Bàn
về giải thưởng
và chất lượng văn chương
Giải thưởng văn chương ở
nước ta từ xưa đến nay luôn là sự kiện được mọi người quan tâm. Có người quan
tâm về sự hiếu kỳ muốn biết thông tin, thử xem ai sẽ là người có được cái vinh
dự to lớn trong năm. Lại có người muốn biết thông tin về tác phẩm được coi là
có chất lượng tốt hàng đầu trong năm, để từ đó mà tìm đọc và hưởng thụ tác phẩm
ấy.
Đối với độc giả yêu văn chương, đây rõ ràng là một phương án khả quan bởi nó tiết kiệm được rất nhiều thời gian công sức khi muốn đi tìm tác phẩm tốt để thưởng thức. Nhưng cho dù tác phẩm đã đoạt giải thưởng rồi, thì đời sống của mỗi tác phẩm đoạt giải sau đó không hề giống nhau. Có tác phẩm được đọc đi đọc lại, được người yêu văn chương tìm kiếm, được tái bản nhiều lần, có nhiều bài phân tích, đánh giá, bình luận được đăng tải công khai trên những ấn phẩm sách báo uy tín, lại có tác phẩm chìm khuất theo thời gian, không còn được mấy người nhắc đến nữa. Như vậy, việc giành giải thưởng và sự nổi tiếng của một tác phẩm không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với nhau. Nhìn lại giải thưởng văn chương được coi là danh giá nhất trong nước – giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam trong khoảng vài ba chục năm trở lại đây, có thể suy ngẫm và rút ra nhiều điều thú vị.
1. Xin được bắt đầu với
ba tiểu thuyết cùng đoạt giải Hội Nhà văn Việt Nam đầu thập niên 90, đó
là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Mảnh đất lắm người nhiều
ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không chồng của Dương Hướng.
Có lẽ trong lịch sử trao giải cho tiểu thuyết của tất cả những năm về sau này,
chưa bao giờ có một thành tích được lặp lại vang dội như thế. Cả ba tiểu thuyết
trên, như chúng ta đều biết, đã có một sức lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội,
không chỉ tạo tiếng vang trong nước mà còn vượt khỏi biên giới của Việt Nam. Chỉ
tính đến năm 2011, Nỗi buồn chiến tranh đã được dịch và giới thiệu ở 18 quốc
gia trên thế giới. Tác phẩm cũng đã được nhiều đạo diễn ngỏ ý muốn mua tác quyền
để chuyển thể sang điện ảnh. Bến không chồng cũng được tái bản
đến 14 lần, được dịch ra nhiều thứ tiếng và hai lần được chuyển thể thành phim
vào năm 2000 và 2017, giành các giải Bông Sen Bạc và Cánh Diều Vàng. Mảnh
đất lắm người nhiều ma tuy chưa được dịch sang tiếng nước ngoài nhưng
đã được chuyển thể thành phim truyền hình Đất và người (24 tập)
gây tiếng vang lớn, được khán giả hưởng ứng nồng nhiệt. Cho đến lúc này, ba tiểu
thuyết vừa nhắc ở trên vẫn được coi là các tác phẩm xuất sắc nhất trong sự nghiệp
văn học của ba nhà văn.
Điều gì đã làm nên sự
thành công của những tác phẩm ấy? Nhận định về sự thành công của một tác phẩm
bao giờ cũng phải xét đến cả hai khía cạnh nội dung và nghệ thuật. Về mặt nội
dung, cả ba tác phẩm nói trên đều đề cập đến những vấn đề lớn, mang những giá
trị nhân bản, giá trị văn hóa cốt lõi được cả cộng đồng quan tâm. Với Nỗi
buồn chiến tranh, đó là những góc nhìn khác biệt của một người đã từng tham
gia cuộc chiến, trở về với cuộc sống thời bình mà vẫn còn mang nặng những ám ảnh
khôn nguôi. Khi chiến tranh kết thúc, trong khi những người xung quanh chủ yếu
nhắc tới những niềm hân hoan chiến thắng thì Bảo Ninh lại kể về những đau xót,
mất mát, bi kịch mà không gì có thể bù đắp được. Tình yêu, tuổi trẻ, sự phản bội,
những ngang trái trớ trêu và thứ quan trọng nhất là cả tính mạng con người,
trong những khoảnh khắc nào đấy đều vượt khỏi tầm kiểm soát. Về mặt nghệ thuật, Nỗi
buồn chiến tranh đặc biệt thành công bởi lối viết dòng tâm tưởng, tạo
nên một hệ thời gian phi tuyến tính theo dòng hồi ức của nhân vật chính. Bến
không chồng cũng là một tiểu thuyết được bắt nguồn từ chiến tranh,
nhưng xoáy sâu hơn vào những câu chuyện hậu chiến, đó là bi kịch của những người
phụ nữ có chồng, có con đi lính. Đó là bi kịch cô đơn, lạc lõng của những người
lính sau khi từ chiến trường trở về. Những di chứng chiến tranh nằm lại mãi mãi
trên cơ thể của những người lính anh hùng mà có khi họ hoàn toàn không hề hay
biết. Tiểu thuyết của Dương Hướng đã được viết từ chính những câu chuyện có thật
ở vùng quê Thụy Liên, Thái Thụy, Thái Bình của tác giả. Mảnh đất lắm người nhiều
ma của Nguyễn Khắc Trường lại mang đến những câu chuyện nhức nhối ở nông thôn
Việt giữa thời bình. Đó là cuộc tranh chấp quyền lực và ruộng đất giữa hai dòng
họ, cũng là cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa cái thiện và cái ác. Bút
pháp miêu tả sống động, chân thực cùng nghệ thuật xây dựng nhân vật đã làm những
trang văn của Nguyễn Khắc Trường sống mãi trong tâm trí độc giả nhiều thế hệ.
Khép lại cuốn tiểu thuyết mà những nhân vật như ông Hàm, ông Thủ, ông Phúc, bà
Son, ông Quềnh vẫn hiện lên như những con người bằng xương bằng thịt, tạo nên sức
khái quát và điển hình lớn, khiến mỗi người đọc có cảm giác có thể gặp những
con người như thế ở bất cứ làng quê Bắc Bộ nào.
Sau thành tựu của ba tiểu
thuyết kể trên, còn có thể nhắc đến một số tác phẩm văn xuôi khác cũng đoạt giải
thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và tạo được tiếng vang trong đời sống văn nghệ,
chẳng hạn tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư
giành giải thưởng năm 2006, tiểu thuyết Và khi tro bụi của
Đoàn Minh Phượng đoạt giải năm 2007, tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của
Nguyễn Xuân Khánh đoạt giải năm 2011 hay Một ví dụ xoàng của
Nguyễn Bình Phương đoạt giải năm 2021. Có thể thấy một điều, tác phẩm đoạt giải
phải mang theo nó thông điệp lớn, phải hướng đến những giá trị phổ quát, nhân bản,
phải gây được niềm xúc động mạnh mẽ cho người đọc. Tập Cánh đồng bất tận của
Nguyễn Ngọc Tư gồm 13 truyện ngắn, nhưng chỉ cần với một truyện được chọn làm
tên chung cho cả tập sách, đã đủ khẳng định về một tầm vóc, về sự xuất hiện độc
đáo của một văn tài. Trên bối cảnh sông nước mênh mang của miền Tây, chưa bao
giờ vấn đề thân phận và nhân phẩm của người phụ nữ lại được đặt ra trong những
tình huống xa xót và dữ dội, nghiệt ngã và day dứt đến như vậy. Cánh đồng bất tận
sau đó đã được chuyển thể thành cả kịch và phim, trong đó bộ phim đã giành bốn
giải Cánh diều vàng và một giải Cánh diều bạc năm 2010. Ấn phẩm sách Cánh đồng
bất tận cho đến trước khi được chuyển thể thành phim đã bán hết hàng trăm ngàn
bản, được dịch sang tiếng Hàn và tiếng Thụy Điển. Đội gạo lên chùa của Nguyễn
Xuân Khánh mang trong nó những câu chuyện của cả chiến tranh và thân phận, hiện
thực và đức tin, tình yêu và lòng thù hận, trong đó thấm đẫm một nhân sinh quan
Phật giáo như một mạch ngầm xuyên chảy, hướng đến lòng từ bi và nhân ái.
Một số tác phẩm văn xuôi
đoạt giải khác đều hướng đến các đề tài kinh điển như đề tài chiến tranh cách mạng,
đề tài lịch sử. Chẳng hạn tiểu thuyết Mưa đỏ của Chu Lai giành
giải năm 2016, Thông reo ngàn hống của Nguyễn Thế Quang giành giải năm
2015, Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của Trần Mai Hạnh giành
giải năm 2014, Lính trận của Trung Trung Đỉnh và Minh
sư của Thái Bá Lợi giành giải năm 2010. Cũng có những tác phẩm văn
xuôi với đề tài lạ, thuyết phục được Ban giám khảo cũng như người đọc bằng giọng
điệu mới mẻ, giàu hơi thở đời sống, như trường hợp tập truyện ngắn Bãi
vàng, đá quý, trầm hương của Nguyễn Trí giành giải năm 2013.
2. Ở trên, tôi đã điểm lại
một số tác phẩm văn xuôi tiêu biểu giành Giải thưởng Hội Nhà văn trong khoảng
vài ba chục năm trở lại đây. Giờ xin tiếp tục bàn đến các tác phẩm thơ đoạt giải.
Khác với văn xuôi, thơ kiệm lời hơn và là thể loại đòi hỏi sự trau chuốt, tỉ mỉ,
kỳ công về ngôn từ, lại phải mang trong nó vẻ đẹp của nhạc tính, thể hiện qua vần
và nhịp. Chỉ với 14 bài, tập Hoa của Lãng Thanh đã giành giải cao nhất của hạng
mục thơ năm 2003. Những câu thơ tài hoa, kinh dị, đầy dự cảm và nỗi cô đơn của
tuổi trẻ song vô cùng thiết tha với cái đẹp, với cuộc đời đã in dấu sâu đậm
trong nhiều độc giả: Những đóa hoa đánh con đau quá/ Con trở về nhà băng vết
máu đầy tay (Thư pháp), Em đến lao đao như lá rụng/ Ngày xanh là nghĩa thế nào/
Về bên anh khi đã chết rồi sao (Thơ trước tuổi 21, khúc 4), Cánh cò trắng muốt
cắt đôi bầu trời/ Bầu trời bên trái che xuống mộ ông bà/ Bầu trời bên phải kéo
cha mẹ trở về ruộng đất quê tôi (Những mảnh vỡ).
Có những tập thơ đoạt giải
của lớp nhà thơ tham gia giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, các tác
phẩm nổi bật của họ chủ yếu xuất hiện trong giai đoạn sau 1975. Đó là Hoàng Nhuận
Cầm với Xúc xắc mùa thu đoạt giải năm 1993, Trầm tích của Hoàng Trần Cương đoạt
giải năm 2000, Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến đoạt giải năm 2016.
Hoàng Nhuận Cầm gần như đã tạo ra cả một trường phái thơ cho một lớp các cây
bút trưởng thành từ phong trào thơ sinh viên ở các trường đại học. Những bài
thơ thấm đẫm cảm xúc lãng mạn, giàu nhạc điệu, tạo được bất ngờ về thi ảnh và
những liên tưởng đã nằm trong sổ tay của nhiều thế hệ sinh viên. Có thể kể đến
những tác phẩm tiêu biểu như Chiếc lá đầu tiên, Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến,
Viên xúc xắc mùa thu, Mây rất thờ ơ: Hò hẹn mãi cuối cùng em đã tới/Như
cánh chim trong mắt của chân trời/ Ta đã chán lời vu vơ, giả dối/ Hót lên! Dù
đau xót một lần thôi/ Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói/ Rằng bồ câu không chết
trẻ bao giờ/ Anh sợ hãi bây giờ anh mới nhớ/ Em hay là cơn bão tự ngàn xa.
Hoàng Trần Cương và Nguyễn
Việt Chiến với phong cách thơ vẫn đi theo lối cổ điển nhưng chinh phục được người
đọc bằng cảm xúc mạnh mẽ, tha thiết và những độc đáo trong xây dựng hình tượng
thơ. Những bài thơ nổi tiếng nhất của Hoàng Trần Cương và Nguyễn Việt Chiến đều
là những bài thơ về chủ đề quê hương đất nước: Miền Trung mỏng và sắc như cật
nứa/ Chuốt ruột mình thành dải lụa sông Lam/ Miền Trung/ Tấm lưng trần đen sạm/
Những đốt sống Trường Sơn lởm chởm giăng màn/ Thoáng bóng giặc núi bửa thành
báng súng/ Những đứa con văng như mảnh đạn/ Thương mẹ một mình trời sinh đá mồ
côi (Miền Trung – Hoàng Trần Cương), Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn
từ biển/ Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng/ Sóng lớp lớp ùa lên thềm lục địa/
Trong hồn người có ngọn sóng nào không (Tổ quốc nhìn từ biển – Nguyễn
Việt Chiến). Có những tác giả hơn một lần giành giải thưởng thơ, nhưng không phải
tác phẩm đoạt giải nào cũng tạo dấu ấn sâu đậm như nhau trong đời sống văn học
sau đó. Chẳng hạn sau tập Trầm tích đoạt giải năm 2000, đến 2015 nhà thơ Hoàng
Trần Cương lại đoạt giải với Trường ca Long mạch, nhưng công chúng vẫn nhớ nhiều
hơn cả là những câu thơ trong tập Trầm tích của ông: Bữa tôi chào đời
trời rạch chớp xanh/ Nước sông Lam đã trèo vào cổng (Cật tre), Chiều
chiều mẹ ra sông mót cá/ Tôi tha thẩn khắp vườn bòn mấy quả mận xanh…/ Đâu biết
có bà vẫn lần theo canh chừng gai góc/ Lụi hụi dáng lưng còng lóng ngóng vịn
cơn mưa (Đất mật), Gió Lào/ Thổi khô nước mắm/ Mẹ giấu biệt
trong buồng mà gió chẳng buông tha (Địa linh). Cũng có những tập thơ từng
giành giải thưởng Hội Nhà văn nhưng sau này không thấy được nhắc nhớ gì nhiều
trong đời sống văn học, chẳng hạn tập Những lớp sóng ngôn từ của Mã Giang Lân
giành giải năm 2013 hay tập Sóng và khoảng lặng của Từ Quốc Hoài giành giải năm
2010.
Tuy thế, dù là thơ hay
văn xuôi, khi đã giành được giải thưởng danh giá, theo tôi quan sát đều cần đạt
đến những chuẩn mực nhất định cả về nội dung và nghệ thuật. Về nội dung, cần hướng
đến những giá trị phổ quát, nhân bản, cốt lõi. Về nghệ thuật, cần tạo ra một giọng
điệu riêng, độc đáo và mới mẻ, giàu mỹ cảm và rung động. Giải thưởng là một thước
đo quan trọng, ghi nhận lao động sáng tạo nghệ thuật của người cầm bút, tuy
nhiên giải thưởng chắc chắn không phải là mục đích sau cùng của mỗi nhà văn nhà
thơ. Bởi khi bắt tay vào viết một tác phẩm lại nghĩ ngay đến việc giành giải
thưởng thì e rằng sự chi phối cảm xúc này sẽ khó có thể mang lại những trang
văn đề đời. Mỗi nhà văn nhà thơ khi hoàn thành một tác phẩm thì hạnh phúc đầu
tiên là nhìn thấy đứa con tinh thần của mình đã đủ hình hài và được gửi đứa con
tinh thần ấy đến với công chúng. Nhìn lại dòng chảy văn học Việt Nam khoảng ba
thập niên trở lại đây, có những tác giả chưa hề được nhận giải thưởng văn học của
Hội Nhà văn nhưng giá trị và sức ảnh hưởng từ các tác phẩm của họ lại vô cùng
to lớn. Với thế hệ 195X, tôi muốn nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp. Với thế hệ 197X,
tôi muốn nhắc đến Đỗ Bích Thúy. Như vậy, giải thưởng cao quý nhất phải chăng
chính là là đời sống của tác phẩm ấy trong lòng đông đảo bạn đọc.
13/10/2025
Đỗ Anh Vũ
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét