Nỗi niềm U Minh Hạ
Giới thiệu:
"Viết đúng và viết
hay là yêu cầu nghiêm khắc của bạn đọc đối với người cầm bút. Nhưng đôi lúc, do
nguyên nhân nào đó, tác giả chưa thể viết hay được, thì chí ít: cần viết đúng.
Viết đúng là bảo toàn sức mạnh văn học và thể hiện nhân cách tác giả. Chúng ta
đều biết rằng muốn viết đúng phải “đánh đổi”, phải vượt qua rất nhiều, hoặc vượt
qua hết thảy, để đường hoàng bày tỏ với bạn đọc những gì thuộc về cuộc sống -
mà số đông cho là Chân lý.
Nỗi niềm U Minh Hạ của
Võ Đắc Danh, với tôi; đạt được cả hai - Tác giả tập bút ký này viết rất hay và
viết đúng! Trong một gian phòng trên bờ sông Gành Hào, ngọn đèn phát sáng qua
những trang bản thảo “gần gũi nhưng lạ lùng” của nhà nghệ sĩ. Tôi say sưa đọc
suốt và xúc động bồi hồi với những buồn vui, hoặc suy tư lo lắng của các nhân vật
- cũng là nhân chứng lịch sử - mà ngòi bút sắc bén của Võ Đắc Danh đã giúp tôi
tiếp cận, sống cùng họ. Tôi muốn chia sẻ…
Hầu như những đất cùng
người ở bài nào, đoạn nào trong tập sách, tôi đều thân thuộc. Nhưng nhờ cách phản
ánh riêng của nhà văn - nhà báo, tôi chợt thấy lại, chợt nhớ ra… Tôi nghĩ: ngần
ấy, cuốn sách rất đáng quý - bởi vì tôi tin vào năng lực “thông tấn lành mạnh”
nhiều mặt của nó. Tôi tin rằng nó sẽ được bảo tồn từng chi tiết cho ta soi vào
quá khứ, để tự hiểu mình phải làm gì cho hiện tại và cho tương lai…
Nỗi niềm U Minh Hạ không
phải là một nỗi buồn, một ưu tư năm tháng cũ - mà là những kỷ niệm có chua xót
nhưng ngọt ngào: bao trùm Tình yêu nhân dân và khao khát đền ơn họ.
Không phải tập sách không
có những hạn chế, những chỗ dông dài, sơ lược, và có những vấn đề có thể bàn lại
với tác giả - nhưng phần này rất ít, chiếm một tỷ lệ nhỏ - nó sẽ được bạn đọc
“lướt qua” để đến với những gì lớn hơn…". (Nhà văn Nguyễn Bá).
"Qua Nỗi niềm
U Minh Hạ, ta thấy bật lên một tâm hồn yêu tha thiết đất đai quê nhà Minh Hải
- Cà Mau. Anh viết như nói, nhưng là tiếng nói của một nhà hùng biện. Nó cuốn
hút người ta như thể một dòng sông đang cuộn chảy ra biển, để gặp những gì to
tác hơn, bao la hơn và mặn nồng tình nghĩa hơn. Đó là những mặn nồng tình nghĩa
của một khí chất Nam Bộ, chơn chất, gãy gọn, thỉnh thoảng khôi hài ý vị và một
chút bóng bẩy văn hoa. Qua Nỗi niềm U Minh Hạ, ta thấy một Võ Đắc
Danh của những con số và những sự kiện, nhưng là những con số và những sự kiện
ngoài việc khái quát được vấn đề còn là những nghĩa tình dào dạt ẩn chứa bên
trong một nhà báo dũng cảm. Đọc nó, ta như thấy được một Hồi ức làng
Che của Nguyễn Đức Thọ hoặc “nổi cộm” hơn là Cái đêm hôm ấy… của
Phùng Gia Lộc đã làm xôn xao dư luận một thời. Trong Nỗi niềm U Minh Hạ,
ta như sống lại cái thời “người thật việc thật thì ít, người giả việc giả thì
nhiều quá” (tr.130), để thấy người nông dân Minh Hải không đầu hàng hoàn cảnh.
Họ dũng cảm đứng lên bảo vệ công bằng và lẽ phải. Hơn thế nữa, ta còn thấy ở họ
những phẩm chất cao quý của những con người lúc nào cũng muốn làm giàu, làm đẹp
cho quê cha đất tổ, để càng yêu họ hơn. Và Võ Đắc Danh đã thành công trong việc
tạo cảm tình trân trọng nơi người đọc qua tác phẩm nầy, bởi anh “đã viết đúng
và viết hay”, “để đường hoàng bày tỏ với bạn đọc những gì thuộc về cuộc sống -
mà số đông cho là chân lý” - như lời ngỏ của nhà thơ Nguyễn Bá cho quyển sách
này…".
(Phù Sa Lộc - Nỗi
niềm U Minh Hạ - Báo cần Thơ).
Hồ sơ một vết thương
Hồi con gái nó đẹp lắm!
Ông già kết thúc câu chuyện
bằng giọng buồn buồn, hớp một ngụm trà, ông đưa mắt nhìn về phía vườn cam.
- Ngày mai tôi sẽ lên Sở
Thương Binh đề nghị làm lại hồ sơ cho nó. Vết thương như vậy mà xếp hạng bốn
trên bốn thì thiệt thòi cho con nhỏ.
Ông lại im lặng.Tôi chợt
nhớ lại lời kể của chị Ba Phần hôm trước. Chị kể: Hồi năm 1968, chị đang nuôi
chồng bị thương cột sống ở bệnh viện Cà Mau. Một hôm, bất ngờ chị thấy cảnh sát
khiêng từ phòng mổ xuống trại điều dưỡng một tù bình Việt cộng bị
còng cả hai chân, người đầy thương tích. Và chị hốt hoảng khi nhận ra, người
con gái ấy chính là chị Bảy Lòng, bạn cùng xóm của chị ở Tân Lộc. Nhận mà không
dám hỏi han chăm sóc. Mẹ của chị Bảy nóng ruột vào liền bị chúng bắt giam. Từ
đó thỉnh thoảng chị Phần lén lút gởi tiền, gởi thức ăn cho chị Bảy. Một lần chị
Bảy được thay băng và rửa vết thương, chị Phần trộm nhìn rồi bỏ ra ngoài chỗ vắng
ngồi khóc. Chị Bảy bị thương khắp cả người, nặng nhất là ngực dài xuống bàn
chân, mất hết phần thịt ở hai bên đùi và vùng âm hộ…
Ông già đưa tôi về thực tại
bằng giọng buồn buồn:
- Tội nghiệp, hồi đi giám
định nó còn con gái nên không dám cho bọn đàn ông xem vết thương chỗ ấy…
Tôi mời ông già điếu thuốc
rồi từ giã ra về.
Thành phố Cà Mau chìm
trong một buổi chiều nắng đẹp. Chiếc cầu mới cong mình đón từng tốp nữ sinh
trong tà áo dài trắng muốt, phất phơ, cứ mỗi con gió lùa qua, các em vội vàng
đưa tay giữ nhanh vạt áo, mặt đỏ bừng lên như có ai vừa nhìn trộm mình. Những cử
chỉ hồn nhiên đó làm tôi chạnh lòng nhớ đến một vết thương…
Người kể chuyện cho tôi
nghe hôm nay là đại tá quân đội Nguyễn Hoàng Chi, người quen thường gọi ông là
ông Tư Mã, chủ tịch hội Cựu chiến binh tỉnh Cà Mau, nguyên chỉ huy phó chính trị
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Minh Hải.
Cuối năm 1967, Tư Mã được
phân công về thị xã Cà Mau để tổ chức một đội nữ biệt động thành, một phương án
tác chiến có tên gọi rất hấp dẫn là “chiến thuật nở hoa trong lòng địch”. Đặc
trưng của chiến thuật này là” lấy yếu đánh mạnh, lấy ít đánh nhiều, độc lập tác
chiến” và vũ khí chủ yếu là bom và mìn nổ chậm. Tiêu chuẩn của người chiến sĩ
biệt động cũng rất khắt khe, ngoài lòng dũng cảm, gan lì, phong cách nhanh nhạy,
táo bạo, trí thông minh để xử lý nhanh các tình huống… còn có một tiêu chuẩn
khác cũng không thể thiếu được là sắc đẹp. Bởi vì, sự quyến rũ của nhan sắc sẽ
làm cho kẻ thù say mê mà quên cảnh giác.
Bảy Lòng là cô gái có đầy
đủ các tiêu chuẩn ấy.
Giữa năm 1968, đánh trận
đầu tiên, Tư Mã triển khai cho hai chi đội gồm bốn người chở hai quả bom nổ chậm
được chế tạo từ trái bom lép của giặc, mỗi trái từ năm trăm đến bảy trăm
ki-lô-gam. Bằng phương pháp thủ công, bộ đội ta tháo một đầu bom, cài vào đó một
kíp nổ và một linh kiện hẹn giờ nổ theo ý muốn. Mỗi trái bom được vận chuyển bằng
một chiếc xuồng có trọng tải chừng vài ba tấn. Người ta dùng giây dù cột hai đầu
trái bom treo phía dưới lườn xuồng, dòng sợi dây lên phía trên để khi đến điểm
hẹn chỉ cần cắt dây là trái bom chìm xuống đáy sông tức khắc. Để ngụy
trang người ta chất những bao trấu và lúa lên xuồng sao cho lượng bao tương
đương với trọng tải. Những lớp trấu để dưới, lớp lúa trên cùng, xuồng máy cứ chạy
ung dung như người ta đang đi chà gạo hoặc bán lúa. Hôm ấy một ngày bình thường
như mọi ngày trên sông nước Cà Mau. Cũng vẫn xuồng ghe tấp nập xuôi ngược trên
sông, không có ai biết có hai quả bom dưới hai xuồng lúa đang từ từ lao vào thị
xã. Một chiếc của anh Sáu Anh và chị Út Hà đi về phía căn cứ hải quân; một của
chị Bảy Lòng và bé Trung đi về phía đoàn tàu chiến đang đậu dọc theo ngã ba
chùa Bà Thiên Hậu để chuẩn bị cho cuộc hành quân.
Bé Trung mười ba tuổi ngồi
dưới khoang tát nước làm nhiệm vụ cắt dây khi có lệnh, chị Bảy Lòng lái máy. Đến
Giồng Kè, gần thị xã bỗng dưng tắt máy, chị Bảy giật hoài không được. Mấy tên cảnh
sát chạy ca nô ngang qua, thấy chị đẹp gái nên chúng dừng lại chọc ghẹo, có một
tên muốn lấy lòng người đẹp nên nhảy sang sửa máy, hắn giật thử mấy cái rồi
théo nhíp lửa ra rửa xăng, chùi giấy nhám. Máy nổ hắn tán tỉnh lấy oai với đồng
bọn. Chị Bảy cũng cười tình, xã giao vài câu rồi cho thuyền chạy tiếp. Xuồng cặp
sát đoàn tàu, chị ra ám hiệu cho bé Trung cắt dây. Lúc này trời đang mưa. Một
tên lính ngồi trên cabin nhìn xuống nói:” mưa lạnh quá em ơi! Lên đây
úm với anh cho ấm”. Chị Bảy nhìn lên cười đáp: “Hổng sao đâu
anh, một chút nữa là ấm thôi!”. Chị cho xuồng lao đi, tên lính vẫy tay
chào mà không hiểu chị muốn nói gì với hắn.
Mặt trời vừa lặn, xuồng
ghe trên sông vừa vắng bóng.
Hai cột nước dựng lên
cùng với hai tiếng nổ long trời lở đất.
Mười hai chiếc tàu chìm
xuống đáy sông, một chiếc bị ném lên bờ. Sau lễ mừng công hai tháng, Tư Mã triển
khai kế hoạch đánh vào kho đạn của ngụy quân bằng mìn nổ chậm. Khác với bom,
mìn nổ chậm được chế bằng thuốc nổ TNT, mỗi trái khoảng nửa ký-lô-gam và định
giờ nổ bằng sự tương ứng giữa lượng axít thấm qua một xấp giấy. Vì vậy mà cách
tính đôi khi không chính xác, dễ xảy ra những trường hợp rủi ro.
Và rủi ro đã đến với chị
Bảy Lòng.
Sáng hôm ấy, trong vai
người đi đám giỗ chị đặt quả mìn dưới đáy giỏ xách rồi bỏ vô mấy chục trái quít
và mấy ốp nhang. Chị đang ung dung đi trên đường phố, vừa tách ra khỏi dòng người
để đi về hướng kho vũ khí thì bất thần mìn nổ…
Dấu ấn cuộc đời bắt đầu từ
hôm tỉnh dậy, thấy mình nằm trong phòng mổ bệnh viện Cà Mau giữa bầy cảnh sát.
Chị nhìn chúng rồi khẽ nhấc đầu lên nhìn xuống thân thể của mình. Chị lại ngất
đi. Khi tỉnh lại lần sau, chị mới thực sự biết rằng, tất cả những gì kín đáo nhất,
tuyệt vời nhất trên thân thể người con gái của chị giờ đây đã trở thành những vết
thương. Năm ấy chị mới tròn hai mươi mốt tuổi.
Phẫu thuật xong, chúng
còng chân chị rồi chuyển qua trại điều dưỡng. Suốt ba tháng nằm viện, chị phải
đương đầu liên tục với những đòn tâm lý của bọn cán bộ chiêu hồi. Song, chị chỉ
có một lời khai duy nhất: tên Nguyễn Thị Hà, mười bốn tuổi, mồ côi cha mẹ, trên
đường đi bỗng dưng bị thương không biết lý do. Chúng đưa mẹ chị vào, chị không
nhìn.
Sau khi lành bệnh, chúng
giải chị qua Ty cảnh sát để tống giam, hỏi cung và tra điện, chị cũng chỉ có
bao nhiêu lời khai đó. Cuối cùng chúng bỏ tù chị mười tám tháng.
Bốn tháng nằm viện, mười
tám tháng tù, chị lên thêm hai tuổi, cái tuổi mà mọi người đang cống hiến và
đang yêu. Nhưng với chị, những vết sẹo thầm kín trong người đã gây ra sự tổn
thương khủng khiếp đến tâm hồn và ý chí, ám ảnh cả tương lai, mặc dù nhìn dáng
vẻ bề ngoài, chị vẫn còn là cô gái trẻ trung xinh đẹp.
Có một anh bộ đội địa
phương đem lòng yêu chị, và chị cũng biết rằng mình đã yêu anh. Nhưng chị đã
không thể cho ai thì cũng không thể nhận của ai. Và để suốt đời trốn tránh tình
yêu, chị cố tạo cho mọi người một sự hiểu lầm về cá tính: cao ngạo, cáu gắt, cộc
cằn, gây gổ với con trai… Nhưng nghiệt ngã thay, những lớp diễn ấy, theo thời
gian nó đã trở thành tính cách của chị như người diễn viên suốt đời sống trọn với
nhân vật của mình.
Người thứ hai kể lại với
tôi câu chuyện trên đây là anh Sáu Sơn, tức nhà báo Đỗ Văn Nghiệp. Tháng bảy
năm 1998, khi tôi còn làm biên tập cho tờ báo ảnh Đất Mũi, tôi có nhờ anh viết
một bài cho số báo đặc biệt kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ. Đúng hẹn anh đưa
cho tôi bài viết có tựa đề là Bản anh Hùng ca không âm thanh, kể về chị Bảy
Lòng. Đọc bài viết của anh Sáu Sơn, tôi thấy chị Bảy bây giờ khổ quá, chị mở lớp
học tình thương tại nhà để dạy chữ cho những đứa trẻ không có điều kiện đến trường,
chị không ra giá học phí, phụ huynh muốn cho chị bao nhiêu tuỳ ý, ai không cho
đồng nào cũng được. Ngoài ra chị ươm giá bán để kiếm sống, vậy mà chị xin một đứa
con trai, nuôi nó từ lúc hai tuổi, năm nay nó đã là sinh viên đại học sư phạm Cần
Thơ. Không có tiền nuôi con, chị đã cầm cái thẻ thương binh một triệu rưỡi,
đóng lãnh một tháng một trăm hai chục ngàn đồng.
Anh Sáu Sơn vận động bạn
bè xin cho chị Bảy được sáu trăm ngàn đồng, hôm mang tiền vô nhà cho chị, anh mời
chị Út Vững, Phó Giám đốc Sở thương binh, chị Út Loan, Phó Chủ tịch Hội chữ thập
đỏ, chị Nguyệt Hân, Chủ tịch Hội phụ nữ tỉnh cùng đi với mục đích nhờ các chị ấy
xem lại vết thương để nâng bậc thương binh cho chị Bảy. Sau khi dẫn chị vào buồng
xem vết thương, lúc bước ra chị nào cũng khóc.
Hơn hai năm sau khi đăng
bài báo, một hôm, anh Sáu Sơn rủ tôi đi thăm chị Bảy. Chúng tôi đi xe honda đến
Cầu số 3 rồi lội bộ theo bờ sông khoảng hơn một cây số thì đến nhà chị. Một
gian nhà xiêu vẹo nằm trong vườn tạp, cỏ dại bao quanh. Cách nhà chị một con
mương có một căn nhà gỗ bỏ hoang, ván phên bốn bề mục nát, trên cửa có tấm bảng
nhà tình nghĩa do ngân sách tỉnh cấp năm 1992,thấy tôi định lấy máy ảnh
ra chụp, anh Sáu Sơn giải thích, đó là nhà của bà Tư Thâu, bà mẹ Việt Nam anh
hùng, mẹ của chị Bảy Lòng, bà có 4 người con ruột và một người con rể đã hy
sinh. Nhà mục không có tiền sửa chữa, tuổi già không ai chăm sóc nên ông bà về
Thới Bình sống với người con gái thứ ba, một cán bộ hưu trí. Chúng tôi bước
sang nhà chị Bảy, chị đang hì hụi cắt rau muống dưới mương. Gọi là nhà theo
cách gọi thông thường, thật ra đó chỉ là cái chòi khoảng bốn chục mét vuông được
cất bằng nhiều loại cây tạp trong vườn. Tôi nhìn quanh không có món đồ nào đáng
giá năm chục ngàn đồng. Hỏi ra mới biết, cái thẻ thương binh chị cầm hai năm rưỡi
nay chưa chuộc được, còn chuyện nâng bậc, hồ sơ đã làm xong hai năm nay nhưng
chưa có kết quả gì, có lần chị ra ngoài Sở, người ta nói chị được xếp loại 2/4
nhưng phải chờ trên Bộ ký mới xong. Chị Út Vững có nhã ý đưa chị vào sống ở
Trung tâm bảo trợ xã hội, chị có đến đó xem, thấy cái cảnh mỗi người một cái
giường tám tấc, không có chỗ cho chị làm bánh bò được mười ngàn, buổi chiều cắt
rau muống được bốn ngàn nữa, nhờ vậy mà nuôi thằng nhỏ học đại học suốt bốn năm
nay. Chị nói mấy năm trước chị dành dụm mua được bộ cột tràm để cất nhà, nhưng
năm đầu tiên thằng Đẳng vào Đại học, phải bán đi, năm sau cầm cái thẻ thương
binh, năm sau nữa bán vườn, giờ chỉ còn cái nền nhà trọi lõi. Suốt buổi nói
chuyện hầu như chị chỉ kể chuyện thằng Đẳng, chị nói, hè có nó ở nhà vui lắm,
buổi sáng ngủ dậy thì nó đã hấp xong thau bánh bò, buổi trưa đi bán về thì nó
đã dọn sẵn mâm cơm. Nhiều lúc nghĩ cũng thấy tự hào, mình nghèo mà có con học đại
học, vài tháng nữa là ra làm thầy giáo cấp III. Xứ này cũng có nhiều nhà giàu
mà con cái họ có làm nên trò trống gì đâu… Cả hai buổi chiều liên tiếp ở nhà chị,
mấy lần tôi cố gợi lại chuyện xưa nhưng chị chỉ trả lời qua loa rồi lại quay
sang chuyện đứa con trai, tôi chợt hiểu nó đã trở thành lẽ sống duy nhất của chị…
Ra về, đầu óc tôi miên man, căng thẳng, khi nghĩ về chị, cả cuộc đời con gái chị
đã cống hiến cả sự sống còn cho đất nước. Vậy mà đã 25 năm đất nước thống nhất
chị vẫn còn lận đận sống dưới mức nghèo khổ, lại còn chắt chiu nuôi cho xã hội
một đứa con-một công dân trí thức. Bất giác tôi nhớ: Có lần đồng chí Đặng Thành
Học- Ủy viên ban chấp hành trung ương Đảng- Bí thư thành uỷ Cà Mau nói rằng:”Từ
đáy lòng chẳng có ai trong chúng ta không xốn xang, day dứt. Đâu thể kéo dài được
nữa tình cảnh một bộ phận người có công với nước, nhà cửa còn rách rưới nghèo
nàn. Nó đòi hỏi tất cả mọi người không phân biệt lương hiếu nghĩa bác ái, yêu mến
bà mẹ Việt nam anh hùng, thương binh và gia đình liệt sĩ, gia đình có công mà sẵn
sàng giúp đỡ, chăm sóc ân nhân dân tộc”. Xin được nhắc lại lời nói đầy tâm huyết
này và rất mong tất cả chúng ta hãy xem đây là mệnh lệnh-mệnh lệnh từ trái tim
mỗi con người…
Nhật ký tình người
Khi viết bút ký Hồ
sơ một vết thương, tôi không có hy vọng làm thay đổi đời sống của chị Bảy
Lòng. Cũng như bao nhiêu lần khác và cũng như bao nhiêu người cầm bút khác, khi
nói về số phận của một nhân vật nào đó, tôi chỉ muốn bày tỏ lòng khâm phục và sự
đồng cảm, sẻ chia ...
Khi Hồ sơ một vết
thương được đăng trên báo Văn Nghệ vài hôm thì một buổi sáng thật sớm,
nhà văn Dạ Ngân từ Hà Nội gọi điện thoại cho tôi, chị nói vắn tắt : “Chuyện
dài dòng lắm, nói trên điện thoại đường dài tốn tiền, em mở E-mail xem đi, chị
vừa gởi”. Trên hộp thư điện tử, chị Dạ Ngân báo tin : có một cô sinh viên ở
Hà Nội du học ở Anh và được học bổng của Hoàng gia Anh, trong mấy tháng nghỉ
hè, cô được giảm bảy mươi phần trăm học phí và cô đã trích trong khoảng tiền ấy
để gởi cho chị Bảy Lòng năm triệu đồng, cô xin được giấu tên và yêu cầu cho cô
tấm ảnh chụp tác giả trao tiền cho chị Bảy Lòng để cô giữ làm kỷ niệm.
Mấy ngày sau, cũng vào một
buổi sáng sớm, tôi đang ngồi trên taxi ở thành phố Hồ Chí Minh, chuông điện thoại
reo, nhìn số máy hiển thị trên màn hình, tôi biết ngay đó là chị Việt Anh, giám
đốc Công ty Thương nghiệp Cà Mau, chị nói : “ Đêm qua nghe nghệ sĩ ưu
tú Trần Phương đọc bút ký Hồ sơ một vết thương trong chương
trình đọc truyện đêm khuya của đài phát thanh Cần Thơ, xúc động quá ! Chị muốn
giúp chị Bảy Lòng một triệu đồng, nhờ em chuyển giùm ...”
Hồ sơ một vết thương lần
lượt được đăng lại trên báo ảnh Đất Mũi và tạp chí Bông Sen, tôi nhận được nhiều
cú điện thoại bày tỏ tình cảm với chị Bảy Lòng. Anh Phạm Công Danh, Thường vụ tỉnh
ủy kể lại : hôm mẹ anh bệnh nặng, nhiều bà con ở trong quê ra thăm, anh đọc cho
mọi người nghe và họ đã khóc. Anh nhờ tôi dẫn đường để anh tổ chức một chuyến
đi thăm và tặng quà cho chị Bảy.Trong tình cảm của mỗi độc giả dành cho chị Bảy,
hầu như ai cũng muốn làm một công việc gì đó rất cụ thể. Ví dụ như nhà giáo ưu
tú Thái Văn Long - phó giám đốc Sở Giáo dục đào tạo Cà Mau - khi đọc xong anh
liền gọi điện thoại cho tôi để căn dặn rằng, khi nào cháu Bình Đẳng ra trường
thì báo cho anh biết, anh sẵn sàng nhận cháu về dạy tại Cà Mau để nó có
điều kiện chăm sóc cho mẹ nó. Rồi Đại tá Hồ Việt Lắm, giám đốc Công an
tỉnh lại gọi điện thoại nhờ tôi xem bên báo ảnh Đất Mũi có ai biết nhà chị Bảy
để dẫn đường cho các anh mang quà và một triệu đồng vào giúp chị . Anh Trịnh
Thành Tâm, giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn Đại Thành cũng mang đến hội nhà
báo năm triệu đồng nhờ anh Sáu Sơn chuyển cho chị . Anh Khải, chủ doanh nghiệp
tư nhân Tân Phát nhờ tôi trao cho chị bốn triệu đồng. Anh Năm Hồng, giám đốc
Công ty công trình giao thông Cà Mau gọi điện cho tôi biết, chị Bảy Lòng ngày xưa
là lính biệt động của anh, anh sẽ gởi cho chị vài triệu đồng. Anh Tám Tấn, giám
đốc Công ty vật liệu xây dựng Cà Mau nói khi nào chị Bảy được cất nhà tình
nghĩa, anh sẽ tài trợ một số vật tư trị giá khoảng hai triệu đồng ...
Một buổi sáng, đạo diễn
Nguyễn Trung Hiếu ở Đài truyền hình Cần Thơ nhờ tôi chở anh vào thăm chị Bảy.
Trên đường đi, anh nói rằng suốt hai đêm qua, sau khi đọc Hồ sơ một vết
thương anh cứ trằn trọc mãi. Anh muốn tiếp cận với chị và quan sát hiện
trường để dựng một bộ phim.
Tháng chín, tôi đi làm
phim Một vùng sông nước ở Năm Căn. Một hôm đang ngồi ăn sáng với
đoàn phim thì có điện thoại của chú Ba Thám, bí thư tỉnh ủy, ông nói rằng hôm
qua ông đã đọc Hồ sơ một vết thương và ông đã chỉ đạo cho giám
đốc Sở Thủy sản lo cho chị Bảy Lòng căn nhà tình nghĩa. Ong bảo tôi nên phát hiện
thêm những mảnh đời như chị Bảy để nhà nước có chính sách đền bù xứng đáng. Khi
tôi kể lại cuộc đàm thoại cho đoàn làm phim nghe, anh phó quay Huỳnh Lâm – đang
là sinh viên trường Điện ảnh – nói : “ Em đã đọc Hồ sơ một vết
thương hôm còn ở Sài gòn và em đã có ý định dựng phim chân dung chị Bảy
Lòng để làm bài tốt nghiệp. Có những người dù không được tặng danh hiệu Anh
hùng bởi nhiều nguyên nhân nhưng thực chất với những chiến công và sự hy sinh
thầm lặng ấy đã đủ cho ta tôn vinh họ là người Anh hùng”.
Một tháng sau tôi về nhà
thì được anh Sáu Sơn cho biết, Đài truyền hình Cà Mau mời anh làm biên kịch và
đạo diễn cho bộ phim tài liệu chân dung chị Bảy để dự liên hoan phim vào đầu
năm nay. Cùng lúc nầy, anh Chín Khải, giám đốc sở Thủy sản gọi tôi và anh Kiên
Hùng qua nhận tiền xây nhà cho chị Bảy. Anh Chín nói tổng số tiền hai mươi tám
triệu đồng do Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản quyên góp. Anh hỏi xây
nhà ở đâu ? Tôi sực nhớ ra chị Bảy không có nền nhà. Cái nền đang ở chị đã bán
cho người ta trong thời gian nuôi cháu Bình Đẳng học đại học. Đây là một chi tiết
quan trọng mà tôi bỏ quên trong bài viết của mình. Anh Kiên Hùng nói để số tiền
ấy lại cho sở thủy sản quản lý, khi nào có nền nhà sẽ tính sau.
Tôi bàn với anh Sáu Sơn
viết giùm chị Bảy một lá đơn xin nền nhà, nhờ chính quyền địa phương và sở
Thương binh xác nhận rồi tôi mang sang ủy ban tỉnh trình bày với anh Bảy Diệp,
phó chủ tịch, anh Bảy hứa ngay mà không cần phải cân nhắc, đắn đo.
Khoảng một tháng sau, vào
một buổi sáng, anh Mười Trung, phó giám đốc công ty phát triển nhà gọi điện thoại
nhờ tôi cử người dẫn đường cho anh đi thăm chị Bảy. Tôi sang cơ quan nhờ nhà
báo Nguyễn Tiến Trình cùng đi với anh. Chiều về, Trình báo lại rằng anh Mười
mang vào cho chị Bảy hai triệu năm trăm ngàn đồng và cho chị xem cái nền nhà
trên bảng vẽ. Cái nền ở dưới phường 1, cạnh công viên văn hoá, bề ngang bốn
mét, bề dài hai mươi sáu mét, trị giá mười cây vàng, công ty phát triển nhà cho
một nửa, ngân sách cho một nửa. Chị Bảy mừng đến muốn khóc...
Khi tôi viết những dòng nầy
thì ngôi nhà của chị đang xây, có nghĩa là tết nầy chị sẽ giã từ căn chòi rách
nát, xiêu vẹo giữa đám lau sậy bên bờ sông. Dòng sông đã từng soi bóng một cuộc
đời bất hạnh ngày ngày đội thúng bánh bò ra chợ để nuôi đứa con nuôi từ lúc nó
còn đỏ hỏn cho đến ngày đội mão cử nhân. Tôi biết ngày chị về nhà mới sẽ chẳng
có gì mang theo bởi tôi đã từng quan sát trong căn nhà chị chẳng có vật gì đáng
giá năm chục ngàn đồng. Có chăng là vài bộ quần áo, vài cái chén sành, cái nồi
sức quai và cái xửng hấp bánh bò đã ám khói với thời gian. Nhưng chị hãy yên
tâm, anh Mười Trung nói còn chừa một ít tiền để mua cho chị chiếc giường và bộ
bàn ghế, anh Kiên Hùng dự định sẽ tặng chị cái tivi, chị Việt Anh nói sẽ tặng
chị cái bếp gas, anh Huỳnh Khánh, giám đốc sở Văn hoá thông tin nói sẽ nhận chị
vào làm công việc trồng hoa ở công viên văn hoá ... Chị hãy yên tâm vì cuộc sống
còn đầy ắp tình người .
Giữa hai dòng mặn ngọt
Cách đây bảy năm, tôi có
soạn ra một đề cương kịch bản phim tài liệu khoa học với chủ đề: "Bán
đảo Cà Mau nhìn từ góc độ nhân văn" gởi cho Sở Khoa học - Công
nghệ & Môi trường để đăng ký như một công trình nghiên cứu với hy vọng có
kinh phí đầu tư. Một hôm, kỹ sư Ngô Dân, Chủ tịch Hội đồng Khoa học, gọi điện
thoại mời tôi đến phòng làm việc của anh uống trà, anh nói : "Tao đã đi
nhiều nước trên thế giới, chưa thấy nơi nào có những đặc trưng lạ lùng và độc
đáo như xứ sở của mình. Sông ngòi, kinh rạch chằng chịt, một mùa nước mặn, một
mùa nước ngọt…". Anh bỏ lửng câu nói để châm trà rồi nhìn tôi và nói tiếp
: "Tao rất mê cái đề cương của mày là vì nó liên quan tới những đặc trưng ấy.
Tao là dân cơ khí nhưng cũng có tìm hiểu chút ít về tính nhân văn của thiên
nhiên. Vì thế nên tao muốn góp với mày một ý nhỏ. Tất cả những dòng sông trên đất
nước này chỉ có hiện tượng chung là nước lớn nước ròng. Nhưng xứ sở mình lại có
thêm con nước rong và nước kém. Cao điểm của con nước rong diễn ra hằng tháng
vào ngày rằm và ngày ba mươi, còn cao điểm của con nước kém là ngày mùng mười
và ngày hai mươi lăm, tính theo âm lịch. Đặc biệt là con nước lớn trong con nước
rong thì các dòng sông tràn bờ linh láng, còn con nước ròng trong con nước kém
thì các dòng sông gần như cạn kiệt, lòi bãi, những con sông cạn thì phơi đáy.
Điều ấy đã ảnh hưởng đến tính cách con người. Dân xứ mình sống bộc trực, không
khách sáo, hễ chịu chơi là chơi hết mình, chơi phạch ngực. Còn hễ thương nhau
là thương hết lòng hết dạ, tình thương lai láng, tràn trề như con nước lớn
trong con nước rong. Bởi vậy mà tao cứ nhớ hoài mấy câu thơ của Nguyễn Trọng
Tín: Xin cảm ơn con nước ròng sát kiệt, để dòng sông không che đậy lòng
mình...".
Những điều anh Ngô Dân
nói làm cho ký ức tôi càng in đậm hơn hình ảnh của dòng sông thời thơ ấu. Con
sông Giồng Bớm nằm giữa đồng Phong Thạnh, nó bắt nguồn từ kinh xáng Phụng Hiệp
rồi rong chơi len lỏi giữa cánh đồng hoang. Con sông không có gì đặc biệt nhưng
tôi đã lặn hụp ở đó trọn cả tuổi thơ của một đời người. Con sông với hai mùa mặn
ngọt, ngược xuôi hai con nước lớn ròng chở nặng phù sa. Mùa nước ngọt, dòng
sông trổ một rừng bông súng trắng. Trái giác, bông súng, cá rô tạo thành nồi
canh chua miễn phí mà ngon đến tuyệt vời. Đến lúc nước cứng, còn gọi là nước ba
chè, tức những ngày giao điểm giữa hai mùa ngọt mặn, cá nước ngọt bị nước mặn
đuổi chạy thành bầy, kéo vừa xong tay lưới thì cá lóc, cá trê đã quấn chìm
phao. Đến mùa nước mặn, suốt con nước rong, tôi với chiếc xuồng con bơi trên
dòng sông đặt cua, giăng lưới, lòng lại nơm nớp đợi con nước ròng trong con nước
kém, dòng sông phơi đáy, tha hồ mà hì hục dưới bãi bùn để thụt lịt, mò tôm, bắt
cá nâu theo ven đó, thụt cá ngát dưới hang sâu...
Hai mươi lăm năm qua, tôi
trôi dạt nhiều nơi, sống với nhiều dòng sông khác, nhưng trong ký ức vẫn chỉ một
dòng sông thời thơ ấu của mình.
Cách đây khoảng hai
tháng, có một đêm ngủ trong một khách sạn ở Sài Gòn, bỗng dưng tôi nằm mơ thấy
mình trở về thăm dòng sông cũ, và tôi chợt hốt hoảng khi thấy con sông thay đổi
đến lạ lùng, dòng nước không còn chảy và màu nước không còn ngầu đục phù sa.
Dòng nước cứ đứng trân và màu nước phèn trong nhìn tận đáy, dưới đáy sông toàn
lá mã đề, bông súng ma và cỏ lá hẹ bị nhuốm đỏ màu phèn, vài con cá lòng tong lội
ngơ ngơ ngác ngác. Thế rồi như một đứa trẻ con, tôi ngồi gục đầu bên bờ sông và
khóc mướt, khóc như tiếc thương một dòng sông không còn giống trong ký ức của
mình. Sau đó tôi gặp lại lão cùi trong xóm, lão ta giải thích rằng ở ngoài kia,
cuối nguồn con sông Phụng Hiệp, người ta đã xây một cái cống to để ngăn không
cho nước mặn vào đây, từ đó đến nay dòng sông ngừng chảy. Tôi hỏi: "Ngăn
nước mặn để làm gì?". Lão đáp: "Ngăn nước mặn để giữ nước ngọt".
Tôi lại hỏi: "Giữ nước ngọt để làm gì?". Lão lại đáp: "Không biết,
nhưng hình như từ ngày giữ nước ngọt đến nay con gái ở đây đẹp hơn trước".
Tôi định nhờ lão dẫn tôi đi xem vài cô gái để đối chứng thì bài thể dục buổi
sáng phát trên loa truyền thanh làm tan biến giấc mơ.
Người ta nói giấc mơ chẳng
qua là sự phản ánh một cách méo mó những hiện tượng của đời sống ban ngày. Biết
thế, có hàng trăm giấc mơ rồi sau đó quên ngay, nhưng chẳng hiểu sao giấc mơ về
dòng sông ấy cứ lảng vảng trong tôi cho đến bây giờ. Có một đêm nọ không ngủ được,
nằm nghiền ngẫm về giấc mơ rồi nghe nhớ thương dòng sông cũ. Sáng hôm sau, tôi
lái xe Honda lên cầu Láng Trâm rồi thuê đò dọc chạy về Giồng Bớm. Không còn nhận
ra hình ảnh của con sông xưa, con sông rộng rong chơi giữa cánh đồng hoang thời
thơ ấu. Bây giờ nó trở thành con kinh xáng, nhà ngói mọc đỏ đôi bờ. Và cánh đồng
Phong Thạnh hàng chục ngàn hecta hoang hóa ngày xưa bây giờ con người đã chia
nhau làm chủ, biến thành đất nuôi tôm, kinh xáng cắt ngang xẻ dọc như bàn cờ. Tất
cả đều xa lạ, tôi hỏi thăm lão cùi trong giấc mơ hôm ấy, thì ra lão đã qua đời
mười mấy năm nay.
Tôi tìm đến nhà anh Hai
Thái, anh mừng rỡ la lên gọi bà con xung quanh kéo đến. Sau một hồi nhắc lại
chuyện xưa, tôi hỏi thăm chuyện làm ăn, anh Thái cho biết, mấy năm qua nhờ nuôi
tôm sú, bà con ở đây giàu lên, chín đứa con của anh bây giờ đã có cuộc sông
riêng, đứa nào cũng xây nhà ngói rộng thênh thang, có máy phát điện, tivi, đầu
máy, vỏ composic, máy đuôi tôm...
- Nhưng mà bây giờ khổ rồi
chú ạ! - Anh bỗng thở dài - Nhà nước đắp đập, xây cống xung quanh để giữ nước
ngọt coi như bít cái đường nuôi tôm, mà đất này thì làm sao trồng lúa, chắc rồi
sẽ trả về sự hoang hóa như xưa.
Anh Hai Thái chỉ tay xuống
dòng sông rồi nói tiếp:
- Hồi xưa chú ở đây chú
biết, con sông này tôm cá đến cỡ nào, chỉ cần chài vài chài là ăn không hết, vậy
mà nước ngọt hai năm nay, bây giờ không còn một con.
Tôi ngậm ngùi nhìn xuống
dòng sông, nước vàng nhạt màu phèn, dòng nước đứng trân không còn nước ròng nước
lớn. Tôi chợt bồi hồi nhớ đến con bìm bịp, chắc những ngày đầu đóng cống, nó đã
gọi đến khàn hơi mà không thấy con nước lớn quay về.
Hôm sau, tôi lại về thăm
cánh đồng Chó Ngáp, cánh đồng hoang nổi tiếng đói nghèo của bao nhiêu thế hệ đi
qua. Vậy mà chỉ sau sáu bảy năm con người có sáng kiến đưa nước mặn lên đồng để
nuôi tôm sú thì sự nghèo đói đã thuộc về quá khứ, nhà tường mọc trắng hai bên bờ
sông, sự đổi đời giống như trong cổ tích. Chị Ba Chí ở ấp Chủ Chọt, xã Ninh Thạnh
Lợi, kể với tôi, xứ này ngày xưa hiếm thấy ai đeo một chiếc nhẫn vàng, vậy mà
bây giờ, hễ có đám tiệc, mỗi cô, mỗi bà đeo trên người năm bảy lượng. Nhà chị hồi
trước nghèo rớt mồng tơi, làm năm mươi công ruộng mà năm nào cũng thiếu ăn. Vậy
mà sáu năm nay nuôi tôm, năm nào cũng thu nhập từ hai trăm đến ba trăm triệu đồng.
Tôi hỏi chị tích lũy được hai trăm cây vàng chưa, chị cười bẽn lẽn nói:
"Làm gì nhiều vậy chú, khoảng một trăm thì có...". Rồi chị chợt buồn:
"Nhưng mà hết rồi chú ơi, tôi thu hoạch vụ tôm này là vụ tôm cuối
cùng...".
Tôi hiểu chị Ba muốn nói
gì khi đưa mắt nhìn xuống dòng sông...
Nước ngọt về. Dòng nước
như sự đói nghèo đè lên sự sống.
Nước ngọt về. Đất đai sẽ
về lại với hoang vu.
Nước ngọt về. Sự đổi đời ở
đây như vừa thoáng qua một giấc chiêm bao.
Vậy mà dòng nước cứ về,
mang theo một quyền lực vô hình không ai dám ngăn cản lại.
Tôi chợt nhớ đêm qua ngồi
nhậu ở Bạc Liêu, khi bàn tán về chuyện mặn ngọt, một cán bộ tỉnh nói với tôi:
"Em không hiểu ngọt hóa để làm gì trong khi cây trái nước ngọt bây giờ rẻ
thúi. Cậu Hai em trồng mận đường, hôm rồi hái một cần xé hai người khiêng không
nổi nhưng bán chỉ được có năm ngàn đồng. Ông ta buồn quá bỏ vườn đi xuống Năm
Căn thuê đất để nuôi tôm". Tôi vội vàng lấy sổ tay ra ghi chi tiết ấy thì
anh ta hốt hoảng lên và năn nỉ: "Trời ơi em lạy anh! Anh mà ghi tên em với
câu nói ấy lên báo là kể như em mất chức như chơi! Ở tỉnh này không ai dám ủng
hộ nước mặn, phản đối nước ngọt cả vì sẽ bị kỷ luật".
Những ngày sau đó, thỉnh
thoảng xem chương trình thời sự của Đài Truyền hình Cà Mau, tôi bắt gặp những mẩu
tin: Huyện Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước xử lý hàng chục, hàng
trăm cán bộ đảng viên và bà con nông dân tự ý đưa nước mặn vào ruộng để nuôi
tôm trái phép. Rồi có một đêm nọ, Đài Truyền hình Cà Mau phát đi một phóng sự
khá dài phản ánh tình hình nông dân đưa nước mặn vào ruộng để nuôi tôm đã lên
cao điểm. Chỉ trong một đêm, tại huyện Thới Bình, hàng trăm người hẹn nhau đi
phá đến sáu cái đập cùng một lúc. Sáng hôm sau, huyện phải bỏ ra hàng trăm triệu
đồng để đắp lại, và một số người chủ mưu đã bị bắt giam. Điều mà tôi chú ý nhất
trong phóng sự này là phát biểu của Bí thư Huyện ủy Thới Bình - anh Nguyễn Quốc
Việt - anh khẳng định rằng hành động của bà con không nhằm mục đích chống chủ
trương của Nhà nước mà xuất phát từ nhu cầu bức xúc vì chén cơm manh áo.
Hai hôm sau tôi hành
trình xuống Thới Bình, Việt tiếp tôi tại Văn phòng Huyện ủy với gương mặt còn ẩn
chứa những nét lo âu:
- Khổ lắm anh ạ! Làm đúng
theo chủ trương thì dân đói, còn làm theo ý dân thì chẳng khác nào mình chống lại
chủ trương. Từ ngày đưa nước ngọt về đến nay nông dân càng khổ thêm vì hạt lúa
đã khủng hoảng thừa. Giá lúa từ sáu mươi ngàn đồng tuột xuống còn hai mươi ngàn
đồng một giạ. Hiện nay trong huyện còn ứ đọng trên ba mươi ngàn tấn, bà con muốn
bán - dù bán lỗ - để trả nợ ngân hàng, trả nợ vật tư nông nghiệp và để trang trải
chi phí gia đình nhưng chẳng ai mua. Giá khóm từ một ngàn hai trăm đồng tuột xuống
chỉ còn một trăm đồng một trái. Cây mía từ ba trăm đồng nay chỉ còn một trăm
hai mươi đồng một ký... Nói chung tất cả các loại cây trái thuộc hệ sinh thái
nước ngọt đều rớt giá thê thảm. Chỉ có con tôm mới có thể mang lại sự đổi đời
cho nông dân, đưa họ từ kiếp cơ bần trở thành những nhà giàu có. Nhưng toàn bộ
diện tích đất Thới Bình lại nằm trong dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau, trong đó
có mười hai ngàn ha đất phèn trũng, hoang hóa lâu đời, mấy năm nay bà con nuôi
tôm trúng, thậm chí giàu lên. Bây giờ mình cấm đưa nước mặn vào thì chẳng khác
nào trả đất trở về hoang hóa, đưa nông dân trở lại kiếp nghèo...
Sáng hôm sau Việt lấy
ca-nô đưa tôi đi thăm những cánh đồng nuôi tôm dang dở. Cũng như đồng Chó Ngáp,
từ kinh Chợ Chủ, kinh Ông Bường qua Cây Khô, Đầu Nai, Láng Cháy, Ban Can, Tràm
Thẻ... những cánh đồng năn ngút ngàn bao đời hoang hóa, đói nghèo bây giờ nhà
ngói giăng giăng.
Việt nhìn đăm chiêu lên
cánh đồng và nói với tôi bằng giọng bâng quơ như tâm sự với chính mình:
- Có lẽ đây là vụ tôm cuối
cùng nếu không có giải pháp nào khác!
Việt đi đến đâu, bà con
hai bên bờ kinh cứ vẫy chào, mời gọi như người thân. Hai năm trước, Việt mới
tròn ba mươi sáu tuổi, không hiểu lý do gì, từ một phó chủ tịch huyện, anh được
bổ nhiệm thẳng lên làm bí thư huyện ủy. Nhìn cái tướng ốm ốm, cao cao, nước da
trắng như con gái, gương mặt hiền lành, giọng nói nhỏ nhẹ, từ tốn, tôi có cảm
giác Việt là một thầy giáo thì đúng hơn là một bí thư. Vậy mà có lần anh Ba Chủ,
Trưởng Phòng Nông nghiệp huyện, nói với tôi: "Thằng Việt cư xử với mấy anh
mấy chú cán bộ cấp dưới rất lễ phép nhưng cũng rất kiên quyết nên ai cũng vừa
thương vừa ngán nó". Rồi anh kể sang chuyện khác: Bà con Thới Bình đặt cho
Việt cái tên rất buồn cười là Việt hai tấc, số là vào tháng mười một năm ngoái,
đang mùa nước mặn, bà con vừa thả tôm giống xuống đầm nuôi được hơn một tháng
thì tỉnh chỉ thị cho các huyện nằm trong vùng ngọt hóa bán đảo Cà Mau phải bơm
nước mặn ra khỏi đầm để đưa nước ngọt về trồng lúa theo quy hoạch. Hàng ngàn
máy bơm tập trung về khởi động ở khắp các đầm tôm và các đầu kinh từ huyện U
Minh sang huyện Thới Bình. Thấy bà con vừa bơm vừa khóc, Việt xót xa cho tiền tỷ
của nông dân vừa đổ xuống đầm lại bị hủy hoại đi, anh liền chạy lên tỉnh cầu
xin và giải thích rằng, bây giờ là mùa khô, có tát cạn đầm thì cũng không đưa
nước ngọt về kịp để trồng lúa, hơn nữa nếu phơi đất suốt mùa khô thì nước mặn sẽ
thấm sâu vào lòng đất, mùa sau sẽ không trồng được lúa. Biết rằng bà con nuôi
tôm thêm vụ này là vi phạm chủ trương, vì vậy để cảnh cáo, chúng ta nên tát tượng
trưng, chừa lại hai tấc nước trên đầm để bà con bắt cá sống qua ngày, vừa giữ
cho đất không bị khô nẻ để mùa sau trồng lúa. Tỉnh đồng ý. Việt chỉ đạo cho các
xã đo giữ lại hai tấc nước trên mặt đầm, nhưng anh rỉ tai nói nhỏ rằng nên đo
những chỗ gò cao để giữ nước cho tôm đừng chết. Thế là năm ấy, Việt đã cứu cho
bà con được một mùa tôm, có người thu hàng trăm triệu. Từ đó, bà con đặt cho
anh cái tên là Việt hai tấc để ghi nhớ hai tấc nước mà anh đã giành lại để cứu
một mùa tôm.
Hiểu hết sự giàu có ở đây
mới thấy dòng nước mặn quý giá đến vô cùng. Việt kể với tôi về chuyện ông Tư
Râu ở kinh Ông Bường, một người chuyên nghề cắm câu giăng lưới để nuôi vợ và
sáu đứa con. Hằng ngày, cá ngon ông không dám ăn, cũng không bán cho các chủ vựa
mà mang thẳng đến mấy chủ tiệm vàng ở chợ Thới Bình để kiếm thêm vài ngàn đồng
một ký. Thế rồi năm ngoái ông nuôi tôm sú trên sáu mươi công đất hoang sau nhà,
thu hoạch vụ đầu tiên được hai trăm tám mươi triệu đồng. Hai vợ chồng ông ôm tiền
đi mua vàng, người chủ tiệm vàng từng mua cá của ông bỗng giật mình rồi đâm
nghi tiền giả, bà lén gọi điện thoại mời công an đến, nhưng người công an ấy biết
được ông vừa mới trúng tôm. Tôi đến thăm nhà ông, ngôi nhà mới xây hình chữ L
giống như cái trường học. Tiện nghi trong nhà cũng mới mua, đầy đủ và sang trọng
như một gia đình giàu có lâu đời. vẫn còn đó căn chòi ọp ẹp dưới mé kinh với mấy
bộ vạc tre, mấy cái lò đất, mấy cái nồi nhôm nhuốm đen màu khói, ông không dùng
nữa nhưng gài cửa để đó như thứ kỷ vật của một đời nghèo khó. Tôi cảm động nhìn
mấy đứa con ông, mặt mày đen sạm, đầu tóc vàng hoe, dường như chúng chưa hết ngỡ
ngàng trước sự giàu sang đột ngột, những ánh mắt lúc nào cũng ngơ ngơ ngác ngác
khi nhìn những thứ đồ đạc trong nhà, từ máy phát điện, tivi, salon, giường nệm,
tủ kính, bếp gas... Có lẽ chúng bị choáng ngợp bởi tất cả sự sang trọng ấy đến
cùng một lúc làm cho chúng bàng hoàng như một giấc mơ.
Trên đường đi qua Tràm Thẻ,
anh Sáu Phố, Bí thư xã Tân Phú, nói với tôi:
- Lát nữa tao sẽ dẫn mày
tới nhà thằng Ba Nùng, mới ba năm trước đây, nó còn rón rén đến nhà tao hỏi vay
một trăm ngàn để mua lưới cá rô, tao cho nó mượn. Mấy tháng sau đến trả tiền, tội
nghiệp, nó cho tao mấy ký cá rô mề. Vậy mà bây giờ, tài sản tao không bằng cái
lai nào của nó. Mới nuôi tôm có ba năm mà nó xây cái nhà năm trăm triệu, rồi
sang huyện Cái Nước mua thêm mấy trăm công đất nuôi tôm.
Chúng tôi ghé nhà anh Ba
Nùng thì anh đi vắng. Đứng dưới bờ sông nhìn ngôi nhà đồ sộ với lối kiến trúc
hiện đại mọc lên trên cánh đồng của những trăm năm nghèo khó, tôi càng thấy
thương thêm những ánh mắt ngỡ ngàng của mấy đứa con chú Tư Râu.
Không gặp được anh Nùng,
Việt đưa chúng tôi đến nhà anh Tư Nhàn cách đó vài trăm mét. Cũng ngôi nhà hộp
đổ nóc bằng theo kiểu Mỹ, bên trong dán gạch men lên tới nóc nhà. Nhàn cho biết
anh vừa mới xây ba trăm triệu, anh dẫn chúng tôi ra cầu thang đi lên sân thượng
để nhìn bốn bên cánh đồng Tràm Thẻ mênh mông, những ngôi nhà tường cứ giăng
giăng trên từng ô đất nuôi tôm giống như những quân cờ bất động. Việt nói:
"Tràm Thẻ ngày trước nghèo nhất, bây giờ trở thành nơi giàu nhất Thới
Bình". Nhàn nói: "Nhưng bây giờ sắp nghèo trở lại rồi anh Việt".
Việt hiểu Nhàn muốn nói gì, anh không trả lời, chỉ lặng người đi và nhìn những
chùm hoa mua nở tím ven sông. Tôi nhìn theo hướng nhìn của Việt và chợt nhớ ra
rằng, trên những vùng đất phèn chua, hoang hóa như thế này ngày xưa dày đặc hoa
mua. Có lẽ vì thế mà mẹ tôi từng nói, hoa mua tuy đẹp nhưng tượng trưng cho sự
đói nghèo, khổ hạnh.
Anh Nhàn kể, từ khi anh lớn
lên thì đã thấy đất Tràm Thẻ hoang vu. Mùa mưa nước sâu ngang ngực, người ta
khai thác cánh đồng này bằng cách bơi xuồng đi giăng lưới cá rô và nhổ năn bột
đem bán để kiếm sống qua ngày. Mùa hạn thì tìm đến những nơi gò cao đốt đồng bắt
chuột. Sau giải phóng, Nhà nước quy hoạch thành khu kinh tế mới của quận Tân
Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Chẳng bao lâu dân Tân Bình bỏ chạy. Tỉnh tiếp tục
đầu tư xây dựng khu kinh tế mới cho dân Hà Nam Ninh, dân Hà Nam Ninh lại bỏ chạy.
Huyện Thới Bình thấy rằng đất này không thể nuôi sống con người nên quy hoạch
thành vùng đất cầm trâu. Gia đình Nhàn ở Chợ Hội, nhà nghèo lại đông anh em
nhưng cha mẹ chỉ có mười công đất ruộng nên không thể chia đều nhau, mà sống
chung thì cũng không đủ gạo ăn. Để nhẹ gánh cho gia đình, Nhàn tình nguyện ra
đi. Năm 1983, anh cùng vợ và ba đứa con trên chiếc xuồng ba lá chèo chống về
đây, đốn lá dừa nước dựng lên căn chòi bằng ý chí của An Tiêm giữa đồng hoang,
lúc này anh mới hai mươi lăm tuổi. Tư Nhàn khai phá mười hai ha để trồng khóm,
liên tục thất bại hai năm, anh quay sang trồng điều, lại thất bại, anh chuyển
qua trồng dừa, dừa chết sạch, anh trồng trúc, trúc không lớn . Đói rách, nhà sập,
con bệnh cùng một lúc bốn đứa. Vợ chồng anh bỏ nhà chở con ra bệnh viện Cà Mau
sống như cảnh ăn mày. Chữa xong bệnh cho bốn đứa con, Nhàn trở về dựng lại căn
chòi, sửa lại chiếc xuồng ba lá và làm lại cuộc sống bằng cái nghề giăng lưới cắm
câu, nhổ năn và săn bắt chuột đồng. Năm 1995, một số hộ thử nghiệm đưa nước mặn
lên đồng nuôi tôm sú có hiệu quả. Đất Tràm Thẻ bỗng thức dậy sau giấc ngủ mấy
trăm năm. Đứng trước mười hai ha đất mà không có một đồng vốn trong tay, Nhàn
quyết tâm dùng sức lao động của mình, anh kéo vợ con ra ban liếp, đắp bờ suốt cả
ngày đêm. Cải tạo đất xong, vợ chồng anh chia nhau về quê, tìm đến bà con thân
tộc vay mượn được hai lượng vàng để mua tôm giống. Con tôm lớn dần, Nhàn cứ hồi
hộp, bồn chồn đến không ngủ được. Nhiều đêm anh thức trắng, cầm đèn pin rảo
quanh bờ vuông để kiểm tra, canh giữ, đợi chờ. Bốn tháng sau, Nhàn thu hoạch được...
ba trăm triệu đồng! Căn chòi ọp ẹp, rách rưới không có chỗ để cất tiền, Nhàn
xây nhà đúc. Từ ấy đến nay, ba năm liên tiếp, mỗi năm Nhàn thu hai trăm năm
mươi triệu. Riêng năm nay, anh nói nước ngọt về, chỉ vớt vát được khoảng một
trăm triệu rồi vụ mùa sau sẽ không còn nuôi được nữa.
Nhàn sai con đi mua chai
rượu rồi luộc hai dĩa tôm sú loại nhất mang ra đãi chúng tôi. Nhìn hai dĩa tôm
bỗng dưng tôi nhẩm tính, giá trị của nó tương đương với mười lăm giạ lúa, bằng
ba ngàn trái khóm, bằng hai tấn rưỡi mía đường, bằng bốn chục ký sầu riêng Cái
Mơn, và bằng sáu chục cần xé mận mà anh cán bộ ở Bạc Liêu đã kể với tôi hôm trước.
Nhàn vừa rót rượu vừa nói :
- Từ ngày đắp đập đến
nay, tụi em xem nước mặn quý như vàng. Nhiều người đi chở từng ghe về đổ xuống
đầm tôm. Họ nói giá mà mở cống cho nước mặn tràn về, họ sẽ uống một bụng cho
đã.
Anh Sáu Phố quay sang nói
với tôi:
- Nhà báo nghe chưa ? Dân
ở đây khát khao nước mặn đến như vậy đó, mày có cách nào nói thay nguyện vọng của
họ được không?
Tôi không trả lời anh mà
chỉ đọc mấy câu thơ Tố Hữu:
Hỡi những con khôn của giống
nòi
Những chàng trai quý gái
yêu ơi!
Bâng khuâng đứng giữa đôi
dòng nước
Chọn một dòng hay để nước
trôi?
Nhàn nhìn Việt cười nói:
- Cái vụ này hay à! Chọn
đi anh Việt!
Việt nói:
- Trong trường hợp này
tôi không được quyền lựa chọn.
*
Kỹ sư Ngô Chí Dũng, Phó
Giám đốc Sở Nông nghiệp tỉnh Cà Mau, cầm ăng-ten chỉ lên bản đồ và giải thích với
tôi: "Ngọt hóa bán đảo Cà Mau là một chương trình quốc gia do Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn làm chủ dự án với tổng số vốn đầu tư là một ngàn bốn
trăm tỷ đồng. Khái niệm về ngọt hóa, trước hết phải hiểu là ngăn mặn từ các cửa
biển để giữ nước ngọt từ sông Hậu đổ về. Mục tiêu của dự án này là tạo ra hệ
sinh thái nước ngọt cho ba trăm ngàn hecta nằm trên bán đảo Cà Mau gồm bốn tỉnh:
Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang. Trong hệ sinh thái nước ngọt trên ba
trăm ngàn hecta này, mục tiêu hàng đầu vẫn là cây lúa...".
Cách nay mấy hôm, Giáo sư
- Tiến sĩ Võ Tòng Xuân có cho tôi xem một bài viết còn trên máy vi tính của ông
với tựa đề: Sự quyến rũ của dòng nước mặn trên bán đảo Cà Mau, theo ông, hệ
sinh thái một mùa mặn một mùa ngọt trên bán đảo Cà Mau là một đặc điểm vô cùng
quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người, hiếm có nơi nào trên trái đất
này có được hệ sinh thái tự nhiên độc đáo như vậy. Ông nói, ngọt hóa có nghĩa
là phá vỡ và làm đảo lộn hệ sinh thái tự nhiên thì chúng ta sẽ trả một giá rất
đắt. Hơn nữa, hạt lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long đang khủng hoảng thừa, các loại
cây ăn trái cũng đang khủng hoảng thừa thì chúng ta đầu tư phát triển hệ sinh
thái nước ngọt để làm gì, trong khi đất nước đang cần đô-la mà nguồn xuất khẩu
mạnh nhất của chúng ta hiện nay vẫn là con tôm. Xu thế chung của khoa học thế
giới hiện nay là con người phải biết dựa vào những ưu điểm của thiên nhiên để
khai thác, để giữ gìn và tôn tạo, không nên phá vỡ nó. Cái tư tưởng thay trời đổi
đất sắp xếp lại giang sơn chẳng những đã lỗi thời mà còn trái với quy luật tự
nhiên.
Có một buổi chiều tôi dạo
chơi trên cống Cà Mau, một công trình được đầu tư gần ba mươi tỷ đồng để ngăn
dòng chảy cuối cùng ở hạ nguồn con sông Phụng Hiệp. Cái ranh giới giữa hai dòng
mặn ngọt này đã làm cho con sông Cà Mau không còn lưu thông ra biển. Từ đó đến
nay, lòng sông âm thầm chịu đựng bao nhiêu thứ chất thải trong mọi sinh hoạt hằng
ngày của cư dân trên hai dãy phố ở hai bên bờ sông. Nó như con rắn khổng lồ bị
tử thương nằm thối rữa giữa lòng thành phố. Bất chợt, tôi nhớ đến bộ phim tài
liệu có cái tên Dòng sông ra biển mà tôi đã làm cách đây cũng khá lâu, ở đoạn kết,
tôi dựng cảnh một dòng sông ngoằn ngoèo rồi chồng mờ lên cửa biển, và lời bình
của Tố Nhi đã viết như sau: Dòng sông nào rồi cũng đổ ra biển cả, biển chính là
nơi giãi bày tâm sự của mọi dòng sông. Thương thay cho những dòng sông từ nay
đã không còn được giãi bày tâm sự cùng biển cả. Và, biết đâu sự ức chế của những
dòng sông ấy sẽ làm biến đổi tính cách con người...!
Cà Mau, tháng 7 năm 2000
Thư viết từ đất Mũi
Kính tặng bạn bè xưa
Chị Dạ Ngân !
Có lẽ chị và anh Nguyễn
Quang Thân rất hài lòng về chuyến đi thăm Đất Mũi vừa qua, nơi mà nhiều nhà
văn, nhà thơ ở Thủ đô hãy còn chờ cơ hội.
Nhưng thật ra, tôi nghĩ rằng
với một chuyến đi mang tính cưỡi ngựa xem hoa như
thế, dù có thõa mãn đến đâu đi nữa thì tất cả cũng chỉ là cái cảm giác lạ trước
một vùng đất lạ mà thôi.
Hôm đưa anh chị đi, tôi
có một dự định nhưng lại không làm được dù rất đơn giản, có nghĩa là tổ chức ở
trong rừng một đêm để đốt lửa, để nhậu và để nghe mấy ông già Năm Căn kể chuyện
ngày xửa ngày xưa. Sẽ có biết bao câu chuyện kỳ thú về rừng đước Cà Mau từ thời
khẩn hoang lập ấp cho đến hai cuộc chiến tranh.
Chị còn nhớ buổi sáng từ
trong xóm Mũi đi ra biển, chiếc võ lãi bị mắc cạn ở bãi bồi, chị đốt lửa nấu
cơm, tôi với anh Thân ngồi uống trà, anh Thân cứ xuýt xoa với khu rừng mấm bạt
ngàn trải dài ra biển như mái nhà từ thấp đến cao. Tôi chỉ giải thích với anh
Thân về hệ sinh thái của rừng ngập mặn, có nghĩa là cây mấm đi tiên phong để giữ
lấy đất phù sa cho Mũi Cà Mau mỗi năm bồi thêm vài trăm mét, song, rừng mấm còn
có cái phần đời mà tôi sẽ kể cùng chị trong câu chuyện sau
đây.
Có lẽ chị còn nhớ con
sông Cửa Lớn mà chúng ta đã đi qua. Đó là một trong một trăm con sông lớn của
thế giới, sở dĩ tôi biết được điều đó là vì năm 1991, đoàn tàu Calipso trong
chương trình đi nghiên cứu một trăm dòng sông lớn nhất trên thế giới, họ đã dừng
lại ở cảng Năm Căn để nghiên cứu con sông Cửa Lớn. Tất nhiên tôi không thể hiểu
họ nghiên cứu những gì về con sông nầy. Riêng trong sự hiểu biết của tôi mà tôi
muốn kể với chị rằng, đây là một dòng sông rất lạ, nó bắt đầu từ biển rồi lại về
với biển, nghĩa là từ cửa Bồ Đề ở biển Đông đổ về cửa Ông Trang ở biển Tây.
Dòng sông nầy cắt khu rừng ngập mặn Năm Căn ra làm hai mảng, một mảng giáp với
đất liền, một mảng giáp với biển Đông và biển Tây như một hòn đảo gồm ba xã Đất
Mũi, Viên An và Rạch Gốc.
Trong chiến tranh, hòn đảo
ấy lại là vùng căn cứ, là cái bến cuối cùng của đường Hồ Chí Minh trên biển, để
từ cái bến ấy vũ khí được chuyển đi khắp các chiến trường. Biết được điều ấy,
quân đội Mỹ mở một chiến dịch gọi là Hạm đội nhỏ trên sông, cứ năm phút có một
chiếc tiểu pháo hạm chạy qua dòng sông Cửa Lớn để phong toả khu rừng cho quân
và dân ta chết dần trong đói khát. Dĩ nhiên là không bao lâu, hòn đảo đã hết nước
ngọt và lương thực dự trữ. Bao nhiêu chuyến tiếp lương vượt sông Cửa Lớn đều bị
tàu giặc bắn chìm. Người Mỹ đã không ngờ rằng, trong vòng phong toả của họ, người
ta đã luộc trái mấm ăn thay cơm và dùng phương pháp nấu rượu để cất nước mặn
thành nước ngọt mà uống. Kết quả của chiến dịch Hạm đội nhỏ trên sông là hàng
trăm xác tàu Mỹ chìm dưới đáy sông Cửa Lớn.
Bạn tôi – anh Lâm Việt Bắc
– một dũng sĩ săn tàu cấp ưu tú đã từng đánh chìm hằng chục chiếc. Trận cuối
cùng ngày 17 tháng 3 năm 1971, anh đã bắn chìm bốn chiếc cùng với 37 lính Mỹ tại
vàm Bà Thanh, năm ấy Lâm Việt Bắc mới 17 tuổi. Do bị nhiều vết thương nặng và
do bắn vượt cơ số của loại súng B40 nên anh bất tỉnh, khi đồng đội chuẩn bị làm
lễ truy điệu cho anh thì mới phát hiện anh còn sống.
Chẳng biết ai là người
nghĩ ra việc ăn trái mấm thay cơm, chỉ biết rằng trong lúc khắc nghiệt ấy,
không có trái mấm thì con người ở đây sẽ chết dần trong đói khát. Trái mấm có vị
đắng, chát. Muốn ăn được phải luộc đi luộc lại năm bảy lần rồi sau đó đem nấu với
đường như một loại chè đậu , phải ăn như một thứ cực hình cho nên trong đời sống
bình thường chẳng bao giờ người ta xem trái mấm là một thứ nguyên liệu để chế
biến thức ăn.
Chiến tranh kết thúc, cộc
sống sang trang với với bao nhiêu thứ bộn bề của cơm, áo, gạo, tiền và chính trị.
Là một thương binh 2/4, bị
mất tròng mắt phải, một vết thương chạm bên trái cột sống và hàng chục vết
thương khác trên người, mỗi khi trái gió trở trời, những vết thương ấy kéo về
nhắc lại cuộc chiến tranh. Nhưng chính lúc ấy, Lâm Việt Bắc lại thấy mình mắc nợ
với rừng, với những đồng đội đã nằm lại rừng vĩnh viễn. Lẽ ra anh bằng lòng với
công việc của một trưởng phòng tài vụ ở sở Thương binh, bằng lòng với vợ đẹp
con ngoan trong một gia đình hạnh phúc. Thế nhưng anh thường hay vô cớ bỏ nhà
đi, lang thang về rừng ngập mặn, tìm thăm mộ đồng đội trong rừng, thăm lại những
bà mẹ Năm Căn đã từng nuôi anh bằng trái mấm thay cơm.
Có lần, anh trở lại sông
Cửa Lớn đúng mùa phóng lao cá dứa. Mùa nầy diễn ra hằng năm vào tháng tám đến
tháng mười âm lịch, khi trái mấm rụng đầy sông. Từ các sông rạch nhỏ trong rừng,
trái mắm đổ về sông Cửa Lớn, con sông Cửa Lớn có nhiệm vụ đưa chúng ra bãi bồi
để chúng làm người lính tiên phong đi mở đất. Chính vì lẽ ấy mà vào mùa nầy, cá
dứa từ biển Đông kéo vào cửa Bồ Đề rồi hội tụ trên sông Cửa Lớn để tha hồ ăn
trái mấm. Trong trái mấm có chất Alcaloid nên khi ăn no , cá dứa ngủ mê nằm
phơi bụng lờ đờ trên mặt nước. Người thợ săn tay cầm lao, tay lách nhẹ máy chèo
xuôi êm theo dòng nước, mỗi khi thấy bụng cá dứa là ngọn lao vút đi, người thợ
săn chỉ giữ lại sợi dây, cán lao bằng tre lắc lư trên mặt nước. Thế là một con
cá đứa to chừng năm bảy ký được vớt lên.
Chuyện ăn trái mấm thay
cơm thời đánh Mỹ, chuyện săn cá dứa vào mùa trái mấm trên sông Cửa Lớn đã nãy
sinh ý tưởng trong Lâm Việt Bắc một công trình nghiên cứu khoa học về cây mấm.
Nhưng tiếc thay, anh lại thiếu tất cả, thiếu bằng cấp, thiếu kiến thức khoa học,
thiếu tiền, thiếu sức khoẻ. Anh chẳng có gì ngoài cái giấy chứng nhận thương
binh, có nghĩa là chứng nhận một tấm thân không còn nguyên vẹn, một kế toán tài
vụ trình độ học vấn chưa hết lớp 11 ban đêm.
Vậy mà, chị Ngân ạ ! Con
người ấy rất lạ lùng và kỳ diệu, kỳ diệu đến không thể nào hiểu nổi. Có lần anh
ngồi trò chuyện với Tiến sĩ Trần Đy, tổng cục phó Tổng cục Địa chất về tiềm
năng khoáng sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, bất giác, ông Trần Đy hỏi : “ Anh
Bắc tốt nghiệp ngành mỏ năm nào nhỉ ?” Anh Bắc lắc đầu trả
lời rằng “ tôi không có học”. Ông Trần Đy không tin, ông cho rằng
qua cách nói chuyện, cách dùng từ khoa học chứng tỏ Lâm Việt Bắc là một nhà địa
chất có nhiều kinh nghiệm.
Nhưng ở đời, cái bằng cấp
trước hết lại là thước đo giá trị của kiến thức. Nếu không có nó nằm trong bộ hồ
sơ xin việc thì đương nhiên anh bị xếp vào loại lao động phổ thông.
Năm 1980, Lâm Việt Bắc lập
dự án nghiên cứu việc sử dụng bột lá mấm làm chất dinh dưỡng bổ sung cho thành
phần thức ăn trong chăn nuôi công nghiệp. Anh mang đến Uy ban Khoa học Kỹ thuật
tỉnh để đăng ký đề tài. Tất nhiên là anh bị từ chối vì thủ tục không hợp lệ, có
nghĩa là anh không có bằng cấp chuyên môn. Ngoài cái lẽ ấy, người ta tình nghi
Lâm Việt Bắc bị mắc bệnh tâm thần, kiểu tâm thần của những thương binh loại nặng,
hay mơ mộng đến những điều có liên quan đến chiến tranh. Người ta chế giễu anh
vì cây mấm có còn lạ gì ở cái xứ nầy, nó chỉ là một loài cây vô dụng, chỉ để
làm chất đốt.
Ai cũng biết, rừng ngập mặn
Năm Căn được xếp vào loại lớn nhất Đông Nam Á và đứng hàng thứ hai trên thế giới
sau rừng Amazon Nam Mỹ. Vì vậy mà ngay sau hoà bình nó lập tức trở thành đối tượng
nghiên cứu của các nhà khoa học lâm sinh. Tất nhiên là khoảng kinh phí nhà nước
đầu tư cho các công trình nghiên cứu khoa học về khu rừng nầy không nhỏ.
Năm 1983, tôi có dịp tham
dự một Hội nghị khoa học cấp Quốc gia về rừng ngập mặn Năm Căn tổ chức tại sở
Lâm nghiệp Minh Hải. Tại Hội nghị nầy, Dự án điều chế rừng ngập mặn Năm Căn được
xem là nội dung chủ yếu, đây là một công trình đầy tốn kém của nhiều nhà khoa học
có tầm cỡ trong nước được tiến hành trong nhiều năm. Cơ sở khoa học của dự án nầy
được khẳng định là : Trong quy luật diễn thế của rừng ngập mặn, sự xuất hiện đầu
tiên là cây mấm. Mấm có vai trò lấn biển để ổn định đất và khi đất được ổn định
thì rừng đước hình thành. Nhưng từ thế hệ rừng mấm sang thế hệ rừng đước phải mất
ba mươi năm mà sự tồn tại của rừng mấm trong ba mươi năm ấy không mang lại hiệu
quả kinh tế. Vì vậy, cần phải có sự tác động của con người để rút ngắn diễn thế
tự nhiên. Như vậy, điều chế rừng ngập mặn, nói cho dễ hiểu là phá rừng
mấm để trồng đước.
Trong thời gian nầy, Lâm
Việt Bắc đã bán gần hết tài sản của gia đình và đồ trang sức của vợ để đi tìm
các thông số kỷ thuật có liên quan đến giá trị của cây mấm. Kết quả phân tích của
Viện nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt đã làm cho anh bất ngờ sung sướng đến ngất đi :
Bột lá mấm có chứa 23 thành phần dinh dưỡng và hoàn toàn không có độc tố, đặc
biệt trong đó có Caroten và Protein chiếm hàm lượng rất cao. Giải thích hiện tượng
nầy, Lâm Việt Bắc khẳng định : Trong quy luật diễn thế của rừng ngập mặn, sự xuất
hiện đầu tiên là cây mấm. Với vai trò ổn định đất, mấm mọc theo triền sông và
ven biển. Chính ở môi trường nầy, cây mấm có điều kiện để hấp thụ các khoáng chất
trong nước biển và phù sa trẻ.
Để hoàn tất công trình
nghiên cứu, Lâm Việt Bắc về Năm Căn dựng lên dãy nhà ven rừng mấm bên bờ sông Rạch
Rốc để làm cơ sở sản xuất thử nghiệm. Nhưng mọi thứ đều cần phải có tiền, anh
sang căn cứ Hải quân ngụy đào bới sắt vụn, vỏ đạn, túi nilon chở lên thành phố
Hồ Chí Minh đổi lấy thiết bị máy móc. Chính trong những chuyến đi nầy anh đã mò
mẫm đến Viện Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, gặp Giáo sư Tiến sĩ Trần Thế Thông,
viện trưởng và Kỹ sư Đinh Huỳnh, chủ nhiệm bộ môn thức ăn và dinh dưỡng gia súc
để nhờ họ đỡ đầu cho công trình nghiên cứu.
Tháng 12 năm 1986, Giáo
sư Tiến sĩ Trần Thế Thông dẫn một đoàn cán bộ chuyên môn về Cà Mau để khảo sát
rừng mấm và tổ chức một Hội nghị khoa học về cây mấm. Ông nói : Từ kết quả phân
tích các thành phần hoá học của bột lá mấm đến kết quả của quá trình thử nghiệm
trên chăn nuôi đã cho phép chúng ta đi đến kết luận rằng, bột lá mấm đã rút ngắn
được thời gian chăn nuôi gia súc gia cầm, tăng chất lượng thịt mỡ và đặc biệt
là giảm tối đa các dịch bệnh. Theo tôi, công trình nghiên cứu của Lâm Việt Bắc
có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế của đất nước ta, đồng thời
đây là một công trình khoa học có tầm cỡ Đông Nam Á, nếu tôi không nói rằng có
tầm cỡ quốc tế.Vì sao vậy ? Xin thưa rằng, bột lá mấm có hàm lượng dinh dưỡng
cao hơn bột cỏ Medicaro và Sativa ở Châu Au, cao hơn cây Bình linh ở Malaisia
và Philippin, đặc biệt là nó không có độc tố, lại mọc thành rừng tự nhiên,
trong khi đó hầu hết các loại bột cỏ trên thế giới đều phải đầu tư đất đai và
chi phí trồng trọt nhưng chúng lại chứa một hàm lượng độc tố nhất định. Vì vậy
mà bột cỏ trong chăn nuôi công nghiệp trên thế giới hiện nay vẫn còn là một vấn
đề nan giải. Đối với công trình nầy, tôi biết trong thời gian qua Lâm Việt Bắc
gặp không ít khó khăn ... nhưng thôi, cái gì đã qua hãy để cho nó trôi qua,
chúng ta hãy hướng tới những gì cao đẹp của một nền khoa học chân chính. Mà một
nền khoa học chân chính thì không phân biệt đối xử.
Nhưng ở đời, cái gì đã bị
từ chối thì đừng mong bắt người ta dễ dàng thừa nhận, có chăng là sự miễn cưỡng.
Xí nghiệp sản xuất bột lá mấm cuối cùng cũng ra đời bên bờ sông Cái Lớn do Lâm
Việt Bắc làm giám đốc. Cái ngày khánh thành thật buồn tẻ làm sao. Anh mời không
sót ai, nhưng đến dự chỉ có mấy nhà báo và mấy anh em văn nghệ sĩ. Sau buổi lễ
khánh thành, nhà máy lại nằm chờ ... dầu dể sản xuất. Chờ mãi cho đến khi nó
hóa thành đống sắt vụn bên bờ sông. Mỗi lần có ai nhắc đến, người ta đổ thừa
cho ... cơ chế bao cấp. Vậy là huề.
Lâm Việt Bắc bỏ rừng về
nhà nằm đọc sách, thỉnh thoảng anh lại vô cớ bỏ nhà đi.
Một hôm, anh gọi tôi ra
quán cà phê và hỏi nhỏ : “ Mấy ngày nay mầy có nghe tin về cơn sốt đào vàng ở Cạnh
Đền không ?” Tôi nói : “ Tưởng chuyện gì chớ chuyện đó rùm beng hổm rày ai mà
chẳng nghe”. Lâm Việt Bắc nói : “Tao mới đi bên ấy về. Người ta nói rằng vàng ấy
là của vua Gia Long, hoàn toàn không đúng. Tao phát hiện ở độ sâu chừng một mét
đến một mét rưởi có những kho chứa đá quặng khổng lồ, bên cạnh đó là dụng cụ
luyện vàng của Vương Quốc Phù Nam. Căn cứ vào khả năng vận chuyển thời đó thì
đá quặng nầy họ chỉ khai thác ở những vùng lân cận mà thôi”. Tôi hỏi: “Tại sao
anh biết đó là đá quặng?” Anh khẳng định: “Nhìn bằng mắt thường cũng đủ biết,
nhưng tao đã mang ra Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt phân tích rồi, hàm lượng bốn
phần ngàn”. Cuối cùng anh đề nghị : “ Tao muốn tụi bây giúp tao một chuyện. Mầy,
thằng Tín, thằng Dự tổ chức cho tao đi khảo sát vùng Bảy núi An Giang và một số
hòn đảo ở Kiên Giang, tụi mình lấy danh là đoàn cán bộ sáng tác đi thực tế để
nhờ các Hội Văn nghệ bên đó dẫn đi. Như vậy vừa đạt được mục đích, vừa giữ được
bí mật. Sau khi khảo sát xong, tao sẽ lập dự án khai thác và trình lên ông Kiệt,
trận nầy phải làm cho thay đổi nền kinh tế đất nước mới được”.
Chúng tôi gom hết tiền
nhà, ứng thêm tiền lương, mượn thêm của bạn bè, mỗi thằng mua một cây búa thầu,
một cây xà beng giấu trong hành lý rồi phóng lên xe đò làm một chuyến đi với niềm
hy vọng làm đổi thay nền kinh tế đất nước.
Qua An Giang, chúng tôi rủ
nhà điêu khắc Trần Thanh Phong cùng đi. Vì anh Phong là bạn bè chí cốt nên
chúng tôi nói rõ mục đích của chuyến đi và dặn anh rằng, nếu có ai hỏi vì sao
chúng tôi lượm nhiều đá thì anh Phong sẽ giải thích rằng anh chọn mẫu đá để làm
tượng.
Chúng tôi đi gần một
tháng trời, từ những dãy núi trong đất liền đến các hòn đảo ngoài khơi. Anh Bắc
đi trước, chúng tôi mỗi thằng một cái giỏ đệm theo sau. Anh bảo đục đâu thì
chúng tôi đục đó, anh đưa cái gì thì chúng tôi lấy cái nấy cho vào giỏ đệm, chẳng
biết đó là loại đá gì , nặng cỡ nào cũng phải vác. Có lần, tôi thấy anh Bắc
đang đứng trầm ngâm như chiêm nghiệm một điều gì dưới chân Hòn Đất ở Kiên
Giang, bất giác anh bảo tôi: “ Mầy tốc đám cỏ tranh trước mặt và đục hòn đá chổ
đó lên xem”. Tôi ngạc nhiên hỏi lại; “ Làm sao anh biết dưới đám cỏ tranh nầy
có hòn đá ?” Anh bảo: “ Thì cứ làm đi rồi biết”. Tôi đến tốc đám cỏ tranh, quả
nhiên là ở dưới có một hòn đá to nằm hơi nhô lên mặt đất.Tôi liền lấy xà beng đục
vào một cái, hòn đá vỡ ra, trong đá rực lên những tia kim loại màu vàng lấp
lánh.
Một lần khác, đang lội
ngoài Bãi Chén ở Hòn Tre, bổng dưng Lâm Việt Bắc bảo tôi hốt mớ cát đen cho vào
bọc, tôi làm theo trong khi anh Nguyễn Trọng Tín và Võ Đắc Dự cười bảo: “ Loại
nầy ở xứ mình thiếu cha gì, lấy làm chi cho nặng”. Anh Bắc nói: “ Tao bảo lấy
thì lấy đi, tụi bây biết con khỉ khô gì mà cải”. Mãi đến sau nầy khi ra Hà Nội
tôi mới hiểu bọc cát ấy là gì ...
Về Cà Mau được mười hôm
thì Lâm Việt Bắc gọi tôi đến bảo : “ Mầy dẫn tao đi Hà Nội gặp ông Võ Văn Kiệt
...”
Tôi không nói câu nào cả
vì biết rằng đó là mệnh lệnh.
Lên tới Sài Gòn, để anh Bắc
ở khách sạn, tôi đến toà soạn báo Tuổi Trẻ tìm anh Nguyễn Đông Thức để hỏi thăm
địa chỉ nhà ông Trần Bạch Đằng, anh Thức vừa chỉ vừa căn dặn : “ Nhà ông ấy ở
14 Phan Kế Bính, nhưng mà ông đừng khai rằng tôi cho địa chỉ nghen, cha nội đó
khó dữ lắm, lỡ ông quấy rầy ổng ổng chửi nát ông nát cha tôi hết”
Bảy giờ tối, tôi đứng thập
thò ngoài cổng 14 Phan Kế Bính, sờ tay vào công tắc chuông mấy lần nhưng không
dám bấm. Cuối cùng, tôi phải ra quán ngồi uống hai chai bia mới có thêm can đảm.
Bây giờ thì tôi không hiểu
rằng do hai chai bia hay do ông Trần Bạch Đằng dễ tính, ông ngồi say mê nghe
tôi kể về Lâm Việt Bắc. Cuối cùng ông kết luận: “ Chuyện cũng không có gì ghê gớm,
bởi trên thế giới nầy có tới sáu mươi phần trăm mỏ vàng do các nhà địa chất
nghiệp dư tìm ra, hai mươi phần trăm do chó tìm, các nhà khoa học chỉ tìm được
có hai mươi phần trăm thôi. Vấn đề là chúng ta xử lý vụ nầy như thế nào. Ngày
mai mầy dẫn Lâm Việt Bắc lại đây cho tao biết mặt một cái rồi tụi bây đi ngay
ra Hà Nội gặp anh Tám Kiệt vì chuyện nầy chỉ có anh Tám mới giải quyết được,
tao sẽ gọi điện ra báo cho ảnh hay trước”
Hôm sau, sau khi mua vé
tàu hỏa xong, tôi đưa Lâm Việt Bắc đến trình diện ông Trần Bạch Đằng, ông già
nhìn Lâm Việt Bắc rất lâu rồi lặng người đi vì xúc động, ông vỗ vai anh và hỏi:
“ Sức khoẻ thế nào ?”
Về khách sạn chuẩn bị
hành lý lên tàu tôi mới hay rằng không còn đủ tiền để ăn uống dọc đường. Giữa đất
Sài Gòn biết vay mượn của ai ? Đang xúc mồ hôi hột lại gặp quế nhơn : nghệ sĩ
Lâm Quang Tèo xuất hiện, lúc nầy hắn đang là sinh viên khoa đạo diễn sân khấu,
hắn đi học bằng xe du lịch nhưng trong túi thì không bao giờ có tiền. Khi tôi
ra lệnh cho hắn phải kiếm thêm tiền cho chúng tôi đi Hà Nội, hắn cười như điên
và chửi thề một tiếng: “ Đ.m. Đi lo chuyện làm giàu cho đất nước mà không có đủ
lộ phí là sao? Thôi được rồi, đợi tao mười lăm phút, tao mang tiền tới rồi đưa
tụi bây ra ga luôn”. Đúng mười lăm phút sau hắn quay lại, ném một cọc tiền lên
giường: “Nè mấy cha ! Con bồ mới tặng cái quần gin chưa mặc giờ phải đem bán.
Ra Hà Nội nhớ báo cáo chuyện nầy với ông Kiệt để mai mốt đào được mỏ vàng rồi
tính toán lại với tao”
Đến lúc tàu chạy, hắn đứng
vẫy tay mà miệng vẫn còn la vang câu ấy.
Ba ngày sau, chúng tôi có
mặt tại nhà chú Sáu Dân vào buổi sáng.Ông già ra bắt tay chúng tôi trong nụ cười
sảng khoái. “ Nghe nói tụi bây đi bằng xe lửa phải không ?” “ Dạ phải”. “ Rồi tụi
bây định về bằng cái gì?” “ Dạ chắc cũng bằng xe lửa”. “Ví dụ như có máy bay
thì tụi bây có chịu đi không?” Rồi ông già lại cười vang lên.
Suốt ngày hôm ấy, chú Sáu
ngồi nghe Lâm Việt Bắc kể về giá trị kinh tế của rừng mấm, về nguồn lợi khoáng
sản của Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cuối cùng chú quay sang nói với anh Tuấn thư
ký riêng: “ Cậu làm ngay công văn gởi cho tỉnh An Giang và Kiên Giang bảo họ tạm
đình chỉ việc khai thác đá xây dựng chờ ý kiến của Tổng Cục Địa chất. Sáng mai
cậu đưa hai bạn nầy sang làm việc với Tổng Cục Địa chất, sau đó quay về đây gặp
tôi”.
Trong bửa cơm chiều, chú
Sáu nói với Lâm Việt Bắc: “ Đất nước đang kẹt tiền, gặp mầy hên quá. Tao sẽ chỉ
đạo cho khai thác gấp vài mỏ để xoay sở” .
Sáng hôm sau, anh Tuấn
đưa chúng tôi sang Tổng Cục Địa chất gặp Tiến sĩ Trần Đy, tổng cục phó. Sau khi
nghe Lâm Việt Bắc trình bày những phát hiện về khoáng sản ở Đồng Bằng Sông Cửu
Long, ông Trần Đy yêu cầu được xem mẫu. Đầu tiên, Lâm Việt Bắc đưa ra bọc cát
đen mà anh bảo tôi lấy ở Bãi Chén, Hòn Tre. Ông Trần Đy mở ra xem rồi nói: “
Cái nầy là Titan, xuất khẩu được đấy anh ạ, nhưng họ mua rẽ lắm, một tấn chỉ có
hai chục đôla, không đủ chi phí khai thác”. Lâm Việt Bắc nói : “Anh xem kỹ lại
đi, trong đó Titan chỉ ít thôi, chủ yếu là Radium”. Nghe nói thế, ông Trần Đy bổng
giật mình đưa mắt ra hiệu cho người trợ lý, hai người mang bọc cát đến gần cửa
sổ mở ra xem. Xong họ quay lại với nét mặt rạng rỡ khác thường : “ Đúng rồi !
Radium ! Tuyệt vời anh ạ !” . Lâm Việt Bắc lấy tiếp mẫu thứ hai, mẫu đá có những
tia kim loại màu vàng lấp lánh. Ông Trần Đy bổng hô to : “ Ôi giời ơi ! Vàng !
Thế nầy là giàu to rồi anh ạ !” Rồi anh hỏi Lâm Việt Bắc: “Thế anh đã cho phân
tích chưa ?” “ Dạ rồi anh ạ”. “Bao nhiêu?” “ Dạ bốn phần ngàn”. “Không, thế nầy
thì không thể bốn phần ngàn được, hơn nhiều !”
Trao đổi một lúc, ông Trần
Đy hỏi : “ Anh Bắc học ngành mỏ năm nào nhỉ ?”. Lâm Việt Bắc ngập ngừng nói : “
Dạ tôi không có học anh ạ”. Anh Tuấn tiếp lời: “ Anh ấy là thương binh, chỉ học
hết cấp ba ban đêm thôi anh ạ, chính vì vậy mà chú Sáu rất quý”. Ông Trần Đy trố
mắt nhìn Lâm Việt Bắc: “ Vậy mà nãy giờ tôi cứ tưởng anh là một nhà địa chất
giàu kinh nghiệm, đặc biệt là anh dùng từ khoa học rất chính xác”. Ngẫm nghĩ một
lúc, ông Trần Đy nói tiếp: “ Vậy là trong người anh có dòng từ trường sinh học”.
Chúng tôi về đến nhà thì
chú Sáu đã ra đón ngoài cửa, ông nôn nóng hỏi: “ Làm việc bên ấy thế nào?” Anh
Tuấn nói : “ Rất tuyệt vời chú ạ, họ đánh giá rất cao những phát hiện của anh Bắc,
họ cho rằng anh thuộc loại trường sinh học”. Ông già hỏi : “ Cách xử lý của họ
ra sao?”. “Dạ, họ sẽ chỉ đạo cho Liên Đoàn Địa chất 6 ở Sài Gòn làm việc với
anh Bắc”. Ông già tỏ vẽ không vừa ý : “ Tại sao họ không làm việc trực tiếp mà
lại giao cho Liên Đoàn 6, đi lòng vòng coi chừng hư bột hư đường hết”.
Chúng tôi về Sài Gòn gặp
Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn Địa chất 6 Nguyễn Xuân Bao. Ông tiếp chúng tôi rất lạnh
nhạt. Sau khi xem công văn của phó Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng và của Tổng cục
Địa chất, ông nói : “ Việc nầy lẽ ra ngay từ ban đầu các anh đến báo với chúng
tôi, các anh không đến, lại đi dùi vào cơ quan quyền lực, sẽ chẳng có lợi gì
cho các anh cả”. Chúng tôi bị thất vọng chẳng biết phải nói gì, đành ngồi im lặng.
Ông Bao lạnh lùng nói tiếp : “ Thôi được, các anh về đi, vài hôm nữa tôi cho
người xuống”.
Chị Dạ Ngân !
Tôi sẽ không kể tiếp những
chuyện xảy ra sau nầy giữa chúng tôi với hai kỷ sư của Liên Đoàn Địa chất 6. Bởi
một vài cá nhân không thể huyền bí hoá một nền khoa học của nước nhà. Chỉ tội
cho Lâm Việt Bắc, sau cú xốc ấy anh không còn chổ nào để gởi gấm lòng tin.
Đến năm 1990, khi đất nước
mở cửa, anh lên Sài Gòn làm ăn với hy vọng tìm đối tác để đầu tư cho chương
trình chiếc xuất protein từ lá mấm. Nhưng rồi lực bất tòng tâm, làm ăn bị phá sản,
bị vào tù vì thiếu nợ. Vợ anh cũng đã bán nhà lên Sài Gòn, giờ không biết trôi
giạt nơi đâu.
Có người nói gặp anh cất
chòi ở Hòn Phú Quốc, có người lại nói anh lên Tây Nguyên sống với đồng bào dân
tộc.
Nhưng dù ở đâu đi nữa,
tôi hy vọng rằng, nếu tình cờ đọc được những dòng nầy, anh hãy liên lạc với
tôi.
Cà Mau, tháng 5 năm 2.000
Nồi cháo trắng
Đầu tháng bảy âm lịch năm
nay, tôi trở về nhà chú Chín tôi ở Rạch Lùm để dự ngày giỗ nội.
Bà nội tôi vốn là người
tu tại gia, ăn chay trường, nên đám giỗ chỉ cúng toàn đồ chay. Cuộc sống ngày
càng khó khăn nên việc cúng quải ông bà cũng càng đơn giản. Chú tôi cũng không
mời ai cả, chỉ có bà con trong thân tộc tự giác đến, mỗi người mang đến một ít
rau cải, trái cây, họp lại nấu thành vài món đồ chay như: đậu đũa hầm dừa, đu đủ
kho, canh khoai nấu dừa, dầu dừa xào bắp cải… rồi dọn ra bốn mâm, con cháu ra đứng
sắp hàng mỗi người thắp một nén nhang tưởng niệm. Sau đó, hai mâm được dọn ra
hai bộ ván nhà trên, một bên dành cho cánh đàn ông thuộc hàng chú bác, một bên
dành cho cánh thanh niên trong cánh anh em con chú con bác chúng tôi. Còn lại
hai mâm dọn ra nhà sau cho cánh đàn bà, con nít.
Đang lúc uống rượu cườm
cườm, bỗng có tiếng dượng Ba tôi từ mâm bên kia gọi sang:
- Ê, thằng Sanh, năm nay,
thằng Tư Ngạn nó về rồi đó nghe mậy.
Hai Sanh buông đũa quay
sang nói:
- Nó về thì kệ nó chớ, ăn
thua gì với tôi. Tưởng ai chớ thằng Tư Ngạn, tôi chấp nó câu trước tôi nửa
ngày.
- Ai mà chẳng biết nó câu
dở hơn mày, tao muốn nói đây là để tụi mình cảnh giác cái tật câu trộm đìa của
nó.
- Thằng nào câu trộm đìa
thì bị khất nhượng ráng chịu chớ dượng lo gì.
Ở xứ này có hai người câu
cá rô nổi tiếng là Tư Ngạn và Hai Sanh. Hai Sanh là con bác Năm tôi, còn Tư Ngạn
là dân miệt trên về đây lập nghiệp. Nói là lập nghiệp chớ thật ra sự nghiệp của
Tư Ngạn chẳng có gì ngoài chiếc cần câu cá rô để nuôi vợ và tám đứa con. Cách
đây năm năm, vào tháng chạp, Tư Ngạn câu trộm đìa ông Tám Trân bị bắt quả tang.
Hôm ấy nếu không có mấy người thợ gặt xung quanh đến can kịp thì chắc Tư Ngạn
đã bị hai đứa con trai ông Tám Trân nhận nước dưới đìa.
Từ đó, hễ mỗi lần Tư Ngạn
vác cần câu ra khỏi nhà thì bị người ta hỏi:
- "Ê, bữa nay định
câu đìa ai đó mậy?".
Tư Ngạn cúi đầu xấu hổ.
Cái tài câu cá rô đã từng là niềm kiêu hãnh của anh bây giờ đã trở thành xấu hổ.
Sau cái tết năm ấy, vào một buổi sáng, người ta phát giác cái chòi của Tư Ngạn
trống hoang, nằm há mồm bên bờ lung chuối.
Còn lại một mình Hai Sanh
độc quyền nổi tiếng ở xứ Rạch Lùm.
Sau sự kiện Tư Ngạn là một
niềm vinh quang đối với Hai Sanh sau cuộc thách đố với dượng Ba tôi.
Sáng hôm ấy, dượng Ba tôi
qua nhà Hai Sanh mua cá về nấu cơm cho công gặt, ông nói:
- Thằng Tư Ngạn mắc cỡ
quá nên nó bỏ xứ rồi, còn mày, muốn ở xứ này thì đừng có câu trộm đìa người ta
nghe mậy.
Dượng Ba tôi nói chơi
nhưng làm Hai Sanh bị tự ái, anh nói như trách:
- Xin lỗi dượng, tôi đành
câu đìa là một ngày mười ký lấy lên chớ không phải vài ba ký quèn như thằng Tư
Ngạn đâu.
- Nói trời hoài mậy.
- Tôi nói thật, dượng dám
thách cho tôi câu đìa dượng hôn. Tôi câu xong rồi dượng cho tát, nếu còn được một
ký cá rô, tôi để xứ này cho dượng ở.
Dượng Ba tôi vốn mê đá gà
nên cũng ham thách đố.
Chiều hôm ấy tại nhà chú
Chín tôi, cuộc thách đố được giao kèo có nhiều người chứng kiến: Nghĩa là sáng
ngày mai, Hai Sanh sẽ ra câu đìa dượng Ba tôi, hai ngày sau, gặt hái xong dượng
Ba tôi thuê máy tát đìa, nếu trong đìa còn hơn một ký cá rô thì Hai Sanh sẽ trả
lại toàn bộ số cá câu được, còn nếu đúng như Hai Sanh nói, nghĩa là còn dưới một
ký cá rô thì chẳng những anh hưởng trọn phần cá câu được mà dượng Ba tôi còn phải
chịu thêm cho anh con cá lóc lớn nhất dưới đìa.
Sáng hôm sau, Hai Sanh bắt
đầu câu cá trong sự hồi hộp của mọi người. Đến hai giờ chiều, anh xách hai
thùng cá vô nhà, chị tôi lấy cân ra cân được mười ba ký rưỡi. Hai Sanh rọng đó
chờ, đến hai ngày sau, dượng Ba tôi tát đìa lên chỉ toàn cá lóc, cá trê và cá bổi.
Cả nhà dượng Ba tôi cố gắng quần bắt đến nhão nhừ, chỉ được bảy con cá rô.
Sáng hôm sau, chị Hai chở
hai thùng cá rô sang trả lại cho dượng Ba tôi nhưng ông không nhận nên chị chở
luôn ra chợ huyện bán lấy tiền sắm đồ Tết cho con. Chiều hôm ấy, dượng Ba tôi lựa
hai con cá lóc lớn nhất mang qua nhà Hai Sanh, ông nói:
- Con này tao thua tao trả,
còn con này tao thưởng cho mày. Đồ cái thằng sát cá! - Vợ thằng Hai đâu, bây
lên cò nhỏ hai con cá này rồi luộc hèm cho tụi tao nhậu một bữa coi.
Năm năm trôi qua, sự kiện
ấy vẫn còn để lại trong lòng Hai Sanh niềm tự hào man mác, mặc dầu cái tài câu
cá của anh không làm cho cuộc sống của anh khá hơn năm năm trước. Phải, làm sao
khá hơn được khi lượng cá đồng mỗi năm một giảm mà gia đình anh mỗi năm thêm một
miệng ăn.
Hôm nay, dượng Ba tôi báo
tin Tư Ngạn trở về, niềm tự hào trong Hai Sanh bỗng bốc lên. Anh uống cạn ly rượu
rồi nhổm người lên nói:
- Nè dượng Ba, dượng có gặp
thằng Tư Ngạn, dượng nói với nó là câu đìa thì phải câu như tôi vậy mới oai, chớ
câu kiểu nó thì đừng có về xứ này nữa.
- Sanh à - Dượng Ba tôi
nói - Ở đây bà con không hà, mày nói thiệt coi mày có câu mồi thuốc hôn?
- Không, tui thề danh dự
với dượng là tui chỉ câu bằng trứng kiến vàng hoặc ong vò vẽ non, nếu tui có
câu mồi thuốc cho ôn binh đại an vật tui cũng được.
Anh Tư Đức, con cô Tư
tôi, khều Hai Sanh nói:
- Mày nói ong vò vẽ non
tao mới nhớ, sau vườn chú Chín có cái đồn bự quá trời.
- Thiệt hôn? Ở chỗ nào?
- Trên nhánh xoài ở đầu
ao Cây lụa.
- Đồn mấy lỗ châu mai?
- Ba lỗ.
- Vậy là ngon rồi, tối
nay mình đánh đồn nấu cháo ong non đãi thằng Năm một trận.
Thằng Năm, mày biết ăn thứ
đó chưa?
Tôi trả lời:
- Dạ chưa biết.
- Chưa biết thì tối nay
ăn cho biết. Ong vò vẽ non mà nấu cháo dừa thì tao nói thiệt với mày, thấy mà hổng
ăn thì chết còn sướng hơn.
Bỗng có tiếng thằng Út la
vang ngoài vườn:
- Ba ơi , xe tăng, xe
tăng.
Rồi nó ôm vô con rùa vàng
chừng hơn một ký lô, làm cho cả nhà xôn xao. Bác Năm tôi nói:
- Tháng này mà lên bờ làm
ổ đẻ!
Hai Sanh cãi:
- Đâu phải ba, tại bà nội
thấy mình nhậu đồ chay tội nghiệp nên bà khiến nó lên nạp mạng đó chớ - Rồi anh
quay vào trong gọi chị Hai - Má thằng Lành đem con rùa đi làm nồi da xáo thịt,
nhanh lên?
Mấy phút sau, chị Hai
mang ra cái lò nhỏ hừng hực than, cái mu con rùa lật ngửa lên, đặt trên lò làm
cái nồi nấu thịt. Hai Sanh mời mấy ông già sang chơi, nhưng bác Năm tôi nói:
- Mình chơi kiểu này xỉn
rồi làm sao tối nay đánh đồn được tụi bây?
- Tối nay không được thì
tôi mai chớ gì - Anh Tám Bành con Bác Hai tôi - nói.
Hai Sanh hỏi tôi:
- Chừng nào thằng Năm mày
về?
- Dạ sáng mai em về.
- Vậy thì không được. Để
tao tính coi, bây giờ mà nghỉ chơi chờ đến tối thì phí quá, còn chơi nữa thì tối
xỉn mất mẹ rồi. Lâu lâu thằng Năm về mà không đãi nó nồi cháo ong thì uổng lắm.
Bây giờ, mình mở chiến dịch đánh đồn giữa ban ngày.
Chị Hai đứng ở cửa buồng
nói ra:
- Tài khôn nữa à, bữa hổm
bị mấy chục vít chưa tởn hả?
- Bữa hổm tại tui chưa có
kinh nghiệm, bữa nay tui biết cách rồi. Bà yên chí.
- Tui đã nói không được
nghen, cái thứ xỉn xỉn vô rồi hăng máu có ngày bỏ mạng.
Hai Sanh vừa nhảy xuống đất
vừa nạt vợ:
- Đàn bà mà biết cái quái
gì - Anh quay sang chúng tôi - Tụi bây, thằng nào ra tháo cây sào quần áo làm
móc - Hai Sanh lấy chiếc chiếu cột túm một đầu. Xong, anh bảo chị Hai:
- Bà đi bắt nồi cháo lên
đi, biểu đứa nào lột trái dừa.
Chị Hai đành phải làm
theo.
Hai Sanh ôm chiếc chiếu
và vác cây sào ra vườn. Đến ngồi gần ổ ong, anh trùm chiếc chiếu lên đầu và lội
xuống ao. Lúc ấy không còn nhìn thấy Hai Sanh mà chỉ thấy giữa ao một đầu chiếu
túm lại nhô lên mặt nước.
Mấy đứa con nít kéo ra đứng
ở đầu ao hồi hộp chờ xem. Tư Đức nắm tay tôi nói:
- Tao với mày lại xích đằng
kia coi mới đã.
Chúng tôi núp dưới đám sậy
cách tổ ong chừng ba chục mét. Tư Đức co hai bàn tay đưa lên mắt và nói:
- Mình làm phóng viên
quay phim nghen.
Cái ổ ong bằng hai cái
thúng táo vàng quánh và quằn quện như da cọp trên nhánh cây, chừng vài chục con
ong bò ra bò vào ở mấy lỗ cửa.
Hai Sanh nhón người lên đặt
cây móc cẩn thận, chắc chắn ở kèo ong rồi anh thu người nhỏ lại trong chiếc chiếu.
Xong, anh giật mạnh cây móc, nhánh xoài oằn xuống, đàn ong túa ra đen nghịt một
vùng trời. Cái kèo ong cứ đùng đưa, đùng đưa không chịu gãy. Đàn ong tủa xuống
vây quanh Hai Sanh. Thoáng chốc, chúng bu nghẹt trên đầu chiếu. Hai Sanh như
không hay biết gì cả, anh cứ ghịt mạnh cần móc và cái ổ ong cứ đùng đưa.
Bất giác, tôi nghe cái bốp
trên mí mắt phải, rồi một cái nửa trên lưng. Tôi hốt hoảng và biết ngay chuyện
gì xảy ra, tôi co giò chạy. Tư Đức cũng tức tốc chạy theo, anh vừa chạy vừa la:
- Chết mẹ, nó đánh, nó
đánh.
Mấy đứa con nít ở đầu ao
bên kia vỗ tay hô đồng thanh:
- Vô! Vô! Vô!
Anh Tư Đức quát:
- Đứa nào đi bứt cọng môn
nước cho tao! Vô cái gì mà vô, người ta đau chết mẹ mà tụi bây vui lắm hả?
Chúng tôi thoa môn nước
lên chỗ ong đánh và chạy lại đầu ao nhìn Hai Sanh, bỗng thấy anh đang cựa quậy
trong chiếc chiếu, cái ổ ong vẫn còn nguyên đó và cây móc thì treo lủng lẳng
trên nhánh xoài. Đàn ong đớp nghẹt trên đầu chiếu.
Chiếc chiếu bỗng hụp lên
hụp xuống rồi trườn một đường dài dưới ao, dạt bèo qua hai bên mé. Trườn được một
đoạn, Hai Sanh bỏ chiếu, lặn một hơi dài rồi nhảy qua bờ ao, luồn qua đám lau sậy,
đàn ong vẫn đuổi theo.
Chừng năm phút sau, Hai
Sanh chạy về, hai mí mắt sưng húp, anh vừa thở vừa nói:
- Đù mẹ, cái nhánh xoài
dai quá mà mình lại giựt theo bề xuôi nên giựt hoài không gãy. Hồi nãy tao cột
đầu chiếu không kỹ nên mấy con ong nó chui vô làm tao hết năm sáu vít.
Chị Hai chạy ra bứt môn
nước thoa cho anh, ánh mắt chị nhìn chồng có vẻ vừa thương vừa giận:
- Tui đã nói mà không chịu
nghe. Một hồi nữa ông vô ăn hết cái nồi cháo trắng cho tôi.
Ba anh em tôi nhìn nhau,
mặt đứa nào cũng sưng vù, nặng trịch và nhức nhối. Hai Sanh nhìn lại cái ổ ong,
đàn ong đã bay về vây quanh như mừng cho sự an toàn sau trận đánh. Hai Sanh lên
án:
- Chưa yên đâu con, tao hẹn
với mày cho chuyến câu cá rô sắp tới.
Chúng tôi trở vô nhậu tiếp
nửa con rùa còn lại, Hai Sanh nói:
- Tại mình nóng ruột mới
nông nổi này, chớ đánh nó ban đêm chỉ cần nửa lít đầu lửa là tôi diệt gọn.
Sáng hôm sau, tôi từ giã
Rạch Lùm, mang về cái mặt không giống ai, cái mặt sưng vù, nặng nề và nhức nhối.
Chỉ vài ngày nữa, nó trở lại bình thường, nhưng kỷ niệm thì chắc không thể nào
quên được.
Nỗi niềm U Minh Hạ
TỪ CÂU CHUYỆN CỦA NGƯỜI BẠN
ĐỒNG NGHIỆP ...
Hồi tháng chín năm ngoái,
trong một cuộc họp báo tại văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, tôi được nghe
một thông tin khá đặc biệt : nhà báo Đặng Huỳnh Lộc đã viết một bài phóng sự điều
tra với tựa đề Những nhà nông không đất, không tờ báo
nào dám đăng, anh gởi cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Bài phóng sự dài mười một
trang in vi tính, Lộc kể về thân phận của những người nông dân không đất đai
canh tác, họ bồng bế, dắt dìu nhau xuống rừng U Minh thuê đất để làm ruộng. Từ
đó tác giả dẫn người đọc qua những cú xốc bởi mấy vấn đề cốt lõi.
Thứ nhất : Lâm trường U
Minh I cấp cho ủy ban nhân dân huyện U Minh 80 hecta đất rừng để sản xuất nông
nghiệp. Huyện khoán lại cho một tư nhân tên là Lê Thanh Liêm với giá 90 triệu đồng
mỗi năm. Ông Liêm lại khoán cho 19 hộ nông dân khác theo giá thỏa thuận để họ
trồng lúa. Phần ông sử dụng mặt nước để nuôi cá. Đã thế, ông Liêm được huyện
trang bị vũ khí để canh giữ cá đồng và để ... đi đòi nợ những người thuê đất.
Thứ hai : ông chủ tịch
huyện Tần Văn Thời được lâm trường cấp cho 7 ha đất, ông khoán lại cho vợ chồng
chị Dung, thương binh nghèo với giá mỗi năm 150 giạ lúa. Năm đầu chị Dung làm
được 200 giạ, nộp khoán xong còn lại 50 giạ. Năm sau lâm trường đấp đập giữ nước
để phòng chống cháy rừng, cả vùng lúa bị chết úng, chị dung chỉ thu được 56 giạ,
không đủ nộp, ông chủ tịch huyện đòi đất lại. Chị Dung không chịu trả vì chị đã
đầu tư lên mương phèn và trồng chuối trên bờ bao. Thế là hai bên tranh chấp,
ông chủ tịch hăm doạ sẽ ra lệnh cho lâm trường dở nhà chị Dung ...
Thứ ba : Một tư nhân khác
nữa tên là Trần Minh Quang được lâm trường Trần Văn Thời khoán cho 1.200 hecta
đất rừng để nuôi cá. Quang cũng được trang bị ba khẩu súng để canh giữ tài sản.
Trong lúc nhà nước ra lệnh cho toàn bộ các lâm trường phải đấp đập giữ nước để
phòng chống cháy rừng thì giữa mùa khô năm 1997, Quang lại được lâm trường cho
phép xả đập và dùng máy bơm tát cạn 1.200 hecta rừng để bắt cá, làm cháy 1,5
hecta rừng nhưng Quang chỉ bị phạt 1,2 triệu đồng. Trong khi một em bé bắt của
Quang hai con cá lóc khoảng nửa ký lô thì bị lâm trường phạt bốn trăm ngàn đồng
...
Thủ tướng Võ Văn Kiệt gởi
công điện cho Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau : Tôi đã nhận được
phóng sự “Những nhà nông không đất” của nhà báo Đặng Huỳnh Lộc viết về tình
hình đất đai, rừng tràm U Minh(gởi kèm theo).Nếu sự thật như phóng sự này phản
ánh thì có thể nói tình hình rất nghiêm trọng.Tôi đề nghị đồng chí Chủ tịch tỉnh
lập ngay một đoàn thanh tra gồm thanh tra nhà nước tỉnh, sở địa chính, sở nông
nghiệp và phát triển nông thôn và nếu tỉnh ủy đồng ý thì mời ủy ban kiểm tra Đảng
của tỉnh tham gia, về tại chổ kiểm tra, đối chiếu tình hình.Phải xử lý kỷ luật
hành chánh thật nghiêm mọi tổ chức cá nhân nào vi phạm.Nếu có dấu hiệu hình sự
thì phải cho tiến hành điều tra, khởi tố theo pháp luật.
Đề nghị đồng chí Chủ tịch
tỉnh trực tiếp giao nhiệm vụ chỉ đạo đoàn thanh tra và báo cáo kết quả lên Thủ
tướng chính phủ.
Trong cuộc họp báo hôm ấy,
các vị lãnh đạo tỉnh đã quở trách Tổng biên tập báo Cà Mau đã không quản lý nổi
phóng viên của mình để cho bài báo đến tay Thủ tướng chính phủ làm mất uy tín
lãnh đạo tỉnh. Sau lời quở trách ấy, nhiều người đâm ra lo ngại cho số phận của
Đặng Huỳnh Lộc rồi sẽ giống như số phận của những nhà báo trước đây.
Mấy ngày sau tình cờ gặp
Lộc ngồi trầm tư một mình trong quán cà phê, tôi hỏi:
- Chuyện ấy ra sao rồi ?
- Chẳng sao cả, chỉ có điều
là họ cấm không cho mình ra khỏi thị xã. Và mấy bài viết sau nầy đều bị ách lại
không đăng, dù nó chẳng có gì liên quan đến U Minh.
Những ngày tháng ấy dường
như Lộc sống trong sự cô đơn. Lãnh đạo cơ quan thì xem anh ta như người có tội,
ngay cả một số bạn bè đồng nghiệp khi tiếp xúc với Lộc cũng tỏ ra dè dặt vì sợ
liên lụy đến tấm thân. Hàng ngày chạy xe đi làm, thỉnh thoảng tôi lại thấy Lộc
ngồi trong quán cà phê với vài anh nông dân áo quần lem luốc, có khi là chị phụ
nữ ngồi co ro, chiếc nón lá bung vành úp lên đầu gối. Tôi hiểu ngay đó là những
nhà nông không đất từ U Minh vượt hàng chục cây số ra đây,
mang nặng tâm tư của cái kiếp tá điền thời đại để cần sự chở
che của một nhà báo, mà một nhà báo thì có thể giúp cho họ được gì ? Bản thân
anh ta còn chưa chắc được yên.
Nhưng cũng may mắn cho Lộc.
Hơn một tháng sau, ủy ban nhân dân tỉnh ra thông báo ý kiến kết luận của
Chủ tịch tỉnh về việc thanh tra đất rùng U Minh theo phóng sự điều tra của Đặng
Huỳnh Lộc.
Văn bản nầy thừa nhận những
vấn đề mà Lộc đã nêu, đồng thời cũng đặt ra cách giải quyết là sẽ thu hồi đất
đai, vũ khí của những tên đầu nậu đất và sẽ kiểm điểm những tổ chức, cá nhân
trong bộ máy nhà nước ở các huyện và các lâm trường.
Chỉ có điều, thông báo nầy
không mang tính nhân bản, là vì những nhà nông
không đất lẽ ra sẽ trở thành chủ nhân trên mãnh đất mà mấy năm qua họ
đã gắn bó với thân phận của kiếp tá điền dưới ba tầng áp bức bốc lột. Vậy mà giờ
đây họ lại bị đuổi ra khỏi lâm trường với lý do là cư trú bất hợp pháp.
Tôi chợt ngậm ngùi tự hỏi
: rồi họ sẽ trôi dạt về đâu, hởi những công dân!!!
... ĐẾN CHUYỆN CỦA MỘT
ĐOÀN LÀM PHIM.
Bất chợt một ngày của
tháng 3 năm 1998, anh Nguyễn Hồ, giám đốc hãng phim truyền hình thành phố Hồ
Chí Minh gọi điện thoại hỏi tôi:
- Nghe nói rừng U Minh
đang cháy lớn lắm phải không ?
- Dạ đúng, hiện giờ cũng
đang cháy.
- Theo mầy thì do đâu mà
cháy ?
- Dạ do lửa.
- Đồ quỷ ! Nói thật nghe
coi !
- Theo tôi thì có hai
nguyên nhân.
- Thứ nhất ?
- Do sức ép của dân số.
- Thứ hai ?
- Do chúng ta.
- Chúng ta là ai ?
- Là cơ chế.
- Đúng !
- Vậy anh hỏi để làm gì ?
- Để xem mầy có nhìn ra vấn
đề hay không.
- Mà nhìn ra để làm gì ?
- Để nói, đồ ngu !
- Nhưng nói bằng cách nào
?
- Bằng một bộ phim tài liệu.
Tao giao cho mầy biên kịch và đạo diễn.
Cuối tháng năm, hãng phim
truyền hình ra quyết định thành lập đoàn làm phim tài liệu “ Cánh rừng
và ngọn lửa”. Gọi là đoàn làm phim cho nó oai, thật ra chỉ có ba người :
tôi đạo diễn, Tuấn quay chính và Phương phụ quay. Chúng tôi mời thêm cô Ngọc
Mai, phóng viên nhí của báo ảnh Đất Mũi cùng đi với hy vọng cô sẽ viết một cái
gì đó về U Minh, ví dụ như phóng sự “ theo chân đoàn làm phim” chẳng hạn. Mai
cho biết, toà soạn cũng đã phân công cô viết về những nhà triệu phú trên đất U
Minh cho số báo sắp tới. Cô nói cảm thấy lo vì xếp thì phân công như vậy nhưng
liệu đến U Minh có tìm được nhà triệu phú nào không ?
Tuấn tỏ ra thắc mắc :
- Chúng tôi đi U Minh làm
phim về chuyện cháy rừng, chuyện nghèo đói, còn cô thì đi viết về những nhà triệu
phú. Vậy thì ai đúng ?
- Ai cũng đúng cả. Các
anh làm đúng với sự thật, còn em làm đúng ý lãnh đạo của em.
- Vậy thì chính kiến của
cô ở đâu ?
- Vấn đề là không được
xài cái mình có mà phải xài cái người ta cần. Người làm báo đôi khi phải biết tồn
tại như một con két. Chính kiến là thứ của quý nên phải biết cách xài cho đúng
nơi, đúng lúc ...
Chiếc tàu khởi hành, tiếng
máy nổ làm cắt ngang cuộc tranh luận giữa Ngọc Mai và Tuấn. Chúng tôi đành phải
lấy báo ra đọc để giết thời gian.
*
Tiếp chúng tôi trong trạng
thái miễn cưỡng, anh Nguyễn Văn Đắc, giám đốc lâm ngư trường Sông Trẹm nói :
- Đón tiếp các anh trong
lúc nầy thú thật chúng tôi rất ái náy. Thứ nhất là về chổ ăn chổ ở, hiện nay cả
một tiểu đoàn U Minh II đang túc trực phòng chống cháy rừng ở đây. Rồi các anh
cảnh sát điều tra công an tỉnh, công an huyện đang sử dụng trụ sở của lâm trường
để thụ lý hồ sơ can phạm trong các vụ án cháy rừng. Vì vậy mà các anh thông cảm
giăng mùng ngủ dưới đất, còn ăn uống thì cố gắng chịu cực với chúng tôi, năm
nay nắng hạn kéo dài, kinh xáng bị xì phèn nên cá chết hết, nguồn nước sinh hoạt
cũng không có, kinh phí hoạt động của lâm ngư trường cũng đang cạn kiệt ...
- Anh yên tâm – tôi nói
chen vào – mọi chuyện ăn ở, đi lại chúng tôi sẽ tự lực. Chỉ nhờ các anh giúp
cho một hướng dẫn viên để chúng tôi đi sâu vào đời sống của lâm trường.
Sau khi nghe tôi trình
bài ý đồ của bộ phim, anh Đắc lật sổ tay ra rồi nói:
- Mùa khô năm nay, toàn bộ
khu vực U Minh hạ xảy ra 87 vụ cháy rừng thì tại Sông Trẹm nầy đã xảy ra 42 vụ
cháy. Có lẽ đây là năm bi đát nhất của chúng tôi, một đơn vị nhờ giữ rừng tốt
mà được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động.
- Theo anh thì nguyên
nhân cháy do đâu ?
- Nguyên nhân trực tiếp
thì không xác định được. Nhưng chung quy là do sự nghèo đói mà ra cả. Sông Trẹm
có 1.142 hộ dân nhận khoáng đất rừng thì đã có gần tám trăm hộ nghèo đói, trong
đó có sáu trăm hộ đói nghiêm trọng, đói đến mức không có gì để ăn. Như các anh
biết, cái đói xưa nay thường là vào mùa giáp hạt, tức vào khoảng tháng mười âm
lịch. Vậy mà năm nay, nạn đói ở đây bắt đầu từ tháng giêng. Như vậy ai biết được
chuyện gì sẽ xảy ra từ đây đến mùa lúa chín. Mà hy vọng mùa lúa tới cũng rất mỏng
manh, bởi vì từ năm 1995, tức là từ lúc đóng cửa rừng đến nay, cây lúa đã không
thể sống với cây tràm.
- Vì sao ?
- Bởi vì vào khoảng tháng
chín âm lịch, lâm trường được lệnh phải đắp đập để giữ nước phòng chống cháy rừng.
Thế là cây lúa bị chết úng.
- Đắp đập giữ nước mà sao
rừng vẫn cháy ?
- Thật ra việc đắp đập
cũng chưa phải là giải pháp vì rừng không thể giữ nước qua hết mùa khô.
- Theo anh thì làm thế
nào để giữ được rừng ?
- Nếu tiếp tục đóng cửa rừng
như thế nầy thì đành chịu ! Ngay như Sông Trẹm bây giờ, bình quân ngủ một đêm
thức dậy mất ba ngàn cây tràm, trị giá hai mươi triệu đồng, một tháng mất nửa tỷ
bạc. Đó là mùa khô, việc vận chuyển tràm từ trong rừng ra kinh khó khăn mà còn
như vậy. Đến mùa mưa, mỗi tên trộm có thể bè năm mươi cây tràm cùng một lúc. Rừng
vẫn mất mà dân thì vẫn đói ! Hơn hai mươi năm qua, cây tràm đã đi trong quẩn
quanh của bao nhiêu cơ chế, cuối cùng là lệnh đóng cửa rừng nhưng vẫn không
thoát khỏi ngọn lửa và bàn tay kẻ trộm. .
*
Anh Dũng ngồi trên chiếc
xuồng ba lá đã mục nát úp trước hàng ba của căn nhà cũng đã không còn nguyên vẹn.
Tay vấn thuốc rê, mắt đăm chiêu nhìn ra cánh rừng trước mặt, cánh rừng sau trận
mưa đầu mùa trông buồn thảm làm sao !
- Anh vào đây từ năm nào
? – Tôi hỏi.
- Ngày 25 tháng 2 năm
1983, tính đến nay đã mười lăm năm ba tháng.
- Sao anh nhớ kỹ vậy ?
- Làm sao quên được anh !
Đó là cái ngày mà vợ chồng tôi cùng bốn đứa đứa con trên chiếc xuồng ba lá trôi
dạt về đây với hy vọng đổi đời. Tôi được lâm trường cho khai hoang bảy công đất
rừng để làm ruộng và 130m bờ đê để trồng chuối. Nhưng mười mấy năm qua ruộng
liên tục bị mất mùa vì đất phèn trũng, mỗi năm chỉ thu hoạch được ba bốn chục
giạ lúa, đủ ăn được sáu tháng.
- Thế những tháng còn lại
?
- Tôi bán chuối, mỗi
tháng được năm chục ngàn đồng. Ngoài ra có ai mướn gì thì làm thêm, còn không
thì ăn cháo.
- Sao anh không nuôi cá ?
- Muốn nuôi cá phải có
vài chục triệu để lên bờ bao, nhưng dân ở đây nghèo nên đành chịu.
Chúng tôi từ giả anh
Dũng. Tuấn ngồi trước mũi xuồng, ống kính hướng lên những căn chòi lụp xụp dọc
theo bờ kinh xáng cắt ngang xẻ dọc trong rừng. Và, như một phản ứng tự nhiên,
Tuấn khoát tay ra hiệu cho người lái vỏ dừng lại, ống kính cũng dừng lại ở người
đàn ông đang chất từng bó rau rừng lên chiếc xuồng ba lá. Từ trong căn chòi nhỏ,
người đàn bà trạc tuổi bốn mươi cùng ba đứa bé gái ôm những thúng rau đặt xuống
bờ kinh, nào rau muống, đọt nhãn lòng, đọt choại ...
Anh Biền, trưởng phòng tổ
chức của lâm trường Sông Trẹm nói với chúng tôi :
- Đây là gia đình anh Hai
Thống, đang lúc đói ăn rau ... như ông bà ta từng nói.
Phóng viên Ngọc Mai quay
sang hỏi chị chủ nhà :
- Một xuồng rau như vậy
chị bán được bao nhiêu tiền ?
- Dạ nếu bán hết thì được
khoảng năm chục ngàn .
- Chị đi bán tới đâu ?
- Dạ xa lắm, tuốt trên Đầu
Sấu, cách đây gần năm chục cây số, đi về mất hai ngày.
Tôi bàng hoàng nhẩm tính
: hái một ngày, đi bán hai ngày, chèo đi chèo về gần trăm cây số, dãi nắng dầm
mưa, và ... 50.000 đồng !
Chị Thống vẫn cười vui vẽ
nói :
- Tính ra làm mướn thì
khá hơn, nhưng ngặt bây giờ ai cũng nghèo, không ai mướn ai cả. Hổm rày thấy mấy
người xung quanh hái rau đi bán được, tôi với ổng bắt chước làm theo.
- Chừng nào chị mới bắt đầu
đi ? – Ngọc Mai hỏi.
- Dạ mười giờ khuya.
- Vậy là chị phải thức suốt
đêm ?
- Chớ sao cô ! Chiếc xuồng
nhỏ xíu, rau chất đầy hết, chổ đâu mà ngủ. Vã lại tôi phải bơi tiếp ổng cho mau
tới.
Trời đang vần vũ mây đen
báo hiệu một cơn mưa đầu mùa sắp đến. Mấy anh cán bộ lâm trường tỏ vẻ mừng vui
vì khỏi phải lo phòng chống cháy rừng, còn tôi chợt nghĩ : đêm nay vợ chồng anh
Thống phải chèo chống trong mưa.
Chúng tôi dừng lại ở một
căn chòi kế tiếp, một đứa bé chừng sáu tuổi, gầy ốm, quần áo tả tơi, tóc vàng
hoe, đôi bàn tay lấm lem rửa từng trái chuối luộc dưới dòng kinh. Hỏi ra mới biết,
cả nhà đi làm cỏ mướn, trong nhà hết gạo, đứa bé – có tên là Ut Mót – ăn chuối
luộc từ sáng đến giờ. Do chuối non, luộc xong để lâu nó bị nhuốm đen màu mủ, Ut
Mót thấy vậy mang đi rữa cho sạch mủ và bớt đắng để ăn tiếp buổi chiều.
Anh Biền cho chúng tôi biết,
căn chòi nầy của ông Lưu Văn Hạnh, thương binh ¾, có chín đứa con, đứa lớn mới
lấy chồng, ra riêng vừa dựng lên căn chòi bên cạnh, đứa con trai thứ hai khoảng
mười bảy tuổi, mắc bệnh tâm thần, suốt ngày lội lang thang.
Chúng tôi tìm đến chỗ gia
đình anh Hạnh đang làm mướn. Tất cả tám người, hai vợ chồng, sáu đứa con đang ì
ạch phác sậy trên bờ đê. Anh dừng tay và vui vẻ nói :
- Phác một ngàn mét chiều
dài, mười mét chiều ngang được trả công hai trăm năm chục ngàn đồng. Tám người
làm xuyên suốt thì bốn ngày mới xong, phải ăn cơm nhà. Tính ra rẻ mạt nhưng tìm
được việc làm thế nầy có phải dễ đâu.
Anh Hạnh đốt điếu thuốc
gò, hít, phà mấy hơi dài rồi nói tiếp :
- Sống hết nổi rồi mấy
chú ơi ! Ngày mai về Cà Mau họp chi bộ, tôi sẽ ở lại vài ngày để tìm mối sang
nhượng lại quyền sử dụng đất rồi đi nơi khác sống. Kệ, kiếm chổ nào làm mướn
làm thuê cũng được.
Tuấn ngạc nhiên hỏi :
- Ủa, anh nói về Cà Mau họp
chi bộ nghĩa là sao ?
- Tôi còn sinh hoạt Đảng ở
xã Lý Văn Lâm. Tuy vào đây đã sáu năm nhưng vẫn họp định kỳ, không vắng mặt lần
nào cả. Kệ, mình đói thì đói chớ đâu có bỏ Đảng được.
Trời hỡi ! Anh nói tĩnh
bơ mà sao tôi nghe như cổ mình nghẹn lại.
Tuấn quay sang hỏi Ngọc
Mai :
- Nhà báo có còn giữ ý định
viết về những nhà triệu phú nữa không?
Ngọc Mai chỉ cười chua
chát.
Anh Biền bảo người lái vỏ
ghé nhà chị Ba Phước. Chúng tôi chưa kịp lên bờ thì chị Ba từ trong nhà bước
ra,giọng sang sảng :
- Chú Biền ! Chú về báo lại
với ban giám dốc, nếu không xử được bọn trộm thì tôi trả đất lại cho lâm trường.
Tôi giữ rừng bao nhiêu năm nay rồi chú biết đó, đói cũng bấm bụng mà chịu. Giờ
cây đến tuổi khai thác, nhà nước ra lệnh đóng cửa rừng tôi cũng chấp hành. Nợ
hai chỉ vàng từ đầu năm đến nay, mỗi tháng đóng lời một trăm ngàn tôi cũng ráng
chịu, không dám rớ đến một cây tràm. Vậy mà tụi nó ăn cắp hết đêm nầy qua đêm
khác. Tôi báo mấy lần mà lâm trường có giải quyết được gì đâu. Giờ tụi nó đâm
ra thù oán tôi. Thuốc heo, thuốc chó, bửa xuồng, cắt lưới, viết thư hăm doạ sẽ
cho vợ chồng tôi bài học nếu tôi tiếp tục đi tố cáo chúng ...
Biền than thở :
- Tụi tôi biết làm thế
nào được hả chị Ba ! Chỉ có quyền bắt mà không có quyền xử. Giao cho mấy cha kiểm
lâm chẳng khác nào bắt cóc bỏ vô dĩa, mấy chả chỉ phạt một trăm ngàn rồi thả về.
Chúng tôi lội vào khu rừng
rộng mười hecta của chị Ba Phước, thì ra, bên trong cái hàng rào xanh mướt ấy
là cành ngọn ngổn ngang, là hàng vạn gốc tràm bị cưa sát đất. Có lẽ con số ba
ngàn cây tràm bị bọn lâm tặc cướp đi mỗi đêm mà anh Đắc đã nói với chúng tôi
hãy còn khiêm tốn.
Tôi cảm thấy xót xa cho vợ
chồng chị Ba Phước, chịu khó chịu đói bao nhiêu năm để gìn giữ mảnh rừng để rồi
cái lệnh đóng cửa rừng giáng xuống đúng thời kỳ khai thác. Cai cú xốc ấy chưa
nguôi thì rừng đã về tay bọn trộm.
Tối hôm ấy ngồi uống trà
với phó giám đốc Lê Thanh Ngoan, tôi hỏi :
- Theo anh thì giải pháp
nào để cứu Sông Trẹm ?
Anh lắc đầu rồi buông một
tiếng thở dài :
- Cơ chế bây giờ chưa có
lối ra !
Sáng hôm sau, trước khi
chuẩn bị rời Sông Trẹm, Tuấn hỏi tôi :
- Anh xem còn quay gì nữa
không, nếu không thì tụi em chuyển máy xuống xuồng ?
Tôi suy nghĩ rồi chợt nhớ
:
- Cho anh một cú zom in tấm
danh hiệu Anh hùng lao động, zom thật chậm.
Tuấn cười, mắt liếc nhìn
tôi :
- Có phải ông đạo diễn muốn
nói Sông Trẹm đã trở thành anh hùng liệt sĩ ?
ĐOÀN LÀM PHIM BỊ CẤM ?
Theo lịch quay, chúng tôi
sẽ còn đi hai địa bàn nữa, đó là lâm trường U Minh I, nơi bị cháy rừng lớn nhất
trong mùa khô năm nay và lâm trường 30/4, nơi chưa xảy ra vụ cháy nào. Trước
khi khởi hành, tôi gọi điện thoại cho anh Năm Phong, chủ tịch huyện U Minh để hẹn
trước và nhờ anh giúp đỡ. Anh Năm Phong cho biết rằng suốt ngày nay anh bận hội
nghị, song, anh sẽ giao lại cho văn phòng đón tiếp đoàn phim.
Mười giờ trưa chúng tôi đến
thị trấn U Minh, sau khi trình giấy tờ cho anh Phước, chánh văn phòng ủy ban
huyện, tôi gọi điện thoại cho anh Năm Cẩn, giám đốc lâm trường U Minh I báo cho
anh biết rằng sau khi ăn cơm trưa, chúng tôi sẽ vào khu rừng cháy để quay phim.
Vốn là người quen cũ nên anh Cẩn rất mừng rỡ và hẹn rằng đêm nay sẽ làm thịt
chim đãi chúng tôi. Mọi chuyện tưởng bình thường, ai ngờ đang ăn cơm bổng nghe
cô chủ quán gọi :
- Ở đây anh nào tên Danh
trong đoàn làm phim ?
Tôi giật mình :
- Dạ tôi đây.
- Có điện thoại.
Từ đầu dây bên kia:
- Dạ tôi là Phước ở văn
phòng ủy ban đây anh Danh ơi !
- Có chuyên gì vậy anh
Phước ?
- Trục trặc rồi ! Anh
Công Nghiệp, phó chủ tịch tỉnh ra lệnh cho anh Măm Phong là không được tổ chức
cho các anh vô rừng. Còn giám đốc lâm trường nào tự ý cho các anh vô thì phải
chịu trách nhiệm trước ủy ban tỉnh.
- Nhưng tại sao ông ấy biết
chúng tôi ở đây mà cấm ? Ai báo về ngoài ấy ?
- Đâu phải, ông ấy đang ở
tại huyện, anh về gặp ổng xem sao.
Tôi bảo mấy anh em trong
đoàn cứ yên tâm ngồi ăn cơm chờ tôi.
Trên đường sang ủy ban
huyện, tôi cứ thắc mắc tại sao lại xảy ra chuyện nầy ? Tôi với anh Công Nghiệp
thì có lạ gì nhau ? Cuối cùng tôi chợt nhớ ra, cách nay hơn một tháng, tôi có
viết bài báo cánh rừng và ngọn lửa, trong đó tôi có nói đại khái rằng
sự nghèo đói chính là ngọn lửa đốt cháy rừng trong mùa khô năm nay. Một hôm
sang làm việc để phỏng vấn anh về dự án đa mục tiêu U Minh hạ, tôi
có đưa bản thảo cho anh xem và nói :
- Anh là người lăn lộn
nhiều với rừng, tôi cho anh xem cái nầy để tham khảo, hôm nào anh rảnh tôi sẽ
sang nhà anh, hai anh em mình uống rượu lai rai để tranh luận chơi vì tôi biết
anh sẽ không hài lòng với cách nhìn của tôi về U Minh.
Anh Nghiệp đọc lướt qua mấy
trang rồi nói :
- Mầy nên nhớ một điều, tỉnh
mình hiện nay còn hơn mười ngàn hộ nông dân chưa có đất. Trong khi năm ngàn hộ
nầy được giao khoán đất rừng là sướng cha người ta rồi còn đòi vốn liếng gì nữa.
Mấy ông nông dân mình theo Đảng thật ra chỉ với mục đích là để giành đất, khi
có đất rồi lại đòi đầu tư vốn. Cha ông mình ngày xưa đi khẩn hoang có đồng xu vốn
liếng nào đâu, chỉ có cây phảng thôi mà cũng làm nên sự nghiệp ...
Nghe anh nói tôi bị
choáng người đến mức ngồi lặng thinh.
Từ hôm ấy đến nay anh bận
đi chỉ đạo phòng chống cháy rừng liên tục nên tôi không có dịp sang nhà anh để
tranh cải như lời hẹn ban đầu.
Và, có phải chính cái bản
thảo ấy là nguyên nhân của sự trục trặc hôm nay?
Chúng tôi gặp nhau trong
phòng chủ tịch huyện, anh Nghiệp ôn tồn nói:
- Thật ra thì không phải
chúng ta bưng bít sự thật. Vấn đề là sự thật ấy nên nói lúc nào cho phù hợp. Đó
là anh nói cái chung vậy thôi, chớ cụ thể thì anh cũng chưa hiểu cái phim của tụi
em định nói những gì. Nhưng nói gì thì nói cũng phải thấy rằng năm nay tỉnh
mình giữ được rừng U Minh là cả một kỳ công.
Tôi ngồi im lặng, anh
Nghiệp nói tiếp :
- Bây giờ thế nầy, tụi em
nên làm lại thủ tục, tức là trở về gặp sở văn hoá cho họ xem kịch bản, nếu được
thì họ cấp giấy phép cho trở vô quay tiếp, còn nếu có gì khó khăn thì họ sẽ xin
ý kiến ủy ban, ủy ban sẽ giải quyết.
Như vậy là cạn
tàu ráo máng, không thể nào đem luật ra mà tranh cải ở đây, chúng tôi đành
im lặng vác máy ra về. Trể tàu lại không có đò nhỏ, chúng tôi đành phải thuê
chiếc tàu lớn về Cà Mau với giá hai trăm năm chục ngàn đồng.
Dọc đường đi, tôi chỉ hối
hận một điều là cái chân tình của mình lại hoá ngây thơ khi cho anh Nghiệp xem
bản thảo cánh rừng và ngọn lửa.
Đến Cà Mau, tôi gọi điện
thoại cho anh Huỳnh Khánh, giám đốc sở văn hoá thông tin, anh Khánh cười vang
bên kia đầu dây :
- Đoàn phim cánh
rừng và ngọn lửa bị đuổi về rồi đó phải không ? Thôi, qua đây làm việc
đi.
Tôi và Tuấn chạy sang,
anh Khánh nói :
- Phải chi ngay từ ban đầu
mấy ông đến đây để tôi giới thiệu cho đi là yên chuyện rồi.
- Nhưng cái thẻ nhà báo của
chúng tôi để làm gì ? – Tôi nói.
- Biết rồi ! Nhưng ở đời
đâu phải lúc nào cũng đem luật ra nói với nhau.
- Nhưng phải chi thằng
cha du kích ấp làm khó thì tôi còn chấp nhận được !
- Đừng nóng chú em ạ !
Đây là một vấn đề tế nhị. Bây giờ thế nầy, bên ấy bảo tôi phải
xem kịch bản, nhưng tôi đâu có quyền làm chuyện ấy. Mà trong tình thế nầy cũng
rất khó cho tôi. Vì vậy, để giải quyết vấn đề tế nhị nầy, mấy ông cảm phiền viết
cho tôi mấy chữ : Thứ nhất, nội dung phim nói gì ? Thứ hai, tác giả và đạo diễn
là ai ? Thứ ba, đơn vị nào sản xuất ? Thứ tư, địa bàn quay ở đâu ? Thứ năm, thời
gian quay mấy ngày ? Tôi sẽ căn cứ vào đó để làm báo cáo qua bên ấy và
làm thủ tục cho mấy ông đi.
Sáng hôm sau, theo lời hẹn,
tôi sang văn phòng ủy ban để biết kết quả. Nhưng kết quả lại là một công văn từ
chối với mấy dòng chữ lạnh lùng:
Trước hết, ủy ban nhân
dân tỉnh Cà Mau ghi nhận sự quan tâm của đoàn làm phim đối với rừng tràm U
Minh.
Hiện nay khu vực rừng
tràm mới bắt đầu vào mùa mưa, việc quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng còn
nghiêm ngặt vẫn trong tĩnh trạng báo động khẩn cấp nên mọi tác động vào rừng
tràm đều bị cấm. Do đó việc vào rừng tràm quay phim ở thời điểm nầy là chưa phù
hợp.
Mong các đồng chí trong
đoàn làm phim thông cảm chuyển sang địa bàn khác.
Năm phút sau khi fax công
văn ấy về hãng phim, tôi nhận được điện thoại của anh Nguyễn Hồ :
- Tụi bây cứ yên tâm nằm ở
đó mà chờ. Tao sẽ gọi điện thoại thương lượng với đồng chí chủ tịch tỉnh. Nếu
thương lượng không được thì tao sẽ xin phép Chính phủ cho tụi bây đi quay.
Sáng hôm sau, chúng tôi
được mời sang văn phòng ủy ban để làm thủ tục cho đoàn phim đi quay tiếp. Trên
góc công văn của sở văn hoá thông tin được phê mấy dòng vắn tắt : Đồng
ý cho đoàn phim đi quay, nhưng giao cho giám đốc sở văn hoá thông tin kiểm tra
nội dung và hướng dẫn thực hiện.
Anh Nghiệp niềm nở đến bắt
tay tiễn tôi trong phòng khách, anh nói :
- Chúc tụi em đi thành
công. Tất nhiên là cái phim tụi em đang làm anh cũng chưa hình dung được, nhưng
nhớ khẳng định dùm anh một điều : Mùa khô năm nay cả nước mình xảy ra mười hai
ngàn vụ cháy rừng mà U Minh hạ chỉ có tám mươi bảy vụ. Cho nên, phải thấy rằng
mình giữ được U Minh là cả một kỳ công.
- Anh yên tâm – tôi nói –
cái phim tụi em đang làm cũng chỉ vì muốn đóng góp một tình cảm cho U Minh mà
thôi.
- Nếu có thể được thì trước
khi đi làm hậu kỳ, em cho anh xem lời bình để anh góp ý…
Câu nầy thì tôi không dám
hứa, vì với anh, tôi đã trót dại một lần.
NHỮNG CẢNH QUAY CUỐI
CÙNG.
* Cảnh 1:
Ông Ba Tận ngồi trên chòi
canh, tay cầm tổ hợp máy PRC25, mắt đăm chiêu nhìn về phía khu rừng.
Gần bốn tháng qua, ngày
nào ông cũng ngồi trên đó.
* Cảnh 2 :
Nội cảnh nhà ông Ba Tận.
Căn nhà đổ nát, nhìn lên
lốm đốm ánh mặt trời.
Năm đứa con ông gầy còm,
hốc hác, tóc cháy vàng hoe.
Bé Trúc Ly vo nắm gạo cuối
cùng để nấu nồi cháo trắng.
Trên bếp, một mẻ cá lòng
tong ướp xả từ sáng đến giờ nhưng không có muối để kho.
* Cảnh 3 :
Ngọc Mai mở máy ghi âm phỏng
vấn ông Ba Tận :
- Thím Ba đâu hả chú ?
- Bả về quê chửa bệnh hơn
một tháng nay mà tôi chưa có tiền đi thăm.
- Quê chú ở đâu ?
- Ở Đầm Dơi.
- Chú về đây bao lâu rồi
?
- Tám năm.
- Chú nhận khoán bao
nhiêu đất rừng ?
- Năm chục công.
- Bao nhiêu năm nửa mới
khai thác ?
- Tám năn nửa, hiện nay rừng
mới ba tuổi.
- Chú làm được bao nhiêu
ruộng ?
- Mười bốn công.
- Mỗi năm chú được bao
nhiêu lúa ?
- Bốn mươi giạ.
- Đủ ăn được mấy tháng ?
- Có ăn được tháng nào
đâu.
- Sao vậy ?
- Tôi nợ bảy mươi giạ lúa
vay, mỗi năm đóng lời ba mươi lăm giạ, bốn năm qua, tôi đã đóng một trăm bốn
mươi giạ rồi mà nợ gốc vẫn chưa trả nổi.
- Vậy chú sống bằng cách
nào ?
- Đặt trúm, giăng câu,
làm mướn ...
- Mấy đứa nhỏ có được đi
học không ?
- Không.
- Tại sao ?
- Nhà chỉ có một chiếc xuồng,
để chúng lấy đi học thì nhịn đói.
* Cảnh 4 :
Sáu cha con ông Ba Tận ngồi
quanh nồi cháo trắng. Tuấn chưa thực hiện đầy đủ những khung hình theo ý muốn
thì nồi cháo đã hết.
* Cảnh 5 :
Khu rừng cháy ở lâm trường
U Minh I, máy doly theo bờ kinh, nhìn mút tầm mắt chỉ thấy những thân tràm đen
nằm chồng chất lên nhau.
Từ trên chòi canh, đường
lia 180 độ cũng vẫn là rừng cháy.
* Cảnh 6 :
Tuấn đặt máy qua vai tôi,
ống kính vào cận cảnh giám đốc Trần Minh Cẩn để thu hình cuộc phỏng vấn :
- Anh có thể cho biết
tình hình giao khoán đất rừng và thực trạng đời sống nhân dân ?
- Lâm trường chúng tôi có
diện tích chung là 8721 ha, giao khoán cho 816 hộ với diện tích là 5585 ha. Đời
sống của bà con hiện nay có gần 100 hộ đủ ăn, còn lại trên 700 hộ nghèo và đói.
- Theo anh thì năm nay vì
sao lâm trường anh bị cháy lớn ?
- Do nghèo và đói.
- Nguyên nhân trực tiếp ?
- Vì đói mà họ bất chấp lệnh
cấm, lén vào rừng lấy tổ ong. Tôi xin nêu một trường hợp cụ thể : Ông Mười Yểm,
nhà hết gạo, vợ bệnh nặng nằm liệt giường, trong khi cái tổ ong trong khu rừng
cạnh nhà ông khá lớn cứ thôi thúc ông. Nếu lấy được mười lít mật cũng được hai
trăm ngàn đồng. Biết rằng cái lệnh cấm treo trên vách, ông cứ đắn đo trăn trở,
đến khi bà vợ lên huyết áp, cần tiền đưa đi bệnh viện thì ông đành phải đánh liều
lội vào rừng. Nhưng mới vừa đốt đuốc thì rừng bốc cháy, cháy cả chục hecta. Khi
bắt ông giải về huyện, người công an còn vét túi cho ông hai chục ngàn và một
cái quẹt gas. Anh ta nói : Ông đã phạm pháp thì luật pháp xử ông, cái ống
quẹt của ông là tang vật, tôi giữ lại, còn cái nầy là của tôi, tôi cho ông để
ông có mà xài. Tôi biết, nếu ông không đói thì sẽ không phạm pháp.
Ông Mười rưng rưng nước mắt,
lầm lũi bước xuống nhà giam.
MANG THEO NỖI NIỀM U MINH
HẠ
Tôi về Cà Mau gần một
tháng nay, trời đã trút những trận mưa dầm, có nhiều đêm mưa lớn. Cứ những chiều,
những đêm mưa như thế, tôi mừng cho các anh giám đốc lâm trường vì lửa rừng
không còn đe dọa các anh. Nhưng bên cạnh sự bình yên trong giấc ngủ của các anh
thì tôi như chợt thấy vợ chồng anh Thống đang gồng lưng chèo trong gió ngược
mưa đêm với chiếc xuồng đầy ắp rau rừng, có cả những tia chớp và những tiếng
sét kinh hoàng trong đêm tối. Khi tôi chợp mắt lại thì hình ảnh sáu cha con ông
Ba Tận bổng hiện ra, họ nép vào nhau ở một góc nào đó để trú mưa trong căn nhà
đổ nát. Và nhiều đêm tôi tự hỏi, trong chuyến về Cà Mau họp chi bộ hôm rồi, anh
Hạnh có tìm được người nào để chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất hay không ?
– “ Kệ, mình đói thì đói chớ đâu có bỏ Đảng được”. Anh nói tĩnh bơ
mà sao tôi nghe như cổ mình nghẹn lại.
Có những chiều, tôi định
sang nhà anh Công Nghiệp – mà tôi quen gọi bằng anh Ba như người anh thân thiện
trong nhà – để tâm sự cùng anh, tất nhiên không phải để tranh cải về cái bản thảo Cánh
rừng và ngọn lửa mà là tâm sự về những chuyện gió, mưa, đói, lạnh
của hàng chục ngàn thân phận con người trong những căn chòi xiêu vẹo giữa U
Minh. Tâm sự, để mong tìm sự đồng cảm của anh với cái phần tâm linh của ống
kính máy quay phim của chúng tôi mà hôm ấy anh đã dùng quyền lực để che nó lại
bằng cái công văn khô khốc, lạnh lùng.
Nghĩ thế nhưng đôi chân cứ
ngập ngừng khi chợt nhớ những lời anh nói với tôi hôm trước : Tỉnh mình
hiện nay còn mười ngàn hộ nông dân chưa có đất, trong khi năm ngàn hộ ở đây dược
giao khoán đất rừng, họ sướng cha người ta rồi còn đòi vốn liếng gì nữa ? Mấy
ông nông dân của mình theo Đảng chỉ với mục đích là để giành đất, giờ có đất rồi
lại đòi đầu tư vốn. Cha ông mình ngày xưa đi khẩn hoang có đồng xu vốn liếng
nào đâu, chỉ có cây phảng thôi mà cũng làm nên sự nghiệp ...
Nhiều lúc tôi đâm ra thắc
mắc, giữa các anh với bọn cầm bút chúng tôi, chúng ta cũng từ nông dân mà ra,
cùng chào một lá quốc kỳ, cùng hát một bài quốc ca mà sao trong cõi tâm linh lại
quá nhiều khoảng cách ?
Tôi nhớ cách đây hơn mười
năm, nhà thơ Lê Chí làm một bài thơ có tựa đề Nếu sự thật là điều không
nghe nổi, tôi còn nhớ một đoạn mà tôi nghĩ rằng chép ra đây rất phù hợp với
hoàn cảnh nầy :
Ôi, điều phải biết thì lại
là bất biết
Mồ hôi nào rõ xuống đồng
sâu
Đôi mắt nào thức suốt đêm
thâu
Bàn tay nào nhọc nhằn
chay cứng
Giữa đau đớn ai là nhân
chứng
Giữa nhân dân ai biết nhận
ra mình
Giữa cuộc đời ai thắp
sáng niềm tin
Giữa hư thực ai nói điều
chân lý
Có một điều vô cùng giản
dị
Tưởng ai ai cũng có thể
làm
Là đến thật với mọi điều
cùng đất nước nhân dân
Dẫu điều ấy vô cùng cay đắng
Vậy mà
Sau mười năm toàn thắng
Ta mãi quen nghe khúc nhạc
chào mừng
Ta thích ngắm những bông
hoa màu hường
Ta thích dạo những con đường
thẳng tấp
Đã lạ lẫm với mùa khoai
mùa bắp
Lạ lẫm với tháng năm mưa
nắng thất thường
Cuộc sống nhân dân thử
thách chiến trường
Thử thách lòng mình dữ dội
Nếu sự thật là điều không
nghe nổi
Thì còn gì ta đến với
nhân dân
Sẽ còn gì để biết xa hay
gần
Mỗi bước đường lên hạnh
phúc
Phải đến với sự thật nhân
dân không cách nào khác được
Bởi đất nước nầy là đất
nước của nhân dân ...
Tháng 8 năm 1998
Dưới chân đài tưởng niệm
Đoàn phim chúng tôi thuê
nhà trọ ngay cửa biển Khánh Hội, huyện U Minh, một trong những cửa biển giàu có
nhất của tỉnh Cà Mau. Ngồi trước nhà nhìn ra chỉ thấy biển mù khơi, tàu cá vào
ra tấp nập. Phía sau nhà là Đài Tưởng niệm đồng bào bị tử nạn trong cơn bão
Linda. Hơn ba năm trước, tôi đến đây vào những ngày sau bão, cửa biển này đã
trùm lên một màu tang tóc. Toàn bộ phố xá hai bên bờ sông sập thành bình địa.
Ngoài cửa biển, hàng ngàn người chen nhau đứng ngóng trông, tìm kiếm người thân
trong niềm tuyệt vọng. Những ngày ấy, tiếng sóng biển được thay bằng tiếng khóc
than, gào thét, rên rỉ đến mỏi mòn của những người vợ mất chồng, của những người
mẹ mất con…
Bây giờ, tất cả đã đổi
thay, sự giàu có của Khánh Hội tưởng như đã xóa đi dấu vết tàn khốc của Linda nếu
không có những con số thiệt hại về của, về người được khắc ghi trên Đài Tưởng
niệm.
Nhưng không...
Đoàn làm phim chúng tôi về
đây cũng vì cái lẽ nhưng không ấy.
Công việc đầu tiên của
chúng tôi là nhờ chính quyền địa phương mời khoảng vài chục bà góa phụ của cơn
bão Linda đến thắp nhang dưới chân Đài Tưởng niệm để chúng tôi thực hiện những
cảnh quay. Nhưng sáng hôm sau, vào giờ hẹn đã có hàng trăm bà kéo đến. Tôi chưa
kịp làm công tác đạo diễn thì tiếng khóc gọi chồng, gọi con đã dậy lên thê
lương cả một vùng cửa biển và khói hương bay lên nghi ngút cả vùng trời. Đoàn
phim của chúng tôi cũng không ai cầm được nước mắt.
Tôi đứng lặng người bên
hàng rào chờ cho dịu đi cơn sốc, và chợt nhận ra, trong số họ có những người mà
tôi đã gặp cách đây hơn ba năm, cũng tại cửa biển này vào những ngày tang tóc ấy,
trong sổ tay của tôi vẫn còn nguyên vẹn những trang tốc ký về sự mất mát của mỗi
người: Bà Trương Thị Lài, mất bốn người con ruột, một đứa cháu nội cùng với ba
chiếc ghe; bà Quách Thị Huê, mất ba người con ruột, hai người con rể, hai đứa
cháu ngoại và sáu chiếc ghe; bà Huỳnh Thị Kiểm, mất một ghe, ba người con ruột,
hai người con rể và hai mươi ngư phủ;... và, trong hàng ngàn ánh mắt tuyệt vọng
ngoài bãi biển hôm ấy, tôi gặp một gương mặt thiếu phụ còn rất trẻ - cô Trần Thị
Thu Vân, 21 tuổi - bụng đang mang thai, tay bồng đứa bé mới lên hai tuổi, cô lê
từng bước trên bãi bùn với tiếng khóc nghêu ngao. Giờ đây, cô đang đứng dưới
chân Đài Tưởng niệm, một tay dắt đứa bé gái năm tuổi, tay bồng đứa bé trai ba
tuổi, trông cô già đi gấp mấy lần so với ba năm trước.
Tác giả kịch bản của đoàn
phim chúng tôi - nhà báo Đỗ Văn Nghiệp - cho biết, cô Vân đặt tên cho đứa con
trai của cô là Dương Hận Bão. Chồng chết, nhà sập, con nhỏ, bụng mang thai.
Trong cảnh lá rách ít đùm lá rách nhiều của một vùng tâm bão, bà con lối xóm dựng
lại cho mẹ con cô căn chòi không quá mười mét vuông trong khóm bạch đàn. Căn
chòi như cái tổ chim vì cây đòn dông cột dính vào hai cây bạch đàn đang sống,
ngọn cao ngút trời xanh. Cho nên mỗi lần gió thổi thì căn chòi cứ sàng qua lắc
lại theo cây bạch đàn. Vậy mà ba mẹ con cô đã sống ở đó đến ba năm! Căn chòi chỉ
đủ lót mấy tấm ván và để một cái lò nấu cơm, còn bàn thờ chồng cô phải gởi nhà
người khác.
Sau khi chồng chết hai
tháng, cháu Bão chào đời trong một trường hợp rất thảm thương: Nửa đêm, khi biết
mình trở dạ, cô ôm manh chiếu lết ra sân và thảng thốt gọi người hàng xóm, khi
người đàn bà hàng xóm nghe được thì trên manh chiếu rách ấy, cô đã tự sinh con.
Sau khi thực hiện xong những
cảnh quay tại nhà cô, chúng tôi gởi lại cho cô một trăm ngàn đồng và năm mươi
ký gạo. Mấy người hàng xóm nói thay cô lời cảm ơn, còn cô thì ngồi lặng im với
hai dòng nước mắt. Bà con cho biết: Mấy ngày nay cô đi hốt cỏ mướn, mỗi công cỏ
được trả 23.000 đồng, nhưng phải mất bốn ngày lao động. Trong khi đó cô phải
thuê giữ con hết 4.000 đồng, như vậy bốn ngày lao động dầm mưa dãi nắng của cô
chỉ còn 19.000 đồng mà phải tự lo cơm! Song, mỗi ngày kiếm được 4.750 đồng vẫn
hơn những ngày không có ai mướn gì để làm, cô phải đi mượn gạo để nấu cháo mà
ăn!
Chị Lê Hồng Việt, chồng
chết để lại chín đứa con. Hai đứa con trai lớn chưa đến tuổi lao động nhưng phải
theo ghe biển làm thuê rồi ở luôn ngoài đảo không về. Cũng như cô Vân, chị Việt
phải làm mướn bất cứ việc gì để nuôi bảy đứa con nhỏ. Nhưng đâu phải ngày nào
cũng có việc làm, thế là tám mẹ con chị thường xuyên ăn cháo.
Chị Đào Kim Ngân, chồng mất
tích, mất luôn cả chiếc ghe biển, chị phải bươn chải nuôi hai đứa con với nghề
chèo đò ngang bằng chiếc xuồng ba lá. Nhưng chiếc xuồng cứ mục, cứ bể dần, cứ
đe dọa nguồn thu nhập hiếm hoi của chị. Khi tâm sự trước ống kính của chúng
tôi, chị nói: Tôi chỉ hy vọng vay được quỹ xóa đói giảm nghèo chừng hai
triệu đồng đủ đóng lại chiếc xuồng mới để chèo đò nuôi con!
Song, được vay hai triệu
đồng lại là ước mơ xa vời với các chị, như chị Trần Thị Bạch cho biết, để có vốn
mua cá làm chả đi bán, các chị phải vay bạc ngày, bạc góp, tính ra lãi suất từ
50% đến 60%/ tháng. Ở đây có hai phương thức cho vay: Nếu vay bạc ngày thì cứ
100.000 đồng mỗi ngày trả lãi 2.000 đồng, còn vay bạc góp thì cứ 100.000 đồng mỗi
ngày góp 10.000 đồng trong thời hạn 12 ngày.
Các chị đùm bọc nhau bằng
cách đi học nghề vá lưới rồi truyền lại cho nhau để kéo nhau đi làm mướn cho
các tàu đánh cá. Nhưng số lượng ghe lưới ở đây cũng không đủ công việc cho cả một
tập thể góa chồng. Nhiều chị còn trẻ, có chút ít nhan sắc đành phải bán mình để
nuôi con.
Phía sau chợ Khánh Hội có
một xóm nhà lá liền vách nhau tạo thành hình vuông bao quanh dưới chân Đài Tưởng
niệm là khu vực hoạt động mại dâm một cách bán công khai. Trong đó có nhiều địa
chỉ có tên gọi là Linda hoặc Bão số 5 là nơi tập trung những chị em có chồng chết
trong cơn bão. Số chị em ấy tuy không nhiều nhưng nó làm nhức nhối tâm can những
ai đã từng chứng kiến cơn bão Linda trên mảnh đất này.
Trước cơn bão Linda, cửa
biển Khánh Hội đang vào thời kỳ hưng thịnh của nghề câu mực, mà đặc điểm của
nghề câu mực là lao động càng đông thì năng suất càng cao. Thế là lực lượng lao
động nhàn rỗi khắp nơi trong tỉnh Cà Mau và các tỉnh miền Tây kéo về Khánh Hội
để theo ghe biển. Bất ngờ bão đến. Tất cả đã không về. Không thể thống kê được
số liệu thiệt mạng của những người tứ xứ bởi khi ra đi họ trốn tránh sự kiểm
soát của Bộ đội Biên phòng. Chỉ biết rằng bằng phương pháp điều tra hộ khẩu,
riêng huyện U Minh đã chết 700 người.
Song, chưa có phương pháp
điều tra nào để xác định rằng từ đó cuộc mưu sinh đã trút lên đôi vai của bao
nhiêu trẻ con và phụ nữ?
Thật đáng tiếc, Nhà nước
đã đầu tư hàng ngàn tỷ đồng cho những dự án khắc phục hậu quả cơn bão Linda,
nhưng vì lý do gì nguồn vốn ấy không đến được với những người vợ mất chồng
trong cơn bão?
Một trong những người được
thừa hưởng nguồn vốn ấy, anh Bùi Minh Trí đã nói trước ống kính của chúng tôi:
- Trong cơn bão số 5, tôi
bị mất một chiếc tàu trị giá 100 triệu đồng cùng với tám ngư phủ. Nay tôi được
Nhà nước đầu tư 570 triệu đồng để đóng lại tàu mới. Tôi vô cùng mang ơn Nhà nước
nhưng tôi cũng luôn luôn xót xa và ray rứt vì mình mất của mà được đền bù còn
những người mất mạng, để lại cho vợ con họ những hậu quả nặng nề mà Nhà nước
không quan tâm giúp họ khắc phục. Tôi luôn tâm nguyện rằng, mai mốt tôi làm ăn
khá giả, tôi sẽ giúp đỡ gia đình họ.
Lạy trời cho anh Trí làm
được điều ấy và nhiều chủ tàu có cùng tâm nguyện như anh.
Đau thương trên đất Cà
Mau
ĐÔI DÒNG NHẬT KÝ:
Chiều thứ bảy, ngày 1
tháng 11:
Tòa soạn nhận được một
phong thư, bên ngoài có hàng chữ đỏ: Mời họp hỏa tốc. Bên trong là hai công văn
của Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau, mang số 905 và 906.
Công văn 905 mời các cơ
quan báo chí có mặt tại Văn phòng Ủy ban Nhân dân vào 13 giờ 30 ngày thứ hai,
3-11, để được Chủ tịch tỉnh hướng dẫn nội dung tuyên truyền về Đại hội Đảng bộ
tỉnh Cà Mau lần thứ XI sẽ khai mạc vào ngày 6-11.
Công văn 906 mời đại diện
các ban ngành tỉnh, phó chủ tịch và trưởng phòng giáo dục các huyện thị, phóng
viên báo chí địa phương và trung ương thường trú tại Cà Mau… có mặt tại Văn
phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh vào 6 giờ sáng thứ ba 4-11 để dự cuộc họp tổng kết đợt
xây dựng 500 phòng học phục vụ cho khai giảng năm học mới 1997-1998.
Tối thứ bảy, ngày 1 tháng
11:
Thông báo số 1 của Ban Chỉ
huy Phòng chống lụt bão tỉnh Cà Mau: "Hồi 7 giờ sáng hôm nay, ngày
1-11-97, áp thấp nhiệt đới có vị trí trung tâm ở vào khoảng 7,5- 8,5 độ vĩ bắc,
113,0- 114,0 độ kinh đông. Sức gió mạnh nhất ở gần trung tâm lên cấp 7 tức là từ
60-65 km/h, cách quần đảo Trường Sa khoảng 180 km về hướng Đông Đông Nam.
Dự báo trong 24 giờ tới
áp thấp nhiệt đới di chuyển về phía Tây với tốc độ khoảng 20 km/h, và có khả
năng mạnh lên thành bão.
Ban Chỉ huy Phòng chống lụt
bão tỉnh Cà Mau yêu cầu các phương tiện tàu thuyền đang khai thác biển hãy tìm
nơi trú ẩn. Tàu còn ở trong sông không ra biển. Các địa phương có ý thức bảo vệ
tài sản khi có mưa to gió lớn.
Đề nghị theo dõi diễn biến
tin về áp thấp nhiệt đới. Các cấp chính quyền, Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão
các cấp có kế hoạch sẵn sàng ứng phó khi có bão gần".
Trưa chủ nhật, ngày 2
tháng 11:
Trời bắt đầu mưa to gió lớn,
hàng dừa trước cửa ngả nghiêng, cây bàng lật gốc, một vài căn nhà bị tốc mái,
điện cúp, không biết có phải đây là bão hay không? 40 tuổi đời, tôi chưa bao giờ
thấy bão. Hỏi người lớn tuổi xung quanh, cũng không ai biết.
Chiều chủ nhật, ngày 2
tháng 11:
"Mời các bạn nghe
tin báo khẩn cấp cơn bão số 5. Hồi 13 giờ chiều nay mồng 2 tháng 11, vị trí tâm
bão số 5 ở vào khoảng 8,5 độ vĩ bắc, 108,3 độ kinh đông, cách bờ biển Bạc Liêu-
Cà Mau khoảng 100 km về phía Đông Đông Nam, sức gió mạnh cấp 9, cấp 10, giật
trên cấp 10 tức là từ 75 đến 102 km/h. Dự báo trong 24 giờ tới, bão số 5 di
chuyển theo hướng giữa Tây và Tây Tây Bắc một giờ đi được khoảng 20 km. Như vậy
, chiều và đêm nay bão số 5 sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các tỉnh miền Tây Nam Bộ
và Bà Rịa-Vũng Tàu. Do ảnh hưởng của cơn bão, ở vùng biển ngoài khơi từ Bà Rịa-Vũng
Tàu đến Cà Mau có gió bão mạnh cấp 8, vùng gần tâm bão cấp 9, cấp 10, giật trên
cấp 10, biển động rất mạnh, các tỉnh miền Tây Nam Bộ và Bà Rịa - Vũng Tàu, chiều
tối và đêm nay, gió bão mạnh dần lên cấp 7, cấp 8, vùng gần tâm bão cấp 9, cấp
10. Ở vùng biển từ Cà Mau đến Kiên Giang và Vịnh Thái Lan, đêm nay và ngày mai
có gió bão mạnh cấp 7, cấp 8. Vùng gần tâm bão cấp 9, cấp 10, giật trên cấp 10,
biển động rất mạnh, ở các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ có mưa to đến rất to. Ở
vùng ven biển các tỉnh từ Bà Rịa - Vũng Tàu đến Cà Mau cần đề phòng nước dâng
cao 3 mét rưỡi đến 4 mét rưỡi".
Tối chủ nhật, ngày 2
tháng 11:
Điện cúp. Trời tối đen,
gió mạnh và giật dữ đội. Vào lúc 21 giờ tôi ghi âm lại bản tin "bão khẩn cấp"
của Đài Tiếng nói Việt Nam rồi mở lại cho đồng chí Tổng Biên tập nghe qua điện
thoại và cùng theo dõi việc chuẩn bị cử phóng viên đi theo các đoàn chống bão lụt.
21 giờ 30 tôi gọi điện
thoại xuống các huyện và các xã vùng ven biển, hầu hết đường dây đã mất liên lạc.
Lúc này, tôi bắt đầu đã ý thức được sự nguy hại của cơn bão số 5 đang hoành
hành tại Cà Mau.
Sáng thứ hai, ngày 3
tháng 11:
Mưa lớn, một số đường
trong thị xã bị ách tắc giao thông vì cây ngã, cột điện gãy. Tại trụ sở UBND tỉnh,
hàng bạch đàn trước sân nằm sắp lớp, nhà xe bị sập. Tôi bước vào trong, đã hơn
8 giờ sáng mà văn phòng vẫn còn vắng lặng, bất ngờ gặp chị Năm Niêm, Giám đốc Sở
Thương mại và Du lịch, với nét mặt buồn lạnh, chị lắc đầu nói:
- Không có ai trong đó
đâu, đừng vô mắc công. Mấy anh lãnh đạo đi xuống các huyện từ sáng sớm rồi.
- Chị có nghe thông tin
gì không? - Tôi hỏi.
- Chưa nghe nguồn tin nào
chính xác vì điện thoại ở các huyện bị mất liên lạc, chỉ biết sơ bộ là 12.000
căn nhà bị sập, 600 tàu biển chưa vào đất liền.
Trưa thứ hai, ngày 3
tháng 11:
Tôi bước lên phòng họp A
của Văn phòng UBND tỉnh theo Công văn 905. Cũng đúng giờ giấc và vị trí ấy
nhưng thành phần tham dự và nội dung cuộc họp thì khác.
Anh Ba Cầu, Giám đốc Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo:
- Toàn bộ hệ thống trường
học ở huyện Cái Nước bị thiệt hại nặng trong đó có 450 phòng học bị bão xóa sạch.
Nhà dân bị thiệt khoảng 90%. Riêng các cửa biển từ Cái Đôi Vàm đến Rạch Chèo, hầu
như không còn sót căn nào.
Chiều thứ hai, ngày 3
tháng 11:
Tòa soạn nhận được thông
báo của Thường trực Tỉnh ủy Cà Mau, một văn bản hành chính mà sao giống như một
bản tin buồn.
Ngày 25/10/97 Ban Chấp
hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Cà Mau có thông báo số 17-TB/TU triệu tập Đại hội đại
biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XI vào các ngày 6, 7 và 8/11/97.
Nay trước tình hình thiệt
hại rất nặng nề về người và tài sản do cơn bão số 5 gây ra, Ban Chấp hành lâm
thời Đảng bộ tỉnh Cà Mau quyết định hoãn thời gian Đại hội nói trên và sẽ tiến
hành Đại hội vào thời điểm thích hợp để có thời gian toàn Đảng, toàn quân trong
tỉnh dồn sức quyết tâm khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra, sớm ổn định đời sống
và sản xuất của nhân dân trong tỉnh".
NHỮNG BUỔI CHIỀU TANG TÓC
Chiều thứ ba, ngày 4
tháng 11, con số thống kê tạm thời:
- Chết 28 người, bị
thương 367 người, mất tích 622 người, 42.156 căn nhà bị sập, 75.085 căn nhà bị
hư hỏng, 1.650 phòng học bị sập, 1.900 phòng học kiên cố bị hư hỏng, 144 tàu
đánh cá bị chìm và 604 chiếc mất tích, 68.000 ha đất nuôi tôm bị thiệt hại, 600
miệng đáy hàng khơi bị bão cuốn mất v.v… tổng giá trị thiệt hại ước tính 1.783
tỷ đồng.
Chiều thứ tư, ngày 5
tháng 11:
- Chết 64 người, bị
thương 373 người, mất tích 202 người, 49.086 căn nhà bị sập, 75.085 căn nhà bị
hư hỏng, 2.989 phòng học bị thiệt hại, 278 tàu cá bị chìm và 195 tàu bị mất
tích, 30.000 ha rừng bị thiệt hại nặng, 50.000 ha lúa bị thiệt hại từ 50% trở
lên v.v…
Chiều thứ năm, ngày 6
tháng 11:
- Chết 93 người, bị
thương 373 người, mất tích 734 người, 56.291 căn nhà bị sập, 79.054 căn nhà bị
hư hỏng, 3.190 phòng học bị thiệt hại, 328 tàu đánh cá bị chìm, 353 tàu bị mất
tích, 91.000 ha đất nuôi tôm bị thiệt hại v.v…
Chiều thứ sáu, ngày 7
tháng 11:
- Chết 132 người, bị
thương 412 người, mất tích 260 người, 1.974 phòng học bị sập và 2.203 phòng bị
tốc mái hư hỏng, 366 tàu chìm và 259 tàu mất tích, 695 hàng đáy bị bão cuốn
trôi.
Chiều thứ bảy , ngày 8
tháng 11:
- Chết 141 người, bị
thương 464 người, mất tích 273 người, 429 tàu cá bị chìm và 206 tàu bị mất
tích, 3.895 miệng đáy bị nước cuốn trôi. 40.570 ha rừng bị thiệt hại, 45 cống
thủy lợi bị phá vỡ, 82 km đê biển và 131 km đê sông bị hư hỏng nặng vân vân và
vân vân.
Ước tính thiệt hại vật chất
là 2.500 tỷ đồng.
Cứ thế những con số thiệt
hại cứ kéo dài theo những buổi chiều u ám. Tại Văn phòng UBND tỉnh - nơi làm việc
của Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão, không khí nặng nề khó thở, gương mặt đồng
chí chủ tịch UBND tỉnh lúc nào cũng ủ dột, mắt đỏ hoe như người chủ tang gia.
Khách trong nước, khách nước ngoài cứ liên tục đến, những cái bắt tay kèm theo
những ánh mắt chia buồn và những đồng tiền cứu trợ đầy nặng nghĩa tình được gửi
đến.
Trước cửa phòng vi tính,
vào cuối mỗi ngày, các phóng viên báo chí chen nhau chờ đợi những đáp số dừng lại
trên màn hình dù biết rằng đó là những con số đau thương. Nhưng con số cứ tăng
dần, tăng dần không cách nào cưỡng lại. Mà làm sao cưỡng lại được vì đó là sự
thật. Làm sao cưỡng lại được vì đó là BÃO TÁP. Đã là bão táp thì thiệt hại đâu
thể tính bằng vi tính.
QUÊ HƯƠNG BÂY GIỜ NHƯ THẾ
NÀY SAO ?
Đi trên sông rạch Cà Mau,
nhìn sự đổ nát của nhà cửa, cây cối hai bên bờ sông mà lòng quặn đau như dao cắt.
Quê hương bây giờ như thế này sao? Chúng tôi đi hàng trăm cây số trên các tuyến
sông từ Cái Tàu qua sông Ông Đốc, Phú Tân, Rạch Chèo, Tam Giang, Đầm Dơi, Đất
Mũi… để rồi chỉ hỏi lòng mình một câu như thế!
Trời thì mưa dầm dề mà cỏ
cây thì úa màu tang tóc. Lau sậy thì bầm dập. Dừa nước thì tưa tải, rừng chồi
thì trụi lá, cây to thì gãy cành, lật gốc.
Chúng tôi đến Lâm ngư trường
Tam Giang III, nơi đây còn lại 500 ha rừng đước nguyên thủy, một khu rừng duy
nhứt của tỉnh Cà Mau được gọi là rừng giống, được giữ gìn nghiêm ngặt vì nó
cung cấp trái đước cho kế hoạch khôi phục hàng chục ngàn hecta rừng ngập mặn của
tỉnh nhà.
Vậy mà bây giờ cảnh tượng
của khu rừng giống như một trận bom vừa đi qua. Từng thân cây gãy đỗ gục ngã, nằm
chồng chéo lên nhau. Có những thân cây to đến một người dang tay ôm không hết.
Vậy mà bão giật chúng gãy ngang như sét đánh.
Nhìn khu rừng bị xóa sổ,
tôi hỏi thiệt hại bao nhiêu, anh Hai On, Giám đốc lâm ngư trường, nói gọn:
- Khoảng 40 tỷ.
- Để tái tạo khu rừng như
thế này, phải mất bao nhiêu năm?
- Khoảng 40 năm.
- Rừng giống mất rồi, từ
nay lấy đâu ra trái đước để khôi phục rừng ngập mặn? - Anh không trả lời tôi mà
chỉ thở dài.
Như vậy con số 40 tỷ đâu
có thể đo được mức độ thiệt hại của 500 ha rừng nguyên thủy, trong khi diện
tích rừng bị thiệt hại trong toàn tỉnh đã lên đến 40.000 ha.
Vẫn chưa hết, rừng trụi
lá, lá thúi làm chết cá tôm. Nước thúi từ trong rừng đổ ra, đen quánh các dòng
kinh, bốc lên nồng nặc.
Anh Quang Minh Nhật,
phóng viên báo Thanh Niên, nói như tổng kết:
- Lên rừng thì ngửi mùi
thúi của lá cây, xuống biển thì ngửi mùi thúi của xác người. Thử hỏi trên trái
đất này có trận bão nào khủng khiếp thế không?
ƯỚC GÌ "BỎ CỦA LẤY
NGƯỜI"
Dọc theo hai bên bờ sông
Tam Giang và Kinh 17 có hàng ngàn hộ dân nghèo sống trong căn chòi lá với chiếc
xuồng câu. Cơn bão đi qua, tất cả chỉ còn lại hai bàn tay trắng.
Chúng tôi gặp bà Quách Ngọc
Anh trong tình cảnh ấy, bà bị mất hồn đến nỗi không nhớ mình có mấy đứa con,
không nhớ mình bao nhiêu tuổi.
Người ta cho biết bà khoảng
ngoài 40 tuổi có 11 đứa con, hai vợ chồng sống nghề câu cá dứa trên sông Tam
Giang. Bão đã cuốn sạch của bà tất cả những gì gọi là "tài sản" kể cả
phương tiện sống duy nhất là chiếc cần câu.
Trời ơi! Rồi đây hàng
ngàn gia đình ấy sẽ về đâu khi hiện tại đã trắng tay trong cảnh màn trời chiếu
đất.
Xóm Rạch Chèo, một cửa biển
sung túc vừa được hình thành cách mấy năm nay, có thể gọi đây là một trong những
cụm kinh tế của huyện Cái Nước. Vậy mà trong một đêm bỗng hóa ra bình địa. Chị
Ngọc Nữ, một chủ doanh nghiệp kinh doanh hàng thủy sản giàu có nhất nơi này,
thoáng chốc đã trở thành tay trắng, thậm chí lâm vào cảnh nợ nần. Chị nói:
"Tôi bị thiệt hại gần 500 triệu đồng. Mấy ngày đầu chỉ biết khóc. Nhưng mấy
ngày nay thấy cảnh bà con chết chóc tang thương, nghĩ lại dù sao mình cũng chỉ
mất của, còn người…".
Ôi! Giá như tất cả chỉ mất
của còn người sau cơn bão…
Nhưng làm sao mà
"giá như" được khi trước mắt chúng tôi người thiếu phụ 39 tuổi - chị
Phan Thị Lệ, ấp Rạch Tàu, xã Đất Mũi, đang ngồi gào thét dưới sàn nhà, chị đã bị
mất cả của cải lẫn người thân. Bão đã cướp của chị 1 chiếc ghe biển, 20 miệng
đáy trị giá 300 triệu đồng cùng với người chồng và 2 đứa con trai. Nhưng đâu chỉ
có thế, trên chiếc ghe ấy còn có cả 6 người bạn chòi cùng mất tích.
Chị lập một bàn hương án
trước cửa nhà ngày đêm khấn nguyện "nếu chồng con trở về, tôi sẽ xuống
tóc".
Một ông lão ngồi cạnh chị
nói với chúng tôi:
- Tội nghiệp nó, chín năm
trước, thằng Hiển, chồng trước của nó, cũng chết ngoài biển. Giờ đến thằng chồng
sau.
Chị Nguyễn Thị Tụi, 41 tuổi,
một trong những chủ tàu giàu có ở cửa biển Sông Đốc. Nhà chị có đến 3 chiếc ghe
lưới đèn trị giá gần 2 tỷ đồng. Vậy mà, tất cả đều ra đi cùng với 23 thuyền
viên, trong đó có chồng chị - anh Trương Tấn Hòa - và người con rể - Trần Minh
Hiếu. Vợ của Hiếu - cô Trương Việt Tân - 22 tuổi, vừa mới sinh con, giờ trở
thành quả phụ, đồng cảnh ngộ với mẹ mình. Có lẽ từ nay, biển sẽ trở thành tiếng
ru buồn đối với hai mẹ con người quả phụ ấy đến suốt cuộc đời.
Ở cửa sông Ông Đốc, mỗi
ngày có hàng trăm người, đứng chen chân nhìn ra biển để ngóng trông tin tức của
người thân đang mất tích.
Trên bờ sông, mỗi ngày có
vài chục xác người được chở về từ biển. Nhưng những xác chết đã trở nên vô thừa
nhận bởi đã sình trương, biến dạng, không còn lại dấu vết gì để người thân nhận
dạng người thân.
Tôi gặp má Nguyễn Thị Mười
ở Mỹ Tho xuống đây tìm kiếm con mình. Má nói, con má tên Trần Đức Lợi, bên tai
trái có đeo một chiếc bông tai. Hai ngày qua, má cứ lật tìm chiếc bông tai trên
gần 30 thi thể. Đến ngày thứ ba, người ta thấy má gào lên:
- Con ơi là con! Trời ơi
tôi chỉ có một thằng con trai duy nhất.
Má chỉ nói được bao nhiêu
đó rồi ngất xỉu. Những người đồng cảnh ngộ xúm lại dìu má đến gò đất khô và cạo
gió cho má. Tất cả đều khóc, không biết rằng họ khóc cho ai. Một thiếu phụ ngồi
kế bên, úp mặt xuống đầu gối nức nở: "Anh ơi! Dù anh có chết đi cũng phải
về đây cho em chôn cất đàng hoàng…".
Tôi rời cửa Sông Đốc trước
cảnh tượng ấy trong một cơn mưa tầm tã, mưa trắng xóa cả một vùng biển, vùng trời.
Cứ tưởng như những ngày sau cơn bão, nước mưa hòa trong nước mắt của hàng vạn
con người, mà đâu chỉ riêng gì trên đất Cà Mau.
Hỡi các thế hệ mai sau!
Xin nhớ cho rằng từ nay, những giọt nước tinh khôi lấy lên từ lòng đất, trong
đó có lẫn nước mắt của một lớp người.
Nơi ấy bây giờ
I- TRÍCH MỘT BÀI VIẾT CŨ
Cho đến bây giờ vẫn chưa
ai biết được hai chữ Long Điền xuất xứ từ đâu. Kể cả những cụ già cao tuổi nhất
trong làng cũng bảo rằng khi các cụ lớn lên thì đã nghe mảnh đất này mang tên ấy.
Nhiều người hiểu về Long Điền bằng một khái niệm giản đơn theo từ Hán, tức là mảnh
“đất rồng “ .
Người ta kể rằng hồi đó
Long Điền chiếm toàn bộ phần đất phía Đông huyện Giá Rai có bờ biển chạy dài từ
cửa sông Gành Hào lên Vĩnh Mỹ. Dân cư thưa thớt bởi hơn hai phần ba đất đai thuộc
rừng rậm, nhiều thú dữ. Vùng đồng bằng tuy nhỏ nhưng rất phì nhiêu do hai tên
Huyện Kệ và Phủ Mầu làm chủ. Khoảng đầu thế kỷ XX, có một người Hoa tên Sổn
chuyên làm nghề lái đường từ Gia Định về Bạc Liêu , không hiểu duyên cớ vì sao
, có lẽ vì tên chủ hãng đường ở Gia Định sơ ý để lộn hũ bạc xuống ghe đường của
tên Sổn mà sau chuyến đi ấy, tên Sổn từ giã nghề lái đường. Hắn mua được chức
quan huyện và phần đất của Phủ Mầu. Từ đó, những người nông dân thuộc tá điền của
Phủ Mầu bỗng dưng “đổi chủ” , trở thành tá điền của huyện Sổn. Mấy năm sau, huyện
Sổn qua đời, con rể của hắn là tú tài Cộc lên thừa kế cơ ngơi. Tên chúa đất trẻ
tuổi này lại càng ra sức bóc lột nặng nề hơn cả cha vợ .
Dưới hai tầng áp bức của
chế độ thực dân, phong kiến, thật khó mà nói hết cái cảnh cơ bần đói khổ của kiếp
sống tá điền :
“ Bát cơm chan đầy nước mắt
Bây còn giằng khỏi miệng
ta
Thằng giặc Tây- thằng
chúa đất
Đứa đè cổ – đứa lột da”
Thế nhưng:
“Xiềng xích chúng bây
không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy
hoa
Súng đạn chúng bây không
bắn được
Lòng dân ta yêu nước
thương nhà”
Tôi có cảm tưởng như những
lời thơ ấy của Nguyễn Đình Thi viết dành riêng cho cái làng ven biển nhỏ nhoi
này. Là bởi trong ký ức của mỗi người dân Long Điền vẫn còn đọng lại cái khí thế
sôi sục của những ngày dùng giáo, dùng gươm, dùng tầm vông vạt nhọn đi đòi lại
quyền làm người. Từ mùa thu năm ấy, mảnh đất đã gắn bó với cuộc đời người nông
dân bằng tình yêu, có cả nước mắt, mồ hôi và xương máu .
… Anh Năm Phú dẫn tôi
băng qua cánh đồng sang nhà bác Sáu Long. Dù mùa gặt đã xong hơn bốn tháng nay
nhưng cả một đống rạ khô vẫn còn đủ sức chứng minh cho một năm trúng mùa cao sản
. Năm Phú say sưa giới thiệu với tôi từng mảnh đất cấy giống lúa gì, mật độ
gieo cấy bao nhiêu , năng suất mấy tấn một héc ta , của hộ nào nhận khoán và vượt
khoán bao nhiêu… Tôi không ngạc nhiên vì sao đồng chí phó bí thư huyện ủy lại
rành rẻ về mảnh đất này như thế . Bởi một lẽ giản đơn anh là bí thư xã Long Điền
Đông A trước khi về làm phó bí thư huyện ủy. Nhưng đằng sau cái lẽ giản đơn ấy
là cả một bước ngoặt lịch sử của một vùng đất, cũng chính là bước ngoặt của cuộc
đời anh .
Tôi nhớ rất rõ vào tháng
3 năm 1982 có một bài báo viết về công tác xây dựng Đảng ở Long Điền Đông A
đăng trên báo Minh Hải. Qua bài báo ấy, trường chính trị Châu Văn Đặng lập tức
gởi công văn mời đồng chí bí thư xã Long Điền Đông A – tức Năm Phú- lên báo cáo
kinh nghiệm về công tác xây dựng đảng bộ cơ sở vững mạnh cho các lớp chính trị
của trường .
Người ta nói Năm Phú có
công xây dựng Long Điền Đông A thành một tiền đồn kinh tế vững chắc của huyện
trọng điểm Giá Rai. Mà điều chính yếu để dư luận quan tâm là Long Điền Đông A
đi lên từ một chi bộ bị xếp vào loại yếu .
Đó là năm 1978, Long Điền
Đông A tiến quân rầm rộ vào cuộc cách mạng quan hệ sản xuất. Tưởng sẽ nắm phần
thắng trong tay. Ai ngờ đâu , đưa toàn bộ lao động vào hợp tác hóa nhưng không
nắm vững cung cách làm ăn, cuối cùng tan rã. Đưa toàn bộ diện tích đất nông
nghiệp vào sản xuất hè thu nhưng biện pháp kỹ thuật thì quá kém cỏi. Hai yếu tố
ấy cộng lại thành sự đổ vỡ. Đỗ vỡ của mùa màng, đời sống, đổ vỡ lòng tin và ý
chí từ trong chi bộ đến quần chúng nhân dân. Sau đó người ta thấy những mảnh ruộng
bỏ hoang vì một số nông dân bỏ đi làm ăn nơi khác .
Năm Phú sau khi tốt nghiệp
trường Nguyễn Ái Quốc trở về thì huyện ủy Giá Rai lại giao cho anh “ thực hành”
những bài học được bằng hiện trạng Long Điền Đông A . Về mặt tình cảm mà nói.
Năm Phú gắn bó với cái làng ven biển này bằng tiếng khóc chào đời của anh, bằng
cả máu của người cha và một người anh đã hy sinh . Rồi đến lượt anh, bốn vết
thương trên người cũng mang từ mảnh đất này trong những năm đánh Mỹ. Anh hiểu
bà con, bạn bè, đồng chí đã từng che chở, sống chết cho nhau để cùng giữ đất.
Nhưng bây giờ vì sao họ bỏ đất ra đi ? Năm Phú lần dò tìm ra đầu dây của một
chùm tơ rối. Cái mảnh đất có lúa , có muối, có biển, có rừng, có hoa màu, cây
trái thật trù phú làm sao. Thế mà cái đói cái nghèo quanh năm còn đeo đẳng. Phải
chăng vì bao thế hệ đi qua, không ai nghĩ đến chuyện làm giàu mà chỉ làm cho có
ăn để lo đánh giặc ? Anh nhìn qua mười bảy đảng viên trong chi bộ, hầu hết họ đều
bở ngỡ vì bao năm quen với chiến trường vừa bước sang làm kinh tế. Năm Phú nói
với các đồng chí của anh bằng những lời tâm huyết: “ Thưa các đồng chí , bằng mọi
giá, chúng ta phải xóa sạch nghèo nàn và lạc hậu! Nhưng xóa bằng cách nào đây ?
Chúng ta có ruộng lúa, phải biết làm ra lúa, có ruộng muối phải biết làm ra muối;
có bờ biển, phải khai thác cá tôm; có vườn, phải biết trồng hoa màu cây trái,
phải biết nuôi cá, nuôi tôm, nuôi gia súc , gia cầm. Nhiệm vụ của mỗi đảng viên
chúng ta bây giờ là phải tổ chức cho bà con làm những công việc đó. Tôi đề nghị
mỗi đảng viên chúng ta phải là một điển hình cho quần chúng noi theo. Xem đây là
một phương châm hành động. Điển hình ở đây là gì? Nghĩa là phải gương mẫu, từ
tư cách đạo đức, tác phong sinh hoạt đến cung cách làm ăn, nhất là phải điển
hình trên mặt trận lao động sản xuất. Chi ủy quyết định sẽ lấy hiệu quả lao động
làm thước đo phẩm chất của mỗi đảng viên …”
Khí thế sản xuất của làng
ven biển được bật lên từ đó. Năm Phú đích thân đến Viện nghiên cứu cây lúa trường
Đại học Cần Thơ, gặp giáo sư Tiến sĩ Võ Tòng Xuân để tìm giống mới và học hỏi
các biện pháp thâm canh . Năm ấy cũng là thời điểm phát thẻ đảng viên đợt đầu
tiên. Năm Phú đổi giống mới và phát động cho mỗi đảng viên phải đi đầu phong
trào thâm canh cây lúa. Anh lấy năng suất lúa làm một trong những tiêu chuẩn
đánh giá chất lượng đảng viên để phát thẻ đảng. Kết quả của vụ mùa ấy, 16 đảng
viên trong 18 đảng viên của chi bộ đã đạt năng suất từ 5 đến 7 tấn một héc ta .
Sự kiện ấy đã diễn ra ngoài sức tưởng tượng của mọi người, vì bao đời qua năng
suất lúa ở đây chưa bao giờ mỗi héc ta đạt trên 3 tấn. Sự kiện ấy cũng chính là
sức thuyết phục mảnh liệt nhất để bà con Long Điền Đông A bước vào con đường hợp
tác hóa bằng tất cả lòng tin và đưa toàn bộ diện tích đất canh tác thành cánh đồng
cao sản .
Tháng mười năm 1982 , tức
là hơn nữa năm sau khi Năm Phú được trường Đảng mời lên báo cáo kinh nghiệm xây
dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh toàn diện qua một bài báo,, giáo sự tiến sĩ
Võ Tòng Xuân dẫn đoàn phóng viên của Đài truyền hình Cần Thơ xuống phỏng vấn
cung cách làm ăn của Năm Phú . Lúc chuẩn bị ra đồng, thấy đoàn khách bỏ dép .
Năm Phú liền xua tay nói : “Các đồng chí cứ mang dép tự nhiên. Chúng tôi còn chạy
xe đạp đi thăm lúa kia mà !”
Tưởng anh nói đùa, nhưng
đến lúc ra đồng, chúng tôi mới hiểu đó là điều có thật. Đi qua hàng trăm héc
ta, đều có những bờ mẫu bằng phẳng, sạch khô, có thể đi bằng xe đạp.Và với hàng
trăm héc ta ấy, Năm Phú vẫn thuộc lòng khi nói đến giống lúa, mật độ gieo cấy,
lượng bón phân,thậm chí đến tính nết của người nhận khoán …
Giáo sư Tiến sĩ Võ Tòng
Xuân vừa cười tươi, rỉ tai anh kỹ sư đang khoan đất .
- Khác với những lần
chúng ta đi lấy mẫu đất, hôm nay chúng ta lấy được một mẫu người .
Cánh đồng chìm trong ánh
nắng chiều rực lên một màu vàng của lúa. Nhìn bốn phía, vườn cây xây thành một
màu xanh bao quanh vựa lúa mênh mông .
Chúng tôi trở ra con đường
làng từ ấp Bửu Điền II đi ngược lên Bửu Điền I. Hai ấp nằm dọc theo bờ kinh thẳng
tắp chạy dài . Một bên là vườn dừa chắn ngang cánh đồng cao sản. Bên kia là ruộng
muối nhưng vào mùa mưa thì đồng muối thuộc về thời vụ của cá tôm. Rải rác chỉ
còn những tu muối trên bờ đê còn sót lại.
Đồng chí Châu Đông Á, chủ
tịch ủy ban xã bây giờ như làm công việc thuyết trình thay cho Năm Phú.
- Nếu các anh đến đây vào
những ngày sau tết sẽ thấy vui hơn bởi khí thế làm muối của các tập đoàn. Mấy
năm gần đây, năm nào sản lượng muối của xã này cũng chiếm gần năm mươi phần
trăm tổng sản lượng muối toàn tỉnh . Cũng bao nhiêu diện tích ấy thôi, nhưng
các anh biết không, hồi trước mỗi héc ta chỉ có 5 tấn. Nhưng sau này chúng tôi
chỉ đạo cho các tập đoàn đào thêm kinh dẫn nước , mở thêm sân và tăng cường các
biện pháp kỹ thuật, bây giờ năng suất lên đến 25 tấn một héc ta. Và cũng chính
vì đào thêm kinh dẫn nước mà đồng muối đã thêm một vụ tôm. Bình quân mỗi héc ta
thu hoạch gần 500 kg tôm nguyên liệu cộng với 25 tấn muối . Các anh thử tính
xem có phải tấc đất tấc vàng không ?
(Trích bút ký “Chuyện
kể ở một làng ven biển” , Tạp chí Văn nghệ Minh Hải, số đặc biệt
30-4-1985) .
II - NƠI ẤY BÂY GIỜ
Chúng tôi trở lại Long Điền
Đông A sau gần ba năm đăng bài viết này. Bây giờ tất cả đã khác đi, tất cả đã đắm
chìm trong một bầu không khí căng thẳng, nặng nề trùm lên làng xóm và xóa sạch
dấu vết của ba năm về trước. Một cuộc biểu tình rầm rộ hồi cuối năm 1986 đã xảy
ra và tới giờ vẫn còn âm ỷ làm đau đầu các nhà lãnh đạo đang thay nhau xuống giải
quyết nhưng vẫn chưa có dấu hiệu tốt lành .
Rồi nạn đói tràn xuống
trong năm nay, Long Điền Đông A như rơi vào vực thẳm. Mới qua Tết mà gần một
ngàn gia đình không còn hạt lúa, nhiều hộ đã bán đất, bán trâu, đợ con hoặc bỏ
xứ đi làm thuê ở mướn .
Muối Long Điền một thời nổi
tiếng năm nay cũng đành chịu chết.Hàng chục ngàn tấn muối phơi trắng đồng nhưng
những người làm muối đành ôm bụng đói vì giá cả rẻ mạt, bán một trăm ký muối chỉ
mua được một ký gạo, mà có bán cũng chẳng ai mua. Trong khi đó, cách vài chục
cây số ra chợ, muối bán lẻ tám mươi đồng một ký! Cuộc đời của dân làm muối là
như vậy. Dường như trời đã dành cho họ một số phận hẩm hiu, qua cái thời bị Nhà
nước ép giá, giờ đến lượt bọn tư thương !
Anh Phó chủ tịch xã lật
quyển sổ tay, giọng ngập ngừng khi báo cho chúng tôi biết rằng Long Điền Đông A
năm nay xuất hiện gần ba trăm hộ thuộc tầng lớp phú nông, họ cho vay rất nặng
lãi, một trăm giạ lúa thì đến mùa phải trả một trăm tám mươi giạ. Ngoài việc
cho vay, họ ứng trước lúa, gạo và tiền công lao động làm mùa rẻ mạt cho những
người nghèo. Việc ứng trước tiền công cho người lao động không loại trừ một số
cán bộ có chức , có quyền và có tiền ở xã. Đó mới là chuyện đáng xấu hổ. Dường
như họ chẳng còn nhớ và chẳng cần nhớ hồi chống Mỹ ai đã nuôi nấng đùm bọc họ ?
Cùng xuất hiện với phú
nông là những tên cường hào mới mang thẻ đảng, chuyện bắt bớ đánh đập và ức hiếp
quần chúng .
Dẫu tôi không cố tình so
sánh , nhưng Long Điền Đông A như cố ý gợi nhớ trong tôi cái thời còn ngồi ở ghế
nhà trường với một đề bài thi phân tích những dòng thơ Tố Hữu :
Ôi nhớ những năm nào thuở
trước
Xóm làng ta xơ xác héo
hon
Nửa đêm thuế thúc trống dồn
Sân đình máu chảy, đường
thôn lính đầy.
Ở đây không có tiếng “ trồng
dồn” nhưng có cảnh đêm đêm loa phóng thanh lảnh lót trong xóm để kêu gọi, bêu xấu,
hăm dọa và truy tố những người nông dân thiếu thuế và thiếu nợ vật tư nông nghiệp
của Nhà nước .
Lần theo tiếng loa thông
báo khai trừ ông Bảy Thân ra khỏi Đảng với những tội danh: ông đã đồng tình với
cuộc biểu tình, cho rằng biểu tình là đúng, quan hệ với một số phần tử xấu chống
lại chủ trương Nhà nước, và những tội khác như : thuốc chết hai con heo của
công an,không đóng thuế công thương nghiệp,bỏ họp Đảng ủy để đi đánh bài… Chúng
tôi tìm đến nhà ông Bảy Thân vào một buổi tối, bà Bảy đang đau nặng nằm rên rỉ
trên giường, Còn ông Bảy Thân thì ngồi thở hổn hển , có lẽ vì đang bực tức chiếc
loa trên đầu xóm cứ dội vào tai ông .
- Cho tụi bây cứ phát
thanh đi- ông nói , miệng chửi thề lập bập - Nhưng đố cha thằng nào dám vào đây
thu hồi thẻ đảng của tao, tao chém lã đầu !
Bà bảy vừa ôm bụng rên ,
vừa năn nỉ :
- Thôi đi ông ! Nóng nảy
làm gì .
- Không nóng sau được, bảy
mươi tuổi đầu rồi, hồi tôi đi làm cách mạng tụi nó chưa đẻ, giờ nó muốn làm ông
làm cha.
Nói đoạn, ông Bảy quay
sang rót nước mời chúng tôi, giọng có phần dịu hơn : “ sống ở cái đảng bộ này ,
a dua theo tụi nó thì không được , còn đấu tranh cũng không được ,riết mình
mang bịnh tức cũng chết! Mấy chú thử nghĩ, có cái nguyên tắc nào mà khai trừ một
đảng viên ra khỏi đảng lại đem phát loa thông báo trong toàn xã như vậy không ?
Tôi biết, tụi nó làm vậy là để gây hoang mang cho quần chúng, để họ thấy rằng
tôi ủng hộ cuộc biểu tình của họ thì số phận tôi ra thế đó ! Thật là mỉa mai,
thật là đầy mâu thuẫn! Nếu biểu tình là sai thì tại sao họ cách chức Chủ tịch
huyện, chủ tịch xã và tổ chức mít tinh nhận lỗi với dân” ?
Ông Bảy dừng một lúc rồi
tiếp:
- Tôi khẳng định cuộc biểu
tình ấy đúng. Đúng là vì cuộc biểu tình ấy xảy ra không phải chỉ vì chuyện bắt
bớ vợ chồng Bảy Liên Xô mà là chuyện tức nước vỡ bờ của bao nhiêu vụ việc. Một
sự bùng nổ của bao nhiêu nỗi uất ức bị dồn nén, hơn nữa , dân ở đây có truyền
thống biểu tình từ thời kỳ đấu tranh trực diện chống Mỹ Ngụy. Ai dạy họ biểu
tình ? Vậy thì bây giờ họ biểu tình để chống đàn áp bất công thì tại sao cho họ
tầm bậy? Tôi về hưu, sống ngay trước cái ủy ban xã này, làm nhân chứng cho bao
nhiêu chuyện gai mắt chướng tai. Mấy chú thử nghĩ xem, bà Tám Ngân mẹ của hai
liệt sĩ, nhà nghèo như ổ chuột, ông chồng đi làm mướn quanh năm, vậy mà chính
quyền có lo được gì cho bả. Ngược lại , năm nào bả cũng làm tròn nghĩa vụ với
Nhà nước. Năm kia bả bị thất mùa, làm mười sáu công ruộng chỉ được một trăm ba
mươi giạ lúa .Thu hoạch xong có vô bồ được hột nào đâu, vì đóng thuế và trả nợ
phân cho Nhà nước hết một trăm mười giạ, còn hai mươi giạ để giống, coi như trắng
tay, lỗ công cày, công cấy, công gặt, công làm ra lúa hột, công phơi nắng dầm
mưa …Bả chở một trăm mười giạ ra nhập kho, thằng thủ kho chê lúa chưa khô,
không chịu nhập. Bả năn nỉ: “Chú thông cảm cho nhập đi rồi tôi biếu chú chút đỉnh
tiền cà phê “ .Nó đồng ý cho nhập , nhưng với điều kiện mỗi một trăm ký phải trừ
hai ký. Trừ qua cấn lại cuối cùng mất của bà chín giạ. Vậy mà có yên đâu, bả về
ngày trước thì chiều ngày sau xã ký giấy cho công an qua mời bả. Bả năn nỉ :“ Mấy
chú về đi, tối nay tôi đi vay tiền, tám giờ sáng mai tôi lên trả đủ cho chớ gì.
Một trăm giạ tôi còn trả được, có chín giạ không lẽ tôi giựt của Nhà nước sao?
Một hai nó bảo bà phải đi, bả không đi, nó bắn ba phát súng báo động, lập tức
hai thằng khác nhào vô xốc nách bả lôi đi, rách nát hai tay áo và chảy máu hai
đầu gối. Đến lúc làng xóm kéo đến phản đối, can ra , chúng mới chịu thôi .sáng
hôm sau bả mang hai tấm bằng Tổ quốc ghi công lên trả cho ủy ban xã, bả khóc
ròng nói : “ các ông đã đối xử với tôi như vậy , thì từ đây về sau đừng kể tôi
là mẹ liệt sĩ nữa, tôi tủi thân lắm !” .
Hớp một miếng nước, ông Bảy
kể lại :
- Còn ông Ba Xén, cũng trạc
tuổi với tôi, cũng gia đình liệt sĩ, là xã viên hợp tác xã Quyết Thắng. Ông
mang vô hợp tác xã nông nghiệp mười tám công ruộng , làm ba năm không khá nổi,
phần bất bình vì những kiểu làm ăn bất chính, ông xin ra, Ban chủ nhiệm đồng ý
cho ông ra nhưng chỉ cho ông mang ra nửa số đất. Ông không chịu, làm đơn đi kiện
lên cấp trên . Một hôm, ủy ban xã mời ông lên giải quyết, họ lập biên bản buộc
ông ký bàn giao cho hợp tác xã phân nửa số đất. Ông không ký và bỏ ra về, lập tức
trưởng công an xã ra lệnh “Lực lượng đâu, trói lại !” . Chúng nhào vô trói thúc
ké ông lại và lôi ngược qua cầu khỉ, giam mấy ngày .
Khi thấy chúng lôi ngược
ông Ba Xén qua cầu khỉ, tôi la : “Tụi bây là chính quyền cách mạng hay đế quốc
? Cái cầu khỉ như vậy tao bắt tụi bây đi ngược thử coi tụi bây có đi được
không?” Sáu Thành , chủ tịch xã quát vào mặt tôi : “Ông câm đi, ông biết gì mà
chen vào ?”
Lại mấy ngày sau một sự
việc diễn ra ngay trước cửa nhà tôi . Thằng Sáu Thành, chủ tịch xã nhậu say, gặp
con Xuân con gái ông Chín Tỵ đi qua đường , hắn nhào đến ôm người ta , con nhỏ
hốt hoảng bỏ chạy. Hắn ra lệnh cho du kích : “Tụi bây rượt bắt con nhỏ tình báo
ấy nhốt lại!”! Mấy thằng du kích không dám cãi lệnh, mà bắt cũng không dám bắt,
nên giả vờ rượt. Con nhỏ chạy mất . Hắn nổi khùng nhào vô xã đội đánh bà già
đang bị giam vì có con trốn nghĩa vụ . Hắn đánh mấy bạt tai, cũng may là có người
can kịp …
Câu chuyện của ông Bảy
Thân vẫn chưa kết thúc nhưng giọng ông bị lấn chìm trong tiếng loa phóng thanh
thông báo khai trừ ông ra khỏi Đảng mỗi lúc một gần. Chúng tôi rời khỏi nhà
ông, men theo con đường ra đê biển. Đêm xuống, làng xóm vắng tanh, chỉ có tiếng
loa phóng thanh kêu gọi, bêu xấu và hăm dọa những người thiếu thuế.
III - TIN CỦA MỘT ĐÀI NƯỚC
NGOÀI
Cuối năm 1986, một đài
phát thanh nước ngoài đưa tin: ngày 21 tháng 12 năm 1986, tại xã Long Điền Đông
A, tỉnh Minh Hải, hàng trăm nông dân đã kéo biểu tình đến tỉnh lỵ để phản đối sự
đối xử bất công của chính quyền địa phương .
Bản tin của đài phát
thanh nước ngoài này làm cho các nhà lãnh đạo ở đây nhận định rằng cuộc biểu
tình ở Long Điền Đông A là do bàn tay kẻ địch, vì chỉ có kẻ địch nhúng tay vào
nên tin tức mới đi quá nhanh như vậy . Và cũng chính vì nhận định ấy mà kẻ địch
nào đó bị đỗ lỗi thay cho những người trực tiếp gây ra .
Từ ấy đến nay, Long Điền
Đông A trở thành đối tượng nghiên cứu của an ninh chính trị, và dần dần nó trở
thành một cái tên gọi khá hấp dẫn ; “ Sự kiện Bảy Liên Xô “ .
IV - SỰ KIỆN BẢY LIÊN XÔ
LÀ GÌ ?
Người ta kể về ông Bảy
Liên Xô như một tên phiến loạn đang cầm đầu nhóm nông dân chống lại chủ trương
Nhà nước và có âm mưu lật đổ chính quyền, rằng ở Long Điền Đông A hiện nay ai
muốn trả nợ cho Nhà nước đều phải hỏi ý kiến ông Bảy Liên Xô, rằng tổ chức của
Bảy Liên Xô hiện nay đang ráo riết trang bị vũ khí và quyên tiền để lập quỹ .
Đồng chí Tư Chuẩn, phó bí
thư huyện ủy Giá Rai cũng kể với chúng tôi như vậy. Và anh nhận định thêm:
- Sau lưng Bảy Liên Xô là
bàn tay kẻ địch, bên cạnh hắn là một số tên lưu manh và tề ngụy cũ, trong đó có
tên Sũn là tình báo. Nhưng cái nguy hiểm nhất của tên Bảy Liên Xô là hắn tập hợp
rất đông đảo gia đình liệt sĩ và nông dân nghèo để chống lại ta .
Anh Sáu Hải, trưởng công
an huyện thì tỏ ra thận trọng hơn :
- Đây là một dạng hoạt động
rất kỳ lạ. Chúng tôi nghiên cứu mãi mà chưa tìm ra cái tên của tổ chức này là
gì !
Nghe qua,chúng tôi vừa thấy
hấp dẫn, vừa thấy kỳ cục, muốn bay nhanh đến cái “ căn cứ” ấy để xem vị thủ
lĩnh của những người nông dân này ra sao .
Khi chúng tôi chuẩn bị
lên đường , anh Châu Đông Á, nguyên là chủ tịch xã Long Điền Đông A , hiện là
phó phòng nông nghiệp huyện có vẻ dò xét hỏi :
- Mày định vô xã làm gì ?
Tôi thành thật trả lời :
- Tôi muốn gặp ông Bảy
Liên Xô!
- Mày gặp ông làm gì? Anh
có vẻ hơi sửng sốt .
- Thì cũng cần phải gặp
chứ anh, nghề nghiệp mà !
Xe của huyện ủy đưa chúng
tôi lên xóm Lung, từ đó chúng tôi quá giang xuồng máy vào xã chừng hơn mười cây
số. Lúc ấy, trời đã tối. Chúng tôi phải lần mò từ đầu kinh qua mấy chiếc cầu khỉ
mới đến nhà ông Bảy Liên Xô .
Những ấn tượng ban đầu
qua báo cáo của anh Tư Chuẩn và Sáu Hải làm cho chúng tôi dè dặt và tự nhiên có
một linh cảm không lành trước đêm đen đang bủa vây trên xóm nhà thưa thớt, leo
lét những ngọn đèn dầu và tất cả chìm trong im lặng. Tôi bắt đầu nghe sợ, cái sợ
hãi khác thường không giống bất kỳ sự sợ hãi nào mà tôi đã trải qua .
Đứng trước cửa nhà ông Bảy
Liên Xô, tôi hồi hộp gõ nhẹ cánh cửa:
- Chú Bảy ơi ! Chú Bảy !
Bỗng dưng trong nhà vụt tắt
đèn và im lặng . Mặc cho tôi gọi rất lâu, cũng chẳng ai lên tiếng .
Tôi bỗng nghe xương sống
mình ớn lạnh và cặp giò hơi run. Tôi chợt nhớ cái vẻ sửng sốt của anh Đông Á hồi
chiều. Hay là anh ta sợ mình đi vào vùng nguy hiểm chăng ?
Tôi khều nhẹ ba người bạn
đồng nghiệp, đi vòng lại nhà bên cách đó chừng ba trăm mét, gặp chị chủ nhà ngồi
trước cửa . Tôi tự giới thiệu :
- Chúng tôi là phóng viên
báo chí , muốn gặp chú Bảy Liên Xô , nhưng gọi cửa hoài không ai lên tiếng. Nhờ
chị giúp chúng tôi …
Chị chủ nhà nhìn tôi dò
xét và ngập ngừng :
- Tôi … không biết, các
anh chờ chồng tôi về . Rồi chị quay sang bảo con . - Con chạy ra quán gọi ba về
có khách !
Thật là kỳ lạ. Tôi có cảm
giác như hồi chiến tranh, hễ giặc đi càn vào vùng giải phóng, khi chúng tôi hỏi
bất cứ điều gì quan trọng thì đàn bà và trẻ con đều trả lời rằng : “ Tôi không
biết !” .
Chúng tôi xin miếng nước
uống và ngồi đợi. Khoảng mười phút sau, anh chủ nhà về đến, nét mặt có vẻ bực bội
và cau có :
- Các anh tìm dượng năm
tôi có chuyện gì ? Ổng không có nhà .
Trước thái độ của anh chủ
nhà, tôi bị hẩng hụt nên đâm ra ấp úng :
- Dạ, chúng tôi là phóng
viên báo chí , muốn gặp chú Bảy Liên Xô để hỏi thăm chuyện lúa, phân và chuyện
biểu tình năm ngoái .
- Các anh có tìm hiểu
cũng không giải quyết được gì đâu, mất công lắm. Hết đoàn này tới đoàn khác, cứ
tìm hiểu, tìm hiểu mà không giải quyết được cái con khỉ gì hết. Ông Sáu Kiên vô
đây tìm hiểu mấy tháng rồi có giải quyết được gì đâu , giờ các anh tìm hiểu làm
gì ?
Và anh bắt đầu chửi bới ,
lôi ra bao nhiêu chuyện phiền toái, bất công đã trút xuống làng xóm, gia đình,
họ hàng thân tộc anh hơn một năm qua.
Chúng tôi chỉ ngồi im lặng,
và sự im lặng ấy dường như làm anh chủ nhà ân hận về thái độ của mình. Anh bắt
đầu dịu giọng :
- Các anh là nhà báo. Tức
là chung cánh với ông Sáu Kiên chớ gì ?
- Không - người bạn tôi
trả lời - Sáu Kiên là giám đốc Sở văn hóa, khác với chúng tôi!
- Vậy mà tôi tưởng… xin lỗi
, nãy giờ tôi hơi hằn học không đúng chỗ.
- Nhưng nếu chúng tôi là
cánh Sáu Kiên thì có gì làm anh hằn học dữ vậy?
- Có chứ, Sáu Kiên vô đây
chỉ đạo phát loa nói xấu gia đình thân tộc tôi, xúc phạm đến ông nội tôi, làm
chia rẻ bà con họ hàng tôi .
- Xin lỗi, chúng tôi chưa
được biết tên anh ?
- Tôi thứ hai, tên Hiệp.
Tôi kêu vợ ông Bảy Liên Xô bằng cô, kêu Năm Phú bằng cậu. Nói thật các anh
thương, trong vụ tranh chấp lúa phân này, tôi khổ lắm.Bên nào cũng ruột thịt cả.
Thân tộc tôi, bên nội bên ngoại, tất cả có 48 liệt sĩ, giờ chia rẻ thù ghét
nhau, cũng vì chuyện phân, lúa.
Hai Hiệp kể:
Hồi cuối năm 1985, cậu
Năm Phú,cậu ruột của tôi,thường trực huyện ủy Giá rai về thăm nhà, đã phổ biến
với gia đình và một số bà con trong xóm rằng năm nay huyện giải quyết số phân tồn
kho, bán bằng tiền cho vài xã có thành tích huy động lương thực, giá mỗi ký năm
đồng .
Cậu động viên bà con nên
đi mua sớm,để qua tết hết số phân tồn kho,phân mới nhập về sẽ bán bằng lúa. Năm
Phú còn bày thêm rằng: bà con chuẩn bị mỗi nhà nuôi một con heo, đến cuối mùa
bán heo trả tiền cho Nhà nước, còn lúa để lại ăn …
Mặc dù lúc bấy giờ giá
năm đồng một ký phân, tính ra cao hơn ba ký lúa, và nhận phân trước Tết , để tới
mùa sẽ bị hao hụt, song người nông dân sau khi tính lời tính lỗ họ nghĩ rằng trả
bằng tiền thì có nhiều cách để trả, hoặc lúc ấy lúa trên thị trường lên giá, họ
bán lúa trả vẫn lời hơn. Đối với họ, một ký phân đổi ba ký lúa, một cái giá cắt
cổ mà họ đã cam chịu gần chục năm qua. Những năm thất mùa họ đã phủi tay sau
khi trả nợ phân và đóng thuế cho Nhà nước. Nhiều người không đủ lúa trả phải đi
vay .
Thế là các tập đoàn trưởng
ùn ùn đi làm thủ tục ra huyện nhận phân.Đến huyện , họ gặp ông Sáu Danh, phó
phòng nông nghiệp và ông Chín Việt, phó Giám đốc Cty vật tư nông nghiệp cũng động
viên và giải thích: Phân bán bằng tiền sao các anh không mua về rải cho đã tay
một năm. Cứ nhận đi, khi nào được thông báo thì các anh làm thủ tục ra ngân
hàng vay tiền trả cho công ty. Một ký năm đồng, lãi hai lai, tức năm đồng hai
.”
Trong bảng hợp đồng ứng
trước vật tư năm ấy cũng chỉ ghi rõ lượng phân còn cột “số lúa phải trả” thì bỏ
trống, kèm theo bảng hợp đồng là hóa đơn kiêm phiếu xuất kho ghi giá mỗi ký năm
đồng và tổng số tiền phải trả.
Thế là họ yên chí, các tập
đoàn trưởng khi chia phân cho từng hộ tập đoàn viên cũng chỉ phổ biến một câu
ngắn gọn: giá mỗi ký năm đồng, tới mùa lãi hai lai, tức năm đồng hai. Có thể
nói, bao nhiêu năm qua, với giá một ký phân đổi ba ký lúa, người nông dân chưa
bao giờ dám bón cho một công ruộng quá hai mươi ký phân. Vậy mà năm ấy, có người
bón một công từ ba mươi đến năm mươi ký. Được Nhà nước “ chơi đẹp” một năm , dại
gì không bón cho đã tay !
Nhưng rồi cuối năm 1986,
khi vụ mùa thu hoạch xong, lúa vô bồ, bà con thở phào nhẹ nhõm nghĩ mình sẽ ăn
gọn được một vụ mùa và họ rủ nhau đi bán heo để trả nợ phân thì đùng một cái, họ
nhận được giấy báo nợ đòi một ký phân bằng ba ký lúa .
- Thế này là thế nào ? mấy
ông thấy lúa lên giá rồi bẻ chĩa phải không?
Người ta la ầm lên như vậy.
Cuộc huy động lương thực diễn ra gặp phải sự phản ứng quyết liệt. Xã báo cáo về
huyện, huyện phân công đồng chí Nguyễn Tấn Lực, chủ tịch ủy ban huyện dẫn theo
một lực lượng công an hùng hậu xuống Long Điền Đông A . Họ đi đến đâu, còng số
8 treo trên đầu súng AK khua lắc cắc. Hễ ai chống đối, đòi trả một ký phân năm
đồng sẽ bị còng ngay lập tức.
Chủ tịch huyện họp dân và
tuyên bố:
- Trong 23 xã và 3 thị trấn
của huyện này, chưa ai ăn ngược nói ngạo bằng dân Long Điền Đông A. Ai bán cho
các anh một ký phân năm đồng ? Tại sao Đảng nói các anh không nghe mà các anh lại
nghe tin xuồng ghe ?
Một số tập đoàn trưởng
cãi lại :
- Chính Năm Phú, Sáu
Danh, Sáu Việt và Đông Á nói như vậy !
- Văn bản đâu? Chủ tịch
huyện hỏi.
Các tập đoàn trưởng mang
hợp đồng kinh tế ra :
- Đây, chứng từ ghi rõ một
ký năm đồng !
Cuộc cãi vã cứ diễn ra.
Chủ tịch xã Châu Đông Á thảo một công văn gởi xuống các tập đoàn sản xuất để
đính chính lại rằng: Đầu năm 1986 huyện ủy và ủy ban nhân dân huyện có bàn bạc
chuyện bán phân bằng tiền nhưng chưa nhất trí. Khuyết điểm này là do Công Ty vật
tư nông nghiệp huyện không thông báo kịp thời từ đầu vụ để các tập đoàn đi làm
lại hợp đồng. Công ty vật tư nông nghiệp đã nhận thiếu sót với ủy ban xã. Nay
thông báo chính thức, yêu cầu bà con chấp hành chủ trương chung, trả một ký
phân bằng ba ký lúa” …
Sau công văn ấy, ủy ban
huyện rút Châu Đông Á về huyện làm phó phòng nông nghiệp. Sáu Danh và Chín Việt
lần lượt cũng được chuyển đi khỏi phòng nông nghiệp và Công Ty vật tư .
Những ngày trung tuần
tháng 12-1986, chiến dịch huy động lương thực ở Long Điền Đông A diễn ra như một
trận càn phối hợp giữa ba lực lượng công an huyện, công an xã và du kích xã dưới
sự chỉ đạo trực tiếp của chủ tịch huyện Nguyễn Tấn Lực. Họ đi đến đâu thì cảnh
bắt bớ diễn ra đến đó. Trong vòng sáu ngày đã có tám người bị bắt giam trên xã.
Mỗi cuộc bắt bớ đều có xô xát xảy ra. Có chị mới sanh chưa đầy tháng cũng bị
lôi kéo rách quần rách áo. Người ta để nguyên hình hài rách rưới như vậy kéo
lên xã. Từ các ấp Vĩnh Điền, Bửu Đông, những đoàn người rầm rập kéo lên. Từ xã
, lực lượng công an chạy xuống. Họ căng hàng ngang chĩa súng vào đoàn người. Họ
cắt sẵn những bó dây chuối để thành đống dưới chân. Nhưng có lẽ họ cảm thấy
không thể trói cùng một lúc bảy tám chục người nên bèn thương lượng và trả tự
do cho những người bị bắt.
Trước sự xung đột càng
gay gắt diễn ra, ngày 18 tháng 12 ông Bảy Liên Xô cùng vài người trong xóm rủ
nhau lên ủy ban nhân dân tỉnh để phản ánh và khiếu nại vì sao huyện bán phân
cho họ bằng tiền, nhưng cuối mùa lại đói lúa. Đến ủy ban tỉnh không được ai tiếp,
họ kéo sang Hội đồng trọng tài kinh tế. Sau khi xem xong các văn bản hợp đồng
mua bán vật tư, ông trọng tài kinh tế trả lời :
- Chuyện này có lẽ do lúa
bị trượt giá nên mấy ông huyện tính lại cho hợp lý. Các anh về đi, ngày 23 tới,
tôi sẽ cho người xuống xác minh rồi giải quyết sau!
Ngày 19 họ trở về và
thông báo với bà con rằng ngày 23 trọng tài kinh tế xuống giải quyết .
Khoảng 8 giờ sáng ngày
21, bất ngờ ông Bảy Liên Xô thấy một lực lượng công an và bộ đội từ ba bên bốn
phía kéo đến bao vây nhà ông. Họ đọc lệnh bắt ông về tội vận động quần chúng chống
lại chủ trương Nhà nước. Bà Bảy Liên Xô bước ra ngăn cản. Cuộc bắt bớ trở thành
xô xát , ẩu đã lẫn nhau. Súng nổ. Hàng trăm đồng bào kéo đến giành giựt với
công an. Bên này lôi đi , bên kia kéo lại . Bà Hai Giáp, chị vợ ông Bảy Liên Xô
bị đánh, bị xô chết giấc. Bà Bảy Vịnh, mẹ vợ ông Bảy Liên Xô gần tám mươi tuổi
bị công an ném lên bụi bông giấy, rách áo , xước da , chảy máu. Bà Bảy Liên Xô
bị lôi tuột hết quần áo và bị trói bứt một vòng da trên hai cánh tay .
Cuối cùng , công an cũng
bắt được ông Bảy Liên Xô về huyện, bà con tổ chức ngay cuộc biểu tình trên tám
mươi người. Họ dùng ghe chở bà Hai Giáp và bà Bảy Liên Xô lên Bạc Liêu. Đến Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh , họ vừa đi vừa hô khẩu hiệu : “ Đả đảo chính quyền áp bức
bất công! Ủng hộ Đảng cộng sản Việt Nam! Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm !”
Cũng lúc ấy ở Long Điền
Đông A ,trạm truyền thanh thông báo rằng :” Vợ chồng tên Bảy Liên Xô can tội phản
quốc, cấu kết với tình báo CIA chống lại chính quyền cách mạng” . Họ đến trường
phổ thông cơ sở thông báo với học sinh và đề nghị các em phải về thông báo lại
cho gia đình, vận động gia đình phải trả lại nợ phân cho nhà nước theo chủ
trương chung một ký phân bằng ba ký lúa , đừng có nghe theo yêu sách của Bảy
Liên Xô .
Theo chỉ đạo của Tỉnh ủy,
bảy ngày sau ông Bảy Liên Xô được trả tự do với lệnh tha của công an huyện ghi
tội danh: “ Tàng trữ vũ khí trái phép”. Đồng chí Nguyễn Văn Để , Trưởng ban dân
vận mặt trận của Tỉnh ủy cùng với Ban thường vụ huyện ủy Giá Rai xuống Long Điền
Đông A tổ chức mít tinh cho cán bộ tự phê trước dân. Cách chức sáu Thành chủ tịch
xã, Nguyễn Tấn Lực chủ tịch huyện và bồi thường hai mươi ngàn đồng tiền chữa bệnh
cho bà Hai giáp và bà Bảy Liên Xô , còn việc trả nợ phân bằng lúa hay bằng tiền,
tạm thời gác lại chờ chủ trương của Tỉnh ủy .
Sau sự kiện ấy, chính quyền
địa phương cho rằng họ bị xử ép. Đành rằng họ bắt ông Bảy Liên Xô như vậy là
hơi vội vàng, bắt chưa đúng lúc. Nhưng đồng chí Trưởng ban dân vận mặt trận tỉnh
bắt họ phải tự phê và kiểm thảo họ trước dân là điều sỉ nhục đối với chính quyền.
Từ đó , họ mang trong thâm tâm một niềm cay cú và ngấm ngầm chờ cơ hội để trả
đũa cho thỏa lòng tự ái .
Người dân, suốt cuộc đời
theo đảng, trung thành sống chết với Đảng, nay quá đau xót vì thấy rằng tình cảm
thiêng liêng ấy dầu gì cũng bị tổn thương. Họ bàn bạc nhau: Cái Tết năm ấy sẽ
mang rượu thịt, bánh mứt lên xã cùng với cán bộ tổ chức vui Xuân để xóa đi chuyện
cũ, cho nghĩa đảng tình dân được khắng khít, cùng nhau xây dựng xóm làng. Họ
giao công việc ấy cho anh Hồ Duyên Hải, thương binh tập đoàn trưởng tập đoàn
tám đi quan hệ. Anh Hải nhờ anh Bí thư chi bộ ấp mang ý kiến lên bàn bạc với ủy
ban xã, ủy ban xã nhất trí .
Nhưng đến ngày mồng tám tết,
khi bà con kéo lên thì xã ủy không tiếp. Bà con vừa ngượng, vừa lỡ bộ vì đã gom
góp tiền bạc mua rượu thịt bánh mứt, giờ biết mang đi đâu. Bàn đi tính lại, họ
kéo qua nhà ông Bảy Thân. Ông Bảy Thân cũng không còn cách nào từ chối, đành phải
tiếp. Họ uống hết bốn mươi lít rượu, rồi say sưa, lời qua tiếng lại, múa ca nhảy
nhót, náo loạn một khúc xóm. Một bà mẹ liệt sĩ quá say, vừa leo qua cầu khỉ, vừa
hát: “ ta thắng như chẻ tre, ta tiến như nước tràn, cùng múa như lời ca” .
Sự việc ấy được xã báo
cáo lên huyện rằng cánh ông Bảy Liên Xô có ý đồ chiếm ủy ban xã để ăn mừng chiến
thắng, họ khiêu khích chính quyền nên mới hát bài: “ Ta thắng như chẻ tre” .
Ông Bảy Thân bị quy kết là mất quan điểm lập trường, chứa chấp những phần tử xấu.
Đó là một trong những lý do để khai trừ ông ra khỏi Đảng.
Ông Bảy liên Xô từ đó trở
thành cái gai nhọn của chính quyền, và tất cả những người không chịu trả nợ
phân bằng lúa, có thái độ kháng cự đều được xem là “ nhóm của Bảy liên Xô” . Họ
bị loại ra khỏi vị trí bình thường, trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà
an ninh chính trị và trinh sát kỹ thuật ..
Bước sang vụ mùa 87, huyện
chủ trương không bán vật tư nông nghiệp cho họ.Nhiều tập đoàn nhận phân về phân
phối xong , ủy ban xã ra lệnh cho tập đoàn trưởng đi thu hồi lại. Nhưng cuộc biểu
tình nhỏ lại diễn ra. Từng đoàn người kéo nhau đi khiếu nại. Bí thư xã tuyên bố:
- Các bà cứ đi thử xem, nếu
năm nay Nhà nước bán phân cho các bà thì tôi xin từ chức.
Họ kéo nhau ra huyện nằm
vạ, huyện không giải quyết. Họ lại kéo lên tỉnh. Tỉnh điện về cho huyện. Huyện
hứa, họ về huyện, huyện lại nói khi nào họ chịu trả nợ phân 86 theo giá một
phân ba lúa thì huyện mới bán phân cho vụ mùa 87 . Họ lại kéo nhau lên tỉnh, tỉnh
điện về bảo huyện giải quyết. Họ lại về huyện. Lần này huyện giải quyết bán
nhưng lại ghi kèm số nợ cũ vào bảng hợp đồng.Họ lại kéo nhau lên tỉnh lần nữa .
Cuối cùng khi nhận được
phân về đến nhà thì lúa trổ, không còn bón kịp. Đành chịu thất mùa, có người thất
trắng, lúa thuế còn không có để đóng, lúa đâu để trả nợ phân? Mà phân còn để
nguyên trong bao đó, Nhà nước có đòi phân thì họ trả lại, chớ có bón xuống ruộng
đâu mà trả lúa. Rốt cuộc, Long Điền Đông A , một xã dẫn đầu ở Minh Hải về năng
suất lúa, mỗi năm gần mười ngàn tấn. Nhà nước huy động hai,ba ngàn tấn, năm
1987, sản lượng còn lại chỉ trên năm ngàn tấn, Nhà nước huy động trầy da tróc vẩy,
dùng cả biện pháp hành chánh mà chỉ được hai trăm tấn.
Tất cả những hậu quả đó,
người ta lại đổ lỗi cho ông Bảy Liên Xô !
Đêm ấy, trước khi chia
tay, trong bầu không khí thân mật, anh Hai Hiệp nói:
Các anh muốn gặp ông Bảy
Liên Xô thì chiều mai đến đây, tụi mình lai rai chơi !
Chiều hôm sau, chúng tôi
trở lại nhà Hai Hiệp. Nhưng nhà đóng cửa . Chúng tôi , nằm dài ngoài đống rơm đợi
anh hơn một tiếng đồng hồ. Lúc ấy, mặt trời sắp lặn. Hai Hiệp trở về với nét mặt
lạnh lùng, dè dặt làm chúng tôi thất vọng . Anh Hỏi :
- Các anh có giấy tờ gì để
chứng minh các anh là nhà báo không ?
Tôi giật mình hỏi lại :
- Chi vậy anh ?
Hai Hiệp nói nghiêm chỉnh
:
- Các anh cảm phiền đưa
giấy cho tôi và lập danh sách đoàn các anh gồm có mấy người, ở cơ quan nào và cần
gặp ổng với nội dung gì. Tôi mang lên trình với ổng, nếu ổng đồng ý thì các anh
mới gặp được .
Tôi hơi choáng người trước
cách đặt vấn đề của Hai Hiệp. Có lẽ không còn nghi ngờ gì nữa, ông Bảy Liên Xô
là một thủ lĩnh, có liên lạc và có tổng hành dinh. Thú thật, một nhà báo địa
phương loại vô danh tiểu tốt như tôi, cũng chưa bao giờ gặp ai với những thủ tục
rắc rối thế này .
Ngẫm nghĩ một lát, tôi
đành lấy thẻ nhà báo trao cho Hai Hiệp và ghi mảnh giấy nhỏ kèm theo :
Kính gửi Chú Bảy .
Tụi cháu là phóng viên
báo chí và Đài tiếng nói nhân dân Minh Hải, gồm có bốn người, cần gặp chú để hiểu
rõ hơn về hoàn cảnh của chú và những thắc mắc của bà con nông dân .
Rất mong được gặp chú .
Người đại diện
ĐẮC DANH
Hai Hiệp cầm giấy tờ,
thót lên xe đạp rồi mất hút sau chòm cây. Chúng tôi nằm trên đống rơm đợi anh đến
khi trời chập choạng tối. Anh trở về và gọi thằng con trai chừng bảy tuổi ra bảo
nó:
- Con dẫn mấy chú này lên
nhà bà Cô Hai. Đi tắt đường đồng cho nhanh !
Theo chân thằng nhỏ,
chúng tôi băng đồng và đột ngay vào “ tổng hành dinh” của Bảy Liên Xô. Đó là
ngôi nhà lá nhỏ của bà Hai Giáp, chị vợ ông .
Trong bóng tối lờ mờ, “ vị
thủ lĩnh” bước ra đón chúng tôi, mình mặc chiếc quần cụt rộng thùng thình và
chiếc áo Pygiama đóng phèn mang nhiều mảnh vá. Đầu ông hói cao, mắt xếch, mặt
ngạnh, trán dò ra, cặp môi xệ xuống. Con người thoạt nhìn đã thấy đầy vẻ ngang
tàng khí phách .
- Mấy chú mới tới hả ?
Anh phóng viên đài phát
thanh dường như không nín cười được nên phát ra một giọng khôi hài:
- Mèn ơi! Trông chú giản
dị thế này mà sao muốn gặp phải làm thủ tục rắc rối quá vậy?
Ông Bảy liên Xô cười ngượng,
trao giấy tờ lại cho chúng tôi và nói:
- Biết đâu mấy chú là
công an giả danh nhà báo để bắt cóc tôi thì sao. Đời bây giờ, người thật việc
thật thì ít, người giả việc giả thì nhiều quá, biết đâu mà lường được. Thú thật
, từ hôm cô Nguyệt Anh bị bắt cóc đến nay, tụi tôi trốn luôn, không ai dám ngủ
nhà hết. Mùa rẩy này coi như bỏ, có ai làm được gì đâu. Khổ sở lắm mấy chú ơi!
Thôi vào nhà uống nước, nói chuyện chơi chớ đứng ngoài hoài sao. Đây là nhà của
chị vợ tôi, bà bị đánh chết giấc kỳ bắt tôi đó. Ông chồng và hai thằng con bả đều
là liệt sĩ mà bị đối xử như vậy đó.
Như đã sắp xếp sẵn, chúng
tôi vừa bước vào nhà chừng năm phút thì khách cũng kéo đến đầy nhà . Năm Bé,
Chín Cửu, mấy người được xếp vào danh sách lưu manh cũng có mặt . Kế đến là những
người đàn bà con mọn,những cụ già, những thanh niên… Nói chung, họ đều là những
người nông dân thật thà chất phác, những người đầu tắt mặt tối quanh năm mài miệt
với ruộng đồng và hơn thế nữa, cuộc đời họ đã từng sống kiếp tá điền, đã từng
đi qua hai cuộc chiến tranh. Có người đã từng bị đày ra Côn Sơn, Phú Quốc, có
người mang trên mình năm bảy vết thương. Họ sống trung thực, thật thà nhưng đầy
bản lĩnh, thậm chí ngang tàng, sẵn sàng đập nát bất cứ cái gì mà họ cho là tráo
trở, bất công .
Hơn mười năm qua, họ lại
không được bình yên với bao nhiêu lần xáo trộn của những cung cách làm ăn phi
lý, của sự đàn áp bất công. Nhưng họ vẫn âm thầm làm đội quân chủ lục, đổ giọt
mồ hôi để nuôi dưỡng mọi người, trong đó có một lớp người sống bám. Họ không cần
biết những kẻ ăn gạo của họ đã đối xử với họ thế nào .
Căn nhà bà Hai Giáp đêm ấy
chật người, không đủ chỗ ngồi. Họ phải trải chiếu ngồi dưới đất . Chúng tôi chỉ
ngồi im lặng lắng nghe những lời tâm tình của từng số phận, từng bi kịch khác
nhau ở mỗi con người. Một niềm ân hận dày vò trong tôi bởi những mường tượng đầy
lý thú vê họ qua lời đồn, qua báo cáo của đồng chí phó bí thư huyện ủy. Tôi chợt
giật mình khi nghĩ rằng : nếu như tôi chỉ ngồi thu thập tài liệu ở Viện kiểm
sát , ở Sở Công an và ở đoàn chỉ đạo của anh Sáu Kiên thì tôi sẽ viết về những
người nông dân ở đây như thế nào ? chắc rằng tôi sẽ kết tội ông Bảy Liên Xô là
tên phản động, chắc rằng ông sẽ xuất hiện trên bài viết của tôi hoàn toàn ngược
lại với tất cả những gì mà tôi sẽ kể dưới đây .
Ông Bảy Liên Xô tham gia
kháng chiến chống Pháp rồi tập kết ra Bắc . Năm 1962 vượt Trường Sơn vào Nam,
chiến đấu ở miền Đông cho đến ngày giải phóng
Năm 1976, ông trở về làng
cũ ở Long Điền thì gia đình ông không còn ai sống sót. Cha ông làm liên lạc cho
cách mạng bị giặc bắt và đánh chết. Người em ruột của ông nuôi chứa cán bộ cũng
bị máy bay ném bom giết chết. Cả nhà cửa , vợ chồng con cái người em cùng với một
cơ sở Đảng bị vùi dập dưới hố bom. Ông hồi hương như một người khách lạ, hơn nữa
đời người vẫn chưa có vợ con .
Cái tên Bảy Liên Xô thật
ra là tên của vợ ông bây giờ. Bà Bảy tên thật là Trần Thị Liên. Năm mươi chín
tuổi, sắp làm đám cưới, bà đã từ hôn và trốn gia đình đi theo kháng chiến .
Năm 1965, bà làm huyện đội
phó huyện Giá Rai và lập gia đình với đồng chí Thắm, trưởng ban tuyên huấn xã
Long Điền. Năm 1969, đồng chí Thắm hy sinh trong lúc bà vừa có thai ba tháng. Đứa
bé ra đời trong một trận càn ác liệt, bà phải tự sinh đẻ dưới bụi cây. Sau đó
bà đau nặng, á khẩu một thời gian không cầm súng chiến đấu được, bà nhận sự
phân công của tổ chức giả người mắc bệnh thần kinh ra hoạt động bán hợp pháp ở
thị trấn Giá Rai để gây dựng cơ sở .
Năm 1971, do hai tên
chiêu hồi chỉ điểm, bà bị bắt giam và đánh đập đến tàn phế. Gia đình phải bán
trâu bán lúa để chạy lo cho bà được thả ra. Từ đó , bà trở về căn cứ chữa bệnh
cho đến ngày giải phóng. Do hậu quả của những trận đòn tra tấn,bà trở thành người
bệnh hoạn và nghỉ công tác, trở về địa phương sống với gia đình bên chồng ở xã
Long Điền Tây, gần gia đình cũ của ông Bảy Liên Xô.
Nhờ bà con xóm làng mai mối,
năm 1976 hai người cưới nhau. Lúc bấy giờ ông Bảy Liên Xô đã gần năm mươi tuổi.
Năm 1977, ông từ quân khu 8 chuyển về quân khu 9 cũng là lúc họ sinh được đứa
con trai. Bà Bảy lúc ấy bị đau thần kinh thiệt, lúc điên lúc tỉnh, đầu rụng
không còn sợi tóc. Họ không có nhà ở , phải ở đậu trong cái chuồng trâu hoặc
bên nhà cha vợ . Đứng trước cảnh nghèo túng, không tiền chạy thuốc và để cứu lấy
hạnh phúc muộn màng mới vừa tìm được ở cái tuổi năm mươi , ông Bảy Liên Xô đành
bỏ ngủ với cấp hàm đại úy.
Hai cuộc đời ấy cuối cùng
trở về địa phương với hai bàn tay trắng sống hẩm hiu như kẻ bị bỏ rơi, rũ sạch
công lao của một thời kháng chiến . Dưới cặp mắt của chính quyền địa phương ông
Bảy Liên Xô là một kẻ đào ngũ sống bất hợp pháp,vì vậy mà qua bao nhiêu lần điều
chỉnh ruộng đất, họ không hề cấp cho vợ chồng một cục đất chọi chim. Vợ chồng
ông phải tự mua đất làm ruộng sống .
Buồn chán cho số phận, bất
mãn chính quyền địa phương cộng với tình hình ngang bướng, ông Bảy Liên Xô trở
thành con người sống lầm lũi, bất cần, ôm lấy cuộc đời riêng với bao tâm sự ngổn
ngang. Gần mười năm sống ở Long Điền Đông A , hầu như ông tách hẳn mối quan hệ
tình cảm với chính quyền. Mặc dù không có mâu thuẫn gì với nhau, nhưng bên
trong, chính quyền vẫn cảm nhận rằng ông bất mãn và khinh thường họ. Ngược lại
ông cũng cảm nhận được rằng họ chẳng ưa ông .
Xã phát động phong trào
làm đất đỏ, ông không làm, chủ tịch xã đến vận động ông : “Chú là người có công
lao trong kháng chiến, nay về địa phương cũng nên làm gương cho bà con” . Ông
nói : “ Tao là thằng đánh giặc mướn ở miền Đông, chẳng có công lao gì ở đây cả,
giờ về đây với hai bàn tay trắng , tụi bây có ngó ngàng gì tới tao đâu mà bảo
tao làm gương” . Chính quyền xã đến thu thuế nông nghiệp, ông nói: “Tụi bây
không cấp đất cho tao, đất này tao tự mua, tao không đóng thuế “ .
Thật ra, việc bắt người
thiếu thuế đối với Long Điền Đông A là chuyện bình thường, có người thiếu nữa
ký lúa cũng phải mang đi đóng đủ. Nhưng với ông Bảy Liên Xô, hầu như cán bộ xã ở
đây đều ngán ông ở cái tính ngang bướng và nhiều lý lẽ . Thậm chí lúc ông bỏ
ngũ có mang về nhà một khẩu súng cạcbin , một khẩu 54 và một trái lựu đạn nhưng
chính quyền xã cũng không dám thu hồi . Có lần bí thư chi bộ ập đến thương lượng
với ông đổi khẩu K54 với khẩu Col 12 của bí thư xã, nếu ông chịu đổi, bí thư xã
sẽ bù cho ông 20 giạ lúa . Ông từ chối và nói: “Súng này của quân khu!”Một lần
khác , bí thư chi bộ ấp uống rượu say, đến hỏi mượn khẩu súng của ông để đeo lấy
le vài ngày, ông không cho mượn, rồi thôi
Từ những định kiến lặt vặt
ấy dẫn đến sự kiện ông bị bắt vô cớ, quần chúng kéo biểu tình, chính quyền nhận
khuyết điểm, cách chức chủ tịch huyện, chủ tịch xã và cảnh cáo phó công an huyện
làm cho nhiều cán bộ cay cú nghĩ rằng đối với ông Bảy Liên Xô, họ là người thua
cuộc. “Cũng vì tên Bảy Liên Xô mà chúng ta mất đi một chủ tịch huyện”. Từ đó ,
vấn đề Long Điền Đông A trở thành “sự kiện Bảy Liên Xô”. Mọi sự phản ứng của quần
chúng trong việc trả nợ phân bằng lúa, người ta đều đỗ tội cho ông Bảy Liên Xô,
rằng ông là kẻ cầm đầu những người nông dân chống lại chủ trương Nhà nước. Ông
Bảy Liên Xô phải sống trong sự rình rập, theo dõi và vu khống của chính quyền. Ấp
báo cáo về xã, xã báo cáo về huyện, huyện báo cáo về tỉnh, tỉnh báo cáo về
Trung ương, những bản báo cáo đi qua nhiều trung gian, mỗi cấp lên một ít, cuối
cùng ông Bảy Liên Xô trở thành: “tên thủ lĩnh” của một nhóm người bạo loạn.
Thay vì vận động , giáo dục để ngăn ngừa sai phạm, người ta âm thầm mở cửa khám
và chờ đợi ông trở thành tội phạm để tống giam.
Trong bất cứ cuộc đấu
tranh nào,chắc ai cũng cần đồng minh và phe cánh, cần có tổ chức và lựa chọn những
biện pháp tối ưu. Ở đây, hằng trăm người nông dân đang yêu cầu Nhà nước phải giải
quyết rõ ràng. Vì sao huyện bán phân tồn kho cho họ một ký năm đồng cuối mùa lại
đòi ba ký lúa, rồi bắt bớ, mắng chửi và ức hiếp quần chúng. Vì sao Năm Phú,Đông
Á, Sáu Danh, Chín Việt, những cán bộ đã phổ biến chủ trương ấy giờ lại bảo rằng
họ không có nói? Vì sao hợp đồng kinh tế đã ghi rõ ràng như vậy giờ lại nói rằng
đó là phân tạm ứng, chưa có giá chính thức, rằng hóa đơn kiểm phiếu xuất kho
ghi giá năm đồng một ký phân chỉ có giá trị thanh toán giữa vật tư với ngân
hàng ?
Cứ thế, một bên đòi thu nợ
phân bằng lúa, một bên kháng cự quyết liệt đòi trả bằng tiền. Cái nguyên nhân
chủ yếu để tạo ra cuộc tranh chấp này thì bị bưng bít mất đi, các cấp lãnh đạo
ngồi lại với nhau để tìm ra nguyên nhân khác, lúc thì đổ lỗi cho kẻ địch, lúc lại
đổ lỗi cho ông Bảy Liên Xô . Rồi thành lập Ban chuyên án hình sự và an ninh quốc
gia .
Long Điền Đông A , xã vừa
nhận tấm huân chương lao động của Hội đồng Nhà nước và đang làm thủ tục để được
tuyên dương xã anh hùng, kế đó đã sa vào một hang cùng không lối thoát .
V - MÀN HAI CỦA TẤN THẢM
KỊCH
Cuối năm 1987, tỉnh ủy cử
anh sáu Kiên, Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin cùng với Đoàn cán bộ huyện Giá Rai
xuống Long Điền Đông A để giải quyết vấn đề gọi là “ Sự kiện Bảy Liên Xô”, hay
nói cách khác, giải quyết những hậu quả của cuộc biểu tình năm 1986.
Dư luận thắc mắc rằng vì
sao ông Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin lại được phân công đi giải quyết một vấn
đề hoàn toàn không thuộc về chức năng của ngành văn hóa? Có người nhận định rằng
sự kiện Long Điền Đông A cần một người tế nhị, có văn hóa như Sáu Kiên để tiếp
xúc với quần chúng thì sẽ có sức thuyết phục hơn . Trong hàng ngũ các nhà lãnh
đạo ở đây, Sáu Kiên từng nổi tiếng là người duy nhất đọc hết bộ Lê-Nin toàn tập
.
Từ nhận định tốt đẹp ấy,
người ta hy vọng rằng vấn đề Long Điền Đông A sẽ được kết thúc trong vòng ngắn
gọn để trả lại vị trí xứng đáng của một xã điển hình, một con chim đầu đàn của
Minh Hải, một tiền đồn vững chắc của huyện trọng điểm Giá Rai.
Theo chủ trương của tỉnh ủy,
muốn giải quyết được vấn đề Long Điền Đông A, trước hết cần làm sáng tỏ xem huyện
ủy có chủ trương bán phân tồn kho với giá năm đồng một ký hay không. Nếu huyện ủy
có chủ trương thì huyện ủy chịu trách nhiệm. Còn nếu như huyện ủy không có chủ
trương thì cá nhân nào phổ biến sai phải có biện pháp kỷ luật trước dân. Vấn đề
cuối cùng là phải vận động , giải thích và thuyết phục quần chúng chấp nhận chủ
trương chung của Nhà nước để họ chịu trả nợ theo giá mỗi ký phân bằng ba ký
lúa. Sau khi họ ký nợ xong, nếu hộ nào không có lúa trả thì cho họ trả dài hạn
trong thời gian ba năm. Sau ba năm, nếu họ thật sự không có khả năng trả thì
nhà nước xóa nợ.
Người ta nhận định rằng nếu
chủ trương ấy đến với Long Điền Đông A trước cuộc đấu tranh xảy ra hồi cuối năm
1986 thì chỉ cần thực hiện hai biện pháp đầu tiên là người nông dân sẵn sàng chở
lúa đi trả nợ phân mà không một lời phản đối. Còn bây giờ, tuy đã muốn nhưng nếu
chủ trương ấy được thực hiện bằng tất cả lòng kiên nhẫn với quan điểm lấy dân
làm gốc, cùng bàn bạc với dân bằng sự nhiệt tâm để làm sáng tỏ thì chắc rằng, họ
sẽ đem cái nghĩa tình phóng khoáng có sẵn của người nông dân ra mà đối đãi, như
anh Hai Hiệp đã nói với chúng tôi: “Nói thật với các anh, năm đồng bạc bây giờ
mua không được cục kẹo bòn bon, nhưng nếu mấy ông huyện chịu thật, đừng chơi kiểu
lật lông, đừng ức hiếp, và nếu mấy ổng chịu chơi, xóa nợ đi, tôi, thằng hai Hiệp
này sẽ đưa lại nhà nước mỗi ký phân bốn ký lúa chớ không phải ba. Hồi kháng chiến,
người ta hiến năm bảy chục giạ lúa, hiến cả mạng người còn không tiếc. Còn chơi
kiểu anh Sáu Kiên bây giờ, phát loa bêu xấu hả, xin lỗi, đừng hòng ai trả hột
lúa nào!”
Vậy là trái ngược với người
ta nhận định.
Nếu như chiến dịch huy động
lương thực ở đây hồi cuối năm 1986 do vị chủ tịch huyện chỉ huy được trang bị bằng
còng số 8, súng AK và dây chuối thì bây giờ có khác. Đoàn cán bộ của anh Sáu
Kiên được trang bị bằng các phương tiện thông tin đại chúng, nào máy quay phim
camera, nào Video cassette, nào máy ảnh, máy phóng thanh và một tổ phóng viên
báo chí để viết tin, bài phát loa tại chỗ. Sau khi rà soát lại các phương tiện,
ông Giám đốc Sở văn hóa tuyên bố:”Vậy là đầy đủ phương tiện hết rồi phải không,
kỳ này mà trị không được đám dân này, tôi sẽ từ chức giám đốc và cạo đầu vô
chùa tu luôn!”
Màn hai của tấn thảm kịch
ở Long Điền Đông A được thay đổi như thế nên cách dàn dựng có bài bản hơn, bố cục
chặt chẽ hơn và thể hiện chất văn hóa thông tin cao hơn.
Đầu tiên, các tập đoàn
trưởng được mời đi đóng phim, bộ phim do Giám đốc Sở Văn hóa biên kịch và đạo
diễn.
Mấy hôm sau, quần chúng
được mời đến kho lúa xem Video cassette do đoàn chỉ đạo huy động lương thực chiếu
phục vụ không phải mua vé. Bà con ùn ùn rủ nhau đi xem. Nhưng kỳ lạ thay, trước
giờ chiếu phim chính, họ thấy trên màn ảnh xuất hiện các anh tập đoàn trưởng của
họ, mặt mày ngơ ngáo, mất hết thần sắc, miệng thì ngập ngừng nói rằng việc bán
phân bằng tiền họ chỉ nghe lập lờ qua những tin đồn thất thiệt rồi phổ biến lại
với bà con, không có ai công bố chính thức. Nay họ nhận thiếu sót và yêu cầu bà
con thực hiện chủ trương chung, trả nợ một ký phân bằng ba ký lúa.
Mặc cho khán giả chửi thề
ỏm tỏi, nhổ toẹt nước miếng bỏ về, mặc cho những xung đột, những mâu thuẫn xảy
ra giữa những người nông dân với tập đoàn trưởng, mặc cho các anh tập đoàn trưởng
kia bị dày vò đau khổ, cắn rứt lương tâm… nhà đạo diễn cứ yên trí rằng những
thước phim ấy đã chứng minh cho quần chúng thấy rằng họ không còn lý do gì để vịn
vào một ký phân năm đồng nữa, họ không còn lý do gì để chống đối việc phải trả
một ký phân bằng ba ký lúa .
Có lẽ anh Sáu Kiên rất
hài lòng khi xử lý trường đoạn này chăng?
Đêm ấy nằm thao thức ở
Long Điền Đông A , tôi chợt liên tưởng đến vỡ cải lương Người ven đô phản ánh
cuộc đấu tranh của nhân dân Mười Tám Thôn Vườn Trầu trong thời kỳ luật 10/59 với
nhân vật Tám Khỏe, một người nông dân trung thành với cách mạng bị chính quyền
Ngô Đình Diệm buộc ông phải ly khai với cộng sản, vì chúng nghĩ rằng nếu quật
được ông thì cả Mười Tám Thôn Vườn Trầu không còn ai theo cộng sản. Ông nhất định
không chịu. Chúng khống chế ông bằng cách thả chó bẹc- giê vào đám tù nhân,
trong đó có con gái ông rồi chúng ra lệnh cho ông:” Nói đi rồi tôi tha cho họ,
chỉ cần nói nhỏ thôi, nói đủ tôi nghe thôi, nhưng tiếng nói của ông sẽ cứu những
người ấy khỏi bị chó bẹc giê xé xác, trong đó có con ông”. Thế là ngày hôm sau,
khắp Mười Tám Thôn Vườn Trầu người ta nghe tiếng ông Tám Khỏe vang đội trên loa
phóng thanh:”Tôi, tôi là Tám Khỏe, tôi xin tuyên bố ly khai với cộng sản!”
Chúng chỉ cần một lời nói như thế, mặc cho ông Tám Khỏe bị dày vò, điên loạn.
Giá như cái thời ấy có
camera và Video Cassette thì chắc chắn rằng hình ảnh ông Tám Khỏe sẽ bị đem đi
chiếu khắp Mười Tám Thôn Vườn Trầu cho dân chúng nhìn xem.
Song, ông Tám Khỏe chỉ là
nhân vật trong vở cải lương. Còn những anh tập đoàn trưởng xuất hiện trên màn ảnh
nhỏ ở đây để tuyên bố với dân chúng rằng không có ai phổ biến việc bán phân bằng
tiền lại là những con người thật .
Chị Nguyễn Thị Cúc, vợ
anh Mai Ngọc Có, tập đoàn trưởng tập đoàn 7 kể với chúng tôi:
- Chồng tôi hiền như cục
đất, tháng năm nói một tiếng, tháng mười nói một tiếng, làm sao cãi lại mấy ổng.
Chính ông Năm Phú, bà con cô cậu ruột với tôi chớ xa lạ gì. Năm đó ổng về đây
nhậu, đôn đốc anh Có một hai phải đi mua phân cho gấp vì đây là phân tồn kho,
bán bằng tiền, không mua kịp để qua tết phân mới nhập về sẽ bán bằng lúa. Năm
Phú còn bảo tôi nuôi heo để tới mùa bán heo trả tiền phân, để lúa lại ăn. Chồng
tôi ra huyện nhận phân, mấy ông ngoài huyện cũng nói vậy nên ảnh mới về phổ biến
lại cho bà con, mấy ổng nói rồi mấy ổng chối. Hôm rồi bắt anh Có đi mấy ngày để
quay phim rồi đem lên chiếu, nói ngược trở lại cho bà con người ta oán ghét … Đối
với gia đình tôi, anh Có đã nói như vậy mà ảnh lại là tập đoàn trưởng nên ảnh
phải ký nợ để làm gương. Tôi cũng tưởng đâu ký rồi để đó, trả dần trong ba năm
vì năm nay thất mùa, gia đình tôi nuôi ba miệng ăn mà giờ này còn không được bốn
mươi giạ lúa. Tôi ký nợ xong mấy ổng bắt phải vét bồ để trả.Năm ấy cũng vì tưởng
mấy ổng bán phân bằng tiền nên gia đình tôi mua sáu bảy trăm ký, giờ quy ra
lúa, tôi phải nợ trên hai tấn lúa, lấy gì trả. Tôi năn nỉ mấy ổng cho trả năm
trăm ký lúa, còn lại ký nợ sang năm sau. Mấy ổng không chịu, kèn cựa qua lại cuối
cùng mấy ổng bắt phải trả bảy trăm ký. Tôi chở năm trăm ký ra nhập kho, còn lại
hai trăm ký tôi năn nỉ mấy ổng cho tôi nợ qua tết , đến ngày thu hoạch rẫy, tôi
nhổ hành bán, mua lúa trả thêm vì hiện giờ nhà tôi chỉ còn đủ lúa ăn đến Tết, mấy
ổng không chịu. Ông Hai Nhành, Chủ tịch Hội nông dân huyện đến hăm dọa tôi:
- Đúng bốn giờ chiều nay,
chị không chở thêm hai trăm ký lúa ra nhập kho cho đủ bảy trăm ký thì chị đừng
trách!
Tức quá không kềm được ,
tôi nói :
- Mấy ông làm quá chắc
tôi tự vận chết chớ sống gì nổi.
Tưởng nói thế ổng động
lòng, ai ngờ ổng thách :
- Chị chết đi, chết mười
mạng như chị tôi cũng không tiếc, miễn sao chị trả đủ lúa cho nhà nước thì thôi
.
Nói đến đây, dường như uất
ức đến tột cùng, chị Cúc khóc nấc lên:
- Mấy chú nghĩ coi, vậy
là mấy ổng cần lúa chớ đâu cần dân . Nói thật, tôi chỉ sợ mình chết rồi không
ai nuôi con, nếu không nghĩ thế thì tôi đã uống thuốc rầy ngay trước mặt mấy ổng
hôm ấy cho thấu trời thấu đất.
Anh Trần Ngọc Quang, tổ
trưởng tổ đoàn kết số 1, rầu rĩ than với chúng tôi:
- Ông sáu Kiên bắt tôi đi
quay phim tố cáo cánh ông Bảy Liên Xô. Ông hứa với tôi là ổng quay vậy chớ ổng
không chiếu, cuối cùng ổng chiếu, làm cho dòng họ ông Bảy Liên Xô thù ghét, hăm
doạ tôi. Bây giờ tôi không dám đi đâu hết !
Vợ anh Quang vừa khóc vừa
nói:
- Khổ lắm mấy chú ơi ! Hễ
được lòng dân thì mất lòng Đảng. Còn làm cho vừa lòng Đảng thì mất lòng dân. Riết
rồi không biết làm sao mà sống, chắc tôi phải dỡ nhà đi nơi khác!
Chiến dịch đôn thu được
tiến hành bằng nhiều biện pháp và mỗi biện pháp được áp dụng cho từng đối tượng
khác nhau sau khi đã điều tra, phân loại.
Nếu là cán bộ, Đảng viên,
họ sẽ bị cách chức hoặc khai trừ Đảng nếu không chịu trả nợ phân bằng lúa. Một
số Đảng viên lúc đầu chống lại quyết liệt, kêu gọi quần chúng đấu tranh đến
cùng. Nay họ vẫn âm thầm chịu đựng, có người quay lưng lại với quần chúng để lập
công, cũng có người muốn tiếp tục đấu tranh nhưng không dám ra mặt. Họ tâm sự với
quần chúng :
- Tôi kẹt là Đảng viên
nên không tranh đấu được, bà con cố gắng tranh đấu, trong đó cũng có quyền lợi
của tôi !
Đối tượng thứ hai là những
người có thân nhân là cán bộ, Đảng viên thì những cán bộ Đảng viên ấy phải có
trách nhiệm vận động thân nhân mình trả nợ. Nếu họ không hoàn thành nhiệm vụ sẽ
bị xử lý.
Chị Trần Thị Chính ở tập
đoàn 4 kể:
- Lúc đầu tôi cũng đấu
tranh quyết liệt như bao nhiêu người khác. Nhưng sau khi đoàn cán bộ của ông
Sáu Kiên về đây, hai thằng em bà con của tôi công tác ngoài huyện cũng về. Cả
hai đứa nó đều là thường vụ huyện uỷ, một đứa làm trưởng ban kiểm tra Đảng, một
đứa làm trưởng phòng Công an. Tụi nó năn nỉ tôi : “- Chị cứ phản đối hoài thì kẹt
cho tụi em lắm. Bây giờ chị ký nợ đi rồi trả từ từ trong thời gian ba năm. Đâu
phải bắt chị trả một lần mà chị sợ”. Vì thương em út, sợ kên với mấy ổng thì ảnh
hưởng đến công tác của tụi nó. Tôi ký nợ và chở đi trả bảy trăm ký lúa. Còn lại
hơn một tấn, hẹn lại năm sau. Ai dè hai thằng em tôi về huyện mấy ngày thì Bí
thư và Chủ tịch xã mời tôi lên nạt hùm nạt tướng, bảo tôi phải trả dứt nợ cho
nhà nước. Tôi nói lúa tôi hiện giờ chỉ còn đủ ăn tới tháng sáu, trả hết rồi vợ
chồng con cái tôi nhịn đói hay sao. Bí thư xã quát :
- Chị không còn lúa nhưng
chị có trâu, có ghe, có tài sản. Chị bán tài sản mua lúa trả !
Giận quá tôi nói :
- Bây giờ ghe tôi đó,
trâu tôi đó, nếu bán được mấy ông kiếm mối bán dùm đi.
Chủ tịch xã dọa tôi :
- Chị thiếu nợ nhà nước
mà chị còn ăn nói kiểu đó phải không? Bây giờ tôi nói dứt khoát, nếu chị chịu
trả thì ký tên vào biên bản, bằng không tôi nhốt chị ở đây !
Tôi không chịu trả, họ
cho người dẫn tôi qua cơ quan công an và bảo tôi nhắn người nhà mang mùng mền,
quần áo lên ở đó, khi nào đồng ý trả hết lúa mới được về . Tôi ngồi ở đó đến
trưa thấy không có ai canh giữ , tôi lọi về nhà .
Mấy ngày sau, chủ tịch xã
gửi giấy mời tôi nữa. Nhưng tôi không lên xã mà đi ra huyện tìm hai thằng em và
kể lại sự việc cho nó nghe. Tụi nó suy nghĩ một hồi rồi nói: “- Chị cứ về đi, tụi
em sẽ can thiệp, không sao đâu” . Từ đó đến nay, mấy ông xã không mời tôi nữa.
Đối tượng thứ ba là những
người có ghe đánh cá. Anh Tám Bé, chủ tịch xã kể với chúng tôi:
- Ông Sáu Kiên ra lệnh
cho tôi : những người có ghe đi biển mà không chịu trả nợ phân bằng lúa cho lực
lượng du kích đến kéo ghe họ lên bờ .Tôi đề nghị ông phải ra lệnh bằng văn bản
và ký tên chịu trách nhiệm tôi mới dám làm , để sau này khỏi đổ tội cho nhau ,
phải ký đúng cái tên Nguyễn Trung Kiên của ông đang làm Giám đốc Sở văn hóa tôi
mới chịu. Cuối cùng ổng chịu viết lệnh bằng văn bản. Thú thật, lúc ấy cầm tờ lệnh
trên tay, tôi hơi bần thần vì thấy biện pháp này táo bạo quá, tôi dần dừ mãi
không dám thi hành . Ổng quy kết tôi có hùn hạp làm ăn với mấy chủ ghe, sợ mất
quyền lợi nên không dám ra tay. Cuối cùng để hoàn thành nhiệm vụ mà khỏi bị dân
oán ghét, tôi nhờ ông trưởng đồn biên phòng lên can thiệp .
Ông Sáu Tố ở tập đoàn 6
tâm sự với chúng tôi :
- Tôi chở bảy chục giạ
lúa đi trả mà tôi ray rức, khổ tâm đến rơi nước mắt. Không phải tôi tiếc của mà
vì tôi trả trong lúc chưa được giải oan, trong lúc mọi vấn đề chưa được làm
sáng tỏ. Hôm ấy tôi bị mời lên Ủy ban xã, chủ tịch xã và trưởng đồn biên phòng
dẫn tôi ra căn chòi nhỏ phía sau vườn. Anh trưởng đồn biên phòng nói :
- Một trong những tiêu
chuẩn để được hành nghề đánh cá là người ngư dân phải chấp hành tốt các chủ
trương, chính sách của Nhà nước. Theo báo cáo của ủy ban xã thì ở đây còn nhiều
ngư dân chưa thanh toán dứt điểm nợ phân năm 1986 với Nhà nước, trong đó có
ông. Hôm nay chúng tôi mời ông lên đây để báo cho ông biết rằng, nếu ông không
chịu chở lúa đi trả thì tôi, trưởng đồn công an biên phòng ở vùng này sẽ thu hồi
sổ đề ba, không cho ông ra biển .
Tôi thanh minh :
- Việc tôi nợ phân năm 86
là vì huyện bán cho chúng tôi bằng tiền nhưng cuối mùa đòi lúa và xảy ra cuộc
tranh chấp đến nay chưa giải quyết chớ phải tôi không chấp hành chủ trương của
Nhà nước đâu. Chúng tôi đang khiếu nại và chờ cấp trên xuống đây phân xử.
Chủ tịch xã hằn học cướp
lời tôi :
- Tôi bảo cho anh biết,
bè lũ côn đồ của tên Bảy Liên Xô sắp bị tiêu diệt hết rồi, anh đừng dựa vào
chúng mà đợi chờ, hy vọng gì nữa. Một ký phân ba ký lúa, anh trả đi! Trả để được
ra biển làm ăn.
Gương mặt ông Sáu Tố toát
lên một vẻ gì như vừa đắng cay, vừa mai mỉa :
- Thật lạ lùng và kỳ dị -
ông nói - tôi không hiểu “bè lũ của tên Bảy Liên Xô” là gì và tại sao họ gọi
như vậy. Chúng tôi, những người nông dân đồng hội đồng thuyền, đồng cam cộng khổ.
Đảng đã từng dạy chúng tôi phải biết thương yêu, đoàn kết để đấu tranh, chống sự
áp bức bất công. Thế mà bây giờ …
Bà Liễu Thị Mai , bảy
mươi tuổi , đầu cạo trọc , mặc áo cà sa lặn lội đi tìm chúng tôi trên con đê biển
dài hơn 5 cây số dưới cơn nắng cháy da để “ kể cho bớt những điều oan ức trong
lòng”. Bà nói như vậy và kể : Đảng nói lấy dân làm gốc tôi chưa thấy, chỉ thấy
số phận mình như cái gốc mắm ngoài ven biển, mặc cho gió đẩy sóng xô. Mấy ông
bán phân bằng tiền giờ lại đi đòi lúa, dân không chịu trả, mấy ổng đổ thừa tại
ông Nguyễn Văn Linh nói lấy dân làm gốc nên giờ mới sinh ra rắc rối .
Hôm rồi ông Tư Tâm đến
nhà bảo tôi ký nợ,tôi không chịu ký,tôi nói nếu đòi tiền thì tôi trả, còn đòi
lúa thì tôi không trả, ổng mắng vào mặt tôi:
- Bà giựt của nhà nước phải
không? Nếu bà không chịu trả, tôi mắc loa phóng thanh trước cửa nhà bà tôi bêu
xấu, tôi nói bà ăn giựt.
Tôi nói với ông:
- Chú đừng nói như vậy. Sở
dĩ tôi chưa chịu trả là vì tôi thấy trong vụ này có nhiều chuyện bất công chớ
ai lại đi ăn giựt cho xấu hổ. Hồi kháng chiến tôi hiến cho nhà nước mấy chục giạ
lúa, tôi có câu nệ gì đâu.
Ổng lại quát vào mặt tôi:
- Cuộc kháng chiến thành
công không phải có một mình bà đóng góp , bà đừng kể lể.
Rồi ổng bảo hai ngưòi kia
lập biên bản,nhưng biên bản lại ghi tên con tôi. Tôi phản đối:
- Các ông lập biên bản
thì cứ lập, tôi sẵn sáng ký, nhưng phải ghi tên tôi vì tôi là chủ hộ, tôi mua
phân nhà nước chớ không phải con tôi .
Ông Tư Tâm lại nói :
- Bà già cả rồi, bà có biết
gì mà ghi tên bà.
Chắc mấy ổng nghĩ tôi già
cả, tu hành, khó bắt bớ nên ghi tên con tôi để bắt nó cho dễ hơn.
Anh phóng viên đài phát
thanh nót một câu như để thử lòng bà cụ :
- Nếu như trước đây huyện
có chủ trương bán phân bằng tiền và chủ trương ấy sai lầm. Bây giờ họ nhận thiếu
sót thì bà chịu trả bằng lúa không?
- Không!
- Sao vậy, người ta lỡ
làm sai, bây giờ người ta sửa , chẳng lẽ bà không tha thứ sao?
- Không phải hẹp hòi gì
mà không tha thứ.Nhưng trước không thảo,sau thảo,bà lão không cần!
Tôi giật mình trước câu
trả lời của bà cụ.Và tôi đã nghiệm ra. Phải chăng mọi vấn đề của Long Điền Đông
A nằm quẩn quanh trong câu nói ấy.Một câu tục ngữ đầy nghĩa nhân và đạo lý.Trước
không thảo,sau thảo,bà lão không cần!
Ở đây, trước đã không thảo,
sau lại càng không thảo nên Long Điền Đông A mới sa lầy vào hang cùng không lối
thoát. Phải chăng vì cái tâm pháp bị thay bằng luật pháp và tinh thần cảnh giác
cách mạng được áp dụng cao độ đến chi phối hết những điều thuộc về đạo lý ,
nghĩa nhân .
Biện pháp thứ tư là điều
tra lý lịch, thổi phồng tội trạng của những người dính dáng với chế độ cũ trong
chiến tranh, đem ra phóng thanh, bêu xấu họ khắp xóm làng để họ hoảng sợ mà
không dám đấu tranh. Long Điền Đông A bị chìm trong không khí nặng nề, căng thẳng
bởi tiếng loa phóng thanh hằng đêm ngân dài trong thôn xóm, bêu xấu người
này,hăm dọa truy tố người kia, bươi móc quá khứ ngưòi nọ. Những con người ấy dẫu
có bịt tay cũng không chạy trốn được tiếng loa đau lòng nhức óc, khơi dậy những
vết thương mà họ đã cố hàn gắn mười mấy năm qua, dồn họ vào tận chân tường
không lối thoát. Họ là ai?
Anh Huỳnh Sũn tâm sự với
chúng tôi,giọng nghẹn ngào như muốn khóc:
- Hồi trước tôi bị bắt đi
phòng vệ dân sự hai mươi mốt ngày, sau đó chúng đưa tôi đi học khóa Liên toán
trưởng ở Chi Lăng, tôi bán hai trăm giạ lúa lấy tiền lo lót để được ở lại và khỏi
phải đi phòng vệ. Sau giải phóng, tôi làm ấp đội trưởng, bắt được mấy trận vượt
biên, nộp cho nhà nước không biết bao nhiêu vàng bạc. Vậy mà bây giờ xã báo cáo
về huyện nói tôi là tình báo CIA. Thú thật, hồi đó mặc dù tôi là phòng vệ,
nhưng ban ngày đi cuốc rẫy, làm ruộng gặp cán bộ nằm vùng của mình, tôi vẫn tâm
tình, thân mật như anh em. Còn bây giờ,kể từ ngày chị Nguyệt Anh bị bắt cóc đến
nay, tôi phải trốn, ban đêm ra đồng ngủ bờ ngủ bụi.
Ông Hai Tế kể :
- Hồi đó tôi bị tình nghi
là Việt Cộng, chúng bắt tôi ra quận, tôi phải bán hai trăm giạ lúa để lo lót.
Nhưng có một người quen làm việc ngoài quận bảo tôi : “Ông đút tiền cho thằng
này thì mai mốt thằng khác cũng bắt ông, thay vì ông đưa số tiền ấy cho tôi,
tôi lo cho ông cái giấy chứng nhận mật thám, có gì ông trình ra, bảo đảm hơn”.
Tôi về bàn bạc với cơ sở trong này, mấy ổng đồng ý, tôi mang tiền đi lo, khi lấy
được cái giấy, tôi cũng mang về trình cho mấy ổng . Vậy mà bây giờ mấy ổng quy
kết tôi là mật thám ngụy, lại bươi móc cả chuyện ông già tôi hồi trước làm tay
sai cho Pháp. Chỉ có cái chuyện tôi không chịu trả nợ phân bằng lúa mà sinh sự
ra như vậy. Vợ tôi là hội trưởng phụ nữ ấp, cũng bị bắt lên xã nhốt một đêm, đến
khi bà con kéo lên đấu tranh mấy ổng mới thả về .
Một thanh niên ngoài hai
mươi tuổi, cầm chiếc loa tay đi đọc đài trong xóm để bêu xấu người già với những
lời văn cẩu thả và thô thiển : “ Mời đồng bào nghe chúng tôi thông báo về hành
động của hai tên Nguyễn Thị Bảy ( tức vợ Bảy Vớt ) và Nguyễn Thị Tư ( tức Sáu
Nhành): hai tên này trước đây là gia đình ngụy quân, theo Mỹ, nay tiếp tục chống
đối chủ trương Nhà nước, không chịu trả nợ phân bằng lúa, cương quyết đòi trả
phân bằng tiền, lại lén lút vận động người khác chống đối. Nếu như hai bà không
chịu thanh toán dứt điểm nơ vật tư năm 1986 và tiếp tục lén lút, vận động người
khác chống đối chủ trương, sẽ bị đem ra xét xử theo pháp luật hiện hình của nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam!”
Trong những cuốn băng ghi
âm của anh Sáu Kiên mà chúng tôi còn giữ lại cũng có một bài phóng thanh tương
tự như the, nghĩa là bà Sáu Nhành và bà Bảy Vót bị trấn áp bằng cả loa phóng
thanh lẫn với loa tay .
Sự trấn áp bằng máy phóng
thanh không chỉ dành riêng cho những gia đình “ ngụy quân, theo Mỹ” mà cả những
gia đình cách mạng chí cốt tiêu biểu nhất trong cái làng này. Anh Hồ Duyên Hải,
trung úy quân đội nhân dân, thương binh loại 2/4 được giải ngũ về làm tập đoàn
trưởng tập đoàn tám ấp Bửu Đông, cha anh là Trung tá tỉnh đội phó tỉnh Minh hải
đã từ trần sau giải phóng. Cũng như bao nhiêu người khác, anh đại diện cho tập
đoàn đi mua mười một tấn phân, lúc ấy công ty vật tư nông nghiệp huyện cũng nói
với anh phân này bán bằng tiền, anh về chia cho bà con và cũng phổ biến như vậy,
nay huyện đòi trả bằng lúa, không ai chịu trả trong lúc anh đang khiếu nại chưa
được giải quyết thì công ty vật tư nông nghiệp huyện lại phát đơn đề nghị khởi
tố anh ra tòa. Suốt mấy đêm liền, loa phóng thanh phát vang trong xóm, đọc đơn
đề nghị khởi tố và mời anh Hải ra huyện thanh toán nợ vật tư. Bài phóng thanh ấy
chúng tôi vẫn còn giữ lại.
Kính gởi: Ủy Ban nhân dân
tỉnh Minh Hải, Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải , Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Minh
Hải, Sở Tư pháp Minh Hải, Công an tỉnh Minh Hải, Hội đồng trọng tài kinh tế tỉnh
Minh Hải, Ủy Ban nhân dân huyện Giá Rai, Tòa án nhân dân huyện Giá Rai,Viện kiểm
sát nhân dân huyện Giá Rai, phòng Tư pháp huyện Giá Rai, Công an huyện Giá Rai
và hội đồng trọng tài kinh tế huyện Giá Rai.
Nay công ty vật tư nông
nghiệp huyện Giá Rai đề nghị khởi tố về việc như sau :
Tháng 1 năm 1986, ông Hồ
Duyên Hải là tập đoàn trưởng tập đoàn 8 ấp Bửu Đông, xã Long Điền Đông A, đại
diện cho tập đoàn làm hợp đồng với công ty vật tư nông nghiệp huyện, tạm ứng
11.500 kg phân urê, quy ra bằng 34.500 kg lúa. Đến nay ông Hải vẫn chưa trả lúa
cho nhà nước mà đòi trả bằng tiền mỗi ký năm đồng.
Nay chúng tôi làm đơn này
đề nghị các cơ quan pháp chế nhà nước đưa ông Hồ Duyên Hải ra xét xử trước Tòa
án nhân dân.
Anh Hải buồn rầu than vãn
với chúng tôi:
- Cũng cái chuyện lúa
phân này mà gia đình tôi điêu đứng. Tôi thì nhức óc đau lòng với cái loa phóng
thanh của ông Sáu Kiên, má tôi cũng bị ổng lôi ra bêu riếu rằng bà bây giờ hư hỏng,
tối ngày lo bán đất, đánh bài, không trả nợ phân. Thử hỏi má tôi già cả rồi, những
lúc nhàn rỗi đi đánh bài tứ sắc với mấy bà già để giải trí thì tội tình gì. Còn
ba tôi, chết rồi cũng không yên, cũng bị mấy ổng lôi ra nói xấu rằng hồi còn sống
ông ngoại tình với bà này bà nọ.
Lúa, phân, tiền. Sự kiện ấy
bây giờ chỉ còn là cái cớ để xô đẩy con người vào vòng xáo trộn với bao nhiêu sự
phiền toái, trong lúc họ đang cần chén cơm, manh áo và những nhu cầu tối thiểu
của đời sống tinh thần.
VỤ ÁN NGUYỄN THỊ NGUYỆT
ANH VÀ GIA ĐÌNH BÀ BẢY VÓT - KHÚC BI ĐÁT TRONG TẤN THẢM KỊCH DÀI
Bà Bảy Vót nợ sáu trăm ký
phân, giờ nếu quy ra lúa thì bà mắc nợ một ngàn tám trăm ký lúa. Cũng vì cuộc
tranh chấp này mà bà đã bị loa phóng thanh bêu xấu khắp xóm làng, và người con
gái thứ hai của bà ,chị Nguyễn Thị Nguyệt Anh, một người đi đầu trong cuộc đấu
tranh này đã bị Công an huyện bắt cóc nữa đêm.
Sự việc ấy được Trần Minh
Mẫn, kế toán của trạm thu mua hải sản, thuộc Liên hiệp xí nghiệp thủy sản Gành
Hào , là con rễ của chị Nguyệt Anh kể lại như sau :
- Đêm 12 tháng 2/88, tức
đêm 23 tết, tôi đang ngủ tại nhà mẹ vợ tôi. Khoảng 12 giờ đêm, tôi giật mình
nghe tiếng cạy cửa sột soạt, rồi tiếng cắt dây gài cửa. Tưởng kẻ trộm vào nhà ,
tôi la lớn:
- Ai?
Một người công an bước
vào, tôi nhận ra là anh Thành, trinh sát kỹ thuật của Công an huyện thường lui
tới trạm thu mua và quen biết với tôi. Thành nói :
- Mẫn bình tĩnh, không có
việc gì đâu em!
Mẹ tôi từ trong mùng bước
ra hỏi :
- Chuyện gì vậy cậu?
Thành vừa trả lời vừa ra
lệnh:
- Có lệnh bắt chị. Các đồng
chí thi hành !
Ba người công an từ ngoài
cửa nhào vô, hai người xốc nách, một người hốt chân mẹ tôi khiêng đi. Ra khỏi cửa,
mẹ tôi nói:
- Các cậu cho tôi lấy quần
áo theo.
Tôi nghe Thành ra lệnh:
- Bóp cổ lại!
Mẹ tôi không nói thêm được
tiếng nào, họ khiêng xuống võ lãi rồi nổ máy chở đi. Thấy một tốp công an còn đứng
quanh nhà, tôi nói:
- Các anh bắt người kiểu
này, lở tôi tưởng ăn trộm, tôi đâm chết thì sao?
Vợ tôi nhào ra khóc lóc
thì liền sau đó, tiếng loa phóng thanh phát lên vang dội: “Thi hành lệnh của Viện
kiểm sát, Công an huyện Giá Rai đã bắt tên Nguyễn Thị Nguyệt Anh. Đề nghị đồng
bào hãy bình tĩnh và trật tự, ai ở nhà nấy, không được đi lại, không được can
gián vào vụ án Nguyễn Thị Nguyệt Anh. Nếu ai cố tình vi phạm sẽ bị trừng trị
theo pháp luật Nhà nước”.
Ba ngày sau, anh trưởng
phòng tổ chức của Liên hiệp Xí nghiệp mời tôi về cho tôi biết là tôi bị đình chỉ
công tác. Tôi hỏi lý do, ảnh nói rằng đây là lệnh của Ban Giám đốc, ảnh chỉ biết
đại khái rằng tôi có liên can đến vụ án của mẹ vợ tôi. Đến ngày 31 tháng 3, Ban
Giám đốc ra quyết định chính thức buộc tôi thôi việc, ghi rõ lý do: “Hành động
chống đối địa phương, bao che cho Nguyễn Thị Nguyệt Anh vi phạm chính trị”.
Tôi nghĩ rằng đây là sự
đàn áp thô bạo, họ làm vậy là để tôi hoảng sợ mà không dám đấu tranh. Nếu thật
sự tôi đã can dự vào vụ án chính trị như đã ghi trong quyết định thì tôi đã vào
tù chớ đâu chỉ bị buộc thôi việc .
Chị Nguyệt Anh bị giam biệt
tích, gia đình không được thăm nuôi. Bà bảy Vót cùng với một số bà con trong
xóm kéo nhau ra huyện. Công an huyện trả lời rằng họ đã giải về công an tỉnh, họ
lại kéo nhau lên tỉnh. Công an tỉnh không biết, họ lên Viện kiểm sát tỉnh, Viện
kiểm sát cũng không biết, họ qua trụ sở tiếp dân của Hội đồng nhân dân tỉnh, Hội
đồng nhân dân viết giấy giới thiệu cho họ về Công an huyện, đề nghị Công an huyện
trả lời. Cuối cùng Công an huyện cho biết là họ đã “gửi” chị Nguyệt Anh về trại
giam của tỉnh. Bà Bảy Vót lại lên Công an tỉnh nhờ ông phó Giám đốc giới thiệu
cho gia đình đi thăm. Bà đến trại giam cũng không được vào thăm,người ta nói chị
Nguyệt Anh còn trong thời gian điều tra, chưa hoàn thành hồ sơ vụ án.
Những ngày tháng ấy, gia
đình bà Bảy Vót sầu thảm như một đám tang. Suốt ngày, bà cứ lẩn quẩn như một
người loạn trí. Mỗi lần chiếc loa phóng thanh phát ra đọc đến tên bà thì bà lại
lấy tờ giấy báo công ra xem như muốn thanh minh rằng gia đình bà không phải là
“ngụy quân, theo Mỹ”, nhưng bà thanh minh được với ai ? Chính quyền xã cho rằng
đó là tờ giấy giả .
Một hôm, có một người đàn
bà lạ tìm gặp chúng tôi, chị nói :
- Ông Bảy Đại ở bên xã
Long Điền Đông C muốn gặp cậu nhưng ông đau nặng không đi được . Ông nhờ tôi
tìm gặp mấy cậu nói rằng nếu mấy cậu là người có tấm lòng nhân ái thì chịu khó
đến nhà ông làm nhân chứng cho ổng nói đôi điều trước máy ghi âm của mấy cậu rồi
ông có chết ổng cũng vui .
Trưa hôm sau, trời nắng
như lửa đốt, chúng tôi lội bộ hơn mười cây số qua xã C tìm đến nhà ông Bảy Đại
thì con ông cho biết rằng ông đang hấp hối, Ủy ban xã vừa chở ông ra bệnh viện
Giá Rai. Chúng tôi vội vã đón xe Honda ôm về huyện.
Ông Bảy đang nằm trên giường
bệnh, người chỉ còn như một bộ xương được bọc lớp da, cặp mắt trắng dờ và trũng
rất sâu trông đáng sợ. Ổng thở từng hơi nặng nhọc và thỉnh thoảng cất lên những
tiếng ho khan.
Trong không khí ồn ào người
bệnh lẫn người nuôi ,lớp nằm, lớp ngồi trên những chiếc giường ken nhau dày đặc.
Nhưng không còn cách nào khác trước một con người đang hấp hối muốn để lại lời
trăn trối sau cùng, chúng tôi phải mang máy móc ra làm việc trong một điều kiện
hết sức oái oăm .
- Ở đời phải có nhân, có
đức, có trước có sau các cháu ạ. Đừng bao giờ vắt chanh bỏ vỏ, nhất là đối với
nông dân. Người nông dân, dù không tham gia kháng chiến, họ cũng có công làm ra
hạt lúa nuôi ta. Khắt khe, ti tiện, toan tính thiệt hơn với họ là có tội. Bác
thấy người nông dân bây giờ bị phản bội nhiều quá, có những sự phản bội tàn nhẫn
đến đau lòng .
Hồi xưa bác làm xã đội
trưởng Long Điền Đông, cái xã hồi ấy rộng mênh mông chớ không phải chia năm xẻ
bảy như bay giờ. Gia đình bà Bảy Vót hồi đó nuôi chứa cán bộ không thể tính bằng
lúa tạ lúa thiên. Bà nuôi còn chu đáo hơn cái bếp ăn tập thể bây giờ, bởi cái bếp
ăn bây giờ còn có khẩu phần, có giờ giấc, phải đóng gạo, đóng tiền ăn . Bà bảy
Vót hồi đó nuôi mình đâu cần thứ đó. Thằng Phước, con trai bà hồi đó đi giữ
trâu bị bắt lính. Hai vợ chồng bà bán lúa chạy lo, bác không cho, bác bàn với
bà cứ để cho nó đi rồi mình móc nối, để nó gửi vũ khí về cho mình đánh giặc. Bà
đồng ý cho nó đi, và cũng chính bà đứng ra móc nối và mang súng đạn về giao cho
bác. Mỗi lần như vậy bác đều báo cáo với xã ủy chớ đâu phải không, vậy mà bây
giờ họ nở đối xử với người ta như vậy .
Còn con Nguyệt Anh hồi đó
nó luôn dẫn đầu các cuộc biểu tình đấu tranh trực diện. Mỗi lần biểu tình mà
không có nó là người ta không dám đi. Nó bị bắt bớ, đánh đập đến tàn phế, mang
bệnh hậu cho đến bây giờ. Lẽ ra nó phải được hưởng chế độ thương binh, đằng này
lại bị vu khống đủ thứ chuyện xấu xa, và cuối cùng bị bắt giam cũng chỉ vì cái
máu đấu tranh của nó .
Mấy tháng qua, đứng trước
cảnh khổ của gia đình bà Bảy Vót bị người ta đối xử tàn tệ như vậy, bác không
can thiệp được, phần vì bệnh hoạn, phần vì bất lực khi mình đã về hưu, làm dân ở
một xã khác, cái giấy xác nhận của bác họ còn cho là giấy giả thì qua đó nói ai
nghe. Bác cắn rứt lương tâm mà không biết làm gì. Nghe nói có mấy cháu là nhà
báo vô đó để tìm sự thật, bác cũng muốn gặp các cháu để nói lên một sự thật
đang bị ruồng rẫy, đang bị bôi nhọ một cách nhẫn tâm.Các cháu đã không phụ lòng
bác mà lặn lội đến đây, bác cảm ơn các cháu. Bây giờ có nhắm mắt xuôi tay,bác
cũng nhẹ nhàng…
Không biết từ lúc nào, cả
phòng bệnh im phăng phắc. Có những bệnh nhân đang nằm cũng gắng ngồi dậy lắng
nghe. Tất nhiên, họ không thể hiểu hết những điều ông Bảy Đại vừa nói. Nhưng ít
ra, họ cũng hiểu được rằng, công việc của chúng tôi bày ra ở đây không có gì lạ
lùng, quái gở như họ ngạc nhiên ngay từ lúc ban đầu, và cũng không làm cho họ
phải khó chịu như tôi đã nghĩ.
Khi ngồi chép lại những
dòng này qua chiếc máy ghi âm với lời kể đứt quảng từng đoạn bởi tiếng ho của
ông bảy Đại, tôi liên tưởng đến hình hài da bọc xương và đôi mắt đờ đục trũng
sâu của ông, tôi không tin rằng ông còn sống nữa .
Tôi không có ý thanh minh
cho bà Bảy Vót - điều đó chỉ là trò cười mai mỉa đối với những người trực tiếp
hoặc gián làm chủ chiếc loa phóng thanh ở Long Điền Đông A - Tôi chỉ cố gắng
làm thỏa mãn niềm khát khao được nói lên sự thật của ông Bảy Đại, để khi ông từ
giả cõi đòi này khỏi mang theo những điều ngang trái .
CÒN LẠI GÌ Ở LONG ĐIỀN
ĐÔNG A ?
Sau vụ bắt cóc chị Nguyệt
Anh cùng với sự trấn áp bằng các phương tiện thông tin đại chúng, những người
chống đối mạnh trong việc trả nợ phân bằng lúa như bị đồn đến tận chân tường. Họ
vừa cảnh giác sợ bị bắt cóc ban đêm, vừa ngấm ngầm tử thủ. Ban đêm, họ bỏ nhà
kéo nhau đi ngủ bờ ngủ bụi và thủ sẵn dao găm, dao mác và thuốc độc trong người.
Họ sẽ dùng dao chống lại và uống thuốc tự tử, chớ không để bị bắt.
Mặc dù công an chìm đang
bủa vây ở Long Điền Đông A để truy tìm bàn tay kẻ địch nhưng hầu như họ không
phát hiện ra điều đó. Công an thì đi theo dõi coi ai là kẻ địch, ngược lại, quần
chúng thì theo dõi coi ai là công an. Họ sống trong cảnh phập phồng lo sợ không
biết mình sẽ bị bắt cóc giờ nào. Cứ thế, sự đối kháng giữa quần chúng với chính
quyền càng ngày càng căng thẳng. Các nhà lãnh đạo ở đây nghĩ rằng chỉ có bắt
giam ông Bảy Liên Xô thì Long Điền Đông A mới thu được nợ và mọi chuyện sẽ êm
xuôi. Nhưng đã lỡ thua một lần, bây giờ không dám bắt khi chưa hoàn chỉnh hồ sơ
để kết tội rõ ràng. Nhưng không bắt thì để đó như một cái gai nhọn. Cho nên một
mặt họ rình rập đợi chờ ông bảy Liên Xô trở thành tội phạm, một mặt họ tố cáo
ông về Bộ Nội Vụ . Bộ Nội Vụ giao về cho Công an tỉnh .
Một chồng hồ sơ về ông bảy
Liên Xô dày cộm, nhưng tội trạng thì không biết tội gì: “Tên Trần Văn Hai, tức
Bảy Liên Xô, nguyên là đại úy quân đội nhân dân Việt Nam. Sinh năm 1931, tại ấp
Lập Điền, xã Long Điền Tây ,huyện Giá Rai, tỉnh Minh Hải.Tham gia cách mạng
ngày 19 tháng 1 năm 1950, vào Đảng ngày 31 tháng 6 năm 1956. Năm 1954, tập kết
ra Bắc, năm 1962 vượt Trường Sơn vào Nam, công tác trong đoàn vận tải tại miền
Đông Nam Bộ. Sau giải phóng, chuyển về quân khu 8. Năm 1976, hai quân khu Đồng
Láng sát nhập, Trần Văn Hai về công tác tại Cục hậu cần Quân khu 9. Ngày 14
tháng 4 năm 1977, hắn chống lệnh điều động sang biên giới Tây Nam của Quân khu
9 và đào ngũ về sống bất hợp pháp ở Long Điền Đông A, tàng trữ vũ khí trái
phép, không chấp hành chủ trương chính sách của Nhà nước, cụ thể là không đóng
thuế nông nghiệp và lợi dụng sơ hở của nhà nước trong thủ tục hợp đồng ứng trước
vật tư nông nghiệp năm 86, hắn vận động quần chúng chống lại chính quyền địa
phương trong việc thu nợ phân…”
Đối chiếu với luật hình sự,
ông Bảy Liên Xô không vi phạm vào điều khoản nào để có đủ yếu tố bắt giam.
Thật ra, sau này khi làm
việc với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, tôi mới hiểu ra điều đó. Còn những ngày sống
ở Long Điền Đông A, những nguồn tin về cuộc chuẩn bị vây bắt ông Bảy Liên Xô cứ
đến dồn đập trong nội bộ các nhà chức trách. Có người thì nói rằng Bộ Nội Vụ bắt,
có người lại nói rằng quân khu 9 bắt. Người ta nhận định rằng quân khu 9 bắt sẽ
hợp lý hơn vì ông Bảy Liên Xô nguyên là sĩ quan của Cục Hậu Cần quân khu 9. Vả
lại, nếu quân khu 9 bắt ông Bảy Liên Xô thì quần chúng sẽ không có lý do nào để
đỗ lỗi cho chính quyền địa phương . Đó là một hiểm kế để tránh được cuộc đấu
tranh có thể xảy ra như lần trước.
Không khí ở Long Điền
Đông A vào những ngày ấy thật nặng nề khủng khiếp. Nỗi hoang mang ,bất bình,
cay đắng cứ ẩn hiện trong ánh mắt của mỗi con người. Đoàn cán bộ huy động lương
thực của anh Sáu Kiên thì rút về một điểm, giữ tư thế im lặng để đợi chờ một điều
gì đó.
Tờ công lệnh của chúng
tôi đã hết ngày đi nhưng không thể nào về được, cứ phập phồng linh cảm một cuộc
đổ máu xảy ra trên mảnh đất này, nếu ông Bảy Liên Xô bị bắt.
Ngồi quanh chiếc bàn
vuông trong căn chòi nhỏ sau vườn, anh Chủ tịch xã trầm ngâm như muốn giữ bí mật
khi chúng tôi hỏi về thực trạng Long Điền Đông A .
- Vấn đề Long Điền Đông A
hiện nay không loại trừ bàn tay kẻ địch núp sau lưng tên Bảy Liên Xô. Tỉnh đang
tăng cường lực lượng trinh sát xuống đây hoạt động nhưng kết quả như thế nào
thì chúng tôi không thể báo cho các anh biết được !
Anh phóng viên đài phát
thanh nói:
- Dĩ nhiên đó là nguyên tắc.
Nhưng ngoài những vấn đề thuộc về nghiệp vụ an ninh, anh có thể cho chúng tôi
biết hướng giải quyết của các anh như thế nào trước sự bế tắc của Long Điền
Đông A, đặc biệt là vấn đề nợ phân năm 86 đang tranh chấp.
Anh Chủ tịch xã lại ngập
ngừng:
- Muốn giải quyết được vấn
đề này, theo đánh giá của Đoàn chỉ đạo huy động lương thực thì chỉ có bắt tên Bảy
Liên Xô để quần chúng họ không còn chỗ dựa mà chống lại ta nữa. Và theo tôi được
biết thì mình sẽ bắt, bắt trong nay mai , nhưng không phải mình bắt mà Quân khu
bắt .
Chúng tôi bàn bạc với
nhau và đi đến một quyết định: đến ở tại nhà ông Bảy Liên Xô để làm nhân chứng
cho đến giờ phút cuối cùng. Nếu có lỡ bị trúng nhằm dao của thân tộc ông Bảy
Liên Xô hoặc đạn lạc của quân khu thì trong bốn đứa tôi, ít ra cũng còn một đưa
sống sót. Bằng mọi cách chúng tôi sẽ cố gắng để lại vài bức ảnh hay một đoạn
băng ghi âm về trận xung đột này .
Có lẽ những ngày sống ở
Long Điền Đông A , đó là đêm hệ thần kinh của tôi căng thẳng nhất, đêm của sự
chờ đợi cái tai họa trút xuống ngay căn nhà này - căn nhà ông Bảy Liên Xô - chắc
là khiếp đảm hơn trận xô xát hồi cuối năm 86 . Liệu có nên báo cho ông biết rằng
ông sắp bị bắt hay không? Tôi cứ dày vò,cắn rứt, cứ hồi hộp, xốn xang. Trái tim
thì bảo nói đi, đừng che dấu. Nhưng cái đầu thì bảo không, anh đừng quên rằng
anh là một nhà báo, là công cụ của Đảng, đừng để mất lập trường giai cấp. Tôi dừng
lại và nghiền ngẫm hai chữ giai cấp đến nát nhừ rồi nhìn vợ chồng ông Bảy Liên
Xô mà nghe đầy mâu thuẫn. Chợt câu danh ngôn của một triết gia nào đó len đến
nhắc nhở tôi: “ Người ta thường ân hận khi đã nói hơn là khi chưa nói” . Vậy là
tôi có cớ để lý giải cho sự im lặng của mình .
Khoảng hơn bảy giờ tối
thì Chín Cửu, Bảy Nguyên, Hai Hiệp và Tư Sương- anh con trai duy nhứt còn sống
sót của bà Hai Giáp – cũng đến. Bảy Nguyên- Tư Sương là cháu bà Bảy Liên Xô,
Chín Cửu là em ruột, họ là những người được chính quyền xem là cánh du côn do
ông Bảy Liên Xô tập họp .
Ông Bảy Liên Xô dù không
biết uống rượu nhưng cũng lật đật đốt đèn ra ao chài cá me lên nấu canh chua
rau nhúc và mua chai rượu đế về đãi chúng tôi ,bà Bảy thì ngồi say sưa kể chuyện,
bà kể như chưa bao giờ được kể với ai về cuộc đời riêng. Cuộc đời ấy bắt đầu từ
năm mười chín tuổi , một người con gái chỉ còn hai ngày nữa mặc áo cô dâu, đã
trốn vô rừng mặc áo lục quân làm du kích. Cuộc đời ấy, cuộc đời của vị chỉ huy
đội quân tóc dài một thời lừng lẩy. Cuộc đời ấy , cuộc đời của một người vợ để
tang chồng trong lúc mới mang thai. Cuộc đời ấy, cuộc đời của một người mẹ tự đỡ
đẻ sinh con trong bụi cây rồi lấp đi vết máu và ẵm con xuống hầm bí mật trong một
trận càn. Cuộc đời ấy, cuộc đời của một người tù bị tra tấn dã man và trải qua
những cơn điên loạn, và cuộc đời ấy …
Bà Bảy Liên Xô không cầm
được nước mắt khi xắn tay áo lên cho chúng tôi xem vết thẹo bị trói bằng dây
gân bứt hai vòng da trên hai cánh tay hơn một năm qua vẫn còn nổi vồng lên dày
cộm. Nhưng bà cô giấu đi không dám kể lại chuyện bị lôi kéo tuột hết áo quần.
Khoảng mười giờ đêm, khi
những người khách ra về thì vợ chồng ông Bảy Liên Xô cũng bỏ nhà đi ngủ nơi
khác. Ông dặn chúng tôi :
- Sáng mai, nhà ông già vợ
tôi làm heo cúng miễu, khoảng chín giờ, mấy cậu lên chơi .
Sáng hôm sau, tôi còn
đang mơ màng chợt tỉnh thì nghe có tiếng đối thoại sau hè :
- Có ba cháu ở nhà không
?
- Dạ không .
- Cháu đi tìm ba cháu về
nói có chú ở Quân khu 9 xuống đây làm việc với ba cháu .
Tôi giật mình tốc mùng dậy
thì thấy một người mặc quân phục đội nón cối bước vào. Nhưng lạ quá, tưởng ai lại
là anh Hoàng Thêm, hội viên Hội nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam, phó Ban biên tập tờ
đặc san Đất Mũi của Sở Văn hóa Thông tin ? Rồi cũng không cần suy nghĩ, tôi hiểu
ngay ra đây là diễn viên của nhà đạo diễn Sáu Kiên. Người thứ hai bước vào mang
quân hàm Trung tá .
Có lẽ cả Sáu Kiên lẫn anh
Hoàng Thêm đều không ngờ rằng chúng tôi “kích” sẵn ở đây. Song , vì sự tôn trọng
tối thiểu với nhau, vả lại việc ai nấy làm nên chúng tôi cố gắng không biểu lộ
điều gì cho anh đỡ sượng và giữ gìn bí mật cho anh đóng trọn vai tuồng. Thấy
chúng tôi quen với anh Hoàng Thêm, ông Trung tá có vẻ lo ngại, vừa tỏ ra khó chịu
trước sự có mặt của chúng tôi .
Chừng năm phút sau, anh
Hai Hiệp đến. Hai Hiệp vẫn sử dụng bài bản y như lần đầu anh tiếp chúng tôi :
- Chú tìm dượng Năm tôi
có việc gì ?
Và, trước thái độ của Hai
Hiệp, ông trung tá cũng ngập ngừng như tôi lần trước:
- Dạ, tôi ở phòng cán bộ
quân khu 9, muốn gặp anh Bảy Liên Xô để … ông lại ngập ngừng - để làm việc. Vì ảnh
bỏ ngũ lâu quá rồi. Quân khu muốn mời ảnh về để hỏi thăm hoàn cảnh cuộc sống và
giải quyết chính sách. Tiện đó quân khu cũng muốn biết thêm về những mâu thuẫn
giữa ảnh với chính quyền địa phương.
Hai Hiệp nói như ra lệnh:
- Chú viết cho mấy chữ đi
. Chú tên họ, địa chỉ và nội dung cần gặp, tôi mang đến ông, nếu đồng ý gặp thì
ổng về.
Ông trung tá giật mình trố
mắt nhìn Hai Hiệp. Nhưng rồi ông cũng mở cặp lấy giấy viết ra ghi .
Trong thời gian chờ đợi
Hai Hiệp, tôi đứng ra làm chủ nhà đi nấu nước pha trà và làm quen với ông trung
tá. Đó là ông Bảy Lương, trưởng phòng tổ chức cán bộ quân khu. Giữa ông và ông
Bảy liên Xô chưa hề quen biết nhau, vì ông Bảy Liên Xô về quân khu 9 chưa được
bao lâu thì bỏ ngũ, bấy giờ ông Bảy Lương cũng chưa phải là Trung tá trưởng
phòng cán bộ như bây giờ .
Chúng tôi uống chưa hết
bình trà thì Hai Hiệp trở về. Anh thông báo:
- Bữa nay nhà nội tôi
cúng miễu, dượng Năm tôi mời chú lên dùng cơm và làm việc luôn.
Hai Hiệp đạp xe đi trước,
chúng tôi kéo theo sau.
Nhà ông Bảy Vịnh hôm ấy
như ngày hội của thân tộc. Con cháu ông ở các nơi tụ tập về đông đủ và khi được
tin Quân khu xuống bắt ông Bảy Liên Xô, làng xóm xôn xao kéo đến, họ phập phồng
chờ đợi, và những người đàn ông trong thân tộc ấy đang chuẩn bị cái gì, ai biết
được ?
Sau khi cúng kiến, tiệc
tùng ăn uống xong, cũng không ai chịu về .
Ông Bảy Lương mở đề công
việc với mấy lời mào đầu ngắn gọn :
- Tôi được Quân khu phân
công mang thư xuống đây mời anh về làm việc. Thật ra thì từ ngày anh về địa
phương đến nay, Quân khu cũng không biết đời sống anh ra sao , chỉ có gần đây,
chúng tôi được nghe địa phương và viện kiểm sát tối cao thông báo về những mâu
thuẫn giữa anh với chính quyền địa phương. Cho nên Quân khu muốn mời anh về để
nghe anh báo cáo. Trước là để làm lại các thủ tục để giải quyết chế độ, chính
sách quân đội cho anh, đồng thời Quân khu cũng muốn hiểu rõ hơn về những mâu
thuẫn giữa anh với chính quyền để cùng nhau tìm cách giải quyết cho êm đẹp.
Ông Bảy Lương trao thư mời
cho ông Bảy Liên Xô .
Ngày 3 tháng 4 năm 1988
Kính gửi : Đ/c Trần Văn
Hai ( Bảy Liên Xô )
Cục Chính trị Quân khu 9
được chính quyền địa phương và Viện Kiểm sát tối cao thông báo về mối quan hệ
giữa gia đình đồng chí với chính quyền địa phương có những sự việc chưa thống
nhất.
Cục Chính trị chúng tôi
được biết đồng chí đã về địa phương giải quyết công việc gia đình từ tháng 4
năm 1977 .
Vì là cán bộ quân đội và
để biết sự thật đầu đuôi mối quan hệ đó thế nào.Cục Chính trị xin mời đồng chí
về Cục để tường trình, cùng đánh giá phân tích sự việc để góp phần giải quyết vấn
đề có cơ sở vững chắc.
Mong đồng chí sắp xếp
công việc gia đình, có mặt tại nhà khách Quân khu, ( T80) đường Lộ Tẻ, phường
An Thới, thành phố Cần Thơ vào ngày 9-4-88. Chúc đồng chí và gia đình mạnh khỏe.
Thân ái !
KT. Chủ nhiệm Cục Chính
trị Quân khu 9
Phó Chủ nhiệm : Đại tá Trần
Anh Đông
Đọc xong lá thư, ông Bảy
Liên Xô vừa mỉa mai, vừa tức giận:
- Các anh định bắt khéo
tôi chớ gì. Tôi biết quá mà, tỉnh này quy kết tôi cầm đầu nhân dân ở đây chống
chủ trương nhà nước, muốn bắt tôi nhưng không dám bắt vì biết rằng tôi là người
vô tội nên nhờ các anh bắt tôi về giam lỏng ở nhà khách quân khu cho mấy ổng dễ
dàng hoành hành dân chúng. Nhưng Quân khu đâu còn trách nhiệm gì với tôi nữa mà
mời. Tôi bỏ ngũ mười một năm nay rồi, tôi đã là công dân của xã này rồi, còn
dính líu gì với Quân khu nữa đâu. Sau lần bị bắt năm 86, tôi có lên gặp Cục trưởng
Cục hậu cần hỏi rằng nếu như bây giờ tôi sống ở địa phương không được thì Cục hậu
cần có cho tôi trở lại không ? Ông đã trả lời dứt khoát rằng Cục hậu cần không
còn trách nhiệm với tôi nữa. Không ai có thể chấp nhận sự trở lại của một sĩ
quan đã đào ngũ mười năm. Vậy thì bây giờ anh nói mời tôi về để giải quyết
chính sách là giải quyết cái gì ? Tại sao mười một năm qua các anh bỏ rơi tôi rồi
bây giờ lại mời về giải quyết chính sách ngay lúc này. Ngay lúc cuộc đấu tranh
của chúng tôi với chính quyền địa phương chưa ngã ngũ. Lại càng phi lý hơn khi
các anh mời tôi về để giải quyết mâu thuẫn giữa tôi với chính quyền địa phương
. Bởi tôi đâu còn là người của Quân khu mà các anh tham gia giải quyết. Giã sử
như trong cuộc tranh chấp lúa, phân tiền này tôi đúng thì quân khu có đứng ra
bênh vực tôi được không ?
Và nếu tôi sai thì quân
khu sẽ xử lý tôi hay chính quyền địa phương xử lý tôi theo luật pháp nhà nước ?
Anh trả lời đi ! Anh trả lời không được thì anh mời tôi về trển có ý nghĩa gì ?
- Tôi chỉ đến đây với tư
cách là người liên lạc thôi anh Bảy ạ, còn đi hay không đó là quyền của anh.
Nhưng theo tôi thì anh nên đi để sau này có chuyện gì khỏi phải ân hận .
- Tôi không đi và cũng
không có gì phải ân hận. Anh về nói lại với Quân khu rằng tôi cảm ơn sự quan
tâm của quân khu, không phải tôi không đi là vì tôi phụ lòng các anh đâu. Khi
nào mọi chuyện ổn rồi tôi sẽ lên thăm các anh để nối lại tình xưa nghĩa cũ của
những đời lính với nhau. Còn bây giờ thì tôi không thể đi được vì cuộc đấu
tranh ở đây chưa ngả ngũ, dòng họ, thân tộc, bà con chòm xóm chúng tôi đang bị
chính quyền ức hiếp, tôi đã khiếu nại lên tới Trung ương nhưng chưa được giải
quyết và những ngày này chúng tôi đang chờ đợi sự công bằng. Nhưng nếu cuối
cùng chúng tôi bị xử ép thì có lẽ xứ này sẽ xảy ra trận đổ máu như cánh đồng Nọc
Nạn ngày xưa .
Ông Bảy Lương bắt tay vợ
chồng Ông Bảy Liên Xô rồi từ giã ra về. Tôi thấy ông Bảy Liên Xô bước vào cánh
cửa phía trong, vén vạt áo sau lưng rút ra con dao, dắt vào kẹt vách. Cả nhà thở
phào nhẹ nhõm.
Buổi trưa hôm ấy, chúng
tôi đến nhà ông Sáu Xum, trụ sở dã chiến của đoàn chỉ đạo huy động lương thực.
Vị Giám đốc Sở Văn hóa thông tin đang mặc quần cụt, ở trần, đeo kiếng mát ngồi
trên chiếc võng bắc ngang bộ ván để nói chuyện với một số cán bộ về chiến tranh
phá hoại nhiều mặt của địch và tình hình phân hóa giai cấp ở Long Điền Đông A
hiện nay .
Chúng tôi vừa bước vào,
ông cười hỏi :
- Sao, đêm qua tụi bây ngủ
nhà Bảy Liên Xô, nghe vợ nó khóc, tụi bây cảm động lắm phải không ? Cũng chưa
đã lắm đâu, tụi bây cứ đi tìm hiểu tiếp tục đi rồi sẽ thấy, xung quanh cái chuyện
phân, tiền, lúa này mà bao nhiêu gia đình chia rẻ, dòng họ phân tán, xung đột,
thù ghét lẫn nhau, lý thú chưa từng thấy. Một thiên tiểu thuyết đó, tụi bây tha
hồ viết .
Tôi giật mình và tự hỏi:
Cái sự dao động bên ngực trái của anh là cái gì ? Có còn là một trái tim?
Ông Bảy Lương quay sang
nói với chúng tôi :
- Mấy cậu nhớ dùm nghe, hồi
này thằng Bảy Liên Xô nó nói với tôi rằng nếu nó đi thì dân ở đây người ta sẽ
trả nợ hết, cho nên nó không chịu đi.
Anh phóng viên Đài phát
thanh nói :
- Không phải vậy đâu chú
Bảy, hồi này cháu có ghi âm !
Sáu Kiến một tay vỗ lên đầu
võng nói:
- Tôi đã mang chiếc võng
này xuống đây bốn tháng rồi. Nói thật với tụi bây, đối với Bảy Liên Xô bây giờ
tao không cần bàn nữa, Bộ Nội Vụ đã kết luận rồi, Tỉnh ủy và công an tỉnh cũng
đã kết luận rồi, khỏi phải nói thêm điều gì nữa hết, giờ chỉ còn hành động mà
thôi !
- Bây giờ thế này anh sáu
ạ - Tôi nói - Anh, với tư cách là Trưởng đoàn chỉ đạo công tác ở đây, được thường
vụ Tỉnh ủy phân công trực tiếp. Chúng tôi muốn anh phát biểu vài nhận định về vấn
đề Long Điền Đông A trước khi chúng tôi rời khỏi nơi đây.
- Không. Tụi bây đừng
mong cạy miệng tao một điều gì cả. Tao không thể bày tỏ quan điểm của tao trong
lúc này được. Tụi bây cứ tự tìm hiểu lấy và đừng bao giờ ghi tên tao trong bài
viết của mình .
- Nhưng tôi có quyền phỏng
vấn anh .
- Tao cũng có quyền không
trả lời.
Tôi nói nửa đùa, nửa thật
.
- Nếu vậy thì tôi sẽ viết
rằng: “ Khi chúng tôi đến phỏng vấn vị Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin về vấn đề
Long Điền Đông A , chẳng những ông không trả lời mà còn bảo rằng tụi bây đừng
mong cạy miệng tao một điều gì cả “.
Sáu Kiên có vẻ hốt hoảng
:
- Không được, phải viết
như thế này: “ Sở dĩ Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin không trả lời là vì ông
không muốn bày tỏ quan điểm của mình trên báo chí khi vấn đề chưa được kết luận”.
Anh Sáu Kiên nói thêm :
- Tụi bây có biết rằng sự
phân hóa giai cấp ở đây hiện nay đang diễn ra như thế nào và vì sao không ? Điều
đó không phải là chuyện đơn giản, và tụi bây có biết rằng ở đây hiện giờ kẻ địch
đang hoạt động bằng những thủ đoạn tinh vi như thế nào không ? Chúng đang sử dụng
gia đình liệt sĩ và nông dân nghèo để chống lại ta. Nếu như họ đấu tranh để cuối
cùng được trả một ký phân năm đồng sẽ lời gấp trăm lần trả ba ký lúa. Vì vậy mà
chúng đánh ngay vào tâm lý của họ, chúng lợi dụng cái óc tư hữu của người nông
dân để mà kích động. Chúng còn dùng một thủ đoạn khác tinh vi hơn nữa, tụi bây
có biết đó là thủ đoạn gì không? Chúng sử dụng giai cấp phú nông để khống chế
giai cấp bần nông không cho họ trả nợ phân nhà nước.Nếu như ai còn đang thiếu nợ
lúa vay mà trả nợ phân nhà nước thì những tên chủ nợ sẽ lập tức đến đòi nợ hoặc
sẽ không tiếp tục cho vay nếu lỡ họ thiếu ăn. Tao chỉ nói đại khái những vấn đề
như vậy để tụi bây thận trọng trong viết lách, còn thực tế như thế nào thì tụi
bây tự tìm hiểu lấy, đừng hòng cạy miệng tao. Long Điền Đông A là một cuộc thi,
tụi bây nên hiểu như vậy, và bài ai nấy làm, không được “cọp bi” .
- Nhưng như vậy thì tôi
đã “ cạy miệng” được anh rồi còn gì nữa!
Sáu Kiên nhìn tôi cười và
có vẻ giựt mình. Tôi nói tiếp:
- Thật ra thì tôi cũng chỉ
cần anh phát biểu vài nhận định như thế thôi . Còn thực tế như thế nào thì dĩ
nhiên chúng tôi tự tìm hiểu lấy, và chúng tôi đã tìm hiểu.
Chiều hôm ấy, buổi chiều
cuối cùng ở Long Điền Đông A, chúng tôi thả dọc dài theo con đê biển về chỗ bến
tàu. Chiều xuống ở đây buồn thê thảm. Dọc theo bờ đê, một bên là dãy nhà chòi
xơ xác, nằm trơ trọi không một bóng cây. Bên kia là đồng muối, đang vào mùa thu
hoạch, những đống muối vung đầy ngất nghểu dưới chân đê và chạy dài trông mút mắt,
chúng bị ối đọng trong trận khủng hoảng thừa. Xa tít ngoài kia, bao quanh đồng
lúa là cánh rừng chồi lúp xúp, giáp với màu trắng xóa mù khơi và mênh mông của
biển.
Những đứa trẻ đen đúa, trần
truồng vác cần câu đi giựt cá bóng kèo theo nững đòng kinh dọc ngang đang dâng
đầy con nước lớn. Chúng vừa đi vừa nghêu ngao hát:
Bán phân thì bán bằng tiền
Cuối mùa lấy lúa làm phiền
nhân dân
Dân ta tức giận đấu tranh
Bắt dân nhốt khám tanh
banh xã nhà …
Nghe câu hát ấy, anh
phóng viên đài phát thanh (vốn là người sưu tầm văn học dân gian) giật mình chựng
lại :
- Này, mấu cháu, đến đọc
lại cho mấy chú nghe lần nữa đi .
Lũ trẻ hốt hoảng gọi nhau
:
- Ý chết, cán bộ tụi bây
ơi, mấy ổng bắt bây giờ - Rồi chúng vừa chạy vừa quay lại nói với chúng tôi. Mấy
câu này của ông Bỉnh Khùng đặt chớ không phải của tụi tui đâu nghen !
Vậy là chuyện lúa, phân,
tiền đã trở thành văn học dân gian, đã hằn sâu trong ý thức của Long Điền . Tôi
chợt nghĩ, chắc giờ này anh sáu Kiên đang nằm lắc lư trên võng. Nếu một ngày
nào vô tình anh nghe được những câu ca dao ấy, anh sẽ khẳng định xuất xứ của nó
như thế nào? Từ trong ý thức của người nông dân hay “ từ cuộc chiến tranh phá
hoại nhiều mặt của địch ?”
*
- Không thể được đâu anh
Hai ạ, các anh đã dựng lên những nhân chứng giả để bưng bít sự thật, các anh đã
tạo ra sự phân hóa, xung đột trong nội bộ nông dân, và chính các anh đã xô đẩy
họ về phía đối kháng với chính quyền rồi các anh lại đỗ lỗi cho bàn tay kẻ dịch.
Long Điền Đông A đang dự báo cho một trận đỗ máu xảy ra nếu các anh tiếp tục trấn
áp, tiếp tục chà đạp cái sự thật đang là nỗi oan ức trong lòng của mỗi người
dân.
Anh Rina, thường vụ tỉnh ủy
đang làm bí thư huyện Giá Rai, một người vốn bình dân,thật thà và nhân hậu. Anh
rầu rĩ đưa mắt nhìn về cánh đồng Nọc Nạn hiện ra trước cửa nhà anh, cách không
đầy hai trăm mét. Nơi ấy đang chuẩn bị làm lễ kỷ niệm sáu mươi năm cuộc manh động
của gia đình Mười Chúc.
- Thật ra thì tôi đi tìm
sự thật - Tôi nói tiếp - là để viết bài chớ không phải để nói với anh, vì tôi
không phải là cán bộ thanh tra đi thu thập tài liệu về báo cáo. Nhưng vì lợi dụng,
phải, tôi lợi dụng mối quan hệ giữa anh với gia đình tôi vừa là họ hàng thân tộc,
vừa gắn bó với nhau trong chiến tranh để xóa đi cái khoảng cách nhau về địa vị,
để có thể móc ruột ra mà nói với nhau về sự thật, vì tôi sợ sau khi tôi viết
xong bài báo thì lúc ấy đã muộn màng…
Anh Rina ngập ngừng nói :
- Thật ra thì bấy lâu nay
thường vụ tỉnh ủy chỉ được nghe báo cáo của anh Sáu kiên. Những điều chú vừa
cung cấp cho tôi đều hoàn toàn ngược lại. Vậy thì chẳng lẽ vấn đề Long Điền
Đông A lại có hai sự thật khác nhau sau ? Tôi sẽ đề nghị tỉnh ủy tổ chức cuộc họp
báo để cùng bàn bạc, thống nhất quan điểm với nhau.
Hai ngày sau, chúng tôi
được mời đi họp báo. Nhưng cuối cùng, đó không phải là cuộc họp báo. Đồng chí
trưởng ban tuyên huấn mời các cơ quan báo chí đến để thông báo chỉ thị của thường
vụ tỉnh : Các cơ quan báo chí không được can thiệp vào vấn đề Long Điền Đông A
khi chưa được thường vụ tỉnh ủy kết luận.
Tôi ân hận vì mình đã móc
ruột với anh Rina. Phải, người ta thường ân hận khi đã nói hơn là khi chưa nói.
Nhưng tôi nghĩ dẫu sao thì những điều tôi đã nói ra cũng không hoàn toàn vô tác
dụng.
Những ngày sau đó, đoàn
chỉ đạo của anh Sáu Kiên được lệnh rút về, huyện ủy Giá Rai cử đoàn cán bộ khác
gồm hai mươi người xuống Long Điền Đông A để làm những công tác khác : củng cố
các đoàn thể quần chúng, các phong trào văn nghệ, thể dục thể thao để làm giảm
bớt không khí nặng nề, căng thẳng. Còn chuyện lúa, phân, tiền và “ sự kiện Bảy
Liên Xô” tạm dừng lại, để tính sau. Nghĩa là cơ thể của Long Điền Đông A trong
cơn đau quằn quại được tạm thời tiêm một mũi thuốc an thần, còn liều thuốc lấy
dân làm gốc , chưa ai dám sử dụng trong lúc này. .
ĐIỀU RAY RỨC SAU CÙNG
Cách đây lâu lắm, có lần
tôi đến nhà xuất bản Mũi Cà Mau, gặp nhà thơ Lê Chí. Tôi vừa bước vào cửa thì
anh Chí nói ngay:
- Hổm rày mày đi đâu lâu
qua, anh Sáu Kiên kiếm mày để rủ mày đi Long Điền Đông A với ảnh, dạo này ảnh
đi chỉ đạo huy động lương thực ở dưới.
Tôi đâm ra tiếc rẻ vì
Long Điền Đông A đối với tôi tuy không phải là nơi chôn nhau cắt rún nhưng lại
là chỗ tôi yêu thương, có nhiều kỷ niệm. Tôi đã viết về nơi ấy năm bài báo thì
còn gì là không gắn bó đến thâm sâu. Hơn nữa nếu được cùng đi với anh Sáu Kiên
thì chắc sẽ có nhiều chuyện lý thú.
Mấy tháng sau, vào một buổi
chiều, tôi đang ngồi uống trà với anh Lê Chí tại Nhà xuất bản Mũi Cà Mau thì bất
ngờ anh Sáu Kiên đến. Được biết anh từ Long Điền Đông A mới về, tôi hỏi ở dưới
có gì vui không, anh nói mà như trách :
- Tụi bây cứ ru rú ở nhà
mà biết gì. Thời buổi này mà cứ ngồi nhà nặn óc ra hư cấu. Tao về chữa bệnh cho
bà già ít hôm rồi trở xuống Long Điền Đông A, mày sắp xếp đi dưới với tao. Ở dưới
bao nhiêu chuyện lý thú đến lạ lùng . Mày chỉ cần chịu khó thu thập tài liệu rồi
viết y sự thật cũng thành tiểu thuyết, khỏi tốn công tưởng tượng, hư cấu gì cả.
Có khi nào mầy nghỉ con của một đồng chí thương binh mà phải đi ở đợ không? Rồi
có khi nào mầy nghĩ một Chi ủy viên phụ trách công tác tổ chức mà mê tín dị
đoan đến tán gia bại sản rồi bệnh hoạn luôn không? Cứ xuống dưới đi, cả thiên
tiểu thuyết đang chờ mầy ở dưới!
Nghe anh nói, tôi cố gắng
dẹp hết mọi chuyện để đi .
Và bây giờ tôi viết.
Biết nói thế nào để anh
Sáu hiểu được tôi? Mỗi lần ngồi viết của tôi chạm phải tên anh thì tay tôi run
và tim tôi đau nhói. Có xa lạ gì đâu, giữa anh với tôi là chỗ họ hàng, gần lắm!
Chính điều đó làm tôi đau, bởi cái thân tộc nó bắt người ta phải luôn luôn suy
nghĩ .
Anh Sáu là người đọc nhiều,
chắc anh nhớ trong đoạn cuối truyện ngắn “Nợ nước mắt” của nhà văn Trang Thế Hy
có câu : “ Thật ra, tôi không muốn đem anh vào câu chuyện giữa tôi với chị Ba
cho thêm phiền phức, nhưng dẫu tôi có gạt anh ra khỏi trang giấy này đi nữa thì
anh vẫn xuất hiện ở ngoài đời, tiếp tục vậy hả và tiếp tục dửng dưng”
Ở đây, ngoài lý do ấy còn
một lý do khác nữa. Tôi và anh, hai người cùng đứng trước sự đỗ vỡ của Long Điền
Đông A với hai vị trí khác nhau. Nhưng ở vị trí của anh, anh có thể gạt bỏ cái
nguyên nhân có thật để đổ thừa cho kẻ địch hoặc ông Bảy Liên Xô. Còn ở vị trí của
tôi - một người đi tìm và bảo vệ sự thật - nếu gạt anh ra khỏi trang viết này
thì tôi biết tìm sự thật ở đâu ?
Anh thông cảm mà đừng giận
tôi nghe anh Sáu! Tôi biết từ ngày rời khỏi Long Điền Đông A đến nay, anh mang
nhiều tâm trạng đắng cay, buồn giận của một người vừa bỏ cuộc thi. Tôi hy vọng
rằng trong nỗi buồn giận ấy, theo thời gian, anh sẽ chừa một chỗ để tự buồn giận
chính mình.
Võ Đắc Danh
Nguồn: Tạp chí Văn Tp HCM, số 1,2 năm 1988
Theo https://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét