hỏa buộc cha tôi phải vắng nhà suốt ngày, nên mẹ là người đưa chúng
tôi đi chơi. Nơi mẹ thường đưa chúng tôi đến nhất là khu vực gần Công viên
Golden Gate ở San Francisco. Vừa cho xe chạy chầm chậm qua công viên, mẹ vừa giảng
giải cho chúng tôi nghe về sự khác nhau giữa các vùng miền. Mẹ còn xuýt xoa trước
vẻ đẹp diệu kỳ của những bông hoa rực rỡ trong công viên. Bể cá Steinhart của
công viên luôn là điểm tham quan cuối cùng của chúng tôi. Tại đây, chúng tôi
tha hồ leo trèo cầu thang và chạy nhảy qua lại giữa các cánh cửa lớn. Chúng tôi
đặc biết thích thú khi tựa người vào bức tượng hình cá ngựa được làm bằng đồng
và phóng tầm mắt xuống phía dưới một cái hồ rộng - nơi trú ngụ của mấy con cá sấu
và những con rùa vàng to lớn. Đây chính là nơi tôi thích nhất trong khu công
viên. Tôi nhớ có lần tôi đã rất sợ hãi khi nghĩ đến việc mình sẽ bị trượt chân
khỏi hàng rào ngăn cách và rới tõm xuống cái hồ ấy. Lúc đó, như đọc được nỗi sợ
hãi trong mắt tôi, mẹ đã nhẹ nhàng siết lấy tay tôi để trấn an.
Mùa xuân là mùa của những
chuyến dã ngoại. Buổi tối trước khi khởi hành, mẹ sẽ chuẩn bị một bữa thịnh soạn
gồm nào là gà rán, xà lách trộn, bánh mì sandwich và rất nhiều món tráng miệng.
Sáng sớm hôm sau, cả nhà chúng tôi sẽ phóng xe thẳng đến Công viên Junipero
Serra. Ở đó, ba anh em tôi sẽ được thỏa thích chạy nhảy trên những cánh đồng cỏ
xanh mượt và đung đưa thật cao trên những chiếc xích đu. Có lúc, chúng tôi còn
cùng nhau khám phá một con đường mòn mới phát hiện ở gần đó. Mẹ luôn để mắt đến
ba anh em tôi trong lúc chúng tôi chơi đùa. Đến giờ ăn trưa, mẹ lại gọi chúng
tôi về và đưa cho chúng tôi những phần thức ăn thơm phức. Chẳng kịp thưởng thức
hương vị của những món ăn mẹ đưa cho, chúng tôi cứ thế ngấu nghiến phần ăn của
mình để còn tiếp tục “oanh tạc” những vùng đất mới trong cuộc tìm kiếm đầy mạo
hiểm. Còn cha mẹ thì hạnh phúc nằm cạnh nhau trên tấm bạt trải rộng, cùng nhâm
nhi rượu vang và dõi mắt xem chúng tôi vui đùa.
Khi hè đến, chúng tôi lại
háo hức đón chờ những kỳ nghỉ thú vị khác. Mẹ luôn là người lên kế hoạch cho những
chuyến đi trong dịp hè. Mẹ chuẩn bị và cân nhắc kỹ đến từng chi tiết và luôn tỏ
ra hài lòng khi kế hoạch của mình được cả nhà thực hiện một cách trọn vẹn. Thường
thì chúng tôi vẫn đến Công viên Memorial hoặc Công viên Portola, cắm trại trong
một cái lều lớn màu xanh và ở đó cả tuần liền hoặc khi lâu hơn. Nhưng cũng có
khi cha đưa cả nhà băng qua cây cầu Golden Gate, lúc đó, chúng tôi biết mình sắp
được đến với một trong những điểm đến ưa thích nhất trên thế giới - Dòng sông
Nga [2].
Đối với tôi, chuyến đi
đáng nhớ nhất khi đến với con sông này là năm tôi học mẫu giáo. Vào ngày cuối
cùng của năm học, mẹ xin cho tôi được về sớm nửa tiếng. Nghe tiếng kèn xe của
cha, tôi lao như tên bắn qua mô đất nhỏ trước cổng trường hướng về phía chiếc
xe đang chờ sẵn. Tôi càng hào hứng hơn nữa khi biết nơi mình sắp đến là nơi
nào. Suốt chặng đường đi, mắt tôi cứ dán chặt vào những cánh đồng nho kéo dài bất
tận ở hai bên đường. Khi xe vào đến thị trấn yên tĩnh của vùng Guerneville, tôi
kéo kính xe xuống để ngửi mùi hương ngọt ngào của những cánh rừng gỗ đỏ.
Với tôi, mỗi ngày nghỉ
trôi qua đều là một chuyến phiêu lưu thú vị. Có hôm ba anh em tôi cùng leo lên
một gốc cây to đã cháy đen, có lúc chúng tôi lại thỏa thích rượt đuổi nhau trên
bãi tắm Johnson. Bãi tắm Johnson là khu nghỉ mát hoạt động cả ngày. Chúng tôi
thường ở đó từ chín giờ sáng đến ba giờ chiều. Nơi đó, mẹ đã tập cho chúng tôi
bơi trong một rãnh nước nhỏ. Mùa hè năm ấy, mẹ dạy cho tôi bơi ngửa. Bà tỏ ra rất
tự hào khi cuối cùng tôi cũng có thể biết cách bơi ngửa.
Mỗi ngày qua đi đều đầy ắp
những điều bí ẩn. Một ngày nọ, sau bữa cơm chiều, cha mẹ dẫn cả ba anh em tôi
đi ngắm cảnh hoàng hôn. Chúng tôi nắm tay nhau và rón rén đi ngang qua lều của
gia đình ông Parker để ra đến bờ sông. Mặt nước sông xanh trong và phẳng lì như
gương. Từng đàn chim sải cánh chao liệng trên không, bình thản quay về tổ sau một
ngày dài. Một làn gió nhẹ thoảng qua tóc tôi, mang theo hương thơm của đất trời
và cây cỏ. Không ai nói một lời, chúng tôi chỉ lặng yên ngắm nhìn quả cầu lửa
đang dần khuất sau những rặng cây cao vút, để lại trên bầu trời những vệt màu
xanh sáng chói lẫn đỏ rực. Bỗng một bàn tay choàng ngang vai tôi. Tôi đoán đó
là cha. Nhưng khi xoay người lại, tôi xúc động nhận thấy mẹ đang ghì chặt lấy
vai tôi. Lúc ấy, tôi còn cảm nhận được cả hơi thở và từng nhịp đập nơi lồng ngực
mẹ. Tôi đã không bao giờ còn có được cảm giác yên bình và ấm áp như ngày hôm ấy
khoảnh khác bình yên bên Dòng sông Nga xinh đẹp.
Chú thích:
[1] Tên một vở hài kịch
tình huống nổi tiếng trên các kênh truyền hình Mỹ, nội dung nói về một đại gia
đình nhiều thế hệ.
[2] Dòng sông Nga
(Russian River): Tên một con sông ở Bắc California, Mỹ. Đầu thế kỷ 19, một số
người Nga trong lúc đi săn đã phát hiện ra con sông này và đặc tên nó là
Russian River. Ngoài ra, con sông còn có tên gọi khác là Misallaako, Rio Ruso,
Shabaikai, Slavianka và Slavyanka.
Chương 3
Đứa trẻ hư hỏng
Mối quan hệ giữa mẹ và
tôi dần trở nên xấu đi. Từ việc áp dụng những hình thức kỷ luật mang tính răn
đe, mẹ bắt đầu đối xử với tôi ngày càng cay nghiệt hơn. Thậm chí, nhiều lần mẹ
đánh đập tôi thẳng tay đến nỗi tôi không còn sức lết đi chỗ khác để tránh đòn.
Từ khi tôi còn nhỏ, giọng
nói của tôi dường như đã khác hẳn so với những đứa trẻ khác. Tôi cũng không may
mắn khi cứ bị mẹ bắt quả tang và buộc tội là kẻ đầu tiêu trong khi cả ba anh em
chúng tôi cùng góp phần gây ra những trò đùa tai quái. Thời gian đầu, tôi bị phạt
phải đứng ở góc phòng ngủ của mình trong nhiều giờ liền. Lúc đó, tôi bắt đầu sợ
mẹ. Rất sợ. Tôi không bao giờ dám xin mẹ cho ra ngoài chơi. Tôi cứ ở đó và chờ
cho đến khi em trai tôi vào phòng, tôi sẽ bảo nó ra ngoài xin mẹ hộ tôi.
Cũng từ dạo đó, cách cư xử
của mẹ tôi bắt đầu thay đỏi hoàn toàn. Những khi cha đi làm, cả ngày mẹ chỉ ở
nhà, mặc mỗi một chiếc áo ngủ nhăn nhúm và nằm dài trên trường kỷ xem tivi. Chỉ
khi nào mẹ cần vào nhà tắm, muốn lấy thêm rượu hay hâm lại thức ăn thừa thì mẹ
mới ngồi dậy. Mỗi khi mẹ quát mắng chúng tôi, giọng bà lại sang sảng và the thé
như mụ phù thủy độc ác tôi vẫn thường xem trên tivi. Ít lâu sau, chẳng hiểu sao
chỉ cần nghe tiếng mẹ, tôi lại cảm thấy lạnh xương sống và rợn cả người. Thậm
chí khi mẹ quát tháo Ron và Stan thì tôi cũng nhanh nhanh tìm đường trốn về
phòng mình, chỉ mong sao mẹ mau chóng quay lại ghế trường kỷ, uống rượu và xem
tivi. Dần dần, chỉ cần nhìn qua cách ăn mặc của bà, tôi có thể đoán được ngày
hôm đó của tôi sẽ như thế nào. Tôi sẽ thở phào nhẹ nhõm khi thấy mẹ ra khỏi
phòng mà ăn mặc thật đẹp và trang điểm thật kỹ. Những ngày này, mẹ luôn ra khỏi
nhà với nụ cười rất tươi.
Rồi đến một ngày nọ, khi
cảm thấy hình phạt “đứng ở góc phòng” không còn hiệu quả nữa, thế là mẹ chuyển
sang áp dụng “hình phạt gương soi”. Lúc đầu, tôi không nghĩ mẹ dùng cách ấy để
trừng phạt tôi. Mẹ thường túm lấy tôi, dí sát mặt tôi vào gương, di di khuôn mặt
nhòe nhoẹt nước mắt của tôi trên bề mặt bóng loáng của tấm gương treo trên tường,
rồi bà ép tôi lặp đi lặp lại câu: “Tôi là một đứa hư hỏng. Tôi là một đứa hư hỏng.
Tôi là một đứa hư hỏng”.
Rồi tôi bị bắt phải đứng
yên đó, mắt dán vào gương. Tôi cứ đứng như vậy, hai tay ép sát vào thân người,
thỉnh thoảng tôi lén mẹ đung đưa qua lại cho đỡ mỏi. Những lúc ấy, tôi rất lo sợ
khi nghĩ đến lúc bắt đầu chương trình quảng cáo yêu thích của mẹ trên tivi. Bởi
ngay lúc ấy mẹ sẽ chạy xuống để xem tôi có còn nhìn vào gương hay không và mắng
vào mặt tôi rằng tôi là một đứa bệnh hoạn Mỗi khi Ron hay Stan vào phòng trong
lúc tôi đang chịu phạt, họ chỉ biết nhìn tôi trân trân, nhún vai hờ hững rôi lại
tiếp tục chơi đùa, cứ như chẳng hề có mặt tôi ở đó vậy. Lúc đầu, tôi còn ganh tị
và cảm thấy hơi giận họ, nhưng rồi tôi cũng nghiệm ra rằng họ có thái độ như vậy
cũng chỉ vì muốn tự bảo vệ mình khỏi những trận đòn xé da xé thịt của mẹ mà
thôi.
Những khi cha tôi vắng
nhà, mẹ thường quát tháo, la mắng buộc anh em tôi lục tung nhà cửa lên để tìm
vài món đồ mà mẹ đã để lạc. Những cuộc tìm kiếm như thế thường bắt đầu từ buổi
sáng và kéo dài nhiều giờ liền. Được một lúc, mẹ lại bắt tôi phải xuống nhà xe ở
tầng hầm để tìm tiếp. Ngay cả khi đã ở dưới đó, tôi cũng phải co rúm người lại
khi nghe thấy tiếng mẹ quát tháo Ron và Stan.
Những cuộc tìm kiếm cứ thế
diễn ra liên tục trong nhiều tháng, nhưng rồi cuối cùng, tôi trở thành chiến
binh đơn độc tiếp tục cuộc tìm kiếm những món đồ cho mẹ. Một lần, chẳng hiểu
sao tôi lại quên mất mình đang tìm thứ gì. Khi tôi rụt rè lại gần hỏi lại xem mẹ
đang cần tôi tìm thứ gì, mẹ liền thẳng tay giáng vào mặt tôi một cái nảy lửa.
Lúc đó, mẹ vẫn nằm dài trên trường kỷ, mắt không rời màn hình tivi. Mũi tôi tứa
máu, đau, tôi bật khóc. Tiện tay, mẹ vơ lấy một mảnh khăn ăn trên bàn, xé một
miếng rồi nhét vào mũi tôi.
- Mày biết rõ là mày phải
tìm cái quái gì mà. - Mẹ trừng mắt quát - Đi tìm ngay cho tao!
Tôi vội vã chạy ngược về
phía tầng hầm, cố tạo nên thật nhiều tiếng ồn để mẹ tin rằng tôi đang cuống cuồng
tuân theo mệnh lệnh của bà. Kể từ khi việc tìm đồc ho mẹ trở nên quá quen thuộc,
tôi bắt đầu mơ tưởng viễn vông đến việc một ngày nào đó mình sẽ tìm ra những đồ
vật bị thất lạc của mẹ. Tôi tưởng tượng cảnh mình đứng trên gác, tay đưa cao
chiến lợi phẩm và mẹ sẽ ôm hôn chúc mừng tôi. Trong giấc mơ ấy, tôi còn thấy
hình ảnh gia đình mình sống đầm ấm và hạnh phúc bên nhau. Nhưng rồi sau đó tôi
như người bừng tỉnh cơn mê, hốt hoảng và hoang mang khi nhận ra sự thật đau
lòng là mình chẳng bao giờ tìm được món đồ thất lạc nào của mẹ cả. Còn mẹ thì
luôn đay nghiến và xéo xắt rằng tôi chỉ là một kẻ bất tài vô dụng.
Từ dạo ấy, tôi đã nhận thấy
rằng khi có cha ở nhà, mẹ hoàn toàn khác hẳn so với những lúc cha đi vắng. Mẹ
chăm chút đầu tóc gọn gàng hơn, mặc những bộ quần áo thẳng thớm và đẹp hơn; những
lúc ấy, trông mẹ mới thoải mái và tươi tắn làm sao. Tôi rất thích những ngày có
cha ở nhà, bởi những ngày ấy sẽ không có cảnh đánh đập, cũng không có hình phạt
soi gương hay những cuộc tìm kiếm mệt mỏi những món đồ bị thất lạc. Cha đã trở
thành thần hộ mệnh của tôi. Hễ thấy cha đi xuống nhà xe làm việc là tôi liền lẽo
đẽo theo sau. Khi cha ngồi trên chiếc ghế bành yêu thích của ông để đọc báo,
thì tôi cũng sẽ ngồi nagy dưới chân ông. Sau buổi cơm chiều, ba anh em tôi dọn
chén bát xuống, cha sẽ là người rửa, còn tôi đứng kế bên lau khô và úp chúng
lên. Tôi biết rằng chỉ cần tôi được ở bên cạnh cha thì tôi sẽ tránh được những
trận đòn roi của mẹ.
Một ngày nọ trước khi cha
đi làm, tôi bõng cảm nhận một cú sốc khủng khiếp. Sau khi chào tạm biệt Ron và
Stan, ông quỳ xuống giữ chặt vai tôi và nói rằng tôi hãy là một “cậu bé ngoan”.
Lúc ấy mẹ đang đứng sau lưng cha, hai tay bà khoanh trước ngực, miệng nở một nụ
cười nham hiểm. Tôi nhìn vào mắt cha, và ngay lúc đó tôi biết rằng trong mắt mọi
người, tôi chỉ là một thằng bé hư hỏng. Tôi rùng mình. Tôi muốn giữ chặt lấy
cha và không để ông đi, nhưng tôi chưa kịp ôm lấy cha thì ông đã đứng bật dậy,
quay lưng và bước nhanh ra cửa, không nói thêm một lời nào nữa cả.
Sau hôm đó, tình hình giữa
mẹ và tôi dường như cũng lắng dịu. Mỗi khi cha ở nhà, ba anh em tôi cùng chơi
đùa trong phòng hoặc ngoài sân đến khoảng ba giờ chiều mỗi ngày. Sau đó, mẹ sẽ
mở tivi để cả ba anh em xem phim hoạt hình. Đối với cha mẹ, thời gian lúc ba giờ
chiều là “khoảnh khắc hạnh phúc”. Những lúc ấy, cha sẽ lấy rượu, cắt chanh
thành từng lát mỏng đặt vào một cái tô nhỏ rồi lấy hũ sơ ri mang lên bàn ăn.
Cha mẹ thường bắt đầu uống rượu từ giữa trưa cho đến tận lúc ba anh em tôi lên
giường ngủ. Rồi họ cùng nhau khiêu vũ khắp nhà bếp trong tiếng nhạc phát ra từ
chiếc radio. Họ ôm nhau thật chặt, khuôn mặt cả hai rạng ngời hạnh phúc. Trong
giây phút ấy, tôi cứ nghĩ rằng thế là mình có thể chôn vùi những ngày tồi tệ đã
qua. Nhưng tôi đã lầm. Những ngày tồi tệ bây giờ mới thật sự bắt đầu.
Sau đó một hoặc hai
tháng, vào một ngày Chủ nhật nọ, trong lúc cha vắng nhà, mấy anh em tôi đang
chơi trong phòng thì nghe thấy tiếng mẹ chạy từ trên nhà xuống, miệng la hét
réo tên chúng tôi. Ron và Stan vội chạy đi tìm chỗ nấp trong phòng khách, còn
tôi chỉ biết ngồi chết sững trên ghế. Mẹ giơ cao hai cánh tay thẳng về phía trước
và xồng xộc lao về phía tôi. Khi mẹ sấn lại gần, tôi giật hốt hoảng lùi ghế lại,
đến khi chạm phải bức tường phía sau lưng thì người tôi co rúm, cứng đờ, miệng
ú ớ như con chó con bị dồn vào chân tường. Đôi mắt mẹ đỏ ngầu, đờ đẫn, còn hơi
thở thì nồng nặc mùi rượu. Tôi nhắm nghiền mắt, rụt người đón những cú đánh tới
tấp mẹ nện xuống người. Tôi cố dùng tay đỡ những cái tát xối xả vào mặt, nhưng
mẹ gạt tay tôi sang một bên rồi liên tục thụi vào mặt, vào người tôi. Khi mẹ
dùng hết sức để túm lấy cánh tay của tôi, bà mất thăng bằng và lảo đảo lùi về
phía sau một bước. Trong lúc mẹ chới với quơ tay để lấy lại thăng bằng, tôi
nghe thấy một tiếng “bốp” rõ to và một cảm giác đau đớn khủng khiếp lan nhanh
khắp vai và tay tôi. Thoáng sững sờ trên gương mặt mẹ cho tôi biết bà cũng nghe
thấy âm thanh đó. Nhưng bà chỉ buông tay tôi ra, rồi quay phắt đi như thể chẳng
có chuyện gì xảy ra. Tôi nâng cánh tay của mình lên, cảm giác đau đớn đến tê liệt.
Tôi chưa kịp xem tay mình bị thế nào thì mẹ đã gọi tôi lên ăn tối.
Tôi ngồi bệt xuống bên
khay thức ăn của mình và cố nuốt lấy miếng cơm. Khi tính với tay lấy ly sữa,
cánh tay trái của tôi không thể nhúc nhích. Những ngón tay vẫn ngọ ngoạy theo sự
điều khiển của tôi, nhưng cánh tay thì tê liệt như đã chết. Tôi nhìn mẹ như van
lơn. Bà ấy vẫn cứ lờ tôi đi. Tôi biết có điều gì đó rất nghiêm trọng đã xảy ra
với cánh tay của mình, nhưng tôi lại quá sợ hãi đến nỗi chẳng thốt được nên lời.
Tôi chỉ biết ngồi đó, mắt liếc nhìn khay thức ăn. Sau cùng, mẹ cũng lên tiếng
xin lỗi tôi và cho tôi đi ngủ sớm. Mẹ bảo tôi leo lên tầng trên cùng của chiếc
giường mà nằm. Điều này thật bất thường vì từ trước tối giờ tôi chỉ ngủ ở tầng
dưới cùng mà thôi. Phải đến gần sáng tôi mới có thể thiếp đi trong tư thế tay
phải ôm lấy cánh tay trái nhức buốt.
Tôi ngủ chưa được bao lâu
thì mẹ gọi tôi dậy, bà nói rằng đêm qua tôi đã lăn ngã xuống giường. Bà làm ra
vẻ rất lo lắng cho tôi và lái xe đưa tôi đến bệnh viện. Khi bà nói với bác sĩ rằng
tôi bị ngã từ trên giường tầng xuống, tôi nhìn vào mắt ông và hiểu ông không
tin vào những lời mẹ tôi nói. Ông biết cánh tay tôi không phải bị gãy do tai nạn.
Một lần nữa, tôi vì quá sợ nên không dám nói lên sự thật. Lúc về nhà, mẹ thậm
chí còn vẽ nên một câu chuyện cực kỳ xúc động khi kể lại với cha. Trong kịch bản
mới này, mẹ còn thêm vào chi tiết là bà đã cố hết sức để đỡ lấy tôi trước khi
tôi rớt xuống sàn nhà. Ngồi trong lòng mẹ, lắng nghe câu chuyện bịa đật của bà,
tôi đã nghĩ rằng bà bị bệnh. Nhưng nỗi sợ hãi trong tôi đã giữ cho tai nạn kia
mãi là một bí mật giữa tôi và mẹ. Tôi hiểu rằng, nếu tôi hé răng nói với ai về
chuyện đã xảy ra, “tai nạn” kế tiếp sẽ còn tồi tệ hơn.
Trường học chính là nơi ẩn
náu bình yên của tôi. Tôi thật sự vui sướng khi được thoát khỏi mẹ. Giờ giải
lao, tôi là một người tự do. Tôi chạy nhảy như con chim non dọc ngang khắp sân
trường, tìm kiếm những trò chơi kỳ thú và mới mẻ. Tôi dễ dàng kết bạn với mọi
người và cảm thấy vui vẻ vô cùng khi ở trường. Một ngày cuối xuân nọ, khi tôi vừa
đi học về, mẹ lại ném tôi vào phòng của bà. Mẹ mắng xối xả vào mặt tôi, bảo rằng
tôi phải học lại lớp một vì tôi là một đứa hư hỏng. Tôi không hiểu gì cả. Tôi
nhớ là mình có nhiều bài kiểm tra điểm cao hơn bất kỳ bạn bè nào trong lớp. Tôi
vâng lời cô giáo và cảm thấy cô ấy cũng rất quý mến tôi. Nhưng mẹ vẫn tiếp tục
gào rống lên rằng tôi đã làm cho gia đình xấu hổ và tôi sẽ bị phạt thật nặng.
Bà cấm tôi không bao giờ được xem tivi nữa. Tôi cũng sẽ không được ăn bữa tối
và phải làm bất cứ việc vặt nào trong nhà mà mẹ có thể nghĩ ra. Mẹ tát tôi thêm
một cái rõ đâu rồi tống tôi xuống nhà xe, bắt tôi đứng đó cho đến khi bà cho
phép đi ngủ mới thôi.
Mùa hè năm ấy, trên đường
cả nhà đi cắm trại, mẹ bỏ tôi lại ở nhà dì Josie mà không một lời báo trước. Chẳng
ai nói với tôi về điều này cả, và tôi cũng không hiểu tại sao mình lại bị đối xử
như vậy. Tôi cảm nhận rõ cảm giác tủi thân của một kẻ bị hắt hủi và ruồng bỏ
khi chiếc xe tải nhỏ chở cả nhà tiếp tục lăn bánh, để lại mình tôi bơ vơ phía
sau. Tôi cảm thấy vô cùng buồn bã và lạc lõng. Thế là tôi đã cố trốn khỏi nhà
dì. Tôi muốn đi tìm gia đình của mình. Và thật khó hiểu, tôi muốn được ở bên cạnh
me. Tôi đi chẳng được bao xa thì dì tôi đã thông báo với mẹ về việc tôi bỏ trốn.
Và thế là vào ngày hôm sau khi cha tôi đi làm cả ngày, tôi đã phải trả giá cho
tội lỗi đó của mình. Mẹ đánh, đấm và đá vào người tôi cho đến khi tôi quỵ ngã
xuống sàn nhà. Tôi đã cố nói với mẹ rằng tôi bỏ trốn khỏi nhà dì chỉ vì tôi muốn
ở cạnh mẹ và gia đình. Tôi đã cố nói với mẹ rằng tôi nhớ bà ấy, nhưng mẹ cấm
tôi không được nói nữa. Khi tôi cố nói hết những suy nghĩ trong lòng mình thì
ngay lập tức mẹ xông vào nhà tắm, vồ lấy một cục xà phòng và tộng thẳng nó vào
miệng tôi. Từ đó, tôi không được phép mở miệng nói bất cứ điều gì khi mẹ chưa
cho phép.
Học lại lớp một quả là một
niềm vui đôi với tôi. Tôi đã thuộc làu các bài học vỡ lòng và nghiễm nhiên tôi
trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Từ khi ở lại lớp, tôi trở thành bạn học của
Stan - em trai mình. Giờ giải lao, tôi lại chạy sang lớp Stan rủ nó đi chơi. Ở
trường, chúng tôi là hai đứa bạn thân, nhưng khi ở nhà, cả hai đều hiểu rằng
tôi không được mẹ thừa nhận.
Một ngày nọ, tôi chạy về
nhà để khoe mẹ một bài kiểm tra tôi đạt được điểm cao. Tôi chưa kịp mở miệng, mẹ
đã ném tôi vào phòng của bà, miệng không ngừng la hét về một lá thư mà bà nhận
được từ Bắc Cực. Bà khẳng định lá thư ấy nói rằng tôi là một “đứa bé hư” và Ông
già Noel sẽ không tặng bất kỳ món quà Giáng sinh nào cho tôi cả. Mẹ cứ thế nổi
giận đùng đùng và luôn miệng mắng rằng tôi lại làm cho gia đình xấu hổ. Tôi đứng
sững như trời trồng, mặc cho những lời xỉa xói của mẹ cứ ong ỏng không dứt bên
tai. Tôi có cảm giác như mình đang sống trong một cơn ác mộng do chính mẹ tạo
nên, và tôi ước sao mẹ hãy mau chóng tỉnh lại. Giáng sinh năm đó, trong những
gói quà rực rỡ sắc màu dưới gốc cây thông, chỉ có hai món quà dành cho tôi.
Chúng được những người bà con xa của tôi gửi đến, chứ không phải của những người
thân sát bên cạnh tôi. Vào buổi sáng ngày lễ Giáng sinh, Stan đánh liều hỏi mẹ
tại sao Ông già Noel chỉ tặng cho tôi hai bức tranh vẽ mấy con số. Mẹ liền giảng
giải cho nó nghe:
- Ông già Noel chỉ tặng
quà cho những đứa trẻ ngoan.
Tôi lén nhìn Stan, bắt gặp
ánh mắt nghi hoặc của no khi nhìn mẹ. Một nỗi buồn thoáng hiện trong mắt nó, và
tôi tin rằng nó thừa biết những trò quái đản của mẹ. Vì còn đang trong thời
gian chịu phạt nên trong ngày lễ Giáng sinh, tôi không được mặc quần áo đẹp mà
chỉ mặc bộ đồ tôi vẫn thường mặc khi ở nhà, và tôi vẫn phải làm việc nhà như
thường lệ. Trong khi đang lau chùi nhà tắm, tôi nghe lỏm được cuộc cãi vã giữa
cha và mẹ. Mẹ giận dữ với cha vì bà cho rằng ông đã lén mua cho tôi mấy món quà
đó. Mẹ nói rằng bà vẫn là người chịu trách nhiệm quản giáo “thằng bé” và rằng
ông làm như thế là đã làm mất đi quyền uy của bà. Cha càng thanh minh thì mẹ
càng trở nên giận dữ. Tôi biết ông đã thua trong cuộc tranh cãi đó, và tôi cũng
biết mình đang ngày càng trở nên cô độc hơn.
Vài tháng sau đó, mẹ trở
thành hội trưởng của nhóm hướng đạo sinh Sói con. Bất cứ khi nào những đứa trẻ
khác đến nhà tôi chơi, bà lại đối xử với chúng như những ông hoàng. Vài đứa còn
nói với tôi rằng ướng gì mẹ chúng cũng giống như mẹ tôi. Tôi chẳng trả lời,
nhưng tôi tự hỏi chúng sẽ nghĩ gì nếu biết được sự thật. Mẹ chỉ giữ vai trò hội
trưởng trong vài tháng. Khi bà hết nhiệm kỳ, tôi như được giải thoát vì điều đó
có nghĩa là tôi có thể đến nhà của những đứa trẻ khác trong những buổi họp mặt
được tổ chức vào mỗi ngày thứ Tư.
Vào một ngày thứ Tư nọ, vừa
đi học về, tôi chạy vội đi thay bộ đồng phục hướng đạo sinh để còn kịp qua nhà
đứa bạn tham dự buổi họp mặt. Trong nhà chỉ có mẹ và tôi. Vẻ mặt của bà lúc ấy
trong rất giận dữ. Sau khi dí mạnh mặt tôi vào tấm gương treo trong phòng ngủ,
mẹ xốc nách tôi lên và kéo lê tôi vào trong xe hơi. Suốt đoạn dườngđi đến nhà
bà hội trưởng mới, mẹ luôn miệng nói tôi nghe rằng bà sẽ làm gì tôi khi chúng
tôi trở về nhà. Ngồi ở ghế trước, tôi cố nếp mình về phía cửa xe để tránh xa mẹ,
nhưng vô hiệu. Chốc chốc bà lại chồm ra khỏi ghế, vươn tay chộp lấy cằm tôi, hất
mặt tôi về phía bà rồi lại ném vào tôi những tia nhìn hằng học. Đôi mắt mẹ tôi
đỏ ngầu, còn giọng nói của bà nghe như thể bà đang bị điều gì đó ám ảnh. Vừa đến
nhà bà hội trưởng, tôi vội lao nhanh ra khỏi xe và chạy đến cửa nhà khóc nức nở.
Tôi vừa khóc vừa nói với bà hội trưởng rằng tôi là một đứa bé hư hỏng và không
thể tham dự buổi họp mặt. Bà hội trưởng mỉm cười lịch sự, bà nói rằng hy vọng
tôi sẽ có mặt trong buổi họp mặt lần tới. Nhưng đó là lần cuối cùng tôi được gặp
bà.
Về đến nhà, mẹ ra lệnh
cho tôi cởi hết quần áo ra và bắt tôi đứng gần cái bếp lò trong nhà bếp. Cả người
tôi run rẩy vì vừa sợ vừa xấu hổ. Rồi mẹ bắt đầu nói cho tôi biết tội lỗi của
tôi là gì. Mẹ nói rằng bà vẫn thường xuyên lái xe đến trường để xem anh em tôi
chơi như thế nào trong giờ nghỉ trưa. Mẹ luận rằng ngày hôm ấy chính mắt bà đã
thấy tôi nghịch ngợm trên bãi cỏ trong trường, một điều hoàn toàn bị cấm kỵ
trong mớ luật lệ mà bà đặt ra cho tôi. Tôi nhanh nhẩu nói với mẹ rằng tôi không
hề chơi trên cỏ. Tôi nghĩ mẹ đã nhầm. Đáp lại lời giải thích ấy là một cú thoi
như trời giáng mẹ đấm thẳng vào mặt tôi.
Thế rồi mẹ chồm người bật
khóa ga của bếp lò lên. Mẹ nói rằng bà đã từng đọc một bài báo nói về một người
mẹ đã trừng phạt con trai mình bằng cách cho nó nằm trên bếp lò đang cháy. Tôi
khúm người lại, cảm thấy sợ hãi tột độ. Đầu óc tôi đờ đẫn, còn chân tay thì bủn
rủn. Tôi muốn được tan biến đi ngay lập tức. Tôi nhắm nghiền mặt lại, ước gì bà
ấy chịu bỏ đi. Đầu óc tôi như tê dại khi mẹ cứ giữ chặt lấy cánh tay tôi:
- Mày đã biến cuộc đời của
tao thành địa ngục trần gian! - Mẹ rít qua kẽ răng bằng một giọng cay độc. -
Bây giờ là lúc tao cho mày thấy địa ngục là thế nào con ạ.
Mẹ nắm chặt lấy cánh tay
tôi hơ trên ngọn lửa màu xanh cam đang phừng phực cháy.
Tôi cảm nhận rõ tay mình
như muốn nổ tung vì sức nóng của ngọn lửa. Tôi còn ngửi tháy được mùi lông tay
bị cháy xém của mình. Trong cơn hoảng loạn, tôi đã cố hết sức vùng vẫy nhưng vô
ích, tôi không cách nào giãy thoát khỏi bàn tay chắc như gọng kìm của mẹ. Cuối
cùng, mẹ buông tay và đẩy tôi ngã lăn ra sàn. Tay chân tôi co rúm lại, tôi cố
dùng miệng thổi thổi vào cánh tay đang bỏng rát của mình.
- Thật là tệ hại khi thằng
cha say xỉn của mày lại không có ở đây để cứu mạng mày nhỉ? - Mẹ rít lên.
Rồi mẹ lệnh cho tôi trèo
lên bếp lò mà nằm trên ngọn lửa, để bà tận mắt chứng kiến xem tôi bị đốt cháy
như thế nào. Tôi khiếp đảm vừa dậm chân thình thịch xuống sàn vừa khóc lóc van
xin mẹ hãy tha cho tôi. Nhưng mẹ vẫn trừng mắt bắt tôi trèo lên cái bếp lò đang
phừng phực cháy. Tôi đờ đẫn nhìn ngọ lửa, lòng chỉ mong sao ga trong bình nhanh
cạn đi.
Đột nhiên tôi nhận ra rằng,
tôi càng kéo dài thời gian tránh xa cái bếp thì cơ hội sống sót của tôi càng
cao. Tôi nhớ rằng anh trai Ron của tôi sắp trở về từ buổi họp mặt hướng đạo
sinh, và tôi cũng biết rằng mẹ chẳng bao giờ làm những chuyện quái gở như vậy
khi có bất cứ ai khác ở nhà. Để sống sót, tôi phải tìm mọi cách để kéo dài thời
gian. Tôi liếc nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường bếp. Chưa bao giờ tôi cảm thấy
cây kim giây lại nhích chậm như thế. Để làm mẹ mất tập trung, tôi bắt đầu hỏi
bà những câu hỏi không đầu không đuôi. Điều này lại càng làm bà tức điên lên và
lao tới đánh túi bụi vào đầu, vào ngực tôi. Mẹ càng điên tiết đánh tôi, tôi
càng nhận ra mình đã thắng! Bị đánh cũng được, miễn là đừng bị nướng trên bếp
lò.
Cuối cùng, tôi cũng nghe
thấy tiếng mở cửa trước. Là Ron. Tim tôi nức lên nhẹ nhõm. Những mạch máu trên
khuôn mặt mẹ như giãn ra. Mẹ hiểu rằng mình đã thua. Bất giác, người bà chợt sững
lại. Chớp cơ hội,tôi quơ vội lấy quần áo và chạy biến vào nhà xe để mặc vào.
Tôi đứng tựa lưng vào tường và cức thế khóc thút thít cho đến khi tôi nhận ra rằng
mình đã đánh bại mẹ. Tôi đã giành lấy được nhưng giây phút ít ỏi quý giá để hạ
gục mẹ. Tôi đã sống sót nhờ cái đầu của mình. Lần đầu tiên, tôi đã thắng!
Một mình đứng trong nhà
xe tối tăm, ẩm thấp, lần đầu tiên, tôi biết rằng mình có thể sống sót khỏi những
trò tai quái của mẹ. Thế là tôi quyết định từ đó về sau, tôi sẽ sử dụng bất cứ
mưu mẹo nào mà tôi có thể nghĩ ra để chống lại mẹ hay chí ít là để trì hoãn những
hình phạt tàn nhẫn của bà. Tôi biết nếu tôi muốn sống, tôi phải biết nghĩ xa và
phải hành động. Tôi không thể khóc lóc như một đứa con nít vô dụng nữa. Để sống
sót, tôi không thể nhượng bộ với bà ấy nữa. Ngày hôm ấy, tôi đã thề với lòng
mình rằng, tôi không bao giờ, không bao giờ để cho con mụ độc ác ấy được hả hê
thỏa mãn khi nghe tôi khóc lóc van xin mụ đừng hành hạ tôi nữa.
Trong cái lạnh của nhà để
xe, toàn thân tôi run lên bần bật vì giận dữ và vì nỗi sợ hãi đã lan tỏa đến tột
cùng. Tôi dùng lưỡi liếm nhẹ vào chỗ tay bỏng để bớt đau, hệt như con chó con
đang liếm láp vết thương. Tôi muốn gào thét lên thật to, nhưng tôi lại không muốn
mẹ lại vui sướng và hả hê khi nghe tiếng tôi khóc. Tôi đứng thẳng dậy. Từ trong
nhà xe, tôi có thể nghe văng vẳng tiếng mẹ đang nói chuyện với Ron ở trên nhà.
Bà nói rằng bà rất tự hào về Ron, và rằng bà chẳng phải lo lắng gì bề anh ấy
như phải lo lắng cho David một thằng bé hư đốn.
Chương 4
Cuộc chiến vì miếng ăn
Kể từ mùa hè sau vụ mẹ muốn
thiêu tôi trên bếp lò, trường học đã trở thành niềm hy vọng duy nhất có thể
giúp tôi trốn thoát những trò quái ác của mẹ. Trừ thời gian vui vẻ ngắn ngủi
trong một lần đi câu cá, còn lại thì tôi luôn phải ở trong những hoàn cảnh nguy
hiểm. Dường như mối liên hệ duy nhất giữa tôi và mẹ chỉ là những cú vồ và những
cái tránh né - mẹ xồng xộc lao vào tôi, còn tôi thì tháo chạy về phía nhà xe vắng
vẻ và nín thở ở yên đó. Tháng Chín là thời điểm tôi được trở lại trường học và
tận hưởng những niềm vui thích ở đó. Ngày khai giảng, tôi được mẹ phát cho một
bộ quần áo mới và một cái hộp đựng cơm sáng bóng, mới toanh. Mẹ bắt tôi quanh
năm suốt tháng chỉ được mặc một bộ quần áo đó, thế nên chỉ đến khoảng tháng Mười
là chúng đã trở nên bạc phếch, rách rưới và bốc mùi nồng nặc. Ngoài ra, bà thậm
chí còn chẳng mảy may lo đến việc làm thế nào để che bớt những vết thâm tím
trên mặt mũi, tay chân tôi. Bởi bà thừa biết nếu có ai hỏi đến, thì tôi đã có
những lời giải thích được bà lập trình sẵn trong đầu của mình rồi.
Rồi thì mẹ thường xuyên
“quên” cho tôi ăn tối. Bữa ăn sáng cũng chẳng khá gì hơn. Ngày nào thật đẹp trời,
tôi mới được mẹ cho ăn phần ngũ cốc thừa của Ron và Stan, nhưng chỉ khi tôi đã
hoàn thành tất cả việc nhà trước khi đến trường.
Hôm nào cũng vậy, cứ đêm
đến là bụng tôi lại đói cồn cào và sôi sùng sục như tiếng gầm gừ của một con gấu
đang trong cơn giận dữ. Cứ đêm đến là tôi lại trằn trọc, thao thức bởi đầu óc
chỉ nghĩ đến thức ăn. “Ngày mai mình sẽ được cho ăn đàng hoàng thôi mà” - Tôi
thường tự trấn an mình như vậy. Vài giờ sau đó, tôi mệt lả rồi thiếp đi. Những
giấc mơ chập chờn bắt đầu ập đến. Tôi toàn mơ về những cái ham-bơ-gơ khổng lồ
ăn kèm với các loại rau quả. Trong mơ, tôi đã chộp ngay lấy phần ăn ngon lành ấy
của mình, đưa lên miệng liếm láp. Tôi mường tượng ra đến từng milimet của cái
bánh khổng lồ. Miếng thịt của cái bánh rỉ ra chất mỡ béo ngậy, và mấy miếng
phô-mát dày cộm xếp phía trên cùng bị hai nửa cái bánh ép cho tràn cả ra ngoài.
Nước xốt gia vị thì ứa cả ra lá rau diếp màu xanh và mấy lát cà chua màu đỏ.
Nhưng khi tôi định kề sát cái ham-bơ-gơ ấy vào miệng và há thật to để ngấu nghiến
nó, thì tôi lại không tài nào làm được. Tôi thử lại, rồi thử lại lần nữa, nhưng
dù cho cố gắng đến mấy, tôi vẫn không thể nào chạm được lưỡi vào bất cứ chỗ nào
trên cái bánh quá ngon lành ấy. Ngay lúc ấy thì tôi tỉnh giấc, bụng lại càng cồn
cào hơn. Tôi đã không thể thỏa mãn cơn đói của mình, ngay cả trong mơ.
Chẳng bao lâu sau khi tôi
thường có những giấc mơ về những bữa ăn ngon tuyệt, thì tôi cũng bắt đầu lấy trộm
thức ăn ở trường. Dạ dày của tôi cứ thắt lên quằn quại vì cả nỗi sợ hãi lẫn cơn
thèm muốn. Thèm muốn bởi vì tôi biết rằng chỉ trong tích tắc thôi là tôi có thể
có cái gì đó cho vào bụng. Sợ hãi bởi vì tôi biết rằng bất cứ lúc nào tôi cũng
có thể bị bắt quả tang đang ăn cắp. Tôi luôn đánh cắp thức ăn trước giờ học,
khi các bạn cùng lớp của tôi còn đang chơi ngoài sân. Tôi sẽ núp đằng sau bức
tường ngay ngoài lớp học của mình, đặt hộp cơm của tôi bên cạnh hộp cơm của người
khác và ngồi thụp xuống đất để không ai trông thấy tôi đang trộm thức ăn của mọi
người. Một vài lần trộm đầu tiên diễn ra trót lọt, nhưng chỉ ít ngày sau đó,
vài người bạn của tôi bắt đầu phát hiện ra bánh twinkie [1] và nhiều món bánh
ngọt khác trong bữa trưa của họ không cánh mà bay. Chỉ trong một thời gian rất
ngắn, các bạn cùng lớp bắt đầu ghét tôi. Sau đó, thầy chủ nhiệm của tôi báo sự
việc lên thầy hiệu trưởng, người có trách nhiệm thông báo lại cho mẹ tôi mọi việc.
Cuộc chiến vì cái ăn của tôi bởi thế rơi vào một cái vòng luẩn quẩn. Thầy hiệu
trưởng báo mọi việc cho mẹ tôi biết để rồi tôi bị đánh nhiều hơn và phần ăn ở
nhà của tôi đã ít lại càng ít hơn.
Vào những ngày cuối tuần,
để trừng trị tội ăn cắp của tôi, mẹ lại không cho tôi ăn. Đến một tối Chủ nhật
nọ, nước bọt trong miệng tôi cứ ứa ra khi tôi bắt đầu hình dung nên những chiếu
mới và cũng hết sức ngu ngốc để tiếp tục đánh cắp thức ăn mà không bị ai phát
hiện. Một trong những âm mưu mới đó là ăn cắp thức ăn của các học sinh lớp một ở
các lớp khác, nơi không ai biết rõ về tôi. Ngay buổi sáng thứ Hai đầu tuần, khi
mẹ vừa đưa tôi đến trường, tôi đã phóng ào ra khỏi xe và chạy thật nhanh vào một
lớp khối một khác để lấy cắp thức ăn trưa. Tôi chỉ làm được như vậy trong một
thời gian ngắn, bởi vì chẳng bao lâu sau, thầy hiệu trưởng lại phát hiện ra thủ
phạm của những vụ trộm cắp đó chính là tôi.
Ở nhà, tôi lại tiếp tục bị
đánh đập tàn nhẫn và bị bỏ đói. Đến thời điểm này, trên thực tế, tôi đã không
còn là thành viên của gia đình mình nữa. Tôi chỉ tồn tại trong nhà chứ không được
mọi người thừa nhận hoặc chỉ được thừa nhận chút ít mà thôi. Mẹ thậm chí chẳng
buồn gọi đến tên tôi nữa, thay vào đó bà gọi tôi là “thằng đó”. Tôi không được
dùng bữa cùng gia đình, không được chơi với Ron và Stan, cũng không được xem
tivi. Tôi như con cá mắc cạn trong chính ngôi nhà của mình. Tôi không được phép
nhìn hoặc nói chuyện với bất cứ ai. Đi học về là tôi lại bắt tay vào làm ngay tất
cả các công việc mà mẹ giao. Xong việc, tôi lủi thủi xuống nhà xe, cứ đứng ở đó
cho dến khi nào được gọi lên để lau dọn bàn ăn và rửa chén dĩa của bữa tối.
Trong lúc tôi đứng trong nhà xe, nếu mẹ phát hiện tôi ngồi hoặc nằm thì chắc chắn
hậu quả mà tôi phải gánh chịu là vô cùng khủng khiếp. Tôi chính thức trở thành
nô lệ của mẹ.
Cha là chỗ dựa duy nhất của
tôi. Ông đã phải cố gắng lắm mới lén mẹ để mang cho tôi một vài mẩu thức ăn vụn.
Vì nghĩ rằng men rượu sẽ giúp cho tâm trạng của mẹ khá hơn nên ông thường cố
chuốc cho mẹ say. Cha đã cố hết sức để thay đổi cách suy nghĩ của mẹ về việc ăn
uống của tôi. Cha còn ra sứct hỏa hiệp, hứa đủ thứ chuyện trên đời với mẹ để
tôi được cho ăn uống bình thường. Nhưng tất cả đều vô ích. Mẹ vẫn lạnh lùng như
sỏi đá. Khi có bất cứ chuyện gì xảy ra, cơn say của bà lại khiến mọi thứ trở
nên tệ hại hơn trước. Mẹ thật sự còn tàn bạo hơn cả một con quái vật.
Tôi biết những cố gắng của
cha khi muốn bênh vực và giúp đỡ tôi đã làm cho mối quan hệ giữa mẹ và ông trở
nên căng thẳng. Chẳng bao lâu sau, những trận cãi vã lúc nửa đêm bắt đầu nổ ra.
Những khi xung đột lên đến đỉnh điểm, nằm trên giường tôi vẫn có thể nghe thấy
những tiếng cãi vã phát ra với cường độ âm thanh xé tai. Sau đó cả hai lại uống
rượu đến say mèm và tôi nghe mẹ gào lên những từ ngữ thô tục nhất mà bà có thể
nghĩ ra. Không cần biết nguyên nhân chính dẫn đến cuộc cãi vã là gì, nhưng cuối
cùng thì tôi cũng lại trở thành đề tài của cuộc khẩu chiến. Dẫu biết cha đang cố
gắng giúp tôi, nhưng những lúc đó tôi vẫn cứ run rẩy vì sợ hãi. Bởi tôi biết
cha sẽ thua cuộc, và điều đó sẽ làm cho mọi thứ còn tồi tệ hơn nữa vào ngày hôm
sau. Tôi còn nhớ lần đầu tiên hai người cãi vã, mẹ đã phóng xe ra khỏi nhà, để
lại sau lứng tiếng bánh xe rít lên đến rợn người. Nhưng thường thì chưa đầy một
giờ đồng hồ sau đó bà lại quay trở về. Ngày hôm sa, họ lại cư xử với nhau như
thể chưa có chuyện gì xảy ra. Tôi cảm thấy an ủi phần nào khi cha cố tìm ra một
cái cớ nào đó để đi xuống nhà xe và dấm dúi cho tôi một mẫu nhỏ bánh mì. Cha
luôn hứa với tôi rằng ông vẫn đang cố gắng để giúp tôi.
Khi những cuộc cãi vã giữa
cha và mẹ trở nên thường xuyên hơn, cha tôi bắt đầu thay đổi. Thường thì sau mỗi
lần gây gổ với mẹ, cha thường quảy túi lên vai đi đến sở làm ngay lúc nửa đêm.
Khi cha đã đi khỏi, mẹ lôi tôi ra khỏi giường và kéo xệch tôi xuống nhà bếp.
Trong khi tôi vẫn còn đang ngái ngủ và đứng run rẩy trong bộ pijama, bà bắt đầu
thẳng tay nện cho tôi ngã xiêu vẹo và lê lết từ góc bếp bên này sang góc bếp
bên kia. Một trong những chiêu để tránh đòn của tôi là nằm dài lả người trên
sàn nhà và làm ra vẻ như không còn chút sức lực nào để đứng lên nữa. Nhưng
chiêu này chỉ phát huy tác dụng trong một thời gian ngắn mà thôi. Sau đó, khi
đã biết rõ tẩy của tôi, mỗi lần tôi vừa khụy xuống là mẹ lại nắm tai tôi xách
lên và quát vào mặt tôi với hơi thở nồng nặc mùi rượu. Vào những đêm như vậy, mẹ
luôn lặp đi lặp lại một điệp khúc rằng tôi chính là nguyên nhân gây ra những mối
bất hòa giữa cha mẹ. Những lúc ấy, tai tôi lại ong lên, người mỏi nhừ còn tay
chân thì run lẩy bẩy. Tôi biết cách duy nhất thoát khỏi mẹ là cứ đứng yên đó, mắt
dán xuống sàn nhà, hy vọng rằng mẹ sẽ sớm kiệt sức, không thể nói được nữa và
buông tha cho tôi.
Năm tôi lên lớp hai, mẹ
tôi có thai đứa con thứ tư. Cô giáo Moss bắt đầu quan tâm đặc biệt đến sức tập
trung của tôi trong giờ học. Tôi đã nói dối rằng do tôi thức khuya xem tivi. Những
lời nói dối của tôi xem ra chẳng thuyết phục được cô. Thế là cô tiếp tục dò hỏi
nguyên nhân tại sao tôi hay ngủ gật trong lớp, về bộ quần áo tôi mặc và cả những
vết thâm tím trên người của tôi. Do mẹ đã vẽ sẵn những gì tôi cần phải nói với
người khác về bề ngoài của mình, vì vậy tôi dễ dàng lặp lại những lời bịa đặt ấy
với cô giáo.
Nhiều tháng trôi qua, cô
Moss lại càng trở nên kiên trì hơn nữa với trường hợp của tôi. Cuối cùng, vào một
ngày nọ, cô đã bày tỏ nỗi lo lắng của mình với thầy hiệu trưởng. Thầy vốn đã biết
quá rõ tôi là một thằng ăn cắp thức ăn, thế nên ông lại gọi cho mẹ. Ngày hôm đó
khi về đến nhà, tôi có cảm giác như ai đó vừa thả vào nhà tôi một quả bom
nguyên tử. Mẹ tôi trở nên dữ tợn hơn bao giờ hết. Bà điên tiết lên vì cho rằng
có vài giáo viên “lập dị” nào đó đã khép bà vào tội ngược đãi trẻ em. Mẹ nói rằng
ngày hôm sau bà ấy sẽ đến trường của tôi để bào chữa, thanh minh về những lời
buộc tội sai sự thật. Kết thúc buổi nói chuyện ấy, tôi bị chảy máu mũi hay lần
và bị gãy một cái răng.
Chiều hôm sau, khi tôi đi
học về, mẹ nhìn tôi cười đắc ý như thể vừa thắng được một triệu đô-la tiền cá
cược vậy. Bà nói cho tôi biết bà đã che đậy sự thật như thế nào khi đến gặp thầy
hiệu trưởng cùng với đứa em Russell của tôi trên tay. Mẹ đã nói với thầy hiệu
trưởng rằng David bị chứng hoang tưởng. Mẹ kể với thầy hiệu trưởng là David thường
tự đánh đập và cào cấu mình để thu hút sự chú ý và quan tâm của người khác kể từ
khi em trai của nó là Russell ra đời. Tôi có thể tưởng tượng ra cảnh mẹ vừa đứng
uốn éo như một con rắn vừa nựng nịu Russell trước mặt thầy hiệu trưởng để đạt
được mục đích của mình. Bà còn nói rằng kết thúc cuộc nói chuyện với thầy hiệu
trưởng, bà vui mừng không sao tả xiết khi từ nay sẽ được hợp tác chặt chẽ với
nhà trường. Bất kì khi nào David có vân đề gì thì các thầy cô ở trường sẽ gọi
ngay cho bà. Bà cũng đã dặn các thầy cô ở trường là không cần phải để ý gì đến
những câu chuyện điên rồ do tôi dựng nên về việc bị đánh đập hay bị bỏ đói. Hôm
ấy, tôi chỉ biết đứng im trong nhà bếp lắng nghe câu chuyện khoác lác của bà,
long thấy trống rỗng đến vô cùng. Nghe mẹ thao thao bất tuyệt về cuộc gặp gỡ với
thầy hiệu trưởng, tôi cảm nhận được vẻ tự đắc của bà. Chính thái độ đó của bà
làm tôi thấy lo sợ cho cuộc đời của mình. Tôi ước gì mình có thể tan chảy ra và
biến mất mãi mãi. Tôi ước gì mình sẽ chẳng bao giờ phải đối diện với bất kỳ ai
nữa cả.
Mùa hè năm đó, gia đình
tôi đi nghỉ ở Sông Nga. Mặc dù mối quan hệ giữa tôi và mẹ có vẻ bớt căng thẳng,
nhưng cảm giác hân hoan và hạnh phúc của ngày xưa đã không còn nữa. Những chuyến
xe cỏ [2], những buổi xem nhạc rock Weenie Roast [3] và những câu chuyện kể hấp
dẫn giờ chỉ còn là quá khứ. Phần lớn thời gian chúng tôi chỉ ở trong lều mà
thôi. Những chuyến dạo chơi vào ban ngày đến bãi biển Johnson nổi tiếng cũng trở
nên hiếm hoi.
Cha cố gắng làm cho không
khí của kỳ nghỉ thêm phần vui vẻ và thoải mái bằng cách đưa chúng tôi đi chơi
trên chiếc ván trượt ông mới mua. Lúc bấy giờ Russell chỉ mới chập chững biết
đi nên phải ở lại lều với mẹ. Hôm đó, khi Ron, Stan và tôi đang chơi gần nhà
nghỉ của hàng xóm thì mẹ ra đứng ngay cổng nhà nghỉ của mình và gào réo bắt
chúng tôi pahri về ngay lập tức. Vừa bước vào nhà, tôi bị mẹ mắng cho một trận
vì tội quá ồn ào. Hình phạt dành cho tôi là tôi khong được phép đi chơi lướt
ván với cha và hai người anh em của mình. Tôi ngồi run rẩy trên một cái ghế
trong góc phòng, lòng chỉ mong sao có điều gì đó xảy ra để họ không bỏ một mình
tôi ở lại với mẹ. Tôi biết rằng mẹ đang toan tính chuyện gì đó. Ngay khi họ vừa
đi khỏi, mẹ liền lôi ra mấy cái tã bẩn của Russell. Bà dí dí rồi chà cái tã lên
mặt tôi. Tôi cố gắng ngồi thật vững. Tôi biết là nếu tôi nhúc nhích hay cố tình
né tránh, thì mọi thứ sẽ còn tệ hơn nữa. Tôi không nhìn lên. Tôi không nhìn thấy
mẹ đang đứng trước mặt tôi, nhưng tôi có thể nghe thấy hơi thở dồn dập của bà.
Sau một khoảng thời gian
kéo dài như cả giờ đồng hồ trôi qua, mẹ quỳ xuống bên cạnh tôi, nói vào tai tôi
bằng một giọng rất khẽ: “Ăn đi”.
Tôi bàng hoàng không thể
tin vào tai mình và thảng thốt ngước nhìn lên, cốc tránh ánh mắt của mẹ. Không
thể nào! Tôi tự nhủ. Cũng như bao lần trước đó, tôi biết chống đối lại mẹ là một
việc không nên làm vì sẽ chẳng ích gì. Mẹ bắt đầu tát lia lịa vào mặt tôi. Tôi
bám chặt tay vào thành ghế để khỏi ngã xuống đất, nếu không chắc mẹ sẽ nhảy bổ
lên người tôi mất thôi. “Tao nói ‘ăn đi’!” - Mẹ rít lên.
Tôi nghĩ mình cần phải
thay đổi chiến lược để đối phó với mẹ, thế là tôi bắt đầu khóc lóc van xin. Phải
cầm chân bà ấy lại. Tôi nhủ thầm. Tôi cố gắng đếm nhẩm và tập trung cao độ. Thời
gian là đồng minh duy nhất của tôi lúc này. Mẹ đáp lại những tiếng khóc lóc của
tôi bằng mấy cú đấm thẳng vào mặt tôi như trời giáng. Chỉ đến khi nghe tiếng
Russell khóc, bà mới chịu dừng tay.
Dù cho mặt mũi tôi lúc đó
bê bết phân là phân, nhưng chẳng hiểu sao tôi vẫn lâng lâng một cảm giác thỏa
nguyện. Tôi nghĩ rằng mình đã có thể thắng. Tôi cố lau sạch phân dính trên mặt
mình, phân còn vung vẩy cả trên sàn nhà gỗ. Tôi nghe thấy tiếng mẹ khe khẽ hát
ru Russell ngủ, và tôi có thể tưởng tượng thằng bé được ôm ấp thế nào trong
vòng tay của mẹ. Nhưng chỉ ít phút sau, bùa hộ mệnh của tôi cũng đã say giấc.
Miệng vẫn mỉm cười, mẹ
quay trở lại trò vui của mình. Bà tóm lấy cổ tôi và lôi tôi vào nhà bếp. Trên
bàn ăn là một cái tã khác đầy phân. Cái mùi của nó làm tôi muốn nôn mửa.
- Bây giờ thì mày hãy ăn
cho hết đi! - Mẹ ra lệnh.
Đôi mắt của mẹ lúc này
ánh lên những tia nhìn hằn học và hả hê hệt như lúc bà bắt tôi leo lên cái bếp
lò đang phừng phực lửa ngày trước. Không dám xoay đầu, tôi chỉ đảo mắt tìm chiếc
đồng hồ màu vàng hoa cúc mà tôi biết chắc rằng nó nằm đâu đó trên tường. Sau
vài giây, tôi nhận ra chiếc đồng hồ nằm trên bức tường ở phía sau lưng. Nếu
không có nó, tôi sẽ cảm thấy bất lực. Tôi biết là mình cần phải tập trung tinh
thần vào một vật gì đó, để có thể nắm được quyền kiểm soát cho tình thế hiện tại.
Nhưng trước khi tôi kịp nhìn thấy chiếc đồng hồ, thì mẹ đã chộp lấy cổ tôi. Bà
nghiến răng lặp lại những từ một:
- Ăn đi!
Tôi nín thở. Cái mùi của
nó thật quá sức tưởng tượng. Tôi cố tập trung vào phần đầu là phần sạch nhất của
cái tã. Thời gian như kéo dài hàng thế kỷ. Mẹ ắt hẳn đã biết được kế hoạch của
tôi. Mẹ ụp mặt tôi vào cái tã và chà qua chà lại khuôn mặt tôi trên cái vật bẩn
thỉu ấy.
Tôi đoán trước được hành
động của mẹ. Khi mẹ vừa dúi đầu tôi chúi xuống dưới, tôi liền nhắm chặt mắt và
mím chặt miệng lại. Mũi của tôi bị đập mạnh xuống bàn. Một chất gì đó âm ấm rĩ
ra từ mũi tôi. Theo quán tính, tôi hít vào để máu mũi khỏi chảy ra. Thế là tôi
hít phải một ít phân cùng với máu ngược trở lại mũi. Hai tay tôi đập xuống bàn,
tôi cố vùng vẫy để thoát khỏi bàn tay kìm kẹp của mẹ. Tôi cố giãy giụa với tất
cả sức lực để thoát khỏi tấm thân hộ pháp của mẹ, nhưng mẹ quá mạnh. Bỗng nhiên
mẹ buông tôi ra.
- Họ về rồi. Họ về rồi. -
Mẹ vừa nói vừa thở hổn hển. Mẹ quơ lấy cái khăn vắt trên bồn rửa mặt ném cho
tôi rồi quát - Lau hết phân trên cái mặt gớm ghiếc của mày đi. - Bà gầm lên
trong lúc lau chùi mấy bệt phân nâu lem luốc trên mặt bàn.
Tôi dung khăn lau mặt thật
kỹ, không quên khịt thật mạnh để lấy hết chỗ phân trong mũi ra. Lát sau, mẹ tọng
một miếng khăn giấy vào lỗ mũi đang chảy máu của tôi và lệnh cho tôi ngồi vào
góc phòng. Tôi ngồi đó suốt buổi chiều, mũi vẫn còn ngửi thấy thứ mùi kinh khủng
của cái tã.
Từ đó, gia đình tôi chẳng
bao giờ quay trở lại Sông Nga nữa.
Tháng Chín, tôi trở lại
trường học với bộ quần áo cũ mặc từ nhiều năm trước và cái hộp cơm màu xanh lá
đã rỉ sét. Tôi trở thành một nỗi ô nhục biết đi trong gia đình của mình. Ngày
nào cũng vậy, mẹ gói cho tôi phần ăn trưa gồm hai lát sandwich phết bơ đậu phộng
và vài mẫu cà rốt bé tẹo. Vì không còn là thành viên trong gia đình nữa, nên
tôi không được phép ngồi cùng xe với mọi người để mẹ chở đi học. Mẹ bắt tôi phải
chạy bộ đến trường. Bà biết rằng làm thế tôi sẽ không đến trường kịp giờ để lấy
trộm thức ăn của các bạn học.
Ở trường, tôi là một đứa
trẻ bị loại bỏ hoàng toàn khỏi những cuộc chơi. Chẳng đứa bạn nào chịu nói chuyện
hay chơi đùa với tôi cả. Suốt giờ ăn trưa, tôi ngồi một mình và cố nuốt trôi từng
lát sandwich xuống cổ họng đắng nghét, cảm thấy tủi thân vô cùng khi nghe mấy đứa
bạn cất lời trêu chọc. Bọn bạn vẫn thường xì xào bàn tán hoặc ném vào tôi những
cậu đại loại như: “David, thằng ăn cắp thức ăn” và “Thằng hôi rình”. Không một
ai muốn lại gần tôi, không một ai muốn dính dáng gì đến tôi. Tôi thấy mình sao
cô độc quá.
Ở nhà, mỗi khi bị mẹ bắt
đứng hàng giờ trong nhà xe, tôi giết thời gian bằng cách nghĩ ra những cách mới
để tìm lấy cái ăn cho mình. Thỉnh thoảng cha vẫn tìm cách lén mẹ lấy cho tôi
vài mẫu thức ăn, nhưng rất ít khi ông qua được mắt mẹ. Càng ngày tôi càng tin rằng,
nếu muốn sống sót, tôi sẽ phải dựa vào chính mình. Tôi không thể trông mong vào
bất kỳ cơ hội nào để lấy cắp thức ăn ở trường nữa. Tất cả học sinh lúc bấy giờ
đều giấu hộp thức ăn vào tủ riêng và khóa lại. Còn các thầy cô bộ môn và thầy
hiệu trưởng thì đã biết rất rõ về tôi và luôn giám sát tôi cẩn thận. Hầu như
tôi không thể manh nha ý định đánh cắp thức ăn ở trường được nữa.
Sau cùng, tôi cũng đã
nghĩ ra được một kế hoạch có vẻ khả thi. Theo quy định của nhà trường thì vào
giờ giải lao buổi trưa, học sinh không được phép rời khỏi sân chơi, vì vậy sẽ
không ai nghĩ đến việc tôi không có mặt ở đó. Kế hoạch mới của tôi là tôi sẽ lẻn
ra khỏi sân chơi, chạy đến quầy bách hóa trong trường để đánh cắp bánh quy,
bánh mì, bánh khoai tậy hoặc bất cứ thứ gì có thể. Tôi tính toán thật kỹ từng
chi tiết cho kế hoạch đó. Sáng hôm sau, khi chạy bộ đến trường, tôi đếm từng bước
chân để có thể tính toán chính xác thời gian để áp dụng cho kế hoạch nhắm vào
quầy bách hóa. Vài tuần sau đó, tôi đã có được mọi thông tin cần thiết. Điều cuối
cùng là phải có đủ dũng khí để thực hiện kế hoạch ấy. Vì quầy bách hóa nằm trên
một ngọn đồi nên từ trường học đến đó mất khoảng mười lăm phút, còn lúc về thì
chỉ mất mười phút. Thế nghĩa là tôi chỉ có mười phút tại quầy bách hóa mà thôi.
Hàng ngày, khi chạy từ
nhà tới trường rồi từ trường về nhà, tôi cố gắng chạy nhanh hớn, dậm chân thật
mạnh xuống đường như thể mình là một vẫn động viên ma-ra-tông vậy. Từng ngày
trôi qua, kế hoạch của tôi trở nên chặt chẽ hơn. Trong thời gian đó, thính thoảng
cơn đói của tôi lại được thay thế bằng những cơn mộng tưởng. Cứ mỗi lần ở nhà
làm việc là tôi lại mơ màng viễ vông. Trong lúc bò lê cọ rửa sàn nhà tắm, tôi cứ
tưởng tượng mình chính là hoàng tử trong câu chuyện “Hoàng tử và Người hành khất”
[4]. Khi đã là hoàng tử, tôi có thể chấm dứt trò chơi mà mình phải đóng vai là
một tên đầy tớ. Mỗi khi bị bắt đứng ở dưới tầng hầm, tôi lại đứng yên bất động
với hai mắt nhắm nghiền, mơ mộng ra cảnh mình là nhân vật anh hùng trong một
câu chuyện nào đó. Nhưng rồi cơn mộng tưởng sớm bị gián đoạn vì những cơn đói đến
cồn cào ruột gan, thế là suy nghĩ của tôi lại nhanh chóng trở về với kế hoạch
ăn cắp thức ăn.
Nhưng do tôi biết chắc kế
hoạch của mình là hoàn toàn ngu ngốc, nên tôi vẫn chưa có đủ can đảm để thực hiện.
Suốt giờ nghỉ trưa, tôi cứ lòng vòng quanh sân trường, tự trách mình sao không
có đủ quyết tâm để chạy thẳng đến quầy bách hóa kia. Rồi tôi tự nhủ hay là mình
đừng nghĩ đến chuyện điên rồ đó nữa, bởi sự tính toán về thời gian có thể không
chính xác và mình sẽ bị bắt gặp. Trong lúc tôi đang phải đấu tranh tư tưởng với
chính mình thì bụng của tôi lại sôi lên cồn cào như thể nó đang giễu tôi là “đồ
gà con”. Cuối cùng, sau nhiều ngày không được ăn tối mà chỉ được ném cho mấy mẩu
bánh vụn cho bữa sáng, tôi đánh liều tiến hành kế hoạch của mình. Hôm ấy, sau
khi chuông báo hiệu giờ giải lao buổi trưa vang lên được vài phút, tôi vội lao
xuống đường chạy thật nhanh về phía quầy bách hóa. Tim tôi đập thình thịch còn
miệng thì thở hồng hộc. Tôi đến được quầy bách hóa với khoảng thời gian chỉ bằng
một nửa so với những gì tôi đã ước tính. Thấp thỏm đi lên đi xuống giữa các lối
đi trong quầy để tiện quan sát, tôi có cảm tưởng như mọi ánh mắt đều đang đổ dồn
về phía mình. Tôi có cảm giác như tất cả những ai đang có mặt tại cửa tiệm lúc
đó đều xì xầm bàn tán về tôi - một thằng bé hôi hám và rách rưới. Rồi tôi nhận
ra kế hoạch của mình có thể sẽ phá sản mất thôi bởi tôi đã không lường trước được
bộ dạng của mình sẽ gây sự chú ý thế nào đến mọi người xung quanh. Tôi càng lo
lắng về vẻ ngoài của mình thì dạ dày của tôi lại càng quặn thắt bởi nỗi sợ hãi.
Tôi cứ thế đứng chết trân ngay lối đi trong quầy, không biết phải làm gì tiếp
theo. Tôi vừa nghe rõ nhịp tim đập thình thịch của mình vừa đếm từng thời khắc
trôi qua. Đầu tôi đặc nghẹt những suy nghĩ. Nghĩ đến những lúc mình bị bỏ đói,
dường như một sự quyết tâm cao độ xâm chiếm lấy tôi. Không còn nao núng trước
những gì đang diễn ra xung quanh, tôi bạo gan thộp lấy cái gói đầu tiên tôi
nhìn thấy trên kệ hàng và chạy nhanh ra khỏi cửa tiệm rồi lao trở về trường học.
Người tôi run lên bần bật vì sợ. Nhưng tôi cũng sung sướng đến bật khóc khi đã
nắm chặt trong tay “chiến lợi phẩm” của mình - một gói bánh quy Graham [5].
Về gần tới trường, tôi giấu
gói bánh trong áo sơ mi, bên phần áo không bị thủng, rồi thản nhiên đi ngang
qua sân trường. Sau đó tôi đi thẳng vào nhà vệ sinh nam và giấu gói bánh trong
thùng rác. Quá trưa hôm đó, sau khi xin phép thầy giáo, tôi trở lại nhà vệ sinh
để thưởng thức chiến lợi phẩm của mình. Chỉ cần nghĩ đến việc được liếm láp món
bánh ngon lành thì nước bọt trong miệng tôi đã ứa ra. Nhưng rồi tim tôi thắt lại
khi trước mắt tôi là một cái thùng rác trống rỗng. Vậy là kế hoạch tỉ mỉ cùng
những công sức khó nhọc của tôi giờ đã trở thành công cốc. Người lao công đã dọn
sạch thùng rác trước khi tôi kịp quay trở lại nhà vệ sinh.
Ngày hôm ấy, kế hoạch của
tôi đã thất bại, nhưng vào những lần sau đó, tôi đã may mắn hơn. Có lần tôi giấy
chiến lợi phẩm trong ngăn bàn ở phòng điểm danh, để đến sáng hôm sau tôi lấy nó
ra như thể tôi đã mang theo từ nhà đến trường. Lúc đó tôi cảm giác như mình đã
được cấp phép để ăn cắp. Mọi chuyện diễn ra tương đối suôn sẻ. Tôi không những
có thể thỉnh thoảng tiếp tục đánh cắp thức ăn của các bạn cùng lớp, mà còn có
thể chạy hết tốc lực đến quầy bách hóa mỗi tuần một lần để thó vài món mang về.
Mỗi khi đến quầy bách hóa, nếu tôi linh cảm thấy có gì đó không ổn, tôi sẽ
không lấy bất cứ thứ gì cả. Cũng như những lần ăn cắp trước, cuối cùng tôi lại
bị tóm. Ông chủ cửa hàng đã gọi điện báo cho mẹ tôi biết. Khi về nhà, tôi lại
nhận những trận đòn tàn nhẫn của mẹ. Mẹ thừa hiểu tại sao tôi phải ăn cắp thức
ăn, cha tôi cũng vậy, nhưng bà ấy vẫn nhất quyết không cho tôi ăn. Tôi càng
khao khát được ăn thì đầu óc tôi lại càng cố sức nghĩ ra một kế hoạch mới nào
đó hoàn hảo hơn để đạt được điều đó.
Sau bữa ăn tối, mẹ có
thói quen gom tất cả phần thức ăn thừa trên dĩa cho vào một cái thùng rác nhỏ,
rồi bà mới cho gọi tôi lên - lúc đó đang dưới tầng hầm chờ cả nhà dùng xong bữa.
Nhiệm vụ của tôi là rửa hết đống chén đĩa bẩn. Trong lúc đứng ở bồn rửa chén,
tôi có thể ngửi thấy mùi thức ăn thừa mà mẹ đã ném vào thùng rác. Ngay lúc ấy,
một ý nghĩ lóe lên trong đầu khiến tôi muốn nôn ọe, nhưng càng nghĩ và càng tự
thuyết phục mình thì tôi cũng cảm thấy đỡ hơn. Đó chính là hy vọng duy nhất để
cái bụng của tôi được no. Tôi cố rửa xong đống chén bát càng nhanh càng tốt rồi
mang cái thùng rác xuống nhà xe để lục lọi. Vừa nhìn thấy thức ăn, miệng tôi ứa
nước bọt và hai bên quai hàm nhức buốt đến tận mang tai. Tôi vừa gạt giấy và đầu
lọc thuốc lá sang một bên vừa cẩn thận nhặt từng mẩu thức ăn còn nguyên ra khỏi
đám bầy nhầy. Rồi tôi ngấu nghiến hết chỗ thức ăn ấy nhanh đến độ không kịp thở.
Như một lẽ thường tình, kế
hoạch mới của tôi lại đột ngột bị khựng lại vì bị mẹ bắt gặp. Thế là trong suốt
nhiều tuần liền, tôi buộc phải từ bỏ thói quen ăn đồ ăn trong thùng rác. Nhưng
rồi sau cùng tôi cũng đành đánh bạo lén lút trở về với thói quen cũ để chống lại
những cơn đói đến mờ mắt. Tôi nhớ một lần nọ, tôi đã lục thùng rác để ăn vài miếng
thịt heo thừa. Chỉ vài giờ sau đó, cả người tôi quằn quại vì những cơn đau dữ dội.
Tôi bị tiêu chảy suốt cả tuần. Khi tôi bị bệnh, mẹ mới nói cho tôi biết là bà đã
cố tình để phần thịt heo ấy hai tuần trong tủ lạnh, cho nó bị thối rữa rồi mới
ném vào thùng rác. Bà thừa biết tôi sẽ lén moi phần thịt ôi thiu ấy từ thùng
rác ra mà ăn. Thời gian sau đó, cứ sau bữa cơm chiều, mẹ lại bắt tôi khuân cái
thùng rác đến chỗ bà nằm cho bà kiểm tra. Bà không bao giờ biết rằng đối đối
phó với chuyện này, tôi đã gói thức ăn vào mấy miếng khăn giấy và giấu nó dưới
đáy thùng. Tôi biết là mẹ sẽ không muốn bới cái thùng rác lên để cho những ngón
tay của mình bị vấy bẩn, vì vậy âm mưu của tôi cũng hữu dụng được một thời
gian.
Dường như mẹ cảm nhận được
rằng tôi vẫn có thể lấy được thức ăn bằng cách nào đó, thế nên bà bắt đầu tưới
dung dịch amoniac vào thùng rác. Từ đó, tôi đành từ bỏ thói quen moi thức ăn từ
thùng rác ở nhà và chỉ tập trung tìm cách để đánh cắp thức ăn ở trường mà thôi.
Từ sau khi tôi bị bắt quả tang đánh cắp thức ăn trưa của các bạn học, ý định tiếp
theo của tôi là sẽ đánh cắp thức ăn đông lạnh trong căng-tin trường học.
Tôi tính toán thời gian để
xin phép thầy giáo đi vệ sinh ngay sau khi chiếc xe tải giao hàng mang đến
căng-tin những hộp thức ăn đông lạnh dành cho bữa trưa. Sau đó tôi lẻn vào
căng-tin và vơ lấy vài hộp thức ăn lạnh rồi chạy thục mạng vào nhà vệ sinh. Ở
trong ấy, tôi ngấu nghiến mấy cây xúc xích đông lạnh và món bánh tater tots [6]
với những vốc thật lớn. Tôi ăn nhanh đến độ gần như bị mắc nghẹn. Sau khi đã
nhét đầy thức ăn vào bụng, tôi trở lại lớp học, trong lòng thấy vô cùng tự hào
vì tôi đã tự kiếm được cái ăn cho mình.
Buổi chiều hôm ấy, khi đi
học về, đầu óc tôi chỉ nghĩ đến việc ăn cắp thức ăn ở căng tin trường học vào
ngày hôm sau mà thôi. Nhưng chỉ vài phút sau đó, mẹ đã làm cho mọi dự định của
tôi tan tan biến. Bà lôi tôi xềnh xệch vào nhà tắm, ra sức thụi túi bụi vào bụng
tôi khiến tôi oằn người quằn quại vì đau đớn. Rồi bà tiếp tục lôi tôi vào nhà vệ
sinh và bắt tôi phải thọc ngón tay vào trong cổ họng. Tôi không chịu làm theo.
Tôi cố áp dụng chiêu thức cũ là đếm nhẩm, mắt tôi liếc nhìn vào bồn cầu bằng
men sứ, “Một... hai...” nhưng tôi chẳng bao giờ đếm được đến ba. Mẹ tôi tức
mình thọc luôn ngón tay của bà ấy vào cổ họng tôi. Tôi oằn người vẫy vùng chỉ
mong thoát khỏi tấm thân hộ pháp của bà ấy. Cuối cùng thì bà cũng buông tha cho
tôi, nhưng chỉ là khi tôi chấp nhận sẽ ói ra hết cho bà ấy xem.
Tôi biết chuyện gì sắp sửa
xảy ra. Tôi nhắm nghiền mắt lại mặc cho những thớ thịt heo đỏ hỏn trôi tuột vào
trong bồn cầu. Mẹ đứng sau lưng tôi, tay chống nạnh và nói:
- Tao nghĩ vậy đấy. Cha
mày sắp biết hết chuyện này rồi.
Tôi gồng người chờ đợi những
cú đấm cú đá mà mẹ sắp dành cho tôi, nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Vài giây sau,
tôi quay người lại và biết mẹ đã ra khỏi nhà tắm. Nhưng tôi biết mọi chuyện vẫn
chưa kết thúc. Vài phút sau mẹ trở lại với một cái tô nhỏ trên tay, bà bắt tôi
múc những mảng thức ăn chưa được tiêu hóa hết trong bồn cầu vào cái tô ấy. Bởi
lúc đó cha tôi ra ngoài mua sắm nên mẹ làm thế là để giữ lại chứng cứ cho ông
xem.
Đêm hôm đó, sau khi tôi
hoàn tất mọi công việc nhà, mẹ bắt tôi đứng cạnh bàn ăn trong nhà bếp trong lúc
bà nói chuyện với cha tôi trong phòng ngủ. Trước mặt tôi lúc đó là cái tô đựng
đầy thứ thịt mà tôi đã ói ra lúc chiều. Tôi không thể nhìn vào đó, tôi chỉ biết
nhắm mắt lại và hình dung đến cảnh một ngày nào đó mình sẽ trốn khỏi nhà để đến
một nơi thật xa. Một lát sau, mẹ kéo cha lao vào nhà bếp.
- Nhìn đây này, Steve!
Anh có còn nghĩ rằng thằng nhãi đó không ăn cắp thức ăn nữa hay không? - Mẹ gào
lên, tay chỉ thẳng về phía cái tô.
Ngước nhìn khuôn mặt của
cha lúc ấy, tôi có thể thấy rằng ông đã ngày càng trở nên mệt mỏi với cụm từ
“Điều thằng đó đã làm” mà mẹ luôn miệng chì chiết. Liếc nhìn tôi, cha lắc đầu tỏ
vẻ không tán thành với mẹ, rồi ông lắp bắp:
- Mà Roerva này, nếu có
thể thì em cho thằng bé ăn chút gì đi.
Cha vừa dứt lời, một trận
cãi vã nảy lửa đã diễn ra ngay trước mặt tôi và như mọi khi, mẹ là người chiến
thắng.
- ĂN? Anh muốn cho thằng
nhãi đó ăn à, Stephen? Được rồi, nó sẽ được ĂN. Bảo nó ăn cái này đi!
Mẹ trợn mắt hét lên the
thé, hất cái tô về phía tôi rồi hậm hực bỏ về phòng.
Không khí trong gian bếp
trở nên yên lặng như tờ khiến cho tôi có thể nghe thấy cả hơi thở nặng nề đầy
lo âu của cha. Sau một hồi đắn đo, cha nhẹ nhàng đặt tay lên vai tôi và nói:
- Cứ chờ ở đây, Cọp con.
Để xem cha có thể làm được gì không nhé.
Nói rồi ông bỏ đi. Tôi biết
ông đi gặp mẹ để cố thuyết phục bà đừng bắt tôi làm như thế. Chỉ vài phút sau,
cha quay trở lại. Nhìn vẻ mặt buồn bã của cha, tôi hiểu ngay chuyện gì sẽ xảy
ra.
Tôi ngồi trên một cái ghế
và dùng tay với lấy đống thịt nhểu nhảo kia ra khỏi tô. Cảm giác muốn nôn ọe đã
tràn đến cổ họng. Vừa đưa mấy miếng thịt đã bốc mùi lên miệng tôi vừa nhắm mắt
để cố nuốt cho trôi. Nuốt xong miếng đầu tiên, tôi bật khóc. Tôi quay sang nhìn
cha. Ông đứng đó với ly rượu trong tay, chỉ biết nhìn khi tôi phải nuốt cái thứ
gớm ghiếc ấy vào bụng. Đã thế ông còn nhìn tôi gật đầu như ra hiệu tôi hãy tiếp
tục. Tôi không thể tin là cha chỉ có thể đứng đó nhìn trong lúc tôi đang phải
nuốt lấy mớ thức ăn ghê tởm trong cái tôi kia. Chính trong giây phút đó, tôi biết
cha con tôi đang dần rời xa nhau...
Tôi nín thở nuốt trọng để
không phải ngửi thấy cái mùi tanh tưởi ấy, cho đến khi có một bàn tay kẹp chặt
lấy cổ tôi từ phía sau:
- Nhai đi. - Mẹ gầm gừ -
Ăn đi! Ăn hết đi!
Mắt bà long lên, tay dúi
đầu tôi vào cái tô. Tôi ngồi lọt thỏm trong cái ghế, nước mắt dầm dề chảy xuống
gò má. Sau khi nhai xong đống hỗn độn trong cái tô, tôi ngửa đầu ra sau để cố
ép cho những gì còn lại trong miệng tôi trôi xuống cổ họng. Tôi nhắm nghiền mắt
lại và gào thét với chính mình rằng bằng mọi cách đừng để cho cái thứ ấy trào
ngược trở lên miệng. Mãi cho đến khi tôi chắc chắn mọi thứ đã ổn thì tôi mới
dám mở mắt ra. Tôi nhìn chằm chặp vào cha, ông đang vội quay đi để tránh nhìn
thấy nỗi đau đớn của tôi. Ngay chính lúc đó, tôi cảm thấy căm ghét mẹ đến tận
cùng, nhưng tôi còn ghét cha nhiều hơn thế gấp trăm vạn lần. Người đàn ông ấy
đã từng nhiều lần tìm cách giúp đỡ tôi, bênh vực cho tôi, nhưng giờ thì ông chỉ
đứng im như một pho tượng khi chứng kiến con trai phải cho vào miệng một thứ mà
ngay cả con chó còn chê.
Sau khi tôi ăn xong phần
xúc xích do chính mình ói mửa ra, mẹ quay trở lại trong chiếc áo choàng và ném
vào người tôi một đống báo. Bà bảo ràng tôi sẽ lấy đống báo đó làm mền đắp, và
sàn nhà phía dưới cái bàn ăn sẽ là giường ngủ của tôi. Tôi lại nhìn về phía
cha, nhưng ông ấy đã làm như thể chẳng hề có tôi ở đó. Tôi cố nén nước mắt,
không muốn mình phải khóc lóc trước mặt hai con người đó. Mặt tôi đột nhiên trở
nên biến sắc. Tôi hoàn toàn vô cảm. Tôi lồm cồm chui xuống gầm bàn, lấy mấy tờ
báo phủ lên người rồi nằm co ro ở đấy. Trông tôi lúc ấy hệt như một con chuột
nhắt bị nhốt vào lồng vậy.
Suốt nhiều tháng liền,
tôi ngủ dưới gầm bàn nơi cả nhà tôi vẫn ngồi ăn sáng, kế bên là một chiếc hộp lớn
làm ổ cho lũ mèo con nhà tôi. Chẳng lâu sau đó, tôi cũng tìm được cách để tận dụng
mớ báo kia. Tôi dùng những tờ báo quấn quanh mình để giữ ấm cho cơ thể. Sau
cùng, mẹ nói với tôi rằng tôi không được phép ngủ ở nhà trên nữa, và thế là tôi
bị hất khỏi đó để trở lại nhà để xe. Chỗ ngủ của tôi bây giờ là một chiếc giường
cũi cũ kỹ. Để giữ ấm, tôi cố gắng áp sát đầu mình vào lò sưởi. Nhưng sau vài
đêm chịu đựng giá lạnh, tôi nhận ra cách tốt nhất để giữ ấm cho mình là nằm kẹp
hai tay vào nách và co quắp hai chân đến tận mông. Thỉnh thoảng khi giật mình tỉnh
giấc vào lúc nửa đêm, tôi cố gắng hình dung mình là một con người thật sự, được
nằm ngủ trong một chiếc chăn điện ấm áp, được an toàn và được ai đó yêu thương.
Đầu óc tôi đắm chìm trong mộng mị được một lúc, rồi thì đem dài giá lạnh lại
mang tôi trở về với thực tại phũ phàng. Tôi biết chẳng ai có thể giúp được tôi
cả. Không phải thầy cô giáo của tôi, không phải những người mà tôi gọi là anh
em, càng không phải là cha của tôi. Tôi chỉ có thể đứng trên đôi chân của chính
mình, và hàng đêm tôi luôn cầu xin Chúa hãy ban cho tôi sức mạnh cả về tinh thần
lẫn thể chất. Trong bóng đêm tĩnh mịch ở nhà để xe, tôi nằm trên chiếc giường gỗ
run rẩy gì lạnh cho đến khi chìm vào giấc ngủ chập chờn.
Một lần nọ, trong cơn mộng
mị lúc nửa đêm, tôi chợt nảy ra ý định đi xin thức ăn trên đường đến trường. Dẫu
biết rằng mẹ vẫn liên tục tiến hành những cuộc “sát hạch nôn mửa” mỗi ngày ngay
khi tôi vừa đi học về nhưng tôi nghĩ rằng những thứ tôi ăn vào lúc sáng sẽ được
tiêu hóa vào buổi trưa thôi. Thế là mỗi sáng khi bắt đầu chạy bộ đến trường,
tôi phải cố gắng chạy hết tốc lực để có thêm nhiều thời gian cho cuộc tìm kiếm
thức ăn của mình. Sau đó tôi còn quyết định thay đổi kế hoạch, tôi không xin mà
sẽ ghé vô bất kỳ ngôi nhà nào trên đường và gõ cửa. Khi có người ra mở cửa, tôi
sẽ vờ hỏi xem họ có tình cờ thấy một cái hộp đựng cơm trưa nào gần đấy hay
không. Những lần như vậy, kế hoạch của tôi tỏ ra rất hữu dụng. Nhìn vẻ mặt của
họ, tôi thấy rõ sự cảm thông sâu sắc mà họ dành cho tôi. Tôi còn lo xa bằng
cách dùng một cái tên giả để không ai biết tôi thật sự là ai. Nhiều tuần lễ
trôi qua, kế hoạch của tôi diễn ra trơn tru, cho đến một ngày kia, tôi gõ cửa một
ngôi nhà mà người phụ nữ ở đó lại là người quen của mẹ tôi. Câu chuyện “Con làm
mất bữa trưa của mình. Cô có thể làm giúp con một phần ăn khác hay không?” do
tôi dựng nên đã đổ vỡ tan tành. Thậm chí trước khi rời khỏi căn nhà ấy, tôi còn
biết thế nào cô ấy cũng gọi cho mẹ tôi.
Ngày hôm ấy ở trường học,
tôi chỉ biết cầu nguyện sao cho hôm đó là ngày tận thế mà thôi. Trong lúc tôi cứ
bồn chồn đứng ngồi không yên ở lớp học, thì tôi biết khi ấy ở nhà, mẹ đang nằm
dài trên trường kỷ xem tivi và uống rượu triền miên đồng thời sẽ nghĩ ra trò gì
đó thật kinh tởm để làm với tôi khi tôi trở về ngôi nhà của bà ấy sau khi tan học.
Buổi chiều hôm ấy, khi chạy từ trường về nhà sau giờ học, tôi có cảm giác chân
mình nặng nề như bị dính chặt vào những tảng xi-măng vậy. Cứ sau mỗi bước đi,
tôi lại cầu xin cho người phụ nữ ấy đừng gọi điện cho mẹ tôi, hoặc mong sao cô ấy
nhầm tôi với một đứa trẻ khác. Trên đầu tôi, bầu trời vẫn trong xanh, và sau
lưng tôi mặt trời vẫn chiếu những tia nắng ấm áp. Về đến nhà, tôi nhìn về phía
mặt trời và tự hỏi không biết tôi còn có thể nhìn thấy ánh dương ấy lần nào nữa
hay không. Tôi khẽ mở hé cánh cửa lớn rồi lách vào trong nhà, nhón gót đi rón
rén xuống nhà để xe. Tôi hình dung mẹ sẽ bay ngay xuống cầu thang và đánh tôi
ngã nhào trên nền xi-măng vào bất cứ lúc nào. Thế nhưng tôi chẳng thấy bà ấy
đâu. Sau khi mặc bộ đồ làm việc nhà vào, tôi lại rón rén đi lên nhà trên, vào bếp
và bắt đầu rửa đống chén đĩa mà mẹ đa bày ra vào buổi trưa. Vì không thể biết
được mẹ đang ở đâu nên tai tôi bỗng trở thành cái ăng-ten ra-đa để dò tìm vị
trí của bà. Trong lúc rửa chén, tôi cứ có cảm giác hồi hộp, phập phồng lo sợ từ
phía sau lưng. Hai tay tôi run rẩy, và tôi không thể tập trung vào công việc của
mình. Cuối cùng, tôi cũng nghe thấy tiếng mẹ bước ra khỏi phòng ngủ, đi qua
phòng lớn để xuống nhà bếp. Ngay trong khoảnh khắc đó, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ.
Tôi có thể nghe thấy tiếng cười đùa, la hét cửa bọn trẻ đang nô đùa ngoài ấy.
Cũng trong khoảnh khắc ấy, tôi nhắm mắt lại và tưởng tượng mình là một trong số
những đứa trẻ ấy. Tôi thấy lòng mình ấm lại. Tôi mỉm cười.
Tim tôi đập thình thịch
khi cảm nhận rõ hơi thở của mẹ ngay phía sau lưng mình. Giật mình, tôi đánh rơi
một cái đĩa, nhưng trước khi nó rơi xuống nền nhà, tôi đã kịp chụp lấy nó.
- Mày cũng nhanh nhỉ, cái
đồ thối tha kia? - Bà ấy cười khinh bỉ - Mày còn có thể chạy thật nhanh để có
thời gian đi xin thức ăn kia mà. Được thôi... để xem mày nhanh như thế nào.
Vì nghĩ rằng mẹ sẽ nện
cho một trận nên tôi gồng người chuẩn bị chịu trận, nhưng mẹ không đánh. Tôi lại
nghĩ bà ấy sẽ quay trở lại phòng để tiếp tục xem tivi, nhưng bà cũng không đi.
Mẹ vẫn đứng đấy sau lưng tôi, quan sát nhất của nhất động của tôi. Tôi có thể
nhìn thấy hình ảnh của mẹ phản chiếu trên cửa sổ nhà bếp. Bà ấy cũng thấy và nhếch
mép cười. Nhìn thấy nụ cười của bà, tôi gần như muốn tè vãi cả ra quần.
Rửa chén đĩa xong, tôi tiếp
tục cọ rửa nhà tắm. Trong lúc tôi lau chùi bồn tắm thì mẹ ngồi trên bồn cầu.
Khi tôi bò ra chà sàn nhà, bà vẫn lặng im ngồi đấy quan sát tôi từ phía sau.
Tôi cứ nghĩ rằng bà sẽ đi vòng lên phía trước rồi đá vào mặt tôi, nhưng bà ấy
đã không làm như thé. Tôi vẫn tiếp tục công việc của mình, nỗi lo sợ trong tôi
mỗi lúc một lớn dần lên. Tôi biết mẹ sắp đánh như thế nào, khi nào đánh và đánh
ở đâu. Tôi có cảm giác như công việc chà rửa nhà tắm này dường như kéo dài vô tận.
Tôi làm việc mà chân tay cứ ở trong tư thế đề phòng. Tôi không thể tập trung
vào bất cứ điều gì khác ngoài mẹ. Sau khi lấy hết can đảm, tôi ngẩng lên nhìn
bà, bà lại nhếch mép cười và nói:
- Nhanh nữa lên nào thằng
nhóc. Mày sẽ còn phải làm nhanh hơn thế này nữa đấy.
Đến giờ ăn tối, tồi gần
như kiệt sức vì sợ hãi. Tôi ngủ gà ngủ gật trong lúc đứng chờ mẹ gọi lên lau dọn
bàn ăn và rửa đống bát đĩa bẩn. Một mình đúng dưới nhà để xe, tâm trí tôi hoang
mang vô cùng. Càng bồn chồn, tôi càng cảm thấy mắc tiểu. Tôi rất muốn chạy lên
nhà trên để vào nhà tắm, nhưng tôi biết rằng không có lệnh của mẹ thì tôi chỉ
là một thằng tù nhân không kém không hơn. “Có lẽ đó là kế hoạch mà bà ấy dành
cho mình” - Tôi tự nhủ “Có lẽ bà ấy muốn mình phải uống luôn nước tiểu”. Lúc đầu,
ý nghĩ đó quả thật là quá tục tằn đối với tôi, nhưng tôi biết rằng mình phải
chuẩn bị tinh thần cho bất cứ trò gì mà mẹ sắp bày ra. Càng tập trung nghĩ đến
những trò quái ác mẹ sẽ dành cho tôi, sức lực trong tôi càng trở nên kiệt quệ.
Chợt một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi: tôi đã biết tại sao mẹ lại theo dõi mỗi
bước chân của tôi như thế. Bà muốn tôi bị đè bẹp bởi một thứ áp lực thường trực,
bằng cách đẩy tôi vào cảm giác bất an khi không biết sẽ bị bà ấy hành hạ ở đâu
và vào lúc nào. Trước khi tôi kịp nghĩ ra cách đối phó, thì mẹ đã réo gọi tôi
lên nhà trên. Lúc ở trong nhà bếp, bà ấy đã nói rằng chỉ có cách làm việc với tốc
độ của ánh sáng mới có thể cứu được tôi, vì vậy tốt hơn là tôi nên làm thế nào
để rửa xong đống bát đĩa ấy trong một thời gian kỷ lục mới được.
- Tất nhiên tao chẳng cần
phải nói với mày rằng tối nay mày phải nhịn đói, nhưng đừng lo, tao đã có cách
để giải quyết cái đói của mày rồi. - Bà cười nham hiểm.
Sau khi tôi làm xong việc
nhà, mẹ bắt tôi đứng chờ ở nhà dưới. Tôi đứng đó, lưng dựa vào tường, thấp thỏm
nghĩ xem mẹ sắp giở trò gì với mình. Tôi không thể hình dung được điều gì sắp xảy
ra. Mồ hôi lạnh bỗng nhiên toát khắp cả người tôi, như thể nó được tiết ra từ tận
trong xương tủy tôi vậy. Tôi mệt lả người, hai mắt ríu lại vì buồn ngủ. Mỗi khi
có cảm giác đầu mình gục về phía trước, tôi lại choàng tỉnh, đứng thẳng lại.
Tôi có cố gắng chống chọi lại cơn buồn ngủ đến mấy, thì tôi cũng không thể giữ
cho đầu mình khỏi gật lên gật xuống như một miếng bần trôi dập dềnh trong nước.
Rơi vào trạng thái nữa tỉnh nửa mê ấy, tôi cảm giác như sự căng thẳng đã khiến
cho hồn tôi lìa khỏi xác, như thể tôi cũng đang trôi lờ lững đâu đó. Tôi cảm thấy
cơ thể mình nhẹ tựa một cọng lông vũ cho đến khi đầu tôi lại đổ gục về phía trước,
lúc ấy tôi lại giật nẩy mình tỉnh dậy. Tôi muốn chợp mắt một lúc. Nhưng như thế
mà bị mẹ bắt gặp thì chỉ có chết, thế nên tôi từ bỏ ý nghĩ ấy bằng cách nhìn chồng
chọc qua khung cửa sổ của ga-ra, dỏng tai nghe tiếng xe cộ chạy ngoài đường và
quan sát ánh đèn đỏ nhấp nháy chiếu xuống từ những chiếc máy bay bay ngang qua
bầu trời phía trên. Từ tận đáy lòng, tôi ước sao mình có thể bay khỏi nơi đây.
Vài giờ sau đó, khi Ron
và Stan đi ngủ, mẹ lệnh cho tôi quay lại nhà trên. Tôi kéo lê từng bước chân.
Tôi biết đã đến lúc. Bà ấy làm tôi kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần. Tôi không
biết bà ấy đang tính toán thứ gì trong đầu. Tôi chỉ có một điều ước đơn giản rằng,
mẹ cứ đánh tôi đi rồi hãy để cho mọi chuyện chấm dứt.
Khi mở cửa phòng, một sự
tĩnh lặng vây lấy tôi. Căn phòng chìm trong bóng tối, chỉ có duy nhất tia sáng
hắt ra từ ngọn đèn trong nhà bếp. Khi thấy mẹ đang ngồi cạnh cái bàn ăn sáng,
tôi đứng chết trân. Bà mỉm cười, còn tôi khi nhìn thấy bộ dạng rũ rượi của bà
thì hiểu ra rằng men rượu đã khiến bà trở nên như vậy. Trông bà lúc ấy như một
cái xác chết trôi. Ngay lúc đó, chẳng hiểu sao tôi lại nghĩ rằng mẹ sẽ không
đánh tôi như mọi khi. Đầu óc tôi trở nên mụ mẫm, nhưng tôi cũng kịp định thần
trở lại khi mẹ đứng dậy và chệnh choạng bước đến bồn rửa chén. Bà quỳ xuống nền
nhà, mở cái thùng bên dưới bồn rửa chén và lấy ra một cái chai đựng dung dịch
amoniac. Tôi không hiểu gì hết. Rồi bà với tay lấy một cái muỗng và rót dung dịch
ấy ra. Tôi hoảng sợ và hoang mang đến độ không thể nghĩ được gì cả. Càng muốn định
thần suy nghĩ, đầu óc tôi lại càng trở nên tê cứng.
Với muỗng dung dịch
amoniac trong tay, mẹ tiến về phía tôi. Khi vài giọt dung dịch sóng ra khỏi muỗng
và rơi vãi xuống sàn nhà, tôi cứ lùi dần cho đến khi đầu tôi đụng vào thành bàn
gần chỗ để cái bếp lò. Tôi cười thầm trong bụng. “Tất cả chỉ có vậy thôi sao? Vậy
thôi sao? Tất cả những gì mẹ muốn làm với mình là bắt mình phải nuốt hết cái thứ
này thôi sao?” - Tôi tự nhủ.
Tôi không hề cảm thấy sợ
hãi. Tôi đã quá mệt mỏi. “Hãy đến đây, tiến lên nào. Làm cho xong rồi chấm dứt
đi”. - Ngay lúc ấy tôi chỉ có thể nghĩ được như thế. Khi mẹ cúi xuống, bà lại
nói với tôi rằng chỉ có tốc độ mới giúp được tôi thôi. Tôi cố hiểu sự đánh đố của
mẹ, nhưng đầu óc tôi lúc đó đã hoàn toàn mụ mẫm.
Không một chút do dự, tôi
há to miệng ra, mẹ thọc sâu cái muỗng lạnh buốt ấy vào cổ họng tôi. Tôi lại tự
trấn an mình rằng điều này chẳng có gì là ghê gớm cả, nhưng chỉ liền sau đó,
tôi không thể thở. Cổ họng tôi như bị tắt nghẹn. Tôi loạng choạng trước mặt mẹ,
mặt tôi căng cứng và nóng bừng, cảm giác như thể hai mắt tôi sắp sửa vọt ra
ngoài. Rồi tôi ngã quỵ xuống sàn. “Bọt xà phòng!” - Tâm trí tôi gào thét trong
oán hận. Tôi dùng tất cả sức lực đấm mạnh xuống sàn nhà, cố gắng làm sao để nuốt
trôi cái thứ ấy. Ngay lúc đó tôi cảm thấy hoảng sợ tột độ. Những giọt nước mắt
sợ hãi ào ạt chảy xuống hai gò má của tôi. Ít giây sau đó, tôi cảm nhận được những
cú đấm của tôi xuống sàn nhà đã yếu dần. Tôi bắt đầu dùng mấy đầu ngón tay cào
xuống sàn nhà. Mắt tôi cũng dán xuống đó. Mọi màu sắc như nhòe nhoẹt trước mắt
tôi. Tôi thấy mình giống như đang trôi dạt đi. Tôi biết mình sắp chết.
Rồi tôi nhận ra mẹ đang đập
mạnh vào lưng tôi. Sức mạnh của những cú đập đó khiến tôi ợ lên, và thế là tôi
có thể thở được trở lại. Trong lúc tôi cố gắng hít sâu thở mạnh để nhịp thở trở
lại bình thường thì mẹ lại ung dung quay về với ly rượu của bà ấy. Bà nốc liền
một hơi dài, nhìn chằm chằm xuống tôi và phun phèo phèo vào mặt tôi.
- Giờ thì mày thấy rồi đấy,
đâu có quá khó phải không? - Mẹ vừa nói vừa uống cạn ly rượu và đuổi tôi xuống
nhà dưới, để tôi trở về với cái giường nhỏ bé cũ kỹ của mình.
Buổi tối ngày hôm sau,
màn kịch cũ lại tái diễn, nhưng lần này là trước sự chứng kiến của cha. Bà
huênh hoang:
- Phải thế này thì thằng
nhãi mới chừa cái tội ăn cắp thức ăn được!
Tôi thừa biết bà ấy hành
hạ tôi như thế chỉ để thỏa mãn thú vui bệnh hoạn của mình mà thôi. Khi mẹ ép
tôi uống dung dịch amoniac, cha tôi vẫn đứng đó bất động. Nhưng lần này tôi đã
kháng cự lại. Mẹ đã phải cạy miệng tôi ra, còn tôi, trong lúc quẫy mạnh đầu và
vung mạnh tay cũng đã khiến bà phải làm đổ một lượng lớn chất tẩy rửa ấy xuống
sàn nhà. Nhưng như thế vẫn không thể thay đổi tình thế. Lần này tôi cũng phải nắm
chặt tay mình lại, đấm mạnh xuống sàn nhà khi cái chất ấy lọt vào cổ họng. Tôi
ngước nhìn về phía cha, ánh mắt van nài và cầu cứu ông ấy. Tôi muốn kêu ông cứu
tôi, nhưng sao tôi lại chẳng thể nói đưuọc lời nào. Ông ấy chỉ đứng đó, vô cảm,
cả khi tay tôi nện thình thịch xuống sàn nhà ngay dưới chân ông ấy. Mẹ quỳ xuống
bên tôi như thể bà đang vỗ về mấy con chó con của bà, rồi bà lại vỗ mạnh vào
lưng tôi vài lần nữa, trước khi tôi ngất lịm đi.
Sáng hôm sau, trong lúc
lau chùi nhà tắm, tôi soi gương để xem cái lưỡi bị bỏng rát của mình thế nào.
Nhiều thớ thịt bị tưa ra, phần lưỡi còn lại thì đỏ lên và tứa máu. Tôi đứng
trân trân nhìn vào cái bồn rửa chén, thấy mình vẫn còn may mắn vì đã sống sót.
Mặc dù mẹ không còn bắt
tôi nuốt dung dịch amoniac nữa, nhưng thỉnh thoãng bà lại bắt tôi uống vài muỗng
đầy thuốc tẩy Clorox [7]. Nhưng dường như trò yêu thích của mẹ vẫn là xà phòng
rửa chén. Bà ấy thường dốc thứ chất lỏng màu hồng rẻ tiền ấy vào cổ họng tôi rồi
bắt tôi đứng yên trong ga-ra. Những lúc ấy, miệng lưỡi tôi trở nên khô khốc, thế
là tôi phải lén mẹ đến bên cái vòi nước của ga-ra mà uống đầy một bụng nước.
Nhưng rồi tôi sớm nhận ra sai lầm chết người của mình. Tôi bị tiêu chảy, nhưng
vẫn phải cố nín nhịn. Tôi khóc la gọi mẹ, van nài bà ấy cho tôi lên nhà trên
dùng toa-lét. Bà ta thẳng thừng từ chối. Tôi chỉ còn biết đứng bất động ở đó,
khi một đám chất lỏng ồ ạt chảy qua quần lót rồi chảy xuống cả hai chân tôi,
lênh láng khắp sàn nhà.
Tôi cảm thấy nhục nhã vô
cùng; tôi òa khóc như một đứa trẻ. Trong tôi giờ đây chẳng còn một chút nào gọi
là lòng tự trọng. Tôi cần vào nhà tắm lần nữa, nhưng tôi sợ đến nỗi không dám cử
động. Cuối cùng, khi bụng tôi đau quặn lên, thì tôi đàng phải ráng thu hết chút
danh dự còn sót lại của mình rồi bước chệnh choạng về phía bồn rửa trong ga-ra.
Tôi chộp lấy một cái can hai mươi lít và ngồi lên đấy như một cách tự giải cứu
mình. Trong lúc tôi đang nhắm mắt cố nghĩ ra cách làm sạch người, làm sạch quần
áo thì cánh cửa ga-ra phía sau lưng tôi bất ngờ bật mở. Tôi quay đầu nhìn về
phía cha. Ông vẫn thản nhiên đứng nhìn tôi trong lúc tôi vừa thẫn thờ nhìn ông
vừa để cho đám phân lỏng màu nâu sậm đang chảy ồ ạt vào cái can. Tôi cảm thấy
mình còn thua một con chó.
Mẹ không phải lúc nào
cũng thắng. Một lần nọ, trong suốt một tuần tôi không được đi học, ở nhà bà ấy
đã liên tục đổ xà phòng vào miệng tôi rồi bắt tôi phải lau chùi nhà bếp. Bà ấy
không biết rằng tôi đã không nuốt chỗ xà phòng đó. Tôi chỉ ngậm hỗn hợp vừa xà
phòng vừa nước bọt trong miệng. Tôi không cho phép mình nuốt cái chất ấy xuống
cổ họng nữa. Lau chùi nhà bếp xong, tôi chạy như bay xuống nhà dưới để nhổ bỏ
cái thứ bẩn thỉu kia. Sau khi đóng chặt cánh cửa lại, tôi khạc nhổ hết ra ngoài
cái đống xà phòng màu hồng ấy rồi ngoác miệng cười đắc chí. Tôi với tay giật lấy
cái khăn cạnh mấy cái thùng rác gần cửa ga-ra rồi cho vào miệng lau thật kỹ đến
từng giọt xà phòng cuối cùng. Tôi cảm thấy như mình vừa giành chiến thắng trong
cuộc đua mara-tông ở thế vận hội vậy. Tôi cảm thấy tự hào vì đã đánh bại mẹ
trong trò chơi do chính bà ấy bày ra.
Mặc dù mẹ vẫn thường
xuyên bắt quả tang tôi căn cắp thức ăn để giải tỏa cơn đói, nhưng bà cũng không
thể bắt được tôi trong tất cả những lần như thế. Sau nhiều tháng liền bị giam cầm
trong ga-ra hàng nhiều giờ liền mỗi lần, sự can đảm trong tôi cũng gia tăng
đáng kể và tôi đã dám ăn trộm vài mẩu thức ăn đông lạnh để trong tủ lạnh dưới
ga-ra. Tôi hoàn toàn ý thức được rằng tôi có thể trả giá cho tội lỗi của mình
vào bất kỳ lúc nào, thế nên tôi đã ăn từng miếng, từng miếng thức ăn ấy như thể
chúng là bữa ăn cuối cùng của tôi vậy.
Trong bóng tôi tràn ngập
ga-ra, tôi nhắm mắt lại, hình dung cảnh mình là một ông hoàng mặc trên người bộ
áo choàng lộng lẫy nhất, ăn thức ăn ngon nhất do thần dân của mình dâng lên. Mỗi
khi tôi cầm được trên tay một mẩu bánh bí đông lạnh hay một miếng bánh sò chiên
giòn, tôi là một ông hoàng. Và cũng như bất kỳ ông hoàng nào đang ngồi trên
ngai vàng, tôi cũng liếc nhìn phần thức ăn bên dưới và mỉm cười.
Chú thích:
[1] Một loại bánh nướng xốp
ngọt được làm từ bột mì, có nhân kem, màu vàng tươi, là món ăn phổ biến ở các
nước Bắc Mỹ.
[2] Cưỡi xe cỏ (hayride):
Là trò chơi trên một chiếc xe tải nhỏ, xe bò, xe ngựa hoặc xe trượt tuyết và
trên đó được trang trí cỏ khô cùng những vật dụng làm nông. Ngày nay, hayride
được tổ chức vào những dịp hội họp và mang tính thương mại hóa ở Mỹ.
[3] Là một chương trình
hòa nhạc với sự góp mặt của nhiều nghệ sĩ rock alternative được tổ chức hàng
năm tại Los Angeles, California, Mỹ.
[4] Hoàng tử và Người
hành khất (The Prince and the Pauper) là tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Mark
Twain, đây chính là tác phẩm đầu tay trong sự nghiệp của ông. Cuốn tiểu thuyết
kể về cuộc đời của hai cậu bé có bề ngoài giống hệt nhau: một người là kẻ hành
khất tên Tom Canty và một người là Hoàng tử Edward - con trai của vua Henry
VIII ở Anh quốc.
[5] Là một loại bánh quy
do Mục sư Reverend Sylvester Graham làm lần đầu tiên vào năm 1822 ở New Jersey.
[6] Là món bánh chiên
giòn được làm từ bột khoai tây. Miếng bánh nhỏ, dài, là món ăn phổ biến trong
các căng-tin ở trường học, được bày bán rộng rãi tại các quầy thực phẩm đông lạnh.
[7] Clorox là tên một loại
thuốc tẩy, là thương hiệu nổi tiếng của công ty Clorox - công ty chuyên sản xuất
các sản phẩm hóa chất ở Oakland, California.
Chương 5
Tai nạn
Mùa hè năm 1971 là một cột
mốc quan trọng trong khoảng thời gian còn lại tôi sống bên cạnh mẹ.
Tuy chưa bước sang tuổi
mười một, nhưng tôi đã phải nếm hầu hết các loại hình phạt do mẹ nghĩ ra và còn
thuộc luôn từng loại hình phạt dành cho mỗi tội. Nếu tôi làm bất cứ công việc
nào đó quá thời gian mà mẹ quy định, thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc tôi sẽ
bị bỏ đói. Nếu tôi nhìn bà ấy hoặc nhìn một trong hai anh em trai của tôi khi
bà ấy chưa cho phép thì tôi sẽ lãnh trọng một cái tát vào mặt. Nếu bị bắt quả
tang đang ăn cắp thức ăn thì tôi sẽ bị trừng trị bằng một hình phạt cũ nào đó,
hoặc bà sẽ nghĩ ra một trò mới tàn nhẫn hơn dành cho tôi. Dường như mẹ luôn ý
thức rõ những gì bà đang làm đối với tôi, còn tôi cũng có thể đoán được bà sẽ
làm gì. Tuy vậy, tôi vẫn phải thật dè chừng và luôn gồng cứng người mỗi khi biết
bà ấy đang tiến lại gần mình.
Vào khoảng đầu tháng Bảy,
tinh thần tôi thật sự suy sụp. Đối với tôi, thức ăn giờ đây chỉ còn là một giấc
mơ xa vời. Thậm chí những mảnh vụn dư thừa của bữa sáng tôi cũng hiếm khi nhận
được, và tôi không bao giờ được cho ăn trưa cho dù tôi có cố gắng làm việc chăm
chỉ thế nào đi nữa. Còn đối với bữa tối, cứ trung bình ba ngày thì tôi được cho
ăn một bữa.
Một ngày tháng Bảy nọ,
hôm ấy cũng bắt đầu như bất kỳ một ngày bình thường nào khác trong kiếp sống
như nô lệ của tôi. Đã ba ngày liền tôi chẳng có gì vào bụng. Vì đang nghỉ hè
nên tôi không thể thó được miếng thức ăn nào ở trường cả. Cũng như mọi bữa tối
khác, tôi ngồi dưới chân cầu thang, hai bàn tay lót dưới mông làm đệm, lóng tai
nghe âm thanh của chén đĩa lanh canh vọng xuống trong lúc “gia đình” mình ăn tối.
Mẹ bắt tôi phải ngồi trên hai bàn tay, đầu ngửa hẳn ra sau trong tư thế của một
“tù binh chiến tranh”. Tôi cứ để mặc cho đầu của mình gục về phía trước, mơ
màng tưởng tượng mình là một trong số họ - một thành viên trong “gia đình”. Hẳn
là tôi đã ngủ gật vì sau đó bất thình lình tôi bị mẹ đánh thức bằng một giọng gầm
gừ:
- Dậy đi. Nhấc cái mông của
mày lên đi thằng nhãi ranh!
Vừa nghe thấy tiếng mẹ,
tôi đã đứng phắt dậy như một cái máy và chạy hết tốc lực lên nhà trên. Tôi thầm
cầu xin sao cho tối nay mình sẽ kiếm được cái gì đó, bất cứ thứ gì, để làm dịu
bớt cơn đói.
Trong khi tôi đang lui
cui dọn dẹp chén dĩa trên bàn ăn thì mẹ gọi tôi vào bếp. Tôi cúi đầu ngoan
ngoãn trong lúc bà lầm bầm ra thời hạn cho tôi làm việc.
- Mày có hai mươi phút.
Quá một phút, một giây thôi là mày sẽ bị bỏ đói nữa đấy! Hiểu chưa?
- Vâng, thưa mẹ.
- Nhìn tao khi tao nói
chuyện với mày! - Mẹ gầm lên.
Tuân theo mệnh lệnh của
bà, tôi từ từ ngẩng đầu lên. Tôi thấy nhóc Russell em tôi đang lúc lắc người dưới
chân của mẹ. Giọng điệu chói tai của mẹ dường như chẳng làm nó bận tâm. Nó chỉ
liếc nhìn tôi bằng một ánh mắt lạnh lùng. Cho dù lúc ấy Russell chỉ mới bốn hay
năm tuổi gì đó, nhưng nó đã trở thành “đảng viên đảng quốc xã bé nhỏ” của mẹ,
nó trông chừng nhất của nhất động của tôi để đảm bảo rằng tôi không thể lấy cắp
được chút thức ăn nào. Có khi nó còn dựng chuyện với mẹ để được nhìn thấy mẹ phạt
tôi nữa. Tôi biết chính mẹ là người đã tẩy não cho nó, nhưng tôi cũng bắt đầu lạnh
nhạt với nó và ghét nó như nó ghét tôi vậy.
- Mày có nghe tao nói
không đấy? - Mẹ thét lên - Nhìn tao khi tao đang nói chuyện với mày đây này!
Khi tôi nhìn bà, bà liền
chộp lấy con dao cắt thịt để trên bàn ăn và rít lên:
- Nếu mày không làm xong
việc đúng thời hạn, tao sẽ giết chết mày!
Những lời lẽ ấy của mẹ chẳng
mảy may tác động gì đến tôi cả. Mẹ đã lặp đi lặp lại điệp khúc ấy cả tuần lễ
nay rồi. Ngay cả Russell cũng chẳng để ý gì đến lời đe dọa đó của mẹ. Nó vẫn cứ
đong đưa người quanh chân mẹ như thể chẳng có gì xảy ra. Có vẻ như mẹ không mấy
hài lòng với kế hoạch vừa được làm mới lại của mình, bởi tôi thấy bà cứ đi lòng
vòng và liên tục quấy rầy tôi trong khi kim đồng hồ vẫn cứ quay đều. Tôi ước gì
bà ấy hãy im miệng lại và để yên cho tôi làm việc. Tôi cảm thấy tuyệt vọng khi
nghĩ đến việc phải hoàn thành mớ công việc này trong khoảng thời gian đang hẹp
lại dần. Tôi chỉ mong có được cái gì đó để ăn. Cứ nghĩ đến chuyện buổi tối
không được đi ngủ là tôi lại thấy sợ.
Có điều gì đó không ổn. Rất
không ổn! Tôi cố tập trung nhìn vào mắt mẹ. Tay phải bà đã cầm con dao lên. Tôi
lại tự nhủ chẳng có gì phải sợ cả. Trước đây bà ấy cũng đã từng làm như vậy rồi
mà. “Đôi mắt”, tôi nhủ thầm. “Phải nhìn vào đôi mắt bà ấy”. Tôi đã nhìn thẳng
vào mắt bà, chẳng có gì khác thường cả vẫn nửa tỉnh nửa đờ đẫn như mọi khi đấy
thôi. Nhưng bản năng trong tôi mách bảo rằng có điều gì đó không ổn. Tôi không
nghĩ rằng bà ấy sắp đánh tôi, nhưng cả người tôi vẫn cứ căng lên chờ đợi. Khi sự
căng thẳng trong tôi đã lên đến tột cùng, tôi mới nhận ra được điều gì là không
ổn. Một phần vì Russell vẫn đang lúc lắc dưới chân, một phần vì cử động của
cánh tay lẫn bàn tay của mẹ khi huơ huơ con dao, nên cả người bầ ấy cứ ngúc ngắc
từ trước ra sau. Ngay lập tức, tôi nghĩ bà ấy sắp ngã.
Mẹ cố gắng lấy lại thăng
bằng. Bà vừa quát Russell để thằng bé thả chân bà ra vừa không ngừng mắng chửi
tôi. Lúc đó, phần thân trên của bà giống như một cái ghế bập bênh không còn khả
năng điều khiển. Không để ý đến những lời đe dọa của mẹ, tôi chỉ tượng tượng đến
cảnh người đàn bà say khướt trước mặt mình sẽ ngã đập mặt xuống sàn nhà. Thế là
tôi tập trung mọi sự chú ý của mình lên khuôn mặt của mẹ. Rồi chỉ trong một cái
nháy mắt, tôi nhìn thấy một vật gì đó lờ mờ bay vụt ra từ tay mẹ. Rồi chỉ trong
một cái nháy mắt, tôi nhìn thấy một vật gì đó lờ mờ bay vụt ra từ tay mẹ. Một cảm
giác đau đớn xé toạc bụng tôi. Tôi cố gắng đứng vững, nhưng hai chân tôi đã khuỵu
xuống, và trời đất quanh tôi bỗng tối đen.
Khi tỉnh dậy, tôi cảm
giác có cái gì đó nóng ấm đang di chuyển trên ngực mình. Phải mất vài giây định
thần tôi mới nhận ra mình đang ở đâu. Tôi đang ngồi dựa vào thành toa lét. Tôi
quay về phía Russell, thằng bé réo lên:
- David sắp chết rồi. Thằng
oắt con sắp chết rồi.
Tôi đưa mắt nhìn xuống bụng.
Tôi thấy mẹ đang quỳ gối, vội vội vàng vàng chặm một miếng gạc dày cộm lên vùng
bụng của tôi, nơi có dòng máu đỏ bầm đang chảy ra. Tôi cố gắng nói gì đó. Tôi
biết đó chỉ là một tai nạn. Tôi muốn mẹ hiểu rằng tôi đã tha thứ cho bà, nhưng
người tôi yếu đến nổi chẳng thể thốt nên lời. Trong khi tôi cố gắng giữ đầu thẳng
để tỉnh táo thì nó cứ luôn gục gặc về phía trước. Tôi không còn khái niệm về thời
gian nữa khi lại chìm vào cơn mê.
Khi tôi tỉnh dậy, mẹ vẫn
còn quỳ ở đó. Bà đang băng bó vết thương dưới ngực của tôi bằng một tấm vải. Bà
làm việc ấy một cách thành thạo. Từ khi chúng tôi còn bé, đã nhiều lần mẹ nói với
Ron, Stan và tôi rằng trước khi gặp cha, bà ấy từng mong muốn được trở thành một
y tá. Bất kỳ lúc nào có tai nạn nào đó xảy ra trong gia đình, bà ấy luôn là người
làm chủ tình hình. Tôi chưa bao giờ mảy may nghi ngờ khả năng này của mẹ. Chỉ
là tôi đang đợi mẹ cho tôi lên xe và đưa tôi đến bệnh viện. Tôi tin chắc bà ấy
sẽ làm như vậy. Vấn đề chỉ là thời gian mà thôi. Tôi có một niềm tin đến kỳ lạ
rằng mọi chuyện sẽ kết thúc. Toàn bộ trò chơi mà trong đó tôi đã phải sống như
một tên nô lệ sẽ chấm dứt. Tôi có cảm tưởng rằng chính tai nạn kia đã trả tự do
lại cho tôi.
Phải mất gần nửa giờ đồng
hồ mẹ mới băng bó xong vết thương cho tôi. Chẳng có chút đau xót thương hại nào
trong ánh mắt của bà ấy. Tôi cứ nghĩ rằng, ít ra bà ấy cũng dỗ dành tôi bằng một
giọng nói dịu dàng chứ. Sau khi đưa mắt nhìn tôi vô cảm, mẹ đứng dậy, rửa tay
và nói với tôi rằng giờ thì tôi có ba mươi phút để rửa cho xong đống chén đĩa.
Tôi trố mắt ngỡ ngàng, cố hiểu xem bà ấy vừa nói gì. Nhưng chỉ vài giây sau đó,
tôi hiểu ngay thông điệp của mẹ. Tương tự như vụ tai nạn tôi bị gãy tay vài năm
trước, mẹ chẳng màng quan tâm đến những gì đã xảy ra.
Tôi không có thời gian để
tự xót thương mình hay than vãn. Đồng hồ vẫn gõ từng nhịp, từng nhịp. Tôi đứng
lên, lảo đảo một lúc, rồi cứ nhắm hướng nhà bếp mà đi. Cứ mỗi bước chân, vết
thương của tôi lại nhói đau đến tận xương cốt. Máu chảy thấm ướt cả cái áo tách
tươm tôi đang mặc. Ngay khi lết được bên bồn rửa chén, tôi tựa cả người vào đó
và thở hổn hển như một con chó già tội nghiệp.
Đứng trong nhà bếp, tôi
nghe thấy tiếng cha đang lật sột soạt mấy tờ báo trong phòng khách. Nhịp thở của
tôi trở nên gấp gáp và khó nhọc vì đau đớn. Tôi chỉ hy vọng mình có thể đến được
chổ cha đang ngồi. Nhưng tôi thấy mình bắt đầu khó thở, và chừng như đã quá đuối
sức, tôi ngã luôn ra sần. Sau đó tôi hiểu mình chỉ nên hít vào và thở ra những
hơi thật ngắn mà thôi. Tôi lại cố hết sức lết vào phòng khách. Vị anh hùng của
tôi đang ngồi trên chiếc ghế trường kỷ. Tôi biết cha sẽ để mắt đến mẹ và đưa
tôi đến bệnh viện. Tôi đứng xiêu vẹo trước mặt cha, chờ ông ấy lật sang trang
báo mới và nhìn thấy tôi. Khi ông ấy vừa ngẩng lên nhìn tôi, tôi lắp bắp:
- Cha ơi!... Mẹ... Mẹ...
Mẹ đâm con...
Tôi hơi sững sờ vì ông ấy
thậm chí còn không có cả một cái nhíu mày.
- Sao vậy? - Ông lên tiếng.
- Mẹ nói rằng nếu con
không rửa chén xong đúng giờ, me... mẹ sẽ giết con.
Thời gian như ngừng trôi.
Tôi có thể nghe thấy tiếng cha thở dài nặng nhọc. Ông đằng hắng lấy giọng rồi
nói:
- À... con... ừ... con
nên trở lại đó và rửa cho xong chén đĩa đi.
Đầu tôi đổ về phía trước
như thể để hứng lấy từng lời cha nói. Tôi không thể tin vào tai mình những gì
cha vừa nói. Ắt hẳn là cha cũng cảm nhận được nỗi hoảng sợ trong tôi. Ông gập tờ
báo lại và lên giọng:
- Lạy chúa! Mẹ có biết
con đang ở đây nói chuyện với cha không? Tốt hơn con nên quay trở lại đó và rửa
cho xong chén đĩa đi. Khốn kiếp thật! Chúng ta không nên gây thêm bất cứ chuyện
gì khiến mẹ con phiền lòng nữa! Cha không muốn chịu đựng điều đó đêm nay đâu...
Cha im lặng một lúc, thở
một hơi thật sâu rồi lại xuống giọng:
- Có nghe cha nói gì
không? Con quay trở vô bếp và rửa cho xong chén đĩa đi. Cha sẽ không nói với mẹ
còn là con đã nói gì đâu, được chứ? Đây sẽ là một bí mật nho nhỏ giữa cha con
ta. Giờ thì quay về nhà bếp, rửa chén đĩa ngay đi. Đi ngay bây giờ đi, trước
khi bà ấy bắt gặp cả hai chúng ta. Đi!
Tôi đứng trước mặt cha, sững
sờ chẳng thốt thêm được điêu gì. Cha thậm chí còn không nhìn tôi. Chỉ cần cha dịch
mép báo sang một bên và nhìn vào mắt tôi, ông ấy sẽ biết; ông ấy sẽ cảm nhận được
nỗi đau đớn trong tôi và rằng tôi cần sự giúp đỡ của ấy biết nhường nào. Nhưng,
vẫn như mọi khi, tôi biết rằng mẹ đã kiểm soát ông ấy như bà đã kiểm soát mọi
thứ trong căn nhà này. Tôi nghĩ cả cha và tôi đều thấu hiểu luật lệ của “gia
đình” - nếu chúng tôi không biết gì về một vấn đề nào đó, có nghĩa là nó không
tồn tại. Chẳng biết phải làm gì tiếp theo, tôi đứng đấy, cúi đầu nhìn những giọt
máu nhuộm đỏ cả một khoảng thảm lót sàn. Từ sâu thẳm trong lòng mình, tôi đã
nghĩ rằng cha sẽ nhấc bổng tôi lên trong vòng tay của ông và đưa tôi đi thật
xa. Thậm chí tôi còn tưởng tượng ra rằng cha sẽ xé toạc cái áo sơ mi ông đang mặc
trên người, để lộ chân tướng mình là một Siêu nhân rồi bế tôi bay vút lên không
trung.
Tôi quay phắt đi. Tất cả
lòng kính trọng của tôi dành cho cha giờ đây đã không còn nữa. Vị cứu tinh
trong trí tưởng tượng của tôi bấy lâu nay thật ra chỉ là một kẻ giả tạo. Tôi cảm
thấy oán giận ông ấy còn hơn cả với mẹ. Tôi ước gì có cách nào đó để tôi có thể
bay đi thật xa, nhưng cơn đau nhói nơi bụng đã đưa tôi trở về với thực tại.
Tôi dùng hết sức lực còn
xót lại của mình để rửa đống chén đĩa. Tôi nhanh chóng nhạn ra rằng nếu cứ cử động
cẳng tay thì vết thương dưới bụng tôi càng thêm đau nhói. Mỗi lần tôi bước qua
bước lại từ bồn rửa chén sang bồng tráng chén thì một cơn đau khác lại kéo đến.
Tôi hoàng toàn kiệt sức. Khi khoảng thời gian 30 phút trôi qua, cũng là lúc cơ
hội có được cái ăn của tôi biến mất.
Tôi chỉ muốn ngã lăn ra
đó và từ bỏ tất cả, nhưng lời hứa của tôi với chính mình từ bao năm qua đã giúp
tôi đứng vững. Tôi muốn cho con mụ độc ác ấy biết rằng mụ không bao giờ có thể
đánh bại được tôi trừ khi tôi chết đi, và rằng tôi đã quyết không bao giờ nhượng
bộ, ngay cả khi đứng trước cái chết. Trong khi đứng rửa chén, tôi đã nghiệm ra
rằng bằng cách đứng trên những đầu ngón chân của mình và dựa hẳn phần người
phía trên vào cạnh bàn thì cơn đau ở phần dưới ngực sẽ dịu lại phần nào. Và
thay vì cứ đi qua đi lại giữa hai cái bồn, tôi rửa một lúc mấy cái rồi chuyển
chúng sang bồn bên kia để tráng một lần. Sau khi lau khô hết chén đĩa, tôi lại
rùng mình khi nghĩ đến việc phải úp chúng lên. Tủ để chén đĩa ở ngay bên trên đầu
tôi, và tôi biết rõ rằng nếu với lên tới đó, tôi sẽ phải chịu đựng một cơn đau
còn khủng khiếp hơn nữa. Thế là tôi úp từng cái một. Tôi cố hết sức nhón chân
lên và ra sức giơ cao cánh tay qua khỏi đầu để đưa từng cái chén đĩa lên cao.
Khi làm gần xong, vết thương của tôi lại nhói lên dữ dội. Tôi ngã lăn ra sàn.
Lúc bấy giờ, áo tôi đã ướt
đẫm máu. Khi đang cố gắng đứng dậy, tôi cảm nhận đôi tay rắn chắc của cha đang
đỡ lấy tôi. Tôi gạt ông ấy ra.
- Để đống chén đĩa ấy cho
cha - Ông nói - Cha sẽ giúp con úp lên. Con nên xuông dưới thay cái áo khác đi.
Tôi quay lưng bước đi mà
không nói một lời nào. Tôi nhìn lên đồng hồ. Mất hơn một tiếng rưỡi để tôi hoàn
tất phần việc của mình. Tay phải của tôi miết chặt vào thành cầu thang trong
lúc tôi chậm chạp lần đường đi xuống. Cứ mỗi bước đi của tôi, máu lại càng thấm
ra nhiều hơn.
Mẹ bắt gặp tôi ở dưới
chân cầu thang. Khi mẹ cởi phăng chiếc áo đẫm mãu ra khỏi người tôi, tôi thấy mẹ
làm nhẹ nhàng như không vậy. Tuy thế, tôi chẳng cảm nhận được một chút thoải
mái nào cả. Chẳng qua đó chỉ là một việc bình thường đối với bà ấy. Trước đây,
tôi đã thấy bà ấy chăm sóc đám vật nuôi trong nhà bằng sự thương yêu ân cần còn
hơn cả những gì bà ấy đối với tôi bây giờ.
Tôi kiệt sức đến nỗi bất
ngờ ngã vào người mẹ trong lúc bà ấy đang mặc cho tôi một cái áo thun quá cỡ đã
cũ kỹ. Tôi nghĩ rằng mẹ sẽ thụi cho tôi một cái, nhưng không, bà đã để cho tôi
được dựa vào người bà một lát. Rồi mẹ bỏ đi, để lại tôi ngồi dưới chân cầu
thang. Một lát sau, mẹ trở lại và đưa cho tôi một ly nước. Tôi đón lấy cái ly
và nốc cạn. Mẹ nói rằng bà không thể cho tôi ăn ngay lúc đó. Bà còn bảo sẽ cho
tôi ăn sau khi tôi cảm thấy khỏe hơn. Giọng nói của bà vẫn đều đều - hoàn toàn
không một chút cảm xúc.
Trộm nhìn ra bên ngoài,
tôi trông thấy trời chiều California đang ngả dần vào màn đem u tịch. Mẹ nói rằng
tôi có thể ra chỗ lối đi dẫn vào ga-ra mà chơi với các anh em của mình. Đầu óc
tôi trở nên mụ mị. Phải mất vài giây sau tôi mới hiểu được mẹ vừa nói gì.
- Đi đi, David. Đi đi. -
Mẹ giục.
Với sự giúp đỡ của mẹ,
tôi khập khiễng bước ra ngoài. Mấy người anh em chỉ liếc nhìn sơ qua tôi rồi lại
tiếp tục tập trung vào việc đốt những cây pháo hoa mừng ngày Quốc khánh 4 tháng
7.
Vài phút trôi qua, mẹ đối
xử với tôi ân cần hơn trước. Bà đứng phía sau vịn vai tôi, chúng tôi cùng đứng
xem các anh em của tôi lấy pháo hoa vẽ những vòng xoắn số tám vào không trung.
- Con có thích một cây
như vậy không? - Mẹ hỏi.
Tôi gật đầu. Bà nắm lấy
tay tôi rồi quỳ xuống giúp tôi đốt pháo. Trong thoáng chốc, tôi mường tượng lại
mùi nước hoa mà mẹ đã dùng vào mấy năm trước. Cũng lâu lắm rồi mẹ không còn xức
nước hoa hay trang điểm nữa.
Trong lúc chơi đùa với
các anh em của mình, tôi không thể không nghĩ tới mẹ và sự thay đổi trong cách
cứ xử của bà ấy đối với tôi. “Bà ấy đang giả vờ với mình chăng?” - Tôi tự hỏi.
- “Những ngày tháng sống trong căn hầm ẩm tháp cuối cùng cũng qua ư? Mình được
trở về với mọi người trong gia đình mình rồi sao?”. Bất giác tôi không thèm
quan tâm tới những điều ấy nữa. Các anh em của tôi dường như cũng đón nhận sự
có mặt của tôi. Tôi đã có một cảm giác thật thân thiện, ấm áp khi ở bên cạnh họ,
một cảm giác mà tôi cứ ngỡ mình sẽ mãi mãi không thể có lại được nữa.
Được một lúc, cây pháo
hoa của tôi cũng cháy hết. Tôi ngoái nhìn về phía vầng thái dương đang dần khuất
vào nền trời đen cao vút. Cũng đã lâu lắm rồi tôi không được ngắm hoàng hôn như
thế này. Tôi nhắm mắt lại, cố hít thật sâu hơi ấm tôi cảm nhận được từ xung
quanh. Bỗng chốc, cơn đau, cái đói và cuộc sống khốn khổ của tôi chừng như tan
biến. Tôi thấy ấm áp, và cảm thấy cuộc sống như được hồi sinh. Tôi lại mở mắt
ra, mong sao mình có thể lưu giữ lại phút giây ấy mãi mãi.
Trước khi đi ngủ, mẹ còn
cho tôi uống thêm nước và cho tôi ăn một chút thức ăn. Tôi thấy mình giống như
một con vật què quặt đang được chăm sóc chờ ngày hồi phục. Nhưng rồi tôi cũng
không để tâm đến điều đó lắm.
Tối đó, tôi vẫn ngủ trên
chiếc cũi cũ kỹ nhỏ bé của mình dưới nhà để xe. Tôi cố không nghĩ đến vết
thương, nhưng tôi không tài nào lờ nó đi được bởi từng cơn đau cứ liên tục nhói
lên và lan khắp cơ thể tôi. Sau cùng, tôi đã thiếp đi do quá kiệt sức. Suốt đêm
đó, tôi đã mơ thấy toàn những cơn ác mộng. Rồi tôi giật mình tỉnh giấc, người lạnh
ngắt và đẫm ướt mồ hôi. Tôi cảm thấy sợ hãi khi nghe có tiếng động lục đục phía
sau lưng. Thì ra là mẹ. Mẹ cúi xuống chườm lên trán tôi một cái khăn lạnh. Mẹ
nói rằng tôi đã bị sốt suốt đêm. Tôi mệt đến lã người nên không thể nói được lời
nào. Đầu óc tôi chỉ miên man nghĩ đến cơn đau đang hành hạ từng thớ thịt của
mình. Sau đó, mẹ trở về phòng của mấy người anh em trai của tôi, cũng gần nhà để
xe. Tôi cảm thấy an tâm hơn khi biết mẹ vẫn đang ở gần đó trông chừng tôi.
Tôi lại lịm người đi rồi
chìm vào cơn mê. Cứ mỗi lần chập chờn như vậy tôi lại mơ thấy một giấc mơ kinh
khủng với những màn mưa đỏ lè và nóng hổi. Trong giấc mơ, tôi thấy mình ướt
sũng trong những cơn mưa đáng sợ ấy. Tôi càng cố lau sạch máu khỏi người thì
máu lại càng lấm lem khắp người tôi. Sáng hôm sau khi tỉnh dậy, tôi nhìn xuống
tay mình thì thấy máu đã đóng khô đầy trên đấy. Phía trước ngực áo tôi đang mặc
cũng đỏ một màu máu. Máu khô còn dính cả trên mặt tôi. Rồi tôi nghe tiếng cửa mở
phía sau lưng. Khi quay lại, tôi thấy mẹ đang tiến về phía tôi. Tôi trông chờ mẹ
sẽ ban cho tôi đặc ân như bà đã đối với tôi tối qua, nhưng hy vọng của tôi chỉ
là một con số không. Bà ấy chẳng ban cho tôi điều gì tốt lành như thế cả. Bằng
giọng lạnh lùng, mẹ bảo tôi hãy tự lau rửa đi để còn làm việc nhà. Khi nghe tiếng
chân mẹ hút dần về phía cầu thang, tôi biết rằng chẳng có bất kỳ một sự thay đổi
nào cả. Tôi sẽ vẫn là một đứa khốn khổ trong gia đình của mình mà thôi.
Khoảng ba ngày sau khi
“tai nạn” xảy ra, tôi tiếp tục bị nóng sốt. Nhưng tôi cũng không dám hỏi xin mẹ
dù chỉ là một viên thuốc aspirin, đặc biệt là khi ấy cha cũng không có nhà. Tôi
biết mẹ đã trở về với đúng bản chất thật của bà ấy. Tôi nghĩ mình bị nóng sốt
là do vết thương. Miệng vết thương trên bụng của tôi đã hở ra gấp nhiều lần kể
từ cái đêm hôm đó. Tôi rón rén bò lê đến bên bồn rửa trong ga-ra. Tôi chọn một
miếng giẻ sạch sẽ nhất trong đống giẻ rách của mình rồi vặn nước ra để thấm ướt
nó. Tôi ngồi xuống, vén lớp áo đã ướt đẫm máu của mình lên. Tôi dùng miếng giẻ
chậm nhẹ vào vết thương, hết sức cẩn trọng vì hãy còn đau quá. Đoạn tôi thu hết
can đảm, hít một hơi thật sâu rồi nhẹ nhàng ấn vào miệng vết thương. Tôi đau đớn
đến nỗi các cơ co rút lại, cả người oằn xuống, đầu va mạnh vào nền xi-măng lạnh
ngắt. Tôi gần như chết ngất đi. Khi cố gượng nhìn vào bụng mình lần nữa, tôi
trông thấy một chất gì đó màu vàng vàng trắng trắng bắt đầu rỉ ra từ vết thương
đang sùi lên đỏ au. Tôi không rành lắm về những thứ như vậy, nhưng tôi hiểu rằng
vết thương của mình đã bị nhiễm trùng. Tôi lồm cồm ngồi dậy, định đi lên cầu
thang để nhờ mẹ lau rửa vết thương cho mình. Nhưng ngay khi vừa nhổm dậy, tôi
đã khựng lại. “Không!” - Tôi tự nhủ. - “Mình không cần sự giúp đỡ của con mụ ấy”.
Tôi cũng có biết sơ qua một số thao tác cơ bản trong sơ cấp cứu, nên tôi cảm thấy
đủ tự tin để tự rửa vết thương của mình. Tôi muốn tự chịu trách nhiệm với chính
bản thân mình. Tôi không muốn phụ thuộc vào mẹ, càng không muốn để bà ấy nắm
thêm quyền kiểm soát tôi.
Tôi xả lại cái giẻ rồi chậm
lên vết thương. Tôi hơi chần chừ khi lại chạm vào chỗ đau của mình. Hai tay tôi
run lên vì sợ, còn nước mắt thì cứ rơi lã chã trên khuôn mặt. Tôi thấy mình sao
giống một đứa bé quá, và tôi ghét cái cảm giác đó. Sau cùng, tôi tự nhủ: “Mày
khóc, thì mày chết. Giờ thì hãy tự lo chăm sóc vết thương đi”. Tôi nhận ra rằng
cái tổn thương về thể xác kia không đến nỗi đe dọa đến tính mạng của mình. Tôi
đã thanh lọc tâm hồn để bằng mọi cách phải thoát khỏi nỗi đau đớn đó.
Nghĩ rồi tôi di chuyển thật
nhanh để nhuệ khí kia không bị mất đi. Tôi giật lấy một mảnh giẻ rách khác, cuộn
nó lại và nhét vào miệng. Tôi tập trung cao độ khi dùng ngón cái và ngón trỏ
bên bàn tay trái ấn vào vùng da xung quanh vết thương. Rồi tôi dùng tay còn lại
để lau sạch mủ trong vết thương. Tôi cứ lặp đi lặp lại những động tác đó cho đến
khi có máu chảy ra, và tôi lại lau sạch máu. Chất màu trắng trong vết thương hầu
như không còn nữa. Vết thương sau khi được lau chùi lại càng trở nên đau đớn
quá sức chịu đựng của tôi. Tôi cắn thật chặt miếng giẻ nhét trong miệng, mọi tiếng
kêu la của tôi đều đã bị bóp nghẹt trong đó. Tôi cảm tưởng như mình đang bị
treo lơ lửng trên một vách đá. Sau khi tôi lau rửa vết thương xong, cổ áo của
tôi cũng ướt đẫm vì không biết bao nhiêu là nước mắt của tôi đã rơi ra.
Vì sợ mẹ bắt gặp tôi
không ngồi đúng nơi quy định, nên tôi bèn dọn dẹp hết đống bầy hầy của mình rồi
vừa đi, vừa bò để đến dưới chân cầu thang. Trước khi kê tay xuống dưới mông làm
đệm, tôi coi lại vết thương một lần nữa. Chỉ có vài giọt máu thấm qua lớp băng
bằng giẻ rách mà thôi. Tôi buộc cho vết thương của mình phải lành. Chẳng hiểu
sao tôi lại tin rằng chắc chắn nó sẽ lành. Tôi thấy tự hào về chính mình. Tôi
ngồi đấy, tưởng tượng mình chính là nhân vật trong một câu chuyện cổ tích, người
đã vượt qua những thử thách vô cùng kỳ quặc để sống sót. Bỗng đầu tôi lại đổ gục
về phía trước, tôi cảm thấy buồn ngủ. Trong giấc mơ, tôi thấy mình đã bay vút
lên không trung giữa một quầng sáng rực rỡ. Tôi còn thấy mình mặc một cái áo
choàng màu đỏ... Tôi là siêu nhân.
Chương 6
Khi cha vắng nhà
Sau tai nạn với con dao ấy,
cha ngày càng ít ở nhà hơn. Ông luôn việc ra nhiều lý do để nói với cả nhà về sự
vắng mặt của mình, nhưng riêng tôi thì tôi không bao giờ tin vào những lý do ấy.
Những lần như thế, tôi thường ngồi run rẩy trong ga-ra, chỉ ước sao cha đừng bỏ
tôi mà đi. Mặc cho những gì đã xảy ra, tôi vẫn luôn nghĩ cha là người có thể bảo
vệ được cho tôi. Những lúc có ông ở nhà, hình phạt mà mẹ dành cho tôi chỉ bằng
một nửa so với lúc cha đi vắng.
Mỗi khi ở nhà, cha thường
giúp tôi rửa chén đĩa sau bữa cơm tối. Cha sẽ rửa còn tôi có nhiệm vụ lau khô.
Trong lúc làm việc, hai cha con cố nói chuyện thật khẽ sao cho cả mẹ và mấy anh
em trai của tôi không thể nghe thấy được. Cũng có lúc cả hai cha con chỉ im lặng,
chẳng nói gì cả. Nhưng rồi cha luôn là người phá tan bầu không khí im lặng căng
thẳng đó.
- Con thế nào rồi, Cọp
con? - Cha thường hỏi tôi như thế.
Được nghe lại cái tên mà
cha đã dùng để gọi tôi từ hồi tôi còn bé tí đã khiến khuôn mặt u buồn của tôi
cũng phải bật cười.
- Con ổn cha ạ. - Tôi trả
lời cha.
- Hôm nay con có gì để ăn
không vậy?
Đáp lại câu hỏi của cha
thường là cái lắc đầu kèm theo vẻ mặt buồn bã của tôi.
- Đừng lo. Một ngày nào
đó cha con mình sẽ cùng thoát khỏi căn nhà điên khùng này. - Cha thường trấn an
tôi như vậy.
Tôi biết cha ghét ở nhà,
và tôi có cảm giác như tất cả những điều đó là do lỗi của tôi. Tôi nói với cha
rằng tôi sẽ ngoan ngoãn và sẽ không ăn cắp thức ăn nữa. Tôi còn nói với cha là
tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa, sẽ làm việc nhà giỏi hơn nữa. Khi nghe tôi nói những
lời đó, lúc nào cha cũng mỉm cười rồi xoa đầu tôi mà trấn an rằng tôi không có
lỗi gì cả.
Đôi khi trong lúc đang
lau chén đĩa, chẳng hiểu sao trong tôi lại ánh lên một tia hy vọng mỏng manh.
Tôi biết rằng có lẽ cha sẽ chẳng làm gì để chống lại mẹ, nhưng mỗi khi đứng bên
cạnh ông, tôi lại có cảm giác an toàn.
Nhưng rồi mẹ đã tạo áp lực
khiến cha không thể giúp tôi rửa chén nữa. Việc này cũng dễ hiểu bởi bà từng đặt
dấu chấm hết cho tất cả những gì tốt đẹp mà tôi đã có trong quá khứ. Bà ấy nhấn
mạnh rằng thằng nhãi ranh không cần bất cứ một sự giúp đỡ nào cả. Bà còn nói rằng
cha đã quá ưu ái tôi mà không dành đủ sự quan tâm cho những thành viên khác
trong gia đình. Thế là cũng như những lần trước, cha đầu hàng mà không hề có một
chút phản kháng. Giờ thì mẹ đã hoàn toàn kiểm soát được cả gia đình này rồi.
Một thời gian không lâu
sau đó, cha bắt đầu vắng nhà kể cả vào những ngày nghỉ của ông. Thỉnh thoảng
cha chỉ tạt ngang nhà rồi lại đi ngay. Sau khi gặp những người anh em trai của
tôi, cha sẽ đi tìm tôi để nói một vài câu, rồi lại đi. Những lúc ấy, thường thì
tôi đang rửa chén đĩa hoặc đang lui cui làm việc nhà ở một xó xỉnh nào đó. Những
lần cha tạt về nhà như thế không bao giờ quá mười phút, để rồi sau đó cha lại
trở về với nỗi cô độc của mình. Nhiều người vẫn thường bắt gặp cha ngồi một
mình trong quán rượu. Khi trò chuyện với tôi, cha vẫn hay nói rằng cha đang lập
kế hoạch để cả hai cha con cùng trốn khỏi nhà. Điều cha nói luôn khiến tôi mỉm
cười hạnh phúc, nhưng sâu thẳm trong lòng mình, tôi hiểu rằng đó chỉ là suy
nghĩ hoang đường mà thôi.
Một ngày nọ, cha quỳ xuống
bên cạnh tôi và nói rằng ông rất xin lỗi tôi. Tôi nhìn vào mắt ông. Sự thay đổi
ở dáng vẻ bề ngoài của cha khiến tôi cảm thấy hoảng sợ. Đôi mắt ông lờ đờ mệt mỏi
với những vết thâm quầng, cổ và khuôn mặt của cha đỏ bừng như gà chọi. Đôi vai
một thời vô cùng rắn chắc của ông giờ đây chừng như chỉ chực đổ sụp xuống mà
thôi. Mái tóc đen nhánh của ông ngày xưa giờ đã ngã màu muối tiêu. Hôm ấy, trước
khi cha bỏ đi, tôi đã ôm chặt lấy cha bởi tôi thật sự chẳng biết khi nào mới được
gặp lại ông.
Ngày hôm đó, sau khi làm
xong việc nhà, tôi lại xuống nhà dưới. Mẹ đã lệnh cho tôi phải giặt hết chỗ quần
áo rách nát của tôi cùng với một đống giẻ hôi hám khác. Nhưng sự ra đi của cha
đã khiến tôi quá đau buồn, và tôi chỉ còn biết vùi mình trong đống giẻ rách hôi
hám ấy mà than khóc. Tôi đã kêu khóc mong cha quay trở về và mang tôi đi thật
xa. Nhưng chỉ được một lúc, tôi đình thần và trở về với thực tại. Tôi bắt tay
vào việc giặt giũ đống quần áo với những lỗ thủng như “phó mát Thụy Sỹ” của
mình. Tôi đã không còn quan tâm đến sự tồn tại của mình nữa rồi. Căn nhà của mẹ
đã trở nên quá sức chịu đựng đối với tôi. Tôi ước sao mình có thể thoát ra khỏi
cái nơi mà giờ đây tôi chỉ có thể gọi là “Căn nhà điên rồ”.
Trong khoảng thời gian
cha bỏ đi, có lần mẹ đã bỏ đói tôi suốt mười ngày liền. Dù tôi có cố gắng thế
nào đi nữa, tôi cũng không thể hoàn tất việc nhà trong khoảng thời gian mẹ đặt
ra. Và kết quả tôi thường xuyên bị bỏ đói. Mẹ còn rất cẩn thận để tôi không thể
lấy cắp được bất kỳ miếng thức ăn nào. Bà ấy tự tay dọn bàn ăn tối rồi quẳng hết
thức ăn thừa vào máy nghiền rác. Mỗi ngày, trước khi tôi đem thùng rác đi đổ,
bà đều lục tung nó lên để kiểm tra. Bà ấy khóa cửa tủ lạnh và cất kỹ chìa khóa.
Tôi cũng từng quen với việc đi học với cái bụng đói, có khi đói đến ba ngày liền,
nhưng khi mẹ bỏ đói tôi đến cả mười ngày thì tôi không thể chịu đựng nổi. Nước
là thứ duy nhất giúp tôi sống sót. Nhân lúc cho nước vào mấy cái khuôn làm đá bằng
kim loại, tôi toàn kê miệng vào góc khuôn để hứng nước uống. Còn khi ở nhà dưới,
mỗi lần muốn uống nước, tôi đều rón rén đến bên bồn rửa và mở van vòi nước rồi
ngậm cái vòi kim loại lạnh băng ấy uống một bụng căng đầy mới thôi. Những lúc ấy,
tôi chỉ cầu mong sao cho ống nước không rung lên để mẹ không phát hiện, nếu
không, chắc bà ấy sẽ giết tôi mất.
Mẹ bỏ đói tôi đến ngày thứ
sáu thì sức lực trong tôi gần như kiệt quệ hoàn toàn. Sáng hôm ấy tôi thức dậy,
chỉ có thể tựa mình vào thành giường chứ không tài nào gượng dậy nổi. Cả ngày
hôm ấy, tôi làm việc nhà chậm chạm như một con sên. Tôi thấy cả người mình như
bị tê liệt. Mọi cảm nhận trong tôi cũng không còn rõ rang. Phải mất đến vài
phút tôi mới hiểu được mỗi câu mẹ hét vào mặt tôi. Khi tôi từ từ ngước đầu lên,
căng mắt ra để nhìn mẹ, thì tôi nhận ra rằng đối với bà ấy, tất cả chỉ như một
trò chơi - một trò chơi mà bà ấy vô cùng thích thú.
- Chao ôi, tội nghiệp
cưng quá. - Mẹ nói bằng giọng điệu chế nhạo.
Rồi bà nhếch mép cười, hỏi
rằng tôi cảm thấy thế nào. Mẹ cười thỏa mãn khi tôi cầu khẩn bà hãy cho tôi ăn.
Cuối ngày hôm đó, sau tất cả những gì đã xảy ra, tận đáy lòng mình tôi cứ hy vọng
mẹ sẽ cho tôi ăn một chút gì đó, bất cứ thứ gì cũng được. Đến giờ phút này thì
tôi cũng chẳng quan tâm đến việc tôi sẽ tọng thứ gì vào miệng.
Một buổi tối nọ, sau khi
tôi đã làm xong việc nhà, mẹ ném trước mặt tôi một đĩa thức ăn. Đối với tôi,
đĩa thức ăn thừa nguội lạnh ấy đúng là một bữa tối thịnh soạn. Nhưng tôi chợt
thấy mình cần phải đề phòng, bỗng nhiên mẹ tốt đến nỗi không thể tin được.
- Hai phút! - Mẹ quát lên
- Mày có hai phút để ăn. Tất cả chỉ có thế.
Nhanh như chớp tôi thộp lấy
cái nĩa. Nhưng ngay khi tôi còn chưa kịp ghim lấy thức ăn thì mẹ giật phăng cái
đĩa khỏi tay tôi và trút hết tất cả vào máy nghiền rác.
- Muộn rồi. - Mẹ cười
khinh bỉ.
Tôi đứng chết lặng trước
mặt mẹ. Tôi không biết phải nói gì, cũng chẳng biết phải làm gì cả. Tôi chỉ có
thể tự hỏi “Tại sao?”. Tôi không hiểu tại sao mẹ lại đối xử với tôi như vậy.
Đĩa thức ăn đã gần tôi như vậy mà, tôi còn ngửi được mùi vị của nó nữa. Tôi biết
mẹ muốn tôi phải khuất phục, nhưng tôi đã đứng phắt dậy và nuốt ngược nước mắt
vào trong.
Ngồi một mình trong
ga-ra, tôi cảm thấy như mình đang mất dần khả năng kiểm soát mọi thứ. Tôi them
được ăn. Tôi muốn được gặp cha. Nhưng trên tất cả, tôi muốn mình được tôn trọng,
dù chỉ là một chút thôi cũng được. Kê hai tay dưới mông, tôi ngồi đó bất động.
Tôi có thể nghe thấy tiếng mấy an hem trai của tôi mở cửa tủ lạnh để lấy đồ ăn
tráng miệng. Tôi ghét phải nghe âm thanh đó. Tôi nhìn lại mình. Da dẻ thì vàng
vọt, các cơ trên người tôi thì chảy ra, mỏng mảnh. Mỗi khi nghe thấy tiếng bọn
họ cười trọng lúc xem ti-vi, tôi lại kêu tên chúng mà nguyền rủa. “Những đứa
con hoang may mắn! Tại sao bà ấy không thay phiên đánh đập bọn chúng để thay đổi
không khí nhỉ?”. Tôi vừa trút mọi cảm xúc căm thù vừa òa khóc nức nở.
Gần mười ngày tôi sống mà
không có thứ gì vào bụng. Cứ đợi tôi rửa xong dống chén đĩa của bữa tối là mẹ lại
bày ra trò chơi “mày có hai phút để ăn”. Trên đĩa bao giờ cũng chỉ có một vài mẩu
thức ăn thừa nguội lạnh. Tôi biết bà sẽ lại giật lấy đĩa thức ăn khỏi tay tôi lần
nữa, vì thế lần này tôi hành động nhanh hơn và có tính toán hơn. Tôi không cho
mẹ cơ hội để giành lấy đĩa thức ăn rồi quẳng hết tất cả vào máy nghiền rác như
thế, tôi đã chộp lấy cái đĩa và nhanh chóng nuốt tất cả vào bụng mà không kịp
nhai. Chỉ trong vài giấy, tôi đã ngốn hết tất cả những gì có trên đĩa và còn liếm
nó sạch bong.
- Mày ăn như một con heo
vậy. - Mẹ hầm hè.
Tôi cúi gằm mặt như thể
tôi rất quan tâm đến những gì bà ấy đang nói. Nhưng trong bụng tôi lại cười vào
mặt bà ấy. Tôi nhủ thầm: “Đồ khốn nạn! Bà muốn nói gì cũng được! Miễn là tôi có
cái để ăn!”.
Mẹ còn có một trò yêu
thích khác nữa dành cho tôi mỗi khi cha vắng nhà. Mẹ bảo tôi đi lau rửa nhà tắm
trong khoảng thời gian quy định như thường lệ. Nhưng lần này, bà ấy lấy một cái
xô, đổ vào đấy hỗn hợp amoniac và thuốc tẩy Clorox, rồi bà đặt cái xô trong
phòng tắm và đóng cửa lại. Lần đầu làm như vậy, mẹ nói rằng bà ấy đã đọc một
bài báo và muốn thử xem sao. Tôi làm ra vẻ như mình sợ hãi lắm vậy, nhưng thực
tế, tôi lại chẳng mảy may quan tâm. Tôi đã rất dửng dưng với những gì sắp xảy
đên với mình. Chỉ khi mẹ đóng cánh cửa lại và cắm không cho tôi mở ra, tôi mới
bắt đầu cảm thấy lo lắng thực sự. Trong căn phòng khóa kín, không khí thay đổi
một cách nhanh chóng. Từ góc phòng tắm, tôi bò lên đến nhìn vào cái xô. Một làn
khói mỏng màu xám bốc lên trần nhà. Khi ngửi thấy thứ mùi ấy, tôi đã quỵ xuống
và bắt đầu khạc nhổ dữ dội. Cổ họng của tôi giống như đạng bị đốt cháy. Chỉ
trong vòng vài phút, cổ họng tôi khô khốc và đau buốt. Thứ khí sinh ra từ phản ứng
giữa amoniac và thuốc tấy Clorox làm nước mắt tôi chảy giàn giụa. Trong tình cảnh
ấy, tôi càng phát cuồng vì nghĩ đến việc có thể mình sẽ không hoàn thành việc
lau rửa nhà tắm đúng thời hạn mẹ giao.
Sau vài phút, tôi cảm
giác như mình có thể khạc nhổ hết lục phủ ngũ tạng của mình ra ngoài. Tôi biết
mẹ sẽ chẳng bao giờ thương tình mà mở cửa ra. Để sống sót trong trò chơi mới của
bà ấy, tôi phải dùng đến cái đầu của mình. Nằm lăn lộn dưới sàn nhà tắm lát gạch
vuông, tôi căng người ra, cố hết sức dùng chân đấy nhẹ cái xô về phía cánh cửa.
Tôi làm như vậy vì hai lý do: Tôi muốn đẩy cái xô càng xa tôi càng tốt, và lý
do thứ hai là trong trường hợp mẹ mở cửa, tôi muốn bà ấy phải lãnh trọng cái thứ
do chính bà ấy đã tạo ra. Tôi cuộn người trong góc nhà tắm, dùng chính cái giẻ
lau để che chắn cho khuôn mặt khỏi hít phải cái thứ chất độc chết người ấy. Trước
khi đắp miếng giẻ lên mặt, tôi đã nhúng ướt nó bằng nước trong bồn cầu. Tôi
không dám mở vòi nước trên bồn rửa vì sợ mẹ nghe thấy tiếng nước chảy. Qua lớp
vải mỏng, tôi vẫn cảm nhận rõ làn khí kia đã bao phủ khắp phòng tắm. Tôi thấy
như mình đang mắc kẹt trong một căn phòng chứa đầy hơi ngạt. Bỗng tôi nhớ đến
cái lỗ thông hơi nhỏ trên sàn nhà gần chân tôi. Tôi biết rằng cứ mỗi vài phút
là nó sẽ tự mở ra rồi đóng lại. Thế là tôi liền kê mặt vào sát cái lỗ thông hơi
đó, cố hít vào phổi càng nhiều không khí càng tốt. Khoảng nửa tiếng sau, mẹ mở
cửa ra và ra lệnh cho tôi đi đổ xô nước xuống cái cống dưới ga-ra trước khi tôi
làm cho cả căn nhà của bà ấy sặc mùi hôi thối. Lúc ở nhà dưới, suốt cả giờ đồng
hồ tôi toàn ho ra máu. Trong tất cả các trò chơi điên rồ của mẹ, tôi căm ghét
trò phòng hơi ngạt này nhất.
Kỳ nghỉ hè trôi qua, tôi
chắc hẳn mẹ đã cảm thấy nhàm chán lắm khi cứ phải tìm ra cách mới để hành hạ
tôi. Một ngày nọ, khi tôi vừa hoàn tất phần việc nhà buổi sáng, bà bảo tôi ra
ngoài để nhận việc cắt cỏ. Việc này cũng chẳng phải mới mẻ gì đối với tôi. Bởi
suốt kỳ nghỉ lễ Phục sinh vào mùa xuân trước đó, mẹ cũng đã bắt tôi đi cắt cỏ.
Bà ấy giao khoán cho tôi một khoản thu nhất định và lệnh cho tôi phải mang đúng
số tiền ấy về cho bà. Số tiền bắt buộc ấy luôn vượt quá khả năng của tôi. Do bị
dồn vào đường cùng, một lần tôi đã ăn cắp chín đô-la trong con heo đất của một
cô bé nhà hàng xóm. Chỉ vài giờ sau đó, cha của cô bé sang gõ cửa nhà tôi. Dĩ
nhiên, mẹ tôi trả lại tiền và mắng tôi. Sau khi người đàn ông ấy ra về, bà đã
đánh tôi một trận đến khi cả người tôi bầm tím hết mới thôi. Sao bà ấy không hiểu
rằng tôi ăn cắp chỉ để có đủ tiền cống nộp cho bà ấy mà thôi?
Công việc cắt cỏ trong
mùa hè này của tôi cũng diễn ra không mấy suôn sẻ so với kỳ nghỉ lễ Phục sinh lần
trước. Tôi đến từng nhà, hỏi từng người xem họ có cần cắt cỏ không. Chẳng ai có
nhu cầu. Bộ quần áo rách nát hai cánh tay khẳng khiu chắc khiến cho bộ dạng của
tôi trông thảm hại lắm. Một phụ nữ có vẻ rất thông cảm cho hoàn cảnh của tôi đã
gói cho tôi bữa trưa đựng trong một cái túi màu nâu rồi dẫn tôi ra đường. Sau
khi đi thêm hơn nữa dãy nhà nữa, có một cặp vợ chồng đồng ý thuê tôi cắt cỏ cho
nhà của họ. Xong việc, tôi nhanh chóng chạy về nhà, trên tay vẫn khư khư cái
túi đựng thức ăn màu nâu. Tôi đã định giấu nó đi trước khi vào nhà, nhưng không
kịp. Ngay lúc tôi về gần đến nhà, mẹ cũng vừa lái x era ngoài. Trông thấy tôi,
bà thắng gấp tấp xe vào lề. Vừa thấy mẹ, tôi vội giơ hai tay mình lên trời như
một tên tội phạm. Tôi nhớ lúc đó tôi chỉ ước sao cho mình có thể giữ được gói
thức ăn, chỉ một lần thôi cũng là quá tốt với tôi rồi.
Mẹ lao ra khỏi xe, một
tay giằng lấy cái túi màu nâu, tay kia thoi vào người tôi túi bụi. Rồi bà ném
tôi vào xe, lái thẳng nhà của người phụ nữ đã cho tôi gói thức ăn. Người phụ nữ
không có nhà. Mẹ đinh ninh rằng tôi đã lẻn vào nhà người ta và tự làm bữa ăn đó
cho mình. Tôi biết việc tôi có được thức ăn không phải do mẹ bố thí chính là một
tội lỗi khủng khiếp nhất. Tôi chỉ biết im lặng, nhưng trong thâm tâm tôi đã tự
xỉ vả mình sao không giấu gói thức ăn đó sớm hơn.
Về đến nhà, trò “bò mười
vòng quanh nhà” khiến tôi ngã song soài xuống sàn. Rồi mẹ bảo tôi ra sân sau ngồi
để bà đưa “các con của bà” đi sở thú chơi. Chỗ mẹ bắt tôi ngồi đầy những hòn đá
to có đường kính cỡ ba phân. Khi tôi kê hai tay dưới mông và ngồi trong tư thế
của một “tù binh chiến tranh”, tôi cảm giác máu trong người mình như ngừng chảy.
Tôi bắt đầu mất đi niềm tin vào Chúa. Tôi nghĩ Ông ta chắc hẳn phải ghét tôi lắm.
Một cuộc sống như thì còn sống để làm gì? Mọi nỗ lực cho sự tồn tại dù chỉ là mỏng
manh nhất của tôi đều trở nên vô ích. Mọi cố gắng của tôi để chiến thắng được mẹ
cũng là vô ích. Lúc nào cũng có một cái bóng đen to lớn bao phủ lấy tôi.
Ngay cả mặt trời dường
như cũng muốn lẩn tránh tôi, nó ẩn mình sau một đám mây lớn trôi lờ lững phía
trên kia. Tôi thu mình ngồi ủ rũ cùng những giấc mơ cô độc của mình. Chẳng biết
tôi đã ngồi đó được bao lâu, nhưng rồi tôi giật mình khi nghe tiếng xe của mẹ
chạy vào ga-ra. Thời gian ngồi trên đá của tôi kết thúc. Không biết mẹ sẽ dành
cho tôi trò gì nữa đây. Tôi cầu nguyện sao cho đó sẽ không phải là trò phòng
hơi ngạt. Từ trong nhà xe, bà hét vọng ra bảo tôi lên nhà trên. Rồi bà dẫn tôi
vào nhà tắm. Tim tôi như ngừng đập. Tôi thấy mình sao bi đát quá. Tôi bắt đầu
ra sức hít thở thật nhiều không khí vì biết rằng lát nữa đây tôi sẽ rất cần nó.
Nhưng tôi hơi ngạc nhiên
khi chẳng thấy có cái xô hay chai lọ nào trong nhà tắm cả. “Mình thoát chết rồi
sao?” - Tôi tự hỏi. Chuyện này có vẻ như quá dễ dàng. Tôi nép người rụt rè quan
sát mẹ vặn vòi nước lạnh cho nước chảy vào bồn tắm. Quái lạ thật, sao mẹ không
mở luôn vòi nước nóng kia chứ. Khi nước lạnh đã chảy đầy vào bồn tắm, mẹ lột hết
quần áo của tôi và bắt tôi bước vào. Tôi run rẩy bước vào trong bồn tắm và nằm
xuống. Một cái lạnh thấu tim gan chạy khắp cơ thể tôi.
- Thấp người xuống! - Mẹ
thét lên - Cho cái mặt của mày xuống dưới nước như thế này này.
Nói rồi bà khom người,
hai tay chộp lấy cổ tôi, nhận đầu tôi xuống nước. Theo bản năng, tôi vùng vẫy,
quẫy đạp, cố gắng một cách vô vọng ngoi đầu lên khỏi mặt nước để thở. Nhưng bàn
tay gọng kìm của bà quá mạnh. Bị nhấn đầu xuống nước, nhưng tôi vẫn cố mở to mắt
để còn hiểu chuyện gì đang xảy ra. Trong lúc vùng vẫy la hét, tôi thấy những quả
bóng nước đua nhau thoát ra từ miệng tôi rồi nổi lên mặt nước. Càng cố vùng vẫy,
cảm giác ngộp thở càng nhanh chóng cuốn lấy tôi. Những quả bóng nước nhỏ dần,
nhỏ dần rồi thưa hẳn. Tôi biết mình đang đuối dần đi. Nhưng bản năng sinh tồn
khiến tôi lại cố sức chống chọi điên cuồng. Tôi trồi người lên và túm lấy vai
bà ấy. Trong lúc hoảng loạn, hẳn là các ngón tay của tôi đã bấu vào bà ấy rất mạnh
nên bà mới buông tôi ra. Bà ấy nhìn tôi mà thở không ra hơi:
- Giờ thì mày phải tự ngụp
đầu xuống nước như vậy đi, nếu không thì lần sau mày sẽ phải chịu như thế lâu
hơn nữa đấy!
Tôi hít một hơi dài rồi từ
từ dìm đầu mình xuống nước. Tôi cố tình chừa lại đúng cái mũi bên trên mặt nước
mà thôi. Tôi thấy mình không khác gì một con cá sấu nằm dưới đầm lầy. Khi mẹ
quay lưng rời khỏi nhà tắm, tôi đã hiểu bà ấy muốn gì ở tôi. Nằm duỗi thẳng tay
chân trong bồn tắm, tôi cảm nhận rõ cái lạnh thấu xương đang ăn dần ăn mòn da
thịt mình. Cảm giác tê buốt ấy chẳng khác nào tôi đang bị nhốt trong một cái tủ
lạnh. Tôi sợ mẹ đến nổi không dám cử động, chỉ cố giữ cho đầu mình luôn ở bên
dưới mặt nước theo lệnh của bà ấy.
Nhiều giờ trôi qua, da
tôi bắt đầu nhăn nhúm lại. Tôi không dám động vào bất cứ phần nào trên than thể
của mình để làm ấm nó. Thỉnh thoảng tôi nhổm cao đầu lên khỏi mặt nước để tai
có thể nghe thấy mọi động tĩnh xung quanh. Mỗi khi nghe thấy có tiếng ai đó gần
nhà tắm, tôi lại lẳng lặng dìm đầu xuống dưới mặt nước lạnh băng.
Tiếng bước chân tôi nghe
thường là do mấy người an hem trai của tôi đi về phòng ngủ hoặc vào nhà tắm để
sử dụng toa-lét. Thấy tôi nằm đó trong bộ dạng như vậy, họ chỉ liếc nhìn tôi lắc
đầu rồi bỏ đi. Tôi nhắm mắt cố tưởng tượng mình đang ở một nơi nào khác, nhưng
tôi thật sự không còn tâm trí và sức lực đâu mà mơ mộng nữa.
Trước khi vào bàn ăn tối,
mẹ bước vào nhà tắm và hét vào mặt tôi, bảo tôi hãy ra khỏi bồn tắm mà mặc quần
áo vào. Tôi lập tức làm theo, chộp lấy một cái khăn tắm toan lau khô người.
- Ồ, không! - Bà ta lại
hét lên - Mày cứ thế mặc quần áo vào cho tao!
Không chút do dự, tôi
ngoan ngoãn làm theo lệnh của bà. Rồi cũng theo yêu cầu của bà, tôi chạy ra sân
sau và lại ngồi trên mấy cục đá trong bộ quần áo ướt sũng. Mặt trời đang dần
khuất bóng, nhưng nửa phần sân ngoài cùng vẫn còn sáng lắm. Tôi men đến ngồi ở
nơi có ánh nắng, nhưng mẹ bắt tôi phải ngồi vào chỗ nào có bóng râm. Ngồi trong
góc sân với tư thế của một tù nhân chiến tranh, tôi bắt đầu run cầm cập, hai
hàm răng đánh vào nhau kêu lạch cạch. Tôi chỉ muốn được sưởi ấm dù chỉ vài giây
ít ỏi thôi, nhưng cứ mõi phút trôi qua, ánh mặt trời lại nhạt dần và cơ hội cho
tôi hong khô quần áo hầu như chỉ là ảo tưởng. Qua ô cửa sổ ở nhà trên, tôi có
thể nghe thấy những âm thanh lanh canh của chén đĩa trong lúc “gia đình” mình
chuyền cho nhau những đĩa thức ăn đầy ắp. Thi thoảng tôi còn nghe thấy những
tràng cười ngả ngớn vọng xuống. Từ lúc cha còn ở nhà, tôi đã biết mẹ nấu món gì
cũng ngon. Tôi muốn mon men đến gần để xem họ ăn uống, nhưng tôi không dám. Tôi
thuốc về một thế giới hoàn toàn khác. Thậm chí tôi còn không được phép liếc
nhìn những người hạnh phúc hơn tôi.
Dìm đầu trong bồn tắm và
ngồi trên đá ở sân sau đã sớm trở thành hình phạt thường xuyên và quen thuộc.
Thỉnh thoảng khi tôi đang bị bắt nằm trong bồn tắm, các an hem của tôi còn dẫn
bạn bè của chúng đến để nhìn cảnh tôi trần truồng. Mỗi khi thấy tôi như thế, bọn
chúng vẫn thường hỏi một cách dè bỉu:
- Lần này cậu ấy phạm lỗi
gì vậy?
Và lần nào cũng vậy, bao
giờ các an hem của tôi cũng chỉ nhún vai và trả lời gọn lỏn:
- Tớ không biết.
Mùa thu đến, bọn trẻ
chúng tôi lại bước vào mùa tựu trường. Đối với tôi, được đi học trở lại là niềm
vui khôn xiết bởi tôi sẽ phần nào thoát khỏi cuộc sống ảm đạm, u tối khi ở nhà.
Nhà trường thông báo giáo viên dạy lớp bốn của chúng tôi đang bị bệnh, vì thế
chúng tôi có cô giáo dạy thế trong hai tuần đầu tiên. Cô giáo dạy thế ấy trẻ
hơn nhiều so với hầu hết các giáo viên khác, và trông cô cũng rất phúc hậu nữa.
Vào cuối tuần lễ thứ nhất, cô đã tặng những que kem mát lạnh cho những học sinh
có hạnh kiểm tốt. Tôi không nằm trong số đó ở tuần đầu tiên, nhưng tôi đã cố gắng
rất nhiều và nhận được phần thưởng của cô vào cuối tuần lễ thứ hai. Cô còn mở
cho chúng tôi nghe đĩa nhạc gồm những bài hát nổi tiếng. Chúng tôi thật sự rất
quý mến cô. Buổi chiều thứ Sáu hôm ấy, tôi không chịu ra về. Sau khi các bạn học
khác của tôi về hết, cô cúi xuống sát bên tôi và nói rằng tôi phải về nhà thôi.
Cô còn nói rằng cô biết tôi là một học sinh cá biệt. Tôi nói với cô tôi muốn được
ở bên cạnh cô. Cô ôm lấy tôi một lát rồi đứng dậy và mở bài hát mà tôi thích nhất.
Sau cùng tôi cũng phải ra về. Vì về trễ, nên tôi cố hết sức chạy về nhà càng
nhanh càng tốt và tiếp tục chạy đua với núi công việc của mình. Xong việc, mẹ lại
bắt tôi ra ngoài sân, ngồi lên trên cái bục xi-măng lạnh cóng.
Hôm thứ Sáu đó, khi nhìn
lên bầu trời u ám dày đặc một màn sương mờ, trong tôi như bật khóc. Cô giáo ấy
đã đối xử rất tốt với tôi. Cô ấy đối xử với tôi như với một con người thực sự,
chứ không phải như với một thứ rác rưởi nằm sâu dưới cống rãnh. Tôi ngồi đó, cảm
thấy thương cảm cho chính mình. Rồi tôi tự hỏi không biết giờ này cô giáo đang ở
đâu và cô đang làm gì. Tôi đã không hiểu được cảm giác đó là thế nào, nhưng
hình ảnh cô giáo gần như đã chiếm trọn trái tim tôi.
Tôi biết chắc rằng đêm
hôm đó và cả hôm sau nữa, tôi sẽ bị bỏ đói. Kể từ khi cha không còn ở nhà, những
ngày cuối tuần đối với tôi quả là những ngày tồi tệ. Ngồi trên bậc thềm dưới
màn đêm giá lạnh ngoài sân, tôi nghe rõ tiếng mẹ đang cho các an hem của tôi
ăn. Nhưng tôi không quan tâm. Tôi nhắm mắt lại, gương mặt dịu dàng đang mỉm cười
của cô giáo lại hiện rõ trong tôi. Đêm hôm ấy, tôi ngồi run rẩy giữa trời đêm
giá lạnh, nhưng vẻ đẹp và sự tử tế của cô giáo đã khiến lòng tôi ấm lại.
Vào tháng Mười, cuộc sống
khốn khổ của tôi chuyển sang giai đoạn cao trào. Thức ăn ở trường tôi trở nên
khan hiếm. Ngoài ra, tôi còn trở thành nạn nhân của bọn học sinh côn đồ, chúng
có thể đánh tôi bất cứ khi nào chúng muốn. Sau giờ học, tôi đều chạy về nhà và
nôn hết những gì có trong bụng ra cho mẹ kiểm tra. Có hôm mẹ để cho tôi bắt đầu
làm việc nhà ngay, nhưng cũng có hôm bà lại muốn chơi trò đổ đầy nước lạnh vào
bồn tắm rồi bắt tôi dìm đầu vào. Nếu hôm nào thực sự khỏe, bà ấy sẽ pha cho tôi
hỗn hợp hơi ngạt trong nhà tắm. Còn hôm nào bà ấy chán ngán vì cứ phải lặp đi lặp
lại các hình phạt với tôi xung quanh nhà, bà lại đẩy tôi ra đường để đi làm
công việc cắt cỏ; tất nhiên là chỉ sau khi đánh đập tôi chán chê mà thôi. Có
vài lần bà ấy còn dùng dây xích chó để quất vào người tôi. Rất đau, nhưng tôi
đã cố cắn răng chịu đựng. Nhưng đau đớn nhất đối với tôi là bị mẹ dùng cán chổi
đánh từ phía sau vào hai chân. Có khi những cú đánh thẳng tay đó khiến tôi ngã
sống soài trên nền nhà, đau đớn đến nỗi không thể gượng dậy. Có lần sau khi bị
đánh xong, tôi cũng phải cố lồm cồm bò dậy rồi tập tễnh xuống đường, tay đẩy
cái máy cắt cỏ cũ kỹ, có lê lết từ nhà này sang nhà khác để xin cắt cỏ và kiếm
tiền mang về cho bà ấy.
Thế rồi cũng có một ngày
cha tạt ngang về nhà, nhưng rồi mọi thứ chẳng khác gì so với lúc không có cha,
bởi mẹ đã cấm không cho cha gặp tôi. Những tia hy vọng còn sót lại trong tôi bỗng
trở nên mong manh hơn bao giờ hết, và tôi bắt đầu tin rằng cuộc đời của tôi sẽ
mãi mãi không bao giờ thay đổi. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ làm nô lệ cho mẹ đến khi
nào tôi chết đi mới thôi. Từng ngày trôi qua, ý chí và nghị lực sống trong tôi
trở nên cạn kiệt. Tôi không còn hơi sức đâu mà mơ mộng về siêu nhân hay bất kỳ
một vị anh hùng nào nữa. Tôi cũng lờ mờ nhận ra lời hứa ngày trước của cha chỉ
là một trò lừa bịp. Tôi thôi không còn cầu nguyện gì nữa và chỉ tập trung vào
việc làm sao để sống cho qua ngày mà thôi.
Một buổi sáng nọ khi tôi
đang ở trong lớp học, cô ý tá của trường yêu cầu tôi ra gặp cô. Cô cứ gặng hỏi
tôi về quần áo cũng như về những vết bầm tím khắp hai cánh tay của tôi. Lúc đầu,
tôi chỉ nói với cô ấy những gì mẹ đã dặn tôi. Nhưng chẳng hiểu sao sau đó tôi lại
cảm thấy tin tưởng cô, và thế là tôi đã nói với cô nhiều, nhiều điều hơn về mẹ.
Cô ghi chú lại tất cả và nói rằng bất cứ khi nào tôi muốn chia sẻ điều gì, hãy
đến tim gặp cô. Một thời gian sau đó, tôi mới biết rằng cô ý tá ấy đặc biệt
quan tâm đến tôi là do cô giáo dạy thế hồi đầu năm học đã nhờ cô lưu ý đến tôi.
Trong suốt tuần lễ cuối
cùng của tháng Mười, gia đình tôi có một truyền thống là các cậu con trai sẽ được
khắc nhiều hình thù lên những quả bí đỏ. Tôi không còn đặc quyền này kể từ khi
tôi mới lên bảy hay tám tuổi gì đó. Tối hôm đó, ngay khi tôi vừa hoàn tất việc
nhà, mẹ đã cho nước chảy đầy vào bồn tắm. Bà lại cảnh cáo rằng tôi phải để đầu
ngập dưới mặt nước, nếu không sẽ biết tay bà. Như để lời cảnh cáo thêm phần hiệu
lực, bà ấy thộp lấy cổ tôi, dìm thẳng đầu tôi xuống nước. Rồi bà lao ra khỏi
nhà tắm, không quên với tay tắt đèn. Tôi nhìn qua ô cửa sổ nhỏ trong nhà tắm,
màn đêm đang dần buông xuống một cách nặng nề. Tôi giết thời gian bằng trò đếm
nhẩm. Tôi bắt đầu đếm từ một đến một nghìn. Rồi lặp lại nhiều lần như vậy. Nhiều
giờ trôi qua, tôi cảm giác nước trong bồn đang dần vơi đi. Nước càng rút bớt
thì cả người tôi càng tế cóng. Tôi kẹp hai tay vào giữa hai chần và thu người
co ro vào cạnh bồn tắm. Tôi có thể nghe văng vẳng bài hát phát ra từ đĩa nhạc
Halloween mà mẹ đã mua cho Stan nhiều năm trước đó. Tiếng yêu quỷ, ma cà rồng
rít hú liên hồi, và cả tiếng những cánh cửa mở kêu ken két nữa. Sau khi mấy người
anh em trai của tôi khắc xong hình lên những quả bí, tôi lại nghe tiếng mẹ kể
cho họ nghe chuyện kinh dị bằng một giọng êm dịu mà chắc chắn là không bao giờ
bà dành cho tôi. Càng nghe, tôi càng thấy căm ghét tất cả bọn họ. Đối với tôi,
việc phải ngồi trên đá phơi mình như một con chó ngoài sân trong lúc họ ăn tối
đã là quá đủ. Đằng này, trong khi họ vừa được ăn bỏng ngô vừa được quây quần
nghe mẹ kể chuyện thì tôi lại thu lu trong cái bồn nước lạnh giá, điều này đã
quá sức chịu đựng của tôi và tôi chỉ muốn gào thét lên thật to mới vơi bớt những
uất ức và hờn tủi trong lòng.
Giọng nói dịu dàng của mẹ
đêm hôm đó làm tôi nhớ về một người mẹ mà tôi đã rất mực quý yêu nhiều năm về
trước. Còn bây giờ, ngay cả các anh em trai của tôi cũng lờ tôi đi như thể tôi
không hề tồn tại trong căn nhà ấy vậy. Đối với họ, tôi còn không bằng những hồn
ma kêu gào trong đĩa hát của Stan nữa. Sau khi các cậu con trai đi ngủ, mẹ mới
đi vào nhà tắm. Bà giả vờ giật mình khi nhìn thấy tôi vẫn nằm trần truồng ở đấy.
- Con có lạnh không nào?
- Bà mỉa mai. Tôi run rẩy gật đầu để bà ấy thầy là tôi đang rất rất lạnh. Bà lại
buông lời giễu cợt - Chà, tại sao thằng con yêu quý bé bỏng của ta không vác
xác ra khỏi bồn tắm mà vào giường cha nó ngủ cho ấm nhỉ?
Tôi đứng bật dậy, suýt
ngã khỏi bồn tắm, vội vàng mặc quần áo lót vào người rồi bò ngay vào giường của
cha. Tôi làm ướt hết ra trải giường vì cả thân người tôi ướt sũng. Chẳng hiểu
sao mẹ lại để cho tôi được ngủ trên giường lớn, còn bà ấy ngủ cùng phòng với
các con của bà ở nhà trên. Tôi chẳng mấy quan tâm, miễn là tôi không phải ngủ
trên cái giường cũ kỹ trong ga-ra lạnh lẽo là được rồi. Đêm hôm ấy, cha về.
Nhưng tôi chưa kịp nói với ông lời nào thì đã ngủ thiếp đi vì quá kiệt sức.
Khi Giáng sinh đến cũng
là lúc tinh thần tôi sa sút nghiêm trọng. Tôi ghét cay ghét đắng khi phải ở nhà
trong suốt kỳ nghỉ kéo dài hai tuần liền. Tôi cứ mang tâm trạng thấp thỏm và
nôn nóng đợi đến ngày được đi học trở lại. Vào ngày lễ Giáng sinh, tôi nhận được
món quà là một đôi giày trượt pa-tanh. Tôi rất ngạc nhiên chẳng hiểu sao mình lại
được nhận quà. Nhưng khi mở ra, tôi hiểu ngay đôi giày trượt pa-tanh ấy không
phải một món quà được ban cho tôi theo tinh thần của ngày lễ Giáng sinh. Chắc hẳn
đôi giày chỉ là một công cụ mới mà mẹ dùng để bắt tôi ra khỏi nhà và khiến tôi
phải chịu đựng một đau đớn nào đấy. Mọi chuyện diễn ra đúng như tôi đoán. Vào
những ngày cuối tuần, trong khi các anh em của tôi được ở trong nhà để tránh
cái rét mướt của thời tiết thì mẹ lại bắt tôi phải ra ngoài trượt pa-tanh với
đôi giày ấy. Tôi cứ thế trượt lên trượt xuống các dãy nhà, trên người thậm chí
cũng không có lấy một cái áo khoác để giữ ấm. Lúc đó, tôi là đứa trẻ duy nhất
lang thang ở ngoài đường. Có lần, khi người hàng xóm của tôi là Tony ra ngoài
sân để lấy báo đã bắt gặp tôi đang trượt pa-tanh giữa trời giá rét. Ông chỉ kịp
nhìn tôi cười thật tươi rồi vội vã quay trở vào nhà để tránh cái lạnh buốt thịt
buốt da. Để giữ ấm cho cơ thể, tôi cố sức trượt càng nhanh càng tốt. Tôi thấy
khói bốc lên từ ống khói của những ngôi nhà có bếp lửa. Tôi ước sao mình cũng
được ở đó, ngồi sưởi ấm bên bếp lửa hồng. Mỗi lần tống tôi ra ngoài, mẹ bắt tôi
phải trượt trong nhiều giờ liền. Bà chỉ gọi tôi vào nhà khi muốn tôi làm cho bà
việc nào đó mà thôi.
Cuối tháng Ba năm ấy, mẹ
tôi đau đẻ trong lúc chúng tôi đang được nghỉ học nhân dịp lễ Phục sinh. Khi
cha lái xe đưa bà đến bệnh viện ở San Francisco, tôi đã cầu mong cho đó là sự
thật. Tôi muốn mẹ ra khỏi nhà vô cùng. Tôi biết rằng nếu không có bà ở nhà, cha
sẽ cho tôi ăn. Và tôi cũng rất hạnh phúc vì sẽ thoát khỏi đòn roi của mẹ.
Trong thời gian mẹ nằm viện,
cha để cho tôi chơi với các anh em của mình. Tôi lập tức được đón nhận trở lại.
Chúng tôi chơi trò “Star Trek” [1], và Ron trao cho tôi vinh dự được làm Thuyền
trưởng Kirk. Ngày đầu tiên không có mẹ ở nhà, buổi trưa cha cho chúng tôi ăn
bánh sandwich và tôi được ăn những hai cái. Khi cha đến bệnh viện để thăm mẹ, cả
bốn anh em chúng tôi chạy sang nhà hàng xóm là cô Shirley để chơi. Cô Shirley rất
tốt với chúng tôi. Cô ấy đối xử với chúng tôi như với con ruột của mình vậy. Cô
ấy cho chúng tôi được chơi đùa thoải mái với nhiều trò chơi thú vị như đánh
bóng bàn, trốn tìm... Cũng có khi cô để cho chúng tôi tự do chạy nhảy trong sân
nhà cô ấy, muốn làm gì thì làm. Chẳng hiểu sao ở cô Shirley có một vài điểm gợi
tôi nhớ đến mẹ - vào những ngày xa xưa khi mà bà chưa hành hạ đánh đập tôi.
Vài ngày sau đó, mẹ trở về
nhà. Cùng xuất hiện với mẹ là em bé bà mới sinh, tên Kevin. Chỉ sau vài tuần, mọi
chuyện lại trở về như cũ. Cha lại đi biền biệt. Tôi lại tiếp tục làm vật cho bà
trút những cơn thịnh nộ.
Mẹ tôi rất hiếm khi giao
du với hàng xóm, vì vậy thật khó hiểu khi bà và cô Shirley lại chơi rất thân với
nhau. Họ thăm hỏi nhau hàng ngày. Mỗi lần cô Shirley sang chơi, mẹ lại đóng vai
một bà mẹ dịu dàng yêu thương con cái. Vài tháng sau đó, cô Shirley có hỏi mẹ
tôi rằng tại sao David không được chơi chung với những đứa trẻ khác. Cô ấy cũng
rất tò mò không hiểu tại sao David lại hay bị phạt như vậy. Mẹ có rất nhiều lời
giải thích khác nhau. Lúc thì David bị cảm hay David đang làm việc cho một
chương trình nào đó ở trường học. Sau cùng thì bà ấy cũng nói với cô Shirley rằng
David là một đứa hư hỏng và đáng bị cho ở dưới tầng hầm mãi mãi.
Rồi thì mối quan hệ giữa
cô Shirley và mẹ cũng trở nên căng thẳng. Đến một ngày nọ, chẳng vì lý do gì, mẹ
đã chắm dứt mọi quan hệ với cô Shirley. Con trai của cô ấy không được chơi với
anh em nhà chúng tôi nữa, còn mẹ thì cứ đi vòng quanh nhà mình và gọi cô ấy là
con chó cái. Cho dù tôi không được chơi chung với đám trẻ, nhưng khi cô Shirley
còn qua lại với mẹ, tôi cũng cảm thấy mình được an toàn hơn.
Vào một ngày Chủ nhật
trong tháng hè cuối cùng, mẹ đi thẳng vào giường ngủ lớn, nơi tôi đang bị bắt
phải ngồi trong tư thế của tù nhân chiến tranh. Bà gọi tôi và ngồi vòa một góc
giường. Bà nói với tôi rằng bà đã quá chán ngán với cảnh sống này rồi. Bà nói rằng
bà xin lỗi tôi và rằng bà muốn bù đắp cho tôi vì những thiệt thòi tôi đã chịu đựng
trong thời gian vừa qua. Tôi cười toe toét, lao vào vòng tay của mẹ và ôm bà thật
chặt. Khi mẹ đưa tay vuốt tóc tôi, tôi đã khóc. Mẹ cũng khóc. Tôi bắt đầu cảm
thấy khoảng thời gian tồi tệ của mình đã kết thúc. Tôi buông mẹ ra rồi nhìn sâu
vào mắt bà. Tôi muốn thật chắc chắn về điều này. Tôi phải nghe bà ấy lặp lại một
lần nữa. Tôi rụt rè hỏi mẹ:
- Tất cả đã chấm dứt thật
rồi hả mẹ?
- Đã chấm dứt rồi, con
yêu ạ. Kể từ giây phút này, mẹ muốn con hãy quên đi tất cả những gì đã xảy ra.
Con sẽ cố gắng trở thành một đứa con ngoan của mẹ, đúng không nào?
Tôi gật đầu. Rồi bà nói
tiếp:
- Rồi mẹ cũng sẽ cố gắng
là một người mẹ tốt.
Sau khi nói chuyện xong,
mẹ cho tôi tắm nước ấm và mặc quần áo mới cho tôi. Bộ quần áo mới đó là món quà
tôi nhận được vào Giáng sinh năm ngoái nhưng mẹ chưa bao giờ cho tôi chạm vào
nó. Rồi mẹ đưa anh em chúng tôi đi chơi bowling, còn cha ở nhà trông Kevin.
Trên đường đi chơi bowling về, mẹ ghé qua cửa hàng tạp hóa mua cho mỗi chúng
tôi một món đồ chơi đắt tiền. Về tới nhà, mẹ nói tôi có thể chơi cùng với các
anh em của mình. Nhưng vì quá vui mừng với món đồ chơi mới, tôi đã mang nó về
phòng để chơi một mình. Ngoại trừ những dịp lễ khi có khách đến chơi nhà, lần đầu
tiên trong nhiều năm qua, tôi lại được ngồi ăn bữa tối cùng bàn với mọi người
trong gia đình. Mọi thứ diễn ra quá nhanh và tôi có cảm tưởng như chúng tốt đẹp
đến mức khó tin. Tôi cảm nhận niềm hạnh phúc ấy mong manh như thể tôi đang đi
trên vỏ trứng vậy. Tôi nghĩ thế nào rồi mẹ cũng sẽ tỉnh ra và quay trở về với bản
chất của bà. Nhưng mẹ đã không như tôi nghĩ. Tôi được ăn bất cứ thứ gì tôi
thích trong bữa tối. Bà còn để cho tôi được xem ti-vi với các anh em mình trước
khi đi ngủ. Tôi thất thật kỳ lạ khi mẹ vẫn muốn tôi tiếp tục ngủ với cha, nhưng
bà chỉ nói rằng bà muốn được ở gần em bé mới sinh mà thôi.
Buổi chiều hôm sau, trong
lúc cha đi làm, một phụ nữ ở tổ chức dịch vụ xã hội đã đến nhà chúng tôi. Mẹ
xua tôi ra ngoài chơi với các anh em để bà nói chuyện với khách. Họ đã nói chuyện
với nhau hơn một giờ đồng hồ. Trước khi người phụ nữ ra về, mẹ gọi tôi vào nhà.
Người phụ nữ ấy muốn nói chuyện với tôi một lát. Bà ấy muốn biết xem tôi sống
có thoải mái không. Tôi trả lời bà rằng tôi đang rất vui. Bà ấy lại hỏi tôi có
hòa thuận với mẹ không. Tôi trả lời là có. Cuối cùng, bà hỏi rằng mẹ có bao giờ
đánh đập tôi không. Trước khi trả lời câu hỏi ấy, tôi ngước lên nhìn mẹ. Mẹ
đang mỉm cười đầy ẩn ý. Đột nhiên tôi cảm thấy như vừa có một quả bom đã nổ
thành một cái hố thật sâu trong lòng mình. Giờ thì tôi đã hiểu tại sao mẹ lại
thay đổi như vậy và tại sao mẹ lại tốt với tôi vậy. Tôi thấy mình như một thằng
khờ vì đã tin vào tất cả những điều đó. Tôi đã quá khao khát được yêu thương đến
nỗi đã lãnh trọn cả một vố thật đau.
Mẹ đặt tay lên vai tôi
khiến tôi giật mình trở về với thực tại.
- Nào, trả lời cô ấy đi
con yêu. - Mẹ lại nói và mỉm cười - Nói rằng mẹ đã bỏ đói con và đánh đập con
như đánh một con cún vậy.
Mẹ lại khúc khích cười, cố
pha trò cho người phụ nữ kia cũng cười theo.
Tôi nhìn người phụ nữ.
Khuôn mặt tôi biểu lộ vẻ xúc động, và tôi cảm nhận rõ mồ hôi đang rịn ra trên
trán mình. Tôi không đủ can đảm để nói cho người phụ nữ ấy biết sự thật.
- Không, không phải như
thế đâu cô ạ. Mẹ cháu đối xử với cháu cũng tốt lắm.
- Vậy là mẹ chưa hề đánh
cháu? - Người phụ nữ hỏi lại lần nữa.
- Không... à... ý cháu
là, cháu chỉ bị phạt... khi nào cháu hư thôi.
Tôi cố lấp liếm để che giấu
sự thật. Nhìn ánh mắt mẹ, tôi biết mình phải nói dối. Mẹ đã tẩy não cho tôi
trong nhiều năm qua, và giờ đây tôi buộc phải nói đúng những điều xảo trá đó một
cách bài bản. Qua cuộc trao đổi giữa mẹ và tôi, tôi nghĩ chắc người phụ nữ ấy
cũng đã tin hoàn toàn những điều tôi vừa nói.
- Thôi được rồi. Tôi chỉ
muốn ghé thăm và chào gia đình một tiếng thôi. - Người phụ nữ nói.
Sau khi chào tạm biệt
nhau, mẹ tiễn người phụ nữ ra cửa.
Khi người phụ nữ ấy vừa
đi khỏi hẳn, mẹ đóng sầm cửa lại trong một cơn cuồng nộ thấy rõ.
- Mày đúng là thằng ngu.
- Bà thét lên.
Theo bản năng, tôi đưa
hai tay che mặt lại để tránh những cú đấm bắt đầu trút xuống liên tục của bà.
Đánh tôi một trận nhừ tử xong, bà lại tống tôi xuống ga-ra. Sau khi cho các con
ăn, bà gọi tôi lên để làm những công việc thường lệ của buổi tối. Lạ thay,
trong lúc đứng rửa chén, tôi cảm thấy mọi chuyện cũng bình thường. Ngay khi bà
vừa thay đổi thái độ với tôi mấy hôm trước, từ tận sâu trong tâm khảm, tôi cũng
đã nghĩ mẹ đối xử tốt với tôi chẳng qua là vì lý do nào đó, chứ chẳng phải vì
bà thực sự yêu thương tôi. Tôi đã biết rằng mẹ không đời nào lại có ý tốt như
thế, vì bà ấy đã hành động y như những lần nhà tôi có khách đến chơi. Nhưng ít
ra thì tôi cũng đã có được hai ngày vui vẻ. Cũng đã rất lâu rồi tôi không có được
những ngày vui và thoải mái như thế, vậy nên xem xét cho cùng thì điều đó cũng
đáng lắm chứ. Tôi lại trở về với cuộc sống bình thường như những ngày trước đó.
Tôi lại nương nhờ vào chính sự cô độc của mình để tiếp tục tồn tại từng ngày một.
Ít ra thì tôi cũng không phải sống trong thấp thỏm, không phải tự hỏi chẳng biết
lúc nào thì ống trời sập xuống để chôn vùi tôi trong tận cùng hố sâu. Mọi thứ lại
trở về bình thường, tôi lại trở về làm tên đầy tớ của gia đình.
Mặc dù đã dần chấp nhận số
phận của mình, nhưng cứ vào mỗi buổi sáng khi cha từ biệt cả nhà đi làm, tôi lại
cảm thấy lạc lõng hơn bao giờ hết. Vào những ngày làm việc, cha luôn thức dậy
lúc năm giờ sáng. Cha không biết rằng tôi cũng luôn thức dậy theo ông. Tôi nghe
thấy tiếng ông cạo râu trong nhà tắm, rồi tôi nghe thấy tiếng chân ông đi vào
nhà bếp tìm thứ gì đó để ăn. Tôi còn biết lúc cha lúi húi mang giày vào cũng là
lúc ông sắp ra khỏi nhà. Nếu thấy tôi thập thò đâu đó, ông sẽ gọi tôi lại và
hôn lên trán tôi rồi căn dặn:
- Cố mà làm vui lòng mẹ
con, và tránh xa bà ấy ra con nhé.
Những khi nghe cha nói
như vậy, tôi luôn cố để không bật khóc, nhưng lần nào cũng vậy, mắt tôi lại
nhòe nhoẹt nước. Tôi không muốn rời xa cha. Tôi chưa bao giờ nói ra điều đó,
nhưng tôi biết chắc rằng cha hiểu. Sau khi đóng cửa trước lại, tôi bắt đầu đếm
số bước chân cha, hình dung thấy ông ra đến đường lớn. Tôi còn cố dõng tai để
nghe thấy tiếng chân cha bước đi trên đường. Tôi còn tiếp tục hình dung thấy
cha rẽ trái đi xuống con đường chính trong khu phố và đón chuyến xe buýt đến
San Francisco. Đôi khi, tôi đánh liều chạy đến bên cửa sổ để được nhìn thoáng
qua bóng cha một lần nữa. Sau khi biết chắc là cha đã đi, tôi nằm lăn qua lăn lại
bên phần giường vẫn còn vương lại hơi ấm của cha. Nhưng cũng chính vào lúc tôi
biết là cha đã đi khỏi, tận sâu trong hồn mình tôi lại cảm thấy một cảm giác thật
trống rỗng và lẻ loi. Tôi yêu cha nhiều lắm. Tôi muốn được ở bên cạnh ông ấy
mãi mãi. Nước mắt lại chảy trong lòng tôi, bởi tôi không bao giờ biết được rằng
khi nào tôi mới lại được nhìn thấy cha.
Chú thích:
[1] Star Trek là một
sê-ri phim truyền hình khoa học giả tưởng của đạo diễn Gene Roddenberry được
phát sóng trong suốt ba năm, từ 08/09/1966 đến 02/09/1969. Bộ phim nói về những
chuyến thám hiểm của phi hành đoàn do Thuyền trưởng James T. Kirk dẫn đầu trên
phi thuyền mang tên Enterprise trong bối cảnh của thế kỷ 23. Phiên bản gốc của
Star Trek đã được Sách Kỷ lục Guinness ghi nhận là chương trình truyền hình sản
sinh ra nhiều sản phẩm phụ nhất trong lịch sử truyền hình ở Mỹ.
Chương 7
Lời nguyện cầu của Chúa
Khoảng một tháng trước
khi bước vào năm học lớp năm, tôi bắt đầu tin rằng Chúa không hề tồn tại.
Mỗi khi ngồi một mình
trong ga-ra lạnh lẽo hoặc ngồi lẩm bẩm trong bóng đêm ngay bên cạnh phòng ngủ của
cha mẹ, tôi nhận ra rằng mình sẽ phải sống như thế này trong suốt phần đời còn
lại. Không Chúa anh minh nào lại để cho tôi phải sống như thế cả. Tôi biết mình
chỉ là một chiến binh đơn độc trong trận chiến sinh tồn này mà thôi.
Chính trong giây phút tôi
không còn tin vào sự tồn tại của Chúa nữa, tôi như được giải thoát khỏi mọi đau
đớn về thể xác. Giờ đây những trận đòn thẳng tay và tàn nhẫn của mẹ trút lên
tôi cũng giống như trút lên một con búp bê rách nát mà thôi. Cảm xúc trong tôi
giờ đây hoàn toàn bị xáo trộn và giằng xé giữa sợ hãi và oán hận tột độ. Nhưng
tôi hiếm khi bộc lộ cảm xúc của mình. Tôi chỉ làm điều đó khi nào tôi thấy cần
phải khiến cho con mụ đó hài lòng và khi nào điều đó thật sự có ích cho tôi.
Tôi luôn cố nuốt nước mắt vào trong, cắn răng để không bật khóc bởi tôi không
muốn bà ấy thỏa mãn vì khuất phục được tôi.
Đêm đến, tôi đã thôi
không còn mơ mộng nữa. Ban ngày, tôi cũng không để cho đầu óc nghĩ ngợi điều gì
vẩn vơ. Những phút giây bay bổng đắm chìm trong cơn mộng tưởng được vút lên trời
cao trong bộ áo choàng màu xanh tươi sáng giờ cũng đã chìm vào quên lãng. Khi
tôi ngủ, tâm hồn như rơi vào một khoảng không tối đen vô tận. Mỗi sáng thức giấc,
tôi mỏi mệt tự nhủ rằng chỉ còn một ngày nữa để sống trên cõi đời này mà thôi.
Tôi vật vờ trong núi công việc nhà, thấp thỏm và khiếp sợ từng giây phút trôi
qua trong cuộc sống của mình. Sống không mơ ước, không niềm tin, không hy vọng,
tôi khám phá ra rằng những từ như “hy vọng” hay “đức tin” với tôi chỉ là những
ngôn từ sáo rỗng, được đặt cạnh nhau một cách tình cờ chẳng ý nghĩa gì và chúng
chỉ có trong những câu chuyện cổ tích mà thôi.
Khi được ban cho một bữa
ăn, tôi ăn như một con chó hoang, chụp vồ và ngấu nghiến như một con vật theo lệnh
của mẹ. Từ lâu rồi tôi không còn quan tâm đến sự khoái trá và thỏa mãn đến tàn
nhẫn của mẹ trong lúc nhìn tôi vội vã tọng thật nhanh từng mẫu thức ăn bé xíu
vào họng. Tôi đã ở tận cùng đáy sâu của cuộc sống. Một sáng thứ Bảy nọ, trong
lúc đang rửa chén đĩa, tôi thấy mẹ gạt hết phần bánh kếp ăn dở xuống cái đĩa đựng
thức ăn dành cho chó. Những con chó cưng béo tốt cứ thế nhấm nháp đãi bánh cho
tới lúc chán chê rồi bỏ đi tìm chỗ ngủ. Lát sau, khi đem nồi niêu, xoong chảo cất
vào chạn bếp bên dưới, tôi lợi dụng bò tới gần đĩa thức ăn của bầy chó và ăn sạch
những miếng bánh kếp còn sót lại. Mùi nước dãi của chúng vẫn còn vương lại trên
những mẩu bánh, nhưng tôi cứ ăn. Điều đó hầu như chẳng khiến tôi có chút bận
tâm. Tồi thừa biết rằng, nếu con mụ đó bắt gặp tôi đang ăn thứ mà bà đã dành
riêng cho mấy con chó, tôi sẽ phải trả giá đắt; nhưng để tồn tại, tôi phải kiếm
lấy cái ăn bằng mọi giá.
Tâm hồn tôi trở nên u uất
đến nỗi tôi đâm ra ghét bỏ tất cả mọi thứ. Tôi thậm chí còn ác cảm với cà Mặt
trời, vì tôi biết rằng mình sẽ chẳng bao giờ được chơi đùa dưới ánh nắng ấm áp
của nó. Tuy bề ngoài tôi tỏ ra khép nép, nhưng trong lòng tôi lại tràn đầy thù
hận khi nghe thấy tiếng cười vui của đám trẻ con đang chơi đùa đâu đó ngoài
sân. Mỗi khi ngửi thấy mùi thức ăn, dạ dày tôi lại co thắt liên hồi, dẫu biết rằng
những món ăn đó không bao giờ dành cho mình. Những khi đóng vai là một tên nô lệ
phải đi nhặt nhạnh và dọn dẹp đống đồ thừa thãi của những con người lười biếng
kia, tôi luôn muốn hét lên rồi đấm đá bất cứ thứ gì mà tôi nhìn thấy.
Tôi ghét mẹ đến mức chỉ ước
sao bà ấy mau chết đi. Nhưng trước khi bà ấy chết, tôi muốn bà ấy phải cảm nhận
được nỗi đau đớn và sự cô đơn đến tận cùng mà tôi đã nếm trải trong ngần ấy năm
qua. Trong suốt những năm tháng ấy, tôi đã nhiều lần cầu nguyện Chúa, và Ngài
chỉ đáp lại lời nguyện cầu của tôi đúng một lần. Lần đó tôi chỉ mới năm hay
sáng tuổi gì đấy, tôi nhớ hôm ấy mẹ đã đánh tôi một trận tơi bời. Buổi tối hôm
áy, trước khi trèo lên giường ngủ, tôi đã quỳ xuống và cầu nguyện với Chúa. Tôi
cầu xin Ngài hãy khiến cho mẹ tôi bị bệnh để bà ấy không còn đánh đập tôi được
nữa. Tôi quỳ ở đó, cầu nguyện rất lâu và rất thành tâm, tôi tập trung đến nỗi đầu
tôi đã nhức bưng lên rồi tôi ngủ thiếp đi lúc nào chẳng biết. Sáng hôm sau, tôi
ngạc nhiên vô cùng khi đột nhiên mẹ lại ngã bệnh. Suốt ngày hôm đó, bà chỉ nằm
yên trên ghế trường kỷ mà chẳng buồn đi lại hay nói năng điều gì. Vì cha đi làm
nên mấy anh em tôi phải thay phiên nhau chăm sóc mẹ.
Năm tháng trôi qua, đòn
roi của mẹ ngày càng trở nên cay nghiệt. Tôi bắt đầu để ý đến tuổi tác của mẹ
và nhẩm tính xem khi nào thì bà ấy chết. Tôi trông đợi cái ngày mà linh hồn của
bà ấy sẽ bị đưa xuống tầng sâu của địa ngục; chỉ khi đó tôi mới được giải thoát
khỏi bà ấy mà thôi.
Tôi cũng ghét cha. Ông ấy
hoàn toàn biết được tôi đang sống trong địa ngục, nhưng ông lại không đủ can đảm
để cứu tôi thoát khỏi cảnh ấy như lời ông ấy đã từng hứa rất nhiều lần. Nhưng
khi xem xét lại mối quan hệ giữa tôi với cha, tôi nhận ra rằng ông ấy đã coi
tôi như tác nhân của mọi vấn đề. Tôi tin rằng ông ấy đã nghĩ tôi là một kẻ phản
bội. Rất nhiều lần khi cha mẹ cãi vã, mẹ đã không ngần ngại mà lôi cả tôi vào
cuộc. Bất kể là tôi đang ở đâu, bà ấy cũng cứ thế kéo lê tôi đến chỗ hai người
và bắt tôi lặp lại từng lời lẽ xúc phạm mà có lẽ cha đã thốt ra trong những lần
cãi vã của họ trước đó. Tôi hiểu quá rõ trò chơi của mẹ, thế nên việc chọn lựa
hoặc phải vâng lời cha hoặc phải vâng lời mẹ đối với tôi thật sự chẳng mấy khó
khăn. Nếu tôi không làm theo lời mẹ, cơn lôi đình của bà sẽ càng tồi tệ hơn với
tôi mà thôi. Những lúc đó, tôi luôn luôn gật đầu và nói những gì mẹ muốn nghe một
cách rụt rè, sợ hãi. Rồi bà sẽ gào lên bắt tôi lặp lại những từ ngữ đó trước sự
chứng kiến của cha. Lần nào cũng vậy, nếu tôi không nhớ được thì bà sẽ bắt tôi
bịa ra những từ ngữ thô tục nào đó. Điều này thật sự làm tôi rất lúng túng bởi
tôi biết rằng khi cố sức để tránh roi đòn của mẹ, thì tôi lại làm cho cha cảm
thấy tổn thương bởi cha luôn là người đứng về phía tôi. Lúc đầu, tôi còn cố
giai thích với cha tại sao tôi lại nói dối và chống lại ông ấy. Mỗi lần như vậy,
cha đều nói với tôi rằng ông ấy hiểu, nhưng rồi cuối cùng tôi biết ông ấy đã mất
lòng tin nơi tôi. Thay vì có cảm giác có lỗi với cha, tôi lại càng đâm ra căm
ghét ông ấy nhiều hơn.
Những đứa con trai sống ở
nhà trên đã không còn là những người anh em của tôi nữa. Lúc trước, họ cũng có
vài lần động viên tôi đôi chút. Nhưng kể từ mùa hè năm 1972, tôi còn nhớ như in
là họ đã thay phiên nhau đánh đập tôi và tỏ ra rất thích thú khi đối xửa với
tôi bằng vẻ kiêu căng và hợm hĩnh của những kẻ bề trên. Lẽ dĩ nhiên, đối với một
tên đầy tớ như tôi thì bọn họ có quyền tỏ ra trịch thượng và hợm hĩnh như thế.
Mỗi khi bọn họ đến gần, tim tôi trơ ra như đá, và tôi chắc rằng bọn họ cũng
nhìn thấy thù hận hằn sâu trong mắt tôi. Mỗi lần tôi túm được cổ bọn họ, tôi
coi đó là một chiến thắng hiếm hoi nhưng vô nghĩa. Những lúc ấy, tôi cười khinh
bỉ và chỉ muốn phun vào mặt họ hai chữ “đồ khốn”, nhưng tôi cũng không muốn để
cho bọn họ nghe thấy những điều như thế. Tôi đâm ra chán ghét cả những người
hàng xóm, những người bà con và bất kỳ người nào từng biết về tôi và hoàn cảnh
mà tôi đang sống. Căm ghét là tất cả những cảm giác trong tôi.
Tận sâu trong lòng, tôi
căm ghét chính bản thân mình hơn bất kỳ ai khác, hơn bất cứ thứ gì khác. Tôi dần
tin rằng tất cả những gì xảy đến với tôi hay những gì tồn tại xung quanh tôi
chính là do lỗi lầm nơi tôi bởi tôi đã để cho mọi chuyện kéo dài quá lâu. Tôi
thèm muốn những gì mà người khác có, nhưng không thể nào có được những thứ ấy,
thế nên tôi đâm ra căm ghét người khác vì những gì họ có. Tôi muốn mình mạnh mẽ
lên, nhưng từ sâu thẳm trong lòng, tôi biết mình chỉ là một kẻ yếu đuối. Tôi
không bao giờ có được dũng khí để chống lại con mụ ấy, nên tôi nghĩ mình đáng
nhận lấy tất cả những gì đã xảy đến. Nhiều năm qua, mẹ đã tẩy não tôi bằng cách
buộc tôi phải hét lên với chính mình: “Tao ghét mày! Tao ghét mày!”. Âm mưu
thâm độc của bà ấy đã thành công. Vài tuần trước khi bước vào năm học lớp năm
là khoảng thời gian tôi thấy chán ghét bản thân mình đến nỗi đã ước sao cho
mình chết đi.
Trường học không còn là
nơi mang lại cho tôi niềm vui thú như trước nữa. Tôi gồng mình tập trung vào
bài vở ở lớp, nhưng cơn giận được kìm nén trong tôi thỉnh thoảng vẫn bộc phát một
cách vô thức. Một buổi chiều thứ Sáu mùa đông năm 1973, không hề có một lý do
nào rõ ràng, nhưng tôi đã lao ra khỏi lớp và gào thét vào mặt bất kỳ ai tôi gặp.
Tôi đóng cửa lớp mạnh đến nỗi kiếng trên khung cửa chỉ chực vỡ tan ra thành từng
mảnh. Tôi chạy vào nhà vệ sinh, nắm chặt hai bàn tay nhỏ xíu đỏ gay của mình lại
và cứ thế đấm thật mạnh xuống nền gạch cho đến khi mệt lả người đi. Sau đó, tôi
ngã quỵ xuống sàn, kêu gào cầu nguyện sao cho phép mầu sẽ xảy ra. Nhưng những lời
nguyện cầu của tôi không bao giờ hiển linh.
Nhưng dẫu sao thì thời
gian tôi đi học ít ra vẫn dễ chịu hơn khi phải ở trong “căn nhà địa ngục” của mẹ.
Vì tôi là một kẻ bị cả trường bài xích, ghét bỏ, nên cứ đến lớp là tôi bị bạn
bè bắt nạt thay cho mẹ ở nhà. Một trong số những đứa hay bắt nạt tôi là
Clifford, một tên đầu gấu trong trường. Tên này thường chặn đánh tôi sau giờ học.
Clifford đánh tôi để phô trương sức mạnh của hắn với những đứa khác. Những là bị
hắn chặn đánh ngã lăn xuống đường, tôi không thể kháng cự mà chỉ có thể ôm lấy
đầu để tránh những cú đạp thẳng vô mặt. Trong lúc đó thì Clifford và đồng bọn hả
hê thay phiên nhau đấm đá túi bụi vào người tôi.
Còn Aggie lại hành hạ tôi
theo một kiểu khác. Con bé liên tục tìm cách kiếm chuyện với tôi để tôi biết rằng
nó mong muốn tôi “chết quách đi cho rồi” đến nhường nào. Cách hành hạ của con
bé xem ra rất màu mè. Aggie là đầu đảng của một nhóm con gái trong lớp. Ngoài
chuyện hành hạ tôi, việc khoe khoang những bộ cánh diêm dúa dường như mới chính
là mục đích sống của con bé và đám bạn bè của nó. Tôi luôn biết rằng Aggie
không thích tôi, nhưng mãi đến ngày cuối cùng của năm học lớp bốn, tôi mới biết
con bé ghét tôi đến cỡ nào. Mẹ của Aggie là cô giáo dạy lớp bốn của chúng tôi,
và vào ngày kết thúc năm học ấy, Aggie bước vào lớp, nó làm ra vẻ sắp nôn ọe và
nói oang oang:
- Thằng hôi hám Devid
Pelzer sẽ tiếp tục học với chúng ta vào năm tới đấy nhé.
Nói rồi nó trịch thượng
quay lưng bỏ đi, cứ như thể nó không thể sống hết ngày hôm ấy nếu không ném lời
nhận xét đầy vẻ miệt thị và cục cằn ấy về phía tôi vậy.
Tôi cũng không mấy bận
tâm đến Aggie mãi cho đến chuyến đi tham quan thực tế một trong những con tàu
cao tốc ở San Francisco hồi lớp năm. Lúc tôi đang đứng một mình trước mũi tàu
và nhìn xuống nước, Aggie tiến lại gần tôi với một nụ cười khinh miệt đầy ác ý.
Nó gằn giọng:
- Nhảy xuống đi!
Con bé làm tôi giật mình.
Tôi xoay người lại và nhìn vào mặt nó, cố hiểu xem nó đang muốn gì ở tôi. Con
bé lặp lại một lần nữa, giọng bình thản và lạnh lùng:
- Tao nói mày nên bước ra
trước mà nhảy xuống đi. Tao biết tất cả về mày, Pelzer ạ, và nhảy xuống dưới đó
là cách duy nhất để mày được giải thoát.
Tôi lại nghe thấy một giọng
nói khác từ sau lưng con bé:
- Aggie nói đúng đấy, mày
biết mà.
Đó là giọng của John, một
trong những thằng bạn thân của Aggie. Tôi quay lại nhìn làn nước xanh lạnh lẽo
đang dập dềnh vỗ vào mạn tàu rồi rùng mình hình dung ra cảnh mình phải lao xuống
đó; chắc chắn tôi sẽ bị chết đuối mất thôi. Cái cảnh tượng ấy hứa hẹn sẽ là một
cuộc trốn thoát ngoạn mục của tôi khỏi Aggie, những đứa bạn của nó và tất cả những
ai tôi căm ghét trên thế giới này. Nhưng đột nhiên tôi định thần trở lại. Tôi
ngước lên và nhìn chòng chọc vào mắt John. Hẳn là nó cũng ít nhiều cảm nhận được
cơn giận dữ đang trào dâng trong tôi nên nó lôi Aggie bỏ đi.
Năm tôi vừa vào học lớp
năm, thầy chủ nhiệm Ziegler cũng không hiểu tại sao tôi lại trở thành một học
sinh cá biệt. Sau đó, khi cô y tá của trường cho thầy biết tại sao tôi ăn cắp
thức ăn và tại sao tôi lại ăn mặc như thế, thầy Ziegler đã nỗ lực hết mình để đối
xử với tôi như với bao đứa trẻ bình thường khác. Một trong những việc làm của
thầy trong vai trò người bảo trợ cho tờ báo của trường là thành lập một nhóm
các học sinh làm nhiệm vụ đặt tên cho tờ báo. Tôi nghĩ ra được một cái tên khá
hay và dễ nhớ, thế là một tuần sau cái tên đó nằm trong danh sách đề cử cùng với
nhiều cái tên khác nữa trong cuộc bình chọn toàn trường. Buổi chiều ngày hôm ấy,
sau khi cuộc bình chọn diễn ra, thầy Ziegler đã gọi tôi lại và nói rằng thầy rất
tự hào vì cái tựa báo của tôi đã được chọn. Tôi đón nhận tin đó như mảnh ruộng
khô cằn chào đón một cơn mưa tưới mát. Đã lâu lắm rồi không ai nói với tôi điều
gì vui như thế, tôi gần như bật khóc. Cuối ngày hôm đó, sau khi đã động viên và
trấn an tôi rằng mọi chuyện sẽ ổn, thầy Ziegler trao cho tôi một bức thư để tôi
mang về cho mẹ.
Tôi chạy như bay về nhà,
lòng vô cùng phấn chấn. Nhưng như tôi đã đoán trước, niềm hạnh phúc ấy của tôi
chỉ tồn tại trong thoáng chốc mà thôi. Con mụ ấy xé bao thư đọc lướt qua rồi giở
giọng giễu cợt:
- À, thầy Ziegler có nói
rằng tao nên tự hào về mày vì mày đã đặt tên cho tờ báo của trường cơ đấy. Ông
ta cũng cho biết luôn rằng mày nằm trong nhóm mười đứa học sinh giỏi nhất lớp của
ông ấy. Chà, mày đặc biết thế cơ à? - Rồi đột nhiên, bà ta chỉ tay vào mặt tôi
mà rít lên - Để tao nói toẹt hết cho mày nghe nhé, thằng chó kia! Mày đừng hòng
làm gì để gây ấn tượng với tao! Có hiểu tao đang nói gì không? Mày chả là cái
thá gì cả! Đồ súc vật! Mày không hề tồn tại! Mày là một thứ rác rưởi! Tao căm
ghét mày và tao muốn mày chết đi! Chết đi! Mày có nghe tao nói không? Chết đi!
Sau khi xé nát bức thư
ném vào mặt tôi, mẹ quay lưng bỏ đi để tiếp tục theo dõi chương trình truyền
hình. Tôi đứng đó bất động nhìn lá thư bị xé nát thành từng mảnh rơi lả tả xuống
chân. Dù đã nghe không biết bao nhiêu lần những từ đại loại như vậy, nhưng lần
này cái từ “đồ súc vật” đã thực sự làm tôi sững sờ hơn bao giờ hết. Bà ấy đã phủ
nhận sự tồn tại của tôi. Tôi đã làm tất cả những gì có thể chỉ mong nhận được sự
thừa nhận của bà ấy. Nhưng lần này tôi lại thất bại. Tim tôi thắt lại đớn đau
hơn bao giờ hết. Những lời lẽ đó mẹ dành cho tôi giờ đây không phải là những lời
bà thốt ra trong cơn say nữa, mà chúng xuất phát từ tận đáy lòng bà. Ngay lúc
đó tôi nghĩ giá mà bà ấy quay lại với một con dao để kết thúc tất cả thì có lẽ
tôi còn cảm thấy thanh thản hơn nhiều.
Tôi quỳ xuống, cố gắng nhặt
nhạnh tất cr những mảnh vụn của bức thư để xếp chúng lại với nhau. Nhưng vô
ích. Tôi vứt tất cả vào thùng rác. Tôi đứng đó bần thần, mong sao cuộc sống của
mình cũng sẽ kết thúc. Ngay chính giây phút đó, tôi thật sự tin rằng cái chết sẽ
còn tốt đẹp hơn là tiếp tục sống với những ảo vọng về hạnh phúc. Bởi tôi không
là gì cả, chỉ là “súc vật” mà thôi.
Tinh thần của tôi sa sút
nghiêm trọng đến nỗi tôi cứ mong sao mẹ hãy giết tôi. Tôi còn cảm thấy sớm muộn
gì bà ấy cũng sẽ làm điều đó. Trong đầu tôi lúc nào cũng nghĩ đến việc khi nào
thì bà ấy mới chịu kết liễu tôi. Vì thế, tôi bắt đầu cố tình chọc tức bà, những
mong bà ấy sẽ nổi điên lên để nhanh chóng kết thúc cuộc sống thống khổ này của
tôi. Tôi bắt đầu làm việc nhà một cách cẩu thả. Tôi luôn cố tình không quét dọn
sàn nhà tắm, để cho bà ấy hay những đứa con quý tử của bà bị trượt té thật đau
trên sàn gạch. Còn khi rửa chén, tôi để cho thức ăn dính lại trên chén đĩa. Tôi
muốn con mụ ấy biết rằng giờ thì tôi chẳng thiết gì nữa cả.
Tôi bắt đầu thay đổi thái
độ và trở nên ngày càng bất trị. Đỉnh điểm của sự bất trị ấy bùng phát vào một
ngày nọ tại một tiệm tạp hóa. Thường thì tôi ngồi yên trong xe, nhưng hôm ấy chẳng
hiểu sao mẹ lại bảo tôi cùng vào trong tiệm. Bà ấy bắt tôi phải đặt tay lên xe
đẩy và cúi mặt xuống đất. Tôi cứ nhẩn nha chẳng thèm làm theo một lời nào của mẹ.
Tôi biết bà ấy không muốn giở trò với tôi trước mặt nhiều người, vì vậy tôi đã
chạy ra phía trước xe đẩy và chỉ đứng cách bà ấy khoảng một sải tay. Bọn nhóc
kia mà có càm ràm tôi điều gì là tôi quắc mắt với chúng ngay. Lúc đó tôi chỉ
đơn giản nghĩ rằng tôi sẽ không chịu đựng thêm bất cứ sự hành hạ nào nữa hết.
Mẹ biết rằng những người
mua hàng khác sẽ quan sát và nghe thấy cuộc trò chuyện của chúng tôi, vì vậy bà
ấy chỉ nhẹ nhàng nắm tay tôi và nhắc tôi hãy giữ yên lặng bằng một giọng rất dịu
ngọt. Tôi khoái trá khi biết mình đang thắng thế so với mẹ, nhưng tôi cũng biết
rằng lát nữa đây khi đã ra ngoài, tôi sẽ phải trả giá đắt. Đúng như tiên liệu của
tôi, mẹ tát cho tôi một cái rõ đau khi chúng tôi còn chưa kịp bước vào xe. Đến
khi vào trong xe, bà ấy ra lệnh cho tôi nằm xuống sàn dưới băng ghế phía sau để
các quý tử của bà thay phiên nhau dẫm chân lên miệng tôi để bắt tôi “câm miệng
lại”. Sau đó khi vừa về đến nhà, mẹ bắt tay vào pha chế ngay một xô đặc biệt
dung dịch amoniac và thuốc tấy Clorox. Mẹ còn quăng miếng giẻ lau vào trong cái
xô, vì hẳn là bà đã đoán ra được tôi đã sử dụng nó làm mặt nạ. Ngay khi bà ấy vừa
đóng cửa nhà tắm lại, tôi vội vã bò đến bên cái lỗ thông hơi. Nhưng chẳng ích
gì. Chẳng có một chút không khí sạch nào luồng qua cái lỗ bé tí ấy cả. Tôi ở
trong nahf tắm như thế chắc cũng phải hơn một giờ đồng hồ, bởi làn khói xám đã
phủ dày đặt khắp căn phòng nhỏ. Nước mắt tôi chảy giàn giụa. Dường như nước mắt
còn giúp cho thứ chất độc kia phát tác hơn nữa. Tôi cứ thế khạc nhổ và nôn ọe
cho đến khi gần ngất đi. Sau cùng mẹ cũng mở cửa phòng tắm ra, tôi gắng gượng
vùng dậy chạy bổ ra ngoài hành lang, nhưng mẹ đã đưa tay túm cổ tôi lại. Bà ấy
cố sức nhấn đầu tôi vào cái, nhưng tôi đã chống cự quyết liệt. Bà đành chịu
thua. Nhưng kế hoạch nổi loạn của tôi cũng theo đó mà tan biến. Sau hình phạt
“phòng hơi ngạt” dài hơi hơn những lần bình thường, tôi lại trở về là một đứa
trẻ nhút nhát, nhưng sâu thẳm trong lòng, tôi vẫn cảm nhận được trong tôi có một
sự dồn nén ghê gớm đang hình thành như một ngọn núi lửa có thể phun trào bất cứ
lúc nào.
Điều duy nhất giúp tôi tỉnh
táo chính là đứa em trai bé nhỏ Kevin của tôi. Nó là một đứa bé rất xinh xắn và
tôi yêu quý nó vô cùng. Ba tháng rưỡi trước khi nó được sinh ra, mẹ cho phép
tôi xem một bộ phim hoạt hình đặc biết về lễ Giáng sinh. Sau đó, chẳng hiểu vì
sao mẹ đã bảo tôi ngồi lại trong phòng của mấy anh em trai của tôi. Nhưng chỉ
vài phút sau đó, khi không còn ai trong phòng, bà ta đã lao vào túm lấy cổ tôi
và siết chặt cho đến khi tôi ngạt thở. Tôi oằn người, cố giãy giụa để thoát khỏi
bàn tay gọng kìm của bà ấy. Ngay khi tôi thấy như mình không thể chịu đựng hơn
nữa và sắp ngất đi thì theo bản năng, tôi đá mạnh vào chân bà ấy để buộc bà ấy
phải buông tôi ra. Nhưng chính việc làm đó khiến tôi vô cùng hối tiếc.
Khoảng một tháng sau lần
mẹ cố bóp cổ tôi, bà ấy nói với tôi rằng tôi đã đá quá mạnh vào bụng của bà khiến
em bé khi sinh ra sẽ bị dị tật. Nghe xong, tôi thấy như mình là một kẻ sát
nhân. Mẹ không chỉ nói điều đó với mỗi tôi. Bà ấy còn bịa đặt ra nhiều cách nói
khác nhau về chuyện xảy ra hôm ấy với nhiều người khác nữa. Bà nói rằng bà chỉ
muốn ôm hôn tôi nhưng tôi đã liên tục đá đấm vào bụng của bà. Bà kết tội tôi rằng
tôi đá bà chỉ vì tôi ghen tị với đứa em còn đang nằm trong bụng mẹ. Bà còn nói
rằng tôi lo sợ đứa bé sẽ chiếm hết tình thương của bà dành cho tôi. Tôi thật sự
rất yêu Kevin, nhưng từ khi tôi không được phép nhìn nó cũng như những người
anh em khác, tôi đã không có cơ hội nào để bày tỏ tình cảm của mình. Tôi còn nhớ
rất rõ một ngày thứ Bảy nọ, mẹ dẫn các cậu quý tử đi xem đấu bóng chày ở
Oakland, để cha ở nhà trông Kevin còn tôi thì vẫn loay hoay với đống công việc
của mình. Khi tôi đã ngơi tay, cha bế Kevin ra khỏi chiếc giường cũi nhỏ bé của
nó. Tôi say sưa ngắm nó bò loanh quanh trong bộ quần áo bé xíu rất đáng yêu. Thằng
bé mới xinh xắn làm sao. Khi Kevin ngẩng đầu lên cười với tôi, tim tôi đập rộn
ràng. Nụ cười của nó đã xua tan mọi đau đớn trong tôi. Vẻ thánh thiện của thằng
bé như thôi miên tôi, và thế là tôi cứ bò theo nó khắp nhà. Thỉnh thoảng tôi
còn lau sạch nước dãi trên miệng nó và tôi luôn đứng cách nó chỉ khoảng một bước
chân để trông chừng không cho nó ngã. Trước khi mẹ về, tôi còn kịp bày ra vái
trò chơi để chọc nó cười. Tiếng cười khanh khách giòn tan của Kevin khiến lòng
tôi ấm lại. Kể từ đó, mỗi khi cảm thấy chán nản hay mệt mỏi thì tôi lại nghĩ đến
Kevin. Lòng tôi cũng vui lên rộn ràng những khi nghe thấy tiếng thằng bé hò reo
trong lúc chơi đùa.
Những phút giây vô lo ngắn
ngủi của tôi bên Kevin rồi cũng qua đi, và đớn đau, hận thù cũng quay trở lại.
Tôi cố đầu tranh để chôn vùi mọi cảm xúc của mình, nhưng không thể. Tôi biết
tôi chưa bao giờ sinh ra để được yêu thương. Tôi biết mình sẽ chẳng bao giờ có
được một cuộc sống bình thường như các anh em của mình. Tồi tệ nhất, tôi biết rằng,
rồi đây Kevin cũng sẽ ghét bỏ tôi; vấn đề chỉ là thời gian mà thôi.
Cuối thu năm ấy, mẹ bắt đầu
trút những cơn giận của mình lên nhiều người khác nữa. Bà ấy tỏ ra khinh miệt
tôi hơn bao giờ hết, nhưng bà cũng bắt đầu xa lánh bạn bè, chồng, anh trai và cả
mẹ đẻ của bà nữa. Tuy còn rất nhỏ, nhưng tôi biết mẹ sống không hòa thuận lắm với
gia đình của mình. Bà nghĩ mọi người ai cũng bắt bà phải làm cái này đừng làm
cái kia. Bao giờ bà ấy cũng cảm thấy khó chịu, đặc biết là đối với mẹ đẻ của
mình, cũng là một phụ nữ rất cứng rắn. Bà ngoại thường nhắc mẹ nên mua lấy một
cái áo mới để mặc hoặc nhắc mẹ nên để ý đến bề ngoài sao cho gọn gàng hơn. Mẹ
không những không hề để tâm đến những gì bà ngoại nói mà còn kêu la, mắng chửi
không ngừng cho đến khi bà ngoại bỏ về mới thôi. Thỉnh thoảng bà ngoại rất muốn
giúp tôi, nhưng ý tốt của bà chỉ khiến mọi việc thêm tồi tệ mà thôi. Mẹ nhấn mạnh
rằng bề ngoài của trông ra sao cũng như bà ấy cai quản gia đình mình thế nào là
“việc không ai được phép xen vào”. Sau vài lần xung đột với mẹ, bà ngoại càng
lúc càng ít đến nhà tôi chơi hơn.
Khi kỳ nghỉ lễ đến gần, mẹ
gây gổ với bà ngoại ngày một nhiều hơn qua điện thoại. Mẹ gọi mẹ đẻ của mình bằng
bất kỳ cái tên xấu xa nào mà bà có thể nghĩ ra. Mối quan hệ căng thẳng giữa mẹ
và bà ngoại càng trở nên tồi tệ thì tôi càng bất lợi bởi sau mỗi trẫn cãi vã,
tôi luôn trở thành vật cho mẹ trút giận. Một lần nọ, khi đứng dưới tầng hầm,
tôi nghe thấy tiếng mẹ gọi mấy người anh em của tôi vào nhà bếp và nói với họ rằng
từ giờ trở đi coi như họ không hề có bà ngoại hay cậu Dan gì nữa.
Trong mối quan hệ với
cha, mẹ cũng đối xử nhẫn tâm như thế. Mỗi lần cha về nhà, bà bắt đầu gọi tên
cha mà chửi mắng ngay từ lúc ông vừa bước chân qua khỏi cửa. Cha cũng chán ngán
những cảnh đó, thế là ông thường về nhà trong trạng thái say mèm. Để tránh sự
đay nghiến của mẹ, cha thường dành thời gian làm những việc vặt vãnh quanh nhà.
Cha đi làm, mẹ cũng không tha cho ông. Mẹ thường gọi điện đến trạm cứu hỏa của
cha và gọi ông ấy bằng đủ thứ tên. “Đồ vô dụng” và “kẻ bất tài nghiện ngập” là
hai trong số những cái tên mà bà hay dùng để gọi cha. Chỉ sau vài lần như vậy,
người lính cứu hỏa trực điện thoại cứ thế thả ông nghe xuống mà không buồn nhắn
lại với cha tôi. Điều đó càng khiến mẹ điên cuồng hơn, và lần nào cũng vậy, tôi
lại trở thành nơi trút giận của bà.
Có một dạo mẹ cấm cha về
nhà. Chúng tôi chỉ được nhìn thấy cha khi đến San Francisco lấy tiền lương của
ông để chi trả cho các khoản chi phí trong nhà mà thôi. Một lần nọ trên đường đến
gặp cha, chúng tôi đi ngang qua Công viên Golden Gate. Dù lúc ấy lòng không
vui, nhưng tôi vẫn thấy nhớ về một thời tươi đẹp bởi cái công viên ấy là một điều
gì đó rất có ý nghĩa với cả gia đình chúng tôi. Hôm ấy, mấy anh em tôi đều im lặng
không nói lời nào. Tất cả dường như đều cảm nhận rằng mọi thứ mãi mãi sẽ không
bao giờ trở lại như trước được nữa. Có lẽ không riêng gì tôi, mà những người
anh em tôi cũng cảm thấy rằng thời gian tươi đẹp ấy đã kết thúc.
Rồi có một thời gian, mẹ
bỗng thay đổi thái độ với cha. Một ngày Chủ nhật nọ, mẹ đẩy hết tất cả chúng
tôi vào xe, rồi bà lái xe đến từng cửa hiệu để tìm mua cho được đĩa nhạc tiếng
Đức. Bà muốn tạo nên một không khí thật đặc biệt khi cha về đến nhà. Bà dành trọn
buổi chiều hôm ấy để chuẩn bị một bữa tiệc thịnh soạn, cũng với một vẻ hăng hái
nhiệt tình từng thấy ở bà nhiều năm trước. Rồi bà bỏ ra hàng giờ liền để chăm
chút đầu tóc và trang điểm sao cho ưng ý nhất. Chẳng những thế, mẹ còn mặc một
bộ váy áo gợi nhớ về hình ảnh của bà trước đây. Lúc ấy, tôi tin rằng Chúa đã
nghe thấu được những lời nguyện cầu của tôi. Trong lúc mẹ đi quanh nhà để chỉnh
sửa lại những đồ vật nằm sai vị trí, đầu óc tôi chỉ toàn nghĩ đến thức ăn. Tôi
tin mẹ sẽ hồi tâm chuyển ý mà cho phép tôi được ngồi ăn cùng với gia đình.
Nhưng đó là một hy vọng không bao giờ thành hiện thực.
Thời gian chậm chạp trôi.
Ai cũng mong cha sẽ về nhà vào khoảng một giờ trưa để dùng bữa với cả nhà, và mỗi
khi mẹ nghe có tiếng chiếc xe nào trờ tới, bà lại lao ra cửa, vòng tay rộng mở
chuẩn bị chào đón cha. Quá bốn giờ chiều, cha lảo đảo bước vào nhà cùng với một
đồng nghiệp của mình. Sự trang hoàng và không khí như hội ở nhà đã khiến cha rất
ngạc nhiên. Từ trong phòng ngủ, tôi có thể nghe thấy giọng nói không được tự
nhiên lắm của mẹ khi bà cố tỏ ra thật dịu dàng với cha. Chỉ vài phút sau đó,
cha loạng choạng đi vào phòng ngủ. Tôi kinh ngạc nhìn ông. Chưa khi nào tôi thấy
cha say xỉn đến vậy. Chẳng cần cha phải nói ra điều đó vì tôi đã ngửi thấy mùi
rượu nồng nặc trên người ông. Hai mắt ông đỏ ngầu. Ông không thể đứng vững và
thậm chí còn không mở mắt ra nổi. Trước khi cha bước vào phòng, tôi dường như
đoán ra được ông sắp làm gì. Tôi hiểu tại sao cha trở về nhà. Nhưng đến khi
nhìn thấy cha nhét đồ đạc vào cái túi xách màu xanh, thì tôi chỉ muốn vỡ òa.
Tôi chỉ ước sao mình có thể nhỏ lại để chui vào cái túi của cha và ra đi cùng
ông mà thôi.
Khi đã đóng gói đồ đạc
xong, cha quỳ xuống và lẩm bẩm điều gì đó với tôi. Càng nhìn cha, cả người tôi
càng trở nên bủn rủn. Đầu óc tôi đờ đẫn. Đâu rồi vị Anh hùng của tôi? Điều gì
đã xảy ra với ông ấy? Khi cha mở cửa toan bước ra ngoài, người bạn say rượu của
cha từ đâu đâm sầm vào người ông, khiến ông gần như ngã bổ xuống sàn nhà. Cha lắc
đầu rồi thốt lên buồn bã:
- Cha không chịu đựng được
nữa rồi. Tất cả mọi thứ. Mẹ con, cái nhà này, cả con nữa. Cha không chịu đựng
thêm được nữa rồi.
Trước khi cha đóng cửa
phòng lại, tôi còn nghe thấy ông thều thào:
- Cha... Ch... a... Cha
xin lỗi con.
Thế là kế hoạch cho bữa tối
của lễ Tạ ơn năm ấy hoàn toàn thấy bại. Như một hành động tốt đẹp để tỏ lòng
thành với đấng bề trên, mẹ cho phép tôi được cùng ngồi ăn với gia đình. Tôi ngồi
lọt thỏm trong ghế, tuyệt đối im lặng và tập trung cao độ để không nói hoặc
không làm gì khiến mẹ phải chú ý. Tôi có thể cảm nhận được sự căng thẳng giữa
cha và mẹ. Họ hầu như không nói gì cả. Các anh em của tôi cũng chỉ ăn uống thật
e dè. Thế rồi bữa ăn kết thúc bằng những ngôn từ chua chát của hai người. Sau
khi cuộc chiến kết thúc, cha bỏ đi, mẹ mở tủ lấy chai rượu ưa thích rồi ngồi
vào một góc ghế sô pha. Bà ngồi đấy một mình, uống hết ly này đến ly khác.
Trong lúc dọn dẹp bàn ghế và rửa chén, tôi có thể thấy rằng lần này thì tôi
không phải là người duy nhất bị ảnh hưởng bởi cách cư xử của mẹ. Dường như họ
cũng đã nếm được cảm giác sợ hãi mà tôi đã phải chịu đựng trong suốt mấy năm
qua.
Rồi có một dạo, cha mẹ lại
ra sức chỉ trích lỗi lầm của nhau. Nhưng đến ngày lễ Giáng sinh thì dường như cả
hai đã quá mệt mỏi với trò đó. Nhưng việc phải gượng gạo đối xử tốt với nhau lại
càng khiến họ thêm ức chế. Giáng sinh năm đó, trong khi các anh em của tôi đang
lui cui mở quà thì tôi ngồi ở đầu cầu thang và nghe thấy tiếng cha mẹ lời qua
tiếng lại với nhau bằng những từ khó nghe nhất. Tôi thầm cầu nguyện sao cho họ
có thể giả vờ đối xử tốt với nhau chỉ trong một ngày đặc biệt như thế này thôi
cũng được. Và cũng hôm ấy, khi ngồi dưới chân cầu thang dưới tầng hầm, tôi hiểu
ra một điều rằng, để cho cha mẹ của tôi được hạnh phúc, có lẽ Chúa muốn tôi phải
chết.
Một vài ngày sau đó, mẹ
đóng gói hết quần áo của cha vào mấy chiếc thùng các-tông, rồi bà lái xe đưa
chúng tôi cùng những chiếc thùng ấy đến một nơi cách đồn cứu hỏa cha đang làm
việc vài dãy nhà. Lúc chúng tôi đến, cha đang đứng đợi trước một cái nhà nghỉ
nhỏ bé tồi tàn. Gương mặt cha lúc bấy giờ đã có nét gì đó thanh thản hơn. Tim
tôi nhói đau. Cuối cùng thì điều đó cũng đã xảy ra - cha mẹ tôi ly thân. Tôi nắm
chặt hai bàn tay lại, chặt đến nỗi tưởng chừng như các ngón tay có thể bị ứ máu
mà bể nát ra. Trong lúc mẹ và các anh em của tôi vào nơi cha ở, tôi ngồi trong
xe, gọi tên ông ấy mà nguyền rủa không ngừng. Tôi ghét ông ấy vì ông ấy đã trốn
chạy mà bỏ rơi tôi. Nhưng có lẽ tôi ganh tỵ với ông ấy thì đúng hơn. Tôi ganh tỵ
vì ông ấy đã trốn chạy được, còn tôi thì không. Tôi vẫn phải sống với mẹ trong
căn nhà quỷ quái đó. Trước khi mẹ lái xe đi, cha cúi xuống bênh cánh cửa chỗ
tôi đang ngồi và đặt vào tay tôi một gói nhỏ. Đó là tài liệu mà cha đã hứa cho
tôi để làm bài thuyết trình về sách ở lớp. Tôi biết cha rất thanh thản khi từ
nay không còn phải sống cùng mẹ, nhưng tôi cũng thấy cả nét buồn bã ẩn trong mắt
ông khi xe bắt đầu lăn bánh đưa chúng tôi khuất vào dòng xe đông đúc.
Chuyến xe quay trở về
thành phố Daly rơi vào một bầu không khí vô cùng ngột ngạt. Nếu có trò chuyện,
mấy người anh em của tôi cũng phải nói rất khẽ để không làm phiền đến mẹ. Xe về
đến gần thành phố, mẹ cố tạo bầu không khí vui vẻ cho mấy đứa con của bà bằng
cách đưa chúng vào tiệm thức ăn nhanh MacDonald’s. Cũng như mọi khi, tôi ngồi lại
trong xe, còn mấy mẹ con họ kéo nhau vào trong tiệm. Mở cửa xe, tôi ngước nhìn
lên bầu trời cao lộng. Một đám mây xám u ám che phủ hết mọi thứ, vài giọt sương
lạnh lẽo còn rơi cả lên mặt tôi. Nhìn màn sương giăng mờ khắp lối, tôi bỗng
rùng mình sợ hãi. Tôi biết giờ thì không còn gì có thể ngăn cản được mẹ nữa rồi.
Hy vọng mỏng manh nhất của tôi cũng đã tan biến. Tôi đã không còn ý chí để đi
tiếp con đường của mình nữa. Tôi như một tử tù đang chờ ngày hành quyết, và
càng khổ sở hơn khi không thể biết được bao giờ mới đến cái ngày ấy.
Tôi muốn vùng chạy ra khỏi
xe, nhưng nỗi sợ hãi trong tôi khiến tôi không thể nhúc nhích gì được. Tôi căm
ghét bản thân mình vì sự yếu đuối đó. Thay vì chạy trốn, tôi giữ chặt lấy cái
gói cha đã đưa và vùi đầu vào đó, cố tìm mùi nước hoa co-lô-nhơ mà ông thường
dùng để có cảm giác ông vẫn đang ở bên cạnh.
Nhưng chẳng có bất kỳ mùi
hương quen thuộc nào cả. Tôi bắt đầu nấc lên nghẹn ngào. Ngay trong giây phút ấy,
tôi căm ghét Chúa kinh khủng, ghét hơn bất cứ điều gì đáng ghét trên đời này.
Chúa biết rõ tôi đã chống chọi thế nào trong những năm qua, thế nhưng Ông ấy chỉ
biết đứng nhìn mọi thứ ngày càng trở nên tồi tệ hơn mà thôi. Ông ấy cũng chẳng
buồn giúp tôi đến cả việc ưu lại mùi nước hoa quen thuộc mà cha thường dùng sau
khi cạo râu. Chúa đã hoàn toàn lấy đi niềm hy vọng lớn lao nhất của tôi. Tôi thầm
nguyền rủa Ông ấy, và tôi ước giá như mình chưa từng được sinh ra trên cõi đời
này.
Nghe thấy tiếng mẹ cùng
các anh em của mình đang đến gần, tôi nhanh chóng lau khô nước mắt và quay về cố
thủ bằng lớp vỏ bọc cứng rắn của mình. Khi mẹ lái xe ra khỏi bãi đậu xe của tiệm
MacDonald’s, bà ấy liếc nhìn tôi và nhếch mép:
- Bây giờ mày đã hoàn
toàn thuộc về tao rồi. Thật là tồi tệ vì thằng cha mày không còn lởn vởn ở đây
để bảo vệ mày nữa.
Tôi biết mọi sự kháng cự
của tôi là vô ích. Tôi sẽ không thể sống sót. Tôi biết rằng bà ấy ẽ giết tôi,
không hôm nay thì cũng là ngày mai. Hôm đó, tôi những mong mẹ sẽ nhân từ mà giết
chết tôi ngay đi.
Khi các anh em của tôi
còn đang ngồm ngoàm món ham-bơ-gơ ngon lành, tôi đã lén chúng đan siết hai tay
vào nhau, cúi thấp đầu, nhắm mắt lại và hết lòng cầu nguyện. Khi mẹ rẽ xe vào
hướng nhà để xe, tôi biết thời khắc của mình đã đến. Trước khi mở cửa xe, tôi gục
đầu xuống; với sự thanh thản tuyệt đối trong tâm hồn, tôi thì thầm:
-... Và hãy giải thoát
con khỏi quỷ dữ. Amen.
Lời kết
Hạt Sonama,
California
Vậy là tôi vẫn còn sống.
Tôi đứng lặng người ngắm
vẻ đẹp bất tử của Thái Bình Dương. Một cơn gió nhẹ thổi xuống từ những ngọn đồi
ở phía sau lưng, làm mát cả trời chiều. Như mọi khi, hôm nay là một ngày thật đẹp.
Hoàng hôn dần tắt, nhường chỗ cho màn đêm huyền bí đang buông xuống. Cả bầu trời
như sắp bị đốt cháy bởi những quầng sáng rực rỡ khi nó chuyển từ sắc xanh nhẹ
nhàng sang một màu cam vàng rực. Tôi nhìn về phía tây, dẫu khiếp sợ nhưng vẫn
dán mắt như bị thôi miên vào những cơn sóng đang vỗ dập mạnh mẽ liên hồi. Một
ngọn sóng khổng lồ từ khơi xa lướt vào đất liền, vỗ mạnh vào bờ tạo nên những
âm thanh ầm ầm như sấm sét, rồi vỡ tan ra thành muôn ngàn đợt sóng nhỏ. Bọt nước
trắng xóa chưa kịp quấn lấy chân tôi thì hơi nước đã hắt vào mặt tôi mặn chát.
Rồi những bọt nước bé xíu ấy nhanh chóng bị một đợt sóng khác cuốn ra xa. Đột
nhiên, một mảnh gỗ trôi dạt bị hất lên bờ. Miếng gỗ không rõ hình thù, thủng lỗ
chỗ nhưng phẳng phiu và trơn láng sau một thời gian trôi dạt, thấm nước và chịu
nắng trên biển. Tôi cúi xuống định nhặt miếng gỗ lên. Nhưng khi tôi vừa đưa tay
ra thì sóng biển đã dội vào cuốn nó đi xa tít. Tôi khựng người nhìn theo. Dường
như miếng gỗ đang cố chống chọi lại cơn sóng dữ để được ở lại với bến bờ. Nó để
lại một vệt dài trên cát biển trước khi trôi vào làn nước và trồi thụt dữ dội rồi
mới ngoan ngoãn đi theo con sóng về với đại dương bao la.
Tôi kinh ngạc chứng kiến
cảnh tượng diễn ra với mảnh gỗ. Nó gợi cho tôi nhớ về cuộc sống trước đây của
mình. Giai đoạn đầu đời của tôi cực kỳ hỗn tạp, cuộc sống của tôi khi ấy hoàn
toàn vô định. Hoàn cảnh sống càng tệ hại, thì tôi càng cảm thấy như có một sức
mạnh vô biên vào đấy cuốn tôi vào sâu trong những vòng luẩn quẩn khổng lồ. Tôi
đã chống chọi hết sức, nhưng vòng tròn luẩn quẩn ấy dường như không bao giờ kết
thúc. Cho đến một ngày, đột nhiên, không báo trước, tôi được tự do.
Tôi thật may mắn. Quá khứ
đen tối của tôi đã lùi lại phía sau. Cho dù mọi chuyện tồi tệ thế nào đi nữa,
thì tôi cũng vẫn hiều rằng cuộc sống của tôi phụ thuộc vào chính tôi. Tôi từng
tự hứa rằng nếu tôi thoát ra được cảnh sống ngục tù đó mà vẫn còn sống sót, thì
tôi sẽ làm một điều gì đó cho bản thân mình. Tôi sẽ cố gắng để làm một người tốt.
Hôm nay, tôi đã làm được điều đó. Tôi khẳng định rằng tôi đã để quá khứ ngủ
yên, tôi xem phần đời đó là một mảnh nhỏ trong tất cả những trải nghiệm mà tôi
sẽ kinh qua trong cuộc sống vẫn đang đợi tôi phía trước. Tôi biết cái lỗ đen vũ
trụ sâu thẳm vẫn ở đâu đó ngoài kia, chờ đợi để nuốt chửng tôi và kiểm soát mãi
mãi số phận của tôi - nhưng điều đó chỉ xảy ra khi nào nó được tôi cho phép. Giờ
đây, tôi đã hoàn toàn nắm được quyền kiểm soát cuộc sống của mình.
Tôi thật hạnh phúc. Những
nghiệt ngã trong quá khứ đã giúp tôi có được một ý chí mạnh mẽ. Tôi có khả năng
thích nghi nhanh chóng đồng thời luôn học cách sống sót trong mỗi một hoàn cảnh
éo le. Tôi hiểu được vai trò quan trọng của việc tự động viên mình trong những
lúc khó khăn. Những trải nghiệm của tôi đã cho tôi một cách nhìn khác về cuộc sống,
cách nhìn mà nhìu người khác có thể chưa từng trải qua. Tôi có khả năng nhìn nhận
một cách sâu sắc các vấn đề mà những người khác có thể hờ hững cho qua. Trong
suốt những năm tháng đó, tôi cũng đã phạm phải nhiều lỗi lầm, nhưng tôi đã may
mắn biết dừng lại đúng lúc. Thay vì hoài tưởng về quá khứ, tôi chỉ giữ lại cho
mình đức tin mà chính trong cái ga-ra nhiều năm về trước, tôi đã tâm niệm với
chính mình, đó là Chúa nhân từ luôn ở đâu đó che chở cho tôi, vô hình nâng đỡ
tôi và ban cho tôi sức mạnh những khi tôi cần nhất.
Hạnh phúc của tôi còn là
cơ hội mà ở đó tôi được gặp gỡ biết bao nhiêu con người đã có những ảnh hưởng
tích cực đối với cuộc đời của tôi. Biển người vô tận ấy đã khuyến khích tôi. Biển
người vô tận ấy đã khuyến khích tôi, chỉ cho tôi cách hướng đến những quyết định
đúng đắn và giúp đỡ tôi trên con đường tìm đến thành công cho bản thân mình. Họ
là những người đã khích lệ khát khao chiến thắng trong tôi. Rồi tôi rẽ sang một
hướng đi mới, tôi gia nhập Lực lượng Không quân Hoa Kỳ, nơi giúp tôi khám phá
những giá trị lịch sử và lòng tự hào dân tộc đã thấm nhuần trong máu mà bấy lâu
tôi chưa từng nhận ra. Sau nhiều năm tháng gian truân vất vả, tôi bắt đầu nhận
ra rằng, nước Mỹ chính là vùng đất mà một người đi lên từ khởi đầu thấp hèn vẫn
có thể gặt hái được thành công ngay từ nội tại.
Một con sóng lớn đánh ầm
vào bờ đưa tôi trở về với thực tại. Mảnh gỗ mà tự nãy giờ tôi vẫn quan sát đã
biến mất vào hàng ngàn con sóng cuốn xoáy. Không chút chần chừ, tôi nhanh chóng
rời khỏi nơi ấy, quay trở lại phía chiếc xe. Vài phút sau, tôi lái chiếc Toyota
của mình băng qua những khúc cua ngoằn ngoèo để đi đến một nơi mà tôi gọi là
thiên đường bí mật của riêng tôi. Những năm trước đó, khi tôi còn sống trong cảnh
tăm tối, tôi vẫn thường mơ về một nơi là bí mật của riêng mình. Ngày hôm nay, bất
cứ khi nào tôi có thể đi xa, tôi luôn trở về dòng sông ấy. Sau khi ghé lấy gói
đồ quý giá của mình ở khu nhà nghỉ Rio gần Monte Rio, tôi quay trở ra xe rồi
hòa vào dòng người đông đúc. Với tôi, giờ là lúc phải chạy đua với thời gian,
vì mặt trời đang dần khuất bóng và một trong những ước mơ lớn nhất đời tôi sắp
thành hiện thực.
Vào trong thành phố
Guerneville thanh bình, tôi cho xe giảm dần tốc độ. Tôi đạp thắng rồi cho xe rẽ
phải, sang phần đường cạnh bờ sông. Cửa xe được kéo xuống, tôi hít thật sâu lớp
không khí trong lành, ngọt ngào tỏa ra từ những cây tùng bách gỗ đỏ cao vun vút
đang lả lơi đung đưa trước gió.
Tôi dừng xe trước căn nhà
mà cách đây rất lâu, cả gia đình tôi đã ở vào những kỳ nghỉ hè. Số 17426, đường
Bờ sông. Cũng như nhiều thứ khác xung quanh nó, căn nhà đã thay đổi quá nhiều.
Ngày trước, hai chiếc giường nhỏ xíu được đặt đằng sau lò sưởi. Tôi nhớ không lầm
thì trước trận hồng thủy năm 1986, có lần cái bếp bé xíu đã được cha tôi nới
cho rộng ra. Ngay cả gốc cây cổ thụ to lớn mà năm xưa mấy anh em chúng tôi thường
hay leo trèo hàng giờ không biết mệt, bây giờ cũng đã mục nát cả rồi. Chỉ có
cái trần nhà làm bằng gỗ tuyết tùng tối màu và cái lò sưởi được làm từ đá lấy ở
bến sông là còn giữ được nguyên hiện trạng.
Lùi bước ra cửa, tôi cảm
thấy hơi buồn một chút. Rồi tôi tản bộ dọc theo con đường nhỏ rải đầy sỏi mịn.
Sau đó, tôi dắt con trai Stephen băng qua một lối đi nhỏ bên cạnh căn nhà giống
hệt căn nhà của gia đình tôi. Năm xưa, cha mẹ cũng đã từng dắt anh em tôi băng
ngang qua đó để đi ra bến sông. Tôi và con trai cùng nhìn về hướng tây, cả hai
cha con đều lặng im. Dòng sông Nga bao đời nay vẫn thế, nước vẫn một màu xanh
đen và phẳng lặng như gương, sông cứ thế chảy hiền hòa ra biển Thái Bình bao la
rộng lớn. Nhưng con chim giẻ cùi màu xanh réo gọi nhau khi chúng cất cánh lao
vút vào không trung rồi mất hút sau những tàng cây tùng bách. Nền trời trên cao
giờ đây đang được dệt bởi những sọc sáng màu cam, xanh lẫn lộn. Tôi lại hít thở
một hơi thật sâu và nhắm nghiền mắt, tận hưởng từng phút giây trôi qua như tôi
vẫn thường làm nhiều năm về trước.
Khi tôi mở mắt ra, một giọt
nước mắt đã lăn dài trên má. Tôi quỳ xuống, vòng tay ôm lấy đôi vai của
Stephen. Thằng bé tựa đầu vào tôi và quay sang hôn lên má tôi.
- Cha ơi, con yêu cha.
- Cha cũng yêu con, con
trai ạ. - Tôi đáp lời đứa con trai bé bỏng.
Thằng bé ngước lên nhìn bầu
trời đang tối dần. Mắt mở to, nó rướn người lên như muốn bắt lấy hình ảnh cuối
cùng của mặt trời đang chuẩn bị chìm vào giấc ngủ.
- Đây là nơi con thích nhất
trên thế giới này! - Thằng bé thốt lên.
Cổ họng tôi như nghẹn lại.
Một dòng nước mắt nóng lại chảy xuống.
- Đây cũng là nơi yêu
thích nhất của cha... là nơi yêu thích nhất của cha, con yêu ạ. - Tôi đáp lời
con.
Stephen đang ở độ tuổi
ngây thơ trong sáng nhất của nó, nhưng thằng bé lại cực kỳ nhạy cảm. Như lúc
này đây, khi nhìn thấy những giọt nước mắt nóng mặn đang chảy dài trên gò má
tôi, thằng bé vẫn mỉm cười, để yên cho cha nó đắm mình trong cơn xúc động.
Stephen hiểu tại sao tôi lại khóc. Stephen biết tôi đang khóc bằng những giọt
nước mắt hạnh phúc.
- Cha ơi, con yêu cha.
- Cha cũng yêu con, con
trai ạ.
Tôi được giải thoát.
«
Lùi☰ Mục lục
Tiếng nói người trong cuộc
Dave Pelzer Người sống
sót
Khi sống trong thế giới
tăm tối lúc còn nhỏ, tôi đã rất lo sợ cho cuộc đời của mình và từng có suy nghĩ
rằng mình hoàn toàn đơn độc. Giờ đây khi đã trưởng thành, tôi mới hiểu rằng lúc
ấy tôi không phải là trường hợp duy nhất. Có hàng ngàn trẻ em khác cũng bị ngược
đãi như tôi.
Theo số liệu ước tính từ
nhiều nguồn tài liệu khác nhau thì ở Mỹ, cứ năm trẻ lại có một em bị xâm hại
tình dục, bạo hành tinh thần hoặc thể chất. Thật không may là vẫn có một số người
kém hiểu biết lại cho rằng nạn bạo hành trẻ em chẳng qua chỉ là do các bậc bố mẹ
áp đặt “quyền” của họ để dạy dỗ và đưa con cái vào khuôn phép và đôi khi họ có
hơi quá tay một chút mà thôi. Những người này còn cho rằng việc hành hạ con trẻ
sẽ không ảnh hưởng gì đến chúng khi chúng trưởng thành. Suy nghĩ này của họ đã
bị lệch lạc một cách nghiêm trọng.
Một ngày nào đó, những
người trưởng thành từng là nạn nhân sống trong quá khứ tăm tối của nạn bạo hành
trẻ em có thể sẽ trút bỏ nỗi thất vọng dồn nén bấy lâu của họ với những người
xung quanh, với cả những người mà họ yêu quý. Xã hội từng gióng lên hồi chuông
cảnh tỉnh từ một số trường hợp bạo hành. Những trường hợp này đã thu hút sự chú
ý của giới truyền thông và rất nhiều người dân trong cả nước. Chúng ta từng
nghe nói về một người cha là luật sư đấm đá đứa con của mình cho đến khi nó bất
tỉnh nằm lăn lóc trên sàn nhà, còn ông ấy thì thản nhiên đi ngủ. Chúng ta cũng
đã nghe về một người cha nhấn đầu hai đứa con nhỏ của mình vào trong toa-lét,
sau đó cả hai đứa trẻ này đều chết. Một trường hợp dị kỳ khác, là lần lượt cả
cha lẫn mẹ ở một gia đình nọ mỗi người đã giết chết một đứa con của mình rồi giấu
xác của chúng suốt bốn năm trời, vẫn còn có những câu chuyện khác với kết cục
đau lòng hơn nữa, như câu chuyện về một đứa trẻ bị ngược đãi, khi lớn lên nó đã
trở thành kẻ gây ra cuộc thảm sát đẫm máu tại một cửa hiệu thức ăn nhanh
McDonald’s. Hắn ta đã nã đạn vào nhiều nạn nhân vô tội cho đến khi bị cảnh sát
bắn chết tại chỗ.
Những trường hợp bạo hành
phổ biến hơn xảy ra với những nạn nhân không được nhắc đến tên tuổi, sau đó họ
đã vĩnh viễn biến mất không để lại bất kỳ dấu vết nào như trường hợp của một bé
trai vô gia cư sống dưới chân cầu. Mỗi năm hàng ngàn bé gái bị ngược đãi phải
trốn chạy khỏi gia đình và bản thân để kiếm sống. Những nạn nhân khác thì nổi
loạn bằng cách gia nhập vào những băng đảng chuyên hoạt động bạo lực và phá hoại.
Rất nhiều nạn nhân của nạn
bạo hành trẻ em đã tìm cách chôn sâu quá khứ đen tối của họ. Họ tuyệt đối giữ
kín quá khứ ấy đến nỗi không một ai nghĩ rằng họ có thể sẽ trở thành người phạm
tội ngược đãi người khác. Họ vẫn sống cuộc sống bình thường, lập gia đình, chăm
sóc gia đình và gầy dựng sự nghiệp như bao người khác. Nhưng những vấn đề thông
thường xảy ra trong đời sống hàng ngày dễ dàng đẩy họ - nạn nhân của nạn bạo
hành năm xưa - đến chỗ cư xử giống như những gì mà họ đã trải qua khi còn bé.
Chồng, vợ và con cái của họ sẽ trở thành nơi để họ trút cơn giận dữ; và họ cứ
thế lặp lại cái vòng luẩn quẩn kia một cách vô thức.
Một số nạn nhân của nạn bạo
hành trẻ em lại sống trong im lặng với vỏ bọc kín đáo của mình. Họ tin rằng nếu
không khơi lại quá khứ thì mọi chuyện xem như chưa từng tồn tại. Dường như
không ai trong số họ muốn nhắc lại quá khứ.
Mỗi năm tại Mỹ, hàng triệu
đô-la được rót vào các trung tâm bảo vệ trẻ em. Số tiền này được dùng vào việc
trang bị các tiện ích ở các địa phương chẳng hạn như trại nuôi dưỡng và những
ngôi nhà dành cho trẻ vị thành niên. Số tiền ấy còn được trợ cấp cho hàng ngàn
tổ chức tư nhân có nhiệm vụ ngăn ngừa tối thiểu nạn bạo hành trẻ em, hướng dẫn
tư tưởng đối với những người cha, người mẹ ngược đãi trẻ em cũng như cho chính
các nạn nhân. Mỗi năm con số trẻ em bị bạo hành lại một tăng cao. Năm 1990, chỉ
riêng ở Mỹ đã có hơn hai triệu rưỡi trường hợp trẻ em bị bạo hành. Năm 1991,
con số đó tăng lên hai triệu bảy trăm ngàn trường hợp. Còn tại thời điểm quyển
sách này được viết, con số thống kê trẻ em bị ngược đãi đã lên đến hơn ba triệu
trường hợp.
Tại sao lại có tình trạng
này? Điều gì đã gây nên bi kịch trẻ em bị ngược đãi? Thực trạng này có thật sự
tồi tệ như người ta vẫn nghĩ? Chúng ta có thể chấm dứt bi kịch đó hay không? Và
có lẽ câu hỏi quan trọng nhất chính là trong con mắt trẻ thơ, ngược đãi là như
thế nào?
Những gì bạn vừa đọc là
câu chuyện về một gia đình bình thường đã bị phá hỏng bởi cách che giấu bí mật
của họ. Câu chuyện chuyển tải hai nội dung chính: trước hết, nó cho người đọc
biễt rằng một người cha, người mẹ dịu dàng, chu đáo có thể trở thành một con
quái vật trút giận lên những đứa con của họ một cách tàn nhẫn và lạnh lùng như
thế nào; thứ hai, câu chuyện cho độc giả thấy được sức mạnh tiềm tàng cũng như
nỗ lực tinh thần to lớn của những nạn nhân bị ngược đãi để vượt qua những hoàn
cảnh tưởng chừng như không có lối thoát.
Một số độc giả có thể cho
đây là chuyện bịa đặt dùng để gây sự chú ý, nhưng thực sự thì ngược đãi trẻ em
là một hiện tượng có thật trong xã hội chúng ta. Ngược đãi trẻ em sẽ tạo nên một
phản ứng liên hoàn và ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong gia đình. Tổn thương
lớn nhất chính là đứa trẻ, sau đó đến người vợ hoặc chồng khi phải đóng vai trò
là người đứng giữa con trẻ và người bạn đời của mình. Không những thế, nó còn
lan sang những đứa trẻ khác trong gia đình, chúng không hiểu chuyện và cảm thấy
sợ hãi khi phải tận mắt chứng kiến tất cả. Điều này cũng liên quan đến những
người hàng xóm - những người chắc chắn có nghe tiếng thét cầu cứu nhưng chẳng
có phản ứng gì, những người thầy, người cô thấy những vết bầm và phải lưu tâm đến
những đứa trẻ mất tập trung trong giờ học và cả những người muốn can thiệp vào
nhưng lại sợ mất lòng.
Đây không chỉ là một câu
chuyện liên quan đến sự sống còn, mà nó còn là câu chuyện về khả năng chiến thắng
bản thân. Ngay trong những lúc tăm tối nhất, tinh thần cũng không thể nào bị
khuất phục. Sống sót được quả là điều rất quan trọng, nhưng điều ý nghĩa nhất vẫn
là ý chí mạnh mẽ của con người.
Đây là câu chuyện thật của
tôi, của riêng mình tôi. Suốt nhiều năm, tôi bị giam hãm trong bóng tối của cả
tinh thần và thể chất, tôi cô độc và là một kẻ thua cuộc thảm thương. Lúc đầu
tôi chẳng muốn gì hơn việc được sống bình thường giống những người khác, nhưng
sự khích lệ đã tăng dần. Tôi muốn là một người chiến thắng. Tôi đã phục vụ
trong quân đội hơn mười ba năm. Giờ đây tôi cống hiến cho đất nước bằng việc tổ
chức những buổi hội thảo, những buổi làm việc dựa trên tình huống thực tế, giúp
đỡ mọi người thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn. Thông qua những người tham dự hội
thảo, tôi gửi thông điệp đến những người từng bị ngược đãi, hay những người
đang phải làm việc với những nạn nhân này. Tôi cho họ thấy những viễn cảnh phát
sinh tính hung bạo từ những đứa trẻ bị ngược đãi và cách nuôi dưỡng hy vọng về
một tương lai tốt đẹp hơn. Nhưng quan trọng hơn là tôi đã tự mình phá bung cái
vòng luẩn quẩn đó và trở thành một người cha biết yêu thương và luôn động viên
con cái.
Ngày nay, có hàng triệu
người đang đau khổ cần sự trợ giúp. Sứ mạng của tôi chính là giúp đỡ những con
người này. Tôi tin, điều quan trọng nằm ở chỗ họ biết được rằng cho dù quá khứ
của họ có thế nào đi nữa, họ vẫn có thể vượt lên bóng đêm tăm tối để hướng đến
một ngày mai tươi sáng hơn. Nghịch lý ở chỗ, nếu như không từng là một đứa trẻ
bị ngược đãi trong quá khứ, có lẽ tôi sẽ không được là tôi như bây giờ. Chính bởi
ấu thơ tối tăm ấy của mình, tôi đã có được một cái nhìn thấu đáo hơn rất nhiều
về cuộc sống. Tôi đã rất may mắn khi có thể biến đau thương thành chiến thắng.
Có lẽ chưa có giai đoạn
nào trong lịch sử mà các gia đình lại căng thẳng như hiện nay. Sự thay đổi về
kinh tế và xã hội đã đẩy các gia đình đến giới hạn của sự chịu đựng và vì thế
trẻ em lại càng dễ trở thành nạn nhân của nạn ngược đãi. Nếu xã hội quyết tâm
tuyên chiến với vấn nạn này, chắc chắn nó sẽ bị đưa ra ánh sáng. Và khi ấy,
nguyên nhân của sự ngược đãi sẽ được đem ra xem xét để xã hội có những hỗ trợ kịp
thời. Trẻ thơ phải được vô tư chơi đùa dưới ánh mặt trời chứ không phải sống
trong những chuỗi dài ác mộng với những mảng tối trong tâm hồn.
Steven E. Ziegler
Giáo viên
Tháng 9 năm 1992, như thường
lệ, đó là thời gian tôi phải trở lại công việc giảng dạy ở trường học. Trong suốt
22 năm đi dạy, tôi vẫn giữ trong lòng niềm say mê và cảm giác hồi hộp không ngừng.
Có gần 200 sinh viên mới mà tôi phải quen mặt biết tên cùng vài thành viên mới
trong khoa mà tôi phải đến chào hỏi. Mọi thứ có vẻ chẳng có gì thay đổi, cho đến
khi tôi nhận được một tin nhắn qua điện thoại vào ngày 21 tháng 9. Tin nhắn đó
đã đưa tôi quay trở về 20 năm trước: “David Pelzer muốn thầy liên lạc với người
đại diện của ông ấy để bàn về vụ ngược đãi trẻ em cách đây 20 năm mà thầy có biết
một số thông tin”. Quá khứ nhanh chóng hiện về trong tôi.
Tôi vẫn còn nhớ rất rõ
David Pelzer. Lúc ấy tôi là một giáo viên mới ra trường, và khi nhìn lại mọi thứ,
tôi thấy tôi chắng biết gì nhiều về lĩnh vực mà mình đã chọn. Và điều tôi biết
ít nhất chính là nạn ngược đãi trẻ em. Vào đầu những năm 1970, bản thân tôi vẫn
không biết liệu khái niệm ngược đãi trẻ em có tồn tại hay không. Nếu có thì
cùng lắm nó chỉ tồn tại bên lề xã hội cũng như rất nhiều cách sống và hành vi
cư xử không được đề cập đến từ trước đó. Chúng ta đã học được rất nhiều, nhưng
chúng ta còn có một con đường rất dài phía trước để đi.
Trong tâm trí tôi hiện ra
hình ảnh trường Thomas Edison ở thành phố Daly, California. Tháng 9 năm 1972, cậu
bé David Pelzer là một trong những học trò lớp năm mà tôi phụ trách. Lúc đó tôi
còn quá non nớt trong nghề, nhưng may thay trực giác mách bảo tôi rằng có điều
gì đó rất bất ổn với cậu bé. Hộp thức ăn trưa của các học trò bị đánh cắp và cuối
cùng thì phát hiện ra cậu bé đó đã lấy. Những vết bầm tím đáng nghi ngờ trên cơ
thể lộ ra ngoài. Mọi chuyện bắt đầu lộ ra, cậu bé đã bị đánh đập và trừng phạt
quá khắc nghiệt so với những gì mà các bậc cha mẹ có thể áp dụng để răn dạy con
cái. Trong nhiều năm sau đó, tôi còn phát hiện ra trong các lớp mình chủ nhiệm
một vài trường hợp bị ngược đãi nghiêm trọng khác.
Tôi không muốn kể lại từng
chi tiết trong những sự việc mà tôi và các đồng nghiệp làm chứng và báo cáo cho
chính quyền trong nhiều năm trước đó. Hãy để cho David được quyền nói lên điều
đó. Đây quả là một cơ hội tuyệt vời để chàng trai này kể với mọi người về câu
chuyện đời mình, để những đứa trẻ khác không phải chịu đựng tình trạng tương tự.
Tôi thật sự ngưỡng mộ cậu ấy về sự can đảm này.
Tôi xin dành những lời
chúc tốt đẹp nhất cho cậu, David. Với tôi, cậu đã thực sự trưởng thành với những
trải nghiệm mà cậu đã kinh qua.
Valerid Biven
Cán bộ xã hội
Là một cán bộ xã hội
chuyên trách việc bảo vệ trẻ em ở California, tôi đã quá quen với các hành vi
phạm tội chống lại trẻ em. Quyển sách này giúp ta có thể hình dung được những
điều mà bình thường chúng ta không thể nghĩ đến. Chúng ta có thể thấy được cảm
nhận của một đứa trẻ và cách mà cậu bé liên tiếp vượt qua những điều khủng khiếp,
từ một cậu bé được yêu thương trong một gia đình kiểu mẫu trở thành tù nhân
trong chính gia đình mình. Câu chuyện này được chia sẻ với chúng ta bởi một người
sống sót, một thanh niên biết tự động viên mình và rất dũng cảm vượt qua nghịch
cảnh.
Tiếc thay, xã hội nói
chung lại không biết đến những trường hợp ngược đãi trẻ em. Những đứa trẻ ấy là
nạn nhân thường xuyên bị xúc phạm và thường không thể nói ra hay kháng cự lại.
Nỗi thống khổ đó sau này sẽ chuyển sang người thân của họ và trở thành cái vòng
luẩn quẩn.
Ngày nay, chúng ta bắt đầu
nghe nói nhiều về ngược đãi trẻ em. Đây đang là đề tài thường xuyên của phim ảnh
và báo chí. Đó vẫn là vấn đề riêng tư rất tế nhị của các nạn nhân, còn bản thân
chúng ta thì quá mù mờ không thể hiểu hết sự thật cũng như nỗi đau mà nạn nhân
là những đứa trẻ phải gánh chịu. Quyển sách đã soi rọi và giúp chúng ta nhận thức
rõ hơn về vấn đề này. Trong khi chúng ta cùng David trải qua những sợ hãi, mất
mát, cô độc, đau khổ thì bức màn về một thế giới tăm tối của trẻ em bị ngược
đãi dần dần lộ rõ - đó rõ ràng là một điều đau đớn vô cùng. Chúng ta hiểu được
tiếng khóc của trẻ thơ thông qua cái nhìn, cách lắng nghe và cảm nhận của David
Pelzer. Chúng ta cũng hiểu được nỗi lòng của nạn nhân từ những nỗi đau dường
như không thể chịu đựng nổi cho đến khi nạn nhân vượt qua được tất cả những điều
khủng khiếp đó.
Glen A. Goldberg
Cựu Giám đốc điều hành
trung tâm bảo vệ trẻ em bị ngược đãi
Câu chuyện của David
Pelzer phải được kể cho mọi người để chúng ta có thể kêu gọi sự quan tâm của xã
hội để nước Mỹ không còn tình trạng trẻ em bị ngược đãi. Hàng triệu trẻ em -
nguồn lực quý của chúng ta - đang là nạn nhân của tình trạng này và bị xã hội
phớt lờ. Cả mức độ và mật độ về nạn ngược đãi trẻ em đã gia tăng một cách đáng
kể trong thập niên qua. Câu chuyện của David khiến mọi người hiểu được mức độ
khủng khiếp của nạn ngược đãi trẻ em đã vượt xa hơn mức báo động. Mỗi năm, hàng
trăm ngàn trẻ em không có khả năng tự vệ đã bị xâm hại bằng bạo lực, bị hành hạ
thể xác, cảm xúc và tình dục.
Mỗi hành động của việc
ngược đãi luôn ảnh hưởng đến tương lai của trẻ. Khi một đứa trẻ bị tổn thương,
tất cả chúng ta có thể sẽ phải gánh chịu hậu quả. David Pelzer là một người chiến
thắng. Câu chuyện của cậu đã thắp lửa trong chúng ta. Tuy nhiên, hàng vạn trẻ
em khác đã không thể vượt qua được nghịch cảnh và bi kịch đó, và hàng triệu người
đang phải gánh chịu hậu quả. Chỉ có một phương pháp duy nhất để chấm dứt vấn nạn
này là chúng ta hãy chung tay bảo vệ trẻ em; và tôi hy vọng quyển sách này sẽ
giúp chúng ta xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viên làm việc trong lĩnh vực
bảo vệ trẻ em khỏi sự ngược đãi dưới bất kỳ hình thức nào.
Dave Pelzer
Thanh Hoa - Vi Thảo Nguyên dịch
Theo https://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét