Mười hai tướng soái Trung Hoa 1
THAY LỜI TỰA
Để bảo vệ đất nước trước
nạn ngoại xâm và một phần cũng để củng cố địa vị phong kiến tập quyền của ngai
vàng của Hoàng đế, suốt theo chiều dài lịch sử cổ đại Trung Hoa đã xảy ra không
biết bao nhiêu trận chiến ác liệt đẫm máu. Trong số đó có những trận chiến cực
kỳ bi thảm nhưng cũng có không ít trận chiến oai hùng nêu rõ được tài năng của
các tướng soái cầm quân, đi vào lịch sử như những bước ngoặt cho một triều đại.
Thí dụ như trận chiến nổi tiếng ở Quan Độ với tài cầm quân đại lược của Tào
Tháo, tuy chỉ với số ít quân mã vẫn dùng “kỳ binh” đánh tan được gần trăm vạn
quân đội của Viên Thiệu, là bước ngoặt quan trọng để bình ổn thời cuộc Tam Quốc;
gần nhất là cuộc chiến dữ dội ở hồ Phiên Dương giữa lực lượng nhỏ bé của Chu
Nguyên Chương nhưng vẫn oai hùng đánh tan quân mã cực kỳ hùng hậu của thế lực
quân phiệt Trần Hữu Lượng, là cột mốc dựng nên nhà Minh, v.v...
Những cuộc chiến ấy không
đơn thuần là dùng sức mạnh hay số đông tàn sát đối phương mà chính là sự phát
huy cao độ trí tuệ của người cầm quân. Vì vậy nghiên cứu lịch sử Trung Hoa cổ đại
thì không thể không xem xét đến các trận đánh lẫy lừng ấy một cách khách quan,
làm bài học kinh nghiệm cho hậu thế ngày nay, không những về mặt quân sự mà còn
mang ý nghĩa về sự vận dụng trí tuệ để giải quyết các xung đột luôn luôn xảy đến
trong cuộc sống.
Các cuộc chiến nổi tiếng
với những tướng soái đầy tài năng tính ra có hàng trăm nhưng vì trang sách có hạn,
ở đây chúng tôi chỉ xin được trình bày 12 trận đánh lớn mà tên tuổi của vị tướng
soái ấy đã đi vào lịch sử.
Trân trọng
Người biên soạn
1. TÔN VÕ - CON RỒNG THẦN
BÍ
Xuân Thu Chiến quốc là thời
kỳ hết sức hỗn loạn bởi chính sách phong điền lập ấp của nhà Chu bởi kể từ khi
Thiên tử nhà Chu không còn nắm được đại quyền chi phối các nước chư hầu như trước
kia nữa thì các chư hầu bắt đầu nhen nhóm tham vọng. Vì muốn mở rộng thế lực
nên các chư hầu luôn luôn nhòm ngó lẫn nhau, chỉ cần một chút sơ hở như là triều
đình một nước nào đó suy yếu liền lập tức tiến hành chiến tranh xâm chiếm, mở rộng
biên cương. Do tình hình này mà suốt thời kỳ Chiến quốc có nước hùng mạnh một
thời gian rồi suy tàn, một nước khác lại nổi lên với tham vọng muốn làm bá chủ
cả một phương, thậm chí còn ngấm ngầm mang ý muôn khuynh đảo cả Thiên tử nhà
Chu nữa. Cuộc diện biến đổi làm cho người dân thời kỳ này vô cùng điêu linh lầm
than nhưng riêng các Vương Hầu vẫn không bao giờ từ bỏ tham vọng của mình.
Vào năm 585 trước Công
nguyên, một chư hầu nhỏ là nước Ngô đã bị nước Việt hùng mạnh hơn tiêu diệt. Nước
Ngô phải chịu đựng nhục nhã suốt mấy chục năm, mãi đến khi Ngô vương Hạp Lư (tức
Công tử Quang) lên ngôi đất nước mới thịnh trị và mở ra cơ hội báo thù cái nhục
trước kia. Ngô vương Hạp Lư canh cánh bên lòng mối thù mất nước, vì vậy âm thầm
chiêu mộ nhân tài, trọng dụng các tướng lãnh để hy vọng một ngày nào đó sẽ tấn
công nước Việt báo thù. Sau này Hạp Lư thu nhận được một nhân tài là Ngũ Viên,
thường được gọi là Ngũ Tử Tư người nước Sở.
Hạp Lư rất kính phục tài
năng và ý chí của Ngũ Viên nên phong làm Tướng, giao cho Ngũ Viên nhiệm vụ xây
dựng thành Cô Tô, chia làm 8 cửa rồi bắt đầu tiến hành việc tuyển mộ quân mã,
sau đó huấn luyện cho họ về binh pháp, tích trữ lương thảo thật đầy đủ. Để đề
phòng nước Việt biết tin tấn công trước, Ngũ Viên lại cho xây dựng một tòa
thành nữa hết sức kiên cố ở Phượng Hoàng sơn, gọi là Nam Vũ thành.
Với mối thù không đội trời
chung bị Sở Bình vương giết cha và anh, Ngũ Viên tận lực phát triển quân đội, mở
rộng việc rèn đúc vũ khí và binh giáp, chẳng bao lâu đã hình thành một đội quân
vừa tinh nhuệ vừa hùng hậu. Tuy nhiên mãi đến khi Ngũ Viên dùng kế lừa dối, sai
Yêu Ly giết chết Công tử Khánh Kỵ một cách hèn hạ thì địa vị của Hạp Lư mới bước
sang thời điểm mới vững chắc hơn, không còn lo lắng đến nội loạn mà dồn sức cho
việc báo thù.
Trong đám tang của Công tử
Khánh Kỵ, Ngũ Viên chợt ôm mặt khóc nức nở khiến Hạp Lư vô cùng kinh ngạc, hỏi
thì Ngũ Viên nghẹn ngào đáp:
– Thù nhà của Đại vương
đã trả xong, chỉ riêng tôi chưa thể báo thù cho cha anh nên quá xúc động mà
không sao cầm được nước mắt. Xin Đại vương tha tội.
Hạp Lư nghe vậy cũng rất
cảm động, lập tức hội quần thần lại bàn việc tiến đánh nước Sở. Hạp Lư phân vân
nói với quần thần:
– Việc ra quân lần này vô
cùng hệ trọng bởi nếu thất bại thì giấc mộng đánh Việt sẽ tiêu tan. Vì vậy cần
phải có một danh tướng vô địch đứng ra cầm quân thì ta mới yên tâm được.
Ngũ Viên đứng ra nói:
– Việc này Đại vương lo lắng
rất đúng. Tuy nhiên ngay tại nước Ngô này có một nhân tài kiệt xuất mà Đại
vương chưa biết đến đó thôi, đó là Tôn Võ. Chỉ cần ông ta chấp nhận cầm quân
thì chẳng sá gì nước Sở mà cả Trung nguyên này cũng có thể bỏ vào túi dễ như bỡn.
Tuy Hạp Lư chưa tin lời
tiến cử của Ngũ Viên hẳn nhưng nghe nói đó là người nước Ngô lập tức bằng lòng
ngay, sai Ngũ Viên mang trọng lễ đến đất La Phù triệu Tôn Võ về kinh để trọng dụng.
Thật sự thân thế của Tôn
Võ cũng chưa chính xác, theo sử ghi lại thì Tôn Võ tên tự là Trường Khanh, hoàn
toàn không hề biết năm sinh và năm mất của con rồng thần này. Cũng theo chính sử
thì Tôn Võ là hậu duệ của công tử Điền Hoàn nước Tần. Vào năm 672 trước Công
nguyên, nước Tần xảy ra loạn lạc nên gia đình Công tử Hoàn mới chạy sang Tề, đổi
thành họ Điền. Đời thứ năm của Điền Hoàn là Điền Thư làm Đại Phu cho nước Tề,
do có công chinh phạt nước Cử nên được Tề Cảnh công ban cho họ Tôn. Con trai
Tôn Thư là Tôn Phùng, làm tới chức Khanh ở triều Tề, đó là thân phụ của Tôn Võ.
Khi còn thiếu niên, Tôn Võ đã tỏ ra là người say mê binh pháp nhưng không có ý
định xuất hiện giúp đời tìm công danh. Lúc trốn chạy đến nước Ngô, Ngũ Viên đã
có một thời gian gặp gỡ Tôn Võ, nhận biết đó là nhân tài về quân sự nên hai người
đã kết giao làm bằng hữu.
Cũng có sách ghi chép mặc
dù Ngũ Viên hết sức tiến cử, đến mức trong một ngày nhắc 7 lần nhưng cuối cùng
Ngô vương Hạp Lư cũng chấp thuận cho ông ta đem lễ vật đi mời về kinh chứ không
hề hứa hẹn sẽ trọng dụng. Cho đến khi diện kiến, Ngô vương Hạp Lư hỏi về binh
pháp, hỏi đến đâu Tôn Võ trả lời như suối chảy, thật rành rọt và có nhiều ý kiến
độc đáo về thuật hành binh thì Hạp Lư mới tin dùng.
Theo sử chép thì đối đáp
giữa Hạp Lư và Tôn Võ được ghi lại trong phần Bình quyền mưu của
bộ Hán thư nhưng hiện này đã mất. Do vậy một số lời chất vấn
giữa hai người được ghi lại đều không hoàn toàn chính xác, vì thế chúng tôi chỉ
trích sơ lược mà thôi:
“Ngô vương Hạp Lư hỏi:
– Địch bao vây thành, cướp
đồng ruộng, đốt hoa màu rồi chận hết các đường giao thông quan trọng, đợi đến
khi lương thảo trong thành đã cạn kiệt, sau đó mới tấn công chớp nhoáng thì
chúng ta phải làm thế nào?
Tôn Võ trả lời:
– Địch tiến sâu vào đất
chúng ta, rời xa quê hương mình. Tướng sĩ đều coi quân đội là nhà, chuyên tâm
chiến đấu. Quân ta ở trong nước, dựa vào đất để chống lại, ý chí chiến đấu
không kiên quyết bằng, lại không quen ra khỏi thành chiến đấu ở bên ngoài,
nhưng nếu ta tích trữ đủ lương thảo, tập hợp quần chúng cố thủ, đồng thời cho
những đội quân tinh nhuệ tập kích cắt đứt đường vận chuyển lương thảo của địch.
Đợi đến khi địch cạn kiệt quân lương bởi tiếp tế khó khăn, lại bị chúng ta dùng
kỳ binh đánh phá, lúc đó đồng ruộng cũng không còn thì có thể tiến ra khiêu chiến
địch được.
Ngô Vương Hạp Lư lại hỏi:
– Ngược lại nếu như chúng
ta tiến sâu vào đất địch, tướng sĩ xa nhà tinh thần lo lắng chỉ muốn quay về,
phía trước lại có địch, tình thế khó tiến mà dễ lui, lại không có nơi nào hiểm
trở để cố thủ, ba quân có phần hoảng sợ, tướng soái muốn tiến lên, nhưng quân
sĩ lại muốn lui về, trên dưới không cùng một lòng, còn kẻ địch thì lại đang cố
thủ trong thành lũy, chiến xa và quân kỵ của địch rất tề chỉnh. Địch có thể
đánh ta từ phía trước hoặc tập kích ta từ phía sau, như vậy ta phải đối phó ra
sao?
Tôn Võ đáp:
– Quân vào nước địch, nhiệm
vụ chính là thọc sâu. Không nên chú trọng tới việc đánh nhau. Khi tiến vào nước
địch không nên tiếp cận những đô thành lớn, không nên đi theo những con đường lớn.
Sau khi đã vào đến đất địch, giả vờ rút quân, nhưng ngầm cho quân khinh kỵ đột
nhập, cướp đi trâu ngựa gia súc của họ. Quân lính trông thấy những thứ cướp được,
tinh thần yên ổn vì biết không thiếu lương thực thì sẽ vui vẻ mà tiến lên chứ
không sợ gì nữa. Lúc ấy ta sẽ phái tướng giỏi và quân tinh nhuệ, rồi sau đó
khiêu chiến dụ địch. Khi quân địch tiến vào chỗ quân chúng ta mai phục thì ta
có thể đánh tiêu diệt chúng. Nếu kẻ địch không chịu ra chiến đấu mà rút lui ta
cũng đã được lợi rồi.
Ngô Vương Hạp Lư lại hỏi:
– Quân của đôi bên cùng
tranh nhau chiếm đất, mà quân kẻ địch lại đến trước, kiên trì cố thủ, luyện tập
quân sĩ, hoặc cho quân ra tập kích chúng ta, hoặc phòng thủ bằng kỵ binh thì
chúng ta phải làm thế nào?
Tôn Võ trả lời:
– Đánh chiếm đất đai là để
cho kẻ địch những cái chúng có thể lấy được và giành lấy những cái kẻ địch có
thể mất. Khi kẻ địch đã chiếm được một khoảnh đất nào đó thì chúng ta không nên
khinh suất mà đánh chiếm lại, mà phải dùng kế sách “hư trương thanh thế” rồi nhắm
vào chỗ yếu kém nhất của địch. Sau đó ngầm chia quân tinh nhuệ ra mai phục. Địch
sẽ sợ mất vùng đất hiểm yếu, tất đưa quân đến cứu và rơi vào chỗ phục binh, như
vậy mới có thể giành được chiến thắng. Nếu chúng ta đến trước mà kẻ địch lại
dùng phương pháp này thì chúng ta có thể chọn quân tinh nhuệ cố thủ mảnh đất
đó, rồi phái quân truy kích quân địch và chia quân ra mai phục. Đợi đến khi kẻ
địch mang quân trở về ta đổ quân ra đánh, đó là đạo dùng binh chắc thắng.
Ngô Vương hỏi tiếp:
– Chỗ vùng ranh giới giữa
kẻ địch và ta, thì phải xây dựng những công trình phòng thủ ở những chỗ hiểm yếu.
Nhưng nếu ta chưa kịp hoàn thành địch đã nhân thời cơ ấy mà tấn công, quân đôi
bên lại ngang sức nhau, vậy thì ta cần phải làm thế nào để chống đỡ?
Tôn Võ trả lời:
– Ta đã không thể tiến
công, mà kẻ địch đến xâm phạm thì ta có thể chia quân ra mà mai phục, số còn lại
biểu lộ sự yếu kém để dụ địch đánh thẳng vào đó, rơi vào vòng mai phục thì chắc
chắn sẽ đại thắng.
Ngô Vương lại hỏi:
– Chỗ đường hành quân
quan trọng, ta cần phải chiếm lấy trước tiên. Nhưng nếu phía ta, đường xa lại
xuất phát chậm hơn quân kẻ địch, cho nên dù ngựa có phóng nước đại cũng không
thể đến trước được thì ta phải làm thế nào?
Tôn Võ trả lời:
– Các nước chư hầu đều có
ranh giới tiếp giáp với nhau, ta có thể phái sứ giả tới, mang theo tiền bạc lễ
vật hậu để liên minh với các nước xung quanh. Quân kẻ địch tuy đến trước nhưng
chúng ta lại được các nước giúp đỡ. Chúng ta có thể tuyển chọn, huấn luyện quân
tinh nhuệ, chiếm cứ các địa thế có lợi ởcác nước xung quanh, đồng thời chuẩn bị
cho lương thực đầy đủ, quân ta thường xuyên cho người đi do thám, xác định rõ
thời cơ tấn công kẻ địch. Ta được các nước giúp, nổi trống trợ chiến khi ta tấn
công, làm cho kẻ địch hoang mang, thấy bốn phía đều có kẻ địch, không biết đánh
cách nào, như vậy thì chúng ta chỉ đánh một trận là chiến thắng.
Ngô Vương hỏi tiếp:
– Quân ta ra khỏi ranh giới
đóng trên quân địch. Quân địch kéo đến khá đông bao vây chúng ta vòng trong
vòng ngoài. Quân ta muốn phá vây, mà tứ phía đều không có lối ra. Muốn khích lệ
quân sĩ để họ liều chết phá vây xông ra thì phải dùng biện pháp gì?
Tôn Võ trả lời:
– Phải đào hào sâu đắp
lũy cao, tăng cường phòng thủ. Phải giữ thật yên lặng, để che giấu thực lực của
quân ta. Thông báo cho toàn quân biết tình hình nguy cấp đó, sau đó giết bò đốt
xe, cho quân sĩ ăn no, đốt sạch lương thực, lấp giếng phá bếp, cắt tóc vứt mũ,
để tỏ ý liều chết. Tiếp đó, động viên quân sĩ một lòng quyết chiến một trận với
quân thù. Có thể một mặt, có thể tấn công hai bên, đánh trống vang trời dậy đất
là thanh thế. Như vậy sẽ làm cho kẻ địch hoảng sợ không biết nên chống chọi thế
nào. Đó chính là con đường rơi vào chỗ chết mà tìm đường sống. Bởi vậy mới nói:
“Khốn mà không có mưu thì cùng, giỏi mưu thiện chiến thì ở vào chỗ chết nhưng
cuối cùng vẫn sống”.
Ngô Vương hỏi:
– Nếu gặp trường hợp ngược
lại, ta đang bao vây quân địch như vậy, thì cần làm thế nào?
Tôn Võ trả lời:
– Địch cố thủ trong núi
cao khe sâu hiểm trở, ta khó vượt qua, như vậy là quân kẻ địch cùng đường.
Phương pháp đánh hay nhất là dùng quân tinh nhuệ mai phục, đồng thời cố ý để một
đường thoát cho địch, khi ấy địch sẽ không còn tinh thấn liều chết mà cố sức
tìm sự sống bằng cách theo đó mà thoát ra. Binh pháp có nói: “Nếu kẻ địch ở vào
tử địa, mà quân lính lại dũng cảm thì tốt nhất là phải để cho chúng một con đường
sống, tuyệt đối không nên dồn họ vào chỗ chết, càng phải ngầm mai phục quân
tinh nhuệ, đồng thời cắt đứt đường tiếp tế lương thực của chúng, đợi tới khi
chúng lọt vào ổ phục kích của quân ta, ta bất ngờ xông ra đánh thì mới đạt được
thắng lợi”.
Ngô Vương lại hỏi:
– Nếu kẻ địch kiêu căng
dũng cảm, quân của chúng đông và mạnh, thì ta phải làm thế nào để đánh bại
chúng?
Tôn Võ trả lời:
– Chúng ta cần phải cố ý
để lộ cho kẻ địch tưởng là ta yếu, từ đó mà làm cho chúng thêm kiêu ngạo, lười
nhác việc phòng thủ, tiếp đó ta nhân lúc chúng chuyển quân mà bố trí quân mai
phục, khi kẻ địch đã lọt vào ổ phục kích, đầu đuôi không thể hỗ trợ được cho
nhau thì ta bất ngờ đánh chia cắt chúng ra thành từng khúc, kẻ địch tuy đông,
nhưng ta có thể đánh bại chúng, cần nhớ cách đánh kiêu binh trong binh pháp là
không được đánh trực diện”.
Nói chung, chắc chắn Ngô
vương Hạp Lư hỏi Tôn Võ rất nhiều về binh pháp và được trả lời trôi chảy nên cuối
cùng mới hài lòng, phong cho ông làm Nguyên soái. Tôn Võ cảm kích vì sự đối đãi
trọng hậu của Ngô vương, tự tay viết một cuốn binh pháp gồm 13 thiên, gọi là
“Tôn Tử binh pháp” mà ngày nay vẫn còn lưu truyền. Tuy ngắn gọn chỉ có 13
chương nhưng “Tôn Tử binh pháp” hết sức súc tích, có thể làm căn bản chiến đấu
cho tất cả các thời đại, kể cả ngày nay với nhiều loại vũ khí tối tân.
Tuy nhiên, theo giả thuyết
khác thì Tôn Võ chính là cháu mấy đời của Tôn Tẫn thời trước làm tướng ở nước Tề,
dùng mưu lược thần sầu đánh bại người em đồng môn là Bàng Quyên. Sau đó Tôn Tẫn
chán nản tình đời, lặng lẽ quy ẩn và viết sách về binh pháp truyền lại cho con
cháu, vì vậy mà Tôn Võ không hề theo học bất cứ vị sư phụ nào cũng rất tinh
thông binh pháp. Chính ông sau khi đại phá quân Sở cũng từ biệt Ngô vương Hạo
Lư đi vào núi mất biệt, giống như một con rồng bí ẩn thấy đầu mà chẳng thấy
đuôi. Tại sao Tôn Võ có gia đình quyến thuộc, được Ngũ Viên chính thức đón mời
về triều, lập đại công rồi lại không trở về quê quán xum họp gia đình mà lại
vào núi mai danh ẩn tích? Điều này khiến giả thuyết ông là con cháu của Tôn Tẫn
được nhiều người tin tưởng hơn bởi tính cách của ông hoàn toàn giống với cha
ông tể phụ và chỉ có binh pháp của thần nhân Quỷ Cốc Tử mới có thể giúp cho Tôn
Võ lập công lớn lao như vậy.
Sau khi nghe Tôn Võ trình
bày, Ngô vương Hạp Lư hết sức khâm phục nhưng chợt có vẻ trầm ngâm, hỏi:
– Ta biết ông là bậc đại
sư về binh pháp rồi. Thế nhưng hiện tại quân Ngô quá ít so với quân Sở, e rằng
khó mà thực hiện được cuộc chiến tranh quan trọng này.
Tôn Võ nghe vậy liền tâu:
– Theo binh pháp thì chỉ
cốt quân tinh nhuệ chứ không không cần đông. Ngay cả phụ nữ chân yếu tay mềm nếu
được huấn luyện binh pháp thuần thục thì vẫn có sức mạnh bằng mười lần quân địch
ô hợp. Đông mà không tinh thì chỉ tạo ra sự hoảng loạn mà thôi.
Ngô vương Hạp Lư cười ngất,
hỏi lại:
– Thế những cung nữ ẻo lả
trong cung cấm của ta có thể huấn luyện thành tinh binh được không?
Tôn Võ nghiêm mặt trả lời:
– Rất được.
Ngô vương Hạp Lư tưởng
như câu nói đùa của mình sẽ làm Tôn Võ ngỡ ngàng, nghe vậy thì cả cười, nói:
– Ta sẽ giao cho ông 300
cung nữ phi tần xinh đẹp nhất, nếu như ông huấn luyện họ thành chiến binh thuần
thục thì ta mới tin.
Tôn Vũ liền nhận lời,
ngay sáng hôm sau tập trung tất cả cung nữ ở giáo trường, lại xin Hạp Lư cho
mình hai nàng phi được sủng ái nhất để làm đội trưởng, chia 300 cung nữ ra làm
hai đội gọi là Tả Cơ và Hữu Cơ. Sau đó Tôn Võ ban bố quân lệnh, trong ấy nhấn mạnh
hai điều quan trọng: Đó là tuyệt đối phải tuân theo mệnh lệnh và không được nói
cười, bất cứ ai vi phạm đều bị tội nặng.
Khi ban bố quân lệnh
xong, Tôn Võ lấy hai lá cờ vàng làm hiệu lệnh, truyền đánh trống để các cung nữ
theo hàng ngũ tiến lên lui xuống theo binh pháp. Thế nhưng dù đã mấy lần nghiêm
lệnh mà các cung nữ vẫn không sao giữ được đội hình, lên xuống hết sức loạn xạ.
Tôn Võ cả giận, truyền tất cả im lặng để ban bố quân lệnh lần nữa, đoán chắc nếu
lần này không theo hiệu lệnh thì sẽ trừng trị thẳng tay. Tiếc rằng dù vậy mà
khi tiếng trống nổi lên, hầu hết các cung nữ đều xem đó là trò vui, cười nói
nghiêng ngả, xô đẩy nhau không ra thể thống gì.
Tôn Võ liền tự mình đứng
ra đánh trống, nhưng cuối cùng tình hình vẫn không hề vãn hồi được. Ông bèn gọi
viên chấp pháp đến hỏi:
– Không theo quân lệnh
thì phải trị tội ra sao?
Viên quan chấp pháp thưa
rằng trong bất cứ quân đội nào nặng nhất là việc trái quân lệnh, phải bị tội chết.
Tôn Võ lập tức sai người đem hai đội trưởng là Tả Cơ và Hữu Cơ ra chém đầu làm
gương. Đây là hai người thiếp mà Hạp Lư sủng ái nhất nên vội lên tiếng năn nỉ
Tôn Võ nhẹ tay cho. Thế nhưng Tôn Võ nhất quyết thi hành theo quân pháp khiến tất
cả cung nữ còn lại đều sợ đến mất mật, run như cầy sấy. Tôn Võ nói:
– Đại vương mất hai người
thiếp thì còn cả trăm cả ngàn mỹ nhân có thể thay thế được. Nếu như lần này tha
thứ cho họ thì tôi e rằng mất cả đại nghiệp, việc nào hại hơn? Vả chăng nếu tôi
tuân theo sự yêu cầu của Đại vương thì ai ai cũng sẽ cho rằng tôi bất tài mà Đại
vương là người tham sắc không nghĩ đến việc lớn, không biết trọng dụng hiền tài
thì lại càng nguy hại cho tiền đồ hơn.
Ngô vương Hạp Lư nghe vậy
rơi nước mắt để Tôn Võ thi hành. Sau khi Tôn Võ chọn hai người khác làm đội trưởng,
bắt đầu hàng ngũ tiến lui đã có thứ tự, tiến lui theo trận pháp hết sức nhịp
nhàng. Chỉ cần 3 ngày, đội quân yểu điệu ấy đã có tiến bộ rõ rệt khiến Ngô
vương Hạp Lư hết sức khâm phục. Tuy nhiên Hạp Lư vẫn thương tiếc hai nàng ái
cơ, sai an táng ở Hoàng sơn rồi lập miếu thờ gọi là Ai Cơ từ.
Sau sự cố này, Ngô vương
Hạp Lư tỏ ra bất mãn, rất lạnh nhạt với Tôn Võ, hình như không muốn sử dụng nữa
khiến Ngũ Viên vô cùng lo lắng phải nhiều lần thuyết phục, cuối cùng Hạp Lư mới
gắng gượng phong cho Tôn Võ làm Thượng tướng, toàn quyền điều động quân mã đi
đánh nước Sở. Để yên nội bộ, Tôn Võ lại xin Hạp Lư trừ khử cả Yểm Dư và Chúc
Dung thì mới yên tâm mà đem đại quân rời khỏi kinh thành. Ngô vương Hạp Lư nghe
theo, thế nhưng khi ấy hai người này đang lẩn trốn ở nước Từ và nước Chung Ngô,
vua hai nước lại không nghe lệnh của Hạp Lư để cho họ trốn sang Sở đầu quân chống
lại Ngô. Vì vậy Hạp Lư cả giận, trước tiên sai Tôn Võ đem quân trừng trị nước Từ
và nước Chung Ngô.
Tôn Võ không hề biện thuyết
bằng miệng mà thực hành hết sức thần tốc, không những tiêu diệt cả hai nước mà
còn nhân cơ hội lén đánh đất Thư Thành của Sở, giết chết cả Yểm Dư và Chúc Dung
rồi mới chịu rút quân về. Trận đánh đầu tiên của Tôn Võ đã làm chấn động các
chư hầu bởi hầu như không hề gặp trở ngại, lại tiến vào đất Sở rất thần tốc, giết
tội phạm xong lập tức rút lui cũng nhanh chóng giống như lúc tiến binh, làm cho
quân dân nước Sở đều ngỡ ngàng, khi biết tin Yểm Dư và Chúc Dung chết rồi thì
quân Ngô đã lui về nước an toàn.
Sở vương vô cùng tức giận,
đã toan huy động đại quân đánh báo thù nhưng Tôn Võ khôn ngoan chia quân ra làm
3 đạo, cứ 2 đạo lo việc cày cấy lấy lương thực thì đạo kia dùng kỳ binh quấy
phá biên cương nước Sở, 3 đạo thay phiên nhau hoạt động nên không hề bị mệt mỏi
mà vẫn chu toàn được vấn đề quân lương. Trong khi đó quân tướng nước Sở không
thể biết quân Ngô sẽ tiến đánh chỗ nào, chăm chăm lo phòng bị thì còn tâm trí
đâu nghĩ đến việc báo thù?
Sau một thời gian, vào
năm 511 trước Công nguyên, Hạp Lư đột nhiên bị mất thanh kiếm báu Trạm Lư mà Sở
Chiêu vương lại có nên hết sức giận, cho rằng đã có kẻ lấy cắp nên giết toàn bộ
những cận thần thân tín vẫn thường hầu hạ bên mình, đồng thời quyết định sai
Tôn Võ, Ngũ Viên và Bá Hi đem đại quân đi đánh Sở. Tôn Võ cho rằng chưa đến thời
cơ, không thể tiến sâu vào đất Sở nếu như không có tiếp vận đầy đủ và kịp thời,
xin được từ chối. Hạp Lư đành phải sai sứ giả đến nước Việt yêu cầu giúp sức việc
lương thảo, lúc đó Tôn Võ mới bằng lòng dẫn quân đi.
Khi quân nước Ngô đã chiếm
được đất Lục và đất Tiềm là hai địa đầu của nước Sở, đang tính tiến sâu hơn thì
nghe tin nước Việt từ chối yểm trợ, đành phải rút về nước. Vì việc này Ngô
vương Hạp Lư nổi cơn thịnh nộ, tự thân đem quân đi đánh Việt mặc dù Tôn Võ và
Ngũ Viên hết sức khuyên can, cho rằng làm như vậy sẽ hao tổn quân tướng, lại
gây thêm thù oán với nước Việt, không có lợi cho việc tiêu diệt Sở. Thế nhưng Hạp
Lư không chịu nghe theo, hậm hực kéo quân tiến đánh nước Việt dữ dội, đánh tan
đại quân Việt ở Huề Lý, cướp bóc vô số tài vật rồi mới chịu rút về.
Mối thù này làm sao nước
Sở chịu được nên 3 năm sau, tức là năm 508 trước Công nguyên, Sở Chiêu vương tập
trung được quân mã liền ra lệnh tổng tấn công nước Ngô, phong cho Đại tướng
Nang Ngõa làm Nguyên soái, đóng quân ở Dự Chương. Tiếc thay Nang Ngõa chưa phải
là tay đối địch với Tôn Võ và Ngũ Viên nên không chuyển biến kịp thời, bị Tôn
Võ một mặt áp dụng chiến thuật kết hợp giữa tấn công và tập kích, một mặt điều
động chiến thuyền đến Dự Chương đánh trực diện vào quân Sở; mặt khác ngầm tập
trung quân ở đất Sào. Sau nhiều trận chiến dữ dội, quân Sở đại bại, Tôn Võ bắt
sống được Công tử nước Sở tên là Phàn, áp giải về nước Ngô dâng cho Hạp Lư lấy
công. Tuy nhiên Hạp Lư không hề bằng lòng, nói:
– Bắt được một người thì
chẳng ích gì, ý muốn của ta là muốn chiếm cả Sính Đô (đô thành nước Sở) mới hả
lòng.
Nhờ sự thuyết phục của
Tôn Võ và Ngũ Viên, cho rằng thời cơ chưa thể chín mùi, không nên vội vã mở một
chiến dịch lớn lao như vậy nên cuối cùng Hạp Lư mới bất đắc dĩ bỏ việc tiến
quân. Thế nhưng chỉ hai năm sau, tức là vào năm 506 trước Công nguyên, Ngô
Vương Hạp Lư lại nôn nóng nhắc đến chuyện cũ, rất muốn Tôn Võ và Ngũ Viên tiến
hành ngay. Tôn Võ phải phân tích thời cuộc rồi lần lượt đến Ngũ Viên trình bày:
– Hạ thần mang mối thù
không đội trời chung với nước Sở, còn nôn nóng hơn cả Đại vương. Thế nhưng đúng
như lời Tôn Đại tướng nói thì chưa thể tiến hành cuộc chiến ngay lúc này, dễ
chuốc lấy thất bại. Người ta thường nói: “Quân tử báo thù 10 năm cũng chưa muộn”,
xin Đại vương nén lòng chờ đợi, khi nào đúng thời cơ thì không cần Đại vương phải
nhắc nhở, chúng thần sẽ quyết tiêu diệt nước Sở thành bình địa mới thôi.
Tiếc rằng Ngô vương Hạp
Lư nhất định không nghe theo, phán bảo:
– Dù ta biết quân Sở hùng
hậu nhưng hiện nay đã có hai vị cầm quân thì còn e sợ gì nữa? Ta vẫn muốn thử một
lần xem sao.
Bất đắc dĩ Tôn Võ và Ngũ
Viên phải bàn bạc cùng nhau, đưa ra kế sách khác:
– Thật sự quân ta chưa đủ
sức đánh thẳng đến Sính Đô, mà nếu được thì cũng không thể tiêu diệt Sở tận gốc
ngọn. Nếu như Đại vương nôn nóng muốn tiến hành thì nay chỉ còn cách phải kết hợp
với hai nước Đường và Sái thì mới mong thành công. Theo hạ thần thì hai nước
này đều có mối thù với Sở, chắc chắn sẽ giúp chúng ta ngay.
Ngô vương có vẻ ngạc
nhiên, hỏi lại thì Tôn Võ cho biết mối thù của Đường và Thái bắt nguồn từ câu
chuyện xa xưa:
– Lúc ấy Nang Ngõa nắm
quyền Lệnh doãn của nước Sở (tương đương với Tể tướng) nhưng lại là kẻ hết sức
tham lam, thường bắt chư hầu hối lộ cho nên các chư hầu rất bất mãn. Hai năm
trước, Sái Chiêu công nhân dịp Sở vương được thanh kiếm quý Trạm Lư thì liền đến
triều bái nước Sở, có đem theo hai miếng ngọc bội trị giá liên thành. Sái Chiêu
công dâng một miếng ngọc bội cho Sở Chiêu Vương, còn lại một miếng định gắn vào
mão. Thế nhưng Nang Ngõa nhất định đòi lấy miếng ngọc bội ấy bằng được, không
được vừa ý thì liền bắt giữ Sái Chiêu công, không cho ông ta về nước. Cùng thời
gian đó, Đường Thành công cũng sang triều cống Sở, ông có hai con tuấn mã, một
con tên là Túc, còn một con tên là Sương. Nang Ngõa muốn lấy cả hai con ngựa
Túc Sương nhưng Đường Thành Công không chịu. Nang Ngõa cũng bắt luôn Đường
Thành công giam giữ giống như Sái hầu. Gần 3 năm sau, dù bọn tả hữu hết lời
khuyên can nên giữ lấy mạng sống nhưng Đường Thành công quá yêu ngựa nên dù chết
vẫn không bằng lòng. Bất đắc dĩ bọn tả hữu phải phục rượu cho Đường Thành công
uống thật say rồi đem hai con ngựa đến dâng cho Nang Ngõa. Nhờ vậy Nang Ngõa mới
ra lệnh thả cho phái đoàn sứ thần nước Đường về quê hương. Dĩ nhiên Đường Thành
công không trách tả hữu mà oán hận nước Sở đến thấu xương.
Bọn tùy tùng nước Sái
nghe tin này liền bắt chước, khuyên Sái Chiêu công dâng tặng cả hai món bảo vật
cho Nang Ngõa, quả nhiên cũng được tha cho về nước. Sái Chiêu Công sau khi về
nước, muốn hả cái hận thù đó, đã từng đề nghị nước Tấn hợp quân với mình đi
đánh nước Sở nhưng bị Tấn từ chối. Do vậy nếu có yêu cầu chắc chắn Đường và Sái
sẽ giúp chúng ta đánh Sở ngay.”
Ngô Vương Hạp Lư nghe vậy
cả mừng, lập tức sai sứ giả đến Đường và Sái bàn việc xuất quân. Đương nhiên việc
thu xếp hoàn toàn thành công, Sái Chiêu công còn cho con là Thái tử Càn sang
Ngô để biểu hiện sự đồng lòng kết hợp.
Ngô vương Hạp Lư rất mừng,
không chờ đến năm sau mà ngay mùa đông năm ấy đã thân chính cùng với Tôn Võ và
Ngũ Viên kéo đại quân 3 nước tiến đánh Sở dữ dội. Sở Chiêu vương liền sai Nang
Ngõa làm Đại tướng dẫn toàn bộ binh hùng tướng mạnh đến Hán thủy bày trận chống
đỡ. Nang Ngõa nóng lòng muốn lập chiến công, toan tính rằng phải đánh phủ đầu
nên vừa mới đóng quân xong liền cho quân Sở vượt sông Hán thủy tiến đánh quân
Ngô. Kết quả bị Tôn Võ liên tiếp đánh cho ba trận đại bại. Chưa cam chịu, quân
Sở lại bày trận đối đầu với liên quân ba nước ở Bách Cử nhưng cuối cùng giao
tranh 5 trận đều đại bại cả 5 vì tài cầm quân hết sức tài tình của Tôn Võ. Nang
Ngõa phải cùng tàn quân chạy sang nước Trịnh. Nhân cơ hội này, Hạp Lư xua quân
tiến thẳng tới Sính Đô khiến Sở Chiêu vương không kịp trở tay, phải cùng quân
thần bỏ chạy đến đất Vân rồi cuối cùng phải chạy sang nước Tùy lánh nạn.
Ngô Vương Hạp Lư đem quân
tiến thẳng vào Sính Đô, thỏa chí giấc mộng bá vương của mình. Tất cả đều nhờ
vào tài năng của Tôn Võ và phần nào của Ngũ Viên. Thế nhưng, tiên đoán tình thế
của Tôn Võ và Ngũ Viên hoàn toàn đúng với thực tế, nước Sở chưa thể bị tiêu diệt
tận gốc.
Chỉ sau một thời gian, Đại
phu nước Sở là Thân Bao Tư, sau khi chạy khỏi Sính Đô đến nước Tần cầu cứu, được
Tần Ai công bằng lòng xuất quân đi lấy lại Sính Đô. Cùng thời gian đó, Việt
vương là Doãn Thường liền nhân cơ hội Ngô bỏ trống, đem quân xâm phạm khiến
quân Ngô lúng túng không biết nên giữ Sính Đô hay rút về bảo vệ đất nước. Thấy
thế quân của Tần quá mạnh, Hạp Lư liền sai em mình là Công tử Phu Khái đem quân
chống đỡ. Kết quả Phu Khái đại bại dưới tay Thân Bao Tư và quân nước Tần ở đất
Nghi.
Sự việc vẫn chưa kết
thúc, khi Công tử Phu Khái bỏ chạy về Ngô đã nhân cơ hội ngai vàng bỏ trống,
phao tin lên là Hạp Lư đã mất tích tự lập lên làm vua, sai con là Công tử Phù
Tang đem quân chặn ở Hoài thủy không cho Hạp Lư có đường về nước. Hạp Lư nghe
tin nổi cơn thịnh nộ, cùng Tôn Võ và Ngũ Viên dẫn đại quân mau chóng về nước,
ngay trận đầu đã đánh tan quân của Công tử Phù Tang, hắn phải chạy đến Cốc
Dương. Phu Khái cả sợ, tự mình dẫn quân chống đối nhưng không làm sao sánh với
tài cầm quân của Tôn Võ, cuối cùng cũng phải thua chạy đến Cốc Dương rồi cùng
Phù Tang trốn qua Tống lánh nạn. Ngô vương Hạp Lư chấn chỉnh triều đình xong dự
định phong cho Tôn Võ chức tướng lớn nhưng ông từ chối, xin được về ở ẩn.
Lúc ấy Hạp Lư không còn
nghĩ đến việc đánh Sở nữa mà căm hận nước Việt phản bội, tiến đánh mình bất ngờ
nên dồn hết lực lượng để trả thù. Tuy nhiên vì không có Tôn Võ và Ngũ Viên theo
cố vấn nên cuối cùng Hạp Lư đại bại ở trận chiến Túy Lý, bị thương khá nặng khi
về tới đất Ngô chẳng bao lâu thì mất.
Theo giả thuyết này thì
Tôn Võ cũng qua đời sau năm đó, không hề thi thố tài năng một lần nào nữa.
Trong cuôn sách Việt Tuyệt thư viết: “Ở nơi cách Vũ Môn của
Ngô huyện khoảng mười dặm, có một ngôi mộ lớn của Tôn Võ”. Nếu tài liệu này là
có thể tin được thì có thể suy đoán được là Tôn Võ qua đời vào khoảng năm 473
trước Công nguyên, tức là trước khi Việt diệt Ngô. Bởi vì nếu Tôn Võ còn sống đến
sau khi Ngô diệt vong thì sẽ không cố người nào lại đi xây một ngôi mộ to như
thế cho một quan chức vong quốc. Tuy nhiên theo hầu hết các tư liệu thì sau khi
giúp Hạp Lư hoàn thành mộng ước được vào đến Sính Đô, đồng thời giúp cho Ngũ
Viên đạt được việc báo thù trả hận thì Tôn Võ lập tức từ quan, xin về qui ẩn. Hạp
Lư rất thương tiếc, nhiều lần cố nài nỉ ở lại nhưng ông nhất quyết từ chối.
Theo tư liệu này thì lúc đó Tôn Võ mới trao tặng cuốn binh pháp 13 chương cho Hạp
Lư chứ không phải đưa ngay từ đầu.
Bất đắc dĩ Ngô vương Hạp
Lư phải chuẩn tấu, ban cho ông mấy xe gấm lụa và một số lớn châu ngọc. Thế
nhưng khi đi dọc đường, Tôn Võ phân phát toàn bộ tài vật ấy cho dân nghèo rồi một
mình vào núi, từ đó không còn ai biết tung tích của ông ra sao. Tính cách thần
thoại như “con rồng thấy đầu mà chẳng thấy đuôi” của Tôn Võ có lẽ phù hợp với
giả thuyết này hơn. Nếu như ông chỉ có một trận đánh nước Sở thì sao có thể được
người sau xưng tụng như bậc tổ sư về binh pháp, nổi tiếng là danh tướng cao trọng
hơn bất cứ người nào khác?
Dù theo giả thuyết nào,
cuối cùng Tôn Võ đã để lại cho người đời sau một bộ sách bất hủ, đó là bộ Tôn Tử
binh pháp 13 thiên nổi tiếng khắp nơi, thường được gọi là “Tôn Tử binh
pháp”, được liệt vào hàng đầu trong Võ kinh thất thư (7 cuốn
binh thư quan trọng nhất gồm Tôn Tử binh pháp, Ngô Tử binh pháp, Tư Mã pháp, Úy
Liễu Tử, Lý Vệ công vấn đối, Tam lộ và Lục thao). So sánh thì “Tôn Tử
binh pháp” vẫn thực dụng hơn 6 cuốn binh pháp kia nên được xếp hạng thứ nhất.
Có thể nói, ngoài là một
vị tôn sư về binh pháp, Tôn Võ còn chứng tỏ là một tướng soái kiệt xuất, chưa
trận nào thất bại. Tuy rằng thời kỳ rút khỏi Sính Đô vì phần lớn quân mã đã
giao cho Hạp Lư nên một lần Tôn Võ và Ngũ Viên thất bại ở đất Ung Thệ nhưng tổn
thất không đáng kể và rất mau lẹ rút lui để bảo toàn lực lược. Qua việc này người
đời sau càng kính trọng Tôn Võ hơn nữa bởi tính cách quyền biến của ông, không
xem trọng thắng thua trong một vài trận mà có chiến lược lâu dài hơn bất cứ
danh tướng nào khác.
2 PHẠM LÃI - DANH TƯỚNG
ĐA TÌNH
Sau khi Hạp Lư chết vì trọng
thương trong chiến trận với nước Việt, mối thù hằn giữa hai nước Ngô, Việt càng
thêm sâu đậm. Người kế vị Hạp Lư không phải là con trai mà là đứa cháu tên Phù
Sai. Ông là người có chí khí cao ngạo, sức mạnh hơn người, phong thái uy dũng
ngang tàng, vì vậy quyết chí phải tiêu diệt nước Việt báo thù cho ông. Để đừng
bao giờ quên mối thù này, Phù Sai bắt nội thị thay nhau đứng ở sân cung cấm, mỗi
khi thấy mình đi qua thì liền quát lớn:
– Phù Sai, ngươi còn nhớ
mối thù nước Việt giết tổ phụ của ngươi không?
Phù Sai vừa khóc vừa cúi
đầu cung kính đáp lại:
– Phù Sai này chẳng bao
giờ dám quên mối thù ấy.
Với ý chí dũng mãnh nên
chỉ vào năm sau đã ban lệnh xuất quân tiến đánh nước Việt qua con đường Thái hồ.
Câu Tiễn là vị vương gia nhiều tài năng, lại có hai hiền tài kiệt xuất theo hầu
cận, đó là Văn Chủng chuyên về triều chính, còn Phạm Lãi là danh tướng chuyên về
quân sự. Khi nghe tin quân Ngô rất đông đảo và hùng dũng, Câu Tiễn không hề lo
sợ, hỏi ý kiến thì Phạm Lãi xin nên cố thủ, còn Văn Chủng thì đề nghị nhà vua
tìm cách cầu hòa chờ bao giờ lực lượng hùng mạnh ngang sức thì hãy giao chiến.
Câu Tiễn không nghe theo hai lời đề nghị này, tự mình xuất quân giao chiến ở
Tiêu sơn, cuối cùng thất trận, hối hận đã không nghe lời Phạm Lãi thì đã muộn mất
rồi, coi như cái chết sắp đến gần.
Cũng may Văn Chủng vẫn bí
mật tiến hành việc cầu hòa, dùng một số vàng ngọc lớn mua chuộc tên gian thần
Bá Hi, nhờ hắn nói giúp với Phù Sai. Câu Tiễn đành phải chấp nhận những điều kiện
nghiệt ngã làm tôi đòi cho Phù Sai, dâng hết đất đai, bao nhiêu của cải đều đưa
về nước Ngô bằng hết. Nhờ vậy Phù Sai mới bằng lòng, mặc cho Ngũ Viên hết lời
khuyên can. Sau đó Phù Sai cho phép Câu Tiễn trở về nước Việt từ biệt quần thần
trước khi cùng với gia đình sang nước Ngô chịu nhục nhã. Câu Tiễn buồn bã hỏi
các quan:
– Ta vì không nghe lời hiền
thần nên mới đến nông nỗi này. Mốì thù này không thể không trả nhưng hiện giờ
ai là người có thể giữ nước, ai là người đủ tài trí theo ta sang đất Ngô mà tùy
cơ ứng biến trợ giúp cho ta?
Văn Chủng thẳng thắn tâu
bày:
– Về mặt quốc chính an nước
trị dân, phát triển kế hoạch báo thù thì Phạm Lãi tướng quân không thể bằng tôi
được; còn như tùy cơ ứng biến thì tôi không bằng Phạm tướng quân, vì vậy xin để
Phạm tướng quân đi theo Đại vương vậy.
Nếu tính ra địa vị của Phạm
Lãi và Văn Chủng gần tương nhau, mỗi người chuyên trách một mặt, Văn Chủng nói
thẳng như vậy mà Phạm Lãi không hề tức giận, lại còn khen Văn Chủng nói đúng,
xin được cùng với Câu Tiễn qua đất Ngô mặc dù tự biết con đường trước mặt vô
cùng nguy nan, chỉ sơ sẩy một chút là cả vua lẫn bầy tôi đều có thể mất mạng hoặc
là không bao giờ còn đường trở về cố quốc nữa. Lòng trung trinh và sự can đảm của
Phạm Lãi khiến người đời sau hết sức ca tụng.
Ông không những là danh
tướng của nước Việt mà còn được biết đến nhờ vào “cuộc tình Tây Thi” - một
trong “Tứ đại mỹ nhân” Trung Hoa thời xưa - một cuộc tình đầy éo le nhưng cũng
đầy cảm động, không vì chữ tình mà quên bỏ đại sự quốc gia.
Phạm Lãi tên tự là Thiếu
Bá, sinh trưởng ở Tam Hộ ấp thuộc vùng Uyển của nước Sở. Phạm Lãi có thân hình
dong dỏng cao nhưng rất giỏi võ nghệ, lại chuyên tâm học hành thi thư binh pháp
nên ngay lúc thiếu thời đã nổi danh là người anh hùng văn võ toàn tài. Ông cũng
nổi danh là người đa tình - đã có người vợ rất xinh đẹp - mặc dù vẫn mang hoài
bão lớn muốn "trị quốc bình thiên hạ”. Lúc đó Văn Chủng đang làm Huyện lệnh
đất Uyển, nghe danh tiếng của Phạm Lãi liền sai người mời đến đàm đạo. Thế
nhưng nhiều lần mà Phạm Lãi vẫn từ chối, lấy cớ có bệnh không chịu đến huyện đường.
Người thân cận của Văn Chủng rất khó chịu, cho rằng không nên quen biết với một
kẻ ngông cuồng và lắm bệnh như vậy nhưng riêng Văn Chủng có mắt tinh đời, thản
nhiên bảo với người nhà:
– Những người có tâm huyết
với nước nhà không dễ gì một lời mà xuất đầu lộ diện. Gia dĩ ngày nay nước Sở
chính trị suy đồi, vua quan hèn kém, không xứng đáng để nhân tài ra tay giúp nước
thì Phạm Lãi từ chối là đúng lắm.
Sau đó tự thân Văn Chủng
đánh xe đến xin gặp mặt nhưng vẫn bị Phạm Lãi từ chối. Nhiều lần như vậy, Phạm
Lãi nhận ra Văn Chủng là người thành tâm, quyết định gặp gỡ và hai người trở
thành bạn thân thiết.
Một thời gian sau, Phạm
Lãi bàn với Vản Chủng sang nước Việt tìm công danh bởi lúc ấy Ngô và Việt là
hai nước đang thời kỳ phát triển rất mạnh, đúng là thời cơ để họ thi thố tài
năng. Tuy đang là Huyện lệnh nhưng Văn Chủng cũng biết cái chức vụ nho nhỏ ấy
không phải là chỗ mình dung thân nên vui vẻ nghe lời Phạm Lãi, quả nhiên cả hai
đều được Việt vương Câu Tiễn trọng dụng, sau đó đều giữ chức Đại phu, tức ngang
hàng với các đại thần cao trọng nhất ở các triều đại sau này.
Trong thời kỳ Ngô Việt
phân tranh, nhiều lần Phạm Lãi đã cầm quân chiến thắng lẫy lừng nhưng cuối cùng
ông vẫn nhận ra hùng tâm tráng chí của Phù Sai, khuyên Câu Tiễn nên tìm cách cầu
hòa, tạo cơ hội xây dựng binh mã hùng hậu rồi mới tính đến việc đấu tranh. Tiếc
rằng Câu Tiễn quá kiêu ngạo tự phụ, không nghe lời nên cuối cùng mới thất bại
phải chịu làm thân tôi đòi cho Phù Sai. Phạm Lãi không vì thế mà bỏ rơi chủ
nhân, trung theo hầu, hy vọng nhờ tài quyền biến của mình sẽ giúp cho Câu Tiễn
nhẫn nhục qua thời điểm nhục nhã nhất của một vị Vương hầu.
Khi Câu Tiễn và Phạm Lãi
đến nước Ngô, Phù Sai liền sai Vương tôn Hùng dựng một cái nhà bằng đá bên cạnh
mộ phần của Hạp Lư, cho vợ chồng Câu Tiễn cùng Phạm Lãi ở đó ngày ngày lo việc
chăn ngựa và săn sóc mộ phần cho Hạp Lư. Tất cả đều phải mặc áo xấu, làm việc
hèn hạ vất vả, thức ăn cũng không đầy đủ nhưng Phạm Lãi không hề lấy thân phận
Đại tướng của mình mà kêu than, trái lại bình tĩnh kiên trì thuyết phục Câu Tiễn
nên cố gắng làm vừa lòng Phù Sai mới hy vọng có ngày được về nước tìm cách báo
thù.
Cũng nhờ Văn Chủng ở nước
Việt hết lòng lo liệu, đút lót cho tên gian thần Bá Hi nên vua tôi cũng không đến
nỗi chết đói. Mỗi khi Phù Sai đi đâu đều bắt Câu Tiễn đi chân đất, dắt ngựa đi
trước để bêu xấu với dân chúng nước Ngô. Đây là cái nhục mà đến như người dân
thường cũng khó chịu đựng được nhưng Câu Tiễn nghe lời của Phạm Lãi, cúi gầm mặt
xuống, nghiến răng mà chịu đựng, mỗi khi Phù Sai kêu gọi đều tươi cười vâng dạ.
Dần dần như vậy, tất nhiên Phù Sai đã có chút ít tin tưởng rằng Câu Tiễn đã
hoàn toàn khuất phục mình.
Riêng Phạm Lãi là thân phận
Đại phu nhưng sớm tối đều hầu hạ Câu Tiễn hết lòng, không lúc nào rời khỏi.
Chính Phù Sai cũng rất khâm phục Phạm Lãi, nhiều lần gọi riêng vào cung khuyến
dụ:
– Ta thấy ngươi là người
tài năng tất phải biết thời thế. Hiện nay Câu Tiễn đã là tù nhân, ngươi vẫn đi
theo thì chỉ làm phí tài năng của mình mà thôi. Nếu ngươi bằng lòng làm quan
cho Ngô thì ta sẵn sàng ban chức tước lớn. Người anh hùng phải nhìn ra thời thế,
đừng nên quá câu nệ chữ trung như vậy mới tuấn kiệt.
Phạm Lãi nhẹ nhàng tìm cớ
từ chối khiến Phù Sai không khỏi tức giận, đập bàn quát lớn:
– Ngươi cứng đầu như vậy
chỉ thiệt vào thân. Câu Tiễn còn ở nhà đá suốt đời, ngươi cũng không bao giờ có
cơ hội thoát khỏi nơi đó đâu. Phạm Lãi cúi đầu nhận lỗi rồi lặng lẽ lui ra, biểu
lộ một lòng kiên quyết không gì thay đổi.
Mấy năm sau, vợ chồng Câu
Tiễn càng thêm tồi tàn, quần áo rách rưới, người toàn là mùi phân ngựa, cặm cụi
từ sáng cho đến chiều tối lo việc kiếm củi cắt cỏ cho ngựa nhưng chưa bao giờ
có một lời oán hận. Phù Sai đã ngầm cho người theo dõi rất sát mà không phát hiện
ra điều gì sai trái của vua tôi nước Việt nên dần dần cũng không để ý đến nữa.
Thật sự, có lúc Phù Sai
cũng đã muốn nghe lời của Ngũ Viên giết chết Câu Tiễn đề phòng hậu họa nhưng thấy
cảnh cam chịu của vua tôi Câu Tiễn thì lại do dự, lại thêm Văn Chủng bỏ rất nhiều
vàng bạc đút lót cho Bá Hi nên hễ có dịp là hắn luôn luôn nói tốt cho Câu Tiễn,
còn tìm lời khôn khéo khuyên Phù Sai tha cho vua tôi nước Việt trở về cố quốc,
dương cao lòng nhân ái để các chư hầu kính nể.
Một lần kia, Phù Sai ngồi
trên đài Cô Tô tráng lệ nhìn xuống lăng mộ của Hạp Lư, thấy vợ chồng Câu Tiễn
lúi húi dọn dẹp các đống phân ngựa, còn Phạm Lãi tuy quần áo còn tồi tàn hơn cả
Câu Tiễn vẫn uy nghiêm cầm chổi đứng hầu thì cảm xúc than rằng:
– Phạm Lãi thân là quan lớn,
thế mà lúc hoạn nạn nhất vẫn giữ được lễ vua tôi thì thật đáng kính trọng. Câu
Tiễn làm nên tội thì phải đền không nói gì, riêng Phạm Lãi có thể tha cho về nước
mới đúng.
Bá Hi đang hầu bên cạnh,
nghe vậy liền mở lời xin cho vợ chồng Câu Tiễn về nước một thể. Thật ra trong
lòng Phù Sai cũng đã vơi đi hận thù rất nhiều nhưng không thể quyết được, đành
nói:
– Ta sẽ nhờ quan Thái sử
bói một quẻ xem tốt xấu ra sao đã.
Phạm Lãi không chỉ là
danh tướng kiệt xuất mà mặt kiến thức cũng hết sức rộng rãi, nghe tin này liền
tự thân bói trước một quẻ rồi than với Câu Tiễn:
– Theo quẻ bói thì việc
này có chút lợi nhưng vẫn còn nhiều trắc trở, chúa công đừng vội mừng mà hãy cố
ẩn nhẫn thêm một thời gian nữa mới được.
Câu Tiễn rơi nước mắt xin
nghe theo, ngày ngày vẫn chăm chỉ làm việc nhọc nhằn, tỏ ra không hề nghe chút
tin tức gì. Riêng Ngũ Viên cũng nghe tin này, tức tốc vào yết kiến Phù Sai, hậm
hực nói:
– Tôi nghe rằng trước vua
Kiệt giam giữ Thang, Trụ vương giam giữ Văn vương mà không chịu giết đi, sau
này Kiệt bị Thang đuổi, nhà Thương bị nhà Chu diệt. Tôi e rằng Đại vương nghe lời
bọn nịnh thần thì cũng sẽ xảy ra sự việc y như vậy, nước mất nhà tan sắp xảy ra
trước mắt mà Đại vương chưa tỉnh ngộ hay sao?
Thế nhưng Phù Sai vẫn
chưa thể quyết định được. Cho đến một hôm Phù Sai bị phong hàn khá nặng, Ngũ
Viên một lần nữa vào vấn an, nhắc lại việc cũ:
– Hiện tại Đại vương khó
mà nói trước được, nếu như không may thất lộc thì Câu Tiễn chắc chắn sẽ tìm
cách thoát về Việt, rồi sẽ tổ chức chống lại nước Ngô. Khi ấy tôi e rằng khó
còn ai có thể giữ vững được cơ đồ. Giết Câu Tiễn vừa làm hả dạ tiên đế vừa diệt
hẳn hậu họa, nhất cử lưỡng tiện, sao Đại vương còn chần chừ?
Lần này Phù Sai nghe theo
lời Ngũ Viên, lập tức lấy cớ cần người dọn vệ sinh cho mình, triệu Câu Tiễn vào
cung. Nghe tin, Câu Tiễn vô cùng kinh sợ vì biết rằng đó chỉ là cái cớ, chắc chắn
lần này sẽ mất mạng. Một lần nữa Phạm Lãi phải gieo quẻ bói rồi cho biết:
– Mạng số của Phù Sai
chưa hết mà số mệnh của chúa công cũng chưa tuyệt. Tuy nhiên có lẽ lần này phải
bị một phen kinh sợ mà thôi.
Nghe vậy Câu Tiễn mới gắng
gượng theo bọn thị vệ vào cung cấm. Quả nhiên luôn mấy ngày không hề thấy bóng
dáng Câu Tiễn bước ra, ai cũng lo sợ rằng có lẽ Câu Tiễn đã bị giết chết rồi.
Riêng Phạm Lãi vẫn cung kính đứng chờ ở cửa cung, mặc cho sương nắng, sẵn sàng
đón chủ nhân trở về. Thái độ nghiêm cẩn của ông khiến Phù Sai nghe biết lại đâm
ra phân vân, không sao quyết định được là nên giết Câu Tiễn hay tha về. Đồng thời
vợ của Câu Tiễn cũng lén đút lót cho bọn quân canh báo cho Bá Hi biết tin dữ.
Bá Hi liền lấy cớ vấn an,
vào cung thăm hỏi bệnh tình Phù Sai xong liền nói:
– Bệnh của Đại vương hết
sức thất thường, khi nhẹ khi nặng. Nếu như Đại vương tha cho Câu Tiễn về nhà đá
như trước, biết đâu ân đức ấy làm động lòng trời mà mau chóng khỏi bệnh chăng?
Câu Tiễn hiện như con cá trong giỏ muốn bắt giết lúc nào chẳng được, cần gì phải
giam giữ hay giết chóc trong cung làm tổn hại âm đức của Đại vương đi?
Phù Sai nghe vậy liền ban
lệnh cho Câu Tiễn được trở về gian nhà đá như cũ. Tuy nhiên bệnh tình của Phù
Sai vẫn là mối lo của Câu Tiễn, ông nhờ Phạm Lãi bói thêm một quẻ nữa xem tình
hình ra sao. Phạm Lãi bói xong liền cho biết:
– Theo quẻ bói thì số của
Phù Sai còn làm vua được mấy năm nữa. Bệnh này đến ngày Kỷ Tị thì bớt chút ít,
đến ngày Nhâm Thân thì khỏi hoàn toàn. Nhân cơ hội này chúa công nên xin vào vấn
an, chịu nhục nếm phân mà đoán bệnh theo quẻ bói. Nếu Phù Sai qua khỏi thì sẽ hết
sức cảm động mà tha tội cho chúa công vậy.
Câu Tiễn ứa nước mắt,
khóc mà nói:
– Dù sao ta cũng là vua một
nước, bây giờ có chịu nhục đến đâu cũng được nhưng việc này quá sức, làm sao ta
có thể thi hành được?
Phạm Lãi cũng khóc theo,
cố thuyết phục:
– Trước kia Trung vương
giam giữ Văn vương ở Dũ Lý rồi giết con là Bá Ấp Khảo đem làm mắm. Thế mà Văn
vương cũng chịu được đau đớn nhục nhã ăn thịt của con. Việc này tuy nhơ bẩn
nhưng nếu quyết tâm tìm sự sống để quật cường trở lại thì tôi nghĩ chúa công có
thể nghiến răng mà làm được, xin đừng câu nệ tiểu tiết mà hỏng hết đại sự.
Câu Tiễn phân vân suy
nghĩ mãi mới chấp nhận lời khuyên của Phạm Lãi, xin Bá Hi tiến dẫn cho mình được
vào vấn an Phù Sai. Lúc ấy Phù Sai nằm bệnh lâu ngày cũng hơi buồn chán, nghe
Bá Hi xin thì liền bằng lòng ngay, vả chăng cũng muôn thử xem thái độ của Câu
Tiễn ra sao. Câu Tiễn vấn an xong liền nói:
– Trước kia tôi có học một
y sư ở Đông Hải biết cách xem bệnh tình bằng cách nếm phân. Có thể Đại vương
không tin nhưng cứ cho tôi thử một lần.
Phù Sai vô cùng kinh ngạc
nhưng lại tò mò nên bằng lòng. Mọi người đều bịt mũi đứng ra xa, riêng Câu Tiễn
giữ bộ mặt nghiêm nghị, nếm xong đứng lên vái lạy chúc mừng:
– Theo tôi thì đến ngày Kỷ
Tị thì thuyên giảm, đến ngày Nhâm Thân sẽ khỏi hẳn.
Phù Sai nửa kinh ngạc nửa
buồn cười, hỏi:
– Ta chưa hề thấy cách
xem bệnh như vậy bao giờ. Ngươi dựa vào đâu mà dám đoán mò, không sợ tội khi
quân hay sao?
Câu Tiễn thản nhiên đáp:
– Tôi thật chẳng dám đoán
mò. Theo y lý thì phân là cốc vị nên thuận theo thời khí thì người sống mà trái
với thời khí thì người chết. Nay tôi thấy vị đắng mà chua, rất hợp với tiết
xuân hạ nên đưa ra lời suy đoán mà thôi. Nếu sai xin Đại vương dung thứ.
Phù Sai vẫn chưa hết cười
nhưng tinh thần đã thư thái đôi chút, vẫy tay gọi Bá Hi lại hỏi rằng có thể nếm
thử hay không. Bá Hi vội vàng cúi đầu tạ tội, lấy cớ rằng mình chưa được học về
y lý nên cũng chưa dám nếm thử như vậy. Qua ngày hôm sau bệnh tình của Phù Sai
chỉ bớt rất ít nhưng tinh thần sảng khoái hơn trước lập tức xuống lệnh cho vua
tôi Câu Tiễn rời khỏi nhà đá, đến một căn nhà khác sạch sẽ hơn, đồng thời cũng
ban cho một số thực phẩm đầy đủ.
Chẳng biết Phạm Lãi tài
tình hay số mệnh của Câu Tiễn đã đến lúc vinh quang, ngày Nhâm Thân quả nhiên
Phù Sai khỏi hẳn bệnh. Nhà vua mừng rỡ sai mở yến tiệc khánh hạ, cho phép Câu
Tiễn đến dự. Câu Tiễn theo lời của Phạm Lãi giả như không biết, vẫn mặc quần áo
tù nhân rách rưới bẩn thỉu mà vào cung.
Phù Sai vừa nhìn thấy lập
tức quát bảo nội thị đưa Câu Tiễn vào phía sau tắm rửa, thay quần áo mới cho xứng
đáng với địa vị của vua một nước. Triều thần thấy vậy đều tung hô khen ngợi Phù
Sai khoan dung độ lượng khiến ông ta rất đắc chí, nhân lúc ngà say liền tuyên bố
sẽ cho Câu Tiễn về nước. Ngũ Viên bị bất ngờ không sao phản ứng kịp bởi vì lời
của nhà vua đã ban ra, nếu đứng ra chống lại thì mang tội khi quân nên hầm hầm
bỏ ra khỏi tiệc, không nói lời nào. Bá Hi nhân cơ hội ấy bèn nói móc:
– Đại vương là bậc đại
nhân mà Câu Tiễn là bậc đại hiền, vì vậy Tướng quốc không dám ngồi chung là phải
lắm! Ha ha!
Câu nói này rất lọt tai
nên Phù Sai hài lòng, không thèm để ý đến Ngũ Viên nữa, mấy hôm sau mở tiệc ở
Sà Môn để tiễn Câu Tiễn về nước. Thật sự Câu Tiễn cũng không thể tin mình được
tha dễ dàng như vậy, trong lòng hồi hộp không yên mãi khi đoàn xe về đến Tích
giang, nhìn thấy triều thần do Văn Chủng dẫn đầu đứng chờ đón thì mới biết mình
không nằm mơ. Lần trước Câu Tiễn đại bại ở Cối Kê nên về nước rồi quyết định
xây dựng lại thành trì ở đó để mãi mãi nhớ đến sự nhục nhã, đồng thời trao hết
toan tính cho Văn Chủng và Phạm Lãi.
Phạm Lãi được trao toàn
quyền về binh bị, lập tức huy động dân chúng xây dựng thành Cối Kê, ba mặt đều
hết sức chắc chắn, chỉ riêng mặt phía tây bỏ trống, nói với mọi người rằng như
thế để tiện cho việc triều cống nước Ngô, đồng thời cũng biểu thị ý là không hề
đề phòng quân Ngô. Thật sự, Phạm Lãi cố ý để trống là sau này dễ dàng tiến quân
mà không ai nghi ngờ gì được. Nhờ Văn Chủng chấn chỉnh quốc chính, Phạm Lãi ra
sức chiêu binh mãi mã, huấn luyện cực kỳ tinh mật mà chẳng bao lâu nước Việt đã
hùng mạnh lên thấy rõ nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra nghèo đói, không để lộ chút tin
tức gì cho Phù Sai hay biết.
Từ khi về nước, Câu Tiễn
không ngày nào quên mối thù nhục nhã, hạ lệnh cho treo một trái mật ngay nơi
làm việc, lâu lâu lại nếm một ít để vị đắng nhắc nhở mối thù. Khi ngủ, Câu Tiễn
sai người tìm một số cây gai trải làm nệm, nằm trên đó mặc cho đau đớn, luôn miệng
nhắc hai chữ “Cối Kê” để hun đúc thêm lòng căm thù nước Ngô. Vì vậy sau này để
biểu thị sự nhẫn nại chịu đau khổ để nhằm mục đích nào đó, người ta hay dùng bốn
chữ “nằm gai nếm mật”, lại dần trở thành điển tích.
Lúc đó nước Ngô hoàn toàn
vô sự, lại được nước Việt triều cống rất nhiều của cải nên sung túc hẳn lên,
Phù Sai lại tự biết mình không thể sống lâu nên bắt đầu muốn ăn chơi xa xỉ hưởng
lạc. Văn Chủng và Phạm Lãi đã toan tính với nhau từ trước, tung tiền bạc ra mua
chuộc không ít cận thần nước Ngô nên khi nghe tin Phù Sai định mở rộng Cô Tô
đài cao hơn ngàn trượng, chứa được hơn ngàn cung nữ nên vào xin với Câu Tiễn
nhanh chóng ban lệnh sai người dân Việt vào rừng sâu tìm đủ loại gỗ tốt và thật
lớn để dâng cho Phù Sai.
Đương nhiên Câu Tiễn biết
dây là một trong 7 sách lược làm suy yếu nước Ngô mà trước đây Văn Chủng đã
dâng lên, bằng lòng ngay, tuyên bố ai tìm được loại gỗ quý và to nhất sẽ trọng
thưởng ngàn vàng. Bảy sách lược của Văn Chủng gồm có:
– Sẵn sàng chịu hao tốn để
vua tôi nước Ngô ăn chơi hưởng lạc bỏ bê triều chính.
– Bỏ nhiều tiền ra mua
lương thảo nước Ngô để đến khi cần gấp sẽ bị thiếu hụt.
– Dùng “Mỹ nhân kế” để
chia rẽ vua tôi nước Ngô, làm cho người dân bất mãn không đồng lòng chiến đấu.
– Khuyến khích Phù Sai
xây dựng cung thất nguy nga tráng lệ để ngân khố bị tổn hại đến mức trống rỗng,
không còn kinh phí cho quân mã nữa.
– Đút lót cho các quan
tham làm lũng đoạn triều chính.
– Đồng thời ra sức tích
trữ lương thảo, luyện tập quân binh thuần thục, tăng cường nhuệ khí cho quân
binh để khi cần sẽ xuất phát như sấm nổ vang trời. Việc này hoàn toàn giao cho
Phạm Lãi đảm trách.
Nhờ vào sự ban trưởng trọng
hậu này mà có đến mấy ngàn người hăng hái đi tận vào rừng sâu tìm kiếm, quả
nhiên tìm được hai cây gỗ hết sức chắc chắn, lại có nhiều vân đẹp. Hai cây này
không ai biết tên là gì, mọc ở phía nam nên được đặt tên là gỗ Nam. Câu Tiễn cả
mừng, thân hành đến nơi xem thử, làm lễ tạ ơn trời đất rồi sai nhiều nhân công
ra sức chạm trổ cực kỳ hoa lệ, sau đó chính Văn Chủng đích thân dẫn đoàn người
vận tải hai cây gỗ quý ấy đến triều Ngô dâng lên. Phù Sai đang lo lắng không có
vật liệu xây dựng một cái đài cao như ý định, nay được tiến cống thì vô cùng mừng
rỡ, mở tiệc lớn khoản đãi Văn Chủng, đồng thời hết lời khen ngợi Câu Tiễn là
tôi thần trung hiếu.
Dù đã có gỗ lớn, vậy mà
cũng phải mất đến 5 năm mới xây dựng xong Cô Tô đài cao hơn 300 trượng, hao tổn
ngân khố kể đến hàng triệu, phu dịch lao khổ chết nhiều như rạ khiến nhân dân
nước Ngô vô cùng oán thán. Không hề nhìn ra sự oán thán của người dân, Phù Sai
còn bắt lao dịch phải làm một con đường cong 9 khúc đi từ chân núi lên tới Cô
Tô đài làm cho người dân càng căm phẫn.
Đồng thời lúc ấy Ván Chủng
cũng sai Phạm Lãi phụ trách cả việc tìm kiếm mỹ nhân, vì vậy ngay khi Cô Tô đài
chưa xong đã có dâng lên cho Câu Tiễn danh sách hơn 2000 mỹ nhân, trong đó đặc
biệt nhất là Tây Thi và Trịnh Đán. Đây là một “kỳ công” nhờ vào sự gắng sức của
Phạm Lãi và cũng là một cuộc tình hết sức diễm lệ theo như tương truyền.
Trong suốt thời gian tìm
kiếm mỹ nhân, Phạm Lãi và đoàn tùy tùng gặp hàng ngàn cô gái sắc nước hương trời
nhưng cuối, cùng vẫn chưa có ai toàn vẹn, đạt được yêu cầu là phải làm cho Phù
Sai mê đắm đến điên cuồng, đồng thời có đủ tài trí khôn ngoan làm nghiêng đổ
triều đình nước Ngô. Khi đã gần hết thời gian hạn định, Phạm Lãi vô cùng lo buồn,
quyết định đi đến ngọn núi Trữ La ở tận cùng biên cương phía bắc. Nơi đây phong
cảnh hết sức hữu tình, non xanh nước biếc, không khí trong lành u tịnh nên Phạm
Lãi hy vọng sẽ là nơi sản sinh ra người đẹp nhất thế gian. Quả nhiên không
ngoài mong ước của ông, khi vừa đến Trữ La thôn nằm nhỏ bé dưới chân núi, Phạm
Lãi đã được nghe đồn đến sắc đẹp tuyệt thế của Tây Thi, lập tức tìm đến.
Tây Thi vốn không phải là
tên thật, nàng chỉ là một cô gái dân dã mộc mạc nhưng nhờ vào thiên nhiên hun
đúc, sắc đẹp không ai sánh nổi. Ở làng bên phía Đông cũng có không ít mỹ nhân
nhưng thật sự vẫn không ai có thể sánh bằng, mặc dù thôn Đông rất tự hào về một
người con gái tên là Trịnh Đán. Phạm Lãi không muốn kinh động người dân, giả
như một Nho sinh nhàn du tìm đến Trữ La thôn, đúng vào lúc cả một đoàn con gái
vui cười tíu tít kéo nhau ra bờ suối giặt quần áo.
Chỉ cần thoáng nhìn qua,
Phạm Lãi đã nhận ra ngay Tây Thi bởi từ vóc dáng đến dung nhan và tư cách của
nàng nổi bật trong đám đông, không thể nào lẫn lộn được, giống như chim thiên
nga đi cùng với bầy vịt trời. Qua lần đầu trò chuyện, Phạm Lãi lại càng sửng sốt
bởi trí tuệ thông minh tuyệt vời của nàng, mặc dù không hề được học hành thi
thư. Chỉ một lần nói sơ lược việc sẽ bị tiến cống qua đất Ngô, lập tức Tây Thi
đã hiểu ngay đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn nhưng vẫn can đảm nhận lời,
buồn bã từ biệt người thân để cùng với phái đoàn tìm kiếm về triều đình nước Việt.
Về mặt sắc đẹp, Trịnh Đán
cũng không thua gì Tây Thi nhưng xét theo trí tuệ thì không sao bằng được nên
dù vẫn được kết nạp nhưng chỉ xếp vào hạng thứ hai. Hai nàng sau khi về tới
kinh đô nước Việt, được Câu Tiễn hết sức tán tụng và cho người chăm sóc Tây
Thi, Trịnh Đán một cách đặc biệt, không những được mặc những loại quần áo lụa
là gấm góc sang trọng mà còn được nhiều danh sư về múa hát dạy dỗ tận tình, lại
cấp riêng nơi ở bí mật ở Thổ thành để tin tức không bị tiết lộ. Cho đến khi Cô
Tô đài hoàn thành thì cũng đúng lúc Tây Thi và Trịnh Đán đã “lột xác” trở thành
hai mỹ nhân tuyệt thế, cầm kỳ thi họa, ca múa không ai sánh bằng.
Câu Tiễn thấy đã đúng thời
cơ, sai Phạm Lãi dẫn đầu đoàn sứ giả đưa Tây Thi và Trịnh Đán cùng một số mỹ
nhân khác làm thị tì sang đất Ngô tiến cống. Sở dĩ Phạm Lãi được đặc trách việc
này là do Văn Chủng còn rất nhiều chuyện phải lo toan và trải qua mấy năm tù
đày cùng Câu Tiễn nơi đất khách quê người, Phạm Lãi thông thạo đường lối và
quen biết khá nhiều quan lại triều Ngô, rất thuận tiện cho sứ mệnh.
Sử sách không ghi lại chi
tiết nhưng theo truyền thuyết thì trong thời gian Phạm Lãi hộ tống Tây Thi sang
Ngô chính là thời gian mối tình nảy nở giữa hai người. Thế nhưng, cả hai cũng đều
biết đây là nhiệm vụ quan trọng của quốc gia, tuy yêu nhau say đắm vẫn ý thức
được phải làm những gì. Họ cùng nhau thề nguyền nếu sau này hoàn thành nhiệm vụ
sẽ cùng nhau se tơ kết tóc mãi mãi.
Quả nhiên, khi Phù Sai vừa
nhìn thấy Tây Thi là đã mê mẩn hồn phách, dù Ngũ Viên không biết bao nhiêu lần
cảnh tỉnh vẫn như kẻ mộng du, bỏ hết những lời can gián ngoài tai. Lúc đó Phù
Sai đã có Hoàng hậu và rất nhiều phi tần, ông không hề phong chức cho Tây Thi
nhưng lại đặc biệt cho nàng được ở Cô Tô đài, cung ứng đầy đủ thức ngon vật lạ
còn hơn cả Hoàng hậu. Riêng Trịnh Đán tuy cũng được Phù Sai sủng ái nhưng để lại
cung cấm, chịu nhiều đau khổ vì sự ganh tị của các phi tần triều Ngô nên đâm ra
buồn rầu thành bệnh, một năm sau khi tiến cống thì mất. Phù Sai cũng không phải
vô tình, sai người an táng Trịnh Đán theo lễ phi tần rất trọng hậu ở Hoàng Mao
sơn, rồi lập cả miếu thờ để an ủi vong linh cửa nàng phần nào.
Phạm Lãi chọn không nhầm
người, khi đã được Phù Sai sủng ái, Tây Thi ra sức thi hành những kế sách làm
lũng đoạn cả về kinh tế lẫn chính trị triều Ngô. Nàng đòi hỏi hầu như không biết
đâu là đủ nhưng Phù Sai vẫn u mê nghe theo lời, dù những yêu cầu đó tốn kém
ngân khố và sức người không ít. Tây Thi có ý thích được sống trên các ngọn núi
cao, giống như tiên nữ tách biệt riêng với trần gian, Phù Sai lập tức chiều
theo, cho xây dựng Quán Khuê cung trên núi Linh Nham rồi sau đó là Ngoạn Hoa
trì (Hồ thưởng hoa), Ngoạn Nguyệt trì (hồ thưởng trăng), Thái Liên hình, Tiên Hạ
Loan, Cẩm Phàm hình, v.v... Những cung điện này nhiều không kể xiết nhưng Phù
Sai vẫn sợ rằng Tây Thi chưa vừa lòng, đặc biệt cho xây dựng Tây Thi động, phải
đào sâu vào trong núi đá, tạo lập một cảnh sắc riêng biệt giống như tiên cảnh,
vì vậy vô cùng khó nhọc và tổn phí không sao tính nổi.
Từ khi có Tây Thi, hầu
như Phù Sai vắng mặt ở triều đình, không ở Tây Thi động thì cũng Cô Tô đài, chỉ
đặc biệt cho Bá Hi vào vấn an còn lại bất cứ đại thần nào từ Ngũ Viên trở xuống
đều từ chối không tiếp. Triều chính nước Ngô bắt đầu suy sụp hôn ám, bọn tham
quan lợi dụng cơ hội này ra sức vơ vét của cải khiến người dân đã quá lao đao
vì phải phục dịch cho Phù Sai nay còn bị bóc lột đến mức đói khổ điêu linh, cả
nước vang lên tiếng kêu oán than mà Phù Sai làm sao nghe được?
Phạm Lãi từ giã triều Ngô
về nước, để lại một số tay chân thân tín làm gián điệp dò la tin tức, đồng thời
mau chóng báo về nên bao nhiêu việc tồi tệ ở triều Ngô đều nắm rõ, bàn với Văn
Chủng tiến hành kế sách tiếp theo. Văn Chủng liền cho người sang Ngô xin mượn một
vạn thạch thóc, hứa rằng đúng ngày này năm tới sẽ trả lại. Ngũ Viên cực lực phản
đối việc này, liên tiếp dâng hàng chục tấu thư nhưng Phù Sai không hề để mắt tới,
vui vẻ chấp thuận yêu cầu của Văn Chủng.
Năm sau nước Ngô bị mất
mùa, Phù Sai chưa kịp hỏi thì nước Việt đã mau chóng mang số thóc mượn đến trả,
số lượng lên đến hai vạn chứ không phải một vạn làm cho Phù Sai càng thêm tin
tưởng rằng nước Việt luôn luôn trung thành với mình. Thật sự số thóc ấy Văn Chủng
đã ngầm cho người nấu lên, nóng đến một mức độ nhất định, nhìn bề ngoài không hề
thấy khác lạ nhưng hoàn toàn đã chín rồi. Do vậy khi người dân Ngô dùng số thóc
ấy gieo trồng thì chỉ tốn công vô ích, nạn đói càng thêm hoành hành.
Tin tức này lọt đến tai
Phù Sai, thế nhưng nhà vua đã quá u mê, cho rằng việc thóc giống không thành
cây lúa là vì phong thổ khác nhau chứ không phải nước Việt dụng tâm xấu. Đến
khi Ngũ Viên tâu về việc nước Việt tăng cường huấn luyện quân binh thì Phù Sai
vẫn không thèm để ý, ung dung phán bảo:
– Nước nào mà chẳng cần tới
quân binh giữ gìn? Việc huấn luyện quân mã thì có gì lạ lắm đâu mà Tướng quốc
phải quan tâm?
Ngũ Viên nhiều lần mang nỗi
tức về nhà nên đã khôn khéo hơn, nghe vậy cố nuốt giận mà tâu:
– Nếu Đại vương tin tưởng
nước Việt trung thành thì cứ thử một lần đem quân giả như sắp tiến đánh thì sẽ
biết ngay hư thật. Nếu không đúng thì đó cũng là thái độ thị uy với nước Việt vậy.
Phù Sai là người hùng tâm
tráng chí, tuy đang lúc mê đắm nữ sắc vẫn còn mang hoài bão làm bá chủ một
phương nên nghe lời của Ngũ Viên ngay, xuống lệnh cho quân binh chuẩn bị. Khi ấy
quân nước Việt thừa sức đương cự nhờ vào tài huấn luyện của Phạm Lãi, lại có cơ
may được một người con gái chẳng biết từ đâu tới, nói rằng mình rất giỏi về kiếm
pháp Nam Lâm, sẽ dạy cho binh tướng. Khi dạy xong kiếm pháp này, đột nhiên người
con gái ấy biến đâu mất, ai cũng tin rằng đó là thần nữ xuống giúp cho nước Việt
nên hùng khí lên rất cao. Riêng Văn Chủng có mời một dũng sĩ tên là Trần Am, cực
giỏi về bắn cung, đến dạy cho quân sĩ phép bắn ‘liên nỗ” (bắn nỏ liên tiếp ba
phát), nếu toàn quân cùng lúc bắn ra thì tướng đối phương tài giỏi đến mấy cũng
phải tử thương. Sau khi huấn luyện phép bắn xong, đột ngột Trần Am cũng mất, lại
càng làm cho quân tướng nước Việt tin rằng đó là thần nhân được trời sai xuống.
Do vậy nếu như cuộc chiến
Ngô-Việt có xảy ra thì chưa biết thắng bại ra sao. May thay lúc ấy nước Tề đang
tiến quân định chiếm nước Lỗ. Cả triều đình nước Lỗ xáo động kinh hoàng phải nhờ
tới Khổng Tử. Ông bèn sai Tử Cống đi du thuyết, dùng phương cách khích động nước
Tề nên đánh Ngô rồi lại sang Ngô trình bày là nước Tề đánh Lỗ xong thể nào cũng
xâm phạm đến Ngô. Phù Sai nghe vậy hết sức tức giận, bãi bỏ việc đánh Việt mà dồn
quân đánh Tề để thị uy. Tử Công thành công rồi liền sang nước Việt hiến kế, Câu
Tiễn nghe theo, xin Phù Sai cho quân Việt cùng kết hợp đánh Tề khiến bao nhiêu
nghi ngờ của ông ta với nước Việt tan biến, gọi Ngũ Viên vào nặng lời trách
móc.
Khi ấy quân binh của nước
Ngô vẫn còn hùng mạnh như sự đánh giá của Phạm Lãi nên chỉ trong vài trận đã đại
thắng quân Tề, danh tướng Triển Như bắt sống được Công tôn Hạ; Đại tướng Tư Môn
Sào của Ngô giết chết Công tôn Huy; riêng Phù Sai cũng bắn chết Tôn Lâu của Tề,
bắt sống được Lư Khâu Minh. Nhờ trận đại thắng này, Phù Sai vô cùng thỏa mãn,
quên hẳn việc phải đề phòng hay thị uy với nước Việt.
Thế nhưng Ngũ Viên đã
không chúc mừng chiến thắng của Phù Sai mà còn nhiều lời chê trách khiến Phù
Sai không sao chịu được nữa, ban cho ông ta thanh kiếm Chúc Lâu để tự xử. Ngũ
Viên đường hoàng tự đâm cổ mà chết. Sau khi Ngũ Viên chết rồi, lại đến lượt Thế
tử Hữu cả gan đưa ra lời cảnh tỉnh, rốt cuộc cũng bị Phù Sai nổi giận trách phạt.
Từ đó trở đi triều thần nước giống như câm điếc, để mặc cho Phù Sai tha hồ thi
hành những chuyện hại dân hại nước như bắt hàng vạn dân phu đào kênh dẫn nước
sông Giang, sông Hoài chảy vào sông Nghi, thông sang nước Tề để mai này tiện việc
tiến quân.
Chưa được một năm, thế nước
càng lúc càng suy yếu mà Phù Sai vẫn không nhìn ra, lại muốn cùng nước Tấn
tranh giành ngôi bá chủ nên ban bố ước thư hẹn các chư hầu phải đến Hoàng Trì hội
họp. Để phô trương thanh thế, Phù Sai kiểm điểm hầu như toàn bộ quân tướng, tiền
hô hậu ủng, cờ xí rợp trời, xe ngựa kéo dài hàng trăm dặm không dứt, ầm ầm tiến
đến Hoàng Trì. Đây là lần đầu tiên Phù Sai phát binh đi xa nhất, vào sâu nước Tề
với toàn bộ quân tướng nên hầu như nước Ngô bị bỏ trống.
Trước đó đã khá nhiều lần
Câu Tiễn thúc giục Văn Chủng và Phạm Lãi tiến quân đánh báo thù nhưng cả hai đều
đồng ý kiến là quân Ngô còn rất mạnh, không thể khinh suất. Trải qua nhiều biến
loạn nơi triều đình Ngô, từ việc quá phung phí ngân khố cho Phù Sai ăn chơi hưởng
lạc cho đến cái chết oan ức của Ngũ Viên, bây giờ tới cơ hội Phù Sai dẫn toàn
quân đi xa thì không còn dịp may nào lớn hơn. Do vậy khi Câu Tiễn hỏi Phạm Lãi:
– Ta thường nghe khanh
nói: “Khi đã có thời cơ thì phải hành động nhanh như vũ bão”. Bây giờ đã đúng
thời cơ chưa.
Lần này Phạm Lãi không phản
đối nữa mà tươi cười đáp lời:
– Đã đến lúc Đại vương
báo thù trả hận rồi.
Câu Tiễn cả mừng, ngay
hôm đó xuống lệnh cho ba quân sửa soạn tề chỉnh rồi hôm sau đồng loạt xuất phát
đi qua con đường phía tây đã bỏ trống từ lâu. Đó là vào năm 476 trước Công
nguyên, toàn quân nước Việt chia làm hai đường tiến đánh nước Ngô, một do Câu
Tiễn đích thân chỉ huy, một do Phạm Lãi thống suất. Phạm Lãi còn vạch ra kế hoạch
bao vây, cho một cánh quân đi thuyền lớn vượt biển vào đất Hoài, cắt đứt đường
về của quân Ngô. Đại quân nước Việt thì theo đường bộ tiến lên phía bắc thẳng tới
Cô Tô.
Bao nhiêu oán hờn nhục
nhã tích chứa từ lâu nay, bây giờ phát lộ bằng khí thế ngất trời, trong khi đó
quân tướng nước Ngô theo gương chủ nhân hết sức chểnh mảng trong phòng bị, ngay
lúc nhìn thấy quân Việt tiến công thì đã mất hết tinh thần, hoảng loạn tranh
nhau chạy trốn. Nhờ vậy quân nước Việt tiến nhanh như chẻ tre, chưa đầy một
tháng đã công phá kinh thành Cô Tô, mau chóng giết chết tướng giữ thành là Công
tôn Dung Dị. Riêng Thế tử Hữu là người rất can trường, tuy biết quân mình ít
hơn đối phương nhiều lần cũng liều chết lên mặt thành hô hào chiến đấu, cuối
cùng bị trúng luôn mấy mũi tên do phép bắn “liên nỗ” quá lợi hại. Thế tử Hữu biết
rằng mình khó sống, lại không muôn bị nhục nên tự kết liễu đời mình.
Tuy nhiên lúc ấy Công tử
Địa vẫn can đảm chống giữ thành rất vững, đồng thời sai người cấp tốc đến Hoàng
Trì cấp báo với Phù Sai. Câu Tiễn chiếm được ngoại thành rồi, truyền lệnh nổi lửa
đốt cháy Cô Tô đài nhưng không giết các cung nữ phi tần của Phù Sai. Trong số ấy,
Tây Thi là người được Phạm Lãi đón về trước nhất bởi nàng không những đã “thề
non hẹn biển” với mình mà còn là một công thần xứng đáng được nêu danh. Cô Tô
đài quả nhiên danh bất hư truyền, bị cháy đến hơn một tháng mà lửa vẫn chưa tắt
hẳn, khói đen mù mịt cả một vùng lớn, bao nhiêu tài vật cùng các chiến thuyền của
nước Ngô đều được Câu Tiễn thu thập đem về Thái hồ, rảnh tay chờ đợi một cuộc kịch
chiến nếu như Phù Sai đem quân về kịp.
Khi ấy ở Hoàng Trì, Phù
Sai và Tấn Định công còn mải lo tranh chấp chức vị Bá chủ nên không hề nghe tin
tức gì, mãi đến khi người của Công tử Địa chạy đến mới rụng rời cả tay chân. Bá
Hi là tên gian thần xu nịnh nhưng vào thời điểm này quyết đoán cũng khá khôn
ngoan, lập tức rút kiếm chém chết người đưa tin để không còn ai hay biết. Phù
Sai liền cùng Bá Hi bàn cách rút quân sao cho thật kín đáo, nếu không các chư hầu
- nhất là quân Tấn - tất sẽ nhân dịp này truy sát thì không còn đất sống. Dựa
vào kế sách của Bá Hi, Phù Sai đột ngột kéo toàn bộ quân mã đến đàn thề, nổi trống
vang trời rồi thúc giục các chư hầu nội trong ngày phải ưng chịu tôn xưng nước
Ngô làm bá chủ.
Sứ giả của nước Tấn là Đổng
Cát rất tinh đời, quan sát sự việc thì nghi rằng nội bộ nước Ngô đã xảy ra biến
sự nhưng vẫn còn sợ bị Phù Sai liều lĩnh tiêu diệt nên bàn với Tấn Định công vẫn
ưng chịu xưng Ngô là bá chủ nhưng không được xưng Vương. Dĩ nhiên Phù Sai chấp
nhận ngay rồi sau đó lập tức rút quân về Việt. Phù Sai cho rằng Bá Hi có nhiều
quan hệ với nước Việt nên cử ông ta làm sứ giả xin cầu hòa. Thật sự Bá Hi không
có tài biện thuyết, tất cả là do Phạm Lãi nhận định nước Ngô đã quá suy yếu,
không cần dồn đối phương vào đường cùng cũng tự tan rã nên xin với Câu Tiễn chấp
nhận lời cầu hòa, quân Việt ca khúc khải hoàn rút về nước.
Thế nhưng tình hình đúng
như sự tiên liệu của Phạm Lãi, dù Phù Sai cố hết sức chấn chỉnh triều đình
nhưng lực bất tòng tâm, càng lúc càng suy bại. Vì vậy 3 năm sau, tức là vào năm
473, Câu Tiễn một lần nữa lại kéo đại quân tiến đánh. Lần này tự thân Phù Sai
thống lãnh chống trả nhưng thế cùng lực kiệt, đại bại không còn manh giáp, các
Đại tướng như Tào Cô, Tư Môn Sào đều tử trận. Phù Sai rút vào thành cố thủ, bất
đắc dĩ phải sai Công Tôn Lạc làm sứ giả sang quân doanh nước Việt cầu hòa lần nữa.
Lời lẽ của Công Tôn Lạc rất
nhũn nhặn, chịu hết những điều kiện sỉ nhục khiến Câu Tiễn nghĩ đến lúc sa cơ của
mình trước kia cũng xúc động, đã toan bằng lòng thì Phạm Lãi bước ra ngăn cản,
nói:
– Không được, thần đã từng
chủ trương thời cơ chỉ đến một lần, cần lợi dụng thời cơ ấy để tiêu diệt tận gốc
ngọn. Nay nếu chúa công chấp nhận cầu hòa thì thần e rằng chỉ trong vòng 5 năm,
mối nhục Cối Kê sẽ tái diễn.
Nghe đến tên Cối Kê, bao
nhiêu oán hờn bừng dậy, Câu Tiễn liền cự tuyệt đề nghị giảng hòa của Phù Sai.
Thế nhưng Phù Sai không còn cách nào khác, một mặt cố chống đỡ, một mặt vẫn sai
sứ giả đến thuyết phục xin cầu hòa, đi lại đến 7 lần vẫn không sao lung lạc được
Câu Tiễn, Công Tôn Lạc phải vừa bưng mặt khóc vừa cùng phái đoàn sứ giả trở về
thành. Tuy nhiên, thành Cô Tô vẫn còn rất vững chắc, nhiều lần quân Việt không
tấn công mà sao phá nổi khiến Phạm Lãi vô cùng lo lắng.
Chợt một đêm Phạm Lãi và
Văn Chủng cùng mơ một giấc mộng giống hết như nhau, đó là Ngũ Viên mũ áo chỉnh
tề như lúc còn sống, đến nói rằng: “Nước Ngô đã hết mệnh, ta tuy là trung thần
của Ngô nhưng vẫn không sao cãi được số trời. Các ông cứ dẫn quân theo Đông môn
thì sẽ đoạt được thắng lợi”. Nói xong hồn của Ngũ Viên biến mất. Sáng hôm sau
Văn Chủng và Phạm Lãi kể lại cho nhau nghe, hết sức kinh ngạc nhưng vẫn tiến
hành theo lời chỉ dẫn của Ngũ Viên.
Chẳng biết tại sao hay là
quả do trời định mà Đông môn lúc ấy không hề có quân nước Ngô canh giữ, đại
quân của Phạm Lãi tràn vào hết sức dễ dàng. Cuộc tiến công này bất ngờ đến mức
lúc ấy Phù Sai chưa kịp ăn cơm, đành để bụng đói cùng một số quân tướng quần thần
chạy đến Dương sơn. Bá Hi không chạy theo vị vua sắp mất nước mà mau lẹ đầu
hàng quân Việt để bảo toàn tính mạng.
Khi ấy quân Việt đã vây
chặt Dương sơn, Phù Sai không còn cách nào khác đành phải buộc thư xin đầu hàng
vào đầu mũi tên bắn ra ngoài thành. Lần này Câu Tiễn cũng toan chấp nhận nhưng
Phạm Lãi cương quyết phản đối, đáp lại bằng một bức thư khác hạch ra 6 tội lớn
của Phù Sai, mà trong đó tội thứ 6 là “quên kẻ thù của tiên vương, tức tội bất
hiếu không thể tha thứ”. Phù Sai đọc xong thư của Phạm Lãi, quá hổ thẹn, tự đâm
cổ mà chết. Trước đó Phù Sai cũng nhớ tới Ngũ Viên, phải lấy lụa che mặt để khi
chết không dám nhìn Ngũ Viên nơi chốn suối vàng nữa.
Đây chính là kế sách
khích động của Phạm Lãi khiến Phù Sai phải tự xử, Câu Tiễn không phải xuống tay
giết chóc mà mang tiếng với chư hầu. Sau khi Phù Sai chết rồi, quân tướng dưới
quyền đương nhiên tan rã, quân Việt không tốn xương máu vẫn ung dung chiếm được
toàn bộ nước Ngô. Câu Tiễn làm lễ an táng Phù Sai rất trọng hậu, theo lễ nghi
vương hầu ở ngay Dương sơn, nơi mà trước kia Phù Sai rất thích đến đó hưởng lạc.
Riêng Bá Hi là tên gian thần đáng khinh, Câu Tiễn liền xuống lệnh giết toàn bộ
gia tộc của hắn để làm gương cho các tôi thần.
Nhờ chiến công lừng lẫy
này, Câu Tiễn được các chư hầu nể sợ mà tôn lên làm Bá chủ, đồng thời cũng được
Thiên tử nhà Chu mời về triệu kiến. Công thành danh toại xong, Câu Tiễn cũng giống
như các vị Vương hầu khác, bắt đầu cho xây dựng nhiều cung điện lâu đài, tráng
lệ nhất là Hạ đài ở ngay Cối Kê.
Phạm Lãi có công lớn nên
được phong làm Đại tướng, nắm hết binh quyền trong tay. Thế nhưng ông là người
minh trí, tự biết “thỏ chết thì ná cũng dẹp bỏ” nên tự ý từ chức, cáo quan về
quê tĩnh dưỡng tuổi già. Câu Tiễn đời nào để mất một danh tướng như Phạm Lãi, vả
chăng nếu so ra thì ông vẫn còn tráng kiện khỏe mạnh, đâu đến nỗi phải dưỡng
già nên nhất quyết không chấp nhận việc từ quan. Phạm Lãi mấy lần thỉnh cầu
không được, một đêm đột ngột cùng gia quyến đi một chiếc thuyền nhỏ qua ngã Tề
Nữ môn, thẳng đến Ngũ hồ. Câu Tiễn toan mang quân đuổi theo nhưng Văn Chủng can
gián, nói rằng:
– Phạm tướng quân là người
đa mưu túc trí, một khi đã bỏ đi như vậy tất đã bố trí sẵn sàng nhiều phương án
nghi binh. Đại vương muốn truy đuổi cũng vô ích mà thôi.
Câu Tiễn nghe hữu lý, thở
dài, bãi bỏ việc này. Sau khi Phạm Lãi đi rồi, Văn Chủng nhận được một bức thư
của ông khuyên nên ưu thời mẫn thế, biết rút lui đúng lúc. Văn Chủng đọc xong
chỉ biết thở dài, mãi đến khi Câu Tiễn ngỏ ý nghi ngờ, nói:
– Ta nghe Tướng quốc có đến
7 kế sách để diệt nước Ngô, nay mới dùng có 3 đã thành công hoàn toàn. Vậy 4 kế
sách còn lại là gì? Phải chăng để đối phó với ta? Ta nghĩ rằng Tướng quốc nên
đem 4 kế sách ấy xuống tuyền đài mà sử dụng.
Nói xong, Câu Tiễn để lại
thanh bảo kiếm rồi ra về. Văn Chủng ngửa mặt lên trời than thở:
– Ta không nghe lời Phạm
tướng quân, nay chết là đáng lắm rồi.
Sau đó Văn Chủng tự đâm cổ
mà chết. Riêng tung tích của Phạm Lãi có nhiều giả thuyết khác nhau, người thì
quả quyết đã nhìn thấy ông cùng với Tây Thi rong chơi Ngũ hồ, đôi trai tài gái
sắc thực hiện lại lời thề năm nào trước khi đến nước Ngô. Cũng có giả thuyết
cho rằng Phạm Lãi đem Tây Thi về ở chung, ngày ngày mê đắm khiến Phu nhân nổi
cơn ghen, bí mật sai thị tì bắt Tây Thị buộc đá ném xuống sông dìm chết. Vì vậy
Phạm Lãi mới chán nản từ quan, đi tìm niềm vui nơi sông nước để quên đi mối
tình dang dở với mỹ nhân.
Theo một giả thuyết khác
thì Phạm Lãi đến đất Tề, đổi tên thành Chi Di Tử Bì và làm quan tới chức Thượng
khanh, sau một thời gian mới qui ẩn ở Đào sơn, xưng là Đào Chu công, chuyên viết
sách mà nay còn truyền tụng một cuốn của ông tên là “Trí phú kỳ thứ’. Theo
giả thuyết này thì cuối đời ông mất ở đất Đào nhưng không ai biết rõ ngày
tháng.
Trong bộ Sử ký của
danh gia Tư Mã Thiên có một đoạn viết về Phạm Lãi, cho rằng: “Ông là vị danh tướng
kiêm thông văn võ, biết thời thế, ba lần dời chỗ ở mà vẫn thành công, làm đến
Thượng khanh rồi sau đó nổi danh buôn bán thịnh vượng”. Như vậy Phạm Lãi xứng
đáng là một Đại danh tướng không ai bì kịp bởi lối sống rất hài hòa giữa danh
và lợi; làm việc và vui chơi; sắt đá nghiêm minh nhưng đồng thời lại đa tình,
biết thương hoa tiếc ngọc.
Tương truyền có một câu
chuyện có thể biểu hiện trí tuệ của ông phi phàm khác người. Đó là lúc Phạm Lãi
ở nước Sở, lấy tên Đào Chu công, gia sản nhờ buôn bán lên tới hàng triệu, giàu
có khắp chư hầu không ai sánh bằng. Thế nhưng người con thứ của ông vô tình phạm
tội giết người, bị xử phải đền mạng.
Phạm Lãi vốn quen biết với
Tướng quốc nước Sở là Trang Sinh, nghĩ rằng ông ta có thể cứu vãn được nên định
sai người con út đem số vàng cực lớn là 1000 dật (tức khoảng 24.000 lượng) để
chuộc tội chết cho con. Thế nhưng người vợ nhất định sai người con trưởng đi
làm việc này. Bất đắc dĩ Phạm Lãi phải nghe theo. Người con trưởng đem vàng đút
lót cho Trang Sinh, ông này liền lấy cớ nước Sở xuất hiện quá nhiều điềm xấu
nên đề nghị Sở vương ban lệnh đại xá. Sở vương nghe theo, hạ lệnh tha hết các
tù nhân, kể cả người bị tội chết.
Tiếc rằng người con trưởng
của Phạm Lãi quá thiển cận, khi nghe tin Sở vương đại xá thì nghĩ rằng Trang
Sinh chẳng có công lao gì, lập tức quay lại đòi vàng. Thật ra Trang Sinh không
tức giận vì mất số vàng mà hổ thẹn vì nghĩ rằng đã bị đứa trẻ lừa gạt, lập tức
vào triều tâu lại:
– Tôi nghe đồn rằng hiện
có người con của Đào Chu công đem số vàng lớn đến đây để đút lót cho Đại vương
ban lệnh đại xá thiên hạ. Như vậy chính họ Đào được phúc chứ không phải Đại
vương. Lệnh đại xá đã được ban ra, làm vua không nói đùa, bây giờ Đại vương cứ
cho thi hành, chỉ riêng người nhà họ Đào không tha thứ, tất thiên hạ sẽ biết ai
là người nhân đức ngay.
Sở vương liền nghe theo,
sai tiếp tục thi hành lệnh đại xá nhưng riêng người con thứ của Phạm Lãi thì
đem ra chém không tha. Khi người con trưởng đem thi hài em về nhà, người mẹ
khóc ngất không thôi. Phạm Lãi thong thả nói:
– Sở dĩ tôi muốn sai đứa
út đi là vì nó sinh ra lúc nhà giàu sang, như vậy sẽ không tiếc rẻ số vàng quá
lớn. Còn đứa lớn sinh ra lúc còn khó khăn, tất có tính tiết kiệm, vì thế chắc
chắn sẽ tiếc rẻ mà đòi lại số vàng đó. Nó đem xác đứa em về là đúng lắm rồi.
Có nhiều người đọc câu
chuyện này chê trách là Phạm Lãi “có thể phục hưng được cả nước Việt mà không đủ
khôn ngoan cứu con mình”. Thật ra câu chuyện chưa chắc đã là thật sự, chỉ nói
lên một điều: “Phạm Lãi không những là danh tướng nhiều mưu trí mà còn là một
người minh trí, biết xét đoán mọi việc rất rõ ràng, đến ngay cả Văn Chủng cũng
phải nể nang khen ngợi. Ông cũng đã bố trí kế sách thoát khỏi sự truy bắt của
Câu Tiễn hết sức tài tình thì tại sao lại để cho vợ mình giết chết Tây Thi, người
mà ông vẫn hằng yêu mến, thề non hẹn biển từ khi chưa hiến thân cho Phù Sai?
Có lẽ câu chuyện Tây Thi
bị người vợ cả ghen dìm chết dưới sông cũng là do Phạm Lãi tung tin ra chăng? Một
khi Tây Thi đã chết thì sẽ không còn ai chú ý tới và ông sẽ cùng giai nhân vui
hưởng hạnh phúc suốt đời? Dù là giả thuyết nào đi nữa, suốt chiều dài lịch sử
phong kiến cổ đại Trung Hoa chưa hề có vị danh tướng nào vừa đạt chiến công
vang dội vừa biết tìm hạnh phúc cho mình hài hòa như Phạm Lãi. Hậu thế phải
nghiêng mình kính phục tài trí quân sự của ông, đồng thời cũng ngưỡng mộ cách sống
của một người quân tử Trung Hoa đúng nghĩa.
3 BẠCH KHỞI - CHẾT VÌ
DANH TIẾNG
Cuối thời Xuân Thu Chiến
quốc tình hình chiến tranh càng thêm khốc liệt bởi lúc đó hầu như nước nào cũng
không giấu dã tâm thôn tính của mình. Trong số “Thất Hùng” (7 nước lớn mạnh nhất)
thì Tần là một quốc gia có quân đội hùng hậu hơn hẳn, lại được một mưu sĩ kiệt
xuất tên là Phạm Thư phò tá nên Tần vương càng lộ rõ tham vọng của mình. Các nước
thi nhau phát triển quân binh, thu nạp tướng giỏi và cũng không ít người thành
danh trong thời kỳ này. Tuy nhiên, nếu nước Triệu có một Liêm Pha lão tướng tài
danh thì nước Tần cũng có một danh tướng còn nổi tiếng hơn nữa với nhiều trận
đánh hào hùng dữ dội, đó là Bạch Khởi. Thế nhưng Bạch Khởi đồng thời nổi tiếng
về các trận đánh thần tình nhưng cũng không ít tiếng xấu vì ông quá tàn nhẫn,
nhất là trong trận Trường Bình nổi tiếng với quân nước Triệu.
Bạch Khởi là người huyện
Mi của nước Tần. Ngay từ khi còn nhỏ, Bạch Khởi đã tỏ ra là người thích quân sự,
rất thường hỏi phụ thân về binh pháp, nếu không thỏa mãn ông ra sức tìm tòi các
sách vở viết về việc quân để học hỏi. Sau khi lớn lên, trong tình trạng các nước
giao tranh liên miên, đó là cơ hội để ông biểu lộ được tài năng quân sự của
mình. Quả nhiên trong suốt 37 năm cầm quân tham gia các chiến trận ông đã trải
qua không biết bao nhiêu trận đánh lớn nhỏ, có lúc vào sinh ra tử nhưng gần như
chưa có trận nào bị thua. Nhiều chuyên gia nghiên cứu về Bạch Khởi đưa ra con số
thống kê: đánh phá khắp 4 nước chư hầu Ngụy, Hàn, Triệu và Sở, giết chết hàng
100 vạn quân tướng lớn nhỏ, hạ hơn 70 thành trì. Chiến công to lớn này của ông
giúp cho nước Tần bước đầu làm chủ bốn phương và tiến đến thống nhất lãnh thổ,
gồm thâu lục quốc. Thân phụ của Bạch Khởi cũng là tướng quân, rất hâm mộ danh
tướng Ngô Khởi thời trước nên đã đặt tên cho ông theo vị danh tướng ấy. Do vậy
rất nhiều người đã lầm lẫn giữa Bạch Khởi với Ngô Khởi, một danh tướng người nước
Vệ gắn liền với điển tích “giết vợ cầu công danh”.
Riêng trong thời điểm Bạch
Khởi còn sống, nước Sở lớn mạnh ngang hàng với Tần và cũng có tham vọng không
kém. Thế nhưng kể từ khi Bạch Khởi cầm quân, hầu như nước Sở lâm vào thế thụ động,
dần dần suy yếu rồi sau cùng cũng bị nước Tần chinh phục. Với những công lao
hãn mã ấy, Bạch Khởi lên tới chức Nguyên soái, được Tần vương phong tước là Võ
An quân.
Bước đầu tiên vào năm 294
trước Công nguyên Bạch Khởi chỉ giữ chức Tả Thứ trưởng nhưng sau khi tấn công
chiếm được đất Tân Thành của Hàn, ông bắt đầu nổi danh với nhiều mưu lược quyền
biến. Lúc đó Tướng quốc nước Tần là Ngụy Nhiễm có mắt tinh đời, nhận ngay ra
tài năng kiệt xuất về quân sự của Bạch Khởi, hết lời tiến cử với Chiêu Tương
vương của Tần và được thăng lên làm Tướng quân.
Được Ngụy Nhiễm để ý tới,
chẳng bao lâu sau Bạch Khởi lại được tin tưởng cho thống lãnh một đội quân lớn
đối phó với liên quân Hàn và Ngụy tại núi Y Khuyết. Một trận chiến nhiều khó
khăn và cũng là trang sử oai hùng của Bạch Khởi bắt đầu vang dội.
Khi ấy nhờ liên kết nên
quân hai nước Hàn Ngụy rất đông, nhiều tướng soái mà không ít người đã nổi danh
từ lâu. Thế nhưng với số quân ít hơn nhiều lần, Bạch Khởi vẫn can đảm đối địch,
không dùng sức mạnh mà đưa ra kế sách đánh phá từng phần một dựa vào tâm lý các
tướng hai nước không đồng lòng đoàn kết, ai cũng muốn bảo toàn lực lượng, đùn đẩy
dể quân nước khác phải xông pha hao tổn.
Nhân ra tình thế có lơi
cho mình, Bạch Khởi liền nhắm vào quân nước Hàn trước tung tin đồn là không dám
đối đầu với quân tướng nước Ngụy. Thế nhưng sau khi tiêu diệt được quân Hàn, đột
ngột Bạch Khởi cho quân tấn công quân Ngụy như vũ bão. Quân Ngụy không ngờ tới
đành chịu đại bại, khi ấy số quân còn lại của Hàn cũng rất đông nhưng nghe tin
lập tức táng đởm kinh hồn, thi nhau rút chạy.
Bạch Khởi vốn chủ trương
“đã đánh thì phải đánh đến nơi đến chốn” nên lập tức cho quân truy kích giết được
hơn 24 vạn quân Hàn và Ngụy. Đồng thời ông cũng bắt sống được Công tôn Hỷ của
nước Ngụy, liên tiếp hạ luôn mấy thành trì mới chịu ngưng tay. Với chiến công
này, danh tiếng của Bạch Khởi bắt đầu được các triều đình chư hầu nhắc tới. Tần
Chiêu Tương vương cũng hài lòng không kém, gọi về triều thăng lên làm Quốc úy.
Nhờ chiến trận này, Tần
Chiêu Tương vương hiểu rõ thêm một điều: không cần tới quân số đông đảo vẫn có
thể chiến thắng, nếu như có tướng lãnh tài giỏi lãnh đạo, đồng thời thực lực
hai nước Hàn và Ngụy cũng không ghê gớm như sự lo lắng của mình. Do đó, vào năm
Tần Chiêu Tương vương thứ 15 (tức năm 292 trước Công nguyên), Tần vương muốn
thôn tính hai nước láng giềng nằm bên cạnh đã đặc phái Bạch Khởi mở chiến dịch
tấn công, mau chóng chiếm được đất Viên trù phú của Hàn.
Do Bạch Khởi liên tục lập
được kỳ công, Tần Chiêu Tương vương đã thăng ông lên chức Đại Lương Tạo, là chức
quan lớn nhất chuyên trách về quân sự của triều nhà Tần. Nắm binh quyền trong
tay cũng đồng thời được nhiều người nể sợ mặc dù ngôi vị cao nhất vẫn là Tướng
quốc. Với tham vọng ấy, Tần vương không chờ đợi lâu, qua năm sau lại tiếp tục
sai Bạch Khởi đi đánh nước Hàn lần nữa và ông cũng mau chóng chiếm được đất Uyển,
một vùng đất hết sức quan trọng bởi có nhiều mỏ kim loại cung ứng làm võ khí
cho quân đội, nền tảng cho quân nước Tần sau này đủ sức cùng lúc đánh chiếm cả
6 nước.
Dù Hàn và Ngụy đã nhận ra
sức mạnh của quân Tần, chấp nhận dâng một số đất đai nữa theo yêu cầu nhưng như
vậy vẫn chưa đủ, vào năm 289 trước Công nguyên, một lần nữa Bạch Khởi nhận lệnh
Tần vương xua quân qua nước Ngụỵ. Lần này ông đã là Thượng tướng nên cầm đầu
đoàn quân cũng tương xứng, tức là đông đảo hơn những chiến dịch trước nhiều. Với
tài chỉ huy của Bạch Khởi, quân Tần tiến như chẻ tre, liên tiếp hạ được 61
thành khiến nước Ngụy phải co cụm về một góc, hầu như mất gần hết đất đai.
Thế nhưng nước Hàn và Ngụy
được tạm yên một thời gian bởi khi ấy tình hình nước Tề xảy ra nhiều biến cố. Tề
Mân vương lên ngôi rồi, tiến hành nhiều việc tàn ác, cho quân đánh chiếm nước Tống,
bắt các nước nhỏ như Vệ, Trần, Lỗ phải thần phục và triều cống. Tề Mân vương
còn ngang ngược toan lấy luôn 9 cái đỉnh của Thiên tử nhà Chu, đồng thời giết hại
công thần rất nhiều nếu mở lời khuyên ngăn.
Nặng nề nhất là Yên Chiêu
vương với mối thù không đội trời chung với Tề, không tiếc tiền bạc chiêu hiền
đãi sĩ, cuối cùng thu nhận được một danh tướng tên là Nhạc Nghị. Để tiến hành
việc đánh Tề báo thù, Nhạc Nghị đề nghị yên Chiêu vương nên kết hợp với ba nước
Triệu Hàn và Ngụy. Nước Tần thấy vậy cũng lợi dụng xin được cùng kết hợp, sai Bạch
Khởi làm Đại tướng quân, Nhạc Nghị làm Thượng Tướng quân chỉ huy quân binh 5 nước.
Năm 284 trước Công
nguyên, Yên Chiêu vương tập kết binh lực trong toàn quốc, rồi hợp nhau với các
quân đội các nước Tần, Triệu, Ngụy và Hàn ồ ạt tấn công nước Tề. Tuy Tề Mân
vương có quân binh rất hùng hậu nhưng làm sao chống nổi với liên quân 5 nước dưới
sự chỉ huy tài ba của hai danh tướng Bạch Khởi và Nhạc Nghị, liên tiếp bị đại bại,
chết vô số kể. Danh tướng Hàn Nhiếp của Tề cố sức gom góp quân tướng chống đỡ
nhưng vẫn bị em của Nhạc Nghị là Nhạc Thừa giết chết. Thế là quân Tề đại loạn,
Tề Mân vương phải chạy về Lâm Tri cố thủ, đồng thời cầu cứu nước Sở.
Quân Sở chưa thấy đâu mà
Lâm Tri rúng động bởi các thành chung quanh đều bị chiếm giữ hết, không còn tiếp
tế nên cuối cùng Tề Mân vương phải bỏ chạy sang Vệ rồi đến Lỗ. Khi đến nước
Trâu, Tề Mân vương bị đóng cửa đuổi đi, đành phải quay về Cử châu, cố thủ nơi Tức
Mặc có dũng sĩ là Điền Đan đang cố thủ.
Lúc đó Nhạc Nghị đã liên
tiếp chiếm được 72 thành của nước Tề, chỉ còn lại 2 thành Cử châu và Tức Mặc.
Khi đã xong, quân Tần và Hàn đều rút về nước, để Yên Chiêu vương tự xử việc nước
Tề. Đây không phải là hành động nhân nhượng nước Yên mà trong ý Tần vương thì
nước Sở mới là kình địch đáng tiêu diệt, những nước nhỏ như Yên, Triệu nằm
trong kế hoạch thôn tính sau.
Trước tiên Tần vương ký kết
với Triệu một hòa ước để khỏi phải đề phòng cạnh sườn rồi mới xuống lệnh sai Bạch
Khởi dẫn đại quân tiến đánh nước Sở. Quân Tần chia thành hai đường, một đường
do Bạch Khởi chỉ huy, từ vùng Hán Bắc tiến xuống phía nam, toan tính trước tiên
chiếm lấy Yên thành rồi chiếm Sính Đô. Một đường khác do tướng giữ đất Thục là
Trương Nhược chỉ huy, từ Tứ Xuyên tiến xuống tấn công các đất Vu, Tạc, Kiềm, rồi
theo Trường giang tiếp tục tiến xuống phía đông, phối hợp với quân của Bạch Khởi
chia cắt quân Sở thành hai phần không còn liên kết với nhau được nữa.
Thế nhưng Yên thành là một
căn cứ địa hết sức quan trọng của Sở, nếu để mất thì Sính Đô chắc chắn không giữ
vững được, do vậy Bạch Khởi gặp sự chống cự mạnh mẽ của quân binh nước Sở, lại
được Sở vương tăng cường rất đông tinh binh và danh tướng nên ông đành phải bao
vây, toan tính kế sách khác, không thể trực diện tấn công.
Với kinh nghiệm nhiều năm
chinh chiến, lại thông thuộc binh pháp, Bạch Khởi quyết định dùng thủy công để
triệt phá Yên thành. Nguyên thành nằm gần con sông cũng có tên là Yên thủy nằm
giữa hai ngọn núi nên dòng nước chảy rất xiết. Bạch Khởi liền sai quân sĩ ngăn
dòng sông, sau khi nước đã dâng thật cao mới bất ngờ phá đập. Thế là dòng nước
lũ kinh người ào vào thành, cuốn trôi toàn bộ những vật cản trở, kể cả tường
thành lẫn nhà cửa dân chúng, lâu đài gác thự. Nhân cơ hội ấy Bạch Khởi cho quân
ào ạt tiến lên và chẳng khó khăn gì cũng chiếm được Yên thành bởi quân dân lo
chạy chết nước lũ còn chưa xong, không hề còn tinh thần chống trả.
Cửa ngõ đã mở, Bạch Khởi
mau chóng cho quân tiến chiếm An Lục rồi thẳng đường tới Sính Đô. Quân Tần đi tới
đâu quân nước Sở tan rã bỏ chạy đến đó, giết chết vô số kể. Với chủ trương tận
diệt không để đối phương có cơ hội phục hồi sức mạnh, Bạch Khởi truy sát đến tận
Động Đình hồ mới tạm dừng. Trên con đường hành quân, khi qua Di Lăng, Bạch Khởi
cho quân sĩ nổi lửa đốt cháy toàn bộ đình miếu lâu đài, tiêu hủy lăng mộ các đời
vua Sở.
Quá sợ hãi trước sức mạnh
của quân Tần, Sở vương không còn cách nào khác là phải cùng quần thần bỏ chạy đến
đất Trần, bỏ mặc Sính Đô cho người Tần thành lập quận huyện. Đây là chiến công
lớn lao nhất nên sau khi bình định xong vùng đất Sở đã chiếm được, Tần vương lập
tức phong cho ông tước Võ An quân và kể từ đó để kính trọng ông, người ta thường
gọi bằng tước hiệu chứ không gọi bằng tên thật.
Việc Bạch Khởi chiếm Sính
Đô, đánh dấu giai đoạn hoàn toàn suy sụp của nước Sở. Từ đó trở đi, nước Sở
không còn là một cường quốc nữa và cũng không còn là một kình địch quan trọng với
nước Tần như trước. Bạch Khởi đã xóa bỏ được một chướng ngại lớn để thống nhất
thiên hạ cho nước Tần sau này, nếu xét công lao của ông thì rất xứng đáng là
công thần bậc nhất của triều Tần.
Sau khi tiêu diệt xong nước
Sở, Tần vương lại bắt đầu quay về phía tây. Khi đó hai nước Hàn và Ngụy không
còn là đối thủ nữa, duy nhất chỉ còn lại nước Triệu với khá nhiều danh tài phò
tá như Mạnh Thường quân, Tín Lăng quân, v.v... Lúc ấy nước Triệu cũng lo lắng về
hiểm họa nước Tần nên đã cùng với nước Ngụy liên kết bảo vệ dọc biên cương. Thế
nhưng vào năm 273 trước Công nguyên, Bạch Khởi nhận lệnh của Tần Chiêu Tương
vương, bất ngờ tiến đánh Hoa Dương. Đây là vùng đất hết sức quan trọng, được
liên quân Triệu-Ngụy bảo vệ nhưng họ quá lơ đễnh bởi còn cách đất Tần khá xa. Lần
này Bạch Khởi dùng kế sách “tốc chiến tốc thắng” bí mật cho quân tiến nhanh như
vũ bão khiến các tướng Triệu-Ngụy không kịp trở tay, đến mức Bạch Khởi bắt sống
được một lúc 3 tướng lãnh, số binh sĩ Triệu-Ngụy chết thôi vô số.
Thừa thắng xông lên, khi
chưa kịp ổn định Hoa Dương, Bạch Khởi lại tiếp tục tiến đánh đoàn quân chủ lực
của nước Triệu do Giả Yển chỉ huy. Đã biết tin tức những trận vừa qua, vừa nghe
thấy tên Bạch Khởi, quân nước Triệu đã hoảng loạn, thi nhau bỏ trốn nên quân Tần
càng hăng hái, cuối cùng dồn hơn hai vạn quân nước Triệu lọt vào thế phải vượt
sông tìm đường thoát, chết đuối không biết bao nhiêu mà kể. Chính Ngụy Nhiễm
cũng tự thân dẫn quân đi đánh chiếm được đất Kiềm Trung thành ra nước Sở hầu
như đã bị xóa tên danh sách các nước hùng mạnh.
Con đường công danh của Bạch
Khởi có thể còn tiếp tục dài thêm nếu như không có một biến chuyển chính trị
trong nội bộ triều Tần, đó là việc mưu sĩ Phạm Thư, tên tự là Thúc vượt bao
gian khổ mới đến được nước Tần và được Tần vương trọng dụng. Phạm Chuy chính là
người đối đầu với Ngụy Nhiễm và cũng là người hại chết Bạch Khởi sau này.
Ngay lần đầu tiên được Tần
vương tiếp kiến Phạm Thư đã vạch rõ những sai lầm của Ngụy Nhiễm:
– Nước Tần có địa thế hết
sức hiểm trở, giáp binh hùng cường vậy mà không sao làm nên bá chủ, tất cả đều
do các đại thần toan tính sai lầm. Thí dụ như Nhương hầu (Ngụy Nhiễm) sắp đem
quân vượt ngàn dặm, vượt qua đất Hàn, đất Ngụy chỉ vì muốn đánh Tề thì là việc
có hại, lợi cho Hàn, Ngụy mà hại cho Tần. Nếu thắng thì cũng tổn phí quá nhiều,
bằng như thua thì là nhục lớn, bao nhiêu công sức bấy lâu nay đều vô ích. Theo
tôi thì muốn kiêm tính thiên hạ thì chẳng gì hay hơn là áp dụng kế sách “viễn
giao cận công”, tức giao hảo với các nước ở xa, thôn tính dần dần các nước ở gần
như tằm ăn dâu, chẳng bao lâu thiên hạ sẽ là của Đại vương vậy.
Đã vậy nước Tần hiện nay
coi như là của Thái hậu và Nhương hầu thì Đại vương có chí lớn đến đâu cũng chỉ
là kẻ lệ thuộc mà thôi.
Tần vương như người ngủ
mơ mới tỉnh, lập tức ngày hôm sau cách chức của Ngụy Nhiễm, đuổi các cận thần của
Thái hậu ra ngoài cửa quan, riêng bà ta thì bị an trí không cho dự bàn chính trị
nữa. Đồng thời Tần vương cũng phong cho Phạm Thư làm Ứng hầu, thay chức của Ngụy
Nhiễm.
Theo kế sách của Phạm
Thư, Tần vương triệu đoàn quân của Bạch Khởi khi ấy đang ở nước Tề trở về để sửa
soạn đánh chiếm hai nước Hàn và Ngụy ở phía đông. Năm 264 trước Công nguyên, Bạch
Khởi tuân lệnh Tần vương tiến đánh nước Hàn, giết được hơn 5 vạn quân địch, chiếm
một lúc 5 thành trì bao gồm cả một phần nhỏ của nước Tấn nằm sát cạnh. Có thể
thấy rõ, càng tham gia chiến trận Bạch Khởi càng phát huy hết sở trường quân sự
của mình, hầu như chưa có trận nào thua thiệt mà luôn luôn áp dụng phương châm
“tốc chiến tốc thắng” cũng như “diệt tận gốc ngọn” khiến bất cứ nước chư hầu
nào nghe thấy tên của ông đều kinh hồn bạt vía. Những trận đánh này mở đầu cho
một chiến công lừng lẫy trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, đó là trận Trường Bình.
Trước đó Tần vương vẫn
theo kế sách “viễn giao cận công” kết giao với nước Tề và Sở rồi mới ban lệnh
cho Bạch Khởi xuất quân đi đánh nước Hàn. Bạch Khởi mau chóng chiếm được đất
Giã Vương rồi tiến thẳng đến Thượng Đãng. Tướng chỉ huy ở Thượng Đãng là Phùng
Đình liệu bề khó có thể chống giữ, liền dâng Thượng Đãng cho nước Triệu, hy vọng
nhờ kế sách này nước Tần sẽ tức giận Triệu mà khoan cho nước Hàn. Bình Dương
quân ở Triệu hết sức can ngăn, bày rõ đó là kế “giá họa” của Phùng Đình nhưng một
công thần khác là Bình Nguyên quân Triệu Thắng lại ủng hộ nên cuối cùng Triệu
vương vui vẻ tiếp nhận đất Thượng Đãng, phong cho Phùng Đình làm Hoa Lăng quân,
ban cho 3 vạn hộ thực ấp.
Phùng Đình không dám nhận
tước Hoa Lăng quân mà xin được trấn giữ Thượng Đãng. Mặc dù Phùng Đình đã cố
xin Bình Nguyên quân khi trở về triều đình mau mau cho quân tiếp viện nhưng vua
tôi nước Triệu quá vui mừng mà quá chậm trễ trong việc tiếp ứng cho Phùng Đình.
Trong khi ấy Tần vương nghe tin Phùng Đình đã dâng thành cho Triệu thì nổi giận,
xuống lệnh cho Vương Hạt bằng bất cứ giá nào phải chiếm được Thượng Đãng, nếu bắt
sống được Phùng Đình đem về Tần trị tội thì càng có công lớn.
Phùng Đình cũng là một
nhân tài nên chỉ huy quân đội chống cự với Vương Hạt rất kiên cường, trải qua
hơn 2 tháng mà quân Tần vẫn không sao triệt phá được thành Thượng Đãng. Phùng
Đình cố sức chống đỡ là vì hy vọng quân Triệu sẽ tới tiếp viện, hai đầu cùng
đánh mới mong đẩy lùi được quân Tần. Thế nhưng trải qua hơn 2 tháng không hề thấy
bóng quân Triệu đâu, quân nước Hàn bắt đầu thối chí khiến Phùng Đình cũng không
sao chỉ huy được nữa, đành phải bỏ thành chạy về biên giới nước Triệu.
Lúc ấy Triệu vương mới
kinh sợ, vội sai lão tướng Liêm Pha điểm 20 vạn quân Triệu cấp tốc chi viện. Tiếc
thay, khi Liêm Pha đến địa phận Trường Bình thì gặp Phùng Đình và biết tin Thượng
Đãng đã rơi vào tay Vương Hạt. Liêm Pha liền dùng kế sách cố thủ, cho quân binh
trải dài theo chiến tuyến, đồng thời sai đào giếng tìm nước làm kế lâu dài, chờ
khi nào quân Tần mỏi mệt, thiếu thốn lương thực thì sẽ phản công sau. Lão tướng
Liêm Pha rất nhiều kinh nghiệm, bố trí chiến lũy dày đặc, cắt cho Phùng Đình 3
vạn quân giữ thành Quang Lăng; sai hai tướng Cáp Phụ và Cáp Đồng giữ Chương
thành làm thế liên kết.
Đồng thời Liêm Pha cũng
sai tướng Triệu Giã đem một số quân đi thám thính tình hình đối phương.
Tuy lệnh chỉ đi thám
thính nhưng Triệu Giã thấy Tư Mã Ngạnh của Tần thì rất khinh địch, lập tức giao
chiến, kết quả bị rơi vào thế mai phục của Trương Đường, chết tại trận.
Nhân cơ hội ấy quân Tần
theo kế sách của Bạch Khởi, không vội đánh thẳng vào chiến lũy Trường Bình mà
chia nhau ra đánh các thành nhỏ. Khi đã hạ xong Chương thành, đánh đuổi Phùng
Đình khỏi Quang Lăng, tất cả quân Tần liền hội tụ ở chiến lũy Kim Sơn môn, bao
vây Liêm Pha trùng trùng điệp điệp. Liêm Pha còn ra lệnh:
– Bất cứ ai bàn việc xuất
quân đều bị chém đầu không tha.
Do vậy dù Vương Hạt cố sức
khiêu chiến, nhục mạ đủ điều, quân Triệu vẫn án binh bất động. Mỗi khi quân Tần
nóng nảy tấn công thì đều bị thương vong bởi sự cố thủ nghiêm mật của Liêm Pha.
Ông là danh tướng trụ cột của nước Triệu, tuy tuổi đã cao vẫn còn đủ kinh nghiệm
đối phó khiến quân Tần nhiều phen vất vả mà đành chịu chôn chân một chỗ.
Thấy Vương Hạt bó tay ngồi
thở dài, một thuộc tướng dưới quyền liền hiến kế:
– Phía dưới Kim Môn có
con sông nhỏ tên là Dương Cốc, cả chúng ta lẫn quân Triệu đều phải sử dụng nước
của con sông ấy. Nếu bây giờ chặn dòng chảy thì có thể quân Triệu thiếu nước uống,
khi ấy chúng ta thừa cơ địch rối loạn sẽ tiến đánh, chắc phải thành công.
Vương Hạt nghe theo, thế
nhưng Liêm Pha thật nhiều kinh nghiệm, đã cho đào khá nhiều giếng phía trong
chiến lũy nên thừa đủ để dùng. Vương Hạt kiên nhẫn chờ luôn mấy tháng, hoàn
toàn không thấy quân Triệu loạn động thì vô cùng kinh ngạc, sai người dò xét,
khi ấy mới biết tính toán của Liêm Pha cao hơn mình một bậc, đành phải sai người
cấp báo tình hình với Tần vương. Tần vương cũng lo lắng không kém, triệu Phạm
Thư vào bàn kế sách. Phạm Thư liền tâu:
– Liêm Pha là một tướng
tài của nước Triệu, kinh nghiệm chiến trường rất phong phú. Ông ta biết sĩ khí
của quân Tần đang lên, không thể giao phong được, nên xây lũy cao đào hào sâu để
cố thủ. Liêm Pha cũng biết quân Tần từ xa kéo đến tất nhiên phải gặp khó khăn về
mặt địa lợi, nhân hòa, khó khăn về mặt tiếp tế lương thực, vũ khí nên bao giờ
cũng sử dụng phương pháp “tốc chiến”. Vì vậy không loại trừ được Liêm Pha thì
không có cách nào khác để đánh bại quân Triệu.
Tần vương càng thêm lo lắng,
hỏi:
– Theo Tướng quốc thì phải
làm sao?
Phạm Thư ung dung đáp:
– Phải dùng kế phản gián.
Xin Đại vương cho tôi một số vàng lớn để thực thi kế sách này. Tuy hao tổn
nhưng loại trừ được Liêm Pha thì lo gì không lấy lại được.
Tần vương bằng lòng, giao
cho Phạm Thư 1000 nén vàng. Phạm Thư liền sai người thân tín đem số vàng ấy đến
Hàm Dương (kinh đô nước Triệu), mua chuộc các quan lại rồi tung tin đồn là Liêm
Pha đã quá già yếu, nhút nhát nên cứ cố thủ, không muốn ra đánh, nếu như vị trí
chỉ huy nằm trong tay Triệu Quát (con của danh tướng Triệu Xa) thì quân Tần đã
nếm mùi đại bại từ lâu rồi. Thật sự Triệu Xa là viên Đại tướng rất tài giỏi của
Triệu, nhiều lần dẫn quân đương cự khiến nước Tần không làm gì được. Ông có
công hãn mã nên được Triệu vương phong cho chức Mã Phục quân ngang hàng với hai
danh thần là Lạn Tương Như và Liêm Pha. Triệu Quát là con của Triệu Xa, tính
tình ngông cuồng, trí mưu thấp kém nên mặc dù làu thông binh pháp vẫn không nắm
rõ sự quyền biến mới thực là căn bản của chiến trận.
Triệu Quát dựa vào uy thế
của cha, càng ngày càng tỏ ra ngông cuồng tự kiêu không coi bất cứ danh tướng
nào ra gì. Hắn nhiều lần chê bai từ Liêm Pha cho đến Tín Lăng quân, Mạnh Thường
quân, và cho đến cả phụ thân hắn không biết cầm quân, nếu như hắn được làm Đại
tướng thì nước Triệu đâu đến nỗi thất thế với các chư hầu. Quá biết tính nết của
con, khi Triệu Xa lâm bệnh nặng sắp lìa đời, triều đình định phong cho Triệu
Quát thay chức thì Triệu Xa cố gắng dặn dò là không nên để Triệu Quát cầm binh
quyền trong tay. Chính ông cũng gọi Triệu Quát đến bên giường bệnh trăn trối.
Thế nhưng Triệu Quát không để vào tai, cười mà nói với thuộc tướng:
– Phụ thân của-ta đã già
nên đâm ra lẩm cẩm. Nước Triệu đã có ta thì lo gì bị các nước khác uy hiếp. Hiện
tại nước Tần ngang dọc là vì ta chưa được nắm binh quyền đó thôi.
Lời nói ngông cuồng này rất
được Triệu vương tán thưởng nên sau khi Triệu Xa chết, Triệu vương liền cho Triệu
Quát thừa kế chức Mã Phục quân, càng làm cho hắn vênh vang tự phụ. Riêng Triệu
vương cũng đã mấy lần thúc giục Liêm Pha mở chiến lũy ra giao tranh nhưng vị
lão tướng nhất quyết từ chối. Triệu vương rất tức giận việc này, không dám trị
tội Liêm Pha nhưng không sao chịu được. Nay nghe tin đồn nếu có Triệu Quát cầm
quân thì quân Tần sẽ sợ hãi mà rút lui thì rất mừng, lập tức triệu Triệu Quát
vào hỏi xem kế sách chống Tần. Triệu Quát vênh mặt lên trả lời:
– Nếu quân Tần do Võ An
quân (Bạch Khởi) chỉ huy thì Quát này còn phải tính toán đôi phần. Riêng tên
Vương Hạt thì chỉ một trận đã đánh cho hắn không còn manh giáp mà chạy về Tần.
Triệu vương cả mừng,
không đắn đo gì nữa, lập tức xuống lệnh phong cho Triệu Quát làm Thượng tướng
thay chỗ của Liêm Pha. Mẹ của Triệu Quát nghe tin kinh sợ, vội vào triều khuyên
can:
– Trước khi mất, lão tướng
công của tôi đã dặn đi dặn lại nhất định không nên để thằng Quát cầm quân. Xin
Đại vương nghĩ lại.
Thấy Triệu vương vẫn
khăng khăng theo ý mình, mẹ của Triệu Quát liền nói:
– Đây là ý của Đại vương,
không liên quan gì đến gia đình họ Triệu. Nếu như mai này có việc gì xảy ra,
xin Đại vương đừng làm liên lụy đến họ Triệu là được rồi.
Triệu vương phải nhận lời,
mẹ của Triệu Quát mới chịu lui ra. Riêng Tần vương nghe Phạm Thư báo lại tin
này thì cả cười, bí mật sai Bạch Khởi đến cầm quân, vẫn để Vương Hạt xuất đầu lộ
diện ra lệnh cho ba quân như trước.
Khi Triệu Quát đến Trường
Bình nhận binh phù từ tay Liêm Pha, lập tức cho sửa đổi lại cách bố phòng, tập
trung quân mã để quyết chiến chứ không thèm rải đều theo chiến lũy nữa. Liêm
Pha rất tức giận nhưng không dám trái mệnh vua, đành phải cùng hơn trăm tùy
tùng thân tín trở về Hàm Đan. Sau khi Liêm Pha đi rồi, Triệu Quát lại thay đổi
toàn bộ các tướng lãnh, đưa người của mình vào thay thế. Lúc ấy Phùng Đình cũng
có mặt, dùng lời khuyên can nhưng rốt cuộc bị Triệu Quát mắng cho một trận.
Khi đã bố trí xong, Triệu
Quát hội tướng sĩ ra hiệu lệnh: “Các người phải sửa soạn tinh thần để sẵn sàng
xuất trận. Khi nào xông ra phải đánh cho địch một trận thất điên bát đảo, nếu
chúng bỏ chạy cũng không tha, phải truy kích đến cùng. Ai nhút nhát không tuân
lệnh sẽ bị chém đầu”.
Riêng Bạch Khởi khi đến
nhậm chức, bí mật sai Vương Hạt đem quân khiêu chiến, sau đó lần lượt đến các
tướng Vương Lăng, Vương Bôn, lần nào cũng bại trận bỏ chạy khiến Triệu Quát
càng thêm nghênh ngang. Riêng Bạch Khởi lén ngồi trên cao quan sát cách hành
binh của Triệu Quát, hiểu rõ rồi liền bố trí quân Tần làm 4 cánh trước khi bày
trận dụ địch. Theo cách xếp đặt của Bạch Khởi, trước tiên Vương Bôn và Vương
Lăng ra giao chiến, giả thua dẫn dụ Triệu Quát đánh thẳng vào trung quân. Triệu
Quát đã một lần giao chiến với hai tướng Tần này, rất khinh thường nên lập tức
xua quân đuổi theo truy kích, rốt cuộc bị quân của Hồ Thương mai phục xông ra cắt
đứt làm hai phần, không tiếp ứng nhau được nữa.
Trong khi đó hai tướng Tần
là Tư Mã Thúc và Tư Mã Ngạnh thì luồn phía sau tiến đánh chiến lũy. Lúc ấy Triệu
Quát đã nhận ra mình lọt vào thế trận của địch, kinh hoảng dẫn quân chạy sang
phía đông, nghĩ rằng nơi ấy không có quân Tần. Chẳng ngờ Bạch Khởi đã sai hai
danh tướng là Mông Vụ và Vương Tiễn chờ sẵn. Quân Triệu đại bại, chết thôi vô số,
thây nằm chật đất. Thế nhưng Triệu Quát vẫn chưa tỉnh ngộ, truyền cho quân chạy
đến chỗ có nguồn nước đóng trại, chấn chỉnh để giao tranh tiếp. Phùng Đình vô
cùng lo lắng nhiều lần khuyên giải mà Triệu Quát nhất định không nghe theo, còn
mắng chửi:
– Việc binh thắng bại là
thường. Nay ta mới thua một trận mà người cứ nhất định rút lui thì là làm nản
lòng quân tướng. Ta đã ra lệnh nếu ai bất tuân thượng lệnh sẽ bị chém đầu.
Ngươi cố mà giữ mạng sống đấy.
Phùng Đình biết có khuyên
chỉ mang lấy cái chết oan uổng, từ đó trở đi không thèm mở lời nào nữa.
Ngay lúc ấy lại có tin
đích thân Tần vương dẫn đại quân tiếp sức, rải quân đánh khắp vùng để ngăn chặn
việc tiếp vận lương thảo càng làm cho tướng sĩ nước Triệu kinh sợ. Không những
thế, sau khi đã bao vây Triệu Quát đâu đó, Bạch Khởi liền sai quân trương cờ hiệu
của mình lên. Lần này không chỉ tướng sĩ nước Triệu mà chính Triệu Quát khi biết
có Bạch Khởi chỉ huy thì cũng rụng rời cả tay chân, muốn bỏ chạy cũng vô phương
nữa rồi.
Quân Triệu cố thủ được 46
ngày thì hết lương thực, bắt đầu xảy ra chém giết vì tranh giành thức ăn, số
người chết vì đao kiếm không ít mà số người chết đói thì không sao đếm xuể. Triệu
Quát mấy lần cho quân đánh ra ngoài tìm đường sống nhưng Bạch Khởi không đấu
chiến trực diện mà bố trí cung thủ hết lớp này đến lớp khác. Do vậy quân Triệu
chết nhiều mà chẳng sao thoát khỏi trận mưa tên, đành rút lui về chiến lũy như
cũ.
Thêm một thời gian ngắn nữa
thì tình hình quân Triệu càng thêm thê thảm, đến củi cũng không còn để nấu nước.
Triệu Quát túng thế không làm sao được đành phải mặc mấy lớp áp giáp, cùng chư
tướng liều chết phá vòng vây. Quả nhiên nhờ giáp dày mà Triệu Quát sắp sửa
thoát khỏi vòng vây. Ngờ đâu Bạch Khởi quan sát rất tinh, lập tức hô quân cứ nhắm
ngựa mà bắn. Rốt cuộc con ngựa của Triệu Quát bị trúng thương ngã lăn ra đất.
Thế là quân Tần ào ào xông đến, chớp mắt đã chém chết Triệu Quát.
Hai viên phó tướng theo hộ
vệ Triệu Quát là Phó Bảo và Vương Dụng cũng không thoát khỏi cái chết theo chủ
tướng. Trong chiến lũy nhìn ra, Phùng Đình tự biết cuộc chiến đã chấm dứt, lại
biết rằng Tần vương oán ghét mình đã dâng thành Thượng Đãng cho Triệu nên nếu đầu
hàng cũng không xong, phải tự đâm cổ chết theo. Quân sĩ dưới quyền thấy mấy chủ
tướng cùng chết thì thành đại loạn.
Bạch Khởi xét theo tình
hình biết rằng không cần phải đánh nữa cho tốn sức, cho quân kéo cờ chiêu hàng.
Toàn bộ quân Triệu lập tức qui hàng, tính ra có đến hơn 20 vạn. Riêng số giáp
mã, khí giới quân Tần thu được thì chất cao như núi. Bạch Khởi chia số quân Triệu
đầu hàng ra làm 10 trại riêng biệt rồi phái 10 tướng kết hợp với 20 vạn quân Tần
để kiểm soát. Bạch Khởi cũng xuống lệnh giết bò ban rượu cho quần Triệu đầu
hàng ăn uống. Nhưng đêm hôm đó Bạch Khởi bàn với các tướng:
– Hàng quân của Triệu nếu
tính cả trận Giã Vương và Thượng Đãng thì đến hơn 40 vạn. Chúng ta giữ họ sẽ tốn
phí lương thực không biết bao nhiêu, lại bó tay không thể tiến quân mau được. Bằng
như tha về thì đó là mối họa rất lớn sau này. Đằng nào cũng không được, chỉ còn
mỗi cách vẹn toàn mà thôi, đó là giết hết. Tuy sẽ mang tiếng tàn nhẫn nhưng vì
đại sự không nên câu nệ.
Các tướng đều đồng ý như
vậy. Bạch Khởi liền xuất rượu thịt trong kho ra cho bọn hàng binh uống thật say
rồi ngay đêm ấy truyền tướng sĩ canh giữ phải lấy vải trắng buộc ngang đầu làm
hiệu. Bất cứ ai không buộc vải trắng trên đầu đều bị giết sạch.
Tuân lệnh Bạch Khởi, chờ
khi hàng quân Triệu mê mệt ngủ say, quân Tần nhẹ nhàng tiến vào rồi ra tay chém
giết, trong đêm tối mịt mù chẳng ai nhìn rõ ai chỉ có tiếng kêu khóc vang trời,
toàn bộ số hàng binh tính ra khoảng 45 vạn đều bị giết sạch. Máu chảy đến mức
lan ra toàn bộ đất Dương Cốc, sông suối đều có màu đỏ tanh nồng, tưởng tượng ra
cũng đủ rùng mình sởn óc. Bạch Khởi sai quân thu nhặt cái thủ cấp của bọn hàng
binh, chất thành ngọn núi cao ngất, gọi là Lâu sơn. Tổng số 45 vạn hàng binh ấy
chỉ còn lại 240 người sống sót. Đáng ra Bạch Khởi giết luôn nhưng muốn thi hành
kế sách trấn áp tinh thần quân dân nước Triệu nên tha cho về Hàm Đan. Từ đó
danh tiếng của Bạch Khởi lan rộng khắp các chư hầu, quân của ông đi đến đâu người
ta cũng khiếp sợ bỏ chạy, chưa tướng nào dám chống cự.
Cả Hàm Đan vang dậy tiếng
khóc cho cha anh, người thân bỏ mạng oan ức. Riêng Triệu vương cùng triều thần
đều kinh hoàng thất sắc, run rẩy không nói ra lời. Triệu vương cố sức sai người
mang lễ vật đến nhà họ Triệu vừa báo tin Triệu Quát tử trận vừa ngỏ lời xin lỗi
đã không nghe theo sự can gián ngày trước. Như thế vẫn chưa hết, vài hôm sau
Triệu vương lại nhận được một tin chấn động, đó là Bạch Khởi tuyên bố sửa soạn
quân mã tiến thẳng đến Hàm Đan.
Triệu vương còn đang bối
rối thì may sao có một vị Đại phu tên là Tô Đại xin được sang Tần thuyết khách,
nói:
– Phạm Thư dùng phản gián
khiến Đại vương chê bỏ lão tướng Liêm Pha của Triệu nên mới thắng được trận
này. Nay tôi cũng xin thi hành kế phản gián để cứu nước Triệu vậy.
Dù Triệu vương chưa tin
tưởng nhưng không còn cách nào khác, đành phải cấp vàng bạc cho Tô Đại sang Tần.
Khi ấy Tô Đại xin yết kiến Phạm Thư, nói:
– Võ An quân dụng binh
như thần, chắc chắn chỉ trong vài ngày sẽ tiến tới Hàm Đan. Như vậy công lao của
ông ta lớn lao hơn ngài nhiều. Ngài tuy là Tướng quốc nhưng không phải dân nước
Tần, liệu có được Tần vương tin tưởng mãi không?
Phạm Thư tuy có trí tuệ
siêu việt nhưng tính tình nhỏ nhen, nghe vậy thầm hoảng sợ, ngay hôm sau tìm
cách tước bớt binh quyền của Bạch Khởi đi. Tần vương rất tin tưởng Phạm Thư,
nghe theo lời tâu, cấp tốc triệu Bạch Khởi về triều đồng thời bãi bỏ ý định
tiêu diệt Triệu. Theo mệnh của vua, Bạch Khởi về đến triều đình, tức giận nói:
– Theo thần thì nhiều lắm
chỉ một tháng đã chiếm xong toàn bộ nước Triệu. Chẳng hiểu vì đâu Đại vương lại
gọi thần trở về?
Tần vương đáp:
– Ta cũng biết vậy nhưng
hiện quân tướng nước Tần chinh chiến đã quá lâu, e rằng sẽ mỏi mệt. Nước Triệu
vẫn còn đó, muốn đánh giờ nào mà chẳng được. Vả chăng Phạm Tướng quốc đã thuyết
phục được hai nước Hàn và Triệu cắt đất thần phục, kể cả 17 thành vùng Thượng
Đãng mà khanh đã chiếm được thì kể ra cũng khá nhiều. Ban ân cho họ rồi sau lấy
lại cũng chẳng muộn.
Bạch Khởi biết ngay đó
chính là kế sách của Phạm Thư, thở dài mà lui ra. Thế nhưng chính Tần vương
nghĩ lại cũng hết sức hối tiếc, chưa được mấy ngày lại triệu Bạch Khởi vào triều
xuống lệnh xuất quân đi đánh Hàm Đan. Bạch Khởi liền cáo bệnh không đi, để tướng
Vương Lăng dẫn 10 vạn quân tiến đánh Hàm Đan. Tiếc rằng cơ hội tới rồi đi trong
chớp mắt, lúc đó Triệu vương trọng dụng lại lão tướng Liêm Pha, ai ai cũng kính
phục nên theo về rất đông. Liêm Pha lại ban bố quân lệnh chỉnh đốn quân mã rất
nghiêm, chẳng bao lâu đã phục hồi được sức mạnh như trước.
Do vậy dù Vương Lăng bao
vây Hàm Đan mà không làm gì được, Liêm Pha lại dùng cách đánh du kích, đêm đêm
cho quân trèo ra ngoài thành đánh phá, làm cho quân Tần canh phòng hết sức vất
vả. Thấy đã lâu mà Vương Lăng không chiếm nổi thành Hàm Đan, Tần vương lại gọi
Bạch Khởi vào trao cho quyền Thượng tướng. Thế nhưng Bạch Khởi biết rằng ngay
lúc ấy quân Triệu hoàn toàn mất hết nhuệ khí, có thể không đánh cũng chiếm được
Hàm Đan, nay đã được Liêm Pha củng cố quân binh thì việc trở nên rất khó khăn,
nhất quyết từ chối.
Tần vương càng thêm nóng
lòng sốt ruột, liên tiếp mấy lần gọi Bạch Khởi vào nài ép phải ra quân nhưng
ông một mực không chịu. Tần vương không biết làm sao, đành phải sai Vương Hạt
đem thêm 10 vạn quân nữa tiếp trợ cho Vương Lăng nhưng trải qua gần nửa năm
tình hình vẫn không thay đổi được.
Đang lúc Tần vương tức giận
thì vô tình Bạch Khởi trong lúc đàm đạo với thuộc hạ, cho rằng Tần vương không
biết chớp thời cơ thì thất bại là đúng lắm rồi. Chẳng ngờ câu nói này lọt đến
tai khiến Tần vương vô cùng tức giận nhưng vẫn còn nể nang Bạch Khởi, chưa có ý
định trừng phạt ông. Tiếc rằng Phạm Thư nghĩ khác, cho rằng mình đã lỡ ám hại Bạch
Khởi, nếu không “diệt cỏ tận gốc” thì sau này chỉ cần Bạch Khởi chấp nhận yêu cầu
của Tần vương rồi lập thêm nhiều công trạng mới tất mình sẽ khó yên thân nổi.
Vì vậy nhân lúc Tần vương
đang nóng giận, Phạm Thư liền gièm pha thêm khiến nhà vua không sao kềm được
nóng nảy, lập tức xuống lệnh thu hết quan tước và đất phong của Bạch Khởi,
giáng ông xuống làm quân sĩ ởÂm Mật, là vùng đất khô khan hoang vắng, phải rời
khỏi Hàm Dương ngay trong ngày. Bạch Khởi nhận lệnh này chỉ buồn rầu chứ không
phản kháng, một thân một mình đi đến trạm Đỗ Bưu rồi nghỉ ở đó chờ hành lý đến
sau.
Thế nhưng Phạm Thư vẫn
chưa cho là đủ, vu cáo với Tần vương:
– Trong lúc ra đi, Bạch
Khởi oán giận nói nhiều lời khó nghe. Thần chỉ biết là ông ta dẫn lời danh tướng
Phạm Lãi ngày trước than thở rằng “Con thỏ bị bắt thì chó săn tất bị mổ”. Thần
lại biết họ Bạch hoàn toàn không có bệnh gì, nếu như sang nước khác đầu quân
thì thật nguy cho Tần, xin Đại vương vì đại sự mà toan tính dứt khoát mới được.
Tần vương nghe vậy cũng hơi kinh hoảng bởi quả thật nếu Bạch Khởi đến nước khác
phò tá thì chắc chắn tham vọng của mình sẽ tiêu tan thành mây khói. Nghe nói Bạch
Khởi vẫn còn ở Đỗ Bưu chờ đợi hành trang, Tần vương liền sai một viên cận thần
đem thanh bảo kiếm đến đó ban cho ông tự xử. Bạch Khởi nhận thanh kiếm, ngửa mặt
lên trời than thở: - Ta cả đời làm tướng giết chóc không biết bao nhiêu, đó chẳng
qua phải như vậy thôi. Thế nhưng ở Trường Bình ta đã quyết định giết hơn 40 vạn
hàng binh nước Triệu thì là quá tàn ác. Có lẽ đây là quả báo, bao nhiêu vong hồn
hàng binh nước Triệu tố cáo với trời đất nên ta mới rơi vào tình trạng thế này.
Đã là số trời thì làm sao tránh khỏi, ta không thể tham sống sợ chết làm nhục tới
tiếng tăm từ bao lâu nay. Than xong, Bạch Khởi dùng bảo kiếm đâm cổ mà chết.
Danh tướng lẫy lừng một thời mà phải chết oan ức chỉ vì sự tranh giành địa vị
trong triều đình khiến ai ai cũng thương tiếc, người dân Đỗ Bưu liền lập miếu
thờ cúng Bạch Khởi ở đó, suốt tháng năm nhang khói. Thế nhưng hậu quả việc lạm
sát quá nhiều hàng binh vẫn như là một vết nhơ ngàn đời, dù kính phục Bạch Khởi
đến đâu mỗi khi nhắc tới trận đánh Trường Bình người ta cũng không khỏi rùng
mình kinh sợ.
Do vậy mãi cho đến đời
nhà Đường, tức là hơn 800 năm sau, đột nhiên có một con trâu bị sét đánh chết
ngoài đồng. Khi lật lên, người ta thấy vết sét đánh ngoằn ngoèo giống như hai
chữ “Bạch Khởi” thì liền đồn đại đó chính là vị danh tướng nhà Tần, do giết người
nhiều quá nên vẫn bị trời hành tội, thành kiếp trâu rồi bị sét đánh. Điều này
hoàn toàn không thể tin được nhưng vẫn biểu hiện ấn tượng về việc giết hàng
binh nước Triệu của Bạch Khởi không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người dân
Trung Hoa.
Khi giết xong Bạch Khởi,
Tần vương lại sai Trịnh An Bình (bạn của Phạm Thư) mang thêm quân đến Hàm Đan
tiếp viện. Sau đó vẫn không có biến chuyển nên Tần vương thân chinh đem quân đến
Hàm Đan, tình thế cực kỳ nguy cấp. May sao Tín Lăng quân của nước Triệu lập kế
trộm binh phù, hội họp các nước chống lại mới đẩy lui được quân Tần.
Cái chết của Bạch Khởi
khiến cho tham vọng của nước Tần bị chậm lại rất lâu, cơ hồ bị mai một nếu sau
này không xuất hiện một nhân tài anh hùng đại lược là Tần vương Doanh Chính với
những danh tướng lưu danh trong lịch sử như Mông Điềm, Vương Tiễn, v.v...
4 VƯƠNG TIỄN - LÃO TƯỚNG
NƯỚC TẦN
Vào cuối thời Chiến quốc,
nước Tần phát triển hùng hậu nhất, có dã tâm thôn tính 6 nước còn lại trong Thất
Hùng. Lúc đó Tần Chiêu Tương vương Doanh Tắc (306 đến 250 Trước Công nguyên), tức
ngồi trên ngai vàng 56 năm đã đặt nền móng cho nhà Tần gồm thâu thiên hạ sau
này. Tần vương có dưới tay rất nhiều danh tướng và theo kế sách “tằm ăn dâu” của
Phạm Thư dần dần xâm chiếm các nước gần như Triệu, Hàn, Ngụy, v.v... đồng thời
kết giao với các nước xa như Sở và Tề. Kế sách “viễn giao cận công” (nước gần
đánh chiếm, nước xa giao hảo) này có tác dụng rất hiệu quả bởi các nước xa hầu
như khoanh tay ngồi mà nhìn, cho rằng Tần sẽ chiếm các nước nhỏ và gần chứ
không thể đụng đến mình. Đây là suy nghĩ thiển cận, đưa đến kết quả nước Tần từng
bước tiến tới ngôi Hoàng đế Trung nguyên.
Vào khoảng năm 274, Tần
Chiêu Tương vương sai danh tướng Bạch Khởi tiến đánh nước Triệu. Sau khi đạt
chiến thắng lẫy lừng ở Trường Bình, Bạch Khởi đã tiến quân đến bao vây thành
Hàm Đan rất gấp, toan tính rằng chỉ trong một tháng sẽ tiêu diệt được nước Ngụy.
Thế nhưng, với lòng đố kỵ của Phạm Thư, Tần vương dại dột triệu Bạch Khởi về
triều, cuối cùng ban cho ông cái chết oan uổng.
Khi Bạch Khởi chết rồi, Tần
vương mới nhận ra sai lầm của mình, lần lượt sai Vương Hạt rồi đến Ngũ Đại phu
Vương Lăng dẫn quân tiếp trợ vẫn không làm sao hạ được thành Hàm Đan. Cơ hội
ngàn năm một thuở đã di qua mất rồi. Tần vương hết sức nóng nảy, một lần nữa lại
sai một tướng tên là Vương Tiễn đến Hàm Đan kết hợp đánh chiếm. Nguyên Vương Tiễn
là bộ tướng dưới quyền Bạch Khởi, đã học được rất nhiều kinh nghiệm của danh tướng
này nên biết rằng không còn thời cơ nữa, vì vậy yêu cầu Tần vương thân chinh đi
cùng với mình để khích động tinh thần ba quân. Đồng thời Vương Tiễn khéo léo
đưa ra lý do tiến đánh Hàm Đan là muốn đòi cái đầu của Ngụy Tề, kẻ thù của Ứng
hầu Phạm Thư. Việc báo thù đáng ra là phải do tay Phạm Thư, Vương Tiễn không hề
có trách nhiệm trong đó, vì vậy đây chỉ là cái cớ để nếu thất bại cũng không
mang tiếng thua nước Triệu, đồng thời ông tự biết đòi hỏi này có thể được Triệu
vương đáp ứng. Đó chính là biểu hiện sự quyền biến và trí tuệ khôn ngoan của
Vương Tiễn vậy.
Nhờ vào trí tuệ này, suốt
cuộc đời Vương Tiễn trải qua 4 triều đại nhà Tần vẫn ung dung giữ chức vụ Đại
tướng, danh vọng lên đến tột đỉnh mà không hề bị đại thần này ganh ghét so bì.
Những chiến công của Vương Tiễn rất đáng cho người đời sau ngưỡng mộ nhưng
chính triết lý sống của ông mới là bài học đối nhân xử thế đáng suy ngẫm.
Theo một số sử liệu thì
Vương Tiễn sinh vào khoảng năm 303 trước Công nguyên và mất năm 213 trước Công
nguyên, tức thọ được 90 tuổi, một số tuổi đáng nể trong các hàng danh tướng vốn
hầu như đã chấp nhận “da ngựa bọc thây, chết trước khi đến tuổi già lão”. Vương
Tiễn là người ở Tân Dương Đông, có sức mạnh hơn người nhưng tính tình điềm đạm,
ngay từ lúc nhỏ đã biểu lộ sự khôn ngoan trong cách đối xử với mọi người.
Trong tình hình thời Chiến
quốc với những chiến tranh xảy ra liên miên, để dương danh thiên hạ không gì tốt
hơn là môi trường quân đội, vì vậy bước đầu ông hoạt động ra sao sử sách không
ghi chép. Ông chỉ được người ta biết đến khi là tướng dưới quyền của Bạch Khởi.
Khi Tần vương và Vương Tiễn
kéo 20 vạn đại quân đến Hàm Đan với danh nghĩa lấy đầu Ngụy Tề thì Triệu vương
vừa mới mất, Thái tử Đan lên nối ngôi xưng là Hiếu Thành vương. Tuy rằng Hiếu
Thành vương nghe theo kế sách của Liêm Pha, một mặt cố sức chống đỡ, một mặt
kêu gọi các nước mà trong đó hy vọng nhất là Tề với binh lực hùng hậu do Điền
Đan chỉ huy. Thế nhưng Hiếu Thành vương cũng không dám ỷ lại, vẫn nghe theo lời
yêu cầu của Tần vương, tìm mọi cách bắt bằng được Ngụy Tề, rốt cuộc ông ta trốn
đến nhà Tín Lăng quân Vô Kỵ rồi biết đã cùng đường đành tự sát.
Dựa vào lý do ấy, Tần
vương liền cho rút quân. Đó là lần đầu tiên Vương Tiễn được giữ chức Đại tướng,
được toàn quyền điều động binh sĩ. Khi về nước rồi, Tần vương hết lời khen ngợi,
cho rằng Vương Tiễn dụng binh ngang hàng với Bạch Khởi nhưng mưu trí cao sâu
hơn bởi không tốn một tên quân nào cũng giết được Ngụy Tề và làm cho các nước
kinh sợ. Tần vương liền phong cho ông tước Võ Thành hầu, cấp cho 10 vạn hộ thực
ấp.
Thế nhưng vì tuổi đã cao,
năm sau đó Tần Chiêu Tương vương mất, lên nối ngôi là Doanh Trụ xưng hiệu Hiếu
Văn vương. Chỉ 1 năm sau Doanh Trụ chết, Doanh Tử Sở nối ngôi xưng hiệu Trang
Tương vương. Thế nhưng cũng không lâu, chỉ 3 năm sau Trang Tương vương cũng qua
đời và bắt đầu một vị vua mới hùng tài đại lược lên nắm quyền, đó là Tần vương
Doanh Chính, người sau này tự xưng Tần Thủy Hoàng đế khét tiếng thiên hạ về nhiều
mặt.
Ngay từ thời Trang Tương
vương, Lã Bất Vi đã được phong làm Tướng quốc nắm đại quyền lấn át cả nhà vua.
Vương Tiễn là đại quan trong triều, nhìn thấy rất rõ mối quan hệ giữa Hoa Dương
công chúa, Lã Bất Vi và Doanh Tử Sở nên không hề có một thái độ nghiêng về phe
nào. Ông giữ vững quan điểm này của mình cho đến tận cuối đời, tức là giữ tròn
bổn phận làm tướng, không có tham vọng gì thì sẽ không rước lấy tai họa giống
như Bạch Khởi. Vì vậy ông luôn tự giữ thái độ trung dung, không bao giờ ỷ vào
các chiến công mà kiêu ngạo với mọi người, không chỉ trích hay bàn bạc về quốc
chính, luôn luôn biết thế nào là đủ.
Với quan điểm như vậy,
Vương Tiễn được hầu hết quần thần yêu mến và kính trọng. Trải qua 8 năm khi Tần
vương Doanh Chính ngồi trên ngai vàng, ông ta đã 21 tuổi, tức đã được nắm đại
quyền, không cần tới Trọng phu Lã Bất Vi nữa. Tần vương Chính nắm đại quyền rồi
liền hạ lệnh tiến đánh nước Triệu, trước tiên là tỏ thiên uy, sau nữa muốn tiếp
nối tham vọng của các tiên vương nhà Tần trước kia đã bỏ lỡ cơ hội.
Tần vương Doanh Chính định
cử Vương Tiễn làm Đại tướng nhưng Lã Bất Vi gạt đi. Nguyên trước đó khi Bàng
Noãn kêu gọi các nước hợp tung đánh Tần, phong cho Xuân Thân quân làm chủ tướng,
Hoàng Yết của Sở làm Phó tướng, theo toan tính đồng lượt tấn công Hàm Cốc. Thế
nhưng Hoàng Yết kiêu căng tự phụ, cho rằng nên đánh vào chỗ yếu của địch mới thắng,
tự ý dẫn quân Sở đánh vào Đông Quan. Nhìn rõ sự bất đồng của đối phương, Vương
Tiễn liền hiến kế cho Lã Bất Vi cứ nhắm vào quân Sở mà đánh, chỉ cần Sở thua là
mấy nước kia tự tan vỡ. Lã Bất Vi nghe theo, sai Mông Ngao, Vương Tiễn, Hoàn Xỉ,
Lý Tín, Nội sử Đằng đem quân chống cự. Hoàng Yết chưa ra quân nhưng được mật
báo tin này, hết sức kinh sợ không chịu tiến nữa, thành ra mưu đồ hợp tung của
Bàng Noãn chưa thực hiện thì đã tan vỡ, đành thở than rồi cùng quân các nước
kéo về. Sau này Sở vương trách mắng Hoàng Yết rất dữ nhưng sự việc đã xong,
không còn làm gì được nữa.
Lần đó Vương Tiễn không
phải đánh một trận nào nhưng vẫn có công lao rất lớn nên Tần vương mới tin
dùng, định sai ông làm Đại tướng đánh Triệu. Không phải Lã Bất Vi ghét bỏ Vương
Tiễn mà cho rằng việc đánh Triệu không khó khăn gì, chỉ cần các tướng nhỏ như
Mông Ngao, Trương Đường, Vương Hạt là đã đủ sức đối phó với các tướng của Triệu
rồi. Vì vậy Tần vương chia quân làm hai đường, một do Mông Ngao làm chủ tướng,
Trương Đường làm phó tướng; đường khác do Trường An quân Thành Kiệu (là con của
Trang Tương vương, dòng dõi chính thống họ Doanh) làm chủ tướng, Phàn Ô Kỳ làm
phó tướng, ồ ạt tiến quân qua biên giới nước Triệu. Vương Tiễn không hề bài bác
kế hoạch của Lã Bất Vi nhưng nói riêng với Tần vương:
– Thần e rằng lần ra quân
này sẽ thất bại bởi tuy Mông Ngao và Trường Đường là tướng giỏi nhưng với 5 vạn
quân trong tay thì khó đối phó được với quân Triệu vốn hùng hậu và đông đảo gấp
nhiều lần. Riêng Phàn Ô Kỳ có nhiều cử chỉ kỳ lạ, e rằng sẽ không tiếp trợ cho
Mông Ngao. Thần cho rằng nếu Phàn Ô Kỳ dốc hết sức với Đại vương thì quân Tần sẽ
đại thắng, bằng trái lại thì chắc chắn thất bại bởi Mông Ngao không mưu trí bằng
danh tướng Bàng Noãn của Triệu.
Quả nhiên tình hình diễn
ra đúng với tiên đoán của Vương Tiễn. Quân của Mông Ngao đụng độ với quân của
Bàng Noãn, hai bên đồng tài đồng sức, quân Triệu lại có tiếp viện thêm mỗi ngày
nên Mông Ngao đành phải sai người đến đạo quân của Thành Kiệu thúc giục phối hợp
với mình. Chẳng ngờ Phàn Ô Kỳ từ trước đã biết rõ việc “buôn vua” của Lã Bất
Vi, trong lòng bất mãn cả ông ta lẫn Tần vương Chính nên nhân cơ hội này kể hết
cho Thành Kiệu nghe, đồng thời nói:
– Tại sao còn nhiều tướng
già kinh nghiệm mà Văn Tín hầu (Lã Bất Vi) không dùng tới, lại sai ngài cầm
quân. Đó là Văn Tín hầu muôn dùng tay quân Triệu giết chết ngài, rồi đó bao
nhiêu cơ nghiệp của nước Tần sẽ về tay nhà họ Lã hết. Bây giờ phải nhân dịp này
toan tính việc lớn mới xong.
Thành Kiệu còn nhỏ tuổi,
nghe vậy rất căm tức, liền cùng Phàn ô Kỳ bàn việc mưu phản với số quân nắm
trong tay. Phàn Ô Kỳ lập tức viết thư hứa hẹn với Mông Ngao, để mặc cho ông ta
chống đỡ với quân Triệu, có thời gian truyền hịch đi khắp nơi kể tội Lã Bất Vi.
Tần vương Chính nghe được hịch văn này, nổi trận lôi đình, sai ba tướng là
Vương Tiễn, Hàm Xỉ và Vương Bôn xuất quân đi đánh dẹp phản loạn. Lúc dó Mông
Ngao cũng đã biết tin Thành Kiệu và Phàn Ô Kỳ làm phản, sợ rằng hai đầu thọ địch
nên vội vã rút quân về. Ngờ đâu Bàng Noãn rất khôn ngoan, biết ngay toan tính của
Mông Ngao nên cấp tốc cho quân đi trước chặn đường mai phục.
Mông Ngao lọt vào ổ phục
kích, bị thương rất nặng nhưng dù sao vẫn khét tiếng anh hùng, còn lấy hết sức
tàn giương cung bắn trúng Bàng Noãn một mũi rồi mới chịu chết dưới chân núi
Thài Hàng. Vì vậy Bàng Noãn tuy là thắng trận nhưng về đến đất Triệu thì vết
thương tái phát, cũng chết theo.
Khi ấy Phàn Ô Kỳ phò
Thành Kiệu đóng quân ởĐồn Lưu, tuy bị Vương Tiễn và Trương Đường vây hãm rất ngặt
vẫn còn dũng mãnh, quân Tần không làm được gì. Thế nhưng Phàn ô Kỳ chỉ biết dựa
vào sức mạnh chứ mưu trí thì thua xa Vương Tiễn. Thấy đánh đã lâu không tiêu diệt
được phản loạn, Vương Tiễn liền lập mưu sai một tân khách trước kia của Thành
Kiệu tên là Dương Đoan Hòa lén vào thành đưa thư khuyên hàng. Đồng lúc, Vương
Tiễn sai quân đánh mạnh vào hai địa điểm bố phòng tiếp ứng của Phàn ô Kỳ là Trường
Tử và Hồ Quan. Phàn ô Kỳ còn mải cho chống giữ Đồn Lưu, khi định mang quân đi cứu
viện thì hai căn cứ này đã mất do cách đánh “tốc chiến tốc thắng” của Vương Tiễn
học hỏi được nơi Bạch Khởi.
Phàn ô Kỳ thấy thanh thế
quân triều đình quá mạnh, xin với Thành Kiệu ra đánh, nếu có thể sẽ mở vòng vây
bỏ chạy. Dương Đoan Hòa liền nhân dịp ấy đưa thư khuyên hàng cho Thành Kiệu rồi
chờ khi Phàn Ô Kỳ chạy về liền đứng trên thành hô lớn:
– Trường An quân đã bỏ tối
về sáng. Ai bắt được phản tặc Phàn Ô Kỳ đều được trọng thưởng, người nào theo
phản tặc sẽ bị tru lục toàn gia.
Thành Kiệu tuy chưa toan
tính cặn kẽ nhưng quân tướng ở Đồn Lưu nghe vậy liền náo loạn, hầu hết đều
buông võ khí khiến Thành Kiệu chỉ còn biết bưng mặt mà khóc. Vương Tiễn dễ dàng
chiếm được Đồn Lưu, bắt Thành Kiệu đưa về triều cho Tần vương xét xử. Riêng
Phàn Ô Kỳ thì chạy thoát qua nước Yên ẩn trốn.
Đây lại là chiến công bằng
mưu trí của Vương Tiễn khiến Tần vương Chính hết sức hài lòng, rất tin cậy ở
ông. Lúc đó là năm thứ 9 Tần vương Doanh Chính, ông là người mình cao vai rộng,
mặt vuông mắt mày rậm, tư chất thông minh, lại có ý chí cao ngạo khác người nên
từ khi nắm đại quyền thì dần dần tước bớt chức vụ của Lã Bất Vi và Thái hậu Triệu
Cơ.
Trước khi Doanh Chính lên
ngôi và ngay khi đã nắm đại quyền, Lã Bất Vi vẫn thường tư thông với Thái hậu rồi
sau đó lại giới thiệu tên du thủ du thực Lao Ái hầu hạ bà ta. Nhiều người lấy
làm lạ về việc này bởi Doanh Chính là người thông minh, lẽ đâu không nhìn được
sự việc mà để mặc tình Lã Bất Vi, Thái hậu và Lao Ái thao túng làm nhục quốc thể.
Chỉ riêng Vương Tiễn nhìn đời với cặp mắt trầm tĩnh là nhận ra ý đồ sâu xa của
Tần vương Chính bởi nhà vua đã quyết định trao cho ông nắm hết binh quyền trong
tay, chắc chắn là sẽ có dịp dùng tới.
Chẳng mấy chốc đã tới kỳ
lễ tế giao, Tần vương Doanh Chính đã sửa soạn xong thì đột ngột có sao chổi rất
lớn xuất hiện trên bầu trời làm cho dân chúng vô cùng xao động. Viên quan Thái
sử bói một quẻ cho là điềm chẳng lành, tâu với Tần vương tạm hoãn việc tế giao ở
Ung thành. Trước đó, để tránh tai tiếng, Tần vương đã cho Thái hậu và Lao Ái đến
Ung thành, hai người này được thể lại càng thao túng tệ hại, kết nạp rất nhiều
tay chân và còn tính đến chuyện làm phản để đưa con của Lao Ái và Thái hậu lên
làm vua. Vì vậy lời khuyên can của Thái sử lo ngại là vì có Lao Ái chứ không phải
vì sao chổi.
Tần vương Doanh Chính
nghe xong cười nhạt, gằn giọng nói:
– Sao chổi là điềm có tai
họa nhưng theo ta thì tai họa của người khác chứ không phải ta, người cứ tiến
hành lễ tế như bình thường.
Thế nhưng Tần vương không
hề khinh suất, trước khi đến Ung thành đã sai Vương Tiễn tập hợp đại quân dương
oai diễu võ suốt 3 ngày ở Hàm Dương. Sau đó Vương Tiễn cùng đại quân đóng giữ ở
kinh thành rất nghiêm, thật sự là đã được lệnh canh chừng Lã Bất Vi. Còn một bí
mật khác mà chỉ riêng Tần vương và Vương Tiễn biết, đó là Hoàn Xỉ đã được lệnh
âm thầm đem 3000 giáp binh đến đóng ở Kỳ sơn chờ lệnh. Vương Tiễn càng thêm phục
ông vua trẻ mà có tâm cơ rất sâu sắc, dám đương đầu với thử thách.
Quả nhiên khi Tần vương
Chính ở Ung thành, Lao Ái vì quá say nên tiết lộ nhiều điều phạm thượng, sau đó
tỉnh rượu, liều mạng cùng với bọn tay chân là Tá qua Kiệt và Nội sử Tứ họp hết
bọn tay chân kéo đến cung Kỳ Niên để bắt giết Tần vương.
Doanh Chính thật xứng
đáng là “chân thiên tử”, khi ấy chỉ có vài trăm võ sĩ đi theo nhưng không hề
kinh sợ, đứng thẳng người trên lầu cao chỉ mặt Lao Ái mà mắng, tuyên bố bất cứ
ai giết được hắn thì sẽ phong Vạn hộ hầu. Thật ra đó là kế hoãn binh, vừa đủ
cho Hoàn Xỉ kéo giáp binh đến, đánh tan bọn phản loạn, giết chết bọn Nội sử Tứ,
Tá qua Kiệt, còn Lao Ái thì bị phanh thân; hai đứa con của Thái hậu và Lao Ái bị
cho vào bao đập đến chết.
Tổng cộng vụ án này liên
lụy có đến hơn 4000 người khiến kinh thành bị một phen xáo động tuy vẫn không xảy
ra việc gì trầm trọng hơn bởi đã có sự canh phòng nghiêm mật của Vương Tiễn.
Khi phản loạn đã dẹp yên,
Tần vương Chính liền bãi chức Tướng quốc của Văn Tín hầu Lã Bất Vi, cho ông về
đất phong ở Lạc Dương. Thế là bao nhiêu mầm mống nguy hiểm đã diệt trừ xong, Tần
vương Chính bắt đầu tiến hành tham vọng bình thiên hạ của mình. Đáng lẽ sự việc
đến đây là kết thúc, thế nhưng khi Lã Bất Vi về đất phong, hầu như ngày nào
cũng có sứ giả của các nước chư hầu lén đến dâng tặng lễ vật, đồng thời thuyết
phục ông về làm Tướng quốc cho nước mình.
Vương Tiễn nghe được tin
tức này, vội vã vào báo cho Tần vương biết. Nhà vua liền viết một bức thư gởi
cho Lã Bất Vi, Ông ta đọc xong thư , ngửa mặt lên trời than thở:
Ta vốn dĩ chỉ là thương
buôn, chỉ vì quá tham lam nên mới tính đến chuyện “buôn vua”. Vì việc ấy mà ta
từ một người bình trở thành tồi tệ, không những thông dâm với vợ người mà còn
giết vua để mau chóng đưa người của mình lên thay thế. Những tội lỗi ấy chắc chắn
trời đất không tha thứ được, ta đành phải tự xử mà thôi.
Than thở xong, Lã Bất Vi
sai người lấy rượu độc ra uống. Các tân khách của ông còn sợ Tần vương làm nhục
thi hài nên lén trộm xác đem chôn ở núi Bắc Mang. Vì việc này xảy ra chuyện trục
hết các tân các nước khác ra khỏi Hàm Dương và rồi Tần vương Chính gặp được Lý
Tư. Sau đó Lý Tư lại nhỏ mọn tìm cách hại chết Hàn Phi Tử nên Tần vương rất giận,
Lý Tư dành phải chuộc lỗi, tiến cử một binh lược gia nổi tiếng ở Đại Lương tên
là Úy Liêu Tử, được Tần vương trọng đãi gọi bằng sư phụ.
Tuy vậy, không phải vì có
Úy Liêu mà Tần vương ruồng bỏ Vương Tiễn, trái lại khi hai người gặp nhau rất
tâm đầu ý hợp, nhiều phen bàn về binh pháp rất hợp ý. Theo kế sách của Úy Liêu,
Tần vương liền sai Hoàn Xỉ đem quân đi đánh nước yếu kém nhất là Hàn, sau đó sẽ
thôn tính tới Triệu và Ngụy. Sau khi Tam Tần mất thì sẽ đến lượt Sở và Tề. Hoàn
Xỉ mau chóng hoàn thành kế hoạch này nhưng đến khi muốn tiến đánh nước Triệu
thì không có nguyên cớ gì, phải sai Úy Liêu giả như đi đánh nước Ngụy. Nước Ngụy
liền cầu cứu với Triệu hợp binh chống lại, thế là đã danh chính ngôn thuận để
tiêu diệt Triệu. Hoàn Xỉ cũng nhanh chóng đánh bại quân Triệu trong mấy trận
khiến Triệu vương vô cùng lo lắng, muốn mời lão tướng Liêm Pha ra cầm quân. Thế
nhưng tên gian thần Quách Khai đã nhận vàng đút lót của Úy Liêu, tìm cách lừa gạt
nên cuối cùng Liêm Pha đành phải qua nước Sở, sau đó vì uất ức mà chết.
Tần vương Chính nghe tin
Triệu không dùng Liêm Pha thì rất mừng, lập tức thúc giục Hoàn Xỉ xuất quân
đánh thật rát. “Họa vô đơn chí” ngay lúc ấy Triệu vương Vi quá lo buồn mà mất,
con của ông là Công Gia lên nối ngôi, chỉ biết ăn chơi xa xỉ. Hoàn Xỉ liền nhân
cơ hội ấy tiến đánh Nghi An, chém chết tướng chỉ huy là Hổ Tiếp, giết hơn 10 vạn
quân Triệu rồi thừa thắng kéo đến vây Hàm Đan. Triệu vương hoảng sợ, vội mời một
lão tướng khác là Lý Mục ra cầm quân, nhờ vậy đánh tan quân Tần ở Phi Lũy, giết
vô số quân tướng nước Tần.
Hoàn Xỉ đang tiến đánh
Cam Toàn, nghe tin này vội vã trở về Phi Lũy nhưng cũng bị Lý Mục đánh cho một
trận thất điên bát đảo, mang tàn quân chạy về Hàm Dương. Chiến công của Lý Mục
oai hùng không kém Bạch Khởi ngày trước nên ông được Triệu vương phong tước Võ
An quân giống như Bạch Khởi trước kia để dương danh với thiên hạ.
Lúc này Tần vương Chính mới
biết đại cuộc nếu không có một tướng nhiều mưu trí thì rất khó đối phó với Lý Mục,
sau khi giáng Hoàn Xỉ xuống làm thường dân liền phong cho Vương Tiễn làm Đại tướng,
cùng với Dương Đoan Hòa đem quân đi đánh nước Triệu báo thù.
Tiếc rằng Lý Mục là lão
tướng rất cao tay ấn, không trực tiếp giao chiến với Vương Tiễn mà đóng quân cố
thủ hết sức nghiêm mật ở núi Hội Toàn, quân Tần không làm sao vượt qua ngọn núi
này dược. Tần vương Chính đang lúc tức giận nước Triệu, lại sai Vương Ngao đến
tham mưu cho Vương Tiễn. Hai tướng bàn nhau phải dùng kế lý gián mới loại trừ
được Lý Mục.
Một mặt Vương Tiễn đến
xin giao hảo với Lý Mục, cho rằng thật sự vẫn có thể giải hòa. Lý Mục tin vậy
nên cùng với Vương Tiễn đi lại khá thân mật, nhiều khi uống rượu bàn việc quân
cho đến khi say khướt mới thôi. Trong khi đó Vương Ngao lén sang Triệu, xin gặp
Quách Khai báo là Lý Mục muốn cùng với Vương Tiễn tư thông. Theo ông ta thì hai
tướng này đã hứa hẹn với nhau nếu chiếm được nước Triệu sẽ chia làm hai, mỗi
người thành một ông vua nho nhỏ là thỏa mãn lắm rồi.
Quách Khai liền báo với
Triệu vương và bí mật sai người đi dò xét, quả nhiên lời của Vương Ngao không
sai, hai bên hàng ngày vẫn đi lại rượu chè với nhau, không hề tỏ ra đang đối đầu
chút nào. Triệu vương liền gọi Lý Mục về thăng lên làm Tướng quốc, thực sự là cắt
binh quyền của ông ta, cho Triệu Thông thế chức. Chẳng ngờ Lý Mục biết việc
này, chán nản không giao ấn tín cho Triệu Thông, ngửa mặt than thở:
– Ta thường nghĩ Nhạc Nghị
và Liêm Pha không trọn đạo làm tướng. Nay mới biết nỗi khổ tâm của họ ra sao,
ta có thể đem quân về triều đánh giết bọn gian thần nhưng làm thế lại mang danh
phản nghịch.
Than xong Lý Mục treo ấn
tín lên cành cây rồi nửa đêm lẳng lặng bỏ đi. Triệu Thông rất giận việc này,
cho quân truy đuổi và giết chết Lý Mục trong một quán rượu nhỏ bên đường. Vương
Tiễn biết tin Lý Mục đã ra đi, lập tức cùng Dương Đoan Hòa chia quân làm hai
cánh tấn công dữ dội. Triệu Thông cố sức chống giữ nhưng tài hèn sức kém, rốt
cuộc bị Vương Tiễn chém chết tại trận, quân Triệu như rắn mất đầu đua nhau bỏ
chạy về Hàm Đan.
Vương Tiễn không bỏ lỡ cơ
hội ngàn vàng, xua quân truy kích và tiến đến bao vây Hàm Đan. Tên gian thần
Quách Khai thấy vậy sợ quá, nói với Triệu vương:
– Nước Hàn đã bị diệt. Nước
Yên và Ngụy tự giữ mình không xong thì còn ai cứu được nước Triệu. Chi bằng đầu
hàng Tần may ra còn giữ được địa vị phong hầu mà tế tự.
Triệu vương tức giận lấy
kiếm chỉ mặt Quách Khai mà mắng khiến hắn ôm đầu rút lui về phủ. Thế nhưng tên
gian thần này đã nhất quyết bán nước, lén sai người báo cho Vương Tiễn biết:
– Thật sự Triệu vương đã
run sợ lắm rồi nhưng nói rằng nếu như Tần vương thân chinh mang quân đến nơi
thì sẽ đầu hàng ngay.
Vương Tiễn liền báo tin
này cho Tần vương Chính. Nhà vua vui vẻ nghe theo, thân dẫn 3 vạn tinh binh, cờ
xí rợp trời, chiêng trống vang lừng kéo đến trước thành Hàm Đan. Triệu vương liền
nghe thoe lời xúi giục của Quách Khai, đem viên ngọc họ Hòa và bản đồ thành Hàm
Đan, mở cửa thành phía Tây dâng thư đầu hàng Tần vương Chính. Khi vào thành
xong, Tần vương ngồi chễm chệ trên ngai vàng cho Triệu vương làm lễ tôi thần
khiến các cựu thần nước Triệu có mặt đều rơi nước mắt.
Doanh Chính cầm viên ngọc
Hòa mà nói:
– Cũng viên ngọc này, trước
kia tiên vương ta lấy 15 thành mà không đổi được. Nay nhờ có Vương Tướng quân
mà nó nằm trong tay của ta.
Sau đó Triệu vương bị
giam giữ trong một cái nhà bằng đá, buồn rầu sinh bệnh mà chết. Riêng Quách
Khai được tha cho về quê quán, hắn chuyển tải mấy xe vàng bạc về đến nửa đường
thì bỗng có bọn cướp xông ra giết chết toàn bộ, bao nhiêu vàng bạc đều cướp sạch.
Có người cho rằng đó chính là các tân khách của Lý Mục báo thù nhưng cũng có
người cho rằng đó là hành vi của Tần vương Doanh Chính.
Trước đó một năm, Thái tử
Đan của nước Yên đang làm con tin nơi nước Tần, dùng kế lén trốn về Yên tổ chức
quân binh chống đỡ nếu một khi bị quân Tần xâm lăng. Tần vương còn đang lo việc
đánh Hàn và Triệu nên bỏ qua việc này nhưng chắc chắn trong thời gian ngắn sẽ
“tính sổ” chứ không đời nào tha thứ. Thái tử Đan tuy đã chiêu mộ được khá nhiều
dũng sĩ như Hạ Phù, Tống Ý và Tần Võ Dương, ngay cả Phàn Ô Kỳ cũng đến đầu quân
và được phong làm Thượng tân, nhưng vẫn thừa nhận như thế vẫn không đủ sức đánh
lại quân Tần, bàn với các mưu sĩ kế sách ám sát Tần vương Chính.
Đại thần là Cúc Võ liền
giới thiệu một mưu sĩ nổi tiếng là Điền Quang. Khi đến diện kiến, biết Thái tử
Đan đang nuôi dưỡng các dũng sĩ để thi hành kế ám sát, Điền Quang lắc đầu nói:
– Hạ Phù có máu nóng nên
mặt luôn luôn đỏ bừng, Tống Ý có mạch nóng nên trên mặt lộ ra màu xanh, Tần Võ
Dương có khí cố nóng nên lộ ra mặt màu trắng. Những màu sắc ấy biểu hiện tính
tình mừng, giận. Người đã biểu lộ tính tình thì không thể dùng vào việc hệ trọng
này.
Điền Quang liền tiến cử một
kiếm khách nổi tiếng tên là Kinh Kha. Thật ra Kinh Kha nhận ra đây là việc còn
khó hơn là lên trời hái sao bởi Tần vương tự biết rất nhiều người oán ghét ông
ta, đề phòng rất cẩn mật. Kinh Kha nhiều lần từ chối nhưng Thái tử Đan qua nài
ép, lại hậu đãi hết mức nên cuối cùng đành phải nhận lời. Khi đã luyện tập
xong, Kinh Kha cùng với Tần Võ Dương lên đường làm sứ giả, lấy cái đầu của Phàn
Ô Kỳ để trong hộp gỗ và bản đồ thành Hàm Đan làm lễ vật, toan tính thế nào Tần
vương Chính cũng chăm chú nhìn xem, nhân cơ hội ấy mà ám sát.
Rất tiếc là khi đến gần Tần
vương Doanh Chính, Kinh Kha sơ hở để lộ chuôi kiếm nên Tần vương nhanh nhẹn chạy
quanh cột rồng khiến mấy lần Kinh Kha không thể đâm trúng. Tần vương Chính định
rút thanh bảo kiếm Lộc Lư ra đối phó nhưng vì kiếm quá dài, mãi không rút ra được.
May sao có một tên hoạn quan là Triệu Cao la lớn:
– Sao Đại vương không
xoay vỏ kiếm về phía sau?
Tần vương nghe lời, nhờ vậy
mới rút kiếm ra chém chết được Kinh Kha. Hôm sau Tần vương ban thưởng cho quần
thần rất hậu, tùy theo vết thương mà lãnh thưởng, riêng Triệu Cao được thưởng
100 cân vàng và từ đó Tần vương Chính rất tin dùng hắn. Khi đã tự xưng Tần Thủy
Hoàng đế, Triệu Cao còn được ưu ái thăng làm Thừa tướng nhưng chính hắn là kẻ
phản bội khiến cho nước Tần bị suy yếu rồi tiêu vong vào tay Hán Cao tổ Lưu
Bang. Vì việc hành thích này Tần vương không kềm được tức giận, lập tức sai hai
cha con Vương Tiễn và Vương Bôn mang đại quân tiến đánh nước Yên, lệnh nếu
không thắng thì đừng trở về triều.
Đương nhiên quân Yên
không thể nào chống lại được, bị quân Tần bao vây kinh thành rất chặt chẽ, Thái
tử Đan phải phò Yên vương chạy đến Liêu Đông tránh nạn, bỏ mặc kinh thành cho
quân Tần chiếm đóng. Mọi sự tạm yên ổn, Vương Tiễn thấy mình già yếu, hay bị bệnh
nên viết thư dâng lên Tần vương, xin được cáo lão về đất phong ở Dĩnh Dương yên
hưởng tuổi già. Nhờ vậy quân Tần mới không đuổi theo ngay, Thái tử Đan mới có
thời gian lập lại triều đình ở Liêu Đông.
Trong việc từ chức này
cũng có một số nghi ngờ xảy ra giữa Vương Tiễn và Tần vương nhưng với chủ
trương mềm dẻo, cuối cùng Tần Vương Chính cũng đánh tan được sự nghi ngờ ấy và
Tần vương chấp thuận cho ông về hưu dưỡng, sai Lý Tín cầm quân thay thế. Vương
Bôn là con của Vương Tiễn, tuổi trẻ như Lý Tín, lại có nhiều kinh nghiệm do
thân phụ truyền lại. Thế nhưng khi Tần vương hỏi Vương Tiễn muốn dùng ai thay
thế mình trong chức vụ Đại tướng thì ông thẳng thắn tâu:
– Theo thần thì Vương Bôn
có đủ tài năng đảm nhận chức vụ này.
Tần vương cười nhạt, hỏi:
– Theo ta thì Lý Tín cũng
tài năng không kém. Khanh tiến cử con mình mà bỏ qua người tài khác, như thế có
thiên vị lắm không?
Vương Tiễn khôn khéo đáp:
– Đó là ý của thần, còn
quyết định là của Đại vương. Đại vương sáng suốt tất sẽ không bổ nhiệm sai lầm.
Rốt cuộc Tần vương cho Lý
Tín cầm quân, hạ lệnh tiếp tục đuổi theo giết bằng được cha con Yên vương. Yên
vương cầu cứu khắp nơi không được, lại không nỡ giết Thái tử Đan theo yêu cầu của
Tần vương nên đành phải cùng triều thần trốn đến Đào Hoa đảo. Thế nhưng quân Tần
vẫn không buông tha, cho quân đuổi theo quyết liệt đến Thủ sơn thì bắt kịp, bao
vây bốn phía, đồng thời viết thư hạch tội Thái tử Đan, cương quyết cho rằng nếu
chưa giết được thì sề chưa dừng binh.
Yên vương bất đắc dĩ phải
phục rượu Thái tử Đan đến say mèm rồi thắt cổ giết chết, mang thủ cấp đứa con đến
dâng cho Lý Tín. Việc này hết sức đau lòng, oán khí bốc lên tới trời xanh nên
có nhiều hiện tượng lạ xảy ra, Tần vương cũng xúc động hạ lệnh cho Lý Tín rút
quân về.
Không để cho quân sĩ ngơi
nghỉ, Tần vương lại theo hiến kế của Úy Liêu, bắt đầu tấn công nước Ngụy, sai
Vương Bôn làm Đại tướng. Nước Ngụy đã cầu cứu nước Tề nhưng chính họ cũng sợ bị
Tần trách cứ nên từ chối. Vì vậy Vương Bôn mấy trận đều đại thắng, tiến quân đến
bao vây kinh thành Đại Lương. Vương Bôn thừa kế trí mưu của cha, thấy trời mưa
to, nước dâng lên rất nhanh liền dùng thủy kế đưa nước tràn vào thành rồi tiến
đánh. Sự việc xảy ra bất ngờ đến nỗi Ngụy vương không kịp trở tay, đành bị bắt
sống cùng toàn bộ triều thần, giải về Hàm Dương cho Tần vương xét xử. Khi đi giữa
đường, Ngụy vương vì quá đau buồn uất ức, bệnh rồi chết.
Thế là Vương Bôn thừa cơ
đánh chiếm luôn đất Giã Vương, giáng chức Vệ quân xuống làm thường dân. Đây là
chiến công rất lớn của Vương Bôn, mở đầu cho những chiến công lừng lẫy chẳng
khác gì cha mình sau này.
Khi tiêu diệt xong Ngụy,
Tần vương toan tính tiếp tới việc diệt Sở và Tề, theo ý kiến của Úy Liêu thì
hai nước này mất rồi, còn lại những nước nhỏ khác tất sẽ đầu hàng, không cần phải
đánh. Thế nhưng nước Sở là một nước rất hùng mạnh, người đông, quân tướng kiêu
dũng, cần phải có kế hoạch kỹ lưỡng trước khi tiến binh. Lúc ấy nước Sở cũng đã
sửa soạn sẵn sàng, Sở vương là Phụ Sô mời danh tướng Hạng Yên đem 20 vạn quân
ra biên giới đào hào đắp lũy chống cự nên việc đánh Sở không phải dễ dàng.
Tần vương cũng không
khinh suất, bàn bạc với Úy Liêu xong tự thân đến Dĩnh Dương hỏi ý kiến của
Vương Tiễn, trong ý vẫn muốn ông cầm quân đánh Sở thì mới yên tẩm. Lão tướng
này liền tâu:
– Thần đầu quân khi mới
16 tuổi, làm tướng khi mới 20, trải qua mấy chục năm chinh chiến, nay đã 80 tuổi,
sức yếu trí kém hẳn ngày trước nhiều nhưng nếu Đại vương tin tưởng thì vẫn cố
đem hết sức tàn ra báo đáp. Thế nhưng nước Sở rất rộng lớn, quân tướng hùng mạnh,
lại có danh tướng Hạng Yên ra sức chống đỡ thì phải cần tới 60 vạn quân mới hy
vọng tiêu diệt được họ.
Tần vương giật mình nói:
– 60 vạn quân là toàn bộ
số quân trong nước. Nếu xuất toàn bộ quân đội đi, trong nước trống rỗng thì rất
nguy hiểm, khanh có thể tính toán lại được không?
Vương Tiễn cứ nhất quyết
phải đủ số 60 vạn mới dám xuất quân khiến Tần vương đành phải về triều hỏi ý kiến
của Lý Tín. Viên tướng trẻ này sau mấy trận đại thắng, hùng khí lên cao, kiêu
ngạo nói:
– Bình định nước Sở cần
gì đến số quân nhiều như vậy? Theo thần thì chỉ cần độ 20 vạn quân là thừa sức
lắm rồi.
Tần vương cả mừng, nói:
– Thế mà lão tướng Vương
Tiễn đòi đến 60 vạn. Ta sẽ giao cho khanh số quân 20 vạn, khi nào chiến thắng
thì hãy mở tiệc thật lớn cho Vương Tiễn biết mình đã quả già yếu nhút nhát lắm
rồi.
Thế là Tần vương Chính
phong cho Lý Tín làm Đại tướng, Mông Vũ làm Phó tướng, dẫn 20 vạn quân tiến
đánh nước Sở. Mấy trận đầu quân Tần chiến thắng liên tiếp, chiếm được Bình Dư
và Tẩm địa, cả đất Yên đất Sính cũng rơi vào tay quân Tần. Tiếc rằng Lý Tín quá
tự phụ, không đợi kết hợp với đoàn quân của Mông Vũ mà cứ thế xua quân tràn lên
phía trước. Quân của Lý Tín tiến nhanh như vũ bão, khi gần đến Chân thành thì
quân của Hạng Yên cũng đã dàn sẵn đối địch.
Hạng Yên một mặt cho quân
dàn trận ở Tây Lăng, một mặt sai Khuất Định mai phục sẵn, vì vậy Lý Tín trúng kế,
bị quân Sở đánh cho một trận tan tác. Lần này quân Tần mới nếm mùi đau khổ, chạy
suốt ba ngày ba đêm vẫn không sao thoát được sự truy đuổi của quân Sở, chết đến
mấy tướng, còn binh sĩ tử thương thì không sao kể xiết. Lúc ấy Mông Vũ chỉ mới
tiến quân đến Thành Phụ, nghe tin Lý Tín đại bại cũng không làm gì được, đành
phải lui về đất Triệu phòng giữ và phi báo cho Tần vương biết tin xấu. Tần
vương vô cùng giận dữ, truyền lệnh tước hết chức vụ và đất phong của Lý Tín,
giáng xuống làm thường dân.
Khi ấy Tần vương mới hiểu
ra Vương Tiễn quả là người nhiều kinh nghiệm, không những ông đòi hỏi số quân lớn
mà còn không hề tin tưởng Lý Tín. Ông tiến cử Vương Bôn là có ý muốn truyền đạt
kinh nghiệm chiến đấu cho con cháu, đồng thời có thể theo dõi để sửa chữa những
sai lầm mà thường khi những tướng trẻ cao ngạo hay phạm phải.
Tần vương liền thân đến
Dĩnh Dương, nói với Vương Tiễn:
– Ta không nghe lời lão
tướng nên nước Tần bị một phen nhục nhã. Ta cũng biết khanh già yếu nhưng có thể
giúp ta rửa mối nhục này không?
Vương Tiễn bình tĩnh đáp:
– Như thần đã nói trước
kia. Tuy thần đã bát tuần nhưng nếu nước nhà cần tới thì vẫn có thể cố gượng sức
tàn mà báo đáp công ơn của Đại vương. Thế nhưng nếu không đủ 60 vạn quân thì thần
e rằng khó có thể hoàn thành được nhiệm vụ khó khăn ấy. Thần cho rằng 60 vạn
quân là vừa đủ chiếm được nước Sở, còn nếu muốn giữ thì e rằng phải thêm nữa mới
xong.
Tần vương liền lấy xe ngựa
của mình, mời Vương Tiễn về triều, lập đại lễ phong cho ông làm Đại tướng, Mông
Vũ làm Phó tướng, chỉ huy 60 vạn quân tiến đánh nước Sở lần nữa.
Trước khi xuất binh,
Vương Tiễn xin với Tần vương:
– Lần này chắc là lần cuối
thần cầm quân ra đi. Thế nhưng trải qua bao nhiêu chiến trận mà gia đình vẫn
còn rất khó khăn về kinh tế, sang trọng không bằng ai. Vì vậy nhân cơ hội cuối
cùng này, thần cúi xin Đại vương ban cho một số ruộng tốt ở Hàm Dương cùng với
một số phủ đệ để gia đình được vinh hiển. Nếu Đại vương chấp thuận thì dù da ngựa
bọc thây thần vẫn mỉm cười nơi chín suối.
Tần vương Chính nghe vậy
cả cười, đáp:
– Chưa xuất quân mà sao
khanh bi quan như vậy? Khi nào chiếm được Sở, nước Tần gồm thâu thiên hạ thì
khanh là công thần của Tần, giàu sang phú quý tới cùng cực, lo gì nghèo đói mà
phải lo lắng xin trước?
Vương Tiễn cố nằn nì:
– Thần tự biết tuổi đã
quá cao, dù Đại vương chiếm được thiên hạ thì thần cũng không làm quan được bao
lâu nữa để hưởng giàu sang. Chi bằng lúc này còn sống thì hãy kiếm cho con cháu
chút ít đất ruộng, đời đời hưởng ân huệ của Đại vương thì hoàn toàn thỏa mãn,
yên tâm lao vào vòng lửa đạn.
Nghe vậy Tần vương đành
phải chiều theo. Thế mà khi quân Tần đã đến Hàm Cốc, tức sửa soạn vượt biên giới,
một lần nữa Vương Tiễn lại sai người về triều cố xin thêm mấy chỗ đất tốt nữa,
rốt cuộc đều được Tần vương ban cho.
Phó tướng Mông Vũ thấy vậy
phàn nàn:
– Tướng quân xin mãi như
vậy chẳng là quá đáng lắm ư? Một khi thắng trận trở về tất Đại vương còn ban
thưởng nhiều gấp bội, chưa có công lao gì mà xin mãi thì tôi sợ rằng Đại vương
không hài lòng đấy.
Nhân lúc ấy chỉ có hai
người, lại đã quá hiểu nhau nên Vương Tiễn nhỏ giọng thú thực:
– Ông thừa biết Đại vương
tính tình rất tàn nhẫn, lại hay đa nghi. Nay bất đắc dĩ phải giao cho ta và ông
60 vạn quân, tức không còn bao nhiêu quân ở bên mình. Nếu như chúng ta đồng
lòng phản nghịch thì Đại vương làm sao chống nổi, tất không khỏi băn khoăn nghi
ngờ. Ta cốt xin nhiều ruộng đất là để cho Đại vương yên tâm, không còn nghi ngờ
nữa đấy thôi. Ta không hề tham lam chút của cải phù hư đó đâu.
Khi ấy Mông Vũ mới hiểu
ra, hết lời khen ngợi Vương Tiễn không những mưu trí sâu xa mà còn hiểu biết
nhân tình thế thái rất rõ ràng. Cách hành xử của ông từ lúc bắt đầu cầm binh
quyền cho đến khi cuối đời càng tỏ rõ “gừng càng già càng cay” là bài học thâm
thúy để người đời sau suy nghĩ.
Về mặt nước Sở, khi nghe
tin chính Vương Tiễn cầm quân, lại có dưới tay 60 vạn tinh binh, cả Sở vương lẫn
triều thần đều phải kinh hoảng. Sở vương không còn cách nào khác là phải sai tướng
Cảnh Kỳ chiêu mộ thêm 20 vạn quân đến Đông Cương tiếp trợ cho Hạng Yên.
Thế nhưng khi đại quân của
Vương Tiễn đến nơi lại không hề ra trận, cứ đóng quân ở đó. Hạng Yên vô cùng
kinh nghi, mấy lần cho quân ra khiêu chiến nhưng Vương Tiễn vẫn án binh bất động
khiến ông ta không thể hiểu nổi đối phương đang toan tính gì. Các tướng Sở bàn
bạc cùng nhau, sau cùng đều đồng ý có lẽ Vương Tiễn đã quá già yếu nên đâm ra
nhút nhát, bất đắc dĩ mới phải theo lệnh cầm quân, hoàn toàn không muốn giao
tranh chút nào. Vì vậy việc canh phòng cũng có chút lơi lỏng.
Riêng Vương Tiễn không những
cho quân tướng nghỉ ngơi thỏa thích mà còn bày ra những trò chơi như nhảy cao,
ném đá, khiêng gạch, rồi phân thắng thua mà ban thưởng. Thật sự Vương Tiễn hoàn
toàn không bày chuyện vô ích, những trò chơi ấy vừa có tác dụng cho quân tướng
vận động tay chân, rèn luyện sức khỏe vừa nhìn ra được ai dũng cảm, ai khỏe mạnh
hay yếu đuối mà ngầm ghi vào sổ rồi biên chế vào các đội khác nhau. Thế nhưng Hạng
Yên không hiểu được điều này, đến hơn một năm thì bắt đầu tin rằng các tướng
nói đúng, không đốc thúc phòng bị nữa.
Ngay trong thời gian này,
Tần vương cũng bị nhiều lời gièm pha, cho rằng nên cách chức của Vương Tiễn.
Nhà vua đã tin tưởng Vương Tiễn tuyệt đối, không nghe theo nhưng mật sai người
đến hỏi. Vương Tiễn liền đáp:
– Trước kia có danh tướng
Nhạc Dương kéo quân đi đánh nước Trung Sơn, ba tháng ròng không hề động binh.
Ngụy Văn hầu cũng nhận được vô số tấu thư gièm pha nhưng đọc xong đều cất hết
vào hộp gỗ. Đến khi Nhạc Dương thắng trận trở về, Ngụy Văn hầu bèn đưa cái hộp
gỗ ấy ra cho Nhạc Dương xem. Nay thần cũng muốn Đại vương làm như Ngụy Văn hầu
được chăng?
Tần vương nhận được lời
đáp này liền hiểu ra mưu kế của Vương Tiễn, từ đấy trở đi mỗi khi có triều thần
dâng tấu đều cười mà xếp vào góc. Đúng thời cơ, Vương Tiễn liền mở tiệc đãi đằng
quân tướng rồi hiệu triệu quyết đánh một trận sống còn. Lúc đó quân tướng nước
Tần rất khỏe mạnh nhờ nghỉ ngơi lâu ngày, ăn uống đầy đủ nên hăng hái xin liều
chết, tranh nhau xin đi đầu. Vương Tiễn liền theo danh sách ghi từ trước, chọn
ra 20 vạn quân binh tinh nhuệ nhất, mỗi người có thể chống nổi 10 người làm
quân tiên phong.
Hạng Yên không thể ngờ
quân Tần lại đột ngột tiến đánh, quân tướng Sở lại không có chuẩn bị hay luyện
tập gì nên vừa thấy quân Tần xông lên liền đại loạn, tranh nhau chạy trốn. Ngay
trận ra quân đầu tiên, quân Tần đã giết được Khuất Định, còn Hạng Yên và Cảnh Kỳ
dẫn tàn quân chạy trối chết. Chủ trương của Vương Tiễn trước sau như một, đó là
“tránh mũi nhọn của đối phương, tốc chiến để đạt thắng lợi, truy kích không để
đối phương có cơ hội phục hồi sức mạnh” nên lập tức cho quân đuổi theo ráo riết.
Đến đất Vĩnh An thì quân Tần đuổi kịp, hai quân lại giao chiến lần nữa nhưng kết
quả vẫn không có gì thay đổi: quân Sởđại bại, mất luôn đất Tây Lăng.
Vương Tiễn liền sai Mông
Vũ để một số quân đóng lại còn bao nhiêu thì tiến thẳng đến Hồ Nam. Riêng Vương
Tiễn thống lãnh đại binh tiến đến Thọ Xuân, bao vây kinh thành. Chưa được bao
lâu, Vương Tiễn nghe tin Hạng Yên đã lên sông Hoài chiêu mộ quân sĩ, liền lợi dụng
cơ hội ấy đánh thành rất gấp. Cuối cùng quân Sở không sao giữ được thành, Cảnh
Kỳ tự đâm cổ mà chết, còn Sở vương Phụ Sô bị Vương Tiễn bắt sống.
Chờ đợi bao nhiêu ngày
tháng, vừa nghe tin đại thắng, Tần vương Chính vô cùng mừng rỡ, cùng triều thần
đến Phàn Khẩu nhận tù nhân Phụ Sô, truất ông ta xuống làm thứ dân. Đồng thời Tần
vương nhân đà thắng, lại sai Vương Tiễn và Mông Vũ tiến đánh luôn Kinh Dương.
Khi ấy Hạng Yên mới biết tin kinh thành thất thủ, vội vàng vượt Trường giang chạy
trốn, lập Xương Vinh quân làm Sở vương rồi tổ chức phòng thủ ở Ô Lăng.
Thế nhưng chỉ hơn năm
sau, Vương Tiễn đóng thuyền xong liền xuất quân tiến đánh. Xương Bình quân, tức
Sở vương mới lập đi tuần trên thành bị trúng tên chết nên Hạng Yên chán nản đến
mức không còn lòng dạ nào chiến đấu nữa, tự đâm cổ mà chết. Thế là nước Sở bị
tiêu diệt, duy nhất chỉ còn lại nước Tề.
Sau đại thắng này, Vương
Tiễn được Tần vương ban thưởng ngàn dật vàng, rồi chấp nhận cho ông về Dĩnh
Dương hưu dưỡng như trước. Tần vương còn ưu ái phong cho con Vương Tiễn là
Vương Bôn làm Đại tướng, sai đi tiêu diệt nước Yên. Quả là “hổ phụ sinh hổ tử”,
Vương Bôn không phụ lòng mong đợi của phụ thân và Tần vương, sau khi tiêu diệt
nước Yên xong còn thừa thắng đánh luôn nước Tề. Lúc đó nước Tề ỷ lại Tần sẽ
không bao giờ đánh mình, vì vậy trở tay không kịp, Vương Bôn lại khôn khéo từ
phía bắc đánh xuống chứ không theo phía tây nhưng thường lệ nên đến đâu đều đại
thắng, tiến nhanh như chẻ tre, chẳng bao lâu đã bao vây kinh thành Lâm Tri của
Tề.
Thế cùng lực kiệt, Tề
vương nghe theo lời của Hậu Thắng mở cửa ra đầu hàng. Thế là Vương Bôn không tốn
một tên quân cũng đã tiêu diệt được nước Tề, công trạng còn huy hoàng hơn cả
Vương Tiễn. Khi ấy là năm thứ 26 của Tần vương Doanh Chính, tất cả 6 nước trong
“thất hùng” đều bị tiêu diệt, thống nhất Trung nguyên thành một đất nước duy nhất.
Người minh trí đều biết rằng
một khi công thành danh toại thì các công thần cũng khó sống sót, vì thế Vương
Tiễn nhất quyết không ra mặt, ẩn cư ở Dĩnh Dương, còn Úy Liêu thì đột ngột đi
đâu mất.
Tần vương đã đạt đại
công, cũng không nghĩ gì nữa, không truy xét tung tích úy Liêu mà cũng không nhắc
gì đến Vương Tiễn, để cho ông sống nhàn nhã cho đến khi 90 tuổi thì mất. Xét
theo công trạng thì Vương Tiễn ngang bằng với danh tướng Bạch Khởi ngày trước,
cũng được phong tước Võ An quân nhưng mưu trí hơn rất nhiều, hễ không đánh thì
thôi, đánh là phải thắng, xứng đáng cho người đời sau ngưỡng mộ.
Ông là vị đại tướng lớn
tuổi nhất trong lịch sử, trải qua 4 triều đại nhà Tần vẫn giữ vững được lòng
trung thành và được nhiều người tôn trọng. Vương Tiễn mất vào năm 213 trước
Công nguyên, tức là chưa tới 5 năm sau thì Thủy Hoàng đế Doanh Chính cũng mất
trên đường tuần du, rồi 3 năm sau nhà Tần diệt vong dưới tay Lưu Bang và Hạng
Võ.
5 HẠNG VÕ - HỮU DŨNG VÔ
MƯU
Năm 246 trước Công
nguyên, Tần vương Doanh Chính đã tiêu diệt được 6 nước, thống nhất thiên hạ và
theo kiến nghị của Lý Tư xưng là Tần Thủy Hoàng đế rồi đặt ra những chế độ cực
kỳ hà khắc để cai trị. Những chế độ này quả nhiên giúp cho nhà Tần yên ổn được
một thời gian nhưng đó là bề mặt, trong lòng người dân các nước chư hầu bị thôn
tính vẫn mang nặng ý chí muốn phục quốc. Khi vào thời kỳ nhà Tần sắp suy tàn,
khắp nơi nổ ra những cuộc khởi nghĩa, trong đó đáng kể nhất là của Trần Thắng,
Ngô Quảng. Tuy nhiên hai cuộc nổi dậy này không có người tài trí lãnh đạo, lại
không có liên kết với các lực lượng khác nên chẳng gây khó khăn cho nhà Tần.
Mãi đến khi đồng thời có hai cuộc nổi dậy của Hạng Võ nước Sở và Lưu Bang ở Cối
Kê thì cuộc diện mới trở nên dữ dội. Đúng lúc căng thẳng nhất thì Tần Thủy
hoàng băng hà, càng làm cho hao thế lực của Lưu Bang và Hạng Võ phát triển mạnh
hơn. Lưu Bang chỉ là người Đình trưởng, trí mưu cũng tầm thường nhưng lại được
sự phò tá của mấy hiền nhân mưu sĩ kiệt xuất như Trương Lương, Tiêu Hà, Trần
Bình nên cuối cùng đoạt được thiên hạ.
Riêng Hạng Võ là một danh
tướng có sức mạnh không ai bì kịp, đến như Hàn Tín của quân Hán cũng không thể
đối đầu nhưng lại thiếu một “bộ óc” chiến lược, cuối cùng đành ôm hận mà chết.
Tuy nhiên nếu so về tài năng tướng soái thì ngoài Hàn Tín ra, trong thời gian
Hán-Sở tranh hùng chỉ có Hạng Võ mới xứng đáng là Tướng soái với nhiều trận
đánh long trời lở đất.
Hạng Võ tên thật là Hạng
Tịch, Võ là tên hiệu, người ở Hạ Tương nước Sở thời Xuân Thu chiến quốc. Hạng
Võ là cháu nội của Hạng Yên, tướng nước Sở bị Vương Tiễn nước Tần giết chết, vì
vậy dòng họ Hạng luôn luôn ghi nhớ mối thù này đối với nhà Tần. Thật sự họ Hạng
trước kia là họ khác nhưng mấy đời làm Tướng nên được Sở vương ban cho đất
phong ở Hạng, bèn lấy tên đất làm họ của mình để ghi nhớ.
Phụ Thân của Hạng Võ mất
sớm nên ông phải sống nhờ vào người chú là Hạng Lương, con thứ của Hạng Yên.
Ngay từ nhỏ hạng Võ đã biểu lộ là người có sức mạnh, có thể đọ sức cùng người lớn
tuổi và cao lớn hơn mình được rồi. Khi lớn lên, có lần Hạng Võ biểu diễn với bạn
bè, nâng một chiếc đỉnh nặng mấy trăm cân lên rất dễ dàng. Thế nhưng Hạng Võ rất
lười nhác việc luyện tập võ nghệ kiếm cung, thậm chí đến binh pháp cũng ít khi
nhìn nhõi tới, chỉ cậy vào sức mạnh hơn thua với người.
Lúc Tần Thủy hoàng mới
lên ngôi, đất nước chưa ổn định, Hạng Lương phạm vào tội giết người nên cùng
gia quyến bỏ trốn đến đất Ngô Trung. Hạng Lương có học hành và cũng là người tướng
có tài nên chẳng bao lâu đã nổi tiếng trong vùng đất mới, được nhiều người kính
phục. Đó là điều kiện rất tốt để ông ta toan tính đến việc khởi binh chống Tần.
Hạng Võ chỉ dựa vào Hạng Lương mà trở thành danh tướng.
Vào năm 209 trước Công
nguyên, tức là khi Tần Thủy hoàng đã trị vì được 36 năm, ông tuần du đến đất Cối
Kê. Khi mọi người đổ ra đường xem mặt Hoàng đế, Hạng Võ buột miệng nói:
– Nếu muốn mau chóng thì
có thể giết hắn rồi lên chiếm ngôi thay thế.
Hạng Lương nghe vậy cả
kinh bởi Tần Thủy hoàng thiết lập một chế độ rất tinh vi, chỗ nào cũng có tai mắt
theo dõi, lộ ra thì có thể chết cả dòng họ. Hạng Lương vội vàng bịt miệng Hạng
Võ rồi kéo về nhà. Tuy không bàn đến việc này nữa nhưng trong lòng Hạng Lương tự
biết nếu nổi dậy thì chắc chắn phải nhờ cậy vào đứa cháu lớn gan lắm mật này.
Thái thú Cối Kê là Ân
Thông đã nghe biết tên tuổi của Hạng Lương, tìm đến bàn:
– Nay Thủy Hoàng đế sắp
tuần du đến đây, nếu nhân dịp này hành thích rồi chiêu mộ người dân nổi dậy, có
hy vọng sẽ thành đại nghiệp được đấy.
Hạng Lương biết Ân Thông
chẳng có tài cán bao nhiêu, không muốn hợp tác với hắn nhưng Hạng Võ nghe thấy
đúng ý mình thì hăng hái bước ra xin ủng hộ. Nhưng Hạng Lương gạt đi, cho rằng
rất khó hành thích Tần Thủy hoàng, làm việc này tất sẽ “rút dây động rừng”, nên
tính đến việc nổi dậy thì hay hơn. Được Ân Thông đồng ý, hai chú cháu Hạng Võ
hôm sau đến nha môn, chưa kịp bàn soạn gì thì Hạng Võ đã rút kiếm chém rơi đầu
Ân Thông, lấy thủ cấp của hắn làm hiệu lệnh hô hào mọi người đứng sau lưng Hạng
Lương nổi dậy chống Tần.
Hầu như ai cũng đem lòng
căm hận triều Tần nên lập tức có hai nhà lại là Quý Bá và Chung Ly Muội bước ra
xin theo, Hạng Võ liền phong họ làm Đô úy. Thấy vậy rất nhiều người cũng xin
theo, ngay từ lúc đầu thanh thế của chú cháu Hạng Võ đã khá mạnh. Chỉ mấy tháng
sau, số người đi theo Hạng Lương lên tới gần một vạn nhưng vẫn chưa thấm tháp
vào đâu đối với việc chống quân Tần. Quý Bá liền bàn đến Đồ Sơn thuyết phục hai
tướng cướp là Hoàn Sở và Vũ Anh cùng về theo mình. Nếu thành công thì quân dưới
tay hai tướng đó cũng gần một vạn.
Hạng Võ lập tức xin đi, một
mình hùng dùng tiến vào hang ổ của Hoàn Sở và Vũ Anh, lấy danh phận dòng dõi Tướng
nước Sở mà chiêu dụ. Hai tướng này đòi Hạng Võ phải trổ tài mới chịu quy phục.
Hạng Võ liền xuống cái miếu Vũ vương ở chân núi, vận sức nâng cái đỉnh đồng cao
hơn bảy thước, ước chừng nặng đến 5000 cân. Sau đó Hạng Võ còn giở thần oai
mang cái đỉnh đi ba vòng miếu mới bỏ xuống, sắc mặt vẫn không biến đổi, hơi thở
vẫn bình thường. Trước thần oai kinh người như vậy, lập tức Hoàn Sở và Vũ Anh
xin theo dưới trướng ngay. Thế là lực lượng của Hạng Lương đã được tăng cường sức
mạnh, khắp vùng Ngô Trung đều biết tiếng.
Khi cùng Hoàn Sở và Vũ
Anh kéo quân đến Cối Kê, dọc đường Hạng Võ lại trổ tài bắt một con thần mã thường
hay đến quấy phá giúp cho dân làng. Nhân vậy Hạng Võ có ngựa hay, lại được Ngu
công gả con gái cho, đó là Ngu Cơ, một trang giai nhân sắc nước hương trời. Dân
làng cũng xin đi theo không ít, nhờ vậy chỉ mấy tháng sau Hạng Võ đã có trong
tay 10 vạn quân cùng một viên tướng tài ba là Anh Bố nên thanh thế vang lừng.
Theo lời của Quý Bá, Hạng Võ sai người mời một mưu sĩ ở thôn Cư Sào tên là Phạm
Tăng ra làm Quân sư. Đêm hôm ấy Phạm Tăng ra sân xem thiên văn, thấy khí số nước
Sở đã hết, chắc chắn Hạng Võ không làm nên đại nghiệp nhưng đã lỡ nhận lời,
đành thở dài mà theo phò tá.
Hạng Võ còn toan tính kết
nạp cả Trần Thắng, thế nhưng lúc ấy Trần Thắng đã bị quân của danh tướng nước Tần
là Chương Hàm đuổi chạy về Nhữ Âm rồi bị tên Trang Giả giết chết. Vì việc này Hạng
Võ đâm ra lo lắng chẳng biết làm sao, đành nghe lời Phạm Tăng đi tìm một đứa
cháu của Sở Hoài vương tên là Mễ Tâm đưa lên ngôi Sở vương cho chính danh, xưng
hiệu là Hoài vương.
Hoài vương phong cho Hạng
Lương làm Võ Tín quân, Hạng Võ làm Đại tư mã Phó tướng quân, Phạm Tăng làm Quân
sư, Quý Bá và Chung Ly Muội làm Đô Kỵ tướng quân, Anh Bố làm Thiên tướng quân,
Hoàn Sở và Vũ Anh làm Tán Kỵ tướng quân. Tiếng đồn lan xa, Hoài vương lại được
một tướng nước Sở trước kia là Tống Nghĩa đem ba vạn quân đến quỉ phục, thanh
thế càng hùng hậu. Sau khi đã chỉnh đốn triều đình xong,
Hạng Võ lấy danh nghĩa
Hoài vương dẫn quân tiến đánh các châu quận chung quanh. Những châu quận này rất
ít quân binh nên đến đâu Hạng Võ thắng trận đến đó.
Thừa thế, Hoài vương lại
sai Hạng Lương mang quân vượt sông Hoài, đồng thời Hạng Võ đem quân tiến đánh
Tương thành. Dù rất oán ghét chế độ nhà Tần nhưng quân sĩ của triều đình vẫn chống
giữ rất kiên cường, rất lâu sau Hạng Võ mới phá được thành. Ông ta nổi nóng hạ
lệnh giết hết toàn bộ người trong thành khiến chính nghĩa phần nào bị hoen ố.
Khi triều đình nhà Tần biết
tin, lập tức sai Chương Hàm đem quân tiêu diệt. Ngay trận đầu Chương Hàm đã giết
được Hạng Minh khiến Hoài vương hết sức lo lắng, sai Hạng Lương đem đại quân đi
chống với Chương Hàm. Quả nhiên lần này Hạng Lương đã thắng luôn mấy trận vây
hãm quân của Chương Hàm trong thành Định Đào. Thế nhưng Hạng Lương quá khinh địch
không đề phòng, nửa đêm bị Chương Hàm đánh úp, giết được Hạng Lương.
Trong khi ấy Hạng Võ và
Lưu Bang còn bận tiến đánh Trần Lưu, nghe tin Hạng Lương tử trận thì liền rút
quân về Bành Thành cố thủ. Sau khi thắng được Hạng Lương, tướng Chương Hàm kiêu
ngạo cho rằng quân Sở không có gì đáng phải lo ngại nên hạ lệnh vượt Hoàng Hà
tiến đánh nước Triệu, vây hãm Triệu vương Yết và tướng quốc Trương Nhĩ trong
thành Cự Lộc. Tướng Triệu là Trần Dư đem quân đến nơi nhưng thấy thanh thế của
quân Tần quá mạnh, đành án binh bất động không dám ra giao chiến, cho người báo
tin với Hoài vương.
Nghe tin này, Hoài vương
liền phong cho Lưu Bang làm Bái công, kéo quân đánh chính diện, còn quân của Hạng
Võ thì theo hướng bắc cứu nước Triệu trước. Để kềm chế Hạng Võ, Hoài vương cho
Tống Nghĩa làm Đại tướng, Hạng Võ tuy được phong làm Lỗ công nhưng lại là Phó
tướng.
Việc phân công này có phần
thiên vị, như thế cánh quân của Hạng Võ sẽ phải gánh thêm nhiệm vụ cứu Triệu,
do đó Hạng Võ đã thầm bất mãn trong lòng. Thế nhưng khi đến nơi Tống Nghĩa lại
hạ lệnh:
– Ta đã có tính toán sẵn
rồi, bây giờ phải án binh bất động, ai trái lệnh sẽ bị chém đầu.
Hạng Võ đang nôn nóng muốn
trổ tài, nghe vậy hết sức tức giận, lẻn vào trướng của Tống Nghĩa mà mắng chửi.
Bị Tống Nghĩa lấy danh Đại tướng mắng lại, Hạng Võ liền rút kiếm chém rơi đầu,
cầm thủ cấp của Tống Nghĩa bước ra nói quân tướng:
– Tống Nghĩa âm mưu với Tần
nên không chịu tiến quân, ta theo lệnh của Hoài vương chém đầu làm gương, ai
không tuân theo hiệu lệnh của ta cũng bị rơi đầu giống như vậy.
Sau đó cũng với lý do ấy,
Hạng Võ cho người về báo với Hoài vương. Tuy Hoài vương không tin tưởng nhưng
đành phải bỏ qua việc này, phong Hạng Võ làm Thượng Tướng quân. Nắm được binh
quyền rồi, Hạng Võ liền sai Anh Bố đem 2 vạn quân vượt Hoàng Hà đến cứu thành Cự
Lộc. Thế nhưng Chương Hàm quả là danh tướng của Tần, giao tranh bất phân thắng
bại, cuối cùng Hạng Võ phải cho quân vượt Hoàng Hà. Trước khi qua sông, Hạng Võ
bắt tất cả đập vỡ nồi nấu cơm, dốt lều trại, sau đó đánh chìm các thuyền để biểu
lộ quyết tâm liều chết, chỉ có thắng mới sống sót.
Với khí thế ấy, quân của
Hạng Võ đánh 9 trận thắng cả 9 trận, giết mấy tướng của đối phương. Từ đó trở
đi danh tiếng của Hạng Võ chấn động khắp các chư hầu, nước nào nghe đến tên của
ông đều run rẩy khiếp sợ. Chương Hàm cũng không khỏi lo lắng, triệu tập toàn bộ
các tướng dưới quyền đến bàn soạn. Ngay khi ấy Triệu Cao đã tráo di chiếu, phò
Doanh Hồ Hợi lên làm Nhị Thế, rồi sai Triệu Thường mang chiếu chỉ đến bắt tội
Chương Hàm đã nhiều lần thất trận. Bất đắc dĩ Chương Hàm phải bằng lòng quy thuận
quân Sở sai Trần Hy làm sứ giả. Hạng Võ nghe kể lại mọi chuyện, cười lớn:
– Chính Triệu Cao đã giúp
ta diệt Tần mau hơn vậy. Nhưng Chương Hàm giết chú của ta (Hạng Lương), làm sao
quên được mối thù này.
Phạm Tăng phải phân tích
lợi hại, Hạng Võ mới chịu nghe theo, chấp nhận cho Chương Hàm về đầu hàng quân
Sở. Vì việc này Triệu Cao hạ lệnh giết toàn bộ gia quyến của Chương Hàm, ông ta
quá uất ức liền hiến kế sách cho Hạng Võ:
– Hiện giờ tình hình đang
rối loạn, triều Tần chưa kịp cử tướng đến giữ các cửa quan, Tướng quân nên thừa
cơ hội này mau mau tiến quân vượt qua sông Chương. Có thể diệt được nhà Tần mau
hơn dự định.
Thế nhưng Hạng Võ lại
nghe theo lời của Phạm Tăng rút quân về Bành Thành nghỉ ngơi, đồng thời bệ kiến
Hoài vương dâng công. Trong khi Hạng Võ phải đánh với Chương Hàm thì Lưu Bang
theo đường thẳng tiến về phía tây, không những được Trương Lương ra phò giúp mà
còn đánh thắng Hàn Vinh, thừa thế kéo quân đến đất Bái Thượng đóng trại. Lúc đó
trong triều nhà Tần đã xảy ra nội loạn, Triệu Cao giết chết Nhị Thế, phò Tam Thế
Doanh Tử Anh lên ngôi.
Nhận ra không còn cách
nào chống đỡ, Tam Thế rơi nước mắt, gói ngọc tỷ vào một cái khăn, rồi mặc áo trắng
đến xin đầu hàng Lưu Bang. Thế là Lưu Bang vào thành Hàm Dương trước. Hạng Võ
nghe tin này hết sức tức tối, hội toàn bộ quân chư hầu kéo đến trước ải Quan
Trung. Lúc đó quân của Lưu Bang đã trấn giữ ải này nên Hạng Võ tạm thời đóng
binh xem xét tình thế. Trong lúc chờ đợi, Hạng Võ giả trang đi tuần, nghe được
những lời oán trách của bọn hàng binh nước Tần thì nổi cơn giận dữ, về trại hạ
lệnh giết toàn bộ, chỉ giữ lại ba tướng Tần là Chương Hàm, Tư Mã Hân và Đổng Ế.
Đêm hôm ấy Anh Bố đem 30
vạn quân đến chỗ các hàng binh, bắt toàn bộ 20 vạn quân Tần chôn sống, tiếng
kêu khóc vang động cả một góc trời. Hành động này của Hạng Võ còn tàn ác hơn cả
Bạch Khởi khi xưa đã giết 40 hàng binh nước Triệu bởi vì tính cách của nó khác
nhau. Bạch Khởi đang trên đà tiến quân không thể nuôi hay giữ số hàng binh lớn
như vậy, còn Hạng Võ chỉ vì một vài lời than vãn mà xuống tay, khiến ai nấy đều
rùng mình. Đây cũng là một phần nguyên nhân Hạng Võ sau này thất bại trước Lưu
Bang luôn luôn lấy nhân nghĩa ra thu phục thiên hạ.
Sau đó Hạng Võ phong cho
Chương Hàm làm Tần vương, đồng thời bày trận sửa soạn đánh chiếm Hàm Cốc. Lưu
Bang tự biết không thể nào đối địch với Hạng Võ nổi nên phải xuống nước điều
đình, Hạng Võ liền mở yến tiệc tại Hồng Môn, trong ý muốn giết chết Lưu Bang tại
chỗ, nhưng nhờ nhiều người giúp đỡ, cuối cùng Lưu Bang chạy thoát về Bái Thượng.
Hạng Võ cũng không vội,
kéo quân đến Hàm Dương bắt Tam Thế Doanh Tử Anh đem chém đầu. Thật thương cảm
cho ông vua trẻ tuổi mới làm Hoàng đế được 43 ngày đã phải rơi đầu vì tội lỗi của
cha ông. Chưa hả giận, Hạng Võ còn sai quân nổi lửa đốt cháy cung A Phòng mấy
tháng chưa tắt lửa. Xong việc Hạng Võ liền sai người về xin Hoài vương phong
Vương, thế nhưng Hoài vương trả lời với Hạng Võ:
– Là vua không nói chơi.
Ta đã ước hẹn trước rồi, không thể trái lời.
Hạng Võ nghe báo thì lại
nổi cơn giận, tự lập mình làm vua, xưng hiệu là Tây Sở Bá vương, quyết định
đóng đô ở Bái Thượng để cai trị. Với danh nghĩa này, Hạng Võ bắt buộc Hoài
vương phải thiên đô đến Giang Nam nhưng giữa đường bí mật sai Anh Bố giết chết.
Phạm Tăng sợ quân chư hầu cùng với quân của Lưu Bang cứ đóng ở Hàm Dương thì rất
nguy hiểm, nói với Hạng Võ phong chức rồi truyền cho họ trở về là hay hơn. Hạng
Võ nghe theo, phong cho Lưu Bang làm Hán vương đóng đô ở Nam Trịnh, Ba Thục;
Chương Hàm làm Ung vương đóng đô ở Phế khâu, Tư Mã Hân làm Tắc vương đóng đô ở
Lịch Dương; Đổng Ế làm Địch vương đóng đô ở Cao Nộ; Thần Dương làm Hà Nam vương
đóng đô ở Lạc Dương; Anh Bố làm Cửu Giang vương đóng đô ở Lục Hợp; Ngụy Báo làm
Tây Ngụy vương đóng đô ở Bình Dương; Tư Mã Ngang làm Ân vương đóng đô ở Triều
Ca; Trương Nhĩ làm Thường Sơn vương đóng đô ở Tương châu; Cung Ngao làm Lâm
Giang vương đóng đô ở Giang Lăng; Yên vương Hàn Quảng làm Liêu Đông vương; Tề
vương Điền Thị làm Giao Đông vương; Điền Đô làm Tề vương đóng đô ở Lâm Tri; Điền
An làm Tế Bắc vương đóng đô ở Bắc Dương.
Nam Trịnh là đất hoang
vu, đường đi lại rất cheo leo hiểm trở, chỉ độc nhất mỗi con đường Sạn đạo nên
Lưu Bang không muốn nhận đất phong, Trương Lương phải thuyết phục nhiều lần ông
ta mới ưng chịu. Trong khi vua tôi Lưu Bang kéo nhau vào đất Ba Thục thì nội bộ
của Hạng Võ cũng không yên ổn, các chư hầu hết sức bất mãn về việc phân phong
nên sau khi về tới đất phong thì một số liền nổi dậy chống lại Hạng Võ. Đã quá
thoả mãn với ngai vị của mình, Hạng Võ đóng đô ở Bành Thành không còn nghĩ đến
việc chinh phạt nữa. Tuy nhiên để đề phòng Lưu Bang, ông ta cũng sai ba hàng tướng
Tần là Chương Hàm, Đổng Ế và Tư Mã Hân phải tích cực trấn giữ Tam Tần.
Những sự việc sai lầm của
Hạng Võ khiến một viên tướng nhỏ là Hàn Tín bất mãn, lẻn trốn đến Ba Thục đầu
quân với Lưu Bang và được phong làm “Phá Sở Đại Nguyên soái”. Nhờ tài trí của
Hàn Tín, quân hán lập kế “Minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương” bất ngờ theo đường
nhỏ tiến ra Quan Trung, liên tiếp đánh bại ba hàng tướng trấn Tam Tần, thẳng tiến
đến Hàm Dương.
Thừa thế Lưu Bang sai Hàn
Tín đem quân đi đánh các nước chư hầu như Ngụy, Tề, Triệu, đến đâu danh tướng
này cũng đều chiến thắng. Cùng lúc ấy Lưu Bang lấy cớ là báo thù cho Hoài
vương, tiến quân tấn công Bành Thành. Lúc ấy Hạng Võ còn đang bận ở nước Tề, vội
vàng sai Chung Ly Muội và Long Thư ở lại tiếp tục đánh phá, còn mình thì dẫn đại
quân về Bành Thành. Khi còn cách 30 dặm. Hạng Võ oai phong viết chiến thư đưa
sang thách thức Lưu Bang.
Ngay trận đầu Hạng Võ đã
tỏ oai phong, hét lên một tiếng lớn khiến Tư Mã Ngang đã về đầu hàng Hán vương
kinh sợ đến nỗi ngã xuống ngựa, bị Hạng Võ xông đến đâm cho một thương chết tốt.
Thấy hai tướng cũng của mình là Thân Dương và Trương Nhĩ hợp sức cùng đánh, Hạng
Võ cả giận một mình đấu với hai tướng, rốt cuộc giết được Thân Dương, còn
Trương Nhĩ chạy thoát. Thừa thắng quân Sở tràn lên đánh giết quân Hán một trận
tơi bời.
Trận thứ nhì tuy Hán
vương đã điều động nhiều tướng giỏi ra đánh nhưng vẫn không thể chống nổi với sức
mạnh kinh người của Hạng Võ, quân Hán đại bại lần nữa, máu chảy thành sông. Lưu
Bang chạy trối chết về thành nhưng hai hàng tướng là Tư Mã Hân và Đổng Ế một lần
nữa trở mặt, mở cửa thành đón Hạng Võ vào mất rồi. Lưu Bang rụng rời cả tay
chân, tìm đường nhỏ chạy thục mạng Lưu Bang tưởng đâu đã bỏ mạng khi bị quân của
Đinh Công chặn đường. May sao Đinh Công vốn rất hâm mộ Lưu Bang, chỉ đường cho
ông ta chui xuống một cái giếng cạn bên góc rừng mới thoát thân.
Hạng Võ không giết được
Lưu Bang nhưng thấy toàn quân của đối phương đã tan vỡ thì không truy sát nữa,
mấy hôm sau tiếp tục đem quân đi đánh nước Tề. Với tài sức vô cùng anh dũng, chẳng
bao lâu Hạng Võ đã tiêu diệt xong nước Tề, để một tướng ở lại trấn thủ, còn bao
nhiêu kéo về Bành Thành an dưỡng, chờ sau khi quân tướng khỏe mạnh sẽ tiến đánh
tiêu diệt Hán vương Lưu Bang bằng được.
Khi đã chấn chỉnh xong
quân mã, Hạng Võ không quên được đối thủ khó chịu đang cản trở việc thống trị
thiên hạ của mình, lập tức điểm quân tiến đến Huỳnh Dương. Tiếc rằng lúc đó
Tiêu Hà đã tăng viện thêm cho Lưu Bang mấy vạn quân, đồng thời chuyển vận lương
thảo đầy đủ nên mấy lần Hạng Võ tiến đánh mà không thành công. Sau đó Hạng Võ lại
dùng mưu kế sai Tôn Thúc Thông trá hàng làm nội ứng nhưng rốt cuộc cũng bị
Trương Lương và Trần Bình nhìn ra, chém đầu Tôn Thúc Thông. Trong chiến dịch
này Hạng Võ không cho Phạm Tăng theo quân nên khi nghe tin Tôn Thúc Thông bị giết
thì chán nản nói với các tướng:
– Mưu kế dùng Tôn Thúc
Thông làm nội ứng của ta hỏng mất rồi. Nếu cứ chần chừ ở đây mãi, Hàn Tín kịp
đem quân về chiếm Bành Thành thì ta nguy mất, phải mau rút về thôi.
Long Thư lo lắng nói:
– Tất nhiên là phải rút
quân nhưng chỉ sợ quân Hán sẽ thừa cơ truy kích. Cần phải có kế sách vẹn toàn mới
được.
Hạng Võ nghe theo, mỗi
ngày cho một ít quân lặng lẽ rút lui nhưng đồng thời vẫn đánh trống phất cờ như
cũ. Nhờ vậy quân Sở rút đi êm thắm, khi Hán vương Lưu Bang biết tin thì quân Sở
đã đi khá xa rồi. Hạng Võ về đến Bành Thành kể lại cho Phạm Tăng nghe mọi chuyện.
Phạm Tăng liền đập tay xuống bàn than lớn:
– Thôi rồi, Đại vương đã
trúng kế của Trương Lương rồi vậy. Cái tin Tôn Thúc Thông bị chém đầu chính là
để Đại vương rút quân, hắn chưa chết đâu. Hạng Võ hết sức tức giận nhưng vẫn
còn lo ngại Hàn Tín mạng quân về kịp nên đành nuốt giận hạ lệnh cho ba quân xếp
giáp nghỉ ngơi.
Một thời gian sau Hạng Võ
nghe tin Hàn Tín đã bình định xong nước Yên, sửa soạn kéo quân đánh nước Tề thì
rất kinh sợ, bàn với Phạm Tăng tiến đánh Huỳnh Dương lần nữa để trừ hậu họa. Được
sự tán đồng của Phạm Tăng, Hạng Võ liền điểm 10 vạn quân mã rầm rộ kéo đến
thành Huỳnh Dương. Lưu Bang nghe tin cũng hốt hoảng bởi vì lực lượng của Hạng
Võ còn hùng hậu hơn lần trước nhiều lần, Trần Bình liền hiến kế sách:
– Quả nhiên chúng ta
không thể chống với Hạng Bá vương nổi. Theo thần thì phải dùng kế ly gián, tức
là loại trừ Phạm Tăng trước. Hạng Bá vương tuy sức địch muôn người nhưng hữu
dũng vô mưu, không có Phạm Tăng trước sau gì cũng thất bại.
Lưu Bang rất mừng, lập tức
trao cho Trần Bình bốn vạn nén vàng để thi hành. Trước tiên, Trần Bình thuê nhiều
người phao tin đồn rằng Chung Ly Muội, Long Thư lập công lớn mà không được Hạng
vương ban phong đất đai, vì vậy trong lòng muốn thông đồng với Hán vương, hợp sức
đánh Sở. Lời đồn này đến tai Hạng Võ, ông ta đâm ra hoang mang, vì vậy khi bao
vây thành Huỳnh Dương không cho bất cứ tướng nào theo hầu, một mình cưỡi ngựa
quanh thành dò xét tình hình.
Vì bị nghi ngờ nên hầu hết
các tướng Sở đều không hết lòng chiến đấu, do vậy công phá luôn 7 ngày vẫn
không thành công. Đợi đến lúc đó, Trần Bình mới tiếp tục thi hành kế sách ly
gián, sai Tùy Hà làm sứ giả đến quân doanh Sở thương lượng cắt đất giải hòa. Hạng
Võ đang lúc phân vân, nghe vậy ý muốn bằng lòng nhưng Phạm Tăng can ngăn, nói:
– Đây là do Đại vương tiến
đánh quá dữ dội nên Hán vương mượn cớ cầu hòa để củng cố lực lượng đó thôi. Xin
Đại vương chớ nghe lời dối trá của bọn chúng mà hãy đốc thúc đánh thành mạnh
hơn nữa tất đoạt được ngay.
Hạng Võ không biết nên
tính ra sao, cho Tùy Hà về trước rồi sẽ cho sứ giả vào thành trả lời sau. Lợi dụng
cơ hội ấy, khi sứ giả của Hạng Võ là Ngu Tử Kỳ vào thành thì Lưu Bang theo kế của
Trần Bình, sai người bày tiệc hết sức linh đình nhưng lúc Ngu Tử Kỳ đến dự tiệc
thì Trần Bình và Trương Lương đứng ra cho biết Hán vương đêm qua uống rượi quá
say không tiếp kiến ngay được.
Trần Bình chợt hỏi:
– Phạm quân sư lâu nay vẫn
mạnh khỏe phải không? Ông có dặn gì riêng cho ngài thì cứ cho tôi biết cũng được?
Ngu Tử Kỳ ngơ ngác không
hiểu, sau đó chau mày đáp:
– Tôi là sứ giả của nước
Sở, đâu phải người của Phạm quân sư mà các ông hỏi lạ vậy?
Trần Bình và Trương Lương
vờ nhìn nhau kinh ngạc rồi giả như ghé tai nhau nói nhỏ, thật sự là vừa đủ cho
Ngu Tử Kỳ nghe được:
– Tưởng là người của Phạm
quân sư nên mới bày tiệc lớn thế này. Hóa ra không phải mất rồi.
Sau đó hai người quay đi
ngay, sai gia nhân đưa Tử Kỳ đến một căn phòng chật hẹp, cơm nước dọn lên rất tầm
thường khiến Tử Kỳ vô cùng thẹn thùng. Hôm sau nghe tin Hán vương đã tỉnh táo,
Ngu Tử Kỳ sợ mất thời gian, vội vã đến thẳng quân doanh xin tiếp kiến. Viên
quan hầu cận cho biết Hán vương chưa sửa soạn xong, dẫn Tử Kỳ vào một căn phòng
rất kín đáo ngồi chờ. Mãi không thấy Hán vương ra tiếp kiến, Ngu Tử Kỳ đi quanh
một vòng, chợt thấy bức thư nằm lấp ló dưới quyển sách thì tò mò rút ra đọc thử.
Thư viết rất ngắn: “Hạng vương không được thiên hạ tâm phục, thế lực yếu dần. Đại
vương đừng chấp nhận giải hòa, hãy mau chóng gọi Hàn Tín về giúp sức đối địch,
phía trong đã có chúng tôi làm nội ứng. Số vàng mà Đại vương ban cho quyết
không dám nhận”.
Bức thư để trống không ký
tên nhưng Ngu Tử Kỳ đọc xong thì liền liên tưởng ngay tới những lời đồn đại gần
đây, lén giấu mật thư vào túi rồi trở về chỗ cũ ngồi như trước. Lúc đó Hán
vương mới đăng triều, mời Ngu Tử Kỳ vào bàn bạc vớ vẩn vài câu là cho sứ giả về
ngay. Ngu Tử Kỳ lập tức yết kiến Hạng vương trình bày mọi việc. Hạng vương đọc
xong bức mật thư thì bừng bừng sát khí, quát lớn:
– Tên giặc gì ấy đã bất
mãn ta từ lâu, quả nhiên nay dám giở trò nội ứng, định làm phản thì ta quyết
không thể tha chết cho hắn được.
Ngu Tử Kỳ cố gắng khuyên
giải, cho rằng bức mật thư không đề tên tuổi rõ ràng thì chưa có chứng cứ, xin
Hạng vương giấu kín để điều tra cho minh bạch rồi hãy có quyết định sau. Nghe vậy
Hạng vương giảm bớt cơn giận. Thế nhưng Phạm Tăng có nhiều tai mắt, lập tức
nghe biết chuyện này, tự mình vào yết kiến Hạng vương để thanh minh. Chờ Phạm
Tăng thanh minh xong, Hạng vương đáp thõng:
– Ngu Tử Kỳ là kẻ thân
tín của ta, đời nào lại đi nói dối!
Phạm Tăng nghe vậy biết rằng
khó có thể lay chuyển được tâm ý của Hạng vương nữa rồi bởi vì ông ta gần như
không thèm nghe lời của mình vào tai, đành xin được về quê an dưỡng tuổi già,
sau đó vì quá uất ức chết trên đường đi, thọ được 71 tuổi.
Sau đó Hạng Võ mới nhận
ra mình đã trúng kế ly gián, lập tức tiến quân đánh rất dữ. Lúc ấy Hạng Võ cũng
sai quân tướng chia nhau ra đánh chặn các đường tiếp tế khiến trong thành hết sức
khôn đốn. Cuối cùng Trần Bình phải đưa ra kế sách khác, thuyết phục một viên tướng
có diện mạo khá giông Lưu Bang là Kỷ Tín đóng giả Hán vương. Nhờ vậy quân Sở ùn
ùn kéo đến bao vây chiếc xe do Kỷ Tín mặc hoàng bào ngồi phía trong, Lưu Bang mới
thừa cơ lẻn ra phía sau tẩu thoát.
Hạng Võ liền sai Quý Bá
và Long Thư dẫn quân truy kích, luôn ba ngày ba đêm không nghỉ nhưng Lưu Bang
đã chạy đến Thành Cao mất rồi, đành phải dẫn quân trở về báo lại. Hạng Võ nghe
vậy hết sức tức giận, tạm hoãn việc đánh Thành Cao, dồn lực lượng chiếm thành
Huỳnh Dương. Khi ấy trong thành vẫn còn hai tướng nhà Hán là Trung Thu và Chu
Hà cố thủ, chém đầu Ngụy Báo làm hiệu lệnh nên quân sĩ liều chết giữ thành, 10
ngày sau vẫn đứng vững như đồng.
Khi ấy không còn Phạm
Tăng, Hạng Võ phải đưa thúc phụ là Hạng Bá lên làm Quân sư. Hạng Bá liền xin cứ
quyết đánh thì mới thành công được. Hạng Võ nghe theo, hạ lệnh cho quân sĩ nếu
lui về thì chém đầu. Do vậy quân Sở không còn cách nào khác là phải tử chiến,
cuối cùng hạ được thành, bắt sống cả Trung Thu lẫn Chu Hà đem chém đầu làm
gương. Khi xong việc, Hạng Võ theo kế sách của Hạng Bá, vỗ yên dân chúng Huỳnh
Dương, đồng thời tiến quân bao vây Thành Cao, tiến quân đánh cả bốn mặt.
Thế nhưng đúng lúc ấy
quân của Vương Lăng đang đánh Bành Thành và quân của Anh Bố cũng đang kéo về
nên phải theo lời khuyên của Hạng Bá chia quân ra đón đỡ hai đường kia, đồng thời
vẫn tiếp tục tiến đánh Thành Cao. Mấy lần Hán vương Lưu Bang cho gọi quân của
Hàn Tín về cứu giá nhưng không được hồi âm, bất đắc dĩ đang đêm phải lén trốn
ra khỏi thành, đến nước Triệu mà trách cứ Hàn Tín. Đó là thời điểm năm 204 trước
Công nguyên.
Thế nhưng Lưu Bang không
dám cách chức của Hàn Tín, chỉ mắng vài lời rồi xuống lệnh đi đánh nước Tề. Với
tài cầm quân tài ba của ông, chỉ trong một thời gian ngắn đã tiêu diệt được
quân đội nước Tề. Hạng Võ nghe tin thì thất sắc, sai Long Thư và Chu Lan điểm 3
vạn quân mã cấp tốc đi cứu Tề vương. Chẳng may Long Thư quá kiêu ngạo, không
nghe lời khuyên của Chu Lan nên trúng kế ngăn nước sông Duy thủy của Hàn Tín, bị
Tào Tham chém rơi đầu. Lúc ấy Hạng Võ đã cho quân đến đất Bái bắt toàn bộ gia
quyến của Lưu Bang, nên thấy Hàn Tín đã ổn định được nước Tề thì liền sai hợp
quân cùng mình tiến đánh Hạng Võ.
Lần này Lưu Bang thu phục
được viên tướng người Thổ Phiên là Lâm Phiền, có thân hình cao to, mặt mày hung
hãn, sức mạnh muôn người không địch lại nên mới ra trận đầu đã đánh tan tành
quân Sở. Hạng Võ nghe vậy hết sức tức giận, quát mắng các tướng:
– Chỉ là một tên Thổ
Phiên mà các ngươi không địch nổi thì còn mong gì chiếm hết thiên hạ?
Mắng xong tự thân Hạng Võ
đem quân đến đấu với Lâm Phiền. Được mấy hiệp quả nhiên Lâm Phiền không sao địch
nổi Hạng Võ, phải quay ngựa bỏ chạy. Hạng Võ quyết đuổi theo nên Lâm Phiền toan
tính sẽ quay người bắn ngược lại một mũi tên. Thế nhưng Hạng Võ nhìn thấy, quát
một tiếng như sấm nổ. Lâm Phiền ghê gớm như vậy mà cũng bị tiếng quát làm run rẩy
cả tay chân, vội vàng quất ngựa bỏ chạy. Thấy Hạng Võ quyết đuổi theo, Lưu Bang
phải thân cùng các tướng kéo binh ra cứu trợ, Lâm Phiền mới chạy thoát. Thế
nhưng vì việc này mà Lưu Bang bị trúng tên, tuy chỉ bị thương nhưng về khi lên
ngôi Hoàng đế rồi, vết thương tái phát mà chết. Tuy thắng trận nhưng Hạng Võ
cũng biết tình thế chưa thể đại thắng, cho quân rút rút lui. Lưu Bang bị vết
thương ấy hành hạ mê man, cụng phải lui về Thành Cao nhờ Hàn Tín giúp sức.
Sau khi chỉnh đốn quân mã
xong Hàn Tín đem đại quân đến thách chiến với Hạng Võ. Thấy thanh thế của Hàn
Tín rất mạnh, Hạng Võ liền dùng Thái công, phụ thân của Lưu Bang ra làm điều kiện
quân Hán phải lui binh. Thế nhưng Lưu Bang theo lời của Trần Bình, nói với sứ
giả nước Sở:
– Ta và Hạng Võ đã kết
nghĩa anh em, phụ thân của ta cũng là phụ thân của hắn. Nay muốn giết hay muốn
nuôi dưỡng là tùy ý.
Vì việc này Hạng Võ rất bối
rối, bất đắc dĩ phải đem quân đối chiến. Trận đánh này hết sức dữ dội bởi hai
bên đều có danh tướng tài ba xuất trận, Hạng Võ giao chiến với Hàn Tín, các tướng
nhà Hán giao chiến với các tướng Sở, tiếng quân reo ngựa hí vang trời động đất.
Hạng Võ quả nhiên là thần tướng, đến như Hàn Tín đánh vài hiệp đã bủn rủn tay
chân, thúc ngựa bỏ chạy. Hạng Võ thúc ngựa đuổi theo, khi đến chân núi Quảng Vũ
thì không thấy Hàn Tín đâu nữa. Chung Ly Muội vội ngăn cản, nói:
– Hàn Tín vốn là người đa
mưu túc kế. Vì vậy nếu bại trận chắc cũng đã bố trí đâu đó sẵn sàng. Nếu như Đại
vương tiến vào đây là lối đi độc đạo thì e rằng có phục binh sẽ không còn đường
thoát.
Hạng Võ nghe theo, cho dừng
quân chứ không đuổi theo. Quả nhiên quân Hán mai phục thấy vậy liền nổ pháo hiệu
xông ra, ba mặt bao vây. Thấy quân tướng Sở đều kinh hoảng, Hạng Võ liền tức giận
nói lớn:
– Ta từ khi cưỡi ngựa chiến
chinh đến nay giết hàng chục vạn quân sĩ, chém đầu hàng chục tướng địch. Bây giờ
đã có ta thì các ngươi còn sợ hãi gì nữa, mau xông lên đánh bại quân Hán cho
ta.
Nói xong chính Hạng Võ tiến
lên trước, tả xung hữu đột đánh phá khiến quân Hán vô cùng kinh sợ, phải dạt
qua hai bên thành một lối thoát nhỏ. Thấy Hạng Võ sắp ra khỏi trận địa, phía
quân Hán sai Anh Bố, Lâm Phiền, Tào Tham, Sài Vũ cùng lượt xông ra; phía quân Sở
các danh tướng như Chung Ly Muội, Hoàn Sở, Quý Bá cũng xông lên đấu chiến kịch
liệt khiến bụi đất tung bay mù mịt cả một vùng. Hai bên đấu nhau đến khi trời sụp
tối thì quân Sở yếu thế hơn, Hạng Võ đành phải dẫn quân theo đường núi mà chạy.
Chẳng ngờ Hàn Tín đã sắp đặt sẵn dùng hỏa công đánh phá khiến quân Sở chết thôi
vô số.
Thấy quân mình đang thắng
thế, tướng Thổ Phiên là Lâm Phiền hung hăng thúc ngựa thẳng vào trung quân, định
giết Hạng Võ lập công. Tuy đang thất thế nhưng Hạng Võ vẫn còn uy phong hơn người,
hét lên một tiếng vang trời rồi vận lực chém Lâm Phiền một đao đứt làm hai đoạn.
Cùng lúc ấy hai tướng Chu Ân và Hoàn Sở đánh bọc hậu phía sau quân Hán mới dưa
Hạng Võ ra khỏi vòng vây, thu góp tàn quân đóng trại nghỉ ngơi. Tuy trận này
Hàn Tín thắng trận nhưng đó là nhờ vào một loạt mưu kế bày sẵn, trong khi đó Hạng
Võ thất thế mà vẫn đánh giết được khá nhiều quân tướng nước Hán thì đủ biết sự
dũng mãnh của ông ta thật kinh người.
Hai bên nghỉ ngơi xong lại
tiếp tục bày trận giao chiến. Lần này Hạng Võ tưởng như đã chết không còn đường
nào thoát thân, bất ngờ tự nhiên quân Hán đại loạn vẹt ra thành một con đường
trống, Hạng Võ theo đó mà chạy về doanh trại. Hóa ra là do công của các tướng
Quý Bá, Chu Lan, Chu Ân và Chung Ly Muội đồng lòng phá trận. Hạng Võ liền hỏi
thế trận kỳ lạ của Hàn Tín là gì thì Chu Lan thưa:
– Hạ thần trước kia theo
học trận thế của Lý Thiếu ở Hoa sơn, biết đó là trận Thái Ất chia làm nhiều cửa
sinh tử, âm dương, nên liền cùng các tướng đánh vào cửa sinh, may mắn mới cứu
được Đại vương.
Hạng Võ hết lời khen ngợi,
ban tặng cho Chu Lan một chén ngự tửu rồi lập mưu đem Thái công ra làm áp lực với
Hán vương. Tuy đã được Hạng Bá lén giúp đỡ nhưng Lưu Bang vẫn biết đó chỉ làm tạm
thời, nghe theo lời Trương Lương chấp nhận nghị hòa. Thật sự Hạng Võ đang có phần
thắng thể nhưng tự nghĩ: “Ta cùng với quân Hán đã nhiều phen giao tranh, đôi
bên đều thiệt hại nặng nề. Thêm vào đó bây giờ quân tướng cũng đã quá mỏi mệt,
lương thực thiếu thốn, chi bằng tạm thời hòa hoãn, lúc nào đánh mà chẳng được?”.
Vì vậy Hạng Võ quyết định
cho Hán vương giải hòa, lấy đất Hồng Câu làm ranh giới. Sau đó Hạng Võ giữ đúng
lời hứa, giao vợ chồng Thái công về cho Hán vương Lưu Bang. Thế nhưng khi đã cứu
được phụ thân, Lưu Bang lại trở mặt cho quân tiếp tục đánh chiếm các đất bên
kia ranh giới. Hạng Võ cũng đã sẵn sàng, lập tức cho hội quân ở cố Lăng, viết
chiến thư hẹn ngày tái đấu.
Hán vương Lưu Bang không
ngờ Hạng Võ lại sửa soạn mau chóng như vậy, lại còn thách chiến tức là hùng khí
vẫn còn mạnh mẽ nên hơi kinh hoảng, lập tức viết thư gọi Hàn Tín mang quân trở
về. Chẳng ngờ Hạng Võ nói là làm ngay, chưa thấy quân tiếp viện đâu thì quân Sở
đã chiếm luôn mấy thành. Hán vương Lưu Bang đành theo kế của Trương Lương án
binh bất động, lấy tĩnh chế động.
Mấy ngày sau Lưu Bang lại
nghe theo lời của Chu Lan, cho mấy tướng đem quân giao chiến thử xem thực lực của
quân Sở mạnh yếu thế nào. Chẳng ngờ Hạng Võ rất hùng dũng, một mình giao chiến
với mấy tướng Hán mà vẫn thừa sức đuổi họ chạy dài. Lưu Bang phải cho Ngạn Hấp
dẫn một lúc 10 viên tướng ra đánh chặn lại. Dù vậy quân Hán cùng đại bại, chết
rất nhiều, các tướng Hán đành phải chạy về thành Cố Lăng không dám ra đấu chiến
nữa.
Một lần nữa Hán vương đại
bại dưới tay của Hạng Võ, phải lén thừa cơ quân Sở bất ý, đánh phá một đường
thoát thân, chạy về Thành Cao. Khi nào Hạng Võ lại bỏ qua việc này, kéo hết
binh mã đến vây đánh Thành Cao, nhưng sau 3 ngày thì quân lương thiếu thốn, phải
tự rút lui.
Thấy thế quân của mình
không sao chống nổi với sức mạnh thần dũng của Hạng Võ, Hán vương Lưu Bang vô
cùng lo lắng, triệu các mưu sĩ lại bàn bạc. Trương Lương liền hiến kế phong chức
cho các tướng ở xa, rồi sau đó gọi họ về hợp binh. Khi đã được làm Vương và có
đất phong riêng, các tướng ấy tất sẽ đồng lòng đánh Sở. Như vậy mới có thể tiêu
diệt được Hạng Võ hoàn toàn.
Hán vương nghe theo,
phong cho Hàn Tín làm Tam Tề vương, cai trị Lâm Tri và 9 quận huyện; Bành Việt
làm Đại Lương vương cai trị đất Lương; Anh Bố làm Hoài Nam vương cai trị đất
Hoài Nam. Chính Trương Lương đích thân cầm sắc phong đi đến các đất chư hầu và
nhân cơ hội ấy thuyết phục họ đem hết quân sĩ đến hội họp, quyết đánh một trận
cuối cùng với Hạng Võ. Nghe tin Hán vương đã hội tụ đến 100 vạn quân, Hạng Võ
thất kinh, nghĩ đến lời khuyên của Phạm Tăng là phải giết Lưu Bang thì vô cùng
hối hận. Tiếc rằng một lần nữa Hạng Võ tính toán sai lầm, thay vì phải khôn
khéo phủ dụ gọi quân của Chu Ân ở Giang Đông về tiếp trợ thì lại sai Lý Ninh
đem hai đạo hịch văn đi triệu Chu Ân, đồng thời chiêu tập số quân mã ở Giang
Đông. Trong hịch văn lời lẽ rất ép buộc nên Chu Ân bất mãn quyết định không
tuân lệnh.
Việc này làm cho Hạng Võ
hết sức tức giận nhưng ngay lúc ấy Thái thú Cối Kê là Ngô Đan đem quân đến kết
hợp, tính ra được hơn 50 vạn nên tạm thời Hạng Võ không tính đến việc trừng trị
Chu Ân nữa. Hàn Tín cũng biết tin này, tính toán hai bên số lượng quân tướng
khá ngang bằng, khó có thể trong một trận mà giết được Hạng Võ nên bàn với Lý Tả
Xa lập mưu dụ Hạng Võ vào chỗ chết. Lý Tả Xa bằng lòng, đến quân doanh của Hạng
Võ trá hàng, sẽ tìm lời ngon ngọt dẫn dụ quân Sở lọt vào thế trận mai phục.
Thời điểm này là mùa thu
năm 202, đại quân của Hán vương kéo ra khỏi Thành Cao, đến núi Cửu Lý thì hạ trại.
Hạng Võ đang tính đem đại quân đánh luôn thì Chu Lam khuyên can nên nghe theo,
tạm thời án binh bất động. Tiếc rằng Lý Tả Xa là gian tế, thấy vậy liền tranh
cãi với Chu Lan, cho rằng phải tiến quân ngay mới xứng mặt anh hùng. Hạng Võ bị
đánh trúng vào điểm yếu, quyết định xuất binh, không nghe lời của Chu Lan nữa.
Đúng lúc xuất quân, đột nhiên có một cơn cuồng phong rất mạnh, cuốn gẫy cây đại
kỳ ở Trung quân. Các tướng Sở đều cho đó là điềm chẳng lành, xúm lại tâu xin Bá
vương tạm thời đừng xuất quân. Hạng Võ liền cười mà nói với các tướng:
– Trước kia Vũ vương xuất
quân đi phạt Trụ vương cũng xảy ra việc quân kỳ bị gió cuốn gẫy. Khương Thái
công cho đó là việc tự nhiên của trời đất, khuyên Vũ vương cứ động binh, rốt cuộc
thành công. Nay ta là một danh tướng không ai địch lại, quân mã cũng hùng
tráng, lại rầm rộ kéo đi muôn người đều biết. Sao lại có thể vì chuyện nhỏ nhặt
ấy mà dừng binh được?
Lý Tả Xa cũng nhân vậy
dùng lời lừa dối là Hàn Tín đang định đem quân trở về, còn Hán vương thiếu
lương thực phải đưa một số quân tướng về Thành Cao rồi. Nghe vậy Hạng Võ lại
càng quyết tâm, nhất định cho đại binh tiến phát, ai ngăn trở sẽ bị chém đầu.
Chẳng ngờ khi đã bày binh bố trận thì đột nhiên Lý Tả Xa cùng bọn tùy tùng trốn
đi hết. Lúc ấy Hạng Võ mới biết mình đã trúng kế của Trương Lương nhưng đã lỡ
đem binh đến nơi, mặt mũi nào rút lui. Hạng Võ liền cắt đặt Chung Ly Muội thống
lĩnh 3 vạn quân đóng ở phía tả; Quý Bá thống lĩnh 3 vạn quân đóng ở phía hữu;
Hoàn Sở làm Tiền quân, Ngu Tử Kỳ đi hậu hợp.
Với thế trận nghiêm minh
chặt chẽ của quân tướng nước Sở, thật khó lòng đánh phá nổi nên Hàn Tín lại xin
đích thân Lưu Bang ra trận, dùng những lời xấc láo mới dẫn dụ Hạng Võ vào chỗ
chết được. Lưu Bang nghe theo.
Hai bên dàn trận xong
xuôi lập tức nổi trống khua chiêng tiến đánh luôn mấy trận, hầu hết Hạng Võ đều
thắng thế bởi không có tướng nào của nhà Hán địch lại. Ngay lúc ấy Lưu Bang xuất
hiện, từ trên gò cao mắng chửi xuống khiến Hạng Võ hết sức tức giận, lận tức đuổi
theo. Quý Bá quan sát hai bên hình như có quân Hán mai phục thì kinh hoảng thúc
ngựa chạy theo Hạng Võ, lớn tiếng kêu gọi:
– Lưu Bang bỏ chạy mà
quân sĩ vẫn còn đứng lại thì là mưu kế của Hàn Tín đó.
Hạng Võ nghe được, giật
mình quay ngựa lại ngay. Thế nhưng đến lượt Lý Tả Xa xuất hiện, vừa cười khanh
khách vừa đưa ra lời bỡn cợt khiến Hạng Võ nổi giận đỏ bừng cả mặt, không sao kềm
hãm được nữa, thúc con ngựa Ô Truy phóng tới như bay. Lý Tả Xa đã tính toán sẵn
đời nào để Hạng Võ bắt được, lượn lờ một hồi đột nhiên biến vào đâu mất. Hạng
Võ còn đang ngơ ngác thì từ bốn phía quân Hán ầm ầm để ra, tên cũng bắn như
mưa.
Hạng Võ cùng với Chung Ly
Muội và Quý Bá hết sức xung phá vòng vây, giết hết lớp này đã có lớp kia xông
lên, càng đánh càng thấy quân Hán hình như nhiều hơn chứ không vơi đi chút nào.
Hạng Võ nhìn xa xa thấy có cờ hiệu của Hàn Tín đi tới thì than dài:
– Lần này ta khó mà thoát
được.
Lâm vào hoàn cảnh sinh tử,
Hạng Võ vận hết thần lực, hét lên một tiếng rồi múa đao đánh tả chém hữu, giết
vô số quân tướng nhà Hán. Thế nhưng ông liếc mắt nhìn lại, chung quanh mình chỉ
còn hai tướng và mấy ngàn quân, người nào cũng máu me đầy mình thì không khỏi
chán nản. May sao lúc đó Chu Lan dẫn quân đến kịp thời, hợp cùng với Hạng Võ,
Quý Bá và Chung Ly Muội mở một con đường máu chạy về tới doanh trại. Lúc ấy trời
đã tối, quân sĩ vừa định dâng thức ăn lên thì Hạng Võ lại nghe Ngu Tử Kỳ báo
tin là Bành Thành đã bị chiếm. Ngu Tử Kỳ cũng khuyên Hạng Võ nên đến Kinh Sở, Hồ
Tương tạm đóng quân, nghe ngóng xem tin ấy có đúng không. Hạng Võ nhất định
không nghe, cùng đại quân suốt đêm chạy về Bành Thành. Khi đến Tiêu quận, nhìn
lên đã thấy cờ Hán bay phấp phới. Hạng Võ nghiến răng tức hận, nói với các tướng:
– Từ khi ta khởi binh cho
đến nay cũng có thắng có thua nhưng chưa bao giờ nặng nề nhục nhã như ngày hôm
nay. Ta quyết đến Bành Thành tử chiến mấy trận nữa để khỏi mất danh tiếng.
Tiếc rằng Bành Thành đã
thất thủ thật chứ không phải tin đồn, Hạng Võ nghiến răng gầm lên như sấm rồi
quất ngựa Ô Truy chạy ngược về phía trận Cửu Lý. Lúc này ông đã gần như điên dại,
xông pha vào chỗ quân Hán huy động đại đao chém bừa bất kể đó là quân hay tướng.
Một mình Hạng Võ xông pha giữa muôn ngàn quân Hán giống như mãnh hổ đang vùng vẫy,
đi đến đâu đầu rơi máu chảy đến đó, thật là kinh khủng chưa ai được chứng kiến.
Kiểm điển lại, ngày hôm ấy Hạng Võ đấu chiến với hơn 60 tướng Hán mà sức lực vẫn
mạnh mẽ như thường. Cuối cùng quân Hán tuy đông mà cũng phải khiếp sợ tự lui dần.
Hạng Võ cũng không truy đuổi, rút quân về đóng trại, cùng đối ẩm với Ngu Cơ cho
vơi nỗi sầu thất trận.
Trong khi ấy Hàn Tín cùng
với Hán vương bàn soạn, cho rằng đến như thế vẫn không sao giết nổi Hạng Võ thì
thật không còn cách nào khác. Trương Lương liền trấn an, nói đêm nay sẽ thi
hành một kế làm cho quân Sở tự tan vỡ, không cần phải đánh. Khi ấy quân Tướng
nước Sở vì phải giao tranh suốt ngày, không thể mang lương thực theo nên ai nấy
đều đói khát, số thương vong rất lớn càng khiến cho không khí thêm bi thảm trầm
trọng.
Đêm hôm ấy lại là cuối
thu, ánh trăng mờ mờ vàng vọt chiếu xuống càng làm cho cảnh sắc thê lương ảo
não, chợt từ xa có tiếng tiêu vọng đến. Tiếng tiêu này là của Trương Lương, mỗi
lúc càng thêm bi ai khiến quân nước Sở bấn loạn cả tinh thần, ai nấy vô cùng
chán nản khi nghĩ đến gia đình đang chịu khổ nơi Bành Thành. Tiếng than vãn của
một người cất lên giống như làn điện, ai nấy đều sụt sùi. Ngay kúc đó tiếng
tiêu càng cất lên thánh thót bi ai, quân tướng nước Sở không còn chịu đựng được
nữa, thi nhau bỏ trốn, các tướng Sở cố gắng ngăn trở nhưng đành bất lực. Sáng
ra khi nghe báo lại, Hạng Võ không khỏi thất sắc, than dài:
– Đúng là số trời đã hại
ta rồi. Vận số nước Sở đến đây cũng chấm dứt.
Than xong, Hạng Võ một
mình một ngựa xông thẳng vào vòng vây tận lực đánh giết cho hả cơn đau lòng. Sức
mạnh của Hạng Võ quả là vô địch, đánh tan một lúc 8 vòng vây, thúc ngựa chạy thẳng
về hướng Giang Đông. Tiếc rằng đường lối không thông thuộc, lại bị một nông phu
ghét bỏ chỉ sai đường. Cuối cùng Hạng Võ rơi vào chỗ toàn là sình lầy, không
còn lối nào khác trong khi đại quân Hán vẫn truy đuổi sát sau lưng. Nếu như người
khác thì chắc chắn chết rồi, nhờ con Ô Truy rất thần diệu, lấy sức nhảy lên một
chỗ đất cứng, cầm đại đao chờ sẵn.
Một tướng Hán là Dương Hỷ
chạy đến, toan giết chết Hạng Võ lấy công đầu, liền bị ông ta giết chết. Thấy
quân Hán kinh sợ lùi lại, Hạng Võ liền thúc ngựa chạy đến một nơi gọi là Hưng
Giáo viện xin cơm ăn nước uống. Khi trời sáng, thấy quân Hán lại đuổi tới nơi,
Hạng Võ không còn hơi sức nữa, đành phải phóng ngựa bỏ chạy, đến bến Ô Giang
thì hết đường.
Không để bị nhục nhã, Hạng
Võ liền tự đâm cổ mà chết, khi đó mới được 31 tuổi, ngồi ở ngai vị Tây Sở Bá
vương được 5 năm. Theo chính sử thì bốn tướng Hán là Dương Hỷ, Dương Võ, Vương
Ê và Lã Thắng xúm nhau lấy thủ cấp của Hạng Võ đem về dâng công và đều được
phong hầu. Thế nhưng theo đồn đại thì Lưu Bang đã có hứa bất cứ ai lấy được
tính mệnh của Hạng Võ sẽ phong hầu. Vì vậy khi thấy Hạng Võ lâm vào đường cùng
kiệt sức, có đến 5 tướng Hán xúm lại đâm chém, chặt ông ra làm 5 mảnh, mạnh ai
nấy đem về lãnh thưởng. Lưu Bang cho sắp lại, thấy đúng đó là thi thể của Hạng
Võ , liền phong hầu cho cả 5 tướng.
Nếu quả như vậy thì cái
chết của ông quá bi thảm, làm cho hậu thế phải ngậm ngùi. Xét kỹ thì Hạng Võ hầu
như không thua trận nào nếu đối chiến trực diện, tất cả trận thua đều do bị
trúng kế của Trương Lương, Trần Bình hay Hàn Tín. Rõ ràng người tướng soái
ngoài võ nghệ cao cường, sức mạnh hơn người còn phải có trí tuệ dùng binh, biết
tiến biết lui đúng lúc.
6. HÀN TÍN - BÁCH CHIẾN
BÁCH THẮNG
Trong suốt chiều dài lịch
sử Trung Hoa, có rất nhiều danh tướng được gọi là “trăm trận không thua”, thí dụ
như Mã Viện, Nhạc Phi, v.v... Thế nhưng trong cuộc đời của các danh tướng ấy vẫn
có ít nhiều trận bị bại, tuy rằng với kinh nghiệm của mình họ đã không để tổn
thất quá nặng hoặc bắt buộc phải rút lui vì tình thế bất lợi. Riêng một danh tướng
mà hầu như hậu thế đều biết danh, đó là Hàn Tín thì không hề có chiến bại, rất
xứng đáng được gọi bằng “trăm trận trăm thắng”.
Hàn Tín là người Hoài Âm,
từ nhỏ ông đã tỏ ra là người ham thích võ nghệ, rất thích đọc binh pháp mặc dù
thân thể không cường tráng cao lớn. Vì xuất thân từ gia đình nghèo nên khi thiếu
thời Hàn Tín phải làm nhiều việc khó nhọc vất vả mưu sinh qua ngày. Có lúc ông
phải làm nghề đồ tể, mổ lợn đem bán ngoài chợ kiếm lời, cũng có lúc phải đi câu
cá qua ngày.
Vốn bản chất khá phóng
khoáng, lại lăn lộn nơi chốn giang hồ nên tính tình của Hàn Tín không câu nệ
vào những chuyện vụn vặt, cho rằng đã có chí lớn thì phải nhịn nhục vượt qua được
những khó khăn nho nhỏ. Nếu không vượt nổi chuyện nhỏ thì làm sao thành công việc
lớn. Do vậy trong thời gian nghèo khổ, Hàn Tín vẫn cố gắng tụ tập học hỏi về
binh pháp, không chấp nhất những lời chê bai đàm tiếu của những người chung
quanh. Khi mẹ qua đời, Hàn Tín không có tiền để lo việc tang, ông đành phải chọn
một chỗ cao rộng rãi, bên cạnh có một khoảng đất hoang làm nơi chôn cất cho mẹ.
Quan điểm nhịn nhục việc
nhỏ để mưu cầu việc lớn được Hàn Tín coi trọng, suốt đời lấy đó làm châm ngôn xử
thế. Kể cả khi đã bị Lưu Bang u mê bắt giam lỏng ở Hàm Dương, Hàn Tín vẫn cố nhẫn
nại, hy vọng Lưu Bang hồi tâm chuyển ý nhớ lại những công lao ngày trước. Cũng
vì vậy mà Hàn Tín rơi vào cái bẫy đơn giản của Lã hậu. Quan điểm này đã được
Trương Lương nhìn ra và âm thầm khuyên dụ ông về với Lưu Bang. Đó là lần Bá
vương Hạng Võ đã vào Hàm Dương tranh công với Lưu Bang. Hạng Võ muốn dời đô về
Bành Thành, cùng các quan bàn soạn nhưng bị quan Gián nghị là Hàn Sinh đứng lên
ngăn cản khiến Hạng Võ đâm tức, quát tháo:
– Hiện ta đã xưng Vương,
thích đóng đô ở đâu là tùy ý ta, có can gì mà người cứ lải nhải mãi thế?
Hàn Sinh vẫn không sợ,
dùng lời của Phạm Tăng ra cãi lại rồi ra trước cửa ngửa mặt lên trời than lớn:
– Người ta thường nói
“người nước Sở thật giống khỉ, khi tắm vẫn còn đội mũ”. Bây giờ ta mới nhận ra
câu nói ấy quả thật không sai.
Hạng Võ nghe được, nổi giận
lôi đình sai Hàn Tín khi ấy là Chấp Kích lang bắt Hàn Sinh bỏ vào vạc dầu trị tội.
Thấy Hàn Sinh vẫn lớn tiếng chê bai, Hàn Tín liền nói:
– Theo tôi thì ông đáng
chết trăm lần. Ông làm chức Gián nghị sao khi Bá vương giết Tống Nghĩa ông
không can gián? Khi Bá vương chôn sống 20 vạn hàng binh Tần sao không can? Khi
Bá vương giết Doanh Tử Anh, bốc mộ Tần Thủy hoàng, đốt cháy cung A Phòng, toàn
những việc tày trời sao chẳng thấy mặt mũi ông đâu. Chính ông tự làm cho Bá
vương quen tính ngông cuồng, bây giờ chỉ vì chuyện nhỏ mà gân cổ lên cãi bằng
được thì chết là đáng lắm rồi.
Lúc ấy Trương Lương đứng
gần nên nghe được lời đối đáp này, giật mình, nhận ra Hàn Tín đúng là nhân tài
mà Lưu Bang đang cần.
Thời gian ngắn mà Hàn Tín
làm nghề mổ lợn đem ra chợ bán có đụng chạm mối lái với bọn đồ tể, vì vậy bọn
chúng rất tức giận, cho là Hàn Tín cố ý cướp miếng cơm. Bọn này biết Hàn Tín có
võ nghệ, đi đâu vẫn kè kè thanh kiếm thì không dám gây sự, hùn tiền nhờ một tên
côn đồ khét tiếng ở đấy ra tay giùm.
Một lần kia, khi Hàn Tín
vừa mới ra chợ thì tên côn đồ tên là Đỗ Trung giả vờ để cho Hàn Tín đụng phải rồi
lớn tiếng mắng chửi, sau đó lại nhục mạ rất nặng. Thoạt đầu Hàn Tín cũng đã nổi
giận nhưng suy nghĩ một chút thì thấy hình như trong chuyện này có điều gì khuất
tất, dùng lời nhẹ nhàng giải hòa. Thế nhưng Hàn Tín cố nhịn bao nhiêu thì tên Đỗ
Trung càng hung hăng vô lối bấy nhiêu, cuối cùng dùng cách sỉ nhục tồi tệ nhất
là đứng dạng hai chân ra, cười vào mặt Hàn Tín rồi nói:
– Hàn Tín, ngươi là thân
trai tráng mà kiếm không đủ cơm ăn thì thật là hèn hạ, đã thế còn dám cầm kiếm
để khoe khoang nữa sao? Ngươi có gan giết người không? Nếu có thì hãy rút kiếm
ra đâm chết ta thử xem nào, bằng không thì hãy vất kiếm đi mà bò qua háng của
ta đây. Ta sẽ tha mạng cho ngươi.
Hàn Tín nghe vậy tức giận
đỏ bừng cả mặt nhưng suy nghĩ một lúc thì chẳng hiểu sao lẳng lặng cúi người bò
qua háng tên hàng thịt ấy. Cả chợ nhìn thấy đều cười chê Hàn Tín là người hèn
nhát. Duy nhất chỉ có một người tên là Hứa Phủ vốn giỏi nghề xem tướng, kéo Hàn
Tín ra một chỗ vắng nói:
– Tráng sĩ có tướng vương
hầu, tuy bây giờ khổ cực nhưng khi gặp thời cơ thì có thể phú quý tột bậc đấy,
bây giờ bất cứ chuyện gì cũng nên nhẫn nhục là hơn.
Hàn Tín cười nhạt, đáp:
– Tôi tài hèn sức mọn, đã
không kiếm đủ miếng ăn nuôi thân, giờ lại còn bị người khác nhục mạ thì nói đến
chuyện phú quý làm gì.
Hứa Phủ cố khuyên giải,
cho rằng nên nhẫn nhịn, chờ thời cơ thì tất sẽ có ngày nên danh phận, đừng vì
những việc nhỏ mà hại đến thân vô ích. Hàn Tín không nói gì nhưng lúc về nhà
suy nghĩ về lời nói của Hứa Phủ rất nhiều.
Không phải ai cũng ghét bỏ
Hàn Tín, ở gần đó có một người đàn bà làm nghề giặt thuê (Phiếu mẫu), thấy Hàn
Tín thường hay bị đói thì thỉnh thoảng lại dẫn về nhà cho cơm ăn. Hàn Tín rất cảm
ân nghĩa của Phiếu mẫu, có lần nói:
– Nếu sau này tôi làm nên
sự nghiệp thì sẽ đền ơn bà gấp trăm lần như thế này.
Phiếu mẫu mắng ngay:
– Ngươi sức vóc trượng
phu mà không nuôi nổi thân mình thì là kẻ bất tài. Ta thương tình cho ăn chứ có
mong gì đến sự đền ơn?
Hàn Tín nghe vậy rất buồn
nhưng cũng không dám cãi lại Phiếu mẫu. Hàn Tín cứ thế sống một cuộc đời vất vả
nhưng không bao giờ từ bỏ hoài bão của mình, càng ra sức đi mượn các sách viết
về binh pháp để học hỏi thêm. Vì quá hăng hái luyện tập kiếm pháp và võ nghệ,
thực phẩm không đủ bồi bổ nên từ một thân thể trai trẻ cường tráng, sau mấy năm
miệt mài rèn luyện Hàn Tín chỉ còn lại bộ dạng gầy ốm, quần áo cũng không được
lành lặn. May sao đang lúc tuyệt vọng thì Hàn Tín nghe tin Hạng Lương kéo đại
binh đến đóng ở sông Tứ Thủy, được các nhân sĩ và trai tráng thi nhau ra quy phục
rất nhiều. Khi ấy Hạng Lương kiểm điểm lại nhân mã, thân chỉ huy một đạo đóng ở
bờ sông Tứ Thủy làm thế ỷ giốc còn Hoài vương đóng đô ở Vu Thai, quần thần đông
đảo, quân sĩ kiêu hùng, lại được hào kiệt nhân sĩ bốn phương kéo đến đầu phục
nên thanh thế lẫy lừng một phương trời.
Hàn Tín cho rằng đây
chính là thời cơ của mình, tìm một bộ quần áo tốt nhất rồi đeo kiếm đến xin yết
kiến Hạng Lương. Nhìn thấy bộ dạng nghèo đói của Hàn Tín, Hạng Lương trong lòng
đã không muốn thu dụng nhưng may sao quân sư Phạm Tăng đứng gần đó liền nói:
– Người này chỉ vì sa cơ
nên mới tàn tạ như thế, thật ra tiềm ẩn rất nhiều thao lược, chớ nên bỏ qua. Vả
lại bây giờ đang là lúc chúng ta chiêu hiền đãi sĩ, nếu không thu nhận thì tất
hào kiệt bốn phương sẽ e ngại mà không chịu đến nữa đâu.
Hạng Lương nghe vậy bất đắc
dĩ phải nghe theo, cho Hàn Tín làm Chấp Kích lang sai khiến dưới trướng rồi sau
này cũng vẫn giữ chức ấy phục vụ cho Hạng Võ. Thực tế Chấp Kích lang chỉ là một
quân nhân cầm kích đứng hầu giống như một vệ sĩ, lương bổng không có bao nhiêu
và cũng chẳng quyền hành gì hết. Hàn Tín rất bất mãn, cho rằng họ Hạng đã không
trọng đãi mình nên chỉ làm tròn nhiệm vụ mà thôi, hầu như không bao giờ có ý kiến
về vấn đề chính trị. Chỉ riêng lúc đưa Hàn Sinh ra xử tử thì mới bức xúc bộc lộ
những suy nghĩ của mình từ những việc đã được chứng kiến khi theo hầu dưới trướng
họ Hạng.
Kịp đến khi Lưu Bang vào
Hàm Dương trước nhưng bị Hạng Võ dùng sức mạnh chiếm công, lại bắt Lưu Bang phải
đến phó hội Hồng Môn với ý định giết chết tại chỗ. Lúc ấy Hàn Tín mới có dịp
nhìn kỹ Lưu Bang và cho rằng đây mới chính là “chân chủ” mà mình đã tìm kiếm
bao nhiêu năm nay. Thế nhưng ông đang là quan chức của Hạng Võ, đành phải bí mật
giúp đỡ Lưu Bang thoát khỏi hang hùm. Hành động này của Hàn Tín không qua mắt
được Trương Lương và ông quyết định tự tìm gặp Hàn Tín thuyết phục, sau đó trao
cho bức thư tiến cử.
Đây là cơ hội tiến thân
nên Hàn Tín nhận thư rồi quyết định rời bỏ Hạng Võ ngay nhưng ông cũng còn đôi
chút băn khoăn nên ghé ngang qua chỗ của Trần Bình trò chuyện. Chưa kịp nói câu
gì, Trần Bình đã tươi cười nói ngay:
– Hôm nay ông đến nhà tôi
thì là chuyện lạ. Chắc là đã chọn được chân chủ rồi phải không?
Hàn Tín giật bắn cả người
nhưng cũng biết Trần Bình không hài lòng với Hạng Võ, bèn nói thật ý mình. Trần
Bình liền giúp Hàn Tín bằng cách lén cấp cho giấy thông quan, nhờ vậy mới ra khỏi
Hàm Dương dễ dàng. Khi Hạng Võ ra lệnh cho Chung Ly Muội đuổi theo thì Hàn Tín
đã vượt An Bình quan vào đất Tam Tần. Tuy đã có chỉ dẫn, thế mà Hàn Tín cũng phải
biết bao vất vả mới tìm đến được Bao Trung, một nơi hoang vu hiểm trở vốn là
nơi chốn lưu đày của các tù nhân của triều Tần trước kia.
Vào Bao Trung rồi, Hàn
Tín lập tức đến “Chiêu Hiền quán” xin gặp mặt Hạ Hầu Anh, thường được gọi là Đằng
công. Hàn Tín không vội đưa thư tiến cử của Trương Lương ra nhưng Hạ hầu Anh
nghe tên đã biết ngay đây là người anh hùng mà Lưu Bang rất cần tới. Tuy vậy Hạ
Hầu Anh vẫn thử thách tài nghệ Hàn Tín theo 13 đề mục treo trước cửa “Chiêu Hiền
quán”. Hàn Tín biểu lộ tài năng hơn người ở chỗ ngay lập tức ông đáp lại bằng
14 đề mục, đề mục thứ 14 gọi là “Đạo của người làm tướng”. Hạ Hầu Anh nghe xong
hết sức khâm phục, lập tức tiến dẫn Hàn Tín đến chỗ Tiêu Hà rồi hai người đồng
loạt đưa Hàn Tín yết kiến Lưu Bang. Chẳng ngờ Lưu Bang cười mà nói:
– Ta đã nghe chuyện một
dũng sĩ tên là Hàn Tín ở Hoài Âm, phải chịu luồn háng tên côn đồ. Có phải là
người này chăng?
Dù Tiêu Hà và Hạ Hầu Anh
hết sức tiến cử nhưng cuối cùng Lưu Bang chỉ cho Hàn Tín giữ chức Liên Ngao, tức
là người coi kho tàng cho quân binh. Hàn Tín tạ ơn rồi lui ra, sắc mặt bình
tĩnh như thường, không hề lộ chút gì bất mãn. Tiêu Hà rất lo lắng, một lần nữa
khuyên can nên Lưu Bang bất đắc dĩ phải phong cho Hàn Tín làm Đô úy. Lần này
Hàn Tín cũng thản nhiên nhận chức, làm việc hết sức phân minh nên được nhiều
người ca tụng.
Luôn mấy tháng như vậy,
Hàn Tín biết nếu có đưa thư tiến cử của Trương Lương ra cũng chẳng ích gì nên một
đêm lẳng lặng cưỡi ngựa bỏ đi. Tiêu Hà nghe tin, chưa kịp ăn uống, cũng một
thân một ngựa đuổi theo, khi đến Hàn Khê thì đuổi kịp. Hai người chưa nói được
câu nào thì Hạ Hầu Anh cũng vừa tới nơi, ra sức khuyên nhủ Hàn Tín nên cố nhẫn
nhục một thời gian nữa. Hàn Tín rất xúc động vì chân tình của Tiêu Hà và Hạ Hầu
Anh, lại nghĩ đến chữ “nhẫn” mà mình đã theo đuổi bấy lâu này nên cuối cùng bằng
lòng trở về. Lần này thấy Tiêu Hà và Hạ Hầu Anh hết lòng thuyết phục Lưu Bang,
Hàn Tín mới đưa lá thư của Trương Lương ra và cuối cùng được Lưu Bang phong làm
Phá Sở Đại Nguyên soái, được toàn quyền điều động ba quân.
Biết Lưu Bang nóng lòng sốt
ruột muốn thoát ra khỏi đất Bao Trung tranh cường tranh thắng với Hạng Võ, Hàn
Tín liền phân tích:
– Hạng Võ tuy hung mãnh,
sức địch vạn người nhưng lại không biết sử dụng tướng tài, Đại vương không cần
phải nóng vội. Còn việc thoát ra khỏi đây thì tôi có một kế sách rất thần diệu,
miễn sao phải được toàn quyền, không ai có quyền hỏi han hay chống lại thì cơ
mưu mới không bị tiết lộ.
Lưu Bang chấp thuận lời
yêu cầu này và Hàn Tín bắt đầu tiến hành một mưu kế hết sức tinh vi đánh lừa sự
canh phòng của các tướng dưới quyền Hạng Võ ở Tam Tần. Đó là mưu kế mà người đời
sau gọi là “Minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương” (Công khai sửa
con đường sạn đạo xuyên qua núi nhưng âm thầm chiếm lấy đất Trần Thương).
Đầu tiên Hàn Tín chém đầu
Ân Cái vì tội bê trễ trong lúc thao luyện ba quân, sau lại lấy cớ trừng phạt
Phàn Khoái, một đại tướng đắc lực và thân thiết nhất của Lưu Bang. Hai người
này đều là thân tín của Lưu Bang, từ trước đến nay ai cũng kính nể, thế mà vừa
nắm binh quyền Hàn Tín đã dám trừng trị bọn họ khiến các tướng sĩ Thục Hán kinh
hồn bạt vía, nghe theo lệnh răm rắp giống như Tôn Vũ ngày xưa truyền lệnh xử
chém hai phi tần của Ngô vương Hạp Lư vậy. Quân lệnh phải tuyệt đối chấp hành,
đó là yếu tố thứ nhất để người làm tướng có thể chỉ huy được quân binh.
Để Phàn Khoái chuộc tội,
Hàn Tín sai dẫn một vạn dân phu đi sửa sang sạn đạo. Đây là một công việc hết sức
khó khăn, cần đến mấy vạn dân phu và phải mất vài năm trời mới xong, thế mà Hàn
Tín hạ lệnh cho Phàn Khoái phải hoàn tất trong một tháng khiến ai nấy đều ngạc
nhiên và bất mãn.
Phàn Khoái mấy lần vào cầu
xin nhưng Lưu Bang giữ lời hứa không tiết lộ cơ mật, chỉ thở dài nói:
– Ngươi đã đắc tội với
Hàn Nguyên soái thì cố gắng chịu đựng đi, nếu có công lao, lúc ấy ta mới nói
giùm vài câu được, bằng không thì... đành vậy. Đó là lỗi tại ngươi chứ không phải
tại ta !
Bất đắc dĩ Phàn Khoái phải
tuân lệnh nhưng trong lòng hết sức bất mãn, tin tức truyền ra cả đến Tam Tần.
Danh tướng nhà Tần là Chương Hàm đã về đầu Sở, được phong làm Ung vương, nghe
tin này thì rất khinh thường, không hề phòng bị gì cả.
Khi ấy một số dân phu
không sao chịu nổi sự khổ cực trong việc sửa sang sạn đạo, nghe lời hai Tổng
giáp là Diêu Long, Ngân Vũ rủ nhau bỏ việc trốn ra ải Đại Tản Quan đầu hàng
Chương Bình (thật sự đó là sự xếp đặt khéo léo của Hàn Tín). Chương Bình dò xét
kỹ càng, thấy hai tướng này quả thật vì bị Hàn Tín thù riêng với Phàn Khoái mà
bỏ nhà Hán nên rất trọng dụng, cho làm thuộc tướng thân cận với mình.
Biết tính Phàn Khoái rất
chân thật, khó mà giữ kín sự bất mãn được lâu, Hàn Tín khéo léo sai tướng Chu Bột
mật báo cho Phàn Khoái biết việc sửa sang sạn đạo chỉ là giả trá, một vạn dân
phu ấy chính là những tinh binh thiện chiến đã được tuyển lựa kỹ càng, chờ đúng
thời điểm xuất quân. Nhờ vậy Phàn Khoái mới yên tâm tiến hành sửa sang sạn đạo.
Còn Diêu Long và Ngân Vũ chính là Chu Bột và Trần Vũ giả dạng dân phu đi trá
hàng mà thôi.
Trong khi Chương Hàm chú
ý đề phòng mặt sạn đạo thì Hàn Tín theo đường tắt vượt núi tiến quân đến Trần
Thương rất mau, thẳng tới uy hiếp Đại Tản Quan. Nhờ có Chu Bột và Trần Vũ làm nội
ứng, kết quả quân Hán chiếm được ải rất dễ dàng, bắt sống Chương Bình. Tính ra
từ ngày Hàn Tín làm lễ xuất quân cho đến khi hạ được Đại Tản Quan chỉ mất có mười
ngày, là một chiến công lẫy lừng, phối hợp nhiều mặt nên đoạt thắng lợi chớp
nhoáng.
Chiến thắng này mang ý
nghĩa rất lớn lao, là đệ nhất kỳ công mở đường cho Lưu Bang chiếm Tam Tần và tiến
ra Trung nguyên, để sau đó nhiều năm chinh chiến dưới sự phò giúp đỡ của Trần
Bình, Trương Lương, Tiêu Hà. Lưu Bang lập nên triều đại nhà Hán huy hoàng kéo
dài hơn 400 năm.
Sau này, khi Hàn Tín chuẩn
bị đi đánh đất Triệu, trong tay chỉ có vài chục vạn quân, thật sự còn chưa đủ
thì lại nghe tin Lưu Bang thua mấy trận liên tiếp, quân binh hao tổn gần hết, rất
cần đến quân cứu viện. Bắt buộc Hàn Tín phải điều động một bộ phận lớn quân
binh tiếp trợ cho Lưu Bang. Bất ngờ, lúc ấy quân Triệu cũng được mật báo, cùng
nhau thương nghị rồi mở một cuộc tiến công dữ dội, hy vọng tiêu diệt được Hàn
Tín chỉ trong một trận.
Đây là cơ hội để Hàn Tín
biểu lộ tài năng làm tướng của mình, ông nhìn được lợi thế quân Triệu là đang
sung mãn nhưng chính vì sự sung mãn ấy tất khinh địch nên táo bạo cho quân tiến
tới đóng trại chỉ cách quân Triệu 30 dặm, thần tốc đánh úp đại doanh quân Triệu,
triệt hạ tất cả các cờ của quân Triệu thay cờ của quân Hán vào. Đồng thời Hàn
Tín phái một bộ phận quân binh đóng quân quay lưng về phía bờ sông khiến cho
các tướng bên Triệu đều chê cười là người ngu dốt.
Việc bày trận như thế ngược
hẳn với binh pháp từ xưa tới nay nên các tướng Triệu đều cho Hàn Tín chỉ ”hữu
danh vô thực” nên càng thêm khinh địch, chẳng cần vạch kế sách đối phó với các
chuyển biến bất ngờ. Hôm sau trời vừa mờ sáng, Hàn Tín đã hăm hở mang quân ra
khiêu chiến nhưng giao tranh chưa được bao lâu thì đã hạ lệnh cho lui quân về
trận thế dựa bên sông.
Danh tướng bên Triệu là
Trần Dư thấy quân Hán thất trận thì vô cùng phấn chấn, xua quân tiếp tục tấn
công. Quân Hán rơi vào thế tử địa, trước mặt bị tấn công, sau lưng là sông lớn
nên chẳng cần động viên, ai ai cũng cố sức chống cự, chiến đấu thật ngoan cường
với chút hy vọng “tìm sống trong cái chết”. Tuy nhiên, vì quân Triệu đông hơn gấp
bội nên dù khí thế vô cùng, quân Hán cũng không sao thắng nổi, hai bên quần thảo
nhau từ sáng đến chiều tối mà chưa ngã ngũ.
Trần Dư thấy quân sĩ đã mệt
mỏi đói khát, lại cho rằng trước sau gì cũng tiêu diệt được quân Hán nên hạ lệnh
rút quân về doanh trại, chẳng ngờ khi ấy trên nóc doanh trại đã treo toàn là cờ
Hán khiến chỉ phút chốc quân Triệu biến thành hoảng loạn, chưa đánh đã mất tinh
thần.
Ngay lúc đó Hàn Tín cho
quân thừa thế từ bờ sông đánh ào ạt, hai mặt ép lại khiến quân Triệu càng thêm
hoảng hốt. Quân Triệu dù đông nhưng mất hết tinh thần, tranh nhau chạy trốn nên
trong thời gian ngắn đã đại bại. Quân nhà Hán do Hàn Tín chỉ huy thừa thế tiến
lên, bắt sống được Triệu vương là Yết, còn Trần Dư vì cố sức chống cự nên chết
ngay trong trận.
Sau trận đánh ấy vẫn có
nhiều tướng sĩ thắc mắc, hỏi Hàn Tín:
– Tướng quân bày trận dựa
lưng vào sông là điều rất cấm kỵ trong binh pháp, nếu quân Triệu quyết một lòng
chiến đấu thì có phải tự mình đưa vào tử địa không. Tướng quần có chắc chắn chiến
thắng được đối phương không?
Hàn Tín đáp:
– Điều này có gì trái với
binh pháp? Trong binh pháp có câu: “Bị hãm vào tử địa sẽ tìm ra đất sống, bị đẩy
vào chỗ mất sẽ tìm ra được chỗ còn”. Ta thấy đội ngũ của quân Hán đã ít mà lại
chưa được huấn luyện tinh thục, nếu đưa vào trận địa đánh trực diện thì có khác
gì “trứng chọi đá”, thế tất phải thua. Chỉ còn cách dồn quân sĩ vào nơi tử địa
mới kích thích được dũng khí của toàn quân, lấy khí thế làm sức mạnh để đánh thắng
địch. Lý lẽ là thế nhưng dù sao vẫn có chút may mắn là Trần Dư không vội cố sức
đánh tới cùng, nếu không ta cũng chưa thật chắc chắn lắm.
Các tướng sĩ nghe giải
thích mới vỡ lẽ ra, tất cả đều khâm phục Hàn Tín nắm rõ tâm lý và vận dụng binh
pháp hết sức thần kỳ. Đây là trận đánh đầu tiên của Hàn Tín khi bắt đầu cầm
quân, trở thành điển tích trong lịch sử quân đội Trung Hoa mà rất nhiều nước
trên thế giới đều biết đến. Mưu kế “Minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương” sau
này cũng được đưa vào “Tam thập lục kế” kinh điển.
Đó là chuyện về sau, ngay
khi tiến ra Tam Tần, Hàn Tín - khi ấy đã được Lưu Bang hết sức tin tưởng - bèn
hiến kế sách để mau chóng chiếm hết Tam tần làm bàn đạp tiến vào Trung nguyên đối
đầu với Hạng Võ. Hàn Tín phân tích rất rõ ràng:
– Ba Tần Vương được Hạng
Võ phong chức cho là Ung Vương Chương Hàm, đóng quân ở Phế Khâu, Địch Vương Đổng
Ế đóng quân ở Lịch Dương, Tái Vương Tư Mã Hân đóng quân ở Cao Nô. Họ trước đây
vốn là những tướng lĩnh của triều Tần đánh nhau với Hạng Võ, sau khi bại trận
đã giấu quân đội của họ, về đầu hàng Hạng Võ, kết quả là hơn hai mươi vạn quân
Tần đã bị Hạng Võ chôn sống, bọn họ ba người chẳng những không bị giết mà còn
được Hạng Võ phong Vương, vì vậy người dân Tần đều căm ghét đến thấu xương. Còn
Đại vương sau khi vào Quan Trung thì không tơ hào mảy may lấy một thứ gì, đã
bãi bỏ luật pháp của nhà Tần, đồng thời công bố ước pháp Tam Chương cho nhân
dân, bởi vậy nhân dân nước Tần không ai là không mong Đại vương làm vua nước Tần.
Theo sự hẹn ước của Sở Hoài vương ban đầu với chư hầu, lẽ ra thì Đại vương cần
phải làm vua ở Quan Trung. Bây giờ nếu Đại vương đưa quân tiến về phía đông thì
Tam Tần lấy dễ như trở bàn tay.
Lưu Bang nghe xong hết sức
hài lòng, lập tức tập hợp toàn quân tiến về phía đông. Thế nhưng không hề dễ
dàng chút nào bởi các danh tướng nhà Tần trước kia đều rất lão luyện, nếu không
nhờ tài ba của Hàn Tín thì Lưu Bang chắc chắn không đạt được ý định của mình. Đầu
tiên là việc đối phó với Chương Hàm.
Lúc ấy Chương Hàm đã
trúng tên phải chạy về Phế Khâu nhưng bố trí cố thủ rất chắc chắn. Thêm vào đó,
thành Phế Khâu được xây dựng từ đời nhà Chu, chung quanh có núi non cao ngất,
chỉ có mặt tiếp giáp với dòng Bạch thủy là trống trải nhưng lại bị ngăn cản bằng
một bức tường thành vô cùng kiên cố, muốn tấn công hướng nào cũng không xong.
Hai tướng chỉ huy mặt trận này là Thúc Tôn Thông và Chương Thương hết sức lo lắng,
chỉ riêng Hàn Tín ung dung cho biết:
– Chỉ nội trong ba ngày nữa
chúng ta sẽ chiếm được Phế Khâu.
Quả nhiên Hàn Tín không
nói đùa, ông sai Tào Tham dẫn quân ngăn dòng sông để cho nước tràn vào thành
khiến Chương Hàm đành phải bỏ chạy trối chết, chưa đến ba ngày quân Thục Hán đã
chiếm được Phế Khâu. Khi đã xong, Hàn Tín đón Hán vương Lưu Bang vào Phế Khâu để
ổn định triều đình, tiếp tục đánh chiếm nốt Tam Tần, trước tiên là tiến tới Lịch
Dương tấn công quân của Địch vương Đổng Ế.
Hàn Tín dùng lối đánh hai
đầu tiến công nên Đổng Ế cùng số quân sĩ không bao nhiêu khó mà chống lại, sau
khi giao chiến được mấy trận thì đành đầu hàng. Tuy thắng trận nhưng Hàn Tín
không kiêu ngạo, đối đãi với Đổng Ế ngang hàng khiến ông ta vô cùng xúc động,
không những chịu đầu hàng mà còn viết thư gởi cho Tái vương Tư Mã Hân thuyết phục
cùng về với Hán vương.
Đầu tiên Tư Mã Hân nhất
quyết không chịu hàng nhưng Hàn Tín bày mưu kế rất lạ để cho Phàn Khoái bắt sống
được hắn, cuối cùng cũng phải quy phục trước mặt Hàn Tín. Thế là Tam Tần mau
chóng lọt vào tay Hán vương Lưu Bang, con đường tiến vào Trung nguyên đã rộng mở.
Đó là vào năm 206 trước Công nguyên, một kỷ nguyên mới bắt đầu mở ra trong lịch
sử, gọi là thời “Hán Sở tranh hùng”, mà tài năng của Hàn Tín được cơ hội bộc lộ
làm cho ai nấy đều khâm phục.
Năm sau, Lưu Bang lại
nhân lúc Hạng Võ đang bận chiến đấu ở Tề liền mang quân tiếp tục tiến về phía
đông. Hà Nam Vương Thân Dương đóng đô ở Dương Địch, Tây Ngụy Vương Ngụy Báo
đóng đô ở Bình Dương đều lần lượt đầu hàng. Lưu Bang dọc đường lấy thêm quân,
nên quân số nhanh chóng tăng lên tới 50 vạn người, đánh thẳng vào Bành Thành -
kinh đô của Hạng Võ. Việc này đã được Hàn Tín báo trước là không nên nôn nóng,
phân tích với Lưu Bang:
– Phép dùng binh phải căn
cứ vào Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa. Nay Đại vương đã được nhân dân dân huởng
ứng thì là Nhân hòa, chiếm được Quan Trung là địa lợi, nhưng về mặt Thiên thời
thì còn thiếu bởi Bá vương hiện giờ quân tướng còn rất hùng hậu, chưa nên ra
quân vội. Đại vương nên chờ cho hai nước Tề và Lương nổi dậy làm giảm bớt sức mạnh
của Bá vương đi thì xuất quân mới nắm chắc phần thắng.
Lưu Bang vốn cố chấp, nhất
quyết làm theo ý mình, sai Hàn Tín về trấn thủ Tây Tần để tiếp ứng, còn mình điểm
toàn bộ binh mã vượt Hoàng Hà tiến qua đất Sở. Khi ba quân đến Hiệp hà tranh
nhau vượt sông không có chút thứ tự nào bởi lúc đó Hàn Tín đã trả lại ấn Nguyên
soái, Lưu Bang đành phải phong cho Ngụy Báo nắm quyền điều động đại quân.
Hạng Võ nghe tin vội vàng
liền đem 3 vạn tinh binh về cứu Bành Thành. Lưu Bang đang say sưa với thắng lợi
nên trở tay không kịp, thua to phải bỏ chạy, chỉ còn mang theo được mấy chục kỵ
binh lui về đến thành Huỳnh Dương.
Trận Bành Thành bị thua to, cuộc diện giữa Sở và Hán cũng thay đổi theo, hai tướng là Tái Vương Tư Mã Hân và Địch Vương Đổng Ế bất ngờ phản lại, đầu hàng Hạng Võ khiến cán cân lực lượng nghiêng phần thua kém về phía Lưu Bang. Không những vậy Tây Ngụy Vương Ngụy Báo kiếm cớ trở về đất được phong của mình, rồi cũng đoạn giao với nhà Hán theo về với Sở.
Trong tình hình nguy cấp ấy không còn ai có thể lật ngược được thế cờ ngoài Hàn Tín. Thế nhưng Hàn Tín rất giận việc Lưu Bang không nghe lời khuyên của mình, lại phong cho Ngụy Báo làm Nguyên soái nên nhất quyết không ra tay. Tiêu Hà và Trương Lương phải dùng một kế mọn, khích tướng Hàn Tín mới thành công. Khi được Lưu Bang cho làm Nguyên soái, Hàn Tín liền chế tạo mấy trăm chiếc chiến xa, mỗi chiếc do một con trâu kéo có binh sĩ cầm cung nỏ ở trên xe bắn ra. Khi cần các chiến xa này lại có thể dùng để chuyển vận lương thực, đóng quân lại thì làm đồn lũy.
Khi đã sửa soạn xong, chế tác thêm mấy ngàn chiến xa nữa, Hàn Tín liền dùng thư khích tướng khiến Hạng Võ đùng đùng nổi giận, gạt qua lời khuyên của Phạm Tăng, dẫn 30 vạn quân kéo thẳng đến thành Huỳnh Dương quyết chiến. Trong trận này Hàn Tín đưa ra một loạt mưu kế khiến quân Sở tiêu hao khá nhiều, sau cùng lại bị đoàn chiến xa lạ lùng vây hãm, suýt nữa Bá vương Hạng Võ đã lâm nguy nếu không nhờ Chung Ly Muội và Quý Bố đến kịp.
Kết cuộc quân Sở chết quá nửa, Hạng Võ phải chạy xuống bờ ruộng ẩn nấp mới thoát khỏi sự truy kích của quân Thục Hán. Tình thế nhờ vậy trở lại ngang bằng, bước vào thời kỳ giằng co không bên nào lấn lướt bên nào. Kết quả này hoàn toàn nhờ vào tài năng của Hàn Tín, ông chỉ cần một trận cũng đã lật lại được thế thua kém, thật sự trong các danh tướng từ cổ chí kim chưa có ai sánh bằng. Tuy nhiên xét về thực lực thì sức mạnh quân Sở vẫn còn, chỉ nhất thời tiêu hao chút ít nên Tiêu Hà lập tức lợi dụng thời gian này chiêu mộ thêm quân binh, chờ những trận đánh kế tiếp.
Tháng 11 năm thứ hai đời Hán, để trừng trị việc Ngụy Báo đầu hàng Bá vương, Lưu Bang phong cho Hàn Tín làm Nguyên soái, để Vương Lăng ở lại giữ thành Huỳnh Dương, còn các tướng như là Quán Anh và Tào Tham đều theo đoàn quân đi chinh phục nước Ngụy. Đại quân của Hàn Tín đến sông Bồ Bản thì phải dừng lại bởi quân Ngụy phòng thủ rất nghiêm mật bên kia bờ sông. Hàn Tín quan sát tình hình xong liền bí mật sai làm rất nhiều cái thùng gỗ, tức dùng thân cây khoét ở giữa, kết lại thành bè. Khi đã xong, Hàn Tín sai Quán Anh đến bên bờ sông sửa soạn thuyền, làm như sắp sửa vượt sông tiến đánh. Thực sự Hàn Tín đã lén sai Tào Tham xuống bến Hạ Dương, dùng số thùng gỗ ấy mà qua sông đánh úp phía sau quân Ngụy.
Ngụy Báo làm sao chống nổi với những loại mưu kế tài tình ấy của Hàn Tín, rốt cuộc đại bại, để mặc quân Hán chiếm đóng toàn bộ nước Ngụy gồm năm 52 quận huyện.
Sau khi đánh xong Tây Ngụy, Hàn Tín lại dâng kế sách từng bước tiêu diệt Hạng Võ, giành lấy thiên hạ. Theo kế sách này thì Lưu Bang cứ cố giữ lấy Huỳnh Dương để giữ chân Hạng Võ, đồng thời tăng viện thêm cho ông 3 vạn quân để tiêu diệt Yên và Triệu. Sau khi đã có hậu phương vững vàng thì mới bắt đầu tiến đánh nước Tề. Đây cũng là kế sách trước kia Tần Thủy hoàng dùng để thôn tính các nước, thu phục thiên hạ.
Lưu Bang rất tán thưởng kế hoạch của Hàn Tín, lập tức tăng thêm cho ông 3 vạn quân theo như yêu cầu. Nhờ vậy Hàn Tín bình định được đất Đại, đến năm sau thì đem quân đánh Triệu. Thế nhưng cùng lúc ấy Hạng Võ tiến đánh Huỳnh Dương khiến Lưu Bang hao tổn khá nhiều quân tướng, cấp tốc gọi về cứu nguy. Trong tình hình nước Triệu có địa thế rất hiểm trở, lại được Triệu vương là Yết sát cánh cùng Thành An quân Trần Dư và Lý Tả Xa quyết chống dữ, Hàn Tín không còn cách nào khác là phải “tốc chiến tốc thắng”. Riêng Lý Tả Xa cũng là một danh tướng giỏi về “binh quyền mưu” không kém Hàn Tín, là một chướng ngại rất lớn nếu chỉ đưa ra những loại mưu kế tầm thường.
Trong tình thế bất lợi như vậy mới thấy rõ tài cầm quân của Hàn Tín là vượt bậc, ông dùng một loạt mưu kế, đưa quân dựa sông để khích động tinh thần quân sĩ rồi chiến đấu một trận nổi tiếng, đánh tan quân nước Triệu như đã trình bày ở trên. Khi Triệu vương Yết và Lý Tả Xa bị bắt sống, Trần Dư tử trận, cuộc chiến hoàn toàn thắng lợi, các tướng dưới quyền của Hàn Tín vô cùng khâm phục, cho rằng trên đời này chưa có ai dám bày “tuyệt trận Thủy Bôi” như ông.
Danh tướng biết trọng đãi danh tướng, Hàn Tín đối xử với Lý Tả Xa rất trọng vọng. Sau vài câu khách sáo, Hàn Tín hỏi luôn:
– Tôi muốn tiến quân về phía bắc đánh nước Yên, tiến về phía đông đánh nước Tề, không biết làm thế nào để thành công?
Lý Tả Xa khiêm tốn nói:
– Tôi nghe người ta nói: tướng đã bại trận thì không còn đủ tư cách để bàn về vấn đề mưu lược nữa; một thần tử đã mất nước thì không xứng đáng được dự bàn kế sách cai trị đất nước bình yên lâu dài. Tôi hiện nay là một tướng bại trận, là tù binh của một đất nước đã bị diệt vong, đâu dám được dự bàn việc đại sự với ngài.
Hàn Tín nói:
– Tôi cũng có nghe người ta nói, Bách Lý Hề làm quan ở nước Ngu bị diệt vong thì ông ta lại sang nước Tần làm Tướng quốc, giúp cho nước Tần làm Bá chủ thiên hạ. Điều này không phải là Bách Lý Hề ở nước Ngu thì xuẩn ngốc và khi đến nước Tần thì thông minh, mà chính là bởi chính vì hiền tài không được các vương hầu trọng dụng và nghe theo. Trước mắt có thể thấy rõ nếu như Thành An quân (Trần Dư) nghe theo kế sách của ông thì Hàn Tín này làm gì thắng nổi? Thế nhưng tôi sẵn sàng nghe lời chỉ bảo của ông, đó là hai việc hoàn toàn khác hẳn.
Lý Tả Xa thấy Hàn Tín xem trọng mình thì liền nói:
– Người tinh khôn đến ngàn việc thì vẫn có việc sẽ lầm lẫn, kẻ ngu tính ngàn việc thì tất cũng sẽ có một việc đúng. Nguyên soái quả là anh hùng tuyệt thế, hành quân thần tốc bắt Ngụy Báo, giết Hạ Duyệt rồi bây giờ được tôi và Thành An quân, đưa Triệu vương vào chỗ chết thì khắp thiên hạ ai nghe danh mà chẳng kinh sợ? Thế nhưng hiện nay quân Hán đang mệt mỏi, nếu sang đánh với Yên đang nhàn nhã khỏe mạnh thì là điều bất lợi, chỉ cần như vậy là Nguyên soái đã hiểu tôi muốn như thế nào rồi.
Hàn Tín liền theo lời khuyên của Lý Tả Xa, dùng cách thuyết phục Yên vương đầu hàng. Danh tướng của nước Yên là Khoái Văn Thông nhìn rõ tình hình này, cho rằng quân Hán đã quá mỏi mệt nên mới dùng phương pháp chiêu hàng, tự thân đi sang Triệu yết kiến Hàn Tín thuyết phục ông bãi binh, chẳng ngờ khi gặp mặt Lý Tả Xa, bị ông ta trình bày rõ lợi hại, lập tức về khuyên Yên vương nên về đầu nhà Hán. Thế là Hàn Tín chẳng tốn một tên quân cũng bình định được nước Yên. Điều này càng chứng tỏ người làm tướng không nhất thiết phải ỷ vào sức mạnh mà tùy theo hoàn cảnh, lúc nhu lúc cương, lúc cần tới cách đánh “tử chiến”, lúc lại nhu hòa chiêu dụ mới thật sự là tướng soái tài năng.
Lúc ấy Bá vương Hạng Võ cũng đã nghe tin, kinh hoảng triệu các tướng lại bàn kế sách đối phó. Các tướng đồng lòng cho rằng nếu tiêu diệt được Lưu Bang thì trước sau gì cũng triệt hạ được Hàn Tín. Hiện Hàn Tín không có mặt ở Quan Trung là cơ hội tốt nhất. Hạng Võ nghe theo, truyền lệnh kiểm điểm 10 vạn quân mã tiến đánh thành Huỳnh Dương rất gấp.
Lưu Bang cả kinh nhưng nhờ vào Trần Bình lập mưu kế ly gián khiến Hạng Võ đuổi Phạm Tăng về quê. Đến khi Hạng Võ biết mình trúng kế thì lại càng tức giận, xua quân đánh rất rát. Một lần nữa Trương Lương lại bày kế “Kim thiền thoát xác” (ve sầu lột xác) dùng một người giống hệt diện mạo của Lưu Bang là Kỷ Tín chết thay mới thoát về tới Thành Cao.
Thế nhưng Hạng Võ truy đuổi ráo riết, bao vây Thành Cao chặt chẽ, túng cùng Hán vương Lưu Bang phải sai người gọi quân của Hàn Tín từ nước Triệu về cứu nguy. Tiếc rằng tình hình diễn biến quá nhanh, cuối cùng Lưu Bang phải bỏ Thành Cao cùng quần thần chạy đến nước Triệu, tự mình dẫn mấy kỵ binh vào thẳng quân doanh của Hàn Tín. Đêm hôm qua Hàn Tín và Trương Nhĩ uống rượu quá nhiều nên vẫn còn ngủ say, bị Lưu Bang lấy mất ấn tín rồi hạch tội đã không mau chóng cứu viện Thành Cao.
Thật ra tội này rất đáng mất chức nhưng khi ấy Lưu Bang còn cần Hàn Tín nên chỉ trách mắng vài lời rồi cho quân đóng ở Tu Vũ, sai Hàn Tín mau chóng đi đánh nước Tề, cho Trương Nhĩ làm Triệu vương.
Tháng giêng năm thứ tư đời Hán, Hàn Tín tiến đánh nước Tề, chẳng bao lâu đã đánh đến Lâm Tri. Tề vương Điền Quảng không còn cách nào khác là phải cầu cứu Hạng Võ. Chính ông ta cũng biết nếu nước Tề mất thì mình sẽ hai đầu thọ địch nên nhanh chóng sai Đại tướng Long Thư và Chu Lan mang 3 vạn quân đến phối hợp với quân Tề đón đánh quân của Hàn Tín ở Duy thủy. Quân Hán và liên quân Sở - Tề bày trận ở hai bờ Duy thủy.
Long Thư rất khinh bỉ Hàn Tín cho rằng đã là anh hùng thì chết thì thôi chứ không đời nào hèn hạ luồn háng tên côn đồ giữa chợ, lại phải nhờ đến chén cơm của Phiếu mẫu mới sống sót. Mặc cho Phó tướng Chu Lan khuyên giải, ngay hôm sau Long Thư đã viết chiến thư thách thức Hàn Tín giao chiến. Ngày hôm sau Long Thư cho quân tướng ăn uống sớm, khi xong lập tức kéo quân ra bày trận. Hàn Tín cũng đã sửa soạn sẵn sàng, đôi bên gườm nhau chực chờ cuộc chiến tàn khốc xảy ra.
Chẳng ngờ Hàn Tín đánh với Long Thư được mấy hiệp thì đã đuối tay, quát ngựa bỏ chạy. Long Thư cả cười, mắng lớn:
– Ta đoán không lầm, ngươi chỉ có hư danh mà thôi.
Các tướng dưới quyền thấy Long Thư định đuổi theo, xúm lại khuyên đừng nên mắc mưu của Hàn Tín, cuối cùng Long Thư phải nghe theo nhưng trong lòng đã kiêu ngạo coi thường Hàn Tín lắm rồi. Đến chiều tối, Hàn Tín đột nhiên bày trận gọi Long Thư ra quyết đấu, cũng theo lối cũ mà bỏ chạy. Lần này Long Thư quyết đuổi cho đến cùng. Khi đến bờ Duy thủy, Hàn Tín dễ dàng cho ngựa vượt qua bởi cát mênh mông, nước chỉ đến chân ngựa là cùng. Long Thư đuổi tới nơi, cũng rất kinh ngạc bởi dù nước cạn đến mấy cũng không lộ cát ra như vậy. Các tướng dưới quyền Long Thư cũng khuyên nên đề phòng Hàn Tín đã chặn nước ở thượng nguồn, chờ lúc quân ta qua sông sẽ dùng thủy kế đánh giết.
Thế nhưng Long Thư không nghe, dẫn đầu đoàn quân Sở vượt sông đuổi theo. Khi đến giữa sông thì trời đã tối đen, Long Thư chợt thấy có ngọn sào treo một cái đèn lồng, đến gần thì lại có treo tấm bảng: “Thắp đèn sáng giết Long Thư”.
Tình thế rất mơ hồ nên quân tướng của Sở bàn tán xôn xao, mỗi người một ý khác nhau. Có tướng cho rằng đây chỉ là kế hoãn binh, làm đối phương sợ hãi mà không dám đuổi theo. Riêng Chu Lan thì cho rằng ngọn đèn chính là để chỉ rõ địa điểm quân Sở đang đứng, nếu tắt đi thì quân Hán không biết đường nào mà tiến đánh nữa. Long Thư nghe theo Chu Lan, vung dao chém tắt ngọn đèn.
Không ngờ đó chính là hiệu lệnh cho quân Hán tháo nước trên thượng nguồn, quân Sở ôm nhau kêu khóc vang trời, đành chịu cho thác nước dữ dội cuốn như cỏ rác. Hóa ra Hàn Tín đưa ra một loạt kế sách liên hoàn để quân Sở chui đầu vào bẫy. Long Thư nhờ có con Long câu nên nhảy thoát khỏi dòng nước nhưng cuối cùng cũng không thoát được cái chết bởi Hàn Tín đã cho Tào Tham và Hạ Hầu Anh mai phục ở bên bờ sông từ lâu.
Khi đã chiếm xong 70 thành của nước Tề, Hàn Tín nhìn phong cảnh kinh đô Lâm Tri huy hoàng chẳng khác gì Hàm Dương thì ít nhiều trong bụng đã phát sinh lòng tham muốn. Lại có một mưu sĩ đất Tề tên là Khoái Kiệt đến hầu, nói:
– Chẳng lẽ Nguyên soái công trạng lớn như vậy mà cứ cam tâm dưới người hay sao? Nguyên soái không biết rằng “Chim muông hết thì chó săn bị đem ra làm thịt” hay sao. Nhân lúc này Hán và Sở đều kiệt quệ, Nguyên soái tự lập cơ nghiệp, chia thiên hạ thành thế chân vạc thì chẳng bao giờ còn lo lắng gì nữa, có phải hay hơn không?
Còn đang do dự thì Hàn lại tiếp được lệnh phải kéo hết binh mã về hợp sức đánh Sở, ông liền theo lời của Khoái Kiệt yêu cầu phải được phong làm Tề vương. Đây là nguyên nhân quan trọng để Lưu Bang ghi nhớ thù hận và diệt trừ Hàn Tín sau này. Lúc đó ở Huỳnh Dương, Lưu Bang thua luôn mấy trận, tuy rất tức tối nhưng vẫn phải phong cho Hàn Tín làm Tề vương.
Với tài năng quân sự lừng lẫy của Hàn Tín, chẳng bao lâu Hạng Võ phải chấp nhận chia đôi thiên hạ, lấy ranh giới Hồng Câu làm phân định. Thật sự hiệp ước này không hề được hai bên tôn trọng, vì vậy lâu lâu lại xảy ra chiến tranh, cuối cùng sức mạnh của Hạng Võ suy yếu dần vì mất hết tay chân tài giỏi ở bên mình.
Đến năm 201 trước Công nguyên thì Hạng Võ thân cô thế yếu đành phải cùng với 10 vạn quân ở Cai Hạ. Hàn Tín chỉ huy trận đánh này, cho hai cánh quân mai phục hai bên rồi tự mình ra khiêu chiến, giả vờ rút lui dụ Hạng Võ vào bẫy, đánh cho quân Sở một trận tan tác. Hạng Võ chạy đến bến Ô Giang tự biết rằng không còn đường sống, phải rút kiếm ngắn ra tự sát.
Thế là cuộc chiến tranh Hán Sở đã thật sự kết thúc, Hán vương Lưu Bang lên ngôi Hoàng đế, xưng hiệu là Hán Cao đế. Hán đế luận công ban thưởng cho rằng Hàn Tín có công lao lớn nhất, xứng đáng được ban thưởng nhiều nhất. Thế nhưng ông lại nghĩ đất Tề quá rộng rãi, người đông sản vật nhiều, nếu một mai Hàn Tín làm phản thì rất khó lòng đánh dẹp nên cuối cùng chỉ phong cho Hàn Tín làm Lỗ vương, làm vua một mảnh đất nhỏ hẹp ở một góc Kinh Nam.
Đó chỉ là phương cách tạm thời để Lưu Bang ổn định thiên hạ, sau khi triều chính đã vững vàng, lập tức Lưu Bang nghĩ đến việc “tính sổ” Hàn Tín với nhiều lý do:
– Thứ nhất Hàn Tín đã không chịu đem quân từ nước Triệu về cứu viện khiến chút nữa mình đã phải vong mạng nơi Huỳnh Thành.
– Lần thứ hai ở Tề, Hàn Tín không tuân lệnh hợp binh đánh Sở, lại còn đòi làm Tề vương. Sự bức bách này đối với Lưu Bang quả là nhục nhã.
– Thứ ba, khi đã đại thành công, trong khi vui vẻ luận bàn về công trạng, Hàn Tín vẫn cho rằng mình giỏi hơn Lưu Bang nhiều lần, đủ sức nắm cả 100 vạn quân vẫn điều khiển đâu ra đấy.
Với những lý do ấy, Lưu Bang đã toan tính việc trừ diệt vị Tướng soái đã bỏ bao nhiêu tâm huyết giúp mình đoạt được ngai vàng. Thật sự Lưu Bang đã có ý định đem quân đi giết Hàn Tín nhưng cũng tự biết không thể nào thắng nổi nên mới dàn dựng vở kịch du ngoạn đầm Vân Mộng, dùng hạ kế bắt giữ Hàn Tín ở kinh đô, giáng xuống làm Hoài Dương hầu Lúc ấy Lưu Bang đã có thể tha hồ giết chóc bởi Hàn Tín không còn binh quyền nhưng triều Hán mới thành lập, nếu phóng tay ắt thiên hạ chê cười nên Lưu Bang đành nén lòng chờ cơ hội khác.
Cơ hội ấy đến khi Hàn Tín cùng với Trần Hy là Tướng quốc nước Đại, toan tính mưu phản. Lần này Lưu Bang không ra tay mà kéo quân đi đánh Trần Hy, để cho Lã hậu theo kế của Tiêu Hà triệu Hàn Tín vào cung rồi bắt giết, tru di cả ba họ. Trước khi chết, Hàn Tín ứa nước mắt ngửa mặt lên trời than dài:
– Ta thật hối hận đã không nghe lời của Khoái Kiệt để bây giờ mắc kế của một mụ đàn bà, việc này chẳng lẽ là ý trời hay sao?
Theo sự ghi chép của Hán Thư, Nghệ Văn chí, sau khi chết đi Hàn Tín đã để lại 3 thiên binh thư cho riêng mình chuyên về “Binh quyền mưu” và cùng với Trương Lương tuyển chọn trong binh thư của 182 binh gia, lấy những điều cốt yếu nhất viết thành cuốn binh thư khác rất tuyệt tác nhưng hiện nay đã thất truyền.
Việc các công thần bị giết hại hầu như đời nào cũng có, thế nhưng đối với một danh tướng nhiều công lao hãn mã như Hàn Tín mà Lưu Bang vẫn không nương tay khiến người đời sau phản xúc động. Sau này có nhà nghiên cứu cho rằng vụ việc Hàn Tín âm mưu với Trần Hy hoàn toàn giả trá, đều do bàn tay của Lưu Bang và Lã hậu xếp đặt bởi dù Lưu Bang hết sức đố kỵ tài năng nhưng ông không bao giờ có ý nghĩ phản bội. Bằng chứng là đã nhiều lần, từ lúc Sở vương Hạng Võ sai người thuyết phục ông theo về rồi sau đó là Khoái Kiệt. Những lúc ấy Hàn Tín không trở cờ thì lúc đã mất hết binh quyền, bị giam lỏng trong thành Hàm Dương lại nghĩ đến việc phản bội? Ông là người rất mưu trí, một khi chưa đủ điều kiện thì tất sẽ chưa bao giờ toan tính việc lớn lao như vậy.
Như trong lần khuyên Lưu Bang đừng tiến quân sang phía đông tranh chiến với Sở, Hàn Tín đã vạch rõ bất cứ việc gì cũng phải hội đủ ba điều kiện: Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa. Khi Lưu Bang vu cho Hàn Tín âm mưu làm phản, ông không hề có Thiên thời bởi không có chút quyền hành trong tay, cũng không có Địa lợi vì đang bị giam lỏng, còn Nhân hòa thì lúc ấy ông chỉ có vài chục tên gia nhân trong tay, triều Hán đã thành công, mấy ai dám theo một vị tướng đã sa cơ như thế. Do đó việc Hàn Tín bị giết hoàn toàn là do Lưu Bang quá đố kỵ, bởi một nước không có hai vua mà cũng không thể có hai anh hùng.
Có thể kết luận: Hàn Tín chết là vì có tài năng quá lớn. Trong sách Sử ký chí nghi của Lương Ngọc Thắng thì khẳng định như đinh đóng cột: Hàn Tín chết oan với nhiều lý lẽ chắc chắn. Thế nhưng dù sao đây cũng chỉ là nghi án lịch sử, xin ghi lại để hậu thế suy xét.
Huyền Cơ
Theo https://vietnamthuquan.eu/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét