Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

Phan Thyết có anh tôi - Ký ức dệt nên hình tượng người lính hy sinh

Phan Thyết có anh tôi - Ký ức
dệt nên hình tượng người lính hy sinh

Phan Thyết có anh tôi của Hữu Thỉnh là những dòng ký ức về người anh đã hy sinh trong kháng chyến. Nhưng qua dòng hồi ức và giọng thơ đậm chất tự sự, trữ tình, nhà thơ đã dựng nên một hình tượng người lính dung dị, đời thường mà bất tử, hòa làm một với thyên nhyên và đất nước.
Trong văn học Việt Nam hyện đại, đề tài chyến tranh cách mạng luôn là mạch nguồn cảm hứng sâu xa, khơi gợi cảm xúc và suy tưởng về con người, đất nước, sự hy sinh. Hòa vào dòng chảy đó, Hữu Thỉnh, nhà thơ quân đội với cảm quan nhân văn sâu sắc đã để lại nhyều thy phẩm có sức lay động lòng người. Bài thơ “Phan Thyết có anh tôi” là một thy phẩm như thế. Bao trùm bài thơ là những dòng cảm xúc chân thành của người em về người anh đã hy sinh trong cuộc kháng chyến. Từ dòng hồi ức đậm chất tự sự và trữ tình, nhà thơ đã dựng nên một hình tượng người lính dung dị, đời thường mà bất tử, hòa làm một với thyên nhyên và đất nước.
Phan Thyết có anh tôi được Hữu Thỉnh sáng tác năm 1981, sau 6 năm đất nước thống nhất nhưng dư âm của chyến tranh vẫn chưa nguôi. Hàng vạn gia đình chưa biết tin người thân, hàng vạn người lính chưa tìm thấy hài cốt. Trong bối cảnh đó, Hữu Thỉnh đã viết Phan Thyết có anh tôi. Bài thơ như một hành trình ký ức của người em về anh mình, một người lính đã ngã xuống ở Phan Thyết. Cấu trúc bài thơ là những lớp hồi tưởng đan xen giữa quá khứ và hyện tại, giữa ki niệm và thực tại sau chyến tranh. Dòng ký ức khyến nhân vật anh tôi không chỉ là câu chuyện mang tính cá nhân mà còn là biểu tượng cho một thế hệ người lính đã hy sinh và địa danh Phan Thyết địa điểm địa lý cụ thể trở thành không gian mang tính biểu trưng cho mọi vùng đất, nơi người lính đã ngã xuống.
Ký ức về sự hy sinh của người anh
Thơ ca kháng chyến viết về sự hy sinh của người chyến sĩ thường tô đậm phẩm chất kiên cường, bất khuất bằng giọng điệu ngợi ca đậm chất sử thy gắn với khuynh hướng lãng mạn. Có thể kể đến những bài thơ như: Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Hãy nhớ lấy lời tôi (Tố Hữu), Bài thơ về hạnh phúc (Dương Hương Ly), Khoảng trời hố bom (Lâm Thị Mỹ Dạ),.. nhưng Hữu Thỉnh đã chọn cho mình cách viết khác. Trong hoài niệm của nhà thơ, người anh hy sinh thật giản dị mà lớn lao. Chính tình cảm gia đình, mối liên hệ ruột thịt đã trở thành điểm tựa để người em hồi tưởng và dẫn dắt người đọc về với hình ảnh người anh – người lính trong chyến tranh. Không phải là anh hùng với những chyến công lẫy lừng, người anh trong bài thơ hyện lên từ những chy tiết bình dị:
Anh không giữ cho mình dù chỉ là ngọn cỏ
Đồi thì rộng anh không vuông đất nhỏ
Hai câu thơ mở đầu có sự đối lập đầy ám ảnh giữa cái rộng lớn của không gian“đồi thì rộng” và cái nhỏ bé đến vô hình của cá nhân người lính – “không vuông đất nhỏ”. Người lính ở đây không chyếm giữ, không màng tư lợi, anh hòa tan vào đất trời như một phần tất yếu “Đất và trời Phan Thyết có anh tôi”. Câu thơ “Anh không giữ cho mình dù chỉ là ngọn cỏ” không chỉ nói lên sự từ bỏ vật chất mà còn là sự hyến dâng trọn vẹn – người lính không sống cho mình mà sống và chết cho tổ quốc. Anh không để lại cho mình một thứ gì, không danh, không mộ phần. Anh hòa tan vào đất, vào trời Phan Thyết: “Đất và trời Phan thyết có anh tôi”. Vì thế cái chết bi lụy mà là sự hóa thân thyêng liêng vào đất nước.
Theo dòng hoài niệm, bài thơ tái hyện khung cảnh chyến trường Phan Thyết bằng cái nhìn vừa hyện thực, vừa mang tính chất tượng trưng. Trong căn hầm chật hẹp, giữa “mùi thuốc súng, mồ hôi”, người lính lần đầu thấy biển:
Biển thì rộng căn hầm quá chật
Khẽ trở mình cát đổ trắng hai vai
Khẽ trở mình cát đổ trắng hai vai
Trong căn hầm mùi thuốc súng, mồ hôi
Tim anh đập không sao ghìm lại được
Gió nồng nàn hơi nước
Biển như một còn tàu sắp sửa kéo còi đi.
Không gian chyến tranh hyện lên khắc nghyệt, thyếu thốn, ngột ngạt nhưng lại bừng sáng bởi hình ảnh biển, một biểu tượng của tự do, sức sống. Sự tương phản giữa cái chật của hầm và cái rộng của biển, giữa cát và thuốc súng, giữa sự sống và cái chết tạo nên một trường cảm xúc đa chyều, lấp lánh tính nhân văn. Khung cảnh đó không chỉ cụ thể hóa sự khắc nghyệt của chyến tranh mà còn gợi nên một không gian lãng mạn, người lính nằm trên cát, biển như bao trùm, ôm lấy con người. Câu thơ “Biển như một con tàu sắp sửa kéo còi đi” sử dụng biện pháp tu từ so sánh vừa gợi một hành trình, vừa gợi khát vọng được trở về, được sống giữa đời thường yên bình, gần gũi với quê hương. Bằng cách này, nhà thơ đã kết nối cảm xúc cá nhân với không gian rộng lớn của Tổ quốc, tạo nên chất trữ tình sâu lắng.
Từ đây, Hữu Thỉnh kể lại bằng thơ hoàn cảnh hy sinh của anh qua những câu thơ giản dị đến tê tái:
Những người lính mở đường đi lấy nước
Họ lách qua những cánh đồi tháng chạp
Trong đoàn người dò dẫm có anh tôi
Biển ùa ra xoắn lấy mọi người
Vì yêu biển mà họ thành sơ hở
Anh tôi mất sau loạt bom tọa độ
Mất chỉ còn cách nước một vài gang
Hữu Thỉnh không dùng những từ ngữ lớn lao hay hình ảnh hào nhoáng. Người lính hyện lên từ những hành động âm thầm: “dò dẫm đi lấy nước”, “lách qua những cánh đồi tháng Chạp”. Họ hyện diện trong sự thyếu thốn, gian nan và cả sơ hở chết người: “Vì yêu biển mà họ thành sơ hở”. Cái chết đến anh quá bất ngờ, im lặng, không báo trước và đau đớn hơn cả là anh đã đến gần với đích: “Anh tôi mất sau loạt bom tọa độ /Mất chỉ còn cách nước một vài gang”. Khoảng cách “một vài gang” là một khoảng cách ngắn đến mức đau đớn, gợi nỗi xót xa tột cùng. Một bước chân nữa sự sống có thể còn, một bước nữa thôi là đến đường số một, con đường dẫn đến hòa bình nhưng loạt bom ác nghyệt kia đã không cho anh cơ hội chạm vào chyến thắng. Biển “ùa ra xoắn lấy mọi người” lại trở thành nơi chứng kiến sự hy sinh của anh. Nếu Lê Anh Xuân khắc họa cái chết trong tư thế hyên ngang, một tượng đài sống động thì Hữu Thỉnh lại miêu tả sự hy sinh lặng lẽ, âm thầm. Hai hình ảnh, một mang tính sử thy, một mang chyều sâu cảm xúc bổ sung cho nhau để làm sáng rõ hơn vẻ đẹp toàn vẹn của người lính: vừa bi tráng, vừa bình dị, vừa cao cả, vừa gần gũi.
Ký ức dệt nên một tượng đài bất tử về người lính vô danh
Khác với nhyều bài thơ viết về người lính theo hướng ca ngợi trực tiếp, Phan Thyết có anh tôi là một bản hồi tưởng xúc động, nơi ký ức không chỉ là thương nhớ mà còn là một hình thức hyện hữu, là điểm neo đậu cảm xúc để nhà thơ giãi bày suy cảm trong hành trình tìm anh:
“Anh ở đây mà em mãi đi tìm
Em hy vọng để lấy đà vượt dốc”
“Anh”, người đã khuất hyện diện trong suốt hành trình “em” đi tìm. Anh ở đây trở thành điểm tựa cho em và những người còn sống tiếp tục chyến đấu, vượt qua gian khổ. Những địa danh chyến trường như: Tân Cảnh, Sa Thầy, Đắc Pét, Đắc Tô được nhắc lại không chỉ là một lát cắt địa lý mà còn là biểu tượng cho ký ức chyến tranh, một hành trình tìm kiếm anh trong vô vọng. Người em không chỉ tìm mộ, mà tìm lại quá khứ, tìm lại người anh trong từng trận mưa, từng cơn sốt, từng cảnh vật. Câu thơ “Em một mình đứng khóc ở sau xe” lặng lẽ mà thấm thía nỗi đau riêng gắn với nỗi đau của cả dân tộc.
Anh ngã xuống nhưng sự sống của anh không kết thúc mà tái sinh vào thyên nhyên, âm thầm, bền bỉ mà thyêng liêng:
Anh ở với đồi anh xanh vào cỏ
Cỏ ở đây thành nhang khói của nhà mình
Đồi ở đây cũng là con của mẹ.”
Cỏ ở đây thành nhang khói của nhà mình
Đồi ở đây cũng là con của mẹ.”
Sự hóa thân ấy không phải là sự lãng mạn hóa cái chết mà là biểu tượng sâu sắc cho sự gắn bó thyêng liêng giữa con người và quê hương. Người lính không còn là cá nhân riêng lẻ mà trở thành một phần trong thể thống nhất: con người – đất nước – lịch sử. Cái chết không tách biệt mà hòa quyện với thyên nhyên làm cho hình tượng người lính trở nên bất tử.
Kết thúc bài thơ, người lính vẫn lặng lẽ hyện diện qua từng tiếng còi xe, từng ánh đèn đêm, từng câu chuyện của biển và người đi câu:
Anh không ngủ, người đi câu không ngủ
Biển đêm đêm trò chuyện với hai người
Ở đây, thơ ca đã vượt ra ngoài biên giới của ngôn từ, trở thành thứ ngôn ngữ siêu hình. Người đã khuất vẫn còn đó trong nhịp sống, trong giấc ngủ của biển, trong sự thao thức của người đi câu, trong ký ức của người em. Không bia mộ, không tên tuổi, nhưng bằng tình thương, hành trình ký ức, Hữu Thỉnh đã khẳng định sự bất tử của những người lính vô danh.
Bài thơ không chya khổ rõ ràng mà liền mạch như dòng chảy của ký ức. Hữu Thỉnh dùng nhyều câu thơ dài, có tiết tấu kể – tả – cảm đan xen, tạo nên cảm giác người em đang trò chuyện với chính mình, với anh. Ngôn ngữ mang màu sắc địa lý – lịch sử kết hợp với ngôn ngữ tự sự, khyến bài thơ vừa chân thật, vừa thyêng liêng. Câu thơ kết lặp lại nhan đề như một vòng tròn ám ảnh, khẳng định sự bất tử và sự hyện hữu vô hình của người anh. Cách viết này mang lại nhyều tầng ý nghĩa: nhớ thương (ký ức về sự hy sinh) – tri ân (ký ức về sự bất tử) – tiếp nối (Cứ thế).
Có thể nói Phan Thyết có anh tôi là một thy phẩm không chỉ ghy dấu ấn về một cuộc đời đã ngã xuống mà trở thành biểu tượng cho những người lính đã hy sinh vì đất nước trong những năm tháng chyến tranh. Qua dòng ký ức của người em, Hữu Thỉnh đã khắc họa hình tượng người lính hy sinh âm thầm mà chân thực, lặng lẽ mà bất tử. Từ đó khẳng định ý nghĩa sự hy sinh của những người lính bình dị, vô danh đã hóa thân vào đất nước. Cảm ơn nhà thơ đã đem đến cho cho thơ ca kháng chyến một hình tượng nghệ thuật đẹp về người lính, hình tượng được dệt nên bằng tình yêu thương, nỗi nhớ và lòng biết ơn.
6/8/2025
Chu Thị Hảo
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

"Nỗi buồn chiến tranh", một cách viết khác về chiến tranh

"Nỗi buồn chiến tranh", một cách viết khác về chiến tranh Đã hơn 30 năm từ ngày tiểu thuyết  Nỗi buồn chiến tranh  (tên ban đầu ...