Giăng thề
Lời tác giả
Tiểu thuyết Giăng thề
tôi viết năm 1942, ở Thủ Dầu Một bên sông Sài Gòn vùng đồn điền cao su Dầu Tiếng,
khi trên phố chợ khi ở xưởng than Bến Ray.
Tình cờ làm sao mà câu
chuyện trong tiểu thuyết này ủ ấp sáng tạo ở quê Nghĩa Đô tôi lại viết ra bên rừng
bờ sông Sài Gòn xa xôi.
Thế mà cũng thành một nếp
suốt đời tôi trong sáng tác. Nhiều khi sửa soạn viết một cái gì, tôi thường đi
nhiều nơi.
Tôi đã viết tiểu thuyết Đảo
hoang chuyện Mai An Tiêm và quả dưa hấu, những chương đầu viết ở Phai Vệ thị xã
Lạng Sơn. Hang Phai Vệ là quang cảnh nhà An Tiêm bị giam trong hang đá trước
khi bị nhà vua đầy đi đảo xa. Tôi lại đã viết đoạn cuối tiếu thuyết Đảo hoang
này ở bãi biển nghỉ mát Yalta bên bờ Hắc Hải. Cái núi Gấu và sự tích núi Gấu ở
biển Yalta với bóng con gấu yêu thương mà vợ chồng con cái Mai An Tiêm đã giã từ
để trở về đất liền, sau bao nhiêu năm bị lưu đầy.
Cũng như gần đây năm
1996, tập hồi ký Chiều chiều của tôi được viết ở Đà Lạt.
Cả đời cầm bút, cũng
thành cái thói riêng làm việc như thế. Còn nhớ khi ngoài hai mươi tuổi, tôi vừa
in truyện Con dế mèn (về sau viết tiếp và đặt tên là Dế mèn phiêu lưu ký), ông
Vũ Đình Long chủ nhà xuất bản Tân Dân đã hợp đồng với tôi viết truyện ngắn cho
tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy, truyện cho sách Truyền Bá của thiếu nhi, và tiểu
thuyết cho sách Phổ Thông. Tôi đi đâu thì ông gửi tiền nhuận bút qua đường bưu
điện.
Vì thế, tôi đã đến được
Sài Gòn rồi đi Thủ Dầu Một. Tôi có anh bạn cùng làng đi làm phu cao su đồn điền
Michelin ở Dầu Tiếng.
Nhưng đến Dầu Tiếng thì bạn
đã đi nơi khác. Anh theo người ta đi làm thợ dệt ở Kampot bên Kampuchia.
Bà con miền Nam đối với
người qua lại, dẫu tôi là một “thầy Huế” từ ngoài Bắc vào cũng thật xởi lởi, vồn
vã. Chẳng quen biết mà rồi cũng trở nên thân tình. Thế là tôi lại viết tiểu
thuyết Giăng thề - một câu chuyện về làng xóm quê tôi.
Bao nhiêu năm sau, đất nước
đã hoàn toàn giải phóng, tôi có dịp trở lại Dầu Tiếng. Tôi ở nhà khách cơ quan
nông trường cũng trên sông Sài Gòn. Xa xa, núi Bà Đen bên kia rừng vẫn xanh
đen. Nước sông vẫn trong veo, trông thấy từng con cá bơi nhởn nhơ. Tiếng còi
nhà máy vẫn rít lanh lảnh trong đêm khuya. Những người thân thiết ngày xưa thì
chẳng còn ai.
Đầu chợ, những tấm bia
ghi tên những người trong thị trấn, những chiến sĩ dân quân đã hy sinh từ đầu
kháng chiến chống Pháp.
Tôi trở lại Hà Nội,
đưa in tiểu thuyết Giăng thề cho nhà xuất bản Tân Dân.
Bây giờ bên châu
Âu, nước Pháp đã thua trận, chính phú Pê Tanh đầu hàng phát xít Đức. Ở thuộc địa
thực dân Pháp bóc lột và đàn áp khốc liệt nhân dân ba nước Đông Dương. Chế độ
kiểm duyệt của thực dân được đặt ra khắt khe. Chúng gạch bỏ từng đoạn sách,
không cho in cả tác phẩm.
Như tiểu thuyết
Đêm múa của tôi miêu tả một làng bị chết dịch rồi lại chết cháy cả xóm. Thế là
kiểm duyệt bỏ. Nói đến đất nước, dân tộc, chính trị là phạm pháp.
Tiểu thuyết Giăng
thề cũng bị kiểm duyệt xóa từng đoạn từng chương như vậy.
Tiểu thuyết Giáng
thề in lần đầu ở Hà Nội năm 1943. Cho tới bây giờ, đã qua nhiều thời kỳ, nhiều
nhà xuất bản ở Hà Nội và ở Sài Gòn đã in lại nhiều lần.
Cũng vì thời gian
đã quá lâu và nhiều khó khăn khách quan, tác phẩm in ra có nhiều sai sót.
Xin đính chính:
- Ngay lần in đầu,
nhà xuất bản Tân Dân đã in lẫn chương cuối lên giữa sách. Do vậy, đương mạch
truyện lại có dòng lưu bút kết thúc: Dầu Tiếng (Bến Ray)... Rồi hầu hết các nhà
xuất bản, nhất là ở Sài Gòn và Thành phố Hồ Chí Minh về sau đã in nhầm theo như
thế.
- Tên tác phẩm,
khi đầu là GIĂNG THỀ ( không phải là TRĂNG THỀ). Tác giả viết theo tiếng địa
phương.
- Lần in này, in
theo bản đầu tiên và đã chữa lại các lỗi trên. Riêng một chương (chương VI) bị
kiểm duyệt thời thuộc Pháp xóa bỏ (chỉ chú thích tóm tắt trong truyện vì không
còn bản thảo).
Hà Nội tháng năm
2005
TÔ HOÀI
Chương I
Trăng thề còn đó trơ
trơ
Truyện Kiều
Những vòng bánh
quay lọc cọc, rồi đứng lại. Hai chiếc xe sắt đỗ chổng đuôi lên và đổ xuống ba
người khách. Họ đi về phía dãy phố có lấp ló ánh đèn sáng. Trời tối mịt. Vào tới
ánh đèn mới nhận được mặt ba người. Người đi đầu là giáo Hoạnh, tiếp đến giáo Kền
và giáo Câu, hai ông này dắt tay nhau. Ba nhà giáo đi hát ả đào.
Ở trong một nhà đầu
dãy nhà hát, các chị em trông thấy, chạy xỏ ra, nhao nhao:
- Chào các quan ạ.
- Các quan vào hát
giúp nhà em.
- Ơ kìa anh giáo
Hoạnh. Lâu lắm mất mặt mất mũi.
Hoạnh đi vào, như
hướng dẫn cho hai bạn. Ra lối ta đây tay thành thạo nhất. Chị em bâu lại, tíu
tít. Một chị khêu cái đèn ba dây cho tỏ thêm. Một chị ra khép cửa, dưới nhà bắt
đầu lịch kịch đun nước. Ngọn đèn treo giữa nhà, soi sáng ra chung quanh tỏ tường.
Nhà hát là một nếp
nhà ngói ba gian, rất xưa, trước sân có hai chậu si và một cái bể bầu dục đựng
quả núi giả. Trong nhà, hai bên cột giữa, móc đôi câu đối gỗ mộc, chữ bôi nhòe
sơn đen. Tường bên phải, treo một dãy tám cái tranh Tàu vẽ truyện Chinh Tây, cảnh
Tiết Đinh Sơn bắn hổ trắng vô tình giết bố, cảnh Phàn Lê Huê cả phá Mê hồn trận..
Bên trái, có một bức tranh thực to, vẽ ông Tô Vũ chăn dê râu dài chấm đất, mặc
quần áo rườm rà cầm chiếc gậy đầu hươu có tua xanh đỏ, đứng dưới gốc cây hoa
mai, giữa mấy con dê lụ khụ. Rải rác ở góc tường trên đầu cột, có dán những cái
ảnh tàu chiến, ảnh ông tây bà đầm cắt ở các nhật trình ra. Giữa gian nhà trước
bên cải tủ chè, kê một bộ tràng kỷ và một chiếc án thư. Hai gian bên, hai chiếc
giường ghép vào. Một chiếc hòm phản có bốn chân cao lênh khênh, đứng sát tường,
phía trong cùng.
Ba quan viên nhà
giáo ngồi hai bên tràng kỷ. Ông giáo Kên ngắm đôi câu đối, giáo Câu ngó cụ Tô
Vũ chăn dê, ông Hoạnh tán khướu với một ả. Vừa hay nhà này có ba cô đào rượu. Một
cô, cô Muỗi thì vẫn là chỗ quen biết tri kỷ của giáo Hoạnh. Còn cô Huệ và cô
Tình, lúc này Hoạnh ta hóm hỉnh chia:
- Tôi giới thiệu
em Huệ với anh Câu đấy. Còn chị Tình ra quạt cho anh Kền tôi đi chứ. Chị làm thế
nào cho anh tôi cười túm một cái, thì tối nay có thưởng đấy.
Cô Tình đấm vào
lưng Hoạnh:
- Phải gió cái nhà
anh lỡm lày, thấy mặt nà thấy tán nhảm!
Rồi ả cầm quạt
sang phe phảy quạt cho Kên. Kên im vấn một điệu ngắm câu đối. Hoạnh cười hô hố.
Còn giáo Câu, Câu lé mắt nhìn cái cô Huệ mà Hoạnh vừa gắp cho anh. Cô Huệ cũng
đứng dịch lại gần Câu, cười nụ.
Dưới nhà, nước trắng
đã sôi. Ấm, tách lấy ở trong tủ chè ra. Cô Huệ pha một tuần chè Tầu. Khách
đương nhắm nháp thì chú kép vác đàn bước vào. Rồi cô Muỗi, cô đào hát - là con
của chủ nhà - ở nhà dưới đi lên. Người ra mở nhà hát cũng có nghĩa như mở một
ngôi hàng tấm. Chủ nhà này là một ông, có ngón đàn và nghề hát gia truyền. Nhà
ông, ông ở gian nhà lá đằng góc vườn dưới. Hát thì con ông hát lấy, chị phải mướn
ba cô đào rượu. Hai người con gái lớn của ông đã lấy chồng, trước kia ở nhà,
các cô cũng đều là đào hát. Bây giờ còn có cô gái út là cô Muỗi. Cô Muỗi mặc áo
the thâm, vấn khăn nhiễu tây, mình cô gày, mảnh như chiếc que đóm...
Cô Muỗi và chú kép
đàn ngồi phản bên. Trống chầu đặt trên ghế tràng kỷ. Cô Huệ mời: “Các anh nghe
hát”. Hoạnh bảo Kền: “Anh thưởng trống trước đi”. Rồi anh xoay cái roi chầu và
cái trống về phía Kền. Kền ung dung cầm roi chầu. Nhà giáo Kền, lúc này nom rõ
thực đạo mạo. Anh che vạt áo the dài ngồi vắt chân chữ ngũ, lưng hơi khom khom.
Một bàn tay bịt nhẹ miệng trống. Một tay rún rẩy nâng roi chầu, gõ “độp độp”. Mỗi
một tiếng “độp” nảy, người anh hơi xiêu về đằng trước theo nhịp. Đó là cái điệu
riêng của anh, khi gõ trống. Đào hát đến câu nào mà anh cho là nhất, anh điểm
trống đổ hồi khen rụt cả cổ lại. Mắt anh chăm chăm, nhìn thẳng, nghiêm như lúc
giảng bài học trò. Anh xưa nay vốn là tay chơi đứng đắn, lịch sự. Cô đầu Tình đứng
sau lưng, quạt lệ từng phẩy chậm chạp. Tên cô là Tình mà nom chẳng tình chút
nào. Con mắt hiếng, hai con ngươi liếc nhau. Đôi môi cong tớn, cộm lại như hai
mép lá cải bắp.
Chú kép dạo đàn “tửng
tưng từng tưng” rồi gò vào bài, khi cô Muỗi bắt đầu gieo phách. Miệng chú kép
méo, tròn, chúm, dài, cổ chú ngoẹo, lắc và cả cái mặt cũng lung lay theo với
bàn tay nắn phím. Chú kép xử cây nhật cao như cái đòn gánh: “Tửng từng tưng...
Tứng tửng... Phinh phính phinh...”.
Giai nhân nan tái
đắc... ư... Trót yêu hoa... nên dan díu với tình. Mái tây hiên nguyệt dãi chênh
chênh... Rầu rĩ mấy xuân về oanh nhớ ớ... ớ...
Cô Muỗi ngồi hát,
chân xếp bằng tròn, tà áo khép kín hai đầu gối. Đôi tay cô mềm mại gõ phách
theo nhịp đàn và câu hát. Tiếng cô e é chua như giấm. Mỗi khi đến một giọng
cao, cô vươn cái cổ ngắn nổi cộm chiếc gân đũa, khó nhọc như khạc từng tiếng ra
một. Nếu không có hai bàn tay dịu dàng uốn éo với lá phách, và cái tiếng hát nỉ
non, nom cô thiểu não như người bệnh rét đương lên cơn. Tiếng nhật, tiếng hát,
điểm tiếng phách lách cách và tiếng trống chầu nhịp bộp bộp. Nghe vui, giáo Câu
cũng lạ tai.
Giáo Hoạnh và cô đầu
Muỗi đã dẫn nhau ra đằng sân sau tối om. Họ ra ngoài ấy tri kỷ khô với nhau.
Hai anh chị đã bắt nhân tình nhau từ lâu. Hoạnh cũng là tay cừ mới chớp được cô
Muỗi. Vì nàng kháu khỉnh nhất nhà này.
Câu ngồi yên, lắng
hai tai. Nếu không thế, anh cũng chẳng biết làm gì. Về đường chơi, vốn anh kém.
Cũng muốn tán tầm phơ với cô Huệ ít câu, nhưng anh ngại, không biết dọn chuyện
thế nào cho được tình tứ. Bởi vậy, anh cứ ngồi thực thẳng người và ngó trộm cô
Huệ tí chút. Trông cô ta được mẻ người phốp pháp. Mặt tròn như đồng tiền, cô bận
áo lụa nhuộm thiên thanh, quần lụa trắng. Chỉ ngán nỗi, cô nói tiếng ồ ồ như
người trĩ mũi.
Tiếng cô Muỗi hát:
... Nước sông
Tương một dải nông chờ
Cho kẻ đấy, người
đây mong mỏi.
Bứt rứt nhẽ, trăm
đường nghìn nỗi
Chữ chung tình biết
nói cùng ai
Quản chi ư ư... gắn
bó một hai...
Phình phinh...
phính...
Khổ hát xong. Kép
buông đàn. Cô Muỗi ra uống nước. Giáo Hoạnh ở ngoài sân vào, tay cắp cánh tay với
Muỗi, âu yếm như đôi vợ chồng. Hoạnh móc bím, lấy một đồng bạc đưa cho đào
Tình:
- Bảo nó đi mua
hai chai bia. Lấy cái đằng cổ vàng ấy. Một bao thuốc lá “ba tốt” nữa nhé.
Tình ra ngõ. Một
chốc vào thưa:
- Người ta hết
bia, còn có nước “ô-răng-rát”, các anh xơi vậy.
- Cũng được. Cho
ba chai.
Mọi người uống nước
cam và hút thuốc lá. Chuyện nở như ngô rang. Nhưng riêng Hoạnh nói nhiều. Thỉnh
thoảng giáo Kền gật gù chêm một câu, ngang như cua bò. Còn Câu chỉ cười. Các chị
em ngồi quây lại, tiếp những đoạn khôi hài vụn. Không khí vui vẻ và đầm ấm. Câu
đã thấy bạo hơn lúc mới vào. Anh ngồi xích lại gần Huệ, Huệ đánh diêm, châm thuốc
lá cho Câu hút. Hoạnh trông thấy, cười phá lên:
- Á ơ kìa, chóng
thân nhau nhỉ? Nom đẹp đôi lắm. Anh tôi hiền lành, chiều vợ lắm đấy, khi nào
cho ông mối miếng trầu đấy?
Huệ cười tít mắt:
- Dơ cái nhà anh.
Hãy báo lấy vợ chồng anh ấy.
Giáo Câu chỉ mủm mỉm.
Hai tai nóng bừng. Tàn cuộc uống, khổ hát khác lại bắt đầu. Vẫn cô Muỗi hát. Cô
Huệ mời Câu thưởng trống. Câu lắc. Hoạnh cướp lấy dùi, nói: “Xui chồng đập trống!
Có hư hại đổ cho người ta nhé!”. Rồi anh ngồi vào tràng kỷ, đánh trống. Người
ta bảo rằng đập trống như Hoạnh mới là kiểu của kẻ ăn chơi. Anh cầm chiếc dùi ẻo
lả, khẽ gõ lướt trên mặt trống, vẻ mặt anh tươi tỉnh. Đôi mắt lẳng lơ đã đưa
nhìn cô đào hát, khiến cô này thinh thoảng lại mủm mĩm, hát quay mặt ra đằng
khác.
Hồng, Hồng, Tuyết,
Tuyết... Mới ngày nào còn chẳng biết cái chi chi ư... ư...
Lại hát. Câu lại
ngồi yên như phỗng. Bên góc ghế, giáo Kền cũng ngồi ngây, một tay chống cằm,
chăm chú nghe. Câu cũng làm ra vẻ để ý, nhưng thực anh chả thích hát hổng chút
nào. Hát như mèo cái gào đực, không rõ ràng câu kệ gì. Nhìn cái này, nhìn cái
kia mãi, chán. Câu đi lững thững ra đứng ngoài cửa.
Đây là phố xép,
như lối một phố phủ hẻo lảnh. Con đường ruột phố rải đá, chia đôi dãy nhà khấp
khểnh, cái chìa ra, cái thụt vào. Giờ này, thường thường mọi nhà trong phố đã
đóng cửa. Đường sá tối thui. Cách mỗi quãng dài, mới gặp một vạt ánh sáng hắt
ra, đấy là cánh cửa một lò khâu, hay là một hiệu cao lâu có phở xào. Đầu phố, đứng
chết rũ, dúm vào nhau, mấy chiếc xe sắt chổng đuôi lên không có đèn.
Sau lưng Câu, tiếng
guốc lẹp kẹp. Quay lại, Câu thấy Huệ đương đi ra. Anh đứng yên, khoanh tay, vờ
không để ý, nhìn lên đầu phố, Huệ cười, nói ỏn ẻn:
- Đứng đây buồn chết.
Vào nhà đi anh.
- Trong nhà hơi bức.
- Em quạt hầu anh
nhé?
Câu cười mỉm,
không nói gì. Huệ hỏi:
- Chắc anh mới đi
cùng với anh Hoạnh lần này?
- Ba anh em chúng
tôi là bạn với nhau...
- Là em nói anh mới
lên đây lần đầu với anh Hoạnh cơ!
- Ừ, mới lên lần
này. Anh Hoạnh lên luôn hử?
- Luôn đấy. Anh
cũng dạy học à?
- Ừ
- Trường nào thế?
- Trường Hạ Nha.
- À, trường làng
Nha. Làng Nha ấy có anh cả Cang, có anh phó Nghiên, rồi anh Ba gì ấy này...
- Quen hả?
- Các anh ấy lên
hát nhà em thường liền. Hôm nào đi chợ, em phải xuống làng Nha chơi mới được.
Trường anh ở chỗ nào?
- Ngay đầu làng.
- Em quên mất, tên
anh là gì nhỉ?
- Câu.
- Còn anh kia.
- Anh Kền. Anh ấy
dạy trường Yên Thượng.
- Tên là Kên? Buồn
cười nhỉ? Hút thuốc lá, anh?
Câu xua tay:
- Tôi kiếu. Hút
cay xè cả lưỡi. Hôm nay hút nhiều thuốc lá quá. Chúng tôi mới ăn cỗ khao ông
Chánh Rụy bên Phú Gia, rồi lên đây.
- Ờ, phải rồi. Nhà
chị Xuân đằng kia hôm nay sang hát đám ông Chánh Rụy.
- Đây có mấy nhà
hát?
- Có năm nhà cả thảy.
- Ờ, có tiếng tom
tom đằng kia. Sao nghe xa xa như nhà hát ở trong làng?
- Không phải! Các
nhà người ta ở tận trong giữa xóm, chứ không ngoài phố như nhà em.
- Trống nhà này
nghe “bộp bộp” như chặt thịt!
- Trống nhà gạch
mái ngói, không ròn được. Vào uống nước, anh?
- Cứ vào trước đi.
Huệ vào một lát,
Câu mới đủng đỉnh vào. Hoạnh hỏi:
- Ông bà làm gì
nhau ở ngoài ấy mà lâu thế?
Câu cười thật thà:
- Làm gì đâu!
Cô Muỗi lại hát một
khổ hát mới. Hoạnh và Kền chuyền nhau thưởng trống. Câu thỉnh thoảng lại chuyện
dấm dẳn nhát gừng với Huệ, qua chén nước. Đào Tình vẫn chịu khó ngồi kè bên quạt
cho Kên. Chị em, nhất là cô Muỗi, nhấm nháy, có ý chế cái điệu đứng đắn “hủ lậu”
của Kền. Thì cô Tình lại bênh. Cô nói ngọng đặc giọng “tiểu thuyết”. Đầu mỗi
câu, bao giờ cũng phải: “Lói” xin “nỗi” các chị chứ, ở cái thời buổi “lày”...
“Em cam đoan nấy danh dự mà lói rằng...”.
Họ léo nhéo bên
tai. Kên vẫn ngồi im. Anh chỉ ngồi nghe hát.
Cuộc vui kéo dài
quá mười hai giờ đêm. Cô Muỗi xin phép nghỉ hát, và mời các quan viên ngủ lại.
Nhưng Kên đứng lên, nói thực to:
- Ai ngủ thì ngủ.
Tôi về.
Câu về hùa:
- Tôi cũng về.
Hoạnh tiếp:
- Thì anh em cùng
về cả.
Cô Muỗi nài:
- Các anh ở lại
cho vui. Mọi khi các anh vẫn ở lại mà?
Hoạnh nói:
- Mọi khi là tối
thứ Bảy. Ngủ lại đây bây giờ, mai về không kịp buổi dạy. Để khi khác, thiếu gì
lúc.
Rồi Hoạnh móc bím,
lấy tiền chi chầu hát. Chầu hát mất vừa hai đồng, cả tiền đàn cúa chú kép. Đưa
hai tờ giấy bạc cho cô đào Muỗi, anh còn cố ý tóm tay cô ả một cái.
Ba anh em, khăn
đóng áo chùng, chít khăn đội mũ tề chỉnh, ra về. Mấy chị em ríu rít tiễn ra tận
ngõ. Cô Muỗi bận áo tấc bịt tà, đi bíu lấy vai Hoạnh. Tay đôi dìu nhau lại ở
bóng tối, góc đằng kia. Kền bắt tay Tình và Huệ. Chàng giáo Câu cũng muốn bắt
tay như Kền. Nhưng ngại. Nhưng rồi Câu cũng tóm tay Huệ, nói:
- “Ô rơ voa” nhé!
[1]
- “Ô rờ voa”!
Chú thích:
1. Tiếng Pháp
nghĩa là: Xin chào tạm biệt!
Chương II
Cái bàn thầy giáo thật dị
kỳ. Xếp theo dãy dài, nó đứng đầu hàng của mười cái bàn dài và mười cái ghế học
trò. Riêng nó, bằng gỗ gì không biết, nhưng đen bóng. Còn mười chiếc bàn ghế
kia, xương cốt đều bằng gỗ tạp, trắng bệch. Học trò mài chân mài tay lên cái
màu trắng đó đã nhiều năm, nên nó đã biến đổi. Nó được phủ một lượt cao của các
màu mồ hôi, cứt mũi, cứt mắt và nhiều thứ không tên khác. Một lũ bàn ghế nhôm
nhếch, xiêu vẹo dựa vào nhau mà đứng. Cho đến cái bàn thầy giáo là tươm nhất,
mà cũng ốm dở. Nói nó què thì đúng hơn. Bàn chỉ có ba chân. Một chân nữa, là một
chiếc cọc tre, mà người ta đem chôn cắm xuống đất.
Nguyên dạo năm ngoái,
làng vào đám, mượn cái bàn lên đình, đêm hát làm bàn vua cho các ông phường
chèo. Vua giả cách chạy loạn trên núi, đứng lênh nghênh trên mặt bàn. Một tay
gian thần vừa hét vừa nhảy lên toan chém vua. Cái bàn xiêu và... khắc một cái!
Một chân nó oặt xuống. Cả hai ông tướng đều ngã bò chỏng gọng ra. Từ đấy, chiếc
bàn đưa về lớp đã bị tật. Người ta chôn xuống đất cho nó một cái chân giả, như
thế, cái bàn chỉ có thế đứng mãi mãi một xó vậy thôi. Không xô đẩy được như các
đàn em nó là những bàn ghế của học trò kia. Mỗi năm, đến kỳ thi ở trường phủ,
người ta lại khênh chúng quẳng lên xe bò, đem vào cho các lớp thi mượn mươi
hôm. Mỗi năm phải một chuyến du lịch miễn cưỡng, nên những cái bàn cái ghế càng
mệt mỏi, ốm yếu và mất mát dần. Cái chân lỏng, chiếc chắn ngang tụt chốt. Nhiều
khi, học trò đang ngồi, tự dưng hai chân bàn buồn bã, giận dỗi thế nào rồi rời
ra. Mặt ghế sập xuống như cái bẫy chuột. Cả lũ hết vía. Lại lấy gạch, lấy đá gõ
cho mấy chiếc chân vào khớp. May, từ trước tới giờ, chưa có chú học trò nào bị
què cẳng.
Hôm nay thầy giáo Câu ngồi
bàn, lúi húi chấm bài. Hơn sáu mươi cái đầu trẻ con, đủ kiểu lố nhố trước mặt.
Hơn sáu mươi tên học trò, chia làm bốn lớp: a, b, c, bét, tư, ba và cai trị bởi
một thầy giáo Câu. Bấy giờ vừa giờ ra chơi vào xong, ở ngoài sân, bọn trẻ đùa
nhảy đã chán chê. Mà bây giờ chúng vẫn nghịch. Trẻ con chẳng bao giờ biết im miệng,
im chân, im tay. Chúng nói rì rầm. Chúng đá ngầm nhau dưới gầm bàn. Chúng chen,
huých cánh tay. Có những đứa chọi đầu vào nhau, làm như chọi trâu. Chúng văng tục
và chửi nhau. Đứa khóc, đứa mếu, đứa cười. Bàn ghế cũng hòa nhịp cót két rền rĩ
lên. Lớp học lúc nào cũng lao xao, rì rào như có một đàn ong bay qua. Chốc chốc
thầy giáo Câu gõ cái thước lấy lệ, bởi thầy cũng đã quen cái ồn ồn ấy. Bút mực
đỏ vẫn mải miết gạch, xóa, phê.
Bỗng ở ngoài bàn xế cửa,
một đứa đứng dậy:
- Thưa thầy, có...
Thầy ngẩng đầu lên. Anh học
trò chưa thưa hết câu, thầy cũng biết là thưa gì. Bởi ngay lúc ấy có một cái đầu
ở ngoài cửa thò vào. Câu buông bút, đi ra. Tưởng người nào, hóa ra vợ anh giáo
Hoạnh. Chị Hoạnh mặc áo cánh nâu ngắn, quần xắn móng lợn. Một bên nách ẵm thằng
bé con. Đầu chị chưa vấn, tóc quấn túm lại, bù xù như cái ổ rạ trên đầu. Giáo
Câu hỏi:
- Bác đi chơi đâu xuống
đây sớm thế?
Chị ấy khóc mếu máo:
- Tôi lại còn đi chơi đâu
nữa! Sung sướng thế ư...
Rồi chị vén món tóc lòa
xòa trên mặt. Hai mắt chị đỏ ngầu. Nước mắt có sẵn nhiều quá, cứ tuôn ròng
ròng. Vẫn mếu, chị kể lể:
- Người ta đi suốt đêm
cho đến sáng, rồi về nhà, người ta gây sự với tôi...
Câu sửng sốt:
- Chết chửa! Sao lại như
thế? Ra cái anh này...
- Khốn khổ, bác còn vờ,
nhà tôi với bác Kên ở nhà ông Chánh Rụy đến chín giờ, rồi đi đâu, đi đâu?
Câu cãi:
- Tôi nào biết bác ấy đi
đâu!
- Người ta bảo rằng nhà
tôi được xóc đĩa, có tiền, rồi đi chơi cô đầu phố phủ với hai bác. Nhưng bác mà
không đi, thì nhà tôi rủ người khác, tôi còn lạ gì. Trời đất ơi... phen này thì
đến tan cửa nát nhà mất thôi... hic... hic... hic...
Câu toan nói điều gì đó.
Nhưng chị Hoạnh vừa khóc hu hu, lại đùng đùng chạy ra. Đứa con lóc xóc ngật ngưỡng
kêu choe chóe. Những người đi ngoài đường, thấy lạ, nhìn ngơ ngác. Có mấy đứa
trẻ trong xóm đã rủ nhau chạy theo.
Câu nhìn hút chị Hoạnh,
trong bụng tấm tức nghĩ cáu về người đàn bà cả ghen và lắm điều. Anh đứng bần
thần một lát, chợt quay lại. Thì đã trông thấy sau lưng có đến mươi cái đầu lố
nhố thò ra cửa sổ. Có đứa nhút nhát lé một nửa mắt. Có đứa nghịch quá, leo tót
lên ngồi chồm chỗm trên cửa sổ. Thấy thầy giáo, chúng tụt vào nhanh như biến mất.
Cả lớp chợt huyên náo tựa một cái chợ đương buổi họp đông. Đứa thì phồng má, trợn
mép làm tuồng. Đứa uốn éo làm xiếc. Những đứa trẻ bé bị bắt nạt, khóc om sòm.
Được vắng thầy một lát, chúng cuống cuồng múa may, hò hống như một lũ rồ. Thầy
giáo Câu vào, những cảnh nghịch ngợm đương diễn dở. Anh xách mấy tay đầu bò
lên, đét cho mỗi tên bốn thước kẻ bảng vào hai bàn tay. Một lát sau, đã êm cả.
Lanh lảnh tiếng đọc bài.
Thầy giáo vẫn cầm cái thước
kẻ dài như cái đòn gánh, đi bách bộ dọc chiều lớp. Anh đi như vậy, không biết
bao nhiêu lần. Tai nghe học trò đọc, Đôi chóc dừng lại để bảo mấy đứa đánh vần
trắc, nhưng đầu anh vẫn mải nghĩ loăng quăng chuyện khác. Anh nghĩ chuyện cái
nhà chị giáo Hoạnh ban nãy. Chắc hai vợ chồng anh ta mới sinh sự to. Anh thấy
bùi ngùi, hơi hối hận, và ngượng. Vì sự rắc rối kia sở dĩ mà có, chỉ bởi cái
đêm vui thú nhà trò con hát vừa rồi. Đã đành anh chồng nóng và cục đánh vợ là
không nên. Nhưng chưa chắc đã phải.
Bởi vì cái máu ghen của
chị đã có tiếng ghê gớm ngang máu ghen của cô Hoạn Thư trong truyện Kim Vân Kiều.
Đã bao nhiêu lần chị nhảy xuống ao chỉ vì chuyện ghen tuông bóng gió. Khi anh
Hoạnh lên Phú Gia làm hương sư, chị cũng theo lên và hai vợ chồng đã có với
nhau bốn đứa con.
Tưởng mỗi tuổi thì cái
tính hổ lửa kia mỗi dịu xuống. Ai ngờ càng ngày càng ghê. Mỗi lần nghe chồng có
“tiếng” gì, chị nhảy chồm chồm, chị giãy đành đạch, chị nằm nhuôi đứ đừ như bị
bóp cổ. Rồi chẳng ốm iếc chi hết, chị cũng đắp chiếu, nằm rên ầm ầm. Chị rỉa
rói chồng ra rả suốt ngày. Suốt đêm, chị khóc chị kêu, chị kể lể, như giá mất
tiền mất bạc cũng không bằng. Phải anh chồng là cái thằng cục, cứ to tiếng là lại
nện nhau.
Mà tính anh lại hay lăng
nhăng, tự cho là mình số đào hoa có nhiều gái mê. Các nhà giáo quanh đấy cười
nhạo và có ý trách Hoạnh không biết giữ tiếng cho giới hương sư. Nhưng Hoạnh
cũng có lý của anh. Anh cho rằng đàn ông ai chả mê gái, chắng qua là bọn ấy
kém, lại làm bộ đạo đức giả. Anh không cần gì hết. Anh cần gì! Cũng như cái trận
vợ chồng cãi nhau choảng nhau hôm qua hôm nay, cũng chỉ là những trận đòn đánh
quen thuộc. Vợ chồng thì lúc yêu lúc ghét thế thôi.
Song, nếu chỉ thế thôi với
giáo Hoạnh, lại không với giáo Câu. Vợ chồng Hoạnh sinh sự với nhau, nhưng
không lôi thôi đến anh lại đi một nhẽ khác. Bởi vậy, từ lúc vợ Hoạnh bồng con đến,
nhà giáo ta cứ băn khoăn. Gì, chứ rắc rối chuyện đi hát ả đào thì tai tiếng lắm
đây.
Mải suy nghĩ vẩn vơ, đến
giờ tan học, vẫn chưa tô vở xong cho mấy đứa lớp bét. Anh sai đánh trống, và
cho tan học. Mình anh ngồi lại, làm nốt. Ngoài cửa, những tiếng reo hò ầm ĩ, tản
ra xa, lặn vào các ngõ xóm. Những đàn chim sẻ, qua cơn sợ hãi, lại mon men nhảy
xuống cửa sổ kêu tẹc tẹc. Ngoài sân có tiếng “rắc rắc” một vòng xích xe đạp và
tiếng chuông “kính coong”. Câu chạy ra. Giáo Kền đeo kính trắng, mặc áo the, dận
đôi giày tây có cổ. Ghếch xe, nhà giáo hỏi:
- Lúc nãy, vợ Hoạnh sang
anh không?
- Có.
Câu hậm hực kể lại câu
chuyện vẫn bực mình từ ban nãy.
Kền cười, nói:
- Người ta ở đời cũng phải
biết điều một tí chứ. Chẳng đầu đuôi xuôi ngược thế nào đã nháo đi khóc lóc kể
lể, trách móc. Tôi mới dồn cho chị ta một hồi. Tịt rồi lủi. Chắc ở tôi ra thì ả
sang đây. Buồn cười thực, làm như anh em mình lôi kéo chồng ả đi chơi không bằng.
Mà anh em mình cũng can hắn mãi.
- Tôi chỉ ức cái nỗi ấy. Ờ,
làm sao vợ hắn biết được?
- Thế này chứ. Hắn đánh bạc
được mấy đồng xóc đĩa nhé. Lúc ba đứa kéo đi, cả đám cỗ trông thấy. Cái trò ở đời
người ta hay hớt chuyện. Đêm họ đi làm cỗ giúp về, chỉ nói qua bờ rào một tiếng
với vợ hắn, người ta kháo nhau. Ai còn lạ cái thói ghen tuông của ả. Chồng về,
thộp ngực, nói lải nhải. Chồng tức mình mới cho một mẻ. Nghĩ ngẫm người ta ở đời
cũng hay. Nhưng chỉ buồn một nỗi họ lại ngờ oan cánh mình rủ rê.
- Rồi làng nước người ta
biết. Tôi cũng chỉ cáu vì thế!
- Có rỗi hơi mà cáu thừa.
Ai biết mặc ai! Kìa, ta về chứ? Tôi về trước nhá? Kìa quên mũ hả?
Câu đáp:
- Tôi đi đầu trần cho
mát.
Cứ kể giáo Kền nói câu:
“Ai biết mặc ai!” cũng là phải. Nhưng chỉ phải riêng với Kền. Bởi xưa nay thì Kền
cũng có cần gì ai. Anh là người vùng xuôi, lên đây dạy học. Anh thuộc lớp giáo
làng cổ, có bằng tuyển sinh, đỗ cả chữ Hán và quốc ngữ. Năm nay anh ba mươi tư
tuổi.
Hơn ba mươi năm dằng dặc
đời anh tóm lại như sau: Ơn cha mẹ lấy vợ cho từ khi đầu để núm hoa roi. Đi thi
tuyển sinh, anh mười tám, vợ đã có mang, người quắt như cái que, mà nghểu nghện
vác cái bụng thúng. Khi sinh, cả hai mẹ con chẳng may chết. Năm sau, nhà cưới
cho anh cô vợ khác nhưng lại tính toán lối trừ hao, lấy người lại lấy việc nhân
thể, cô này hơn anh bốn tuổi. Nó ở với chồng được hơn một năm, rồi nó tếch đi mất.
Ba năm sau, Kền lại được mẹ cưới cho cô vợ khác. Rổ rá cạp lại đến lần thứ ba,
không cưới xin hẳn hoi gì. Người vợ này đần quá. Mẹ Kền chửi đánh suốt ngày.
Không chịu nổi, nó lại ăn cắp quần áo, dông mất.
Ít lâu sau, mẹ chết, Kền
đâm ra chơi bời. Có một ít ruộng, anh bán vào chiếu đỏ đen hết sạch. Kền cũng
có hai người anh. Nhưng của ai phận nấy, bố mẹ rành ra cả rồi. Kền túng, đồng
xu không còn dính túi. Kền buồn, Kền cắt tóc đi tu, trốn cõi đời khổ não. Kền
tu đâu được hai năm, nhà chùa cho xuống tóc nhưng rồi làm tiểu anh lại vác cái
đầu trọc đi uống rượu thịt chó, nhà chùa đuổi về, từ đấy tâm tính anh thay đổi
nhiều. Người ta bảo anh cám hấp. Có người bảo anh gàn có lẽ đúng hơn. Anh sinh
làm thơ, rặt nói chuyện thơ, làm thơ. Anh xưng biệt hiệu là Tri Mệnh. Nhưng người
ta quen gọi anh là anh Kền, xừ Kền hay là ông “Người ta ở đời”. Bởi thường nói
câu gì, anh cũng bắt đầu rằng: Người ta ở đời... Ông “người ta ở đời”, bỏ quê,
lên Yên Thượng dạy học. Ông ăn cơm trọ. Ông ở một mình. Ông có cái xe đạp tróc
sơn như màu đất, thỉnh thoảng đạp đi chơi chỗ này chỗ kia. Lương mười đồng,
cũng nhì nhằng đủ tiêu. Không phải nuôi ai, chắng chơi bời gì, có thể gọi là
phong lưu. Ẩn sĩ Tri Mệnh có làm một bài thơ tự trào bát cú theo lối “thủ vĩ
ngâm” để vịnh cuộc đời ngót nghét bốn mươi, rằng:
Ta cũng như ai, chẳng kém
đời.
Cũng xen cười khóc, cũng
đầy vơi.
Gia đình tạo lập bao lần
mối.
Hoa nguyệt rong chơi thực
đủ vời.
Chân cảnh trần duyên theo
cửa Phật.
Vui vì con trẻ Khổng môn
chơi.
Hỏi ai đã sướng như ta nhỉ.
Ta cũng như ai, chắng kém
đời.
Ừ thế thì giáo Kền còn có
cần gì ai. Mà cũng chẳng ai hơi đâu xói móc đến hắn ta. Nhưng giáo Câu thực
không thể vô lo như thế. Đi hát cô đầu. Vợ Hoạnh ghen chồng, đánh chửi nhau om
sòm. Cái mặt giáo Câu ê lắm. Câu chưa yên bề gia thất như Hoạnh. Câu không dám
nhét thiên hạ vào một bên lỗ mũi như Kền. Ấy chỉ vì nhà giáo ta mới có hai mươi
tuổi.
Bấy giờ giáo Câu đã nhẩn
nha đi về đến đầu xóm, tay xách cái đồng hồ chẩm cầm vuông to bằng cái bát đàn.
Một bà già ngồi trong cửa, khung cửi đương quay suốt vè vè, ngó thấy nhà giáo
đi qua ngỏ, liền hét vào trong nhà: “Mười một giờ rồi đấy!”.
Ồ, nhà giáo đi về có buổi
cũng như cái đồng hồ của người ta.
Chương III
Giáo Câu không phải là
người làng Hạ Nha nhưng đến đất này làm thầy giáo, cách thức ăn ở, cũng không
khác giáo Kền đến bên Yên Thượng mấy. Thế thì, tối hôm qua anh đi hát ả đào
trên phố phủ, anh cũng chơi bời một chút, đã sao. Không, không, Câu nghĩ, Câu
không thể ừ liều như vậy. Ai biết thì biết, chứ đến cô Miến mà cũng biết thì hỏng
bét. Nhà giáo thở dài thườn thượt một cái, lòng nao nao khi nghĩ đến chữ “hỏng
bét”. Cô Miến mà biết? Hỏng bét thực.
Câu chuyện cô Miến cũng
chẳng có gì nhưng nói lại từ gốc, cũng hơi dài một chút. Nó bắt đầu đã ngót hai
năm nay, từ ngày Câu lên Hạ Nha dạy học. Ngày ấy, Câu đương nằm nhà. Nói là thất
nghiệp cũng chưa hẳn đúng mà cũng là đúng. Thi Sơ học Pháp Việt xong, anh không
còn được cắp sách đi trường nữa, và cũng không biết làm ăn nghề ngỗng thế nào.
Đương khi lúng túng, có anh bạn cũ, anh Diễm, về đón Câu lên Hạ Nha làm hương
sư, làng Diễm đương khuyết chân giáo làng. Nhận lời, Câu lên ngay. Diễm là người
làng Nha. Diễm chỉ học dở dang đến lớp nhì, rồi ra Hà Nội học thợ máy. Anh có vợ
đã có ba con. Đứa lớn nhất lên bảy. Cả nhà ở với mẹ và một thằng cháu, con người
anh của Diễm.
Vợ chồng bác này, mùa hè
năm trước, chết bệnh tả, để lại một đứa con nhỏ cho bà và cho chú nó nuôi.
Lên Hạ Nha, Câu ở trọ nhà
Diễm. Khi ấy, Diễm còn làm ngoài Kẻ Chợ. Mỗi Chủ nhật, Diễm về nhà một lần. Năm
sau, Diễm xin được việc làm tốt tiền hơn, trong sở Ximăng dưới Hải Phòng. Diễm
đổi xuống Phòng, đem vợ con theo, nhưng để thằng cháu và thằng con lớn nhất ở
nhà với bà. Nhân thể để “nhờ bác giáo Câu dạy cho ít chữ”. Từ khi ấy, Câu ở nhà
bà Thiêm - một bà bên họ ngoại. Bà già còn khỏe. Bà cùng hai cháu thổi cơm ăn với
cậu giáo. Thỉnh thoảng, có thư của Diễm ở dưới Phòng gửi về, nhà giáo lại đọc
cho bà lão nghe.
Vợ Diễm là con một nhà
khá giả trong làng. Trước cũng nghèo rớt mồng tơi, sau được có máu mặt, là vì một
việc tưởng như duyên phận thế nào. Năm đó, nghề làm lĩnh lụa canh cửi ế quá,
nhà nào cũng bữa đói bữa no. Trẻ con, kém ăn vàng cả mặt ra. Người ta bỏ làng
đi cũng lắm. Nhà bác Khán Tịnh lâm vào cảnh nheo nhóc. Chị Khán để chồng với lũ
con mọn ở nhà, lần ra Kẻ Chợ, xin được chân gánh nước máy cho một hiệu khách
bán bánh ngọt. Chẳng biết duyên số thế nào, một chú khách làm bánh tằng tịu với
chị. Đôi bên ăn ở với nhau tự nhiên. Chị Khán lấy chú khách, cứ y như là gái
son rỗi, chưa có chồng bao giờ. Chẳng bao lâu, chú khách cũng ra mở một hiệu
bánh nhỏ. Nhỏ, rồi lớn, chẳng bao lâu nữa, đã thành ông chủ giàu có. Nghiễm
nhiên, chị Khán Tịnh thành vợ chú khách có tiền chục tiền trăm ra vào trong
tay. Sung sướng tấm thân, nhưng lúc nào chị cũng nhớ đến, cũng lo cho đàn con
và anh Khán ở quê nhà.
Anh Khán chẳng bao giờ
hay biết gì - hay là biết mà cũng cho qua và chỉ biết như trời cho cái nhà anh
Khán Tịnh đương nghèo thảm thê, bỗng hóa ra đủ bát ăn, rồi lại giàu lên. Chị ta
đem của cải về nhà. Chị gây dựng cho mấy đứa con. Hai người con gái lớn cũng ra
Kẻ Chợ lấy chồng khách, đều khá giả. Anh con trai ở nhà quê, mua nhiêu mua
hương hào đàng hoàng, không phải đi phu phen tạp dịch như dân bạch đinh. Làng
nước trầm trồ, khen chị Khán khôn ngoan. Cái lạ là chú khách bánh ngọt kia vẫn
có khi về làng chơi, ngồi ăn cỗ uống rượu với Khán Tịnh. Chẳng biết chú khách
có biết nói năng thế nào không, chỉ thấy cười hề hề. Người làng đồn chú bảo chú
đem được bác Khán gái đến là lấy được thần tài vào trong nhà, thế là có tất cả,
chẳng cái gì hơn được nữa.
Đương vận tía, thế nào mà
chị Khán Tịnh ốm, rồi chết. Chị không được đứa con nào với chú khách bánh ngọt.
Chú khách làm ma, chít khăn trắng theo phong tục quê, đưa về tận làng. Đám ma
có kiệu đựng ảnh, có kèn có đàn sáo và hai con ngựa trùm vải đen kéo xe tang,
linh đình to nhất hàng tổng từ xưa đến nay.
Nhà bác Khán Tịnh mất một
tay kiếm của. Nhưng cũng không hề, vì sự khá giả đã ngồi vững từ lâu trong nhà
rồi. Hai người con gái ở Kẻ Chợ càng giàu. Khi vợ Diễm lấy Diễm, bác Khán Tịnh
qua đời đã lâu. Nếu bà ta còn sống, chắc chị này cũng được lối ra Kẻ Chợ, gả
cho khách trú. Cái sự tích trường giang của một gia đình kéo dài ra đến ba bốn
mươi năm đời này đến đời khác, vợ Diễm cũng chỉ lờ mờ biết về những ngày lưu lạc
sung sướng của mẹ mà thôi.
Vợ Diễm là con thứ ba.
Sau chị còn một cô em nữa, cô Miến là út. Cô này mới lớn. Trong nhà, bây giờ
cũng không còn phong lưu như ngày trước. Miến quay tơ làm hồ. Đôi khi, cũng
xách đãy đi chợ bán lĩnh, cô làm giúp anh Ba Biên. Cũng có vốn riêng đấy, nhưng
cô để dành cho vay lãi. Ông Khán Tịnh đã ngoài bảy mươi vào tuổi già nhàn nhã.
Ngày ngày ông che cái quạt nan lên đầu, ra ngồi quán, uống bát nước chè tươi.
Thỉnh thoảng, hôm nào vợ chồng Ba Biên hay là cái Miến đi chợ vắng, ông mới
nhúng tay vào quay dặm tơ, có khi đánh cái suốt cho thợ dệt cửi.
Khi vợ chồng Diễm còn ở
nhà chưa xuống Phòng, thường chiều ngày phiên chợ lĩnh thong thả, Miến vẫn hay
đến chơi nhà anh chị ở xóm Giữa. Nhà ở xóm Lẻ, qua xóm Giếng xóm Giữa rồi mới
ra cầu Phượng qua sông. Vì cớ đó mà giáo Câu biết cô Miến.
Đầu tiên, nhà giáo cũng
không để ý. Thì cô Miến đôi khi lại nhà bà Thiêm láng giềng, cũng như lũ trẻ
con bên hàng xóm, thường thậm thọt đến chơi, vốn tính Câu ưa ru rú một mình, lại
hay giữ ý tứ không làm bận rộn đến ai.
Một buổi trưa Chủ nhật,
Câu nằm trong nhà. Tình cờ, Miến tới chơi. Vợ Diễm và cô Miến, hai chị em đứng
nói chuyện ngoài bậu cửa. Câu nghe thoáng vẳng đưa vào tiếng cười khúc khích,
tiếng thì thào. Cô Miến nói to:
- Bác ấy nhát như cáy.
Trông thấy đàn bà là đỏ hai dái tai.
Vợ Diễm suyt:
- Khẽ chứ, con ranh!
Im bặt. Thoáng bóng mờ
trên vách Câu biết có người nhòm vào. Anh vội vàng nhắm hờ hai mắt, cố cất tiếng
ngáy kho kho.
- Bác ấy ngủ thật mà.
- Câm miệng đi. Mày chỉ
hay nói vớ vẩn.
Nằm trong giường nghe
thoáng chuyện của hai chị em, mặt Câu cũng đỏ dừ. Giá Miến nhìn vào tận nơi, hẳn
bắt được quả tang anh ta đỏ mặt. Đích là họ nói mình. Chao! Anh ta nhút nhát
quá, nhút nhát đến nỗi cô Miến cũng phải chê. Cái tính nhút nhát, anh không thể
giấu vào đâu được.
Từ hôm ấy, mỗi lần gặp Miến,
nhớ đến mẩu chuyện của cô ta nói vụng mình, Câu lại thấy như mặt xàm xạm đo đỏ.
Dần dần, Câu cũng nhận được ra cô Miến là một cô gái đẹp. Rồi Câu thấy cô đẹp
quá, đẹp lạ lùng, đẹp nhất làng, mỗi khi trông thấy thì mắt hoa lên. Nhất là
vào những khi Tết mồng Năm, Rằm tháng Bảy, Miến mặc cái áo vải rồng nâu non, thắt
hai vạt trước lại thành quả găng. Má cô đỏ hây hây. Hai con mắt sáng ngời. Khi
cười, đôi bên má lúm xuống đồng tiền.
Xem chừng, không phải cô
Miến không có cảm tình với Câu. Mỗi lần đến nhà chị, gặp Câu, miệng cô chúm
chím, lúng túng: “Lạy bác giáo”. Đôi má hồng phơn phớt. Có khi Câu còn bắt được
những khóe mắt cô liếc trở lại, lúc đã đi ra khỏi đầu ngõ hay là những lúc Câu
đứng bảo học trong lớp ngoài trường. Trường ở xế bên lối đi lên chợ, chỉ cách một
bãi cỏ. Bên kia đường, sông Tô Lịch bèo Nhật và cỏ nước mọc rậm cao ngút đầu. Đứng
trong lớp, ai đi bên ngoài, đều nhìn thấy rõ. Gần trưa, Miến thường cắp rổ đi
chợ.
Vào quãng giờ giấc ấy,
Câu hay thắp thỏm nhìn ra. Miến đi qua, dáng cao cao, tay cắp rổ, tay ve vẩy dịu
dàng. Miến nghiêng nón hơi nhác vào trường. Nếu thấy Câu, nàng làm như trông thẳng
nhưng miệng lại mủm mỉm ra lối chào ý nhị. Câu đứng lui lên đầu lớp, trông theo
cho đến lúc bóng Miến đội nón khuất vào lùm cây nhãn bên cầu.
Cuộc tình không lời, qua
khóe mắt và miệng cười tươi, mơ màng kéo dài. Cho đến khi hai người yêu nhau thật
Không biết lời đầu tiên người ta nói ra với nhau ở trường hợp thế nào. Bởi vì
những lời nói, những cử chỉ đẩy hai người vào mến thương nhau, đã đến từ bao giờ.
Họ thân nhau hơn. Một
hôm, trong một câu chuyện, Miến cười, gọi Câu bằng cậu. Cậu giáo, tôi bảo cậu
giáo... Câu đê mê nghe câu gọi. Trong bụng anh, như cồn cào nhốn nháo, nghẹn cổ
không nói được. Ôi, từ nay Miến không gọi ta bằng “bác”, không “chào bác, lạy
bác” nữa. Cái tiếng bác quê quê xa xôi nặng chịch... Và Câu cũng đã nghĩ ra được
cách gọi Miến thân hơn. Mọi lần thì: cô Miến, cô Miến đến chơi với cháu hả?...
Cô Miến có đi chợ, làm ơn mua giùm tôi... cô Miến... Bây giờ anh Câu cứ gọi cộc
lốc là Miến. Êm ái biết mấy... Miến này, Miến có đi bán hàng phiên chợ lĩnh này
đấy chứ?.. Có, cậu ạ... Trên đời, không còn lúc nào thương yêu hơn, lúc hai người
nhìn mặt nhau, khẽ nói những câu vẩn vơ như thế. Nhưng mới chỉ là gọi nhau vụng
trộm. Trước mọi người, vẫn cô vẫn bác như mọi khi, chẳng ai dám thốt ra một câu
tân thời rằng: tôi yêu Miến lắm, tôi nhớ cậu, cả đêm không chợp mắt.
Giữa khi ấy, vợ chồng Diễm
cùng hai đứa con nhỏ xuống Hải Phòng. Ở nhà, chỉ có bà Thiêm, thằng Vật, với đứa
con đầu của vợ chồng anh, là thằng Ném. Và Câu.
Cô Miến vẫn đến như mọi
khi. Cô đến có ý và cũng có cớ, ấy là những buổi xế trưa, đi chợ qua nhà bà
Thiêm, Miến tạt vào cho bà Thiêm gửi tiền, nhờ cô mua rau. Trong một tuần, đã
thành lệ, cô gặp thầy giáo Câu ở nhà vào buổi trưa thứ Năm và ngày Chủ nhật.
Hôm nay là thứ Tư.
Chỉ trưa mai Câu lại được
gặp Miến.
Khốn nỗi, dường như cái
chuyện đi hát ả đào tối hôm nọ, đã lan khắp các xóm. Chết một cái, giá vợ chồng
giáo Hoạnh không làm ỏm tỏi lên thì cũng chắng ai đã biết. Bây giờ cả bốn bên
làng xóm người ta nói giăng giăng.
Sáng hôm nay, Câu ở trường
về, gặp Hương Kiệu. Hắn cười hềnh hệch: “Tối hôm nọ, các ông hát nhà đầu Muỗi
trên phố phủ phỏng?”. Giáo Câu trả lời lửng lơ “Phiền quá!”. Hương Kiện tán gạ:
“Cần gì. Thời buổi này, cũng phải chơi bời tí tình chứ? Hôm nào tôi rủ ông
nhá?”. Câu cười gượng.
Thế là cái tích chơi bời
đi hát cô đầu tai tiếng quá lắm rồi. Ôi chao, ngày mai thứ Năm. Miến đến đây,
ngộ Miến mà cũng biết chuyện này, thì thực chết, nhà giáo biết chui đi đâu. Nếu
Miến hỏi, thì trả lời thế nào.
Chương IV
Thứ Năm, Câu dạy học
buổi sáng, chiều nghỉ.
Buổi trưa, ăn cơm xong,
Câu vác cái gáo dừa, thằng Nếm lể mể xách chậu, hai thầy trò ra ngoài cầu ao tắm.
Dội ì uàm một lúc, thực mát mẻ thỏa thuê. Nhà giáo về, mang cái ván gỗ và miếng
xà phòng ra đầu sân, ngồi cởi trần, giặt giũ. Quần áo, anh giặt lấy.
Anh chẳng đem lên phố chợ
giặt là bao giờ. Không biết ai đã bảo người ăn chơi có quần áo mà đưa thợ giặt
là, nhiều cái hại lắn. Biết đâu trước khi giặt, chúng nó hãy mặc của mình một
tua cho chán chê đã. Thế là các thứ vi trùng lậu, tim la, ghẻ lở của nhà thổ, ả
đào cứ việc lây sang hết. Rồi chúng nó đem nhét cả vào nồi, nấu sôi sùng sục.
Quần áo có phải là củ măng đâu mà ninh cho dừ! Rồi cứ thẳng cánh vò, cào, chải
bằng bàn chải tre bàn chải sắt, chẳng thương gì vải. Quần áo giặt là, hồ bột cứng,
mặc cũng oách thực, nhưng được mấy nả là đi đời.
Giáo Câu chưa mặc quần áo
là bao giờ. Mới thấy thiên hạ đồn đại thế, chứ cả hàng tổng hàng huyện này cũng
không đào đâu ra có một hiệu thợ giặt. Dạo nọ, nghe nói trên phố chợ cũng có
nhà treo bảng giặt là nhưng được mươi hôm, vắng tanh, lại hạ bảng xuống.
Giáo Câu giặt lấy. Nhà
giáo xát xà phòng lên áo, khẽ vò những cửa tay, viền cổ có đọng ghét, anh dùng
móng tay cái, khẽ cạo gượng nhẹ. Vò xong, anh bỏ đồ giặt vào cái chậu sành,
bưng xuống cầu ao. Giũ thực kỹ quần áo cho khỏi hơi xà phòng khét. Khoắng một
chút lơ vào chậu. Dúng áo vào cái nước xanh xanh ấy, đem phơi thực căng trên
dây mây. Cái quần thì anh lồng miệng cạp vào mảnh tre chữ thập, phơi lên như
treo đèn kéo quân. Hết nắng, quần áo thực khô anh lấy xuống, gấp nép, vuốt thực
phẳng. Rồi nhà giáo lót tờ nhật trình, để áo xuống dưới chiếu nằm. Qua một đêm
ngủ, quần áo dẹp cứng. Mai đã có bộ đồ trắng bong, đủ nếp gấp ngang dọc đẹp mắt
chẳng kém đưa hiệu giặt là cái chắc.
Phơi phóng xong tinh
tươm, Câu vào trong nhà, ngó đồng hồ. Hơn một giờ. Câu cuống quýt. Giờ này Miến
sắp đi chợ qua. Vội vã, Câu mặc áo. Cái áo sơ-mi vạt ngắn vạt dài, có một túi
chéo trước ngực cổ thì vểnh ra hai cái tai. Bà Thiêm vẫn cười thầy giáo có cái
áo tân thời khác áo khách, áo gì mà hai vạt so le như cái yếm rãi trẻ con.
Nhưng đấy là tấm áo mồi diện của nhà giáo. Ngoài giờ lên lớp, chỉ khi nào đi
chơi đâu, Câu mới xỏ tay vào cái sơ-mi ấy. Áo mặc xong, Câu cầm chiếc gương
tròn bé xíu, soi mặt. Mấy sợi tóc bồng xõa lướn phướn, anh lấy lược miết tóc xuống.
Anh ngó ngoắt sang hai bên. Chững lắm. Cái sơ-mi trắng. Cái quần tây đen. Đầu
mượt. Chân đi guốc. Anh bước ra hiên, nhìn ngoài ngõ.
Gian hồi bên trái bà
Thiêm đương ngồi quay tơ, bà ngủ gà. Chốc bà lại buông ống, trễ miệng xuống, đầu
ngật đi một cái. Chiều nay được nghỉ học, thằng Nếm đã chạy đâu chơi từ lúc
nào. Thằng Vật đến tuổi học làm đã đi ở làm tháng học dệt cửi, chiều tối mới về.
Nhà vắng teo. Thoáng ngoài vườn, nghe có tiếng gà con lích tích kiếm ăn.
Câu vào trong vại gạo,
vóc một nắm, đem ra vườn. Chốc nữa, Miến có vào, Câu đã đứng lơ mơ làm như sẵn
ngoài vườn. Khuất cái giậu nứa và một giàn trầu không trong vườn chẳng trông được
lên nhà.
- Chích chích... Bập...
Chích, bập!
Từ bốn góc vườn, trong những
bụi sói, bụi ớt, mấy chú gà con lắt nhắt nhoăn nhoắt chạy đến. Sau cùng là một
mụ gà mái. Cả mình xám ngắt, hai chân trắng bệch, bộ lông vàng khè. Chắc vừa
dũi ở một đóng đất nào ra, mụ giũ hai cánh, bụi bay mù. Rồi mụ cong đuôi, cúi
xù cái cổ “cục cục” tất tả rảo cẳng tới bên đàn con. Một lũ gà nhỏ, với một gà
mẹ, hong hóng vây quanh nhà giáo, đợi buông cái nắm tay gạo xuống. Con nhóc nào
cũng bị bôi phẩm xanh đầy đầu. Đếm chưa đủ gà tới, Câu lại “chích bập” gọi nữa.
Không còn một con nào đến thêm. Ban ngày, đàn gà tản mác đi kiếm ăn ở các mảnh
vườn xung quanh. Vả lại, đây cũng là một bữa ăn bất thường, không phải như mỗi
sớm mai. Chúng không quen lệ. Đàn gà của nhà giáo còn đông hơn nữa. Cả thảy, một
đàn gà ấp, hai mụ mái đang đẻ, ba mái tơ và bốn chú gà trống choai. Đổ đồng, mỗi
tháng cũng được ngót hai chục trứng. Trước kia, đến phiên chợ, Câu lại nhờ thằng
Vật đem trứng lên chợ bán. Được hai xu thuê, nó sướng run. Bây giờ, ngày phiên,
cô Miến qua, đem trứng bán giúp. Nhà giáo thấy có một cái gì thú vị trong cử chỉ
ấy. Thằng Vật ra lối càu nhàu. Muốn đẹp lòng nó, thỉnh thoảng, có thêm tiền bán
gà, nhà giáo lại cho tiền nó như lệ. Chuồng gà đầu xanh - lối xóm người ta gọi
thế là vì đầu con gà nào nhà giáo cũng bôi phẩm xanh. Nhà giáo để dành tiền vào
ống tre, cưa tréo một vệt miệng. Cuối năm, bổ ra cũng đem được mươi đồng về
quê. Cứ hòng vào mươi đồng bạc lương mỗi tháng thì thừa thõi đâu. Bởi vậy, nhà
giáo trông nom, chăn dắt lũ gà kỹ lưỡng lắm. Thứ Năm Chủ nhật, chỉ ra vườn lúi
húi với gà qué. Bà Thiêm cũng phải chịu thầy giáo còn trẻ mà chí thú, chịu
thương chịu khó.
Nắm gạo đã tung hết. Đàn
gà tranh nhau ăn. Con mụ lắm điều vừa nhặt vừa cục cục ỏm tỏi. Lũ con cũng đẩy
nhau, kêu choe chóe. Có khi đương chăm chú nhặt ăn lại quay ra, chọi nhau tay
ba tay tư. Nhưng chỉ mổ láo nháo vài mỏ, chúng lại chổng đuôi chúc mỏ liên liến
nhặt gạo. Chẳng mấy chóc, cả những hạt tấm giắt vào khe gạch cũng không còn.
Đàn gà nhớn nhác, dạo loanh quanh. Chúng nghiêng má, nhìn lên bàn tay Câu. Thấy
đợi lâu, không còn gì nữa, đàn gà tản dần. Con thì nằm khểnh, phơi cánh. Con
thì bắt chước mẹ, kiếm chỗ giũi đất phành phạch. Nếu không, rỗi rãi quá, lại
chơn vờn chọi nhau suông.
Nhà giáo đứng ngẩn, nhìn
dõi theo từng nhách gà một. Tuy vậy, mắt vẫn liếc ra ngoài ngõ. Xem có bóng người
ló vào chăng.
Đợi hoài, không thấy.
- Nắng đã quá đầu ngõ kia
kìa, mấy giờ rồi, cậu giáo?
- Dạ, hai giờ rưởi.
- Chết! Chiều rồi. Hôm
nay chắc cái Miến không đi chợ. Cứ ngóng con này mà gửi xu rau thì có khi mất bữa.
Cậu xem hộ tôi thằng Nếm có quanh quẩn ngoài ấy không?
- Nghe như tiếng nó đùa
léo nhéo ngoài bờ ao làng.
Bà già ra giậu, ngửa cổ,
gọi réo:
- Ới Nếm... ơi...
Chỉ sau mấy tiếng, đã thấy
cái đầu trọc tếu loang lổ vết mực tím, lùi lũi ngoài ngõ chạy vào.
Bà quát:
- Có về mà đi chợ không!
Xuống bếp lấy cái rổ. Tiền đây này. Nửa xu rau muống, chọn cái đằng non ấy. Một
đồng hành, đồng răm, đồng mắm tôm. Năm xu, bốn bánh đậu phụ. Mau mau, ba chân
tám cẳng lên, ở nhà tao nhóm bếp đấy. Hôm nay thứ Năm, cậu giáo ăn cơm sớm.
Giáo Câu vẫn hy vọng Miến
đi chợ muộn. Nhưng chiều muộn hơn, cũng chẳng thấy bóng cô ả. Thế là hôm nay Miến
không đi. Nhưng cái sự “thế là” tự nhiên ấy không đủ che lấp nỗi lo ngại trong
lòng Câu. Cho đến sẩm tối, anh vẫn đi ra đi vào, ngong ngóng ngẩn ngơ. Tới lúc
cu Vật đã đi học dệt cửi về, vừa đi vừa múa may nghêu ngao hát, nhà giáo mới thực
hết trông đợi.
Làm sao Miến không đến?
Có sự gì. Cái câu chuyện hát hỏng phải gió kia, tất đã bay đến tai nàng. Nàng tức
Câu. Nàng giận Câu rồi. Con gái là hay hờn dỗi lắm. Mà cũng tại mình. Câu lo.
Câu lo quá. Lại ngay ngáy nóng ruột nữa. Bữa cơm chiều ấy, nhà giáo chỉ và qua
loa được ba vực bát.
Thôi, đích là Miến giận
Câu. Hôm sau, thứ Sáu, lại hôm sau nữa, buổi chiều Miến có đi chợ qua cửa trường
học. Câu trông thấy rõ ràng. Thế mà cô ta che nón đi thẳng. Làm như không biết
có ai đương chăm chăm đứng nhìn ra. Cả hai hôm nữa cũng vậy.
Câu hoảng. Chàng ta giận
mình, phát nhức đầu lên. Ấy là Miến chỉ mới không nhìn anh, để anh đoán được là
cô giận dỗi. Chứ nếu Miến lại nói: “Cậu không phải người tử tế. Thôi, từ giờ trở
đi...” mai đây nhà giáo có thể nổi cơn ốm liệt giường cũng nên. Mới biết, say
nhau rồi chỉ một cái chẳng bằng lòng xoàng cũng đủ lộn can tràng lên rồi. Anh
chàng cáu, không để đâu cho hết giận mình. Anh thở ngắn thở dài về cái buổi tối
trót dại nọ. Mà anh trót dại thực. Chếnh choáng ba chén cay, coi trời bằng
vung. Nhất là lại được anh em xốc nách lôi đi. Ai nỡ từ chối. Để đến nỗi bây giờ
ầm ĩ cả lên. Người ta cãi nhau, người ta ẵm con sang tận nơi trách móc. Làng nước
kháo chuyện bô bô ai cũng biết.
Xấu hổ quá.
Chủ nhật. Câu nằm khoèo ở
nhà. Đáng lẽ như mọi buổi sáng được nghỉ, Câu hay sang bên Yên Thượng chơi với
Kền. Bữa nay, anh không muốn ra khỏi ngõ. Anh nằm, chán lại ngồi thừ. Anh bốc nắm
gạo ra vườn rắc cho gà ăn. Cất nhắc việc gì, cũng thấy bải hoải, chán chân,
chán tay. Cũng là bởi cái tâm sự ủ ê mà ra. Bà Thiêm đi chơi quanh đâu vắng. Thằng
Nếm thì nằm kềnh ngoài phản, tập tọe đọc quyển Lên Tám. Tiếng nói bi be u ơ cãi
nhau với tiếng chim sẻ ngoài sân. Một chốc, nó đã buông sách xuống, ngủ khoèo.
Giữa trưa, bà Thiêm về.
Bà lão, lưng không rạp xuống. Đi như con rùa bò. Bởi ngóc lên nhìn ra trước mặt.
Ngày còn con gái, lưng bà gồng gánh nhiều, đã khum khum. Càng về già, cái lưng
cong xuống theo tuổi. Bây giờ thì lúc đi cũng như lúc đứng, lưng bà phẳng một
lượt với cổ.
Một đời bà Thiêm, cái
lưng còng ấy làm chứng cho biết bao nhiêu sự chịu thương khó, vất vả. Chồng chết
sớm, một tay bà gây dựng nhà cửa. Bà cưới vợ được cho cả hai người con trai.
Anh nhớn sớm ăn cướp công bà rồi, để lại cái thằng Vật đấy. Mẹ nó là một con
đàn bà đốn đời. Cái năm bà dựng lại nếp nhà ở bây giờ, bà mướn một bọn thợ mộc.
Khi làm xong, bọn thợ đi. Cả nàng dâu bà cũng đi nốt. Đời bà, cay đắng nhất lần
ấy. Bởi vì lúc nào bà cũng chăm chăm giữ gìn tai tiếng. Lúc nào bà cũng cố cho
được hơn người. Chẳng vậy, Diễm được đi học, rồi bà lại chạy vạy thế nào, gửi
cho ra Kẻ Chợ đi học thợ máy. Diễm đã có nghề hẳn hoi. Bây giờ, chẳng giàu có
hơn ai, nhưng bà cũng được nhàn nhả rồi. Con bà làm việc nhà máy nhà nước, mỗi
tháng gửi về tám đồng. Ở làng này, chẳng có ai kiếm nổi nửa xu của Tây. Thực là
điều danh giá. Bà không phải nhọc mình nữa. Bà ngồi quay mướn con tơ cho khỏi
buồn tay. Thế mà bà cũng chịu khó ngồi quay tơ liền. Có một ít tiền, bà cho vay
lãi vặt, một đồng bạc, tháng đẻ lãi một hào chỉ. Có ai trong xóm nhỡ nhàng, cầm
cái áo the, cái thắt lưng, bà bỏ tiền ra cầm. Người ta ghét bà có tính nói dai,
lắm điều. Nhưng bà chỉ lắm điều xổi, mà chẳng để ý chửi rủa thù oán ai.
Bây giờ suốt ngày bà ngồi
lầm lì, gật gù với cái lồng cái ống. Bởi chẳng có nàng dâu nào ở nhà để mà nói.
Ấy là bà nói chuyện thôi, chứ không phải bà mắng chửi. Giáo Câu vốn ít lời, chỉ
mở miệng khi nào có việc. Hai đứa trẻ thì chạy nhoăn nhoắt như chuột cả ngày.
Bà lão ngồi buồn, thỉnh thoảng rì rầm nói một mình. Cái tật ấy rồi cũng thành bệnh.
Nhiều đêm, Câu thức giấc, bỗng giật mình, có tiếng ai lào xào đâu bên kia vách.
Nghe mãi, hóa ra bà Thiêm nói. Bà nói ậm ào, lăng nhăng, lảm nhảm.
Trưa nay, bà lão đi đâu về,
mua được cây mía đỏ. Bà chống lom khom như chống chiếc gậy bột. Vào đến hiên,
bà ngồi xuống. Cái lệ quen của bà lão trước khi ngồi, đấm lưng thùm thụp mấy
cái. Ngó vào trong buồng, thấy Câu, bà hỏi:
- Cậu giáo không đi chơi
đâu à?
- Dạ, không. Tôi váng vất...
- Cậu nhức đầu à, trở trời
đấy. Cái lá thầu dầu tía hay lắm. Cậu ra vườn hái mấy lá thực non, đắp lên
trán, chỉ một chốc toát mồ hôi, khỏi ngay. Nắng mới, ai cũng khó chịu. Từ nãy,
tôi cũng thấy váng vất đấy.
Chợt bà lão như nhớ ra điều
gì.
- À này cậu giáo...
Câu nhỏm dậy, hốt hoảng.
Tâm thần anh lúc này cũng đương hoảng hốt.
- Cái gì, hả bà?
- Tôi vừa nghe người ta
nói câu chuyện lạ lắm.
- Chuyện sao ạ?
Bà lão trợn mắt, nói khẽ,
rủ rỉ dằn từng tiếng - lối nói một câu quan trọng:
- Chết! Sao cậu dại dột
thế. Đầu xanh tuổi trẻ, chớ nghe anh nghe em mà có khi oan gia. Cậu cũng hiền
lành như em hai Diễm thì tôi mới dám nói.
- Nhưng cái gì kia ạ?
Bà lão lại lên giọng, gật
gù cái đầu như để lấy đà từng tiếng:
- Người ta bảo tối hôm nọ
cậu đi lên phố phủ hát nhà trò với nhà giáo Kền, nhà giáo Hoạnh phải không?
Bây giờ Câu mới nghe thủng.
Anh thở dài, hoàn hồn. Từ nãy anh vẫn ngờ ngợ câu chuyện có dính dáng đến Miến.
Nhưng thế rồi anh cũng lúng túng, không biết đáp sao, chỉ dạ dịp.
- Dạ... Người ta cứ
nói...
- Chỉ vì cô đầu cô đuôi
mà vợ chồng giáo Hoạnh đánh nhau suýt có án mạng đấy thôi... Khốn nỗi, chỉ sinh
oan gia, rồi mang tai mang tiếng, mà lại tan nhà nát cửa. Tôi khuyên cậu, đầu
còn xanh tuổi còn trẻ...
Câu cười gượng:
- Có đâu, thiên hạ cứ đồn
nhằng...
- Úi chào! Người ta chuyện
giăng giăng ở ngoài đường kia. Mười người nói như một.
- Người ta ghét thì nói
thế, bà ạ.
- Thôi, chuyện đâu bỏ đấy,
tôi chỉ can cậu từ giờ đừng dại nữa nhá. Đánh đu với tinh đấy. Chẳng hay hớm gì
đâu.
Bà lão quen nói với Câu
như nói với con mình. Câu cũng vẫn nghe những câu ấy là thường. Anh cười, nửa cợt
nửa thực:
- Tôi chỉ có một ty.
- Một ty mà chẳng chết à?
Nhà trò nó bỏ bùa mê vào nước cho mà uống, nó cho ăn cháo lú đấy, u mê chằng chịt
đi. Bán vợ đợ con vì chúng nó. Vùng này đã có mấy ông chánh ông lý liểng xiểng
mất nhà mất ruộng với cô đầu cô đuôi đấy.
Rồi bà thở dài:
- Sao đời bây giờ lại lắm
cái ma cái quái thế. Ngày xưa, làm gì có. Ăn chơi lắm, chỉ đến xóc đĩa, tổ tôm
là cùng.
Và bà bắt đầu ngồi kể các
chuyện ngày xưa. Bất cứ ở câu chuyện nào bà Thiêm cũng gài vào được một hai mẩu
chuyện xưa. Ngày còn mồ ma ông ấy... ngày còn mồ ma ông nọ... Câu chỉ ừ hử. Bởi
anh đương buồn buồn nghĩ: “Chết chửa, từ bà già đến đứa trẻ lên ba, ai cũng biết
tối hôm ấy...”.
Rồi anh thiu ngủ. Bà lão
vẫn lải nhải. Anh chợp đi. Nhưng anh chỉ chập chờn một lát. Khi dậy, hai mắt đỏ
hoe, đầu nặng trịch. Bà lão ngồi im từ lúc nào, đương ngồi quay tơ trong nhà.
Tiếng cái vầy tơ nhảy lóc cóc nhẹ nhàng.
Trưa hôm ấy, Miến cũng
không đến mua rau hộ. Chẳng khó gì cho bà lão. Không gửi được Miến, bà Thiêm
sang bên hàng xóm. Có khi cu Nếm lại lễ mễ cắp cái rổ. Bà không đi chợ. Lưng
còng, bà lạch được tới chợ thì đã tối ngày. Nhưng Miến chẳng đến, thì chỉ nóng
ruột cho Câu. Chao ôi! Nhà giáo buồn thiu. Anh loanh quanh ra vào, ấy náy chẳng
buồn cất nhắc việc gì. Mãi đến chiều chiều, anh mới ngồi chấm vở cho học trò.
Cái bút nằm trong bàn tay trên tấm phản làm bàn, cứ uể oải, muốn rơi.
Bấy giờ nắng đã xế. Bóng
mái nhà đổ xuống sân, rợp một khoảng rộng. Ngoài vườn, nắng hoe lên trong lá. Bụi
sói, giàn trầu không và những tàu lá cau nhuộm nắng vàng rượi. Nắng yếu, chỉ có
ánh mà không còn nóng nực. Chấm được vài quyển vở, thuận tay, nhà giáo làm việc
đã ra ý chăm chú.
Lắng nghe có tiếng cười
rúc rích ngoài đầu ngõ. Và tiếng trẻ con nói lanh lảnh. Rồi tiếng chân chậm chạp
thình thịch vào. Giáo Câu buông bút, nhìn ra. Trời, anh giật nẩy mình. Dễ thường
hai bên má anh cũng sởn gai ốc lên. Miến vừa ló dầu vào trong ngõ. Thằng Nếm
đương bám một bên túi áo dì. Rồi nó cong người cố kéo. Chắc dì nó đã chiều ý, để
cho nó lôi từ ngoài đường ngoài ngõ vào đây. Thằng bé nhăn nhó, nheo mắt, vòi:
- Dì cho cháu một xu...
Đi... dì...
Dì Miến gỡ tay cháu:
- Tao mách bà cho nhá?
Nó reo lên:
- Ê, ê, bà đi uống nước
ngoài quán rồi. Đi dì... Cho cháu...
Dì nó lại gắt:
- Lúc nào thấy mặt là
cũng thấy vòi xu. Thầy giáo kìa, có bảo học trò...
Nếm toan nũng nịu nữa,
nhưng thầy giáo nó đã quát khẽ:
- Nếm giỏi nhỉ! Không được
hỗn!
Nó nhớn nhác, toan lủi.
Giữa khi ấy dì nó dúi vào tay nó một trinh. Nó cười toét miệng, rồi nhảy tênh
tênh, chạy tít ra ngoài đường cái. Thầy giáo Câu, đương đà, còn mắng thêm một
câu thực oai:
- Trẻ con, nuông nó, sinh
hỗn ra!
Rồi nhìn Miến, anh ta chợt
im, quên hứng. Và bỗng trở nên bối rối. Cô Miến đi đâu mà coi lạ, áo tấc ngắn,
đầu chít khăn vuông mỏ quạ. Hai ống quần xoe lên đến đầu gối. Tay cầm cái sào nứa
nghênh ngang. Câu hỏi:
- Đi đâu thế?
- Đi hớt bèo ngoài ao
đình về cho vịt.
Rồi Miến quay ra. Câu cuống
quít:
- Này..
-...
- Tôi hỏi cái mà...
-...
- Mấy hôm nay sao không đến?
- Tôi bận.
- Miến dỗi tôi đấy hả?
Miến nghiêm mặt, chua
chát:
- Ai công đâu mà dỗi. Cậu
muốn đi chơi thì cứ đi chứ. Tôi có dám biết đâu!
Câu nhăn nhó:
- Người ta cứ đồn xuýt
ra. Chứ thực tôi...
- Tôi oan hẳn? Còn biết lắm
chuyện lạ nữa kia.
- Chuyện gì?
- Chuyện gì thì cậu biết
đấy.
Câu bùi ngùi:
- Miến ạ, từ giờ thì tôi
chừa. Thực tôi chừa đến ngày xuống lỗ.
Dáng hẳn cái nét mặt của
nhà giáo lúc bấy giờ coi thiểu não, ngẩn ngơ quá, khiến Miến phải bật cười. Cơn
hờn đã dịu. Mà biết đâu cô cũng chỉ làm bộ dỗi ít thôi. Nhưng không tỏ vẻ gì
khác, cô nói lảng:
- Rổ bèo tôi để ngoài đầu
ngõ... Tôi về đây.
- Thứ Năm Miến đến nhá?
Chẳng biết Miến có đáp
hay không, Câu không nghe tiếng. Cô ả vác cái sào đùng đùng chạy ra. Nhà giáo bồn
chồn nhìn theo.
Trưa hôm sau, Miến cắp rổ
đi chợ qua cửa trường. Giáo Câu ngó ra, Miến đương ngả nón, quay mặt vào nhoẻn
hẳn một nụ cười.
Câu tỉnh người. Yên chí,
thực Miến đã hết giận.
Chương V
A, đây, chị ơi!
Có Muỗi nhìn lên:
- Phải rồi.
Cô Huệ và cô Muỗi đứng lại
trên cầu Phượng, cười khúc khích.
Họ đã tìm thấy. Bên kia cầu,
phía trong gò cỏ lớn, trường học làng Hạ Nha. Gọi là trường học cũng không đúng
mấy. Cái ngày trước, hồi các cụ trong làng mua vôi cát gạch ngói về, chưa có dụng
ý xây trường học. Trước nó là cái quán làm điếm tuần lại là chỗ cúng quan ôn.
Mái thấp, ba bề mặt, đứng sững hai chiếc cột gạch vuông. Bên trong, một cái bệ
long lở, ở trên, trơ trỏng bát bình hương vỡ. Đấy là quang cảnh của cái quán mấy
năm trước.
Bây giờ cũng có đổi khác,
theo chức việc và với sự già lão của nó. Một hàng rào tre đan lưa thưa quanh
trước cửa, bám hai cột cổng, làm đỏm cho cái mặt trường. Trên cổng, tòn ten một
tấm biển vuông, kẻ mấy chữ phiết sơn đen: École Hạ Nha. Trong sân, mọc thon von
hai cây bàng. Trước chỗ ấy có một cây đa to lắm. Về mùa gió, lá và cành đa đánh
đập nhau, reo à à. Các cụ sợ lỡ gió đu mạnh, một cành đa gãy có thể đổ trường dễ
như chơi. Bởi vậy năm kia người ta đã sửa một cái lề nhỏ, và nén hương với cút
rượu rồi đẵn cây đa. Từ đó, trường chỉ còn hai cây bàng đương bởi tàn lá xanh
om. Đủ hiểu, cái trường học to hay nhỏ bé là nhường nào.
Nói đến cái mái của trường
mới thực là đặc biệt. Nó như một cái đầu bù xù những tóc và chấy rận gớm chết.
Trên mái ngói, chắt những mấy từng rác, rêu và gạch vụn. Ngoài cùng, một lượt cỏ
ấu lúa tủa xanh um. Cao hơn hết bám vào hai trụ đầu hồi, hai cây si hiên ngang
mọc lên. Rể si quấn chằng chịt, lan khắp mái như mạng nhện. Rồi rể si còn chui
qua mái, bám vào tường. Có những sợi rể tìm đường tòi qua mái rủ mành mành vào
lớp học.
Đứng xa, ngắm mái trường
như một vườn cảnh, có cây có lá. Trẻ con đồn ở trên tường trên mái có nhiều dế
mèn và ve sầu. Chẳng biết có không, nhưng dưới mái, lúc nào cũng ẩn nấp chim sẻ,
từng họ nhà bọn dơi muỗi, dơi ngựa. Ban ngày, dơi bíu trên xà từng chùm lủng lẳng
như những quả núc nắc. Chim sẻ thì lúc sinh sự cãi nhau, lúc thì tâm tình rầm
rĩ. Để hòa với tiếng trẻ học nghê nga. Trong lớp, các bệ và bình hương đã được
triệt bỏ một xó, chỉ có những hàng bàn ghế ốm yếu đứng tựa vào nhau trên kia.
Trẻ con ngồi lên, huých, sát hai khủy tay. Trên tường, lơ thơ mấy tờ giấy dài
dán các chữ xanh đỏ, viết mấy câu danh ngôn lớp nào cũng có, mà chẳng đứa nào
hiểu là câu gì. Ngọc bất trác, bất thành khí. Hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu
[1], Thì giờ là vàng bạc.
Cuối trường, đục hai lỗ cửa
sổ tròn tò vò. Trong lớp, sặc sụa hơi người và mùi trẻ con. Nhờ có hai cái cửa
sổ đục, cái hôi hám tanh tưởi cũng thoát ra được một ít...
Hai cô ả đào Muỗi đào Huệ,
tong tả đi vào cửa trường. Bấy giờ đương giờ ám tả của lớp học trò lớn. Những
trò nhỏ thì ngoẹo đầu viết tô, đánh vần khe khẽ. Thầy giáo ngồi trong bàn, khuất
sau mấy vì tre. Tiếng thầy dõng dạc đưa ra:
- Xong chua? Bởi thế mới
tên là hồ Hoàn Kiếm “Oong boong ta la linh!”... [2]
Tiếng ngòi bút gãi xuống
mặt giấy, như tiếng ruồi bay vo ve. Điểm vào những nhịp đọc, cứ phát ra từng
tràng khịt mũi sùn sụt. Ngoài cửa, lấp sau cái phên tre, ba bốn đứa bị phạt, quỳ
lổm ngổm, úp mặt vào cái cột gạch. Tuy vậy, chốc chốc chúng lại thò chân sang đạp
nhau.
Những đứa phải quỳ này đã
trước nhất trông thấy hai cô tân thời lấp ló đi vào cửa trường. Hai cô cùng vấn
tóc trần, đội nón kinh. Một cô mặc áo màu hoa đào. Quần lĩnh đen óng. Mỗi cô một
đôi guốc mới sơn then, gót cao thon thon. Mặt cô nào cũng trắng bự và môi thì
bôi đỏ hoe.
Ba đứa bị phạt quỳ ngoài
cửa, làm hiệu nhắm nháy cho những đứa ngồi ở các bàn gần đấy. Mấy đứa ngoảnh
ra. Qua lần phên, thấp thoáng cái gì lòe loẹt. Vài đứa nữa ngoảnh ra. Rồi, ra
hiệu ngoằng bằng chân ngầm đá dưới gậm bàn, tất cả lớp cùng ngoẹo đầu lác ra hướng
ấy.
Trên bàn, thầy giáo ngạc
nhiên. Thầy gõ thước cạch cạch. Cũng chỉ lác đác mấy đứa nhìn quay vào. Tức
mình, thầy giáo xách cái thước kẻ bảng sừng sộ đi xuống. Thế là thầy cũng ngó
ra ngoài. Ngoài sàn, cô đầu Huệ trông thấy, reo lên:
- Ơ kia, anh giáo Câu!
Nhà giáo cầm cái thước dựng
lên như cái đòn gánh, thò cổ ra ngoài phên, tựa con ngỗng đưa cái đầu lắc lư ra
ngoài nan bu. Mặt anh ngớ ra, khi trông thấy hai người cô đầu đứng ngay ngoài cửa.
Cô Muỗi đon đả:
- Chúng em xuống chợ,
nhân tiện tạt vào chơi anh. Học trò đông, vui nhỉ?
Câu tái mặt. Anh vẫn đứng
chân trong chân ngoài, một tay vẫn cầm cái thước kẻ tay bám lấy cạnh cột. Anh
luýnh quýnh đáp:
- Dạ. Vâng, đông... Các
cô... chợ...
- Một mình anh dạy có đến
một trăm học trò?
- Sáu mươi chín đứa.
- Gớm chưa! Nhà ai mà được
ngần này đứa con nhỉ?
Cô Huệ pha:
- Có họa một ông ba mươi
vợ!
Hai có cười rúc rích. Nhà
giáo càng ngượng, vì câu nói nhảm. Anh quay lại. Đằng sau, lớp học đã biến ra
cái chợ như hàng cá ném giấy trắng xóa. Có đứa chui xuống gầm bàn, nhòm ra. Có
đứa lom khom, hếch mũi ra ngoài phên. Thầy giáo quắc mắt gõ thước.
Cô Muỗi nói:
- Chúng em về đây để anh
còn bận bảo học. Hôm nào các anh lên phố chơi nhá. Đây sang anh giáo Hoạnh bên
Phú Gia cũng gần, anh nhỉ?
Thực thà, Câu đáp:
- Ấy chết, hôm nọ...
- Chị ấy đánh nhau với
anh ấy chứ gì? Chúng em biết ngay hôm ấy cơ.
- Thế a?
Câu ngạc nhiên buông một
tiếng “a”, thõng hàm xuống, và tròn mắt lên, trong khi hai cô ả đào quay ra Câu
vẫn đứng trơ. Cô Huệ liếc nhắn anh một liếc. Anh không dám nhìn lại và thật
hoang mang, anh lừ đừ đi vào. Tai đỏ hắt. Trán mồ hôi toát lâm râm.
Cho đến lúc tan học, anh
vẫn chưa hết cơn ngơ ngác. Anh sợ lịm người đi được. Có hai người cô đầu đến tận
trường ỏn ẻn hỏi chuyện anh. Cả sáu mươi chín đứa học trò cùng nhìn thấy. Chúng
đương rì rầm kháo rằng thầy giáo quen hai cô tân thời. Những đứa học trò gái
càng ríu rít tợn. Chúng nhìn trộm thầy, rồi nhe răng sún, cười với nhau. Giáo
Câu chắp tay sau lưng, đi đi lại lại, bối rối nguồn cơn. Chưa biết có nên về
hay không. Mỗi đứa học trò có một cái miệng để nói chuyện bô bô. Mỗi đứa lại có
vài ba người nhà. “U ơi! Bầm ơi! Có hai cô tân thời áo đỏ quần trắng đi guốc
cao gót đến trường cười cười nói chuyện chơi với thầy giáo cơ”. Chốc nữa, cả
năm xóm làng Nha, ai cũng nghe rõ ràng thế. Cả mấy đứa cháu cô Miến cũng học ở
đây. Chúng nó ngồi kia, đứa bàn nhì, đứa bàn năm. Nhất định cô Miến ở nhà cũng
biết nốt. Miến cũng sẽ biết tường tận như mọi người ta. Làm thế nào, trời đất
ơi! Rắc rối quá.
Quả nhiên. Rắc rối thực.
Giáo Câu bỗng vùng vằng đi về. Trường học ở ngay đầu làng. Trên cửa đình, lúc
nào chẳng có mấy người ngồi ở bậc đá hóng mát. Bên đầu cầu Phượng, cái quán nước
chè tươi, lúc nào cũng nêm người ngồi khít ghế, chuyện gẫu và nhìn người đi
qua. Bọn học trò chưa về đến nhà, người ta đã tỏ tường cả rồi. Lại nữa, là ngày
phiên chợ. Làng xóm tấp nập ngoài đường như mắc cửi. Hai ả nọ đi vào trường, ắt
lượn qua cả mấy nơi ấy. Làng ở khuất, ít người lạ tới. Ai đến, người ta cũng
dõi xem vào nhà ai, huống chi đây lại là hai cô tân thời “đờmi” quấn tóc trần,
đi guốc gót đầm.
Hôm sau, Câu gặp Hương Kiệu
ngoài hàng nước, hắn cười, hỏi ngay:
- Đầu Huệ có vẻ kết ông
giáo nhỉ? Đến tận trường chơi.
Câu phàn nàn:
- Rầy rà quá!
Kiệu làm điệu nói nhỏ ra
lối quan trọng:
- Này ông giáo phải coi
chừng... Tim la, nổ ống khói thì chết bỏ mẹ, chẳng hay hớm gì đâu.
Khổ cho Câu chưa! Người
ta tưởng Câu chơi bời lắm. Oan này nặng hơn oan Thị Kính. Lại hàm oan với cô Miến
nữa, mới cay đắng làm sao. Cái hẹn đi đứt rồi, hơn một tuần nay, Miến không bén
mảng qua nhà. Thỉnh thoảng, Câu thoáng thấy nàng đi chợ qua cửa trường. Chiếc
nón lại che lệch lấp hẳn mặt, chỉ nhận được dáng đi quen.
Một bận, Miến có đến đưa
tơ cho bà Thiêm quay. Giáo Câu hôm ấy có nhà. Bà Thiêm hỏi:
- Đi chợ mà không tạt vào
cho bà gửi mua rau?
Miến đáp:
- Cháu bận, dạo này cháu
không đi chợ.
Biết chắc là Miến nói dối.
Câu vờ lảng ra cửa. Miến đi qua không nhìn. Câu đứng vườn, khẽ gọi theo. Nàng
đi lừ lừ như không nghe tiếng. Câu đờ đẫn, tiu nghỉu. Cổ anh nghẹn lại. Hai
hàng nước mắt râm rấp muốn bò ra.
Từ hôm ấy, anh lừ khừ như
người ốm.
Ở đầu làng, giáp cầu Phượng,
phía bên này bờ sông Lịch, trông sang lũy tre làng Yên Thượng có mấy ngôi nhà
tranh dựa vách vào nhau, cái nào cũng ở bên vệ sông, tưởng như nhà cửa sắp ngã
ngửa cả xuống dòng nước. Cái xóm xép, có mấy nhà nghèo khó ở đâu đến ngụ cư. Lẫn
vào đây, hàng nước chè tươi, một quán thịt chó.
Quán này không ra vẻ một
ngôi hàng. Mỗi buổi sáng, vào quãng mặt trời lên lưng bụi tre, lũ trẻ trong trường
học ra giờ chơi, lại trông thấy lủng lẳng treo ở cái móc sắt một con chó trước
cửa nhà. Con chó đã thui rồi, da vàng óng, cái đuôi cong vểnh, khung lưng uốn
khum. Hai mắt chó trợn xếch, hàm răng trắng nhả chìa ra, như dọa trẻ con.
Chỉ một lúc con chó đã được
chủ quán chặt ra từng mảnh, người trong làng lác đác ra mua. Người ta ăn thịt
chó cũng nhiều. Có lẽ vì cái thịt chó ăn bỗ bã, rẻ hơn cá. Hai nhà ở cái xóm ngụ
cư này bán thịt chó, ngày phiên chợ tơ có hôm hết cả con. Lạ là chó ở đâu đem đến
lắm thế. Chó bị đánh bả, chó ốm hay chó chết. Cứ nghi hoặc thế, nhưng người ăn
vẫn cứ ăn, ăn thịt chó uống rượu. Chỉ có đàn bà và người đồng bóng không ăn và
không nhà ai đặt lên giường thờ cúng thịt chó cả.
Sớm Chủ nhật, giáo Kền với
giáo Câu cũng lò dò ra hàng thịt chó đầu cầu Phượng. Hai nhà giáo mặc áo tấc trắng,
đi guốc mộc, Kền đội mũ trắng, Câu để đầu trần rẽ lệch. Giáo Kền chui vào quán,
hỏi to:
- Chó má thế nào nào?
Ở dưới bếp lão quán chạy
lên:
- Chào hai ông giáo. Hôm
nay thật cày dòng đấy.
Kền bấm móng tay vào mảnh
thịt đặt trên thớt, gật gù:
- Ờ, cho anh em tôi năm
hào thịt, hai hào lòng. Nhiều gan vào. Chặt nhỏ nhé. Nhiều húng nhiều mắm
tôm...
Lão nhà hàng xẻo thịt
chó. Kí cốp chặt, một lát, đã được một vốc thịt, một đống lòng gan, lù lù. Tất
cả, gói vào hai mảnh lá chuối, riềng và nắm rau húng quế. Mắm tôm thì đổ vào
tàu lá dong, xách riêng. Đã phòng sẵn, giáo Kền lấy trong túi ra mảnh giấy nhật
trình to gấp đôi, trải xuống chõng hàng, rồi cuốn cả hai bọc lòng, thịt vào.
Câu cắp lên tay như bọc sách vỡ các nhà thầy cầm cẩn thận.
Trả tiền rồi, hai người
đi vòng lũy tre, ra cánh đồng, sang bên Phú Gia. Vừa đi vừa nói chuyện. Cánh đồng
trải ra hai bên đường những thửa ruộng trồng mầu, đất trắng bệch. Lác đác mấy củ
cải héo, chuột gặm chỉ còn trơ gốc đám cà chua muộn. Những luống khoai lang chuột
cũng rũi tơi tả, hay là người rỡ trộm không biết. Cuối đồng, chẹt vào những
khoanh tre xanh rì, hai cái cột trụ đầu làng quét vôi trắng xóa, cổng làng Phú
Gia.
Kền nói:
- Tay Hoạnh ưa cái khoản
cẩu nhục này lắm.
- Anh ta bảo ăn miếng giồi
chó thì đầu óc sáng suốt, nhai miếng thịt chó, tỉnh táo cả người.
Kền cười:
- Mình không đến nỗi mê
thịt cầy nặng như thế. Nhưng thỉnh thoảng được chén, cũng thú. Hôm nay con chó
ngon đấy.
Câu nói:
- Cứ kể sang bên Hoạnh
thì tĩnh mịch thực. Mà tôi vẫn ngại vợ ông ta. Từ dạo vợ ông ẵm con sang tận
Nha để trách, tôi vẫn khó chịu lại ngượng nữa. Có khi chị ta vẫn còn cáu mình.
- Vợ Hoạnh bụng dạ phổi
bò lắm. Nói đấy, lại quên ngay. Chắng thế mà hôm nọ gặp tôi ở cửa đình Thượng,
lại vồn vã mời tôi sang, lại trách sao lâu không sang chơi. Có thế, hôm nay mới
đi, không phải bỗng dưng đâu.
- Vợ chồng ông này cãi
nhau, có khi đánh nhau.
- Chuyện! Vợ chồng thụi
nhau như cơm bữa.
Ngẫm nghĩ một lát, Câu ngẩn
ngơ nói ra ngoài chuyện:
- Nghĩ chơi cô đầu cũng hại
thực.
- Hại chứ. Đã có câu hát:
“Cô đầu, cô đít, cô đuôi. Cửa nhà bán hết ai nuôi cô đầu”. Được cái chúng mình
chẳng có gì bán mà vẫn chơi được.
Câu rầu rầu:
- Tôi bơ vơ mà cũng hại.
Kền cười. Cái cười góp, Kền
không hiểu cái hại của Câu thế nào. Câu chỉ ngậm ngùi với bước chân đi. Đã vào
đến cổng làng. Sau nhà trường, cách cái ao bèo tấm đầy rau muống, đến nhà ông
giáo Hoạnh.
Nhà giáo Hoạnh có ba
gian. Một gian bên có phên vách. Đấy là buồng vợ ông giáo nằm với đứa con nhỏ.
Trong ấy còn đồ đạc gì nữa, thì không trông thấy, lúc nào cũng tối om om, mùi đất
mốc xông lên rợn người. Gian giữa, một cái phản và một cái chỏng kê khít nhau.
Phản và chõng vừa làm chỗ ăn cơm vừa làm chỗ ngủ của thằng Biền, cái Gia và có
khi của nhà giáo. Nơi đây còn một cái cũi đóng toàn tre đực chắc chắn, để đựng
mấy cái quần áo và những thứ vặt vãnh bề bộn.
Trên vách, mấy tờ tranh
tiền, tranh lợn, dán đã từ mấy Tết nay. Trong vách giữa, choán cả gian, một bức
tranh bằng vải sơn đã tróc loang lổ vẽ cảnh đền Ngọc Sơn, cái cầu đỏ, chiếc
tháp đá cao và dưới hồ, hoa sen đỏ, lá sen xanh. Tấm vải phông đã ố, nhiều chỗ
xơ ra như mướp. Cái mảnh dưới, trẻ con mó vào luôn, đen thui.
Trong nhà không có bàn thờ.
Bàn thờ đặt ngoài sân, nó là một cái cọc tre, đứng bên vại nước. Nom như cái
bàn cò quay trên chợ ngày phiên, đây là cái cây hương cúng thần Đất. Gian bên
trái, trống hốc không có vách. Dây thài lài, dây bìm ở dưới rãnh bò ngổn ngang,
vươn vào. Chái này, dùng làm bếp. Ông đồ rau gạch vồ ngồi vùi trong đống tàn
tro. Vài chiếc nồi đất cắm cọc treo rải rác ở hóc cột. Dưới mặt đất ẩm, những cụ
cóc ngồi chầu hầu, thỉnh thoảng lại tép lưỡi bắt con bọ mạt, con muỗi. Nhà này
là nhà thầy giáo mà đố ai bới đâu ra được một quyển sách, lọ mực. Chỉ những giẻ
rách và giấy lộn vớ vẩn. Sách vở, nhà giáo để cả lên mái ngoài nhà trường.
Kền và Câu bước vào trong
sân, đánh tiếng chẳng thấy ai thưa. Hai người cúi xuống, chui vào nhà. Đương ở
ngoài nắng, thò đầu vào đây, hai mắt tối sầm. Đứng một tí, xung quanh mới rạng
dần. Hai nhà giáo nhìn đất dưới gầm phản, hai thằng bé con trần truồng nằm ngủ
li bì. Thằng lớn là thằng Biền. Hai tay quấp đầu thằng cu Con, môi dưới trề xuống,
dãi chảy nhơn nhớt. Cu Con đạp một chân lên bụng anh. Cổ chân nó còn bị buộc một
sợi thừng gai, một đầu trói vào cái mễ phản. Dáng hẳn mẹ đi vắng, đã giao cho
thằng lớn giữ em, nhưng vẫn chưa chắc, nó ngủ nên phải buộc như thế.
Cũng phải. Nhà này, trước
cửa có ao. Năm nọ, vợ chồng nhà giáo đã mất một đứa con về nghiệp nước rồi. Thằng
bé xấu số ấy là vai sau cái Gia, anh thằng cu Con đấy. Mẹ nó đi chợ, để cu Biền
giữ em. Thằng bé bò ra sân, rồi bò xuống ao. Mẹ về chợ, lay Biền dậy. Hai mẹ
con nhớn nhác tìm thằng bé. Người mẹ ra bờ ao trông thấy trong đám rau muống
nhô ra một cái cẳng chân trẻ con. Đã bị cái chợn, nên khi có thằng cu Con, hễ
đi đâu, mụ cũng cột chân nó lại chỉ cho bò quanh gầm giường. Muốn ngủ, cứ việc
lăn ra ngủ. Trẻ con nằm đất, các cụ già bảo nằm đất mát và khỏe người, lại lặn
được cả rôm sảy.
Hai nhà giáo loanh quanh,
chưa biết ngồi vào chỗ nào. Ngoài sân có tiếng chân đi bịch bịch. Rồi một cái đầu
búi tóc ngược nhô vào.
- Kìa hai bác sang chơi.
À, bác giáo Hoạnh. Bác
giáo gái đi tắm ở ngoài ao về. Một tay cầm chiếc gáo dừa. Một bên nách cắp cái
rổ đựng quần áo. Tóc bác tóm lại, quấn tròn thành một núm chon chỏn xế đỉnh đầu,
như búi tóc bà Trần Đông Sơ, trong tranh ở truyện Nhị Độ Mai. Bác lon ton chạy
vào, lấy cái gậy, dựng tấm dại tre trước cửa. Ánh sáng bừng hửng lên.
- Hai bác vừa mới sang?
Kền nói:
- Chúng tôi vừa đến. Bác
trai tôi đi đâu ạ?
- Nhà tôi vào trong nhà
ông chánh Rụy. Đâu đi tính hộ cái sổ thuế gì ấy. Đi đã lâu, chắc cũng sắp về,
hai bác ngồi chơi. Biền ơi! Dậy đi con, dậy đi gọi thầy. Có hai bác giáo sang
chơi. Đã lâu lắm, hai bác bận gì mà chẳng thấy sang?
Kền cười:
- Từ độ hai bác vặc nhau ấy
mà.
- Ấy tôi cứ như con mẹ
điên. Hơi một tí là tôi lên cơn chạy linh tinh. Chắc hôm ấy các bác buồn cười lắm
nhỉ?
- Không, nghĩ chuyện người
ta ở đời, chúng tôi chỉ giận sao tối hôm ấy không can bác Hoạnh.
- Nhà tôi thì có ông
Thiên Lôi can. Bác Câu mang cái bọc gì to thế kia?
- Thịt chó, thịt chó.
Chúng tôi mang sang khao hội đoàn viên anh Hoạnh. Nhà bác phải đăng cai. Có được
không ạ?
Mụ Hoạnh cười toe toét:
- Được ạ, được ạ. Cái ý
thì được. Tôi chứa cơm chứa rượu hử? Cứ thế là phải, tôi bằng lòng quá. Chơi bời
cô đầu nhà trò chỉ hại tiền hại của mà rạc người ra chứ được tích sự gì.
Kiền nói:
- Nhà ta đăng cai thôi.
Cơm rượu các thứ anh em tôi canh ty nhau cả rồi. Bác chỉ phải lo thế cho.
Có tiếng trẻ con í ới
ngoài sân. Giáo Hoạnh đã về. Cái Gia đi sau lưng bố, cầm chiếc que đập đập, giả
cách được cưỡi ngựa, cười như nắc nẻ. Lúc ấy thằng Biền và thằng cu Con cũng đã
trở dậy. Biền cởi thừng buộc chân cho em. Hai đứa ra ngồi bậc cửa. Bốn con mắt
ngái ngủ ngẩn ngơ nhìn các ông khách.
Hoạnh trông thấy hai bạn,
reo lên chạy vào bắt tay. Nghe vợ kể chuyện và nhìn thấy gói thịt chó, anh ta
múa hoa cả hai tay lên. Bấy giờ hai vợ chồng nhà giáo và ba đứa con cùng đứng
vào một góc, góp thành bức tranh gia đình. Hai đứa trẻ cởi truồng, bụng ỏng rốn
lồi ra như hai quả mít. Đứa mặc áo, lại toét mắt, và cả nhà này mẩn đỏ bị muỗi
đốt nhiều quá. Tháng Ba, muỗi hoa xoan, nhà lại ở cạnh ao, muỗi bay, quơ tay vốc
được. Khắp mặt ai cũng lấm tấm sần sùi - chỉ trừ hai con mắt. Người lớn, trẻ
con luôn luôn ngứa ngáy, hai tay bắt quyết vào nhau đen đét. Những nốt muỗi
đương biến ra nốt ghẻ ruồi.
Cũng chẳng sao. Câu chuyện
trong bóng muỗi mù mịt cứ râm ran như ngô rang. Hai đứa trẻ bu lại, tò mò nhìn
bọc giấy để bên cạnh bác giáo Câu. Thằng Biền lủi vào bếp, nhóm lửa, đun ấm nước,
trong khi bác Hoạnh trai dặn với ra ngoài ngõ:
- Nhà nó lấy năm bánh đậu
phụ. Lấy hai xó chai rượu ty. À nhớ mua ớt, nhả!
Thức chén đã sửa soạn
xong. Bác Hoạnh gái đặt ấm nước, nhét thêm cái củi vào cho bếp chảy âm ỉ, rồi
bưng cái mâm chõng sang gian giữa. Thằng Biền hí húi xới cơm vào cái thùng gỗ.
Rồi nó ôm thùng lên, để sẵn ngoài đầu phản. Xong việc, Biền ẵm cu Con, xua cái
Gia, ba anh em lếch thếch ra đầu ngõ nặn đất thó chơi bầy đình chùa. Không dám
chăn các em đi chơi xa, chỉ quanh quẩn đầu xóm, sợ thỉnh thoảng bố có gọi gì
chăng. Người lớn đàn ông vào chén rượu, đến sau còn gì thì trẻ con và đàn bà
ăn, xưa nay vẫn thế.
Mâm cũng tiềm tiệm được,
theo những con mắt của ba nhà giáo châu đầu quanh mâm. Một đĩa thịt. Một đĩa
lòng. Bốn bánh đậu phụ. Mắm tôm, riềng, húng để một góc mâm. Lát nữa ăn cơm,
thêm bát canh rau muống nấu gừng. Rượu lưng một chai bố, rót ra ba cái chén đàn
uống nước. Lúc nãy chén đã được cu Biền đem chén cọ sạch cấn nước vối.
Bắt đầu vào cuộc, không
ai nói năng gì mấy. Thỉnh thoảng, Hoạnh khậm khà khen cái thịt cầy hôm nay mềm.
Rượu chừng hai chén, bắt đầu có đôi mẩu chuyện vặt qua lại. Câu chỉ ngồi lừ lừ.
Đôi chốc nhăn mũi nhấp chút rượu, rồi nét mặt lại lìm lịm. Con mắt như mải nghĩ
chuyện đâu đâu.
Hoạnh đùa:
- Ngồi như bụt mọc thế?
Nói chuyện cho vui chứ? Cơn cớ sao mà buồn?
Câu mỉm cười, thở khà một
tiếng:
- Không, có sao đâu.
Kền gật gù:
- Nghĩ người ta ở đời
cũng nên vui một tí. Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy. Sống thác âu rằng ai cũng một
lần.
Hoạnh cười thực to:
- Khá! Ai cũng một lần.
Hoạnh lại cười thực to:
- Ai cũng một lần.
Hoạnh nói:
- Hôm nay ông anh thuyết
giỏi. Anh em mình đây mà cứ nghĩ ngợi lẩn vẩn thì lúc nào cũng đến mặt chữ nãi
ra thôi, ông chẳng ra ông, thằng chẳng phải thằng, chẳng ra làm sao. Cái bài
thơ ấy gì của bác Kền nhỉ?
Kền đắc chí, gật gù:
- Không phải của tôi. Của
ông Tú Xương. Hờ hờ...
Lúc túng toan lên bán cả
trời
Trời cười thằng bé nó hay
chơi
Ô hay công nợ âu là thế
Mà vẫn phong lưu suốt cả
đời.
Hoạnh nói to:
- Hay, hay. Bác cạn chén
rượu thưởng này cho tôi. Cứ kể như anh em mình đây, tiếng thế, cũng còn bằng vạn
thằng khác. Mình khổ thực, mà lắm lúc nghe chuyện chúng nó muốn đổ hai hàng nước
mắt. Tôi đã lăn lóc cái nghề này, tôi biết. Nhiều cảnh đau lòng lắm. Có anh dạy
học trừ nợ. Có làng chỉ giả được mỗi tháng có ba đồng, cơm nuôi. Ở thì ở, không
ở thì bước. Giáo Năng trên Bặc ta biết đấy, mà chẳng đâu xa nữa, cảnh tôi đây
thôi. Ngán lắm. Nói ra bảo phụ nghề chứ, bao giờ xoay xỏa được cái khác, tôi
cũng xin vái tổ...
Chú thích:
1. Dịch nghĩa: Ngọc không
mài, không thành. Ngậm máu phun ngừời, trước tiên bẩn miệng.
2. Tiếng Pháp: (un point
à la ligne) một chấm, xuống dòng.
Chương VI
Ghi chú:
Kiểm duyệt của Pháp ở Hà
Nội năm 1942 đã cắt bỏ chương VI tiếp theo.
Đại ý chương này như sau.
Nhà giáo Kền tính bướng bỉnh
hay gây sự với hương lý. Bọn hương lý ghét Kền đã vu cho nhà giáo hay làm thơ
chửi đời, lại có âm mưu lập “hội kín” chống nhà nước. Vì Kền chỉ là hương sư,
lương tháng do làng trả, nên làng có quyền mượn hay bỏ. Giáo Kền đã bị hương lý
làng Thượng sa thải đuổi khỏi làng.
Năm sau, giáo Kền ra mỏ
ngoài Uông Bí, xin được việc làm ngoài mỏ.
Thư từ giữa Kền và Câu, Kền
có nói bóng gió với bạn về sự giác ngộ vào tổ chức cách mạng của Kền.
Chương VII
Bấy giờ đã tan học
buổi chiều. Ánh nắng xế nghiêng ngoài gò cỏ. Câu lúi húi kéo cái phên nứa, rấp
lối vào lớp học. Cái phên xiêu vẹo ấy là tấm cánh cửa nhà trường. Mấy cái đầu
trẻ con còn lấp ló ngoài cột trụ. Bỗng một đứa hét vào:
- Thưa thầy, có
khách.
Nhà giáo giật thót
lưng lại. Bởi từ khi tự dưng mà Câu phải tiếp hai con ả đào tai ác kia, hễ nghe
ai nói lấp loáng “có khách”, nhà giáo đã nhớn nhác ngay.
Mấy đứa trẻ la lên
như thế, rồi chạy biến.
Ngơ ngác nhòm ra,
Câu lại thấy một tốp học trò lố nhố đi từ phía cầu Phượng lại. Dáng hẳn lũ này
bắt gặp khách hỏi thăm, chúng bèn xúm xít, đưa đến trường. Mấy đứa hớt lẻo
nhanh chân chạy đến báo trước.
Khách đương đi
trong đám học trò, khách đi giữa. Ba bốn đứa dẫn trước. Có đứa đi giật lùi ngắm
nghía khách. Mấy đứa ríu rít sau lưng. Nom như trẻ con đương chơi đám rước.
Nhưng kể khách
cũng khá lạ mặt, khách là đàn ông. Một điều cũng bớt lo cho nhà giáo Câu. Khách
đã đi vào đến trong sân. Đó là một chàng mặc quần áo tây, - người mặc quần áo
tây thì oai thực. Chàng đội chiếc mũ trắng đít vịt, lại dìm mũ lệch nghiêng một
bên. Cái mũ to tướng, dầy cộp, mà mũ chỉ nằm hờ một góc đầu. Chàng mặc áo sơ-mi
cộc tay. Áo màu vàng, rộng thùng thình. Hai bên ngực có hai cái túi to. Ở giữa,
đáng lẽ là hàng khuy, lại là hai sợi dây vải vàng vắt chéo chân rết, leo cho đến
chỗ hai cái tai cổ bé. Quần là ống thẳng đuỗn. Chân mang đôi giày, đế kép trắng.
Bước êm tờ, lặng như đi chân đất. Lũ trẻ con, nhìn ngần ấy thứ, đã choáng mắt...
Giá xem được kỹ hơn, chắc chúng nó còn thấy hai chiếc giày có hai lỗ thủng, lòi
ngón chân út xám xỉn, ám bụi cát đường cái.
Khách đã bước vào
đến thềm lớp. Chàng ta ngả mũ, cười. Cái mặt thì đen thui, hai hàm răng to trắng
lôm lốp. Chàng thò tay ra bắt tay Câu:
- “Bông dua” [1]
ông giáo! Tôi là Răng, Trần văn Răng, mới đến bên Yên Thượng.
- A, ông giáo mới
làng Thượng...
Nhà giáo mới làng
Thượng cười ha hả:
- Phải, phải, chỗ
đồng nghiệp mà. Tôi mới đến hôm qua. Hôm nay đi thăm anh em xung quanh.
- Mời ông vào ngồi
chơi trong này.
- Thôi vẽ. Chỗ anh
em cả. Đứng đây cho mát. Xừ [2] cứ gọi tớ là toa, moa [3] cho tiện. Đường đi lại
về sau còn dài.
Rồi nhà giáo tên
Răng lần túi áo trước ngực, móc ra bao thuốc lá Ba tốt. Chàng lại sờ túi bên cạnh
lấy bao diêm.
- Vu [4] cứ ăn tự
nhiên với moa một điếu thuốc, vu đừng ngại gì hết. Vu lấy đi...
Bất đắc dĩ, lúng
túng lính quýnh nữa, Câu rút điếu thuốc. Một que diêm xòe. Hai điếu thuốc cùng
phập phèo cháy. Khói xanh từng làn mỏng uốn éo. Câu chuyện trao đổi qua lại.
- Vu dạy ở đây từ
bao giờ?
- Tính có mấy năm
rồi.
Răng trợn tròn hai
mắt:
- Mấy năm? Ô là
la! Chịu khó quá. Moa mà ở liền cái chỗ nhà quê cơm hẩm này mấy hôm cũng mủn
người ra rồi. Vu có biết không? Moa đã đi giang hồ du lịch khắp năm xứ Đông
Dương. Thôi thì đủ. Từ Nam chí Bắc. Nào Sà-goòng, nào Hà Nội, nào Yên Bái, Lào
Kai. Tuốt tuốt...
- Ghê nhỉ?
- Cái tính moa thế.
Chỗ anh em moa không nói phét. Ở đâu lâu một chỗ, nóng lòng nóng ruột, không chịu
được... ấy moa vừa ở Huế ra. Ở Huế sướng lắm. Nước sông Hương chảy lờ đờ. Con
gái đi chân đất, đeo kiềng vàng, cười cứ tít hai con mắt. Thú lạ.
- Thú nhỉ...
- Phải, thú lắm.
- Thế bác vào làm
gì trong ấy?
- A moa đi buôn.
Moa thì đủ nghề, đủ ngón tháo vát. Làm chủ có. Làm thợ có. Dạy học cũng đã từng.
Lại dạy cả võ. Võ moa khá lắm. Chẳng phải nói phét, cái khổ người lẻo khoẻo như
toa, moa đánh ngã hàng tá. Dạo ở Lao Kay, đã khét tiếng. Bây giờ toa mà lên đấy,
toa cứ hỏi xừ Răng Hà Nội ai cũng nhớ. Vỏ Tàu. Vỏ ta. Vỏ Lào. Moa đã tranh giải
vô địch Bắc Kỳ rồi đấy.
- Bác là vô địch Bắc
Kỳ?
- Không. Đánh hòa
thôi. Hai bên cùng chịu nhau.
- Bác tài thực.
- Moa tài lắm chứ...
Để hôm nào uống rượu mà nói chuyện vỏ mới hợp. Nhưng ở đây chán thiu người ra
thế này.
Thầy giáo Răng lại
hùng hổ nói:
- Moa nể quá. Chẳng
nhẽ ông chánh Yên Thượng ông ấy nhắn mãi. Nhưng thôi cũng chẳng cần gì. Dạy
chơi ít lâu, chan chán rồi thì moa lại đi giang hồ. Moa nó như con dao pha. Nay
đây mai đó, leng beng lung tung, mà sướng hơn quan huyện đấy. Không nói phét
đâu.
- Dạy học thế này,
chắc bác khổ bác ngại lắm?
- À, cái khổ thì
moa đã khổ nhiều rồi. Ngọt bùi cay đắng đã nếm đủ mùi phong trần. Chỉ còn ao ước
chưa được đi ngoại quốc một chuyến, sang Tàu sang Tây chẳng hạn. Ở cái làng bên
trên kia, đi qua cánh đồng là làng gì nhỉ?
- Làng Phú Gia.
- Ờ ở làng Phú
Gia. Làng ấy cũng có trường?
- Có, cũng có trường.
Người bạn tôi dạy bên ấy.
- Moa biết rồi. Từ
hôm qua, moa đã di dạo khắp. Đến đâu phải thuộc thung thổ ngay nơi ấy chứ.
Không nói phét, dắt đất vào ăn cướp được rồi. Vùng này ba làng đều có trường.
Đây là một. Bên moa là hai. Ở Phú Gia là ba. À, thế cái xừ giáo ở Phú Gia là xừ
gì nhỉ?
- Bác Hoạnh.
- Hoạnh. Nhớ rồi.
Toa là Câu, giáo Câu.
Câu cười:
- Gớm, bác này tài
dò dẫm nhỉ?
- Chuyện, nghề phải
thế chứ. Còn moa Trần văn Răng đít Cao Sơn các-vi-dit đây. [5]
Răng giở bím, lấy
ra một tấm danh thiếp trắng lốp. Ở trong, có hàng chữ nửa ta nửa Tây: Trần văn
Răng dit Cao Sơn à Hà Nội. Răng đưa cho Câu. Câu đón lấy, ngắm nghía. Trong khi
đó, Răng lại nói ba hoa trời đất một lúc. Câu cũng chỉ nghe lơ mơ thôi. Bụng
anh đã đói mõm, sôi rong róc. Tính rụt rè lại hay ngượng nghịu, Câu không biết
nên nói thế nào để về được. Đành đứng ừ hữ, đưa đẩy câu chuyện.
May sao, Răng giơ
hai tay nói to:
- Ô là la, sắp tối
rồi. Moa phải về ăn cơm. Ở đây người ta ăn cơm sớm quá. Toa cũng về ăn cơm chứ?
- Dạ, vâng.
Hai người cùng đi
ra. Lũ học trò từ ban nãy vẫn đứng vớ vẩn ngoài cột trụ. Chúng đợi xem ông giáo
Răng. Ông Răng và ông Câu thủng thỉnh đi ra. Lũ trẻ lắp ló bước theo sau. Rồi
chúng còn chịu khó đi theo sang tận bên kia cầu Phượng, để nhìn theo thầy Răng.
Đến chỗ rẽ vào trong xóm. Răng bắt tay Câu nói:
- Chủ nhật này moa
sang, toa dẫn moa lên chơi xừ Hoạnh nhé. Moa cần giao thiệp rộng.
Câu đáp lại, ấp
úng.
Chú thích:
1- Bông dua (
Bonjour) chào
2- Toa – moa ( mày
tao) tiếng Pháp, cách xưng hô với bạn bè thân thuộc.
3- Xừ là từ tiếng
Monsieur gọi tắt
4- Vu (Vous) Ông
hoặc Bà
5- Moa Trần Văn
Răng đít Cao Sơn các vi dít đây ( Tôi là Trần văn Răng biệt danh là Cao Sơn,
danh thiếp của tôi đây)
Chương VIII
Phú Gia là một làng nhỏ,
ken giữa mấy cánh đồng làng khác. Không hiểu sao, lại có một làng con con như
thế lẻ loi giữa bốn bên đồng ruộng các làng thiên hạ. Số đinh trong làng không
quá năm mươi tên. Chỉ có vài ba chục nóc nhà lèo tèo. Làng cũng không có nghề
nào là nghề chính. Mấy nhà theo nghề dệt lĩnh lụa canh cửi đều ở bên làng Nha,
làng Thượng. Đây chỉ có nhà làm vườn, trồng rau. Có những nhà chuyên nghề kiếm
ăn mò cua bắt ốc ngoài hồ. Bởi thế, người ta thường kể rằng làng này xưa chỉ là
nơi tụ họp những người đâu đâu trôi giạt đến, lâu dần lập nên làng xóm.
Đã thưa người, làng lại
nghèo. Chân phó lý khuyết mấy năm rồi, mà chưa có ai thay. Ông thư ký trong hội
đồng kiêm cả chân tộc biểu. Gọi là đất cò trắng, đến đỗi bao nhiêu lâu chẳng có
anh mõ nào đến xin việc hầu hạ việc làng.
Ấy thế nhưng cũng may,
làng còn có nổi cái trường học. Và như các làng Thượng, làng Nha lương trả ông
giáo thì quỹ làng chịu. Vì thế mà con em trong làng được kéo nhau đi học tận suất.
Năm nọ, trường mới mở cửa,
có cả những bác đầu to như cái rành, cũng ra nhờ thầy giáo khai sáng cho “ăn
mày thánh” mươi chữ. Người ta đồn bây giờ chữ quốc ngữ dễ học hơn chữ Nho, chỉ
chịu khó nửa tháng đã biết đọc được truyện Kiều, truyện Nhị Độ Mai. Nhưng chỉ
háo hức mấy hôm đầu. Rồi cũng bỏ dở cả vì miếng cơm manh áo phải lo. Vả lại,
con trai lớn đi học hay bị bọn con gái chế giễu. Thà chẳng học thì đừng... Rồi,
ra trường học chỉ còn trẻ con lau nhau. Có hơn bốn chục đứa, mấy năm nay, ông
Hoạnh vẫn dạy mấy chục đứa trẻ ấy.
Những đứa bé đến trường mặc
áo hay cởi trần cũng được. Con thầy giáo, thằng Biền đi học. Mực tím nham nhở đầy
bụng và đầu. Khắp người chỗ nào lấm tấm nốt ghẻ, và mảng đầu chốc quết mực vào,
- phẩm tím cũng là thuốc chữa ghẻ. Cu Biền cởi trần trùng trục. Hiếm lắm mới được
có khi mặc, cái áo thải của thầy nó mà riêng cái túi áo cũng che lấp cả bụng cu
Biền. Con thầy giáo ăn mặc sười sã như thế, cả lớp, quần áo học trò cũng rập
theo na ná vậy. Thầy giáo Hoạnh là một tay chơi, ăn vận bao giờ cũng chỉnh tề
nhưng thầy chả có đâu mà để mắt đến học trò và con cái.
Thầy Họach chăn dắt đàn học
trò được mấy năm mà đến năm nay, vào tháng sáu tây này có bốn đứa sắp đi thi sơ
học yếu lược trên phủ. Kể ra, làng Thượng có được cái trường cũng đã là nhiều
khê và khó khăn lắm. Nhưng cũng đã bởi lộc trời. Ngoài lối đi ra ngoài sông có
một bãi trồng vải, các cụ trồng vải đã từ đời trước. Năm nào cũng vậy, quăng
sang tháng Tư, quả vải đã nhu nhú chớm xanh, làng lại họp hội đồng để bán thầu
bãi vải cho lái buôn các nơi! Năm nào cũng được ngót hơn một trăm bạc. Tiền chi
vào trường học của làng đều nhờ trông vào bãi vải bán non. Nhưng năm nay, đã xảy
ra việc rắc rối.
Bấy giờ đã hết tháng Ba,
lá nhãn trên cành đã rợp đường. Trong trận mưa mới, đã có những cơn sấm rền.
Hoa nhãn, hoa vải, hoa hồng bì đã rụng từng chùm màu vàng đợt đợt li ti như
cánh vỏ trấu, rải đầy mặt đất. Quả non chớm, năm nay chắc được cả mùa vải, nhãn
và hồng bì. Cây nào cũng chi chít những chùm quả non xanh.
Đột nhiên, một hôm trời đất
u ám. Buổi trưa, gió nồm thổi hây hẩy. Mây đen kéo về xám nghịt.
Bắt đầu nổi gió to, như
muốn bão. Mới vào hè, mà đã có mưa rào dữ, mưa như trống đánh tơi tả vườn chuối.
Mưa rào rào, dưới ao, nước mấp mé dâng lên vườn. Từng đàn cá rô, theo nước mới
ngoi lên bờ, rạch khắp nơi.
Đến lúc tạnh mưa, cây cối
phờ phạc tả tơi. Những cây hồng bì rủ rượi, bao nhiêu quả non rụng hết trong trận
mưa rào nặng hạt. Và những hoa vải, hoa nhãn, hoa muỗm cũng rã rời cùng chung số
phận khốn khổ ấy.
Mươi hôm sau, lại một trận
mưa tai ác thế. Thế là năm ấy, mất mùa vải. Chim tu hú xa xa kêu ròng rã mấy
tháng hè, báo hiệu mùa vải mà suốt cánh bãi chỉ có vài chùm vải muộn, quả sắt
seo, đen xỉn đầu cuống.
Thế là tiền bán vải cho
lái buôn năm nay không có. Tiền là của trời, mà trời không cho, đó là điều
không may.
Nhưng các ông trong hương
hội, các cụ phụ lão và ông phó lý không phải chỉ lo tiền chi vào trường học
hàng tháng. Mà các nhà chức dịch còn một việc nóng hơn. Là cái đình làng, cần
tu sửa ngay. Mái hổng, trông qua từng lỗ lên trời. Nước mưa chảy vào trong đình
như nước rãnh lội ngoài sân. Mấy cái rui, mấy cái cột lớn đình đã chớm vết mối
mục ruỗng cả. Rêu ám xanh om. Ở gậm án thư, mọc từng đám cỏ trắng bệu những cây
nhãn, cây vải con con.
Buổi chiều ngày ba mươi,
đầu tháng, theo lệ thường, ông từ ra mở cửa đình, vào hậu cung thắp hương. Ông
vào, không thấy ông ra. Không ai chú ý vì ông từ vẫn ra ngủ đêm ở bục gỗ ngoài
đình. Sớm hôm sau, cái đĩ Con ra ngoài đình gọi ông về ăn cơm. Đến trưa, cũng
chẳng thấy ông cháu về. Bố nó bổ ra đình. Trông thấy ông từ úp sấp bên gậm bục.
Cái đĩ Con nằm nghiêng, mặt tái ngoét, mắt trợn ngược lòng trắng.
Ở trong bụng áo ông lão,
con rắn mai gầm khúc vàng khúc trắng, to bằng cái cẳng chân người lớn, ngoằng
ra, luồn bụi cỏ giữa bục gỗ.
Trong xóm, nghe tiếng
kêu, mọi người đổ ra. Ông lão bị con mai gầm cắn từ chiều hôm qua rồi rắn lại
chui vào ngủ trong bụng áo ông lão. Đến khi đĩ Con ra đình. Nó tưởng ông uống
rượu nằm chơi, nó đến lay ông...
Hôm sau, người ta bới
đóng cỏ trong gầm án thư đánh chết được con rắn mai gầm dài hơn cái đòn ống.
Từ ngày ông từ chết,
không ai dám lai vãng ra đình, cũng không cụ nào ra thế chân thủ từ đình. Đến rằm
mùng một, phải đốt đuốc, soi các góc đình, các cụ mới dám theo tuần đinh vác
dao vào thắp hương.
Cần chữa đình lại. Các
đàn anh trong làng đã dự trù việc làm đình. Có thể lấy tiền bán các chân chức vị.
Một chân “lý hào” sáu chục. Mỗi chân “hương hào” bốn chục. Mỗi tên “nhiêu” thì
mười đồng. Phải lúc bình thường, chân “lý hào” ít ra phải chồng một trăm không
kể khao vọng. Quèn bét hạng như anh “nhiêu” cũng giám ra hai mươi lăm đồng.
Nhưng tính rồi cũng chưa đủ. Xem chừng cũng chẳng bán được mấy chân chức việc.
Có cái lý, cái hương, anh nhiêu khỏi phải đi đê, đi phu, lại được vai quan viên
ngồi văn chỉ, nhưng bới đâu ra tiền thêm mà làm đình.
Ông phó lý nói:
- Trên thưa các cụ, tôi
thiết tưởng việc chữa đình phải hưng công ngay. Còn một ít nữa, định trông đỡ
vào bãi vải. Vải năm nay lại mất mùa. Ta đem hạ làm củi tất cả những cây cỗi ấy
đi, rẻ ra cũng được xấp xỉ trăm bạc. Rồi gọi lái bán non luôn một năm vải sang
năm. Cái giống vải bao giờ cũng được mùa cách năm. Các cụ nghĩ sao?
- Còn trường học thì tính
thế nào?
- Trường học thì ta đặt lệ...
- Dào ôi! Đình nát thì
thánh sai rắn về cắn chết người đấy. Chẳng có ông giáo cũng đành, đón quách ông
đồ, chỉ mất cơm nuôi, cuối năm tiễn mươi đồng là êm chuyện.
Người ta cho là chí lý
theo lời bàn của ông phó và các ông hương hội. Còn nhà nào còn có con em đi học
thì tháng tháng phải đóng tiền. Công việc làm đình bắt đầu. Làng đã cắt người
ra bến mua gỗ, đi thửa gạch, thửa ngói, tìm thợ ngõa, thợ xây. Ban hương hội
cũng báo cho ông giáo Hoạnh biết các cụ bàn về trường học như vậy.
Chẳng ai báo, hương hội
chưa bàn xong thầy giáo Hoạnh đã biết cả rồi.
Cảnh trường cứ tiêu điều.
Đầu tiên, vãn đi quá một nửa học trò con cái những nhà ông xót tiền. Tháng ấy,
chỉ còn những đứa trẻ nhà ông trong ban hội đồng đương thứ. Tháng sau, con cái
nhà các ông chánh, ông phó cũng nghỉ học. Rồi chỉ còn lại bốn đứa, mai kia sắp
lên phủ đi thi lấy bằng Sơ học Yếu lược. Cha mẹ có cho con theo thầy, dù mỗi
tháng phải tốn một hào bạc với hai xu tiền phấn viết bảng.
Tình cảnh giáo Hoạnh nguy
ngập quá. Lương lậu lọt đọt chẳng còn ra thế nào. Cho tới tháng thứ ba... Cả những
ông chức dịch như cũng muốn lờ đi. Người ta còn đương tíu tít chạy vào việc làm
đình.
Một hôm, giáo Hoạnh vào
nhà ông phó lý. Từ khi có lệ học trò đóng tiền, các ông hương hội không bén mảng
ra trường nữa. Ông phó lý nghe, rồi nói:
- Ông giáo ạ, việc này
không phải của tôi. Nhưng tôi cũng cứ bàn với ông giáo. Hay là tôi nói với các
ông ấy để ông giáo tạm nghỉ ít lâu. Làng bây giờ thật không còn tiền. Bao nhiêu
đổ cả vào đình. Bao giờ xong việc đình đám thì mời ông giáo lên giúp cho làng.
Giáo Hoạnh thở dài, không
nói một câu nào nữa. Đương nghĩ đến vợ và ba đứa con leo nheo. Bỏ, anh đi đâu,
làm nghề ngỗng gì bây giờ?
Chương IX
Thế là thầy giáo Hoạnh
dọn về quê. Quê thầy ở Đông Lao. Từ Phú Gia đi vào miền trong chừng quá nửa buổi
thì tới nơi. Nói là dọn nhà cho có việc, thực ra chẳng có gì. Cái giường phản đồ
và tre gỗ nặng, thầy đã bán và để lại cho người ta cả rồi.
Bà giáo Hoạnh xách một
cái tay nải nâu, ông quảy hai bọc giấy nhật trình buộc dây chuối. Đây là những
đồ lặt vặt, cái đèn hoa kỳ, cái bát điều. Còn quần áo của ai, thì người ấy đã mặc
cả vào mình rồi. Bà giáo ăn vận như trời rét ngày Tết. Quần thâm, cái thắt lưng
có giải yếm mớ ba mớ bảy. Đầu bịt khăn vuông mỏ quạ kín hai tai, quặt ra đằng
sau. Tấm áo the nâu mặc răn rúm như vừa lấy trong vó ra. Ba đứa trẻ con cũng đủ
quần, không đứa nào cởi trần. Tay xách gói, lưng bà cõng thằng cu Con. Thằng Biền
dắt cái Gia. Con bé mới đi chập chững bước một. Chắc chốc nữa, ra ngoài giữa
cánh đồng vắng, bố nó phải cõng nó đỡ mẹ. Nhưng giáo Hoạnh mà cõng con thì hỏng
mất bộ quần áo hộp. Bao giờ thì thầy Hoạnh cũng chững chạc như thường. Thầy đội
khăn xếp nhiễu tây, đeo đôi kính râm. Áo the cặp. Quần gấp đầu giường như là quấn
ống sớ. Đôi giày tây có cổ bước cộp cộp.
Bấy giờ hãy còn sớm. Mặt
trời chưa mọc. Phương đông, sau lũy tre, mây ửng đỏ như có đám cháy lớn. Cả bốn
đứa học trò sắp đi thi Sơ học Yếu lược cũng đến nhà chào thầy. Lại cả bốn đứa
đi tiền. Thầy giáo Hoạnh xoa đầu từng đứa rồi nói ngậm ngùi:
- Ngày mai, các anh sang
bên Nha học thầy Câu. Tôi đã nói với thầy rồi. Cố học chăm để thi đỗ, khỏi phụ
công thầy. Bao giờ làng mở trường, thầy lại ra. Thôi thầy nói bấy nhiêu...
Cảm động, thầy ngập ngừng
không nói được ra lời. Bốn đứa học trò mủi lòng, khóc òa. Rồi thằng Biền, cái
Gia - và thằng cu Con - cùng nức nở theo. Cả đôi bên lũ trẻ khóc lóc như đàn
chim ri kêu.
Bốn đứa học trò đứng ngơ
ngẩn trông theo. Những đứa bé mờ mờ đi trước, rồi bóng thầy, bóng cô lẫn vào những
vòm tre xanh om. Chúng nó lại mếu máo. Trên đường vào làng, người ta gặp bốn đứa
trẻ vừa đi vừa khóc sướt mướt.
Từ đấy, không ai biết gia
đình nhà ông giáo Hoạnh rồi ra làm sao. Chẳng lần nào ông giáo Hoạnh lai vãng
ra ngoài này nữa. Cái trường học trước là cái hành lang. Bây giờ, người ta làm
chỗ cho thợ nề, thợ mộc che chắn ngủ đậu. Khi đình cất xong, người ta lấy chỗ ấy
làm gian chứa đòn khiêng đám ma và cái võng vong gỗ mộc [1]. Làng không làm lại
trường học nữa.
Chiều hôm ấy, giáo Câu
sang Phú Gia. Mấy tháng nay, Câu đã biết cái tình cảnh khốn đốn của nhà giáo Hoạnh.
Từ khi vắng Kền, đôi bạn đối với nhau lại càng gần gũi hơn. Có lẽ họ thấy lẻ
loi quá. Giáo Răng thì không thể hợp tâm tính hai người rồi. Anh ta dạy chữ, lại
dạy kèm cả võ. Làng Thượng, ai cũng phục thầy giáo Răng lắm. Nhà giáo văn giáo
võ đủ vành. Những đứa học trò bên Thượng, tự nhiên cũng sinh ra bướng và hỗn.
Chúng hay kéo nhau sang đầu đồng đón học trò trường Nha gạ đấu võ. Cái giống trẻ
con thích võ.
Câu sang bên Phú Gia, hỏi
thăm mới biết Hoạnh đã cùng vợ con mới dọn về quê sáng sớm hôm qua. Câu ngạc
nhiên. Mặc dầu Câu vẫn biết trước sau thế nào Hoạnh cũng phải đi. Anh đã gửi bốn
đứa học trò sang trường Câu. Sao Hoạnh không cho Câu biết, để Câu sang chơi một
hôm. Hoặc giả Hoạnh cũng muốn giấu chăng? Ừ, mà giấu là phải. Một đoàn một lũ
cha con vợ chồng loi thoi bồng bế nhau như chạy nước lụt, đẹp đẽ gì phải nài
người đón đưa. Xưa nay, Hoạnh lại là tay sĩ diện, ưa cái mã bề ngoài. Chắc Hoạnh
nghĩ khổ trong lòng lắm.
Tự nhiên, Câu rưng rưng
như muốn khóc.
Lủi thủi, Câu quay về.
Câu đi về, vòng lối đồng
qua làng Thượng, tạt sang cầu.
Ngày mùa hè dài dặc. Mặt
trời mấp mé xuống cánh đồng mà còn lóe chói rực rỡ. Những tảng mây trắng nhuộm
ánh nắng, đỏ khé. Mây từ từ từng đám trôi qua nền trời xanh. Gió reo rì rào
trong ruộng lúa. Đâu đây tiếng diều đổ sáo đẩu reo vo vo.
Câu bước nhẫn nha. Sao mà
hai đầu gối mỏi, chỉ muốn khuỵu. Đầu gối mỏi với nỗi buồn tái tê trong lòng.
Vụt chốc, bóng tối xuống.
Bấy giờ đã là nhá nhem. Phía tây, mờ mờ một vết mây đỏ xẫm. Cánh đồng bảng lảng
tối. Bên đường chi chít những tăm hoa cỏ may, giải một nền chì chập chờn. Trong
xóm trước mặt, vẳng đưa lại những tiếng í ới bọn trẻ con tắm, đùa nhau ngoài
ao. Và nhiều tiếng ríu rít, tiếng chim kêu, chim hót, không phân biệt được. Đó
là tiếng hoàng hôn đương vào cánh đồng, bao la. Mây mờ đi, tan lần với vùng trời
bàng bạc xám.
Câu về đến đoạn đường rẽ
ba. Một đằng lên phủ. Một lối vào trong làng. Theo đường vào làng, chỉ vài bước
chân thì về đến đầu cầu. Đường vắng teo. Câu vẫn buồn rã rời, bải hoải đến rã
cánh tay. Gió thổi kéo xõa mái tóc cánh gà của anh xuống hai bên tai. Hai vạt
áo khách trắng bay lên phần phật.
Một nỗi buồn mênh mông
xâm chiếm lòng chàng. Trước hết, Câu nghĩ đến cái tương lai mờ mịt của mình. Mờ
mịt, phải, mờ mịt quá. Bấy lâu, chàng đã sống bấp bênh, tạm bợ, một thân một
mình, muốn ra sao thì ra. Một ngày kia, ngộ đèo thêm cái ách vợ con vào như
giáo Hoạnh thì sao. Chao ơi! Bấy giờ thì còn khổ đến thế nào! Câu thở dài.
Nhưng chàng lại mỉm cười.
Nụ cười nhỏ lại tắt ngay. Coi như một cái nhếch mép không phải một nụ cười. Bởi
anh vừa cười vừa tự nhạo mình. Có bao giờ Câu dám nghĩ đến chuyện mơ màng vợ
con! Nhất là từ khi mối tình của chàng và Miến lạt phai. Lạt phai vì những
duyên cớ mỏng manh không đâu. Bây giờ thì xa xôi quá rồi... xa quá rồi... Nỗi
buồn thấm thía, chua chát của bóng dáng một mảnh tình. Rồi chàng lẩn quẩn nghĩ
rằng giả chàng gặp Miến bây giờ. Ừ, chàng gặp Miến bây giờ, chàng sẽ nói rất
nhiều. Chàng níu lấy Miến. Chàng hỏi tại làm sao cô lại quên nhau đến ngót một
năm trời nay. Chàng cắt nghĩa cho Miến nghe những thế này... những thế này...
Chàng nắm lấy bàn tay Miến. Hai người cùng im lặng nhìn nhau. Cứ đứng lặng như
vậy, một lúc thật lâu.
Anh chàng không tưởng tượng
được thêm gì nữa, sự thực lại trở về, càng buồn hơn lúc nãy. Điều xa cách đã xa
cách quá rồi. Mà sao Câu vẫn nghe như mình vẫn tơ vương. Giá mà Câu gặp Miến
bây giờ. Câu sẽ... Câu sẽ...
Những bước guốc của Câu lọc
cọc trên đất đá lổn nhổn. Tiếng guốc trong vắng lặng cánh đồng. Trời tối mờ mờ,
đàng trước không có ai, cái đầu cầu Phượng trăng trắng bắc ngang sông Lịch.
Câu chợt quay lại. Có
bóng người đi đằng sau. Dáng cao cao tha thướt. Hình như sợ tối và vắng vẻ, người
ấy đi nhanh, sắp kịp Câu. Đến lúc nghe phía sau lạt sạt bước, Câu quay lại. Câu
nhìn trố cả hai mắt. Người ấy là cô Miến.
Phải, cô Miến. Miến chân
đi đất, mặc áo dài nâu non thắt quả găng. Đôi ống quần xắn cao hênh hếch. Đầu
cô không mang nón. Một tay xách lõng thõng hai cây mía đỏ dài ngòng ngoèo. Cô
đi đâu mà sao lại có sự gặp gỡ đường đột đến lạ lùng thế này?
Thoạt trông thấy Câu,
hình như cô ngượng ríu hai chân. Mà anh chàng tưởng như trời đã đen thẫm lại.
Ôi, trời đổ thực. Hai mắt Câu chớp chớp, anh run như đương gấy lên cơn rét.
Lưng áo, mồ hôi toát ra từ lúc nào. Dường như anh chỉ thở ra. Muốn nói nhưng
nghẹn tắc cổ.
Miến đã đi kịp Câu. Nàng
bước tránh sang một bên đường. Rồi nàng đi quá một chút. Vẫn chưa trấn tĩnh nổi,
nhà giáo còn luống cuống lắm. Anh càng luống cuống hơn, khi Miến đã đi lên trước
anh đến ba bốn bước. Anh cố nuốt nước bọt để nghĩ một câu. Một câu thôi, nếu
không thì Miến đi khỏi. Về đến kia đã là đầu cầu. Quá vài bước nữa vào trong
xóm rồi. Ở đây, một bên ruộng, một bên bãi sông. Không có ai. Ngại gì nữa. Câu
lú lẫn đi mất rồi sao. Trước nhất, nhà giáo mắm môi lại. Có lẽ để lấy can đảm.
Chẳng gì xa nhau đã lâu và lại xa vì giận dỗi, cũng ngượng lắm. Nhà giáo thốt
ra một câu, anh gọi:
- Cô Miến!
Miến nhìn lại. Rồi Miến lại
quay đi. Nhưng câu hỏi đã ra khỏi miệng.
- Lại cho tôi hỏi cái
này, cô Miến!
-...
- Tôi hỏi...
Miến đứng và rồi Miến
quay lại. Ôi chao, nào Câu biết hỏi câu gì bây giờ? Vừa rồi, nhà giáo chỉ gọi
liều một câu. May quá, Miến lại cất lời trước. Miến nói:
- Bác lại còn hỏi tôi làm
gì nữa!
Câu ngẩn ngơ:
- Ô hay, Miến giận tôi thực
à?
- Nào tôi dám giận...
bác!
- Sao Miến lại gọi tôi thế?
Tôi có làm gì để cho Miến giận? Mấy tháng nay, tôi vẫn mong Miến đến chơi để
tôi...
Câu nói được mấy câu như
thế, hình như làm cho Miến đã bớt ngay giận. Miến đứng yên, hai tay vân vê lăn
tròn cây mía, Câu hỏi:
- Miến mua mía ở đâu thế?
- Mua ở trên chợ.
- Sao đi chợ tối thế?
- Không, đi qua chợ thì
mua.
- Miến đi đâu về?
- Đưa chị cả Diễm ra bến
tàu xuống Kẻ Chợ ra tàu Phòng.
- À.
Câu hiểu. Từ mấy hôm nay,
vợ Diễm đem một đứa con về nhà ăn giỗ. Giỗ cụ sinh ra ông khán Tịnh. Vì không
xin được phép nghĩ, Diễm để vợ về một mình. Dáng hắn chị Diễm đem con ra Hà Nội
chơi với mấy chị em ngoài ấy, rồi mai mới xuống Hải Phòng. Miến ẵm cháu tiễn chị
ra bến xe rồi quay về, nhân tiện, vào chợ mua cây mía, xách lõng thõng về đây.
Hai người đứng giữa đường.
Con đường trắng ngoằn ngoèo mờ mờ trong bóng chiều. Lưỡng lự muốn đi, lại muốn
đứng. Nhưng chẳng ai nói, cũng chẳng ai đi. Miến vẫn cúi mặt. Còn nhà giáo lại
chưa biết nói thế nào. Đương lúc ấy, từ trong lối ngõ xóm ở ven bờ sông, vẳng
có tiếng đàn bà cãi nhau léo xéo đưa lại. Hai người giật mình.
Câu bảo:
- Miến đứng tránh vào bên
một tí. Tôi muốn nói với Miến.
Miến vẫn đứng yên.
- Đi, Miến...
Câu giục lần nữa, nàng ngẩng
mặt lên nhìn Câu rồi lại cúi xuống và nhẹ nhàng đi theo Câu. Hai người rẽ xuống
ruộng, đứng vào sau một gò cỏ cao. Tuy Miến cúi mặt, nhưng Câu hình như trông
thấy hai khóe mắt nàng lóng lánh. Chao ôi, Miến khóc. Câu bối rối quá. Câu luống
cuống đi trước đến gò cỏ, chỗ đã khuất hẳn đường phía ngoài. Họ đứng quay mặt
vào trong gò cỏ ấu xanh mờ.
Trên đầu gò, phơ phất làn
hoa may. Câu nhìn lên. Một ngôi sao chiều sáng long lanh trên ngọn cỏ. Câu bứt
vu vơ mấy lá cỏ ấu.
- Miến...
- Tôi xin lỗi Miến.
Miến nức nở khóc thành tiếng.
Nước mắt chảy xuống hai bên má. Nàng lấy giải yếm che mặt, rồi Miến nói khẽ:
- Mấy tháng trời nay, tôi
nghĩ ngợi mà buồn về cậu. Ai lại chơi bời thế bao giờ. Cậu có yêu tôi đâu!
- Miến đừng nói thế. Thực
quả tôi...
- Cậu còn mơ tưởng các
con nhà trò.
- Tự dưng chúng nó dẫn
xác đến, chứ tôi có biết gì.
- Cái nhà giáo Hoạnh chẳng
còn ở đây nữa mà rủ rê cậu. Nhà ấy đi tôi chẳng tiếc. Tôi chỉ thương anh giáo Kền.
Câu lặng yên, sung sướng
mà nghe người yêu nói về mấy người bạn của anh. Nàng đã đứng lại, nàng đã nói,
thế là cơn hờn đã tan, chắc thế. Câu nói:
- Tôi đã có lời xin lỗi
Miến rồi. Mồm miệng người ta hay thêu dệt ra lắm chuyện. Mà thực có gì đâu!
- Oan lắm đấy!
- Thôi mà.
Câu cầm tay Miến. Miến
ngoái người đi. Bàn tay nàng vẫn nằm trong bàn tay chàng. Và miệng nàng múm
mím. Hình như giọt nước mắt vẫn lăn nhẹ trên má. Giọt nước mắt ấy không còn ý
nghĩa chi. Con gái chúa là mau nước mắt. Cái gì cũng khóc được thôi.
Câu nói:
- Miến đừng khóc nữa. Ông
giăng ông ấy cười cho kia kìa.
Miến ngoảnh lại. Cuối
cánh đồng vừng trăng tròn vành vạnh, nhô lên. Hôm nay mười sáu. Bấy giờ ngày
cũng chưa hết hẳn. Mặt trăng tròn như chiếc mâm đồng, trắng nhạt. Tuy vậy, ánh
trăng cũng đã lan sang sáng mặt đất. Bóng hai người ngả xuống mặt cỏ bên gò.
Miến nói:
- Tôi khống hiểu cậu có
thực lòng... yêu tôi không?
- Tôi lại còn biết nói thế
nào nữa. Có ông giăng kia làm chứng cho. Lúc nào tôi cũng chỉ nghĩ đến sau này
lấy được Miến.
Miến ngước nhìn trăng. Mặt
trăng nghiêm trang đứng trên vòm trời bát ngát, thăm thẳm.
Miến nói:
- Tôi thực hết lòng với cậu.
Sau này mà chả lấy được nhau thì chết chứ chả sống làm gì.
- Chỉ nói dại. Miến nói
thế ông giăng nghe tiếng, ông ấy biết rồi.
- Ừ, mà ông giăng ông ấy
đương nhìn chúng mình?
- Ông ấy còn nghe tiếng
ta nói nữa. Ví bằng sau này chẳng lấy được nhau...
-... Thì chết đi.
- Miến chỉ nói dại.
Câu nắm chặt cả bàn tay
Miến... Câu quệt yêu vào má Miến, nói: “Từ giờ chừa nói dại nhá”. Má nàng cũng
nóng rừ như bàn tay. Câu bâng khuâng như nằm mê bắt được cô tiên trên cung
trăng sa xuống. Bấy lâu, giận Câu, cũng chỉ vì quá yêu mà thôi. Bây giờ cơn hờn
đã tan, như cái gió nồm man mát thoảng qua. Ánh trăng láy vào trong mắt. Đôi mắt
Miến ngời lên, bởi chút nước mắt ban nãy còn ánh lại bên khóe. Miến mím cười liếc
Câu.
Trên cánh đồng bát ngát,
ông trăng túm tỉm với hai người.
Chú thích:
1- Những việc về lương
các hương sư trường làng tác giả kể trong chương này đều đã xảy ra trước khi
nghị định các quan đầu tỉnh cho lương hương sư lấy vào thuế thân hàng năm như
“phụ thu lạm bổ ” do trên tỉnh chủ truơng. T.H
Chương IX
Thế là thầy giáo Hoạnh
dọn về quê. Quê thầy ở Đông Lao. Từ Phú Gia đi vào miền trong chừng quá nửa buổi
thì tới nơi. Nói là dọn nhà cho có việc, thực ra chẳng có gì. Cái giường phản đồ
và tre gỗ nặng, thầy đã bán và để lại cho người ta cả rồi.
Bà giáo Hoạnh xách một
cái tay nải nâu, ông quảy hai bọc giấy nhật trình buộc dây chuối. Đây là những
đồ lặt vặt, cái đèn hoa kỳ, cái bát điều. Còn quần áo của ai, thì người ấy đã mặc
cả vào mình rồi. Bà giáo ăn vận như trời rét ngày Tết. Quần thâm, cái thắt lưng
có giải yếm mớ ba mớ bảy. Đầu bịt khăn vuông mỏ quạ kín hai tai, quặt ra đằng
sau. Tấm áo the nâu mặc răn rúm như vừa lấy trong vó ra. Ba đứa trẻ con cũng đủ
quần, không đứa nào cởi trần. Tay xách gói, lưng bà cõng thằng cu Con. Thằng Biền
dắt cái Gia. Con bé mới đi chập chững bước một. Chắc chốc nữa, ra ngoài giữa
cánh đồng vắng, bố nó phải cõng nó đỡ mẹ. Nhưng giáo Hoạnh mà cõng con thì hỏng
mất bộ quần áo hộp. Bao giờ thì thầy Hoạnh cũng chững chạc như thường. Thầy đội
khăn xếp nhiễu tây, đeo đôi kính râm. Áo the cặp. Quần gấp đầu giường như là quấn
ống sớ. Đôi giày tây có cổ bước cộp cộp.
Bấy giờ hãy còn sớm. Mặt
trời chưa mọc. Phương đông, sau lũy tre, mây ửng đỏ như có đám cháy lớn. Cả bốn
đứa học trò sắp đi thi Sơ học Yếu lược cũng đến nhà chào thầy. Lại cả bốn đứa
đi tiền. Thầy giáo Hoạnh xoa đầu từng đứa rồi nói ngậm ngùi:
- Ngày mai, các anh sang
bên Nha học thầy Câu. Tôi đã nói với thầy rồi. Cố học chăm để thi đỗ, khỏi phụ
công thầy. Bao giờ làng mở trường, thầy lại ra. Thôi thầy nói bấy nhiêu...
Cảm động, thầy ngập ngừng
không nói được ra lời. Bốn đứa học trò mủi lòng, khóc òa. Rồi thằng Biền, cái
Gia - và thằng cu Con - cùng nức nở theo. Cả đôi bên lũ trẻ khóc lóc như đàn
chim ri kêu.
Bốn đứa học trò đứng ngơ
ngẩn trông theo. Những đứa bé mờ mờ đi trước, rồi bóng thầy, bóng cô lẫn vào những
vòm tre xanh om. Chúng nó lại mếu máo. Trên đường vào làng, người ta gặp bốn đứa
trẻ vừa đi vừa khóc sướt mướt.
Từ đấy, không ai biết gia
đình nhà ông giáo Hoạnh rồi ra làm sao. Chẳng lần nào ông giáo Hoạnh lai vãng
ra ngoài này nữa. Cái trường học trước là cái hành lang. Bây giờ, người ta làm
chỗ cho thợ nề, thợ mộc che chắn ngủ đậu. Khi đình cất xong, người ta lấy chỗ ấy
làm gian chứa đòn khiêng đám ma và cái võng vong gỗ mộc [1]. Làng không làm lại
trường học nữa.
Chiều hôm ấy, giáo Câu
sang Phú Gia. Mấy tháng nay, Câu đã biết cái tình cảnh khốn đốn của nhà giáo Hoạnh.
Từ khi vắng Kền, đôi bạn đối với nhau lại càng gần gũi hơn. Có lẽ họ thấy lẻ
loi quá. Giáo Răng thì không thể hợp tâm tính hai người rồi. Anh ta dạy chữ, lại
dạy kèm cả võ. Làng Thượng, ai cũng phục thầy giáo Răng lắm. Nhà giáo văn giáo
võ đủ vành. Những đứa học trò bên Thượng, tự nhiên cũng sinh ra bướng và hỗn.
Chúng hay kéo nhau sang đầu đồng đón học trò trường Nha gạ đấu võ. Cái giống trẻ
con thích võ.
Câu sang bên Phú Gia, hỏi
thăm mới biết Hoạnh đã cùng vợ con mới dọn về quê sáng sớm hôm qua. Câu ngạc
nhiên. Mặc dầu Câu vẫn biết trước sau thế nào Hoạnh cũng phải đi. Anh đã gửi bốn
đứa học trò sang trường Câu. Sao Hoạnh không cho Câu biết, để Câu sang chơi một
hôm. Hoặc giả Hoạnh cũng muốn giấu chăng? Ừ, mà giấu là phải. Một đoàn một lũ
cha con vợ chồng loi thoi bồng bế nhau như chạy nước lụt, đẹp đẽ gì phải nài
người đón đưa. Xưa nay, Hoạnh lại là tay sĩ diện, ưa cái mã bề ngoài. Chắc Hoạnh
nghĩ khổ trong lòng lắm.
Tự nhiên, Câu rưng rưng
như muốn khóc.
Lủi thủi, Câu quay về.
Câu đi về, vòng lối đồng
qua làng Thượng, tạt sang cầu.
Ngày mùa hè dài dặc. Mặt
trời mấp mé xuống cánh đồng mà còn lóe chói rực rỡ. Những tảng mây trắng nhuộm
ánh nắng, đỏ khé. Mây từ từ từng đám trôi qua nền trời xanh. Gió reo rì rào
trong ruộng lúa. Đâu đây tiếng diều đổ sáo đẩu reo vo vo.
Câu bước nhẫn nha. Sao mà
hai đầu gối mỏi, chỉ muốn khuỵu. Đầu gối mỏi với nỗi buồn tái tê trong lòng.
Vụt chốc, bóng tối xuống.
Bấy giờ đã là nhá nhem. Phía tây, mờ mờ một vết mây đỏ xẫm. Cánh đồng bảng lảng
tối. Bên đường chi chít những tăm hoa cỏ may, giải một nền chì chập chờn. Trong
xóm trước mặt, vẳng đưa lại những tiếng í ới bọn trẻ con tắm, đùa nhau ngoài
ao. Và nhiều tiếng ríu rít, tiếng chim kêu, chim hót, không phân biệt được. Đó
là tiếng hoàng hôn đương vào cánh đồng, bao la. Mây mờ đi, tan lần với vùng trời
bàng bạc xám.
Câu về đến đoạn đường rẽ
ba. Một đằng lên phủ. Một lối vào trong làng. Theo đường vào làng, chỉ vài bước
chân thì về đến đầu cầu. Đường vắng teo. Câu vẫn buồn rã rời, bải hoải đến rã
cánh tay. Gió thổi kéo xõa mái tóc cánh gà của anh xuống hai bên tai. Hai vạt
áo khách trắng bay lên phần phật.
Một nỗi buồn mênh mông
xâm chiếm lòng chàng. Trước hết, Câu nghĩ đến cái tương lai mờ mịt của mình. Mờ
mịt, phải, mờ mịt quá. Bấy lâu, chàng đã sống bấp bênh, tạm bợ, một thân một
mình, muốn ra sao thì ra. Một ngày kia, ngộ đèo thêm cái ách vợ con vào như
giáo Hoạnh thì sao. Chao ơi! Bấy giờ thì còn khổ đến thế nào! Câu thở dài.
Nhưng chàng lại mỉm cười.
Nụ cười nhỏ lại tắt ngay. Coi như một cái nhếch mép không phải một nụ cười. Bởi
anh vừa cười vừa tự nhạo mình. Có bao giờ Câu dám nghĩ đến chuyện mơ màng vợ
con! Nhất là từ khi mối tình của chàng và Miến lạt phai. Lạt phai vì những
duyên cớ mỏng manh không đâu. Bây giờ thì xa xôi quá rồi... xa quá rồi... Nỗi
buồn thấm thía, chua chát của bóng dáng một mảnh tình. Rồi chàng lẩn quẩn nghĩ
rằng giả chàng gặp Miến bây giờ. Ừ, chàng gặp Miến bây giờ, chàng sẽ nói rất
nhiều. Chàng níu lấy Miến. Chàng hỏi tại làm sao cô lại quên nhau đến ngót một
năm trời nay. Chàng cắt nghĩa cho Miến nghe những thế này... những thế này...
Chàng nắm lấy bàn tay Miến. Hai người cùng im lặng nhìn nhau. Cứ đứng lặng như
vậy, một lúc thật lâu.
Anh chàng không tưởng tượng
được thêm gì nữa, sự thực lại trở về, càng buồn hơn lúc nãy. Điều xa cách đã xa
cách quá rồi. Mà sao Câu vẫn nghe như mình vẫn tơ vương. Giá mà Câu gặp Miến
bây giờ. Câu sẽ... Câu sẽ...
Những bước guốc của Câu lọc
cọc trên đất đá lổn nhổn. Tiếng guốc trong vắng lặng cánh đồng. Trời tối mờ mờ,
đàng trước không có ai, cái đầu cầu Phượng trăng trắng bắc ngang sông Lịch.
Câu chợt quay lại. Có
bóng người đi đằng sau. Dáng cao cao tha thướt. Hình như sợ tối và vắng vẻ, người
ấy đi nhanh, sắp kịp Câu. Đến lúc nghe phía sau lạt sạt bước, Câu quay lại. Câu
nhìn trố cả hai mắt. Người ấy là cô Miến.
Phải, cô Miến. Miến chân
đi đất, mặc áo dài nâu non thắt quả găng. Đôi ống quần xắn cao hênh hếch. Đầu
cô không mang nón. Một tay xách lõng thõng hai cây mía đỏ dài ngòng ngoèo. Cô
đi đâu mà sao lại có sự gặp gỡ đường đột đến lạ lùng thế này?
Thoạt trông thấy Câu,
hình như cô ngượng ríu hai chân. Mà anh chàng tưởng như trời đã đen thẫm lại.
Ôi, trời đổ thực. Hai mắt Câu chớp chớp, anh run như đương gấy lên cơn rét.
Lưng áo, mồ hôi toát ra từ lúc nào. Dường như anh chỉ thở ra. Muốn nói nhưng
nghẹn tắc cổ.
Miến đã đi kịp Câu. Nàng
bước tránh sang một bên đường. Rồi nàng đi quá một chút. Vẫn chưa trấn tĩnh nổi,
nhà giáo còn luống cuống lắm. Anh càng luống cuống hơn, khi Miến đã đi lên trước
anh đến ba bốn bước. Anh cố nuốt nước bọt để nghĩ một câu. Một câu thôi, nếu
không thì Miến đi khỏi. Về đến kia đã là đầu cầu. Quá vài bước nữa vào trong
xóm rồi. Ở đây, một bên ruộng, một bên bãi sông. Không có ai. Ngại gì nữa. Câu
lú lẫn đi mất rồi sao. Trước nhất, nhà giáo mắm môi lại. Có lẽ để lấy can đảm.
Chẳng gì xa nhau đã lâu và lại xa vì giận dỗi, cũng ngượng lắm. Nhà giáo thốt
ra một câu, anh gọi:
- Cô Miến!
Miến nhìn lại. Rồi Miến lại
quay đi. Nhưng câu hỏi đã ra khỏi miệng.
- Lại cho tôi hỏi cái
này, cô Miến!
-...
- Tôi hỏi...
Miến đứng và rồi Miến
quay lại. Ôi chao, nào Câu biết hỏi câu gì bây giờ? Vừa rồi, nhà giáo chỉ gọi
liều một câu. May quá, Miến lại cất lời trước. Miến nói:
- Bác lại còn hỏi tôi làm
gì nữa!
Câu ngẩn ngơ:
- Ô hay, Miến giận tôi thực
à?
- Nào tôi dám giận...
bác!
- Sao Miến lại gọi tôi thế?
Tôi có làm gì để cho Miến giận? Mấy tháng nay, tôi vẫn mong Miến đến chơi để
tôi...
Câu nói được mấy câu như
thế, hình như làm cho Miến đã bớt ngay giận. Miến đứng yên, hai tay vân vê lăn
tròn cây mía, Câu hỏi:
- Miến mua mía ở đâu thế?
- Mua ở trên chợ.
- Sao đi chợ tối thế?
- Không, đi qua chợ thì
mua.
- Miến đi đâu về?
- Đưa chị cả Diễm ra bến
tàu xuống Kẻ Chợ ra tàu Phòng.
- À.
Câu hiểu. Từ mấy hôm nay,
vợ Diễm đem một đứa con về nhà ăn giỗ. Giỗ cụ sinh ra ông khán Tịnh. Vì không
xin được phép nghĩ, Diễm để vợ về một mình. Dáng hắn chị Diễm đem con ra Hà Nội
chơi với mấy chị em ngoài ấy, rồi mai mới xuống Hải Phòng. Miến ẵm cháu tiễn chị
ra bến xe rồi quay về, nhân tiện, vào chợ mua cây mía, xách lõng thõng về đây.
Hai người đứng giữa đường.
Con đường trắng ngoằn ngoèo mờ mờ trong bóng chiều. Lưỡng lự muốn đi, lại muốn
đứng. Nhưng chẳng ai nói, cũng chẳng ai đi. Miến vẫn cúi mặt. Còn nhà giáo lại
chưa biết nói thế nào. Đương lúc ấy, từ trong lối ngõ xóm ở ven bờ sông, vẳng
có tiếng đàn bà cãi nhau léo xéo đưa lại. Hai người giật mình.
Câu bảo:
- Miến đứng tránh vào bên
một tí. Tôi muốn nói với Miến.
Miến vẫn đứng yên.
- Đi, Miến...
Câu giục lần nữa, nàng ngẩng
mặt lên nhìn Câu rồi lại cúi xuống và nhẹ nhàng đi theo Câu. Hai người rẽ xuống
ruộng, đứng vào sau một gò cỏ cao. Tuy Miến cúi mặt, nhưng Câu hình như trông
thấy hai khóe mắt nàng lóng lánh. Chao ôi, Miến khóc. Câu bối rối quá. Câu luống
cuống đi trước đến gò cỏ, chỗ đã khuất hẳn đường phía ngoài. Họ đứng quay mặt
vào trong gò cỏ ấu xanh mờ.
Trên đầu gò, phơ phất làn
hoa may. Câu nhìn lên. Một ngôi sao chiều sáng long lanh trên ngọn cỏ. Câu bứt
vu vơ mấy lá cỏ ấu.
- Miến...
- Tôi xin lỗi Miến.
Miến nức nở khóc thành tiếng.
Nước mắt chảy xuống hai bên má. Nàng lấy giải yếm che mặt, rồi Miến nói khẽ:
- Mấy tháng trời nay, tôi
nghĩ ngợi mà buồn về cậu. Ai lại chơi bời thế bao giờ. Cậu có yêu tôi đâu!
- Miến đừng nói thế. Thực
quả tôi...
- Cậu còn mơ tưởng các
con nhà trò.
- Tự dưng chúng nó dẫn
xác đến, chứ tôi có biết gì.
- Cái nhà giáo Hoạnh chẳng
còn ở đây nữa mà rủ rê cậu. Nhà ấy đi tôi chẳng tiếc. Tôi chỉ thương anh giáo Kền.
Câu lặng yên, sung sướng
mà nghe người yêu nói về mấy người bạn của anh. Nàng đã đứng lại, nàng đã nói,
thế là cơn hờn đã tan, chắc thế. Câu nói:
- Tôi đã có lời xin lỗi
Miến rồi. Mồm miệng người ta hay thêu dệt ra lắm chuyện. Mà thực có gì đâu!
- Oan lắm đấy!
- Thôi mà.
Câu cầm tay Miến. Miến
ngoái người đi. Bàn tay nàng vẫn nằm trong bàn tay chàng. Và miệng nàng múm
mím. Hình như giọt nước mắt vẫn lăn nhẹ trên má. Giọt nước mắt ấy không còn ý
nghĩa chi. Con gái chúa là mau nước mắt. Cái gì cũng khóc được thôi.
Câu nói:
- Miến đừng khóc nữa. Ông
giăng ông ấy cười cho kia kìa.
Miến ngoảnh lại. Cuối
cánh đồng vừng trăng tròn vành vạnh, nhô lên. Hôm nay mười sáu. Bấy giờ ngày
cũng chưa hết hẳn. Mặt trăng tròn như chiếc mâm đồng, trắng nhạt. Tuy vậy, ánh
trăng cũng đã lan sang sáng mặt đất. Bóng hai người ngả xuống mặt cỏ bên gò.
Miến nói:
- Tôi khống hiểu cậu có
thực lòng... yêu tôi không?
- Tôi lại còn biết nói thế
nào nữa. Có ông giăng kia làm chứng cho. Lúc nào tôi cũng chỉ nghĩ đến sau này
lấy được Miến.
Miến ngước nhìn trăng. Mặt
trăng nghiêm trang đứng trên vòm trời bát ngát, thăm thẳm.
Miến nói:
- Tôi thực hết lòng với cậu.
Sau này mà chả lấy được nhau thì chết chứ chả sống làm gì.
- Chỉ nói dại. Miến nói
thế ông giăng nghe tiếng, ông ấy biết rồi.
- Ừ, mà ông giăng ông ấy
đương nhìn chúng mình?
- Ông ấy còn nghe tiếng
ta nói nữa. Ví bằng sau này chẳng lấy được nhau...
-... Thì chết đi.
- Miến chỉ nói dại.
Câu nắm chặt cả bàn tay
Miến... Câu quệt yêu vào má Miến, nói: “Từ giờ chừa nói dại nhá”. Má nàng cũng
nóng rừ như bàn tay. Câu bâng khuâng như nằm mê bắt được cô tiên trên cung
trăng sa xuống. Bấy lâu, giận Câu, cũng chỉ vì quá yêu mà thôi. Bây giờ cơn hờn
đã tan, như cái gió nồm man mát thoảng qua. Ánh trăng láy vào trong mắt. Đôi mắt
Miến ngời lên, bởi chút nước mắt ban nãy còn ánh lại bên khóe. Miến mím cười liếc
Câu.
Trên cánh đồng bát ngát,
ông trăng túm tỉm với hai người.
Chú thích:
1- Những việc về lương
các hương sư trường làng tác giả kể trong chương này đều đã xảy ra trước khi
nghị định các quan đầu tỉnh cho lương hương sư lấy vào thuế thân hàng năm như
“phụ thu lạm bổ ” do trên tỉnh chủ truơng. T.H
Chương X
Rằm tháng Bảy. Mọi nhà đều
ăn Tết rằm, người ta làm cỗ vào buổi trưa. Các khung cửi, lồng tơ đều nghỉ. Cơm
nước xong, con trai con gái lũ lượt kéo nhau ra đường đi nhởn nhơ. Con trai thì
ra ngồi tễu ngoài cửa đình. Con gái từng đám, đi lễ chùa, đi xem bói “thơ tiên”
ở ấp Đông. Cảnh nhàn nhã một ngày Tết tháng Bảy, vui nhất đám trẻ con. Những đứa
trẻ trường làng Nha cũng đều được nghỉ. Chúng chạy nhông khắp chốn.
Buổi chiều mười bốn, Câu
gặp Miến. Lúc bấy giờ đã nhọ mặt người. Miến vào nhà bà Thiêm. Bà lão với cháu
lúi húi trong bếp, đun nấu cỗ. Chuyện hai người thì thào ngoài ngõ mấy câu, Câu
đã nắm tay Miến.
Miến nói trước:
- Mai đi chơi nhá?
- Miến bảo đi đâu?
- Đi xem “thơ tiên”. Cậu
đợi ở bụi tre đầu làng Thượng. Tôi bảo cậu cái này, tôi có cái này hay lắm kia.
Rồi Miến tất tả ra, Câu vội
chạy theo.
- Ấy!
- Gì thế?
- Thế mai độ mấy giờ?
- Ờ nhỉ. Tí nữa lú mất. Cứ
bên này cậu ăn cỗ buổi trưa xong.
Quãng giữa trưa hôm sau
nhà giáo đã tề chỉnh tươm tất. Ăn uống nháo nhào, còn thiết gì nữa. Từ dạo ấy,
trên mặt Câu không mấy khi vắng miệng cười mủm mỉm. Lại cũng không hay đánh học
trò nữa.
Anh chàng huýt sáo miệng,
chúm miệng huýt “huy huy”. Nhà giáo vừa chải tóc xong. Tóc đã mượt, anh còn ngả
bên nọ, ngoẹo bên kia, miết nghiêng chiếc lược xuống cho tóc thực thẳng, thực
bóng. Rồi anh nheo mắt. Giả cách mỉm một nụ cười tình. Chợt ngượng, quay lại.
Nhưng đằng sau không có ai. Anh ngắm lại anh. Cái đầu bóng nhoáng, bao nhiêu
công phu mới chải được. Trong áo khách trắng bốp. Ngoài, áo trắng dài nguyên nếp
gấp. Quần cũng mới đúng như vậy. Chân xỏ đôi guốc sơn nàu cánh rán. Tuy hai
quai guốc hơi mốc, nhưng anh đã ngâm guốc xuống nước từ lúc nãy cho nó đen thấm
lại. Và, không đội mũ. Chải được cái đầu cừ thế, phải đi đầu trần cho diện. Vả
lại đã sang tháng Bảy mát trời.
Bây giờ thì đủ lệ bộ rồi.
Anh ngồi đợi cho đồng hồ điểm chuông mười hai giờ rưỡi. Cái đồng hồ để trong
chiếc án thư mọt, khập khiễng một chân, chỗ ấy giáp cái giường tre. Dù án thư đổ,
cũng không rơi được. Anh đã để cẩn thận. Cái đồng hồ như một đồ vật cần dùng và
quý báu cả làng cũng chẳng ai có. Chiếc đồng hồ chẩm cầm. Nó hình chữ nhật như
hòn gạch chỉ mà đặt dựng đứng, có một cái quai xách. Đàng sau, hai cánh cửa khi
mở nom thấy máy móc bằng đồng vàng chóe. Bánh xe răng cưa dây cót tròn một cục.
Lại lù lù một cuộn gai như vỏ gấc. Cái cuộn gai này để cho đồng hồ đánh đàn.
Ngày đêm cứ mỗi nửa giờ tự dưng đồng hồ đánh đàn một hồi “từng tứng tinh tang
tàng từng tính...”. Hễ nghe thoáng tiếng đồng hồ gảy đàn, thằng Nến lại chạy đến,
kề ngoặp miệng vào thành bàn, hai mắt thao láo, ngơ ngác nhìn. Nhiều lần bà
Thiêm cũng đến nghe và lần nào cũng khen một câu: “Cái máy đồng hồ tài quá”.
Trong yên lặng, bỗng tiếng
dây cót chạy sè sè cọt cọt. Rồi một hồi đàn đồng hồ vẳng lên.
Đấy, mười hai giờ rưỡi.
Mười hai giờ rưỡi, chẳng gì cả, chẳng sao hết mà Câu cũng giật mình. Anh ngắm lại
một lần nữa, xem đã thực tề chỉnh chưa. Rồi đôi guốc lóc cóc, bước ra ngõ.
Nơi hẹn, đầu làng một bờ
tre dài, rủ bóng xuống mặt đường. Mùa này, lá tre vàng lác đác rụng. Một bên,
bãi rau muống và phía ngoài, dòng sông Lịch nhỏ bé uốn khúc chảy quanh co.
Giáo Câu tới khóm tre chỗ
hẹn, đứng loanh quanh, rồi đi dạo bước một. Hai tay chắp sau lưng, như người
hóng mát.
Cũng nhiều người đi chơi
ngoài kia. Từng đám trẻ con mặc áo lụa tơ sống vàng khè, lưng áo in dấu son nhà
chùa đỏ chóe, chạy ríu rít. Những cô con gái áo the, áo nâu non đồng lầm mới với
những túm thắt lưng thiên thanh, hoa lý, hoa hiên, hoa đào, đi họp thành từng bọn.
Vẫn chưa thấy bóng Miến. Và Miến đi một mình hay là dắt thêm cháu Nếm. Vì cô đã
hẹn Câu. Chắc đợi nhau chỗ này cho gặp, rồi sẽ theo đường tắt sang ấp Đông. Con
đường ấy vắng, có thể đi tay đôi được tự nhiên.
Từ trong lối xóm đi ra,
dáng ai như cô Miến. Miến thực. Miến mặc áo vải rồng không cài khuy, hai vạt áo
trước thắt quả găng. Một tay cô dắt thằng Nếm, miệng nhai trầu, phúng phính. Mặt
mày hớn hở tươi như cái hoa.
Nhưng, cùng đi với cô,
còn có hai cô bạn. Cô Khuyên và cô Lụa. Cô Khuyên cũng mặc áo vải rồng, thắt quả
găng. Miến có giải yếm màu hoa đào, thắt lưng lụa bạch như Khuyên. Cô này, dù
ngày Tết mà cũng hay quên, cứ mặc quần cao, hếch ống về đằng trước. Riêng cô Lụa,
ăn mặc hơi quê hơn hai bạn. Cô mặc áo the thâm, thắt lưng bao màu hoa lý. Ở một
bên cạnh sườn, có chiếc chìa khóa đồng. Mỗi bước đi, chùm xà tích chạm nhau
lách cách. Ba cô cùng đi guốc. Tiếng guốc nhộn lên như những nhịp cười ròn rã.
Lúc đi giáp mặt Câu, ba
cô cùng kính cẩn chào:
- Lạy bác, bác giáo đi
chơi ạ?
Nhà giáo ngượng nghịu:
- Vâng, các cô đi lễ.
Thằng Nếm cũng lạy thầy,
nhưng thầy không nghe tiếng. Ba cô đi khỏi. Những vạt áo bay phất phới. Nhà
giáo lại bước lững thững. Một lát, một lát, lại đứng sững, ngó lại. Ba cô thấp
thoáng, xa dần. Rồi nhà giáo cũng quay lại, từ từ đi theo. Nhưng ra đến đầu lũy
tre, vẫn thấy ba cô và thằng cháu đi với nhau. Chẳng lẽ Câu lại theo nữa, theo
sang ấp Đông. Không thể được.
Câu đứng nhìn theo hút ba
người rồi chép miệng.
Câu bước xuống vệ đường,
đi về phía gò cỏ hôm nọ. Ngồi đấy, bao giờ ba cô về, có thể trông thấy rõ ràng
từ đằng xa. Lót hai chiếc guốc xuống cỏ, Câu ngẩn ngơ ngồi ngắm ra cánh đồng.
Chương XI
Thực tình, Miến định
đi riêng, mà chỉ dắt thằng Nếm, để khỏi ai chú ý. Sang tới đầu làng Thượng, Miến
và Câu sẽ theo đường tắt lên ấp Đông. Rồi có vào lễ xem “thơ tiên” hay không
thì định sau. Vì Miến muốn đưa cho người yêu “cái này” và muốn nói câu chuyện cần.
Nhưng mọi việc tính toán
đều sai cả. Bởi vì Miến đã nói trước với ở nhà là rằm tháng Bảy đi xem “thơ
tiên”. Thế là Khuyên và Lụa đến rủ Miến đi. Là chị em trong xóm và cũng không
biết từ chối thế nào, Miến đành cùng cháu Nếm đi sang ấp Đông với hai cô bạn.
Lúc gặp Câu, Miến băn
khoăn quá. Song, chẳng lẽ dám thế nào. Câu chuyện yêu đương giấu diếm, ai biết,
thì rồi ầm ỉ khắp làng. Miến phải tảng lờ đi. Nàng cũng không dám quay lại xem
nhà giáo đi theo hay là lùi lũi ra về. Tới lúc đi một quãng xa, mới nghé nhìn lại.
Nhưng chỉ thấy bụi tre xanh xanh đầu làng Thượng. Nàng vẫn đi, nhưng trong lòng
buồn buồn, thương nhà giáo mất công chờ đợi. Song cái buồn cũng chỉ thoáng qua.
Những câu chuyện dí dỏm, ma mãnh của hai cô bạn làm cho Miến khuây đi. Rồi Miến
lại bẻm mép chẳng kém Khuyên và Lụa.
Chẳng bao chốc, đã tới ấp
Đông.
Khắp cả vùng, đàn bà và
con gái đồn ở ấp Đông có một cửa điện cô đồng cho thơ tiên hay lắm. Vào tháng
Giêng hay là ngày Tết nhất thong thả, người rủ nhau đi xem đông. Có khối người
tận ngoài Kẻ Chợ cũng chịu khó hỏi thăm về tận nơi. Khi nào ở đây người ta nói
“có người ở Kẻ Chợ cũng biết”, tất đã là một việc có tiếng tăm.
Đây cũng là một cửa điện
như điện “cô” đồng Toản bên Nha, điện “ông” đồng Mía bên Thượng. Nhưng thằng Toản
và bác Mía là những nhà đồng nghèo ít lộc, người đi lễ chỉ là những bà con
loanh quanh lối xóm. Ở ấp Đông là một ông đồng, ông đồng Điếu. Thánh đương cho
ông đồng Điếu ăn lộc, cửa điện luôn luôn có khách khứa dập dìu. Ông đồng Điếu,
gọi là ông, theo tên của nhà thánh, nhưng với dương gian, ông đồng là một thị mẹt,
đàn bà bắt đồng ông. Ngày còn trẻ, bà Điếu cũng đi lang chạ, có nhiều chồng
thiên hạ lắm. Đến khi đứng tuổi, không còn chồng nào, thì bà về làng nổi đồng
ông. Ông đồng Điếu mặc áo lụa điều, quần lĩnh hoa chanh. Cái khăn nhiễu tam
giang quấn trên đầu, chỏng búi tóc lên. Miệng ông đồng ăn trầu thuốc cắn chỉ cả
hai môi, lúc nào cũng lại ngậm phập phèo mồi thuốc lá quấn lấy. Ngày trước, điện
đồng Điếu chỉ cúng lễ xem bói bằng lá trầu không. Ít lâu nay, đồng Điếu đón được
một thầy bói sáng đoán số bằng thơ, gọi việc thánh là cho thơ tiên. Người ta
càng năng đến lễ và xin thơ.
Ba cô gái làng Nha vào đến
nhà đồng Điếu đã có nhiều người đương lễ. Đồng Điếu tong tả đi lại, nhai trầu bỏm
bẻm, nói nói, cười cười. Trên bàn thờ điện, khói hương thơm ngào ngạt. Người lễ
lổm ngổm la liệt. Người đứng trong, kẻ đứng ngoài, cứ lễ lẫn vào lưng nhau.
Thấy ba cô gái đi vào, đồng
Điếu tất tưởi chạy ra. Các cô chào líu nhíu, “Ông” đồng Điếu nhổ quết trầu rồi
cười toe toét:
- Các cô vào lễ thánh.
Ba cô vào lễ. Các cô ngồi
xuống chiếu, xếp nghiêng đầu gối, khép tà áo trước sau, rồi chắp hai tay, vái
thật dẻo. Mỗi một lễ, khi cúi đầu, chống hai bàn tay xuống chiếu, mắt ngước lên
lá màn điều nửa vắt nửa buông. Ở trong, lấp ló một pho tượng nhỏ vàng chóe.
Không biết bằng giấy trang kim hay bằng gì, chẳng ai dám trông kỹ. Lễ xong, các
cô sang ngồi phản bên. Đồng Điếu đã bưng cơi trầu đến:
- Các cô xem quẻ thánh?
- Thưa vâng.
Một thằng bé chừng mười
lăm, mười sáu chít khăn lượt, áo the dài, quần nâu, đi chân đất cầm quyển sổ
con và cái bút chì. Đồng Điếu hỏi, các cô trả lời câu gì thì biên ngay vào sổ.
Thằng bé biên nhoay nhoáy, - Nó đã quen việc nhà đền nhà thánh.
- Cô nói họ, nói tên.
- Cháu họ Lê tên là Miến.
- Lê thị Miến. Bao nhiêu
tuổi?
- Cháu mười chín.
- Cô cầu gì? Cầu tài, cầu
duyên chứ? - Miến bẽn lẽn, hai má ửng đỏ.
Thằng bé cứ biên lia lịa.
Rồi đồng Điếu hỏi các cô Khuyên, cô Lụa cũng như hỏi Miến. Ba cô mỗi cô đưa ra
năm xu tiền đặt quẻ, rồi ngồi đợi thánh giáng thơ.
Trên điện, đèn nến nghi
ngút. Bên phải cạnh chiếc mâm bằng đồng sơn đỏ bầy ba nải chuối xanh, treo một
dải phướn. Đầu trên, có một con chim tạc bằng gỗ, xòe hai cánh, mỏ quắp dải phướn.
Trông không rõ hình thù con quạ, hay con vẹt. Người ta bảo đấy là con hạc thần.
Con hạc thần được buộc lửng trên xà nhà thế nào, cũng không ai trông được rõ.
Vì ở đấy lại có một cái mảnh màn che, khói hương, khói trầm lúc nào cũng bốc
nghi ngút. Đầu dưới dải phướn cắm ngang một que hương.
Ngồi cạnh đấy, một ông
lão chít khăn lượt búi tóc, đeo kính, quần áo lụa điều cứ trông vào khói hương
mà ê a đọc vanh vách ra thơ. Thánh giáng thơ vào que hương. Thánh sai hạc thần
ngậm hương. Rồi khói hương viết ra một chữ của thánh mà người ta bảo chỉ có cái
ông già bói sáng ngồi gật gù đó mới đọc được chữ thánh thôi.
Ông lão cầm từng mảnh giấy
của thằng bé con đưa vào. Cứ lần lượt, ông đọc. Ông lại lấy gân cổ, cất giọng
nghêu ngao như hát chèo. Ông hát xong mỗi câu, một bác đàn ông cũng khăn áo tề
chỉnh ngồi ngoài nhà, hát lấy lại câu ấy. Bác này hát to tiếng gấp đôi ông lão
áo lụa điều kia. Bác hát mới ghê, tiếng đã ông ống, lại điểm thêm những “ê, a,
ây, ầy” hệt như người kép tuồng đương ra roi ngựa hát bài đường trường. Mọi người
đều lặng yên nghe, trong khi thằng bé lại hí húi biên các câu ấy ra tờ giấy điều.
Tờ giấy, đem phát cho mỗi người xem thơ.
Ba cô gái ngồi đợi đến lượt
thánh giáng thơ. Ông lão đương đọc to. Bác kia cũng đương hát. Ngoài hiên, đồng
Điếu đương hỏi tên tuổi những người đến sau.
Chợt ông lão im bặt. Có
ba tiếng chuông thính lên. Đấy là người ta báo hiệu khi thánh thăng. Nghĩa là
trong điện ồn ào, tục tĩu, thánh giận, thánh về. Cái bác ấy thôi hát, đứng lên
quát:
- Các bà, các cô, ngồi im
mà nghe thánh dạy. Sao lại nói chuyện bô bô lên thế!
Các bà, các cô ngồi đấy,
ngơ ngác nhìn nhau. Rồi không ai dám nói nữa. Chỉ nghe ông lão đeo kính rì rầm
khấn... xin thánh. Một lát, thánh lại trở về. Nghĩa là ông lão lại trông vào
khói hương, đọc ra thơ. Cái bác ngồi ngoài lại hát lô lố. Thằng bé con lại chép
hí hoáy. Chép xong tờ thơ của người nào, nó đưa cho người ấy. Mỗi người cúi xuống,
giơ hai tay đón tờ thơ. Lại ngước lên bàn thờ, nâng tờ giấy, vái tạ ơn mấy vái.
Bỗng ông lão đeo kính nói
thực to:
- Số thơ tên Lê thị Miến.
Rồi ông cất giọng ngân
nga:
- Này Lê thị Miến con ơi!
Bác ngồi ngoài hát lại:
- Này Lê thị Miến con
ơi... ư...
Thằng bé cúi xuống viết,
ông lão nâng cái kính trễ xuống, nhìn làn khói hương, lại đọc:
- Năm nay con hai mươi tuổi
trời.
Ơn trên cho được thảnh
thơi,
Này vì ơn trên cho được
thảnh thơi... í... ơ...
Cả hai người nối nhau đọc
to nhiều câu nữa. Nhưng Miến và hai cô bạn, tuy nghe rõ, không hiểu người ta đọc
những gì, bởi mấy cô ngượng quá. Cứ thấy người ta gọi réo tên cái cúng cơm ra,
rồi lại rành rọt cả tuổi sai lung tung nữa, tuổi cô Miến lại nói tăng lên, các
cô luống cuống nghe không rành. Đến lúc ra về, trên mái tóc mỗi cô gài một tờ
giấy thơ gấp lại.
Về tới giữa cánh đồng vắng,
ba cô cùng bảo thằng Nếm đọc lại tờ thơ tiên cho các cô nghe. Trên bãi cỏ, thằng
Nếm ngồi giữa, ba cô xúm quanh. Chữ viết ngòng ngoèo lèm nhèm lên tờ giấy hồng
điều, nhưng Nếm cũng đọc được rành. Tờ thơ của dì Miến rằng:
Này Lê thị Miến con ơi!
Năm nay con hai mươi tuổi
trời.
Ơn trên cho được thảnh
thơi.
Làm ăn thong thả một đời
hiển vinh.
Sang năm thì gặp quý
nhân.
Đi trồng cây phúc, trời gần
không xa.
Rồi Nếm đọc hai tờ của
Khuyên và Lụa. Cũng na ná như vậy. Ba có ngồi đoán lẫn cho nhau.
- Chị Khuyên thì thánh dạy
sang năm lấy chồng.
- Cái Lụa cũng thế.
- Cái Miến này là sướng
nhất. Một đời hiển vinh. Làm ăn thong thả. À, sang năm lại gặp quý nhân. Chắc
cũng lấy chồng nốt, ba đứa lấy chồng một hôm.
- Lấy chồng thì chỉ mua
cái khổ, ích gì!
- Này các cô ạ. Cái câu của
cái Miến, nói lạy thánh, hợp quá. Đi trồng cây phúc, trời gần không xa. Câu này
ứng vào chỗ cái Miến sắp được ra Kẻ Chợ trông nhà cho bác Sủi nhá. Bác ấy ở cữ,
mà đi trông nhà, là đi trồng cây phúc đấy.
- Thơ thánh nhỉ? Hôm nào
chị Miến ra Kẻ Chợ?
- Ngày kia.
- Hôm nào về nhớ mua quà.
Mà nhớ cõng cả anh nhân tình công tử bột Kẻ Chợ về cho chúng tớ xem mặt.
Miến phát vào lưng cô Lụa:
- Chỉ được cái tán nhảm.
Mà tờ thơ của tớ sai tuổi, không đúng rồi. Về thôi!
Ba cô tất tả về. Vừa đi vừa
ríu rít nói chuyện thơ tiên, chuyện Kẻ Chợ và những chuyện trêu chọc nhảm nhí
râm ran. Cu Nếm bíu tay dì Miến nhếch nhái chạy theo.
Về đến gần đầu làng, sắp
tới lũy tre, cô Khuyên trông ra phía gò ngoài đầu bãi bên dòng sông thắp thoáng
bóng người mặc áo trắng.
- Ai như nhà giáo Câu?
Rồi Khuyên nghếch nhìn lại:
- Áo trắng dài là đích
giáo Câu rồi.
- Sao chịu khó đợi ai thế
nhỉ? Dáng ngồi đấy từ lúc chúng mình đi?
Lụa nói:
- Anh ả có tính dở người
rồi.
Miến không nói gì, đôi mắt
đăm đăm. Nhưng nghe hai cô bạn nói pha, Miến cũng cười nói góp:
- Dở người thì cũng mặc
người ta. Có bận đến cô nào không đấy?
Chương XII
Mãi tới lúc xâm xẩm, giáo
Câu mới lủi thủi về đến nhà. Không biết làm gì, anh ra ngoài vườn, xem đàn gà
lên chuồng.
Buổi chiều mùa thu, mặt
trời đã khuất vào những làn mây mờ mờ từ lúc xế trưa. Bây giờ bóng tối đến dần
dà, chiều và tối lẫn vào nhau, rồi không biết nhá nhem từ lúc nào. Độ quảng chạng
vạng đó, gà nháo nhác tìm chuồng. Cái chuồng đan bằng tre, có mái rơm và bốn
chân cao lênh khênh, đứng ở góc vườn, bên một cây khế cơm.
Từ ban nảy, hai gà gà trống
và một chị mái tơ đã nhảy lên, chui vào trong cửa. Một mụ gà mái ấp, lên chuồng
rồi còn thò mỏ ra kêu cục cục rầm rĩ gọi đàn con. Đàn gà nhép còn đứng dưới,
líp nhíp cục cục gọi nhau lạo xạ.
Giáo Câu đã chịu khó đan
cái cầu tre, uốn cầu vồng từ mặt đất lên lỗ cửa. Nhưng chẳng chú gà nào chịu
leo. Chúng chỉ định nhảy, định bay. Bay lạch đạch, lạt sạt cánh, ngả huỵch xuống.
Lại kêu, lại bay nữa. Mẹ đứng trên, càng kêu cục cục to hơn lên. Mãi sau, hai
con men leo lên cầu, tự nhiên vào cửa tổ, chui tọt vào. Mấy con kia, loanh
quanh chạy vài vòng, rồi cũng lên được. Chỉ còn một chú vẫn ngơ ngác đứng dưới.
Nhà giáo vờn con gà nhỏ,
muốn bắt nó lên chuồng. Nhưng dồn, nó chạy. Nó chạy luẩn quẩn. Rồi nó chạy vào
cầu, leo cuống quýt. Tình cờ, lọt vào cửa chuồng, rúc ngay dưới bụng mẹ. Mẹ
chúng nằm ủ lũ con, chốc lại kêu lục cục, như mắng mỏ, như dỗ dành.
Nhà giáo gài chéo cái que
chắn cửa. Ở trong, lũ gà con đụng nhau, kêu lích tích, nhép nhép, cứ ríu rít
như thế suốt đêm dưới bụng mẹ.
Nhà giáo đứng ngẩn, nghe
ngóng vu vơ những tiếng gà kêu. Có tiếng chân bước lạt xạt đằng sau. Quay lại,
thằng Nếm đương lùi lũi ra. Nhà giáo cũng không để ý. Nếm đến nói ấp úng:
- Thưa thầy...
- Gì?
- Thưa thầy, dì cháu gửi
thầy cái này.
Nó đưa giáo Câu bọc giấy
bằng cái phong thuốc lào. Nếm lại nói:
- Dì cháu bảo ngày kia dì
cháu xuống Kẻ Chợ.
- Thế hả?
- Dì cháu xuống chơi với
bá Sủi. Bá Sủi đẻ.
- Thế hả?
- Dì cháu bảo dì cháu ở
dưới ấy lâu một tháng.
- Một tháng à?
- Vâng.
Nhà giáo không nói gì nửa.
Mà thằng Nếm cũng hết câu nói khoe về dì nó. Nó chạy ra ngã ba nô đùa với trẻ
trong xóm. Đêm nay rằm sáng trăng.
99
Giáo Câu mở cái bọc giấy.
Một sợi chỉ se bằng mấy dặm tơ vàng buộc ngang dọc bốn góc. Tờ giấy mở ra. Nhà
giáo thấy một cái khăn mùi xoa trắng và một lọ nước hoa bọc giữa chiếc khăn.
Khăn mùi xoa bằng vải trúc bâu trắng, rộng độ vừa hai bàn tay. Đưa lên mũi, thoảng
trong khăn có mùi vải mới và nước hoa thơm thơm. Lọ nước hoa xinh xinh bằng hai
ngón tay chụm lại. Màu nước vàng, ngoài lọ, dán mảnh giấy trang kim óng ánh. Cầm
trong tay mấy thứ người yêu tặng, Câu bâng khuâng, đờ đẫn cả người, quên cả
chuyện Miến sắp ra Kẻ Chợ. Mãi, mới nghĩ thầm được một câu:
- À, nước hoa, khăn mặt tặng
nhau.
Tối ấy, giáo Câu đi nằm sớm.
Anh mang cả cái khăn mặt và lọ nước hoa vào màn. Mân mê, xem mãi không biết
chán... Rồi anh để lọ nước hoa trên ngực. Cái khăn mùi xoa thì đắp kín lên mặt.
Giáo Câu nằm lơ mơ. Cứ thế ngủ quên lúc nào, không biết.
Nhưng rồi hôm nào Miến xuống
Kẻ Chợ, Câu cũng không biết. Bởi Câu cũng chẳng nhớ hôm nào là “hôm kia” nữa,
mà đã mấy hôm kia rồi. Đến khi lâu lâu chẳng thấy Miến đi chợ qua, Câu mới giật
mình.
Lại đâm ra hoảng hốt.
Một hôm, Câu đi ra Kẻ Chợ.
Một chuyến tàu điện, chẳng
bao lâu đã xuống đến Bờ Hồ. Người đi tới tấp. Người đi lũ lượt. Người từng đàn
dài lao nhao, ve vẻ như mắc cửi. Ngược lại xuôi, xuôi lại ngược. Đông ghế những
người, ở những ngõ ngách nào mà tuôn ra nhiều người lắm thế này. Đôi chốc, từ đằng
xa, đoàn tàu điện kéo đến. Chuông keng keng, máy ầm ầm đinh tai. Người ngồi
trên toa tàu thò cổ ra, nhìn hai bên phố phường. Người ta bảo đất Kẻ Chợ quanh
năm như hội, đúng thực.
Trưa hôm ấy, bác hương sư
làng Nha đi lần vào những đám người qua lại quãng Hàng Ngang, Hàng Đào, trông
ra bốn bên hàng phố và nghĩ ngợi lẩn vẫn ngẩn ngơ như thế.
Từ hôm Miến ra Kẻ Chợ, đã
là mấy mươi ngày rồi. Nghĩ mãi vẫn rối tung chẳng ra thế nào. Độ nọ, mấy tháng
liền giận dỗi nhau mà không sốt ruột mấy. Sao bây giờ anh bồn chồn thế. Chẳng
muốn nhớ rõ ràng ra nữa. Chỉ biết toàn những nhớ, những vui, những giận chồng
chất một mình.
Mỗi chiều, ăn cơm xong,
Câu ngồi nhìn mặt trời khuất xuống sau bờ tre, lại nhớ. Giáo Câu cũng chỉ qua
Hà Nội có một lần ở quê lên. Trong trí nhớ của nhà giáo, cái chợ Đồng Xuân, tường
thủng lỗ chỗ như tổ ong. Con gái ăn mặc quần áo tân thời, má phấn môi son ngồi
sau cái tủ kính. Rồi đến một cái hồ nước xanh như nước luộc rau muống. Cái cầu
gỗ đo đỏ uốn lưng cong. Lại nữa, Hà Nội bao nhiêu là trai thanh gái lịch. Người
ta bảo lắm cô mặc quần trắng áo màu lịch sự lại đi móc túi làm kẻ cắp. Công tử
bảnh bao thế kia mà đi cướp giật đấy. Cái đất phồn hoa này nó nhố nhăng thế.
Song cũng chỉ là nghe người ta nói...
Nhà chú Sủi ở phố nào,
Câu cũng không biết. Í tứ hỏi khéo bà Thiêm mấy lần, Câu mới biết được nhà của
chị của Miến ở phố Mã Mây. Đi đằng Hàng Đào lại thì về bên tay trái. Ngoài cửa
có cái tủ kính, bày mấy thứ bánh khảo, ấy là bà Thiêm nghe chuyện nhiều thì nhớ
thế, bà Thiêm cũng chưa đến nhà vợ chồng chú Sủi bao giờ. Câu thì nhớ thế đã là
đinh ninh đến nơi được, rồi chàng quyết ra Hà Nội.
Đi gặp người yêu cũng có
khác, nhà giáo diện lắm. Cái mũ đánh phấn trưa hôm qua. Đôi giày đế kép vải trắng
cũng được đánh mới. Tấm quần vải ta gối đầu giường nếp cứng chẳng kém giặt là.
Nhà giáo mặc áo the khuy xương trắng. Áo mồi đấy, chẳng mấy khi mặc. Và giáo
Câu lại đã chịu sang bên Thượng, mượn giáo Răng cái kính râm gọng trắng, mắt
xanh. “Đeo cái kính râm này đi, mới là hơi đá lối ăn chơi. Hừ!”.
Bây giờ thì giáo Câu
đương đi giữa phố Hàng Đào. Nhưng cái kính xanh, gọng trắng đã phải cất vào
túi. Nhà giáo cũng muốn đeo nhưng đeo kính ấy, trông cái gì cũng ra màu xanh
lơ. Mà ngộ nhỡ phải thằng du côn nó giựt mất thì chết, kính để trên mắt thì nó
cướp dễ quá.
Nhà giáo sợ. Nhà giáo bước
thong thả, rình hỏi đường. Phải rình, vì hỏi ai cũng ngại. Câu định tâm hỏi cậu
bé nào mặt mũi nhẹ nhõm, có vẻ học trò. Vả lại, hỏi thăm trẻ con, thì chắc là
không ngượng. Một bọn mấy cậu bé vừa đi qua. Câu hỏi ghé một đứa đi sau.
- Tôi hỏi thăm phố Mã
Mây?
- Ông đi ra chỗ phố Hàng
Bạc kia kìa.
Theo lối tay chỉ, Câu ra
phố Hàng Bạc. Nhưng cái biển phố đề toàn chữ Tây, chẳng biết có phải Hàng Bạc
không. Lại một lần hỏi nữa, mới tới được đầu phố Mã Mây. Nhớ rồi. Đi từ đằng
này đến, thì về phía bên tay trái. Ngoài cửa, cái tủ kính bày bánh kháo, chiếc
tủ bày phong bánh kháo.
A, có lẽ kia. Đúng rồi.
Thôi, đích rồi. Lỗ cửa hẹp. Một cái hòm sơn xanh, ba mặt kính thè lè ra ngoài.
Trong hòm, có mấy phong bánh kháo. Trên nóc, một dãy lọ thủy tinh đựng kẹo lạc
kẹo sìu.
Câu đứng lại. Anh xốc cái
cổ áo. Anh dặng hắng một tiếng lấy hơi. Anh quả quyết, đi qua. Và nhìn vào
trong nhà. Chao ôi! Vừa hay, cô Miến ngồi ngay đấy. Nhưng cô quay mặt vào
trong, cô không trông thấy Câu. Cô đương đùa với hai thằng bé con. Chắc là con
bác Sủi. Chúng nó mặc quần áo Tàu, trông người béo tròn như cái hạt mít. Chúng
đấm trộm dì Miến một cái rồi chạy vào nhà trong, vừa chạy vừa cười ồn ả.
Anh đã đi qua. Anh đứng lại,
thở phì phò như chạy một quãng. Anh xốn xang cảm động. Lâu quá bây giờ mới lại
được trông thấy mặt nhau. Anh đứng đằng xa, trân trân nhìn lại cái cửa hiệu
bánh, mà chưa nghĩ đến sự lộn trở lại. Anh khoan khoái. Anh lại nghĩ: “Đã ra đến
đây, đứng lẩn vẩn thế này, lại đâm ra ngại”. Ý đó giúp anh bước mạnh dạn. Anh lại
đi sát vào tủ kính, toan ho một tiếng.
Miến đã trông thấy Câu,
Miến mỉm cười. Câu thì cười ngỡ ngàng. Rồi Câu lững thững đi ra đứng đầu phố, đợi.
Một lát, Câu thấy Miến ra cửa, đứng cạnh cái tủ bánh, nhìn ngước lên. Nàng tìm
Câu. Đứng đằng này, Câu cười. Miến quay vào, rồi trở ra, đi về phía Câu.
Ra Kẻ Chợ có khác, Miến mặc
áo dài - tấm áo the nâu cài khuy - lẹp kẹp đôi guốc.
- Cậu xuống bao giờ thế?
- Vừa đến đây.
- Làm thế nào biết được
nhà?
- Biết đường thì biết
nhà, ở đâu mà chẳng tìm được. Ai lại đi lâu thế!
- Còn phải ở lâu nữa.
- Sao thế?
- Chị ở cử, rồi ốm. Không
ai trông hàng. Đấy, cứ phải ngồi nhòm nhõm một mình cả ngày.
- Đi chơi một tí được
không?
- Ai trông hàng cho mà
đi. Cậu ở đây cả ngày chứ?
- Hôm nay chủ nhật được
nghỉ.
- Thế độ bốn giờ cậu lại.
May ra đi được. Chết, đứng lâu quả. Bốn giờ nhé!
Chương XIII
Câu còn chưa kịp đáp, Miến
đã vội vã chạy về. Đến cửa, nàng quay lại, cuời. Câu cũng cười ngơ ngẩn. Rồi
anh đi lên phố Hàng Đào. Trong đầu, nghĩ ngợi loăng quăng. Chẳng lẽ đã công
trình ra tận đây, lại không được đi với Miến hay sao. Câu nhớ mãi cái bóng
trăng chiều hôm xưa. Đến bây giờ, chốc nữa. Chốc nữa, Câu lại sắp đi với Miến một
buổi chiều tương tự. Mà chiều nay, được đi với nhau giữa phố phường chẳng có ai
quen thuộc. Câu về thế nào được! Trời, Câu về làm sao được!
Câu vào một hiệu phở phố
Cầu Gỗ bên bến tàu điện Hà Đông.
Câu xuống Bờ Hồ, lên đứng
hóng mát trên cầu. Anh bỏ mũ. Gió thổi lồng lộng vào trong tóc. Mới vào quãng
hơn một giờ. Anh chàng đi quanh sang bên kia hồ, tìm một cái ghế. Anh ngồi lâu
lắm, Câu đi nhòm những cửa hàng có đồng hồ mãi mới thấy chiếc kim ngắn xế bên
con số bốn. Gần bốn giờ!
Câu đi lên phố, dạo qua.
Miến nhìn ngay thấy Câu và Miến cười. Câu ra đứng đợi trên đầu phố, hí hửng. Miến
đến, bảo:
- Một lát nữa nhá. Tôi
đương giở tay.
Nàng lại chạy nháo về.
Không kịp hỏi xem Miến giở tay làm gì. Lại một lúc nửa. Nhưng một lúc phỏng chừng
cũng chiều chiều rồi.
Rồi chiều đã ra ý xuống,
hơi tối. Phố xá nhuốm vẻ huyên náo hoàng hôn. Một chút nắng nhợt nhạt trên đầu
những mảnh tường. Nhưng tất cả đều ẩn một dáng vội vã, hối hả trước lúc lên
đèn. Câu vẫn đứng yên.
“Một lúc nửa” lâu quá.
Câu ngóng về phía cửa. Vừa lúc Miến tất tả đi ra.
- Khổ quá. Cậu chờ tí nữa
vậy. Tôi phải dọn cơm cho chị ấy ăn.Gái đẻ cơm khem, phải ăn riêng mà.
Lại đợi. Lúc đầu cũng
không sốt ruột mấy. Vì Miến đã vừa ra. Câu thoáng thấy má nàng trăng trắng, hồng
hồng “A, học mốt tân thời. Bôi kem, đánh phấn!”. Những ngọn đèn điện ngoài đường
đã bừng lên. Đường phố ra một vẻ mặt khác.
Bây giờ tay đôi đã đi
song song ngoài phố. Miến nói cho Câu nghe về sự chậm trể:
- Dọn cơm cho chị ấy
xong, phải cho cháu ăn. Thế là đến bữa rồi, tôi cũng phải ăn nhân thể. Nhà đông
người, những ba thợ làm bánh nhà chú Sủi. Ăn xong lại dọn hàng, đóng cửa. Mọi
khi mở khuya nửa đấy. Tôi nói dối đi có việc đằng này một máy. Chết, tối thế
này thì rồi cậu về Nha làm sao?
- Tôi ngủ dưới này.
- Ngũ nhà ai?
- Bạn.
- Cậu...
- Ăn cái này.
Câu nhìn xuống. Từ nãy,
Câu vẫn thấy Miến thu thu cái gói trong bọc áo. Cô Miến có gói kẹo lạc. Nàng lấy
trong lọ đi một ít. Cho người yêu nếm cái quà Kẻ Chợ!
Miến khoe:
- Tôi ăn các thứ này cả
ngày. Ăn nhiều đến phát ngấy. Cậu cầm lấy, bỏ vào túi ăn dần.
Phố Hàng Đào, Hàng Ngang
sáng choang đủ thứ màu xanh đỏ. Ban đêm, quang cảnh khác hẳn. Những tủ kính bày
hàng lồng ánh điện như động tiên.
Miến bảo:
- Đi chơi tối ở đây cũng
vui bằng mấy đi xem hội to nhất vùng ta. Tôi mới có mấy chị em bạn, Tôi hay rủ
nhau đi chơi đấy.
- Con gái mà cũng đi chơi
tối a?
- Ở tỉnh thành phải thế
chứ. Tối mà sùm sụp cái mũ trắng như cậu là cổ hủ đấy.
Câu ngượng, muốn vứt ngay
cái mũ đi. Anh im, không đáp. Và anh nhìn Miến. Ở tỉnh thành phải thế. Nó quen
chứ. Phải, Miến đã ra đây dễ thường đã được một tháng - trước Miến cũng ra
luôn, nhưng chưa chuyến nào ở lâu - chuyến này Miến đã khéo học đôi lối phường
phố. Cái áo the nâu đóng kín khuy ngực, áo dài cài khuy. Khăn vấn lắn và đầu
ngôi rẽ lệch. Rồi má xoa phấn, môi thì bôi son. Có lẽ bóng tối Câu chưa trông
thấy, nhưng Câu đoán thế. Lại ăn nói cũng mới mẻ ghê.
- Ta đi dạo một vòng bờ hồ.
Câu trông người ta đi tay
đôi tự nhiên như không.
- Cậu có chuyện gì nói
thì nói đi.
Câu chẳng có chuyện gì để
nói. Hay chỉ là những chuyện vẩn vơ. Mấy bữa nay trở trời bà Thiêm đau lưng
không quay được tơ. Thằng Nếm ngày nào cũng mong dì Miến chóng đem quà Kẻ Chợ về.
Hôm phiên tơ, nhà giáo gặp cô Khuyên, cô Lụa đi chợ.
Hai người bước vào lối cỏ
ven hồ. Lắm lúc Câu cũng muốn cầm tay Miến. Nhưng đường cái cứ chỗ tối, chỗ
sáng, anh lại không dám. Mỗi lần gặp những tay đôi dắt tay nhau thản nhiên,
nhưng anh vẫn thấy mình ngượng. Nghĩa là Câu ta khù khờ, lại nói rặt những chuyện
chắp nối vu vơ. Dưới hồ, sóng nước óng ánh sáng. Phía bên kia, đèn các phố chi
chít hơn sao sa. Chẳng mấy chốc, vui chân đã đi được mấy vòng hồ rồi không biết.
- Khuya đấy. Tôi về nhé.
- Mới tám giờ chứ mấy?
- Tám giờ? Hai mươi giấc
tốt, hăm mốt nửa đêm, hăm mốt thì trăng mới lên cao thế kia. Mười một giờ là
ít.
Trên nóc phố, lơ lững ông
trăng vàng rượi, to như chiếc chiêng đồng. Phía dưới, những hình mái nhà nhấp
nhô đen xám cắt thành những nét gãy lên nền trời dát li ti trên mái nhà, không
ai để ý. Chợt nhớ ông trăng hôm nào, Câu nói:
- Miến nhỉ, ông trăng ở
đây không sáng.
- Đèn điện của người ta
sáng gấp nghìn ông trăng ấy chứ. Đêm nào chả thế. Thôi cậu về đi. Chết, mai kịp
dạy không?
- Chẳng cần. Tôi đưa Miến
về rồi tôi về cũng được.
Đường phố vắng. Ánh đèn đỏ
đòng đọc ở gầm những chiếc xe kéo, xa gần như những con đom đóm bay. Thỉnh thoảng,
trong góc phố vang lên câu rao hàng đêm lạ tai. Về đến cửa, Miến cầm tay Câu,
hai mắt long lanh:
- Cậu về nhá.
Rồi nàng gọi cửa. Câu
quay đi, sang đứng khuất dưới cột đèn điện bên bờ hè. Cửa mở. Một chú khách, đầu
trọc như quả dừa, cởi trần trùng trục, thò cổ ra. Không biết có phải chú Sủi chồng
của chị Miến đấy không. Chú to béo như ông hộ pháp. Hai cái vú xị xuống như đôi
vú người đàn bà nạ dòng. Cảnh cửa hé, Miến lọt vào. Chú khách giơ bàn tay hộ
pháp khép cái cánh gỗ lại.
Câu chưng hửng, đi về.
Nhưng về đâu bây giờ? Lúc
nãy, nói với khuếch khoác cho xong chuyện đấy thôi. Cũng như Câu chưa nói được
với Miến chuyện gì vào chuyện gì. Bao giờ cũng thế, nghĩ lại, anh lại tiếc rẻ
như còn những chuyện gì mà chưa nói nốt. Rồi đi một mình, anh lại nhớ ra bao
nhiêu chuyện mà lúc nãy quên.
Nhưng Câu buồn buồn, buồn
từ lúc trông thấy chú khách Sủi ra mở cửa. Không hiểu tại sao, khi yêu nhau, những
ý nghĩ về nhau, biến đổi nhanh chóng. Tâm sự vui, buồn mõng manh như sợi tơ rớt.
Đêm đã về khuya. Đêm
tháng tám, có sương muối. Hai vai áo the của Câu đã ẩm, lạnh ngắt. Không nghĩ,
anh cứ đi. Từ giờ đến mai, bao giờ về đến Nha thì về.
Một mình một bóng lủi thủi.
Trên đầu, có ông trăng đi theo.
Chương XIV
Nhà ai đám thứ gì mà đốt
bánh pháo dài thế?
- Cưới con gái ông chánh
Đặng.
- Lấy ai?
- Lấy cái nhà giáo Răng.
- À...
- Khéo không có mà nó đã
có một mớ vợ ở nơi khác rồi.
- Chẳng lo con bò trắng
răng!
- Dáng hẳn đôi bên cũng
có thế nào rồi.
- Hình như có thế. Anh ả
chị ả, tay đôi đã dan díu từ lâu, khiếp lắm.
- Thời buổi bây giờ con
gái đoảng cả.
Rồi người ta bàn tán lan
man về con gái thời bây giờ. Những câu chuyện vặt, chuyện đi đường của mấy người
vùng ấy, khi đi qua ngoài lũy tre làng Thượng, nghe tiếng pháo nổ râm ran trong
làng. Hôm ấy, cưới cô Tố con gái ông chánh Đặng. Đúng như lời thiên hạ nhỏ to.
Cô Tố lấy thầy giáo Răng. Ông bà chánh Đặng lo lắng ngay cho vui vẻ cả. Ai cũng
biết chuyện ra sao rồi. Người ta gọi là cưới che mắt thế gian. Bơ vơ, sướng cái
anh giáo Răng!
Từ ngày đến Yên Thượng,
Răng trọ ngay ở nhà ông chánh Đặng. Ông chánh cũng coi là thường. Nhưng ông
chánh đã vụng tính. Ông có con gái lớn, cho người lạ ở khác nào cho rơm gần mồi
lửa. Giáo Răng ở nhà ông chánh. Thôi thì bao nhiêu sổ sách, đơn từ, giấy má,
bài bổ ông chánh đều giao cho thầy giáo đỡ được công việc. Ông chánh không tính
đến, anh chàng Răng bẻm mép, cô Tố lăn lóc ngay. Có một lần kia, ông chánh bắt
được đêm hôm rõ ràng thế nào ấy. Ông chánh toan đuổi Răng đi. Nhưng chưa đuổi,
Răng đã đùng đùng đi ngay. Cô Tố lăn ra khăn gói theo. Ông biết thế là ông đã
tóm phải con dao đằng lưỡi. Ông thu xếp, điều đình với Răng. Ông cho không Răng
cô con gái.
Ông nói với mọi người:
- Tôi cho thầy ấy một đứa
con gái đấy. Tìm được rể hiền là phúc. Tôi chỉ cầu người hiền thỏi.
Nhiều người khen ông
chánh về chỗ ông thẳng tính. Nhưng nhiều người bảo ông sợ nhọ mặt, phải làm ra
trò vè ấy.
Đám cưới linh đình. Ăn uống
rả rích mấy ngày. Hôm nay, chú rể Răng mời khách chú rể. Tất cả những ông hương
sư ở trong vùng. Và giáo Răng ra Kẻ Chợ mời cả chục bè bạn. Một dãy xe kéo ở
trên tỉnh, trên phú đỗ sắp hàng ở cổng làng. Chưa bao giờ có nhiều xe kéo vào đậu
trước cổng cái của làng như thế. Bà con làng nước lũ lượt đến làm giúp, ăn cỗ
ròng rã, lại đánh tổ tôm, xóc đĩa cả đêm.
Khách khứa xa gần đủ cả,
dù ai cũng chửi vụng ông chánh đủ điều:
- Cái lão ăn tơ ỉa tóc.
Phải một miếng thế này, đứt từng khúc ruột. Vứt đi hàng trăm bạc, chứ chẳng
chơi.
- Hai cái lông mày con Tố
dựng ngược lên rồi.
- Chỉ ba bốn tháng nữa
thì nằm ổ thôi.
Giáo Câu cũng đi ăn cỗ.
Chẳng quen thuộc ai, ăn xong anh về ngay. Điệu bộ một ông khách vừa ở đám ra. Mặt
đỏ gay như mặt gà chọi. Áo the, tụt trễ một khuy cổ. Cái khăn xếp không đội lên
đầu, mà lại tròng lọng vào một bên cánh tay. Nhắp có lưng chén mà đã choáng
váng. Nhà giáo này tửu lượng xoàng.
Về nhà, Câu nằm dài xuống
phản, không kịp cởi áo. Anh nghĩ vẩn vơ về tay giáo Răng. Anh cho là giáo Răng
đã gặp được bước may. Phải, Răng may thực Câu đương tưởng tượng cái cảnh của
Răng là Câu, là Miến. Chao ơi!
Cơ khổ, đường tình của
Câu lận đận làm sao. Miến vẫn chưa ở ngoài Kẻ Chợ về. Cũng không biết rồi ra thế
nào.
Câu cũng chưa ra phố thêm
được lần nào. Câu đương để dành tiền. Chàng muốn hôm nào ra Kẻ Chợ chụp một cái
ảnh. Để tặng Miến. Và để đối lại với chiếc mùi xoa, lọ nước hoa của Miến đã
cho.
Trong khi ấy Miến vẫn nấn
ná ở ngoài phố, Câu tự dưng nóng ruột quá. Câu chẳng muốn Miến ở Kẻ Chợ. Câu nhớ
đến cái đêm đi ở bờ hồ, Câu đội cái mũ trắng, Miến bảo cái mũ trắng hủ lậu. Câu
lại buồn thiu.
Một hôm, Câu đương đứng
trong lớp, nhận được một lá thư ở nhà dây thép trên phủ gửi xuống. Bóc xem, là
thư của Kền ngoài Uông gửi về.
Uông Bí le 30 Mars 193...
Ngô huynh ơi!
Từ ngày tôi rời Yên Thượng,
hôm nay mới có thư về ngô huynh. Chắc nhiều khi ngô huynh đã nghĩ trách tôi.
Nhưng thực không phải tôi cố ý. Chỉ vì tôi muốn giữ gìn cho ngô huynh đây. Để
bao giờ anh em ta gặp nhau, tôi sẽ nói chuyện để ngô huynh biết rõ ràng.
Ngô huynh ơi! Người ta ở
đời, cũng nhiều bước gian truân, mà cũng nhiều phen sóng gió. Nghĩ như cái ngày
anh em ta sum họp thì ai đâu ngờ rằng rồi sẽ có khi phải bó buộc chia tay không
một lời từ biệt. Tôi tuy ở xa, nhưng cũng được biết Hoạnh không còn tại đây. Thế
là chỉ còn có một mình ngô huynh ở lại. Than ôi! Kền tôi đã vắng, ai người nói
câu tâm sự, Hoạnh cũng đi rồi, bạn đâu còn khách tri âm.
Lại nói từ ngày tôi ra
đi. Tôi xuống dưới này nhờ người quen xin được vào sở mỏ làm. Thế là nghiễm
nhiên đã thay nghề gõ đầu trẻ ra nghề bút chì lọ mực chép sổ. Lương lậu thì được
khá hơn cái ngày ở Yên Thượng. Thế mới hay, có ra đến ngoài, mới biết cái cánh
anh em ta thiếu thốn nghèo đớn quá. Thế mà... Nhưng thôi nói không tiện. Lại để
khi nào gặp ngô huynh, sẽ nói chuyện nhiều cùng ngô huynh.
Ngô huynh ơi! Chắng hay từ
bấy đến giờ, cận trạng của ngô huynh ra sao? Ngô huynh trả lời cho tôi mấy câu
tường tận. Tôi mong. Phần tôi, sức khỏe vẫn như thường.
Kính ngô huynh khang an.
Kền bái
Trống tan học.
Trẻ con trường này, chỉ
được cái đánh trống là thạo nhất hạng. Bởi chúng đã ham tập luyện mỗi dịp làng
vào đám. Thòm... thòm... Từng tiếng... từng tiếng. Cái đầu dùi nện băng băng
trên mặt trống, nhịp nhàng. Không ai để ý cái trống vô tình mà những trống tan
học vào học, trống ra chơi còn để báo hiệu cho mọi nhà trong xóm biết hiệu mà
ra khung cửi, mà sắp cơm nguội nước rau luộc - bữa thợ ăn buổi tối trước khi dệt
cửi lên đèn.
Hồi trống vừa dứt, học
trò nhao nhao chào thầy. Rồi ôm sách lên ngực, chúng chèn, huých nhau, chạy ào
ào, hỗn độn líu tíu như một đàn vịt. Chúng tản vào các ngõ xóm. Trong nháy mắt
sân trường vắng tanh. Chỉ còn sót lại mấy mảnh nắng chếch trên gò cỏ ấu non rượi.
Thầy giáo Câu đương cầm trong tay cái thư của thầy giáo Kền. Câu đương nghĩ ngợi
nhiều lắm, chỉ có một mình thầy giáo Câu.
Tháng Hai năm ấy, làng
Nha mở hội. Thực ra chỉ là hội lệ như mọi năm.
Hàng năm tháng Hai, vẫn
vào đám. Thịt một con bò làm việc làng. Rồi năm nào phong lưu thì gọi phường về
chèo hát ngoài sân đình. Bằng không, chỉ có nhà tơ hát hầu thánh hát cửa đình.
Năm nay, làng vừa trù tiền
đảo lại lớp ngói nóc. Mua thêm ít ngói mới vào. Vừa xong các việc, vào dịp đám
tháng Hai... Cũng vào đám như thường lệ, nhưng to hon một chút gọi là làng Nha
hội khánh thành đình.
Làng mướn phường chèo hát
cả hai buổi, buổi ngày buổi tối. Và có thêm mấy trò nữa. Còn đấu võ tây, võ ta
việc đấu võ, làng nhờ ông giáo Răng bên Thượng. Giáo Răng thích mê, được dịp
khoe tài cho các làng xem. Nhưng ông chánh Đặng lại không bằng lòng. Bởi ông
không ưa mấy ông hương hội bên Nha. Lại bởi sang năm làng Thượng cũng có hội
khánh thành cái tam quan. Ông muốn chàng rể lập đài đấu võ bên làng Thượng trước.
Việc đấu võ làng Nha
không thành, song chỉ riêng cả ngày cả tối chèo hát, hội làng Nha cũng đã vui
chán. Nô nức các nơi kéo đến xem. Trong làng, khung cửi nào cũng nghỉ. Ăn uống
vui chơi như ngày Tết Cả. Trường học cũng được nghỉ cả một tuần.
Đám hội đương đông.
Trong đình các cụ vừa vào
cuộc lễ giữa đám tế. Lố nhố những tấm áo thụng xanh đã bạc phếch. Áo thụng xanh
mặc còn khá, còn những cụ chỉ mặc manh áo the vá, chân đi đôi guốc đẽo bằng gộc
tre. Không sao. Đủ lễ lạt là được. Hương... bái... Quán tẩy sở... Tiếng hô rầm
rĩ lẫn tiếng trống lùng tùng, tiếng kèn toe toe. Nhưng chỉ có mấy ông đứng tuổi,
sắp vào hàng lên lình lên lão cùng mấy anh trai làng, chịu khó đứng xem. Ý để học
cái lề lối tế lễ của các cụ để sau này còn noi theo. Bao nhiêu người đổ xô cả
ra sân.
Ngoài sân, phường chèo
đương diễn ban ngày. Rạp chèo dựng ở cuối sân, cạnh góc đa. Bốn chiếc cọc tre
cao, đóng bốn góc như cái chuồng lợn. Bên trên, che ba lá cót. Ở tầng giữa,
gióng tre, gióng gỗ bắc khít nhau, kê thành một tấm ván rộng, dưới gầm, trẻ con
như chuột chui qua dễ dàng. Sân khấu cũng chia làm đôi có một sợi thừng căng
ngang. Trên thừng, vắt một mớ quần áo xanh đỏ lấm láp đã cũ của phường.
Dưới kia, đông ghế người
lên. Trẻ con thì không thể len chân. Người lớn đứng ngẩng mặt. Nhiều anh tinh
quái, leo lên cây nhãn, ngồi chòm chõm trên hai bên cột trụ và bức tường hoa.
Tiếng ồn ào la hét, tiếng chửi bới và trẻ con khóc át cả tiếng hát trên rạp.
Tuy vậy, người ta vẫn mê mải. Hàng năm mới được ngày thong thả, lại có chèo
hát, tội gì mà chẳng ra xem.
Trên sân khấu, cũng lố nhố
những người. Ở bốn bên, mỗi cột có một thằng oắt con, ngồi chầu hẫu. Chúng đã
leo lên đấy để xem cho được thực gần. Và mé bên tay trái một dàn đàn sáo trống
con, trống cơm, đàn, nhị...
Tuy là cả phường, mỗi người
mỗi việc, nhưng những anh đánh trống, kéo nhị cũng hát theo với các người ra
vai.
Những anh đánh trống, kéo
nhị cũng hát ồn ả hát láy lại nửa câu. Sân khấu hẹp chỉ bằng chiếc chiếu. Đào
kép trong buồng trò ra, chui qua mấy tấm áo xanh đỏ chăng trên chiếc thừng, đứng
nhấp nhổm.
Bấy giờ đương diễn trò Kiều.
Cảnh này là cảnh cô Kiều nằm mơ thấy nàng Đạm Tiên hiện lên cùng đi thanh minh
tảo mộ với chị em Kiều ban ngày. Hiện đương là ban ngày, nhưng người ta giả
cách là đương đêm. Cô Kiều mặc áo the ngồi trên cái hòm gỗ, một tay cầm quạt
che mặt. Cô đương ngủ. Chợt từ trong buồng trò, một người trùm cái áo lụa điều
lên đầu, ra chạy quanh một vòng rồi lại chệnh choạng chạy vào. Đấy là hồn ả Đạm
Tiên. Trong khi, mấy người ban âm nhạc đàn sáo lại khua trống ầm ĩ. Cô Kiều
buông quạt, ngơ ngác. Ra lối vừa tỉnh dậy, cô Kiều đứng lên. Cô xòe quạt. Cô
rún chân bên phải, mắt liếc bên phải. Cô rún chân bên trái, quạt cũng nghiêng
bên trái và đôi mắt cũng liếc sang bên trái. Cái quạt uốn éo, đảo một vòng, cô
Kiều hát:
- Ới thương ơi! Ới hỡi
thương ơi!...
Những người ngồi xung
quanh cả những người đằng sau rạp cũng rầm rĩ hát vỡ nước theo và kéo nhị một
câu ấy ới thương ơi!... Bung bung bập bùng... cò cư... cò cư... Vui quá.
Nhà giáo Câu và nhà giáo
Răng cũng đứng trên thềm đình, xem chèo. Đứng lâu đã mỏi chân, hai người rủ
nhau đi loanh quanh. Dưới cửa đình, có mấy quán bán nước. Con trai con gái các
làng kéo đến xem hội, đi từng đám, từng bọn.
Ban ngày, hát chèo không
vui bằng tối, chỉ được cái đông.
Hai nhà giáo vừa đi vừa
tán chuyện về đám chèo. Nghe đằng bờ ao làng, nhiều tiếng người reo à à.
- Chơi bắt vịt chăng?
- Có nhẽ đấy.
Họ rảo bước lại. Cuộc vui
đương ồn ào. Nhưng không phải đuổi vịt. Mà là trò bịt mắt bắt vịt bày ra từ
sáng sớm ngoài ao làng. Có bốn con vịt, các tay lặn nhanh đã lùa bắt được cả.
Chỗ này là trò chơi cột mỡ, đông người xem chẳng kém đám chèo trên sàn đình.
Vòng trong vòng ngoài, nghìn nghịt bên bờ ao. Ở giữa chôn một cái cột xoan đã
bóc vỏ nhẵn thín. Người ta đã bôi vào nhiều mỡ và nước xà phòng nhờn. Trên đầu
cột, treo lủng lắng các thứ giải thưởng. Hai chiếc quạt Tàu, bên cạnh hai lọ nước
hoa, hai gói giấy đỏ, trong đựng ba hào bạc. Năm sáu người leo, phần nhiều là
những trai làng nghịch ngợm. Có những người làng khác thấy ngứa mắt, cũng cởi
phăng áo, hăm hở nhảy ra. Nhưng chỉ được mấy cái tuổi, lại trôi tuột xuống.
Trơn quá. Mỗi lần có người bị ngả ngữa ra bãi xung quanh lại reo hò loạn xạ. Trẻ
con thích quá, vỗ tay, nhảy cẫng lên. Người ta càng cố leo. Nhưng vẫn không ăn
thua. Cuộc vui kéo dài...
Hai nhà giáo lên cửa đình
vào xem tế. Vừa đi qua quãng tường đầu đình, gặp một toán cô gái. Có một cô tân
thời đi cùng với đám cô Lụa, cô Khuyên. Câu choáng người. Đó là cô Miến. Chao
ôi! Cô Miến ăn mặc quần áo tân thời kiểu người Kẻ Chợ.
Cô ở trong đình đi ra.
Hai tay cô bưng cái tráp sơn đỏ, sơn then - tráp đựng vàng hương, đem ra đình lễ.
Đầu cô chít khăn nhung, vấn lẳn vành dây kiểu phường phố. Một bên mái tóc, gài
một chùm hoa mộc trắng ngà. Tấm ảo satanh đen nhuyễn, óng ánh. Ở mỗi bước đi,
cái quần lĩnh Sà-goòng bóng loáng ăn với áo satanh trơn, óng ánh xao động nhịp
nhàng. Chân cô đi đôi dép Nhật Bản, cũng sơn đen bóng, đế thì bằng kếp trắng
như lụa. Chưa bao giờ Miến tân thời thế này cho nên trông Miến khác hẳn.
Mà sao trông Miến cao cao
quá, trắng quá. Cơm gạo và nước máy Kẻ Chợ có khác. Cô bước đi lả lướt, rõ ra lối
đi của các tiểu thư óng ả ăn trắng mặc trơn.
Gặp Câu, Miến thoáng nhìn
qua rồi, đi tự nhiên, như không biết nhau bao giờ. Giữa lúc ấy, một bà lão bước
đến. Miến chào bà lão. Bà lão kêu lên:
- Úi chao ôi! Tưởng ai,
hóa ra cái Miến. Cô tân thời làng ta, năm nay cho bà ăn cỗ đấy chứ?
Miến cười. Nhưng Câu đã
thoáng nghe được mấy tiếng chào hỏi người làng của Miến. Cái giọng Miến sửa, Hà
Nội đặc.
Giáo Răng hỏi giáo Câu:
- Con nào thế?
- Cô Miến.
- Con nhà xừ khán Tịnh phỏng?
- Ừ. Sao anh biết?
- Tớ là thổ công mấy làng
này sao lại không biết. Con bé trông khấu quá. Ở đây lâu thế mà toa không tán
được nó. Đằng ấy rõ quých quá. Không nói phét, chẳng phải tay moa...
Câu đờ đẫn cả người. Mắt
anh hoa hoa. Đầu anh bỗng váng vắt.
Răng nhìn Câu, hỏi:
- Toa làm sao thế?
- Không. Có sao đâu.
- Mặt tái đi đấy.
- Tôi hơi nhức đầu.
Về đến nhà, Câu nằm thẳng
cẳng như người chết rồi. Nhưng óc Câu cũng vẫn nghe bà Thiêm nói chuyện. Bà
Thiêm vừa đi ăn cỗ đằng nhà ông khán Tịnh về. Cũng như mọi nhà, làng có đám thì
nhà ai cũng thắp hương làm cỗ. Cái tính bà Thiêm chẳng để bụng được việc gì,
câu gì có thế nào cũng khoe ngay, không sót một chuyện.
- Cái Miến nó làm thức ăn
Kẻ Chợ ngon thần tình, cậu giáo ạ. Nó học lối cao lâu của khách người ta xào nấu.
Con bé năm nay trông cao quá. Lại ăn mặc tân thời, người càng vổng lên. Cái Miến
sắp lấy chồng đấy cậu giáo ạ.
Câu nhỏm dậy:
- Lấy ai thế, hả bà?
- À lại cái món họ hàng
nhà mấy chú khách ấy. Lấy em chú Sủi. Cho ăn hỏi rồi lại cho cưới ngay. Số con
bé mà sướng. Chị lấy anh. Bây giờ em lại lấy em. Con chị dắt con em đi. Thế
cũng phải. Đời bây giờ cứ no cơm ấm cật là được, phải không cậu giáo?
Miến lấy em chú Sùi, Câu
nhớ lại cái buổi tối, khe cửa mở hé. Cái chú khách cởi trần đầu trọc, béo đến
có mấp ở gáy. Chú khách thò đầu, bàn tay hộ pháp mở cửa cho Miến. Đấy là chú Sủi
hay đấy là em chú Sủi, Câu nào biết là ai. Câu chỉ biết Câu địch sao lại anh em
nhà chú Sủi. Câu địch làm sao, Câu như con kiến, Câu thấy ruột đau quặn. Bà
Thiêm vẫn kể chuyện đều đều:
- Này, cậu giáo. Khách
người ta cưới xin hay đáo để. Dẫn lễ thì đem đến mấy bồ bánh bích quy, cậu giáo
ạ. Cậu giáo ngủ đấy hả?
Câu không trả lời. Bà lão
tưởng Câu ngủ. Nhưng, Câu nằm quay mặt vào vách, hai mắt Câu vẫn mở ráo trong.
Mấy hôm sau, đương buổi
Câu dạy học. Miến đi qua ngoài kia, Miến về Kẻ Chợ. Vẫn bộ cánh là lượt hôm
làng có hội. Chỉ khác hôm nay Miến vấn tóc trần, để đầu ngôi rẽ lệch. Nàng bước
lên cầu Phượng. Bóng nàng khuất sang mé thành cầu. Rồi lấp sau mấy bụi dứa dại,
lá mọc từng đám, gai dứa nhọn khía lủa tủa.
Nàng không đội nón, nàng
không nghiêng nón nhìn nhìn vào trường. Làm như chẳng bao giờ người ta biết ở
mé đường bên kia, ngay đầu cầu Phượng, có trường học làng Nha, có thầy giáo Câu
hôm nào cũng ý tứ đứng nhìn hóng ra. Đàn bà nhẹ dạ dễ nhớ, dễ quên. Thôi, lần
này thì quên hẳn rồi. Mảnh tình suông tan với tiếng gió vườn tre, với nước chảy
đầu cầu.
Chương XV
Một buổi chiều tan học,
tiếng trống tong tong nổi lên, rồi xung quanh lại im ắng.
Rấp cái phên cửa rồi giáo
Câu, tay cắp mấy quyển vở tay xách cái đồng hồ vuông, lừ đừ đi về. Tiếng guốc
lê rã rời trên con đường gạch lủng củng. Nắng xiên khoai vàng héo. Nắng này vào
những buổi chiều tháng Ba, ông già bà cả hay sinh ra nhức đầu, đau lưng. Không
trở trời theo nắng quái, nhưng nhà giáo cũng khó chịu vì nắng táp vào một bên mặt.
Mấy quyển vở được giơ lên che. Mặt nhà giáo xịu xuống, chảy thưỡi ra, nhãn nhó.
Có vẻ ốm, có vẻ buồn, cơn buồn ám ảnh từ lâu. Chiều nay, đầu nặng trịch, về
nhà, anh cới áo dài, nằm xuống giường. Anh ngỡ mình mỏi quá, sắp chết mắt.
Bà Thiêm ở ngoài ao vào,
nói: “Cậu giáo chưa ra xơi cơm à? Cậu giáo ra xơi cơm”. Câu lừ khừ ngồi dậy, đi
ra. Mâm cơm để ngoài hiên, dưới giàn mướp hương. Cái lồng bàn mở hé, mấy con nhặng
xanh vo ve bay tọt ra. Trên chiếc mâm gỗ mộc, lỏng chỏng bát nước rau to nhất.
Thứ đến bát chiết yêu rau muống, một đĩa cà pháo đầu mùa, trắng nhợt. Cái bát
đàn đựng tương lổn nhổn những hạt đậu còn nguyên một nửa.
Câu xúc cơm chan nước rau
luộc, lùa vội mấy miếng. Anh cố ăn, như ăn lấy lệ. Tuy chỉ và qua loa, ra vẻ
chán cơm, nhưng anh cũng hết được ba vực bát. Dọn mâm cho cậu giáo, bà Thiêm
nói: “Mấy bữa rày cậu ăn kém thế?”. Rồi bà lại nghĩ và trả lời lấy: “Tháng Ba nắng
mới, ai cũng dửng dưng cơm nước cậu giáo ạ”.
Bây giờ thì nhà giáo đã
đương dạo bước một ngoài đồng làng. Cơm xong, mở đến tập vở học trò, định mở ra
chắm, ngần ngừ lại thôi. Anh thấy háo đi tản bộ như mọi khi. Vào buổi chiều đi
lơ mơ ngoài cánh đồng cũng là một thói quen. Tự dưng nhà giáo trở lại cái hứng
nhàn hạ, đi gật gù, hai tay chắp sau lưng, nghĩ ngợi vẩn vơ.
Con đường oằn oại truồi
ngang cánh đồng. Trước mắt, làng Phú Gia đằng kia mờ trong sương. Bát ngát khắp
nơi, bóng tối dịu dàng. Bất chợt, một ngôi sao lên lấp láy. Câu cúi đầu, thong
thả đi như đếm bước.
Khi trời tối, Câu uể oải
từ từ quay về.
Tưởng như chiêm bao thấy
bóng người. Hôm nay mười rằm. Bỗng Câu đứng lại, ngước nhìn. Một vầng trăng lên
sừng sững trên đầu khoanh tre, mặt trăng tròn xoe. Bấy giờ còn sớm, trăng chỉ
có hình mà chưa có ánh. Những cành tre non, gió đu đưa, quét đi quét lại qua mặt
ông trăng nhợt nhạt như mặt người ốm ngã nước. Mà ông trăng lại lửng lơ như cái
diều tròn bằng giấy bản của trẻ con thả chơi, những buổi chiều có gió dưới.
Trông trăng, Câu chắng tưởng
tượng xa gần gì nhưng ít lâu nay, hễ nhìn trăng anh lại buồn. Anh nhớ như mỗi lần
thò tay vào túi, thấy cái mùi-xoa và lọ nước hoa chưa bao giờ mở nút thì anh ngậm
ngùi. Những thứ của Miến. Anh nhớ hôm nào... Anh nhớ buổi chiều hôm nào... Ở
bên gò cỏ ấu cao đằng kia. Hai người cầm tay nhau. Cuối cánh đồng, ông trăng
tròn nhô lên và cười. Miến đã nói với anh những câu gì gắn bó lắm. Miến lại
khóc. Những giọt nước mắt đầm đìa xuống má. Bây giờ, đổi khác, cái gì cũng đổi
khác từ ngày ra Kẻ Chợ. Vậy mà sao còn có cái ông trăng này. Ông trăng đến mười
rằm lại tròn như bát nước đầy. Thôi, Miến cũng đã bảo ông trăng ở ngoài ấy cũng
chẳng sáng bằng đèn điện.
- Ừ, giá người ta còn ở lại
đây, cũng khó lòng mà mình đã lấy nổi người ta. Ông trăng chẳng sáng bằng đèn
điện, mình nghèo quá. Mình đã chẳng lo cho ai sung sướng được thì mặc ai. Mà
sao mình lại chịu chết ở đây mai? Ngày trước có khi ta đã định đi bay nhảy làm
ăn ở Sà-goòng kia mà.
Nhớ đến có lần xưa kia định
đi Sà-goòng, Câu thấy lòng nao nao. Rồi lại tơ tưởng nhớ. Nhớ xa, nhớ gần. Những
ngày anh em sum họp rồi sau tan tác. Câu nhìn lên trăng, anh lấy làm lạ, sao
mình lại dễ ứa nước mắt vậy. Cơ chừng anh tủi thân với ông trăng.
Mấy quyển vở đã chấm
xong. Tối nay, lười lĩnh, nhà giáo cầm bút, cứ gạt bừa bãi. Rồi hoa bút lên,
nét mực đỏ ngoặc ra những con số điểm đỏ hoe. Song rồi giáo Câu gấp từng vở, để
xuống mặt giường. Anh lấy ra một tờ giấy trắng. Chấm mấy lần mực, bần thần nhìn
ngọn đèn hoa kỳ có những con muỗi cỏ bay lăng xăng vòng quanh.
Đến lúc bóng trăng đã lọt
qua giàn mướp hương, cơ chừng vào nửa đêm, anh viết xong được một lá thư.
Hạ Nha le...
Bác Kền ơi!
Tôi nhận được lá thư của
bác từ hôm đầu tháng. Mấy lần đã toan trả lời, nhưng vì công việc không lúc nào
nhàn. Hôm nay mới có thì giờ, cầm bút viết mấy hàng này.
Từ ngày anh đi, làng xóm
vẫn không có gì thay đổi. Bên anh, anh đi, giáo Răng đến, thì lại có vẻ tấp nập.
Răng vừa dạy học, lại vừa dạy võ mấy nhà.
Răng mới lấy cô Tố, con
nhà chánh Đặng, anh chẳng lạ gì. Câu chuyện rắc rối, giá anh còn ở đây, tất lại
làm được mấy bài thơ hay. Còn bên Hoạnh, làng bỏ trường hoang cho cỏ mọc chắc
không mở trường nữa rồi.
Tôi hỏi thăm về đường
kinh tế quẫn bách nheo nhóc, vợ chồng Hoạnh lại cãi nhau, đánh nhau luôn.
Từ ngày anh đi, về phần
tôi, cũng chẳng khác khi anh ở đây. Nhờ trời, anh ra ngoài ấy, làm ăn được ung
dung như thế, thực là may mắn lắm. Chứ như tôi ở đất này, chẳng nói thì anh
cũng đã biết mà nói thì chỉ thêm buồn khổ mà thôi. Đồng tiền phân bạc chẳng là
bao, mà vào miệng cũng chẳng đủ. Khi anh em ta cùng nhau ly biệt mỗi người một
ngả, một mình tôi ở lại, buồn quá. Giáo Răng thì không hợp tính. Chẳng sao còn
như thuở xưa anh em ta. Ngày lại ngày, tối về một mình đối ngọn đèn xanh. Huống
chi tôi lại có chuyện tâm sự đau đớn khôn xiết tả, để khi gặp anh, xin hầu chuyện
anh nghe.
Bởi vậy, tôi muốn có một
điều nhờ anh rằng anh xem ở ngoải Uông có công việc gì, sức tôi có thể làm,
kham khổ cũng không sao, anh xin cho tôi rồi anh đánh giấy ngay cho tôi biết.
Tôi không muốn ở đây một ngày nào nữa. Mong anh nghĩ tình bạn cũ mà để tâm giúp
tôi, ơn ấy thực to tày bể.
Chúc anh mạnh khỏe, khang
an.
Câu
Câu đọc đi đọc lại ba bốn
lượt bức thư. Anh xé một tờ giấy gấp làm chiếc phong bì. Vừa làm, nhà giáo vừa
nghĩ đến cái kết quả tốt đẹp của bức thư. Năm bữa nửa tháng, có thư đáp “tôi đã
tìm được việc cho anh rồi”. Ấy thế là Câu bỏ đất này, đi ngay.
Đi. Tưởng tượng khiến Câu
nhìn ra công việc đương thu xếp.
Của cải nhà giáo có những
gì. Thực là một nhà giáo khổ. To nhất có cái hòm gỗ mộc. Ở trong có vài cái quần
áo, nhà giáo không bao giờ phải dùng tới khóa.
- Có một cái đồng hồ trẩm
cầm đánh đàn. Một đàn gà, ba mái, một trống, mấy con gà con. Bán ngần ấy thứ có
thể cũng được trên mười đồng bạc. Với tám đồng bạc đã để dành được vị chi ngót
nghét hai chục. Đi tàu bè từ đây ra Uông Bí, chắc là cũng ung dung chán.
Bây giờ thì nhà giáo Câu
tưởng tượng sang đến cái đoạn vui. Ấy là, vài năm sau khi nhà giáo đã nghiễm
nhiên thành một tay thư ký sở mỏ ngoài Uông chẳng hạn. Một ngày kia, được nghỉ
Tết, nhà giáo về Hạ Nha chơi. Thôi thì oách hết chỗ nói. Một bộ tây tuýt-xo mỡ
gà thực chiến. Chân dận đôi giày dôn màu da cam có cổ. Cổ tay đeo đồng hồ. Đầu
để trần chải lật, trơn mượt. Anh ung dung dắt cái xe đạp vào làng Nha, đến chơi
nhà bà Thiêm. Gót giầy nện cá sắt, lách cách giòn tan. Chà chà, ông giáo Câu
bây giờ bảnh quá, bảnh quá.
Nghe có người nói chuyện
lại như thế, cô Miến ấp vạt áo lên mặt, ứa nước mắt.
Câu him mắt, tưởng tượng
nữa.
Nhưng đến đấy thì không
nghĩ thêm được điều gì khác hơn. Chấm hết dòng vẩn vơ, anh mỉm cười với cái hoa
đèn đỏ thẫm. Ngoài kia, trăng đã xế. Chiếc phong bì vuông cũng vừa gấp xong.
Dầu Tiếng - Bến Ray -
tháng Chạp 1942
Tô Hoài
Theo https://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét