Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017

Gối đầu lên cỏ 1

Gối đầu lên cỏ 1
Gối đầu lên cỏ đó là câu chuyện của một chàng họa sĩ Tokyo dấn bước vào một thôn làng miền núi, tìm kiếm một thế giới khác. Và bằng lòng làm một lữ khách, không dấn thân. Tìm cái đẹp mà không dục vọng. Chỉ là khách trong lãng uyển bồng hồ. Nhưng anh chưa vẽ được gì. Rồi anh gặp nàng Nami, một người đẹp u uẩn với tâm hồn mù sương. Tên nàng là “diễm ảo”. Nàng như một làn hương thu hút những cánh bướm ấn tượng. Rồi một hôm, dung nhan nàng ánh lên một niềm xúc động bất ngờ trên sân ga. Và bức tranh trong tâm hồn họa sĩ cuối cùng đã tiếp nhận nét thần.
Gối đầu lên cỏ là một kiệt tác diễm ảo. Nó lững lơ trong một làn sương giữa hoang sơ và hiện đại, giữa Đông và Tây, giữa xa xưa và nay, giữa bình an và khói lửa, giữa thơ Haiku và tiểu thuyết.
Nhẹ nhàng nhưng không kém phần hấp dẫn và lôi cuốn… Đây là cuốn sách dành hay cho mọi người bên tách cà phê buổi sáng để trải lòng theo cảm xúc nhân vật.
Gối đầu lên cỏ (Kusamakura) ra đời năm 1906 như một cuốn tiểu thuyết thể nghiệm, bất thường và đẹp kỳ lạ. Nó đánh dấu một chuyến mình táo bạo của Natsume Soseki cũng như văn học Nhật vào đầu thế kỉ XX.
Về tác giả:
Natsume Soseki (9/2/1867-9/12/1916): Tên thật Natsume Kinosuke là nhà văn cận hiện đại lớn của Nhật Bản. Ông nổi tiếng vì thuộc thế hệ những trí thức tinh hoa theo khuynh hướng sáng tạo văn hóa từ cuộc đối đầu Phương Đông và phương Tây thời kỳ Minh Trị, là một trong những chủ soái của trường phái văn chương tâm lý cao sang bút chiến với chủ nghĩa tự nhiên trên văn đàn Nhật Bản những năm đầu thế kỉ XX.
Natsume Soseki được các nhà phê bình văn học đánh giá là: "một trong ba trụ cột của văn học hiện đại Nhật Bản" cùng thời Mori Ogai và Akutagawa Ryunosuke.
Lời người dịch
Natsume Soseki là một nhà văn lớn của văn học Nhật Bản hiện đại. Nét độc đáo ở ông là sự kết hợp giữa cá tính và sự chuyên nghiệp. Ðiều đó được thể hiện rõ nhất qua khuynh hướng lựa chọn sự nghiệp của nhà văn. Tuy nằm trong số những trí thức tinh hoa được chính quyền Minh Trị lựa chọn và đào tạo bài bản để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới giáo dục, Natsume Soseki đã quyết định trở thành một nhà văn chuyên nghiệp thay vì tiếp tục giữ một cương vị danh giá ở trường Ðại học Tokyo. Với tư cách là một nhà văn, ông đã đem hết nhiệt tình vào công việc sáng tác và để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ - khoảng 20 tiểu thuyết được viết trong khoảng thời gian từ năm 1905 đến năm 1916.
Natsume Soseki thường được biết đến như một cây bút phê phán hiện đại hóa. Tác phẩm của ông thường đề cập đến những bất ổn nảy sinh trong lòng xã hội Nhật Bản - một xã hội đang hiện đại hóa theo mô hình của các nước phát triển phương Tây - xuất phát từ sự va chạm giữa văn hóa truyền thống và xã hội hiện đại. Vì vậy, thế giới văn chương của Natsume Soseki là một thế giới đa dạng, trong đó người đọc có thể chiêm ngưỡng một nước Nhật cổ kính với những nét đẹp sâu lắng, dịu dàng nhưng cũng có thể bước chân vào không gian mới mẻ, phức tạp với nhiều xung đột, căng thẳng của xã hội Nhật Bản thời Minh Trị theo cách nhìn của nhà văn.
Gối đầu lên cỏ - tiếng Nhật là Kusamakura - được sáng tác năm 1906, vào thời gian mà Natsume Soseki chuyển từ công việc giảng dạy sang công việc viết văn. Ðây cũng là một tác phẩm thể hiện rõ phong cách Natsume Soseki qua nhiều đoạn văn lý luận về nghệ thuật được ký thác vào dòng suy tưởng của nhân vật chính - một chàng họa sĩ, trên con đường tìm cảm hứng sáng tạo, đã ghé lại một quán trọ có suối nước nóng trong một sơn thôn vắng vẻ, phong cảnh hữu tình. Bằng cách đó, tác giả không chỉ giới thiệu với người đọc những tác phẩm nổi tiếng cũng như quan niệm về nghệ thuật của nhiều nghệ sĩ lớn trên thế giới - cả phương Ðông lẫn phương Tây - mà còn thể hiện sự độc đáo trong quan điểm của bản thân về sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật, về cái đẹp của văn hóa Nhật Bản so với phương Tây, về những vấn đề của con người trong cuộc sống.
Mặt khác, Gối đầu lên cỏ còn là một tác phẩm kết hợp vẻ đẹp của hội họa phương Tây và thơ ca Nhật Bản, một tác phẩm giàu chất thơ mà tác giả đã tự gọi là “tiểu thuyết haiku”.
Gối đầu lên cỏ dẫn người đọc vào một thế giới như tranh vẽ, với thiên nhiên mùa xuân trên con đường lên núi và phong cảnh tuyệt mỹ của một khu nghỉ mát có suối nước nóng, có nhiều loài hoa đẹp, có những ngọn đồi trồng quýt bạt ngàn và mặt biển xanh thẳm trải rộng đằng xa. Trong thế giới này, người đọc còn có cơ hội để tiếp cận với những thành tố đặc trưng của văn hóa truyền thống Nhật Bản như thơ haiku, thơ chữ Hán, thư pháp, trà đạo, kịch No, Kabuki và đàn samisen…v.v...
Ngôn ngữ đầy chất thơ của tác phẩm, những nội dung triết lý thể hiện sự uyên bác về nghệ thuật và những bài thơ xen vào giữa những đoạn văn là sự độc đáo và vẻ đẹp riêng của tiểu thuyết này nhưng đồng thời cũng là những thách thức lớn đối với người dịch. Tuy đã cố gắng hết sức để chuyển ngữ chính xác và giữ được vẻ đẹp ngôn từ của nguyên tác cho bản dịch tiếng Việt, nhưng do những hạn chế về khả năng của người dịch cũng như trong bản thân việc dịch thuật tác phẩm văn chương, dịch phẩm này có thể vẫn còn những sai sót và những khiếm khuyết nhất định. Vì vậy, nếu được sự góp ý của quý độc giả, chúng tôi xin tiếp thu với tinh thần học hỏi và lòng biết ơn sâu sắc.

Chương 1
Vừa leo núi tôi vừa ngẫm nghĩ.
Theo lý trí thì gặp trở ngại. Theo tình cảm thì bị cuốn trôi. Theo chí hướng riêng thì bế tắc. Nhìn theo kiểu nào thì thế giới con người cũng là một nơi khó sống.
Khi cảm thấy khó sống quá thì người ta thích tìm đến nơi nào dễ chịu. Và khi nhận ra rằng chẳng có nơi nào dễ sống thì người ta làm thơ, vẽ tranh.
Tạo ra thế giới của con người chẳng phải thần linh cũng chẳng là ma quỷ, mà đơn giản chỉ là những con người yếu ớt kề cận với mình đây. Một khi thế giới do chính con người tạo ra đã là khó sống thì cũng chẳng có nơi nào khá hơn để mình tìm đến. Họa chăng là phải đến những nơi không có con người. Nhưng mà nơi không có con người thì có lẽ còn khó sống hơn thế giới của con người nữa.
Nếu thế giới mà mình không thể thoát khỏi là khó sống, thì ta hãy cố gắng thích nghi và thư giãn hết mình, và phải làm cho thế giới khó sống này trở thành một nơi dễ chịu hơn để gửi gắm cuộc đời phù du dù chỉ trong phút chốc. Chính vì điều đó mà sinh ra cái gọi là thiên chức của thi nhân và sứ mệnh của họa sĩ. Những nghệ sĩ của các môn nghệ thuật đều đáng quý vì họ đã làm cho thế giới của con người trở nên dễ chịu hơn, tâm hồn của con người trở nên phong phú hơn. Thơ ca, hội họa xua tan khổ đau trong cõi người đầy phiền muộn và mở ra trước mắt chúng ta một thế giới đẹp tươi. Âm nhạc và điêu khắc cũng thế. Nhưng nói cho cùng thì không cần thiết phải dùng nghệ thuật để miêu tả. Chỉ cần nhìn thế giới hiện lên trước mắt mình là có thể viết nhạc, làm thơ. Những âm điệu chưa được viết ra giấy đã ngân vang trong tâm hồn. Màu chưa được vẽ trên lụa mà ngũ sắc đã lấp lánh trong tâm tưởng. Chỉ cần quan sát thế giới mình đang sống, thu vào thấu kính tâm hồn những hình ảnh trong trẻo, đẹp tươi được thanh lọc từ cõi đời ô trọc là đã quá đủ rồi.
Vì lẽ đó mà nhà thơ chưa viết câu thơ nào, họa sĩ chưa vẽ bức tranh nào cũng hạnh phúc hơn cả những người giàu có, hạnh phúc hơn những vị hoàng đế oai hùng hay những kim đồng ngọc nữ của thế gian - vì họ có thể nhìn tường tận cõi người, có thể thoát khỏi những điều phiền muộn, vì họ có thể bước vào cõi thanh tịnh một cách dễ dàng, và cũng vì họ tạo ra được một thế giới nghệ thuật độc đáo, nhờ đó mà có thể thoát khỏi những trói buộc của dục vọng và lòng ích kỷ. Trải đời hai mươi năm, tôi đã hiểu thế giới này là một nơi đáng sống. Sau hai mươi lăm năm thì tôi đã hiểu ánh sáng và bóng tối chỉ là hai mặt của một vấn đề, đã biết rằng bóng sẽ xuất hiện ở bất cứ nơi nào có ánh mặt trời rọi sáng. Và bây giờ, khi ở tuổi ba mươi, tôi nghĩ thế này: niềm vui càng lớn thì nỗi buồn càng mênh mông, sung sướng càng nhiều thì đau khổ càng ghê gớm. Khi ta cố gắng thoát khỏi điều đó thì cuộc sống sẽ chẳng còn gì. Khi ta cố gắng dàn xếp lại thì thế giới sẽ sụp đổ. Tiền bạc là quan trọng, nhưng có nhiều thứ quan trọng thì ta ngủ cũng không yên vì lo lắng. Tình yêu là hạnh phúc, nhưng có hạnh phúc rồi thì người ta càng luyến tiếc cho một quá khứ thiếu tình yêu. Một kẻ quyền cao chức trọng phải làm điểm tựa cho muôn vạn dân thường, phải gánh trên vai sức nặng của toàn đất nước. Không ăn được món ngon thì tiếc. Ăn một chút thì thèm. Mà nếu ních cho đầy bụng thì khó chịu...
Tôi đang miên man suy nghĩ thì chân phải bỗng nhiên vấp phải góc của một tảng đá gồ ghề. Chân trái xoạc mạnh về phía trước để giữ thăng bằng. Và để bớt đau, tôi bèn ngồi nghỉ trên một tảng đá nhẵn nhụi cỡ chừng một mét. May mắn là hộp đựng dụng cụ vẽ tôi mang trên vai chỉ bị xốc nảy lên và tuột xuống ngang hông nhưng không hư hỏng gì.
Khi đứng lên, tôi nhìn về phía trước và thấy ở phía bên trái đường một ngọn núi trông giống như cái thùng lật úp. Trên cái nền không biết là rừng tuyết tùng hay rừng trắc bá xanh thẫm từ gốc đến ngọn, anh đào núi điểm xuyết những khóm hoa màu hồng nhạt mờ ảo trong sương. Ngay trước mắt tôi là một ngọn núi trọc cao vượt lên, đầy vẻ đe dọa. Sườn núi bị trọc phải chăng do một người khổng lồ nào đó đã vạt đi bề mặt lởm chởm và đem chôn xuống đáy thung sâu? Tôi nhìn thấy trên đỉnh núi hình như là một cây thông đỏ. Trông rõ cả khoảng trời lộ ra giữa các cành cây. Con đường trước mắt tôi một quãng bị che khuất, nhưng nhìn thấy bóng người mặc áo khoác màu đỏ đang di chuyển từ trên cao, tôi nghĩ mình có thể leo lên tới chỗ đó. Ðường đi hết sức hiểm trở.
San phẳng đất đai thì chẳng tốn mấy công sức, nhưng trong đất lại có đá to. Dù có sang phẳng đất thì cũng không làm cho đá bằng phẳng được. Người ta có thể đập nát loại đá nhỏ nhưng đá tảng thì không. Những tảng đá cứ điềm nhiên án ngữ ở chỗ đất sụt, không có vẻ gì là muốn nhường đường cho ta. Vì chẳng có cách gì thuyết phục được, ta chỉ còn cách trèo lên để vượt qua hoặc là phải đi vòng qua chúng. Thậm chí những nơi không có đá tảng cũng chẳng dễ đi chút nào. Bên phải bên trái đều nhô cao, ở giữa thì lõm sâu. Có thể hình dung đó là một khoảng đất chỉ rộng chừng hai mét được khoét thành hình tam giác mà đỉnh của nó nằm ở giữa đường. Nói là lội qua sông thì đúng hơn là đi trên đường. Nhưng vì chẳng có gì phải vội nên tôi cứ thong thả chinh phục con đường hiểm trở.
Bỗng ngay phía dưới chân tôi vang lên tiếng chim chiền chiện. Tôi nhìn xuống thung lũng nhưng chẳng thấy bóng dáng chú chim nào đang hót. Chỉ có tiếng hót vẫn thánh thót vang lên. Một chuỗi âm thanh nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Cảm giác như vô số côn trùng đang xâm nhập bầu không khí mênh mông. Trong chuỗi âm thanh ấy không hề có một khoảng lặng nào. Dường như con chim ấy phải hót cho hết những ngày xuân êm ả, hót cả ngày lẫn đêm. Nó cứ không ngừng lên cao, cao mãi. Hẳn là nó chết trong mây trời. Có lẽ nó cứ lên cao mãi rồi lẩn vào trong những đám mây, và hình hài tan biến trong trạng thái bồng bềnh đó, chỉ còn tiếng hót vang vọng giữa bầu trời.
Tôi đi vòng qua một tảng đá sắc cạnh, rẽ ngoặt về bên phải để tránh một chỗ hiểm mà nếu không nhìn thấy trước thì có thể bị ngã chỏng gọng, nhìn xuống phía dưới thì thấy mênh mông hoa cải vàng. Phải chăng, tôi nghĩ, con chim chiền chiện đã rơi về phía đó? Hay có thể chim đã bay lên từ cánh đồng rực vàng kia? Rồi tôi hình dung đàn chim rơi xuống và đàn chim bay lên gặp nhau tạo thành hình chữ thập. Cuối cùng, tôi tưởng tượng rằng trong khi rơi xuống, khi bay lên hay là khi hai đàn chim giao nhau thành hình chữ thập thì những con chim vẫn say sưa hót.
Mùa xuân làm cho mọi thứ đều uể oải. Mèo thì quên cả bắt chuột, người thì quên cả nợ nần. Ðôi khi người ta rơi vào trạng thái ngơ ngẩn mất hồn. Chỉ khi nhìn thấy cánh đồng hoa cải ở đằng xa thì mắt mới bừng tỉnh. Khi nghe tiếng chim chiền chiện thì tâm hồn trở nên trong sáng. Chim chiền chiện không hót bằng miệng mà bằng cả linh hồn. Trong những âm thanh thể hiện sự sống của linh hồn, không có gì mạnh mẽ hơn tiếng hót của loài chim ấy. Ôi, sảng khoái vô cùng! Suy ngẫm như thế này, tận hưởng sự sảng khoái như thế này chính là thi ca vậy.
Chợt nhớ bài thơ về chim chiền chiện của Shelley, tôi thử nhẩm đọc lại những câu mình nhớ, thì chỉ nhớ được có hai ba đoạn. Trong đó có mấy câu thế này:
We look before and after
And pine for what is not:
Our sincerest laughter
With some pain is fraught;
Our sweetest songs are those that tell of saddest thought.
Chúng ta nhìn trước nhìn sau
Và mong mỏi một cái gì không thể
Tiếng cười chân thực nhất của chúng ta
Với nỗi đau tê tái;
Những bài ca ngọt ngào nhất của chúng ta là những bài ca về những suy nghĩ u buồn nhất.
Quả thật nhà thơ dù có hạnh phúc đến đâu thì cũng không thể giống như chim chiền chiện, quên hết mọi điều trước sau để hát lên niềm vui sướng bằng tất cả tâm hồn. Thơ phương Tây thì khỏi phải bàn, còn thơ Trung Hoa cũng có cách diễn đạt như là “vạn cổ sầu”. Cái sầu “vạn cổ” của thi nhân có lẽ chỉ là một chút phiền muộn tan trong cốc rượu của người đời. Như vậy so với người bình thường thì thi nhân phải chịu đựng nhiều hơn, vì thần kinh của họ nhạy cảm hơn gấp mấy lần. Họ có những thú vui thanh cao vượt lên trên dục vọng tầm thường, nhưng cũng có những nỗi buồn đau vô hạn. Vậy thì phải là người suy tưởng mới có thể trở thành thi nhân.
Tôi đi qua một quãng đường bằng phẳng, bên phải là ngọn núi rậm rạp cây bụi, bên trái là cánh đồng hoa cải mênh mông. Ðôi lúc chân tôi giẫm phải hoa bồ công anh. Những cánh hoa hình răng cưa bay tản mác khắp nơi, chỉ còn lại một cái lõi màu vàng ở giữa. Khi tôi quay nhìn lại, áy náy vì đã trót giẫm chân trong lúc mải mê nhìn hoa cải, thì thấy nhụy hoa vàng vẫn còn đó giữa đài hoa hình răng cưa. Ôi những bông hoa vô tư! Và tôi lại tiếp tục dòng suy nghĩ.
Có lẽ với thi nhân thì nỗi buồn đã là cố hữu nhưng trong khoảnh khắc nghe tiếng chim chiền chiện thì tâm hồn nhà thơ chẳng vướng chút muộn phiền. Khi ngắm hoa cải cũng thấy lòng rộn ràng vui sướng. Với hoa bồ công anh hay hoa anh đào cũng thế - tôi chợt nhận ra không biết từ lúc nào mình không còn nhìn thấy hoa anh đào nữa. Khi lên miền núi hòa mình với cảnh vật thiên nhiên như thế này, những gì ta nhìn thấy hay nghe thấy đều hết sức thú vị. Không có nỗi buồn riêng nào nảy sinh từ sự thích thú này. Có chăng chỉ là sự mỏi chân, hay là không ăn được những món ngon mà thôi.
Nhưng vì sao mà lại không buồn? Ðơn giản là bởi vì ta ngắm phong cảnh cũng giống như ngắm một bức tranh, và đọc nó như đọc một bài thơ. Khi nhìn phong cảnh như là hội họa hay thi ca thì ta chẳng muốn có đất đai để mà khai thác, cũng không có ý định xây dựng đường sắt để mà thu lợi. Chính phong cảnh này - thứ phong cảnh không làm ra cơm áo hay tiền bạc - lại là phong cảnh khơi dậy niềm vui cho tâm hồn, và vì thế mà không hàm chứa nỗi đau khổ hay sự lo âu. Sức mạnh của tự nhiên đáng quý là ở đó. Chính tự nhiên đã khơi dậy tâm hồn tôi trong khoảnh khắc, gạn lọc cho thuần khiết để đưa vào thế giới trong trẻo của thi ca.
Có lẽ tình yêu cũng đẹp, lòng hiếu thảo cũng tuyệt vời và lòng trung thành hay tình yêu nước cũng rất là đáng quý. Nhưng nếu là người trong cuộc thì ta sẽ bị cuốn vào sự rắc rối của lẽ thiệt hơn, và mờ mắt vì cái đẹp hay là sự cao quý đó. Rốt cuộc ta không nhận ra được thơ ca ở nơi nào.
Ðể hiểu được điều này thì phải đứng ở vị trí của người ngoài cuộc, với sự vô tư để hiểu vấn đề. Chính vì đứng ở vị trí của người thứ ba mà chúng ta thấy kịch hay tiểu thuyết rất là thú vị. Người thích thú với việc xem kịch hay việc đọc tiểu thuyết đều bỏ qua tạm thời những chuyện thiệt hơn của bản thân mình. Anh ta là thi nhân ngay trong lúc xem và đọc ấy.
Tuy nhiên, không thể có chuyện thoát khỏi những cảm xúc của con người trong tiểu thuyết hay trong kịch thông thường. Trong tác phẩm đầy rẫy những đau khổ, giận hờn, ồn ào hay khóc lóc. Và một lúc nào đó người theo dõi cũng đau khổ, giận hờn, ồn ào hay khóc lóc theo. Có lẽ cái hay ở đây là không có sự vụ lợi của bản thân xen vào, nhưng chính vì không vụ lợi mà những tình cảm khác được khơi dậy mạnh mẽ khác thường. Thật khó chịu.
Ðau khổ, giận hờn, ồn ào hay khóc lóc là những chuyện cố hữu trong thế giới con người. Tôi cũng trải qua những điều đó trong ba mươi năm sống ở đời, và ngán đến tận cổ. Thật khổ sở khi đã chán ngấy rồi mà cứ phải xem đi xem lại những thứ này trong kịch hay trong tiểu thuyết. Thứ thơ mà tôi yêu thích không phải là kiểu thơ khơi gợi những cảm xúc tầm thường như vậy. Ðó là loại thơ từ bỏ những ham muốn đời thường, đạt đến sự thanh cao rời xa thế tục dù chỉ trong khoảnh khắc. Không có vở kịch nào, dù xuất sắc, thoát ly tình cảm con người, và cũng rất ít tiểu thuyết vượt qua chuyện đúng sai. Ðặc trưng của những tác phẩm này là không bao giờ thoát ra khỏi thế gian. Còn trong thơ ca phương Tây, vì bám vào những vấn đề của con người, ngay cả thứ thơ mang tinh thần thi ca thuần túy cũng không vượt qua sự tầm thường đó. Thứ thơ ca đó chỉ biết đến sự cảm thông, tình ái, chính nghĩa, tự do - những thứ đầy rẫy trong hội chợ phù hoa của cuộc sống đời thường. Cho dù thơ ca có bay bổng đến đâu thì vẫn bước đi trên mặt đất, không quên được chuyện áo cơm. Shelley mà có nghe tiếng chim chiền chiện thì cũng không khỏi thở dài ngao ngán.
Ðiều đáng mừng là thơ ca phương Ðông đã có những bài thơ thoát ly tình trạng đó.
“Chân rào phía Ðông tìm hái cúc
Ung dung ngắm núi tận trời Nam.”
Chỉ những câu thơ thuần khiết như thế này thì mới gợi lên khung cảnh thoát ra ngoài thế giới ngột ngạt. Câu thơ này không chỉ nói về cô gái bên hàng xóm hé nhìn qua hàng rào hay về người bạn đang công tác ở miền núi phía Nam. Nó có thể giúp ta gột sạch những muộn phiền của chuyện được mất hơn thua, đưa ta đến trạng thái vô tư, thoát tục.
“Một mình trong rừng trúc
Ðàn hát chốn thâm u
Người đời không ai biết
Trăng soi sáng tâm tư.”
Bài thơ đã mở ra cả một vũ trụ mênh mông chỉ với hai mươi chữ. Cái hay của thế giới thi ca này không phải là cái hay của Hototogisu hay Konjikiyasha[1]. Nó là sự tuyệt vời của một giấc ngủ vùi để quên đi mọi thứ, sau khi đã quá mệt mỏi vì những thứ tàu thủy, tàu hỏa, quyền lợi, nghĩa vụ, đạo đức, lễ nghĩa.
[1] Hototogisu là tạp chí thơ haiku hiện đại, ra đời vào năm Minh Trị 30 (1897). Konjikiyasha là một tiểu thuyết hiện đại thời Minh Trị của Ozaki Koyo.
Nếu thế kỷ hai mươi cần có những giấc ngủ say như vậy thì thế kỷ hai mươi cũng rất cần loại thơ ca thoát tục. Ðáng tiếc là ngày nay cả nhà thơ và người đọc thơ đều bị ảnh hưởng bởi các nhà văn phương Tây nên chẳng còn ai muốn chèo con thuyền nhỏ thong dong về với chốn đào nguyên cảm xúc. Tôi vốn không phải là một nhà thơ chuyên nghiệp nên không có ý định tuyên truyền hoặc thuyết giáo về cái hay của Vương Duy hay Uyên Minh với thế giới ngày nay. Tôi chỉ nghĩ rằng những cảm hứng như vậy thì bổ ích hơn là những buổi diễn kịch hay vũ hội. Tôi cho rằng nó còn hay hơn cả Faust hay Hamlet. Và chính vì điều đó mà tôi một mình mang giá vẽ cùng với túi họa cụ dấn bước trên con đường núi mùa xuân. Ðó là khao khát được hấp thu không khí tự nhiên trong thơ Uyên Minh, Vương Duy, mong muốn được tiêu dao trong thế giới không có những tình cảm đời thường dù chỉ là chốc lát. Ðó là một nỗi đam mê.
Vì tôi cũng là một con người tồn tại trong thế giới nên tất nhiên là dẫu mong muốn thế nào đi nữa thì chuyện thoát ly tình cảm đời thường cũng không thể kéo dài mãi được. Uyên Minh chẳng phải là người quanh năm ngắm núi Nam, Vương Duy cũng không thể ngủ thỏa thích trong rừng trúc mà không buông màn. Nếu còn thừa hoa cúc thì cứ bán hết cho cửa hàng hoa, măng mọc lên thì bán cho cửa hàng rau quả. Và tôi cũng theo cách đó. Dù có say mê chim chiền chiện và hoa cải, tôi cũng không thể nào vì thoát ly tình cảm mà thành kẻ không nhà sống trong núi được. Và ở tận nơi đây ta cũng gặp gỡ con người. Ðó có thể là những người choàng khăn thắt đai lưng, những cô gái mặc kiểu áo kimono choàng eo màu đỏ, và đôi khi còn gặp những con ngựa mặt dài hơn mặt người. Tuy ở giữa bạt ngàn rừng trắc bá, khoan khoái hít thở không khí ở nơi cao hơn mặt biển hàng mấy trăm thước nhưng vẫn không thể nào rũ bỏ hơi hướng con người. Thật ra, nơi mà tôi sẽ trọ lại tối nay trong chuyến đi leo núi để tìm sự thanh thản là khu nghỉ dưỡng ở suối nước nóng Nakoi.
Nói chung thì sự vật được xác định tùy theo cách nhìn. Leonard de Vinci đã nói với học trò rằng, hãy nghe tiếng chuông kia, chỉ có một cái chuông nhưng tiếng kêu thì có thể nghe thành nhiều kiểu. Một người đàn ông, một người phụ nữ cũng được nhìn nhận theo nhiều cách. Vì đây là chuyến đi để thanh lọc tâm hồn nên có lẽ tôi nhìn con người cũng khác so với khi sống chen chúc trong những con phố chật chội của cõi đời tù túng và ngột ngạt. Dù không thể hoàn toàn thoát ly tình cảm đời thường thì ít nhất khi xem những vở kịch No cổ điển cũng được thưởng thức một chút cảm giác bay bổng. Nhưng trong kịch No cũng có tình cảm đời thường. Không ai dám chắc là mình sẽ không khóc khi xem những vở kịch như Shichikiochi hay Sumidagawa. Tuy nhiên, đó là những vở kịch thể hiện bảy phần kỹ thuật ba phần tình cảm. Những cái hay mà chúng ta cảm nhận được ở kịch No không phải là do kỹ năng sao chép “y nguyên” những xúc cảm đời thường, mà nhờ mấy lớp áo nghệ thuật khoác lên hiện thực “như nó vốn là”, và cả những cử động chậm rãi không thể có trong đời thực.
Nếu ta xem những việc xảy ra và những người ta gặp trong những chuyến đi này như những cảnh và vai diễn trong tuồng No thì sao nhỉ? Ðiều đó không có nghĩa là loại trừ triệt để những cảm xúc đời thường, nhưng vì đây là một chuyến đi thanh lọc tâm hồn, nên cùng với việc thoát ly tình cảm thế tục thì tôi cũng cố gắng hết mình để đưa con thuyền tâm hồn tìm về với suối nguồn trong trẻo. Rõ ràng núi Nam hay rừng trúc là những cái khác hẳn về bản chất, và cũng không thể đánh đồng với chim chiền chiện hay hoa cải, nhưng tôi muốn tiếp cận những khung cảnh thiên nhiên này ở khoảng cách gần nhất có thể, và trong khoảng cách đó thử nhìn con người từ cùng một điểm quan sát. Nhà thơ Basho thậm chí còn sử dụng cả cảnh ngựa đái ở đầu giường như một tứ thơ haiku. Từ bây giờ tôi cũng sẽ nhìn tất cả mọi người mình gặp - những nông dân, thị dân, viên chức ở thôn quê hay là những ông già bà cả - như là những hình ảnh được khắc họa trong bức tranh thiên nhiên rộng lớn. Khác với những nhân vật trong tranh vẽ, những người này có cách hành xử không ai giống ai. Tuy nhiên, nếu theo cách làm của một tiểu thuyết gia bình thường - chỉ mải tìm kiếm lý do của những hành động ấy, thâm nhập vào thế giới nội tâm hay giãi bày những vướng mắc đời thường - thì chẳng có gì hay ho cả. Những con người như thế cũng có thể hoạt động.
Có thể xem những nhân vật trong tranh vẽ như là những con người đang hoạt động. Những nhân vật trong tranh vẽ dù có sinh động như thế nào thì cũng không thoát ra ngoài mặt phẳng của bức tranh. Chỉ cần tưởng tượng những nhân vật ấy bước ra khỏi bức tranh, hành động như những con người thực, thì sẽ thấy họ có thể gây gổ với ta hay kỳ kèo hơn thiệt, phiền phức biết bao. Càng phiền phức thì cái đẹp càng khó được nhìn nhận. Từ bây giờ với những người mình gặp, tôi sẽ xem họ như là những nhân vật siêu thực, cao xa, không để cả mình lẫn họ tiếp cận với ánh sáng của tình cảm đời thường. Nếu vậy thì dù đối tượng có hoạt náo đến đâu cũng không dễ làm mình rung động, nên rốt cuộc cũng giống như mình đứng trước bức tranh mà nhìn những hình người trong tranh ồn ào nhảy múa. Chỉ cần đứng cách bức tranh chừng một mét là có thể bình thản ngắm nhìn. Có thể yên tâm mà quan sát. Nói cách khác, nếu không bị chi phối bởi chuyện hơn thiệt thì có thể tập trung quan sát những động tác của họ từ góc nhìn nghệ thuật. Có thể nhập tâm để nhận xét về giá trị thẩm mỹ.
Khi tôi đi đến quyết định như thế thì bầu trời chợt thay đổi một cách kỳ lạ. Tôi cứ ngỡ những đám mây hầm hập vẫn còn giăng trên đầu nhưng không biết từ lúc nào chúng đã tản đi, trở thành một biển mây miên man trải rộng bốn bề, và mưa xuân thánh thót rơi trong cảnh tượng kỳ ảo đó. Tôi đã đi qua đám hoa cải và bây giờ đang đi giữa núi non trập trùng, nhưng vì mưa giăng mờ mịt giống như sương mù nên tôi không biết khoảng cách giữa những ngọn núi là bao xa. Ðôi khi gió thổi dạt những vầng mây trên cao, có thể nhìn thấy phía bên phải mờ mờ sườn núi màu đen. Có vẻ như ở phía trước, bên kia thung lũng lại là một dãy núi. Tôi nhìn thấy chân núi ở ngay bên trái. Từ trong màn mưa mờ mịt thấp thoáng hiện ra cây gì có vẻ như cây tùng. Vừa hiện ra đã lại biến mất. Thật kỳ lạ, tôi không rõ sự biến ảo đó là do mưa, do cây hay là do trạng thái mơ màng.
Ðường đi bất ngờ mở rộng và bằng phẳng nên có thể bước đi thoải mái, nhưng vì không chuẩn bị áo mưa nên tôi phải rảo bước đi nhanh. Những giọt mưa rơi lộp độp từ trên nón. Khi đó từ quãng đường cách chừng mười mét về phía trước có tiếng nhạc ngựa vọng đến, rồi từ trong không gian tối sầm, một người dẫn theo con ngựa thồ đột ngột xuất hiện.
- Quanh đây có chỗ nào nghỉ chân không nhỉ?
- Ði chừng hơn một cây số nữa nữa thì có một quán trà đấy. Ướt hết rồi phải không?
“Hơn một cây số kia à”, tôi thầm nghĩ và quay nhìn lại, thì bóng người dẫn ngựa phút chốc đã chìm trong làn mưa, tan biến như một ảo ảnh.
Trước mắt tôi là những giọt mưa mềm mại nặng hạt dần, rồi từng hạt bị cuốn vào trong gió. Lớp áo haori mặc ngoài ướt đẫm, rồi nước thấm vào lớp áo trong, ấm lên vì nhiệt độ cơ thể. Cảm giác hơi khó chịu nên tôi nghiêng nón bước nhanh.
Nếu hình dung con người đang ướt sũng và bước đi trong khoảng trời xám xịt mênh mông, trong màn mưa như vô vàn những mũi tên bạc bay nghiêng này không phải là ta thì sẽ lay động được hồn thơ vậy. Khi quên hết con người cá nhân của mình để có cái nhìn tuyệt đối khách quan thì trước hết, như là những nhân vật trong tranh vẽ, chúng ta giữ được sự hài hòa tốt đẹp với cảnh vật tự nhiên. Còn trong khoảnh khắc khổ sở vì trời mưa, khi mải bận tâm với đôi chân mệt mỏi vì đi bộ thì chúng ta chẳng phải là người của thơ ca hay hội họa. Khi đó ta chẳng qua chỉ là một gã thanh niên của cuộc sống đô thị tầm thường. Không nhìn ra vẻ đẹp của khói tỏa mây bay. Cũng chẳng xao lòng với chim kêu hoa rụng. Một kẻ độc hành buồn bã trên đường núi mùa xuân thì không thể hiểu thế nào là cái đẹp. Khởi đầu, ta cứ nghiêng nón mà đi. Sau đó thì cứ nhìn xuống chân mình, cắm cúi bước. Cuối cùng thì so vai thất thểu. Mưa lay những ngọn cây trước mắt ta và xua chúng về phía kẻ bộ hành đơn độc. Cảnh tượng thật khoáng đạt và hùng vĩ.
Chương 2
- Có ai ở nhà không?
Tôi cất tiếng gọi nhưng chẳng ai trả lời.
Ðứng dưới mái hiên, tôi ghé nhìn vào trong thì nhìn thấy lờ mờ một lớp cửa shoji [1] ám khói đang khép kín. Không nhìn thấy được phía bên trong cánh cửa. Năm sáu đôi dép rơm treo lẻ loi trên đầu hồi lơ đãng đong đưa. Phía dưới có bày ba hộp kẹo rẻ tiền, cạnh đó là dăm đồng tiền kẽm nằm rải rác.
[1] Cửa shoji là loại cửa trượt, thường thấy ở những ngôi nhà Nhật Bản theo kiểu truyền thống, được đóng bằng những thanh gỗ nhỏ và dán giấy phủ lên các ô vuông giữa những thanh gỗ ấy.
Tôi lại cất tiếng gọi “Có ai ở nhà không?”. Những con gà đang ngủ trên chiếc cối xay đặt trên nền đất trong góc nhà giật mình thức giấc, bắt đầu kêu “cục cục” loạn xạ. Bên ngoài ngưỡng cửa là bếp lò bằng đất nung, lúc này đang bị mưa tạt làm ướt và đổi màu. Chiếc ấm màu đen đặt trên lò không rõ là ấm làm bằng đất hay bằng bạc. Và may mắn là lửa trong lò vẫn cháy.
Vì không có ai trả lời nên tôi cứ tự tiện đi vào nhà, ngồi xuống chiếc ghế xếp. Những con gà trên cối xay vỗ cánh bay xuống. Giờ thì chúng đậu lên chiếu tatami[2]. Nếu không có tấm cửa trượt ngăn lại thì có lẽ chúng đã bay vào phía bên trong. Khi gà trống cất lên những tiếng kêu mạnh mẽ thì gà mái đáp lời bằng những tiếng nhỏ nhẹ hơn. Có lẽ chúng cho tôi là một con cáo hay con chó gì đấy. Trên ghế xếp nằm lặng lẽ một chiếc lư hương dung tích chừng 2 lít, những khoanh nhang cuộn tròn bên trong vẫn thong thả nhả khói, không để ý gì đến thời gian đã trôi qua. Mưa đang dần ngớt hạt.
[2] Loại chiếu dùng để trải sàn nhà trong những ngôi nhà Nhật Bản kiểu truyền thống.
Một lúc lâu mới nghe tiếng chân bước từ bên trong, rồi tấm cửa trượt ám khói mở ra. Một bà cụ bước ra ngoài.
Tôi đã đoán là thế nào cũng có người xuất hiện. Vì lửa vẫn đang cháy trong lò. Tiền thì vung vãi trên hộp kẹo. Còn nhang thì vẫn điềm nhiên tỏa khói. Chắc chắn là thế nào cũng phải có người. Nhưng cái kiểu bỏ quán thoải mái thế này thì hơi khác với cuộc sống ở thành thị. Và tuy gọi không có ai trả lời, nhưng cái kiểu tự ý vào nhà ngồi đợi cũng là chuyện khó chấp nhận ở thế kỷ hai mươi. Ðây quả là một nơi thú vị, và là nơi không vướng bận đời thường. Hơn nữa, vẻ mặt bà cụ vừa xuất hiện cũng làm tôi thích thú.
Cách đây hai, ba năm tôi có xem vở kịch No có tựa là Takasago, thuộc trường phái Hosho. Khi đó tôi rất ấn tượng với những hoạt cảnh đẹp của vở này. Một ông cụ vác cây chổi đi năm sáu bước trên chiếc cầu dẫn ra sân khấu, và chậm rãi quay về phía sau giáp mặt với bà cụ. Ðến bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ cảnh hai nhân vật đối diện nhau. Vì từ chỗ tôi ngồi có thể nhìn thẳng gương mặt bà cụ, nên khi tôi chợt nhận ra “ồ, đẹp quá!”, thì từ khoảnh khắc ấy hình ảnh bà đã in vào trong tôi như một bức ảnh được thấu kính tâm hồn ghi lại. Bà cụ ở quán trà có gương mặt giống hệt gương mặt của bà cụ trong vở kịch No dạo ấy, như thể cả hai đều có cùng một dòng máu chảy bên trong.
- Chào cụ, cháu xin ngồi tạm ở đây một lát.
- Vâng. Tôi không biết là có khách đến.
- Mưa lớn quá cụ nhỉ.
- Thời tiết xấu thế này, chắc là anh đi đường vất vả? Ôi, anh bị ướt hết rồi! Ðể tôi khêu lửa cho anh hong khô nhé.

- Chỉ cần khêu lửa thêm một chút, cháu ngồi gần bếp lò là sẽ khô hết thôi. Cháu ngồi đây một lúc thì hơi thấm lạnh.
- Ừ, tôi sẽ khêu lửa ngay đây. À, anh uống chút trà nhé?
Bà cụ nói thế rồi đứng dậy “xùy xùy” đuổi mấy con gà đi. Vợ chồng nhà gà kêu lên “cục cục”, nhảy từ chiếc chiếu màu nâu sẫm qua hộp đựng kẹo và bay ra đường. Con gà trống khi bay ra còn để lại trên hộp kẹo một bãi phân.
- Trà đây.
Thoáng chốc bà cụ đã bưng ra một ly trà đặt trên chiếc khay lõm. Dưới đáy cốc đã sạm đen vì chất trà bám lâu ngày, hiện lên hình ba bông hoa mận được vẽ bằng nét bút thanh tao.
- Anh dùng bánh đi.
Lần này bà cụ mang đến những chiếc bánh xoắn hình dây thừng và bánh xiên que đựng trong chiếc hộp đã bị gà giẫm lên lúc nãy. Tôi nhìn xem chỗ phân gà đã được dọn chưa, thì thấy vẫn còn nguyên trong hộp.
Bà cụ vén gọn tay áo bằng sợi dây vải choàng qua vai rồi lom khom đến trước bếp lò. Tôi lấy trong túi ngực ra cuốn tập dùng để vẽ phác thảo, vừa phác họa gương mặt bà cụ nhìn nghiêng vừa hỏi chuyện.
- Ở đây yên tĩnh, thích quá cụ nhỉ.
- Ừ, thì ở miền núi mà, như anh thấy đấy.
- Có cả chim sơn ca hót phải không?
- Ừ, vẫn hót mỗi ngày. Ở đây thì mùa hè chúng cũng hót.
- Cháu thích nghe lắm. Vì chẳng được nghe bao giờ nên rất thích.
- Rất tiếc là hôm nay... vì lúc nãy trời mưa nên lũ chim trốn đâu mất cả rồi.
Ngay lúc ấy có tiếng nổ lốp bốp trong lò, rồi bất chợt lửa đỏ cháy bùng lên thành ngọn cao gần nửa mét.
- Nào, anh đến sưởi đi. Chắc là lạnh lắm rồi. Bà cụ bảo. Tôi nhìn ra đầu hồi thì thấy một cụm khói xanh bay lên rồi tan dần, để lại làn khói mỏng vương vất dưới mái hiên.
- Ôi thích quá. Mình may mắn được sống lại rồi!
- May mà mưa cũng đã tạnh. Trên trời đã xuất hiện tảng đá Tengu[3] rồi kìa.
[3] Tengu là tên một con quái vật tưởng tượng trong văn hóa Nhật Bản, có mặt đỏ, mũi dài, trên lưng có cánh và trên tay cầm một chiếc quạt.
Một góc của dãy núi trước mặt, hứng những cơn gió núi ghê người thổi thốc qua bầu trời xuân âm u nặng trĩu, đã sáng bừng lên. Và ở hướng bà cụ chỉ, tảng đá Tengu dựng đứng như một cây cột được đẽo gọt sơ sài.
Tôi nhìn tảng đá, rồi nhìn bà cụ, rồi lại nhìn cả hai để so sánh. Với tư cách là một họa sĩ, tôi chỉ ghi nhớ hai gương mặt bà lão, đó là gương mặt bà cụ trong vở Takasago và gương mặt phù thủy núi trong tranh vẽ của Rosetsu[4]. Khi xem tranh của Rosetsu, tôi cảm thấy rợn người trước hình ảnh toàn bích về một bà lão. Tôi cho rằng một hình ảnh như thế phải được đặt vào giữa cảnh rừng lá đỏ mùa thu hay dưới ánh trăng lạnh lẽo. Ðến khi xem vở kịch No của sân khấu Hosho, tôi mới ngạc nhiên nhận ra rằng ở một bà lão vẫn có những nét biểu hiện tình cảm dịu dàng như vậy. Hẳn là chiếc mặt nạ của nhân vật ấy[5] phải là tác phẩm của một nghệ sĩ tài hoa. Tiếc là tôi không nghe rõ được tên tác giả, nhưng có thể thấy rằng thể hiện hình ảnh một bà lão như vậy là vừa sâu sắc, vừa điềm tĩnh lại vừa nồng hậu. Ðó là thứ đạo cụ không phù hợp với kiểu phông dát vàng, với gió xuân hoặc hoa anh đào. Tôi cho rằng hơn cả tảng đá Tengu, hình ảnh bà cụ mặc áo cộc tay đang rướn người chỉ về đằng xa như thế này là một cảnh tượng tuyệt đẹp trên đường núi mùa xuân. Tôi cầm cuốn sổ phác thảo lên, hy vọng ghi được hình ảnh đó nhưng ngay lúc ấy thì bà cụ đã đổi tư thế mất rồi.
[4] Nagasawa Rosetsu (1754 - 1799) là một họa sĩ Nhật Bản nổi tiếng thời Edo.
[5] Diễn viên chính trong kịch No Nhật Bản luôn đeo mặt nạ khi diễn xuất để thể hiện vai diễn.
- Trông cụ cũng quắc thước nhỉ, tôi vừa hơ lên lửa cuốn sổ đã trở nên thừa thãi trên tay, vừa nói.
- Vâng, may mắn là tôi vẫn khỏe. Vẫn cầm kim may vá, xe sợi gai, xay bột làm bánh được.
Tôi muốn được nhìn bà cụ xay bột bằng chiếc cối xay bằng đá nhưng không dám đề nghị nên đổi đề tài:
- Từ đây tới Nakoi chắc khoảng ba cây số cụ nhỉ?
- Vâng, cũng gần ba cây số. Chắc là anh định qua chỗ suối nước nóng bên ấy...?
- Cháu cũng định nghỉ lại nếu chỗ đấy không quá đông người. Nhưng để xem thế nào đã.
- Không đông đâu. Từ lúc chiến tranh thì chẳng có người đến nữa. Bên đó hầu như đóng cửa suốt.
- Lạ nhỉ. Vậy chắc là không trọ lại được rồi.
- Không, nếu đến gọi thì lúc nào họ cũng sẵn sàng.
- Chỉ có một chỗ nhà trọ thôi cụ nhỉ?
- Ừ, cứ hỏi nhà ông Shihoda thì biết ngay. Nhà giàu trong làng đấy, nhưng chẳng biết là khu nghỉ dưỡng hay là chỗ ẩn cư.
- Nếu vậy thì không có khách cũng chẳng hề gì.
- Anh mới đến lần đầu tiên à?
- Không ạ, trước đây ít lâu cháu cũng có lần đi qua rồi.
Một thoáng im lặng. Trong lúc mở sổ tay lặng lẽ phác họa mấy con gà, tôi nghe thấp thoáng tiếng nhạc ngựa leng keng văng vẳng. Những âm thanh này tự hình thành trong tôi một bản hòa âm theo nhịp điệu riêng. Tôi có cảm giác như mình nghe tiếng cối xay từ nhà bên cạnh vọng sang đều đều trong ngủ giấc ngủ lơ mơ. Tôi ngừng phác họa, ghi bên lề trang giấy đang vẽ một bài thơ:
Tiếng nhạc ngựa
I’nen lắng tai nghe
Gió xuân
Trên đường lên núi tôi đã gặp năm, sáu con ngựa. Cả năm sáu con đều được thắt đai và đeo nhạc. Khó mà hình dung đó là những con ngựa của cuộc sống ngày nay.
Ðiệu nhạc ngựa êm đềm vẳng lại đã xé tan giấc mơ về một con đường núi vắng vẻ đang giữa mùa xuân. Có chút gì vui tươi lắng sâu vào đáy của nỗi buồn trong những âm thanh ấy, giống như tiếng hát được vẽ vào trong một bức tranh.
Ðiệu nhạc ngựa
Hơn cả tiếng đàn Suzuka
Mưa xuân.
Bài thơ lần này tôi viết thành dòng nghiêng. Viết ra rồi, tôi lại cảm thấy như đây không phải là thơ của mình.
- Lại có ai đến đấy. Bà cụ nói, nửa như đang độc thoại.
Bởi vì chỉ có một con đường mùa xuân này thôi, nên người đi người về ai cũng ghé vào quán nước. Có lẽ một trong số năm, sáu con ngựa mà trước đây tôi đã gặp khi chúng đi xuống núi, bây giờ quay trở lên, và mỗi lần nghe tiếng nhạc leng keng thì bà cụ đều nghĩ rằng có ai đó đến. Chắc hẳn bà cụ đã sống qua không biết bao nhiêu mùa xuân từ trước đến nay bên con đường cô tịch này, trong ngôi làng nhỏ bé ngập tràn hoa mà đếm mãi tiếng nhạc ngựa cho đến tận bây giờ, khi mái đầu bạc trắng.
Tiếng nhạc ngựa
Nhuộm mái đầu bạc trắng
Vãn xuân
Tôi viết bài thơ trên vào trang kế tiếp nhưng không thể diễn đạt hết cảm xúc của mình. Cảm thấy cần phải trau chuốt ngôn từ thêm chút nữa nên tôi cứ suy nghĩ và chăm chăm nhìn vào đầu chiếc bút chì. Tôi muốn thể hiện cô đọng trong mười bảy âm tiết những tứ thơ “tóc trắng”, “giai điệu ngày xưa”, và chọn câu mở đầu là “Tiếng nhạc ngựa”, rồi cũng thêm cả quý ngữ chỉ mùa xuân nữa[6]. Trong khi đang loay hoay với những tứ thơ thì có tiếng ngựa thồ dừng lại trước nhà, rồi ai đó cất tiếng:
[6] Quý ngữ là từ chỉ mùa, một đặc trưng của thể thơ haiku. Theo quy ước của thể thơ này, quý ngữ có thể là từ gọi tên mùa hoặc là tên gọi một hình ảnh đặc trưng của một mùa nào đó trong năm, chẳng hạn như hoa anh đào là hình ảnh tượng trưng cho mùa xuân, chim quyên tượng trưng cho mùa hạ...v.v...
- Xin chào!
- Ồ, anh Gen đấy à? Lại đi xuống phố hả?
- Cụ cần gì thì cứ bảo cháu nhé.
- Ừ nhỉ, nếu anh có đi qua khu phố Kaji thì lấy giúp cho con bé nhà tôi một lá bùa [7] ở chùa Reigan nhé.
[7] Chùa ở Nhật Bản thường bán những lá bùa cho khách đến thăm. Khách mua những lá bùa này với mục đích cầu sức khỏe, hạnh phúc...v.v...
- Vâng, cháu sẽ mang về. Một lá thôi phải không? Cô Aki đã được gả về nơi tử tế và sống hạnh phúc rồi, phải không cụ?
- Giờ thì cũng may mắn là chưa có chuyện gì. Ừ, thì cũng có thể nói là hạnh phúc.
- Tất nhiên là hạnh phúc chứ, thưa cụ. Chỉ cần so sánh với cô gái ở chỗ Nakoi kia thì biết.
- Ừ, tội nghiệp thật đấy. Người đẹp như thế mà... Dạo này mọi chuyện có khá hơn không?
- Ôi, vẫn như mọi khi thôi ạ.
- Rõ khổ! - Bà cụ thở dài sõng sượt.
- Ðúng là khổ thật. - Anh Gen vuốt mũi con ngựa.
Những giọt nước mưa từ bầu trời xa thẳm rơi xuống vẫn còn đọng lại trên tán cây anh đào núi rậm cành, lúc này bị một cơn gió thổi qua cuốn khỏi nơi trú ẩn tạm thời, rơi xuống lộp độp. Con ngựa giật mình, hất chiếc bờm dài. Tiếng anh Gen kêu “Họ!” hòa cùng tiếng nhạc ngựa leng keng đã kéo tôi ra khỏi dòng suy tưởng.
Bà cụ bảo:
- Anh Gen này, tôi vẫn còn nhớ rõ, như đang thấy trước mắt mình, hình ảnh cô ấy lúc đưa dâu. Áo hoa dài tay, tóc búi cao kiểu takashimada[8], ngồi trên lưng ngựa...
[8] Kiểu búi tóc của phụ nữ Nhật Bản khi mặc kimono, đặc biệt các cô dâu thường búi tóc kiểu này khi mặc trang phục truyền thống trong lễ cưới.
- Ðúng rồi. Không phải thuyền mà là ngựa. Có nghỉ lại ở đây cụ nhỉ.
- Ừ. Rồi khi ngựa của cô dâu dừng lại dưới cây hoa đào kia thì hoa rơi lả tả, rắc lốm đốm lên cả mái tóc đã được búi công phu.
Tôi lại mở sổ ký họa. Cảnh này có thể đi vào tranh vẽ, mà cũng là một tứ thơ. Tôi thử tưởng tượng hình ảnh cô dâu lúc đó, rồi viết rằng:
Cô dâu trên lưng ngựa
Lộng lẫy lướt qua
Mùa hoa
Ðiều kỳ lạ là, tôi có thể hình dung rõ trước mắt mình hình ảnh về trang phục, mái tóc của cô dâu, cả con ngựa và hoa anh đào, nhưng chỉ riêng gương mặt cô thì không sao mường tượng được. Trong lúc tôi đang suy nghĩ xem nên vẽ gương mặt kiểu này hay kiểu khác, thì đột nhiên gương mặt nàng Ophelia trong tranh vẽ của Millais[9] hiện lên lắp vừa vặn vào bên dưới mái tóc búi cao của cô dâu. Không được rồi, tôi xóa vội những nét vẽ mà mình vừa phác thảo một cách thận trọng. Hình ảnh về trang phục, mái tóc, con ngựa và hoa anh đào phút chốc đã biến mất trong tôi, chỉ có hình ảnh nàng Ophelia trôi trên dòng nước với hai tay chắp lại là vẫn chập chờn trong tâm tưởng, như một làn khói mờ ảo không thể nào quét sạch bằng chổi được. Trong tôi dậy lên một cảm giác lạ lùng khó tả, như thể vừa nhìn thấy sao chổi kéo một vệt sáng ở đuôi quét ngang qua bầu trời.
[9] John Everett Millais (1829 - 1896) là họa sĩ người Anh.
- Thôi xin phép cụ, cháu phải đi đây. - Anh Gen cất tiếng chào.
- Lúc về anh lại ghé chơi nhé. Có lẽ mưa to lại làm cho đoạn đường “bảy khúc quanh” khó đi hơn đấy.
- Vâng, chắc là hơi vất vả.
Anh Gen đáp lời rồi quay đi. Con ngựa cũng bước theo sau. Tiếng nhạc cứ leng keng leng keng mãi.
- Anh chàng đấy ở Nakoi phải không cụ?
- Vâng, anh Genbei ở Nakoi đấy.
- Anh ấy đã từng đưa cô dâu vượt đèo trên lưng ngựa kia à?
- Trong lễ đưa cô gái nhà Shihoda xuống làm dâu dưới phố, anh Genbei đã cầm cương con ngựa chở cô dâu. Ngày tháng trôi nhanh quá, mới đây mà đã năm năm rồi.
Những ai chỉ khi đứng trước gương mới thấy buồn phiền vì tóc mình đã bạc là người hạnh phúc. Còn như bà cụ này, chỉ nhận ra thời gian năm năm trôi nhanh khi đếm ngón tay, thì có lẽ đã gần thoát tục rồi.
- Chắc là đẹp lắm nhỉ. Ước gì cháu được nhìn cảnh ấy.
Bà cụ cười to:
- Bây giờ cũng nhìn được đấy chứ. Nếu anh đến chỗ suối nước nóng thì chắc chắn là cô ấy sẽ ra chào đấy.
- Ồ, bây giờ cô ấy vẫn ở trong làng đây ạ? Giá mà cô ấy vẫn mặc áo cưới truyền thống dài tay và búi tóc kiểu cô dâu nhỉ!
- Nếu mà anh đề nghị thì cô ấy sẽ mặc cho xem đấy.
Tôi nghĩ làm sao mà có chuyện như thế được. Nhưng bà cụ có vẻ rất nghiêm túc. Một chuyến đi tìm kiếm sự thoát ly tình cảm đời thường mà không gặp những chuyện thế này thì còn gì là thú vị!
- Cô ấy giống hệt nàng Nagara. - Bà cụ bảo.
- Giống gương mặt ạ?
- Không. Giống về hoàn cảnh ấy.
- Thế ạ? Nhưng nàng Nagara ấy là ai thế?
- Nghe nói ngày xưa ở làng có một cô gái rất xinh đẹp, con của một gia đình giàu có. Người ta gọi là nàng Nagara.
- Thế à?
- Có hai người đàn ông cùng yêu cô ấy đấy, anh ạ.
- Thế đấy!
- Không biết nên ngả về phía chàng Sasada hay chàng Sasabe, suốt ngày cô ưu tư sầu muộn. Vì không dứt khoát được nên cô rất khổ tâm. Cô đã trầm mình xuống sông tự vẫn, sau khi đọc bài thơ:
Rồi mùa thu sang
Giọt sương mong manh
Tan trên đầu ngọn cỏ
Cuộc đời tôi cũng thế
Sẽ tan vào hư vô.
Tôi không hề nghĩ là mình lại gặp được một sơn thôn thơ mộng thế này, với một bà lão hết sức thú vị, và còn được nghe những câu chuyện xưa cũ bằng một thứ ngôn ngữ cổ xưa và thanh tao đến thế!
- Từ đây đi về phía đông khoảng gần một cây số thì sẽ gặp một ngôi mộ hình tháp năm tầng. Nhân tiện trên đường đi anh có thể ghé thăm mộ của cô gái ấy.
Tôi thầm nhủ mình nhất định phải ghé xem. Rồi bà cụ kể tiếp:
- Cô gái ở Nakoi cũng có hai anh chàng theo đuổi. Một anh thì cô gặp khi đi học ở Kyoto, còn anh kia là người giàu có nhất ở vùng này.
- Ồ, vậy cô ấy phải lòng anh nào?
- Bản thân cô ấy thì nhất định muốn gắn bó với anh chàng ở Kyoto, nhưng vì nhiều lý do, bố mẹ cô đã gả cô cho người ở vùng này...
- May mà cô ấy không trầm mình xuống sông đấy nhỉ.
- Chuyện là... anh chàng này vì ngưỡng mộ mà muốn cưới cô ấy nên có lẽ cũng rất chiều chuộng cô. Nhưng cô gái thì vốn mang tâm lý bị cưỡng chế nên không hòa hợp được với chồng, vì thế bố mẹ cô cũng rất lo lắng. Rồi khi chiến tranh xảy ra thì ngân hàng nơi chồng cô làm việc bị giải thể, và cô ấy về lại Nakoi. Thiên hạ chỉ trích cô đủ điều, cho rằng cô là người bạc tình, không nhân nghĩa. Cô vốn là người rất hiền lành nhút nhát nhưng dạo này hay nổi loạn, mỗi khi ghé lại đây anh Genbei đều nói rằng mọi việc có vẻ là không ổn...
Nếu mà nghe tiếp thì câu chuyện sẽ mất hay. Giống như khi ta sắp bay bổng lên cõi tiên thì bỗng có ai đó giằng níu lại. Tôi đã mạo hiểm vượt qua những đoạn đường khúc khuỷu để đến được nơi này, nên nếu mà sơ hở để bị kéo trở lại thế giới trần tục thì thật là phí công vô ích cho một cuộc dấn thân. Nếu ta lưu tâm quá mức đến những chuyện đời thường, thì mùi tục lụy sẽ thấm vào da thịt, làm dơ bẩn và nặng thêm thân xác.
- Cụ ạ, con đường này dẫn đến Nakoi có phải không? Tôi đặt mấy đồng tiền lẻ lên chiếc bàn nhỏ và đứng dậy.
- Từ chỗ mộ tháp năm tầng rẽ sang bên phải thì có một con đường tắt khoảng chừng tám trăm mét. Ðường hơi xấu nhưng hình như những người trẻ tuổi thì thích đi lối ấy hơn... Chỗ tiền nước này hơi nhiều đấy... Thôi anh đi cẩn thận!.
Chương 3.1
Ðêm qua thật lạ lùng.
Lúc tôi đến nhà trọ thì đã tám giờ tối, nên tất nhiên tôi chẳng nhận ra cách bài trí căn nhà hay khu vườn là theo kiểu phương Ðông hay phương Tây nữa. Tôi được dẫn đi lòng vòng một hồi lâu theo lối đi có vẻ là một dãy hành lang ngoằn ngoèo, cuối cùng thì đến một căn phòng nhỏ, rộng chừng sáu chiếu[1]. Khác hẳn quang cảnh khi tôi ghé lại trước đây. Ăn tối xong, tôi đi tắm rồi trở về phòng uống trà thì có một cô gái đến xin phép dọn phòng.
[1] Theo truyền thống văn hóa Nhật Bản, diện tích của phòng ở được tính theo số lượng chiếu trải sàn.
Ðiều hết sức kỳ lạ là tất cả mọi việc, từ việc tiếp đón khi tôi mới đến, phục vụ ăn tối, hướng dẫn khu vực tắm nước nóng cho đến việc dọn dẹp trong phòng, nhất nhất đều do cô gái này phụ trách. Và rất hiếm khi cô mở miệng. Kiểu cách thì hết sức quê mùa. Khi dẫn tôi đi lòng vòng qua lối đi giống như là cầu thang ngoài hành lang, cô thắt một chiếc obi[2] màu đỏ chẳng hợp chút nào, tay cầm một cây đèn kiểu cổ, rồi vẫn chiếc obi và cây đèn lúc dẫn tôi đi thăm thẳm xuống lối cầu thang ấy để đến bể tắm nước nóng. Có cảm giác như mình đang đi lại trong một bức tranh.
[2] Kiểu thắt lưng rộng bản, phụ nữ Nhật thường dùng khi mặc kimono.
Trong bữa ăn, cô nói rằng vì những phòng khác chưa được dọn dẹp do dạo gần đây vắng khách, nên tôi chịu khó ở tạm trong gian phòng vẫn dùng cho gia đình. Trải sàn xong, cô “chúc ngủ ngon”, tiếng nói nhỏ và chậm rãi, nghe có vẻ ấm áp tình cảm đời thường. Rồi cô ra khỏi phòng, tiếng bước chân xa dần phía dưới đoạn cầu thang khúc khuỷu. Sau đó thì mọi thứ chìm trong yên lặng, giống như không có sự tồn tại của con người.
Từ lúc sinh ra đến giờ tôi chỉ mới trải nghiệm như thế này một lần. Hồi ấy tôi đã từng đi xuyên qua tỉnh Boshu từ Tateyama, đi bộ dọc theo bờ biển từ Kazusa đến Choshi. Có một đêm tôi nghỉ lại ở một chỗ nọ. Chỉ có thể nói là “một chỗ nọ” vì không còn cách nào khác. Bây giờ thì tôi đã quên mất tên gọi vùng đất đó và quên cả tên nhà trọ ấy rồi. Vấn đề là tôi không biết nơi mình trọ lại khi ấy liệu có phải là một quán trọ chăng. Trong gian nhà cao và rộng chỉ có hai người phụ nữ. Khi tôi hỏi xin tá túc, người phụ nữ lớn tuổi hơn nhận lời, và cô gái trẻ tuổi dẫn tôi lên phòng.
Chúng tôi đi qua nhiều căn phòng rộng nhưng đã xuống cấp để đến gian phòng ở phía trong cùng trên tầng lửng. Khi tôi vừa bước được ba bước từ hành lang để vào phòng thì bụi trúc tựa vào dưới mái hiên đón gió đêm rì rào chợt lả ngọn qua vai rồi sượt qua mái tóc làm tôi thoáng rùng mình. Tấm ván làm ban công đã cũ đến rệu rã. Và khi tôi bảo rằng năm tới chắc là măng tre sẽ đâm xuyên qua ban công rồi mọc khắp phòng thì cô gái trẻ không nói gì mà chỉ cười tủm tỉm rồi quay đi.
Tối hôm ấy những cành tre cứ rít lên kẽo kẹt ở đầu giường làm tôi không ngủ được. Khi tôi mở tấm cửa trượt thì nhìn thấy một khu vườn mọc đầy cỏ dại. Dưới ánh trăng đêm hè vằng vặc, tôi phóng tầm mắt quan sát thì thấy ngay phía trước mặt mình ở đằng xa cỏ mọc dồn thành đụn cao như những ngọn đồi lớn trải dài, và chẳng có hàng rào hay bức tường nào cả. Ngay phía bên kia đồi cỏ là đại dương bao la cuồn cuộn sóng như đe dọa thế giới con người. Tôi cứ mở mắt chong chong cho đến khi trời sáng, nằm chịu đựng trong chiếc mùng kỳ lạ mà nghĩ rằng phải chăng đây là cảnh tượng được miêu tả trong loại truyện kusazoshi[3].
[3] Kusazoshi là một loại tiểu thuyết bình dân, phổ biến vào khoảng trung kỳ và hậu kỳ thời Edo (1603 - 1867).

Sau đó tôi cũng đi nhiều nơi nhưng cho đến đêm vừa rồi mới trải nghiệm cảm giác như lần ấy, khi ở lại quán trọ Nakoi.
Tôi nằm ngửa lúc đi ngủ, khi tình cờ mở mắt nhìn lên thì thấy ở phía trên cửa trượt một bức thư pháp lồng trong chiếc khung sơn màu đỏ. Dù đang ở tư thế nằm tôi cũng có thể đọc rõ dòng chữ: “Bóng trúc quét thềm, không dấy bụi”, và cũng thấy rõ tên Daitetsu ghi trên đó. Mặc dù không hiểu gì về thư pháp nhưng tôi vốn rất thích chữ viết của hòa thượng Kosen thuộc phái Obaku[4].
[4] Obaku là tên của một phái Thiền Nhật Bản, do Thiền sư Obaku sáng lập, tách ra từ phái Thiền Lâm Tế.
Các vị sư như Ingen, Sokuhi, Mokuan mỗi người đều có nét tài hoa riêng, nhưng chữ viết của Kosen là sắc sảo và điêu luyện nhất. Khi nhìn dòng chữ này, từ nét bút cho đến cách viết, tôi cứ bị ám ảnh bởi cảm giác đó là chữ của Kosen. Nhưng vì tên Daitetsu đã được ghi rõ ràng nên chắc là không phải. Như vậy thì có lẽ phái Obaku còn có một nhà sư tên là Daitetsu. Nhưng màu giấy thì vẫn còn rất mới. Chắc hẳn là bức chữ này mới được viết trong thời gian gần đây.
Tôi trở mình nằm nghiêng. Và nhìn thấy bức tranh hạc của Jakuchu[5] treo ở hốc tường[6]. Quan sát những tác phẩm nghệ thuật trong phòng bằng con mắt nghề nghiệp, tôi công nhận bức tranh này là xuất sắc nhất ở đây. Tranh hạc của Jakuchu nói chung là có nhiều sắc thái tinh tế. Nhưng đặc biệt ở bức tranh này những con hạc với thân hình như quả trứng phủ lông mềm mại, đứng mảnh khảnh trên một chân hiện lên qua nét vẽ phóng túng và dứt khoát, ngay cả phần đầu nhọn của những chiếc mỏ dài cũng toát ra vẻ thanh thoát tự nhiên. Kề bên hốc tường có một chiếc kệ và một chiếc tủ xếp nối tiếp nhau. Tôi không biết có những gì bên trong chiếc tủ ấy.
[5] Ito Jakuchu (1716 - 1800) là một họa sĩ Nhật Bản thuộc trường phái Kano, chuyên vẽ tranh sơn thủy, đặc biệt nổi tiếng với loại tranh hạc.
[6] Hốc tường là một vị trí được quy ước trong nhà ở Nhật Bản truyền thống, là nơi trang trọng nhất của ngôi nhà, thường được trang trí bằng một bức tranh hoặc thư pháp treo tường và một bình hoa đặt trên sàn nhà.
Rồi tôi chìm vào một giấc ngủ êm đềm. Và đi vào giấc mơ.
Nàng Nagara mặc áo kimono tay dài, cưỡi con ngựa trắng đi qua hẻm núi. Ðột nhiên, hai anh chàng Sasada và Sasabe phóng ra, giằng kéo cô từ hai phía. Cô gái bỗng nhiên biến thành nàng Ophelia, nằm trên cành liễu, vừa trôi theo dòng sông vừa cất lên giọng hát mượt mà. Ðịnh cứu cô gái, tôi cầm một cây sào dài chạy theo đến tận Mukojima. Cô gái không có vẻ gì là đau khổ, vẫn tươi cười hát vang và trôi vô định trên dòng nước. Tôi vác cây sào, ời ời gọi với theo.
Ðến đấy thì tôi tỉnh giấc. Phía dưới cánh tay đổ mồ hôi. Tôi biết mình vừa trải qua một giấc mơ lạ lùng, cái phàm tục pha lẫn với sự thanh thoát. Ngày xưa, Thiền sư So Daie có nói rằng, khi đã ngộ đạo rồi thì tâm ý sáng suốt không có gì vướng bận, nhưng chỉ trong giấc mơ là vẫn còn xuất hiện dục ý. Trong một thời gian dài tôi đã khổ sở vì suy ngẫm điều đó, mãi đến bây giờ mới hiểu ra. Những người lấy nghệ thuật làm lẽ sống nếu không gặp những giấc mơ đẹp thì không phát triển được. Nhưng một giấc mơ như thế này thì chẳng đi vào hội họa hay thơ ca gì cả, tôi nghĩ thế và định ngủ tiếp thì chợt nhận ra không biết từ lúc nào ánh trăng đã chiếu lên cửa trượt, in bóng mấy cành cây nghiêng nghiêng. Một đêm mùa xuân thật là trong trẻo.
Hình như trong trạng thái mơ màng tôi nghe có tiếng ai đang khe khẽ hát. Tôi lắng tai nghe, không hiểu là tiếng hát trong giấc mơ đi vào thế giới này, hay là giọng hát từ cuộc đời thực đã len vào thế giới của mộng ảo xa xôi. Ðúng là có ai đang hát thật. Một chất giọng trầm ấm và êm dịu, một chuỗi âm thanh ngân nhẹ mơ hồ trong một đêm xuân mà người ta không nỡ ngủ. Ðiều kỳ lạ là tôi không chỉ nghe được giai điệu mà còn nghe loáng thoáng ca từ, mặc dù tiếng hát từ xa vẳng lại nên khó mà nghe rõ được. Ðó là những câu trong bài thơ của nàng Nagara, được lặp đi lặp lại nhiều lần:
Rồi mùa thu sang
Giọt sương mong manh
Tan trên đầu ngọn cỏ
Cuộc đời tôi cũng thế
Sẽ tan vào hư vô.
Tiếng hát mà thoạt nghe có vẻ như vang lên gần chỗ mái hiên đã nhỏ lại và xa dần. Khi điều gì chấm dứt đột ngột, ta sẽ cảm thấy hơi bất ngờ, nhưng cảm giác hụt hẫng chỉ thoáng qua. Một giọng hát có kết thúc rõ ràng sẽ tạo cho người nghe cảm giác về một sự hoàn chỉnh. Còn khi nghe cái gì cứ kéo dài mãi và nhỏ dần đi một cách tự nhiên rồi biến mất không biết từ lúc nào thì chúng ta cũng rút lại từng giây, chia nhỏ từng phút trong tâm trạng hồi hộp vô cùng. Trong sâu thẳm bài hát này có nỗi phấp phỏng như tâm trạng của một người vợ bên người chồng hấp hối nhưng chưa tắt thở, như khi ta nhìn một ngọn nến sắp tàn nhưng vẫn leo lét cháy. Có vô vàn những nỗi sầu muộn về mùa xuân trần thế mong manh.
Từ nãy đến giờ tôi vẫn nằm trong giường để nghe, nhưng khi giọng hát xa dần thì tai tôi cứ muốn đuổi theo những âm thanh ấy, dù biết rằng mình đang bị mê hoặc. Có cảm giác khi tiếng hát càng nhỏ lại thì tai tôi càng thể hiện vai trò của chúng và muốn bay theo dấu vết của những âm thanh đó. Trong khoảnh khắc trước khi tiếng hát tan biến hẳn, tôi không chịu nổi đã bất giác tung mền dậy và mở toang cánh cửa. Ngay lập tức từ đầu gối tôi trở xuống ngập trong ánh trăng chênh chếch. Và bóng những cành cây đong đưa trên bộ quần áo ngủ tôi đang mặc.
Lúc vừa mới mở cửa tôi không hề chú ý đến điều đó. Tôi nôn nóng tìm kiếm tiếng hát đã thôi thúc đôi tai mình... Và kia, một bóng người mờ ảo hiện ra dưới ánh trăng lạnh lẽo, đang trầm mặc tựa vào một gốc cây hình như là hải đường. Trong khoảnh khắc mà tôi vừa thoáng nghĩ có phải người ấy chăng, thậm chí tôi còn chưa kịp xác nhận điều đó trong ý thức thì cái bóng đen kia đã giẫm lên bóng hoa đi về hướng bên phải. Rồi cánh cửa gian phòng ở góc dãy nhà, kề sát phòng tôi đang ở khẽ mở ra, một dáng con gái cao cao lướt nhanh vào bên trong, biến mất khỏi tầm nhìn.
Tôi vẫn đứng một lúc lâu trong tâm trạng bồi hồi, tay vịn vào cánh cửa trượt, trên người chỉ có một lớp áo yukata mà quán trọ dành cho du khách, và ngay khi sực tỉnh thì nhận ra tuy đã vào mùa xuân nhưng trên núi vẫn còn khá lạnh. Tôi quay lại chui vào mớ chăn mền bỏ trống và tiếp tục suy nghĩ. Tôi lấy chiếc đồng hồ bỏ túi đặt dưới gối ra xem thì thấy hơn một giờ mười phút, rồi lại đặt đồng hồ vào dưới gối và suy nghĩ tiếp. Chắc hẳn không phải là ma. Nếu không phải ma thì là người, mà người thì phải là phụ nữ. Hay có thể là cô con gái trong nhà này. Nhưng nếu là cô gái đã bỏ chồng về nhà mà nửa đêm lại ra khu vườn tiếp nối những ngọn đồi hoang dại thế này thì có vẻ hơi bất ổn. Nhưng dù sự thật là thế nào thì tôi cũng khó mà trở lại giấc ngủ. Lại thêm chiếc đồng hồ đặt dưới gối cứ kêu tích tắc. Tôi chưa từng để ý đến âm thanh của chiếc đồng hồ bỏ túi, nhưng riêng đêm nay thì tiếng kêu của nó cứ như bảo tôi “Ðừng ngủ, đừng ngủ!” và thôi thúc “Suy nghĩ tiếp đi nào!”. Thật quái lạ!
Ngay cả những gì đáng sợ nếu ta nhìn nó đúng như là điều đáng sợ thì cũng có thể trở thành cảm hứng thơ ca. Nếu nhìn những điều kỳ lạ một cách độc lập từ điểm nhìn khách quan thì cũng có cảm hứng vẽ tranh. Cũng theo cách đó mà chuyện thất tình trở thành đề tài của nghệ thuật. Nếu quên đi sự đau khổ vì thất tình, chỉ nhớ đến một cách rõ ràng và khách quan những cảm xúc dịu dàng, sự thấu hiểu lẫn nhau, nỗi buồn lắng đọng, hay thậm chí là bản thân trạng thái tràn ngập đau khổ vì thất tình, thì những điều đó sẽ trở thành chất liệu của văn chương hay mỹ thuật. Cũng có trường hợp người ta tưởng tượng ra chuyện thất tình không có thực, rồi tự mình ôm lấy phiền muộn và khao khát niềm vui.

Chương 3.2
Người bình thường thì bảo rằng những người như thế là ngu ngốc, điên rồ. Tuy nhiên, theo quan điểm nghệ thuật thì phải nói rằng, việc tự mình vẽ ra sự bất hạnh rồi thưởng thức và sống trong đó cũng hoàn toàn giống như tự mình vẽ ra trong đầu một cảnh tượng không có thực rồi vui vẻ trong thế giới tưởng tượng kia. Ở điểm này thì biết bao nghệ sĩ trên thế giới (không biết trong cuộc sống đời thường như thế nào) nhưng trong nghệ thuật thì so với người bình thường đều là những kẻ ngu ngốc và điên rồ. Khi mang dép rơm du hành thì suốt ngày chúng ta cứ luôn miệng kêu than vì cực nhọc, nhưng kể chuyện ngao du cho người khác nghe thì chẳng khổ sở chút nào. Những chuyện thú vị, vui vẻ thì đã đành, ngay cả những chuyện buồn trong quá khứ người ta cũng có thể nói huyên thuyên rôm rả. Ðây không phải là chuyện cố ý dối mình lừa người. Chẳng qua là trong những cuộc du hành thì chúng ta chỉ là người bình thường, nhưng trong lúc kể chuyện ngao du thì chúng ta mang thái độ của thi nhân, nên mới có chuyện mâu thuẫn như thế. Như vậy, có thể gọi nghệ sĩ là những người sống trong thế giới chỉ có ba góc, vì thế giới bốn góc quen thuộc đã bị vạt mất một góc dành cho những nhận thức bình thường.
Vì vậy, trong tự nhiên hay trong thế giới con người cũng thế, ở những nơi mà đám đông bình thường tỏ ra e sợ và co cụm lại thì nghệ sĩ nhìn ra được vẻ lung linh vô ngần và thấy được sự quý giá tột cùng của nghệ thuật. Những người bình thường gọi đó là mỹ hóa. Nhưng thực tế thì chẳng có gì là mỹ hóa cả. Trong thế giới vật chất này từ xưa đã lấp lánh thứ ánh sáng rực rỡ của cái đẹp. Chỉ vì có cái bóng mờ trong mắt làm ta không nhìn rõ, vì những suy tư ngổn ngang trong lòng mà không nhận rõ chân tướng sự vật. Vì không dứt được những phiền muộn của cõi đời, vì bị bó buộc bởi những chuyện được mất, vinh nhục và bị những tham vọng ám ảnh nên người ta cứ sống mà không chú ý gì đến giá trị thẩm mỹ, trước khi được biết vẻ đẹp của đoàn tàu hỏa trong tranh vẽ của Turner[7], hay vẻ đẹp của linh hồn trong tranh Okyo[8].
[7] Joseph Mallord William Turner (1775 - 1881) là họa sĩ người Anh, thuộc trường phái ấn tượng.

[8] Maruyama Okyo (1733 - 1795) là họa sĩ Nhật Bản thời Edo, vẽ tranh theo phong cách dung hợp giữa hình thức tả thực trong hội họa phương Tây và tranh trang trí Nhật Bản truyền thống.
Nếu xem cái bóng mà tôi vừa nhìn thấy chỉ là một hiện tượng đơn thuần thì cho dù ai nhìn hay nghe ai cũng là một hình ảnh nhiều thi vị. Suối nước nóng trong thôn vắng, bóng hoa trong chiều xuân, tiếng ngâm thơ dưới ánh trăng hay một hình bóng trong đêm trăng mờ đều là những chủ đề thu hút giới nghệ sĩ. Vậy mà giờ đây, với một chủ đề nên thơ ngay trước mắt mình, tôi lại đi xét nét vớ vẩn và đưa ra những bình luận không cần thiết. Thứ đạo lý cứng nhắc đã xâm phạm vào một thế giới tao nhã khó mà tìm được, thứ thành kiến hẹp hòi giẫm đạp lên sự thăng hoa không dễ có. Như thế thì việc tìm kiếm sự thanh thoát cũng trở nên vô nghĩa. Nếu không đào luyện tinh thần nhiều hơn nữa thì không thể khoác lác trước mọi người rằng mình là nhà thơ hay là họa sĩ. Tôi từng nghe có câu chuyện kể rằng, họa sĩ người Ý ngày xưa là Salvator Rosa vì muốn tìm hiểu về trộm cắp mà bất chấp sự nguy hiểm của bản thân để gia nhập vào một toán sơn tặc. Một khi đã dứt khoát cầm lấy cuốn sổ tay phác họa cho vào túi rồi dấn bước vào cuộc hành trình, nếu không có quyết tâm khám phá như vậy thì thật đáng xấu hổ.
Trong trường hợp này, để trở về với cái nhìn có hồn thơ thì chỉ cần tạo ra không gian để đặt cảm xúc của bản thân trước mặt mình, rồi lùi lại một bước để khám phá cảm xúc ấy một cách khách quan trong trạng thái điềm tĩnh. Nếu là nhà thơ thì phải có trách nhiệm tự mổ xẻ bản thân và cho mọi người biết rõ bệnh trạng của mình. Có nhiều cách để làm điều đó nhưng cách thuận tiện nhất là khi có bất cứ ý tưởng gì cũng ghi lại bằng thể thơ mười bảy chữ[9]. Thơ mười bảy chữ về hình thức là thể thơ dễ làm nhất, nên người ta có thể làm được dễ dàng ngay cả khi đang rửa mặt, khi ở trong nhà vệ sinh hay trên xe điện. Nhưng không nên khinh suất mà cho rằng làm được thơ mười bảy chữ một cách dễ dàng thì cũng dễ trở thành nhà thơ, và bởi vì trở thành nhà thơ cũng là một kiểu giác ngộ nên cho rằng giác ngộ cũng là điều đơn giản. Theo tôi thì cái gì càng đơn giản hiệu quả lại càng cao, nên ngược lại càng đáng được tôn trọng. Giả sử ta đang có điều gì tức giận, thì ta ghi lại ngay sự tức giận kia bằng bài thơ mười bảy chữ. Khi làm như thế thì sự tức giận của ta rốt cuộc đã trở thành cơn giận của tha nhân. Người ta không thể vừa tức giận vừa làm thơ haiku cùng một lúc. Hay là khi ta khóc, ta có thể biến nước mắt thành thơ. Ngay khi làm được điều đó thì ta đã thấy hạnh phúc rồi. Khi biến nước mắt thành thơ thì những giọt nước mắt đau khổ đã rời khỏi bản thân mình, và ta trở thành một người đàn ông sung sướng vì biết khóc.
[9] Thể thơ mười bảy chữ là thể thơ haiku.
Tôi vốn có chủ ý như vậy rồi. Ðêm nay, để thực hiện chủ trương đó, nằm trong chăn tôi đã làm mấy bài thơ về những chuyện vừa kể. Vì đang học cách làm việc thận trọng, nghĩ rằng nếu có ý thơ mà không ghi lại thì sẽ quên mất nên tôi lấy cuốn sổ phác họa ra để sẵn ngay bên gối. Bài thơ đầu tiên tôi ghi là:
Ngơ ngẩn
Làm run rẩy giọt sương
Ðóa hải đường
Khi đọc lại thì thấy bài thơ không thật hay nhưng cũng không quá tệ. Rồi tôi viết tiếp:
Bóng hoa
Bóng người con gái
Mơ hồ
Bài này thì bị lặp quý ngữ. Nhưng có hề gì, miễn là ta cảm thấy trong lòng thanh thản. Rồi bài thơ kế tiếp:
Hồ ly
Hóa thành cô gái
Trăng mờ
Toàn là những câu thơ buồn cười. Ðúng là thơ của mình nhưng thật là kỳ quặc.
Thế này là ổn rồi. Tôi cứ thoải mái thư giãn, nắm bắt mọi tứ thơ và ghi lại tất cả.
Dưới bầu trời xuân
Những vì sao lạc
Lấp lánh trâm cài
Tóc vừa mới gội
Lướt thướt mây trời
Ðêm xuân
Dáng người con gái
Hòa tiếng thơ ngâm
Ôi! Ðêm mùa xuân!
Ðêm trăng
Hồn cây hiện bóng
Hoa hải đường
Dưới ánh trăng
Mùa xuân
Văng vẳng tiếng ca
Cạn dòng suy nghĩ
Sắp sáng rồi
Ðêm xuân một mình tôi
Trong lúc tôi làm thơ, cơn buồn ngủ đã đến lúc nào không biết.
Có lẽ dùng từ “xuất thần” cho hoàn cảnh này là phù hợp nhất. Trong lúc ngủ thì ai cũng quên đi bản thân mình. Còn lúc tỉnh táo sáng suốt thì chắc hẳn không ai quên được thế giới xung quanh. Sự huyền ảo chỉ xuất hiện ở lằn ranh mập mờ giữa hai thế giới. Ðó là trạng thái quá mơ màng để nói là đang tỉnh, nhưng nói là đang ngủ thì không đúng hẳn vì cũng có nhận biết đôi chút. Ðúng hơn, trạng thái ấy giống như ta dồn hai thế giới vào trong cùng một cái chai, rồi cầm cây bút màu của nàng thơ mà khua khoắng để pha trộn lại. Ngay trước khi ta chìm vào giấc mơ, những màu sắc thật của tự nhiên trở nên nhòa nhạt, rồi cả vũ trụ nguyên dạng trôi tuột vào thế giới của sương mù. Bàn tay phù phép của cơn buồn ngủ làm trơn tru những góc cạnh của hiện thực, và trong khi đó thì mạch sống mỏng manh trong ta vẫn khe khẽ đập, hòa vào thế giới đã được cải biến để trở nên mềm mại dịu dàng. Giống như làn khói là là mặt đất không bay lên được, linh hồn chúng ta không thể dứt khoát lìa bỏ xác phàm. Muốn thoát hẳn ra nhưng cứ mải quanh quẩn mà không thoát được, cuối cùng linh hồn không thể tồn tại lâu hơn nữa trong trạng thái không cảm xúc, và cái sức sống vô hình mạnh mẽ kia không bị tản mác mà trở lại bám chắc vào tứ chi ngũ tạng, làm nảy sinh trong ta cảm giác cần nơi nương tựa hay khát vọng yêu đương.
Chương 3.3
Khi tôi đang mơ màng nửa tỉnh nửa mê thì tấm cửa dán giấy bỗng nhẹ nhàng trượt qua. Một cái bóng con gái mờ mờ ảo ảo vụt hiện ra ở chỗ trống nơi ngưỡng cửa. Tôi không hề cảm thấy kinh ngạc. Cũng không sợ hãi. Mà chỉ thích thú ngắm nhìn. Nhưng nếu dùng từ “ngắm” thì hơi quá mạnh. Lẽ ra phải nói rằng bóng người con gái mờ ảo đó lướt thẳng vào trong đôi mắt tôi lúc ấy đang nhắm lại. Cái bóng nhè nhẹ đi vào phòng, bước trên lớp chiếu mà không hề gây nên những tiếng động mang hơi hướng con người, cứ như một nàng tiên lướt qua sóng nước. Vì tôi đang nhìn bằng đôi mắt nhắm nên không rõ có chính xác hay không, nhưng tôi thấy là bóng người màu trắng, tóc dày và dài phủ xuống sau gáy. Có cảm giác như đó là hình ảnh ta nhìn thấy khi soi lên ánh đèn một bức ảnh mờ, loại ảnh thịnh hành trong thời kỳ gần đây.
Cái bóng dừng lại trước chiếc tủ. Tủ mở, và trong bóng tối thấp thoáng một cánh tay trắng muốt thò ra bên ngoài tay áo rộng. Rồi cửa tủ đóng lại. Dĩ nhiên là cái bóng lại lướt trên lớp sóng làm bằng chiếu để quay ra. Cánh cửa dán giấy tự động khép. Tôi chìm dần vào một giấc ngủ sâu. Giống như khi người ta đã rời khỏi kiếp người mà chưa đến lúc đầu thai làm trâu hay ngựa vậy.
Tôi không biết mình đã ngủ bao lâu trong khoảng không lơ lửng giữa kiếp người và kiếp ngựa, rồi thức dậy khi nghe tiếng con gái cười khúc khích bên tai. Nhìn ra thì thấy màn đêm đã được vén lên, khắp nơi đều chan hòa ánh sáng. Nhìn ánh sáng của ngày xuân rạng rỡ nhuộm thẫm những thanh tre đan thành lưới mắt cáo trong ô cửa sổ hình tròn, tôi cảm thấy dường như trong thế giới này không hề có chỗ trú ẩn cho những gì được gọi là ma quái. Có lẽ những gì thần bí đã trở về thiên đàng, đã qua bên kia chiếc cầu dẫn về cõi u minh.
Tôi vẫn mặc nguyên chiếc áo yukata[10] đi xuống phòng tắm, ngâm mình thoải mái trong bồn nước nóng khoảng chừng năm phút. Tôi chẳng muốn kỳ cọ mà cũng không muốn đi ra ngoài. Sao đêm đầu tiên ở đây mình lại có tâm trạng như thế nhỉ? Sự thay đổi trong tự nhiên giữa ngày và đêm như thế này thật là kỳ diệu!
[10] Yukata là loại kimono mỏng, dùng để mặc trong nhà.
Ngay cả việc lau khô thân thể tôi cũng lười nên chỉ phủi qua loa rồi bước ra, người vẫn còn đang ướt. Khi mở cửa nhà tắm bước ra ngoài thì tôi lại gặp một chuyện đáng kinh ngạc.
- Chào anh. Tối qua anh có ngủ ngon không?
Tôi nghe tiếng chào ngay khi đang mở cửa. Vì không nghĩ là có người ở đấy, nên trước câu chào đột ngột này tôi còn chưa kịp đáp lời ngay thì người kia đã nói tiếp:
- Ðây này, anh mặc áo vào đi!
Người vừa nói bước vòng phía sau rồi vắt một chiếc kimono mềm mại lên vai tôi. Tôi chỉ kịp nói “Ồ, cảm ơn...” như thường lệ, quay lại thì cô gái đã bỏ đi cách mấy bước chân rồi.

Từ xưa đã có thông lệ là tiểu thuyết gia phải thật công phu khi khắc họa diện mạo nhân vật chính. Nếu liệt kê ra hết những lời văn được dùng để bình luận về người đẹp trong các ngôn ngữ Ðông Tây kim cổ thì có lẽ cũng thành một tập hợp đồ sộ không thua kém gì Ðại tạng kinh. Trong cái mớ tính từ nhiều đến mức làm người ta phát hoảng kia, không biết có bao nhiêu từ là thích hợp để miêu tả người con gái đang đứng cách tôi ba bước chân, xoay nghiêng người, liếc nhìn về phía sau để nhìn thằng tôi đang kinh ngạc và lúng túng? Hơn ba mươi năm trải đời, quả là tôi chưa từng gặp một sự biểu hiện tình cảm nào như vậy. Nói theo ngôn ngữ của những nhà phê bình mỹ thuật, thì lý tưởng của điêu khắc Hy Lạp có thể quy về hai chữ “nghiêm trang”. Tôi cho rằng nghiêm trang là dáng vẻ con người khi sức sống tiềm ẩn còn chưa được thể hiện thành hành động. Ta không thể biết được nếu sức sống kia thể hiện thành hành động thì dáng vẻ bên ngoài sẽ thay đổi ra sao, liệu có thành mây mưa hay sấm chớp gì chăng? Nhờ đó mà hình tượng nghệ thuật có một thứ dư âm mơ hồ, và vì thế mà tác phẩm vẫn giữ được sức hấp dẫn tiềm tàng sau hàng trăm thế kỷ. Mọi vẻ đẹp tôn nghiêm và cao quý trên đời đều ẩn giấu đằng sau một vẻ ngoài trầm tĩnh. Nếu có sự hoạt động thì mọi thứ sẽ hiển lộ. Nếu hiển lộ ra bên ngoài thì tất yếu sẽ dẫn đến một kết cuộc nào đó. Dù kết quả là như thế nào đi nữa thì chắc hẳn là cũng hàm chứa những năng lực đặc thù. Nhưng rốt cuộc dù đạt đến kết quả nào thì cũng trở nên tầm thường vụn vặt, không thể nào quay trở về với trạng thái viên mãn nguyên vẹn như trước đó. Vì vậy những gì có sự hoạt động hay danh tiếng đều chẳng tốt đẹp gì. Tác phẩm điêu khắc Nio của Unkei[11] và tranh khắc gỗ của Hokusai[12] đều không thành công cũng chỉ vì chữ “động”. Ðộng hay là tĩnh. Ðó là vấn đề lớn chi phối sự sống còn của ngành hội họa chúng ta. Chắc hẳn từ xưa đến nay chân dung của những mỹ nhân cũng chỉ là sản phẩm của một trong hai cách vẽ cơ bản ấy mà thôi.
[11] Nio là tượng hai vị thần bảo hộ, thường được đặt hai bên cửa chùa ở Nhật Bản.
[12] Katsushika Hokusai (1760 - 1849) là họa sĩ nổi tiếng, thuộc dòng tranh khắc gỗ Nhật Bản thời Edo.
Nhưng khi nhìn những gì cô gái này biểu hiện, tôi lúng túng không biết xếp cô vào loại chân dung nào. Nét môi khép kín thành một lằn ngang. Ðôi mắt nhanh nhẹn như đang dò xét từng góc nhỏ. Gương mặt trái xoan hơi bầu phía dưới cằm thì mang vẻ đẹp trầm tĩnh sâu sắc nhưng trán thì lại quá hẹp và khắc khổ, vụng về ôm lấy đường tóc rẽ ngôi theo hình núi Phú Sĩ. Lại còn hai đường chân mày mọc lan ra chụm vào nhau, giống như bị vấy mực ở khoảng giữa, cứ giật giật như đang có điều gì nôn nóng. Chỉ có cái mũi là không mỏng nhọn quá mà cũng không dày nặng quá. Nếu lên tranh thì chắc là đẹp. Mỗi đường nét đều có vẻ độc đáo riêng, và khi tất cả những nét này cùng dồn dập đập vào mắt ta trong một lúc thì ta lúng túng cũng là lẽ tất nhiên.
Một thế giới rộng lớn vẫn yên ổn bấy lâu bỗng bị lỗi ở một góc nào đó, làm cho mọi thứ đều rung động. Vì biết rằng sự rung động ấy là trái với bản chất tự nhiên nên tất cả đều cố gắng trở về với sự yên tĩnh ban đầu, nhưng vì đã ở trong tư thế mất thăng bằng nên sự rung động không thể ngừng lại được, và bây giờ muốn thể hiện cho người khác thấy sự rung động mà mình đang phải chịu đựng kia. Có thể hình dung cô gái này đang ở trong tình trạng đó, nếu như có tồn tại một trạng thái như vậy.
Vì thế, tôi đã nhìn thấy ở cô ấy một vẻ gì như là sự khát khao nương tựa, ẩn trong cái vẻ ngoài khinh bạc thế kia. Ðằng sau sự nổi loạn ẩn chứa một vẻ sâu lắng dịu dàng. Bên trong sự nỗ lực để thể hiện tài năng và khí phách vượt cả hơn trăm người đàn ông là dòng chảy âm thầm của những đam mê trong sáng. Tóm lại là những biểu hiện trên gương mặt cô không thể nào thống nhất về một kiểu. Giống như mê và ngộ tranh đấu với nhau nhưng vẫn tồn tại cùng nhau dưới một mái nhà. Chắc hẳn cái vẻ không hài hòa trên gương mặt cô gái này là bằng chứng cho sự thiếu cân bằng trong tâm hồn, và sự thiếu cân bằng trong tâm hồn gắn với tình trạng mất cân bằng trong thế giới của cô. Ðó là gương mặt thể hiện một con người bị bất hạnh đè nén và đang chống chọi với bất hạnh. Rõ ràng đây là một cô gái không hạnh phúc.
Tôi khẽ gật đầu và lặp lại:
- Cám ơn!
Cô bật cười:
- Tôi đã dọn phòng rồi đấy. Anh về phòng mà xem. Gặp lại anh sau nhé!
Cô nói xong liền vội vàng xoay người, nhẹ nhàng chạy xuống hành lang. Tóc búi thành búi nặng hình cánh bướm. Cổ áo trắng lộ ra bên dưới búi tóc. Dải thắt lưng đen bằng lụa hình như chỉ giắt có một bên.
Chương 4
Tôi tha thẩn quay về phòng thì thấy quả nhiên phòng đã được dọn sạch. Vì trong lòng có hơi thắc mắc nên tôi thử mở cửa tủ xem lại. Ở phía dưới có ngăn tủ nhỏ. Một tấm vải dùng làm thắt lưng nhuộm theo phong cách yuzen[1] bị xổ ra một nửa, buông rủ từ trên xuống. Có thể đoán rằng ai đó vừa lấy vội quần áo rồi đi ra ngoài. Không nhìn thấy nửa trên của tấm vải vì bị lấp trong một bộ trang phục có hoa văn lộng lẫy. Có một ít sách được xếp ở một bên. Trên cùng là cuốn Orategama của Thiền sư Bạch Ẩn và cuốn đầu tiên của Truyện Ise. Cái bóng mà tôi nhìn thấy tối qua chắc là có thật.
[1] Một kiểu nhuộm vải đặc biệt, tạo ra nhiều mẫu vải có hoa văn đẹp, quý phái.
Tôi lơ đãng ngồi lên tấm đệm, cuốn sổ phác họa trên chiếc bàn gỗ trắc vẫn đang mở ra một cách chỉnh tề với chiếc bút chì kẹp ở giữa. Tôi cầm bút lên định xem lại những bài thơ mà đêm qua mình đã viết say sưa.
Phía dưới bài thơ:
Ngơ ngẩn
Làm run rẩy giọt sương
Ðóa hải đường
Lại có một bài thơ ai đó đã viết vào thêm:
Tiếng chim ca buổi sớm
Làm run rẩy giọt sương
Ðóa hải đường
Vì nét chữ được viết bằng bút chì nên không thể hiện rõ phong cách, nhưng có vẻ hơi cứng so với nét chữ con gái, mà lại hơi mềm so với nét chữ của đàn ông. Và lạ lùng chưa, khi tôi đọc bài thơ:
Bóng hoa
Bóng người con gái
Mơ hồ
Thì lại thấy bên dưới có thêm bài:
Bóng hoa
Bóng người con gái
Lẫn vào nhau
Rồi bên dưới bài thơ:
Hồ ly
Hóa thành cô gái
Trăng mờ
Lại có bài:
Chàng thư sinh
Hóa thành cô gái
Trăng mờ
Tôi nghiêng đầu suy nghĩ, không hiểu người này định bắt chước hay muốn sửa những bài thơ tôi viết, hay là định thêm một chút thi vị vào thơ. Có thể đây là một kẻ hơi điên. Hoặc là một kiểu giễu cợt người khác.
Vì đã hẹn là “gặp lại sau”, nên có thể cô ấy sẽ xuất hiện trong bữa ăn sáng nay. Nếu mà cô xuất hiện thì có lẽ mọi chuyện sẽ dễ hiểu hơn một chút. Tôi xem đồng hồ thì thấy đã hơn mười một giờ. Mình ngủ nhiều thật! Thế này thì có lẽ chỉ nên ăn một bữa trưa thôi.
Tôi mở cánh cửa trượt bên phải, đưa mắt tìm dư âm của tiếng hát đêm qua. Cái cây mà tôi đoán là cây hải đường thì quả đúng như vậy, nhưng khu vườn thì hẹp hơn tôi tưởng. Rêu xanh phủ đầy trên bề mặt năm, sáu hòn đá lát lối đi, gợi cảm giác êm dịu khi ta bước chân trần trên đó. Trên sườn núi chạy dài phía bên trái, giữa những tảng đá là mấy cây thông đỏ mọc nghiêng xuống khu vườn. Phía sau cây hải đường có vài bụi cây, xa hơn nữa là một đám trúc xanh rì cao hơn mười mét đang tắm trong ánh nắng ngày xuân. Phía bên tay phải thì bị mái nhà che khuất nên không nhìn thấy được, nhưng nhìn địa hình thì thấy có vẻ là một con dốc thoai thoải, thấp dần về phía bể tắm công cộng.
Hết núi thì đến đồi thấp. Hết đồi thấp thì mở ra một khu đất bằng phẳng rộng chừng bốn trăm thước. Nối tiếp khoảng đất bằng là phần dưới đáy biển. Rồi đột ngột nhô lên khỏi mặt nước, cách bờ gần bảy mươi cây số, một dải đất có tên là Mayajima - một đảo nhỏ có chu vi chừng ba mươi ki lô mét vuông. Ðó là địa hình của vùng Nakoi. Khu nghỉ dưỡng có suối nước nóng nằm nương theo triền núi, với địa hình đồi núi chiếm một nửa khu vườn, nên những kiến trúc ở đây mặt trước thì hai tầng nhưng phía sau là nhà trệt. Chỉ cần thò chân xuống khỏi ban công là gót chân đã chạm vào rêu. Thảo nào đêm qua khi hấp tấp leo lên leo xuống cầu thang hẹp, tôi đã cảm thấy ngôi nhà này có kiến trúc thật lạ kỳ!
Rồi tôi mở cánh cửa sổ bên tay trái. Cành hoa anh đào núi lặng lẽ soi mình trong vũng nước mưa xuân đã đọng từ lúc nào trên tảng đá có bề mặt rộng bằng hai tấm chiếu lõm xuống một cách tự nhiên. Hai ba bụi trúc phủ xanh một góc tảng đá. Phía bên kia là một hàng rào làm bằng cây củ khởi. Thỉnh thoảng có thể nghe thấy tiếng cười nói vọng lại từ phía bên kia rào, hẳn là bên đó có con đường mòn từ bãi biển chạy lên đồi. Bên kia con đường có người đi là một đám quýt được trồng trên con dốc thoải dần về phía nam, và ở phía cuối thung lũng là những bụi tre to trắng lóa. Lần đầu tiên tôi mới nhận ra rằng, nhìn từ xa thì lá tre ánh lên màu trắng bạc. Phía trên đám tre là rừng tùng, có thể nhìn thấy rõ mồn một con đường lát bằng năm sáu bậc đá chạy giữa những thân cây. Hình như bên ấy có một ngôi chùa.
Tôi mở cửa trượt và bước ra ngoài hiên. Ở về phía có thể nhìn thấy biển, cách một khoảng sân ở giữa là một gian nhà mặt trước có hai tầng, với những thanh chắn lan can tạo thành hình chữ nhật. Tôi thấy thật thú vị vì căn phòng mình đang ở, nếu dựa vào chiều cao của lan can, thì cũng cao bằng tầng hai của căn nhà bên kia. Nếu tính cả khu vực tắm nước nóng nằm ở tầng thấp hơn nữa thì có thể nói tôi đang ở vị trí cao nhất trong một căn nhà ba tầng.
Nhà thì rất rộng. Nhưng ngoại trừ gian nhà hai tầng ở phía đối diện và một phòng nối tiếp dãy hành lang phòng tôi bên góc phải thì dường như hầu hết đều là phòng trọ dành cho khách đang đóng cửa, còn phòng tiếp khách của gia đình và nhà bếp thì chẳng thấy đâu. Khách trọ ở đây ngoài tôi ra thì hình như chẳng còn ai khác. Những căn phòng đang khép cửa thì đóng kín cả cửa chớp suốt ngày, nhưng nếu cửa phòng đã mở thì hình như ban đêm cũng không ai đóng lại. Thậm chí là cửa trước chẳng biết có cài chốt hay không. Có thể nói rằng đối với một cuộc hành trình tìm kiếm sự thăng hoa thì đây là một nơi lý tưởng.
Kim đồng hồ đã chỉ gần mười hai giờ mà vẫn chưa thấy dấu hiệu gì của bữa cơm trưa. Tôi đã bắt đầu có cảm giác đói bụng, nhưng vì thấy mình đang ở trong cõi thơ “đồi núi hoang vu chẳng thấy người”, nên tự nhủ rằng có phải nhịn một chút cũng không sao. Lúc này mà vẽ tranh thì cũng phiền toái quá. Thơ haiku thì tôi không định làm, nhưng vì bắt được dòng cảm hứng nên những dòng thơ cứ nối tiếp nhau một cách dễ dàng. Tôi đã mang hai, ba cuốn sách kèm theo giá vẽ nhưng bây giờ không có hứng thú để đọc. Cứ như thế này, nằm phơi lưng trong tiết trời mùa xuân ấm áp dưới bóng hoa ngoài hiên nhà thì quả là cực lạc nơi trần thế. Nếu ta suy nghĩ thì sẽ lạc lối ngay. Còn nếu hoạt động thì sẽ rất nguy hiểm. Thậm chí nếu được thì tôi còn muốn nín thở nữa kia. Tôi muốn ở lại đây hai tuần trong trạng thái bất động, như một cái cây mọc rễ trên tấm chiếu.
Ngay lúc đó có tiếng bước chân ở hành lang phía dưới, rồi ai đó đi lên cầu thang. Khi tiếng bước chân đến gần thì nghe có vẻ như hai người đang đến. Tôi vừa nghĩ chắc là họ đã đến trước cửa phòng thì một người im lặng quay trở xuống. Cửa trượt mở. Tôi cứ tưởng là người đã gặp ban sáng nhưng hóa ra là cô gái nhỏ nhắn tối qua. Có cảm giác như thiếu vắng một điều gì đó.
- Xin lỗi anh vì đã làm cơm hơi muộn.
Cô nói rồi dọn bữa. Chẳng đề cập gì đến bữa ăn sáng. Tôi thấy trong chiếc đĩa hoa văn màu xanh có món cá nướng, và khi mở nắp một chiếc chén thì thấy những con tôm màu hồng ẩn mình trong đám lá dương xỉ non. Thấy màu đẹp, tôi cứ mải ngắm thức ăn trong lòng chén.
- Anh không thích à? Cô gái hỏi.
- Không. Tôi sẽ ăn ngay bây giờ đấy chứ
Tôi nói vậy nhưng cũng cảm thấy nếu mà ăn mất đi thì cũng hơi tiếc thật. Tôi đã từng đọc trong sách câu chuyện tả cảnh Turner dự một bữa tiệc tối. Ông vừa ngắm món salad bày trên đĩa vừa nói với người bên cạnh rằng màu dịu thật, rằng đây là màu tôi vẫn dùng. Và tôi rất muốn giới thiệu với Turner màu của những con tôm và rau dương xỉ. Trong các loại thực phẩm của phương Tây chẳng có thứ nào đẹp về màu sắc. Có chăng chỉ là salad và củ cải đỏ. Nếu nói về khía cạnh dinh dưỡng thì không biết thế nào, nhưng theo cái nhìn của họa sĩ thì đều là những món ăn kém hấp dẫn. Sang phương Tây tôi mới nhận ra rằng, trong thực đơn của người Nhật từ món súp, đồ ngọt dùng khi uống trà cho đến món cá sống đều được trình bày đẹp mắt. Khi đến khu ẩm thực truyền thống, chỉ cần ngồi ngắm khay thức ăn trước mặt, dù không hề đụng đũa thì cũng đã được thưởng thức một bữa tiệc no mắt, thật bõ công!
- Hình như trong nhà ta có một cô gái trẻ phải không? Tôi vừa đặt chén cơm xuống bàn vừa hỏi chuyện.
- Vâng ạ.
- Cô ấy là ai thế?
- Bà chủ trẻ đấy ạ.
- Vậy ra còn có bà chủ lớn nữa ư?
- Bà đã qua đời năm ngoái rồi ạ.
- Còn ông chủ?
- Vẫn còn đấy ạ. Cô gái là con ông ấy đấy.
- Ý cô nói là bà chủ trẻ đấy à?
- Vâng.
- Ở đây có ai là khách trọ nữa không, cô?
- Không ạ.
- Chỉ một mình tôi ư?
- Vâng.
- Bà chủ trẻ thường ngày làm gì nhỉ?
- Dạ, thì cũng may vá...
- Rồi còn làm gì nữa?
- Chơi đàn samisen[2].
[2] Loại đàn ba dây của Nhật Bản.
Ðiều này quả là bất ngờ. Thật thú vị. Tôi thử hỏi tiếp:
- Rồi còn làm gì nữa không?
Thì cô gái trả lời:
- Cô ấy đi chùa.
Ðây cũng là điều bất ngờ. Ði chùa và chơi đàn samisen đều là những biểu hiện độc đáo.
- Cô ấy đi chùa để làm lễ phải không?
- Không ạ, cô đến thăm hòa thượng.
- Hòa thượng học đàn samisen chăng?
- Không ạ.
- Vậy thì cô đến đấy làm gì nhỉ?
- Ðến chỗ ngài Daitetsu đấy ạ.
Thì ra vậy. Rõ ràng người có tên là Daitetsu đã viết bức thư pháp trên tường. Nếu suy ra từ những lời cô gái nói thì có lẽ ông là một Thiền sư. Cuốn Orategama trong tủ chắc hẳn thuộc về cô ấy.
- Căn phòng này thường ngày vẫn có ai đó ra vào chứ nhỉ?
- Thường thì người đó là bà chủ trẻ đấy ạ.
- Vậy thì cô ấy đã ở đây trước lúc tôi đến hôm qua chứ?
- Vâng ạ.
- Nếu vậy thì tôi thất lễ quá. Mà cô ấy đến chỗ ngài Daitetsu làm gì thế nhỉ?
- Tôi không biết ạ.
- Còn việc gì nữa không?
- Sao cơ ạ?
- Ý tôi hỏi là cô ấy có còn làm việc gì nữa không?
- Dạ, thì nhiều việc linh tinh...
- Việc linh tinh là những việc gì?
- Tôi không biết ạ.
Cuộc đối thoại chấm dứt ở đây. Bữa ăn đã kết thúc. Cô gái thu dọn bát đĩa, và khi cô mở cánh cửa trượt thì bỗng tôi nhìn thấy ở bên kia đám cỏ cây mọc trong sân giữa, trên lan can tầng hai của gian nhà đối diện, hiện ra một gương mặt con gái bên dưới búi tóc kiểu ichogaeshi[3]. Cô gái đưa hai tay chống cằm, vẻ mặt tươi sáng như Phật bà Quan Âm đang nhìn xuống phía dưới. Trái ngược với lúc sáng, bây giờ cô có vẻ hết sức điềm đạm. Phải chăng sự thay đổi ấy là do lúc này cô đang cúi xuống, ánh mắt không nhìn về phía tôi? Người xưa có nói rằng trên cơ thể con người không có gì bằng đôi mắt, quả đúng là ở một con người thì đôi mắt là bộ phận linh hoạt nhất. Từ phía dưới những thanh chắn ban công được tạo hình hoa văn mà cô gái đang trầm tư tựa vào, đôi cánh bướm đang chập chờn bay lên. Thi thoảng chúng như nhập vào làm một, rồi lại tách rời ra. Ngay lúc đó thì cánh cửa phòng tôi trượt mở. Nghe tiếng cửa trượt, cô gái đột ngột chuyển cái nhìn từ đôi bướm sang phía tôi. Tia nhìn từ ánh mắt cô như một mũi tên độc xuyên qua khoảng không giữa hai người, chiếu thẳng vào trán tôi một cách điềm nhiên, không có dấu hiệu gì tỏ ra quen biết hay thân mật. Trong lúc tôi còn đang sửng sốt thì cô gái trẻ đã khép cánh cửa trượt, trả lại một không gian mùa xuân thanh thản vô cùng.
[3] Một kiểu tóc búi cao của phụ nữ Nhật Bản khi mặc trang phục truyền thống.
Tôi lại nằm ườn ra trên tấm đệm. Chợt nhớ đến mấy câu thơ:
Sadder than is the moon’s lost light,
Lost ere the kindling of dawn,
To travellers journeying on,
The shutting of thy fair face from my sight.
(Buồn hơn vầng trăng đã mất đi ánh sáng
Hay bầu trời không còn ánh bình minh
Là khi lữ khách miệt mài dấn bước
Không còn được ngắm gương mặt yêu kiều)
Giả sử tôi đem lòng mơ tưởng cô gái có mái tóc búi cao kia, rồi cố gắng hết mình để được nhìn cô ấy, để rồi đau khổ trước ánh mắt lạnh lùng lướt ngang như khoảnh khắc vừa qua, thì chắc hẳn tôi sẽ gửi gắm mọi cảm xúc, dù sung sướng và hay đau khổ, vào những vần thơ như thế. Rồi có thể còn thêm cả hai câu thế này:
Might I look on thee in death,
With bliss I would yield my breath.
(Có thể tôi được ngắm nhìn em khi cận kề cái chết
Và sung sướng trút hơi thở cuối cùng)
May mắn thay, tôi đã vượt qua ranh giới của những thứ tầm thường được gọi là tình yêu hay sự lưu luyến ấy, nên dù có muốn cũng không hề biết đến cảm giác đau khổ như vậy. Nhưng mấy câu thơ này lại thể hiện một cách tuyệt vời cái điều mà tôi vừa chứng kiến trong khoảnh khắc vừa qua. Tuy rằng giữa tôi và cô gái có búi tóc kia không có một niềm nhung nhớ thiết tha như thế, nhưng đặt vị thế của hai người lồng vào ý thơ trên thì thật là thú vị.
Hoặc là hiểu ý nghĩa của bài thơ này trong hoàn cảnh của chúng tôi thì cũng rất hay. Giữa hai người chúng tôi lúc này đang vương vấn một sợi chỉ nhân duyên mỏng manh, phần nào giống với tình cảnh trong bài thơ ấy. Nếu nhân duyên chỉ là một sợi chỉ mong manh như thế này thì chẳng có gì là đau khổ. Nhưng đây không phải là một sợi chỉ thông thường. Nó giống như cầu vồng giăng ngang trời, như sương khói mênh mang trên đồng ruộng, như sợi tơ nhện lấp lánh giọt sương. Mong manh dễ mất và tuyệt đẹp trong khoảnh khắc mà chúng ta chiêm ngưỡng. Nhưng nếu trong khoảnh khắc chúng ta nhìn ngắm, sợi chỉ bỗng phình to thành sợi dây thừng kéo nước thì sao? Chắc là không nguy hiểm đến mức ấy. Tôi là một họa sĩ. Còn cô ấy thì lại không giống như một cô gái bình thường.

Bất ngờ cánh cửa trượt mở ra. Khi tôi trở mình nhìn ra cửa thì thấy đối tượng của mối nhân duyên ấy, vẫn mái tóc búi cao, đang đứng trên ngưỡng cửa, bưng trên tay chiếc khay có đựng một chén sứ màu ngọc bích.
Cô cười:
- Anh lại ngủ đấy à? Ðêm qua anh bị làm phiền hơi nhiều phải không? Tôi đã mấy lần đường đột vào phòng anh, hì hì!
Dĩ nhiên cô chẳng hề tỏ ra rụt rè, bẽn lẽn hay xấu hổ. Ðơn giản là cô toàn giành thế chủ động.
- Cám ơn cô về chuyện hồi sáng nhé!
Tôi nhắc lại. Chợt nhận đây là lần thứ ba tôi lặp lại cùng một lời cảm ơn khách sáo. Ðã ba lần mà vẫn cảm thấy khó nói ra.
Tôi vừa định nhỏm dậy thì cô ấy bước đến bên chỗ đầu nằm, ngồi ngay xuống rồi nói với vẻ rất tự nhiên:
- Anh cứ nằm đi. Cứ vừa nằm vừa nói chuyện luôn vậy.
“Ừ phải đấy”, tôi thầm nghĩ và xoay người nằm sấp lại, hai tay chống cằm trên chiếu.
- Tôi sợ anh buồn nên mang đến một chút trà.
Tôi lại buột miệng nói:
- Cám ơn!
Trên chiếc đĩa đựng đồ ngọt để uống trà có mấy miếng yokan[4] trông rất hấp dẫn. Yokan là món tôi thích nhất trong các thứ bánh kẹo. Tôi không có cảm giác muốn ăn, nhưng miếng bánh có bề mặt trơn bóng, rắn chắc với chất thạch gần như trong suốt, nhìn theo kiểu nào thì cũng thấy đúng là một tác phẩm mỹ thuật. Ðặc biệt là cách chế biến để miếng yokan ánh lên màu xanh dịu, giống như một hỗn hợp của ngọc và đá, rất là đẹp mắt. Hơn thế, miếng bánh màu xanh nhạt đang nằm trên chiếc đĩa sứ màu ngọc bích lấp loáng như mới được sinh ra từ chất sứ, làm tôi bất giác muốn đưa bàn tay ra thử vuốt ve. Bánh kẹo phương Tây không có loại nào cho ta cảm giác thích thú như vậy. Màu sắc của món kem thì có vẻ dịu dàng nhưng hơi ngột ngạt. Món thạch thì thoạt nhìn giống như viên đá quý nhưng châng lâng chứ không đằm thắm như bánh yokan. Còn loại bánh hình tháp năm tầng làm bằng sữa và đường cát trắng thì đúng là kinh khủng không tả được.
[4] Yokan là một loại bánh ngọt Nhật Bản có dạng thạch.
- Ừm. Ðẹp quá nhỉ!
- Bánh mới mua đấy. Anh Genbei mới mang từ dưới phố về. Tôi đoán là anh cũng thích ăn.
Có lẽ anh Genbei đã nghỉ lại dưới phố đêm qua. Tôi không nói gì mà chỉ ngắm miếng yokan trước mặt. Ai mua ở đâu về thì cũng không quan trọng lắm. Chỉ cần biết vẻ đẹp của cái đẹp là đã hoàn toàn mãn nguyện rồi.
- Cái đĩa sứ màu ngọc này có kiểu dáng thật tuyệt. Màu cũng rất đẹp nữa. Không kém cạnh gì so với miếng yokan.
Cô gái khúc khích cười. Khóe môi thoáng nét khinh bạc. Có lẽ cô nghĩ là tôi khoe khoang chữ nghĩa. Quả thật nếu mà tôi cố ý khoe khoang thì cũng đáng bị coi thường. Ðó là kiểu thể hiện của những người đàn ông kém thông minh mà hay lạm dụng ngôn từ hoa mỹ.
- Cái này là đồ sứ Trung Hoa à?
- Cái gì? - Cô gái chẳng chú ý gì đến cái đĩa sứ màu ngọc bích.
- Trông rất giống đồ sứ Trung Hoa. - Tôi bưng chiếc đĩa lên nhìn dưới đáy.
- Nếu anh thích mấy thứ kiểu đó thì tôi sẽ mang cho anh xem.
- Ừ, cho tôi xem với.
- Bố tôi rất thích đồ cổ, nên có rất nhiều món. Tôi sẽ nói với bố, rồi hôm nào ông sẽ mang ra mời anh uống trà.
Nghe nói đến trà tôi hơi nản. Trên đời không có loại người nào khoa trương mà tẻ nhạt như những trà nhân. Họ là những người làm cho thế giới nên thơ rộng rãi bị thu hẹp một cách bất thường. Họ cực kỳ tự tôn, tỏ ra hết sức đặc biệt, tự gò bó bản thân mình một cách không cần thiết vào một thế giới cực kỳ chật hẹp, rồi mãn nguyện với việc uống một nhúm bọt trà. Nếu có sự thanh nhã trong những quy tắc rườm rà đó, thì có lẽ một quân đoàn tinh nhuệ phải tỏa ra mùi hương thanh nhã đến điếc mũi! Và những chàng lính răm rắp quay mặt sang phải hoặc tiến lên phía trước đều xứng tầm với những trà nhân vĩ đại! Chẳng qua là một đám người thuộc tầng lớp thương nhân, thị dân, hoàn toàn không hiểu biết gì về những thú vui tao nhã, không biết làm thế nào để trở nên phong lưu nên mới vận dụng một cách máy móc và mù quáng những quy tắc của Rikyu[5] rồi cho rằng như thế là phong lưu lắm vậy. Nói cách khác, nếu xem cách làm đó là một môn nghệ thuật thì ngược lại những nghệ sĩ đích thực đều là những kẻ điên rồ cả.
[5] Rikyu là tên một vị trà sư nổi tiếng ở Nhật Bản, người đã xác lập những quy tắc cơ bản trong trà đạo.
- Cô có nói đến chuyện uống trà, chắc ông cụ phải theo một trường phái nào chứ nhỉ?
- Không, chẳng có trường phái nào đâu ạ. Nếu anh không thích thì không cần phải uống đâu.
- Nếu vậy thì nhân tiện trong lúc ở đây mà được uống cũng hay đấy.
- Hì hì! Bố tôi rất thích mang bộ đồ trà cho khách xem...
- Vậy tôi có cần phải khen không?
- Ông cụ có tuổi rồi, nên nếu được khen thì rất vui.
- Ðược rồi, tôi sẽ có vài lời tán thưởng.
- Ôi, anh cứ khen ngợi hết lời đi!
- A ha! Lời lẽ của cô đôi lúc chẳng giống kiểu thôn quê chút nào!
- Con người ta đều thuộc kiểu thôn quê hết cả ư?
- Người ta nên thuộc về thôn quê thì tốt hơn.
- Nếu vậy thì tôi đang có lợi thế cơ đấy!
- Nhưng hình như cô đã từng sống ở Tokyo rồi thì phải?
- Vâng, tôi cũng đã từng sống ở Kyoto. Vì tôi là người lang thang nên cũng biết khá nhiều nơi rồi đấy.
- Cô thích ở đây, hay ở thành phố hơn?
- Ở đâu cũng thế thôi.
- Nơi yên tĩnh như thế này thì bù lại sẽ được thoải mái đúng không?
- Thoải mái hay không thoải mái là tùy thuộc vào cảm nhận của mình thôi. Nếu sống giữa lũ bọ mà không chịu nổi thì làm sao sống trong đám muỗi được?
- Giá có thể đến một nơi không có bọ mà cũng chẳng có muỗi thì hay nhỉ!
- Nếu mà anh biết có nơi nào như thế thì hãy chỉ tôi xem! Nào, anh hãy chỉ ra đi! - Cô gái nghiêng người sang phía tôi.
- Nếu cô muốn thì tôi chỉ ra nhé.
Tôi lấy ra cuốn sổ tay dùng để vẽ phác họa. Hình ảnh cô gái cưỡi ngựa đang ngắm hoa anh đào núi..., tất nhiên tôi mới chỉ phác thảo vài nét chứ chưa vẽ thành một bức tranh. Chẳng qua là ghi lại lớt phớt vài đường nét thể hiện tâm trạng.
- Nào, hãy vào chỗ này đi. Ở đây chẳng có bọ mà cũng không có muỗi
Tôi đưa bức vẽ ra trước mũi cô. Tôi thầm nghĩ, chẳng biết cô có ngạc nhiên hay bối rối gì không, nhưng chắc hẳn cô chẳng tỏ vẻ gì là đau khổ. Cô nhìn bức vẽ một chút rồi gạt phắt đi:
- Ôi, sao mà ngột ngạt thế! Chỉ có bề ngang thôi sao? Anh thích một nơi kiểu đó à? Giống hệt một con cua nhỉ!
Tôi bật cười:
- Ha ha!
Một chú chim sơn ca mới vừa cất tiếng hót ở gần mái hiên chợt ngưng lại và chuyền cành ra phía xa. Cả hai chúng tôi đều cố ý ngừng nói chuyện, lắng tai nghe một lúc lâu, nhưng giọng ca đã bị đứt giữa chừng không dễ gì được cất lên lần nữa.
- Chắc hôm qua anh đã gặp anh Genbei trên núi phải không?
- Ừ.
- Anh cũng đã ghé thăm mộ tháp năm tầng của nàng Nagara rồi chứ?
- Rồi.
Cô gái chẳng giải thích, cũng chẳng kể ngọn ngành gì mà bất ngờ cất tiếng ca:
Rồi mùa thu sang
Giọt sương mong manh
Tan trên đầu ngọn cỏ
Cuộc đời tôi cũng thế
Sẽ tan vào hư vô.
Không hiểu điều gì khiến cô làm như thế.
- Bài ca đó tôi đã được nghe ở quán nước rồi.
- Bà cụ đã kể chuyện cho anh nghe phải không? Bà cụ ấy vốn là người làm ở nhà tôi, ngày tôi chưa lấy chồng... Cô gái kể, và khi cô nhìn sang tôi thì tôi vờ như không biết.
- Hồi ấy tôi còn trẻ. Mỗi lần bà đến tôi đều kể câu chuyện về nàng Nagara. Chỉ có bài ca ấy là mãi bà không nhớ được, nhưng vì nghe nhiều lần quá nên rốt cuộc rồi cũng thuộc lòng.
- Thì ra thế. Tôi vẫn thắc mắc, không biết bà cụ nghe được ở đâu một câu chuyện phức tạp như vậy... Nhưng mà, bài ca ấy cảm động quá phải không?
- Cảm động ư? Nếu là tôi thì tôi không ca những lời như thế. Trước hết, gieo mình xuống sông thì thật ngớ ngẩn, phải không nào?
- Ðúng là ngớ ngẩn thật. Nếu là cô thì cô sẽ làm gì?
- Làm gì thì cũng vô nghĩa hết. Chỉ có cách là giữ lấy cả hai chàng, cả Sasada và Sasabe luôn vậy.
- Cả hai kia à?
- Vâng.
- Cô thật đáng khâm phục!
- Có gì đâu. Chuyện đương nhiên thôi mà.
- Thảo nào cô bảo là chẳng bước vào thế giới của bọ hay của muỗi!
- Thì người ta vẫn sống được mà chẳng cần phải suy nghĩ như một con cua đấy chứ!
“Ho..o..o.., hokekyoo...”, chú chim sơn ca bắt đầu bị lãng quên hẳn là đã lấy lại phong độ, bỗng dưng hót lảnh lót một tràng dài. Có vẻ như nếu đã bắt đầu suôn sẻ thì sau đó âm thanh cứ tuôn ra một cách tự nhiên. Chú chim treo mình chổng ngược, rung chiếc cổ căng phồng, từ chiếc mỏ nhỏ xíu đang ngoác rộng tuôn ra một tràng dài những tiếng ca không dứt: “Ho..o..o.., hokekyoo...”.
- Một bài ca đích thực! - Cô gái bảo.
Chương 5
- Xin lỗi anh, cho phép tôi tò mò một chút. Anh là người Tokyo phải không?
- Nhìn tôi giống người Tokyo lắm hay sao?
- Anh nói là “nhìn giống” ư? Nếu mới thoáng nhìn thì... Trước hết, tôi nghe anh nói mấy tiếng là đoán được ngay.
- Anh có biết là tôi ở nơi nào của Tokyo không?
- Ðể xem nào. Tokyo thì rộng kinh khủng nhỉ... Có lẽ không phải là ở khu trung tâm. Chắc ở Yamanote? Kojimachi ở Yamanote chăng? Không à? Hay là ở Koishikawa? Nếu không phải thì chắc là Ushigome hoặc Yotsuya gì đó?
- Chắc là cũng loanh quanh đâu đó thôi. Anh rành nhỉ!
- Nhìn thế này nhưng tôi cũng là người Edo[1] gốc đấy!
[1] Edo là tên cũ của Tokyo
- Thảo nào! Tôi thấy anh cũng có phong thái của người Tokyo đấy chứ.
- Hề hề... Chẳng phong thái chút nào đâu. Dù sao cũng làm người mà lại ra thế này, khổ sở lắm!
- Nhưng làm sao mà anh lại trôi dạt đến vùng quê này?
- Ðúng rồi, như anh vừa nói ấy. Tôi là kẻ trôi dạt thật mà. Phải cắn răng mà sống thế thôi...
- Anh vốn là chủ tiệm cắt tóc à?
- Không phải chủ, chỉ là một người làm thuê thôi. Sao? Nơi nào á? Ở Matsunagacho, Kanda. Ðó là một khu phố dơ bẩn và chật như nêm. Chắc hẳn là người như anh thì không biết đâu nhỉ. Ở đó có một cây cầu tên là Ryukanbashi, đúng không? Sao? Cũng không biết luôn à? Nhưng Ryukanbashi thì cũng nổi tiếng đấy chứ.
- Này, anh cho thêm một chút xà phòng đi, đau quá!
- Anh bị đau à? Tôi là người hơi cầu toàn, nên cứ phải làm như thế, cạo ngược gốc râu, làm sạch đến từng vết chân lông, nếu không thế thì không chịu được... Còn mấy người cắt tóc bây giờ ấy à, họ chẳng cạo gì cả mà chỉ chải qua thôi. Anh cố chịu một chút nữa nhé!
- Tôi đã chịu đựng mãi từ lúc nãy, cũng khá lâu rồi. Xin anh đấy, cho thêm một chút nước nóng hay xà phòng nữa đi nào!
- Không chịu được nữa à? Lẽ ra là cũng không đau quá đâu. Vấn đề là do râu của anh dài quá.
Anh thợ cắt tóc gần như miễn cưỡng buông bàn tay bấu mạnh trên má tôi, rồi lấy miếng xà phòng màu đỏ mỏng dính từ trên kệ xuống, ngâm vào nước một chút rồi cứ để nguyên như thế xoa đều lên mặt tôi. Tôi chưa từng bị xát xà phòng trực tiếp lên mặt như vậy. Hơn nữa, chỗ nước mà anh thợ cắt tóc nhúng bánh xà phòng như đã bị hút khô tự bao giờ, chẳng biết có còn lại chút nào không. Tôi thầm nghĩ và cảm thấy ngán ngẩm.
Rốt cuộc, vì quyền lợi của một khách hàng ở tiệm cắt tóc nên tôi không thể không nhìn vào gương. Nhưng từ lúc nãy tôi đã tự nhủ rằng mình chẳng muốn sử dụng cái quyền này. Cái đồ vật được gọi là gương chỉ là một thứ mặt phẳng chẳng có ích lợi gì ngoài việc điềm nhiên phản chiếu mặt người. Nếu ta treo một chiếc gương không đủ đảm bảo chức năng này và bắt người ta phải soi vào đó, thì chỉ có thể nói rằng chiếc gương lúc đó giống như một nhà nhiếp ảnh tồi, sẽ cố ý làm hỏng chân dung của người được phản chiếu. Giày vò cái tâm phù phiếm có lẽ cũng là một cách để rèn luyện nhân cách, nhưng không cần phải xúc phạm người ta đến mức lúc nào cũng trưng ra cái bộ mặt xấu xí hơn gương mặt thật của họ rồi bảo rằng đấy chính là ngươi.

Và đúng là từ nãy đến giờ cái gương ngay trước mặt mà tôi bị buộc phải nhìn vào đang sỉ nhục tôi. Khi tôi quay sang phải thì cái mũi choáng hết phần giữa gương mặt. Quay sang trái thì cái miệng bị kéo ra đến tận mang tai. Nếu ngước lên thì khuôn mặt bị kéo dẹt ra như con cóc nhìn từ phía trước. Nếu cúi xuống một chút thì cái đầu nhô cao giống như đứa con của thần Fukurokuju[2]. Vậy là trong lúc miễn cưỡng đối diện với chiếc gương, tôi đã một mình đóng vai đến mấy con quái vật. Thoạt tiên thì tôi cũng phải công nhận khuôn mặt trong gương của mình hơi thiếu thẩm mỹ, nhưng xem xét kỹ chiếc gương từ cấu tạo cho đến màu sắc, những chỗ bong lớp bạc để ánh sáng lọt qua thì thấy bản thân cái gương này mới là một vật thể cực kỳ xấu xí. Khi bị kẻ tiểu nhân xúc xiểm thì ta chẳng có gì phải đau khổ vì lời xúc xiểm ấy, nhưng nếu cứ phải sống trước mặt kẻ tiểu nhân thì chắc là ai cũng cảm thấy khó chịu.
[2] Fukurokuju là vị thần phúc lộc thọ trong văn hóa Nhật Bản. Ðiểm đặc biệt ở vị thần này là trán rất cao.
Hơn nữa, anh thợ cắt tóc này cũng chẳng phải một người thợ cắt tóc bình thường. Khi ghé nhìn từ bên ngoài vào thì thấy anh ta đang ngồi xoải chân hút thuốc bằng một cái tẩu dài, nhả khói đều đều về phía lá cờ liên minh Nhật Anh nhỏ xíu, đúng là có vẻ hơi uể oải; nhưng khi bước vào tiệm, giao phó cái đầu cho anh ta thì mới thấy bất ngờ. Anh ta giằng bấu cái đầu tôi không thương tiếc, đến nỗi trong lúc được cắt tóc, tôi cứ hoang mang không biết liệu cái đầu mình có còn nằm trên cổ, hay đã nằm trọn vẹn trong tay anh ta rồi! Kiểu này thì cho dù có khâu chặt cái cổ vào giữa hai vai cũng không thể nào giữ vững cái đầu được.
Còn lúc cầm dao cạo thì anh ta giống một kẻ man rợ không hiểu gì về luật pháp văn minh. Khi cạo trên má thì có tiếng kêu soạt soạt. Cạo ở chỗ tóc mai thì mạch máu chạy rần rật. Ở chỗ cằm thì lưỡi dao loang loáng kêu rào rạo từng hồi, một thứ âm thanh kỳ lạ như tiếng kêu phát ra khi mảnh băng bị giẫm vỡ. Và anh chàng này tự nhận là có tay nghề cắt tóc bậc nhất ở Nhật Bản!
Và anh ta lại còn say rượu nữa. Mỗi lần anh ta bảo “anh à” thì lại phả ra một thứ mùi kỳ lạ. Thỉnh thoảng thứ mùi lạ ấy lại xộc vào mũi tôi. Kiểu này thì không biết lúc nào anh ta vung tay đưa nhầm lưỡi dao cạo. Người đang cầm dao mà còn không biết rõ đường dao, thì lẽ nào người giao phó khuôn mặt là tôi lại có thể đoán được. Vì tôi đã tin tưởng mà giao phó, nên có lỡ bị trầy xước một chút thì cũng không có ý phàn nàn, nhưng nếu bỗng nhiên anh ta dở chứng, làm rách cả cổ họng thì to chuyện.
- Chỉ những người chưa vững tay nghề mới bôi xà phòng rồi cạo, nhưng mà râu của anh thì cái nào ra cái nấy nên tôi cũng buộc phải dùng đến xà phòng.
Vừa nói người thợ cắt tóc vừa vứt nguyên bánh xà phòng để trần lên trên kệ, nhưng bánh xà phòng không nghe lời chủ, lại lăn ngay xuống đất.
- Hình như cũng ít thấy anh ở quanh đây. Có lẽ anh mới đến vùng này phải không?
- Tôi vừa đến hai, ba ngày trước đây mà.
- Thế à? Anh đang ở đâu vậy?
- Tôi trọ ở nhà Shihoda.
- À, anh là khách ở chỗ đấy à? Tôi cũng đoán là như thế. Thật ra thì tôi cũng biết ơn ông già ẩn cư ấy lắm... Nói thế nào nhỉ? Dạo ở Tokyo ông ấy là hàng xóm của tôi... Nhờ thế mà quen biết. Ông ấy là người tốt đấy. Và cũng biết nhiều thứ nữa. Năm ngoái bà vợ mất... giờ thì chỉ quanh quẩn với mấy thứ đồ sưu tầm... mà ông toàn sở hữu những thứ tuyệt hảo đấy. Người ta bảo rằng nếu mà ông bán mấy thứ ấy đi thì cũng được khối tiền.
- Ông ta có một cô con gái đẹp phải không?
- Nguy hiểm đấy!
- Sao vậy?
- Anh hỏi vì sao á? Anh không biết đấy thôi. Cô ta đã từng lấy chồng rồi lại bỏ về nhà đấy.
- Thế à?
- Anh nói “thế à” mà cứ như chẳng có chuyện gì cả nhỉ! Cô ấy chẳng có lý do gì mà trở về kiểu đó... Nghe bảo là vì ngân hàng phá sản, cô ta không còn điều kiện mà sống xa hoa nữa nên mới bỏ về, chẳng còn gì là tình nghĩa nữa! Lúc ông cụ vui vẻ thì không sao, nhưng chẳng may gặp ngày có chuyện gì thì chắc là không ổn được.
- Ừ nhỉ!
- Tất nhiên rồi. Anh con trưởng ở nhà trên thì không dễ chịu lắm đâu.
- Có nhà trên nữa à?
- Nhà ở trên đồi ấy. Anh đến tham quan đi. Cảnh đẹp lắm!
- Ôi, anh cho thêm một chút xà phòng nữa đi. Lại hơi đau rồi.
- Râu của anh hay làm đau nhỉ. Vì râu cứng quá đấy. Cứ ba ngày thì anh nhất định phải cạo râu một lần nhé. Tôi cạo mà bị đau thì anh đến tiệm nào cũng không chịu nổi đâu.
- Từ bây giờ tôi sẽ nghe lời anh. Tôi đến đây mỗi ngày cũng được mà.
- Anh định trọ lại lâu thế kia à? Nguy hiểm đấy! Ðừng có dây vào! Chẳng ích gì đâu. Cứ vướng vào những chuyện chẳng hay ho gì, rồi không biết sẽ ra sao đấy.
- Sao vậy?
- Cô gái ấy mặt mũi thì có vẻ xinh đẹp, nhưng thực ra là người có vấn đề.
- Vì sao?
- Anh hỏi vì sao á? Mọi người trong làng đều bảo cô ta bị điên kìa!
- Thế thì chắc là có điều gì nhầm lẫn đấy thôi.
- Nhưng trước mắt đã có chứng cứ thì anh đừng nên dính dáng vào. Nguy hiểm lắm!
- Tôi thì chẳng sao cả. Nhưng chứng cứ gì kia?
- Ðó là một câu chuyện kỳ cục. Anh cứ thong thả ngồi hút thuốc rồi tôi kể cho nghe... Anh có cần gội đầu không?
- Vẫn còn sạch đấy mà.
- Chỉ làm sạch gàu thôi nhé?
Không một chút lưỡng lự, người thợ cắt tóc đặt mười đầu ngón tay với những móng tay cáu bẩn lên đầu tôi rồi thẳng tay xoa giật liên hồi. Những chiếc móng tay cọ xát từng chân tóc, luồn giữa những sợi tóc trên đầu như một chiếc cào khổng lồ chạy nhanh như gió. Tôi không biết trên đầu mình có bao nhiêu sợi tóc, nhưng cảm giác như từng chân tóc đều bị giật mạnh, và từng khoảng trống trên da đầu đều phồng rộp cả lên, kể cả xương đầu và óc não bên trong cũng bị chấn động mạnh mẽ bởi sự cọ xát này.
- Anh thấy thế nào? Dễ chịu không?
- Mạnh tay thật đấy!
- Sao kia? Làm thế này ai cũng thấy sảng khoái mà!
- Sắp rụng cả cổ ấy!
- Mệt mỏi đến thế à? Chỉ là do thay đổi thời tiết thôi. Mùa xuân hay làm cho cơ thể người ta uể oải... Nào, hút một điếu thuốc đi. Anh ở Shihoda một mình chắc là buồn lắm? Cứ đến đây chơi. Người Edo gốc thì có những chuyện chỉ nói được với người Edo gốc mà thôi. Sao? Chắc chắn cô ấy đã chào hỏi thân thiện với anh rồi chứ? Nhưng vì cô ta chẳng biết phải trái gì nên mới hỏng.
- Trong lúc kể chuyện về cô ấy thì anh đã xốc bay cả gàu, mà đầu tôi cũng muốn rụng luôn kia!
- Ðúng đấy, vì cái đầu trống rỗng nên chẳng giữ được chuyện gì... Nhà sư bên ấy đã say mê...
- Nhà sư đó là nhà sư nào vậy?
- Nhà sư quản kho ở chùa Kankaiji ấy mà...
- Tôi chưa được biết nhà sư nào cả, dù quản kho hay trụ trì.
- Thế à? Không được rồi, tôi kể hơi hấp tấp. Ðó là một nhà sư có gương mặt hơi khắc khổ nhưng quyến rũ, thường đến nhà cô ấy. Rồi cuối cùng ông ta gửi một lá thư... Khoan nào! Ông ta tán tỉnh chăng? Ồ không, chỉ là gửi một lá thư thôi. Chỉ là một lá thư. Rồi thì... ra thế đấy...Có gì đó không bình thường trong chuyện này. Ừ, đúng là như thế. Làm thế rồi thì phát hoảng lên...
- Ai phát hoảng?
- Cô gái ấy!
- Cô gái nhận được thư thì phát hoảng à?
- Nếu là người nhút nhát đến mức phát hoảng thì đã chẳng có chuyện gì, nhưng cô ta lại không hề ngạc nhiên kia chứ!
- Vậy thì ai phát hoảng?
- Người theo đuổi cô ấy.
- Chẳng phải anh đã nói rằng ông ta không theo đuổi sao?
- Ừ, quên mất. Tôi nhầm. Là người nhận thư ấy...
- Vậy thì đúng là cô gái kia rồi.
- Là người đàn ông chứ.
- Nếu đàn ông thì chính là nhà sư kia à?
- Ừ, là nhà sư ấy.
- Thế vì sao nhà sư lại phát hoảng?
- Vì sao à? Khi nhà sư đang tụng kinh trên chánh điện thì đột nhiên cô gái nhào đến... Hì hì! Ðúng là điên thật nhỉ!
- Rồi sao nữa?
- Cô ta bảo rằng: “Nếu mà tôi đáng yêu như thế, thì hãy ngủ cùng tôi trước tượng Phật này đi!”, rồi cô bất ngờ choàng tay qua cổ Taian.
- Ôi trời!
- Mất mặt thật nhỉ, ông Taian ấy mà. Ông đã viết thư cho một kẻ điên rồ, để rồi bất ngờ bị sỉ nhục như thế. Cuối cùng, đêm hôm ấy ông đã lén trốn đi mà kết liễu cuộc đời...
- Ông ta chết rồi sao?
- Chắc là chết thôi. Làm sao mà sống được!
- Hết chỗ nói!
- Ôi dào... nhưng nếu mà gặp phải một kẻ điên rồ như thế thì có chết cũng chỉ thiệt thân, nên có thể là ông ta vẫn sống.
- Một câu chuyện khá hay!
- Chẳng biết là có hay hay không, chỉ thấy người trong làng chê cười ầm ĩ. Duy chỉ có người trong cuộc là vốn dĩ không bình thường nên cứ bình thản như không... Nếu là người vững vàng như anh thì chắc không phải lo. Nhưng đối tượng vẫn cứ là đối tượng, nên anh tuyệt đối đừng có dính líu gì, chỉ cần một chút thôi thì biết đâu sẽ gặp tai họa đấy.
- Tôi cũng phải đề phòng nhỉ! - Tôi bật cười.
Từ phía những tảng đá vẫn còn ấm nóng, gió xuân mang hơi mặn của biển nhè nhẹ thổi vào, làm tấm biển hiệu của tiệm cắt tóc phất phơ như buồn ngủ. Trong gương hiện lên hình ảnh một con chim én chao nghiêng rồi lách mình vào bên dưới tấm biển hiệu. Ở nhà đối diện, một người đàn ông chừng sáu mươi tuổi đang ngồi xổm dưới mái hiên, lặng lẽ bóc vỏ sò. Mỗi lần con dao nhỏ chạm vào vỏ cứng khua lách cách là phần thịt đỏ hồng của một con sò lại rơi xuống lẫn vào trong chiếc rổ tre. Rồi chiếc vỏ sò lấp lánh sáng khi được ném xuyên qua lớp khói mù[3] cao chừng một mét. Ðống vỏ chất dồn lại cao như núi không rõ là vỏ con hàu, con nghêu hay là con móng tay. Một phần đống vỏ bị sụp, và biết bao nhiêu chiếc vỏ sò đã rơi xuống đáy sông Sunagawa, bị cuốn trôi khỏi trần thế để chôn vùi vào cõi tối tăm. Sau khi lớp cũ bị chôn vùi thì lại có ngay những chiếc vỏ sò mới dồn lại dưới gốc liễu. Người đàn ông cứ ném những cái vỏ rỗng không vào làn khói mù, không chút băn khoăn về số phận của chúng. Cái rổ của ông dường như không có đáy, mùa xuân của ông dường như trải dài vô tận và rất đỗi êm đềm.
[3] Khói mù phủ là là mặt đất. Một hiện tượng tự nhiên thường xảy ra vào mùa xuân.
Sông Sunagawa chảy bên dưới chiếc cầu nhỏ, dài không quá bốn mét, đổ dòng nước mùa xuân về phía biển. Có lẽ những tấm lưới đủ loại được giăng phơi ở nơi mà dòng nước mùa xuân đổ vào biển lớn đã đưa hương vị tanh nồng của biển hòa vào ngọn gió xuân dịu nhẹ thổi qua làng. Xa hơn về phía ấy, có thể nhìn thấy màu sắc của biển, như một thanh kiếm cùn đang bị ai nung chảy từ từ.
Khung cảnh ở đây và cái tiệm cắt tóc này chẳng có gì hòa hợp với nhau. Giá mà người thợ cắt tóc có tính cách mạnh mẽ để có thể gieo vào đầu tôi những ảnh hưởng đối kháng với phong cảnh của nắng gió xung quanh, chắc hẳn tôi đã rơi vào trạng thái xáo trộn cảm xúc khi đứng giữa hai bên đối lập. May mắn thay, người thợ cắt tóc chưa phải là một tay cừ khôi thực sự. Dù có là người Tokyo gốc, dù nói năng hùng hổ đến đâu thì anh ta cũng không thể sánh với tiết trời mùa xuân phơi phới tuyệt diệu thế này. Người thợ cắt tóc, người đã ba hoa với vẻ tự mãn hòng phá vỡ sự thống trị của không gian này, mới đó chỉ còn là một mẩu vụn tan vào trong ánh nắng tươi vui của mùa xuân. Phải nhận thấy rằng mâu thuẫn không phải là sự đối chọi về mặt sức mạnh, số lượng hay tinh thần ở những đối tượng khác biệt đến mức loại trừ nhau, mà là một hiện tượng chỉ nảy sinh và được thể hiện ở những đối tượng hoặc giữa những người có vị trí và mức độ ngang nhau. Khi mà sự khác biệt giữa hai đối tượng là quá lớn, thì có khả năng sự mâu thuẫn này được hóa giải, và hai đối tượng ấy lại trở thành bộ phận của một sức mạnh lớn lao hơn. Do vậy mà người tài trí thì trở thành chân tay của một bậc đại phu, kẻ ngu đần thì trở thành thuộc hạ của người tài trí, còn trâu ngựa thì được dùng để phục vụ cho kẻ ngu đần. Lúc này anh thợ cắt tóc của chúng ta đã diễn một pha hài trước bức màn sân khấu là khung cảnh mùa xuân mênh mông vô tận. Muốn phá hỏng sự êm đềm của mùa xuân nhưng, khốn khổ thay, ngược lại anh ta đã làm tăng thêm cảm xúc yên bình ấy. Vô tình tôi lại trở thành một khán giả chứng kiến pha diễn hài của anh chàng ấy, với tâm trạng thanh thản trong tiết trời đang giữa tháng ba. Trạng thái bình yên vô tận này cũng là một nét đẹp hòa vào bức vẽ ngày xuân với vạn vật thanh bình.
Trong lúc suy nghĩ như vậy, tôi chợt nhận ra người thợ cắt tóc này cũng có thể là một hình ảnh của thi ca hay hội họa, nên đáng lẽ đã ra về thì tôi còn ngồi nán lại một lúc để nói chuyện linh tinh. Rồi một chú tiểu đầu cạo nhẵn vén tấm màn cửa, vừa bước vào vừa nói:
- Xin lỗi, nhờ chú cạo tóc giùm cháu ạ.
Ðó là một chú tiểu vui vẻ, mặc kimono bằng vải bông trắng, thắt lưng cùng màu, khoác bên ngoài một chiếc áo choàng thô nhìn từ trên xuống giống như một chiếc mùng.
- Chú Ryonen. Thế nào? Dạo này có bị hòa thượng la mắng đòi đuổi ra đường nữa không?
- Không ạ, cháu còn được khen đấy!
- Chắc được khen là tình cảm vì đã chạy long nhong rồi bắt được con cá ở giữa đường, phải không?
- Sư phụ bảo Ryonen khôn trước tuổi, biết cách chơi đấy chứ!
- Thảo nào mà trên đầu lại mọc lên một cái bướu! Cái đầu đang sưng phồng thế này mà cạo thì gãy xương mất. Hôm nay tôi để chú về nghỉ, lần sau nhớ chỉnh lại cái đầu rồi đến nhé.
- Nếu mà phải chỉnh lại, chẳng thà cháu đến một thợ cắt tóc giỏi hơn!
- A ha! Cái đầu thì xộc xệch nhưng cái miệng thì lanh lợi đấy!
- Còn chú thì tay chân chậm chạp nhưng lại giỏi uống rượu!
- Tay chân chậm chạp à? Nói bậy...
- Không phải cháu nói đâu. Sư phụ nói đấy chứ. Nên chú đừng giận nhé. Chẳng đáng gì đâu.
- Hừm, chẳng hay ho gì cả... Ðúng không, anh?
- Cái gì?
- Cái bọn sư sãi ấy toàn sống an nhàn trên những bậc đá cao, chẳng biết thế nào là vất vả nên tự nhiên dạn mồm hẳn lên anh nhỉ. Ðến như chú tiểu nhóc con này mà cũng ngoác mồm nói chuyện thiên hạ đấy... Ôi, ngả cái đầu qua một chút... ngả qua một chút nào!...Không nghe lời là ta cho một nhát đấy, biết không? Chảy máu đấy!
- Ðau quá! Ðừng có làm mạnh tay thế chứ!
- Nếu có chừng này mà cũng không chịu nổi thì làm sao thành nhà sư được?
- Cháu đang là sư đây mà.
- Chẳng phải chú mới chỉ là tiểu tăng sao?... Cái ông Taian hồi đó, làm sao mà chết thế hả chú?
- Nhưng mà ông Taian có chết đâu nhỉ?
- Không chết à? Lạ thế! Tôi cứ tưởng ông ta phải chết rồi kia chứ?
- Ông Taian sau chuyện đó thì rất tức giận, đã bỏ đến chùa Daibai ở Rikuzen chuyên tâm tu hành. Bây giờ có lẽ đã giác ngộ rồi. Cũng là một chuyện hay đấy chứ.
- Chuyện gì hay? Dù có là một nhà sư như thế nào đi nữa, nếu mà ra đi một cách vụng trộm ban đêm thì chẳng có gì là tốt đẹp. Chú phải hết sức cẩn thận đấy. Dù sao thì cũng là một người đàn bà có vấn đề... Nói đến đàn bà mới nhớ, cái cô dở người ấy vẫn còn đến chỗ hòa thượng phải không?
- Cháu chưa từng nghe nói đến cô dở người nào cả.
- Chú chẳng hiểu gì cả, đúng là chỉ biết chuyện bếp núc thôi. Cô ta có còn đến nữa hay không hả?
- Cô dở người nào thì cháu không biết, nhưng cái cô ở Shihoda thì có đến.
- Dù hòa thượng có tụng niệm thế nào cũng không khỏi được đâu. Chắc chắn là cô ta đã bị người chồng trước nguyền rủa.
- Cô ấy là một người tuyệt vời. Sư phụ hay khen cô lắm.
- Khi người ta leo những bậc đá để lên dốc thì cái gì cũng bị đảo ngược cả, chẳng đúng sự thật tí nào. Hòa thượng có nói gì thì dở người vẫn cứ là dở người thôi...À, xong rồi đấy. Chú về nhanh đi, kẻo hòa thượng lại mắng cho bây giờ.
- Ồ không, cháu sẽ đi chơi thêm một chút để được sư phụ khen.
- Mặc chú! Ðúng là một con quỷ nhanh mồm!
- Ðồ bẩn thỉu!
- Nói gì đấy?
Cái đầu cạo nhẵn đã lách qua tấm màn treo ở cửa, biến nhanh vào làn gió mùa xuân.
Chương 6
Tôi ngồi vào bàn ăn tối. Những cánh cửa trượt lớp trong lớp ngoài đều mở toang. Nhà vốn đã có không gian rộng mà lại vắng người. Vì căn phòng tôi đang ở cách xa hoạt động của thế giới con người bởi một dãy hành lang ngoằn ngoèo, nên tôi không bị tiếng động nào quấy phá dòng suy tưởng. Ðặc biệt hôm nay lại càng yên lặng. Hình như cả chủ nhà, cả cô con gái và gia nhân nam nữ, không biết tự lúc nào, đều biến đi đâu mất bỏ lại một mình tôi. Nói là biến đi đâu thì không có nghĩa đơn giản là họ đi về một nơi nào đó. Mà có thể họ đã vào trong thế giới của sương mù, hay là vào xứ sở của mây. Hay là khi mây và nước tự nhiên xích lại gần nhau, họ đã lơ đãng bỏ quên cả mái chèo để thuyền trôi lênh đênh trên mặt biển mơ màng, và cánh buồm trắng đã trôi dạt đến nơi khó mà phân biệt được ranh giới giữa mây và nước, rốt cuộc bản thân cánh buồm cũng khó mà biết được nơi nào là nước nơi nào là mây... có lẽ họ đã đi đến cái nơi tận cùng xa xôi như thế. Nếu không phải thế thì có lẽ họ đã đột ngột biến mất giữa mùa xuân, trở thành khí thiêng của đất trời sinh ra vạn vật, trong một thế giới mênh mông mà mắt thường không nhìn thấy, dù có dùng đến năng lực của kính hiển vi cũng không tìm ra một dấu vết nhỏ nhoi nào. Hay có lẽ họ đã hóa thành chim chiền chiện, cất cao tiếng hát ca ngợi màu vàng hoa cải đến tàn hơi rồi tan vào một vùng sương khói hoàng hôn màu tím thẫm. Hay có thể là giống như loài sâu bọ, sau khi xong công việc làm cho ngày càng dài hơn, họ đã uống những giọt sương ngọt ngào đọng trong túi noãn mà trúng độc, lăn xuống dưới những bông hoa trà rơi rụng và chìm sâu trong giấc ngủ thơm lừng. Dù đã xảy ra trường hợp nào thì không gian lúc này cũng thật là yên tĩnh.
Những cơn gió mùa xuân lùa thông thốc qua gian nhà trống trải chẳng chiều lòng những ai chào đón chúng. Mà cũng không muốn chọc tức những ai muốn ngăn chúng lại. Tự đến rồi tự đi, đó là tinh thần của một vũ trụ vô tư và công bằng. Nếu tâm hồn của kẻ đang ngồi chống cằm là tôi cũng trống trải như căn phòng tôi đang ở thì chắc hẳn những cơn gió xuân, dù không ai mời gọi, vẫn cứ tự do thổi thốc vào.

Khi biết rằng mình đang giẫm lên mặt đất, chúng ta sẽ lo ngại bước chân mình làm mặt đất nứt ra. Vì biết trên đầu mình là vòm trời bao phủ nên con người mới sợ sấm sét. Chúng ta bị thế giới phù hoa này thúc giục đấu tranh không ngừng nghỉ, nên phiền não chẳng bao giờ chấm dứt. Khi chúng ta sống trong cõi trời đất chia biệt Ðông Tây, với tấm thân bị mắc vào mạng lưới của những chuyện thiệt hơn, được mất, thì tình yêu chân chính chỉ là điều không tưởng. Sự giàu có trước mắt cũng chỉ là cát bụi. Danh vị mà ta giành lấy hay vinh quang mà ta chiếm được chẳng qua cũng giống như một con ong ranh mãnh, vờ tạo ra thứ mật ngọt quyến rũ nhưng lại giấu nọc độc bên trong. Nói chung, bởi vì niềm vui là cảm xúc nảy sinh khi ta gắn mình vào một điều gì đó, nên nó cũng hàm chứa đồng thời mọi khổ đau. Nhờ có thi nhân và họa sĩ mà chúng ta được thưởng thức những tinh hoa cốt tủy của thế giới hai mặt này, được biết sự thanh khiết tận cùng của nó. Ngậm móc uống sương, khen tía chê hồng, và chẳng hối hận gì trước cái chết. Niềm vui của nghệ sĩ không phải do gắn mình với một cái gì. Họ đã đồng hóa chính vào sự vật. Khi đã hòa mình vào trong sự vật rồi thì dù có đi đến tận cùng thế giới mông lung này cũng không thể tìm ra chỗ để ràng buộc cái tôi. Họ thong dong giũ sạch bụi trần, khoác áo tả tơi mà thưởng thức gió ngàn vô tận. Không phải vì dám hợm mình, tỏ ra khinh thường những thị dân giữa cõi đời ô trọc mà tôi vô cớ nghĩ ra một khung cảnh như thế. Chẳng qua chỉ vì tôi muốn nói lên những lời tốt đẹp để kêu gọi chúng sinh có nhân duyên. Nói thẳng ra thì thi ca, hội họa đều là những nguồn mạch vốn có trong tất cả mọi người. Dẫu chúng ta sống qua bao ngày tháng mòn mỏi cho đến lúc bạc đầu, nhưng khi hồi tưởng lại cuộc đời mình, khi lần lượt điểm lại những gì mình trải nghiệm, nếu quên đi bản thân mình thì chúng ta vẫn tìm thấy một niềm vui lan tỏa nhẹ nhàng, như một cơ thể chết rồi vẫn còn hắt ra những tia sáng le lói. Ai không tìm được điều đó thì có thể nói là anh ta đã sống một cuộc đời không lý tưởng.
Tuy nhiên, niềm vui của thi nhân không chỉ đơn giản là chìm đắm vào một điều gì đó, hay là đồng nhất bản thân với một đối tượng nào. Có khi thi sĩ hóa thành một cành hoa, cũng có khi biến thành một cánh bướm. Hay có thể giống như Wordsworth[1], anh ta hóa thành một đám thủy tiên, thả hồn vào ngọn gió thổi qua dòng suối. Nhưng cũng có trường hợp chúng ta bị cuốn hút bởi những vẻ đẹp khó diễn tả ở quanh ta, và không hiểu rõ mình bị chinh phục bởi cái gì. Giống như khi người ta chạm vào dòng khí linh thiêng của vũ trụ. Như một người nào đó nghe được những nốt nhạc của cây đàn bí ẩn không dây. Hay ta có thể hình dung điều đó giống như trạng thái rơi vào trong một cõi mông lung mơ hồ, lang thang trong một thế giới vô biên và không sao hiểu được. Diễn tả như thế nào là tùy ý mỗi người. Chỉ biết rằng đó chính là trạng thái tâm lý của tôi khi ngồi mơ màng bên bàn ăn tối.
[1] Câu này là ý thơ của thi sĩ người Anh - William Wordsworth (1770 - 1850).
Rõ ràng là tôi chẳng suy nghĩ chuyện gì. Và đúng ra thì tôi cũng chẳng nhìn gì cả. Vì ý thức của tôi chẳng ghi nhận màu sắc hay động hướng gì, nên không thể nói là tôi đã hòa mình vào mọi vật. Thế nhưng tôi vẫn đang hoạt động. Không hoạt động ở bên trong hay bên ngoài thế giới này. Chỉ là đang hoạt động mà thôi. Không hoạt động như hoa, như chim, hay thậm chí hoạt động có liên quan đến con người mà chỉ đang hoạt động trong trạng thái mơ hồ, dường như là say mê.
Nếu buộc phải giải thích điều đó thì tôi chỉ muốn nói rằng tâm hồn tôi đang hòa vào không khí của mùa xuân. Tôi muốn nói đến thứ linh khí được tạo ra từ việc tổng hợp toàn bộ sắc xuân, gió xuân, vạn vật mùa xuân, âm thanh mùa xuân, được luyện thành thuốc tiên rồi hòa tan vào loại nước trường sinh, chưng cất trong ánh nắng thần tiên - thứ linh khí tự lúc nào đã thấm qua lỗ chân lông, rồi lan tỏa trong tâm hồn mà tôi không hề hay biết. Trong sự đồng hóa thường có cả yếu tố kích thích. Và cảm giác thích thú được tạo ra cũng là nhờ chính sự kích thích ấy. Còn trong trường hợp này tôi không rõ mình đã hòa tan với cái gì, nên không hề có sự kích thích. Và bởi vì không có kích thích nên điều đó tạo ra một niềm vui sâu thẳm khó gọi tên. Nó khác với thứ cảm xúc có vẻ ồn ào nhưng hời hợt, như những làn sóng xôn xao khi gió thổi. Có thể hình dung điều đó giống như trạng thái hoạt động của đại dương xanh thẳm với chiều sâu vô tận, trải mênh mông từ châu lục này qua châu lục khác. Chỉ có điều mức độ hoạt động không mạnh mẽ đến như thế. Nhưng lại có một điều may mắn. Vì sự thể hiện sức hoạt động mạnh mẽ luôn kèm theo nỗi lo rằng sức mạnh kia đến một lúc nào đó sẽ cạn kiệt. Trường hợp ở mức độ bình thường thì không có mối bận tâm ấy. Lúc này đây, không những trong tâm hồn tôi, vốn mong manh khác thường, không có nỗi ưu tư về chuyện năng lực mạnh mẽ kia liệu có suy giảm, mà tôi đã thoát khỏi cả những vướng bận đời thường về chuyện xấu tốt, thiệt hơn. Chữ “mong manh” tôi dùng ở đây chỉ có nghĩa đơn giản là khó nắm bắt, chứ không nói đến sự lo sợ vì quá yếu đuối. Có lẽ phù hợp nhất cho trạng thái này là chữ “thư thái” hay “ung dung” mà các thi sĩ vẫn hay dùng.
Nếu vẽ trạng thái này thì không biết sẽ phải thể hiện thế nào nhỉ? Nhưng chắc chắn đó không phải là một bức họa thông thường. Cái mà chúng ta thường gọi là hội họa không có gì khác hơn là sự thể hiện nguyên vẹn những hình ảnh về phong cảnh, sự vật hay con người mà mình chứng kiến, hay gạn lọc những điều đó qua cái nhìn thẩm mỹ của bản thân rồi đưa lên nền vải. Người ta cho rằng chức năng của hội họa chỉ là vẽ hoa cho ra hoa, nước cho ra nước, nhân vật hành động cho ra nhân vật, như thế là đã đủ rồi. Những họa sĩ tài năng hơn mức tầm thường một bậc sẽ đưa cảm xúc vào trong tác phẩm của mình, làm cho đối tượng mà mình cảm nhận hiện ra một cách sinh động hơn trên bức vẽ. Họ là những kỹ thuật gia luôn tập trung để ký thác cảm xúc đặc biệt của mình vào thế giới của vô vàn những sự vật hiện tượng mà mình nắm bắt. Vì vậy, không thể nói rằng họ đang vẽ nếu những sự vật hiện tượng mà họ quan sát không hiện ra lấp lánh trong từng nét cọ. Họ chủ trương hội họa phải thể hiện một cách nhìn, cách cảm nhận riêng, và họa sĩ vượt qua được các bậc tiền nhân, thể hiện sự quan sát, cảm nhận ấy bằng cách tiếp thu chất liệu của những huyền thoại xưa cũ để sáng tạo nên một tác phẩm chân thật hơn và đẹp tươi hơn. Nếu tác phẩm không thể hiện được chủ trương ấy thì họ không dám nhận là sáng tác của mình.
Hai kiểu nghệ sĩ này có lẽ khác nhau ở vấn đề chủ quan, khách quan hay mức độ nông sâu. Nhưng sự giống nhau là cả hai đều chờ đợi một sự kích thích rõ ràng từ ngoại giới để có cảm hứng cầm cọ vẽ. Tuy nhiên, cái chủ đề mà bây giờ tôi muốn vẽ ra không phải là sự vật rõ ràng như vậy. Dù tôi đang theo đuổi những cảm giác vô cùng tận và nỗ lực để tìm ra những ngoại vật tương ứng, nhưng khó mà tìm thấy bóng dáng đậm nhạt hay đường nét lớn nhỏ thế nào, nói gì đến hình dạng vuông hay tròn, màu sắc xanh hay đỏ. Cảm xúc của tôi không phải là cái gì đó đến từ bên ngoài. Mà dẫu có đến từ bên ngoài đi nữa cũng không phải là một vật thể, hay một cảnh tượng nhất định nằm trong tầm nhìn của tôi, nên không thể chỉ rõ ra một nguyên nhân nào cụ thể. Ðơn giản chỉ là một trạng thái cảm xúc mà thôi. Vấn đề là làm sao vẽ được cảm xúc này, hay làm thế nào tìm được một cái gì cụ thể để ký thác cảm xúc, sao cho mọi người có thể cảm nhận được.
Nếu là loại tranh vẽ tầm thường thì thậm chí không cần cảm xúc, chỉ có sự vật thôi cũng đủ. Loại thứ hai thì cần sự phối hợp của cảm xúc và khách thể. Còn ở loại thứ ba thì chỉ có cảm xúc, nên cần phải lựa chọn đối tượng phù hợp để thể hiện trạng thái của tâm hồn mới có thể đưa vào tranh được. Tuy nhiên, đối tượng kiểu này không phải là dễ có. Mà dẫu có thì cũng không nắm bắt được dễ dàng. Cũng có trường hợp đã nắm bắt được nhưng lại thể hiện khác hoàn toàn so với đối tượng vốn có trong tự nhiên. Cho nên người bình thường không thể xem đó là tranh vẽ. Vẽ tranh không đơn giản là sự sao chép nhân vật, cảnh tượng như một phần của thế giới tự nhiên, mà phải ít nhiều thể hiện được trạng thái tâm hồn trong khoảnh khắc thăng hoa cảm xúc, lồng vào tâm trạng khó tả ấy những hình ảnh nhất định về sự sống thì mới được xem là thực sự thành công. Không rõ từ trước đến giờ đã có họa sĩ nào thành công trọn vẹn trong công việc khó khăn này chưa nhỉ? Nếu cần kể ra những tác phẩm được xem là thành công ở mức độ nào đó theo quan niệm này, thì có thể nói đến những bức tranh tre của Văn Dữ Khả[2]. Hay là tranh sơn thủy của những họa sĩ trường phái Unkoku[3]. Kế đến là tranh phong cảnh theo phong cách Taiga[4]. Rồi tranh vẽ người của Buson[5]. Còn những họa sĩ phương Tây chủ yếu miêu tả thế giới hiện tượng, hầu như không chú trọng đến chiều sâu tâm hồn thì không biết có được mấy người thể hiện được cái đẹp trừu tượng kiểu này bằng nét vẽ?
[2] Văn Dữ Khả (1018 - 1079) là một họa sĩ, nhà thơ người Trung Quốc.
[3] Trường phái hội họa do Unkoku Togan (1547 - 1618) sáng lập.
[4] Ike Taiga (1723 - 1776) là một họa sĩ, nhà văn Nhật Bản.
[5] Yosa Buson (1716 - 1784) là nhà thơ, họa sĩ Nhật Bản.
Ðiều đáng tiếc là vẻ đẹp hàm ẩn mà những họa sĩ như Sesshu[6], Buson nỗ lực thể hiện đều quá đơn điệu, ít có sự thay đổi. Nếu nói về năng lực sáng tạo thì tôi không dám sánh với những bậc thầy như thế, nhưng trạng thái cảm xúc mà bây giờ tôi muốn vẽ ra thì hơi phức tạp. Phức tạp ở chỗ khó mà dung hợp mọi cung bậc cảm xúc vào trong một bức vẽ. Tôi thôi chống cằm mà đổi sang tư thế khoanh hai tay trên bàn ngồi suy nghĩ, nhưng vẫn chưa nảy ra ý tưởng nào. Phải vẽ ngay khi màu sắc, hình dạng, phong thái của đối tượng vừa xuất hiện trong tâm tưởng, và mình chợt nhận ra “À, như thế này đây!”. Trạng thái đó giống như một người mẹ tìm kiếm đứa con thất lạc của mình, phải đi qua bao nhiêu vùng đất, khi thức cũng như lúc ngủ đều đau đáu nghĩ về con, để rồi một ngày kia giữa ngã tư đường bất ngờ gặp lại đứa con mình tìm kiếm: “A, nó đây rồi!”. Thật khó mà nắm bắt được ngay khoảnh khắc đó.
Tôi chỉ cần vẽ ra được thứ cảm xúc này, rồi mặc cho người xem tranh bình phẩm. Nếu mà tranh không đẹp thì dù có bị sỉ vả thế nào tôi cũng không hối tiếc. Dù sao thì, chỉ cần cách phối màu thể hiện được một phần của cảm xúc kia, hay đường nét cho thấy được phần nào tâm trạng ấy, hoặc là toàn bộ sự phối hợp biểu hiện được trạng thái cảm xúc ở một mức độ nào đó, thì dù cái mà tôi vẽ ra là trâu, là ngựa hay thậm chí chẳng thành trâu ngựa, chẳng là gì cả thì tôi cũng sẵn lòng. Sẵn lòng nhưng bây giờ vẫn chưa làm được. Tôi đặt cuốn sổ phác họa lên bàn, nhìn vào trong sổ mà tập trung suy tưởng, nhưng vẫn chưa nảy ra ý tưởng nào.

[6] Sesshu (1420 - 1506) là một họa sĩ Nhật Bản, nổi tiếng về loại tranh sơn thủy.
Tôi đặt bút chì xuống và ngẫm nghĩ. Bản thân cái ý định muốn vẽ một cảm xúc trừu tượng như thế đã là một sai lầm. Vì con người vốn không khác nhau nhiều lắm, nên chắc hẳn sẽ có một số người biết đến thứ cảm xúc mà tôi đang trải nghiệm, rồi muốn thử dùng cách nào đó để biến cảm xúc này thành vĩnh cửu. Trong trường hợp đó thì họ sẽ chọn cách nào?
Ngay lúc đó trong tôi chợt bật ra hai chữ “âm nhạc”. Ðúng rồi, âm nhạc chính là thứ âm thanh của tự nhiên, vang lên trong khoảnh khắc bởi một sự cần thiết nhất định. Lần đầu tiên tôi nhận ra rằng âm nhạc là thứ người ta cần phải nghe, cần phải học. Nhưng bất hạnh thay, tôi hoàn toàn không hiểu được những thông điệp của thế giới này.
Tiếp đó, tôi thử bước vào lĩnh vực thứ ba là thơ ca. Tôi nhớ ông Lessing [7] có lý luận rằng, thế giới của thơ ca được kiến tạo từ những gì nảy sinh nhờ trải nghiệm qua thời gian, đồng thời ông cũng đưa ra nguyên lý rằng thơ ca và hội họa là hai lĩnh vực khác hẳn nhau. Tuy nhiên, nếu quan niệm về thơ ca như vậy thì cái thế giới mà bây giờ tôi đang muốn nắm bắt và thể hiện không có triển vọng gì sẽ trở thành một tứ thơ. Có lẽ trạng thái mang lại cho tôi cảm xúc hân hoan này cũng có yếu tố thời gian, nhưng không có nội dung nào sẽ phát triển dần dần theo thời gian cả. Ðây không phải là niềm vui mà ta cảm nhận khi cái thứ hai hình thành thay cho cái thứ nhất đã mất đi, rồi khi cái thứ hai biến mất thì cái thứ ba xuất hiện. Mà là niềm vui đến từ một cõi nào sâu thẳm tự ban sơ và không hề thay đổi. Chính vì điều đó không thay đổi nên khi ta sử dụng một thứ ngôn ngữ thông thường để diễn đạt thì không cần thiết phải sắp xếp những chất liệu ấy theo dòng chảy thời gian. Có lẽ chỉ cần sắp xếp cảnh vật trong không gian, giống như hội họa. Vấn đề là làm thế nào để đưa được vào thơ thứ cảm xúc hư ảo mông lung này. Tóm lại, một khi thơ ca đã thể hiện được điều đó thì có thể xem là thành công, cho dù không theo nguyên lý của Lessing đi chăng nữa. Và cũng không cần biết đến Homer hay Virgil[8]. Tôi cho rằng nếu quan niệm thơ là sự diễn đạt ứng với một kiểu tâm trạng nào đó, thì dẫu tâm trạng ấy không cần đến một nội dung phát triển tuần tự trong giới hạn của thời gian, mà chỉ cần đơn giản là thỏa mãn điều kiện về không gian trong hội họa thì cũng có thể dùng ngôn ngữ thơ ca để mà diễn đạt.
[7] Gotthold Ephraim Lessing (1729 - 1781) là nhà thơ, nhà phê bình văn học người Ðức.
[8] Virgil (70 BC - 19 BC) là một nhà thơ sống vào thời La Mã cổ đại. Homer (không rõ năm sinh và năm mất) là nhà thơ Hy Lạp cổ đại, tác giả của trường ca Iliad và Odyssey.
Lý luận thì thế nào cũng được. Tôi hầu như không còn nhớ đến những tác phẩm như Laocoon[9], nên nếu cứ soi xét kỹ thì chỉ càng thêm rối. Dù sao, nếu không vẽ tranh được thì hãy thử làm thơ. Tôi nghĩ vậy và chấm bút chì xuống trang sổ phác họa, lắc lư thân mình để tìm một sự thay đổi nào đó, nhưng chẳng có gì. Một lúc lâu vẫn không có ý tưởng nào dịch chuyển được đầu ngọn bút. Như thể bỗng nhiên tôi quên mất tên của một người bạn. Có cảm giác như đã gần nhớ ra được nhưng vẫn không thể nào nhớ nổi. Rồi nếu tôi chán nản mà bỏ cuộc thì cái tên chợt bị quên kia sẽ trôi mãi vào miền quên lãng.
[9] Tác phẩm lý luận của Lessing về thơ ca và hội họa.
Khi khuấy bột làm bánh kuzuyu, lúc đầu thì bột còn rời rạc chưa dính đũa. Nhưng nếu kiên nhẫn khuấy tiếp thì bột sẽ kết dính, tay cầm đũa cũng có cảm giác nặng dần. Và nếu cứ khuấy mãi không nghỉ tay thì sẽ đến lúc lại không khuấy nổi. Rồi cuối cùng thì bột ở trong nồi cứ tự dính vào đũa mà không cần phải khuấy. Làm thơ thực ra cũng giống hệt như vậy.
Rốt cuộc thì chiếc bút chì trong trạng thái vô định hướng cũng bắt đầu nhúc nhích từng chút một. Trong khoảng thời gian chừng hai, ba mươi phút, tôi đã làm được bài thơ sáu câu:
Xuân xanh tháng hai, ba
Nỗi buồn vương hương cỏ
Vườn vắng đầy hoa rụng
Phòng trơ trọi cung đàn
Tơ nhện giăng im lìm
Trần nhà hoen muội khói
Khi đọc lại, tôi thấy trong thơ đầy những hình ảnh có thể vẽ tranh. Giá mà vẽ được tranh ngay từ đầu thì tốt quá, tôi thầm nghĩ. Rồi lại tự hỏi mình vì sao làm thơ lại dễ hơn vẽ tranh. Ðã làm được thơ như thế này thì có lẽ dễ làm tiếp phần sau. Nhưng tiếp đó, tôi muốn diễn đạt thành thơ những cảm xúc mà tôi không thể vẽ thành tranh được. Sau một hồi đắn đo lựa chọn, tôi đã làm bài thơ:
Ngồi một mình, không gian thinh lặng
Soi tâm tư, ánh sáng diệu huyền
Cõi nhân gian lắm người đa sự
Chốn thanh bình, sao có thể quên?
Tình cờ được một ngày yên tĩnh.
Ðể hiểu trăm năm rộn chuyện đời
Gửi vào đâu cõi lòng u mặc
Quê nhà mây trắng mãi xa xôi.
Tôi đọc lại cả bài thơ một lần nữa thì thấy cũng tạm được, nhưng nếu xem đây là những vần thơ miêu tả cảm nhận về cõi siêu nhiên mà tôi vừa biết đến thì có cảm giác như vẫn thiếu vắng điều gì. Nên tôi vẫn cầm nguyên cây bút chì trên tay với ý định nhân tiện sẽ làm thêm một bài thơ nữa. Trong lúc vô tình nhìn ra phía cửa phòng, tôi chợt thấy cánh cửa trượt qua, rồi bóng một cô gái xinh đẹp lướt nhanh qua khoảng trống mới mở chỉ rộng chừng một mét. Gì thế nhỉ?
Tôi đưa mắt nhìn ra cửa thì cái bóng xinh đẹp ấy đã khuất một nửa vào phía sau cánh cửa trượt vừa mới mở. Nhưng trước khi tôi kịp định hình thì bóng dáng ấy, có vẻ là một cái gì đó đang chuyển động, thoáng chốc đã vụt qua. Tôi bỏ mặc những tứ thơ và chăm chú nhìn về phía cánh cửa.Chưa đầy một phút sau, cái bóng đã hiện ra từ hướng ngược lại. Ðó là một cô gái mặc kimono dài tay, bước đi nhẹ nhàng thong thả, trên ban công tầng hai của gian nhà đối diện. Trong khoảnh khắc tôi bất giác nín thở, đánh rơi cả chiếc bút chì.
Trong bóng chiều chạng vạng, dưới bầu trời đầy mây chốc chốc lại sa sầm báo hiệu sắp có mưa, dáng người mặc kimono dài tay đang thướt tha đi lại trên khoảng ban công, cách chỗ tôi ngồi một khoảng sân rộng hơn mười mét, cứ chập chờn thoáng ẩn thoáng hiện trong không gian trĩu nặng.
Cô gái chẳng nói câu nào. Cũng không nhìn sang phía phòng tôi. Cô bước đi nhẹ nhàng đến mức cả tiếng gấu áo quét dưới hành lang cũng không nghe thấy. Phần thân dưới của chiếc áo có màu sáng, nhưng vì khoảng cách xa nên tôi không rõ hoa văn hay màu sắc ở gấu áo như thế nào. Chỉ thấy hình như ở chỗ tiếp xúc giữa hoa văn với màu nền của vải áo bị mờ đi, giống như trạng thái nhập nhoạng lúc ngày chuyển sang đêm vậy. Và lúc này cô cũng đang bước đi trong khoảng không nhập nhoạng ấy.
Tôi không hiểu cô định mặc bộ áo dài tay này mà đi qua đi lại trên khoảng ban công dài kia bao nhiêu lần nữa. Tôi cũng không hiểu từ lúc nào cô đã bắt đầu cái màn trình diễn lạ lùng này, trong một bộ cánh làm người ta sửng sốt. Tôi hoàn toàn không hiểu cô muốn thể hiện điều gì. Nhìn qua khung cửa một cô gái cứ thoắt ẩn thoắt hiện, lặp đi lặp lại bao nhiêu lần cái việc không thể nào hiểu nổi, với cái vẻ đoan trang và lặng lẽ như vậy, tôi cũng thấy đây là một chuyện hết sức lạ lùng. Nếu đây là cách thể hiện sự nuối tiếc khi mùa xuân sắp trôi qua thì sao cô lại có vẻ lơ đãng thế? Mà nếu đã tỏ ra lơ đãng thì sao lại ăn mặc đẹp đến vậy?
Có lẽ loại vải gấm đã làm nổi bật chiếc obi, làm sáng lên trong khoảnh khắc vẻ đẹp dịu dàng của sắc xuân lúc ngày tàn, trước khung cửa mờ mờ tối. Rồi bóng dáng trầm ngâm trong bộ quần áo rực rỡ cứ thướt tha đi lại trong thoáng chốc sẽ mất hút trong bóng chiều, tan biến vào cõi xa xăm u tịch. Giống như những vì sao lấp lánh mất hút vào trong màu xanh thẳm của bầu trời xuân trước buổi bình minh.
Thế giới rộng lớn chừng như mở ra, hút cái bóng dáng rực rỡ kia vào trong cõi u huyền. Tôi cảm thấy có một vẻ gì đó siêu thực khi hình ảnh cô gái diện bộ trang phục chỉ phù hợp với cuộc sống hào nhoáng có phông cảnh dát vàng phía sau và những giá nến bằng bạc lung linh trước mặt, trong một buổi chiều xuân “mỗi giây phút đáng giá ngàn vàng”, với dáng điệu chẳng có vẻ gì buồn bực mà cũng chẳng tỏ ra hăng hái, đang phai nhạt để dần biến mất khỏi thế giới hiện thực này. Chốc chốc, khi tôi liếc nhìn trong qua bóng hoàng hôn đang dần thẫm lại, thì thấy có vẻ như cô gái kia vẫn nấn ná ở đó, không có vẻ gì bối rối hay vội vã, vẫn bước những bước chân đều đặn không ngừng. Nếu không hề biết đến tai họa sắp giáng xuống đầu mình thì cô đúng là một người vô cùng trong sáng. Còn nếu biết mà không nghĩ rằng đó là tai họa thì quả là khác thường. Phải chăng cô vốn thuộc về bóng tối, và đây là khoảnh khắc mà cái ảo ảnh tạm thời đang trở về với cõi sâu thẳm khởi nguyên, nên mới có thể thong dong cất bước trên lằn ranh giữa hai thế giới hư và thực? Ðặc tính này cũng thể hiện trên chiếc áo dài tay mà cô đang mặc, với những họa tiết đa dạng chìm dần và mất hút vào trong nền vải đen tuyền.
Và tôi cũng nghĩ thế này. Nếu phải ở bên giường, chứng kiến một cô gái đẹp chìm trong giấc ngủ say sưa và trút hơi thở cuối cùng của đời sống thực để bước vào cõi mộng huyền ảo đó, thì chắc hẳn chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng đau khổ. Nhưng nếu chết vì quá nhiều nỗi khổ đau chồng chất, thì không chỉ bản thân người ấy đã quá mệt mỏi vì một cuộc sống không điểm tựa, mà ngay cả những người thân chứng kiến bên cạnh có lẽ cũng chán nản mà cho rằng chết đi là giải thoát. Tuy nhiên, ta sẽ hiểu thế nào về một đứa trẻ đi vào cõi chết từ trong giấc ngủ say? Khi chết đi một cách dễ dàng trong lúc ngủ, đứa trẻ đã kết thúc cuộc sống quý giá của mình mà chưa kịp nghĩ gì đến cái chết. Nếu ai đó chắc chắn là phải chết, thì chúng ta nên giúp họ hiểu được định nghiệp không tránh khỏi của con người, để người ấy hướng đến hỉ xả và niệm Phật. Nếu bản thân cái chết hiện ra rõ ràng khi ta chưa hoàn thành những điều kiện để kết thúc cuộc đời, thì những tiếng niệm Phật vang lên như những âm thanh dùng để níu kéo trong tuyệt vọng một người đang trên đường về thế giới bên kia. Cũng có thể một người đang chìm trong giấc ngủ tạm thời, tưởng chừng như đã đi vào miền vĩnh cửu, bỗng trong một khoảnh khắc lơ đãng nào đó bị níu kéo để lại vướng vào sợi dây phiền não tưởng chừng đã đứt thì sẽ cảm thấy rất đau khổ. Biết đâu người ấy sẽ nghĩ rằng, nếu từ bi thì đừng níu kéo, hãy để ta chìm sâu trong giấc ngủ yên bình. Nhưng chúng ta lại cứ giằng níu họ.
Mỗi lần bóng dáng cô gái sắp hiện ra ở cửa là tôi lại định cất tiếng gọi để kéo cô về với thế giới thực. Nhưng khi cái bóng lướt vụt qua khoảng trống một mét phía trước cửa như một giấc mơ thì tôi lại không thể nào cất tiếng nổi. Ðã cố trấn tĩnh và thầm nhủ lần này phải làm được, nhưng rồi cái bóng lại vèo qua mất. Rồi trong lúc tôi đang tự vấn vì sao không làm được, thì cô gái lại lướt qua. Cô cứ đi ngang qua như thế với cái vẻ không để ý gì đến những chuyện nhỏ nhặt xung quanh, không cần biết rằng nếu có người nào đó trông thấy, thì hẳn người đó sẽ lo lắng thế nào về sự bất ổn của mình. Ngay từ đầu cô đã đi qua với cái vẻ không quan tâm gì đến những người như tôi, không cần biết liệu tôi có bị làm phiền hay cảm thấy khó xử gì không. Rồi trong lúc tôi đang tự nhủ “lần này mình sẽ gọi” thì những sợi mưa đã nhẹ nhàng buông xuống từ những vầng mây sũng nước, như bức màn u uẩn che khuất hình bóng cô gái phía bên kia.

Tác giả: Natsume Soseki
Dịch giả: Lam Anh
Nguồn ebook: http://tve-4u.org/
Theo http://diendanlequydon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...