Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Bình thơ từ 100 bài thơ hay thế kỷ XX P.2

Bình thơ từ 100 bài thơ hay thế kỷ XX P.2
20.Y PHƯƠNG
Sinh: 1948. Dân tộc Tày. Quê: Cao Bằng.
Hiện sống và viết tại Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Tiếng hát tháng giêng, Lời chúc, Đàn then, Chín tháng (trường ca), Thơ Y Phương.
Tên làng
Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Ba mươi tuổi từ mặt trận về
Vội vàng cưới vợ
Ba mốt tuổi tập tành nhà cửa
Rào miếng vườn trồng cây rau
Hạnh phúc xinh xinh nho nhỏ ban đầu
Như mặt trời mới nhô ra khỏi núi
Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Mang trong người cơn sốt cao nguyên
Mang trên mình vết thương
Ơn cây cỏ quê nhà
Chữa cho con lành lặn
Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Lần đầu tiên ôm tiếng khóc lên ba
Lần đầu tiên sông núi gọi ông bà
Lần đầu tiên nhóm lửa trên mặt nước
Lần đầu tiên sứ sành rạn nứt
Lần đầu tiên ý nghĩ khôn lên
Ý nghĩ khôn lên nỗi buồn thấm tháp
Bàn chân từng đạp bằng đá sắc
Trở về làng bập bẹ bước đầu tiên
Ơi cái làng của mẹ sinh con
Có ngôi nhà xây bằng đá hộc
Có con đường trâu bò vàng đen đi kìn kịt
Có niềm vui lúa chín tràn về
Có tình yêu tan thành tiếng thác
Vang lên trời
Vọng xuống đất
Cái tên làng Hiếu Lễ của con.
Mùa xuân 1993
Lời bình
Toàn bộ tứ thơ, từng nhóm từng câu đều rất rõ ý nghĩa. Không nên lược giản bằng văn xuôi, vô duyên. Nhưng rõ ràng thế mà vì sao vẫn lôi cuốn? – Vì tài nghệ:
– Liên tục những phát giác. Phát giác cứ cao dần theo đà trưởng thành của con trai của mẹ – người đàn ông ở làng Hiếu Lễ. Tới nhóm câu thơ thứ tư, sự trưởng thành tâm hồn, nhận thức vụt mở sâu hơn: Lần đầu tiên ôm tiếng khóc lên ba. Những mối quan hệ tù gia đình ruột thịt mở dần những tầng quan hệ xã hội, những khó khăn rất mực (nhóm lửa trên mặt nước), những va chạm nhận thức (sứ sành rạn nứt).
Ý nghĩ khôn lên nỗi buồn thấm tháp
Một phát giác thật hay. Hai mặt của trưởng thành. Đó là đời sống buộc và phải chấp nhận. Người chiến sĩ gan góc không sợ hi sinh, đã chiến thắng ngoài mặt trận, nay về với quê hương thiêng liêng tập tục ngàn năm, với cuộc đời thường không hề đơn giản, một chiều, chính làng Hiếu Lễ lại dạy anh bập bẹ bước đầu liên. Và anh được quê hương giáo dưỡng, được “khuất phục” trong một cảm thức mới:
… Có tình yêu tan thành tiếng thác
Vang lên trời
Vọng xuống đất
Cái tên làng Hiếu Lễ của con.
Lại là một phát giác về tính song đôi dữ dội của tình yêu. Quyện chặt tình yêu trai gái với tình yêu quê mẹ vừa hữu hình cảm giác vừa mênh mang hồn vía. Trong tình yêu tan thành tiếng thác ta cảm nghe được một “rạn nứt”, một đổi mới trẻ trung thi pháp.
– Bố cục chặt chẽ, nhưng vẫn sóng sánh giàu có trong từng câu từng chữ. Một vẻ giản dị của người có của (giàu tình, giàu ý kể cả tư tưởng). Tóm lại cái tên làng Hiếu Lễ không giải nghĩa theo kiểu từ điển, mà thấm dần, lớn dần, không thể còn thuyết phục nào hơn qua từng đợt sóng cảm xúc trải nghiệm. Làng ta đúng là Hiếu Lễ, đã dạy ta sống có hiếu và biết lễ. Biết ơn nghĩa, quý trọng. Biết chịu đựng và cứng cỏi. Biết sống như thác quê hương kia vọng xuống đất và vang lên trời…
TRÚC THÔNG
21.PHÙNG QUÁN
Sinh: (1932 – 1995). Quê: Thừa Thiên – Huế.
Tác phẩm thơ đã in: Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (trường ca), Tôi muốn mời đến Tố quốc tôi (trường ca), Thơ Phùng Quán.
Lời mẹ dặn
Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn
Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc:
– Con ơi! Trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật”
– “Mẹ ơi, chân thật là gì?”
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt.
– Thấy buồn muốn khóc là khóc
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu”
Từ đấy người lớn hỏi tôi:
– “Bé ơi bé yêu ai nhất?”
Nhớ lời mẹ, tôi trả lời:
– “Bé yêu những người chân thật”
Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con tiết nhỏ
Nhưng không! Những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt trời
In lên vết son đỏ chói
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhũng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ
Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật
“Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cú bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu”
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời đường mật công danh
Không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá!
Lời bình
Bài thơ này được nhà thơ Phùng Quán viết vào những năm có phong trào Nhân văn giai phẩm mà ông là một trong những người nhiệt thành hưởng ứng. Lúc bấy giờ, cục diện chính trị xã hội có nhiều biến động. Đời sống văn nghệ cũng biến động theo. Nó cũng phức tạp như chính đời sống vậy. Hoàn cảnh, không khí văn nghệ lúc này như “lửa thử vàng”, ai là ai đều tự bộc lộ ra hết. Hình như trong hoàn cảnh ngặt nghèo, ý thức về nhân cách, phẩm giá con người lại trỗi dậy, và riêng đối với thơ ca, thường lại hay xuất hiện thơ tỏ chí tỏ lòng – một loại thơ đi ra từ thơ ca cổ điển. Bài Lời mẹ dặn của Phùng Quán là một bài thơ như vậy. Các câu thơ trực tiếp bày tỏ chí khí của con người.
Ban đầu, bài thơ khẳng định tư cách làm người nói chung: Phải làm một người chân thật. Tác giả diễn giải người chân thật phải là một người mang những phẩm chất: không bao giờ nói dối, nói khác lòng mình, nói ngược lòng mình. Ý tưởng này được diễn giải bằng những chi tiết thơ cụ thể mang tính cách châm ngôn, lại được khuôn vào thể thơ sáu chữ đi suốt toàn bài, gây ấn tượng đặc biệt: “Yêu ai cứ bảo là yêu – Ghét ai cứ bảo là ghét – Dù ai ngon ngọt nuông chiều – Cũng không nói yêu thành ghét – Dù ai cầm dao dọa giết – Cũng không nói ghét thành yêu”.
Nửa sau của bài thơ, nhà thơ chuyển sang khẳng định tư cách làm nhà văn: Tôi muốn làm nhà văn chân thật. Xem ra làm một người chân thật đã khó, làm một nhà văn chân thật lại khó gấp bội phần. Bởi muốn làm nhà văn chân thật thì phải là một người chân thật trước đã. Đây là điều kiện sống còn. Song chưa đủ. Làm nhà văn chân thật còn phải chân thật trên từng câu chữ do mình viết ra. Làm người chân thật thì chủ yếu nhấn mạnh vào cái chiều hướng ra cuộc đời. Còn làm nhà văn chân thật lại vừa hướng ra cuộc đời lại vừa hướng vào nội tâm của mình, chân thực với chính mình, và muốn thế phải lắng nghe kĩ nội tâm của mình mới có thể chân thật được. Vả lại, có thể vẫn là tấm lòng chân thật, ý hướng chân thật đấy, nhưng nếu không có tài để biểu đạt ra cho bằng được các câu chữ xác đáng thì sự chân thật ấy cũng rất dễ chuội đi, thậm chí lại rất gần với sự giả. Cho nên, trong văn chương nghệ thuật, cái tâm dứt khoát phải đi với cái tài là vì vậy.
Ấy là nghĩ rộng ra thế, chứ tôi cho rằng nhà thơ của chúng ta viết bài thơ này cốt để tỏ cái chí ở đời: quyết không chịu bán rẻ lương tâm, ngòi bút của mình để chiều lòng người khác, và làm một nhà văn dứt khoát phải dám sống đúng là mình một cách ngạo nghễ, dũng khí. Câu thơ cuối đúng là một lời thề như dao chém đá: Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã – Bút giấy tôi ai cướp giật đi – Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá!.
Bài thơ này ra đời lúc bấy giờ khiến một số người hiểu lầm do cái định kiến hẹp hòi mà ra. Hình như chủ yếu vì bài thơ này mà Phùng Quán bị rầy rà lúc bấy giờ thì phải. Bây giờ nhìn lại, thôi thì nó cũng như cái rủi ro kiếp phận ở đời không ai lường hết được. Nó đã và đang được hoá giải cả ở người chịu đựng nó, người gây ra nó và độc giả rộng rãi.
Bài thơ có bao nhiêu ý tứ cứ bộc lộ trực tiếp ra bằng hết, rất rõ nghĩa, rõ tư tưởng. Ấy thế mà đọc vẫn thấy thú. Trong bài thơ này có những câu thơ đạt được phẩm chất của những câu có tính cách châm ngôn. Khi nào lời thơ được viết ra một cách độc đáo bao giờ cũng làm cho người đọc thích thú, nó nói hộ cái chí cho những người chính trực. Trong thơ Phùng Quán có không ít câu thơ có tính cách châm ngôn. “Tôi vịn những câu thơ mà đứng dậy” cũng là một câu thơ châm ngôn chứng thực cho phẩm chất chân thật đến cùng của đời thơ Phùng Quán. Thêm nữa, dường như cái hào quang ngoài bài thơ, hào quang tác giả làm cho bài thơ trở nên lấp lánh hơn lên.
Văn Giá 
22.BÙI MINH QUỐC
(Dương Hương Ly)
Sinh: 1940. Quê: Hà Tây.
Hiện sống và viết tại Lâm Đồng.
Tác phẩm thơ đã in: Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ, Đôi mắt nhìn tôi, Thơ tình Bùi Minh Quốc.
Có khi nào
Có khi nào trên đường đời tấp nập
Ta vô tình đã đi lướt qua nhau
Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất
Một tâm hồn ta đợi đã từ lâu.
Lời bình
Phải khẳng định ngay rằng bài thơ hay nhất, có giá trị nhất của đời thơ Bùi Minh Quốc không phải bài Có khi nào này, mà là thi phẩm Bài thơ về hạnh phúc. Nếu Bài thơ về hạnh phúc là một tình ca dài, thì Có khi nào như một khúc ca nhỏ dành cho bạn đọc những khi cao hứng ngâm nga.
Bài thơ như một chiêm nghiệm lặng lẽ và sâu sắc về đời sống. Trong bốn câu thơ xuất hiện hai chủ thể. Câu thứ nhất: Ta vô tình đã đi lướt qua nhau, thì “ta” được hiểu bao gồm cả nhân vật trữ tình và đối tượng của nhân vật trữ tình một “ta” nào đó trong cõi đời rộng lớn này. Ta là một đại từ xưng hô có tính “vơ vào”, một ngôi chung, nghe thật trìu mến, tương đương với cách xưng hô chúng ta, chúng mình, hai ta, đôi ta… chẳng hạn. Ở câu cuối cùng: Một tâm hồn ta đợi đã từ lâu, thì ngôi “ta” lại mang tính xác định, để chỉ chủ thể trữ tình mà thôi.
Bài thơ “vô giới tính”, chủ thể và đối tượng trữ tình chuyển hoá cho nhau. Ta ban đầu gồm cả anh và em. Ta thứ hai hoặc là anh, hoặc là em. Cho nên đứng trước bài thơ này, bạn đọc là con trai con gái đều có thể “sở hữu” được. Họ mượn bài thơ nhằm nói hộ một thông điệp: Đôi khi mỗi cá thể trong cuộc đời rộng lớn này “gặp” nhau, quen nhau đấy nhưng vì những lí do có khi rất không đâu, nên không “đọc” ra nhau, không “ngộ” ra nhau; để rồi mỗi khi nhớ lại mới hiểu ra rằng người ấy vĩnh viễn không thuộc về ta nữa. Từ đấy, có thể nghĩ ngợi xa hơn: cuộc sống vốn đầy những ngẫu nhiên, tình cờ, có khi sẽ là của nhau đấy nhưng lại lạc nhau mãi mãi; có khi không thể là của nhau mà lại phải chịu đựng lẫn nhau; giá như mà được bắt đầu lại từ đầu… Đấy mới chính là gương mặt thực của cuộc đời này.
Một bài thơ tứ tuyệt kiệm chữ kiệm lời. Như một thức nhận. Như một nỗi ngậm ngùi…
Văn Giá 
23.XUÂN QUỲNH
Sinh: (1942 – 1988). Quê: Hà Tây.
Tác phẩm thơ đã in: Hoa dọc chiến hào, Gió lào cát trắng, Lời ru trên mặt đất, Sân ga chiều em đi, Tự hát, Hoa cỏ may, Bầu trời trong quả trứng, Thơ Xuân Quỳnh.
Tự hát
Chẳng dại gì em ước nó bằng vàng
Trái tim em anh đã từng biết đấy
Anh là người coi thường của cải
Nên nếu cần anh bán nó đi ngay
Em cũng không mong nó giống mặt trời
Vì sẽ tắt khi bóng chiều đổ xuống
Lại mình anh với đêm dài câm lặng
Mà lòng anh xa cách với lòng em
Em trở về đúng nghĩa trái tim
Biết làm sống những hồng cầu đã chết
Biết lấy lại những gì đã mất
Biết rút gần khoảng cách của yêu, tin
Em trở đề đúng nghĩa trái tim em
Biết khao khát những điều anh mơ ước
Biết xúc động qua nhiều nhận thức
Biết yêu anh và biết được anh yêu
Mùa thu nay sao bão mưa nhiều
Những cửa sổ con tàu chẳng đóng
Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm
Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh
Em lo âu trước xa tắp đường mình
Trái tim đập cồn cào không thể nói
Trái tim đập cồn cào câu đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn
Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có
Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi.
Lời bình
Bài thơ là một khúc hát tự ru mình. Lời thơ giản dị đến mức không gì có thể giản dị hơn được nữa. Nếu bảo rằng thơ là tiếng nói từ trái tim đến thẳng trái tim, thì Ta hát là bài thơ tiêu biểu nhất, biểu thị rõ rệt nhất cho tinh thần này. Trái tim “em” là trái tim của một người đàn bà như mọi người đàn bà khác. Mà đã là trái tim đàn bà thì nó đập vỗ, xúc động, nhận thức những điều bình thường của một kiếp phận đàn bà. Vâng, có gì đâu, em không thích nói, hoặc nghe ai đó nói về mình những điều cao sang, mĩ miều mà xa lạ với chính lòng em. Trái tim em biết chia sẻ với vui buồn của anh, cùng nhịp đập với những mơ ước của anh, biết yêu anh và biết được anh yêu… Đó là một tình cảm hoàn toàn tự nhiên, như thiên chức, như bản năng, như một lẽ thường tình – “Em trở về đúng nghề trái tim em”. Nhà thơ viết những câu thơ như đang tâm sự, đang giãi lòng mình với đối tượng trữ tình là “anh”, người yêu của “em” một cách tự nhiên, thành thực nhất.
Nhưng cũng vì là trái tim đàn bà nên những cảm giác bất an về tình yêu bỗng nhiên lại trồi lên, chen ngang cảm xúc yêu đương, làm cho bài thơ có một phức cảm dư ba. Có một quy luật tâm lí thường thấy trong tình yêu: cảm giác hạnh phúc càng mạnh mẽ bao nhiêu thì cảm giác bất an lại càng tỉ lệ thuận bấy nhiêu. Đó chính là điều trớ trêu nhất của hạnh phúc. Do yêu quá, nên lo sợ không giữ được tình yêu mãi mãi. Lò lửa yêu đương lúc nào cũng ngun ngút cháy thế thì liệu có đủ nhiên liệu để nuôi dưỡng, duy trì? Thường thì khi cháy rực rỡ hết cỡ đồng thời cũng bắt đầu là lúc xuất hiện dấu hiệu của sự tàn phai. Cái dự cảm lo âu về hạnh phúc trong trái tim người đàn bà thi sĩ này quá mạnh. Hai mạch cảm xúc song song: hạnh phúc tận hiến và âu lo mất mát. Chúng còn chi phối ở rất nhiều bài thơ khác nữa. Nó trở thành một trong những đặc điểm thuộc về thi cảm Xuân Quỳnh. Những câu thơ cất lên khiến người đọc chạnh lòng:
“Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh”, “Em lo âu trước xa tắp trường mình”. Trong thơ Xuân Quỳnh không ít những câu thơ hoặc trực diện, hoặc phảng phất niềm âu lo như thế:
– Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn
Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi
(Nói cùng anh)
– Lời yêu mỏng mảnh như lời khói
Ai biết lòng anh có đổi thay
(Hoa cỏ may)
Tạng thơ Xuân Quỳnh là dựa hắn vào tình cảm nội tâm, chỉ biết đào xới vào nội tâm của mình, miệt mài xoay vần với nó chứ không hướng ra chất liệu hiện thực bên ngoài. Một số hình ảnh, chi tiết đời sống thường ngày nếu có xuất hiện cũng chỉ là nguyên cớ để nói cảm xúc bên trong (Căn phòng con riêng của chúng mình – Nước trong phích, hoa trong bình gốm cũ…). Đi theo con đường này phải là người có trữ lượng tâm hồn thật giàu có, sâu sắc, phải biết lắng nghe và chi chút từng biến động li ti nhất của tâm hồn, phải là một trái tim cực nhạy. Trái tim thi sĩ Xuân Quỳnh có đầy đủ các điều kiện đó. Thơ chị thôn tính được hàng triệu trái tim khác, nhất là những người nữ đang yêu, hoặc những người đàn bà trong tổ ấm gia đình cũng bởi trái tim chị có một trữ lượng tâm hồn to lớn và rất đỗi mẫn cảm như vậy.
Văn Giá 
24.TRẦN VÀNG SAO
Sinh: 1942. Quê: Thừa Thiên – Huế.
Bài thơ của một người yêu nước mình
Buổi sáng tôi mặc áo đi giày ra đứng ngoài đường
Gió thổi những bông mía trắng bên sông
Mùi toóc khô còn thơm lúa mùa qua
Bầy chim sẻ đậu trước sân nhà
Những đứa trẻ đứng nhìn ngấp nghé
Tôi yêu đất nước này như thế
Mỗi buổi mai
Bầy chim sẻ ngoài sân
Gió mát và trong
Đường đi đầy cỏ may là muộng chuộng
Tôi vẫn sống, vẫn ăn, vẫn thở như mọi người
Đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ
Một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
Một vết bùn khô trên mặt đá
Không có ai chia tay
Cũng nhớ một tiếng còi tàu.
Mẹ tôi thức khuya dậy sớm
Năm nay ngoài năm mươi tuổi
Chồng chết đã mười mấy năm
Thuở tôi mới đọc được i tờ
Mẹ thương tôi mẹ vẫn tảo tần
Nước sông gạo chợ
Ngày hai buổi nhà không khi nào vắng người đòi nợ
Sống qua ngày nên phải nghiến răng
Cũng không đui nên mẹ ít khi cười
Những buổi trưa buổi tối
Ngồi một mình hay khóc
Vẫn thở dài mà không nói ra
Thương con không cha
Hẩm hiu côi cút
Tôi yêu đất nước này xót xa
Mẹ tôi nuôi tôi muời mấy năm không lấy chồng
Thương tôi nên ở góa nuôi tôi
Những đứa bà con hàng ngày chửi bới
Chúng cho mẹ con tôi áo quần tiền bạc
như cho một đứa hủi
Ngày kị cha, họ hàng thân thích không ai tới
Thắp ba cây hương
Với mấy bông hải đường
Mẹ tôi khóc thút thít
Cầu cha tôi phù hộ tôi nên người:
“Con nó còn nhỏ dại
Trí chưa khôn chân chưa vững bước đi
Tôi một mình nuôi nó có kể chi mưa nắng”
Tôi yêu đất nước này cay đắng
Những năm dài thắp đuốc đi đêm
Quen thân rồi không ai còn nhớ tên
Dĩ vãng đè trên lưng thấm nặng
Áo mồ hôi những buổi chợ về
Đời cúi thấp
Giành từng lon gạo mốc
Từng cọng rau hột muối
Vui sao khi còn bữa đói bữa no
Mẹ thương con nên cách trở sông đò
Hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc
Đêm nào mẹ cũng khóc
Đêm nào mẹ cũng khấn thầm
Mong con khôn lớn cất mặt với đời
Tôi yêu đất nước này khôn nguôi
Tôi yêu mẹ tôi áo rách
Chẳng khi nào nhớ tuổi mình bao nhiêu.
Tôi bước đi
Mưa mỗi lúc mỗi to
Sao hôm nay lòng thấy chật
Như buổi sáng mùa đông chưa thấy mặt trời mọc
Con sông dài nằm nhớ những chặng rừng đi qua
Nỗi mệt mỏi rưng rưng từng con nước
Chim đậu trên cành chim không hót
Khoảng vắng mùa thu ngủ trên cỏ may
Tôi yêu đất nước này những buổi sớm mai
Không ai cười không tiếng hát trẻ con
Đá đất cỏ cây ơi
Mười ba năm có héo mòn
Đất đá cỏ cây ơi
Lòng vẫn thương mẹ nhớ cha
Ăn quán nằm cầu
Hai hàng nước mắt chảy ra
Mỗi đêm cầu trời khấn phật tai qua nạn khỏi
Ngày mai mua may bán đắt
Tôi yêu đất nước này áo rách,
Căn nhà dột phên không ngăn nổi gió
Vẫn yêu nhau trong từng hơi thở
Lòng vẫn thương cây nhớ cội hoài
Thắp đèn đêm ngồi đợi mặt trời mai
Tôi yêu đất nước này như thế
Như yêu cây cỏ ở trong lườn
Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương
Nuôi tôi thành người hôm nay
Yêu một giọng hát hay
Có bài mái đẩy thơm hoa dại
Có sáu câu vọng cổ chứa chan
Có ba ông táo thờ trong bếp
Và tuổi thơ buồn như giọt nước trong lá sen
Tôi yêu đất nhớt này bà tôi yêu em
Thuở tóc kẹo tuổi ngoan học trò
Áo trắng và chùm hoa phượng đỏ
Trong bước chân chim sẻ
Ngồi học bài bà gọi nhỏ tên tôi
Hay nói chuyện huyên thuyên
Chuyện trên trời dưới đất rất lạ
Chuyện bông hoa mọc một mình trên đá
Cứ hay cười mà không biết có người buồn
Sáng hôm nay gió lạnh vẫn còn
Khi xa nhà bạn muốn ngoái lại
Ngó cây cam cây cải
Thương mẹ già như chuối ba hương
Em chưa buồn
Vì chưa rách áo
Tôi yêu đất nước này rau cháo
Bốn ngàn năm cuốc bẫm cày sâu
Áo đứt nút qua cầu gió bay.
Tuổi thơ em hãy giữ cho ngoan
Tôi yêu đất nước này lầm than
Mẹ đốn củi trên rừng, cha làm cá ngoài biển,
Ăn rau rìu, rau éo, rau trai
Nuôi lớn người từ ngày mở đất
Bốn ngàn năm nằm gai nếm mật
Một tấc lòng cũng trứng Âu Cơ
Một tiếng nói cũng đầy hồn Thánh Gióng
Tôi đi hết một ngày
Gặp toàn người lạ
Chưa ai biết chưa ai quen
Không biết tuổi không biết tên
Cùng sóng chung trên trái đất
Cùng nỗi đau chia cắt Bắc Nam
Cùng có chung tên gọi Việt Nam
Mang vết thương chảy máu ngoài tim
Cùng nhức nhối lối người chết oan chết ức
Đấm ngực giận hờn tức tối
Cùng anh em cất cao tiếng nói
Bản Tuyên ngôn mười bốn triệu người đòi độc lập, tự do
Bữa ăn nào cũng phải được no
Mùa lạnh phải có áo ấm
Được nói cười, hát ca yêu đương không ai cấm
Được thờ cúng những người mình tôn kính
Hai mươi năm cuộc đời chưa khi nào định
Tôi trở về căn nhà nhỏ
Đèn thắp ngọn lù mù
Gió thổi trong lá cây xào xạc
Vườn đêm thơm mát
Bát canh rau dền có ớt chìa vôi
Bên hàng xóm có tiếng trẻ con khóc
Mẹ bồng con lên non ngồi cầu Ái Tử
Đất nước hôm nay đã thấm hồn Người
Ve sắp kêu mùa hạ
Nên không còn mấy thu
Đất nước này còn chua xót
Nên trông ngày thống nhất
Cho bên kia không gọi bên này là người miền Nam
Cho bên này không gọi bên kia là người miền Bắc
Lòng vui hôm nay không thấy chật
Tôi yêu đất nước này chân thật
Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi
Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi
Và yêu tôi đã biết làm nguời
Cứ trông đất nước mình thống nhất.
(19-12-1967)
Lời bình
Nét đặc sắc thứ nhất chính là sự xác minh không có gì đặc biệt, là rất bình thường, tự nhiên lòng yêu nước của chính tôi: đây là “một người yêu nước mình”. Không có giọng diễn đàn, lớn lối, nhưng tha thiết lắm, bức xúc lắm, thiêng liêng lắm, tâm thế thầm kín ấy chỉ có thể nói bằng thơ.
Căn cứ sâu sắc chính là cảnh ngộ nghèo cực của gia đình tôi với hình ảnh số phận người mẹ choán trùm suốt bài thơ này:
– Tôi yêu đất nước này xót xa
Mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng
Thương tôi nên ở góa nuôi tôi
- Mẹ tôi khóc thút thít
Cầu cha tôi phù hộ tôi nên người:
“Con nó còn nhỏ dại
Trí chưa khôn chân chưa vững bước đi
Tôi một mình nuôi nó có kể chi mưa nắng”
Từ nỗi tủi rất riêng ấy người con trai tự nhiên có mối liên tưởng rộng lớn tới tất cả nhưng ai cùng cảnh ngộ:
– Tôi yêu đất nước này cay đắng
Những năm dài thắp đuốc đi đêm
– Dĩ vãng đè trên lưng thấm nặng
Áo mồ hôi những buốt chợ về
Đời cúi thấp
Giành từng lon gạo mốc
Từng cọng rau hột muối
Anh nhìn đồng bào mình, nhân dân cần lao cật ruột tự nhiên hiện ra từ xa xưa lịch sử:
– Tôi yêu đất nước này rau cháo
Bốn ngàn năm cuốc bẫm cày sâu
Áo đứt nút qua cầu gió bay.
– Tôi yêu đất nước này lầm than
Mẹ đốn củi trên rừng, cha làm cá ngoài biển
Ăn rau rìu, rau éo, rau trai
Nuôi lớn người từ ngày mở đất
Bón ngàn năm nằm gai nếm mật
Một tấc lòng cũng trứng Âu Cơ
Một tiếng nói cũng đây hồn Thánh Gióng
Vậy là từ những trải nghiệm rất riêng, nhân vật trữ tình đi tới những trải nghiệm của cộng đồng, nhân dân, dân tộc, cộng thêm những phẩm cách bất khuất chống áp bức bất công một cách rất tự nhiên. Từ giữa bài thơ:
Tôi bước đi
Mưa mỗi lúc mỗi to
Sao hôm nay lòng thấy chật
đến đoạn kết bài:
… Cho bên kia không gọi bên này là người miền Nam
Cho bên này không gọi bên kia là người miền Bắc
Lòng vui hôm nay không thấy chật
Một tình yêu nước mới đã hình thành, nối kết riêng – chung rất tình cảm và cũng rất trí tuệ:
Tôi yêu đất nước này chân thật
Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi
Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi
Và yêu tôi đã biết làm người
Cứ trông đất nước mình thống nhất.
Nét đặc sắc thứ hai tạo nên tính trữ tình, tính hiện đại của bài thơ thể hiện rõ ở hai điểm:
1. Sự không né tránh
Những dung tục, gay gắt, bạc bẽo của cuộc đời được chọn lọc đưa vào rất thật:
– Những đứa bà con hàng ngày chửi bới
Chúng cho mẹ con tôi áo quần tiền bạc như cho một đứa hủi
Ngày kị cha, họ hàng thân thích không ai tới
Thắt ba cây hương
Với mấy bông hải đường
– Bản Tuyên ngôn mười bốn triệu người đòi độc lập tự do
Bữa ăn nào cũng phải được no
Mùa lạnh phải có áo ấm…
Nhưng cũng không thể quên mà còn rất chắt chiu những dáng vẻ nên thơ rất thực (có khi nội cảm rất mơ hồ) xen vào làm tươi sáng những cảnh đời u ám và tạo được phong vị sâu cao và tế nhị cho tâm hồn nhân vật trữ tình:
– Bầy chim sẻ đậu trước sân nhà
Những đứa trẻ đứng nhìn ngấp nghé
– Khoảng vắng mùa thu ngủ trên cỏ may
– Và tuổi thơ buồn như giọt nước trong lá sen
– Áo trắng và chùm hoa phượng đỏ
– Trong bước chân chim sẻ
Ngồi học bài và gọi nhỏ tên tôi
Không hiếm những câu thơ đẹp như thế. Đặc biệt, ca dao dân ca tục ngữ thấm suốt nhiều đoạn thơ, không đơn thuần là bút pháp nghệ thuật mà thực sự đã làm cho nội dung “yêu nước mình” trở nên mang mang, tinh tế và cứng vững.
2. Bố cục phục vụ ý đồ bình dị một cách chặt chẽ
Nhân vật trữ tình đầu bài thơ bước ra khỏi nhà mình “Buổi sáng tôi mặc áo đi giầy ra đứng ngoài đường”. Xúc cảm và tư duy lan ra mở tiếp theo bước chân:
– Tôi bước đi
Mưa mỗi lúc mỗi to
– Sáng hôm nay gió lạnh vẫn còn
Khi xa nhà vẫn muốn ngoái lại
Ngó cây cam, cây cải
– Tôi đi hết một ngày
Gặp toàn người lạ
– Tôi trở về căn nhà nhỏ
Đèn thắp ngọn lù mù…
Với chu trình ngẫu hứng mà lại khép kín ấy chỉ trong thời gian một ngày, nhân vật trữ tình đã giải trình và dần dần hình thành chủ đề “yêu nước mình” một cách thỏa mái tự nhiên không có sự gò gẫm, bó buộc. Hơn thế còn trong suốt, sâu sắc, chân thực, tình cảm. Phục vụ được hiệu quả tước bỏ đi sự chứng minh biện luận, luân lí mà không ít bài thơ yêu nước rất nồng nhiệt giai đoạn đó thường vướng phải.
TRÚC THÔNG
25.LÒ NGÂN SỦN
Sinh: 1945. Dân tộc Giáy. Quê: Lào Cai.
Hiện sống và viết tại Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Chiều biên giới, Đường dốc, Chợ tình, Những người con của núi, Đám cưới, Dòng sông mây, Đầu nguồn nước.
Người đẹp
Ai viết tên em bằng ánh sáng
Ai vẽ hình em bằng ánh trăng.
Dân ca Giáy
Người đẹp trông như tuyết
Chạm vào lại thấy nóng
Người đẹp trông như lửa
Sờ nào lại thấy mát
Người không khát – nhìn thấy người đẹp cũng khát
Người không đói – nhìn thấy người đẹp cũng đói
Người muốn chết – gặp người đẹp
lại không muốn chết nữa
Ơ
Người đẹp là ước mơ
Treo trước mắt mọi người.
(1993)
Lời bình
Vào thập niên cuối thế kỉ XX, trên thi đàn nước ta xuất hiện nhiều nhà thơ dân tộc ít người. Trong đó trội lên hai tên tuổi Lò Ngân Sủn, dân tộc Giáy, Lào Cai và Y Phương, dân tộc Tày, Cao Bằng.
Lò Ngân Sủn viết nhiều và ý vị nhất trong thơ ông là cách lập ý, cấu tứ gần với lối tư duy trực cảm, cụ thể, sáng rõ của bà con dân tộc ít người.
Ở bài Người đẹp này ông có ghi hai câu dân ca Giáy làm lạc khoản:
Ai viết tên em bằng ánh sáng
Ai vẽ hình em bằng ánh trăng.
Hai câu song song và đối xứng trong hình thức câu và cả trong phương thức tư duy. Bài thơ Người đẹp cũng chọn được một hình thức tương tự. Nhưng đẩy cao hơn câu dân ca kia bằng phép cấu tứ. Cấu tứ bằng những mặt đối nghịch, trắng đen quyết liệt nhưng lại hợp lí và đều trong mạch đồng thuận ca ngợi người đẹp: tuyết – nóng, lửa – mát, không khát – khát, không đói – đói, muốn chết – không muốn chết. Trong năm cặp đối nghịch này, hai cặp đầu thú vị vì nó được dùng xúc giác: chạm vào tuyết và sờ vào lửa. Mà cả tuyết và lửa đều là người đẹp, thế mới thích. Còn ba đối nghịch sau không mạnh về trực giác nhưng lại là ba khái niệm thuộc về sự sống còn của mọi sinh vật. Đầu vào thế này mà đầu ra thế kia, người đẹp thành một thứ thần bí. Thần bí mà ai cũng hiểu. Bài thơ không kêu gọi sự giải thích mà lại xui khiến sự thể nghiệm. Đọc thơ mà thèm được thể nghiệm. Cái duyên ngầm của Lò Ngân Sủn là ở đấy.
Hai câu kết được viết tách đoạn bởi đã thuộc mạch tư duy khác có tính bao quát, nhưng vẫn giữ hình thức đối nghịch. Người đẹp là ước mơ, ước mơ thì bao giờ chả xa vời nhưng ước mơ này thì lại treo ngay trước mắt người như con ngựa ngẩng lên là thấy bó cỏ, nhưng lưỡi có chạm được tới bó cỏ không lại là điều… còn xét.
Bài thơ gọn câu. Câu thơ gọn chữ. Không gọn hơn được, gọn hơn là mất ý. Bài thơ nói bằng các chi tiết cụ thể, các giác quan phổ biến, ai cũng cảm nhận được nhưng lại khái quát một nhận thức rộng xa về người đẹp, về cái đẹp, về hạnh phúc con người.
Vũ Quần Phương
26.NGUYỄN TRỌNG TẠO
Sinh: 1947. Quê: Nghệ An.
Hiện sống và viết tại Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Tình yêu sáng sớm, Gương mặt tôi yêu, Tình ca người lính, Đồng dao cho người lớn.
Đồng dao cho người lớn
Có cánh rừng chết dẫn xanh trong tôi
Có con người sống mà như qua đời
Có câu trả lời biến thành câu hỏi
Có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
Có cha có mẹ có trẻ mồ côi
Có ông trăng tròn nào phải mâm xôi
Có cả đất lời mà không nhà ở
Có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
Mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
Mà đời lẫn say mà hồn vẫn gió
Có thương có nhớ có khóc có cười
Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.
Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
Có con người sống mà như qua đời
Với mười hai câu thơ, đứng sóng đôi thành từng cặp, từng khổ, bài thơ có cái tên lạ vừa định hướng, vừa gợi nghĩ Đồng dao cho người lớn của Nguyễn Trọng Tạo, mở ra cặp thơ đầu như vậy.
Chỉ mới có cặp thơ mở đầu và trình làng này, Nguyễn Trọng Tạo đã gây tác động trực tiếp cho tôi về một cách nhìn, một quan niệm nhân sinh, dung nạp và thỏa mãn ở cả hai chiều hướng: đạo và đời. Cái đạo cho ta nhìn sự khách quan không bằng nhãn quan lạnh lùng như điều nó vốn có – “Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi”. Và, chất đời thực sự khách quan và nhân ái, lại cho ta có cách nhìn nhân sinh thật bình tĩnh, thông minh: “Có con người sống mà như qua đời”. Bởi thế, người viết bài này không sợ võ đoán và cảm tính, khi đưa ngay ra một lời bình giá khái quát. Rằng:
Đồng dao cho người lớn của Nguyễn Trọng Tạo với một dung lượng có thể nói là kiệm lời, đã tạo được sự tương hợp tự nhiên của hai tố chất cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và triết lí… để trao gửi bức thông điệp nhân sinh mà như tác giả thật hóm hỉnh và sâu sắc, từ tên bài thơ của mình.
Bài thơ của Nguyễn Trọng Tạo, với những hình tượng thơ được sóng đôi như đã nói ở trên, xét về phương diện cấu tứ đã tạo nên mạch cảm xúc và cũng là điểm nhìn đối lập và đồng nhất khi hướng tới đời người. Cảm quan nhân sinh cũng được khơi gợi và mang dư vị triết lí từ đấy!
Từ sự gửi gắm cách nhìn nhận của những sinh thể sống (cánh rừng hay con người), nhà thơ mở tiếp, mở rộng ra cách nhìn, nhận biết trực diện vào cõi nhân sinh; tình ý của Nguyễn Trọng Tạo cũng mở tiếp ra chiều xa rộng của cuộc đời.
Nhà thơ cảm nhận và thấu thị ra những chiều hướng mong manh đi giữa đường biên của những phạm trù được - mất, có – không, hồi đáp – nghi vấn,…:
Có câu trả lời biến thành câu hỏi
Có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
Với những lời thơ này, Nguyễn Trọng Tạo vừa gửi tâm tình vào thực tế cuộc đời; mặt khác, người thơ lại chạm vào một thứ chân lí đích đáng mà những điều khách quan cuộc sống giúp ta thức ngộ. Hình như giữa muôn hình vạn nẻo của đời thường, của kiếp nhân sinh, có bao giờ tàn được đáp số duy nhất, như nhất. Thế nên, câu trả lời thoắt “biến thành câu hỏi”. Ngỡ như đi tìm đáp số, đi tìm lời giải cho muôn thuở cuộc đời, trớ trêu thay, con người lại tự rơi tiếp vào thế giới của mông lung, mơ hồ. Và, cả niềm day dứt băn khoăn khôn nguôi dứt. Nỗi niềm day dứt về cõi nhân sinh trở thành điểm chung ý, chung tình của biết bao thi nhân cổ–kim. Từng có một Nguyễn Du khắc khoải trước nỗi “kì oan” của khách đa tình, đa cảm: “Cổ kim hận sự thiên nan vấn” (Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi); để rồi lại từng có tiếng lòng quằn quại trước tình nhân thế mà không một hồi âm của thi nhân lãng mạn thời Thơ mới:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
(Hàn Mặc Tử, Đây thôn V Dạ)
Và, cái thứ mẫu số chung của tâm hồn thi sĩ đi tìm câu trả lời cho sự sống con người, thì vẫn rơi vào biệt vô âm tín. Để mãi thành “Một câu hỏi lớn không lời đáp” (Huy Cận).
Với Đồng dao cho người lớn, Nguyễn Trọng Tạo không ngần ngại mà tung ra những chiều hướng trái ngược từ chính cuộc đời – cuộc đời phức điệu mà cũng lắm nỗi truân chuyên. Lắm cảnh đa đoan đến đau lòng người:
… Có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
Có cha có mẹ có trẻ mồ côi
Có ông trăng tròn nào phải mâm xôi
Có cả đất trời mà không nhà ở
Có vui nho nhỏ có buồn mênh mông…
Xin đừng vội nghĩ giản đơn mà quy kết cách nhìn tinh tế và sâu sắc chất nhân sinh, chất nhân văn của nhà thơ, thành cái nhìn buồn bã và tiêu cực. Và, cũng đừng vội vã mà cho rằng những câu thơ như thế này của nhà thơ họ Nguyễn, thuần túy chứa đựng chủ nghĩa lạc quan.
Mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
Mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
Bởi, với những lời thơ trên, Nguyễn Trọng Tạo chỉ muốn mang ra một đối sánh mà cũng là một đối đáp của những con–người–lớn trước những bộn bề phức tạp vạn nẻo của kiếp nhân sinh. Vẫn biết rằng ngay giữa cuộc đời này, đang tấu trình bao khúc nhạc buồn vui: “Có thương có nhở có khóc có cười”, thì con người ta biết sống và dám sống, vẫn phải tự tìm ra chất men say tự tại của lòng mình.
Say, để mà nhận ra sắc xanh của cây cỏ đất trời. Say, để mà nhận ra thẳm sâu tự hồn mình không thể bao giờ tắt gió.
Và, thêm nữa, hình như nhà thơ đa cảm và cũng đa suy này còn muốn trao gửi tiếp cho ta bức thông điệp khẩn thiết về thời gian và đời người. Bởi:
Có từ ương có nhớ có khóc có cười
Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.
Hà Nội, 26-4-2007
Trần Trung 
27.THÂM TÂM
Sinh: (1917 – 1950). Quê: Hải Dương.
Tác phẩm thơ đã in: Thơ Thâm Tâm.
Tống biệt hành
Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
- Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong
Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót
Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.
(1940)
Lời bình
Tâm Tâm viết không nhiều, anh mất ở tuổi ngoài ba mươi, cả đời thơ chọn lại chưa được hai chục bài. Nhưng nếu chọn mười bài thơ hay của giai đoạn Thơ mới, chắc chắn có Tống biệt hành. Bài thơ mang một khí vị cổ xưa trong cách diễn đạt. Nhưng tình cảm của nó lại là vấn đề đương thời: cái buồn chung bế tắc có tính thời đại. Hành là một thể thơ cổ, thời kì ấy ít được dùng. Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân là ba tác giả, cũng là ba người bạn thân thiết với nhau, đôi lúc có dùng thể hành để viết những bài thơ bi phẫn, giọng thơ buồn nhưng rắn rỏi, tức tưởi. Có lẽ cũng do cái vẻ cổ kính “tráng sĩ nhất khứ hề” của các bài hành ấy mà giới bút mực thời đó gọi nhóm thơ của Thâm Tâm là nhóm áo bào gốc liễu.
Vào thời giao thông đường bộ chỉ là con ngựa thì phương tiện đi lại chủ yếu của người dân là chiếc thuyền, cho nên sông nước đò giang mới có mặt nhiều trong thơ tiễn biệt thời xưa, từ “Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn” đến:
Đừng làm thuyền trên sông
Thuyền chở người biệt li
Đừng làm trăng trên sông
Trăng soi người li biệt
Thời Thâm Tâm viết Tống biệt hành (1940) nước ta đã có nhiều ô tô, tàu hỏa. Cuộc tiễn đưa của Thâm Tâm chắc cũng ở một bến xe, một sân ga nào đó: Đưa người, ta không đưa qua sông. Nhưng cái nỗi niềm biệt li chồng chất từ bao nhiêu đời trong văn chương đã ngấm vào tác giả nên tiếng sóng của các biệt li sông nước mới vỗ vào hồn tác giả, để chính anh cũng ngạc nhiên Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Màu hoàng hôn trong mắt cũng tương tự như vậy. Tính ước lệ cửa nghệ thuật vẫn gây xúc động cho người trong cuộc lẫn người đọc thơ. Mở đầu bằng ý thơ này, Thâm Tâm đã đạt được hai hiệu quả nghệ thuật: bài thơ vào ngay xúc cảm nội tâm, bất kể ngoại cảnh, ý thơ hướng vào phân tích lòng người (sao có, sao đầy, trong lòng, trong mắt), đồng thời tạo không khí thuận lợi cho những chữ cổ, hình ảnh xưa xuất hiện (li khách, chí nhớn, hơi rượu say). Tiếng sóng trong lòng, hoàng hôn trong mắt thật ra đã thành biểu tượng của những nỗi lòng chia biệt thảng thốt xót xa, cho nên câu hỏi của Thâm Tâm đặt ra chỉ là một cách hành văn, bản chất nó là trần thuật là giãi bày, nghi vấn chỉ để nhấn mạnh.
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Câu thơ này dễ cảm thụ mà khó bình luận. Kẻ tiễn là ta, kẻ đi là người ấy. Không rõ sắc thái, tính chất cửa cuộc tiễn đưa này. Người đi bi phẫn Chí nhớn chưa hề bàn tay không mà kẻ tiễn lại còn bi phẫn hơn. Hai câu thơ Đưa người, ta chỉ đưa người ấy và Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực cho thấy một nỗi lòng thảng thốt, cố xác định trước cho mình nỗi đau chia biệt nhưng vẫn cứ bàng hoàng. Bài thơ này có hai con người mà chỉ một tâm trạng. Và chỉ tâm trạng thôi. Cả bài thơ không một dòng miêu tả, chả ai biết sân ga bến tàu ấy thế nào; cũng không một dòng tự sự đi đâu, làm gì, cảnh ngộ, gia quyến cứ lơ mơ. Nhưng tình cảm thì rất rõ, rất mãnh liệt và từ tình cảm ấy mà đoán ra hoàn cảnh. Đấy là bút pháp lớn của thơ. Nguyễn Du viết trên ba nghìn câu Kiều, diễn đạt biết bao diễn biến của nỗi lòng cô Kiều, nhưng không thấy câu nào ông tả cô Kiều đang làm việc gì. Không phải là nhà thơ không yêu lao động và cô Kiều, con nhà thường thường bậc trung, cố nhiên cũng biết cất nhắc làm lụng. Nhưng diễn đạt nội tâm, khám phá tình cảm mới là chỗ tinh diệu của nhà thơ. Chúng ta, ít lâu nay, thích phản ánh hiện thực xã hội nên thơ nói giỏi kể nhiều mà ít khám phá lòng người. Đọc thơ mà chỉ để biết việc thì đọc báo, nhanh và chính xác hơn. Cái sự tách bạch ta chỉ đưa người ấy không mang một lượng thông tin nào, vì có ai trách ông còn đưa thêm người nào khác đâu, nhưng câu thơ còn mang một lượng tâm hồn: người nên chỉ biết có người đi, họ là tất cả với nhau, xung quanh là vô nghĩa. Trong cái ngang tàng này là nỗi xót đau ra đi là hết rồi. Nói năng hùng dũng bất cần đời nhưng lông rất cô đơn, yếu đuối. Cô đơn yếu đuối quá mới hóa ra phẫn:
– Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Chí nhớn mà đường nhỏ, cuộc đi chưa thấy có căn cứ gì cho nghiệp lớn, ngoài sự hăng hái tinh thần. Nguyễn Bính, giai đoạn này, có bài Hành phương nam, cũng hăng hái lên đường lắm, dù chẳng biết sẽ đi đâu đến đâu:
Giày cỏ, gươm cùn ta đi đây
Phảng phất chất tráng sĩ của Đôn Kihôtê. Buồn cười mà ứa nước mắt. Li khách! Li khách! Hai từ chữ Hán trang nghiêm gợi nhớ đến những giáp trụ yên cương của một thứ Kinh Kha cuối mùa “Nhất khứ hề bất phục hoàn” nào đấy. Cho nên cái chí nhớn chưa về bàn tay không ấy nó thiêng liêng một cách xót thương, nó không gợi được lòng tin những gợi được sự cảm thông.
Từ cái ý chí Ba năm mẹ già cũng đừng mong, ta biết được gia cảnh, gia cảnh của người ấy. Anh có mẹ già, một chị, hai chị và đứa em gái. Thì ra mình anh là nam nhi, rường cột của cái gia đình ấy. Người ra đi có vẻ hào hùng, hăng hái là thế nhưng thật ra người buồn, buồn từ chiều hôm trước, buồn cả sáng hôm nay. Người buồn với chị, hai chị đã khóc nhiều rồi, còn dòng lệ sót khóc nốt tiễn đưa em. Hai chị muộn mằn như sen cuối hạ, một bông, hai bông. Con số đếm ở đây là lẫn sen với chị, chứ ai lại đếm chị. Đếm sen vì sen cuối mùa thưa thớt quá, vừa đếm vừa phải tìm một bông… hai bông, có thế thôi. Một chị, hai chị là đếm sen mà nghĩ đến phận chị, câu thơ nói tắt tạo được ý lạ. Dùng chữ sót xác định giọt lệ chị thương em, cho thấy hết nỗi nhọc nhằn trong đời chị. Bây giờ mùa hạ sen nở nốt. Câu thơ mới đọc như không dính vào đâu (cũng giống như câu Giời chưa mùa thu, tươi lắm tha), vì mạch thơ đang tả tâm trạng bỗng nhảy ra nói chuyện thời tiết. Những đột biến ấy tạo thêm bình diện cho bài thơ và người đọc thích thú thấy những biến hóa nội tâm. Biến hóa mà không rối vì chi tiết đột biến ấy đã được phát triển và đồng hóa vào bài. Mùa hạ sen nở nốt đã dẫn đến Một chị, hai chị cũng như sen, và vì nở nết mới gọi tới dòng lệ sót. Ở đoạn dưới, Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay đã tạo ấn tượng ngây thơ đôi mắt biếc của đứa em. Chị lận đận quá em ngây thơ vô tội, mẹ già “nắng ngả cành dâu”, gia cảnh ấy đủ bịn rịn ngậm ngùi cho người đi, tưởng chẳng thể nào đi được. Thế mà:
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Việc đời như trò đùa, như chiêm bao. Hai chữ ừ nhỉ giữa câu thơ này chứa đựng cả một quá trình, trong nó có sự bừng tỉnh, lại có nỗi thẫn thờ, một hối tiếc, một cam chịu. Mở đầu bài thơ là nỗi lòng người đưa tiễn, việc ra đi xác định mười mươi rồi, sao đến cuối này còn ừ nhỉ, người đi thực! Bởi vì lòng người tiễn, vẫn cứ hi vọng, một hi vọng rất mong manh, là đến phút cuối, có thể vì một lẽ nào đó, cuộc ra đi không có nữa. Niềm hi vọng này vì không nói ra, coi như không có, mọi sự chuẩn bị tâm lí đều dành cho sự đi. Nhưng khi sự đi ấy tới vẫn cứ thảng thốt. Hai chữ ừ nhỉ lật lại cả cái chí nhớn, một đi không trở lại ở trên, nó chẳng có gì là đáng tự hào, nó là việc bất đắc dĩ. Ở lại thì bế tắc, nhưng ra đi chưa thấy gì là tươi sáng, nó tự nhủ bằng cái vẻ bi hùng của Kinh Kha bên sông Dịch thì cũng chẳng lừa được chính mình. Mấy câu thơ kết, lòng người như sụp xuống, cả kẻ tiễn lẫn người đi. Tuyệt vọng đến hư vô. Buồn quá hoá bi phẫn:
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.
Bốn câu kết đã là cao trào xúc cảm của bài thơ. Cái éo le lắt léo của cảnh ngộ, quy luật khắc nghiệt của cuộc đời nỗi buồn thương chua chát của người trong cuộc đều hội tụ ở đây. Có thêm một đoạn nào nữa chỉ làm bài thơ non đi.
Bài thơ thống nhất một trạng thái cảm xúc từ câu đầu đến câu cuối. Nhưng sự thống nhất lại sinh ra từ những tình thế đối lập gay gắt trong cảnh ngộ, trong tâm lí. Cái thái độ một giã gia đình, một dửng dưng cố che đậy, cố giấu nỗi xót thương mẹ già em dại, hai chị lỡ làng. Ba câu cuối cùng nói như buông xuôi, như nhẹ nhõm để nén một tiếng gào. Cái cảm giác tức tươi của bài thơ càng dồn xuống lại càng bật lên. Âm điệu rắn rỏi của thể thơ càng thêm sự bùi ngùi của tình huống. Cái tên bài thuần chữ Hán cùng các từ ngữ cổ kính trang trọng đối chiếu với cuộc đi cửa đời thực, với diễn biến của tâm trạng, chỉ như một sự an ủi nhỏ nhoi, càng làm ta xót thương. Những yếu tố đó đã làm Tống biệt hành thành bài thơ hay và đầy vẻ lạ lùng so với các bài thơ cùng thời.
Vũ Quần Phương
28.NGUYỄN ĐÌNH THI
Sinh: (1924 – 2003). Quê: Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Người chiến sĩ, Bài thơ Hắc Hải, Tia nắng, Dòng sông trong xanh, Sóng reo, Thơ Nguyễn Đình Thi.
Đất nước
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha.
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
Từ những năm đau thương chiến đấu
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn.
Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây, thằng chúa đất
Đứa đè cổ, đứa lột da.
Xiềng xích chúng bay không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước, thương nhà.
Khói nhà máy cuộn trong sương núi
Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng
Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng.
Ngày nắng đốt theo đêm mưa giội
Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh
Trán cháy rực nghĩ trời đất mới
Lòng ta bát ngát ánh bình minh.
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước nỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.
(1948 – 1955)
Lời bình
Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi khởi nguồn từ năm 1948 và hoàn thành năm 1955. Bài thơ viết khá công phu và là kết tinh những suy nghĩ, những cảm xúc của thi sĩ về đất nước trong không khí hào hùng của dân tộc. Bài thơ giàu chất sử thi, có tầm khái quát lớn lao và tràn ngập cảm xúc say mê, nhiệt thành.
Người đọc không chút ngỡ ngàng khi thấy ông đưa dắt chúng ta vào Đất nước với cảm hứng hương cốm mùa thu đất Việt:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa.
Cảm hứng về đất nước cũng được bắt đầu với cảm hứng về mùa thu. Trên đất nước ta, đặc biệt là ở xứ Bắc, mùa thu có lẽ là mùa đẹp nhất, gợi nhiều cảm hứng cho sáng tạo thơ ca, nghệ thuật. Nắng thu dịu trong sắc vàng rười rượi. Gió thu hiu hắt trong se lạnh heo may. Trăng thu trong sáng… Lòng người cũng chiều bâng khuâng, xao xuyến. Không gian, thời gian, thiên nhiên cây cỏ đầy thi vị. Mùa thu tháng Tám gắn liền với cuộc Cách mạng và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đem lại những suy nghĩ, cảm xúc rất mới mẻ về đất nước cho thi sĩ.
Đứng ở “Thủ đô gió ngàn”, lòng thi sĩ chợt bâng khuâng khi thoáng cảm nhận trong gió mùa thu “hương cốm” đầu mùa, hương thơm rất gợi cảm trên đất nước nông nghiệp trồng cây lúa nước. Hồn thơ của thi sĩ về với dĩ vãng để “… nhớ những ngày thu đã xa”. Đó là vẻ thanh tân của thu trong lòng Hà Nội. Hà Nội chớm vào thu có biết bao nhiêu vẻ đẹp, gợi bao nhiêu cảm xúc, có bao nhiêu điều đáng nhớ. Thi sĩ đã chọn một “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội – Những phố dài xao xác hơi may” để mở đầu cho một khổ thơ dư ba những hoài niệm tâm tình.
“Chớm lạnh” là dấu hiệu nổi bật nhất của một cuộc chuyển mùa và cũng là một tín hiệu thẩm mĩ chạm khẽ vào những trái tim nghệ sĩ nhạy cảm nhất để rung lên nhịp nhớ nhung thổn thức, rạo rực… Từ cái nóng oi của mùa hè, chuyển sang cái se lạnh của “hơi may” mới thật là thi vị. Cái lạnh còn e ấp khẽ khàng như một dấu hiệu ấy được nhà thơ cảm nhận thật tinh tế: “… trong lòng Hà Nội”, nghĩa là trong không gian, trên phố phường, trong cỏ cây hoa lá và cả trong lòng người Hà Nội.
Gió thu nhẹ như một hơi thở. Nhà thơ không gọi thứ gió ấy là “heo may” mà gọi đó là “hơi may”. Chỉ đổi đi có một chữ mà thay đổi cả hơi thơ và tình điệu thơ.
Đây là trong lòng Hà Nội” có “hơi may” của Nàng Thu gợi lên âm thanh “xao xác” rất đỗi mơ hồ. Âm thanh mơ hồ “xao xác” là cái hữu thanh mỏng manh gợi lên cái vô thanh yên tĩnh vô cùng của phố vắng. Mùa thu đến hết sức êm đềm, vắng lặng. Đẹp mà buồn đến nao lòng.
Trên cái nền thu rất buồn ấy hiện lên hình ảnh những người ra đi với dáng điệu rất buồn nhưng không kém phần cương quyết:
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Nhà thơ nói Người ra đi đầu không ngoảnh lại mà câu thơ tiếp theo lại cho ta biết những điều đang diễn ra sau lưng. Điều tưởng như nghịch lí ấy lại có sự hợp lí riêng. Bao người con Hà Nội đã bao lần ra đi theo tiếng gọi con nước thiêng liêng với quyết tâm “không hẹn ngày về”. Nhưng Hà Nội, nhất là Hà Nội chớm vào thu, đẹp, thơ mộng, thân thương, đầy kỉ niệm; Hà Nội băm sáu phố phường, ngàn năm văn hiến… làm sao đành lòng rời xa một Hà Nội như thế? Bởi vậy, “đầu không ngoảnh lại”, mắt chẳng ngoái nhìn, chân vẫn bước đi, người ra đi mang dáng vẻ cương quyết mà thực ra trong lòng biết bao nhiêu lưu luyến, nhớ thương, vẫn tưởng tượng ra những gì của Hà Nội phía sau:
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Câu thơ là bức tranh Mùa thu Hà Nội đầy sức gợi cảm: những ngôi nhà, những dãy phố lặng im, những thềm nhà ngập nắng thu dần phủ đầy lá thu, có bóng người lặng lẽ ra đi để lại sau lưng Hà Nội mùa thu và mùa thu Hà Nội… Nguyễn Đình Thi đã tặng cho Hà Nội một bức tranh mùa thu đẹp và gợi cảm.
Mùa thu nay khác rồi… câu thơ nghe như một tiếng reo vui hồ hởi trong đó hàm nghĩa so sánh giữa mùa thu nay với những ngày thu đã xa, đồng thời cũng là câu thơ bản lề khép lại hoài niệm và mở ra thực tại. Mùa thu buồn chia xa… đã xa. Nỗi buồn như đã chìm lắng nơi chân trời thời gian dĩ vãng. Nàng thu nay hiện ra với tà áo thiên thanh và tiếng “nói cười thiết tha”, “trong” và “biếc”:
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha.
Không gian nghệ thuật chuyển dịch từ phố phường Thăng Long lên “núi đồi” của “Thủ đô gió ngàn”; thời gian nghệ thuật cũng chuyển dịch “Từ những năm đau thương chiến đấu” sang những năm “ngời lên nét mặt quê hương”. Đó là mùa thu năm 1948, một năm đáng ghi nhớ của công cuộc kháng chiến vĩ đại. Chúng ta đã chuyển sang giai đoạn giành thế chủ động trên chiến trường, tin vui chiến thắng làm nức lòng người khiến cho thi sĩ và biết bao người có thể “đứng vui nghe giữa núi đồi” với niềm kiêu hãnh, tự hào chính đáng về Tổ quốc kháng chiến của mình. Vì vậy tất cả những gì nghe thấy, nhìn thấy, cảm thấy đều cộng hưởng với nhau mà bật thành tiếng reo vui. Những con chữ trong thơ của Nguyễn Đình Thi như biết nói, biết hát, biết tự khoe vẻ đẹp của đường nét, ánh sáng, sắc màu của thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng cùng lòng người rạng rỡ mà thiết tha. Trái tim thi sĩ vốn đa cảm nay hòa nhịp với niềm tin yêu cuộc đời của hàng triệu người, của đất nước trong những đổi thay lớn lao.
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Điệp khúc “của chúng ta” vang ngân hòa vào với tiếng “nói cười thiết tha” thể hiện một niềm tự hào mang tính dân chủ rõ rệt.
Cam xúc và suy tư về đất nước chuyển hoá từ sắc thái nội tâm sang những hình ảnh về quê hương, đất nước yêu thương và tự hào:
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa.
Nguyễn Đình Thi là một thi sĩ, nhưng ông cũng là một nhạc sĩ tài hoa. Trong thơ của ông có âm nhạc, một thứ nhạc sang trọng như “lắng hồn núi sông ngàn năm”. Những câu thơ như những dòng âm thanh cuồn cuộn tuôn chảy, những âm “át” đặt ở cuối hai dòng thơ liên tiếp làm câu thơ ngân nga như hát. Đến câu thơ tiếp theo bỗng hạ xuống với một thanh trắc ở âm trầm lặng nhất gợi lên sự suy tư trầm lắng: “Những dòng sông đỏ nặng phù sa”. Quả là một niềm vui đầy suy nghĩ. Đâu chỉ là phù sa “đỏ nặng” mà dòng sông quê ta bồi đắp châu thổ, đó còn là một tình yêu quê hương đất nước rất sâu nặng được tác giả gửi đúng trong từ “nặng” đó.
Từ cái hữu hình cụ thể, cảm hứng và suy tư về đất nước của tác giả vươn tới cái mô hình, đó là hồn nước ngàn năm vọng về từ thẳm sâu lịch sử. Mạch cảm xúc của thi sĩ trở về với quá khứ xa xăm:
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
Một đặc điểm thuộc phong cách nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi được thể hiện khá rõ trong bài thơ Đất nước là thi sĩ tài hoa này không chỉ dừng lại ở cảm xúc mà luôn đẩy tới những hình tượng thơ mang sức chứa, sức gợi của sự khái quát và triết lí cao. Chính điều đó giúp nhà thơ khắc họa chân dung tinh thần của đất nước và con người Việt Nam rất sâu sắc và nổi bật. “Buổi ngày xưa vọng nói về” không phải là một quá khứ đau buồn nặng nề mà là một truyền thống anh hùng, bất khuất đầy vẻ vang và tự hào.
Phần thứ hai của bài thơ Đất nước là những xúc cảm và suy tư của thi sĩ về đất nước đau thương, dồn nén căm hờn, quật khởi, tỏa sáng và bất diệt.
Mở đầu cho đoạn thơ này là hình ảnh Tổ quốc đau thương trong chiến tranh, đó là một hình ảnh vừa thực vừa có tính chất tượng trưng, có tầm khái quát cao độ. Hình ảnh ấy được tạo ra bằng thủ pháp ngược sáng quen thuộc của nghệ thuật nhiếp ảnh:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều.
Trong ráng chiều rực đỏ, những cánh đồng quê cũng như đỏ máu, nỗi đau như thấm đất. Từ dưới nhìn hắt lên, dây thép gai chăng quanh đồn bốt giặc trên đồi cao như “đâm nát trời chiều”, nỗi đau như thấm trời.
Vượt lên những đau thương, những con người Việt Nam ta bền gan chiến đấu, dám hi sinh và càng biết yêu thương quý trọng con người và sự sống hơn. Những người chiến sĩ trong những đêm dài hành quân nung nấu vẫn thấy vụt sáng lên trong tâm tưởng hình ảnh đôi mắt người yêu ở chân trời xa soi sáng và vẫy gọi:
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
Những khổ thơ cuối của bài thơ Đất nước mang tính chính luận khá đậm nét. Nhà thơ thể hiện sức mạnh của đất nước và con người giàu sinh lực và niềm lạc quan mà “xiềng xích” và “súng đạn” không thể khuất phục được lòng “yêu nước thương nhà”.
Xiềng xích chúng bay không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước, thương nhà.
Câu thơ của Nguyễn Đình Thi như một lời ca đẹp ca ngợi lòng yêu nước thương nhà của bao nhiêu thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu vì sự tồn vong của non nước này. Tổ quốc đau thương sẽ lớn lên trong tấm lòng yêu nước của “những người áo vải”, những người dân lao động bình dị:
Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng.
Câu thơ của Nguyễn Đình Thi lại là một sự khái quát: từ ngàn năm nay những người dân áo vải là những người đã đổ mồ hôi để dựng xây đất nước, lại chính họ đã đổ máu để cứu nước. Tổ quốc ta sẽ lớn lên trong sự hi sinh vô bờ bến của các thế hệ trong trường kì lịch sử: “Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh”. Sự hi sinh ấy đem lại cho chúng ta niềm tự hào về đất nước của “những người chưa bao giờ khuất”. Tổ quốc còn lớn lên từ sự toả sáng của trí tuệ. Để giữ gìn một đất nước cần đến sự hi sinh, để làm cho một đất nước phát triển, cần đến những vầng trán “cháy rực nghĩ trời đất mới”:
Trán cháy rực nghĩ trời đất mới
Lòng ta bát ngát ánh bình minh.
Trong sáu khổ thơ cuối, cảm hứng của thi sĩ vừa giàu chất sử thi, vừa có tầm khái quát, có độ sâu sắc về trí tuệ và rung động trong cảm xúc say mê, nhiệt thành.
Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi kết thúc bằng một khổ thơ chung đúc và dồn tụ ý tưởng của toàn bài:
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà.
Trên cái nền của hiện thực bão dông dữ dội rung trời chuyển đất, sức mạnh diệu kì của đất nước và con người Việt Nam được vật chất hóa từ câu tục ngữ quen thuộc mang tính quy luật: “Tức nước vỡ bờ”. Vẻ đẹp và sức mạnh ấy như được chạm khắc bằng ánh sáng, hình khối và như hiển hiện trước mắt, rạo rực và tự hào trong lòng ta ấn tượng không mờ phai về đất nước biết đứng lên tự khẳng định mình từ “máu lửa” và “bùn đất” mà thắp dựng lên vẻ đẹp “sáng lòa” rạng rỡ trong lịch sử dựng nước và giữ nước.
Đặng Tương Như 
29. NGUYỄN QUANG THIỀU
Sinh: 1957. Quê: Hà Tây.
Hiện sống và viết tại Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Ngôi nhà tuổi 1 7, Sự mất ngủ của lửa, Những người lính của làng, Những người đàn bà gánh nước sông.
Những người đàn bà gánh nước sông
Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe ra như móng chân gà mái
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông
Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và mượt
Những bàn tay họ bám nào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi
Bàn tay kia bấu vào mây trắng
Sông gục mặt vào bờ đất lần đi
Những đàn ông mang cần câu và cơm và cơn mưa biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Những con cá thiêng quay mặt khóc
Những chiếc phao ngô chết nổi
Những người đàn ông giận dữ, buồn bã và bỏ đi
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà gánh nước sông và lũ trẻ cởi truồng
Chạy theo mẹ và lớn lên
Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến
Con trai lại vác cần câu và cơm
Và cơn mưa biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Và cá thiêng lại quay mặt khóc
Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi.
Lời bình
Sử dụng bút pháp hiện thực trần trụi, đặc điểm đó đập ngay vào câu mở đầu đặc tả bàn chân những người đàn bà gánh nước sông:
Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe ra như móng chân gà mái
Thô, khổ đến lì lợm, không có véo von ca ngợi sự kiên nhẫn chịu khó chịu thương. Những bàn chân dẫm đất đang chịu sức dồn nặng của những gánh nước đầy đẩy tới liên hệ sự chai đá của những móng chân loài gà mái. Phải, rất xấu xí, tập trung vào những móng chân dài đen cáu đang ở trong tư thế “toẽ ra”. Tới khổ kết chúng ta lại gặp những câu thơ mà hình ảnh được trổ lên cố ý bằng sự trần trụi:
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà gánh nước sông và lũ trẻ cởi truồng
Chạy theo mẹ và lớn lên
Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến
Con trai lại bác cần câu và cơm và cơn mưa biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Bài thơ chỉ có mười tám câu, bao gồm hai lần lặp lại: Hình ảnh những người đàn bà gánh nước sông và con cháu họ tiếp tục (11 câu, hình ảnh những người đàn ông đi câu cá kiếm sống thất bại và con cháu họ lại cũng vậy (7 câu). Kết cấu ấy là một tuyên ngôn trần trụi về cuộc sống cơ khổ, đơn điệu tới bế tắc của người nông dân. Tuyên ngôn nghệ thuật ấy của lớp thi sĩ tiếp tục thế hệ thơ chống Mĩ, đầy sắc bén, tỉnh táo, yêu cầu một đối diện thẳng thắn với hiện thực xã hội. Ở đây là số phận người nông dân nghèo. Bật sáng tính công dân của thời kì đổi mới đất nước. Tư tưởng nội dung xốc vác ấy dẫn đến một lựa chọn hình thức biểu đạt. Thơ đi thẳng không quanh quéo mơn trớn. Những câu thơ không buông theo duy cảm mà được tính toán cẩn trọng từng hình ảnh, từng ẩn dụ, từng nhịp điệu, từng gói buộc. Không nên coi những câu thơ sau đây là những hình ảnh đẹp được quay ở góc độ có nghề. Thống nhất với tư tưởng bài thơ, đây là những hình ảnh gợi sự chông chênh, chới với đầy lo ngại:
Nhũng bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và mượt
Những bàn tay họ bám nào đầu đòn gánh, bé bỏng chơi vơi
Bàn tay kia bấu vào mây trắng
Bài thơ toát lên vẻ trầm buồn gợi cảm giác nghiêm túc trong tư cách công dân và tư thế nghệ thuật. Trong khi bám chặt chi tiết hiện thực người và cảnh làng quê đồng bằng Bắc Bộ: “Sông gục mặt nào bờ đất lần đi”, “những chiếc phao ngô chết nổi”, “những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi”…, người thẩm bình có thấy lộ ra một vấp trong thưởng thức:
Những đàn ông mang cần câu và cơm và cơn mưa biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Đó là từ nối “và” được dùng hơi nhiều chỗ nhiều lần trong bài thơ. “Và” được dùng một cách có cân nhắc của một tác giả Tây học, có lí và khó bẻ nhưng vẫn lộ ra ảnh hưởng ngữ pháp Tây, làm câu theo lối Tây. Nguyễn Quang Thiều chắc chắn sẽ có những biện hộ. Nhưng thi ca lại là cái gì sâu trong máu tuôn chảy tự nhiên lên mặt giấy, không nên sắp xếp với một dụng ý quá rõ ràng, dù có tính toán cẩn thận.
TRÚC THÔNG
30.HỮU THỈNH
Sinh: 1942. Quê: Vĩnh Phúc
Hiện sống và viết tại Hà Nội. Tác phẩm thơ đã in: Âm vang chiến hào, Đường tới thành phố (trường ca), Thư mùa đông, Trường ca biển, Thương lượng với thời gian.
Nghe tiếng cuốc kêu
Những đám mây bay đi
Tôi với người ở lại
Cuốc kêu ngoài bến sông
Cuốc kêu vì bẫy hiểm
Bèo leo nheo nước lên
Tôi âm thầm gọi tên
Bàn ghế và quần áo cũ
Tuổi trẻ đột ngột về
Ngơ ngác nhìn tôi
Những cánh diều để chỏm
Vui hơn điều đáng vui
Bánh đa phồng giữa chợ
Che bớt một phần buồn
Tôi ngồi gọi tên những quân bài tam cúc
Xe pháo mã những ngả đường xa lắc
Còn lại thôi hồi tiếng cuốc kêu
Cuốc kêu từ ngày chưa ai đặt tên cho cuốc
Cha tôi nhào đất đắp đường
Ông táo bằng đất
Chiếc chén bằng đất
Những người uống rượu lần lượt bỏ đi
Cha tôi cầm chiếc chén lên
Như cầm một phần đời mình
Đã khô ra thành đất
Cuốc kêu ngoài bãi xa
Cuốc kêu từ ngày cây tre chưa đủ lá đan sàng
Trên đất ướt có người đến ở
Họ bắt đầu như một chiếc rễ nâu
Họ làm ra mọi thứ để nuôi nhau
Mong con cái có ngày mở mặt
Trời tối thì cậy ngọn đèn
Ngọn đèn bấc thắp bằng dầu lạc
Ngọn đèn bấc gió nhiều phen cướp mất
Cuốc kêu ngoài bãi xa
Cuốc kêu từ ngày em lạy mẹ cha
Đi theo một sợi tơ hồng
Về với anh thành vợ thành chồng
Tình yêu nhiều đứt nối
Ta xin rừng một chiếc giường con
Xin đất một chiếc ấm nhỏ
Một đời người mà chiến chinh nhiều quá
Em níu giường níu chiếu đợi anh
Em tránh mặt những người con trai đẹp
Đợi anh
Chỉ mong anh về
Áo rách cũng thơm
Chiếc chân nhỏ với hai đôi đũa mộc
Anh có tháng sau chiến tranh thì toàn là hạnh phúc
Chúng ta đã từng vò võ đợi nhau
Nhưng không phải em ơi, cuốc kêu không phải thế
Trưa nay có điều gì mà cuốc kêu như xé
Tôi mất hai người anh
Cả hai đều rất trẻ
Sáng nay lại có người hàng xóm chạy sang
Mỗi lần sau đám tang
Lòng ai cũng héo
Dạ ai cũng sầu
Tôi cứ tưởng không ai còn xấu nữa
Tôi cứ tưởng tốt với nhau bao nhiêu cũng còn chưa đủ
Nhưng không phải, trời ơi, cuốc kêu không phải thế
Giếng nước than: lắm kẻ chao chân
Khu vườn than: có những con sên ngấp nghé lên trời
Qua mùa hoa thì bướm cũng bay đi
Tôi ngồi buồn như lá sen rách
Cuốc kêu gì mà khắc khoải trưa nay
Tôi ngồi buồn tôi đếm ngón tay
Có mười ngón tay đếm đi đếm lại
Đếm đi đếm lại trời ngả sang chiều
Chúng ta bị cái chết gạt về một phía
Bị hư danh gạt về một phía
Phải vượt mấy trùng khơi mới bắt gặp nụ cười
Vừa bắt gặp nụ cười
Thì lại nghe tiếng cuốc.
Lời bình
Bài thơ mượn giọng trữ tình gợi lên từ tiếng cuốc kêu để luận bàn về năm tháng, đời người, thời cuộc. Tiếng cuốc kêu như một điệp khúc xen giữa những suy tưởng ngắn dài đứt nối về kỉ niệm tuổi nhỏ, về sự hình thành làng mạc, về chiến tranh, rồi về đời sống hậu chiến bom đạn tắt rồi mà lòng người chưa yên ổn. Tiếng cuốc làm nền cho ý nghĩ, tạo không gian cho nội tâm và chính nó làm chỗ tựa cho giọng thơ trữ tình. Gỡ tiếng cuốc ấy ra giọng thơ thành chính luận.
Chọn tiếng cuốc làm khung, mọi ý thơ đều phát triển được trong khung đó là một kĩ xảo của bút pháp. Nhưng xuất phát của bài thơ, theo tôi, lại là một cảm xúc tiềm ẩn trong lòng tác giả mỗi khi nghe, hoặc nhớ lại, tiếng cuốc kêu. Cũng lạ, tiếng con chim cuốc, không biết do tích xưa chuyện cũ kết tụ trong thơ ca mà thấm vào tâm hồn chúng ta hay do chính âm thanh, giai điệu của tiếng chim cuốc, mà bao giờ nghe cũng gợi hoài niệm vắng xa, mơ hồ thương nhớ, một nỗi buồn nhẹ, trong, lan tỏa. Tôi đoán rằng chính những khoảng khắc tâm trạng lặp đi lặp lại ấy đã tạo nên tứ thơ, dẫn đến cách kết cấu bài thơ. Nói tỉ mỉ thế vì sợ rằng khi nói đến kĩ xảo bút pháp, người ta hay nghĩ đấy là thuật khéo tay mà ít thấy rằng nó được bắt đầu từ tâm hồn, tâm trạng.
Tiếng cuốc kêu trong bài này là cái nền tâm trạng của những suy tưởng. Những suy tưởng về đề tài gì thì cũng chịu ảnh hưởng từ trường cảm xúc của tâm trạng hoài niệm vắng xa, mơ hồ thương nhớ ấy.
Mạch nghĩ đầu tiên là hoài niệm tuổi nhỏ. Hữu Thỉnh qua tuổi ấu thơ ở nông thôn. Đoạn thơ âm thầm gọi tên những dấu vết xưa, những dấu vết nhỏ nhoi nhưng lại mang vui buồn thấm thía của chú bé, đến giờ vẫn chưa quên. Thơ viết như chỉ chạm vào hiện vật nhưng lại ngân nga nỗi niềm, thấy tội nghiệp một tuổi thơ, một mức sống, một thời thế.
Những cánh diều để chỏm
Vui hơn điều đáng vui
Bánh đa phồng giữa chợ
Che bớt một phần buồn
Tuổi thơ của người rồi tuổi thơ một vùng đất, tuổi thơ của quê hương xứ sở, đều bị đánh thức dậy do tiếng kêu chim cuốc. Đoạn này có nhiều ý thơ thâm trầm sâu sắc. Đất là đồ ăn thức đựng, đất tạo nên cả phần hồn lẫn phần xác của đời người, của các thế hệ người và của cả làng mạc quê hương. Cuộc đời cha ông lam lũ, nhiều tai ương bất trắc nhưng cũng đầy kiên nhẫn, tự tin, bền bỉ. Tiếng cuốc thành nhân chứng tâm hồn, nhân chứng lịch sử.
Cuốc kêu từ ngày em lạy mẹ cha
Đi theo một sợi tơ hồng
Ý thơ chuyển sang thời tác giả, cái thời Một đời người mà chiến chinh nhiều quá. Không dùng từ chiến tranh mà dùng chiến chinh, một từ gợi nét xưa, gợi việc của muôn đời. Các nguyên liệu vật chất trong đoạn thơ này đều gợi lên một Việt Nam truyền thống.
Đây là đặc điểm trong phép biểu đạt của thơ Hữu Thỉnh. Nguyên liệu ấy, cách nói ấy gần với tục ngữ, ca dao, mang hơi hướng khẩu ngữ ông bà xưa: Em níu giường níu chiếu đợi anh hoặc Lòng ai cũng héo – Dạ ai cũng sầu. Nói đời sống sau chiến tranh, thơ đụng tới những bức xúc của hiện thực. Cảm xúc không xuôi chèo mát mái và có tính ước lệ cổ điển như các đoạn trên. Nó hiện thực và thời sự nữa. Có những điều không ai mong muốn nhưng đã là thực tế. Một vỡ mộng hay một giác ngộ sự đời. Giọng thơ thành giọng nói, trên là hát bây giờ là nói, nói thật, nói toạc: Tôi cứ tưởng không ai còn xấu nữa và Tôi ngồi buồn như lá sen rách. Rách thì nói rách, bay bướm mà chi, nhịp điệu mà chi. Cái tiếng cuốc bây giờ nghe như khắc khoải hơn xưa. Trạng từ khắc khoải đến đây mới được chèn vào tiếng kêu chim cuốc Cuốc kêu gì mà khắc khoải trưa nay. Tác giả ý tứ chỉ một trạng từ cho chim cuốc nhưng biểu thị được thái độ của chính mình trước cuộc sống hôm nay. Cái sự đời Qua mùa hoa thì bướm cũng bay đi hay lắm kẻ chao chân vào lòng giếng sạch, những con sên ngấp nghé lên trời… là điều không ai lạ, xưa nay vẫn có. Tác giả kinh ngạc, thấy lạ vì ông tưởng sau những biến thiên tốn bao xương máu kia thì nó không còn. Nên nghe cuốc kêu mới khắc khoải, nên ngồi buồn… đếm ngón tay. Đếm ngón tay là cách tính toán thấp nhất của người dân quê thời xưa. Tác giả có dụng ý gợi tới một quyết toán của từng cá nhân về lịch sử chăng? Không hiểu có quyết toán nổi việc đời trên bàn tay nhỏ bé ấy không:
Có mười ngón tay đếm đi đếm lại
Đếm đi đếm lại trời ngả sang chiều
Nhẩm tính chưa xong thì đời đã sang chiều. Đứng dậy, bước tiếp thôi, chứ ngồi vân vi tính toán thì hết đời cũng không xong. Cuộc sống dám gạt mọi toan tính mà đi lên. Cách tính cao nhất là hành động, dù phải vượt mấy trùng khơi mới bắt gặp nụ cười.
Bài thơ đóng lại bằng tiếng cuốc. Và tất nhiên, theo cái lôgic của bài, tiếng cuốc lại mở ra một chu kì suy tưởng nữa Vừa bắt gặp nụ cười– Thì lại nghe tiếng cuốc. Nỗi khắc khoải đang còn. Đấu tranh đây chưa phải là trận cuối cùng đâu.
Bài thơ hơi dài. Đây là chặng viết thứ hai của Hữu Thỉnh. Bây giờ ông viết ngắn. Viết như đúc kết kinh nghiệm chứ không giãi bày tình cảm. Bài quả có dài nhưng suy nghĩ chặt chẽ, ý tứ kín đáo, từng trải. Nói rộng xa mà tằn tiện chữ nghĩa. Cũng là bàn việc lớn nhưng giọng nói lại thầm thì, nhỏ nhẹ, dễ thân.
24/8/2007
Vũ Quần Phương
31.TRÚC THÔNG
Sinh: 1940. Quê: Hà Nam.
Hiện sống và viết tại Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Chầm chậm tới mình, Ma ra tông.
Bờ sông vẫn gió
Chị em con kính dâng hương hồn Mẹ.
Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió
Người không thấy về
Xin Người hãy trở về quê
Một lần cuối… một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một thời tóc xanh
Lệ xin giọt cuối để dành
Trên phần mộ Mẹ nương hình bóng Cha
Cây cau cũ giại hiên nhà
Còn nghe gió thổi sông xa một lần
Con xin ngắn lại đường gần
Một lần… rồi Mẹ hãy dần dần đi…
(1983)
Lời bình
Tôi vẫn tự nhủ một điều, rằng mình phải luôn định giá về vẻ đẹp, sức gợi đến khôn cùng của thơ ca là gì? Tất nhiên, chỉ là một đường hướng tiếp cận và giải mã tiếng nói của thơ. Đấy chính là độ mở của sự nhập nhòa thực – ảo. Và, cũng bắt nguồn từ quy luật muôn đời của dòng chảy sáng tạo: tinh chất chân tâm, chân cảm tự tấm tình thi sĩ…
Trúc Thông viết Bờ sông vẫn gió (1983) trong tập thơ in chung cùng Đào Cảng.
Phải nói rằng, vẻ đẹp và xúc động của Bờ sông vẫn gió trong thơ Trúc Thông chân tình và cũng đầy sức gợi – ngay từ chính hình ảnh “bờ sông vẫn gió”! Cái thực từ con mắt thường “mục sở thị” mà bỗng chốc có sức lay gọi kì lạ. Sức lan toả trong nỗi – độc thoại nội tâm của người thơ. Cái hiện hữu đi từ mắt nhìn. Bất chợt, quẫy động lên bao nhiêu là nỗi xốn xang xen cả niềm hẫng hụt… Tiếng thổn thức của thi nhân ở hai câu thơ đầu như tiếng gọi của người con với mẹ. Rưng rưng và da diết lạ:
Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió
Người không thấy về
Cái thế của tâm tư cũng khởi phát từ hai câu thơ này của Trúc Thông.
Người con nhớ mẹ, thương cha… Từ đáy lòng mình, cất lên lời tâm nguyện. Cất lên cháy bỏng ước muốn “trở về”… Ước muốn hồi sinh lại những hình ảnh không thể quên về mẹ… Người con khẩn khoản như một lời khấn đất trời mà xin Người hãy trở về quê. Tứ thơ của Trúc Thông mang sự giao hòa, đan cài của xúc cảm giữa thời hiện hữu với thời xa qua…
Huyền diệu thay! Lời khẩn cầu của người con – thi sĩ dường như cũng linh ứng. Như cũng được hồi âm. Mẹ! Mẹ đã về bên con. Mẹ mãi về trong con. Mẹ về… Đẹp và buồn trong hình ảnh riêng của “một thời tóc xanh”.. Thâm sâu những ân tình nơi Trúc Thông còn là ở chỗ: hình ảnh người mẹ thuở nào trong tâm trí nhà thơ không chỉ hiển linh ở dáng vẻ. Mà, người con hiểu mẹ, thương mẹ còn thấy cả những giọt–lệ–tâm–tư của mẹ khi hướng tới cha:
Lệ xin giọt cuối để dành
Trên phần mộ Mẹ nương hình bóng Cha
Dường như đã trở thành quy luật tâm tình từ những bài thơ viết về Mẹ của các nhà thơ kim – cổ. Ấy chính là hình ảnh gần gũi, bình dị mà rất đỗi thiêng liêng của người Mẹ – thường không tách rời với những gì thuộc về Nguồn Cội. Hình ảnh Mẹ cũng vì thế luôn sóng đôi và đan hòa với hình ảnh quê hương. Với thi ca, hình ảnh Mẹ và Quê thường trở thành hình ảnh kép trong tâm tư của thi nhân. Bởi thế, tiếng gọi Mẹ bên sông của Trúc Thông luôn hòa đồng với thi liệu, hồn vía nơi quê nhà. Ấy là “lá ngô”, là “bờ sông”, là “cây cau cũ giại hiên nhà”… Vẫn biết, thi liệu từ hiện thực khách quan cuộc sống cho thơ – là cần. Cần nhưng chưa đủ. Song có lẽ điều chân tình và sâu xa trong những hình ảnh thân quen nơi quê hương còn là sự hiện hữu không thể mờ phai trong tâm trí người con về hình ảnh thật bình dị mà da diết nhớ thương về người mẹ nơi quê nhà. Sự bùng thốt chân tình của nội tâm, nội tình thi sĩ mới thực sự tạo nên những cơn–chấn–động–thơ cảm hóa lòng người.
Tôi đã được Trúc Thông tâm sự: từ văn bản thơ, nhiều người đã cảm nhận rằng đây là bài thơ nhà thơ viết khi mất mẹ. Thực ra, anh viết bài thơ này tròn trước một năm khi bà mẹ qua đời. Tình yêu thương Mẹ khiến nhà thơ viết nên những điều tiên cảm, tiên ưu Có một tiếng gọi và cảm giác rùng mình ớn lạnh để rồi thành Bờ sông vẫn gió trước một năm người mẹ qua đời… Thi sĩ đã cất tiếng gọi Mẹ. Thương Mẹ. Thương Quê, vào cái ngày đầy gió…
Gió sông Quê. Gió nhớ thương cứ trào dâng từ tâm tình người con–thi sĩ…!
Và, Bờ sông vẫn gió cũng là tiếng tâm tư của Trúc Thông, của mỗi người chúng ta, khi hướng vọng lòng mình, hồn mình về Quê-Mẹ…!
Hà Nội, 16/3/2007
TRẦN TRUNG
32. Anh Thơ
Sinh: (1921 – 2005). Quê: Bắc Giang.
Tác phẩm thơ đã in: Bức tranh quê, Kể chuyện Vũ Lăng, Theo cánh chim câu, Đảo Ngọc, Hoa dứa trắng, Mùa xuân màu xanh, Quê chồng, Lệ sương.
Bến đò ngày xưa
Tre rũ rượi ven bờ chen ướt át
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa
Và dầm mưa dòng sông trôi rào rạt
Mặc con thuyền cắm lại đậu chơ vơ
Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo
Vài quán hàng không khách đứng co ro
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu
Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho
Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội đầu như đội cả trời mưa
Và họa hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.
Lời bình
Bến đò ngày mưa rút từ tập thơ đầu tay của Anh Thơ Bức tranh quê, xuất bản năm 1941, Nhà xuất bản Đời nay. Khi còn là bản thảo, tập thơ đã được giải thưởng khuyến khích của Tự lực văn đoàn năm 1939 (cùng với Tế Hanh, tập Nghẹn ngào). Đúng như tên gọi, tập thơ gồm 41 bài, mỗi bài là một bức tranh thôn quê Bắc Bộ hồi ấy. Các bài thơ khá đồng dạng nhau về kết cấu, về bút pháp, cũng lại khá đồng đều về cảm xúc và chất lượng thơ.
Bài này là khung cảnh một bến đò nhỏ nơi làng quê. Những nét thơ tả thực, không nhiều chi tiết, nhưng đủ chất liệu để hôm nay, sau già nửa thế kỉ đổi thay, chúng ta vẫn dễ dàng hình dung ra cảnh xưa nếp cũ. Đó là nhờ tài quan sát của Anh Thơ. Bà quan sát tỉ mỉ như một người lần đầu được thấy, cái gì cũng làm bà ngạc nhiên và muốn miêu tả, lưu giữ, nhưng khi ta bà lại tả rất hồn nhiên. Tưởng như thấy thế nào thì viết thế ấy mà lại thành tinh tế, điển hình. Tả thật như phóng sự nhưng lại cho thấy được cả hồn vía của cảnh. Điều đó chứng tỏ không chỉ quan sát mà bà đã sống với cảnh, đã nhuyễn nó vào hồn mình.
Thơ tả bến đò và mưa. Đoạn thơ nào, thậm chí câu thơ nào, cũng mang được hai thuộc tính ấy. Mở đầu là hình ảnh tre, chuối – hai thứ cây quen thuộc, phổ biến ở mọi làng quê Bắc Bộ:
Tre rũ rượi ven bờ chen ướt át
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa
Chi tiết thuộc bến đò là ven bờ, là đầu bến. Còn chi tiết mưa thì rõ quá: tre chen ướt át và chuối đứng dầm mưa. Bài thơ 12 câu (tất cả các bài trong Bức tranh quê đều 12 câu) tạo nên ba khổ thơ, mỗi khổ là một không gian. Đoạn đầu là không gian bao quát: bờ, bến, dòng sông, con thuyền. Hai đoạn sau là không gian chi tiết, mở đầu bằng các trạng từ chỉ nơi chốn Trên bến vắng (đoạn 2) và Ngoài đường lội (đoạn 3). Kết cấu này lặp lại ở hầu hết các bài, do vậy tập thơ hơi bị đơn điệu trong bố cục và cũng dễ làm nghèo suy tưởng lẫn cảm xúc. Bù lại, Anh Thơ có những chi tiết sinh động, điển hình, giàu sức khêu gợi của cảnh quê. Bốn câu thơ tả cái bến đò vắng khách ngày mưa lạnh với vài quán hàng, một bác lái, một bà hàng. Ba chủ thể ấy làm chủ ngữ cho ba động tác vừa gợi cái lạnh của mưa, của vắng, vừa gợi cái ấm áp của lòng người, của hoạt động con người. Quán đứng co ro, bác lái ghé thuyền vào hút điếu thuốc lào, bà hàng sù sụ sặc hơi, ho có lẽ vì khói thuốc, vì cái không gian hẹp của chiếc quán. Hẹp, nên quán đủ để ấm cúng với tiếng rít điếu cày và ngọn lửa đóm trong lòng tay khum che gió.
Đoạn kết, không gian mở ra xung quanh bến đò:
– Trên cạn cho thấy con đường: đường lội và thưa vắng những người dân quê đến chợ làng. Làng này người dân quen đội thúng hơn gánh quang. Một câu thơ đặc tả, được ảo hóa: Thúng đội đầu nhu đội cả trời mưa. Những câu thơ ảo này có tác động thay đổi cảm nhận người đọc, như đang đi thì được bay lên, như đang quan sát bề ngoài thì nhập vào nội tâm tri kỉ, nhẹ nhõm, sâu sắc, phóng khoáng. Điều đáng lưu ý là Anh Thơ không lạm dụng bút pháp ảo hoá này. Mỗi bài bà chỉ dùng một câu vào chỗ đắc địa nhất, như một điểm nhấn cho toàn bài. Điểm nhấn là rất quý nhưng nhấn nhiều quá thì lại hỏng, lại nhàm, không còn quý nữa.
– Dưới nước cho thấy sông, không chỉ một khúc sông nơi bến ấy mà thấy cả chiều dài của dòng chảy, có thuyền đến, thuyền đi. Cả đến và đi đều vắng (họa hoằn một con thuyền ghé chở) và lặng (rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa).
Đặt các bài thơ Bức tranh quê cạnh nhau ít thấy biến hóa, cung bậc cảm xúc ít đổi thay nhưng đọc vào từng câu thơ, thấy rõ bút pháp vững chãi của Anh Thơ. Các câu thơ chặt chẽ, thật, rõ nhưng lại rất gợi. Bà tinh tế trong quan sát, có những chi tiết tầm thường mà thời thơ lãng mạn ấy người ta dễ bỏ qua, dưới ngòi bút Anh Thơ, nó mang một sức sống mới, trở thành chứng tích của cả một thời kì như cái quán nhỏ nơi bến đò, chiếc thúng đội trên đầu người đi chợ quê, người bán nước là một bà cụ sặc sụa ho vì khói thuốc…
Cái vắng vẻ, cái ngưng đọng cũ kĩ ấy của nông thôn Việt Nam ta ngày nay không còn nữa, những bức tranh quê của Anh Thơ có giá trị như những hiện vật trong bảo tàng, nó giúp bạn đọc của thời nay và nhiều thời sau có căn cứ để hình dung cảnh vật, nếp sống, phong tục của người xưa. Hồn đương đại trong khoảnh khắc cúi xuống trang thơ như được nhập vào hồn xưa của cảnh vật quê hương một đi không trở lại từ đầu thế kỉ XX. Chỉ mươi câu thơ mà làm được việc ấy quả là một đóng góp quý báu, đáng trân trọng của nữ sĩ Anh Thơ.
22/7/2007
Vũ Quần Phương
33.TRẦN HỮU THUNG
Sinh: (1923 – 1999). Quê: Nghệ An.
Tác phẩm thơ đã in: Đồng tháng tám, Ngày thu ấy, Gió nam, Anh vẫn hành quân, Tiếng chim đồng, Sen quê Bác.
Thăm lúa
Mặt trời càng lên tỏ
Bông lúa chín thêm vàng
Sương treo đầu ngọn cỏ
Sương lại càng long lanh
Bay vút tận trời xanh
Chiền chiện cao tiếng hót
Tiếng chim nghe thánh thót
Văng vẳng khắp cánh đồng
Đứng chống cuốc em trông
Em thấy lòng khấp khởi
Bởi vì em nhớ lại
Một buổi sáng mai ri
Anh tình nguyện ra đi
Chiền chiện cùng cao hót
Lúa cũng vừa sậm hột
Em tiễn anh lên đường
Chiếc xắc mân anh mang
Em nách mo cơm nếu
Lúa níu anh trật dép
Anh cúi sửa nội vàng
Vượt cánh đồng tắt ngang
Đến bờ ni anh bảo:
– “Ruộng mình quên cày xáo
Nên lúa chín không đều
Nhớ lấy để mùa sau
Nhà có làm cho tốt
Xa xa nghe tiếng hát
Anh thấy rộn trong lòng
Sắp đến chỗ người đông
Anh bảo em ngoái lại.
Cam ba lần có trái
Bưởi ba lần ra hoa
Anh bước chân đi ra
Từ ngày đầu phòng ngự
Bước qua kì cầm cự
Anh có gửi lời về
Cầm thu anh mân mê
Bụng em giừ phấn phới
Anh đang mùa thắng lợi
Lúa em cũng chín rồi
Lúa tốt lắm anh ơi
Giải thi đua em giật
Xoè bàn tay bấm đốt
Tính đã bốn năm ròng
Người ta bảo không trông
Ai cũng nhủ đừng mong
Riêng em thì em nhớ
Chuối đầu vườn đã lổ
Cam đầu ngõ đã vàng
Em nhớ ruộng nhớ vườn
Không nhớ anh răng được
Mùa sau kề mùa trước
Em đặc cuốc thăm đồng
Lúa sây hạt nặng bông
Thấy vui trẻ trong lòng
Em trông ngày chiến thắng.
(1-1-1950)
Lời bình
Thăm lúa (1950) của Trần Hữu Thung mang ấn tượng ban đầu từ giọng điệu. Ấy là điệu vè, điệu kể rất tương hợp với nhạc điệu tâm tình của con người miền Trung quê hương ông.
Bài thơ sáng tươi và bình dị mở ra bức tranh quê với sự liên tưởng đi – về hiện tại cùng quá khứ, trong con mắt của nhân vật trữ tình – người vợ trẻ yêu quê và nhớ chồng. Ngay từ những câu thơ đầu, bức tranh quê Thăm lúa đã ngập tràn sắc màu, âm thanh… giữa không gian khoáng đạt, giữa một buổi sớm mai. Và, cả cái náo nức, “khấp khởi” trong lòng người vợ trẻ của anh vệ quốc quân một thuở.
Đoàn Văn Cừ thi sĩ của những bức tranh dân dã sắc màu đồng quê, đã từng đem cho Thơ mới (1932–1945) cái chất tinh khôi đồng nội thật êm đềm:
Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh
(Chợ Tết)
Cũng vẫn là vẻ nên thơ, sống động và mát trong nơi đồng nội trong một buổi sớm mai. Nhưng, đến cái thời của Trần Hữu Thung đã mang chứa sắc màu thời đại khác. Con người khi ngắm cảnh quê cũng đồng thời, tự nhiên mà quyện lại tình nước, tình nhà. Ta như đón nhận được khúc hát về đồng quê hòa hợp và cộng hưởng với khúc hát tự lòng người trong nhũng câu thơ dung dị mà khởi sắc của Trần Hữu Thung:
Đứng chống cuốc em trông
Em thấy lòng khấp khởi
Bởi vì em nhớ lại
Một buổi sáng mai ri
Anh tình nguyện ra đi
Chiền chiện cùng cao hót
Người viết bài bình này, chợt thú vị và tâm đắc với hai tiếng “tình nguyện” của nhà thơ. Hình như hai tiếng này đã ôm chứa và diễn tả thật trọn vẹn không khí thời đại cùng cả tâm khí của con người – những con người – công dân nặng tình, nặng nghĩa với quê hương đất nước mình, trước những tháng năm của cuộc chiến tranh Vệ quốc gian lao mà hùng tráng. Cũng bởi thế, giữa những con người ra đi ở tiền phương, với những con người ở lại nơi hậu phương, có thể xa cách không gian nhưng lại đồng điệu, đồng nhất bởi tấm lòng tình nguyện, tự nguyện. Thế nên mới nhớ nhau trong niềm vui. Cả hiện tại và quá khứ, trong tâm trí của nhân vật trữ tình đều sáng bừng niềm vui ấm áp:
Một buổi sáng mai ri
Anh tình nguyện ra đi
Chiền chiện cùng cao hót
Lúa cũng dừa sậm hột
Em tiễn anh lên đường
Với Thăm lúa, Trần Hữu Thung có cách biểu đạt lòng người chân thực mà cảm động; giản dị của lời thơ mà đồng thời tỏa rộng, tỏa sâu về phía tâm tư con người. Niềm vui nhớ lại của người vợ với kỉ niệm khi chồng lên đường lại tiếp tục thức dậy và xôn xao về hình ảnh người ra đi trong tổng chi tiết nhỏ. Vì thế, từ nỗi nhớ đầy yêu thương của người vợ trẻ nơi hậu phương, những lời thơ mang giọng kể tâm tình của Trần Hữu Thung lại như những thước phim ghi lại từng hình ảnh rất bình dị, rất ân tình của người chồng lúc ra đi. Đấy là hình ảnh với động thái, dáng vẻ dễ thương của anh chàng bên vợ: “Chiếc xắc mây anh mang – Em nách mo cơm nếp – Lúa níu anh trật dép – Anh cúi sửa vội vàng”.
Đấy là những lời dặn dò rất nhanh, rất vội mà cũng rất đỗi rành rọt, ân tình của người chồng nông dân trước lúc ra đi. Anh đang tâm tình, dặn dò người vợ trẻ hay anh đang tự tình ngẫm ngợi trên mảnh ruộng nhà mình:
Vượt cánh đồng tắt ngang
Đến bờ ni anh bảo:
– “Ruộng mình quên cày xáo
Nên lúa chín không đều
Nhớ lấy để mùa sau
Nhà cố làm cho tốt”
Cẩn thận chuyện cày bừa xáo xới, anh anh nông dân vệ quốc cũng chợt cẩn thận (đúng hơn là e ngại thật lòng!) khi “Sắp đến chỗ người đông – Anh bảo em ngoái lại”!
Với mười bốn dòng thơ, nhà thơ đã dành trọn vẹn hình ảnh người chồng ra đi trong khoảnh khắc nhớ thương (và cả niềm vui kiêu hãnh nữa chứ!) của người vợ trẻ, một buổi sáng thăm lúa nhớ chồng.
Những câu sau của Thăm lúa có thể tóm tắt lại gọn hơn. Bởi, lời tâm tình riêng của người vợ trẻ mong và đón nhận thư chồng mà vẫn không quên đường lối kháng chiến của Cách mạng. Bởi, nhớ chồng, chị càng nghĩ đến trách nhiệm của người ở hậu phương mà trao gìn cho chồng: “Lúa tốt lắm anh ơi – Giải thi đua em giật”. Và, cũng bởi bài thơ khép lại và ngân lên điệu hồn tin tưởng của một người, của muôn người trong một thời để nhớ:
Thấy vui vẻ trong lòng
Em trông ngày chiến thắng.
Hà Nội, 22/4/2007
TRẦN TRUNG
34.THU TRANG
Sinh: 1932. Quê: Hà Nội.
Việt kiều tại Pháp.
Tác phẩm thơ đã in: Nói sao cho vợi.
Nói sao cho vợi
Thương mến gửi các em ở bên nhà.
Pa – ri tối nay tuyết đổ
Rơi rơi phủ trắng phố phường
Hoa đèn tăng phần rực rỡ
Kinh thành bát ngát sắc hương
Ánh sáng át hẳn màn sương
Chen chân trên khắp ngả đường
Vui tươi trai thanh gái lịch
Hồn nhiên họ đón xuân sang
Chân trước mà lòng miên man
Quê ơi, xa cách muôn vàn
Không khóc mà lòng thổn thức
Nói sao cho vợi niềm thương
Pa – ri bát ngát sắc hương
Quê tôi giờ này ai biết
Chắc bên mái tranh đạm bạc
Vườn rau là bãi chiến trường
Tôi đi giữa vầng ánh sáng
Nhìn thiên hạ đón xuân sang
Nghe câu hỏi thầm đau buốt
Bao giờ mùa xuân Việt Nam?
Bao giờ xuân Thanh bình sang?
Mùa xuân Thống nhất quê hương
Mùa xuân Tự do Độc lập
Mùa xuân không đượm tóc tang!
Trong hồn day dứt mênh mang
Quê tôi miền Bắc miền Nam
Chắc đang hào hùng chiến đấu
Ngăn bàn tay giặc hung tàn
Giữa muôn hương sắc huy hoàng
Tôi không thấy mùa xuân sang
Hồn tôi ở phương trời ấy
Tôi đợi mùa xuân Việt Nam!
(1969)
Lời bình
Nói sao cho vợi là tấc lòng “cố quốc tha hương” chân thành, cảm động vọng từ Pa–ri xa xôi về đất Việt trong chiến tranh. Biết bao niềm thương và nỗi xót xa cứ âm thầm, da diết trong lòng người xa xứ lúc giao thừa thiêng liêng. Đặt bài thơ vào bối cảnh nước Việt năm 1969 mới thấy hết nỗi lòng của nhà thơ ở xa Tổ quốc.
Xuân 1969 là kỉ niệm một năm cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. Dư âm bi hùng của Xuân Mậu Thân 1968 muôn đời người Việt không quên. Năm 1969, cả dân tộc bắt đầu lo lắng cho sức khỏe của Bác Hồ kính yêu… có biết bao nỗi niềm “nói sao cho vợi” trong lòng người đang nơi bom lửa chiến tranh và trong lòng người đang nơi đất khách…
Bài thơ có hai mảng không gian và thời gian đối lập nhau gay gắt. Một bên là Pa–ri tráng lệ, thanh bình vui đón xuân sang. Còn một bên là quê hương đất Việt chưa có Mùa Xuân, chỉ thấy “… mái tranh đạm bạc – vườn rau là bãi chiến trường”.
Chân trước mà lòng miên man
Quê ơi, xa cách muôn vàn
Không khóc mà lòng thổn thức
Nói sao cho nỗi niềm thương.
Mùa xuân Pa–ri, thời gian và không gian Pa–ri là của người Pháp, còn với Thu Trang – người Việt, tất cả đều vô nghĩa. Giờ đây chỉ còn đầy ắp không gian tâm tư là “hồn day dứt mênh mang”. Cái “vô nghĩa” với mình thì lại hiển hiện, phô trương ra bằng “bát ngát sắc hương”, bằng muôn phần rực rỡ, bằng vui tươi và hạnh phúc của hàng triệu người Pari vui đón xuân sang. Cái “có nghĩa” với mình vì chưa hiện hình, nó là nỗi đau thầm kín như một vết thương lòng, như những giọt nước mắt mà đời không trông thấy, ta nuốt thầm vào trong, như một niềm mong đợi:
Nghe câu hỏi thầm đau buốt
Bao giờ mùa xuân Việt Nam?
Bao giờ xuân Thanh bình sang?
Mùa xuân Thống nhất quê hương
Mùa xuân Tự do Độc lập
Mùa xuân không đượm tóc tang!
Những câu hỏi “Trong hồn day dứt mênh mang” khiến cho trường tâm tư của một người đột ngột lớn lao; nỗi lòng “cố quốc tha hương” vụt trở nên không kích thước, nó lớn hơn niềm vui của cả Pa–ri đang “đón xuân sang”. Nỗi buồn của người yêu nước không có đại lượng nào đo được, nó nâng con người dậy, nó có sức mạnh đoạt quyền của Tạo Hóa. Xuân của Đất Trời có thể tuần hoàn; người Pa–ri có thể cứ “đón xuân sang”. Nhưng trong nỗi đau buồn lớn lao, người dân Việt ngay giữa Pa–ri, “Giữa muôn hương sắc huy hoàng” vẫn chỉ là:
Tôi không thấy mùa xuân sang
Hồn tôi ở phương trời ấy
Tôi đợi mùa xuân Việt Nam!
Thanh bình cho Đất nước tôi. Thống nhất cho quê hương tôi. Tự do, Độc lập cho Tổ quốc và đồng bào tôi. Đó là tất cả những gì Thu Trang hiểu về Mùa Xuân, tất cả những gì mà Thu Trang mong đợi cho Mùa Xuân Việt Nam.
Tứ thơ Nói sao cho gợi là một tứ thơ rất cảm động, gợi được nhiều cho cảm xúc, suy tư nảy nở, ngân vang. Có nhiều người đọc chưa thỏa mãn khi cảm thấy ngôn ngữ thơ chưa đủ sức theo kịp với cảm xúc, chưa đủ sức hàm chứa một tình yêu thương quá lớn lao. Độc giả có thể cảm thông khi thi sĩ đã có lời cáo lỗi bằng một câu thơ khiêm nhường và dễ thương: “Nói sao cho vợi niềm thương?”.
Đặng Tương Như
35.TRẦN HUYỀN TRÂN
Sinh: (1913 – 1989). Quê: Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Rau tần.
Mưa đêm lều vó
Mưa lũa ao bèo mưa trắng đêm
Cây bờ ngơ ngác nước đang lên
Lều tôi kiến đã rời lên mái
Bà lão chài lo chưa có thuyền
Vó nghèo được nước đã lê thê
Đàn cá giang hồ nhảy nhót đi
Cả cụm bèo xanh nằm cạn mãi
Cũng như cất cánh gọi không hề
Tôi ở lều gianh Cống Trắng này
Chạnh lòng cá nhảy với chim bay
Đêm sầu kẽo kẹt ngư bà thức
Giăng phải hồn tôi một mới đầy.
(Khâm Thiên, 1938)
Lời bình
Lặng lẽ dâng lên một phong vị cổ thi như tự thuở nào, từ những hình ảnh đến âm điệu mang mang của bài thơ. Có một chút mơ hồ Đường thi, một chút tráng chí Tống thi, và đương nhiên một chút tâm trạng khắc khoái điển hình cho một thời của những người thơ Việt… Bài thơ như đến với người đọc từ một nơi nào xa lắm, một thuở nào xa lắm, ấy thế mà nó lại ra đời giữa lòng Hà thành hoa lệ năm 1938 khi mà những trào lưu văn hóa Âu Tây đang lấn lướt đời sống thị thành!
“Tôi ở lều gianh Cống Trắng này”, trong kí ức các bạn văn cùng thời với nhà thơ Trần Huyền Trân thì ngày đó, căn nhà lá nhỏ của nhà thơ ở Cống Trắng là nơi đi lại của họ. Ngày ấy, chỉ cần quay lưng với ánh sáng và tiếng sênh phách của những ngõ phố Khâm Thiên nức tiếng ăn chơi, là đã gặp cảnh đìu hiu của những ao hồ phủ đầy rau muống (mà có lúc Trần Huyền Trân đã nhìn chúng thành… rau tần!), và rã rồi tiếng ếch nhái côn trùng. Chẳng rõ nhà thơ có cái bút danh gợi buồn đã buộc phải chọn nơi đó làm chốn tá túc hay ông thích như vậy vì đã tìm thấy nơi đây một thế giới riêng thích hợp với tâm hồn mình? Chỉ biết từ căn nhà lá hiu hiu kiểu hàn sĩ đó, người trai của thời com lê cà vạt đã nhìn ra bao nhiêu canh sắc của những ngày khác những nơi khác, và ông cứ thoải mái đắm mình trong cái không khí hư hư thực thực ấy theo cách của ông. Người ta nói vẻ đẹp thơ Trần Huyền Trân chính là ở cái rung ngân vời vợi đó, dẫu ông viết không nhiều.
Mưa lũa ao bèo mưa trắng đêm
Cây bờ ngơ ngác nước đang lên
Lều tôi kiến đã rời lên mái
Bà lão chài lo chửa có thuyền
Hóa ra núp sau cái giọng cổ kính, những câu thơ Trần Huyền Trân vẫn “hiện thực” như ai! Tả một đêm mưa mà nói đến lửa ao bèo thì phải là một đêm mưa dai dẳng và tràn ngập đất trời. Một chữ “lũa” mà khiến ta hình dung ra thật rõ sự tan tác bợt bạt của những cánh bèo đang nổi chìm trên mặt nước. Trong mưa dòng nước đang dâng cao, trước cảnh ấy mà cây bờ ngơ ngác thì “ngơ ngác” đã là một chữ hiện đại. Đến hình ảnh tiếp theo thì không còn gì thật hơn để nói về một cơn mưa lớn trên vùng ngập nước: “Lều tôi kiến đã rời lên mái”, đó là một quan sát chi tiết và khá bất ngờ, nó tạo nên sự sống động của cảnh vật trong mưa gió. Đàn kiến ấy, cũng như người đàn bà chài lưới đều chung một mối lo dịch chuyển. Thì cũng thân phận con ong cái kiến trước mưa lũ cả! Có chút cảm thông trong một nét mỉm cười ý vị và kín đáo thấp thoáng sau câu chữ.
Vó nghèo được nước đã lê thê
Đàn cá giang hồ nhảy nhót đi
Cả cụm bèo xanh nằm cạn mãi
Cũng như cất cánh gọi không về
Vậy là có hai người đang thức trong mưa. Người đàn bà kèo vó và nhà thơ – người cũng đang thao thức nghe mưa và ngắm nhìn thế giới của riêng mình: thế giới ấy đang bắt đầu đánh động tâm can nhà thơ, nó bắt đầu lay thức một cái nhìn muốn vượt thoát khỏi sự tù túng và tĩnh lặng. Nước mênh mang (được nước) thì vó nghèo làm sao giữ được bóng cá, khi chúng đã gặp không gian tự do của mình, chúng như những kẻ không ưa khuôn phép đã tìm thấy sông hồ mà phỉ chí tang bồng: “Đàn cá giang hồ nhảy nhót đi”. Đến cả những cụm bèo kia, hôm qua còn chịu cảnh “nằm cạn” trong nắng, giờ đây theo cái nhìn muốn vượt thoát của nhà thơ giữa lúc không gian như dịch chuyển trong mưa thác, “Cũng như cất cánh gọi không về”! Cá thành kẻ giang hồ, bèo hóa những cánh chim – không phải một cái nhìn khao khát biển xa trời rộng, sao có thể gửi gắm tâm can mình đến thế! Có phải đó là cái khắc khoải một thời của những người thơ như Trần Huyền Trân? “Cũng như cất cánh gọi không về” – chợt nhớ những câu thơ của Tống biệt hành: “Thì không bao giờ nói trở lại – Ba năm mẹ già cũng đừng mong”...
Ấy thế nhưng những quẫy cựa đó vẫn chỉ là trong tâm trí nhà thơ một phút bung ra, một phút tự phá vỡ mình. Sau những giây phút ấy, vẫn là tiếng thở dài pha chút cay đắng như đang cố nén lại:
Tôi ở lều gianh Cống Trắng này
Chạnh lòng cá nhảy với chim bay
Cái địa chỉ cụ thể “lều gianh Cống Trắng” đưa nhà thơ trở lại với thực tế. Cái địa chỉ ấy càng cụ thể bao nhiêu thì càng cay đắng bấy nhiêu với một người đang “chạnh lòng cá nhảy với chim bay”. Không có gì xác đáng hơn là hai chữ “chạnh lòng” trong tương quan giữa hai câu thơ này. Bao nhiêu tâm tư, bao nhiêu khắc khoải những đêm mưa cứ lớn dần và mòn mỏi theo tiếng kẽo kẹt buồn tẻ của những gọng vó trên tay người đàn bà chài lưới:
Đêm sầu kẽo kẹt ngư bà thức
Giăng phải hồn tôi một lưới đầy.
Câu thơ tài hoa đến độ. Tâm hồn thi sĩ bị đánh lưới bởi nỗi buồn tẻ, hay là thi sĩ tưởng tượng ra những mẻ “vó nghèo” kia, khi lũ cá giang hồ đã vượt thoát cả rồi, nhấc lên chỉ còn thấy trĩu nặng từng mắt lưới tâm tư của một người đang thao thức trong mưa? Ngư bà không thấy nhưng người ấy thì thấy, “giăng phải hồn tôi một lưới đầy”.
Mưa đêm lều vó là một bài thơ hay, nó tiêu biểu cho giọng điệu thơ Trần Huyền Trân: một âm hưởng nhẹ nhàng cổ kính nhưng lại chứa đựng trong nó những chi tiết sinh động, những câu chữ tài hoa, mới mẻ khiến người đọc nhiều khi thấy bất ngờ và thú vị. Nó hệt như cảm giác gặp một người tưởng quen, bắt tay rồi mới ngớ ra đó là… người lạ!
TRẦN HÒA BÌNH
36.ĐOÀN PHÚ TỨ
Sinh: (1910-1989). Quê: Bắc Ninh.
Tác phẩm thơ đã in: Màu thời gian.
Màu thời gian
Sớm nay tiếng chim thanh
Trong gió xanh
Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình
Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần phi
Ta lặng dâng nàng
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian
Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh
Tóc mây một món chiếc dao vàng
Nghìn trùng e lệ phụng Quân vương
Trăm năm tình cũ lìa không hận
Thà nép mày hoa thiết phụ chàng
Duyên trăm năm đứt đoạn
Tình một thuở còn hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát.
Lời bình
Trong cuốn Thi nhân Việt Nam (1942), trước bài thơ Màu thời gian, Hoài Thanh – Hoài Chân phải dành đến hơn một trang in cho 10 lời chú, cộng thêm một trang riêng viết lời bình (ngoài phần đầu viết về tác giả). Ấy thế mà khi kết bài bình, các ông cũng phải hạ một câu: “Trong thơ ta, có lẽ không có bài nào khác tinh tế và kín đáo như thế”. Những công trình nghệ thuật đỉnh cao bao giờ cũng là những bí mật như thách đố người thưởng thức. Màu thời gian, ngoài Hoài Thanh – Hoài Chân ra, cho đến nay cũng chưa có ai dám viết lời bình về nó.
Lại trong Đoàn Phú Tứ – con người và tác phẩm (NXB Văn học, 1995), công trình của nhà nghiên cứu văn học Văn Tâm – chuyên gia số một về tác giả Đoàn Phú Tứ – cũng chỉ cung cấp tư liệu chung quanh bài thơ này. Xin dẫn ra đây để bạn đọc rộng đường ngẫm ngợi mỗi khi thưởng lãm bài thơ: “Ngày ấy, tôi có đi học kí xướng âm ở nhạc viện (cũng ở nhạc viện bây giờ). Tôi cùng học với một thiếu nữ con nhà sang, người mềm mại, mặt đẹp, đặc biệt nàng có đôi mắt mở tròn, toàn lòng đen, đôi mắt bồ câu. Tôi đã nói chuyện với anh Tứ về sự hội ngộ này. Và chúng tôi thường đạp xe lên Hồ Tây nghe nàng dạo đàn. Được ít lâu sau, chúng tôi nghe tin nàng ốm nặng. Anh Tứ bạo dạn xin được vào thăm. Không biết ý tứ ra sao mà nàng khước từ. Anh Tứ thường nghĩ đến điển xưa, có một nàng cung phi đã từ chối không tiếp “quân vương”, có lẽ không muốn để lại trong con mắt của quân vương hình ảnh tàn tạ của mình. Điển cố này đã làm thành tứ thơ… (Nhớ bạn – Hồi kí của Nguyễn Lương Ngọc, tr. 161–162). Ông Văn Tâm còn dẫn ra hai đoạn hồi kí của ông Nguyên Văn Thiện và ông Vũ Đình Hòe nữa cùng có nội dung tương tự với đoạn hồi ký trên.
Cho đến lúc này giới sành thơ cũng không ai dám tự cho rằng mình đã hiểu bài Màu thời gian này. Nhưng thơ có khi không hẳn để hiểu. Thậm chí có nhiều áng thơ nếu cố tình “hiểu” lại không bao giờ đạt được, không bao giờ tới được cái thần của nó. Có những bài thơ chỉ để cảm thôi. Bài Màu thời gian là một bài thơ như vậy. Trong đó có những câu thơ thật hay, vừa có hương, vừa có màu (không phải là hương và màu của một vật thể hữu hình mà là của thời gian – một khái niệm dùng để đo đếm về nhịp điệu vũ trụ), lại trong một âm điệu thanh nhẹ, kín đáo, quyến luyến. “Màu thời gian không xanh – Màu thời gian tím ngát – Hương thời gian không nồng – Hương thời gian thanh thanh”. Rồi hai câu trong số bốn câu đó được điệp lại làm thành hai câu kết bài. Một nỗi yêu, nỗi nhớ tuy không cồn cào, không mãnh liệt, nhưng lặng lẽ, lan tỏa len nhẹ mà thấm sâu vào tâm cảm người đọc. Thêm nữa, do liên quan đến cái điển tích “Tần phi”, lại biết thêm câu chuyện giai thoại kể trên, bài thơ gợi lên trong ta một nỗi ngậm ngùi. Và sâu hơn, làm ta không khỏi chạnh nghĩ đến cái quy luật tàn khóc của thời gian khiến mỗi đời người đều có một chung các thật thương tâm… Bài thơ cứ thế xâm chiếm tâm hồn bạn đọc theo cái cách chỉ riêng nó có. Nó cho tôi tin rằng thơ ca có cái phẩm cách sang trọng thật sự mà không phải thể loại nào cũng có được. Xuân thu nhã tập quan niệm: “Thơ không cần lúc nào cũng rõ nghĩa, vì nó không chủ động trong địa hạt ý nghĩa; không phải lúc nào cũng sáng sủa vì nó không vụ phát biểu cái phần sáng sủa của tâm linh, nó giữ phần sâu kín, nó giữ phần sâu sắc…” (Thơ).
Thi phái Xuân thu nhã tập định làm một cuộc cách tân lớn về thơ, nhưng tiếc thay họ không quyết liệt con đường vừa được khởi dựng. Họ vẫn nghiêng về lí thuyết. Mà lí thuyết vẫn nặng về tổng quát mà thiếu những thao tác cụ thể. Tuy nhiên, so với những cố gắng của hai bạn thơ trong cùng thi phái như Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, thì Đoàn Phú Tứ vẫn là người thành công nhất, và cũng chỉ với một bài này.
Văn Giá
37.HÀN MẶC TỬ
Sinh: (1912 – 1940). Quê: Quảng Bình.
Tác phẩm thơ đã in: Lệ Thanh thi tập, Gái quê, Đau thương, Xuân như ý, Cấm châu duyên, Tuyển tập Hàn Mặc Tử
Đây thôn Vĩ Dạ
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Lời bình
Thơ Hàn Mặc Tử thường có những bước nhảy về ý. Ý nọ cách ý kia một khoảng rất lớn, có lúc ngỡ như không liên hệ gì với nhau, thoáng nhìn bài thơ có cái vẻ “đầu Ngô mình Sở” thế nào ấy, nhất là ở các tập thơ cuối đời ông. Nhưng, nét đặc sắc ỡ Hàn Mặc Tử cũng lại là ở đấy: những ý thơ rất xa nhau về ý nghĩa hóa ra lại vẫn có chỗ liền nhau, ấy là ở cái trạng thái xúc cảm. Mà trạng thái xúc cảm của Hàn Mặc Tử thì càng về cuối đời càng kì lạ, độc đáo. Nắm được đặc điểm này là có được chìa khóa mở vào thế giới Thơ điên của Hàn Mặc Tử.
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ chưa bao giờ bị liệt vào loại thơ điên, dù có mặt trong tập Thơ điên (tức Đau thương), nó thuộc loại bài trong sáng của đời thơ Hàn (như Mùa xuân chín, Tình quê), câu nào cũng dễ hiểu, hình ảnh dễ tiếp nhận, chữ dùng bình dị, âm điệu quen thuộc. Tuy vậy, vẫn có sự dứt ý. Đoạn đầu tả vườn rất gắn với thôn Vĩ. Đoạn hai tả sông, với gió, với mây, với trăng, với hoa bắp lay, không thấy gì gắn riêng với một thôn Vĩ, dù thôn Vĩ có thể có sông Hương, có vườn bắp và có gió mây trăng như mọi miền, bảo là một con sông miền ngược của một làng nhiều mây nhiều gió nào cũng được. Đoạn ba nói lòng người, tuy nói đến đường xa, áo trắng nhưng quả thật rất “mờ nhân ảnh”, câu cuối thì không biết là tình quê hay tình yêu. Cho nên đọc thơ Hàn Mặc Tử không nên đọc theo đề tài, sự việc mà phải đọc vào tâm trạng. Cố để cảm thụ được tâm trạng người viết, chúng ta sẽ kinh ngạc thấy rằng hóa ra bài thơ của Hàn Mặc Tử lại liền khối một cách lạ lùng. Bài thơ mười hai câu này không có câu nào lạc mạch, nằm ngoài “từ trường” cảm hứng. Thôn Vĩ được nhắc tới ở câu đầu cảnh thôn Vĩ được tả ở đoạn đầu, còn sau đó chỉ còn là tâm tình, tâm trạng được gợi lên do một “cái hích ban đầu” là thôn Vĩ.
Thơ tả cảnh của Hàn Mặc Tử rất ít nét, so với Đoàn Văn Cừ ở Chợ Tết và Anh Thơ trong tập Bức tranh quê sẽ thấy. Đúng ra ông không tả, ông chỉ nói vài ấn tượng của cảnh còn lưu trong trí. Cho nên cảnh ít nét, nhưng gợi nhớ lâu, như một sự chọn lọc của tiềm thức, cái gì đáng quên thì đã tự quên rồi không đáng nói nữa. Ông nói tới hàng cau vì hàng cau có một chi tiết khó quên, ấy là nắng mới lên: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên. Hàng cau tồn tại trong trí nhớ ông là tồn tại với sắc nắng ấy. Nó giữ chính xác một khoảnh khắc của cảnh, nên sinh động. Lại nhớ câu thơ Hồng Nguyên trong bài Nhớ:
Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau
đúng là cảnh trong cõi nhớ, rất gợi cảm.
Tả vườn, ông chỉ nói tới cái mướt xanh của nó, mà mướt là chủ yếu, với một so sánh vốn không phổ biến, ví vườn với ngọc. Nhưng đọc câu thơ thì ai cũng thấy là so sánh đúng, đúng trong cảm giác, không thể thay thế ngọc bằng gì được:
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Ấn tượng của cái nắng ở câu thơ trên rọi xuống màu xanh của vườn nên mới tạo ra cái mướt xanh như ngọc, trong màu xanh có ánh sáng mà. Tả vườn như ở câu thi này đã đến chỗ tinh diệu, vì được tiền hô từ câu lâu trước tả cây, lại được hậu ủng bằng câu thơ sau, tả lá:
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Câu thơ rất tạo hình, hai nét ở hai bình chen: lá trúc và mặt chữ điền. Hơi hướng Á Đông, cổ điển sinh ra từ cách chọn lá: lá trúc, và cách tả gương mặt: chữ điền.
Gương mặt nam giới ứng với câu đầu: Sao anh…
Bốn câu đoạn hai không có liên hệ gì về chi tiết với đoạn một, cả vườn và gương mặt chữ điền kia không hề được nhắc lại. Cảnh hoàn toàn khác:
Gió theo lời gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Nhưng cái tâm trạng thì vẫn một: xa cách, ngóng đợi, vắng vẻ. Không thấy bóng người, chỉ thấy một tâm trạng không chỉ còn là tình quê nữa. Nếu sông nước, hoa bắp, thuyền đỗ bến có là cảnh của thôn Vĩ thì cũng chỉ để gợi một nỗi niềm man mác vắng xa nào đó, mà tác giả thấy chẳng cần phải nói rõ. Câu cuối đoạn Có chở trăng về kịp tối nay là câu thơ của cõi mộng. Tác giả, đến đây, không nhìn ra cảnh nữa mà nhìn vào lòng mình. Đến đoạn cuối ta thấy rất rõ tác giả lặng đi trong mơ tưởng:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Người khách này hình như không liên quan gì đến cái nhân vật được gọi là “anh” ở câu thứ nhất: Sao anh không về… mà lại gợi ta nghĩ tới một khách… má hồng, một người thoáng gặp mà nhớ mãi. Đọc đến câu dưới lại càng rõ áo em trắng quá nhìn không ra. Màu trắng ở đây cũng là màu trắng của tâm tưởng, tác giả nhìn lại vào tâm tưởng để thấy cái màu áo của kí ức cho nên nó hư hư thực thực. Câu thơ tạo ảo giác rất thích, có lí và bất ngờ trắng quá nên nhìn không ra. Thôn Vĩ đến đây chỉ giữ vai trò một địa điểm có liên quan tới màu áo ấy. Màu áo bây giờ choáng hết cảm xúc tác giả. Bài thơ cảnh quê đã thành bài thơ tình yêu. Một thứ tình yêu đơn phương khó xác định.
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Câu thơ đã dẫn ta đến một cõi nào của tâm tưởng, không còn là cái thôn Vĩ Dạ ngoài cố đô Huế nữa rồi. Sương khói làm mờ nhân ảnh không phải là sương khói của ngoài đời, của cái thôn nhỏ ấy đâu: ở đây là ở trong mối tình mới nhen nơi lòng tác giả, là cái khoảnh khắc người đang đắm đuối nhìn không ra ấy. Ý thơ chơi vơi, gợi mở, cảm được mà rất khó cắt nghĩa. Câu thơ sương khói, nhân ảnh gợi thêm cái ý vị Á Đông cổ điển đã có ở đoạn đầu. Đoạn thơ này ý và cảnh rất xa với hai đoạn trên, tác giả móc nó bằng âm điệu với đoạn hai. Đoạn hai mở đầu:
Gió theo lối gió, mây đường mây
thì đoạn ba:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Một nhận xét bao quát: Ở bài thơ này, mỗi câu đều ôm chứa một chất thơ hoàn chỉnh, có thể trích độc lập từng câu vẫn có vị. Mỗi đoạn cũng có thể là một bài tứ tuyệt. Nhưng gộp cả bài thì tất cả lại ràng buộc với nhau, không thể tháo bỏ câu nào, cũng không thấy cần thêm ý nào, không đảo lộn được vị trí các câu, không thay thế được các từ. Bài thơ trong sáng. Đọc một lần ai cũng cảm nhận được vẻ đẹp của nó nhưng dù phân tích đến đâu, vẻ đẹp ấy vẫn là một bí ẩn. Bài thơ tươi sáng mà buồn. Nỗi buồn rất trong và thấm thía.
Vũ Quần Phương
38.BẠC VĂN ÙI
Dân tộc Thái.
Em tắm
Sao anh lại rình
Trộm xem em tắm?
Da của em ngần trắng
Da của mẹ, của cha
Tay của em lấm lem
Tay của than của bụi
Tay của rừng của núi
Tay của đất của nương
Em tắm xong lại sạch
Vẫn ngát thơm hoa rừng
Da của em trắng ngần
Là của anh tất cả
Không phải người xa lạ
Việc gì mà trộm xem
Em tắm suối giữa mường
Tắm trong mối yêu thương
Có anh đang đứng giữ
Chớ để Tây đến mường.
(Cầm Giang dịch)
Lời bình
Những ai đã từng lên Tây Bắc, nhất là cánh mày râu quen bị giam giữ trong cảnh chật chội bít bùng của phố thị, khi trở về vẫn thú vị rỉ tai nhau: ở trên đó, phụ nữ Thái thường… tắm tiên! Đó là một sự thật. Những sớm những trưa những chiều ven những nẻo đường quanh co đèo dốc, ta vẫn hay thấy cảnh các chị em người Thái khỏa trần nơi các mó nước trong veo. “Lộ thiên” mà vẫn khéo léo, tinh tế trong làn nước, họ như những nốt nhấn thật đẹp giữa cảnh núi rừng hoang sơ. Họ như luôn không nhìn thấy chúng ta, họ mặc nhiên trong một nếp sinh hoạt bình thường mà rất có thể không nghĩ rằng chính họ đang tạo nên một nét đẹp của cảnh sắc Tây Bắc.
Xin dài lời một chút như thế bởi tôi thấy có một số người khi đọc bài thơ Em tắm đã coi hình ảnh cô gái tắm trần và những “tự bạch” của cô như một biểu hiện có tính đột phá táo bạo trong thơ Việt hiện đại. Tôi không thấy như thế, tôi chỉ thấy trong bài thơ một mạch cảm xúc và một lối giãi bày hết sức tự nhiên, với những ví von đậm chất miền núi. Nếu có suy diễn chi li một chút thì chỉ ở chỗ này, cái anh chàng “trộm xem em tắm” kia – nguyên cớ của bài thơ – tôi ngờ rằng không phải là một anh chàng người Thái. Đàn ông Thái ở Tây Bắc, theo những gì tôi biết, cũng mặc nhiên xem việc những người đàn bà của họ khỏa trần trong nước là điều bình thường. Người được trách yêu Sao anh lại rình – Trộm xem em tắm ở đây phải là một anh chàng thấy cảnh đó là lạ lẫm, anh ta không phải là con đẻ của bản mường. Anh chàng ấy sẽ xuất hiện ở cuối bài thơ.
Dĩ nhiên, cái ánh mắt “rình trộm” ấy chỉ là nguyên cớ cho những giãi bày của cô gái Thái. Và đây chính là một cách xử lí khéo léo của tác giả, để mở lối cho những lời “tự giới thiệu” không trở thành vô duyên. Anh là người lạ, người lạ thì em mới phải nói:
Da của em ngần trắng
Da của mẹ, của cha
Ấy là nhan sắc. Nếu anh đã thấy em đẹp xinh mơn mởn thì đừng quên từ đâu mà em đã được như thế. Lời giới thiệu kiêu hãnh và ẩn chứa trong đó chút thân mật. Bao giờ cũng thế, nhắc đến cha mẹ mình trước người lạ là đã hé lộ sự tin cậy, là mở đường cho những thân quen.
Tay của em lấm lem
Tay của than của bụi
Tay của rừng của núi
Tay của đất của nương
Ấy là cuộc sống của em. Đôi cánh tay trần lấm lem than bụi là chứng chỉ của một cô gái lam làm, thậm chí là cực nhọc. Nó rất thật. Nhưng khi đôi cách tay ấy được “khoe” rằng chúng là Tay của rừng của núi – Tay của đất của nương thì ranh giới giữa cái thật và cái ảo đã nhòa lẫn. Chút kiêu hãnh kín đáo đã mở thêm một tầng bậc: vẻ đẹp nơi em mà anh đang trộm chiêm ngưỡng chính là vẻ đẹp của núi rừng mường ta đấy! Câu thơ giản dị mà đẩy tâm trí người đọc đến một miền cảm xúc vời vợi: đâu là em và đâu là quê hương trong những hình ảnh này? Trong miền cảm xúc ấy, Em tắm xong lại sạch – Vẫn ngát thơm hoa rừng vẫn là một cặp hình ảnh đan xen hư thực, sự đan xen đã khiến câu thơ không gợn chút dung tục khi nói về cái “sự tắm” của một cô gái. Vừa rõ ràng vừa bảng lảng một hình hài thiếu nữ, cái đẹp như vụt hiện từ những lam lũ của than và bụi… Người ta là hoa của đất, người miền xuôi nói vậy và cả đoạn thơ này bất giác khiến ta nhớ về sự tôn vinh đó.
Chút thân mật giữa người bị trách yêu và cô gái đang tắm suối thực ra đã được thiết lập ngay từ đầu bài thơ, trong những bóng gió của cách nói. Nhưng đến đoạn này thì sự thân mật ấy đã không cần phải đi đường vòng, nó thẳng thắn mà không suồng sã, nó trách cứ mà thực ra là mở lối cho người ta đến với nhau:
Da của em trắng ngần
Là của anh tất cả
Không phải người xa lạ
Việc gì mà trộm xem
Tôi ngờ rằng chính những câu thơ này đã khiến một số người đọc sửng sốt mà nghĩ đến sự đột phá nào đó trong thơ Việt (Da của em trắng ngần – Là của anh tất cả). Không đâu, nếu bạn đã từng đọc thơ ca dân gian miền núi, bạn sẽ không sửng sốt đến vậy. Điều tôi thấy ở đây là một mạch đi nhất quán và hết sức tự nhiên trong toàn bài thơ, và thấy nữa, cái tài “nhập” vào hồn vía miền núi của tác giả.
Sự giao cảm, sự thân thiện trong tâm tưởng cô gái đã có rồi, bởi vậy mà câu thơ (anh) Không phải người xa lạ lại chính là dành cho một… người lạ – anh chàng đang trộm xem em tắm kia. Sự tinh tế trong chuyện tình cảm là ở đây: sau lời trách yêu ấy, làm sao anh còn có thể là người xa lạ được nữa! Người ta đã chủ động xoá đi khoảng cách cho anh, đã khéo léo mở cho anh một ước mơ riêng tư rồi.
Có thể là suy diễn, tôi nghĩ “người xa lạ không xa lạ” ấy là một anh chàng đã từ miền xuôi đến với bản mường: Có anh đang đứng giữ – Chớ để Tây đến mường. Hẳn nhiên bài thơ được viết cuối thời kì kháng chiến chống Pháp, khi mà bài ca về tình quân dân “không phân biệt xuôi ngược” đã vang vọng khắp các cánh rừng Tây Bắc. Nếu đó là một anh lính miền xuôi lần đầu lên bản Thái thì việc Sao anh lại rình – Trộm xem em tắm có cái lí của nó, và cái tình là sự trao gửi niềm tin cậy an bình từ cô gái: Em tắm suối giữa mường – Tắm trong mối yêu thương… Cái lí cái tình hoà quyện đã tạo cho bài thơ Em tắm một vẻ đẹp mượt mà mà bảng lảng như tranh lụa.
Tác giả bài thơ là Bạc Văn Ùi, cái tên của một người Thái. Người dịch từ tiếng Thái sang tiếng Việt là Cầm Giang, nhà thơ có họ Thái nhưng lại là người miền xuôi chính hiệu! Đến giờ thì chúng ta đã có nhiều tư liệu để khẳng định, chính Cầm Giang là tác giả của bài thơ Em tắm và bài thơ Nhớ vợ (“mượn” tên Cầm Vĩnh Ui). Cứ đọc thì cũng thấy hai bài thơ này có cùng một giọng miền núi rất gần gũi với bài thơ Núi Mường Hung dòng sông Mã chính thức mang tên tác giả Cầm Giang!
Trần Hòa Bình 
39.ĐINH THỊ THU VÂN
Sinh: 1955. Quê: Long An.
Hiện sống và viết tại Long An– Tác phẩm thơ đã in: Thay cho lời hát ru anh, Một ngày ta ngoái lại.
Một ngày ta ngoái lại
Rồi sẽ có một ngày ta ngoái lại
Bạn bè ơi, khi ấy có còn nhau
Cơn lốc đời đưa đẩy bạn về đâu
Ta ngoái lại tìm nhau, e mất dấu
Ta ngoái lại tìm nhau, mong ẩn náu
Góc bạn bè yên ấm cảm thông ơi
Ta ngoái lại rụng rời đôi cánh mỏi
Góc bạn bè tin cậy, bớt chơi vơi
Ta ngoái lại tìm nhau đừng sỏi đá
Đừng dập dùi chi nữa trái tim hoang
Thôi đừng nhớ, đừng quên, đừng xa vắng
Xin một lần tha thứ thuở lang thang
Tha thứ nhé bạn ơi ngày cay đắng
Ta quẩn quanh nuôi giữ xót xa mình
Tha thứ nhé những niềm núi không vóc dáng
Thuở đam mê bè bạn khuất xa dần…
Rồi sẽ có một ngày, sau tháng ngày dâu bể
Chúng mình cùng ngoái lại tìm nhau
Ta nói yêu thương khi mắt đổi thay màu
Bàn tay héo cầm lâu cho ấm mãi
Trái tim héo, nụ cười xưa dẫu héo
Chỉ xin đừng tàn lụi chút niềm tin
Dẫu mong manh vụn vỡ chẳng nguyên lành
Xin hãy có một ngày nhen nhúm lại.
Lời bình
Trong những năm văn học đổi mới, xuất hiện một khuynh hướng văn học được gọi là tự thức tỉnh (có người còn gọi to tát hơn là dòng văn học tự thú).
Cuộc sống mau chóng đổi thay, thời gian như một đại lượng vô tình trôi, con người mải lo toan những cái thiết yếu trước mắt, thậm chí bị “cơn lốc đời” cuốn đi chóng mặt, ít có lúc nào nhàn rỗi để được sống kĩ với nội tâm của mình. Bỗng có một ngày, vì một nguyên cớ không đâu, để lòng mình quay ngược về với thế giới tuổi thơ, bè bạn, quá khứ, được mất, thành bại đã qua, bỗng giật mình vỡ lẽ ra một điều: ta đã để vuột khỏi tay mình bao điều quý giá cơ hồ không thể vớt vát, không thể cứu vãn được nữa. Đó chính là nguồn cội cảm xúc của bài thơ này, một bài thơ mang màu sắc tự vấn…
Đến một lúc nào đó, cũng lại bỗng nhận ra rằng, quá khứ không chỉ là quá khứ, mà quá khứ luôn hiện tồn trong đời sống hiện tại của mỗi người, nó vẫn đối thoại cùng ta, vẫn dung dưỡng tâm hồn ta, vẫn là nơi cho ta nương tựa. Mạch triển khai ý tứ của bài thơ Một ngày ta ngoái lại tăng tiến dần cùng dòng cảm xúc tự thức nhận: Ngoái lại để tìm nhau – ngoái lại để tin cậy – ngoái lại để tha thứ – ngoái lại để yêu thương – và ngoái lại để nhen nhúm niềm tin. Cái mạch đi này hiện ra như một lôgic nhận thức. Tuy nhiên, các câu thơ không bị đóng băng trong nhận thức lí trí lạnh lẽo, hoặc mang tính răn dạy. Mỗi lời thơ da diết một tâm trạng hồi nhớ, pha chút ăn năn, pha chút ngậm ngùi. Trong rất nhiều gương mặt bạn bè một thuở, thấp thoáng đâu đây bóng dáng của một người thương mến. Nhà thơ đã đánh động trong lòng ta một điều gì đó thật sâu xa…
Phải đến lúc nào đó, khi con người ta đã ngấu nỗi đời, đã dám đối diện sòng phẳng với chính mình mới có thể biết dừng lại để chi chút với nội tâm mình, mới ngộ ra nhiều điều mà mình đã trải, mới biết vượt lên trên tất cả những gì phù du hư ảo ở đời để tìm về giá trị thật. Lúc đó, theo cách nói của nhà Phật, đã rất gần với sự giác ngộ. Nhưng than ôi, lúc ấy cũng đã nếm mùi tuổi tác mất rỗi, mắt đổi thay màu, và bàn tay héo mất rồi… Cho dù thế, tha thứ và yêu tin cũng không bao giờ là muộn cả. Tha thứ và yêu tin cũng không bao giờ là đủ cả.
Nếu chọn một cách “keo kiệt” hơn trong 100 bài thơ hay thế kỉ XX, chưa chắc đã có bài nào của Đinh Thị Thu Vân. Hoặc nếu có Đinh Thị Thu Vân thì sẽ phải là bài khác hay hơn nữa kia (mà tôi biết, Vân có những bài khác hay hơn hẳn). Nhưng thôi, ai lại đi mà cả hơn thua với một người thơ mà lòng ta hằng yêu quý…
Có những “ngoái lại” chẳng có ích gì. Nhưng có những “ngoái lại” chân thành và sâu sắc, dù có hơi buồn một chút như Đinh Thị Thu Vân cũng sẽ làm cho chúng ta mỗi ngày tốt thêm lên, đẹp thêm lên một chút. Và cái một chút, một chút ấy thôi không bao giờ là nhỏ cả, nó đủ khiến cho mỗi chúng ta còn có lí do để mà tha thiết có mặt trên cõi đời này.
Tháng 7/2007
Văn Giá
40. BẰNG VIỆT
Sinh: 1941. Quê: Hà Tây.
Hiện sống và viết tại Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Những gương mặt những khoảng trời, Đất sau mưa, Khoảng cách giữa lời, Cát sáng, Phía nửa mặt trăng chìm, Ném câu thơ vào gió, Tuyển thơ Bằng Việt.
Bếp lửa
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bom đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm rủa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe.
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến thu, bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này, kẻ nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa mềm tin dai dẳng…
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kỳ lạ trà thiêng liêng – bếp lửa!
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa năm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
– Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa…
(1963)
Lời bình
Bằng Việt mở đầu bài thơ bằng hình ảnh “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm” gần gũi, thân quen với mỗi hồn quê Việt Nam bao đời. Đó là một hình ảnh rất thực và rất đẹp, một vẻ đẹp mơ màng đầy chất thơ, lung linh huyền ảo ở đời thường và lung linh chập chờn trong nỗi nhớ, trong màn sương hồi tưởng của người đi xa. Cú pháp đặc biệt của câu thơ làm người đọc cảm nhận: “bếp lửa chờn vờn”, “sương sớm chờn vờn”, và màn sương kí ức cũng “chờn vờn”, lung linh, huyền ảo.
Hình ảnh “Một bếp lửa ấp iu nồng đượm” gợi động tác nhóm lửa cẩn thận, khéo léo, gợi cả sự nâng niu, trân trọng, giữ gìn kỉ niệm của tác giả. Cùng xuất hiện với “bếp lửa” là tình cảm “cháu thương bà”. Trong lòng cháu, bà cũng là “một bếp lửa ấp iu nồng đượm”.
“Thương bà” vì bà lận đận, vất vả, khó nhọc “biết mấy nắng mưa”, không thể tính đếm hết được nỗi khó nhọc, vất vả triền miên theo năm tháng cuộc đời bà. Cả bài thơ có hai chữ “thương”, Bằng Việt đã dành trọn để “thương bà”:
– Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
– Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Trong bài thơ, người cháu hiếu thảo cũng hai lần nhắc đến “đời bà biết mấy nắng mưa”. Nỗi vất vả khó nhọc của bà thành nỗi day dứt khôn nguôi trong lòng cháu suốt đời:
– Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
– Lận đận đời bà biết mấy nắng mua
Trong bài thơ, trực tiếp hay gián tiếp, nhiều lần nhà thơ tính đếm thời gian. Tương ứng với mỗi quãng thời gian là một kỉ niệm sâu sắc của tình bà cháu và bếp lửa quê hương:
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Hai câu thơ ấy mở ra một khổ thơ gợi lên kỉ niệm tuổi thơ bị bóng đen của nạn đói khủng khiếp năm 1945 đe dọa. Người thì “đói mòn đói mỏi”, “ngựa gầy” thì “khô rạc”, sự sóng như tàn lụi dần. Trong từ vựng tiếng Việt, “no” đi liền với “ấm” (no ấm), còn “đói” đi liền với “rét” (đói rét, bụng đói cái rét). Trong cái “năm đói mòn đói mỏi” ấy, bà cháu nhờ hơi ấm của bếp lửa, hơi ấm của tình bà cháu mà ấm lòng, mà đỡ lạnh lẽo để vượt qua cái đói khủng khiếp. Khói bép nhà nghèo chẳng làm no lòng người, nhưng lưu lại một kỉ niệm đau xót mãi mãi không nguôi:
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.
Đây là hai câu thơ rất hay bởi sức gợi rất lớn. Cái cảm giác cay xè ở mắt ở mũi vì mùi khói năm xưa còn đọng lại mãi khiến người hôm nay mủi lòng, thấy cay cay ở sống mũi. Cảm xúc hiện tại và kỉ niệm năm xưa đồng hiện, hòa lẫn với nhau. Hai dòng thơ rất thực mà tràn ngập cảm xúc.
Thời gian “Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa”, và “những ngày ở Huế…” là tương ứng với trường kì gian khổ kháng chiến. Đó là quãng thời gian bà cháu nương tựa vào nhau giữa cảnh “giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi”. Giặc đói chưa yên thì giặc ngoại xâm tràn tới. Gia đình li tán: “Mẹ cùng cha công tác bận không về” nên cảm giác cô đơn, trống vắng tràn ngập tâm hồn trẻ thơ. Tiếng chim tu hú kêu trên những cánh đồng xa vẳng tới gợi cả một không gian trống vắng, khơi sâu thêm cảm giác cô đơn. Trong khổ thơ 11 dòng thì đã có tới 5 dòng thơ nói về tiếng chim tu hú. Trên cái nền hoang tàn vì khói lửa chiến tranh, giữa không gian trống vắng ấy chỉ còn lại con chim tu hú kêu khắc khoải và hai bà cháu nương tựa vào nhau để duy trì cuộc sống. Thương con tu hú cô đơn, bơ vơ mới càng thêm thấm thía cái ơn được bà yêu thương, chăm chút, đùm bọc.
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Trong gian khổ, bần hàn những phẩm chất cao quý của bà càng tỏa sáng, tình thương của bà càng nồng đượm. Bà thay các con chăm sóc, dạy dỗ đứa cháu bé bỏng:
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
Tác giả dùng các từ “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm”… để nói lên sự nuôi dạy chu đáo và trọn vẹn yêu thương, đùm bọc, cưu mang của bà với cháu. “Tám năm ròng…” là trọn vẹn tuổi thơ ấu của cháu thì cũng là “biết mấy nắng mưa” và “khó nhọc” của đời bà. Đức hi sinh của bà cao cả hơn khi bà âm thầm chịu đựng. Giữa khó khăn, thử thách bà “vẫn vững lòng”, vẫn dặn cháu:
“… có viết thư chớ kể này, kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Phần buồn lo bà gánh hết, để nhường lại niềm vui cho con cháu.
Trong bài thơ có 7 lần nhà thơ nói đến “bếp lửa”, riêng ở cuối khổ thơ thứ năm, nhà thơ không nói “bếp lửa” mà gọi là “ngọn lửa”.
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…
Sự chuyển hóa hình ảnh thơ từ “bếp lửa” sang “ngọn lửa” hợp lí và có ý nghĩa mới. Nói “bếp lửa” là nói đến vật hữu hình, cụ thể của mỗi gia đình, gần gũi, thân quen với người dân ngàn đời và đặc biệt gắn bó với hai bà cháu trong bài thơ này. Từ đó, rất tự nhiên, trong cảm nhận, người cháu liên tưởng tới “ngọn lửa” vô hình: “Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn” chính là tình bà “nồng đượm” đã ấp ủ, sưởi ấm lòng cháu qua năm tháng của cuộc đời. Tình bà như ngọn lửa thắp sáng lên niềm tin cho cháu, một niềm tin bất diệt “một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.
Tác giả dành 12 dòng thơ cuối để tỏ nỗi nhớ thương tha thiết và cảm xúc về bà với giọng thơ sâu lắng. Nếu như ở khổ thơ mở đầu, câu thơ “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” được đặt xuống cuối, thì ở đây được đặt lên đầu, chỉ thay đi vài ba từ: “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa”. Mặc dầu vắng đi chữ “thương”, mà đọc câu thơ ta vẫn thấy tình thương bà nổi lên trên dòng cảm xúc và sự suy ngẫm.
Đặng Tương Như
41.LƯU QUANG VŨ
Sinh: (1948 – 1988). Quê: Thành phố Đà Năng.
Tác phẩm thơ đã in: Mây trắng của đời tôi, Bầy ong trong đêm sâu, Tuyển thơ Lưu Quang Vũ.
Vườn trong phố
Trong thành phố có một mâm cây mát
Trong triệu người có em của ta
Buổi trưa nắng bầy ong đi kiếm mật
Vào vườn rồi ong chẳng nhớ lối ra
Vườn em là nơi động gió trời xa
Hoa tím, chim kêu, bàng thưa lá nắng
Con nhện đi về giăng tơ trắng
Trái tròn căng mập nhựa sinh sôi
Nơi ban mai cỏ ướt sương rơi
Một hạt nhỏ mơ hồ trên lá
Hơi lạnh nào ngón tay cầm se giá?
Suốt cuộc đời cũng chẳng hiểu vì sao…
Nơi đêm khuya đọng lại tiếng còi tàu
Bỗng nhớ xa xôi những miền đất nước
Nơi bài hát lên đường ta hẹn ước
Nơi góc truân ta để quên chùm hoa…
Nơi vòm lá rì rào xao động cơn mưa
Quả ngọt chín khi mùa ve lại đến
Những chân trời màu hồng
Những chân trời màu tím
Những ngôi sao bàng bạc cá hoàng hôn
Nơi lá chuối che nghiêng như một cánh buồm
Cánh buồm xanh đi về trong hạnh phúc
Se sẽ chú, không cánh buồm bay mất
Qua dịu dàng ấm ướt của làn môi
Dưa hấu bổ ra thơm suốt ngày dài
Em cũng mát lành như trái cây mùa hạ
Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ
Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa
Đến bây giờ đánh giặc anh đi xa
Nhìn lại mảnh lườn xưa thấy hẹp
Biết bao điều anh còn chưa nói được
Rối rít trong lòng một nỗi em em…
Rừng rậm, đèo cao anh đã vượt lên
Theo tiếng gọi con tàu ngày bé dại
Vươn không níu được bước chân trở lại
Những lá còn che mát suốt đường anh
Mảnh vườn em lần là mảnh vườn xanh
Nơi ban đầu lòng ta ươm tổ mật
Nơi ta hái những chùm thơ thứ nhất
Nơi thu sang mây trắng vẫn bay về.
(1967)
Lời bình
Lưu Quang Vũ thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước có một không gian tình yêu – Vườn trong phố vừa biệt lập, vừa giao hòa với tình yêu cuộc sống, tình yêu đất nước:
Trong thành phố có một vườn cây mát
Trong triệu người có em của ta
Buổi trưa nắng bầy ong đi kiếm mật
Vào nhận rồi ong chẳng nhớ lối ra.
Không gian tình yêu của Lưu Quang Vũ thật sung mãn sức sống, hứa hẹn rất nhiều say đắm, ngọt ngào. “Vườn em” có đủ hương hoa cho một đời ong cần cù “ươm tổ mật”. Lưu Quang Vũ ngay ở những thi phẩm đầu đã là một hồn thơ trẻ trung, trong trẻo với những cảm xúc tươi mới và một giọng điệu đắm đuối – giọng điệu thơ đặc trưng xuyên suốt đời thơ của thi sĩ. Bởi thế khi Lưu Quang Vũ nói vườn em là nói tình yêu của em, tâm hồn em, sự sống của em. Trong vườn em là cả một thế giới vô cùng sinh động. Sự sống trong đó đang ở độ tốt đẹp nhất:
Vườn em là nơi sôi động gió trời xa
Hoa tím, chim kêu, bàng thưa lá nắng
Con nhện đi về giăng tơ trắng
Trái tròn căng mập nhựa sinh sôi
Vườn em có nắng thêu hoa, có gió động lá cành, có hoa tím, chim kêu, có “dẫy bàng lên búp nhỏ, xanh như là thương nhau”, có trái tròn căng nhựa, có ấm lạnh, có ban mai, có hoàng hôn, có sương nơi cỏ ướt, có mùa hè trái chín ve kêu, có mùa đông hơi giá, có “thu sang mây trắng bay về”… Nghĩa là vườn em, hồn em có đủ sắc thái, cung bậc của mọi tình cảm tự nhiên của đời người: vui, buồn, hờn, giận, yêu, ghét; nhớ nhung và mong đợi, ước mơ và hi vọng, hạnh phúc và khổ đau… trải ra trong không gian và thời gian, gần và xa, quá khứ, hiện tại và tương lai. Có lúc nó mong manh như sợi tơ trắng con nhện đi về giăng tơ trong tâm hồn, mơ hồ như hơi giá trên ngón tay em cầm, như sắc màu hoa tím thuỷ chung, như một tiếng chim trong vườn, xa xôi như tiếng còi tàu điện đêm khuya vọng lại thôi thúc khát vọng lên đường…
Trong lúc nói về mảnh vườn em, mảnh vườn tình yêu hạnh phúc của mình, Lưu Quang Vũ có những hình ảnh thơ đầy sáng tạo:
Nơi lá chuối che nghiêng như một cánh buồm
Cánh buồm xanh đi về trong hạnh phúc
Trong tâm hồn và trong đôi mắt tuyệt vời trong trẻo của Lưu Quang Vũ, tàu “lá chuối che nghiêng” trong mảnh bươn em đã thành “cánh buồm xanh” đi về trong biển cả êm đềm của tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Hình ảnh “cánh buồm xanh” là sự thăng hoa, bay bổng của một hồn thơ trẻ trung, của một tình yêu không nhuốm màu sắc dục. Đến cả nụ hôn của tình yêu ấy cũng kì diệu.
Se sẽ chứ, không cánh buồm bay mất
Qua dịu dàng ẩm ướt của làn môi.
Nói về vườn em, nơi nảy nở và nuôi dưỡng tình yêu đôi lứa cách nói của Lưu Quang Vũ là cách nói hào hoa, phong nhã, tinh tế, trang trọng và hết sức nâng niu. Nhà thơ không quên “Nơi góc vườn ta bỏ quên chùm hoa”, nhớ cả “Nơi vòm lá rì rào xao động cơn mưa”, nhớ những hè “mùa ve lại đến” cùng “quả ngọt chín”, nhớ một mùi hương “Dưa hấu bổ ra thơm suốt ngày dài”. Đó là hương vị thơm thảo của tình em “Em cũng mát lành như trái cây mùa hạ”. Em, trong mắt anh bỗng rực rỡ, đầy hào quang như bảy sắc cầu vồng, năm sắc mây vương:
Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ
Em như câu vồng bảy sắc hiện sau mưa
Từ mảnh vườn em tình yêu lớn dần lên và vươn tới “những chân trời màu hồng” mộng mơ, “những chân trời màu tím” thủy chung và những vì sao xa xôi “bàng bạc cả hoàng hôn”.
Cả một chân trời tình yêu rộng mở với bao nhiêu lung linh sắc màu. Từ vườn em mà vươn tỏa ra chín phương đất, mười phương trời cho lòng trai vùng vẫy:
Đến bây giờ đánh giặc anh đi xa
Nhìn lại mảnh vườn xưa thấy hẹp
Biết bao điều anh còn chưa nói được
Rối rít trong lòng một nỗi em em…
Với Vườn trong phố, Lưu Quang Vũ đã đặt tình yêu lên địa vị của một đối tượng khám phá, đồng thời cũng với tư cách của sự hướng đạo. “Theo tiếng gọi con tàu ngày bé dại”, vọng lại trong đêm khuya nơi vườn em, anh đã vượt lên “rừng rậm, đèo cao” trên những miền đất nước xa xôi. Trên con đường trường chinh theo dọc dài đất nước vẫn có lá xanh nơi vườn em che mát cho anh:
Rừng rậm, đèo cao anh đã vượt lên
Theo tiếng gọi con tàu ngày bé dại
Vườn không níu được bước chân trở lại
Nhưng lá còn che mát suốt trường anh.
Năm 1965. Lưu Quang Vũ xung phong vào bộ đội thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân. Anh vẽ tranh, viết báo, làm thơ và anh cùng đồng đội hành quân chiến đấu với vòng lá ngụy trang trên lưng như một người chiến sĩ thực sự. Cho nên bạn đọc tin yêu, ngưỡng mộ những “chùm thơ thứ nhất” anh hái nơi “mảnh vườn em”, coi đó như những chùm hoa trái đầu mùa, đầu đời rất mát lành, là mật ngọt của tổ mật xây nên của cái thuở “ban đầu lưu luyến ấy”:
Mảnh vườn em vẫn là mảnh vườn xanh
Nơi ban đầu lòng ta ươm tổ mật
Nơi ta hái những chùm thơ thứ nhất
Nơi thu sang mây trắng vẫn bay về.
Vườn em không chỉ là một không gian tình yêu, một miền yêu, mà chính là cái đẹp, sự giàu có của tình yêu có tác dụng hướng đạo cho tuổi trẻ và cho Con Người.
Đặng Tương Như
42.TRẦN TẾ XƯƠNG
Sinh: (1870 – 1907). Quê: Nam Định.
Tác phẩm thơ đã in: Thơ văn Trần Tế Xuơng.
Thương vợ
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng trắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.
Lời bình
Tú Xương tạ thế năm 1907, ở tuổi 37. Xếp ông vào nhà thơ thế kỉ XIX hay XX đều được. Nhiều bài hay lại rơi vào sau năm Canh Tí (1900), như cái bài Mai không tên tớ, tớ đi ngay, viết vào cái đận dự cảm hỏng thi khoa Canh Tí ấy. Nhưng bài thơ Thương vợ này thì lại không nên coi là thơ của thế kỉ XX, bởi căn cứ vào câu Nuôi đủ năm con với một chồng, người ta lần ra bài này phải làm trong khoảng thời gian hai năm 1896 – 1897.
Tú Xương được coi là nhà thơ trào phúng, nhưng bài này lại đậm chất trữ tình. Trữ tình trong tình cảm, trữ tình cả trong giọng thơ. Phải nói rõ thế bởi nhiều khi Tú Xương cất giọng hài hước mà cái tình chạy bên trong câu chữ lại làm người đọc ứa nước mắt cảm thương. Các chi tiết trong thơ Tú Xương đều lấy từ đời thực, ông không nương tựa ước lệ. Thơ ông là những bức tranh sinh động, nóng hôi hổi chất sống của thành Nam thời ấy. Bài thơ là chất sống đời ông, là nỗi lòng ông với bà vợ đảm đang tận tụy vì chồng vì con.
Tú Xương là một tài năng thi ca lớn nhưng lại không hợp với cái khuôn thi cử. Lều chõng tám khoa thi Hương, từ năm Bính Tuất (1886) đến năm Bính Ngọ (1906), cũng chỉ được cái học vị người có tài tốt (tú tài), chứ chưa phải người được cất nhắc (cử nhân). Không nghề nghiệp lại hay hát hay chơi, đào hoa tài tử. Tài thơ xuất chúng nhưng phải ăn nhờ vợ, không phải là tình cảnh một thời ông. Ông tự biết và cũng biết cái tình của vợ:
Nếu có khôn ngoan đã vợ nhờ
Dại mà nhờ vợ, là làm ngơ
Rải rác trong nhiều bài thơ, Tú Xương có những câu thơ ghi nhận công lao của vợ đối với đời mình. Khi tếu tếu giọng khen giọng nịnh, khi đùa đùa nhận lỗi mình, nói ơn vợ. Thậm chí ông đã làm văn tế sống vợ chỉ vì lí do, theo ông, sống (với ông chồng) như thế thì thà “Chết quách yên mồ – Sống càng nặng nợ”. Lấy giọng vui bộc lộ lòng yêu kính vợ cũng là một thủ thuật khéo của các đức ông chồng.
Ở bài Thương vợ này Tú Xương lại có vẻ nghiêm giọng, mất hẳn cái giọng tếu đùa quen thuộc. Hơn nữa có câu còn như giấu nước mắt ở bên trong. Hình như ông muốn lắng lòng mình lại để hình dung những hi sinh cao cả mà lại rất thường ngày của vợ, để nghĩ ngợi những gì là vui buồn, duyên nợ của bao nhiêu mưa nắng một đời người. Ông đã chạm vào cái nỗi niềm thiên định kiếp sinh ra thế. Nhưng ông không ngửa mặt than trời đổ tội cho hư vô biết là tại đâu. Ông biết nó tại đâu. Từ cảnh ngộ của chính vợ mình, nhà hiện thực Trần Tế Xương nhận ra từ những tập tục ngỡ như nhỏ bé của xã hội, những thói quen ích kỉ ngỡ như đương nhiên của những người đàn ông như chính ông mà những người đàn bà như vợ ông thiệt thòi cả kiếp làm người.
Hình ảnh bà Tú hiện lên trong bài thơ là hiện giữa công việc. Không thấy gương mặt, chỉ thấy dáng người, khi lam lũ “quanh năm buôn bán ở mom sông”, khi lặn lội “lặn lội thân cò khi quãng vắng”, khi bươn chải “Eo sèo mặt nước buổi đò đông…” Chỉ thấy tận tụy quanh năm… để nuôi đủ. Chỉ thấy chấp nhận “âu đành phận”, “dám quản công”. Xuân Diệu có phát hiện hay cái phép tính cộng trong câu “Nuôi đủ năm con nối một chồng”. Đếm con, quá nữa đếm vợ, thời ấy mà, chứ chồng là thứ duy nhất, sao lại đếm. Đã đếm lại còn cộng. Năm con cộng một chồng thì ra sáu đơn vị gì. Đơn vị cái tàu hũ mồm. Tú Xương tự đánh tụt tư thế mình xuống một cấp trong gia đình để ngợi ca ơn nuôi dưỡng của vợ, và thế phụ thuộc thảm hại của mình. Câu thơ mới đọc thì mỉm cười. Hiểu ra thì cảm phục nhân vật. Nghĩ kĩ thấy xót cho người viết.
Bà Tú làm nghề hàng xáo, đong thóc về xay giã thành gạo rồi bán. Nhà ở ven sông, chỗ làng Phụ Long, trên bến dưới thuyền. Bà Tú thức khuya dạy sớm. Hai câu ba bốn là tả thực, nhưng lại cộng hưởng cảm xúc với câu ca dao cổ “Con cò lặn lội bờ sông – Gánh gạo…” Không hiểu do gánh gạo hay do bờ sông trực giác mà Tú Xương đưa được vào hình ảnh con cò lặn lội rất đắc địa và gợi cảm: “khi quãng vắng”, “buổi đò đông”. Chữ đối mà ý chuyển động cho thấy toàn diện nỗi vất vả gian nan, nguy hiểm nữa, của bà Tú. Chi tiết vẫn gắn vào hiện thực. Đấy là nét độc đáo của Tú Xương. Đường thi mà tả thật. Thật nghiêm nhặt mà biểu tượng, mà ẩn dụ.
Câu năm, sáu là tổng kết cả kiếp người, nó đã như tiếng thở dài của Nguyễn Du. Nhưng Tú Xương, người cuối thế kỉ XIX có khác, ông không dừng ở thở dài chấp nhận. Ông phẫn nộ, chỉ ra đích danh thủ phạm. Dù cho thủ phạm ấy là toàn xã hội hay chính thân ông:
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không.
Nặng lời với chính mình cũng là để nói cho đủ lòng thương vợ, ơn vợ.
1/5/2007
MỤC LỤC
20. Tên làng: Y PHƯƠNG
21. Lời mẹ dặn: PHÙNG QUÁN
22. Có khi nào: BÙI MINH QUỐC
23. Tự hát: XUÂN QUỲNH
24. Bài thơ của một người yêu nước mình: TRẦN VÀNG SAO
25. Người đẹp: LÒ NGÂN SỦN
26. Đồng dao cho người lớn: NGUYỄN TRỌNG TẠO
27. Tống biệt hành: THÂM TÂM
28. Đất nước: NGUYỄN ĐÌNH THI
29. Những người đàn bà gánh nước sông: NGUYỄN QUANG THIỀU
30. Nghe tiếng cuốc kêu: HỮU THỈNH
31. Bờ sông vẫn gió: TRÚC THÔNG
32. Bến đò ngày mưa: ANH THƠ
33. Thăm lúa: TRẦN HỮU THUNG
34. Nói sao cho vợi: THU TRANG
35. Mưa đêm lều vó: TRẦN HUYỀN TRÂN
36. Màu thời gian: ĐOÀN PHÚ TỨ
37. Đây thôn Vĩ Dạ: HÀN MẶC TỬ
36. Em tắm: BẠC VĂN ÙI
39. Một ngày ta ngoái lại: ĐINH THỊ THU VÂN
40. Bếp lửa: BẰNG VIỆT
41. Vườn trong phố: LƯU QUANG VŨ
42. Thương vợ: TRẦN TẾ XƯƠNG
Vũ Quần Phương 
(Chủ biên)
Theo http://www.saomaidata.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời Như Bình là nhà văn nổi tiếng. Chị là văn nhân đúng nghĩa, dù công việc làm báo hàng ngày bận rộn. T...