"Ai nói và tại sao lại
nói như
thế" - Bản hợp âm của những tiếng nói
Tập truyện ngắn Ai nói & tại sao lại nói như thế (NXB Hội Nhà văn, 2024) của Văn Giá xuất hiện như một hiện tượng khá độc đáo trên văn đàn. Tác giả vốn được biết đến nhiều với tư cách nhà nghiên cứu – phê bình văn học, nhưng ở tuổi 65 ông lại tiếp tục khẳng định mình ở vai trò người sáng tác qua tập truyện ngắn thứ tư đầy cá tính này.
Ngay từ nhan đề Ai
nói và tại sao lại nói như thế, tập truyện đã gợi lên một câu hỏi kép đầy
thách thức về chủ thể phát ngôn và động cơ, lí do của
lời nói, thể hiện mối bận tâm sâu sắc của tác giả đối với bản chất của hành
vi ngôn ngữ và truyện kể. Ông từng thổ lộ: “Mỗi chúng ta chỉ là một tiếng nói
thật yếu ớt trong đời sống này… Hầu hết các truyện ngắn của tôi đều quan tâm tới
lời nói, bao gồm ai nói, tại sao lại nói…”[3]. Chính nỗi trăn trở về
tiếng nói cá nhân trong đời sống đa thanh ấy đã trở thành mạch nguồn tư tưởng
xuyên suốt tập truyện. Với 17 truyện ngắn “nhỏ xinh, không quá dài và vừa đủ”,
tập sách đòi hỏi người đọc “mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời”
(mượn cách nói của Nam Cao trong Giăng sáng), lắng nghe nhiều cung
bậc giọng điệu khác nhau của cuộc sống.
Ai nói & tại sao lại
nói như thế ngay khi ra mắt đã thu hút sự chú ý
của giới văn chương và nhận được nhiều ý kiến đánh giá trên các diễn đàn văn học.
Tại tọa đàm ra mắt sách (Hà Nội, 9/2024), nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhận định
văn của Văn Giá mang “tiếng nói thì thầm mà mãnh liệt, tử tế”, đầy chân thực, đẹp
đẽ và trách nhiệm[5]. Nhiều ý kiến tại tọa đàm ghi nhận truyện ngắn
Văn Giá có lối kể độc đáo, giọng văn chân thành, đa thanh, giàu khẩu ngữ, tạo
nên phong cách khác biệt và sức hấp dẫn cho tập truyện mới (Phùng Gia Thế,
Sương Nguyệt Minh…). Một số ý kiến đánh giá về tính đa thanh, nhiều giọng (Mai
Anh Tuấn)[7], “một thế giới ngồn ngộn những tiếng nói”, buộc người đọc
phải truy vấn đến tận căn nguyên của những lời được nói ra, những điều “chúng
ta phải nghe, nên nghe, và … cần nghe hết để vỡ lẽ” (Nguyên Linh)[3].
1. Những tiếng nói
Theo Mai Anh Tuấn, tập
truyện có sự “pha trộn cùng lúc nhiều tiếng nói” khác nhau: từ trẻ con, người
già, trí thức, bệnh nhân đến lão nông… Thậm chí có cả “tiếng nói của người
viết truyện” chen vào như muốn đối thoại, đính chính cho tiếng nói của nhân
vật. Chuỗi tiếng nói liên tu bất tận ấy được Văn Giá tính toán, điều chỉnh rất
linh hoạt bằng một kỹ thuật trần thuật điêu luyện, trở thành phương tiện đắc lực
để truyền tải muôn trạng thái đời sống: từ ốm đau, bệnh tật, cái chết cho đến
tình yêu, tình dục, từ “sự dở hơi của tuổi hưu” đến “sự khó lường của tuổi trẻ”.
Mai Anh Tuấn cho rằng với hai câu hỏi thú vị đặt ngay nhan đề (Ai nói? Tại
sao lại nói như thế?), Văn Giá đã khơi gợi mạnh mẽ khả năng luận đàm và phản
tỉnh nơi độc giả. Mỗi tiếng nói trong truyện đều hàm ẩn một sự hoài nghi hoặc
chiêm nghiệm về lòng tốt và luân lý, về đúng và sai, và sau cùng là về cái đích
đáng hay sự vô nghĩa của kiếp người. Bởi vậy, theo Mai Anh Tuấn, không thể vội
vã chọn lấy hay phủ nhận một kiểu tiếng nói nào, mà tất cả những tiếng nói đó cần
ngân vang đồng thời, quy chiếu lẫn nhau như một cuộc sống đa thanh – đó mới
chính là dụng ý sâu xa mà tác giả tâm đắc[7].
Quả vậy, tập truyện Ai
nói & tại sao lại nói như thế phác họa một bức tranh đời sống đa dạng,
phong phú với nhiều trăn trở nhân sinh sâu sắc, ở đó ta nhận ra một bản hợp âm
của những tiếng nói. Đọc 17 truyện ngắn trong tập, độc giả như bước vào một “xã
hội thu nhỏ” quen thuộc, nơi hiện diện đủ hương vị của cuộc đời thường ngày.
Ngay truyện mở đầu Ăn sáng Café đặt người đọc vào không
khí thân thuộc: một nhóm ông già hưu trí ngồi tíu tít bên bàn cà phê sáng, bàn
đủ thứ chuyện trên trời dưới bể, từ thời sự chính trường cho đến giá cả chợ
búa. Văn Giá cố tình chọn bối cảnh rất đỗi đời thường – quán cà phê vỉa hè
– làm nơi phát ngôn cho những con người “yếu ớt” trong xã hội (những người già
nghỉ hưu ít tiếng nói). Qua những câu chuyện tưởng tầm phào, tiếng chửi thề bật
ra giữa chừng, độc giả dần nhận ra đằng sau tiếng cười đùa vô tư ấy là nỗi ám ảnh
thời cuộc: “Ban đầu nhóm có năm thằng. Giờ còn ba…” – những người bạn già thưa
vắng dần theo năm tháng, để lại khoảng trống chơi vơi giữa dòng đời [1, tr.7].
Cuộc vui trà dư tửu hậu rồi cũng tàn phai bởi những biến cố nghiệt ngã của cuộc
sống, những tiếng nói dần mất đi hoặc biến dạng theo thời gian. Câu chuyện kết
thúc với dư vị man mác buồn sau tiếng cười, khiến người đọc không khỏi nghĩ suy
về sự mong manh của kiếp người và giá trị của những khoảnh khắc tri âm giản dị.
Từ một buổi cà phê sáng bình thường, Văn Giá đã khơi dậy những suy tưởng
triết lý về sinh tử và tình bằng hữu, đúng như nhận xét: “Cứ nghĩ nhà văn kể
tào lao… nhưng lại cho độc giả những trải nghiệm… với giọng điệu tưng tửng ấy một
nỗi buồn thăm thẳm”[6].
Bên cạnh việc lắng nghe
tiếng nói đời thường nơi phố thị, tác giả còn dẫn dắt chúng ta đến với những cảnh
đời và tiếng nói ở các không gian khác nhau trong xã hội. Truyện Chăm
người bệnh đưa người đọc vào không khí ngột ngạt của một phòng bệnh viện
– nơi những tiếng nói thầm thì của các cảnh đời khốn khó cất lên, phơi bày nỗi
đau bệnh tật và tình người trong cơn hoạn nạn. Đột ngột chuyển cảnh, truyện Một
góc trời xa lại ngược về miền rừng Tây Bắc những năm 1980, nơi vọng
lên tiếng nói của tuổi trẻ và tình yêu thuở thanh xuân đầy nhiệt huyết nhưng
cũng vụng dại, bất định. Đó là câu chuyện về nhân vật Sa – cô giáo trẻ nơi vùng
cao cùng mối tình lặng thầm giữa cô với “nhân vật tôi” – người giáo viên miền
xuôi lên rừng dạy học. Truyện vẽ nên bức tranh quá khứ với những năm tháng
thanh xuân, để rồi khép lại trong nuối tiếc: Nhân vật tôi chỉ biết Sa yêu mình
khi cô ấy… nằm xuống! – tình yêu âm thầm mãi mãi không kịp tỏ bày. Ba số phận
(anh – Sa – Mến) rẽ ba ngả, và khi ngoảnh lại thì tất cả đã muộn màng, chỉ còn
“những tiếc nuối vô bờ” khắc khoải trong ký ức. Cùng khơi gợi nỗi day dứt về những
mối tình lỡ làng còn có truyện Đồng bạc lấy may, kể về nhân vật Thiềm
và người bạn trai thời trẻ. Sau bao năm xa cách, tình cảm xưa tưởng chừng đã ngủ
quên dưới lớp bụi thời gian bỗng le lói trở lại, để rồi nhân vật nhận ra con
gái cô bạn giờ chính là sinh viên của mình, và lá thư tay từ người cũ được
chính cô con gái trao tận tay. Những chi tiết éo le như vậy được Văn Giá
cài cắm tài tình, khiến câu chuyện nhỏ bỗng ngân vang những âm hưởng xót xa về
định mệnh và những gì có thể cứu vãn trong đời người. Quả như nhà văn
Vũ Thảo Ngọc nhận xét: truyện ngắn hay phần lớn thành công nhờ chi tiết
“đắt”, và Văn Giá “luôn có những chi tiết hay để tạo nên dấu ấn đặc biệt của
mỗi truyện”[6]. Chính những chi tiết giàu sức gợi ấy đã chuyển tải
trọn vẹn tư tưởng nhân văn: trân trọng những tình cảm thuần khiết xưa cũ, thức
tỉnh lòng người về sự vô giá của tình yêu và kỉ niệm.
Dễ nhận thấy, qua những
tiếng nói trong tập truyện, ta nhận ra nhiều sắc thái cảm xúc khác nhau, tạo
nên một bản hòa âm cuộc đời. Sắc thái trào phúng, giễu nhại góp phần phơi bày
những nghịch lí, bi hài kịch của xã hội đương đại. Ví dụ truyện Chân
Phờ zờ sờ (một cách nói lái hài hước của học hàm Phó Giáo sư –
viết tắt PGS). Truyện kể về hai người bạn tri kỷ, Tuấn và An, xoay quanh việc
“đi làm Phó giáo sư” của Tuấn – một giảng viên đại học. Tình huống truyện nghe
qua có vẻ “không có gì to tát” nhưng thực chất chạm đến vấn đề thời sự: chuyện
chạy chức, chạy học hàm trong giới học thuật. Nhân vật An khuyên bạn mình nên
hoàn thiện hồ sơ phong PGS cho “xứng tầm”, còn Tuấn thì nhất quyết cự tuyệt:
anh thẳng thừng tuyên bố sẽ “không làm, không làm”, không chịu “hèn” mà đi “chạy”
để lấy cái danh hão. Lời khẳng định “anh không hèn!” của Tuấn vừa hóm vừa chua
chát, thể hiện khí phách của kẻ sĩ trước thói đời thực dụng. Thế nhưng, câu
chuyện chưa dừng ở đó: sau nhiều vòng tranh luận, cuối cùng Tuấn cũng đành chép
miệng chiều bạn, miễn cưỡng tham gia ứng tuyển: “…ừ, thì làm, thôi thì tớ mặt
dày một phen…”[6]. Lời thoại này tựa như tiếng thở dài cam chịu, khiến
người đọc “nghe mà xót xa” – xót cho một trí thức phải đánh mất phần nào khí tiết
trước guồng quay danh lợi và những nhếch nhác nơi hậu trường học thuật. Bằng giọng
văn nửa cười nửa mếu, Văn Giá đã dựng lên một bi hài kịch thời hiện đại “dở
khóc dở cười”, qua đó phê phán thói háo danh và thực trạng tha hóa trong môi
trường trí thức, đồng thời đề cao phẩm chất khí khái và trăn trở của những người
“sĩ phu” chân chính.
Không chỉ trong giới học
thuật, những nghịch lí xã hội khác cũng được Văn Giá phản ánh sinh động
qua lăng kính hài hước. Truyện Hưu quê kể về nhân vật San – một
viên chức nghỉ hưu từ thành phố về quê sinh sống với hi vọng hưởng thụ tuổi già
an nhàn, “có ích” cho quê hương hơn là ở phố thị. Thế nhưng, thực tế phũ phàng
nhanh chóng đập tan ảo tưởng: San vấp phải vô vàn chuyện nhiêu khê, phiền toái
khi tham gia sinh sống ở quê nhà. Sự khác biệt về nếp nghĩ, lối sống giữa ông –
một người quen môi trường đô thị và những người đồng niên ở nông thôn tạo nên
tình huống trớ trêu “giở đi mắc núi, giở lại mắc sông”. Cao trào truyện đặt ra
khi San bất lực thốt lên: “Lão sực nhớ cái câu của một ông nhà văn nào đó, đại
ý: đối với người nhà quê, kính trọng họ thì được, chứ bảo sống với họ thì xin
kiếu”. Lời kết đầy chát chúa này vừa hài hước, vừa chua xót, lột tả sâu sắc độ
chênh giữa thành thị – nông thôn trong xã hội Việt Nam đương đại. Đó cũng là tiếng
thở dài trước thực trạng “lệch kênh tư duy” giữa các tầng lớp, thế hệ – một vấn
đề nhức nhối của đời sống hôm nay. Tương tự, truyện Về nơi chốn mới mang
giọng điệu “tưng tửng, vui vui mà trắc ẩn”, kể về tình huống oái oăm khi nhân vật
chính chuyển về khu chung cư mới và gặp lại vị sếp cũ – người từng gây khó dễ
cho anh nay thành hàng xóm “đối mặt” mỗi ngày [6]. Những bực bội và bi hài
trong mối quan hệ éo le ấy được Văn Giá chuyển tải nhẹ nhàng, dí dỏm mà thấm
thía, làm bật lên triết lý nhân sinh: cuộc đời lắm lúc trớ trêu, con người ta
không dễ trốn chạy quá khứ, điều quan trọng là đối diện nó bằng thái độ bao
dung và hiểu biết.
Xuyên suốt 17 truyện ngắn, Văn Giá đã dựng nên một thế giới nhân vật và sự kiện đa dạng, dù là tiếng nói của ai, giọng như thế nào thì tất cả đều hướng về những giá trị nhân văn cốt lõi. Dù viết về người trí thức hay nông dân, về tình yêu hay danh lợi, tác giả đều gửi gắm niềm tin vào lương tri và lòng tử tế của con người. Chẳng hạn, truyện ngắn Bức tường rào đề cập đến sự rạn nứt tình anh em ruột thịt vì toan tính ích kỷ, thế nhưng cuối cùng tiếng nói của tình thân và sự hoài niệm quá khứ thiêng liêng vẫn âm thầm cất lên như một lời cảnh tỉnh. Hay một câu chuyện khác ven sông Thương về “Người đàn bà bên kia sông” cho thấy tiếng nói của lương tâm, lòng tự trọng chính là điều cứu vãn sau cùng cho cuộc đời con người. Đây chính là tư tưởng nhân bản sâu sắc mà Văn Giá muốn truyền tải: trong cuộc sống bộn bề những giả trá, bon chen, vẫn còn đó những giá trị vĩnh hằng như tình người, danh dự, lòng tự trọng – những thứ giữ cho con người không đánh mất mình.
Ở một tầng mức khái quát
hơn, tập truyện còn đặt ra vấn đề triết lý về ngôn ngữ và hiện hữu. Truyện Quạt
giấy, chẳng hạn, tác giả đưa tiếng nói triết gia luận bàn rằng: “Thân xác
con người chẳng qua chỉ là cái bã, vô nghĩa. Chứ tồn tại thực của con người là
ngôn ngữ, mà ngôn ngữ mới là sự thực. Ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể” [1,
tr.25]. Quan niệm coi ngôn ngữ là bản thể đích thực của con người gợi nhớ đến
triết lí Heidegger, và ở đây Văn Giá khéo léo lồng vào tác phẩm như một
suy tưởng nghệ thuật. Phải chăng, ông muốn nhấn mạnh rằng chính tiếng
nói (tư tưởng, lời văn) mới là bản thể nghệ thuật, còn những quy chiếu
với thực tại chẳng qua là thứ yếu? Cũng trong Quạt giấy, nhân vật
chiêm nghiệm về cái chết và nhận ra: “Không phải do bản thân cái chết, mà do
toàn bộ đời sống tinh thần của anh đã có một diễn ngôn về cái chết” [1, tr.25].
Cái chết, suy cho cùng, cũng chỉ là một “diễn ngôn” – một câu chuyện mà mỗi người
tự kể cho mình tùy theo bề dày trải nghiệm và niềm tin của họ. Những triết lí
đan cài ấy nâng tầm ý nghĩa cho các truyện ngắn của Văn Giá, khiến chúng
không chỉ gợi lên ý nghãi về đời sống mà còn đối thoại với những vấn đề tư tưởng,
đạo đức mang tính phổ quát.
Tác giả Văn Giá với
trải nghiệm của một nhà phê bình đã không ngần ngại “phát ngôn” những suy nghĩ
tâm huyết về sứ mệnh của văn chương ngay trong tác phẩm. Có thể coi đây là tiếng
nói của người sáng tạo, từ tư cách của người sáng tạo và tư cách của người làm
nghiên cứu phê bình văn học. Ở truyện Quán ông già, nhân vật khẳng
định mạnh mẽ: “Còn cái môn văn í à? Nó phải là văn thật, văn ra văn. Chứ văn giả
văn ngụy thì nguy hiểm lắm…” [1, tr.189]. Lối nói khẩu ngữ nôm na “văn ra văn”
nhưng ý tứ lại sâu sắc: tác giả đề cao tính chân thực, tính thiện mỹ của văn
chương, xem “nhạt”, tức sự vô hồn, hời hợt là thứ “tội ác” trong nghề viết.
Theo ông, văn chương giả dối sẽ “làm cho tâm trí con người ta âm u đi, tâm tính
cũng đồi bại”, phá hoại đạo đức và làm biến chất những giá trị tốt đẹp [3].
Quan niệm này cho thấy tư tưởng nhất quán của Văn Giá: văn học phải gắn liền
với đạo đức và trách nhiệm xã hội, người cầm bút phải viết bằng lương tâm và
lòng tử tế. Đây cũng chính là tâm niệm khiến các truyện ngắn của ông, dù viết về
đề tài gì, cũng phảng phất tấm lòng trắc ẩn và khát khao hướng thiện.
Văn Giá không viết để phê phán hay cải tạo hiện thực một cách đao to búa lớn;
ông viết trước hết để “thỏa mãn nhu cầu tự thân, sự thúc giục từ lương tri… về
tình người, tình đời” [3]. Mỗi câu chuyện ông kể đều xuất phát
từ sự rung động chân thành trước những vui buồn nhân thế, từ trách nhiệm của một
trí thức muốn lưu giữ và truyền tải “những vang động của cuộc sống” bằng ngòi
bút của mình[3].
Tóm lại, Ai nói
& tại sao nói như thế là một bức tranh đa dạng về cuộc sống Việt
Nam thời hiện đại, được biểu đạt qua nhiều cảnh huống và giọng nói khác nhau,
nhưng cùng hội tụ ở tư tưởng nhân văn sâu sắc. Đó là sự đề cao tiếng nói cá
nhân, đề cao lương tri, lòng nhân ái và những giá trị chân thực giữa đời sống
phức tạp. Văn Giá đã khéo léo lồng ghép tiếng cười trào lộng với triết lí
trầm tư, để lại cho người đọc những dư âm suy ngẫm về lẽ sống và cách sống. Những
giá trị nội dung ấy làm nên sức nặng tư tưởng cho tập truyện, giúp tác phẩm vượt
khỏi sự vụn vặt đời thường để chạm đến tầng ý nghĩa phổ quát về con người và tiếng
nói.
2. Nghệ thuật kiến tạo những
tiếng nói
Tập truyện là những thực
hành nghệ thuật của một nhà văn “có nghề”, từng nhiều năm gắn với hoạt động giảng
dạy nghề viết văn. Mỗi truyện ngắn của ông “thường có một chút thể nghiệm… về
nghệ thuật tự sự”, thí dụ như cách sắp xếp văn bản, trộn giọng giữa người kể
chuyện với nhân vật, điều chỉnh nhịp điệu trần thuật, tạo không khí truyện hay
phi trung tâm hóa nhân vật/đa điểm nhìn. Tác gải Nguyên Linh cho rằng Văn Giá vốn
là một nhà nghiên cứu về lí thuyết diễn ngôn đã chuyển hóa nhạy bén tinh thần
lí thuyết ấy vào sáng tác. Ông ý thức sâu sắc việc mỗi cá nhân cất tiếng nói đều
chịu sự chi phối của vô thức thuộc về văn hóa và bối cảnh xã hội, do đó trong
văn chương, điều đáng quan tâm không chỉ là “nói cái gì” mà chính là “tại sao lại
nói như thế”. Sự chuyển dịch trọng tâm từ “nói cái gì” sang “tại sao lại nói
như thế” đã trở thành hướng thể nghiệm chủ đạo của Văn Giá, giúp ông tự làm mới
mình và tạo nên những tìm tòi nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn, hàm chứa giá trị
nhân văn sâu sắc[3]. Những tìm tòi ấy xuất phát một phần từ những
trải nghiệm lí thuyết của một nhà phê bình, nhưng
quan trọng hơn, chúng được áp dụng một cách đầy sáng tạo để hình thành nên
phong cách riêng cho truyện ngắn của ông. Thay vì giấu đi kỹ thuật kể chuyện
như nhiều nhà văn khác, nhà văn lại “trưng ra” nó ngay từ nhan đề táo bạo của tập
sách. Điều này như một lời tuyên ngôn rằng người kể chuyện và cách kể chính là
tâm điểm nghệ thuật của tác phẩm. Quả thật, đọc Ai nói & tại
sao lại nói như thế, dễ nhận ra nhà văn đã kiến tạo và định hình thành công
một dạng thức người kể chuyện, đó là “người kể hiểu chuyện” (Cao
Kim Lan)[4].
Đặc điểm nổi bật của người
kể hiểu chuyện nằm ở chỗ người kể này luôn tạo cảm giác đồng đẳng và đối
thoại với nhân vật. Thay vì giữ khoảng cách hay lối dẫn chuyện quyền uy, người
kể chuyện trong các truyện ngắn đã xóa bỏ khoảng cách trần thuật với nhân vật,
xưng hô với nhân vật một cách rất đời thường, thậm chí suồng sã: “thằng”, “đứa”,
“con mẹ này”…. Cách gọi ấy, theo nhà nghiên cứu Cao Kim Lan, đã đặt người kể và
nhân vật vào vị thế ngang hàng, tạo nên sự thấu hiểu nhân vật và khiến “lời kể,
lời dẫn, lời bình… luôn mang tính đối thoại”[4]. Chính vì hiểu nhân
vật, nhập vào đời sống nhân vật đến mức đó, người kể chuyện mới có thể truyền tải
trọn vẹn những thông điệp, tư tưởng của nhà văn một cách tự nhiên và thuyết phục.
Nhà văn đã “tạo ra một lối kể, lối dẫn chuyện khá bất ngờ” khi xóa nhòa ranh giới
giữa lời người kể và lời nhân vật[4]. Trong mạch truyện của ông, những
đoạn hấp dẫn nhất chính là những chỗ văn bản trộn lẫn tất cả: lời dẫn chuyện
hòa quyện với lời thoại và cả lời bình của người kể. Ông thậm chí lược bỏ tối
đa các dấu hiệu câu thoại truyền thống (xuống dòng, ngoặc kép…), để dòng kể
tuôn chảy tự nhiên, liền mạch như cuộc sống thật với “nhiều tiếng nói ồn ào, nhốn
nháo” cùng cất lên một lúc. Thoạt nghe tưởng như hỗn độn, nhưng kì lạ thay người
đọc vẫn có thể “hình dung rõ mồn một từng bước ngoặt, từng tiếng nói trong đám
đông” ấy[4]. Lối viết đa thanh trộn giọng này đã tạo
nên một bản hòa tấu lời kể độc đáo, một hình thức diễn ngôn mới mẻ trong truyện
ngắn Việt Nam đương đại, ghi dấu ấn riêng của nhà văn Văn Giá.
Không chỉ mới mẻ ở cấu
trúc giọng kể, ngôn ngữ nghệ thuật của tập truyện cũng rất hiện đại và giàu sức
sống. Nhà văn sử dụng thứ ngôn ngữ đậm chất đời thường, linh hoạt biến hóa theo
từng nhân vật và hoàn cảnh. Ông không ngại đưa vào truyện những câu từ suồng
sã, khẩu ngữ, thậm chí cả tiếng lóng (“xì tin”, “phờ giờ sờ”,….) để làm sinh động
lời văn, giúp tác phẩm gần gũi với hơi thở đời sống hôm nay. Chẳng hạn, lời kể ở
truyện về người trẻ có thể có tính chất hóm hỉnh, tốc độ kể nhanh, chen lẫn tiếng
lóng; lời kể trong truyện về người nhà quê lại mộc mạc, thủ thỉ như giọng
quê…Nhờ vậy, mỗi truyện ngắn trong tập đều có một giọng riêng, góp phần thể hiện
sâu hơn tính cách nhân vật và không khí câu chuyện. Văn phong chung của tập
truyện được nhận xét là “nhàn tản, mộc mạc, hài hước, có phần chân chất”, tạo cảm
giác “chuyện mà như không chuyện, thậm chí tầm phơ tầm phào nhưng cũng nhoi
nhói, đáo để, cá tính” [2]. Quả thực, nhà văn có lối kể chuyện
tưởng như tùy hứng, tản mạn, đôi chỗ cố ý tầm phào như người kể chuyện phiếm,
nhưng ẩn sau đó lại là những quan sát rất tinh tế và những nút thắt suy tư bất
ngờ. Nhiều truyện ngắn kết thúc bằng cú “twist” đảo chiều làm người đọc sửng sốt.
Chẳng hạn truyện Diễn ngôn khiến độc giả “nhoi nhói” trước
hình ảnh cô bé 13 tuổi tóc ướt bê bết nằm sõng soài – một hình ảnh bất ngờ tạo
nên cao trào ám ảnh. Rõ ràng, cách kết truyện đầy biến hóa này vừa thỏa mãn yếu
tố kịch tính của truyện ngắn, vừa mở ra những dư âm ám ảnh, bắt người đọc phải
nghĩ ngợi thêm về ý nghĩa ẩn sau sự kiện.
Về kết cấu và nhịp điệu,
thay vì cốt truyện được sắp đặt khúc chiết, mỗi câu chuyện của ông được để “chảy
đi tự nhiên, theo cảm xúc” [2]. Mạch truyện vận động linh hoạt,
nhịp điệu giãn nở tự do với nhiều câu văn ngắn đan xen câu dài tạo tiết tấu
riêng, tự nhiên như chính lời nói. Lối kết cấu mở này cho phép tác giả tự do
phiêu lưu trong dòng ý thức, đồng thời có thể cài những đoạn luận bình, triết
lý. Chỉ đến cuối truyện, nhà văn mới “gút lại những nút thắt đầy suy tư”, gợi mở
tầng ý nghĩa sâu xa hơn cho toàn bộ câu chuyện như thể là “lời kết” cho một
dòng trạng thái, một phát ngôn. Một số truyện như Ba chuyện tầm phơ, Ăn
sáng café, Một ngày Lão Hạc… thậm chí “giải thiêng” thể loại
bằng cách pha trộn cả yếu tố báo chí, tùy bút vào truyện ngắn, khiến ranh giới
giữa kí và truyện trở nên mờ nhòe. Sự pha trộn thể loại này tuy táo bạo nhưng rất
ăn ý với tính cách ưa ngẫu hứng của nhà văn, đồng thời phản ánh đúng tinh thần
văn chương hậu hiện đại là làm mờ ranh giới thể loại. Đôi chỗ, văn ông “gần với
thơ, tiểu luận, thậm chí mang tính tiểu thuyết”, tạo nên một không gian thể
nghiệm rộng mở cho người viết và người đọc cùng tương tác [2].
Nói cách khác, nhà văn pha trộn các thể loại lời nói khác nhau vào cuộc chuyện
trò, đối thoại, tương tác của các nhân vật trong thế giới nghệ thuật, của nhà
văn và độc giả. Tất cả những điều này cho thấy phong cách kể chuyện hiện đại,
linh hoạt của nhà văn – một phong cách được trau dồi từ nền tảng học thuật tin
cậy nhưng đã vượt thoát khỏi sự gò bó của lí thuyết để cất tiếng nói sáng tạo
riêng. Chính nhờ vậy, dù mang tính thử nghiệm cao, Ai nói & tại
sao lại nói như thế vẫn giữ được sức hấp dẫn tự nhiên, lôi cuốn người
đọc bước vào thế giới truyện đầy mới lạ mà không hề cảm thấy khô cứng hàn lâm.
Nhà văn đã thành công trong việc dung hòa giữa “diễn ngôn” lí thuyết và đời sống
sinh động, biến những trang viết của mình thành sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ
sắc sảo và cảm xúc chân thật. Đây là một đóng góp nghệ thuật đáng kể cho truyện
ngắn Việt Nam hiện nay, cho thấy sự vận động không ngừng của thể loại.
Ai nói và tại sao nói
như thế là tập truyện tạo được dấu ấn riêng của Văn Giá:
hài hước mà thâm trầm, giản dị mà hàm súc, truyền thống mà hiện đại. Chính sự kết
hợp hài hòa đó đã tạo nên một giá trị đặc sắc cho tác phẩm, vừa cuốn hút người
đọc phổ thông bởi nhiều tiếng nói được cất lời qua những câu chuyện sinh động,
vừa như một cuộc “trao đổi chuyên môn” trong giới nghiên cứu bằng hình tượng
văn học.
3. Một cách tân nghệ thuật
truyện ngắn
Từ những phân tích trên,
có thể khẳng định Ai nói & tại sao lại nói như thế là
một tác phẩm kết tinh những suy ngẫm thế sự, thể hiện tư duy cách tân của nhà
văn – nhà phê bình Văn Giá trong truyện ngắn. Giữa bối cảnh xã hội phức tạp, những
trang viết của nhà văn thì thầm nhưng mãnh liệt, giản dị nhưng kiên quyết cất
lên “những tiếng nói từ bên trong” con người – tiếng nói của lương tri, của
khát vọng được thấu hiểu và sẻ chia. Đó là lý do đọc xong tập truyện, độc giả
không chỉ đồng cảm với từng số phận nhân vật mà còn tự vấn chính mình: Ta
đã thực sự lắng nghe người khác chưa? Ta có hiểu vì sao họ nói (hay
không thể nói) những điều ấy? Qua việc khơi gợi những câu hỏi như vậy, tác phẩm
đã thực hiện sứ mệnh tư tưởng của nó: khiến văn chương trở thành những suy tư,
chất vấn về đời sống và lay động ý thức người đọc về tình người, đạo lí.
Tập truyện cũng đã có
đóng góp quan trọng khi mở rộng biên độ thể nghiệm cho thể loại truyện ngắn.
Nhà văn chứng minh rằng truyện ngắn đương đại có thể vượt thoát khỏi những công
thức cổ điển để khoác lên mình diện mạo mới mang đậm hơi thở thời đại. Tác giả
đã “định hình rõ nét phong cách truyện ngắn” của riêng mình, đồng thời có “những
đóng góp đối với thực tế sáng tác hiện nay”. Ai nói & tại sao
lại nói như thế cho thấy một cách tiếp cận mới trong trần thuật: lấy
“tại sao nói” làm trọng tâm thay vì “nói cái gì”, tức chú trọng động cơ và quá
trình kể hơn là sự kiện bề nổi. Cách tiếp cận này chịu ảnh hưởng của lý thuyết
diễn ngôn nhưng đã được chuyển hóa thành một thực tiễn sáng tạo hiệu quả, góp
phần hiện đại hóa phương thức tự sự trong văn học Việt. Hơn nữa, việc hình
thành kiểu “người kể hiểu chuyện” với giọng điệu đối thoại, hòa giọng cùng nhân
vật đã làm gia tăng tính đa thanh và sức thuyết phục cho truyện ngắn, mở ra hướng
đi mới cho nghệ thuật kể chuyện. Rõ ràng, thành công của tập truyện không chỉ nằm
ở chỗ kĩ thuật viết điêu luyện, mà còn ở chỗ trái tim người nghệ sĩ đập mạnh mẽ
trong từng câu chữ – trái tim của một người luôn thao thức trước cuộc đời và
dám thử nghiệm để truyền đạt trung thực nhịp đập ấy đến người đọc.
Ai nói và Tại sao lại nói như thế xứng đáng được xem như một “tiểu luận” đa thanh về cuộc đời bằng ngôn ngữ nghệ thuật – nơi mỗi câu chuyện nhỏ đều vang vọng những vấn đề lớn của nhân sinh, và mỗi tiếng nói đều tìm được chỗ đứng ý nghĩa trong bản hòa âm của cuộc sống.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Văn Giá (2024), Ai
nói và tại sao nói như thế, Nxb Hội Nhà văn.
2. Đậu Dung, Ai nói
và tại sao lại nói như thế của Văn Giá, Báo Tuổi trẻ Online, truy cập ngày
18/10/2024.
3. Nguyên Linh, Ai
nói và tại sao lại nói như thế – Hãy mở căng lồng ngực đón nhận tất cả vang động
cuộc sống, chuyên trang Văn hóa và Đời sống Thanh Hóa, truy cập ngày
30/11/2024.
4. Cao Kim Lan, Tập
truyện “Ai nói và tại sao lại nói như thế” của Văn Giá: Tạo dựng một “kiểu người
kể chuyện” riêng, Báo Thể thao và Văn hóa, truy cập ngày 23/09/2024.
5. Mai Lữ, Ra mắt tập
truyện ngắn của nhà văn, nhà phê bình văn học Văn Gi, Báo Nhân Dân, truy cập
ngày 20/09/2024.
6. Vũ Thảo Ngọc, Văn Giá
và Ai nói và tại sao nói như thế, Trang thông tin điện tử Hội Văn học Nghệ
thuật Đồng Nai, truy cập ngày 12/08/2025.
7. Mai Anh Tuấn, Văn Giá với tập truyện Ai nói và tại sao lại nói như thế, Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn Việt Nam, truy cập vào 21/09/2024.
16/10/2025
Vân Thủy
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét