Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

"Trầm Tử Thiêng" giữa mơ thiêng và trâm tích phận người

"Trầm Tử Thiêng" giữa mơ
thiêng và trâm tích phận người

Gần nửa thế kỷ sắp vĩnh viễn trôi qua kể từ ngày hòa bình được lập lại, nhưng vết hằn các biến động lịch sử giai đoạn 1945-1975 vẫn in sâu trên Đất nước và con người Việt Nam. Những con người chưa hoàn toàn lấy lại được sự hồi phục mong đợi và, cho đến hôm nay, vẫn mãi còn bị trăn trở giằng co với chính mình giữa nhiều vấn nạn, mà phần lớn chừng như đã trở thành một thứ nợ chưa trả.

Một trong những món nợ lớn, có tính khách quan và vô cùng cơ bản, là việc phải trả lời cho câu hỏi nhức nhối về sự chính đáng của phương thức tiến hành cuộc chiến tranh đó – đặc biệt trong thời kỳ hai mươi năm cuối –, trước cái giá ghê gớm đã phải trả và hiệu quả sau cùng thật đáng mỉa mai cho xứ sở, dĩ nhiên trong mối tương quan so sánh với những đáp án khác có thể có và cục diện thế giới ngày nay: nó thuộc về một sự đánh giá toàn diện, nghiêm túc và nghiêm khắc của sử học cũng như của nhân dân.

Một món nợ khác, mang tính chủ quan và có tầm độ gần hơn, là sự cần thiết phải nghiệm chứng rằng thế hệ chúng ta chưa hề lẩn trốn hay làm kẻ xa lạ : nếu không cương quyết dấn thân hay biết tự sở hữu cho nội tâm mình (s’approprier) những thử thách đau thương của dân tộc, thì ít ra cũng đã có lúc dám nhìn thẳng vào bộ mặt những tháng năm thảm khốc diễn ra trên Quê hương. Điểm này, ngay đến bây giờ vẫn chưa phải là quá muộn cho những ai trót bị thiếu sót, sẽ có thể phần nào được giải quyết ở mức cá nhân như một liệu pháp với sự trung gian tích cực và khả năng tuyệt vời của nghệ thuật, bằng cách thử nhận diện lại Quê hương đó – dưới góc độ truy tầm, đối chiếu để cảm thông, chia sẻ – qua dấu tích cuộc chiến trong âm nhạc miền Nam.
Bởi vì, một mặt, chỉ ở miền Nam khi ấy, con người – kể cả nghệ sĩ – mới còn có được chút quyền, dù nhỏ nhoi đến mấy, để khẳng định cái nhìn riêng và do đó tự khẳng định giữa lòng bức tranh bi tráng của lịch sử.
Mặt khác, nếu các nhà văn hình như hầu hết đã lỗi hẹn với sứ mạng cao cả là tạo ra tác phẩm tầm cỡ, thì không thiếu những nhạc sĩ – cũng vào thời điểm đó ở bên này vĩ tuyến 17– đã để lại nhiều bài hát tuy không lẫy lừng vĩ đại nhưng có giá trị chẳng những về mặt nghệ thuật mà, trong một chừng mực nào đó, còn ít nhiều mang cả tính cách chứng từ. Điều thiết yếu là, ở đây, ta cần nỗ lực tránh thoát sự chi phối của nhãn quan ý thức hệ, nguyên nhân của vô số tai họa trong suốt hành trình nhân loại, để chỉ lắng nghe tiếng nói thật thà, đích thực, đến từ trái tim. Để có thể nhìn sự kiện, sự vật, như nó . Để ghép lại những mảnh quá khứ, của dân tộc cũng như của đời người, đã vô tình vuột khỏi tâm tư.
Bởi vì, may thay, trong số những tác giả đáng nói nhất, có một người tuy đã không chọn con đường nhạc phản chiến, không được nổi tiếng như Trịnh Công Sơn, nhưng cũng đầy tài năng và đặc điểm riêng lạ. Một con người trung trực, khiêm tốn. Một nghệ sĩ chân chính và quảng đại, đã trao tận tay ta – qua những ca khúc ông viết về Quê hương, thân phận – chiếc gương đáng trân quí để soi lại thế sự và tình người một thời chinh chiến, trong tất cả chiều kích cuồng nộ, ray rứt hiện thực đã đành, nhưng đồng thời cũng không thiếu mặt thâm trầm, ấp ủ mộng mơ : Trầm Tử Thiêng.  
Mãi cho đến khi lìa đời, con tằm nghệ sĩ ấy đã cần cù lặng lẽ nhả từng sợi tơ kỳ diệu dẫn đưa ta ra khỏi mê lộ những nỗi đau trần thế.
Bên kia nỗi bất lực trước cuộc chiến
Sinh ra trước hai tuổi và mất sớm hơn một năm so với họ Trịnh, Trầm Tử Thiêng (1937- 2000) có thể được coi như nằm trong số những nhạc sĩ kém may mắn, gặp lắm bất công : ít xuất hiện, ít được nói tới (ngay cả lúc qua đời [1]); thậm chí, một số bài hát được yêu thích của ông trên thực tế cũng phải chịu cảnh gần như… khuyết danh vì không phải ai cũng biết tác giả! Nghịch lý này, phần lớn là do bệnh không nêu rõ xuất xứ, nhất là tên người làm ra tác phẩm, của người Việt. Thêm vào đó, cũng có thể vì nhạc ông không hẳn dành cho giới trí thức thành thị, mà cũng chẳng phải thuộc loại «thời trang» hay «thương mại», theo cách nói thông dụng thời ấy.
Trầm Tử Thiêng tên thật là Nguyễn văn Lợi, quê quán đất Quảng Nam, nơi sản sinh lắm anh tài mà trong số những khuôn mặt đương đại nổi bật, ta không thể không nhắc đến một đàn anh xuất sắc thuộc cùng lãnh vực là nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu…
Theo Wikipedia, «Trầm Tử Thiêng bắt đầu ca hát từ năm lên 10 ở các thôn quê miền Nam Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 đến 1949. Sau đó ông lên Sài Gòn tiếp tục học và tham gia hoạt động âm nhạc ở các học đường và các đoàn thể trẻ. Năm 1958, Trầm Tử Thiêng tốt nghiệp trường Sư phạm và bắt đầu dạy học» [2].
Thế rồi, cũng như hầu hết thanh niên thời ấy, ông bị gọi nhập ngũ nhưng may mắn lọt vào số những văn nghệ sĩ được tuyển dụng về Phòng Văn Nghệ, Cục Tâm Lý Chiến, năm 1966.
Theo Hoài Nam, Trầm Tử Thiêng bắt đầu viết nhạc ngay từ cuối thập niên 1950, nhưng những sáng tác đầu tay của ông hầu hết đã bị «thất truyền» [3]. Nói về nhà soạn nhạc này, Du Tử Lê có cho rằng:
«Trầm Tử Thiêng không là một nhạc sĩ viết bài ca tuyên truyền; anh dùng nét nhạc để ghi lại những giai thoại lịch sử, đôi khi có gởi gấm một vài phê phán với cảm xúc đầy nhân bản của một bộ môn nghệ thuật, ngợi ca những mối tình trong thời chiến, những lần hẹn hò, những xao xuyến chờ mong, những lo âu bồi hồi, những cách ngăn ly biệt » [4].
Nhận xét này bao trùm toàn bộ sự nghiệp sáng tác họ Trầm, trong đó có bộ tam (trilogie) ba ca khúc ra đời sau 1965 – năm quân đội Mỹ bắt đầu trực tiếp tham chiến tại Việt Nam –, đáng được xem là tiêu biểu nhất: Bài hương ca vô tận (1966), Đưa em vào hạ (1967) [5] và Kinh khổ (không rõ năm phát hành).     
Bài thứ nhất mang tính cách tân ngay trong tựa đề, bởi trước Tử Thiêng chưa nghe nói đến từ «hương ca» (chữ h thường): một ca khúc viết về quê hương và cho quê hương. Sự kiện cái tên riêng Hương được đưa vào ca từ, mà Du Tử Lê đã từng dẫn ra như một điều mới lạ, phải chăng chỉ đơn thuần xuất phát từ việc nhân cách hóa – và do đó viết hoa – cái danh từ mang nghĩa thôn làng trong cụm từ quen thuộc đã thành bất tử với hai bài thơ nổi tiếng của Giang Nam và Đỗ Trung Quân?
Bài hát mở ra bằng một lời nài nỉ thân tình và khẩn thiết:
Hát nữa đi Hương, hát điệu nhạc buồn, điệu nhạc quê hương/ Hát nữa đi Hương, hát lại bài ca tiễn anh lên đường.
Không có gì lạ. Điệu buồn là ADN của nhạc Việt : cái da diết não nùng của một mảng lớn dân ca, cái u uẩn phảng phất trong từng đoạn «Chinh phụ ngâm khúc», phải chăng là tiếng vọng của khói lửa triền miên – thực chất là những cuộc phân tranh Nam Bắc – trải đều suốt hằng thế kỷ?
Tử Thiêng tiếp ngay bằng lời giải thích:
Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu/ Cuộc phân ly may lắm thì qua maụ/ Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ.
Đợi chờ ư? Vào thời điểm đó, chẳng ai biết khi nào chiến tranh chấm dứt. Nhưng có lẽ không ai đủ can đảm nghĩ tới giả thuyểt sẽ còn phải chịu đựng thêm đến trên dưới mười năm nữa!
Hát nữa đi Hương, câu nhạc thành nguồn gợi chuyện đau thương/ Hát kể quê hương, núi rừng đầy hoa bỗng thành chiến trường/ Đồng tan hoang nên lúa ngại đơm bông …
Hóa ra, hát chỉ là cái cớ để nói chuyện non sông. Nhạc là nguồn để dòng tâm sự tuôn chảy. Và trên quê hương yêu dấu đó, ta còn thấy được những gì?
Những hình ảnh gợi ra ở đây nói chung hãy còn khá tiết chế như chính tâm hồn tác giả đang hãy còn rất tự chủ, đầy tin yêu, vào những năm đầu chiến trận. Hát ở thời điểm ấy chưa phải là tụng lời tang niệm. Nó chỉ mới dừng ở mức xướng thanh để nói lên rằng nước đang có chiến tranh. Vì vậy, với tư cách một nghệ sĩ, họ Trầm đã không ngần ngại gửi gấm thêm vào đó nhiệm vụ làm phát hiện cái đẹp và vinh danh cuộc sống, vốn ngon ngọt tự nhiên, hấp dẫn và đầm ấm, như bến cảng bình yên dành cho những giấc «mộng bình thường» [6]:
Hát chuyển vai em, tóc xõa bồng mềm dịu ngọt môi em/ Hát mãi nghe Hương cho hồng làn da kẻo đời chóng già/ Ngày xa xưa em vẫn nằm trong nôi/ Mẹ ru em câu hát dài buông lơị/ Hát để yêu cha ấm lại ngày già. 
Cho nên, Trầm Tử Thiêng mong sẽ được nghe ngân mãi điệu ca dài vô tận:
Hương ơi, sao tiếng hát em, nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt ngào/ Dù em ca những lời yêu đương, hay chuyện tình gãy gánh giữa đường/ Dù em ca nỗi buồn quê hương, hay mưa giăng thác đổ đêm trường […] Hát nữa đi Hương, hát đi Hương, hát mãi đi Hương! 
Được giới thiệu với công chúng lần đầu bởi Duy Khánh, bài hát lọt ngay vào mắt xanh của Thái Thanh, người đã đưa ca khúc lên đỉnh cao ở miền Nam [7]. Sự đồng cảm giữa nữ danh ca vào hàng số một của nền tân nhạc Việt và Trầm Tử Thiêng trên tác phẩm này còn được thể hiện qua việc, sau 1975, Thái Thanh đã ghi âm một phiên bản mới tại Mỹ [8].
Cuộc chiến leo thang, chưa bao giờ lực lượng quân đội Mỹ và đồng minh đông đến mức như thế [9] ở miền Nam, tính cho đến cái mốc lịch sử Tết Mậu Thân 1968. Trầm rời tư thế chiêm nghiệm độc hành để bước sang nhiệm vụ đánh thức tuổi trẻ thành phố về thực trạng Đất nước, đặc biệt với tác phẩm Đưa em vào hạ[10] như một dự phóng mới đi sát với thời cuộc :
Mùa hè năm nay anh sẽ đưa em rời phố chợ đôi ngày/ Qua miền xa mà nghe rừng thiêng gọi lá. 
Bài hát báo ngay cái sắc thiêng của rừng gọi lá : ẩn dụ về nguồn của một trải nghiệm càng lúc càng trở nên cấp bách.
Tiền tuyến khi ấy tương đối còn ở xa nên người hậu phương, khi nghe bài hát, được đón nhận cận cảnh những hình ảnh mới lạ, chưa từng có trong nhạc Việt, như được chiếu lên từ những thước phim sống động:
Tiếng nỉ tiếng non khi chiến trường nằm im thở khói/ Đứa bé nhìn cha đang chờ giặc dưới giao thông hào.
Thời ấy – một chi tiết về phương diện «xã hội học» hiếm thấy –, lính tráng được đem vợ con theo ở trong các láng trại tiền đồn. Nhưng, thật lạ: tiếng nỉ non nào lại trỗi lên trên chiến địa im lìm? Lời con tim nhắc tới người yêu, hay câu vọng cổ ngân nga từ anh lính độc thân xa nhà? Hay chỉ là âm thanh gió hú những oan hồn vất vưởng nơi trận tiền?
Tác giả không trình bày nguyên si thực tại mà chỉ khéo léo gợi sao vừa đủ để ta tự khám phá, từ chỗ đứng và theo cảm nhận của riêng mình. Người ta không thể không liên tưởng đến câu nói của họa sĩ lừng danh Paul Klee (1879-1940), «nghệ thuật không sao lại cái hữu hình; nó làm cho trở nên khả kiến (l’art ne reproduit pas le visible; il rend visible)» [11]
Tử Thiêng đã xuất thần như thế khi pha lẫn lãng mạn với hiện thực. Ông tiếp tục đưa người trẻ phố thị đến gần với thân phận những chàng trai đã phải lên đường, bằng những ca từ quen thuộc, tưởng là sáo mòn nhưng kỳ thực ngầm chứa nhiều sáng tạo:
Tìm về xa xôi em sẽ thương những vùng đất lở sông bồi/ Bạn bè em giờ đây người sương người gió/ Chí cả trót mang nên chẳng cần về thăm trường cũ/ Có đứa từ lâu nay vẫn còn đi biệt chưa về. 
Thông thường, chữ «biệt» được dùng ở các tựa thơ – «Tống biệt» (Tản Đà), «Tiễn biệt» (Nguyên Sa) – hoặc đi đôi như tiếng đệm trong từ kép «biền biệt» (Hữu Loan) chẳng hạn. Nhưng ở đây, Trầm Tử Thiêng dựa vào lối nói nôm na «đi biệt» của người bình dân, để diễn tả ngắn gọn và ý nhị cái mông lung vô định của hành trình kẻ ra đi, cái mất mát, vô vọng của con người, mà tiếng «chưa» trong hai chữ «chưa về» ngấm ngầm nghe như một sự tự dối lòng, nếu không phải là tiếng rung ác nghiệt đáng xua đuổi của hồi chuông định mệnh...
Bức tranh chung, vì thế, khoác một màu thê thiết :
Quê hương đau, nắng hạ cũng buồn/ Nước sông ngăn đôi sơn hà/ Còn gì em, còn gì đâu!
Thế nhưng, bấy giờ, không có chỗ cho bất cứ một chọn lựa nào khác nữa:
Mùa hạ qua mau, đi nữa đi anh, chí con đường quê hương mịt mùng/ Thương những chiều nắng rọi bờ sông.
Còn gì nữa đâu, ngoại trừ những ước mơ hay – đúng hơn – những cơn mơ, để có thể còn tiếp tục sống trong phần mở mắt còn lại của dòng chảy mỗi ngày :
Mùa hè năm nay anh sẽ ru em tròn giấc ngủ trên ngàn/ Em nằm mê mà nghe niềm tâm sự réo/ Trăm họ ước mơ mơ mái nhà chiều khơi lửa ấm/ Lứa tuổi tròn hai mươi tìm lại những đêm ân tình. 
Mở mắt để nhận ra bộ mặt thật của hậu phương, nơi mọc lên những tụ điểm ăn chơi giải trí nhằm trốn tránh thực tại, đồng thời cũng lại là nơi diễn ra những cuộc chia ly chua xót:
Mùa hè năm nay anh sẽ đưa em vòng khắp cả hý trường/ Nghe người ca bài ca lời thương lời nhớ/ Chén tiễn chén đưa cho rã rời một đêm hẹn ước/ Rứt áo tìm vui nơi chiến trường có bạn có thù. 
Thoát thai từ hiện thực máu lửa, các sáng tác của Trầm Tử Thiêng trĩu nặng tâm tư tuổi trẻ thời đại, ngây thơ có, mà gìà trước tuổi cũng có. Từ ngữ ông sử dụng nghe rất cổ điển – như ngay chính cái bút hiệu Trầm Tử –, đôi khi thậm chí có thể gây phê phán, song hoàn toàn không giả dối so với cách nói và suy nghĩ của người trong cuộc, chẳng hạn những từ «bạn, thù» ta vừa thấy hoặc «giết giặc» trong tiểu đoạn kết thúc bài ca:
Thương em đi gót nhẹ chân mềm/ Bước trên quê hương điêu tàn/ Lặng nhìn em, bồi hồi thêm !/ Dù hạ qua mau, anh vẫn đưa em cuối con đường quê hương bùn mềm/ Thương những người giết giặc ngày đêm. 
Chiến tranh dù dưới danh nghĩa nào cũng là đáng ghét. Đáng thương nhất là những người hiền lương vô tội bị nhận chìm trong cơn «gió tanh mưa máu» đó, nói như Nguyễn Đình Toàn [12], nhà văn nổi tiếng cùng thời với tác giả. Tai họa xảy đến cho dân tộc triệt tiêu mọi hy vọng. Không gì có thể còn tồn tại trên một đất nước đã trở nên điêu tàn: Trầm mượn cái tên tập thơ – được xuất bản đúng vào năm ông ra đời, đã từng làm rúng động thi đàn Việt – của một Chế Lan Viên tài không đợi tuổi,[13] để khẳng định như một tính từ chính xác nhất nói lên tình trạng bom đạn dày xéo Quê hương.
Hãy thử nghe lại câu «Thương em đi gót nhẹ chân mềm […] Lặng nhìn em, bồi hồi thêm ! […] anh vẫn đưa em cuối con đường quê hương bùn mềm»: những lời thân thiết, không chút dấu che niềm ái ngại, đến từ một người anh hết lòng quan tâm đến lớp đàn em mới lớn và đồng thời cũng tự thấy nặng mang mặc cảm bất lực của một thế hệ chẳng để lại được gì là vui thú cho kẻ đến sau. Đối diện với tuổi trẻ, Trầm Tử Thiêng có lẽ cũng ở cùng tư thế với một Nhất Hạnh khi thiền sư ra công viết nhanh tập sách nhỏ «Nói với tuổi hai mươi» để kịp thời đáp lại cơn cuồng phong những «nổi loạn» về mặt tư tưởng, vừa được dấy lên khi ấy bởi hiện tượng Phạm Công Thiện đã từng gây tiếng vang sôi nổi một thời.[14]
Nhưng nào ai cưỡng nổi những thế lực vô bờ xâu xé non sông? Trần tình, dẫn đi thực tế hay đối thoại giữa nhau, cũng chẳng giải quyết được gì. Nỗi bất lực triền miên đương nhiên phải dẫn tới việc tay chắp nguyện cầu, và Trầm đã viết Kinh khổ trong hoàn cảnh ấy, theo một giọng điệu và cấu trúc mới.
Nếu Bài hương ca vô tận  Đưa em vào hạ giàu giai điệu trữ tình trong cùng một nhịp boléro thời thượng, thì lời ca bài Kinh khổ lại như chuỗi tràng hạt rơi đều theo tiếng mõ gỏ khô khan, khổ hạnh. Nếu hai bài hát trước chỉ khắc họa chân dung – dẫu có chút hư hao – của những đôi lứa không may thời chiến, thì bài sau này nói tới cả một dân tộc bị chìm trong khổ đau qua hình tượng Mẹ không ngớt lo khấn vái cho đàn con bất hạnh:
Mẹ ngồi nguyện cầu hằng bao đêm/ Lời kinh vọng xa thật êm đềm/ Mẹ cầu cho con vượt qua ngày tròn/ Mẹ cầu cho con tuổi trời xanh còn nguyên đừng đánh mất. 
Khí hậu ca khúc oi bức, ngột ngạt. Bên trong thì khẩn trương, tang tóc:
Xin cho mẹ trọn lời kinh đêm nay/ Người sẽ về, trước khi mẹ khuất núi/ Xin cho mẹ, ngoài trời im kinh động/ Người sẽ về, dù rách rưới tả tơi… 
Còn bên ngoài là những chuyển động bất thường của đám đông, trong một khung cảnh đầy nghi ngại, nhá nhem đen tối:
Người về một ngày một lưa thưa/ Người đi càng đêm càng đông dần/ Từng dài âu lo, từng quen đợi chờ
Mặc dù tác giả làm ra vẻ như còn hy vọng ở một ngày mai nào đó qua câu «Mộng thật cam go, miễn là mai niềm đau thành nụ cười», người ta thấy rõ Trầm đang hụt hơi gom góp tất cả năng lượng còn lại của lương tri, lẽ phải, để xốc dậy chút tin yêu cứu rỗi:
Còn lại đêm nay với vòng tay tình yêu người và người.
Mặc dù, chính ngay lúc ấy, ông không hề chối sự thực mà nói thẳng với chính mình, cũng như với tất cả mọi người con đất Việt, rằng «Lời nguyện cầu này cho nhau/ Từ khi loạn ly vào đêm đầu/ Tình người tiêu hao, niềm tin bội bạc»
Song, tất cả sức mạnh của Tử Thiêng là ở đó : cuộc đối chọi ý nghĩa giữa người nghệ sĩ chân yếu tay mềm với nghịch cảnh lịch sử tàn bạo, tất yếu sẽ phải đem lại chiến thắng sau cùng cho tình thiêng liêng máu mủ:
Lạnh lùng một ngày một qua mau/ Lời kinh mù sương mờ trên đầu/ Mộng chờ mai sau, ngày mai thật lạ/ Thù hằn anh em, bỗng nhìn nhau gọi nhau thật đậm đà. 
Chính vì vậy, Trầm đã để bài hát chấm dứt trên những nốt ca ngợi lòng tin vào sự nhiệm mầu tại thế – như điểm tựa cuối cùng của một nhân loại xơ xác hoang mang – mà tác phẩm của ông có tham vọng được làm một trong những trang kinh ca nhật tụng cho con người giữa cơn khổ nạn:
Rời ngày sinh ly/ Rời đêm từ biệt/ Còn lại hôm nay những lời kinh tình yêu đầy nhiệm mầu. 
Sự kiện Khánh Ly lấy tựa ca khúc để đặt tên cho một album đặc biệt Trầm Tử Thiêng phát hành tại Mỹ năm 1995,[15] cũng đã nói lên phần nào tầm quan trọng của tác phẩm. Nhiều người đã viết những dòng ca ngợi bài hát, song rõ ràng đã có một sự nhầm lẫn khó hiểu và đáng tiếc trong việc phân tích cấu trúc âm nhạc của nó. Chẳng hạn Du Tử Lê [16], khi đề cập đến sáng tác họ Trầm, đã quả quyết rằng:
«[…] ở “Kinh Khổ,” ông cũng lại là một trong vài nhạc sĩ đầu tiên, sử dụng quãng ba, chỉ gồm có ba nốt Ðô, Rê, Mi để hoàn thành tác phẩm của mình»
Dĩ nhiên, Du thi sĩ có nêu tên hai nhân vật trong ngành nhạc “làm bằng” để nhấn mạnh them :
«[…] theo các nhạc sĩ như Trần Duy Ðức, Nguyễn Ðức Cường thì nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng là người duy nhất, tính tới hôm nay, đã gặt hái được sự thành công rực rỡ với một ca khúc trước sau, chỉ dùng quãng ba»
Tất cả những khẳng định này đều hoàn toàn không phù hợp với những gì được ghi trên bản nhạc Kinh khổ như trong hình chụp dưới đây, điều mà bạn đọc dẫu không rành nhạc lý vẫn có thể kiểm chứng dễ dàng, sau khi tham khảo ký âm pháp cơ bản – vừa đủ để đọc tên các nốt nhạc – và nhất là định nghĩa của quãng được nói khá rõ trên mạng chẳng hạn [17]: không nên đặt ra huyền thoại TrầmTử Thiêng «trước sau chỉ dùng quãng ba» trong bài Kinh khổ, cũng như không thể cho lan truyền chuyện tác giả chỉ sử dụng có… «ba nốt Ðô, Rê, Mi để hoàn thành tác phẩm của mình»!                                                         
Bài Kinh khổ được viết năm nào, trước hay sau tập Kinh Việt Nam của Trịnh Công Sơn? Hiện nay, chưa có thông tin chính xác về điều này. Riêng về thời điểm phát hành tác phẩm của Trịnh, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân viết là 1970 [18] trong khi các nguồn đáng tin cậy khác [19] đều ghi 1968.
Khi nghe Kinh khổ, người ta thấy đôi chỗ như na ná có phần giống giọng điệu một số bài phản chiến nhạc Trịnh, ít ra cũng là qua cách hát quen thuộc của Khánh Ly: phải chăng đó chỉ là do ảnh hưởng qua lại tự nhiên của các sáng tác cùng thời? Tuy nhiên, ngoài nhận xét nhỏ và chủ quan ấy, Kinh Khổ hoàn toàn khác xa tập nhạc rất “dấn thân cách mạng” của Trịnh Công Sơn: bài hát của Trầm, tê tái buồn thương như ta vừa thấy, không có mục đích nào khác hơn là để nguyện cầu cho non nước bình yên, trong khi 12 ca khúc ở tập Kinh Việt Nam – ngoại trừ bài Dân ta vẫn sống – đều có âm điệu «mạnh mẽ vui tươi trong sáng»[18] và nhất là, vẫn theo Nguyễn Đắc Xuân qua công bố của ông năm 2007, đã được «sáng tác cho một kế hoạch đảo chính vận động hòa bình»
Sự thay đổi tiết tấu và ca từ trong Kinh khổ phải chăng đã đánh dấu một bước ngoặc trong tư tưởng và sự nghiệp sáng tác của Trầm Tử Thiêng? Nó cũng báo hiệu cho một tác phẩm đặc sắc, thể hiện những phút giây hồi nội sâu lắng và sự chín muồi tài năng của nhạc sĩ này, đó là bài Tưởng niệm.
Niệm khúc cho nỗi bất lực trước cuộc đời
Dưới một tựa đề ấn tượng, ca khúc ra mắt quần chúng vào năm 1972, năm khủng khiếp của “mùa hè đỏ lửa”. [20] Trầm Tử Thiêng khi ấy dường như đang trải qua một cơn thất vọng ghê gớm, có thể do tình hình Đất nước, nhưng chắc chắn là trong đời sống cá nhân, Trầm đã gặp nhiều trắc trở. Người nghệ sĩ có lẽ bị suy sụp nặng, chìm trong lo lắng, bi quan. Tác phẩm như co rút lại, thu mình trong góc nội tâm, để chỉ chuyển tải duy nhất một thông điệp da diết u sầu.
Tưởng niệm được viết theo âm giai Sol thứ, nhịp ¾, là một bài hát tương đối ngắn so với ba ca khúc trước mà mỗi khuông nhạc lắm khi có đến ba, bốn tầng lời khác nhau. Ngắn, nhưng chắc nịch tỉ trọng và âm vang khắc khoải ngay từ câu đầu:
Ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời, thì hãi hùng hoàng hôn trờ tới. 
Vì sao phải «nghe lại cuộc đời»? Vì sao hoàng hôn gây «hãi hùng» khi bất ngờ tiến tới?
Cuộn phim đời người, một lúc nào đó, sẽ quay đến cảnh chung cho hết thảy nhân loại: giờ phút điểm lại cuộc hành trình nhân sinh, sớm muộn gì rồi cũng đến.
Hoàng hôn là lúc ta đi đã gần xong phía triền xuống, trên đồi núi cuộc đời. Nhưng hoàng hôn rất có thể chỉ hiện diện trong tâm trí kẻ tuyệt vọng. Hoàng hôn bất chợt trờ tới – cái từ rất « mộc » của Tử Thiêng – là vì ta chưa bao giờ để ý đến sự can thiệp của bánh xe thời gian : nó lù lù có đó, chiễm chệ ở mỗi góc ngõ đời người, lạnh lùng lăn nghiến trên từng trang kỷ niệm, dữ dội đến độ mới đó mà đã cướp đi của ta màu xanh mái tóc thư sinh… Và cảm giác hãi hùng sẽ xâm chiếm tâm hồn kẻ đang bị hụt hẫng, mất hết mọi điểm tựa cho hiện hữu mỗi ngày.
Hoặc cũng có khả năng là niềm cay đắng trong lòng tác giả đã trỗi dậy đúng vào lúc mặt trời bên ngoài sụp bóng: sợ hoàng hôn vì sợ bị nhận chìm trong biển tối cô đơn.
Ta nghiêng vai soi lại tình người, thì bóng chiều chìm xuống đôi môi.
Trong giờ phút ấy, «soi lại tình người» là hết sức tự nhiên. Bởi động cơ thúc đẩy «nghe lại cuộc đời» chính là mong muốn hình dung lại những mốc chính, những sớm hôm đáng nhớ có bạn bè, người thân – hay có thể kể thêm cả kẻ quen biết gần xa –, đã cho ta đậm vị những đắng ngọt buồn vui trên quãng đường đã bước : giờ phút ấy, còn đếm được mấy ai để mà trông cậy, còn đâu những đợi chờ tri kỷ?
Chất thơ toát ra từ câu nhạc, bàng bạc giữa trời chiều, mời gọi vào thế giới riêng tư của tác giả dưới màu sắc lăng kính mỹ học Trầm Tử Thiêng.
«Ta nghiêng vai soi lại» trên dòng sông ký ức có thể là để mê say ngắm chính bóng mình, giống như gã thợ săn Narcisse trong thần thoại Hy Lạp chăng?
Không thể, khi ta đối chiếu với phong cách và tâm hồn người viết. Song, tư thế «nghiêng vai» soi nhìn thì hẳn là một. Mà ngay cả, nói cho cùng, sự cảm thương phận mình – dù đến từ Trầm hay bất cứ ai – cũng không phải là điều đáng ghét bỏ. Cũng như chẳng có gì là bất thường kỳ lạ, một khi động tác nhìn mình ấy không nhằm mục đích tự chiêm ngưỡng mà chỉ để phản tỉnh ngẫm lại những hành động đã qua
Trên tấm gương hồi nội ấy, Trầm thấy «bóng chiều chìm xuống đôi môi».
Môi là phần nhạy cảm thông minh bậc nhất trên người: chàng đã truyền đi tín hiệu xúc giác của một cuộc giáp mặt với lòng mình, với bóng dáng những gì đáng lưu luyến nhất.
Chắc hẳn, từ lâu, Trầm đã bị ám ảnh bởi hai câu thơ diễm tuyệt của Thâm Tâm:
Bóng chiều không thắm không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong…    .
nên chi đã phổ nhạc toàn bài Tống biệt hành bất hủ này.[21]             
Nhưng nếu Thâm Tâm đọc tâm tình người tiễn đưa trên ánh mắt, thì Tử Thiêng mấp máy với kỷ niệm qua làn môi. Môi của những lần tâm sự. Môi của quả cấm ngọt ngào.
Môi của tôi hay của em? Nào có quan trọng gì, khi sự hợp nhất đôi ta đã có lần lên tới tột đỉnh, khi cả không gian quay cuồng nhảy múa như chính vào giây phút này. Như nỗi mê say, rạo rực của một Hoàng Trúc Ly khi dừng chân bên bờ sông cũ:
Tôi muốn hôn bằng môi của em
Mùa xưa tha thiết nắng hoe thềm… (Gửi người em, 1953)
Quả thực, Trầm tựa hồ như đang trong trạng thái hôn mê:
Đang mân mê cho đời nở hoa/ Chợt bàng hoàng đến kỳ trăn trối.
“Trăn trối” là một từ rất mạnh, chỉ dùng trước lúc lâm chung : chàng có vẻ như đã mất hết sự tỉnh táo, vì thực tế quá phũ phàng. Vì tất cả đều sụp đổ khi tình yêu tan biến:
Đang nâng niu cuộc tình lộng lẫy/ Bỗng ngỡ ngàng vụt mất trong tay.
Chàng gào lên, qua phần điệp khúc đang chuyển nhịp dồn dập, để nói lên – một cách không chút rối loạn mà vô cùng chí lý – cái phi lý của cuộc đời:
Ta khổ đau một đời, để chết trong tình cờ
Ta tìm nhau một thời, để mất nhau vài giờ,
cũng như những hoài mong vô vọng của người bình thường:
Bàn tay làm sao níu một đời vừa đi qua
Bàn tay làm sao giữ một thời yêu thiết tha.
Gào lên như vậy, chàng được vơi bớt nỗi đau. Thiêng bây giờ bình tĩnh hơn, để chững chạc thốt lên những lời châu báu:
Mang ơn em trao tình một lần
Là kỷ niệm dù không đầm ấm,
cùng những xác tín bản thân, như được đóng đinh trên cây thập tự đời mình:
Mang ơn em đau khổ thật đầy
Là nắng vàng dù nhốt trong mây.
Lời đẹp, ý sâu, tâm đầy độ lượng. Ít khi ta được chứng kiến một tấm lòng bao la và một lối diễn tả tinh tế như vậy, trước một cuộc tình tan vỡ. Ẩn dụ “nắng nhốt trong mây” sang trọng, độc đáo. Ở đây, sự quảng đại tỷ lệ thuận với niềm riêng không che dấu, mở ra cùng lúc với những mỹ cảm mà hai câu ca ngắn ngủi đã gợi lên cho ta: một cảm giác lạ thường, như được truyền từ sự hóa thân siêu thoát của khổ đau thành ánh cầu vòng trên vòm tâm thức…
Tuyên bố mang ơn người yêu, mặc dù cuộc tình không mặn mà đầm ấm, mặc dù những vết thương còn đau xót trong lòng : một điều quả hiếm, có lẽ chỉ thấy ở riêng Trầm. Từ Công Phụng có viết bản nhạc Tạ ơn em [22] từ thơ Du Tử Lê, nhưng là để vinh danh người bạn đời trăm năm tình nghĩa. Trịnh Công Sơn qua cả hai bài Tạ ơn [23] và Cho đời chút ơn [24] đều cũng chỉ nói với đời nhiều hơn là với người yêu. Còn Phạm Duy, trong Nghìn trùng xa cách [25], tuy có viết câu kết cao thượng sáng giá “Đường dài hạnh phúc cầu chúc cho người” – song cũng chỉ là lời gửi vói theo, ngày cô gái ông mê lên xe hoa về nhà chồng –, đã không ngại lấy quyết định rũ bỏ ngay vào lúc ấy:
Trả hết cho người, cho người đi/ Trả hết cho ai cả những chua cay.
Trầm không vậy. Chàng giữ hết cho mình những cay đắng khổ đau và một mực khẳng định lòng biết ơn đối với người tình cũ, cũng như đối với cuộc sống đầy cam go thử thách:
Mang ơn trên cho cuộc đời ta
Vài vạn ngày gió cuồng mưa lũ
Thêm một cái lớn nữa của Thiêng. Những cái lớn giúp chàng hiên ngang đối mặt với định mệnh – hay đúng hơn –, với khoảng trống vô biên rình rập sau nấc thang cuối cùng của mọi quá trình hiện hữu:
Trong cơn đau một vừng nhang khói
Kéo ta về, về cõi hư vô.
Nguyễn Đình Toàn trong Tình khúc thứ nhất cũng đã từng mường tượng ra hương khói [12]. Nhưng sự tương tự dừng ở đó, bởi Toàn gợi ra không khí cúng bái là để nhắm thâu lại cho mình những gì hằng mơ tưởng:
Trầm mình trong hương đốt hơi bay, mong tìm ra phút sum vầy.
Còn Thiêng không thế : trong cơn nghiệt ngã, chàng vẫn sẵn sàng chấp nhận cái tín hiệu khi nó đến cho bước cuối để nhập cõi đi về, với hai bàn tay trắng. Trinh trắng, để dâng lên cao niềm tri ân về những gì đã nhận được từ người và đời…
Sau bộ tam ba ca khúc được sáng tác trên nền chinh chiến, Trầm Tử Thiêng đã viết Tưởng niệm như một tự sự, nếu không là một di chúc tinh thần nằm giữa xác tín và tuyệt vọng, lúc mới 35 tuổi.
Khói lửa chiến tranh đã cướp đi những gì tươi mát nhất của tuổi trẻ và để lại trên bài ca dấu ấn những ưu tư, bi phẫn của cả một thời đại. Của sự già nua trước tuổi. Của phôi pha cuộc đời.
Song, bằng ma lực của ca từ và âm nhạc, bài hát – đặc biệt qua hơi giọng ténor vút thẳm, hiếm có trong hàng ca sĩ Việt, của Tuấn Ngọc [26] – vẫn đưa được người nghe vào chiều sâu hun hút của tác phẩm, cống hiến một trải nghiệm sống cộng sinh cùng nghịch cảnh, một cái nhìn vượt mọi giới hạn.
Ngoài sự khám phá bi kịch cá nhân và tấm lòng người nghệ sĩ, nó còn cho ta cái cảm giác song song nắm bắt được những ẩn dụ của tác giả về một bi kịch khác: một giai đoạn lịch sử bội bạc, vô nhân, đã gây bao tang tóc đau thương, đã tước đoạt, đánh tráo, hoặc thủ tiêu mối tình thơ ngây trong sáng mà nhiều thế hệ Việt Nam đã dâng cho lý tưởng cao đẹp.
Cho nên, trái hẳn với sự độ lượng đáng quý mà Trầm Tử Thiêng đã gợi ra qua sự chọn lựa cá nhân và số phần riêng tư đời mình trong nhạc phẩm, về cõi hư vô – ở mức độ cộng đồng – sẽ là số phần tập thể tàn khốc đáng sợ nhất mà định mệnh cay nghiệt có thể dành cho tương lai, nếu trước sau vẫn tiếp tục dưới bầu trời quê hương cơn hội chứng đông miên dửng dưng bất động.
Chú thích:
[1] http://phiendasau-vongngayxanh.blogspot.com/.
[2] https://vi.wikipedia.org/.
[3] 70 NĂM TÌNH CA TRONG TÂN NHẠC VIỆT NAM, Hoài Nam - SBS Radio (Úc) http://ndclnh-mytho-usa.org/.
[4]https://dutule.com/.
[5] Theo Nam Lộc, người dẫn chương trình ca nhạc của Trung tâm Asia, https://nghenhac123.com/.
Tuy nhiên, có nguồn cho rằng Bài hương ca vô tận được viết từ lúc Trầm Tử Thiêng tốt nghiệp sư phạm ra đi dạy (1958), nghĩa là nhiều năm trước khi ông nhập ngũ (1966): https://vanghe.blogspot.com/.
[6] Ngậm ngùi, thơ Huy Cận, trong tập Lửa thiêng (1940)
[7] Phiên bản Thái Thanh hát Bài hương ca vô tận, trước 1975 : https://www.youtube.com/.
[8] Phiên bản Thái Thanh hát Bài hương ca vô tận tại Mỹ : https://www.youtube.com/.
[9] 1963-1975 La guerre du Vietnam, https://www.herodote.net/.
[10] Đưa em vào hạ, Trầm Tử Thiêng, Duy Khánh hát (trước 1975): https://www.youtube.com/.
[11] Xem thêm: Chân dung cái Đẹp, https://www.vanchuongviet.org/.
[12] Xem thêm: Hai sắc thái tình yêu qua hai tình khúc Nguyễn Đình Toàn và Trịnh Công Sơn, https://www.vanchuongviet.org/.
[13] Chế Lan Viên và thế giới "Điêu tàn", http://vanthonhactrieuchau.blogspot.com/.
[14] Ý thức mới trong văn nghệ và Triết học, Phạm Công Thiện, Nxb An Tiêm, Sài Gòn (1965);
Nói với tuổi hai mươi, Nhất Hạnh, Nxb Lá Bối, Sài Gòn (1966), https://langmai.org/.
[15] Album Kinh khổ (Khánh Ly,1995) : https://www.youtube.com/.
[16] Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng và Chuyện một Chiếc Cầu Đã Gảy, Du Tử Lê, http://amvc.fr/.
[17] Ví dụ ở http://hocdanghita.net/: Số quãng Do-Sol gọi là quãng 5 vì từ Do đến Sol là 5 nốt (C, D, E, F, G) ; số quãng Do-Mi gọi là quãng 3 vì từ Do đến Mi là 3 nốt (C, D, E)
[18] Trịnh Công Sơn sáng tác cho một kế hoạch đảo chính vận động hòa bình, Nguyễn Đắc Xuân, http://www.gactholoc.com/.
[19]  https://www.tcs-home.org/.
[20] Chiến dịch Xuân - Hè 1972: https://vi.m.wikipedia.org/.
[21] Tống biệt hành (Trầm Tử Thiêng, thơ Thâm Tâm), Khánh Ly hát :  https://www.youtube.com/.
[22] Tạ ơn em, Thơ Du Tử Lê, Từ Công Phụng phổ nhạc và hát : https://www.youtube.com/.
[23] Tạ ơn, Trịnh Công Sơn, Lệ Thu hát : https://www.nhaccuatui.com/.
[24] Cho đời chút ơn, Trịnh Công Sơn, Trần Thu Hà hát: https://www.youtube.com/.
[25] Nghìn Trùng Xa Cách, Phạm Duy, hát bởi tam ca Bằng Kiều, Thiên Tôn và Đình Bảo: nhttps://www.youtube.com/.
[26] Tưởng niệm, Trầm Tử Thiêng, Tuấn Ngọc hát: http://lyric.tkaraoke.com/. 
20/7/2022
Bùi Đức Hào
Theo https://www.vanchuongviet.org/

"Cung Tiến" qua Camille Huyền và Walther Giger

"Cung Tiến" qua Camille
Huyền và Walther Giger

Cái đập vào mắt khách thơ thẩn dạo văn hóa phẩm giữa Sài Gòn như tôi, trước tiên là một cái tên từ lâu hằng ngưỡng mộ : Cung Tiến.

Rồi đến sự bất ngờ thấy một người nước ngoài làm hòa âm cho « Cung Tiến Art Songs » - cái tên nghe hay hay -, cùng với sự trang nhã trong cách trình bày CD. Tất cả như bắt giọng, dọn chỗ cho một cuộc giao duyên nghe chừng thật đắc ý giữa thi, họa và nhạc, trên nền giao lưu văn nghệ mang ít nhiều màu sắc quốc tế.***
Một lời tựa xuất sắc
Lần vào ngay trang đầu  Album, nét đặc trưng tâm hồn người hát như đã bộc lộ qua những dòng phi lộ dễ gây sức thu hút : một hành trình độc đáo được kể lại bằng một giọng tự nhiên, trong sáng, lãng
mạn mà đậm đà, nhiều say mê nhưng cũng không kém phần tinh tế, cho thấy một ý đồ, một cách tiếp cận vừa khôn khéo, táo bạo vừa mang nhiều tính chuyên nghiệp trong cách thực hiện.
Chả thế mà Cung Tiến cũng đã nhìn nhận “một dự án đầy công phu và suy nghĩ” trong trang cảm tưởng ở cuối tập Album.
Về sức khơi gợi của Lời Tựa, Nguyễn Tường Giang – tác giả một bài thơ được phổ nhạc trong CD – đã thổ lộ: “Camille Huyền, tôi chắc phải là một thiếu phụ trẻ, đẹp và rất có tâm hồn để có thể viết những cảm nhận về nhạc Cung Tiến một cách mê say và sâu sắc đến thế. Tiến trình học nhạc để được hát những bản nhạc mình thích thật là cảm động”
Nhờ nhạc mới nói đến thơ
Đi vào nội dung tác phẩm, có thể nói điều thích thú nhất cho kẻ viết bài này, cũng giống như phát biểu của Trần Thùy Mai ở phần ghi cảm tưởng trong Album, là “khám phá” ra những tác phẩm hậu “Thu Vàng – Hoài Cảm – Hương Xưa”. Cũng nhờ Album này mới hay  là Cung Tiến đã nhiều lần được vinh danh ở Mỹ. Là nhà soạn nhạc tài hoa, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm tầm cỡ. Đối với nhạc nhẹ Việt Nam, sự kiện Cung Tiến được gợi hứng từ nhiều bài thơ đủ thể loại và thời đại (1), tự nó đã phong phú và quý báu.
Đối với những sáng tác của các thi sĩ có mặt ở Miền Nam trước đây, thì không có vấn đề phiên bản. Ngược lại, hai bài thơ nổi tiếng mang tựa đề Đôi bờ và Kẻ ở, mà Cung Tiến đã phổ nhạc, thì chắc hẳn là cần được xem lại vì có chỗ không đúng hoặc không khớp với bản gốc.
Thật thế, về trường hợp bài Kẻ ở, Nam Chi đã có lần phân tích trên măt báo Đoàn Kết (2): tên bài thơ là Dặm về, và tác giả là Nguyễn đình Tiên chứ không phải Quang Dũng (trong Album có để dấu hỏi).
Trường hợp bài Đôi bờ, ta có thể dừng lại đôi chút để so sánh phiên bản được dùng trong CD với phiên bản lưu hành tại Việt nam hiện nay (3).
Bài thơ bắt đầu bằng bốn câu:
1. Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?
2. Sông xa từng lớp lớp mưa dài
3. Mắt kia em có sầu cô quạnh
4. Khi chớm heo về một sớm mai
Ở Sài Gòn, người ta vẫn quen đọc “Khi chớm thu về một sớm mai”; chắc vì ai đó (không biết gió heo may?) đã sửa lại và cho rằng như vậy sẽ “thơ” hơn chăng.
Phiên bản Cung Tiến dùng cũng kế thừa điều ấy.
Bài thơ đi tiếp:
5. Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
6. Bên này em có nhớ bên kia
7. Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến
8. Quạnh vắng chiều sông lạnh bến tề
Phiên bản Cung Tiến rất trung thành với trí nhớ của những người quen nghe Tao Đàn thời trước, cho nên:
- Câu 6 đổi thànhcâu 6’: Kinh thành em có nhớ bên kia
-   Câu 7’: Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến
-   Câu 8’: Hiu hắt chiều sông lạnh đất Tề
Vấn đề trở nên trầm trọng hơn chuyện thay đổi vài từ. Chữ kinh thành quá đặc thù, khó lòng có thể “châm  chước” việc đổi lời thơ của tác giả. Mà tệ hại nhất có lẽ là chữ đất Tề (đã đất rồi, lại cònTề viết hoa, tưởng chừng như muốn cho Quang Dũng lạc vào một mê hồn trận điển tích Trung Hoa nào đó, trong khi tác giả chỉ muốn nói đến bến sông vùng giặc tạm chiếm!).
9. Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
10. Ðêm đêm sông Ðáy lạnh đôi bờ
11. Thoáng hiện em về trong đáy cốc
12. Nói cười như chuyện một đêm mơ
Ở đọạn này, may thay, hoàn toàn không có chuyện dị bản. Thế nhưng, đến bốn câu cuối cùng của nguyên tác dưới đây thì phiên bản Album lại bị đưa đi… xa lắc:
13. Xa quá rồi em người mỗi ngả
14. Bên này đất nước nhớ thương nhau
15. Em đi áo mỏng buông hờn tủi
16. Dòng lệ thơ ngây có dạt dào
Trong CD, ta đọc (Câu 13’): Xa lắc rồi em người mỗi ngả.
Và chuyện lạ nhất  là (Câu 16’): Là hết, thôi rồi chuyện trước sau.
Sự khác biệt với nguyên tác đã vượt quá vòng lý giải “du di” có thể cho qua được!
Tóm lại, đây là một điều rất đáng lưu ý, nhưng chỉ về mặt văn học, chứ hoàn toàn không dính dáng gì đến âm nhạc. Chắc Cung Tiến chỉ là “nạn nhân” của một tình trạng “tam sao thất bổn”, thay đổi tùy tiện câu chữ trong văn chương nói chung và thi phẩm nói riêng của Việt Nam. Cũng có thể phần nào do tình hình Đất Nước bị chia cắt, thơ Quang Dũng bị “nhiễu” quá nhiều, trải qua một thời kỳ lịch sử nhất định.
Vì thế, bây giờ chính là lúc (muộn còn hơn không) để nêu vấn đề “hiệu đính” cần thiết. Điều đáng ngại và sẽ khó xử cho Cung Tiến là dòng nhạc sẽ khó lòng giống nhau giữa câu 16’(đã phổ rồi) và câu 16 của bản gốc nay cần khôi phục lại!
Về giá trị nghệ thuậ tâm nhạc
Phê bình về các sáng tác mới sau Hương Xưa (1955) của Cung Tiến cũng như về giá trị âm nhạc của CD không phải là mục đích của bài viết ngắn ngủi này. Xin nhường cho những nhà phê bình có thẩm quyền cũng như giới thưởng ngoạn nghệ thuật.
Riêng tôi, chỉ cảm thấy thèm cái nhạc tính, tiết tấu và âm điệu – có thể là ít bác học hơn nhưng biết bao tự nhiên thanh thoát và ru hồn – của những tác phẩm Cung Tiến “thời trước”. Cái mạch nhạc thần diệu đã tuôn ra trongThu Vàng, Hoài Cảm, khi  tác giả chỉ mới 14, 15 tuổi (hình như là trường hợp duy nhất của nền văn nghệ Việt Nam) đúng là khó tìm lại được.
Mặt khác, cái đắt giá của một bài hát phổ thơ – theo thiển ý – là làm sao cho người ta không còn nhận ra là nó đã được làm từ một bài thơ. Nói cho cùng, điều này nằm trong quy luật chung của sáng tạo nghệt huật: tác phẩm thành công là tác phẩm có cá tính và “kiếp sống” riêng, độc lập với cái duyên cớ gây cảm hứng ban đầu đã khai sinh ra nó.
Đứng về mặt thuần túy âm nhạc, ta có thể kể nhiều ví dụ kiệt tác thơ phổ nhạc trong đó bài thơ gốc không bị “lộ chân tướng”, câu nhạc không lệ thuộc vào âm điệu và khổ thơ, như Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu (Phan Huỳnh Điểu/ XuânQuỳnh), Kiếp nào có yêu nhau (Pham Duy/ Minh Đức Hoài Trinh), Ngậm ngùi (Phạm Duy/ Huy Cận)…
Nếu phải phát biểu một chút cảm tưởng không trốn tránh ở đây về những nhạc phẩm trong CD thì xin mạo muội thưa rằng các bài hát (mới) của Cung Tiến rất khó thể hiện về mặt kỹ thuật: nó đòi hỏi người hát phải có giọng thiên phú, nghĩa là đầy-đừng quá mỏng như đa số người thường chúng ta -, và biên độ (amplitude) phải rộng.
Chỉ lấy cảm xúc để hát thôi thì rất quý nhưng vẫn chưa đủ, nghĩa là chưa lột tả đươc hết tác phẩm. Điều này càng cần đặc biệt lưu ý khi phải trình bày trước công chúng không hiểu tiếng Việt.
Về phần hòa âm, xin ngả mũ tán dương Walther Giger, trong các hanh tiếp cận cái hồn nhạc Cung Tiến và thể hiện, mà đỉnh cao có lẽ là phần đàn trong bài Hoàng Hạc Lâu.
Như thế, tuy là người không chuyên nghiệp, Camille Huyền đã đi tới cùng dự án của mình và đã thành công trên nhiều mặt, dù chưa phải là không còn chỗ cho sự hoàn thiện. Đưa thơ và tác phẩm Cung Tiến đến mọi người, kể cả ca từ, – tôi nghĩ tới phần dịch ra tiếng Anh toàn bộ lời các bài hát – là một nỗ lực đáng trân trọng.
Một dự án hoàn thành tốt đẹp, khởi từ những rung động mãnh liệt và lâu bền, đủ để gây cảm xúc ngay cho những người như Nguyễn Tường Giang: “tôi đã từ lâu xa lánh sách vở, âm nhạc và văn chương, nhưng rất vui là trên "cõi nhân gian" này vẫn có những say mê về cái Đẹp”.
Mong rằng cái Đẹp sẽ giúp ta dễ lắng nghe, thăng hoa và sáng tạo.
Chú thích:
(***) Bạn đọc hiện nay có thể nghe bài này ở đây:
Hoàng Hạc Lâu - Cung Tiến (Camille Huyền vocal, Walther Giger guitar) - Bing video
(1)  Trần Dạ Từ, Quang Dũng, Thanh TâmTuyền, Thôi Hiệu (Vũ Hoàng Chương), Nguyễn Tường Giang, Nguyễn Đình Tiên, Phạm Thiên Thư
(2)  Đã được sự xác nhận của tác giả Nam Chi (ĐặngTiến) qua  liên lạc riêng, mặc dù rất tiếc chưa tìm ra được chính xác xuất xứ bài báo đã xuất bản.
(3)  Thơ Quang Dũng, Thi Ca Việt Nam chọn lọc, NXB Đồng Nai.
14/7/2022
Bùi Đức Hào
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Vài nét về hai khuôn mặt nổi bật của nhạc Việt đương đại: Lê Cát trọng Lý và Vũ Cát Tường

Vài nét về hai khuôn mặt nổi bật của nhạc
Việt đương đại: Lê Cát trọng Lý
và Vũ Cát Tường

Trong tưởng nhớ đến Thái Thanh, giọng hát toàn bích, vô song, đã thổi hồn cho từng con chữ nốt ca tân nhạc Việt Nam - Bùi Đức Hào

Nghệ thuật là một sự kiên trì lao động lâu dài, là quá trình thai nghén, chắt chiu từng ý tưởng, cảm hứng, là nỗ lực không ngừng đưa ra cái mới.
Vượt lên trên những biến thiên thời cuộc bằng tầm cao và độ lùi cần thiết, nó là tấm gương phản chiếu thực tại và, với thời gian, lưu lại hậu thế những chất liệu cho phép nhiều góc nhìn tán dương hoặc phê phán khác nhau về thời đã qua. Nghệ sĩ, vì thế, vừa là kẻ đồng hành điểm tô cuộc sống vừa là chứng nhân đặc biệt – có khi là người dự báo – gom góp những sắc màu riêng lạ nhất để vẽ nên con người và xã hội trong mọi chiều kích khả hữu.
Song, dù ở bất cứ xứ nào, sau một giai đoạn phát triển nghệ thuật với những đỉnh cao rực rỡ, người nghệ sĩ kế tục thường bị đứng trước một tình huống tế nhị: bằng mọi cách, họ phải vượt thắng chính mình, để khỏi bị «khớp» đến độ có thể bị nhụt chí chùn tay, không dám sáng tác nữa…

Riêng đối với nước ta, trong lĩnh vực các ca khúc, sau lớp đàn anh đại thụ điển hình là những Phạm Duy, Trịnh Công Sơn…, thế hệ nhạc sĩ hậu sinh – dù có thể chưa đạt được mức 100% thành tựu do thiếu đều tay và hãy còn non trẻ – vẫn tỏ ra xứng đáng với nhiệm vụ tiếp tục đi tới và đã đông đảo trả lời có mặt trên trang sử mới bài hát Việt.
Đã ló dạng những nhân tố tinh khôi qua sự ra đời có khi còn nóng hổi của nhiều sản phẩm âm nhạc ấn tượng đến từ một Jack[1] “tân binh” tài hoa, một Hoàng Thùy Linh “hóa thân” ngoạn mục – với kỷ lục là nghệ sĩ đầu tiên thắng cùng lúc cả bốn hạng mục chính của Giải Cống Hiến năm nay[2] – hay, xa hơn, một Suboi rất thuyết phục, đã từng chững chạc trổ tài trước mặt Tổng Thống Mỹ Obama[3], chẳng hạn.
Nhưng, trong khuôn khổ bài viết này – như một lời cầu ước trông mưa giữa cơn khô hạn phê bình nghệ thuật –, xin được phép chỉ đề cập đến hai nhà sáng tác-thể hiện ca khúc trẻ tuổi đã lập nhiều thành tích rất đáng chú ý những năm gần đây, là hai nàng «dáng trai» (tomboys) độc đáo, mang tên na ná giống nhau khúc đầu: Lê Cát và Vũ Cát, hai phong cách gần như đối cực, hai tâm hồn dẫu mang nhiều khác biệt vẫn gặp nhau ở chỗ cùng hết sức năng động, trung thực với chính mình và say mê khai phá trong hành trình sáng tạo.
1-Từ hiện tượng đến hiện diện: Lê Cát Trọng Lý trên bước đường tìm mới trọng… tình
Với tác phẩm Chênh vênh xuất sắc giật giải «Bài hát của năm» trong chương trình Bài Hát Việt 2008[4], Lê Cát Trọng Lý – cùng lúc đoạt danh hiệu “Nhạc sĩ trẻ triển vọng”– đã xuất hiện vào thời điểm ấy như một hiện tượng đầy hứa hẹn. Mười hai năm trôi qua từ đó, đã khẳng định vị trí của cô gái đầy cá tính và tài năng này.
Không phải tình cờ mà nữ nghệ sĩ từng có biệt danh “con chim sẻ tóc xù”[5] đã được mời hát trong đêm trình diễn nhạc của Francis Cabrel tại Việt Nam năm 2009[6], hoặc trước “bá quan văn võ” vào dịp Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN 2018[7] tại Hà Nội. Cũng như không phải ngẫu nhiên mà Lê Cát Trọng Lý liên tục nhận giải thưởng: hết giải “Cống Hiến” 2010 (Nhạc sĩ của năm)[8] rồi đến "Album ấn tượng" 2011[9] và gần đây hơn là giải “Âm nhạc xuất sắc” tại Liên hoan phim Việt Nam 2015.[10]
Rất nhiều trang đã được dành cho người nhạc sĩ kiêm ca sĩ nổi tiếng của đất Quảng Nam quả lắm anh tài ấy. Nhưng một trong những bài giới thiệu cô đọng mà có lẽ cũng đủ nét chủ yếu nhất về Lê Cát Trọng Lý – ở mốc năm phát hành 2014 – là của một nhà thiết kế vải lụa thời trang cha Pháp mẹ Việt[11], và nó còn lại được cẩn thận viết bằng tiếng của đại văn hào Shakespeare, nên hẳn đã tăng phần thuận lợi cho việc quảng bá. Tác giả Magali An Berthon hào hứng cho biết như thế là Trọng Lý của chúng ta đã từng được so sánh – dĩ nhiên trong kích cỡ và bối cảnh Việt Nam – với những nghệ sĩ lừng danh như Joni Mitchell và Tracy Chapman: một sự nồng nhiệt có thể khiến ta cảm kích mừng vui, nhưng đồng thời cũng thúc đẩy ta tìm hiểu sát hơn, với những phân tích thấu đáo, cụ thể.
Lê Cát Trọng Lý, theo Wikipedia [12], sinh năm 1987 và lớn lên ở Đà Nẵng; cha là ca sĩ, mẹ là giáo viên dạy văn. Sau khi tốt nghiệp trung học Phan Châu Trinh (2005), cô được nhận vào khoa tiếng Nga Đại học Đà Nẵng nhưng rồi bỏ ngang (2006), để vào Sài Gòn. Nhập Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), Lý học viola ở khoa violon và bắt đầu sáng tác ca khúc.
Như chính cô đã phát biểu trên trang mạng BBC News [13]Mùa Yêu là ca khúc đầu tay được viết lúc 18 tuổi : nó hầu như đã chất chứa nhiều nét đặc trưng của phần lớn các bài hát về sau. Trong sáng tác, cô cho biết chịu nhiều ảnh hưởng dân ca, như rất nhiều nhạc sĩ khác. Tuy nhiên, ở Lê Cát Trọng Lý, ta thấy hơi hướng đồng giao nguyên thủy ấy, khi có, thường được hòa quyện, cuốn theo những cách ngắt câu, chuyển phách, cài nốt « đột biến » và cấu tạo âm tiết tân kỳ: những thủ pháp khá chung, thường gặp trong ca nhạc đương đại nhưng đồng thời – tùy theo lối sắp xếp – cũng làm nên « thương hiệu » riêng của từng tác giả.
Ta có thể nêu trường hợp tác phẩm Mùa Yêu chẳng hạn – mà đoạn giữa không khỏi nhắc đến những cung bậc bài hát «huyền thoại» Chênh Vênh – có những nốt đặc trưng chợt lên cao hoặc xuống thấp một cách bất ngờ. Hay trong Lúng Ta Lúng Túng: một bài ca ngộ nghĩnh, đầy chất dân gian, cũng tạo cảm giác lạ từ những dấu lặng «bỏ nhỏ» rơi đột ngột, ngẩn ngơ! Ở tác phẩm Mộng Du (Người Lang Thang), giai điệu nghe khá mới và được đệm bằng những nhạc khí mang âm hưởng vùng cao. Đến Không Sao Về Bắt Đầu [14] trong Album cùng tên ra năm 2017 thì chất núi rừng tây bắc tuôn tràn. Nhưng, cũng trong chiều hướng này, có lẽ Hương Lạc mới đúng là bài ca độc đáo mà tính dân dã được nâng lên tầm hiện đại một cách rõ nét nhất qua ngôn ngữ biểu hiện: một tuyệt tác.
Trên phương diện thuần túy âm nhạc, Lê Cát Trọng Lý có những nỗ lực tìm tòi đã làm nên tên tuổi như thế. Cô không ngại bỏ lối mòn để phiêu du vào những miền đất mới. Nhưng thử nghiệm không phải lúc nào cũng dẫn đến thành công. Nếu có những bản nhạc khá đạt như Là Con Gái Thật Tuyệt – vui, tiết tấu khác thường – hay Nhanh Nhanh Quá vừa lạ lại vừa có nhịp điệu…thần tốc, hiếm thấy trong làng nhạc Việt, thì cũng có những bản phải nói chân thành là rất thường do giai điệu nghèo, cấu trúc quá giản đơn, chẳng hạn như: Ngày Hôm Qua Ở Đâu, Lẩn Thẩn…
Trong trường hợp những sáng tác như Thu Lu hay Em đứng trên cánh đồng – cũng như Cao Hơn Vì Sao, Này Sao Ơi – thì, tuy không có gì xuất sắc, nhưng nhờ dựa vào phần hòa âm vượt trội, đã được nâng cao lên hẳn về giá trị thẩm mỹ. Chính vì thế, ta không thể không nhắc đến đóng góp to lớn của Nguyễn Thanh Tú, người đồng hành phụ trách phối khí cho hầu hết các ca khúc Lê Cát Trọng Lý: một ưu điểm đáng được nhấn mạnh đặc biệt trong làng nhạc Việt bởi vì, cho mãi đến thời kỳ gần đây, ta thường thua xa nhạc phương Tây trên mặt này.
Qua những tác phẩm mới nhất hiện nay, người ta dễ nhận ra nơi Lý sự cố gắng vượt cái cũ, của thời đại cũng như của chính mình. Điều này đáng mừng và hoàn toàn dễ hiểu. Song, cũng tương tự một động tử cần vượt khỏi sức hút trọng trường (pesanteur), trong nghệ thuật, điều kiện tiên quyết để đột phá là tác giả phải tích lũy cho được một năng lượng sáng tạo đủ lớn.
Trên một bài báo cách đây 10 năm, khi được hỏi về « bóng dáng nhạc Trịnh Công Sơn » trong tác phẩm của mình, Trọng Lý có khiêm tốn thổ lộ: «nhạc Trịnh giống như một nền văn hoá mà có thể, tôi bị ảnh hưởng lúc nào không biết […] như thể từ trong tiềm thức»[15]
Công bằng mà nói, điều này rất khớp với cảm giác của nhiều người khi nghe kỹ giai điệu lẫn ca từ một số bài Lê Cát như Nghe Tôi Kể Này, Giấc Mộng Lớn, Con Đường Lạ (ngoại trừ cách ngắt câu, khác Trịnh), Chưa Ai (nếu không tính đoạn giữa)… Dầu vậy, cũng qua báo chí nhưng gần đây hơn[16], Lý lại có một cách trả lời khác hẳn, dứt khoát phủ nhận: <<… tôi không bị ảnh hưởng âm nhạc của ông. Những sáng tác của tôi là do cảm xúc của mình, không liên quan đến ai khác. Nghe đến việc bị ảnh hưởng nhạc Trịnh, tôi thấy sợ, bởi người nghệ sĩ làm việc nghệ thuật độc lập, không muốn làm “phiên bản” của ai cả>>.
Di sản về cảm quan nghệ thuật là một hằng số văn hóa ăn thấm tự nhiên trong mỗi tế bào nhân sinh, phần nào có tính «bất khả kháng» đối với từng cá nhân. Do đó, chuyện bị ảnh hưởng đôi chút cũng là hệ luận tất yếu của sự kế thừa, không có gì đáng chê trách hay ngạc nhiên. Tuy nhiên, ở đây, câu trả lời có pha lẫn đôi chút nặng nề của Lý hình như cũng là để «trả lễ» cho câu hỏi khá vụng về, nếu không nói thiếu tế nhị, của phóng viên chăng?
Đằng khác, Lê Cát Trọng Lý không phải chỉ có một kiểu nhạc. Bên cạnh những bản trữ tình nổi tiếng, cô còn viết nhiều tác phẩm đa dạng như Chuyến Xe mang dấu ấn nhạc phương Tây, hoặc Con Quỷ Ăn Tên với âm điệu lạ, hao hao giống kiểu dân ca châu Phi. Hay như trường hợp bài Điều Muôn Thuở, một thứ «nhạc nói» tựa lối cầu kinh. Trong lãnh vực điện ảnh, cô đã từng có nhạc cho phim tư liệu xuất sắc Công Binh[17] của đạo diễn Pháp-Việt Lâm Lê, cũng như ta có thể kể một số ca khúc Lê Cát Trọng Lý đã được xử dụng trên màn ảnh lớn nhỏ tại Việt Nam như Đi Qua Bóng Đêm và Tám Chữ Có (phim Cuộc Đời Của Yến), Ta Hứa Sẽ Nhận Ra (phim Tấm Cám- Chuyện Chưa Kể), Trời Ơi (phim Scandal - Bí mật thảm đỏ), Nhiều Người Ôm Giấc Mơ (phim Tối Nay 8 giờ!). Đặc biệt trong những sáng tác gần đây, cô chọn những khung cảnh hoặc đề tài vượt ngoài khuôn khổ cổ điển. Tiếc thay, phần lớn đều trở thành tương đối khó nghe, thậm chí – trên một số bài trong loạt này – yếu tố nhạc, và ngay cả ca từ, có lúc bị …tụt dốc bất thường: Dưới mưa dừng bước, Bài hùng ca hay lời ai oán, Vì sao cố giấu đi thật thà (Bài hát của Bờm), Tóc tai người quên chưa chải, Anh chưa từng có tên, Và ta đã không hát như lúc xưa, Đừng mua nhiều nhà hơn mình cần…
Người ta có cảm tưởng, riêng về chủ đề, Trọng Lý có vẻ bị lạc lối giữa những trần tình, lý sự hay chuyện vụn vặt cuộc đời, mà cô dường như, trong một ý hướng cách tân đáng trân trọng, đã cố ý chọn làm điểm xuất phát thực tế cho nhiều tác phẩm «đời mới». Nó cho thấy ít nhất hai nghịch lý không nhỏ.
Một là, như vừa nói, Lê Cát Trọng Lý vẫn chưa thực sự thoát ra khỏi vòng cương tỏa của cái mà cô gọi là «lý trí», mặc dù cách đây 8, 9 năm Lý đã từng tuyên bố «hãy nhảy múa, đọc thơ, là nghệ sĩ. Đừng làm một người logic»[18], mặc dù những lời lẽ giải bày thẳng thắn, đại loại như thế này với báo chí[19]: «Bây giờ nhìn lại, tôi đối diện với thực tế rằng mình đã từng lý trí và từng tạo cho mình những công thức riêng trong âm nhạc. Khi ấy âm nhạc của tôi tìm đến sự đồng cảm của số đông. Tiết chế nhiều trong sáng tác. Bây giờ tôi hiểu không thể có cả trăm ngàn người thích mình, không thể có sự đồng cảm từ nhiều người. Mình chỉ cần chia sẻ với một nhóm nhỏ, được đồng cảm với họ là đủ rồi. Điều đó khiến âm nhạc chân thật hơn. Nếu kiên trì, thì nhóm nhỏ đồng cảm đó sẽ lớn dần lên»
Có điều gì hơi khó hiểu. Vì «tìm đến sự đồng cảm của số đông» thì có gì là «lý trí»? Quan niệm «chỉ cần chia sẻ với một nhóm nhỏ, được đồng cảm với họ là đủ rồi» lại càng kém… hữu lý hơn nữa: vấn đề là chọn lựa và viết cho đạt, nghĩa là cho có người nghe.
Hơn ai hết, Trọng Lý biết rất rõ tầm quan trọng của chữ tình so với , bởi chính cô xác nhận gần đây: «Sau 12 năm làm nghề tôi nhận ra, nhu cầu cuối cùng của con người là được yêu thương, nên bài hát viết ra phải có tình cảm, cao siêu đến đâu mà không tình cảm cũng không còn được gọi là hay nữa. Mà tình cảm lạ lắm, nếu có, nó sẽ chạm đến mọi người»[20]
Đó cũng là một trong những định đề mỹ học. Đã vậy, thì làm sao cắt nghĩa được – và đây chính là điểm thứ nhì trong hai điều vừa nêu – sự kiện Lý tỏ ra quá tự tin vào giá trị tự tại của những đứa con tinh thần mới khai sinh của mình. Đến độ cô trịnh trọng tuyên bố: "Trải qua 10 năm làm nghề, cho đến những bài hát gần đây, tôi mới thấy bớt xấu hổ khi nghe lại"[21], trong khi đó, rõ ràng «một số khán giả nhận xét nhạc của Lý "khó nghe hơn", "cần tính chuyên môn cao"». Sự cách biệt về đánh giá tác phẩm giữa đôi bên – tác giả và khán giả – càng lộ rõ khi ta đọc những lời tường thuật như dưới đây, ở trong cùng bài báo, (mà nội dung còn được lặp lại trên một trang mạng khác[20] cũng vào năm 2019): «Trong một buổi gặp gỡ ở Hà Nội, khi nhận được câu hỏi "Vì sao Lý không hát những ca khúc được nhiều người yêu mến trước kia ?", cô trả lời gọn lỏn: "Lý không thích nữa". Trên sân khấu một chương trình ở L'espace năm ngoái, cô kể: "Đi đâu, tôi cũng được yêu cầu biểu diễn bài này, nhưng hôm nay nhất định không". »
Một cách biệt dẫu tự nhiên và nhỏ đến mấy, nếu tiếp tục kéo dài, có thể dẫn đến sự cách ly tai hại giữa nghệ sĩ với quần chúng. Nó bắt nguồn từ việc người sáng tác, đặc biệt trong trào lưu hậu hiện đại, hay lẫn lộn Nghệ thuật với ý tưởng nghệ thuật: cái trước – kỳ diệu, khách quan và toàn diện – không nhất thiết là hệ quả của cái sau, vốn có khi khiên cưỡng, chủ quan và cục bộ, mà thực chất thường là sự phô trương, bất luận có ý thức hay không, của những sắp đặt trí thức phức tạp[22] !Tác giả muốn nghĩ thế nào thì nghĩ, nhưng tác phẩm một khi đã ra đời thì trở thành của quần chúng và khi đó chỉ còn lại duy nhất có một tiêu chuẩn đánh giá: sự yêu thích hay không của người thưởng ngoạn.
Riêng đối với tình trạng "nhiều nhạc sĩ trẻ muốn chứng tỏ sự khác biệt của mình bằng sự gai góc, xù xì về mặt âm thanh, giai điệu, ca từ nhưng đa phần khá khó nuốt với công chúng", như nguyên văn lời bình luận trong một bài báo đã dẫn[18], ta sẵn sàng tin tưởng ghi nhận ý kiến thuận lợi đầy lạc quan của tác giả chua ở cuối câu: "Lý không nằm ngoài dòng chảy kiếm tìm sự khác biệt, nhưng có một điều cô luôn đảm bảo - đó là giai điệu hay". Dù rằng, như đã thấy trên, sự «bảo đảm» này – tiếc thay – không phải lúc nào cũng được kiểm chứng…
Toàn bộ những nhận định trên đây đều không ngoài mục đích tránh rơi vào sự ưu ái đôi khi có hơi quá mức của giới truyền thông, nhằm đặt đúng chỗ vị trí của Lê Cát Trọng Lý trong bức tranh toàn cảnh nhạc Việt. Việc các buổi trình diễn thường niên dự kiến[23] cho đầu năm 2020 bị dời lại do cơn đại dịch Covid-19[24] đã khiến ta bị thiếu mất những dữ liệu mới nhất để đo lường mức hưởng ứng công chúng đối với nhạc của cô và, do đó, cũng khó lòng xác định đúng đắn về tình hình thực địa hiện nay.
Tuy vậy, điều hiển hiên là Trọng Lý có một uy tín và hào quang không chối cãi. Lời tường thuật có đôi chút giai thoại sau đây là một ví dụ: «Nhà thơ Đỗ Trung Quân trong một lần đi công tác tại Mỹ đã nghe thấy âm nhạc của cô vang lên tại đây, ông ngạc nhiên hỏi cậu thanh niên trẻ, tại sao lại biết và nghe nhạc của Lê Cát Trọng Lý, anh chàng bèn nói: “Dù tôi không hiểu những ca từ của cô ấy nói gì nhưng tôi cảm nhận được tâm hồn và nỗi buồn của cô ấy. Tôi thấy sự sẻ chia và âm nhạc của cô ấy cuốn hút tôi ngay từ lần đầu tiên khi tôi click chuột vào một bản demo của cô ấy trên mạng. Lê Cát Trọng Lý có quen ông à?”. Nhà thơ Đỗ Trung Quân trả lời: “Phải nói là tôi có quen cô ấy hay không chứ. Tôi cũng là một người yêu âm nhạc của Lê Cát Trọng Lý”».[18]
Và nhà báo cho biết thêm: «Fan của cô ở đủ mọi lứa tuổi, trình độ học thức, học sinh, sinh viên thậm chí những nghệ sĩ nổi tiếng khó tính như họa sỹ Lê Kinh Tài, nhạc sĩ Thanh Tùng… cũng yêu âm nhạc của cô nhạc sĩ tóc xù này»
Tất nhiên, ngược lại, cũng có người như nhạc sĩ Trần Tiến đã tỏ ra rất khắt khe trong phê phán, sau câu giáo đầu ví von, rằng «Lê Cát Trọng Lý như một ngọn cỏ xanh mơn mởn trong veo và hồn nhiên […] Lý không phải là nhạc sĩ mà cũng chưa phải là ca sĩ, cô cũng chẳng cần sự nổi tiếng»[9] (!). Nhưng rồi, theo một nguồn khác[25], ông đã tự biết «điều chỉnh» lại phát biểu của mình cho được cân bằng hơn, sau khi nghe xong album Lê Cát Trọng Lý“Nếu nhìn nhận Lý ở khía cạnh nhạc sĩ, bạn ấy xứng đáng được tôn vinh nhưng Lý không phải là một ca sĩ hay”.
Về phần mình, Magali An Berthon đã rất có lý khi nhấn mạnh đến chất thơ trong sáng tác Lê Cát Trọng Lý, mà cô không ngần ngại gọi là một «poetic icon» trong nhạc Việt.
Điểm mạnh của Trọng Lý hình như nằm ở đây, ở phong cách rất riêng của cô dựa trên một quan niệm nhất quán – đồng thời cũng là chìa khóa lý giải các mâu thuẫn cảm nhận –, có thể được rút gọn thành một phương châm: nhạc là để chuyển lời, nghệ thuật là để đi với đời.
Cho vế thứ nhất, một trong những minh họa phù hợp hay nhất có lẽ đến từ một người hâm mộ nhiều mẫn cảm, qua mấy dòng anh để lại trên trang facebook của cô[26]: «Lê Cát Trọng Lý thật thong dong, tự tại, em như người duy nhất thế hệ em mượn nhạc ghi lại lịch sử tâm tư, cảm xúc mỗi con người thời nay lưu cho mai sau. Thế hệ trước anh trân trọng TrCS, đến giờ có em, mỗi ca từ như chắt chiu, níu giữ hạt mầm thiện lành trong cõi nhân gian. Nghe và ngấm như có hàm lượng tư tưởng triết học, phật học, thiền định trước những xô bồ, vật vã, tranh giành, hơn thua, được mất, khóc hờn, đau khổ, giết chóc, căm hờn, thù hận. Mong có nhiều LCTrL như em trong cõi thế này»
Không chỉ riêng nội dung mà cả về mặt hình thức, giá trị ca từ trong phần lớn các ca khúc của tác giả Chênh Vênh cũng đã được đa số nhìn nhận, và đặc biệt mới đây còn được đề cao bởi một cây bút thuộc loại“ người giữ đền khó tính trên báo Văn Nghệ Quân Đội: sau khi đánh giá «Bài hát Việt từ sau 2007 cũng như ca khúc đương đại nói chung không có nhiều tác phẩm gây được ấn tượng như trước, trừ một trường hợp: Lê Cát Trọng Lý», nhà phê bình này xác nhận rằng «âm nhạc của Trọng Lý có hơi thở riêng […] và nhiều dòng ca từ đẹp như thơ»[27]
Trung thành với vế thứ hai của phương châm, Trọng Lý quả thực đã không ngớt triển khai những hoạt động mang tính cộng đồng: nhạc, cùng lúc, trở thành phương tiện hỗ trợ để thực hiện nhiều dự án xã hội.
Đầu tiên, phải nhắc tới «Khù khờ Tour», một dấu mốc quan trọng trong quá trình hoạt động của Lý, đã từng đưa cô đi xuyên suốt các tỉnh miền núi phía Bắc, «đến gần hơn với những người dân vùng cao, mang âm nhạc để kết nối và giúp đỡ những em nhỏ ham học có cơ hội đến trường»[28]
Tiếp theo là cả một chương trình dài hơi, lớn tham vọng và giàu thiện ý, tới tận «các vùng nông thôn khắp đất nước, tư vấn, chăm sóc sức khỏe, kết nối các em nhỏ với những nhà hảo tâm... Tất cả được Lý miêu tả ngắn gọn "không chỉ để ca hát". Cô cho biết muốn kết nối những người bạn có năng lực và sự tử tế với nhau để cùng làm những điều tươi đẹp, tập trung vào niềm vui, bớt đi sợ hãi, chần chừ, nghi ngại trong cuộc sống»[29]
Chẳng những thế, Lê Cát Trọng Lý còn biết hướng tới những đối tượng rộng lớn hơn, khởi từ “những chuyến đi thực tế giúp cô thêm yêu thiên nhiên. Cô quan tâm đến việc bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu […] và muốn dùng âm nhạc để truyền tải những vấn đề này.” Đúng là một cái nhìn xứng đáng tiêu biểu cho tuổi trẻ thế kỷ XXI.
Mặt khác, trước những nhu cầu thực tế hiện tại và cũng để nhắm đến tương lai, người nghệ sĩ năng động này mới đây còn có sáng kiến xây dựng một cơ sở đào tạo, chủ yếu về âm nhạc, qua kế hoạch góp quỹ lập Trường Nghệ thuật Cẩm Chướng tại Măng Đen (Kon Tum)[30-31] , rộng rãi dành cho đại chúng: học viên đủ thành phần, sẽ là bất cứ ai “trên 15 tuổi từ khắp nơi: người lớn đã xong hết công việc, con cái đi du học, buồn và thích học nhạc; người lớn muốn thay đổi nhịp sống hiện tại, tạm nghỉ việc trước khi chuyển sang giai đoạn mới; người lớn lạc lối, kìm nén ước mơ nghệ thuật thuở thiếu thời; thanh thiếu niên có nhiều ước mơ về nghệ thuật”
Lý ngày càng có nhiều chuyến đi xa, trên nhiều châu lục. Được thêm tiếp xúc, tâm hồn thêm rộng mở, cô nhanh chóng thể hiện các ý tưởng mới, đặc biệt qua dự án Dreamers Concert World Music kết hợp cùng với các nghệ sĩ ở Mông Cổ, Bhutan và Châu Phi, mà “phát súng đầu” vào cuối tháng 9 năm 2019 là một MV phong phú, mới mẻ – lần đầu tiên được cô thực hiện – đã tạo nhiều tiếng vang, đánh dấu một bước ngoặt về tầm nhìn lẫn quan niệm nghệ thuật của tác giả.[32-33] Một nhãn quan vượt mọi biên giới không gian, chủng tộc, điều kiện xã hội, như chính sự nhiệm mầu của Âm Nhạc phổ quát, siêu ngôn ngữ: niềm thông-giao trực diện đó kết nối người với người qua nhịp cầu làm bởi tiếng đàn giọng hát, chan hòa toát ra từ những hình ảnh sống thực và cảm động[34] mà Lý và Tú đã tinh tế thu được, trên nền hiện thực một khu «ổ chuột» dân nghèo chen chúc châu Phi...
Trong văn học nghệ thuật,các tác giả thành danh hay có những lúc xuất thần làm nên tuyệt phẩm. Cái phút giây «ân huệ» diệu kỳ đó thường vụt mất ra đi như thể sẽ không bao giờ trở lại, nhưng rồi cũng có khi nó lại bất ngờ tái xuất: sự ngẫu nhiên bất định là một trong những đặc tính của huyền nhiệm sáng tạo và, do đó, luôn đẩy ta về phía trước, với những kỳ vọng ấp ủ cho ngày mai… Đằng khác, cũng không nên quên rằng ngay cả đối với những thiên tài âm nhạc của nhân loại cỡ Mozart, Beethoven, không phải tác phẩm nào họ viết ra cũng đều là hay hết.
Cho nên, nếu Lê Cát Trọng Lý không bị sẩy chân theo những sáng tác «bác học» có thể lắm chất trí tuệ nhưng lại thiếu giai điệu lẫn cảm xúc, thì những thành công mới không có lý do gì lại không nằm ở tầm tay.
Đã qua rồi, sự đóng khung trong dòng nhạc “ao làng” quen thuộc êm tai nhưng lại quá ư hạn hẹp giữa thời đại thế giới phẳng. Hy vọng rằng Lê Cát Trọng Lý, với óc cách tân và trái tim yêu nhạc, yêu người vốn có, sớm muộn gì rồi cũng sẽ chín muồi cảm hứng và chiến lược sáng tác – đặc biệt trong viễn tượng đầy hứa hẹn của một sự giao thoa chẳng hạn như với dòng nhạc World Music [35] đương đạixem ra rất hợp với “tạng” làm nghệ thuật của cô – , và do đó biết đâu sẽ chóng hoan hỉ “truất ngôi” bài Chênh Vênh kia, ra mắt đã từ hơn mười hai năm trước, bằng những tác phẩm mới mẻ, thật sự bắt tai, bứt phá[36] và nhất là sẽ không chút kém đi sức lay động lòng người…
Trong niềm tin đó ở phong độ và tiềm năng người kỳ nữ sông Hàn, tại sao ta lại không thể tự cho phép “mộng mơ” đôi chút, để hình dung tới một vị trí sẽ còn xa cao hơn nữa cho cô ở tương lai, vượt ngoài biên giới khu vực, sánh vai cùng những ngôi sao ca nhạc quốc tế – cũng mang đặc điểm có chủ bài đa văn hóa y như Lê Cát chúng ta – đã và đang thành công rực rỡ ở trời Tây: một Ayo[37] dân Đức gốc Nigeria, hay một Katie Melua[38] dân Anh gốc Géorgie chẳng hạn?
Bởi, nói cho cùng – một khi đã quan sát thật kỹ –, họ đều hầu như không sở hữu một tuyệt chiêu nào, mà cũng chẳng khiến ta phải kiêng dè có ẩn chứa đâu đó yếu tố chi «siêu phàm», ngoài cái khiếu tiếp thị đúng là hiệu quả và vận số may mắn họ sẵn được Trời cho.
Phần còn lại – về phía ta – chỉ tùy thuộc vào thực lực và ý chí, là những gì vốn hoàn toàn không thiếu nơi cả hai nghệ sĩ, họ Lê cũng như họ Vũ. Và điều đó lại càng đúng khi ta nhìn qua những hoạt động sôi nổi của nhân vật thứ hai này.
2- Vũ Cát Tường hay thách thức tiếp cận tính hiện đại qua âm nhạc toàn cầu hóa
Nếu Lê Cát Trọng Lý nổi tiếng với những bài ca đượm vẻ “hiền triết trước tuổi, thiền, lạnh, xa, bế tắc, mượt mà, lục cục và êm êm…, như nản, như xoáy, như tiếng tụng kinh, như tiếng của đêm, như tiếng than thở, như tiếng kể chuyện cổ tích rù rì thăm thẳm” – như có người đã từng văn vẻ nhận xét[25] –, thì vị trí mà Vũ Cát Tường chiếm lĩnh trên địa bàn nhạc Việt hiện nay có lẽ phải nằm ở tận đầu kia trục đối xứng: một ngôi sao của “V-pop”, dòng nhạc trẻ sôi động mà trong đó nhịp điệu lôi cuốn là lõi cốt và hiệu ứng diễn xuất sân khấu nắm phần chủ đạo.
Cho nên, nếu Lý là tĩnh thì Tường là động. Lê Cát có thể sẵn sàng hát chỉ chừng với năm, bảy chục người nghe, trong khi Vũ Cát thường chuộng biểu diễn trước không gian rộng lớn chứa hàng ngàn khán giả. Hai lối sáng tác và thể hiện không thể so sánh. Hai phân khúc thị trường âm nhạc hoàn toàn dị biệt.
Nói như một nhà báo, nếu Lý hay đi “tìm cảm hứng trong những dòng chảy âm nhạc cục bộ, địa phương của những miền đất xa xôi, ít người lưu ý”[39] thì Tường, giống như phần đông các nhà viết nhạc trẻ Việt Nam trên phương diện hình thức biểu hiện, chủ trương hướng tới “những trào lưu âm nhạc có sức ảnh hưởng sâu rộng trên toàn thế giới.
Ý hướng này, tự nó, là một dự phóng đáng trân trọng. Trong chừng mực nào đó, thái độ say sưa tiếp thu cái mới bây giờ cũng có nhiều điểm tương đồng với tâm thế những người tiên phong trong văn học nghệ thuật nước ta hồi đầu thế kỷ XX, khi họ du nhập chẳng những thơ mới, tiểu thuyết, học thuật tư tưởng phương Tây mà cả âm nhạc, kịch nghệ, ca múa và điện ảnh.
Như vậy, trước hết, người nghệ sĩ hôm nay phải chọn thể loại, ngôn ngữ nào để làm nhạc, cho ai và với ai?
Vũ Cát Tường xem ra đã giải thỏa đáng các phương trình định hướng hoạt động cho chính mình đồng thời, qua đó, cũng góp phần – nếu không nói là đóng vai trò tiền đạo – cho sự hiện đại hóa và lan tỏa của ca nhạc Việt Nam.
Mặc dù xuất thân là «dân khoa học», tốt nghiệp hạng giỏi khoa Kỹ thuật Y Sinh Trường Đại Học Quốc Tế TP HCM – thuộc top 10 sinh viên xuất sắc nhất Việt Nam nhận học bổng GE Foundation Scholar-Leaders 2011 –, Tường đã nhất quyết chọn con đường âm nhạc mà không qua lối chính thống, ngay khi còn đi học. Á quân ở chương trình Giọng hát Việt mùa thứ 2 năm 2013, cô gái An Giang sinh năm 1992 đa tài này, ngoài khiếu ca hát, còn gây chú ý qua những sáng tác đầu tay được rộng rãi đón nhận và yêu thích, như Đông (2012), Vết Mưa và nhiều «hit» khác theo sau. Trong đó, đặc biệt Yêu Xa là tác phẩm đã được vinh danh là «Ca khúc được yêu thích nhất» do khán giả bình chọn cùng lúc với «giải Hội đồng báo chí bình chọn» và «giải Đam mê - sáng tạo» tại lễ trao giải thưởng Bài hát Việt, tháng giêng 2015.
Khởi đi từ những bản ballad êm ái đã làm nên bệ phóng «thương hiệu» vững vàng, Vũ Cát Tường dường như muốn đánh cuộc ăn chắc với người hâm mộ khi cô chọn rời khỏi vùng «tiện nghi» an toàn đó để dấn thân vào thế giới đa dạng của ca nhạc đương đại, lần lượt thử sức với hầu hết các thể loại cũ mới khác: từ R&B, neo Soul, Pop đến Rap-Hip hop, Electropop, qua những Blues, Jazz, Alternative rock, Funk[40]. Là ca sĩ có giọng tuy không xuất sắc nhưng «rất đặc trưng […] tự nhiên, gần gũi»[41], cô biết cách hát chinh phục người nghe, chơi dương cầm, trống, biểu diễn vũ đạo, liên tục ra CD, MV, và đã đạt thành tích là nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên có album được nhà sản xuất số 1 thế giới Universal Music Group phân phối trên toàn cầu.[42]
Vũ Cát không như Lê Cát chịu đứng mãi ở «quy chế» nghệ sĩ độc lập – «Indie» như người ta nói hiện nay – mà nhanh chóng trở thành một nhân vật của showbiz, mỗi lúc một tăng cường sự hợp tác với giới truyền thông và làm âm nhạc thế giới.
Như lời một công ty đầu ngành khu vực Đông Nam Á phỏng vấn cô vào cuối năm 2018, (nguyên văn: «Vietnam has more to offer the world than its tourist attractions. Enter Vũ Cát Tường, the latest Vietnamese artist to be signed by Universal Music Singapore»)[43]Tường không ngừng đầu tư vào việc làm tăng uy tín và ảnh hưởng của mình. Như chính sự kiện mới đây cô tâm đắc thực hiện việc thu âm tại United Recording Studio ở Los Angeles, nơi đã từng được nhiều thế hệ thần tượng âm nhạc «chọn mặt gửi vàng», từ Nat King Cole, Ray Charles, Frank Sinatra đến Michael Jackson, Madonna, Adele…
Tháng ba 2020, tên tuổi Vũ Cát Tường được đưa lên tạp chí Mỹ hàng đầu của kỹ nghệ dĩa hát Billboard[44], khẳng định những bước tiến mới – với chỉ tiêu nhắm đến người nước ngoài – của người nữ nhạc sĩ luôn cầu tiến này, mà hai nhà sản xuất nhạc Benjamin James và Michael Choi đã hoàn toàn đặt tin tưởng ở sức lực lẫn tiềm năng.
Ngay trong những tác phẩm hiện hành, Tường đã tỏ ra có sẵn tầm nhìn xa. Không như các đồng nghiệp phạm lỗi lạm dụng tiếng Anh một cách quá dễ dãi trong cách chọn nghệ danh cũng như ca từ[45], cô chủ tâm chỉ đưa câu chữ tiếng Anh vào một số bài hát cho có thêm màu sắc quốc tế, hoặc mạnh dạn sản xuất hẳn hoi những ca khúc song ngữ Việt Anh – có khi hoàn toàn bằng Anh ngữ – nhằm mục đích giúp nhạc mình dễ đến với giới trẻ khắp nơi, đặc biệt là châu Á. Song, đây là điều tế nhị và sự đồng thuận xã hội trên mặt này còn tùy thuộc vào cái nhìn đã đủ rộng thoáng hay chưa của người nghe. Những vị «giữ đền» cho tiếng mẹ đẻ hay khán giả bảo thủ thì dĩ nhiên sẽ lấy làm khó chịu, thậm chí lên án, như chuyện đã thường xảy ra trong lịch sử nghệ thuật – dẫu là ở mức độ cao hơn –, qua những cuộc «đụng đầu» giữa hai phe tân và cổ. Riêng về vấn đề chấp nhận trên thực tế cái mốt pha tiếng Anh trong ca từ bởi các chuyên gia trong nghề, ta có thể đơn cử ví dụ đáng suy ngẫm mới đây của nước Pháp, mà vị thế ngôn ngữ so khắp năm châu rõ ràng là không tệ: ca khúc chính thức đại diện cho quốc gia này tại Eurovision 2020 – trước khi cuộc tranh tài bị hủy vào giờ chót do nạn dịch Coronavirus – có tựa đề, cùng với nhiều đoạn trong bài, bằng tiếng… Anh[46]!
Tất nhiên, mọi sự đã không trơn tru, đơn giản. Mặc dù cả hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi xuất hiện bài hát… Pháp nổi tiếng mang tên Love, Please Love Me[47] của Michel Polnareff, ban phụ trách tuyển bài dự thi cho xứ sở của Molière năm nay vẫn còn phải đối phó với một số dư luận hoài nghi hoặc bất đồng bằng những biện minh cặn kẽ. Họ đặc biệt nhấn mạnh đến 3 tiêu chuẩn quyết định việc đã chọn bản The Best In Me này, bất chấp sự pha trộn ngôn ngữ: tính phổ quát, cảm xúc và khả năng bài hát làm cho người nghe được «sống qua một trải nghiệm» (nguyên văn: “l’universalité, l’émotion et la capacité du morceau à faire «vivre une expérience» à l’auditoire ”).[48]
Chính xác đó cũng là những ưu điểm đem lợi thế đến cho các sáng tác Vũ Cát Tường của chúng ta.

Trước hết là tính phổ quát. Nó đã khiến nhiều người – bất luận tuổi tác, gốc gác, ngôn ngữ – dễ dàng cảm thụ những ca khúc của Tường. Sự đón nhận rộng rãi của công chúng đối với một bài như Buổi Sáng Bình Thường chẳng hạn, là một bằng cớ thú vị. Điển hình là các chia sẻ trên mạng, nhất là của những người nước ngoài không thông hiểu tiếng Việt, ví dụ một thính giả ký tên Alex Pilgrim, nguyên văn như sau: “I am a foreign English teacher, who is working in Vietnam and I just heard this song in a mall. I think this song is great, and this singer should sing in English for the whole world.” [49]

Một dấu ngoặc nhỏ, tuy vậy, vẫn cần được mở ra ở đây cho một chuyện lạ lùng gần như giai thoại, khá oái oăm, đã xảy ra: có lẽ cũng chính cái tính chất phổ quát này – hẳn là nằm ngay giữa lòng mạch sáng tạo, khi Vũ Cát Tường viết bản Vết Mưa – đã cho nó có diện mạo giống một bài hát mang tên Rain In The Park của nữ nghệ sĩ Nhật Marika Takeuchi, khiến Vũ Cát Tường bị nghi oan là « đạo nhạc »[50] trong suốt một thời gian…
Nói về khía cạnh cảm xúc và khả năng chia sẻ trải nghiệm qua trung gian bài bát, hầu như tất cả những thành tựu âm nhạc của người nghệ sĩ Long Xuyên này đều mang đậm nét hai thuộc tính đó. Bởi cảm xúc bao giờ cũng vừa là điểm đi và điểm đến của nghệ thuật đích thực. Còn trải nghiệm cá nhân ư? Trước hết, đứng từ phía tác giả, nó là cái vốn liếng ban đầu của chủ thể, tích lũy từ cuộc sống, rồi bỗng chốc – trong một phút giây thần diệu – được chuyển hóa, thăng hoa thành tác phẩm, một tác phẩm biết nói với người xem.
Xin hãy lắng nghe lời một phóng viên, qua bài tường thuật đêm trình diễn "Dear Hanoi" của Tường vào cuối hè 2019:
«Không màn hình led, không clip hậu kỳ chia sẻ dài dòng, nữ ca sĩ vẫn đưa người nghe đi qua nhiều cung bậc cảm xúc bằng chính âm nhạc của mình […] Nhiều năm qua, âm nhạc của Vũ Cát Tường không chỉ để nghe rồi thôi mà còn đưa đến cho khán giả những trải nghiệm. “Âm nhạc của Tường không biết nói dối. Tường không quen nói những lời ngọt ngào, ai hỏi Tường là người thế nào, sống ra sao, yêu ghét kiểu gì…, Tường đều nói họ hãy nghe nhạc của mình bởi mọi thứ, kể cả những gì riêng tư nhất, Tường đều kể bằng âm nhạc. Tường không giấu cảm xúc của bản thân, vui buồn đều nói ra, kể cả những lúc đau đớn hay run rẩy, Tường chưa một lần nói dối khán giả của mình” – cô bộc bạch»[51]
Dĩ nhiên, về phần người nghệ sĩ, tất cả đều đã có sự chủ động từ trước – bởi “xuyên suốt 2 tiếng đồng hồ diễn ra concert, Vũ Cát Tường không chỉ hát mà còn đóng vai trò của một người kể chuyện” – đặc biệt là đối với những gì thuộc về cơ sở vật chất, bảo đảm điều kiện để đánh thức giác cảm: “Với mong muốn mang đến cho khán giả những cảm xúc chân thật nhất, Vũ Cát Tường đã đầu tư mạnh tay vào dàn âm thanh và kết hợp với band nhạc Màu Nước. Cô cũng đầu tư cho hệ thống ánh sáng dù tổ chức trong nhà hát nhưng được so sánh như một liveshow ở sân vận động” Thậm chí «sân khấu cũng thoang thoảng mùi hoa Lavender mà theo Vũ Cát Tường là cô muốn khán giả không chỉ nghe mà còn có thể “ngửi” được âm nhạc của mình»
Không có gì là lạ: Tường còn là một nhà kinh doanh nhạy bén trong nhiều lãnh vực khác nhau – bên cạnh các hoạt động liên quan đến âm nhạc[52] – đi từ ngành sản xuất và phân phối nước hoa[53] đến bộ môn thiết kế thời trang...[54] Với cô, âm nhạc không chỉ dừng lại ở tai nghe mà còn phải chạm đến hết thảy mọi giác quan có thể, để nắm bắt trọn vẹn cái thế giới khả sắc hữu tình. Nhất là khi mà những ứng dụng khoa học ngày càng giúp con người đạt đến hiệu quả tối đa: Vũ Cát Tường là nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên sử dụng công nghệ hologram[55] trong trình diễn sân khấu.
Và sau cùng, đứng về phía người nghe, nhạc phẩm Vũ Cát Tường dường như luôn có ma lực kéo họ gần lại với khu vườn riêng tư những cảm nhận sâu lắng nhất, mà trải nghiệm cá nhân chính là độc đạo đưa lối dẫn vào. Đó là một tiến trình tâm lý tự nhiên, sung mãn (fécond) – có khi diễn ra như một liệu pháp (thérapie) –, mà kẻ thưởng ngoạn vừa làm tác nhân vừa gặt hái thành quả, khởi đi từ một tác phẩm gây đồng cảm.
Trong viễn tượng này, những phản hồi phong phú trên mạng nói chung là chất liệu giúp ta dễ dàng tìm hiểu xa hơn, đến mức có thể thực hiện được một thứ phân tích xã hội học về hình ảnh tác giả và tiếng vang tác phẩm trong lòng công chúng, nếu muốn. Nhưng, ngay cả khi chỉ giới hạn trên một vài cảm nghĩ góp nhặt đối với ví dụ bài hát Buổi Sáng Bình Thường đã dẫn trên –, ta không thể không ghi nhận sự quan tâm thích thú của nhiều người thuộc thế hệ cha anh của giới trẻ hiện nay, thể hiện qua những lời lẽ có khi rất thân tình, như trường hợp nhà báo Trân Nguyễn dưới đây chẳng hạn: «Quá tài năng. Tôi thích hình minh họa của bài hát vô cùng. Thật thú vị và nhẹ nhõm khi nghe xong bài hát. Tôi mong cô bé này liên tục cho ra tác phẩm, để âm nhạc Việt bớt đi những bài hát thị trường, nhảm nhí, đạo nhạc,đạo ý tưởng. Cô bé này đã góp phần đưa nhạc Việt gần đến âm nhac thế giới thời hội nhập. Cảm ơn vùng đất Long Xuyên đã sinh ra một cô bé đầy nhân cách và tài năng. Cô yêu con vô cùng, con gái»[49]
Đáng nói là, cũng trên cùng trang bình luận, ta được gặp song song mấy câu tán thưởng ngắn gọn dễ thương này, của một thính giả xem ra hãy còn rất nhỏ tuổi: «Con rất thích bài BSBT của cô Tường. Lúc rảnh con hay mượn điện thoại của mẹ để nghe. Con thuộc luôn rồi. Cô Tường sáng tác 1 bài cho thiếu nhi đi!»
Như vậy phải chăng Vũ Cát Tường, người đã từng được Hồng Nhung khen tặng[56] là nghệ sĩ «xuyên giới tính[57], xuyên quốc gia», bây giờ có thể còn được gắn thêm danh hiệu «xuyên tuổi tác»? Trong tinh thần đó, có lẽ phát biểu sau đây của một bạn trẻ cũng giải thích được phần nào, ít ra là trên mặt nội dung, cho sự thành công khá đều đặn của nhà sáng tác:
«Âm nhạc của Tường bây giờ như một quyển nhật ký hàng ngày vậy đó. Mỗi bài hát là những trang, những dòng ghi chép lại từng việc nhỏ nhặt hàng ngày, những điều đơn giản […] Âm nhạc của Tường có những trang là những góc tối, những góc khuất khó bày tỏ, và cũng có những trang viết là những điều đơn giản đến ngô nghê, dễ thương […] Đối với mình, một người nghệ sĩ không phải là người tạo ra những tác phẩm cao siêu, mà là một người tạo ra tác phẩm không quá ra rời thực tế, là những điều bình dị, ai ai cũng hiểu, ai ai cũng cảm nhận được»[49]
Điều này được đa số nhìn nhận – mỗi người theo cách nói của mình –, như một sự nối tiếp đáng phấn khởi trên cùng trang mạng: «Những sản phẩm của Tường không quá ấn tượng, không quá cầu kỳ, không theo mốt, nhưng cái tâm và sự cố gắng lại được hiện rất rõ. Mưa và nắng không phải là quá ấn tượng, nhưng đó chính là điều thường ngày của cuộc sống, Tường như viết lên một câu chuyện truyền cảm vào bài hát để khán giả nghe và thấu hiểu, đó là những sản phẩm âm nhạc hay thật sự!»
Đúng thế. Nhưng vấn đề không chỉ nằm ở đề tài, hoặc cách mô tả, mà trước tiên là phải có nhạc hay. Rồi từ đó, sẽ không kém phần thú vị khi ta thử tìm cách trả lời cho câu hỏi hay ở chỗ nào.
Nhạc Vũ Cát, khác với Lê Cát, là nhạc đô thị. Nhưng nó không thuộc loại đem đến những âm vang cơ khí ầm ỉ hay hò hét kích động mà là một dòng nhạc tương đối giản dị, dễ nghe – có khi sâu lắng – giàu chuyển biến ngay giữa lòng một ca khúc, qua nhiều cung bậc khác nhau từ tiết tấu đến giai điệu và nhờ đó, tạo ra một hiệu ứng thẩm mỹ tổng hợp được gọi là màu sắc thanh âm. Đặc điểm sau này chủ yếu bắt nguồn từ chất nhạc nội tại đã đành, nhưng đồng thời cũng cho cái cảm giác như đến từ một thứ biên độ mở mà bài hát để sẵn, trên một số nốt, dành cho cách thể hiện tùy cảm hứng của người hát. Thêm vào đó, nhiều sáng tác của Tường được viết ra với một phong cách quốc tế ghép «đúng liều lượng» nên đã góp phần không nhỏ cho việc cô là ca sĩ Việt Nam đầu tiên được mời tham dự Liên Hoan Ca Khúc Châu Á trong liên tiếp hai năm liền, 2018[58] và 2019.[59]
Có thể nói Vũ Cát Tường, ngoài trực giác sáng tạo, còn làm chủ một mô thức sáng tác hiệu quả dựa trên ba nguyên tắc chính – được xử dụng riêng lẻ hoặc phối hợp chung với nhau –, mà ta có thể dễ dàng nhận diện qua các bài hát đã ra đời.
Nguyên tắc thứ nhất – thường thấy trong quá trình xây dựng ca khúc của hầu hết những người viết nhạc mới hiện nay – là động tác ban đầu cơ bản nhằm tái cấu trúc ngôn ngữ đơn âm đa dấu của ta cho nó trở nên thích hợp với giọng nhạc đương đại, chủ yếu đến từ những xứ nói tiếng đa âm không dấu. Nó có thể được phân tích, một cách tuy hơi dài dòng nhưng là cần thiết cho sự lãnh hội, thành ba công đoạn: bước một, làm mất dấu để trung hòa cách phát âm bình thường của tiếng Việt ; theo sau là bước thứ hai được làm nhẩm trong đầu, chỉ có tính chuyển tiếp, với mục đích « gỡ tháo » (déconstruire), nghĩa là tách từ, chiết đoạn các các mệnh đề của phần lời hát sẽ nhập theo dòng nhạc trước khi đi đến bước thứ ba, có tính tổng hợp, là lúc tác giả ghép nối lại các «phân mảnh» trung gian vừa kể, để thành những cụm từ «tái tạo» cho lời hát sau cùng, hoàn toàn tương thích và đi sát với những khúc nhạc quanh co nghịch ngữ, chứa nhiều nốt trái dấu hoặc không khớp với cách chấm câu tiếng Việt: những câu chữ liên kết cứ lướt nhanh từng đợt như thế sẽ cho ta cảm giác nghe rất giống với ca từ đa âm các bài hát Âu Mỹ. Đặc tính này gần như là chung cho toàn bộ các nhạc phẩm Vũ Cát Tường, mà ta có thể kể ra vài tựa tiêu biểu, không nhất thiết là theo thứ tự độ tương ứng nhiều ít: Gió[60], Dõi Theo, Gucci In Town (tựa Anh nhưng lời toàn Việt), Phai, If, Ngày Hôm Qua, Đông…
Nguyên tắc thứ hai, mang tính chiết trung (éclectisme), là sự lai tạo (métissage) – ngay trong cùng một bài – giữa nhiều âm hưởng đặc thù, hoặc nhiều thể loại nhạc khác biệt mà Tường thích đọ sức như đã nêu ở phần trên. Một ví dụ điển hình là bài Mơ [61], trong đó phảng phất một chút hà há ha giọng hò dân tộc. Hay trường hợp – tuy khá hiếm – của bài Hôn[62] mà hiển nhiên, sau phần mở đầu mang hơi thở hiện đại, là cả những mảng màu hoài niệm quen thuộc của nhạc Trịnh… Ta có thể nhận định một cách tổng quát rằng phần lớn, nếu không nói là hết thảy, các sáng tác Vũ Cát Tường đều không đơn thể độc khối, mà thấm đẫm tư duy hòa trộn (mélange des genres) rất thời thượng này, khởi từ một tiếp cận đa nguyên đáng quý các nguồn điệu.
Và, «cuối mà chẳng kém» là sự năng động hóa – tức nguyên tắc chót – tạo cho bài hát của Tường thường có một sức hút đặc biệt. Chủ yếu dựa trên sự biến hóa về tiết tấu, xen kẽ các nhịp nhanh chậm (mà bài Có Người[63] là một ví dụ). Nhưng nó có thể xuất hiện dưới nhiều dạng, nhiều mặt, chẳng hạn như qua một kiểu thao tác giọng bằng cách khởi đầu chậm, dừng câu ngắn, như thể đang lấy đà, «căng cung» cho tiếng hát, trước khi nó được phóng vút lên tít tắp tầng cao: đó là điểm nhấn của những bản như If [64], Cô Gái Ngày Hôm Qua[65] hay Góc Ban Công[66]. Rồi cũng có thể treo lửng lơ một khúc hát. Hoặc làm chuyển màu câu nhạc bằng những dấu lặng, dấu hóa (thăng, giáng) bất ngờ, tê tái… Hay cho một ca từ ôm cùng lúc nhiều nốt để tạo luyến láy, phá vỡ sự đơn điệu. Nguyên tắc sống động này không chỉ giới hạn ở khuông nhạc thôi, mà còn có thể được áp dụng chẳng hạn cho việc xử dụng phương tiện hoạt hình thay vì quay cảnh trí thông thường trong các MV, như trường hợp những hình ảnh ngộ nghĩnh dễ thương của bài Buổi Sáng Bình Thường[49] đã dẫn trên.Tuy không thể kể ra hết, ta không thể không nhắc thêm rằng chính nguyên tắc này cũng là ngọn nguồn đưa tới cách viết tượng thanh rất… gợi hình trong tuyệt phẩm Vết Mưa[67], một trong hai sáng tác đầu tay của nữ nhạc sĩ: bản nhạc mở ra bằng những câu nhịp ngắn, mạnh, tựa cơn mưa ồ ạt đập vào cửa, để rồi từ từ trải ra, êm ái, phẳng rộng, thành tiếng những giọt mưa thánh thót rơi nhẹ vào hồn, mênh mang như nỗi nhớ người yêu…
Có phân tích nhạc Vũ Cát Tường như vậy ta mới rõ thêm cái lô-gic đưa cô tới những thành tích đáng kể trong mấy năm qua, như là «Nhạc sĩ của năm» ở Giải Cống Hiến 2019[68] sau khi đã đoạt cùng lúc 4 hạng mục khác thuộc giải Keeng Young Awards 2018[69]: Nữ ca sĩ được yêu thích nhất, Nhạc sĩ được yêu thích nhất, Album của năm và Nghệ sĩ của sự đổi mới. Điều đó cũng giải thích vì sao hầu như tất cả các tác phẩm của Tường đều rất đạt, kể cả khi viết hoàn toàn bằng tiếng Anh (như bài The Old You, mà cô hát rất tốt[70]), song ngữ Anh-Việt (như You Are MineDon’t you go, Ticket For Two…) hay lời Việt thêm câu chữ tiếng Anh (như Come Back Home, San Francisco…). Và ngay như trong trường hợp bản nhạc không được đặc sắc lắm, như bài Niềm Yêu Khác[71] – một trong vài ví dụ hiếm hoi, theo thiển ý –, người ta vẫn thấy thích, nhờ Tường có một cách hát rất riêng.
Nhạc Vũ Cát Tường thường mang nhiều chất tự sự, nhưng với một điểm nổi bật là – trên chủ đề chuyện đôi lứa – ngay cả trong tình huống những trăn trở xót xa, những cuộc tình không thỏa nguyện, bài hát vẫn không bị rơi vào bi lụy mà thường là ngược lại, khiến người nghe cảm thấy lòng được vơi nhẹ. Đó là trường hợp của các bản như Cách Xa, Chơ Vơ hay Anh Và Anh chẳng hạn, là tác phẩm đã nhận được phản hồi dưới đây trên YouTube: «Tôi từng có một tình yêu đẹp […], nhưng rồi người đã bỏ tôi theo tình yêu mới Sau khoảng thời gian đau đớn, stress, trầm cảm, tôi đã tìm lại chính bản thân mình […] Tất cả cũng nhờ vào âm nhạc của Tường; trước đây nghe bài này tôi lại có động lực tìm lại chính mình, giờ nghe lại thì thấy bài hát như viết cho mình»[72]
Tác dụng tích cực ấy còn được xác nhận bởi số đông nhiều thính giả khác, có khi chỉ bằng một câu ngắn ngủi nhưng đủ làm mát lòng tác giả: «Mình cũng mới li hôn xong buồn lắm và chán lắm muốn từ bỏ buông hết xuống nhưng khi nghe nhạc của Vũ Cát Tường mọi suy nghĩ tiêu cực đều được xua tan đi, cảm thấy được an ủi dễ chịu hơn hẳn»[73]
Được như vậy, không phải do ngẫu nhiên mà là phát xuất từ một cái nhìn lạc quan, một tâm chí chinh phục và một quan niệm sáng tác nghiêm túc, chặt chẽ, như chính Tường đã có lần bày tỏ: «Nút thắt trong mỗi bài hát của tôi là độ sâu của tầng nghĩa. Về mặt cấu trúc âm nhạc, nhạc sĩ khi đã quen viết thì dễ tạo nên những đoạn catchy, là một kỹ thuật. Tôi cho rằng điều quan trọng nhất là về mặt tâm hồn, là tầng nghĩa được gửi gắm trong phần lời. Tôi luôn muốn âm nhạc của mình dù ở nhiều năm sau, khán giả nghe vẫn tìm thấy được sự liên kết và vẫn trân quý»[74]
Do đó, người ta sẽ không lấy chi làm ngạc nhiên trước những thông tin cho biết «Vũ Cát Tường nổi tiếng khó tính và kỹ tính […], cô quyết định dời ngày phát hành album Giải mã vào giờ cuối vì nhận thấy bìa album không mấy phù hợp với nội dung âm nhạc. Riêng ca khúc Vết mưa […] đã sửa đến 30 lần mới ưng ý»[75]
«Kỹ chất lượng là mẹ thành công», người đọc chỉ có thể đồng tình với công thức lao động nghệ thuật bảo đảm ấy khi nhìn lại kết quả trên những trang tóm lược thành tích Vũ Cát Tường.[76]
Duy có một điều hơi đáng tiếc là, đến hôm nay, trên các bảng «chiến lợi phẩm» của Tường vẫn còn hở hai ô trống bất thường, lẽ ra phải được điền vào ngay bằng hai bài hát xứng đáng, vượt trội – khác hẳn kiểu khai thác theo lối mòn những chủ đề cũ kỹ của ca nhạc Việt Nam –, đó là: Góc Đa Hình  Tomorrow (Ngày Mai).
Bài thứ nhất[77], dồn dập lôi cuốn, là một tuyên ngôn vinh danh giá trị con người cá thể, một cách rất thanh lịch, tự nhiên như con suối chảy, không chút chi là cường điệu hay mô phạm đạo đức, khởi từ cái biên bản thường nhật: «Con đường quen, mỗi sáng là những lần kẹt xe hối hả/ Hai hàng cây, mỗi sáng lặng ngắm dòng người trôi dưới chân mình/ Cuộc sống trở nên thật vô vị/ Khi mọi thứ chỉ có một góc nhìn/Khi từng ngày trôi qua trôi qua vẫn thế»
Nó cô đọng nhãn quan độc lập của con mắt mới – được phóng vào thực giới dưới nhiều góc độ – từ một chủ thể tự tin, tự quyết, muốn lay chuyển mọi sự trên đời đến tận cùng gốc rễ: «Hãy đi và nhìn cuộc sống/ Đừng ngại lúc làm ngược dòng người đông/ Hãy đi và nhìn cuộc sống/ Ghi lại hết bằng một cách riêng mình…»
Bài thứ hai[78], do Tường viết ra giữa mùa Coronavirus, với những lời nôm na giản dị nhưng đầy ý nghĩa, vượt lên trên cả chủ đề khủng khoảng dịch bệnh[79] – nghiêm trọng nhưng không thể vì thế mà mãi độc tôn – để đặt lại vấn đề cốt tử, rộng sâu hơn là mục đích của chính cuộc sống: «Lặng nhìn người mình thương ra đi/ Đôi chân chẳng thể bước đến gần/ Khi xưa tham lam hay chi chi/ Giờ nhìn lại em có ích gì?»
Cùng với tiếng dương cầm đệm theo ngọt ngào, giọng hát khi thì thầm khi vút cao, đến vỗ về như một giấc mơ hay – đúng hơn –, một sự tỉnh thức. Tất cả bây giờ đều tan biến để nhường chỗ cho một niềm hy vọng, đơn sơ mà vĩ đại, trong suốt và bao trùm như một phút giây đốn ngộ thiền nghiệm: «Ngày mai thức giấc mong bình yên/ Chẳng còn mất mát và ưu phiền/Ngày mai tia nắng đan vào nhau/ Chở che trái đất thôi đớn đau/Yêu thương xin dài lâu»
Bài hát gây xúc động và đặc biệt đã tạo cảm hứng cho Bạch Tuyết làm ra một phiên bản vọng cổ [80] để đưa thông điệp tác phẩm đi xa hơn, đến được với công chúng âm nhạc truyền thống.
Vũ Cát Tường nói chung đã được đánh giá cao trong giới tân nhạc: danh ca Hồng Nhung[81] gọi cô là « ngọc trong đá », còn nhạc sĩ Huy Tuấn[82] thì cho rằng "lâu rồi […] mới thấy một ca sĩ trẻ có khả năng viết nhạc hay, có chiều sâu và hợp thời". Bây giờ thì đến phiên giới cổ nhạc, đặc biệt là qua lời thổ lộ chí tình của «Cải lương chi bảo»: “Tình cờ nghe được bài hát của ca - nhạc sĩ Vũ Cát Tường. Bao nhiêu xúc cảm buộc mình phải chấp bút viết nên bản version đặc biệt […] Rất trân trọng những tài năng trẻ đã làm cho âm nhạc Việt Nam trở nên thú vị và phong phú hơn»[80]
Có lẽ đó là một trong những dấu hiệu đẹp nhất trong cộng đồng âm nhạc Việt. Và quả là thật đáng mừng, như có người đã hóm hỉnh dựa trên nghĩa của từ Hán Việt Cát Tường 吉祥 trong tên cô gái họ Vũ để khẳng định niềm tin về những điều lành sẽ đến…[41] 
Trong cái rủi của thảm họa Coronavirus cũng có cái may, bởi nó đã khiến nhân loại được mở mắt trên nhiều phương diện, từ quan hệ giữa người với người cũng như với thế giới, đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, môi trường... Và một trong những « rơi rớt » khác, bất ngờ, lan tỏa, và hoàn toàn không phải là nhỏ đối với chúng ta, đó là sự kiện nhạc trẻ nước ta – qua bài hát cổ động chống dịch Ghen Cô Vy,[83] được cải biên lời từ bản gốc Ghen (2017) của Khắc Hưng, kèm theo "Vũ điệu rửa tay" của Quang Đăng – đã có cơ hội được công chúng và truyền thông thế giới biết đến: từ đài truyền hình SBS Hàn Quốc, đến BFM TV[84] của Pháp, qua báo chí Đức (Stern), Mỹ, tất cả đã đưa ra nhiều lời khen tặng trong đó bình luận của tờ Billboard, tạp san chuyên môn số một toàn cầu, đã đánh giá ca khúc đại diện Việt Nam trong hoàn cảnh đặc biệt này là "cực kỳ hấp dẫn và nghe lọt lỗ tai".[85]
Quá đúng lúc. Như vậy, những điều ta phác họa trên kia về khả năng tỏa sáng trong tương lai của nhạc Việt đương đại là hoàn toàn có cơ sở. Hai cô Lê và Vũ đều có trong tay chìa khóa mở đền thiêng ma lực của ngôn ngữ và nhịp điệu. Cả hai đều đem lại một hơi thở mới hậu-Trịnh Công Sơn cho những ca khúc tươi tắn của chúng ta. Lê Cát Trọng Lý đặc biệt với gam màu huyền thoại Quê hương ở đầu này, và Vũ Cát Tường ở đầu kia với âm sắc hội nhập, có thể khách quan trở thành một bộ đôi độc đáo, bản lĩnh, xứng đáng cho cuộc vươn ra biển lớn.
Trong hiện thực nhạc Việt hôm nay, Lý và Tường là phần nổi sáng giá. Nhưng phần chìm còn lại cũng không kém hấp dẫn, hứa hẹn, và thực sự sẽ là một khám phá mới lạ cho bất cứ ai quan tâm: thế hệ trẻ nước ta bây giờ tiềm tàng đầy sức sáng tạo. Họ bền tâm nuôi dưỡng sinh hoạt văn nghệ «tay trái»: tự viết nhạc, trình diễn, sản xuất với tư cách nghệ sĩ độc lập[86] trong thời đại internet, và qua đó được nhiều người tâm huyết ủng hộ hết mình, đến độ như nhạc sĩ Dương Thụ đã dốc cả tiền túi để giúp cho tác phẩm họ có cơ hội ra mắt công chúng.[87]
Cho dù có mang những nghệ danh nhiều khi nghe rất xa lạ– thậm chí chướng tai – đi nữa, họ cũng đã và đang thể hiện qua dòng nhạc tự phát lành mạnh một sức sống cuồn cuộn, một năng lượng tràn bờ, một ý thức vươn đến cái Mỹ – thường song hành cùng cái Chân, cái Thiện – trong một xã hội còn lắm lạc hậu, một xứ sở nhược tiểu, bị phản bội từ bên trên: trước tình thế đó, nghệ thuật, bất luận có underground hay không, phải chăng là nơi trú tạm, để trau dồi sáng tạo, tích trữ tinh hoa, bồi dưỡng sức mạnh cho một cuộc chuyển mình toàn diện, cuộc phản tỉnh hồi sinh dân tộc?
Chú thích:
[0] Trên phương diện từ vựng, trong tựa bài này, thay vì nói gương mặt như theo thói quen hiện nay, chúng tôi dùng chữ khuôn mặt bởi đó là từ thích hợp, thông dụng trong văn chương trước 1975, lịch sự, thanh tao, gợi tưởng, nghĩa rộng hơn nhiều so với chữ kia mà đồng thời lại ăn khớp với cách diễn tả chung của thế giới, ít ra là Anh và Pháp (figure).
[1] Jack là ai? Tiểu sử, sự nghiệp và đời tư ca sĩ Trịnh Trần Phương Tuấn (31/05/2019); https://www.yan.vn; Jack - 'trai quê' thành thế lực Vpop trong vài tháng (20/12/2019), https://news.zing.vn/; Jack - từ trai quê đến ca sĩ được săn đón ở showbiz (22/02/2020, https://news.zing.vn/.
[2] Năm 2007, Hoàng Thuỳ Linh bị tai tiếng trong một scandal khi một đoạn phim quay cảnh nóng giữa cô và bạn trai bị phát tán và lan truyền lên mạng Internet (Xem thêm: https://vi.wikipedia.org/), nhưng sau một thời gian tạm lánh xa sân khấu, cô đã trở lại tiếp tục hoạt động và đạt được nhiều thành tích đáng khen ngợi. Đặc biệt tác phẩm đã đưa Hoàng Thuỳ Linh lên tột đỉnh hiện nay mang tên Để Mị Nói Cho Mà Nghe: https://www.lecourrier.vn/; http://baodansinh.vn/.
[3] https://www.youtube.com/- Về Suboi, xem thêm: https://en.wikipedia.org/; https://vi.wikipedia.org/; http://youtv.vn/.
[4] Chúng tôi đã có dịp nêu sự kiện này: https://www.diendan.org/.
[5] https://tuoitre.vn/l. (11/09/2016)
[6] Francis Cabrel hát cùng Lê Cát Trọng Lý (6/10/2009), https://vnexpress.net/.
[7] https://www.facebook.com/; https://www.nguoiduatin.vn/.
[8] https://dantri.com.vn.
[9] Lê Cát Trọng Lý gặp 'số đỏ'? (12/04/2011), https://news.zing.vn/. https://2sao.vn/.
[11] Lê Cát Trọng Lý, a unique voice in Viet Nam, Magali An Berthon, https://culture360.asef.org/.
[12] https://vi.wikipedia.org/.
[13] Asia Beats: Le Cat Trong Ly, Vietnam (BBC News, 13/02/2014), https://www.bbc.com/.
[14] Không sao về bắt đầu: https://www.youtube.com/.
[15] https://news.zing.vn/.
[16] https://saostar.vn/.
[17] https://fr.wikipedia.org/.
[18] Lê Cát Trọng Lý: "Lạ - quen, gần - xa" , http://giadinh.net.vn/.
[19] Lê Cát Trọng Lý: Thế thôi, đừng lý trí nữa, https://dep.com.vn/.
[20] https://channels.vlive.tv/.
[21] https://vnexpress.net/.
[22] Về vấn nạn chung của nghệ thuật đương đại, mời xem:
a/ Cái Đẹp như thách thức trong Văn Nghệ và Triết Học, https://www.vanchuongviet.org/.
Ý muốn của nhạc sĩ thích viết nhạc kiểu mới, bất chấp việc nó trở nên khó nghe đối với quần chúng, không phải là chuyện lạ. Chẳng hạn một ví dụ, trích từ nguồn trên:
“…việc nhiều nhạc sĩ đương đại tuyên bố chỉ sáng tác « cho mình chứ không cần người nghe» (một thái độ rất gần với lập trường của Schönberg!) là không đứng vững. Bởi vì, «nếu người ta đẩy một số ý niệm nào đó xa đến mức chẳng còn quan hệ chi nữa giữa cái tai ta nghe biết với cái nó không biết, thì sẽ rất khó cho nhạc sĩ diễn đạt ». Rồi anh đưa luôn ra một nhận xét búa bổ: «Tuy nhiên, tôi nhận thấy trong nhạc đương đại thế kỷ XXI có một trào lưu mới trở về với giai điệu [...]. Tôi tin chắc rằng đó là loại nhạc đương đại sẽ sống sót». Phát biểu này đáng được xem là một lời cáo chung cho cuộc phiêu lưu bất thành của nhạc hiện đại”.
b/ Mấy vấn đề chung quanh việc tiếp cận tư tưởng và nghệ thuật đương đại – Phác thảo phân tích nguyên nhân khủng khoảng cùng triển vọng giải pháp (phần “Nguyên nhân chủ quan của khủng khoảng nghệ thuật”), https://www.vanchuongviet.org/.
[23] https://www.facebook.com/.
[24] https://www.songkick.com/.
[25] Hiện tượng Lê Cát Trọng Lý (09-04-2011),https://nld.com.vn/.
[26] Phan Đăng Nhật Minh , https://www.facebook.com/.
[27] Ca từ âm nhạc và vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt,Trầm Ngư (21/12/2019): http://vannghequandoi.com.vn/.
[28] Lê Cát Trọng Lý – “khù khờ” sống và hát để cảm nhận cuộc đời (16/09/ 2019), http://acrossmag.com/.
[29] Lê Cát Trọng Lý - kẻ 'khù khờ' chơi nhạc (5/3/2019),https://vnexpress.net/.
[30] https://saostar.vn/.
[31] Ngôi trường Cẩm Chướng của những kẻ mộng mơ (09/02/2020),https://nguoidothi.net.vn/.
[32] https://tuoitre.vn/.
[33] https://news.zing.vn/.
[34] https://www.youtube.com/.
[35] Sự kết hợp thú vị, https://nld.com.vn/.
[36] Một nhận xét đáng chú ý của ca sĩ Thanh Lam về Lê Cát Trọng Lý: “Lý là một mảng màu riêng. Âm nhạc đáng yêu, dễ nghe, không có chất chứa gì nhiều. Nhưng dù sao, tôi vẫn mong muốn Lý có nhiều bứt phá hơn nữa” https://vietgiaitri.com/.
[37] Ayo, la voix royale,https://www.youtube.com/, https://people.bfmtv.com/.
[38] Katie Melua cũng ra album đầu tiên vào năm 2003 với những cảm hứng lấy từ các thể điệu Pop, Jazz và Blues: https://fr.wikipedia.org/.
[39] https://tuoitre.vn/.
[40] Vũ Cát Tường, https://vi.wikipedia.org/.
[41] Vũ Cát Tường - ca lạ của nhạc Việt, Quang Đức (25/07/2019), https://zingnews.vn/.
[42] https://vi.wikipedia.org/,
[43] Meet Vietnamese artist Vũ Cát Tường, the pop star with a difference, Michelle Arteche (19 November 2018), https://www.bandwagon.asia/.
[44] Vietnam's Vu Cat Tuong Reveals Softer 'Inner Me' With Bilingual Third Album (1/3/2020), https://www.billboard.com/; https://ione.net/
[45] Âm nhạc thời kỳ hội nhập: Nếu không có định hướng sẽ thành thảm họa (23/11/2017), http://www.baobinhdinh.vn/.
[46] Eurovision 2020: Tom Leeb dévoile la chanson de la France... sur la Tour Eiffel!, https://www.dailymotion.com/.
Tuy nhiên, trước phản ứng bất thuận lợi của một số dư luận và ý kiến không đồng tình của Bộ trưởng Văn Hóa Pháp, tên bài hát đã được sửa lại thành Mon Alliée
(xem: https://www.huffingtonpost.fr/), mặc dù Tom Leeb có nói không phải vì lý do đó, trong cuộc phỏng vấn ở đây, sau khi cuộc thi bị hủy bỏ vào giờ chót : https://www.programme-tv.net/.
[47] Love Me, Please Love Me là album đầu tiên của ca sĩ kiêm nhạc sĩ Pháp Michel Polnareff, phát hành năm 1966
(xem: https://fr.wikipedia.org/). Thực ra, vào những thời điểm trước đó – hoặc cùng thời kỳ –, nhiều ca sĩ Pháp đã hay hát những bài có tựa hoặc ca từ bằng tiếng Anh rồi: Maurice Chevalier (1930), Edith Piaf (1950), Françoise Hardy (1966)…
[48] https://www.20minutes.fr/.
[49] Vũ Cát Tường ft. Hoàng Phong - Buổi Sáng BìnhThường, https://www.youtube.com/.
[50] Vũ Cát Tường chính thức được minh oan trong scandal đạo nhạc (18/08/2016),https://tinnhac.com/; Nghệ sĩ Nhật công nhận Vũ Cát Tường không đạo nhạc (17/08/2016), https://zingnews.vn/.
[51] https://baomoi.com/.
[52] http://masocongty.vn/.
[53] https://thanhnien.vn/.
[54] https://tuoitre.vn/; http://fcviet.com.vn/.
[55] https://vtc.vn/.
[56] Hồng Nhung sexy quyến rũ bên cạnh 4 học trò cưng The Voice (10/11/2013),https://zingnews.vn/.
[57] Khi được hỏi trực tiếp về giới tính của mình, Vũ Cát Tường thường trả lời khá «gãy gọn» và có vẻ muốn lấy hết trách nhiệm về cái riêng của mình, như trong cuộc phỏng vấn ở đây: https://vietnamnet.vn/.
[58] Vũ Cát Tường hát IF & LEADER tại ASIA SONG FESTIVAL 2018https://www.vlive.tv/.
[59] Khán giả người Mỹ khóc khi xem Vũ Cát Tường trình diễn tại Asia Song Festival, nguyên nhân đầy bất ngờ!(12/10/2019)https://kenh14.vn/.
[60] Gió, http://keeng.vn/.
[61] Mơ, https://www.youtube.com/; https://vi.wikipedia.org/)
[62] Hôn, https://www.youtube.com/.
[63] Có Người ,https://www.youtube.com/.
[64] If, https://www.youtube.com/.
[65] Cô Gái Ngày Hôm Qua, https://www.youtube.com/.
[66] Góc Ban Công, https://www.youtube.com/.
[67] Vết Mưa, https://www.youtube.com/.
[68] https://www.lecourrier.vn/.
[69] https://tuoitre.vn/.
[70] Cô có ưu điểm biết học hỏi và cải tiến, như qua phát biểu này sau khi sang Mỹ thu âm: “Ngày đầu tiên làm việc, ai vừa vào cũng xong ngay trong khi giọng của mình chưa được ổn định và có rất nhiều sai sót. Ở Việt Nam, nhiều người nói Vũ Cát Tường hát tiếng Anh ổn nhưng khi làm việc với những người chuyên nghiệp, tôi mới thấy bản thân không biết gì cả, các producer phải chỉnh sửa cho tôi rất nhiều trong cách hát tiếng Anh. Bởi đôi khi với câu hát đó, bạn hát ra nhưng người bản xứ lại nghe không hiểu gì cả, tôi đã phải khắc phục rất nhiều khi thu 3 bài hát bằng tiếng Anh trong album này” (https://www.24h.com.vn/.)
[71] Bài thứ hai trong Album Giải Mã ở đây: https://www.youtube.com/.
[72] https://www.youtube.com/.
[73] https://www.youtube.com/.
[74] https://xonefm.com/.
[75] https://zingnews.vn/.
[76] Danh sách giải thưởng và đề cử của Vũ Cát Tường,
https://vi.wikipedia.org/.
[77] Góc Đa Hình, https://www.youtube.com/.
[78] Vũ Cát Tường cùng cộng đồng trong dịch COVID-19 và hạn mặn (7/4/2020),
https://plo.vn/.; https://www.youtube.com/.
[79] Vũ Cát Tường không chỉ giới hạn đối tượng giúp đỡ ở dịch Covid-19 mà cả nạn hạn mặn (https://dantri.com.vn/).
Và cô cũng thường tham gia nhiều việc từ thiện như viết ca khúc Giáng sinh giúp trẻ em nhiễm HIV/AIDS (https://tuoitre.vn/)
[80] Yêu thích Tomorrow của Vũ Cát Tường, NSND Bạch Tuyết tung liền tay clip cover phiên bản… cải lương, https://saostar.vn/.
[81] Nguyên văn câu của Hồng Nhung: "Tường là ngọc trong đá. Với tài năng của mình, Tường đã chứng minh rằng Hồng Nhung không sai. Bên cạnh đó, Vũ Cát Tường đang ngày càng khẳng định bản thân là một nghệ sĩ chứ không đơn thuần chỉ là ca sĩ vì bạn hát tốt và sáng tác rất văn minh" (https://eva.vn/)
[82] https://vnexpress.net/.
[83] https://vi.m.wikipedia.org/.
[84] https://www.bfmtv.com/.
[85] https://tuoitre.vn/.
[86] Dòng nhạc indie: Khám phá âm nhạc đa sắc màu cùng năm nghệ sĩ indie Việt; Vũ Đinh Trọng Thắng – Ngọt: Thiền và sáng tạo
[87] https://tuoitre.vn/.
27/6/2020
Bùi Đức Hào
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Một phác thảo thơ Ðào Quốc Minh

Một phác thảo thơ Ðào Quốc Minh Tập thơ “Phục sinh” của nhà thơ Đào Quốc Minh vừa được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2024. Nhà...