Chương 7
Trời lạnh. Tôi choàng tấm khăn đi xuống bồn tắm nước nóng.
Sau khi trút bỏ quần áo ở phòng thay đồ rộng ba chiếu, tôi đi xuống bốn bậc thang thì đến một khu nhà tắm rộng chừng tám chiếu. Có vẻ như ở nơi này rất nhiều nguyên liệu đá, nên phòng tắm được lát bằng đá hoa cương, và bể tắm nước nóng nằm ở giữa phòng, giống như cái bồn ở tiệm bán đậu phụ, lõm xuống mặt đất chừng hơn một mét. Cái gọi là “bể” này thật ra cũng được lát bằng đá. Nơi này có tên là suối khoáng nên chắc hẳn là nước ở đây có nhiều khoáng chất, nhưng màu nước trong suốt rất dễ chịu. Thỉnh thoảng tôi vốc nước lên nếm thử nhưng chẳng thấy có mùi hay vị gì đặc biệt. Nghe nói loại nước này cũng có tác dụng chữa bệnh nhưng tôi chưa tìm hiểu nên không rõ là chữa được bệnh gì. Tôi vốn cũng chẳng có bệnh gì đặc biệt nên chưa từng quan tâm đến việc tìm hiểu giá trị sử dụng thực tế của nước khoáng. Mỗi lần ngâm mình trong bể tắm tôi chỉ nhớ đến câu thơ của Bạch Lạc Thiên[1]: “Dòng nước ấm mùa xuân/ Rửa trôi hết bụi trần” [2]. Hễ nghe nhắc đến “suối nước nóng” là tôi lại nhớ câu thơ này và cảm thấy khoan khoái. Hoặc nếu mà có suối nước nóng nào không mang lại cho tôi cảm giác thích thú kia thì tôi cho rằng nó không phải là một suối nước nóng đúng nghĩa. Ngoài tiêu chuẩn này tôi chẳng có đòi hỏi gì hơn.
[1] Tức Bạch Cư Dị (772 - 846), nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng đời Ðường.
[2] Hai câu thơ trong bài Trường hận ca.
Khi ngâm hết cả người vào bể thì nước ngập đến ngang ngực. Tôi không biết người ta dẫn nước từ chỗ nào vào bể tắm, nhưng mực nước luôn ngập qua thành bể, trông rất tinh khiết. Ðá lát đáy bể luôn đẫm nước và ấm áp dưới chân gây cảm giác dễ chịu. Mưa rơi nhẹ nhàng như lướt qua màn đêm, lặng lẽ tưới mát bầu không khí mùa xuân. Nhưng rồi tiếng mưa trên mái nhà càng lúc càng nặng hạt hơn, nghe rõ tiếng lộp độp, lộp độp. Hơi nước bốc lên mù mịt, tràn ngập cả gian phòng từ dưới sàn lên đến trần nhà, như đang cố tìm bất cứ khe hở hay lỗ hổng nhỏ nào để thoát ra. Sương thu lạnh hay sương mù giăng bảng lảng và khói bếp cơm chiều xanh ngát đều gửi vào bầu trời rộng mở những hình ảnh về kiếp phù sinh của chúng ta. Và những hình ảnh đó đều gợi lên nỗi buồn khó tả trước cuộc sống vô thường. Nhưng chỉ lúc này, khi đắm mình vào đám mây hơi nước ở vùng suối nước nóng trong một buổi tối mùa xuân, để cảm giác êm dịu bao bọc lấy da thịt để trần, tôi mới cảm thấy dường như mình đã biến thành một người khác, thuộc về một thế giới nào đó rất cổ xưa. Tuy rằng đám mây này không dày đặc đến mức che lấp toàn bộ những gì trước mắt, nhưng cũng không mỏng manh đến nỗi chỉ cần vén qua như xé đi một lớp vải mỏng thì con người trần tục của tôi sẽ bị phơi bày. Dù có xé đi một lớp, hai lớp hay bao nhiêu lớp thì với gương mặt bị che lấp trong làn khói mù này, tôi vẫn là một người vô hình được bao phủ trong một chiếc cầu vồng ấm áp. Người ta thường nói “say rượu”, chứ tôi chưa từng nghe ai nói là “say sương khói”. Mà dẫu có nói thế đi chăng nữa, thì tất nhiên người ta không định nói đến sương muối, mà cũng sẽ quá nặng nếu dùng cho sương mù. Lần đầu tiên tôi mới nhận ra cách nói ấy chỉ phù hợp với làn hơi nước mờ mịt thế này, khi người ta nghĩ về hai chữ “đêm xuân”.
Tôi tựa đầu lên thành bể tắm, ngước mặt lên, và thả nổi cơ thể hoàn toàn trong làn nước trong vắt. Linh hồn tôi cũng trôi nổi bồng bềnh như một sinh vật phù du. Nếu ta sống trong cuộc đời cũng với trạng thái thế này thì thoải mái biết bao. Có thể gỡ hết mọi rào cản phân biệt, bỏ hết mọi ngăn trở vì chấp trước. Mặc kệ mọi thứ trên đời, tôi cứ hòa mình vào trong làn nước ấm. Sống nhẹ nhõm như một phiêu sinh vật. Nếu trôi nổi bồng bềnh như vậy mà làm cho tâm hồn cũng bay bổng được thì còn tốt hơn là trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo. Ðúng là nếu suy nghĩ theo kiểu như thế này thì chết đuối quả là đẹp đẽ và hạnh phúc. Tôi cho rằng trong một bài thơ nào đó của Swinburne[3], tác giả đã viết về cảm giác vui sướng của một người con gái chết trong dòng nước. Hình ảnh nàng Ophelia trong tranh của Millais mà trước đây tôi vẫn nghĩ là đau khổ, nếu nhìn theo quan niệm này thì cũng trở nên rất đẹp. Từ trước đến giờ tôi vẫn đặt câu hỏi vì sao họa sĩ lại chọn một cảnh tượng gò bó như vậy, và lúc này tôi mới chợt hiểu rằng hội họa thì phải thế. Ðúng là rất đẹp nếu vẽ một người đang trôi hoặc đang chìm, hay có thể đang trôi nổi dập dềnh trong làn nước với vẻ mặt thanh thản. Nếu vẽ thêm hoa cỏ hai bên bờ, phối màu sao cho màu sắc của nước, sắc mặt của người trôi trên dòng nước và màu sắc của y phục hòa hợp với nhau thì chắc chắn sẽ thành một bức tranh đẹp. Tuy nhiên, nếu gương mặt một người chết trôi mà lại có được sự bình yên đến thế thì hình ảnh ấy phải là một huyền thoại hay một lối biểu tượng. Thể hiện sự đau đớn về thể xác thì sẽ làm hỏng tinh thần của bức tranh, nhưng nếu là gương mặt hoàn toàn bình thản, không có vẻ gì là đau khổ thì không phản ánh được tình cảm của con người. Phải vẽ một gương mặt như thế nào thì mới thành công nhỉ? Bức tranh Ophelia của Millais thì đúng là thành công đấy, nhưng tôi không tin rằng thế giới tinh thần của danh họa và mình lại giống nhau. Millais là Millais, tôi là tôi. Vì vậy tôi muốn vẽ một bức tranh về sự an lạc ở người chết đuối, xuất phát từ cảm hứng của riêng mình. Nhưng chẳng dễ gì mường tượng được gương mặt mà tôi muốn thể hiện.
[3] Algernon Charlet Swinburne (1837 - 1909) là nhà thơ nữ người Anh.
Lần này thì tôi làm một bài thơ ca ngợi người chết đuối, vẫn trong trạng thái trôi nổi bồng bềnh.
Khi trời mưa thì ướt
Khi sương rơi thì lạnh
Trong lòng đất tối tăm
Nhưng trôi trên dòng sông
Hay chìm trong sóng nước
Làn nước mùa xuân sẽ gột rửa muộn phiền...
Trong khi tôi đang mơ màng vừa thả nổi vừa ngâm nho nhỏ mấy câu như thế thì chợt nghe thấy tiếng đàn samisen từ đâu vẳng lại. Với một người được gọi là nghệ sĩ thì chuyện này đúng là đáng xấu hổ, nhưng phải thú nhận rằng thính giác của tôi hầu như không lĩnh hội được thứ tri thức lạ lùng về cách chơi đàn samisen, không phân biệt được cao độ của nốt này hay nốt khác. Tuy nhiên, trong một đêm mùa xuân thanh vắng, càng thêm thi vị khi có hơi mưa, trong một khu nghỉ dưỡng gần suối nước nóng ở vùng đồi núi, thả mình trong làn nước mùa xuân ấm áp đến tận tâm hồn mà vô tình được nghe tiếng đàn vẳng lại từ xa thì thật tuyệt. Vì xa nên dĩ nhiên là tôi không rõ người ta hát hay đàn điệu gì. Nhưng tiếng đàn có một vẻ gì đó rất cuốn hút. Nghe âm điệu trầm lắng, tôi đoán là khúc hát của những người hát rong vùng Kamigata[4], thường được chơi bằng loại đàn futozao[5].
[4] Nghĩa là vùng kinh đô.
[5] Một loại đàn samisen.
Thuở bé, trước cửa nhà tôi có một quán rượu tên là Yorozuya. Chủ quán có một cô con gái tên là Okura. Cô Okura này luôn dạo khúc nagauta vào buổi xế trưa của ngày xuân êm ả. Hễ nghe tiếng nhạc cất lên là tôi lại chạy ra vườn. Có ba cây thông mọc ở phía trước vườn trà rộng hơn ba mươi mét vuông, phía đông của gian phòng khách. Ðó là những cây thông to, gốc cây có chu vi gần nửa mét. Và điều thú vị là hình như những cây thông này chỉ khi đứng gần nhau mới tạo ra dáng đẹp. Hồi nhỏ, mỗi khi ngắm mấy cây thông này tôi thấy rất dễ chịu. Dưới gốc thông, trên một tảng đá màu đỏ mà tôi không biết là loại đá gì, có một chiếc đèn sắt màu đen đã rỉ sét, cứ đứng im lìm như một lão già ngoan cố. Tôi rất thích ngắm chiếc đèn lồng. Và xung quanh chiếc đèn ấy, những ngọn cỏ mùa xuân mà tôi không biết tên đâm xuyên qua mặt đất phủ dày rêu, không cần biết đến những cơn gió của cõi vô thường, đang âm thầm tỏa hương và lặng lẽ tận hưởng cuộc sống. Hồi đó, trong đám cỏ này, tôi tìm được một chỗ vừa đủ để chen chân, và hay ngồi hàng giờ ở đó. Thói quen mỗi ngày của tôi dạo ấy là ngồi dưới gốc thông, ngắm chiếc đèn lồng, ngửi mùi hương của cỏ, và nghe tiếng đàn của cô Okura từ xa vọng lại.
Có lẽ cô Okura đã trải qua thời kỳ búi tóc thành búi tròn theo kiểu phụ nữ mới kết hôn. Cô hay ngồi ở quầy thanh toán của quán rượu, gương mặt có vẻ đã từng trải vì mưu sinh. Tôi không rõ cuộc sống gia đình của cô có hạnh phúc không. Tôi cũng chẳng biết liệu những con chim én mỗi năm lại bay về, thì những chiếc mỏ lấm bùn của chúng có bận rộn vì kiếm ăn không. Trong tưởng tượng của tôi, hình ảnh những con chim én cứ lẫn vào mùi hương của rượu.
Không biết bây giờ ba cây thông ấy có còn tồn tại và giữ được dáng vẻ tươi đẹp của ngày xưa? Cây đèn lồng sắt thì chắc là đã hỏng mất rồi. Và những ngọn cỏ mùa xuân có còn nhớ đến người đã ngồi với chúng ngày xưa không nhỉ? Chắc hẳn là giờ đây chúng không thể nào nhận ra người đã lặng lẽ xa rời chúng từ những ngày xa xưa ấy. Và hẳn là chúng cũng không nhớ được tiếng hát mỗi ngày của cô Okura: “Chiếc cà sa vải bông là trang phục du hành”.
Tiếng đàn samisen bất ngờ gợi lại trong tôi cả một bức tranh toàn cảnh về những ngày thơ ấu. Và trong lúc tôi đang trở về với quá khứ đầy hoài niệm, để lại là một chú bé ngây thơ hai mươi năm về trước, thì cửa nhà tắm đột nhiên xịch mở.
“Có ai đến chăng?”. Tôi thầm nghĩ và quay nhìn ra cửa, vẫn đang ngâm mình trong bể tắm. Vì tôi gác đầu lên chỗ thành bể ở vị trí xa nhất từ phía cửa vào, nên cầu thang đi xuống bể tắm trong khoảng cách chừng sáu, bảy mét lọt nghiêng vào tầm mắt. Nhưng tôi vẫn chưa nhìn thấy gì. Trong một lúc lâu, tôi chỉ nghe thấy tiếng mưa rơi xuống mái hiên nhà. Tiếng đàn samisen đã ngưng từ lúc nào không rõ.
Rồi một bóng dáng nào đó hiện ra ở đầu cầu thang. Vì gian phòng rộng chỉ thắp mỗi chiếc đèn câu nhỏ, nên dù không bị hơi nước che mờ thì cũng khó nhìn rõ hình dạng hay màu sắc của bất cứ cái gì. Còn trong phòng tắm lúc này khi hơi nước bốc lên càng lúc càng nhiều, ngoài trời lại đang mưa mỗi lúc càng nặng hạt, thì tôi không biết lẩn đi đâu và cũng không nhận diện được cái bóng người đang đứng. Nếu cái bóng kia không bước xuống một, hai bậc thang, nếu không nhìn trực diện dưới ánh đèn rọi sáng thì không thể nào xác định là nam hay nữ. Cái bóng đen bước xuống một bậc nữa. Bậc đá trông mượt như nhung, nên nếu chỉ căn cứ vào tiếng chân bước thì có thể tưởng rằng bước chân đã dừng lại. Nhưng cái bóng lại gần thêm một chút. Là một họa sĩ, thị giác của tôi rất nhạy với bộ khung của cơ thể con người. Và rồi tôi chợt nhận ra, nếu cái bóng mờ mờ kia dấn thêm một bước nữa, thì tôi và cô ấy sẽ cùng có mặt trong một gian phòng tắm.
Tôi còn đang phân vân tự hỏi có nên đánh động hay không, thì trong thoáng chốc bóng dáng cô gái đã hiện ra trọn vẹn ngay trước mặt. Chìm trong làn hơi nước mờ mịt nhuộm ánh sáng dịu dàng của ngọn đèn thành màu đỏ nhạt, hình ảnh cô gái với suối tóc đen bồng bềnh buông dài mềm mại trên tấm lưng thon chắc gợi lên trong tôi cảm giác về sự đoan trang, lịch lãm và thanh tú. Lúc đó tôi chỉ có một suy nghĩ rằng, mình đã tìm ra được một hình ảnh tuyệt đẹp, toàn bích cho bức vẽ.
Ðiêu khắc Hy Lạp thời cổ đại thì tôi không rõ, nhưng khi xem tranh khỏa thân của những họa sĩ Pháp ngày nay, có thể thấy rõ ràng là họ cố gắng hết mình để mô tả vẻ đẹp nhục thể của thân xác con người. Và tôi cảm thấy thất vọng ghê gớm vì cảm giác thiếu sự tinh tế và tao nhã ở những bức tranh như vậy. Tuy nhiên, lúc đó thì tôi chỉ biết rằng những bức tranh ấy là chưa đạt, mà không biết chưa đạt vì thiếu cái gì. Có lẽ bấy lâu tôi vẫn bứt rứt trong lòng là vì chưa tìm được lý do khiến những tác phẩm kia kém giá trị thẩm mỹ. Nếu da thịt bị che phủ thì vẻ đẹp cũng bị khuất lấp. Nhưng nếu không che phủ thì lại thành thô thiển. Tranh khỏa thân ngày nay cứ thỏa sức phô bày sự thô thiển không cần che đậy. Không thỏa mãn với việc miêu tả những tấm thân trần trụi không y phục, các họa sĩ còn gắng sức để đưa những hình ảnh lõa thể vào thế giới có y trang. Họ quên rằng con người đời thường vốn phải khoác y phục lên thân thể để áp đặt mọi quyền năng lên những thân xác lõa lồ. Vì muốn thể hiện một cách mạnh mẽ cảm giác về “cái trần trụi hoàn toàn”, họ đã đẩy xa đến mức vô tận những giới hạn cần phải tuân thủ. Việc dụng công thái quá vào kỹ thuật có khi sẽ bị đánh giá là hạn hẹp vì áp đặt người xem. Ðó là một ví dụ cho thấy rằng, khi nôn nóng muốn thể hiện cái đẹp một cách sinh động, thì trái lại cái đẹp sẽ bớt đẹp đi. Cũng vì vậy mà trong dân gian có cách nói rằng “cái gì thái quá thì bất cập”.
Sự trong sáng và phóng khoáng là biểu hiện của một tâm hồn phong phú. Phong phú là điều kiện thiết yếu trong hội họa, thơ ca và cả văn chương nữa. Một sự tiêu cực lớn của nghệ thuật ngày nay, mà người ta còn gọi là trào lưu văn minh, đã dồn ép những người làm nghệ thuật một cách thái quá, tạo ra sự vụn vặt và không khí ngột ngạt ở khắp nơi. Có thể nói tranh khỏa thân là một ví dụ thích hợp cho tình trạng đó. Ở thành thị có một giới được gọi là geisha. Họ là những người bán nhan sắc của mình, làm nghề mua vui cho kẻ khác. Khi tiếp khách làng chơi, họ chẳng thể hiện được nét đẹp tinh tế nào, mà chỉ chú ý để làm cho mình quyến rũ hơn trong cái nhìn của khách. Thế mà danh mục tác phẩm hàng năm trong các bảo tàng mỹ thuật lại đầy những tranh vẽ những mỹ nữ khỏa thân giống hệt các nàng geisha ấy. Chẳng những không giây phút nào quên được chuyện khỏa thân, họ còn nỗ lực hết mình vì nhục thể, cố gắng để thể hiện hết mức trước người xem cơ thể trần trụi của mình.
Cái thân hình mỹ miều duyên dáng đang hiện ra trước mắt tôi lúc này thì lại không hề vương một hạt bụi trần tục. Nếu là hình ảnh một người bình thường đã trút bỏ y trang thì sẽ rơi vào sự tầm thường của thế giới con người. Nhưng vóc dáng này gợi lên sự tự nhiên thuần khiết như những vầng mây trong cõi thần tiên, vốn không hề biết đến sự cần thiết của y phục.
Hơi nước đã tỏa mù mịt khắp phòng vẫn cứ dâng lên mãi. Trong đêm xuân, từ chiều sâu của không gian mờ ảo lung linh bảy sắc cầu vồng do ánh đèn bị khuếch tán trong hơi nước, làm mờ đi cả mái tóc màu đen, đang dần hiện ra một tấm thân trắng nõn nà. Chúng ta hãy cùng thưởng thức hình ảnh ấy!
Ðường viền mềm mại ở gáy nhẹ nhàng ôm xuống bờ vai, tạo thành hai đường cong tròn trĩnh xuôi xuống hai cánh tay, phần dưới cùng chẻ ra thành năm ngón. Phía dưới khuôn ngực tròn đầy, đường viền hơi khép vào một chút, để rồi lại vồng lên thành đường cong dịu dàng ở bụng. Ðường căng thể lực chạy về phía sau, rồi ở điểm cuối của đường căng những khối cơ hơi nhô về phía trước để giữ thăng bằng. Ngược lại, sau khi chạy qua hai đầu gối thì đường viền gợn sóng lại đổ xuôi xuống đến tận gót chân, để mọi rắc rối được hóa giải vào một kết thúc nhẹ nhàng ở hai bàn chân bằng phẳng. Trên đời chưa có sự phối hợp nào phức tạp đến như thế. Cũng không có sự phối hợp nào thống nhất đến như thế. Nhất định là người ta không thể tìm được một dáng vóc nào tự nhiên, mềm mại, nhu mì và thong dong đến vậy. Tuy nhiên, vóc dáng này không hiện lên trước mắt tôi lồ lộ như một tấm thân lõa thể tầm thường. Vẻ đẹp toàn bích ở đây chỉ là sự gợi cảm nhẹ nhàng, trong một không khí thanh thoát đến thiêng liêng làm cho mọi thứ trở nên huyền ảo. Sự ấm áp, mơ hồ và vẻ đẹp tinh tế đầy tính nghệ thuật ở bức chân dung này giống như hình ảnh con rồng trong tranh thủy mặc chỉ được thể hiện bằng những nét vẽ chấm phá để khơi gợi trí tưởng tượng của người xem. Một bức tranh vẽ rồng chi tiết đến từng chiếc vẩy thì trái lại sẽ trở nên thô thiển, và tương tự, nếu phơi bày nhục thể một cách trần trụi sẽ không gợi được vẻ đẹp huyền ảo và sâu lắng. Tôi nhìn ngắm hình ảnh cô gái trước mắt mình mà tưởng như đang ngắm chị Hằng vừa chạy trốn khỏi cung trăng, lúng túng vì bị vướng trong đám mây ngũ sắc.
Rồi bóng dáng cô nhích lại gần và có vẻ trắng hơn. Tôi chợt nghĩ, lúc này chỉ cần cô tiến thêm một bước thì, chao ôi, hình ảnh Hằng Nga tuyệt đẹp sẽ rơi xuống cõi phàm! Nhưng ngay khoảnh khắc đó thì cô gái bỗng quật mạnh mái tóc xanh ngời như con rùa thần quẫy đuôi rẽ nước. Rẽ đám hơi nước mịt mù vẫn đang cuồn cuộn, cái bóng trắng bước nhanh lên cầu thang. Tiếng cười con gái vang lên một tràng lảnh lót, rồi xa dần về phía cuối hành lang, và gian phòng tắm lại chìm trong yên lặng. Tôi nuốt vội một ngụm nước suối nóng và đứng trơ như phỗng trong bể tắm. Mặt nước sánh lên, ập những con sóng bất ngờ vào ngang ngực. Vang lên âm thanh rào rạt khi nước tràn qua thành bể.
Trời lạnh. Tôi choàng tấm khăn đi xuống bồn tắm nước nóng.
Sau khi trút bỏ quần áo ở phòng thay đồ rộng ba chiếu, tôi đi xuống bốn bậc thang thì đến một khu nhà tắm rộng chừng tám chiếu. Có vẻ như ở nơi này rất nhiều nguyên liệu đá, nên phòng tắm được lát bằng đá hoa cương, và bể tắm nước nóng nằm ở giữa phòng, giống như cái bồn ở tiệm bán đậu phụ, lõm xuống mặt đất chừng hơn một mét. Cái gọi là “bể” này thật ra cũng được lát bằng đá. Nơi này có tên là suối khoáng nên chắc hẳn là nước ở đây có nhiều khoáng chất, nhưng màu nước trong suốt rất dễ chịu. Thỉnh thoảng tôi vốc nước lên nếm thử nhưng chẳng thấy có mùi hay vị gì đặc biệt. Nghe nói loại nước này cũng có tác dụng chữa bệnh nhưng tôi chưa tìm hiểu nên không rõ là chữa được bệnh gì. Tôi vốn cũng chẳng có bệnh gì đặc biệt nên chưa từng quan tâm đến việc tìm hiểu giá trị sử dụng thực tế của nước khoáng. Mỗi lần ngâm mình trong bể tắm tôi chỉ nhớ đến câu thơ của Bạch Lạc Thiên[1]: “Dòng nước ấm mùa xuân/ Rửa trôi hết bụi trần” [2]. Hễ nghe nhắc đến “suối nước nóng” là tôi lại nhớ câu thơ này và cảm thấy khoan khoái. Hoặc nếu mà có suối nước nóng nào không mang lại cho tôi cảm giác thích thú kia thì tôi cho rằng nó không phải là một suối nước nóng đúng nghĩa. Ngoài tiêu chuẩn này tôi chẳng có đòi hỏi gì hơn.
[1] Tức Bạch Cư Dị (772 - 846), nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng đời Ðường.
[2] Hai câu thơ trong bài Trường hận ca.
Khi ngâm hết cả người vào bể thì nước ngập đến ngang ngực. Tôi không biết người ta dẫn nước từ chỗ nào vào bể tắm, nhưng mực nước luôn ngập qua thành bể, trông rất tinh khiết. Ðá lát đáy bể luôn đẫm nước và ấm áp dưới chân gây cảm giác dễ chịu. Mưa rơi nhẹ nhàng như lướt qua màn đêm, lặng lẽ tưới mát bầu không khí mùa xuân. Nhưng rồi tiếng mưa trên mái nhà càng lúc càng nặng hạt hơn, nghe rõ tiếng lộp độp, lộp độp. Hơi nước bốc lên mù mịt, tràn ngập cả gian phòng từ dưới sàn lên đến trần nhà, như đang cố tìm bất cứ khe hở hay lỗ hổng nhỏ nào để thoát ra. Sương thu lạnh hay sương mù giăng bảng lảng và khói bếp cơm chiều xanh ngát đều gửi vào bầu trời rộng mở những hình ảnh về kiếp phù sinh của chúng ta. Và những hình ảnh đó đều gợi lên nỗi buồn khó tả trước cuộc sống vô thường. Nhưng chỉ lúc này, khi đắm mình vào đám mây hơi nước ở vùng suối nước nóng trong một buổi tối mùa xuân, để cảm giác êm dịu bao bọc lấy da thịt để trần, tôi mới cảm thấy dường như mình đã biến thành một người khác, thuộc về một thế giới nào đó rất cổ xưa. Tuy rằng đám mây này không dày đặc đến mức che lấp toàn bộ những gì trước mắt, nhưng cũng không mỏng manh đến nỗi chỉ cần vén qua như xé đi một lớp vải mỏng thì con người trần tục của tôi sẽ bị phơi bày. Dù có xé đi một lớp, hai lớp hay bao nhiêu lớp thì với gương mặt bị che lấp trong làn khói mù này, tôi vẫn là một người vô hình được bao phủ trong một chiếc cầu vồng ấm áp. Người ta thường nói “say rượu”, chứ tôi chưa từng nghe ai nói là “say sương khói”. Mà dẫu có nói thế đi chăng nữa, thì tất nhiên người ta không định nói đến sương muối, mà cũng sẽ quá nặng nếu dùng cho sương mù. Lần đầu tiên tôi mới nhận ra cách nói ấy chỉ phù hợp với làn hơi nước mờ mịt thế này, khi người ta nghĩ về hai chữ “đêm xuân”.
Tôi tựa đầu lên thành bể tắm, ngước mặt lên, và thả nổi cơ thể hoàn toàn trong làn nước trong vắt. Linh hồn tôi cũng trôi nổi bồng bềnh như một sinh vật phù du. Nếu ta sống trong cuộc đời cũng với trạng thái thế này thì thoải mái biết bao. Có thể gỡ hết mọi rào cản phân biệt, bỏ hết mọi ngăn trở vì chấp trước. Mặc kệ mọi thứ trên đời, tôi cứ hòa mình vào trong làn nước ấm. Sống nhẹ nhõm như một phiêu sinh vật. Nếu trôi nổi bồng bềnh như vậy mà làm cho tâm hồn cũng bay bổng được thì còn tốt hơn là trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo. Ðúng là nếu suy nghĩ theo kiểu như thế này thì chết đuối quả là đẹp đẽ và hạnh phúc. Tôi cho rằng trong một bài thơ nào đó của Swinburne[3], tác giả đã viết về cảm giác vui sướng của một người con gái chết trong dòng nước. Hình ảnh nàng Ophelia trong tranh của Millais mà trước đây tôi vẫn nghĩ là đau khổ, nếu nhìn theo quan niệm này thì cũng trở nên rất đẹp. Từ trước đến giờ tôi vẫn đặt câu hỏi vì sao họa sĩ lại chọn một cảnh tượng gò bó như vậy, và lúc này tôi mới chợt hiểu rằng hội họa thì phải thế. Ðúng là rất đẹp nếu vẽ một người đang trôi hoặc đang chìm, hay có thể đang trôi nổi dập dềnh trong làn nước với vẻ mặt thanh thản. Nếu vẽ thêm hoa cỏ hai bên bờ, phối màu sao cho màu sắc của nước, sắc mặt của người trôi trên dòng nước và màu sắc của y phục hòa hợp với nhau thì chắc chắn sẽ thành một bức tranh đẹp. Tuy nhiên, nếu gương mặt một người chết trôi mà lại có được sự bình yên đến thế thì hình ảnh ấy phải là một huyền thoại hay một lối biểu tượng. Thể hiện sự đau đớn về thể xác thì sẽ làm hỏng tinh thần của bức tranh, nhưng nếu là gương mặt hoàn toàn bình thản, không có vẻ gì là đau khổ thì không phản ánh được tình cảm của con người. Phải vẽ một gương mặt như thế nào thì mới thành công nhỉ? Bức tranh Ophelia của Millais thì đúng là thành công đấy, nhưng tôi không tin rằng thế giới tinh thần của danh họa và mình lại giống nhau. Millais là Millais, tôi là tôi. Vì vậy tôi muốn vẽ một bức tranh về sự an lạc ở người chết đuối, xuất phát từ cảm hứng của riêng mình. Nhưng chẳng dễ gì mường tượng được gương mặt mà tôi muốn thể hiện.
[3] Algernon Charlet Swinburne (1837 - 1909) là nhà thơ nữ người Anh.
Lần này thì tôi làm một bài thơ ca ngợi người chết đuối, vẫn trong trạng thái trôi nổi bồng bềnh.
Khi trời mưa thì ướt
Khi sương rơi thì lạnh
Trong lòng đất tối tăm
Nhưng trôi trên dòng sông
Hay chìm trong sóng nước
Làn nước mùa xuân sẽ gột rửa muộn phiền...
Trong khi tôi đang mơ màng vừa thả nổi vừa ngâm nho nhỏ mấy câu như thế thì chợt nghe thấy tiếng đàn samisen từ đâu vẳng lại. Với một người được gọi là nghệ sĩ thì chuyện này đúng là đáng xấu hổ, nhưng phải thú nhận rằng thính giác của tôi hầu như không lĩnh hội được thứ tri thức lạ lùng về cách chơi đàn samisen, không phân biệt được cao độ của nốt này hay nốt khác. Tuy nhiên, trong một đêm mùa xuân thanh vắng, càng thêm thi vị khi có hơi mưa, trong một khu nghỉ dưỡng gần suối nước nóng ở vùng đồi núi, thả mình trong làn nước mùa xuân ấm áp đến tận tâm hồn mà vô tình được nghe tiếng đàn vẳng lại từ xa thì thật tuyệt. Vì xa nên dĩ nhiên là tôi không rõ người ta hát hay đàn điệu gì. Nhưng tiếng đàn có một vẻ gì đó rất cuốn hút. Nghe âm điệu trầm lắng, tôi đoán là khúc hát của những người hát rong vùng Kamigata[4], thường được chơi bằng loại đàn futozao[5].
[4] Nghĩa là vùng kinh đô.
[5] Một loại đàn samisen.
Thuở bé, trước cửa nhà tôi có một quán rượu tên là Yorozuya. Chủ quán có một cô con gái tên là Okura. Cô Okura này luôn dạo khúc nagauta vào buổi xế trưa của ngày xuân êm ả. Hễ nghe tiếng nhạc cất lên là tôi lại chạy ra vườn. Có ba cây thông mọc ở phía trước vườn trà rộng hơn ba mươi mét vuông, phía đông của gian phòng khách. Ðó là những cây thông to, gốc cây có chu vi gần nửa mét. Và điều thú vị là hình như những cây thông này chỉ khi đứng gần nhau mới tạo ra dáng đẹp. Hồi nhỏ, mỗi khi ngắm mấy cây thông này tôi thấy rất dễ chịu. Dưới gốc thông, trên một tảng đá màu đỏ mà tôi không biết là loại đá gì, có một chiếc đèn sắt màu đen đã rỉ sét, cứ đứng im lìm như một lão già ngoan cố. Tôi rất thích ngắm chiếc đèn lồng. Và xung quanh chiếc đèn ấy, những ngọn cỏ mùa xuân mà tôi không biết tên đâm xuyên qua mặt đất phủ dày rêu, không cần biết đến những cơn gió của cõi vô thường, đang âm thầm tỏa hương và lặng lẽ tận hưởng cuộc sống. Hồi đó, trong đám cỏ này, tôi tìm được một chỗ vừa đủ để chen chân, và hay ngồi hàng giờ ở đó. Thói quen mỗi ngày của tôi dạo ấy là ngồi dưới gốc thông, ngắm chiếc đèn lồng, ngửi mùi hương của cỏ, và nghe tiếng đàn của cô Okura từ xa vọng lại.
Có lẽ cô Okura đã trải qua thời kỳ búi tóc thành búi tròn theo kiểu phụ nữ mới kết hôn. Cô hay ngồi ở quầy thanh toán của quán rượu, gương mặt có vẻ đã từng trải vì mưu sinh. Tôi không rõ cuộc sống gia đình của cô có hạnh phúc không. Tôi cũng chẳng biết liệu những con chim én mỗi năm lại bay về, thì những chiếc mỏ lấm bùn của chúng có bận rộn vì kiếm ăn không. Trong tưởng tượng của tôi, hình ảnh những con chim én cứ lẫn vào mùi hương của rượu.
Không biết bây giờ ba cây thông ấy có còn tồn tại và giữ được dáng vẻ tươi đẹp của ngày xưa? Cây đèn lồng sắt thì chắc là đã hỏng mất rồi. Và những ngọn cỏ mùa xuân có còn nhớ đến người đã ngồi với chúng ngày xưa không nhỉ? Chắc hẳn là giờ đây chúng không thể nào nhận ra người đã lặng lẽ xa rời chúng từ những ngày xa xưa ấy. Và hẳn là chúng cũng không nhớ được tiếng hát mỗi ngày của cô Okura: “Chiếc cà sa vải bông là trang phục du hành”.
Tiếng đàn samisen bất ngờ gợi lại trong tôi cả một bức tranh toàn cảnh về những ngày thơ ấu. Và trong lúc tôi đang trở về với quá khứ đầy hoài niệm, để lại là một chú bé ngây thơ hai mươi năm về trước, thì cửa nhà tắm đột nhiên xịch mở.
“Có ai đến chăng?”. Tôi thầm nghĩ và quay nhìn ra cửa, vẫn đang ngâm mình trong bể tắm. Vì tôi gác đầu lên chỗ thành bể ở vị trí xa nhất từ phía cửa vào, nên cầu thang đi xuống bể tắm trong khoảng cách chừng sáu, bảy mét lọt nghiêng vào tầm mắt. Nhưng tôi vẫn chưa nhìn thấy gì. Trong một lúc lâu, tôi chỉ nghe thấy tiếng mưa rơi xuống mái hiên nhà. Tiếng đàn samisen đã ngưng từ lúc nào không rõ.
Rồi một bóng dáng nào đó hiện ra ở đầu cầu thang. Vì gian phòng rộng chỉ thắp mỗi chiếc đèn câu nhỏ, nên dù không bị hơi nước che mờ thì cũng khó nhìn rõ hình dạng hay màu sắc của bất cứ cái gì. Còn trong phòng tắm lúc này khi hơi nước bốc lên càng lúc càng nhiều, ngoài trời lại đang mưa mỗi lúc càng nặng hạt, thì tôi không biết lẩn đi đâu và cũng không nhận diện được cái bóng người đang đứng. Nếu cái bóng kia không bước xuống một, hai bậc thang, nếu không nhìn trực diện dưới ánh đèn rọi sáng thì không thể nào xác định là nam hay nữ. Cái bóng đen bước xuống một bậc nữa. Bậc đá trông mượt như nhung, nên nếu chỉ căn cứ vào tiếng chân bước thì có thể tưởng rằng bước chân đã dừng lại. Nhưng cái bóng lại gần thêm một chút. Là một họa sĩ, thị giác của tôi rất nhạy với bộ khung của cơ thể con người. Và rồi tôi chợt nhận ra, nếu cái bóng mờ mờ kia dấn thêm một bước nữa, thì tôi và cô ấy sẽ cùng có mặt trong một gian phòng tắm.
Tôi còn đang phân vân tự hỏi có nên đánh động hay không, thì trong thoáng chốc bóng dáng cô gái đã hiện ra trọn vẹn ngay trước mặt. Chìm trong làn hơi nước mờ mịt nhuộm ánh sáng dịu dàng của ngọn đèn thành màu đỏ nhạt, hình ảnh cô gái với suối tóc đen bồng bềnh buông dài mềm mại trên tấm lưng thon chắc gợi lên trong tôi cảm giác về sự đoan trang, lịch lãm và thanh tú. Lúc đó tôi chỉ có một suy nghĩ rằng, mình đã tìm ra được một hình ảnh tuyệt đẹp, toàn bích cho bức vẽ.
Ðiêu khắc Hy Lạp thời cổ đại thì tôi không rõ, nhưng khi xem tranh khỏa thân của những họa sĩ Pháp ngày nay, có thể thấy rõ ràng là họ cố gắng hết mình để mô tả vẻ đẹp nhục thể của thân xác con người. Và tôi cảm thấy thất vọng ghê gớm vì cảm giác thiếu sự tinh tế và tao nhã ở những bức tranh như vậy. Tuy nhiên, lúc đó thì tôi chỉ biết rằng những bức tranh ấy là chưa đạt, mà không biết chưa đạt vì thiếu cái gì. Có lẽ bấy lâu tôi vẫn bứt rứt trong lòng là vì chưa tìm được lý do khiến những tác phẩm kia kém giá trị thẩm mỹ. Nếu da thịt bị che phủ thì vẻ đẹp cũng bị khuất lấp. Nhưng nếu không che phủ thì lại thành thô thiển. Tranh khỏa thân ngày nay cứ thỏa sức phô bày sự thô thiển không cần che đậy. Không thỏa mãn với việc miêu tả những tấm thân trần trụi không y phục, các họa sĩ còn gắng sức để đưa những hình ảnh lõa thể vào thế giới có y trang. Họ quên rằng con người đời thường vốn phải khoác y phục lên thân thể để áp đặt mọi quyền năng lên những thân xác lõa lồ. Vì muốn thể hiện một cách mạnh mẽ cảm giác về “cái trần trụi hoàn toàn”, họ đã đẩy xa đến mức vô tận những giới hạn cần phải tuân thủ. Việc dụng công thái quá vào kỹ thuật có khi sẽ bị đánh giá là hạn hẹp vì áp đặt người xem. Ðó là một ví dụ cho thấy rằng, khi nôn nóng muốn thể hiện cái đẹp một cách sinh động, thì trái lại cái đẹp sẽ bớt đẹp đi. Cũng vì vậy mà trong dân gian có cách nói rằng “cái gì thái quá thì bất cập”.
Sự trong sáng và phóng khoáng là biểu hiện của một tâm hồn phong phú. Phong phú là điều kiện thiết yếu trong hội họa, thơ ca và cả văn chương nữa. Một sự tiêu cực lớn của nghệ thuật ngày nay, mà người ta còn gọi là trào lưu văn minh, đã dồn ép những người làm nghệ thuật một cách thái quá, tạo ra sự vụn vặt và không khí ngột ngạt ở khắp nơi. Có thể nói tranh khỏa thân là một ví dụ thích hợp cho tình trạng đó. Ở thành thị có một giới được gọi là geisha. Họ là những người bán nhan sắc của mình, làm nghề mua vui cho kẻ khác. Khi tiếp khách làng chơi, họ chẳng thể hiện được nét đẹp tinh tế nào, mà chỉ chú ý để làm cho mình quyến rũ hơn trong cái nhìn của khách. Thế mà danh mục tác phẩm hàng năm trong các bảo tàng mỹ thuật lại đầy những tranh vẽ những mỹ nữ khỏa thân giống hệt các nàng geisha ấy. Chẳng những không giây phút nào quên được chuyện khỏa thân, họ còn nỗ lực hết mình vì nhục thể, cố gắng để thể hiện hết mức trước người xem cơ thể trần trụi của mình.
Cái thân hình mỹ miều duyên dáng đang hiện ra trước mắt tôi lúc này thì lại không hề vương một hạt bụi trần tục. Nếu là hình ảnh một người bình thường đã trút bỏ y trang thì sẽ rơi vào sự tầm thường của thế giới con người. Nhưng vóc dáng này gợi lên sự tự nhiên thuần khiết như những vầng mây trong cõi thần tiên, vốn không hề biết đến sự cần thiết của y phục.
Hơi nước đã tỏa mù mịt khắp phòng vẫn cứ dâng lên mãi. Trong đêm xuân, từ chiều sâu của không gian mờ ảo lung linh bảy sắc cầu vồng do ánh đèn bị khuếch tán trong hơi nước, làm mờ đi cả mái tóc màu đen, đang dần hiện ra một tấm thân trắng nõn nà. Chúng ta hãy cùng thưởng thức hình ảnh ấy!
Ðường viền mềm mại ở gáy nhẹ nhàng ôm xuống bờ vai, tạo thành hai đường cong tròn trĩnh xuôi xuống hai cánh tay, phần dưới cùng chẻ ra thành năm ngón. Phía dưới khuôn ngực tròn đầy, đường viền hơi khép vào một chút, để rồi lại vồng lên thành đường cong dịu dàng ở bụng. Ðường căng thể lực chạy về phía sau, rồi ở điểm cuối của đường căng những khối cơ hơi nhô về phía trước để giữ thăng bằng. Ngược lại, sau khi chạy qua hai đầu gối thì đường viền gợn sóng lại đổ xuôi xuống đến tận gót chân, để mọi rắc rối được hóa giải vào một kết thúc nhẹ nhàng ở hai bàn chân bằng phẳng. Trên đời chưa có sự phối hợp nào phức tạp đến như thế. Cũng không có sự phối hợp nào thống nhất đến như thế. Nhất định là người ta không thể tìm được một dáng vóc nào tự nhiên, mềm mại, nhu mì và thong dong đến vậy. Tuy nhiên, vóc dáng này không hiện lên trước mắt tôi lồ lộ như một tấm thân lõa thể tầm thường. Vẻ đẹp toàn bích ở đây chỉ là sự gợi cảm nhẹ nhàng, trong một không khí thanh thoát đến thiêng liêng làm cho mọi thứ trở nên huyền ảo. Sự ấm áp, mơ hồ và vẻ đẹp tinh tế đầy tính nghệ thuật ở bức chân dung này giống như hình ảnh con rồng trong tranh thủy mặc chỉ được thể hiện bằng những nét vẽ chấm phá để khơi gợi trí tưởng tượng của người xem. Một bức tranh vẽ rồng chi tiết đến từng chiếc vẩy thì trái lại sẽ trở nên thô thiển, và tương tự, nếu phơi bày nhục thể một cách trần trụi sẽ không gợi được vẻ đẹp huyền ảo và sâu lắng. Tôi nhìn ngắm hình ảnh cô gái trước mắt mình mà tưởng như đang ngắm chị Hằng vừa chạy trốn khỏi cung trăng, lúng túng vì bị vướng trong đám mây ngũ sắc.
Rồi bóng dáng cô nhích lại gần và có vẻ trắng hơn. Tôi chợt nghĩ, lúc này chỉ cần cô tiến thêm một bước thì, chao ôi, hình ảnh Hằng Nga tuyệt đẹp sẽ rơi xuống cõi phàm! Nhưng ngay khoảnh khắc đó thì cô gái bỗng quật mạnh mái tóc xanh ngời như con rùa thần quẫy đuôi rẽ nước. Rẽ đám hơi nước mịt mù vẫn đang cuồn cuộn, cái bóng trắng bước nhanh lên cầu thang. Tiếng cười con gái vang lên một tràng lảnh lót, rồi xa dần về phía cuối hành lang, và gian phòng tắm lại chìm trong yên lặng. Tôi nuốt vội một ngụm nước suối nóng và đứng trơ như phỗng trong bể tắm. Mặt nước sánh lên, ập những con sóng bất ngờ vào ngang ngực. Vang lên âm thanh rào rạt khi nước tràn qua thành bể.
Chương 8
Tôi được mời dự buổi uống trà. Có một khách tăng tham dự là hòa thượng Daitetsu ở chùa Kankaiji. Còn một người nữa là khách tục - một chàng thanh niên chừng hai tư, hai lăm tuổi.
Từ phòng tôi đang ở đi về dãy hành lang bên phải, rồi rẽ trái một lần nữa thì đến phòng của cụ chủ nhà. Phòng rộng khoảng sáu chiếu. Một chiếc bàn lớn làm bằng gỗ đàn hương nằm ở vị trí trung tâm tạo cảm giác căn phòng khá chật chội. Ở những chỗ ngồi quanh chiếc bàn, một tấm thảm hoa được đặt vào thay cho loại đệm ngồi thường thấy. Chắc hẳn là loại thảm Trung Hoa. Một hình lục giác nằm giữa tấm thảm, có hình những cành liễu kỳ lạ và một ngôi nhà cũng rất lạ lùng. Xung quanh có màu xanh sẫm, gần như màu chàm, và ở bốn góc là những hoa văn xoắn xít trong một vòng tròn màu nâu. Không biết ở Trung Quốc người ta có dùng loại thảm này làm đệm ngồi không, nhưng thật thú vị khi thấy thấy nó được đặt vào đây thay cho những tấm đệm ngồi. Giống như vải hoa của Ấn Ðộ hay thảm treo tường của Ba Tư hấp dẫn bởi sự khác lạ, tấm thảm hoa này cũng thú vị nhờ kiểu cách phóng khoáng khác thường. Không chỉ tấm thảm này mà mọi thứ đồ dùng của Trung Hoa đều có vẻ đơn điệu và kém hấp dẫn. Phải thừa nhận rằng những vật dụng như thế chỉ có thể là là sản phẩm của một dân tộc kiên nhẫn nhưng kém thông minh. Chúng chỉ có giá trị ở chỗ khiến người xem sửng sốt và kinh ngạc. Ðồ mỹ nghệ Nhật Bản thì thể hiện một thái độ hết sức cẩn trọng, giống như sự cảnh giác của một kẻ chuyên móc túi. Sản phẩm của phương Tây thì hoành tráng và tinh xảo nhưng không thể nào thoát được vẻ trần tục. Ðó là những suy nghĩ đầu tiên khi tôi ngồi vào bàn uống trà. Chàng thanh niên cũng ngồi xuống cạnh tôi, trên nửa kia của tấm thảm.
Vị hòa thượng ngồi trên tấm da cọp. Ðuôi của tấm da thò ra cạnh gối tôi, còn phần đầu là chỗ ngồi của cụ chủ nhà. Cụ già có chòm râu bạc rậm rạp, như thể tóc trên đầu đã được chuyển hết sang cắm ở phần dưới gương mặt. Cụ nhẹ nhàng bày lên bàn những cái chén đặt trên khay.
- Chẳng mấy khi có khách đến nhà như hôm nay, nên tôi có nhã ý mời trà... Ông cụ nói và nhìn về phía vị hòa thượng.
- Ồ, xin cảm ơn cụ đã có lời mời. Lâu nay tôi ít ra ngoài, nên cũng định là hôm nay sẽ ghé chơi - Vị hòa thượng nói.
Vị sư này khoảng gần sáu mươi tuổi, có gương mặt tròn, nét mặt giống như hình phác họa một vị Bồ Tát. Có vẻ như nhà sư khá thân thiết với cụ chủ nhà.
- Vị này là khách trọ chăng?
Cụ già vừa gật đầu vừa rót từ một chiếc bình gốm vào ly trà vài giọt nước màu xanh ngọc. Nghe thoang thoảng một mùi hương thanh khiết.
- Anh ở một mình nơi thôn quê thế này, chắc là buồn lắm? Vị hòa thượng liền bắt chuyện với tôi.
- À... thì...
Tôi ậm ừ không biết nên nói thế nào. Nói là buồn thì cũng không đúng, nhưng nói không buồn thì lại phải giải thích dài dòng.
- Thầy nói sao? Anh chàng này đến đây để vẽ tranh, nên cũng khá là bận rộn đấy.
- Ồ thế à? Hay quá nhỉ! Vậy anh có phải là một họa sĩ thuộc trường phái Nanso chăng?
- Không ạ.
Lần này thì tôi lên tiếng, thầm nghĩ mình có nói gì về hội họa phương Tây thì hòa thượng cũng chẳng hiểu được.
- Ôi dào, nói về hội họa phương Tây thì...
Giữ vai trò chủ nhà, một lần nữa ông cụ lại chen vào nói đỡ cho tôi.
- Ồ, hội họa phương Tây à? Vậy là kiểu tranh giống như cậu Kyuichi thường vẽ phải không? Gần đây tôi mới được biết loại tranh đó, nhưng phải công nhận là rất đẹp!
- Không ạ, chỉ là loại xoàng thôi - Chàng thanh niên lúc này mới lên tiếng.
- Cậu có đưa thầy Gozen Nanzo xem phải không? Ông cụ hỏi. Cả lời nói và cách thể hiện đều tỏ ra hết sức gần gũi.
- Dạ thì... Thật ra cháu không đưa thầy xem, chỉ là tình cờ gặp thầy lúc đang ngồi vẽ ở Ao Gương thôi ạ.
- Hừm, thế sao?... À, tôi rót sẵn trà rồi đấy, xin mời!
Ông cụ đặt ly trà trước mặt từng người. Trà chỉ có vài giọt, nhưng cái chén thì thật là to. Trên nền men màu xám nâu của ly trà có những nét vẽ nguệch ngoạc màu đỏ sậm và vàng nhạt, không rõ là tranh hay một kiểu hoa văn nào đó, tạo nên một cái hình gần giống như mặt quỷ.
- Loại chén Mokubee đấy - Ông cụ giải thích ngắn gọn.
- Cái này hay đấy - Tôi cũng tán thưởng bằng một câu đơn giản.
- Ðồ Mokubee giả thì nhiều lắm... Anh nhìn dưới đáy chén mà xem. Có khắc tên nữa đấy - Ông cụ nói.
Tôi nhấc cái chén lên, giơ ra phía cửa để nhìn. Hình ảnh ấm áp của một cây địa lan trồng trong chậu in trên vách cửa. Tôi nghiêng đầu, nhìn kỹ thì thấy chữ moku nhỏ xíu trên khu chén. Về mặt giá trị thì chữ khắc trên sản phẩm như thế này chẳng có gì quan trọng, nhưng giới sưu tầm nghiệp dư thì có vẻ rất quan tâm. Tôi không đặt chén xuống mà cứ thế đưa ngang miệng nhắp trà.
Nhấp từng ngụm trà ngọt và đậm pha bằng nước nóng đúng là sự phong lưu của kẻ nhàn cư. Người bình dân thường nghĩ trà là một loại thức uống thông thường, nhưng kỳ thực không phải vậy. Khi ta để từng giọt trà ngấm vào đầu lưỡi, để cho sự thanh khiết tỏa lan trong miệng thì hầu như cổ họng chẳng hấp thu được giọt nào. Chỉ có mùi hương phảng phất là thấm từ thực quản qua dạ dày. Dùng răng khi uống nước thì đúng là ngớ ngẩn. Mà nước thì rất nhẹ. Nước trà giống như những giọt sương màu ngọc, còn thanh khiết hơn cả thứ nước cất thông thường, nhưng không có độ cứng đến mức làm người ta phải nhai mỏi miệng. Một thứ thức uống tuyệt vời. Người ta thường nói uống trà bị mất ngủ, nhưng tôi thậm chí còn muốn khuyên những ai mất ngủ nên uống trà.
Không biết từ lúc nào, ông cụ đã dọn ra món bánh ngọt dùng trong lễ trà, đựng trong một chiếc đĩa sứ màu xanh ngọc. Thật kinh ngạc khi thưởng lãm sản phẩm của một nghệ nhân thuộc loại quán quân - người đã chế tác từ một khối chất liệu thô thành một chiếc đĩa mỏng mảnh và khéo léo như vậy. Khi nhìn vào có cảm giác như những tia nắng mùa xuân rọi xuống bề mặt đĩa không bị thoát ra ngoài mà hội tụ lại trong chiều sâu của chất sứ trong suốt. Nếu chiếc đĩa không phải đựng vật gì thì có thể còn đẹp hơn.
- Vị khách này có vẻ thích đồ sứ mỹ nghệ, nên hôm nay tôi mang ra vài món.
- Ðồ sứ nào kia?... Cái đĩa đựng bánh ngọt đấy à? Cái đó thì tôi cũng thích. Anh này, có khi nào trong hội họa phương Tây người ta cũng vẽ những thứ như cửa trượt fusuma[1] không nhỉ? Nếu có thì tôi muốn nhờ anh vẽ cho một bức.
[1] Loại cửa trượt dày và nặng hơn cửa shoji, có thể dùng làm vách ngăn tạm thời trong nhà. Trên cửa fusuma thường có vẽ hoa văn trang trí.
Chuyện vẽ thì tôi chẳng nề hà gì, nhưng chẳng biết có vừa ý hòa thượng hay không. Không khéo lại mất công vẽ để rồi bị chê là hội họa phương Tây chẳng ra gì thì quả là uổng công vô ích.
- Fusuma thì chắc là không hợp đâu ạ.
- Không hợp à? Thì ra là thế. Vậy thì những bức tranh của Kyuichi hôm trước hình như hơi rực rỡ quá chăng?
- Tranh của con thì tệ lắm, chẳng nên xem làm gì - Chàng thanh niên lại nói những lời khiêm tốn với vẻ hơi e ngại.
- Cái ao gì đó ở đâu ấy nhỉ? Tôi hỏi chàng trai với một chút tò mò.
- Ở trong thung lũng phía sau chùa Kankaiji, một nơi yên tĩnh... Hồi còn học ở trường, vì chán quá nên em mới đến ngắm chơi ấy mà.
- Còn chùa Kankaiji...?
- Chùa Kankaiji ấy là chỗ tôi đang ở. Một nơi cũng khá là hay đấy. Nhìn xuống phía dưới thì có thể thu gọn biển cả vào trong tầm mắt... À, trong thời gian còn ở đây anh tranh thủ ghé chơi đi. Xem nào, từ đây sang bên đó chưa đầy một cây số. Từ dãy hành lang này có thể nhìn thấy những bậc đá đi lên ngôi chùa đấy..., kia kìa!
- Hôm nào tôi mạn phép ghé thăm được chứ? - Ồ, tất nhiên. Tôi lúc nào cũng có ở đó. Cô ở nhà đây vẫn hay đến ấy mà... À, nhắc đến cô mới nhớ, hình như hôm nay không thấy cô Nami... Cụ này, cô ấy vẫn ổn đấy chứ?
- Chắc nó lại đi đâu rồi. Kyuichi này, có gặp nó ở đằng chỗ cháu không?
- Dạ không, cháu không gặp ạ.
- A ha, chắc cô lại đi dạo một mình rồi! Cô Nami vẫn còn đi khỏe lắm. Hôm trước tôi có việc đến Tonami, khi đi ngang chỗ cầu Sugatamibashi tôi cứ tưởng là mình thấy ai đó giống cô ấy thôi, nhưng đúng là cô ấy thật. Cô mặckimono vén cao phía sau lưng, mang dép trệt. Rồi bất ngờ cô hỏi: “Thầy vẩn vơ làm gì ở đây kia chứ? Thầy đang đi đâu vậy?”, làm tôi hết sức ngạc nhiên, hà hà... Tôi hỏi cô định đi đâu với bộ dạng thế này, cô bảo đi hái rau mùi dại, lại bảo thầy nếm thử một chút nhé, rồi bất ngờ dúi vào tay áo tôi những cọng rau nhoe nhoét bùn, ha ha!
- Thật là...
Ông cụ nở nụ cười khổ sở và đột ngột đứng lên, đổi đề tài sang các loại dụng cụ uống trà:
- Thật ra thì tôi cũng muốn cho quý vị xem cái này.
Với những động tác có vẻ rất trang nghiêm, ông cụ lấy từ trên giá sách làm bằng gỗ đàn hương một chiếc túi vải lụa cũ, hình như có đựng vật gì hơi nặng.
- Thầy chắc đã thấy rồi chứ nhỉ?
- Cái quái quỷ gì thế?
- Cái nghiên mực ấy mà.
- Ủa, nghiên mực nào kia?
- Cái nghiên quý của ngài Sanyo ấy...
- Không, thế thì tôi chưa thấy.
- Có nắp Shunsui kèm theo nữa...
- Thế thì đúng là chưa. Ðâu? Cho xem nào?
Ông cụ mở chiếc túi vải một cách trịnh trọng, để lộ từ bên trong một phiến đá vuông vức màu đỏ sẫm.
- Màu đẹp quá! Ðá Giang Tây phải không?
- Ðá Giang Tây. Có đến chín chấm cơ!
- Những chín chấm kia à? Hòa thượng thốt lên, đầy vẻ cảm kích.
- Còn đây là cái nắp Shunsui - Ông cụ đưa ra một cái nắp mỏng gói trong vải lụa. Trên nắp có bút tích của Shunsui, đề một bài thơ thất ngôn tuyệt cú.
- Thì ra là vậy. Chữ của Shunsui thì đẹp tuyệt rồi. Nhưng mà, viết lách thì Kyohei vẫn giỏi hơn.
- Ðúng là ngài Kyohei giỏi hơn thật nhỉ!
- Có lẽ Sanyo là người tệ nhất. Chính cái kiểu tỏ ra thông tuệ lại làm cho ông ta trở nên thô thiển, chẳng có gì hay ho!
- A ha! Cụ chủ nhà bật cười - Vì thầy không thích ngài Sanyo nên tôi đã thay bức chữ của ngài sang bức khác rồi.
- Thế à?
Hòa thượng quay nhìn ra phía sau. Trong góc nhà, trên bục gỗ được đánh bóng như gương có đặt một chiếc lọ bằng đồng đã cũ, bên trong cắm cành hoa mộc lan cao gần một mét. Phía sau lọ hoa là một bức đại tự của Bussorai viết một cách công phu trên loại giấy hoa tiên cũ tuyệt đẹp. Nền giấy này không phải là loại giấy lụa, nhưng vì giấy đã cũ nên bức chữ không chỉ có vẻ đẹp của thư pháp mà còn đẹp vì màu giấy cũng rất hòa hợp với màu nền ở xung quanh. Tôi nghĩ có lẽ khi làm giấy, để tấm giấy bớt đi vẻ sặc sỡ, người ta đã làm cho màu sắc nhạt đi và những đường dát vàng lặn xuống, có như thế mới thể hiện được vẻ đẹp thanh đạm và cổ kính, mới tạo ra sự hòa hợp tuyệt vời như vậy. Ngoài hai chiếc ngà voi trắng hai bên nổi bật trên vách đất có màu nâu sẫm và cành hoa mộc lan lòa xòa phía trước, chỗ góc nhà chìm trong gam màu tối đến mức ảm đạm.
- Của Sorai phải không? Nhà sư hỏi, vẫn đang trong tư thế quay nhìn.
- Hình như ngài cũng không thích Sorai lắm, nhưng có lẽ còn đỡ hơn Sanyo.
- Rõ ràng là Sorai khá hơn. Chữ của những bậc học giả thời Kyoho[2] thì dù không đẹp vẫn có nét tao nhã.
[2] Kyoho là niên hiệu được dùng trong khoảng thời gian 1716 - 1735 ở Nhật Bản.
- Thầy ạ, có phải Sorai đã nói rằng: “Kotaku mới là nhà thư pháp Nhật Bản vĩ đại, còn chúng ta đều là kiểu mô phỏng Trung Hoa cả”?
- Tôi không rõ. Làm gì có chuyện khoác lác về thư pháp đến mức ấy! Hòa thượng bật cười to.
- Thầy có theo học ai không nhỉ?
- Tôi ấy à? Cụ biết đấy, Thiền sư thì không đọc sách, mà cũng không luyện chữ.
- Nhưng hình như thầy có theo ai đó? - Hồi còn trẻ thì tôi có một dạo học chữ ngài Kosen. Chỉ thế thôi. Nhưng nếu người ta xin chữ thì lúc nào tôi cũng sẵn sàng cho. Hà hà! Mà này, cho tôi mượn cái nghiên đá Giang Tây ấy một chút xem nào - Nhà sư đề nghị.
Rồi ngài cầm lấy cái túi lụa. Mọi người chăm chú nhìn vào chiếc nghiên. Một chiếc nghiên bằng đá thường có bề dày khoảng bốn centimet, nhưng cái này thì dày gần gấp đôi. Chiều rộng và chiều dài khoảng mười ba và mười bảy centimet, có thể nói là cỡ trung bình. Nắp nghiên được làm bằng vỏ cây tùng để mộc, có hình một chiếc vảy và được đánh bóng, trên nắp có ghi hai chữ bằng mực đỏ, kiểu thư pháp gì thì tôi không rõ lắm.
- Cái nắp này... - Ông cụ nói - Cái nắp này không phải là một cái nắp bình thường. Mọi người xem, đúng là vỏ cây tùng đấy. Nhưng mà...
Ánh mắt ông cụ nhìn về phía tôi. Tuy nhiên, vì vốn là một họa sĩ, chẳng hiểu sao tôi không mấy hứng thú với một cái nắp nghiên làm bằng vỏ cây tùng, dẫu nguồn gốc của nó có gắn với chuyện gì đi chăng nữa. Vì vậy tôi lên tiếng:
- Nắp bằng vỏ tùng thì hơi thô, phải không ạ?
- Ừm... Ông cụ khoác tay ra vẻ phản đối:
- Nếu chỉ là cái nắp làm bằng vỏ cây tùng bình thường thì đúng là có hơi thô, nhưng cái này thì hơi đặc biệt. Ðây là cái nắp do chính tay ngài Sanyo đẽo vỏ cây tùng ngài đã trồng trong vườn hồi sống ở Hiroshima để làm ra đấy.
Thì ra vậy. Sanyo vốn là một người chẳng cao nhã mấy, tôi nghĩ vậy và đánh bạo nói luôn rằng:
- Nếu là vật tự tay mình làm thì dù sao cũng có vẻ thô vụng, nên thiết nghĩ ông ta không cần phải mất công tạo hình chiếc vảy rồi đánh cho bóng loáng lên như thế làm gì!
- A ha! Ðúng thế! Cái nắp này có vẻ rẻ tiền làm sao ấy! - Nhà sư ngay lập tức tỏ ra đồng ý với tôi.
Chàng thanh niên thì nhìn ông cụ với vẻ ái ngại. Ông cụ quẳng cái nắp sang một bên, có vẻ hơi bực mình. Rốt cuộc thì toàn bộ chiếc nghiên cũng lộ ra từ dưới đáy túi.
Nếu chiếc nghiên này có nét gì độc đáo để hấp dẫn được người xem, thì đó là những nét khắc của nghệ nhân trên bề mặt. Ở giữa nghiên nhô lên một chỗ có hình tròn như mặt chiếc đồng hồ bỏ túi, cao xấp xỉ vành nghiên. Ðó là hình khắc lưng con nhện. Tám “chấm” của chiếc nghiên nằm ở đầu mút của tám cái chân nhện tỏa ra các phía như hình cánh cung, trong tư thế đang chạy. Một “chấm” còn lại nằm giữa lưng con nhện, nhòe nhoẹt như bị lem bởi một thứ nước quả màu vàng. Phần xung quanh lưng và chân nhện được khoét sâu xuống khoảng gần bốn centimet. Có lẽ phần khoét rỗng bao quanh này không phải là chỗ đựng mực. Hơn hai lít nước rót vào cũng chưa đầy phần lõm đó. Có lẽ người ta phải dùng một chiếc muôi bạc múc một chút nước từ trong bình đổ lên lưng con nhện, rồi mài thỏi mực quý vào trong nước để hòa tan. Nếu không phải thế thì dù được gọi là nghiên mực, trên thực tế nó không khác gì một món đồ trang sức thuần túy ở văn phòng.
Ông cụ lên tiếng, nước bọt ở khóe môi như sắp nhễu ra ngoài:
- Quý vị nhìn thớ đá và những con mắt này đi!
Ðúng là càng nhìn thì càng thấy màu đá rất đẹp. Tưởng như trên làn da nhẵn bóng và mát lạnh kia, chỉ cần một hơi thở phả ra thì hơi nước sẽ tụ lại ngay thành một phiến mây mỏng. Ðặc biệt, đáng chú ý là ở chỗ màu của các “con mắt”. Chuyển tiếp giữa màu mắt và màu nền là một sự thay đổi nhẹ nhàng và tinh tế, đến mức giống như đánh lừa mắt người xem, khiến ta không thể tìm ra được đâu là điểm chuyển màu. Có thể tưởng tượng là chúng ta đang nhìn xuyên qua một miếng thạch màu tím trong suốt và thấy hạt đậu nằm ẩn sâu trong đó. Chỉ cần có một hay hai “con mắt” đã là hết sức đáng quý rồi. Ðến chín mắt thì hầu như không biết xếp vào loại nào cho được. Hơn nữa, cả chín con mắt đều được sắp xếp ngăn nắp cách đều nhau, đến mức người ta có thể tưởng là sản phẩm nhân tạo, thì phải công nhận là một tuyệt phẩm có một không hai trên đời.
- Quả là tuyệt diệu! Nhìn mát mắt vô cùng. Mà chạm vào như thế này cũng rất thích - Tôi vừa nói vừa chuyển cái nghiên cho chàng thanh niên ngồi bên cạnh.
- Kyuichi liệu có hiểu được thứ đó không? Ông cụ cười cười, hỏi. Kyuichi có vẻ hơi thất vọng:
- Cháu chẳng biết gì đâu. Anh ta nói ngay như thể gạt đi, nhưng vẫn đặt cái nghiên mà mình không hiểu được xuống trước mặt ngắm nghía, có vẻ như cảm thấy tiếc rẻ, rồi nâng lên đưa lại cho tôi. Tôi xoa nhẹ bàn tay qua chiếc nghiên một lần nữa rồi kính cẩn trao lại cho vị Thiền sư. Thiền sư đặt trên lòng bàn tay ngắm nhìn cẩn thận, rồi như cảm thấy vẫn chưa thỏa mãn, ông lấy tay áo kimono làm bằng lông chuột lau mạnh vào chỗ lưng con nhện, rồi nhìn chỗ sáng bóng vừa lộ ra với cái nhìn ngưỡng mộ.
- Ngài cư sĩ, màu này đúng là tuyệt thật đấy! Ông có bao giờ dùng qua cái này chưa?
- Không, tôi chưa hề nghĩ đến chuyện đem nó ra dùng, chỉ mới mua được thôi.
- Tôi cũng đoán thế! Cái này chắc ở Trung Hoa bây giờ cũng là loại hiếm, phải không ngài cư sĩ?
- Ðúng vậy.
- Tôi cũng muốn có một chiếc. Chắc phải nhờ đến cậu Kyuichi nhỉ? Thế nào, cậu mua giúp tôi một chiếc được không?
- Ôi... E rằng cháu chưa tìm được cái nghiên thì đã chết mất rồi - Chàng thanh niên cười khẽ.
- Ừ nhỉ! Không kịp tìm ra cái nghiên chăng? À, khi nào thì cậu đi?
- Khoảng hai, ba ngày nữa ạ.
- Ngài cư sĩ, ông sẽ tiễn cậu ấy đến Yoshida chứ?
- Tôi thì cũng già yếu lắm rồi, lẽ ra không nên đi như thế, nhưng chẳng biết có còn dịp nào được gặp lại hay không, nên chắc là sẽ tiễn một quãng.
- Bác không cần phải tiễn cháu đi đâu ạ!
Chàng trai hình như là cháu của ông cụ này. Thảo nào có nét gì đó hơi giông giống.
- Cái gì? Tiễn đi một chút thì có sao đâu. Nếu đi thuyền thì chẳng mệt nhọc gì, phải không ngài cư sĩ?
- Vâng. Vượt đèo thì vất vả, chứ đi đường vòng bằng thuyền thì...
Lần này thì chàng trai lặng thinh, không nói lời từ chối nào nữa.
- Anh đi Trung Quốc à? - Tôi hỏi.
- Vâng.
Chỉ có một chữ “vâng” thì chẳng đủ để hiểu được chuyện gì, nhưng vì không cần phải gạn hỏi nhiều hơn, nên tôi ghìm lại. Nhìn ra phía vách trượt, tôi thấy bóng hoa lan đã dịch chuyển đi một chút.
- Sao? Anh hỏi gì kia? À, trong cuộc chiến tranh này... Cháu nhà tôi tình nguyện nhập ngũ, nên bây giờ được triệu tập.
Thay lời chàng thanh niên, ông cụ cho biết chàng sắp phải bị đưa ra mặt trận ở vùng Mãn Châu hoang vu. Thật sai lầm khi tôi cứ nghĩ rằng trong ngôi làng mùa xuân đẹp như thơ, như mộng này, chỉ có âm thanh của tiếng chim kêu, tiếng hoa rụng, hay là tiếng suối reo. Hiện thực vượt qua cả núi cao, biển rộng, dồn đuổi đến cả những con cháu họ Taira đang sống cuộc đời thanh đạm ở sơn thôn vắng vẻ này. Có lẽ đã đến lúc máu của chàng thanh niên này phải hòa cùng dòng máu của muôn người nhuộm khắp vùng đồng hoang phương Bắc. Hay là lúc lưỡi kiếm dài đeo bên hông chàng phải làm cho máu của kẻ thù tuôn chảy. Nhưng chàng thanh niên này lại đang ngồi cạnh một họa sĩ mà cuộc sống chẳng có giá trị gì ngoài những chuyện mộng mơ. Ngồi gần đến mức nếu lắng tai thì có thể nghe thấy tiếng tim đập trong lồng ngực người bên cạnh. Phải chăng trong tiếng mạch đập khẽ khàng kia có vang vọng âm thanh của dòng máu phun trào lênh láng hàng trăm dặm trên những cánh đồng xa xôi ấy? Chỉ biết rằng định mệnh đã mang lại cho chúng tôi một khoảnh khắc ngắn ngủi bất ngờ để được gặp nhau dưới một mái nhà, ngoài ra thì chẳng cho ta biết gì thêm nữa.
Tôi được mời dự buổi uống trà. Có một khách tăng tham dự là hòa thượng Daitetsu ở chùa Kankaiji. Còn một người nữa là khách tục - một chàng thanh niên chừng hai tư, hai lăm tuổi.
Từ phòng tôi đang ở đi về dãy hành lang bên phải, rồi rẽ trái một lần nữa thì đến phòng của cụ chủ nhà. Phòng rộng khoảng sáu chiếu. Một chiếc bàn lớn làm bằng gỗ đàn hương nằm ở vị trí trung tâm tạo cảm giác căn phòng khá chật chội. Ở những chỗ ngồi quanh chiếc bàn, một tấm thảm hoa được đặt vào thay cho loại đệm ngồi thường thấy. Chắc hẳn là loại thảm Trung Hoa. Một hình lục giác nằm giữa tấm thảm, có hình những cành liễu kỳ lạ và một ngôi nhà cũng rất lạ lùng. Xung quanh có màu xanh sẫm, gần như màu chàm, và ở bốn góc là những hoa văn xoắn xít trong một vòng tròn màu nâu. Không biết ở Trung Quốc người ta có dùng loại thảm này làm đệm ngồi không, nhưng thật thú vị khi thấy thấy nó được đặt vào đây thay cho những tấm đệm ngồi. Giống như vải hoa của Ấn Ðộ hay thảm treo tường của Ba Tư hấp dẫn bởi sự khác lạ, tấm thảm hoa này cũng thú vị nhờ kiểu cách phóng khoáng khác thường. Không chỉ tấm thảm này mà mọi thứ đồ dùng của Trung Hoa đều có vẻ đơn điệu và kém hấp dẫn. Phải thừa nhận rằng những vật dụng như thế chỉ có thể là là sản phẩm của một dân tộc kiên nhẫn nhưng kém thông minh. Chúng chỉ có giá trị ở chỗ khiến người xem sửng sốt và kinh ngạc. Ðồ mỹ nghệ Nhật Bản thì thể hiện một thái độ hết sức cẩn trọng, giống như sự cảnh giác của một kẻ chuyên móc túi. Sản phẩm của phương Tây thì hoành tráng và tinh xảo nhưng không thể nào thoát được vẻ trần tục. Ðó là những suy nghĩ đầu tiên khi tôi ngồi vào bàn uống trà. Chàng thanh niên cũng ngồi xuống cạnh tôi, trên nửa kia của tấm thảm.
Vị hòa thượng ngồi trên tấm da cọp. Ðuôi của tấm da thò ra cạnh gối tôi, còn phần đầu là chỗ ngồi của cụ chủ nhà. Cụ già có chòm râu bạc rậm rạp, như thể tóc trên đầu đã được chuyển hết sang cắm ở phần dưới gương mặt. Cụ nhẹ nhàng bày lên bàn những cái chén đặt trên khay.
- Chẳng mấy khi có khách đến nhà như hôm nay, nên tôi có nhã ý mời trà... Ông cụ nói và nhìn về phía vị hòa thượng.
- Ồ, xin cảm ơn cụ đã có lời mời. Lâu nay tôi ít ra ngoài, nên cũng định là hôm nay sẽ ghé chơi - Vị hòa thượng nói.
Vị sư này khoảng gần sáu mươi tuổi, có gương mặt tròn, nét mặt giống như hình phác họa một vị Bồ Tát. Có vẻ như nhà sư khá thân thiết với cụ chủ nhà.
- Vị này là khách trọ chăng?
Cụ già vừa gật đầu vừa rót từ một chiếc bình gốm vào ly trà vài giọt nước màu xanh ngọc. Nghe thoang thoảng một mùi hương thanh khiết.
- Anh ở một mình nơi thôn quê thế này, chắc là buồn lắm? Vị hòa thượng liền bắt chuyện với tôi.
- À... thì...
Tôi ậm ừ không biết nên nói thế nào. Nói là buồn thì cũng không đúng, nhưng nói không buồn thì lại phải giải thích dài dòng.
- Thầy nói sao? Anh chàng này đến đây để vẽ tranh, nên cũng khá là bận rộn đấy.
- Ồ thế à? Hay quá nhỉ! Vậy anh có phải là một họa sĩ thuộc trường phái Nanso chăng?
- Không ạ.
Lần này thì tôi lên tiếng, thầm nghĩ mình có nói gì về hội họa phương Tây thì hòa thượng cũng chẳng hiểu được.
- Ôi dào, nói về hội họa phương Tây thì...
Giữ vai trò chủ nhà, một lần nữa ông cụ lại chen vào nói đỡ cho tôi.
- Ồ, hội họa phương Tây à? Vậy là kiểu tranh giống như cậu Kyuichi thường vẽ phải không? Gần đây tôi mới được biết loại tranh đó, nhưng phải công nhận là rất đẹp!
- Không ạ, chỉ là loại xoàng thôi - Chàng thanh niên lúc này mới lên tiếng.
- Cậu có đưa thầy Gozen Nanzo xem phải không? Ông cụ hỏi. Cả lời nói và cách thể hiện đều tỏ ra hết sức gần gũi.
- Dạ thì... Thật ra cháu không đưa thầy xem, chỉ là tình cờ gặp thầy lúc đang ngồi vẽ ở Ao Gương thôi ạ.
- Hừm, thế sao?... À, tôi rót sẵn trà rồi đấy, xin mời!
Ông cụ đặt ly trà trước mặt từng người. Trà chỉ có vài giọt, nhưng cái chén thì thật là to. Trên nền men màu xám nâu của ly trà có những nét vẽ nguệch ngoạc màu đỏ sậm và vàng nhạt, không rõ là tranh hay một kiểu hoa văn nào đó, tạo nên một cái hình gần giống như mặt quỷ.
- Loại chén Mokubee đấy - Ông cụ giải thích ngắn gọn.
- Cái này hay đấy - Tôi cũng tán thưởng bằng một câu đơn giản.
- Ðồ Mokubee giả thì nhiều lắm... Anh nhìn dưới đáy chén mà xem. Có khắc tên nữa đấy - Ông cụ nói.
Tôi nhấc cái chén lên, giơ ra phía cửa để nhìn. Hình ảnh ấm áp của một cây địa lan trồng trong chậu in trên vách cửa. Tôi nghiêng đầu, nhìn kỹ thì thấy chữ moku nhỏ xíu trên khu chén. Về mặt giá trị thì chữ khắc trên sản phẩm như thế này chẳng có gì quan trọng, nhưng giới sưu tầm nghiệp dư thì có vẻ rất quan tâm. Tôi không đặt chén xuống mà cứ thế đưa ngang miệng nhắp trà.
Nhấp từng ngụm trà ngọt và đậm pha bằng nước nóng đúng là sự phong lưu của kẻ nhàn cư. Người bình dân thường nghĩ trà là một loại thức uống thông thường, nhưng kỳ thực không phải vậy. Khi ta để từng giọt trà ngấm vào đầu lưỡi, để cho sự thanh khiết tỏa lan trong miệng thì hầu như cổ họng chẳng hấp thu được giọt nào. Chỉ có mùi hương phảng phất là thấm từ thực quản qua dạ dày. Dùng răng khi uống nước thì đúng là ngớ ngẩn. Mà nước thì rất nhẹ. Nước trà giống như những giọt sương màu ngọc, còn thanh khiết hơn cả thứ nước cất thông thường, nhưng không có độ cứng đến mức làm người ta phải nhai mỏi miệng. Một thứ thức uống tuyệt vời. Người ta thường nói uống trà bị mất ngủ, nhưng tôi thậm chí còn muốn khuyên những ai mất ngủ nên uống trà.
Không biết từ lúc nào, ông cụ đã dọn ra món bánh ngọt dùng trong lễ trà, đựng trong một chiếc đĩa sứ màu xanh ngọc. Thật kinh ngạc khi thưởng lãm sản phẩm của một nghệ nhân thuộc loại quán quân - người đã chế tác từ một khối chất liệu thô thành một chiếc đĩa mỏng mảnh và khéo léo như vậy. Khi nhìn vào có cảm giác như những tia nắng mùa xuân rọi xuống bề mặt đĩa không bị thoát ra ngoài mà hội tụ lại trong chiều sâu của chất sứ trong suốt. Nếu chiếc đĩa không phải đựng vật gì thì có thể còn đẹp hơn.
- Vị khách này có vẻ thích đồ sứ mỹ nghệ, nên hôm nay tôi mang ra vài món.
- Ðồ sứ nào kia?... Cái đĩa đựng bánh ngọt đấy à? Cái đó thì tôi cũng thích. Anh này, có khi nào trong hội họa phương Tây người ta cũng vẽ những thứ như cửa trượt fusuma[1] không nhỉ? Nếu có thì tôi muốn nhờ anh vẽ cho một bức.
[1] Loại cửa trượt dày và nặng hơn cửa shoji, có thể dùng làm vách ngăn tạm thời trong nhà. Trên cửa fusuma thường có vẽ hoa văn trang trí.
Chuyện vẽ thì tôi chẳng nề hà gì, nhưng chẳng biết có vừa ý hòa thượng hay không. Không khéo lại mất công vẽ để rồi bị chê là hội họa phương Tây chẳng ra gì thì quả là uổng công vô ích.
- Fusuma thì chắc là không hợp đâu ạ.
- Không hợp à? Thì ra là thế. Vậy thì những bức tranh của Kyuichi hôm trước hình như hơi rực rỡ quá chăng?
- Tranh của con thì tệ lắm, chẳng nên xem làm gì - Chàng thanh niên lại nói những lời khiêm tốn với vẻ hơi e ngại.
- Cái ao gì đó ở đâu ấy nhỉ? Tôi hỏi chàng trai với một chút tò mò.
- Ở trong thung lũng phía sau chùa Kankaiji, một nơi yên tĩnh... Hồi còn học ở trường, vì chán quá nên em mới đến ngắm chơi ấy mà.
- Còn chùa Kankaiji...?
- Chùa Kankaiji ấy là chỗ tôi đang ở. Một nơi cũng khá là hay đấy. Nhìn xuống phía dưới thì có thể thu gọn biển cả vào trong tầm mắt... À, trong thời gian còn ở đây anh tranh thủ ghé chơi đi. Xem nào, từ đây sang bên đó chưa đầy một cây số. Từ dãy hành lang này có thể nhìn thấy những bậc đá đi lên ngôi chùa đấy..., kia kìa!
- Hôm nào tôi mạn phép ghé thăm được chứ? - Ồ, tất nhiên. Tôi lúc nào cũng có ở đó. Cô ở nhà đây vẫn hay đến ấy mà... À, nhắc đến cô mới nhớ, hình như hôm nay không thấy cô Nami... Cụ này, cô ấy vẫn ổn đấy chứ?
- Chắc nó lại đi đâu rồi. Kyuichi này, có gặp nó ở đằng chỗ cháu không?
- Dạ không, cháu không gặp ạ.
- A ha, chắc cô lại đi dạo một mình rồi! Cô Nami vẫn còn đi khỏe lắm. Hôm trước tôi có việc đến Tonami, khi đi ngang chỗ cầu Sugatamibashi tôi cứ tưởng là mình thấy ai đó giống cô ấy thôi, nhưng đúng là cô ấy thật. Cô mặckimono vén cao phía sau lưng, mang dép trệt. Rồi bất ngờ cô hỏi: “Thầy vẩn vơ làm gì ở đây kia chứ? Thầy đang đi đâu vậy?”, làm tôi hết sức ngạc nhiên, hà hà... Tôi hỏi cô định đi đâu với bộ dạng thế này, cô bảo đi hái rau mùi dại, lại bảo thầy nếm thử một chút nhé, rồi bất ngờ dúi vào tay áo tôi những cọng rau nhoe nhoét bùn, ha ha!
- Thật là...
Ông cụ nở nụ cười khổ sở và đột ngột đứng lên, đổi đề tài sang các loại dụng cụ uống trà:
- Thật ra thì tôi cũng muốn cho quý vị xem cái này.
Với những động tác có vẻ rất trang nghiêm, ông cụ lấy từ trên giá sách làm bằng gỗ đàn hương một chiếc túi vải lụa cũ, hình như có đựng vật gì hơi nặng.
- Thầy chắc đã thấy rồi chứ nhỉ?
- Cái quái quỷ gì thế?
- Cái nghiên mực ấy mà.
- Ủa, nghiên mực nào kia?
- Cái nghiên quý của ngài Sanyo ấy...
- Không, thế thì tôi chưa thấy.
- Có nắp Shunsui kèm theo nữa...
- Thế thì đúng là chưa. Ðâu? Cho xem nào?
Ông cụ mở chiếc túi vải một cách trịnh trọng, để lộ từ bên trong một phiến đá vuông vức màu đỏ sẫm.
- Màu đẹp quá! Ðá Giang Tây phải không?
- Ðá Giang Tây. Có đến chín chấm cơ!
- Những chín chấm kia à? Hòa thượng thốt lên, đầy vẻ cảm kích.
- Còn đây là cái nắp Shunsui - Ông cụ đưa ra một cái nắp mỏng gói trong vải lụa. Trên nắp có bút tích của Shunsui, đề một bài thơ thất ngôn tuyệt cú.
- Thì ra là vậy. Chữ của Shunsui thì đẹp tuyệt rồi. Nhưng mà, viết lách thì Kyohei vẫn giỏi hơn.
- Ðúng là ngài Kyohei giỏi hơn thật nhỉ!
- Có lẽ Sanyo là người tệ nhất. Chính cái kiểu tỏ ra thông tuệ lại làm cho ông ta trở nên thô thiển, chẳng có gì hay ho!
- A ha! Cụ chủ nhà bật cười - Vì thầy không thích ngài Sanyo nên tôi đã thay bức chữ của ngài sang bức khác rồi.
- Thế à?
Hòa thượng quay nhìn ra phía sau. Trong góc nhà, trên bục gỗ được đánh bóng như gương có đặt một chiếc lọ bằng đồng đã cũ, bên trong cắm cành hoa mộc lan cao gần một mét. Phía sau lọ hoa là một bức đại tự của Bussorai viết một cách công phu trên loại giấy hoa tiên cũ tuyệt đẹp. Nền giấy này không phải là loại giấy lụa, nhưng vì giấy đã cũ nên bức chữ không chỉ có vẻ đẹp của thư pháp mà còn đẹp vì màu giấy cũng rất hòa hợp với màu nền ở xung quanh. Tôi nghĩ có lẽ khi làm giấy, để tấm giấy bớt đi vẻ sặc sỡ, người ta đã làm cho màu sắc nhạt đi và những đường dát vàng lặn xuống, có như thế mới thể hiện được vẻ đẹp thanh đạm và cổ kính, mới tạo ra sự hòa hợp tuyệt vời như vậy. Ngoài hai chiếc ngà voi trắng hai bên nổi bật trên vách đất có màu nâu sẫm và cành hoa mộc lan lòa xòa phía trước, chỗ góc nhà chìm trong gam màu tối đến mức ảm đạm.
- Của Sorai phải không? Nhà sư hỏi, vẫn đang trong tư thế quay nhìn.
- Hình như ngài cũng không thích Sorai lắm, nhưng có lẽ còn đỡ hơn Sanyo.
- Rõ ràng là Sorai khá hơn. Chữ của những bậc học giả thời Kyoho[2] thì dù không đẹp vẫn có nét tao nhã.
[2] Kyoho là niên hiệu được dùng trong khoảng thời gian 1716 - 1735 ở Nhật Bản.
- Thầy ạ, có phải Sorai đã nói rằng: “Kotaku mới là nhà thư pháp Nhật Bản vĩ đại, còn chúng ta đều là kiểu mô phỏng Trung Hoa cả”?
- Tôi không rõ. Làm gì có chuyện khoác lác về thư pháp đến mức ấy! Hòa thượng bật cười to.
- Thầy có theo học ai không nhỉ?
- Tôi ấy à? Cụ biết đấy, Thiền sư thì không đọc sách, mà cũng không luyện chữ.
- Nhưng hình như thầy có theo ai đó? - Hồi còn trẻ thì tôi có một dạo học chữ ngài Kosen. Chỉ thế thôi. Nhưng nếu người ta xin chữ thì lúc nào tôi cũng sẵn sàng cho. Hà hà! Mà này, cho tôi mượn cái nghiên đá Giang Tây ấy một chút xem nào - Nhà sư đề nghị.
Rồi ngài cầm lấy cái túi lụa. Mọi người chăm chú nhìn vào chiếc nghiên. Một chiếc nghiên bằng đá thường có bề dày khoảng bốn centimet, nhưng cái này thì dày gần gấp đôi. Chiều rộng và chiều dài khoảng mười ba và mười bảy centimet, có thể nói là cỡ trung bình. Nắp nghiên được làm bằng vỏ cây tùng để mộc, có hình một chiếc vảy và được đánh bóng, trên nắp có ghi hai chữ bằng mực đỏ, kiểu thư pháp gì thì tôi không rõ lắm.
- Cái nắp này... - Ông cụ nói - Cái nắp này không phải là một cái nắp bình thường. Mọi người xem, đúng là vỏ cây tùng đấy. Nhưng mà...
Ánh mắt ông cụ nhìn về phía tôi. Tuy nhiên, vì vốn là một họa sĩ, chẳng hiểu sao tôi không mấy hứng thú với một cái nắp nghiên làm bằng vỏ cây tùng, dẫu nguồn gốc của nó có gắn với chuyện gì đi chăng nữa. Vì vậy tôi lên tiếng:
- Nắp bằng vỏ tùng thì hơi thô, phải không ạ?
- Ừm... Ông cụ khoác tay ra vẻ phản đối:
- Nếu chỉ là cái nắp làm bằng vỏ cây tùng bình thường thì đúng là có hơi thô, nhưng cái này thì hơi đặc biệt. Ðây là cái nắp do chính tay ngài Sanyo đẽo vỏ cây tùng ngài đã trồng trong vườn hồi sống ở Hiroshima để làm ra đấy.
Thì ra vậy. Sanyo vốn là một người chẳng cao nhã mấy, tôi nghĩ vậy và đánh bạo nói luôn rằng:
- Nếu là vật tự tay mình làm thì dù sao cũng có vẻ thô vụng, nên thiết nghĩ ông ta không cần phải mất công tạo hình chiếc vảy rồi đánh cho bóng loáng lên như thế làm gì!
- A ha! Ðúng thế! Cái nắp này có vẻ rẻ tiền làm sao ấy! - Nhà sư ngay lập tức tỏ ra đồng ý với tôi.
Chàng thanh niên thì nhìn ông cụ với vẻ ái ngại. Ông cụ quẳng cái nắp sang một bên, có vẻ hơi bực mình. Rốt cuộc thì toàn bộ chiếc nghiên cũng lộ ra từ dưới đáy túi.
Nếu chiếc nghiên này có nét gì độc đáo để hấp dẫn được người xem, thì đó là những nét khắc của nghệ nhân trên bề mặt. Ở giữa nghiên nhô lên một chỗ có hình tròn như mặt chiếc đồng hồ bỏ túi, cao xấp xỉ vành nghiên. Ðó là hình khắc lưng con nhện. Tám “chấm” của chiếc nghiên nằm ở đầu mút của tám cái chân nhện tỏa ra các phía như hình cánh cung, trong tư thế đang chạy. Một “chấm” còn lại nằm giữa lưng con nhện, nhòe nhoẹt như bị lem bởi một thứ nước quả màu vàng. Phần xung quanh lưng và chân nhện được khoét sâu xuống khoảng gần bốn centimet. Có lẽ phần khoét rỗng bao quanh này không phải là chỗ đựng mực. Hơn hai lít nước rót vào cũng chưa đầy phần lõm đó. Có lẽ người ta phải dùng một chiếc muôi bạc múc một chút nước từ trong bình đổ lên lưng con nhện, rồi mài thỏi mực quý vào trong nước để hòa tan. Nếu không phải thế thì dù được gọi là nghiên mực, trên thực tế nó không khác gì một món đồ trang sức thuần túy ở văn phòng.
Ông cụ lên tiếng, nước bọt ở khóe môi như sắp nhễu ra ngoài:
- Quý vị nhìn thớ đá và những con mắt này đi!
Ðúng là càng nhìn thì càng thấy màu đá rất đẹp. Tưởng như trên làn da nhẵn bóng và mát lạnh kia, chỉ cần một hơi thở phả ra thì hơi nước sẽ tụ lại ngay thành một phiến mây mỏng. Ðặc biệt, đáng chú ý là ở chỗ màu của các “con mắt”. Chuyển tiếp giữa màu mắt và màu nền là một sự thay đổi nhẹ nhàng và tinh tế, đến mức giống như đánh lừa mắt người xem, khiến ta không thể tìm ra được đâu là điểm chuyển màu. Có thể tưởng tượng là chúng ta đang nhìn xuyên qua một miếng thạch màu tím trong suốt và thấy hạt đậu nằm ẩn sâu trong đó. Chỉ cần có một hay hai “con mắt” đã là hết sức đáng quý rồi. Ðến chín mắt thì hầu như không biết xếp vào loại nào cho được. Hơn nữa, cả chín con mắt đều được sắp xếp ngăn nắp cách đều nhau, đến mức người ta có thể tưởng là sản phẩm nhân tạo, thì phải công nhận là một tuyệt phẩm có một không hai trên đời.
- Quả là tuyệt diệu! Nhìn mát mắt vô cùng. Mà chạm vào như thế này cũng rất thích - Tôi vừa nói vừa chuyển cái nghiên cho chàng thanh niên ngồi bên cạnh.
- Kyuichi liệu có hiểu được thứ đó không? Ông cụ cười cười, hỏi. Kyuichi có vẻ hơi thất vọng:
- Cháu chẳng biết gì đâu. Anh ta nói ngay như thể gạt đi, nhưng vẫn đặt cái nghiên mà mình không hiểu được xuống trước mặt ngắm nghía, có vẻ như cảm thấy tiếc rẻ, rồi nâng lên đưa lại cho tôi. Tôi xoa nhẹ bàn tay qua chiếc nghiên một lần nữa rồi kính cẩn trao lại cho vị Thiền sư. Thiền sư đặt trên lòng bàn tay ngắm nhìn cẩn thận, rồi như cảm thấy vẫn chưa thỏa mãn, ông lấy tay áo kimono làm bằng lông chuột lau mạnh vào chỗ lưng con nhện, rồi nhìn chỗ sáng bóng vừa lộ ra với cái nhìn ngưỡng mộ.
- Ngài cư sĩ, màu này đúng là tuyệt thật đấy! Ông có bao giờ dùng qua cái này chưa?
- Không, tôi chưa hề nghĩ đến chuyện đem nó ra dùng, chỉ mới mua được thôi.
- Tôi cũng đoán thế! Cái này chắc ở Trung Hoa bây giờ cũng là loại hiếm, phải không ngài cư sĩ?
- Ðúng vậy.
- Tôi cũng muốn có một chiếc. Chắc phải nhờ đến cậu Kyuichi nhỉ? Thế nào, cậu mua giúp tôi một chiếc được không?
- Ôi... E rằng cháu chưa tìm được cái nghiên thì đã chết mất rồi - Chàng thanh niên cười khẽ.
- Ừ nhỉ! Không kịp tìm ra cái nghiên chăng? À, khi nào thì cậu đi?
- Khoảng hai, ba ngày nữa ạ.
- Ngài cư sĩ, ông sẽ tiễn cậu ấy đến Yoshida chứ?
- Tôi thì cũng già yếu lắm rồi, lẽ ra không nên đi như thế, nhưng chẳng biết có còn dịp nào được gặp lại hay không, nên chắc là sẽ tiễn một quãng.
- Bác không cần phải tiễn cháu đi đâu ạ!
Chàng trai hình như là cháu của ông cụ này. Thảo nào có nét gì đó hơi giông giống.
- Cái gì? Tiễn đi một chút thì có sao đâu. Nếu đi thuyền thì chẳng mệt nhọc gì, phải không ngài cư sĩ?
- Vâng. Vượt đèo thì vất vả, chứ đi đường vòng bằng thuyền thì...
Lần này thì chàng trai lặng thinh, không nói lời từ chối nào nữa.
- Anh đi Trung Quốc à? - Tôi hỏi.
- Vâng.
Chỉ có một chữ “vâng” thì chẳng đủ để hiểu được chuyện gì, nhưng vì không cần phải gạn hỏi nhiều hơn, nên tôi ghìm lại. Nhìn ra phía vách trượt, tôi thấy bóng hoa lan đã dịch chuyển đi một chút.
- Sao? Anh hỏi gì kia? À, trong cuộc chiến tranh này... Cháu nhà tôi tình nguyện nhập ngũ, nên bây giờ được triệu tập.
Thay lời chàng thanh niên, ông cụ cho biết chàng sắp phải bị đưa ra mặt trận ở vùng Mãn Châu hoang vu. Thật sai lầm khi tôi cứ nghĩ rằng trong ngôi làng mùa xuân đẹp như thơ, như mộng này, chỉ có âm thanh của tiếng chim kêu, tiếng hoa rụng, hay là tiếng suối reo. Hiện thực vượt qua cả núi cao, biển rộng, dồn đuổi đến cả những con cháu họ Taira đang sống cuộc đời thanh đạm ở sơn thôn vắng vẻ này. Có lẽ đã đến lúc máu của chàng thanh niên này phải hòa cùng dòng máu của muôn người nhuộm khắp vùng đồng hoang phương Bắc. Hay là lúc lưỡi kiếm dài đeo bên hông chàng phải làm cho máu của kẻ thù tuôn chảy. Nhưng chàng thanh niên này lại đang ngồi cạnh một họa sĩ mà cuộc sống chẳng có giá trị gì ngoài những chuyện mộng mơ. Ngồi gần đến mức nếu lắng tai thì có thể nghe thấy tiếng tim đập trong lồng ngực người bên cạnh. Phải chăng trong tiếng mạch đập khẽ khàng kia có vang vọng âm thanh của dòng máu phun trào lênh láng hàng trăm dặm trên những cánh đồng xa xôi ấy? Chỉ biết rằng định mệnh đã mang lại cho chúng tôi một khoảnh khắc ngắn ngủi bất ngờ để được gặp nhau dưới một mái nhà, ngoài ra thì chẳng cho ta biết gì thêm nữa.
Chương 9
- Anh đang học à?
Cô gái hỏi. Từ lúc trở về phòng tôi cứ ngồi mãi chỗ chiếc ghế ba chân đã theo mình suốt cuộc hành trình, đọc một trong những cuốn sách đã mang theo.
- Cô cứ vào đi. Không sao đâu.
Cô gái bước vào phòng tự nhiên chẳng chút ngại ngùng. Màu da cổ tuyệt đẹp lộ ra rạng rỡ bên ngoài cổ áo kimono màu tối. Khi cô ngồi xuống đối diện tôi, điều đầu tiên đập vào mắt tôi chính là sự đối lập giữa màu vải áo và màu da ở cổ.
- Sách Tây à? Chắc là viết toàn những chuyện khó hiểu phải không?
- Làm gì có!
- Vậy sách viết những gì hả anh?
- Xem nào... Thực ra thì tôi cũng không hiểu rõ lắm.
- A ha! Vì thế nên mới phải học à?
- Học gì đâu. Chẳng qua nhân tiện mở sách ngồi bên bàn, rồi ngẫu hứng đọc xem chỗ đang mở sẵn vậy thôi.
- Ðọc kiểu đó thì có thú vị không?
- Thú vị chứ.
- Vì sao?
- Vì sao ấy à? Không hiểu sao với những loại như tiểu thuyết thì đọc kiểu này mới thú vị.
- Anh là kiểu người hơi lạ đấy!
- Ừ, cũng hơi lạ thật.
- Nhưng đọc sách từ đầu thì có gì không hay chứ?
- Nếu mình cứ nghĩ là phải đọc từ đầu, thì cũng có nghĩa là phải đọc cho đến cuối truyện.
- Anh lý luận kỳ lạ thật! Chẳng lẽ không nên đọc đến cuối truyện hay sao?
- Dĩ nhiên chẳng có gì là không nên cả. Nếu muốn hiểu được cốt truyện thì tôi cũng đọc như thế.
- Nếu không đọc cốt truyện thì đọc cái gì? Ngoài cốt truyện còn có gì để đọc nữa chăng?
“Ðúng là phụ nữ thật”, tôi thầm nghĩ. Và cũng muốn thử cô một chút.
- Cô có thích tiểu thuyết không?
- Tôi à? Cô dừng lại đột ngột rồi lấp lửng - Ừ thì... Hình như cô không thích mấy.
- Chính cô cũng không rõ mình thích hay là không thích ư?
- Tôi không hề nghĩ đến chuyện đọc hay không đọc tiểu thuyết...
Trong mắt cô chẳng có vẻ gì là biết đến khái niệm về tiểu thuyết.
- Nếu vậy thì đọc từ đầu hay từ cuối truyện, hay là đọc ngẫu hứng ở bất kỳ chỗ nào cũng chẳng hề gì, đúng không? Có gì mà cô phải thắc mắc và ngạc nhiên như vậy?
- Bởi vì anh và tôi là hai kiểu người khác nhau.
- Khác thế nào?
Tôi hỏi, nhìn sâu vào mắt cô. “Lúc này mới đúng là thử thách”, tôi thầm nghĩ. Nhưng đồng tử trong mắt cô không hề động đậy.
- Ô! Anh không biết à? Cô bật cười to.
- Nhưng, lúc trẻ chắc là cô cũng đọc nhiều chứ?
Tôi không tấn công trực diện nữa mà xoay sang khai thác nội tâm.
- Tôi tin là bây giờ mình vẫn trẻ đấy chứ. Thật tội nghiệp!
Con chim đã sổ lồng nhưng vẫn dè chừng trước sau. Phải hết sức thận trọng trong cuộc chơi này.
- Phải là người có tuổi thì mới có thể nói như thế trước một người đàn ông chứ!
Rốt cuộc tôi cũng tìm được cách để vặn lại.
- Nếu nói vậy thì hóa ra anh cũng là người nhiều tuổi, có đúng không? Thật thú vị khi thấy một người nhiều tuổi như anh, đầu óc hơi ngơ ngẩn nhưng mặt thì đầy mụn trứng cá!
- Ừ, thú vị chứ. Và vẫn thú vị cho đến khi kết thúc cuộc đời.
- Cứ như ông cụ non! Chính vì thế mà anh mới thành họa sĩ à?
- Chính xác! Vì là họa sĩ nên không cần phải đọc tiểu thuyết từ đầu đến cuối. Nhưng đọc ở đâu thì cũng thấy hay. Trò chuyện với cô cũng thấy hay. Hay đến mức tôi muốn mỗi ngày đều được trò chuyện với cô, trong thời gian trọ lại nơi này. Nhưng dù có say mê đến mức nào thì cũng không nhất thiết phải nên vợ nên chồng với cô. Nếu nghĩ rằng đã say mê là phải nên vợ nên chồng, thì đọc tiểu thuyết cũng phải đọc từ đầu đến cuối.
- Nếu vậy, họa sĩ là những người có kiểu yêu đương vô tình như thế ư?
- Không phải vô tình. Mà là kiểu yêu không ràng buộc. Ðọc tiểu thuyết cũng theo kiểu không ràng buộc, nên cốt truyện ra sao cũng chẳng hề gì. Cứ làm như thế này này, như kiểu rút thăm ấy. Cứ mở ra ngẫu nhiên một trang nào đó rồi nhẩn nha đọc chỗ vừa mới mở, thế mới là thú vị.
- Thảo nào mà anh có vẻ rất thích thú. Vậy kể cho tôi nghe một chút về chỗ anh đang đọc xem nào. Tôi muốn biết có gì hấp dẫn ở đó.
- Không kể được! Giống như người ta không thể kể về một bức tranh. Như thế còn gì là giá trị nữa, cô hiểu chứ?
- Ồ! Cô bật cười - Vậy thì anh đọc tôi nghe với.
- Ðọc tiếng Anh luôn à?
- Không, tiếng Nhật ấy.
- Ðọc văn bản tiếng Anh bằng tiếng Nhật thì hơi khó đấy.
- Chẳng phải như vậy mới là thú vị sao? Ngẫu hứng thôi mà!
“Có lẽ đây cũng là một ý hay”, tôi nghĩ vậy và cũng để đáp lại đề nghị của cô, tôi thử đọc lõm bõm một đoạn bằng tiếng Nhật. Nếu trên đời này có một cách đọc gọi là ngẫu hứng thì đó chính là cách mà tôi đang làm. Và dĩ nhiên là cô gái nghe tôi đọc cũng đang nghe một cách rất ngẫu hứng.
“Từ cô gái lan tỏa ra một cảm giác dịu dàng. Lan tỏa từ giọng nói, từ đôi mắt, làn da. Vì cô đang muốn nhờ vả chàng trai để được ngắm cảnh chiều Venice, hay là vì chàng trai giúp đỡ cô đang rung động sâu sắc trong từng nhịp đập của trái tim?...” Vì là ngẫu hứng, nên tôi chỉ đọc lướt qua thôi. Có thể sẽ lược bỏ nhiều chi tiết.
- Chẳng sao cả. Tùy anh thôi. Thậm chí có thêm vào đôi chỗ cũng không vấn đề gì.
“Cô và anh ngồi bên nhau chỗ mạn thuyền. Khoảng cách giữa hai người còn hẹp hơn cả dải phướn đang tung bay trong gió. Cả hai cùng nói lời tạm biệt Venice. Lâu đài Doge ở Venice cũng giống như vầng mặt trời trong buổi hoàng hôn lần thứ hai này, với màu đỏ đang nhạt dần rồi mất hút...”
- Doge là cái gì? - Là cái gì cũng không quan trọng. Ðó là họ của những người đã cầm quyền ở Venice ngày trước. Chắc là cũng phải qua bao nhiêu thế hệ. Lâu đài ấy bây giờ vẫn còn ở Venice.
- Vậy thì hai nhân vật nam và nữ kia là ai vậy nhỉ?
- Tôi cũng chẳng biết họ là ai. Chính vì như thế mới thú vị. Những mối quan hệ vốn có từ trước chẳng có gì quan trọng. Chỉ cần họ đang ở bên nhau như thế là đủ hay rồi, cũng giống như tôi và cô đang ngồi cùng nhau thế này thôi.
- Có lẽ vậy chăng? Hình như họ đang ở trong một chiếc thuyền thì phải?
- Trên một chiếc thuyền hay một ngọn đồi, thì cứ hiểu theo cách miêu tả trong truyện ấy. Còn nếu đặt câu hỏi tại sao thì lại thành ra tọc mạch.
- Ồ! - Cô bật cười. - Vậy thì tôi sẽ không hỏi nữa!
- Loại tiểu thuyết thông thường đều bày ra những chuyện tọc mạch cả đấy chứ. Vì không có kiểu ngẫu hứng... nên chẳng có gì là thú vị.
- Vậy thì hãy theo dõi tiếp chuyện ngẫu hứng ấy đi nào. Rồi sao nữa?
“Venice thẫm dần, thẫm dần, cho đến lúc chỉ còn lại một đường mỏng manh mờ nhạt vắt ngang trời. Rồi cái lằn ngang ấy cũng tan dần. Chỉ còn là những cái chấm. Ðây đó, những cây cột tròn đứng sững dưới bầu trời như một mảng pha lê ngũ sắc. Cuối cùng, cái lầu chuông cao nhất cũng khuất dần đi. “Qua mất rồi!” cô nói. Tâm hồn cô gái đang đi qua Venice cũng tự do như gió thổi ngang trời. Nhưng Venice đang chìm trong bóng tối đã để lại một nỗi buồn vây chặt tâm hồn cô, khiến cô nhủ thầm mình phải quay trở lại. Anh và cô cùng nhìn về phía vịnh tối thẫm. Những ngôi sao lần lượt xuất hiện. Biển gợn sóng nhẹ nhàng tung bọt trắng. Anh nắm lấy tay cô. Như nắm chặt một sợi dây đàn cứ rung ngân không dứt...”
- Hình như không phải là hoàn toàn ngẫu hứng đâu.
- Sao? Cái này có thể nghe theo kiểu ngẫu hứng mà. Nhưng nếu cô không thích thì tôi lược bỏ bớt đi nhé?
- Không, tôi thích mà.
- Với tôi thì có thể nói là khá hay ấy chứ... Tới đâu rồi nhỉ?... E hèm... đoạn này hơi khó đấy. Dịch thế nào đây?... Ôi, khó thật!
- Nếu khó quá thì cứ lược bỏ đi.
- Ừ, thôi cứ lướt qua vậy... “Chỉ còn đêm nay thôi”, cô bảo. “Chỉ một đêm thôi ư?”, anh kêu lên. “Chỉ một đêm thì tệ quá, phải bao nhiêu đêm nữa!”
- Ðó là câu nói của cô gái, hay của chàng trai?
- Chàng trai nói chứ. Dù gì thì cô gái cũng không muốn trở lại Venice mà. Vì thế nên chàng mới an ủi cô như vậy... “Trong đêm khuya, khi ngả lưng trên boong tàu, gối đầu lên mớ dây căng buồm, ký ức của anh lại trở về với khoảnh khắc ấy, khoảnh khắc sống động như một giọt máu nóng hổi, khi anh siết chặt bàn tay cô, cứ bồng bềnh trong anh như một con sóng lớn. Nhìn ra màn đêm tối mịt, anh quyết tâm phải cứu được cô ra khỏi bờ vực thẳm của một cuộc hôn nhân cưỡng ép. Xác định như thế rồi, anh mới nhắm mắt lại...”
- Còn cô gái?
- Cô gái còn đang lạc lối, không biết rồi sẽ đi về đâu. Như thể bị bắt cóc đưa lên trời. Một sự vô cùng tận lạ lùng không hiểu được... Ðoạn sau hơi khó đọc. Chẳng thành câu cú gì cả... Chỉ là một sự vô cùng tận không sao lý giải... Sao không có động từ nào cả thế này?
- Có cần gì động từ đâu chứ? Thế là quá đủ rồi.
- Sao?
Rừng cây trên núi bỗng rung lên xào xạc. Hai chúng tôi bất giác nhìn nhau, và đúng lúc đó thì cành hoa trà cắm trong chiếc lọ đặt trên bàn cũng rung rinh.
- Ðộng đất!
Cô kêu khẽ rồi quỳ xuống nép vào dưới bàn chỗ tôi ngồi. Hai thân hình run rẩy kề sát nhau. Một con gà lôi từ trong bụi cây gần đó vỗ cánh phạch phạch bay ra ngoài.
- Gà lôi kìa. - Tôi nhìn ra cửa sổ, nói.
- Ðâu?
Cô thụp xuống, rướn người về phía tôi. Hai khuôn mặt gần như chạm vào nhau. Những sợi râu trên mặt tôi cảm nhận được cả hơi thở từ mũi cô hắt ra nhẹ nhàng.
- Chỉ là ngẫu hứng thôi đấy nhé!
Ngay lập tức cô ngồi thẳng lên, nói chắc nịch.
- Tất nhiên rồi! - Tôi đáp lại ngay. Vũng nước mùa xuân đọng trong chỗ trũng trên tảng đá bị đánh động, bắt đầu chảy róc rách. Vì sự chấn động từ đáy nước làm tràn lên những con sóng dâng cao là xuất phát từ sự chấn động trong lòng đất, nên chỉ tạo ra trên bề mặt những vết rạn ngoằn ngoèo mà không làm cho đá bị vỡ ra từng mảnh. Nếu mà có từ nào dùng để chỉ sự vận động trong tĩnh lặng thì có thể miêu tả chính xác trường hợp này. Những cây anh đào núi vẫn đứng trầm ngâm soi bóng trên mặt nước giờ đây cũng lắc lư nghiêng ngả, vươn lên oằn xuống liên hồi. Tôi rất thích thú khi thấy rằng, cho dù có ngả nghiêng oằn oại, dáng vẻ rạng rỡ tươi đẹp của cây anh đào vẫn không bị mất đi.
- Thế này thì thích thật! Ðẹp và sinh động nữa! Không lay động như thế này thì chẳng có gì thú vị.
- Nếu con người mà có thể lay động kiểu này thì dẫu bị tác động đến đâu cũng chẳng sao đâu nhỉ?
- Nếu không có tinh thần ngẫu hứng thì không chịu được lay động kiểu này đâu.
- A ha! - Cô bật cười. - Ðúng là anh thích ngẫu hứng thật!
- Mà cô thì cũng chẳng phải là không thích ngẫu hứng đâu! Chiếc áo kimono dài tay hôm qua ấy...
Tôi vừa gợi chuyện thì:
- Anh thưởng cho tôi cái gì đi. - Cô đột ngột đổi giọng vòi vĩnh.
- Vì sao chứ?
- Vì anh bảo là muốn được nhìn tôi trong bộ áo tay dài, nên tôi mới nhọc công biểu diễn cho anh xem đấy! Không phải thế sao?
- Tôi bảo thế à?
- Tôi nghe kể lại rằng, có một anh chàng họa sĩ đi qua con đường núi đã bộc bạch với bà cụ ở quán nước một nguyện vọng như thế kia mà.
Tôi chẳng biết nên trả lời thế nào.
- Với người đãng trí như vậy thì chân thành đến đâu cũng chỉ phí công thôi!
Cô gái nói mà không nhìn tôi, với giọng điệu như mỉa mai, như oán trách. Ðây là mũi tên thứ hai bắn từ đối phương cắm thẳng vào mặt tôi. Mọi chuyện có vẻ gay go hơn hẳn. Tôi đã bị qua mặt và vẫn đang lúng túng chưa tìm ra cách nào để xoay chuyển tình thế.
- Vậy thì chuyện hôm qua ở chỗ nhà tắm ấy, cũng chỉ vì cô tử tế với tôi sao?
Trong lúc đang hết sức lúng túng thì tôi lại trở được thế cờ.
Cô im lặng hồi lâu.
- Tôi xin lỗi, không biết có cần phải làm gì để cảm ơn cô không nhỉ?
Tôi tiếp tục trong nỗ lực dấn tới. Nhưng dù tôi có tiến đến đâu cũng không có tác dụng gì. Cô gái cứ ngẩn người ngắm bức thư pháp của hòa thượng Daitetsu. Cô lẩm nhẩm:
- Bóng trúc quét thềm, không dấy bụi.
Rồi bỗng cô nhìn thẳng về phía tôi, như chợt nhớ ra điều gì:
- Anh vừa nói gì thế?
Cô cố ý hỏi to. Nhưng tôi không bị cô đánh lừa lần nữa.
- Lúc nãy tôi đã gặp vị hòa thượng ấy.
Tôi học cách thể hiện sự lay động điềm tĩnh, như nước trong ao bị sánh vì động đất.
- Vị hòa thượng ở chùa Kankaiji à? Ông ta là kiểu người to béo phải không?
- Ông ấy đã nhờ tôi vẽ giúp một bức tranh về tấm cửa trượt theo kiểu hội họa phương Tây. Hình như Thiền sư hay nói những chuyện mà người ta không hiểu được!
- Có lẽ nhờ vậy mà ông ta mới to béo như thế đấy!
- Và tôi còn gặp một chàng thanh niên nữa...
- Kyuichi phải không?
- Ừ, cậu Kyuichi.
- Anh biết rõ nhỉ!
- Ðâu có! Tôi chỉ biết cậu ấy là Kyuichi thôi. Ngoài ra chẳng biết gì cả. Có vẻ như cậu ta là người rất ít nói, đúng không?
- Làm gì có! Chắc là vì mắc cỡ thôi. Cậu ấy còn trẻ con lắm mà...
- Trẻ con ư? Chẳng phải cậu ta cũng ngang tuổi với cô sao?
- A ha! Anh nghĩ thế à? Cậu ta là em họ tôi đấy. Cậu ấy đến chào từ biệt vì sắp phải ra trận.
- Cậu ấy đang nghỉ lại ở đây à?
- Không, cậu ấy đang ở nhà anh tôi.
- Vậy là cậu ấy chỉ tranh thủ đến uống trà thôi nhỉ?
- Cậu ấy thích tắm nước nóng hơn là thích uống trà. Giá mà bố tôi đừng bắt cậu ấy phải ngồi vào. Chỉ tổ bị tê chân mà thôi. Nếu lúc đó mà có tôi ở đây thì tôi đã cho cậu ấy về sớm rồi...
- Thế cô đi đâu vậy? Hòa thượng có hỏi thăm cô đấy. Ông đoán là cô lại đi dạo một mình. - Ừ, tôi đi loanh quanh ra chỗ Ao Gương.
- Tôi cũng muốn đến chỗ Ao Gương đó...
- Anh cứ đến xem thử đi.
- Liệu đó có phải là một cảnh đẹp để vẽ tranh không nhỉ?
- Một cảnh đẹp để trầm mình thì có!
- Tôi chưa muốn trầm mình bây giờ đâu.
- Còn tôi thì có lẽ sắp trầm mình rồi đấy.
Một câu nói đùa hơi thái quá, khác với kiểu cách của nữ giới thường tình. Tôi bất giác ngẩng nhìn cô. Cô vẫn giữ một vẻ bình thản lạ lùng!
- Nhờ anh vẽ giúp một bức tranh thật đẹp về cảnh tôi chết đuối - không phải chết trong quằn quại khổ sở đâu, phải là một cuộc ra đi thanh thản ấy!
- Cái gì?
- Anh ngạc nhiên đúng không? Ồ, tôi đã làm anh phải ngạc nhiên! Phải ngạc nhiên rồi nhé!
Cô nhẹ nhàng đứng lên. Sau khi bước mấy bước chân đến chỗ cửa phòng, cô còn quay lại nở nụ cười với tôi. Tôi bất ngờ đến mức ngồi ngây ra như phỗng!
- Anh đang học à?
Cô gái hỏi. Từ lúc trở về phòng tôi cứ ngồi mãi chỗ chiếc ghế ba chân đã theo mình suốt cuộc hành trình, đọc một trong những cuốn sách đã mang theo.
- Cô cứ vào đi. Không sao đâu.
Cô gái bước vào phòng tự nhiên chẳng chút ngại ngùng. Màu da cổ tuyệt đẹp lộ ra rạng rỡ bên ngoài cổ áo kimono màu tối. Khi cô ngồi xuống đối diện tôi, điều đầu tiên đập vào mắt tôi chính là sự đối lập giữa màu vải áo và màu da ở cổ.
- Sách Tây à? Chắc là viết toàn những chuyện khó hiểu phải không?
- Làm gì có!
- Vậy sách viết những gì hả anh?
- Xem nào... Thực ra thì tôi cũng không hiểu rõ lắm.
- A ha! Vì thế nên mới phải học à?
- Học gì đâu. Chẳng qua nhân tiện mở sách ngồi bên bàn, rồi ngẫu hứng đọc xem chỗ đang mở sẵn vậy thôi.
- Ðọc kiểu đó thì có thú vị không?
- Thú vị chứ.
- Vì sao?
- Vì sao ấy à? Không hiểu sao với những loại như tiểu thuyết thì đọc kiểu này mới thú vị.
- Anh là kiểu người hơi lạ đấy!
- Ừ, cũng hơi lạ thật.
- Nhưng đọc sách từ đầu thì có gì không hay chứ?
- Nếu mình cứ nghĩ là phải đọc từ đầu, thì cũng có nghĩa là phải đọc cho đến cuối truyện.
- Anh lý luận kỳ lạ thật! Chẳng lẽ không nên đọc đến cuối truyện hay sao?
- Dĩ nhiên chẳng có gì là không nên cả. Nếu muốn hiểu được cốt truyện thì tôi cũng đọc như thế.
- Nếu không đọc cốt truyện thì đọc cái gì? Ngoài cốt truyện còn có gì để đọc nữa chăng?
“Ðúng là phụ nữ thật”, tôi thầm nghĩ. Và cũng muốn thử cô một chút.
- Cô có thích tiểu thuyết không?
- Tôi à? Cô dừng lại đột ngột rồi lấp lửng - Ừ thì... Hình như cô không thích mấy.
- Chính cô cũng không rõ mình thích hay là không thích ư?
- Tôi không hề nghĩ đến chuyện đọc hay không đọc tiểu thuyết...
Trong mắt cô chẳng có vẻ gì là biết đến khái niệm về tiểu thuyết.
- Nếu vậy thì đọc từ đầu hay từ cuối truyện, hay là đọc ngẫu hứng ở bất kỳ chỗ nào cũng chẳng hề gì, đúng không? Có gì mà cô phải thắc mắc và ngạc nhiên như vậy?
- Bởi vì anh và tôi là hai kiểu người khác nhau.
- Khác thế nào?
Tôi hỏi, nhìn sâu vào mắt cô. “Lúc này mới đúng là thử thách”, tôi thầm nghĩ. Nhưng đồng tử trong mắt cô không hề động đậy.
- Ô! Anh không biết à? Cô bật cười to.
- Nhưng, lúc trẻ chắc là cô cũng đọc nhiều chứ?
Tôi không tấn công trực diện nữa mà xoay sang khai thác nội tâm.
- Tôi tin là bây giờ mình vẫn trẻ đấy chứ. Thật tội nghiệp!
Con chim đã sổ lồng nhưng vẫn dè chừng trước sau. Phải hết sức thận trọng trong cuộc chơi này.
- Phải là người có tuổi thì mới có thể nói như thế trước một người đàn ông chứ!
Rốt cuộc tôi cũng tìm được cách để vặn lại.
- Nếu nói vậy thì hóa ra anh cũng là người nhiều tuổi, có đúng không? Thật thú vị khi thấy một người nhiều tuổi như anh, đầu óc hơi ngơ ngẩn nhưng mặt thì đầy mụn trứng cá!
- Ừ, thú vị chứ. Và vẫn thú vị cho đến khi kết thúc cuộc đời.
- Cứ như ông cụ non! Chính vì thế mà anh mới thành họa sĩ à?
- Chính xác! Vì là họa sĩ nên không cần phải đọc tiểu thuyết từ đầu đến cuối. Nhưng đọc ở đâu thì cũng thấy hay. Trò chuyện với cô cũng thấy hay. Hay đến mức tôi muốn mỗi ngày đều được trò chuyện với cô, trong thời gian trọ lại nơi này. Nhưng dù có say mê đến mức nào thì cũng không nhất thiết phải nên vợ nên chồng với cô. Nếu nghĩ rằng đã say mê là phải nên vợ nên chồng, thì đọc tiểu thuyết cũng phải đọc từ đầu đến cuối.
- Nếu vậy, họa sĩ là những người có kiểu yêu đương vô tình như thế ư?
- Không phải vô tình. Mà là kiểu yêu không ràng buộc. Ðọc tiểu thuyết cũng theo kiểu không ràng buộc, nên cốt truyện ra sao cũng chẳng hề gì. Cứ làm như thế này này, như kiểu rút thăm ấy. Cứ mở ra ngẫu nhiên một trang nào đó rồi nhẩn nha đọc chỗ vừa mới mở, thế mới là thú vị.
- Thảo nào mà anh có vẻ rất thích thú. Vậy kể cho tôi nghe một chút về chỗ anh đang đọc xem nào. Tôi muốn biết có gì hấp dẫn ở đó.
- Không kể được! Giống như người ta không thể kể về một bức tranh. Như thế còn gì là giá trị nữa, cô hiểu chứ?
- Ồ! Cô bật cười - Vậy thì anh đọc tôi nghe với.
- Ðọc tiếng Anh luôn à?
- Không, tiếng Nhật ấy.
- Ðọc văn bản tiếng Anh bằng tiếng Nhật thì hơi khó đấy.
- Chẳng phải như vậy mới là thú vị sao? Ngẫu hứng thôi mà!
“Có lẽ đây cũng là một ý hay”, tôi nghĩ vậy và cũng để đáp lại đề nghị của cô, tôi thử đọc lõm bõm một đoạn bằng tiếng Nhật. Nếu trên đời này có một cách đọc gọi là ngẫu hứng thì đó chính là cách mà tôi đang làm. Và dĩ nhiên là cô gái nghe tôi đọc cũng đang nghe một cách rất ngẫu hứng.
“Từ cô gái lan tỏa ra một cảm giác dịu dàng. Lan tỏa từ giọng nói, từ đôi mắt, làn da. Vì cô đang muốn nhờ vả chàng trai để được ngắm cảnh chiều Venice, hay là vì chàng trai giúp đỡ cô đang rung động sâu sắc trong từng nhịp đập của trái tim?...” Vì là ngẫu hứng, nên tôi chỉ đọc lướt qua thôi. Có thể sẽ lược bỏ nhiều chi tiết.
- Chẳng sao cả. Tùy anh thôi. Thậm chí có thêm vào đôi chỗ cũng không vấn đề gì.
“Cô và anh ngồi bên nhau chỗ mạn thuyền. Khoảng cách giữa hai người còn hẹp hơn cả dải phướn đang tung bay trong gió. Cả hai cùng nói lời tạm biệt Venice. Lâu đài Doge ở Venice cũng giống như vầng mặt trời trong buổi hoàng hôn lần thứ hai này, với màu đỏ đang nhạt dần rồi mất hút...”
- Doge là cái gì? - Là cái gì cũng không quan trọng. Ðó là họ của những người đã cầm quyền ở Venice ngày trước. Chắc là cũng phải qua bao nhiêu thế hệ. Lâu đài ấy bây giờ vẫn còn ở Venice.
- Vậy thì hai nhân vật nam và nữ kia là ai vậy nhỉ?
- Tôi cũng chẳng biết họ là ai. Chính vì như thế mới thú vị. Những mối quan hệ vốn có từ trước chẳng có gì quan trọng. Chỉ cần họ đang ở bên nhau như thế là đủ hay rồi, cũng giống như tôi và cô đang ngồi cùng nhau thế này thôi.
- Có lẽ vậy chăng? Hình như họ đang ở trong một chiếc thuyền thì phải?
- Trên một chiếc thuyền hay một ngọn đồi, thì cứ hiểu theo cách miêu tả trong truyện ấy. Còn nếu đặt câu hỏi tại sao thì lại thành ra tọc mạch.
- Ồ! - Cô bật cười. - Vậy thì tôi sẽ không hỏi nữa!
- Loại tiểu thuyết thông thường đều bày ra những chuyện tọc mạch cả đấy chứ. Vì không có kiểu ngẫu hứng... nên chẳng có gì là thú vị.
- Vậy thì hãy theo dõi tiếp chuyện ngẫu hứng ấy đi nào. Rồi sao nữa?
“Venice thẫm dần, thẫm dần, cho đến lúc chỉ còn lại một đường mỏng manh mờ nhạt vắt ngang trời. Rồi cái lằn ngang ấy cũng tan dần. Chỉ còn là những cái chấm. Ðây đó, những cây cột tròn đứng sững dưới bầu trời như một mảng pha lê ngũ sắc. Cuối cùng, cái lầu chuông cao nhất cũng khuất dần đi. “Qua mất rồi!” cô nói. Tâm hồn cô gái đang đi qua Venice cũng tự do như gió thổi ngang trời. Nhưng Venice đang chìm trong bóng tối đã để lại một nỗi buồn vây chặt tâm hồn cô, khiến cô nhủ thầm mình phải quay trở lại. Anh và cô cùng nhìn về phía vịnh tối thẫm. Những ngôi sao lần lượt xuất hiện. Biển gợn sóng nhẹ nhàng tung bọt trắng. Anh nắm lấy tay cô. Như nắm chặt một sợi dây đàn cứ rung ngân không dứt...”
- Hình như không phải là hoàn toàn ngẫu hứng đâu.
- Sao? Cái này có thể nghe theo kiểu ngẫu hứng mà. Nhưng nếu cô không thích thì tôi lược bỏ bớt đi nhé?
- Không, tôi thích mà.
- Với tôi thì có thể nói là khá hay ấy chứ... Tới đâu rồi nhỉ?... E hèm... đoạn này hơi khó đấy. Dịch thế nào đây?... Ôi, khó thật!
- Nếu khó quá thì cứ lược bỏ đi.
- Ừ, thôi cứ lướt qua vậy... “Chỉ còn đêm nay thôi”, cô bảo. “Chỉ một đêm thôi ư?”, anh kêu lên. “Chỉ một đêm thì tệ quá, phải bao nhiêu đêm nữa!”
- Ðó là câu nói của cô gái, hay của chàng trai?
- Chàng trai nói chứ. Dù gì thì cô gái cũng không muốn trở lại Venice mà. Vì thế nên chàng mới an ủi cô như vậy... “Trong đêm khuya, khi ngả lưng trên boong tàu, gối đầu lên mớ dây căng buồm, ký ức của anh lại trở về với khoảnh khắc ấy, khoảnh khắc sống động như một giọt máu nóng hổi, khi anh siết chặt bàn tay cô, cứ bồng bềnh trong anh như một con sóng lớn. Nhìn ra màn đêm tối mịt, anh quyết tâm phải cứu được cô ra khỏi bờ vực thẳm của một cuộc hôn nhân cưỡng ép. Xác định như thế rồi, anh mới nhắm mắt lại...”
- Còn cô gái?
- Cô gái còn đang lạc lối, không biết rồi sẽ đi về đâu. Như thể bị bắt cóc đưa lên trời. Một sự vô cùng tận lạ lùng không hiểu được... Ðoạn sau hơi khó đọc. Chẳng thành câu cú gì cả... Chỉ là một sự vô cùng tận không sao lý giải... Sao không có động từ nào cả thế này?
- Có cần gì động từ đâu chứ? Thế là quá đủ rồi.
- Sao?
Rừng cây trên núi bỗng rung lên xào xạc. Hai chúng tôi bất giác nhìn nhau, và đúng lúc đó thì cành hoa trà cắm trong chiếc lọ đặt trên bàn cũng rung rinh.
- Ðộng đất!
Cô kêu khẽ rồi quỳ xuống nép vào dưới bàn chỗ tôi ngồi. Hai thân hình run rẩy kề sát nhau. Một con gà lôi từ trong bụi cây gần đó vỗ cánh phạch phạch bay ra ngoài.
- Gà lôi kìa. - Tôi nhìn ra cửa sổ, nói.
- Ðâu?
Cô thụp xuống, rướn người về phía tôi. Hai khuôn mặt gần như chạm vào nhau. Những sợi râu trên mặt tôi cảm nhận được cả hơi thở từ mũi cô hắt ra nhẹ nhàng.
- Chỉ là ngẫu hứng thôi đấy nhé!
Ngay lập tức cô ngồi thẳng lên, nói chắc nịch.
- Tất nhiên rồi! - Tôi đáp lại ngay. Vũng nước mùa xuân đọng trong chỗ trũng trên tảng đá bị đánh động, bắt đầu chảy róc rách. Vì sự chấn động từ đáy nước làm tràn lên những con sóng dâng cao là xuất phát từ sự chấn động trong lòng đất, nên chỉ tạo ra trên bề mặt những vết rạn ngoằn ngoèo mà không làm cho đá bị vỡ ra từng mảnh. Nếu mà có từ nào dùng để chỉ sự vận động trong tĩnh lặng thì có thể miêu tả chính xác trường hợp này. Những cây anh đào núi vẫn đứng trầm ngâm soi bóng trên mặt nước giờ đây cũng lắc lư nghiêng ngả, vươn lên oằn xuống liên hồi. Tôi rất thích thú khi thấy rằng, cho dù có ngả nghiêng oằn oại, dáng vẻ rạng rỡ tươi đẹp của cây anh đào vẫn không bị mất đi.
- Thế này thì thích thật! Ðẹp và sinh động nữa! Không lay động như thế này thì chẳng có gì thú vị.
- Nếu con người mà có thể lay động kiểu này thì dẫu bị tác động đến đâu cũng chẳng sao đâu nhỉ?
- Nếu không có tinh thần ngẫu hứng thì không chịu được lay động kiểu này đâu.
- A ha! - Cô bật cười. - Ðúng là anh thích ngẫu hứng thật!
- Mà cô thì cũng chẳng phải là không thích ngẫu hứng đâu! Chiếc áo kimono dài tay hôm qua ấy...
Tôi vừa gợi chuyện thì:
- Anh thưởng cho tôi cái gì đi. - Cô đột ngột đổi giọng vòi vĩnh.
- Vì sao chứ?
- Vì anh bảo là muốn được nhìn tôi trong bộ áo tay dài, nên tôi mới nhọc công biểu diễn cho anh xem đấy! Không phải thế sao?
- Tôi bảo thế à?
- Tôi nghe kể lại rằng, có một anh chàng họa sĩ đi qua con đường núi đã bộc bạch với bà cụ ở quán nước một nguyện vọng như thế kia mà.
Tôi chẳng biết nên trả lời thế nào.
- Với người đãng trí như vậy thì chân thành đến đâu cũng chỉ phí công thôi!
Cô gái nói mà không nhìn tôi, với giọng điệu như mỉa mai, như oán trách. Ðây là mũi tên thứ hai bắn từ đối phương cắm thẳng vào mặt tôi. Mọi chuyện có vẻ gay go hơn hẳn. Tôi đã bị qua mặt và vẫn đang lúng túng chưa tìm ra cách nào để xoay chuyển tình thế.
- Vậy thì chuyện hôm qua ở chỗ nhà tắm ấy, cũng chỉ vì cô tử tế với tôi sao?
Trong lúc đang hết sức lúng túng thì tôi lại trở được thế cờ.
Cô im lặng hồi lâu.
- Tôi xin lỗi, không biết có cần phải làm gì để cảm ơn cô không nhỉ?
Tôi tiếp tục trong nỗ lực dấn tới. Nhưng dù tôi có tiến đến đâu cũng không có tác dụng gì. Cô gái cứ ngẩn người ngắm bức thư pháp của hòa thượng Daitetsu. Cô lẩm nhẩm:
- Bóng trúc quét thềm, không dấy bụi.
Rồi bỗng cô nhìn thẳng về phía tôi, như chợt nhớ ra điều gì:
- Anh vừa nói gì thế?
Cô cố ý hỏi to. Nhưng tôi không bị cô đánh lừa lần nữa.
- Lúc nãy tôi đã gặp vị hòa thượng ấy.
Tôi học cách thể hiện sự lay động điềm tĩnh, như nước trong ao bị sánh vì động đất.
- Vị hòa thượng ở chùa Kankaiji à? Ông ta là kiểu người to béo phải không?
- Ông ấy đã nhờ tôi vẽ giúp một bức tranh về tấm cửa trượt theo kiểu hội họa phương Tây. Hình như Thiền sư hay nói những chuyện mà người ta không hiểu được!
- Có lẽ nhờ vậy mà ông ta mới to béo như thế đấy!
- Và tôi còn gặp một chàng thanh niên nữa...
- Kyuichi phải không?
- Ừ, cậu Kyuichi.
- Anh biết rõ nhỉ!
- Ðâu có! Tôi chỉ biết cậu ấy là Kyuichi thôi. Ngoài ra chẳng biết gì cả. Có vẻ như cậu ta là người rất ít nói, đúng không?
- Làm gì có! Chắc là vì mắc cỡ thôi. Cậu ấy còn trẻ con lắm mà...
- Trẻ con ư? Chẳng phải cậu ta cũng ngang tuổi với cô sao?
- A ha! Anh nghĩ thế à? Cậu ta là em họ tôi đấy. Cậu ấy đến chào từ biệt vì sắp phải ra trận.
- Cậu ấy đang nghỉ lại ở đây à?
- Không, cậu ấy đang ở nhà anh tôi.
- Vậy là cậu ấy chỉ tranh thủ đến uống trà thôi nhỉ?
- Cậu ấy thích tắm nước nóng hơn là thích uống trà. Giá mà bố tôi đừng bắt cậu ấy phải ngồi vào. Chỉ tổ bị tê chân mà thôi. Nếu lúc đó mà có tôi ở đây thì tôi đã cho cậu ấy về sớm rồi...
- Thế cô đi đâu vậy? Hòa thượng có hỏi thăm cô đấy. Ông đoán là cô lại đi dạo một mình. - Ừ, tôi đi loanh quanh ra chỗ Ao Gương.
- Tôi cũng muốn đến chỗ Ao Gương đó...
- Anh cứ đến xem thử đi.
- Liệu đó có phải là một cảnh đẹp để vẽ tranh không nhỉ?
- Một cảnh đẹp để trầm mình thì có!
- Tôi chưa muốn trầm mình bây giờ đâu.
- Còn tôi thì có lẽ sắp trầm mình rồi đấy.
Một câu nói đùa hơi thái quá, khác với kiểu cách của nữ giới thường tình. Tôi bất giác ngẩng nhìn cô. Cô vẫn giữ một vẻ bình thản lạ lùng!
- Nhờ anh vẽ giúp một bức tranh thật đẹp về cảnh tôi chết đuối - không phải chết trong quằn quại khổ sở đâu, phải là một cuộc ra đi thanh thản ấy!
- Cái gì?
- Anh ngạc nhiên đúng không? Ồ, tôi đã làm anh phải ngạc nhiên! Phải ngạc nhiên rồi nhé!
Cô nhẹ nhàng đứng lên. Sau khi bước mấy bước chân đến chỗ cửa phòng, cô còn quay lại nở nụ cười với tôi. Tôi bất ngờ đến mức ngồi ngây ra như phỗng!
Tôi thử đi đến chỗ Ao Gương. Con đường phía sau chùa Kankaiji từ rừng tuyết tùng thoải xuống phía thung lũng, rồi chẻ ra làm đôi trước khi lại bò lên sườn núi bên kia, và Ao Gương nằm tự tại giữa hai nhánh rẽ của con đường ấy. Quanh bờ ao mọc rất nhiều tre lùn. Ở một vài nơi, chúng mọc ken dày đến mức người ta không thể nào đi luồn qua đấy mà không làm cho cành lá khua xào xạc. Nhìn qua đám cây cỏ vẫn thấy được mặt nước, nhưng nếu không đi vòng quanh bờ ao thì chắc không thể biết cái ao này bắt nguồn từ đâu và kết thúc ở nơi nào. Ði quanh một vòng thì thấy ao nhỏ hơn nhiều so với những gì mình tưởng tượng. Chu vi chưa đến trăm rưỡi mét. Chẳng qua, đây là một cái ao có hình dáng hết sức khác thường. Những tảng đá nằm rải rác đó đây trong nước, theo kiểu rất tự nhiên. Mực nước trong ao cũng khó xác định như hình dáng của ao, vì những đợt sóng nhấp nhô cứ liên tiếp vỗ vào bờ.
Khu vực xung quanh ao mọc nhiều cây bụi. Loại cây thì nhiều không đếm xuể, có lẽ phải đến hàng trăm loài. Ðã sang xuân mà nhiều loại cây vẫn chưa đâm chồi nảy lộc. Ở một vài chỗ có thể đón ánh nắng mùa xuân rạng rỡ chiếu xuyên qua lớp lá cành thưa thớt, còn thấy cả những vạt cỏ hồn nhiên lún phún xanh. Và rải rác đó đây là những bông hoa violet mảnh dẻ dịu dàng.
Những bông hoa violet Nhật Bản đang say ngủ. Cách nói bay bổng của một nhà thơ phương Tây, “sự lý tưởng thánh thiện”, có vẻ không hợp lắm với những đóa này. Tôi vừa nghĩ đến đó thì đôi chân đang bước đột nhiên dừng lại. Dừng lại rồi thì cứ đứng chôn chân một chỗ. Và diễm phúc cho những ai có thể làm điều đó. Nếu ở giữa phố phường Tokyo mà dừng lại kiểu này thì sẽ bị xe điện đâm chết ngay tức khắc. Mà dẫu không bị xe điện đâm chết thì cũng bị cảnh sát tuần tra kéo đi ngay. Ðô thị đối xử với người dân vô tội như những kẻ hành khất, rồi lại trả lương cao cho những tên thám tử chẳng tốt đẹp gì hơn những kẻ chuyên nghề ăn cắp vặt.
Tôi nhẹ nhàng ung dung ngồi xuống thảm cỏ. Tôi có thể ngồi bất động ở đây năm, sáu ngày liền mà chẳng sợ có ai đến quấy rầy. Thiên nhiên tuyệt vời là thế! Khi hung bạo thì không hề thương xót nể nang ai, nhưng cũng chẳng bao giờ có thái độ khinh miệt hay phân biệt đối xử giữa người này và người khác. Những thứ mà các đại gia như Iwasaki hay Mitsui[1] không thèm nhìn ngó đến vẫn hiện diện bình thường trong thế giới tự nhiên. Mặt khác, chỉ thiên nhiên mới có thể lạnh lùng ngoảnh mặt trước quyền lực của những bậc vua chúa từ cổ chí kim. Ðức cao rộng của thiên nhiên vượt trên thế giới hèn mọn của con người, duy trì một trạng thái bình đẳng tuyệt đối trong cõi mênh mông vô tận. Vì vậy, sống trên đời chi bằng cứ xới đất trồng cây, một mình vui thú điền viên hơn là làm những chuyện tầm thường để rồi phải vướng vào những chuyện bực mình như Timon ở Athen[2]. Người ta hay nói đến những khái niệm “vô tư”, “công bằng”. Nếu điều đó được xem là quan trọng thì có lẽ người ta nên giết cả nghìn sinh mạng mỗi ngày, rồi đem những xác chết kia làm phân bón cho cỏ hoa khắp chốn...
[1] Iwasaki, Mitsui là tên những tập đoàn kinh tế lớn ở Nhật Bản.
[2] Nhân vật Timon trong vở kịch Timon ở Athen của William Shakespeare là một người cư xử rất hào phóng vì thích làm hài lòng bạn bè.
Mà sao mình lại nghĩ đến những chuyện lẩn thẩn thế này? Mình đến Ao Gương có phải để nghĩ vẩn vơ như một cậu học sinh cấp hai đâu cơ chứ! Tôi lấy từ gói thuốc Shikishima từ trong tay áo rộng và bật diêm châm lửa. Ðầu diêm trượt qua kêu xoẹt nhưng chẳng thấy lửa bật lên. Tôi phải dúi vào đầu điếu thuốc để hít vào thì thấy khói hắt ra đằng mũi, lúc đó mới biết là đã mồi lửa xong. Que diêm bị vứt vào bụi cỏ mọc lan trên mặt đất còn tỏa ra một làn khói mỏng ngoằn ngoèo như hình một con rồng, rồi tắt lịm. Tôi thử ngồi nhích lại gần mực nước hơn một chút. Giờ thì tôi ngồi hẳn trong bờ ao, giữa thiên nhiên, ngay sát bên mép nước. Chỉ cần nhích thêm một chút nữa thì chân sẽ nhúng vào làn nước ấm dưới ao. Và tôi quan sát mặt nước dưới chân mình.
Trong phạm vi quan sát của tôi thì hình như mực nước không sâu lắm. Ðám rong với những cọng dài mảnh dẻ vật vờ dưới đáy ao. Tôi không biết dùng từ nào khác để tả chúng ngoài chữ “vật vờ”. Những cọng lau trên đồi còn biết đến cảm giác rạp mình trong cơn gió. Loài rong biển còn biết đợi chờ những con sóng mơn man. Còn những cọng rong chìm dưới đáy ao này thì dẫu đợi trăm năm cũng chẳng có gì chạm đến. Chúng cứ dồn hết niềm khát khao lên đầu ngọn, rồi chờ đợi mòn mỏi từ ngày này qua đêm khác, để bây giờ chẳng còn tươi tắn nữa mà cũng chưa chết được, nên cứ sống vật vờ như thế.
Tôi nhổm dậy, nhặt trong đám cỏ mấy hòn sỏi vừa tay. Tự nhủ mình sẽ làm một chút việc thiện, tôi ném một viên sỏi về phía trước. Mấy chiếc bong bóng nổi lên lục bục, rồi lại biến mất ngay. “Biến mất ngay”, tôi cứ nhẩm đi nhẩm lại trong đầu. Nhìn về phía ấy, tôi thấy vài cọng rong dài như những sợi tóc khẽ đu đưa ra chiều uể oải. Nhưng rồi nước bùn bị khuấy động cuộn lên từ đáy ao ngay lập tức che khuất chúng. Nam mô A di đà Phật!
Lần này thì tôi vận hết sức, ném viên sỏi vào giữa mặt ao. Một tiếng rơi “tõm” nhẹ nhàng. Nhưng mặt nước ao tĩnh lặng tuyệt nhiên không hề xao động. Tôi chẳng còn hứng thú để mà ném nữa. Cứ để mặc cái mũ và giá vẽ ở đấy, tôi tha thẩn đi về hướng bên phải.
Một đoạn đường ngắn dẫn lên đồi. Những cây cổ thụ vươn cành lá che kín phía trên đầu, và tôi bất giác rùng mình ớn lạnh. Trong khoảng tối ở bờ bên kia là những đóa hoa trà đang khoe sắc. Lá của loại hoa này có màu xanh quá đậm, nên cho dù có ngắm hoa giữa ánh nắng ban trưa hay ở chỗ ánh mặt trời chiếu sáng thì cũng không có được cảm giác thanh thoát nhẹ nhàng. Mà những cây hoa trà ở đây thì lại mọc nơi hốc đá, nép mình lặng lẽ trong một khoảng không gian sâu kín nên chẳng ai biết đến sự tồn tại của chúng nếu không có những bông hoa nổi bật lên. Ôi những đóa hoa trà! Chúng nhiều đến mức ta có bỏ ra cả ngày để đếm thì chắc là cũng không đếm xuể! Nhưng chúng tươi tắn đến nỗi khi đã nhìn thấy rồi là ta cứ muốn thử đếm xem sao. Tươi tắn là thế nhưng chúng lại chẳng ấm áp chút nào. Chúng hút lấy cái nhìn của ta như một tia lửa sáng lóe lên đột ngột, rồi ngay sau đó lại cho ta cảm giác lạ lùng không thể tả. Chẳng có loài hoa nào thay đổi sắc thái nhanh đến thế. Hễ nhìn thấy những bông hoa trà mọc hoang nơi hốc núi là tôi lại liên tưởng đến những nàng yêu nữ đầy ma thuật. Những cô gái thu hút ta bằng đôi mắt huyền quyến rũ, để rồi trong lúc ta lơ đãng thì khéo léo tiêm vào huyết quản ta thứ thuốc độc ngọt ngào như nụ cười của mỹ nhân. Khi ta chợt nhận ra điều đó thì đã quá muộn rồi!
Khi những đóa hoa trà ở sườn núi bên kia vừa lọt vào tầm mắt, tôi chợt nghĩ giá mình đừng nhìn thấy chúng thì có lẽ tốt hơn. Màu sắc của chúng không phải là màu đỏ bình thường. Trong sâu thẳm của gam màu rực rỡ đến mức có thể làm cho ta say mắt dường như còn ẩn chứa một điều gì đó mơ hồ không sao tả được. Hoa lê đẫm nước và ủ rũ trong mưa thì chỉ gợi lên một chút buồn vương vất. Ðóa hải đường diễm lệ nhưng lạnh lùng dưới ánh trăng cũng chỉ khơi gợi chút lòng thương cảm. Còn những bông hoa trà nép mình trong hốc đá nơi đây lại hoàn toàn khác. Ở chúng dường như có hàm chứa điều gì u ám, đáng sợ và thậm chí là nham hiểm nữa. Như thể chúng khoác bên ngoài một bộ cánh rực rỡ chỉ để che giấu những gì tối tăm trong tận cùng bản chất. Nhưng thật ra chúng không có ý tạo ra vẻ rực rỡ để làm vui mắt, mà cũng chẳng muốn thu hút sự chú ý của con người. Cứ nở rồi lại tàn, tàn rồi lại nở, cứ điềm nhiên như thế mà trải qua bao ngày tháng nơi hẻm núi âm u này, chẳng hề có ai nhìn ngó đến. Chỉ cần có một người nhìn đến là xong! Một khi đã đưa mắt nhìn thì chẳng ai là không mê mẩn trước vẻ rực rỡ đầy quyến rũ của cô nàng. Cho nên màu đỏ kia quả không phải là sắc đỏ tầm thường! Mà là một thứ màu đỏ lạ lùng, như thể màu máu của một kẻ tử tù tự nhiên hút lấy mắt ta, rồi mang lại cho ta một cảm giác bất an kỳ lạ.
Trong lúc tôi vẫn đang đứng nhìn thì có một bông hoa rơi xuống nước. Trong đất trời mùa xuân yên tĩnh, chỉ có mỗi một bông hoa này tạo nên sự lay động mà thôi. Rồi một lát sau, lại rụng thêm một bông hoa nữa. Loài hoa này chẳng bao giờ lả cánh lúc lìa cành. Chúng rụng khỏi cuống hoa nhưng chẳng suy suyển gì mà vẫn còn nguyên vẹn. Dường như chúng muốn thể hiện sự dứt khoát không vướng bận một khi đã lìa cành, nhưng hoa đã rụng mà vẫn còn cứng cáp lại có vẻ gì đó rất đáng ngại. Thêm một bông hoa vừa rụng xuống. Nếu cứ rụng mãi thế này thì những bông hoa sẽ nhuộm đỏ mặt ao này mất, tôi thầm nghĩ. Quả thật chỗ mặt ao có những bông hoa rụng dập dềnh có vẻ như đang đỏ dần lên. Lại một bông hoa nữa. Hoa rơi nhẹ đến mức tôi không biết là chúng rơi trên mặt đất hay là rơi xuống mặt ao. Lại một bông vừa rụng. Tôi tự hỏi, không biết những bông hoa kia có chìm không nhỉ? Có thể năm này qua năm khác, vô số bông hoa trà rụng xuống đã ngâm mình trong nước cho đến khi rã cánh, phai màu, rồi cuối cùng cũng hóa thành lớp đất bùn dưới đáy ao chăng? Biết đâu sau hàng nghìn năm nữa, trong lúc không ai để ý đến chuyện này, những bông trà đã rụng nhiều đến mức cái ao có thể bị lấp dần đi, rồi đến lúc nào đó mặt đất nơi này lại trở nên bằng phẳng. Lại một bông trà lớn, như thể một mảnh linh hồn thấm máu đỏ tươi, vừa mới rụng. Rồi một bông hoa nữa. Như một trận mưa hoa xuống mặt ao. Hoa cứ rơi không ngớt. Trên đường quay về chỗ cũ, tôi nghĩ đến chuyện đưa khung cảnh nơi này vào bức tranh vẽ một cô gái đẹp đang trôi trên mặt nước. Ðốt một điếu thuốc, tôi vừa hút vừa băn khoăn nghĩ ngợi. Câu nói đùa của cô Nami chỗ nhà trọ chợt trở lại trong đầu. Tâm hồn tôi xao động như một con thuyền mỏng manh lướt trên sóng lớn. Tôi định lấy gương mặt nàng làm điểm tựa cho bức vẽ, để gương mặt ấy bồng bềnh dưới bóng hoa trà, với cơ man là hoa đang đổ xuống. Tôi muốn thể hiện cảnh tượng một cô gái trôi bồng bềnh miên viễn đang đón nhận những bông hoa trà rơi không dứt, nhưng một bức tranh liệu có thể mô tả được khung cảnh ấy chăng? Trong tác phẩm Laocoon thì..., nhưng thôi, không bàn đến Laocoon nữa. Tôi chỉ cần thể hiện được cảm xúc, không nên chấp nhất chuyện tuân thủ quy tắc làm gì. Nhưng thể hiện cảm xúc về một sự vĩnh cửu mà không thoát ly thế tục thì quả là không đơn giản.
Cái khó đầu tiên là gương mặt. Có thể sử dụng gương mặt cô ấy, nhưng nét biểu cảm thì chưa ổn. Nếu thể hiện sự đau khổ thái quá thì toàn bộ bức tranh sẽ bị phá vỡ. Ngược lại, thể hiện sự thoải mái hoàn toàn cũng không xong. Hay là tìm một gương mặt khác? Tôi tính toán hết phương án này đến phương án nọ nhưng vẫn chưa tìm ra giải pháp nào. Có lẽ gương mặt cô Nami vẫn là phù hợp nhất. Nhưng tôi cảm giác như vẫn có điều gì khiếm khuyết. Biết là không hoàn thiện, nhưng cụ thể là khiếm khuyết chỗ nào thì tôi vẫn chưa làm rõ được. Cho nên không thể vẽ tùy tiện theo tưởng tượng của mình.
Nếu thêm vào một chút vẻ ghen tỵ thì sao nhỉ? Ðiều đó sẽ làm cho bức tranh có một vẻ bất an thái quá. Còn vẻ hờn ghét thì sao? Thế thì hơi bạo. Còn nếu là giận dỗi? Sự giận dỗi sẽ làm hỏng mất vẻ hài hòa của bức tranh. Còn sự ân hận? Có lẽ hơi thô thiển, ngoại trừ trường hợp dùng trong thơ với cảm giác tiếc nuối nhẹ nhàng. Sau một hồi băn khoăn lựa chọn, cuối cùng tôi mới chợt nhớ ra. Trong lúc mải mê đi tìm trong thế giới cảm xúc muôn màu muôn vẻ, tôi đã không nhớ đến mấy chữ “aware” [3]. “Aware” không phải là thứ cảm xúc của thần thánh, nhưng lại thể hiện gần nhất trạng thái thoát tục của con người. Ở nàng Nami không thể hiện chút nào bóng dáng của cảm thức “aware”. Ðó chính là sự khiếm khuyết mà tôi cảm nhận được. Nếu có một khoảnh khắc mà xung động bất ngờ nào đó khiến cho gương mặt nàng thoáng hiện cảm xúc này, thì đó chính là khoảnh khắc mà bức vẽ của tôi cần nắm bắt và thể hiện. Nhưng... không biết đến bao giờ mới gặp được khoảnh khắc kia? Lúc bình thường, ta chỉ thấy gương mặt nàng thấp thoáng một nụ cười khinh bạc và vẻ nóng nảy muốn vượt qua người khác. Mà nếu chỉ thể hiện như thế thì chưa đủ.
[3] Aware là một khái niệm quan trọng của mỹ học Nhật Bản, nhưng rất khó chuyển nghĩa vì nội hàm của khái niệm rất mơ hồ. Nói một cách đơn giản thì aware là trạng thái cảm xúc nảy sinh khi con người thưởng thức cái đẹp mong manh trong thế giới vô thường. Aware là sự trân trọng cái đẹp pha lẫn nỗi buồn và sự luyến tiếc trước vẻ đẹp mong manh.
Có tiếng chân bước lào xào. Bức họa tôi đang phác thảo trong đầu gần như tan biến. Nhìn lại, tôi thấy một người đàn ông mặc loại kimono có ống tay hẹp, với một bó củi trên lưng, đang đi qua đám tre lùn về hướng chùa Kankaiji. Hình như anh ta mới xuất hiện từ một ngọn núi gần đây thì phải.
- Trời đẹp nhỉ!
Người đàn ông giở vành khăn và cất tiếng chào. Cây rìu chặt củi giắt bên hông lóe sáng lúc anh cúi xuống. Ðó là một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi, rắn rỏi, đẹp trai. Hình như tôi đã gặp anh ta ở đâu rồi. Và cách hành xử của anh ta cũng giống như một người quen.
- Anh cũng đang vẽ tranh đấy à?
Hộp họa cụ của tôi đang để mở.
- À... tôi cũng định vẽ cái ao này. Ở đây yên tĩnh nhỉ! Chẳng thấy ai qua lại.
- Vâng. Ðúng là giữa nơi rừng núi... À này, hôm nọ chắc là anh bị ướt sũng khi đi qua đoạn đường núi ấy phải không?
- Ủa? Thì ra anh chính là người hôm trước đã dẫn theo con ngựa xuống núi đấy à?
- Vâng. Tôi cứ đốn củi như thế này, rồi mang xuống phố.
Anh Genbei đặt mấy thứ đồ mang theo xuống đất rồi ngồi lên. Anh lấy ra một bao thuốc lá. Loại bao cũ, tôi không rõ làm bằng giấy hay bằng da. Tôi đưa hộp diêm cho anh mượn.
- Ðoạn đường ấy mà phải đi qua mỗi ngày thì gian nan thật!
- Không sao, tôi quen rồi... Vả lại cũng không hẳn là mỗi ngày đâu. Ba ngày tôi mới đi một lần. Có khi còn cách bốn ngày ấy chứ.
- Bốn ngày một lần cũng là vất vả lắm rồi!
- Hà hà... Tôi đi bốn ngày một lần là để giữ sức cho con ngựa.
- Anh tử tế thật! Quý con ngựa hơn cả bản thân mình! Tôi cười bảo.
- Tôi không tốt đến thế đâu! - À, tôi thấy cái ao này có vẻ rất cổ xưa. Nó có ở đây từ bao giờ anh nhỉ?
- Từ ngày xưa ấy.
- Từ ngày xưa? Xưa là khoảng lúc nào?
- Nói chung là từ rất xa xưa ấy.
- Từ rất xa xưa ư? Thì ra là thế.
- Ðó là thời xa xưa, khi cô con gái nhà Shihoda trầm mình ở nơi này.
- Nhà Shihoda là chỗ quán trọ ở suối nước nóng ấy phải không?
- Ðúng đấy.
- Cô con gái nhà ấy đã trầm mình ư? Chẳng phải bây giờ cô ta vẫn đang sống bình thường sao?
- À không, không phải cô gái ấy. Một cô gái từ thời rất xưa kia.
- Một cô gái từ thời rất xưa. Ấy là khi nào nhỉ?
- Một quý cô từ thuở xa xưa lắm...
- Thế cô gái ngày xưa ấy, vì sao mà lại phải trầm mình?
- Anh biết không, quý cô ngày xưa nghe nói cũng là một người rất đẹp, như cô gái bây giờ ấy.
- Thế à?
- Rồi một ngày kia, có một kẻ hành khất xuất hiện...
- Ý anh nói là nhà sư đi khất thực phải không?
- Ðúng rồi. Kiểu nhà sư vừa thổi sáo vừa đi khất thực ấy. Trong thời gian nhà sư trọ lại chỗ nhà Shihoda - lúc ấy là nhà của trưởng thôn, cô gái xinh đẹp đã yêu say đắm... Như người ta vẫn gọi là “nghiệp chướng”, cô cứ khóc lóc và một mực đòi nên vợ nên chồng với nhà sư.
- Khóc lóc ư? Hừm...!
- Nhưng ông trưởng thôn thì nhất quyết không nghe. Ông bảo rằng không chấp nhận cuộc hôn nhân với bất cứ kẻ hành khất nào. Cuối cùng ông đuổi cô đi.
- Ði theo nhà sư khất thực ấy à?
- Vâng. Rồi cô đi theo nhà sư, đến chỗ cái ao này... từ chỗ cây thông ở đằng kia ấy, cô đã nhảy xuống ao... Rồi thì mọi chuyện ầm ĩ cả lên! Nghe nói lúc ấy cô có mang theo một chiếc gương, cho nên từ đó ao này được gọi là Ao Gương đấy.
- À... thì ra ở đây đã từng có người nhảy xuống trầm mình cơ đấy!
- Ðúng là chuyện hết sức kỳ lạ, có phải không?
- Không biết là bao nhiêu năm trước nhỉ? Cái chuyện mà anh kể ấy?
- Có vẻ như cách đây lâu lắm rồi. Sau đó thì... nhưng mà chuyện này tôi chỉ kể với anh thôi đấy nhé!
- Chuyện gì vậy?
- Ở nhà Shihoda ấy, mỗi thế hệ đều có một người bị thần kinh!
- Thế à?
- Chắc chắn là do lời nguyền đấy! Mọi người đang đồn ầm lên rằng dạo gần đây cô gái nhà Shihoda có vẻ rất kỳ quặc.
- Ồ! Chắc là không có chuyện đó đâu.
- Không có à? Nhưng mẹ của cô ấy thì đúng là kỳ quặc thật!
- Bà ấy vẫn đang sống trong nhà chứ?
- Không, bà mất năm ngoái rồi.
- Hừm...
Tôi im lặng nhìn làn khói mỏng manh tỏa ra ở đầu điếu thuốc. Anh Genbei thì vác mớ củi lên đường.
Tôi đến đây là để vẽ tranh. Thế mà cứ nghe chuyện này, nghĩ chuyện kia như vậy thì có mất bao nhiêu ngày đi nữa cũng chẳng vẽ được bức tranh nào. Dù sao cũng đã cất công mang họa cụ đến đây rồi, chí ít tôi cũng phải phác họa ra một chút gì đã chứ. May mắn là khung cảnh ở bờ ao phía bên kia vẫn còn nguyên đấy, như thể đang chờ nét cọ của tôi. Có lẽ tôi phải ghi lại cảnh này đôi nét.
Một tảng đá màu xanh đen chừng ba mét từ đáy ao đội lên, cao sừng sững. Ở phía bên phải, chỗ đá bị khuyết vào làm cho mặt nước thẫm màu tạo thành một đường cong gấp khúc, loại tre lùn mà tôi đã tả mọc ken dày từ trên sườn núi lan xuống tận mặt ao, chạm cả vào mép nước. Phía trên tảng đá là một cây thông cổ thụ đứng nghiêng nghiêng. Thân cây to bằng vòng tay của ba người, xoắn lại và quấn đầy dây leo đang nghiêng một nửa xuống mặt nước. Có lẽ cô gái mang theo chiếc gương đã nhảy xuống ao từ trên tảng đá kia.
Tôi ngồi lên chiếc ghế ba chân, nhìn bao quát khung cảnh định đưa vào tranh vẽ. Cây thông, tre lùn, tảng đá và mặt nước. Nhưng tôi chưa xác định được mình cần vẽ mực nước đến đâu. Nếu vẽ tảng đá cao ba mét thì cũng phải vẽ khung cảnh xung quanh ở tầm cao tương ứng. Và tôi cũng muốn vẽ đám tre lùn không chỉ mọc lan đến mép nước mà còn lan xuống cả mặt ao, soi vẻ tươi tắn đến lạ lùng vào đáy nước. Còn về cây thông, nếu vẽ cây cao ngất đến tận trời thì bóng cây lại quá dài và hẹp. Nếu cứ tả thực phong cảnh như những gì đang bày ra trước mắt tôi thì chắc hẳn bức tranh không thể nào đẹp được. Có lẽ sẽ thú vị hơn nếu chấp nhận bỏ qua thực tế trước mắt mình để chỉ vẽ cái bóng của hiện thực ấy. Nếu chỉ vẽ mặt nước và những cái bóng in trong nước mà bảo đấy là một bức tranh thì chắc người xem sẽ giật mình kinh ngạc. Mà nếu chỉ làm cho người ta kinh ngạc thì cũng chẳng có gì hay. Nếu cái làm cho người ta kinh ngạc không phải là giá trị nghệ thuật của bức tranh thì có gì đáng nói? “Nên vẽ thế nào đây?”, tôi tự hỏi và chăm chú nhìn mặt ao phía trước. Nếu chỉ tập trung vào những điều kỳ lạ hay những bóng hình hư ảo thì cũng không thể vẽ thành công. Tôi muốn kết hợp trên cơ sở so sánh cái ảo và cái thực. Ánh mắt tôi đang nhìn vào mặt nước bây giờ dịch chuyển dần lên. Từ điểm xa nhất của cái bóng tảng đá dịch chuyển về tiếp điểm của tảng đá và mặt nước, rồi từ tiếp điểm cứ di chuyển lên cao dần. Thị giác của tôi vừa thưởng thức dáng vẻ phong nhiêu của tảng đá, lần theo từng vết gợn trên bề mặt đá, vừa nhích từng chút một lên cao. Cuối cùng khi ánh mắt tôi chạm đến đỉnh cao chơi vơi của tảng đá thì tôi bất ngờ giật nảy mình, đánh rơi cả cây cọ đang cầm trên tay. Giống như một con cóc chợt bắt gặp đôi mắt rắn đang rình mình vậy.
Trên cái nền là những tia nắng chiều lúc cuối xuân rọi xuyên qua cành lá, sáng lấp lánh trên đỉnh đá màu xanh thẫm, hiện lên gương mặt rạng ngời của cô nàng. Vẫn là gương mặt đã làm tôi giật mình kinh ngạc khi thì dưới bóng hoa, khi thì trong bộ áo tay dài, và cả khi trong phòng tắm nữa. Tia nhìn của tôi như đóng đinh vào giữa khuôn mặt trắng xanh của cô gái ấy. Và ở bên kia, cô ấy cũng không hề nhúc nhích, cứ đứng thẳng người, vắt vẻo trên đỉnh đá chon von. Thật là một khoảnh khắc diệu kỳ!
Rồi tôi bất giác đứng bật dậy. Cô gái khẽ xoay người, rồi nhảy xuống phía bờ bên kia và mất hút. Tôi chỉ kịp nhìn thấy có vật gì màu đỏ như bông hoa trà giắt ngang thắt lưng cô. Ánh nắng chiều rọi xuyên qua ngọn cây thông, chiếu vào thân cây lấp loáng. Màu xanh của đám tre lùn càng đậm dần lên.
Một lần nữa, cô lại làm tôi giật cả mình!
Chương 11
Tôi đi loanh quanh thưởng thức khung trời bảng lảng ở một ngôi làng sơn cước. Trong khi leo những bậc đá lên chùa Kankaiji, tôi đã làm được mấy câu thơ:
Một, hai, ba
Ngửa mặt
Ðếm sao trời
Thật ra tôi chẳng có việc gì để tìm gặp hòa thượng ở đây. Mà cũng chẳng định gặp nhà sư để tán gẫu. Chẳng qua là lúc ra ngoài đi dạo, tôi cứ mặc cho đôi chân ngẫu hứng tự do di chuyển, rồi một lúc chợt nhận ra mình đang đứng trước con đường làm bằng những bậc đá dẫn lên chùa. Sau một hồi mân mê cột đá có khắc dòng chữ “Không dùng rượu và các loại rau có vị cay”, tôi chợt thấy vui vui rồi nhân tiện leo bậc đá lên chùa.
Trong tác phẩm Tristram Shandy[1], tác giả có nói rằng cuốn sách này được viết ra nhờ sự thúc đẩy của thần linh. Câu đầu tiên là do tác giả viết. Nhưng sau đó thì những câu văn cứ tự tuôn ra khi tâm hồn tác giả hướng về thần thánh. Vì thế, dĩ nhiên là tác giả không biết được mình sẽ viết cái gì. Người cầm bút đương nhiên là bản thân tác giả, nhưng nội dung những gì đã viết thì thuộc về thần linh, nên tác giả không chịu trách nhiệm về nội dung cuốn sách. Với ý nghĩa tương tự, cuộc dạo chơi của tôi lúc này cũng không thuộc về trách nhiệm của tôi. Chỉ có điều, tâm hồn tôi không tìm chỗ dựa nơi thần thánh, nên tôi lại càng vô trách nhiệm. Sterne trốn tránh trách nhiệm bằng cách đổ lỗi mọi chuyện cho thần thánh. Còn kẻ không dựa vào thần thánh là tôi thì chỉ còn cách ném trách nhiệm xuống ao bùn mà thôi!
[1] Tiểu thuyết của Laurence Sterne (1713 - 1768), nhà văn Anh.
Nếu leo những bậc đá mà bị mỏi chân thì tôi đã không leo nữa. Nếu thấy mỏi chân thì tôi đã trở xuống ngay. Nhưng khi bước qua một bậc tôi lại cảm thấy sảng khoái lạ lùng, cho nên mới leo qua bậc thứ hai. Ở bậc này thì tôi chợt nảy ra cảm hứng muốn làm thơ. Tôi lặng lẽ ngắm bóng mình. Cái bóng bị chặn lại và bị chia cắt bởi đường cạnh của bậc đá thứ ba, tạo nên một cảm giác thật lạ lùng. Vì cảm giác kỳ lạ ấy nên tôi mới tiếp tục leo lên cao hơn nữa. Và tôi ngửa mặt nhìn lên bầu trời. Những ngôi sao bé nhỏ đang còn ngái ngủ sau một giấc say sưa đã bắt đầu tỏa sáng lấp lánh. Thật là một cảnh nên thơ, tôi thầm nghĩ và bước tiếp. Cứ thế, cuối cùng tôi đã leo hết những bậc thang.
Lên đến nơi rồi, tôi mới chợt nhớ về một kỷ niệm. Hồi trước, có lần đi Kamakura chơi, tôi có đến tham quan một ngôi chùa lớn - chùa Engakuji. Khi tôi tham quan quanh khu tháp và cũng đang chậm rãi leo lên những bậc đá như thế này, thì thấy từ phía sau cánh cổng xuất hiện một nhà sư áo vàng, để đầu trần. Tôi đang leo lên, còn nhà sư thì đang đi xuống. Khi đi ngang qua tôi, nhà sư hỏi bằng một chất giọng đanh sắc: “Thí chủ đi đâu vậy?”. Tôi dừng chân và trả lời rằng mình đang định tham quan bên trong khu tháp.
Nhà sư nói ngay lập tức, như thể muốn gạt đi: “Chẳng có gì bên trong cả!”. Rồi nhà sư cắm cúi đi thẳng xuống. Quá sửng sốt trước câu nói của nhà sư nên tôi cứ đứng trơ tại chỗ. Rồi tôi quay nhìn nhà sư đang tiếp tục đi xuống dốc, cái đầu để trần cứ lắc qua lắc lại, cho đến khi khuất hẳn vào đám cây tuyết tùng. Nhà sư không một lần ngoảnh lại. Quả thật Thiền sư là những người hết sức lạ lùng! Họ luôn có cách phản ứng hết sức nhanh lẹ. Tôi thầm nghĩ và lững thững bước qua cánh cổng. Nhìn quanh thì thấy cả chánh điện lẫn khu nhà ở phía dưới đều rộng lớn nhưng vắng tanh, không một bóng người. Lúc đó tự nhiên tôi nghe dâng lên trong lòng một niềm vui kỳ lạ. Ðầu óc bỗng nhiên sáng láng khi chợt nhận ra trên đời lại có người nói năng bộc trực, cung cách thẳng thắn đến mức ấy! Niềm vui trong tôi không phải là do hiểu được ý nghĩa Thiền. Thật ra lúc đó tôi chẳng hề có chút ý niệm nào về Thiền cả. Ðó chẳng qua chỉ là niềm vui được gợi lên nhờ vị sư để đầu trần tôi mới gặp mà thôi.
Trên đời nhan nhản những kiểu người không ra gì. Cố chấp, độc địa, huênh hoang khoác lác hay tủn mủn keo kiệt. Ðến nỗi người ta không hiểu được họ có mặt ở trên đời để làm gì nữa. Nhưng số người như thế lại đông kinh khủng! Và họ cảm thấy vô cùng vinh dự khi hiện diện trong cõi phù sinh. Năm này qua năm khác họ say sưa với việc xét nét, tò mò đời sống riêng tư của người khác, và lấy chuyện đó làm lẽ sống của mình. Rồi họ đến trước mặt người ta, dạy bảo những điều vớ vẩn hay thô thiển mà chẳng ai cần nghe cả. Nếu mà họ nói ngay trước mặt thì người ta còn có thể chú ý đến những gì họ nói. Nhưng họ còn nói đủ thứ sau lưng người khác, rằng anh ta đã làm những việc gì, làm bao nhiêu lần trong năm năm hay mười năm. Nếu bảo họ lắm chuyện thì họ lại càng nói nhiều hơn nữa. Nếu bảo thôi đi thì họ vẫn cứ nói liên hồi. Bảo hiểu rồi thì họ vẫn không thôi lải nhải. Rồi họ lại khoác lác rằng đó là phương châm xử thế ở đời. Phương châm thì mỗi người mỗi khác. Nếu mà họ thôi cái trò lải nhải những chuyện dòm ngó thiên hạ, rồi im lặng mà tìm một phương châm sống đàng hoàng thì tốt biết bao. Lễ độ tức là biết kiềm chế cách hành xử của bản thân mình để tránh làm phiền người khác. Còn nếu cho rằng làm phiền người khác mới là thể hiện phương châm sống, thì hóa ra chuyện người ta đánh rắm cũng là phương châm sống hay sao? Nếu thế thì chắc là nước Nhật đã hết thuốc chữa rồi!
Ði tản bộ trong một đêm xuân đẹp trời như thế này mà chẳng cần quan tâm đến kiểu phương châm nào cả mới đúng là sự thanh thản ở đời. Cứ để cho niềm vui tự nhiên đến với ta, rồi cũng để cho niềm vui tự nhiên biến mất. Ðó mới là phương châm vậy. Nếu những vần thơ chợt đến, thì việc nắm bắt tứ thơ cũng chính là lẽ sống của ta trong lúc đó. Nhưng nếu không bắt gặp tứ thơ nào thì điều đó cũng là lẽ sống của ta. Và ta chẳng gây phiền toái cho ai cả. Ðó mới là lẽ sống đích thực. Tò mò chuyện thiên hạ là công kích người khác. Ðánh rắm là một cách tự bảo vệ chính mình. Còn đi tản bộ đến chùa Kankaiji như thế này là thể hiện lẽ sống “hành xử tùy duyên” vậy.
Sau khi đã làm được mấy câu thơ và leo hết những bậc đá dẫn lên chùa, tôi nhìn thấy biển mùa xuân lờ mờ bên dưới giống như một dải khăn. Tôi bước vào cổng ngôi chùa. Và quên mất chuyện hoàn tất bài thơ đang làm dở. Vậy phương châm hiện thời là bỏ dở việc làm thơ.
Con đường lát đá phía bên phải dẫn đến nhà ăn chạy dọc theo một bờ rào hoa đỗ quyên. Bên kia rào hình như là khu nghĩa trang thì phải. Còn phía bên trái là chánh điện của ngôi chùa. Ở phần chóp cao của mái ngói lấp lánh sáng. Tôi ngước nhìn và nhận ra vô số vầng trăng in vào vô số viên ngói trên mái chùa. Ðâu đó có tiếng chim bồ câu gù khe khẽ. Hình như phía dưới mái ngói có tổ chim bồ câu. Chẳng biết có đúng không, nhưng tôi nhìn thấy có vẻ như ở chỗ mái chìa bên dưới đầu hồi có những vệt trắng rải rác, hình như là phân chim.
Ở chỗ mép mái chìa có những vật gì hình dáng hơi kỳ lạ xếp thành một dãy. Tất nhiên không phải là cỏ mọc, mà cũng chẳng phải cây. Nói theo tranh vẽ của Iwasa Matabee[2] thì đó là hình dáng những con quỷ đã thôi niệm Phật và đang nhảy múa. Ðiệu múa trải dài từ đầu mái bên này sang đầu mái bên kia của khu chánh điện, giống như một cảnh tượng hành lễ. Những bóng hình thể hiện điệu múa cũng xếp ngay ngắn thành một hàng dài từ đầu mái bên này sang đầu mái bên kia. Như thể ánh trăng mờ ảo đã quyến rũ những con quỷ này bỏ cả chuông, cả mõ, cả sổ ghi công đức cúng dường để tập hợp lại, rồi rủ nhau lên chỗ ngôi chùa trên núi này để mà nhảy múa.
[2] Iwasa Matabee (1578 - 1650) là một họa sĩ Nhật Bản thời Edo. Khi nhìn gần lại tôi mới nhận ra đó là những nhánh xương rồng lớn, cao chừng hơn hai mét. Trông chúng giống như những quả dưa chuột màu xanh to bằng quả mướp bị ép dẹt ra như một cái thìa xúc cơm đang dựng ngược lên trời với phần tay cầm chúc xuống. Không biết là bao nhiêu cái thìa chắp lại mới bằng được chiều cao như thế này. Như thể chỉ trong vòng đêm nay đám xương rồng sẽ đâm xuyên qua mái chìa và leo lên lớp ngói bên trên. Có thể là ban đầu có những chiếc thìa xanh bất ngờ từ đâu bay đến mọc ngay vào vị trí này. Và thật lạ lùng khi những chiếc thìa cũ lại sinh ra những chiếc thìa mới con con, rồi những chiếc thìa mới cứ lớn dần lên qua năm tháng. Sự nối tiếp như thế thật là kỳ lạ. Sao lại có loại cây buồn cười như vậy nhỉ? Mà cũng rất vô chấp nữa. Một nhà sư khi được hỏi “Như thế nào là Phật tính?” đã trả lời “Cây sồi ở ngoài sân”. Còn nếu được hỏi như thế thì tôi sẽ trả lời ngay mà không cần đến một giây suy nghĩ: “Xương rồng dưới ánh trăng”.
Hồi còn nhỏ, tôi đã đọc truyện du ký của Cho Hoshi[3], có những câu bây giờ vẫn thuộc:
“Tháng chín. Bầu trời cao vợi, sương trong, núi quang mây và trăng sáng. Ngẩng nhìn trời đêm thì thấy những vì sao rất lớn đang lấp lánh, giống như ở gần ngay trên đầu. Ngoài cửa sổ là bụi tre, thân cứ cọ vào nhau kêu kẽo kẹt. Bên kia bụi tre, mận và cọ mọc rậm rạp trông như mái tóc bù xù của một mụ phù thủy. Hai ba người chúng tôi cứ nhìn nhau, bồn chồn không ngủ được. Trời vừa rạng sáng là chúng tôi đã ra đi.”
[3] Triều Bổ Chi (1053 - 1110) là một văn hào Trung Quốc thời Bắc Tống.
Tôi đọc lại đoạn văn trên và bất giác mỉm cười. Nếu vận vào thời gian và khung cảnh lúc này, thì khi vừa nhìn thấy những nhánh xương rồng tôi đã hoảng hồn và vội vàng quay xuống núi! Tôi thử sờ vào những chiếc gai nhọn và nghe cảm giác hơi nhoi nhói ở đầu ngón tay.
Ði hết con đường lát đá rồi rẽ trái thì đến nhà ăn. Trước khu nhà ăn có một cây mộc lan. Gốc cây to gần bằng vòng tay một người ôm. Ngọn cây cao hơn cả nóc nhà. Tôi ngước nhìn lên thì thấy cành cây ken dày phía trên đầu, tầng này chồng lên tầng khác. Và trên cả những cành cây chằng chịt là vầng trăng đang tỏa sáng. Thường thì nhìn từ dưới gốc cây sẽ không thấy được bầu trời qua đám lá cành rậm rạp. Nếu là cây có hoa thì lại càng vướng mắt hơn. Nhưng cây mộc lan thì dù có bao nhiêu lớp cành đi nữa vẫn có những khoảng trống nhìn xuyên qua được. Mộc lan không phải là loại cây cố tình làm rối mắt những ai ngước nhìn từ dưới gốc bằng những cành nhánh mảnh dẻ đan chi chít vào nhau. Những bông hoa trên cây cũng rất dễ nhìn. Tuy rằng khoảng cách khá xa nhưng tôi vẫn có thể nhìn rõ từng bông một. Tôi không biết hoa trên cây nhiều đến mức độ nào, cũng không biết là hoa đang nở đến đâu, nhưng có thể thấy rõ từng bông hoa riêng biệt, và cũng thấy rất rõ màu trời xanh nhạt ló ra qua khoảng hở giữa các bông hoa. Dĩ nhiên hoa không phải thuần một màu trắng xóa. Trắng quá mức thì lại có vẻ gì lạnh lẽo. Và có thể làm ta bị lóa mắt khi nhìn. Màu của hoa mộc lan thì khác. Loài hoa này cố ý pha vào một chút ấp áp của màu kem, như thể muốn giảm bớt sắc độ của màu trắng và gợi lên cảm giác nhẹ nhàng. Tôi chìm trong cảm giác mơ màng một lúc lâu, cứ đứng trên con đường lát đá ngước nhìn lớp lớp những bông hoa dịu dàng vươn thẳng lên bầu trời xa thẳm. Trước mắt tôi chỉ toàn hoa là hoa. Không có lấy một chiếc lá trên cành.
Chợt nảy ra tứ thơ:
Ngước nhìn lên
Hoa mộc lan
Rợp trời
Ðâu đó lại vang lên tiếng chim bồ câu gù khe khẽ.
Tôi bước vào nhà ăn. Cửa mở toang. Dường như ở đây không bao giờ có trộm. Và cũng chẳng bao giờ nghe tiếng chó sủa.
- Có ai ở nhà không?
Tôi cất tiếng. Không thấy ai trả lời.
- Cho hỏi thăm một chút.
Tôi gọi lần nữa. Vẫn chỉ nghe tiếng chim bồ câu đang gù. Tôi cố gọi to hơn:
- Cho hỏi thăm một chút.
- Vâ...âng.
Có tiếng trả lời từ xa vọng lại. Tôi chưa từng được đáp lời kiểu này khi đến nhà ai đó.
Có tiếng chân bước dọc hành lang, rồi ánh nến lập lòe ở bên kia vách. Rồi một chú tiểu bất ngờ hiện ra. Ðó là chú Ryonen.
- Sư thầy có nhà không?
- Có ạ. Anh cần hỏi gì chăng?
- Nhờ chú nhắn lại rằng, có anh họa sĩ ở chỗ suối nước nóng đến thăm.
- Họa sĩ à? Vậy mời anh vào trong đi ạ.
- Không cần hỏi trước sao?
- Không sao đâu ạ.
Tôi cởi giày bước lên thềm. - Anh có vẻ là một họa sĩ hơi tồi đấy nhỉ!
- Sao cơ?
- Anh để giày lại cho ngay ngắn đi nào! Nhìn xem!
Chú tiểu nói và soi nến lại gần. Ở giữa cây cột màu đen ngay cửa ra vào, cách mặt đất chừng hơn một mét có dán một mảnh giấy bằng một phần tư tấm giấy viết thư pháp, trên có viết mấy chữ “Hãy sắp xếp gọn gàng”.
- Anh nhìn xem. Ở đây có viết “Hãy sắp xếp gọn gàng” mà! Ý nói là phải xem lại dưới chân cho tươm tất đấy.
- Vậy sao?
Tôi bèn xếp lại đôi giày cho ngay ngắn.
Phòng của hòa thượng nằm cạnh khu chánh điện, bên kia góc phải của dãy hành lang. Ryonen kính cẩn mở tấm cửa trượt, rồi cũng với dáng vẻ kính cẩn bước qua tấm đệm, quỳ xuống, cúi đầu:
- Bạch thầy, có anh họa sĩ ở chỗ nhà Shihoda đến ạ!
Chú nói một cách hết sức lễ phép, đến mức khiến tôi cảm thấy hơi buồn cười.
- Thế à? Bảo anh ta vào đi.
Và tôi bước vào phòng, thay vào vị trí của Ryonen. Phòng rất hẹp. Ở giữa có bếp lò. Trên lò là một chiếc ấm làm bằng sắt đang reo khe khẽ. Hòa thượng đang ngồi phía bên kia cái lò, đọc một cuốn sách đang cầm trên tay.
- Anh vào đi!
Hòa thượng nói rồi gỡ kính và đặt quyển sách xuống bên cạnh.
- Ryonen. Ryo...nen!
- Vâ...âng!
- Lấy một cái đệm ngồi cho khách.
- Vâ...âng! - Ryonen đáp lời từ đằng xa.
- Rất vui được gặp anh ở đây. Ði sang đây có mệt không?
- Thấy trăng đẹp quá nên tôi đi dạo loanh quanh thôi mà.
- Ừ, trăng đẹp thật!
Hòa thượng nói và mở cánh cửa trượt. Chẳng nhìn thấy gì ngoài hai bậc đá và một cây thông. Ngay bên kia khu vườn bằng phẳng là vách đá. Rồi kế tiếp là mặt biển trải rộng ra dưới ánh trăng. Phong cảnh trước mắt làm tôi bất chợt thấy khoan khoái hẳn. Những ánh đèn câu thấp thoáng trên mặt biển, như muốn hòa lẫn vào những vì sao tận cuối trời xa.
- Cảnh đẹp quá! Thầy không thấy tiếc khi đóng cửa thế này sao?
- Ðúng thế thật. Nhưng cảnh này tôi vẫn nhìn thấy mỗi đêm mà.
- Phong cảnh như thế này thì có nhìn bao nhiêu đêm cũng không chán mắt. Tôi mà ở đây thì chắc mải nhìn đến quên cả ngủ!
Hòa thượng bật cười:
- Thì anh là họa sĩ kia mà. Phải khác tôi một chút chứ.
- Chỉ cần biết thưởng thức cảnh đẹp thì thầy cũng là họa sĩ rồi đấy ạ!
- Có lẽ đúng thế thật. Tôi cũng vẽ được hình Bồ Tát đấy. Anh nhìn bức tranh treo trên vách kia kìa! Ðó là bức tranh cuộn có từ bao đời trước. Cũng khá đẹp phải không?
Ðúng là có một bức tranh vẽ Bồ Tát treo ở góc phòng. Một bức tranh chẳng có tính nghệ thuật chút nào. Nó chỉ không thô thiển vì không có tục ý. Người vẽ tranh chẳng thể hiện chút nỗ lực nào để tạo ra tác phẩm. Ðây quả là một bức vẽ trong sáng. Bậc tiền bối đã vẽ bức tranh này chắc hẳn cũng là người chân thật như những gì thể hiện trên tranh.
- Bức họa trong trẻo thật!
- Loại tranh này chỉ cần có thế. Chỉ cần thể hiện được khí chất của người vẽ tranh thôi...
- Như thế hay hơn loại tranh đẹp nhưng thiếu sự thanh thoát.
Hòa thượng bật cười:
- Tôi cho rằng đó cũng là một lời khen đấy! Mà dạo này trong giới hội họa có danh vị nào gọi là “tiến sĩ” không?
- Không có tiến sĩ về hội họa đâu ạ!
- Ồ, thế à? Hôm trước tôi mới gặp một người là tiến sĩ gì gì đó...
- Thế ạ?
- Tôi nghĩ rằng tiến sĩ là một cái gì hơi đáng nể, phải không?
- Vâng. Ðáng nể chứ ạ.
- Vì vậy tôi cứ tưởng rằng trong hội họa cũng có tiến sĩ chứ. Mà sao lại không có nhỉ?
- Nếu nói vậy thì trong hàng ngũ tăng sinh cũng phải có tiến sĩ sao?
Hòa thượng lại cười:
- Ừ, đúng thế thật!...Mà anh ta tên là gì nhỉ? Cái người tôi gặp hôm nọ ấy mà... Tôi nhớ là mình có danh thiếp của anh ta ở đâu đây...
- Thầy gặp ở đâu ạ? Ở Tokyo chăng?
- Không, ở đây chứ. Khoảng hai mươi năm nay tôi chưa hề đặt chân đến Tokyo. Dạo gần đây nghe nói có cái gọi là “xe điện”, tôi cũng muốn đi thử một lần xem sao.
- Chẳng có gì hay ho đâu ạ. Ồn ào lắm!
- Vậy sao? Người ta thường nói: “Chó quen sương mù thì sủa mặt trời, bò xứ nóng thì vật vờ dưới bóng trăng”. Những kẻ quê mùa như tôi chắc sẽ thấy khó chịu với cái loại xe điện ấy.
- Khó chịu thật mà! Nói chung là chán ngắt! - Thật sao?
Nước trong ấm đặt trên lò tỏa hơi nghi ngút. Hòa thượng lấy ấm chén để trong tủ, pha trà mời tôi.
- Anh dùng một cốc trà nhé. Nhưng không phải loại trà ngon như ở nhà ngài cư sĩ Shihoda đâu.
- Không sao đâu ạ.
- Hình như anh cũng thường đi đây đó phải không? Ði để vẽ tranh à?
- Vâng. Tôi thường mang dụng cụ theo, nhưng có vẽ được tranh hay không thì cũng chẳng có gì quan trọng.
- À... vậy phần nào chỉ là đi chơi thôi nhỉ?
- Vâng ạ. Nói thế cũng không sai. Chẳng qua là tôi muốn tránh sự soi mói của người đời thôi mà.
Có lẽ hòa thượng cũng không hiểu được ý tôi muốn nói gì.
- Soi mói thế nào kia?
- Nếu sống một thời gian dài ở Tokyo, thầy sẽ hiểu thế nào là soi mói.
- Sao lại thế?
Tôi phì cười:
- Nếu chỉ là soi mói không thôi thì còn chịu được. Nhưng họ còn đem cái xấu của mình ra phân tích nữa kia. Họ toàn nói những điều vô bổ, như cái kiểu miêu tả mông người khác có hình tam giác hay là hình vuông vậy!
- À, anh nói về vấn đề vệ sinh phải không?
- Không phải chuyện vệ sinh. Ý tôi muốn nói đến thói tọc mạch chuyện thiên hạ ấy!
- Tọc mạch à? Vậy là chuyện về đám cảnh sát phải không? Thật ra thì cảnh sát có làm nên trò trống gì đâu nhỉ? Chúng ta đâu cần đến một đám người như thế!
- Ðúng vậy. Giới họa sĩ thì lại càng không cần đến.
- Tôi cũng chẳng cần đâu. Tôi chẳng có việc gì cần phải phiền đến chuyện điều tra cả!
- Tôi cũng nghĩ vậy.
- Nhưng mà đám cảnh sát có tọc mạch đến đâu thì cũng chẳng hề gì. Miễn là tâm hồn mình trong sáng. Nếu ta chẳng làm điều gì xấu thì sự tồn tại của cảnh sát cũng chẳng ý nghĩa gì.
- Nhưng bị soi mói về con người cá nhân thì thật là kinh khủng!
- Hồi còn là một tiểu tăng, tôi đã được sư phụ dạy rằng: nếu không có can đảm của một người dám phơi bày gan ruột giữa đường phố đông người thì không thể tiến bộ trong tu học. Anh cũng nên học hỏi theo cách đó. Và sẽ thấy chẳng cần phải tìm đến nơi này nơi khác nữa.
- Nếu đã là một họa sĩ thực thụ thì lúc nào tôi cũng có thể làm như thế.
- Vậy thì anh nên trở thành một họa sĩ thực thụ đi.
- Nếu cứ bị soi mói mãi thì làm sao mà trở thành như thế được.
- A ha! Tôi nói anh nghe điều này nhé! Cô Nami ở nhà Shihoda mà anh đang trọ ấy, sau khi bỏ nhà chồng trở về đây thì bị rắc rối phiền não đủ điều. Nhưng từ khi cô ấy đến chỗ tôi học pháp thì mọi thứ đã bình ổn trở lại, như anh thấy đấy. Cô ấy là kiểu người thông minh và nhạy cảm.
- Vâng, tôi cũng thấy là cô ấy không giống như những người bình thường khác.
- Ồ, cô ấy ghê gớm lắm!... Có một tăng sinh trẻ tên là Taian cũng đến đây tu học đã từng gặp chuyện rắc rối to với cô ấy đấy... Có lẽ chuyện đó cũng là một bài học bổ ích để chú ấy ngộ ra được nhiều điều.
Những cây thông ngả bóng lặng im trong khu vườn thanh vắng. Mặt biển lấp lánh sáng, thoáng ẩn thoáng hiện ở đằng xa, như muốn đáp lại ánh sáng của những vì sao trên trời nhưng vẫn còn e ngại. Ánh đèn câu chợt lóe rồi chợt tắt.
- Nhìn những bóng thông kìa!
- Ðẹp quá phải không?
- Chỉ là đẹp thôi sao?
- Vâng ạ.
- Còn hơn cả đẹp. Chúng không suy suyển gì trước những cơn gió thổi qua.
Tôi uống nốt ly trà, úp cái cốc lên khay rồi đứng dậy.
- Ðể tôi đưa anh ra cổng. Ryoooonen! Tiễn khách về này!
Chúng tôi bước ra ngoài. Khi qua khỏi khu nhà ăn, tôi lại nghe tiếng chim bồ câu gù gù đâu đó.
- Chẳng có gì đáng yêu hơn những chú bồ câu. Ta chỉ cần vỗ tay là chúng bay đến ngay. Ðể tôi gọi thử cho anh xem nhé. Trăng vẫn sáng vằng vặc. Cây mộc lan vẫn đứng trang nghiêm, đám mây hoa trên mớ cành chằng chịt vẫn vươn cao đến tận vòm trời. Tiếng hòa thượng vỗ tay vang lên giữa đêm xuân thanh vắng, rồi chìm đi trong gió lộng. Chẳng có con bồ câu nào bay xuống cả!
- Sao chúng không bay xuống nhỉ? Tôi cứ nghĩ là thế nào chúng cũng bay xuống chứ!
Chú Ryonen nhìn tôi, thoáng mỉm cười. Dường như hòa thượng không để ý rằng mắt bồ câu không nhìn thấy trong đêm. Ðúng là vô tư thật!
Tôi chia tay hai thầy trò ở cổng chùa. Khi ngoái đầu nhìn lại, tôi thấy hai người, một bóng tròn nhỏ và một bóng tròn lớn, đang quay lại theo con đường lát đá, rồi lần lượt khuất dần về phía nhà ăn.
Tôi đi loanh quanh thưởng thức khung trời bảng lảng ở một ngôi làng sơn cước. Trong khi leo những bậc đá lên chùa Kankaiji, tôi đã làm được mấy câu thơ:
Một, hai, ba
Ngửa mặt
Ðếm sao trời
Thật ra tôi chẳng có việc gì để tìm gặp hòa thượng ở đây. Mà cũng chẳng định gặp nhà sư để tán gẫu. Chẳng qua là lúc ra ngoài đi dạo, tôi cứ mặc cho đôi chân ngẫu hứng tự do di chuyển, rồi một lúc chợt nhận ra mình đang đứng trước con đường làm bằng những bậc đá dẫn lên chùa. Sau một hồi mân mê cột đá có khắc dòng chữ “Không dùng rượu và các loại rau có vị cay”, tôi chợt thấy vui vui rồi nhân tiện leo bậc đá lên chùa.
Trong tác phẩm Tristram Shandy[1], tác giả có nói rằng cuốn sách này được viết ra nhờ sự thúc đẩy của thần linh. Câu đầu tiên là do tác giả viết. Nhưng sau đó thì những câu văn cứ tự tuôn ra khi tâm hồn tác giả hướng về thần thánh. Vì thế, dĩ nhiên là tác giả không biết được mình sẽ viết cái gì. Người cầm bút đương nhiên là bản thân tác giả, nhưng nội dung những gì đã viết thì thuộc về thần linh, nên tác giả không chịu trách nhiệm về nội dung cuốn sách. Với ý nghĩa tương tự, cuộc dạo chơi của tôi lúc này cũng không thuộc về trách nhiệm của tôi. Chỉ có điều, tâm hồn tôi không tìm chỗ dựa nơi thần thánh, nên tôi lại càng vô trách nhiệm. Sterne trốn tránh trách nhiệm bằng cách đổ lỗi mọi chuyện cho thần thánh. Còn kẻ không dựa vào thần thánh là tôi thì chỉ còn cách ném trách nhiệm xuống ao bùn mà thôi!
[1] Tiểu thuyết của Laurence Sterne (1713 - 1768), nhà văn Anh.
Nếu leo những bậc đá mà bị mỏi chân thì tôi đã không leo nữa. Nếu thấy mỏi chân thì tôi đã trở xuống ngay. Nhưng khi bước qua một bậc tôi lại cảm thấy sảng khoái lạ lùng, cho nên mới leo qua bậc thứ hai. Ở bậc này thì tôi chợt nảy ra cảm hứng muốn làm thơ. Tôi lặng lẽ ngắm bóng mình. Cái bóng bị chặn lại và bị chia cắt bởi đường cạnh của bậc đá thứ ba, tạo nên một cảm giác thật lạ lùng. Vì cảm giác kỳ lạ ấy nên tôi mới tiếp tục leo lên cao hơn nữa. Và tôi ngửa mặt nhìn lên bầu trời. Những ngôi sao bé nhỏ đang còn ngái ngủ sau một giấc say sưa đã bắt đầu tỏa sáng lấp lánh. Thật là một cảnh nên thơ, tôi thầm nghĩ và bước tiếp. Cứ thế, cuối cùng tôi đã leo hết những bậc thang.
Lên đến nơi rồi, tôi mới chợt nhớ về một kỷ niệm. Hồi trước, có lần đi Kamakura chơi, tôi có đến tham quan một ngôi chùa lớn - chùa Engakuji. Khi tôi tham quan quanh khu tháp và cũng đang chậm rãi leo lên những bậc đá như thế này, thì thấy từ phía sau cánh cổng xuất hiện một nhà sư áo vàng, để đầu trần. Tôi đang leo lên, còn nhà sư thì đang đi xuống. Khi đi ngang qua tôi, nhà sư hỏi bằng một chất giọng đanh sắc: “Thí chủ đi đâu vậy?”. Tôi dừng chân và trả lời rằng mình đang định tham quan bên trong khu tháp.
Nhà sư nói ngay lập tức, như thể muốn gạt đi: “Chẳng có gì bên trong cả!”. Rồi nhà sư cắm cúi đi thẳng xuống. Quá sửng sốt trước câu nói của nhà sư nên tôi cứ đứng trơ tại chỗ. Rồi tôi quay nhìn nhà sư đang tiếp tục đi xuống dốc, cái đầu để trần cứ lắc qua lắc lại, cho đến khi khuất hẳn vào đám cây tuyết tùng. Nhà sư không một lần ngoảnh lại. Quả thật Thiền sư là những người hết sức lạ lùng! Họ luôn có cách phản ứng hết sức nhanh lẹ. Tôi thầm nghĩ và lững thững bước qua cánh cổng. Nhìn quanh thì thấy cả chánh điện lẫn khu nhà ở phía dưới đều rộng lớn nhưng vắng tanh, không một bóng người. Lúc đó tự nhiên tôi nghe dâng lên trong lòng một niềm vui kỳ lạ. Ðầu óc bỗng nhiên sáng láng khi chợt nhận ra trên đời lại có người nói năng bộc trực, cung cách thẳng thắn đến mức ấy! Niềm vui trong tôi không phải là do hiểu được ý nghĩa Thiền. Thật ra lúc đó tôi chẳng hề có chút ý niệm nào về Thiền cả. Ðó chẳng qua chỉ là niềm vui được gợi lên nhờ vị sư để đầu trần tôi mới gặp mà thôi.
Trên đời nhan nhản những kiểu người không ra gì. Cố chấp, độc địa, huênh hoang khoác lác hay tủn mủn keo kiệt. Ðến nỗi người ta không hiểu được họ có mặt ở trên đời để làm gì nữa. Nhưng số người như thế lại đông kinh khủng! Và họ cảm thấy vô cùng vinh dự khi hiện diện trong cõi phù sinh. Năm này qua năm khác họ say sưa với việc xét nét, tò mò đời sống riêng tư của người khác, và lấy chuyện đó làm lẽ sống của mình. Rồi họ đến trước mặt người ta, dạy bảo những điều vớ vẩn hay thô thiển mà chẳng ai cần nghe cả. Nếu mà họ nói ngay trước mặt thì người ta còn có thể chú ý đến những gì họ nói. Nhưng họ còn nói đủ thứ sau lưng người khác, rằng anh ta đã làm những việc gì, làm bao nhiêu lần trong năm năm hay mười năm. Nếu bảo họ lắm chuyện thì họ lại càng nói nhiều hơn nữa. Nếu bảo thôi đi thì họ vẫn cứ nói liên hồi. Bảo hiểu rồi thì họ vẫn không thôi lải nhải. Rồi họ lại khoác lác rằng đó là phương châm xử thế ở đời. Phương châm thì mỗi người mỗi khác. Nếu mà họ thôi cái trò lải nhải những chuyện dòm ngó thiên hạ, rồi im lặng mà tìm một phương châm sống đàng hoàng thì tốt biết bao. Lễ độ tức là biết kiềm chế cách hành xử của bản thân mình để tránh làm phiền người khác. Còn nếu cho rằng làm phiền người khác mới là thể hiện phương châm sống, thì hóa ra chuyện người ta đánh rắm cũng là phương châm sống hay sao? Nếu thế thì chắc là nước Nhật đã hết thuốc chữa rồi!
Ði tản bộ trong một đêm xuân đẹp trời như thế này mà chẳng cần quan tâm đến kiểu phương châm nào cả mới đúng là sự thanh thản ở đời. Cứ để cho niềm vui tự nhiên đến với ta, rồi cũng để cho niềm vui tự nhiên biến mất. Ðó mới là phương châm vậy. Nếu những vần thơ chợt đến, thì việc nắm bắt tứ thơ cũng chính là lẽ sống của ta trong lúc đó. Nhưng nếu không bắt gặp tứ thơ nào thì điều đó cũng là lẽ sống của ta. Và ta chẳng gây phiền toái cho ai cả. Ðó mới là lẽ sống đích thực. Tò mò chuyện thiên hạ là công kích người khác. Ðánh rắm là một cách tự bảo vệ chính mình. Còn đi tản bộ đến chùa Kankaiji như thế này là thể hiện lẽ sống “hành xử tùy duyên” vậy.
Sau khi đã làm được mấy câu thơ và leo hết những bậc đá dẫn lên chùa, tôi nhìn thấy biển mùa xuân lờ mờ bên dưới giống như một dải khăn. Tôi bước vào cổng ngôi chùa. Và quên mất chuyện hoàn tất bài thơ đang làm dở. Vậy phương châm hiện thời là bỏ dở việc làm thơ.
Con đường lát đá phía bên phải dẫn đến nhà ăn chạy dọc theo một bờ rào hoa đỗ quyên. Bên kia rào hình như là khu nghĩa trang thì phải. Còn phía bên trái là chánh điện của ngôi chùa. Ở phần chóp cao của mái ngói lấp lánh sáng. Tôi ngước nhìn và nhận ra vô số vầng trăng in vào vô số viên ngói trên mái chùa. Ðâu đó có tiếng chim bồ câu gù khe khẽ. Hình như phía dưới mái ngói có tổ chim bồ câu. Chẳng biết có đúng không, nhưng tôi nhìn thấy có vẻ như ở chỗ mái chìa bên dưới đầu hồi có những vệt trắng rải rác, hình như là phân chim.
Ở chỗ mép mái chìa có những vật gì hình dáng hơi kỳ lạ xếp thành một dãy. Tất nhiên không phải là cỏ mọc, mà cũng chẳng phải cây. Nói theo tranh vẽ của Iwasa Matabee[2] thì đó là hình dáng những con quỷ đã thôi niệm Phật và đang nhảy múa. Ðiệu múa trải dài từ đầu mái bên này sang đầu mái bên kia của khu chánh điện, giống như một cảnh tượng hành lễ. Những bóng hình thể hiện điệu múa cũng xếp ngay ngắn thành một hàng dài từ đầu mái bên này sang đầu mái bên kia. Như thể ánh trăng mờ ảo đã quyến rũ những con quỷ này bỏ cả chuông, cả mõ, cả sổ ghi công đức cúng dường để tập hợp lại, rồi rủ nhau lên chỗ ngôi chùa trên núi này để mà nhảy múa.
[2] Iwasa Matabee (1578 - 1650) là một họa sĩ Nhật Bản thời Edo. Khi nhìn gần lại tôi mới nhận ra đó là những nhánh xương rồng lớn, cao chừng hơn hai mét. Trông chúng giống như những quả dưa chuột màu xanh to bằng quả mướp bị ép dẹt ra như một cái thìa xúc cơm đang dựng ngược lên trời với phần tay cầm chúc xuống. Không biết là bao nhiêu cái thìa chắp lại mới bằng được chiều cao như thế này. Như thể chỉ trong vòng đêm nay đám xương rồng sẽ đâm xuyên qua mái chìa và leo lên lớp ngói bên trên. Có thể là ban đầu có những chiếc thìa xanh bất ngờ từ đâu bay đến mọc ngay vào vị trí này. Và thật lạ lùng khi những chiếc thìa cũ lại sinh ra những chiếc thìa mới con con, rồi những chiếc thìa mới cứ lớn dần lên qua năm tháng. Sự nối tiếp như thế thật là kỳ lạ. Sao lại có loại cây buồn cười như vậy nhỉ? Mà cũng rất vô chấp nữa. Một nhà sư khi được hỏi “Như thế nào là Phật tính?” đã trả lời “Cây sồi ở ngoài sân”. Còn nếu được hỏi như thế thì tôi sẽ trả lời ngay mà không cần đến một giây suy nghĩ: “Xương rồng dưới ánh trăng”.
Hồi còn nhỏ, tôi đã đọc truyện du ký của Cho Hoshi[3], có những câu bây giờ vẫn thuộc:
“Tháng chín. Bầu trời cao vợi, sương trong, núi quang mây và trăng sáng. Ngẩng nhìn trời đêm thì thấy những vì sao rất lớn đang lấp lánh, giống như ở gần ngay trên đầu. Ngoài cửa sổ là bụi tre, thân cứ cọ vào nhau kêu kẽo kẹt. Bên kia bụi tre, mận và cọ mọc rậm rạp trông như mái tóc bù xù của một mụ phù thủy. Hai ba người chúng tôi cứ nhìn nhau, bồn chồn không ngủ được. Trời vừa rạng sáng là chúng tôi đã ra đi.”
[3] Triều Bổ Chi (1053 - 1110) là một văn hào Trung Quốc thời Bắc Tống.
Tôi đọc lại đoạn văn trên và bất giác mỉm cười. Nếu vận vào thời gian và khung cảnh lúc này, thì khi vừa nhìn thấy những nhánh xương rồng tôi đã hoảng hồn và vội vàng quay xuống núi! Tôi thử sờ vào những chiếc gai nhọn và nghe cảm giác hơi nhoi nhói ở đầu ngón tay.
Ði hết con đường lát đá rồi rẽ trái thì đến nhà ăn. Trước khu nhà ăn có một cây mộc lan. Gốc cây to gần bằng vòng tay một người ôm. Ngọn cây cao hơn cả nóc nhà. Tôi ngước nhìn lên thì thấy cành cây ken dày phía trên đầu, tầng này chồng lên tầng khác. Và trên cả những cành cây chằng chịt là vầng trăng đang tỏa sáng. Thường thì nhìn từ dưới gốc cây sẽ không thấy được bầu trời qua đám lá cành rậm rạp. Nếu là cây có hoa thì lại càng vướng mắt hơn. Nhưng cây mộc lan thì dù có bao nhiêu lớp cành đi nữa vẫn có những khoảng trống nhìn xuyên qua được. Mộc lan không phải là loại cây cố tình làm rối mắt những ai ngước nhìn từ dưới gốc bằng những cành nhánh mảnh dẻ đan chi chít vào nhau. Những bông hoa trên cây cũng rất dễ nhìn. Tuy rằng khoảng cách khá xa nhưng tôi vẫn có thể nhìn rõ từng bông một. Tôi không biết hoa trên cây nhiều đến mức độ nào, cũng không biết là hoa đang nở đến đâu, nhưng có thể thấy rõ từng bông hoa riêng biệt, và cũng thấy rất rõ màu trời xanh nhạt ló ra qua khoảng hở giữa các bông hoa. Dĩ nhiên hoa không phải thuần một màu trắng xóa. Trắng quá mức thì lại có vẻ gì lạnh lẽo. Và có thể làm ta bị lóa mắt khi nhìn. Màu của hoa mộc lan thì khác. Loài hoa này cố ý pha vào một chút ấp áp của màu kem, như thể muốn giảm bớt sắc độ của màu trắng và gợi lên cảm giác nhẹ nhàng. Tôi chìm trong cảm giác mơ màng một lúc lâu, cứ đứng trên con đường lát đá ngước nhìn lớp lớp những bông hoa dịu dàng vươn thẳng lên bầu trời xa thẳm. Trước mắt tôi chỉ toàn hoa là hoa. Không có lấy một chiếc lá trên cành.
Chợt nảy ra tứ thơ:
Ngước nhìn lên
Hoa mộc lan
Rợp trời
Ðâu đó lại vang lên tiếng chim bồ câu gù khe khẽ.
Tôi bước vào nhà ăn. Cửa mở toang. Dường như ở đây không bao giờ có trộm. Và cũng chẳng bao giờ nghe tiếng chó sủa.
- Có ai ở nhà không?
Tôi cất tiếng. Không thấy ai trả lời.
- Cho hỏi thăm một chút.
Tôi gọi lần nữa. Vẫn chỉ nghe tiếng chim bồ câu đang gù. Tôi cố gọi to hơn:
- Cho hỏi thăm một chút.
- Vâ...âng.
Có tiếng trả lời từ xa vọng lại. Tôi chưa từng được đáp lời kiểu này khi đến nhà ai đó.
Có tiếng chân bước dọc hành lang, rồi ánh nến lập lòe ở bên kia vách. Rồi một chú tiểu bất ngờ hiện ra. Ðó là chú Ryonen.
- Sư thầy có nhà không?
- Có ạ. Anh cần hỏi gì chăng?
- Nhờ chú nhắn lại rằng, có anh họa sĩ ở chỗ suối nước nóng đến thăm.
- Họa sĩ à? Vậy mời anh vào trong đi ạ.
- Không cần hỏi trước sao?
- Không sao đâu ạ.
Tôi cởi giày bước lên thềm. - Anh có vẻ là một họa sĩ hơi tồi đấy nhỉ!
- Sao cơ?
- Anh để giày lại cho ngay ngắn đi nào! Nhìn xem!
Chú tiểu nói và soi nến lại gần. Ở giữa cây cột màu đen ngay cửa ra vào, cách mặt đất chừng hơn một mét có dán một mảnh giấy bằng một phần tư tấm giấy viết thư pháp, trên có viết mấy chữ “Hãy sắp xếp gọn gàng”.
- Anh nhìn xem. Ở đây có viết “Hãy sắp xếp gọn gàng” mà! Ý nói là phải xem lại dưới chân cho tươm tất đấy.
- Vậy sao?
Tôi bèn xếp lại đôi giày cho ngay ngắn.
Phòng của hòa thượng nằm cạnh khu chánh điện, bên kia góc phải của dãy hành lang. Ryonen kính cẩn mở tấm cửa trượt, rồi cũng với dáng vẻ kính cẩn bước qua tấm đệm, quỳ xuống, cúi đầu:
- Bạch thầy, có anh họa sĩ ở chỗ nhà Shihoda đến ạ!
Chú nói một cách hết sức lễ phép, đến mức khiến tôi cảm thấy hơi buồn cười.
- Thế à? Bảo anh ta vào đi.
Và tôi bước vào phòng, thay vào vị trí của Ryonen. Phòng rất hẹp. Ở giữa có bếp lò. Trên lò là một chiếc ấm làm bằng sắt đang reo khe khẽ. Hòa thượng đang ngồi phía bên kia cái lò, đọc một cuốn sách đang cầm trên tay.
- Anh vào đi!
Hòa thượng nói rồi gỡ kính và đặt quyển sách xuống bên cạnh.
- Ryonen. Ryo...nen!
- Vâ...âng!
- Lấy một cái đệm ngồi cho khách.
- Vâ...âng! - Ryonen đáp lời từ đằng xa.
- Rất vui được gặp anh ở đây. Ði sang đây có mệt không?
- Thấy trăng đẹp quá nên tôi đi dạo loanh quanh thôi mà.
- Ừ, trăng đẹp thật!
Hòa thượng nói và mở cánh cửa trượt. Chẳng nhìn thấy gì ngoài hai bậc đá và một cây thông. Ngay bên kia khu vườn bằng phẳng là vách đá. Rồi kế tiếp là mặt biển trải rộng ra dưới ánh trăng. Phong cảnh trước mắt làm tôi bất chợt thấy khoan khoái hẳn. Những ánh đèn câu thấp thoáng trên mặt biển, như muốn hòa lẫn vào những vì sao tận cuối trời xa.
- Cảnh đẹp quá! Thầy không thấy tiếc khi đóng cửa thế này sao?
- Ðúng thế thật. Nhưng cảnh này tôi vẫn nhìn thấy mỗi đêm mà.
- Phong cảnh như thế này thì có nhìn bao nhiêu đêm cũng không chán mắt. Tôi mà ở đây thì chắc mải nhìn đến quên cả ngủ!
Hòa thượng bật cười:
- Thì anh là họa sĩ kia mà. Phải khác tôi một chút chứ.
- Chỉ cần biết thưởng thức cảnh đẹp thì thầy cũng là họa sĩ rồi đấy ạ!
- Có lẽ đúng thế thật. Tôi cũng vẽ được hình Bồ Tát đấy. Anh nhìn bức tranh treo trên vách kia kìa! Ðó là bức tranh cuộn có từ bao đời trước. Cũng khá đẹp phải không?
Ðúng là có một bức tranh vẽ Bồ Tát treo ở góc phòng. Một bức tranh chẳng có tính nghệ thuật chút nào. Nó chỉ không thô thiển vì không có tục ý. Người vẽ tranh chẳng thể hiện chút nỗ lực nào để tạo ra tác phẩm. Ðây quả là một bức vẽ trong sáng. Bậc tiền bối đã vẽ bức tranh này chắc hẳn cũng là người chân thật như những gì thể hiện trên tranh.
- Bức họa trong trẻo thật!
- Loại tranh này chỉ cần có thế. Chỉ cần thể hiện được khí chất của người vẽ tranh thôi...
- Như thế hay hơn loại tranh đẹp nhưng thiếu sự thanh thoát.
Hòa thượng bật cười:
- Tôi cho rằng đó cũng là một lời khen đấy! Mà dạo này trong giới hội họa có danh vị nào gọi là “tiến sĩ” không?
- Không có tiến sĩ về hội họa đâu ạ!
- Ồ, thế à? Hôm trước tôi mới gặp một người là tiến sĩ gì gì đó...
- Thế ạ?
- Tôi nghĩ rằng tiến sĩ là một cái gì hơi đáng nể, phải không?
- Vâng. Ðáng nể chứ ạ.
- Vì vậy tôi cứ tưởng rằng trong hội họa cũng có tiến sĩ chứ. Mà sao lại không có nhỉ?
- Nếu nói vậy thì trong hàng ngũ tăng sinh cũng phải có tiến sĩ sao?
Hòa thượng lại cười:
- Ừ, đúng thế thật!...Mà anh ta tên là gì nhỉ? Cái người tôi gặp hôm nọ ấy mà... Tôi nhớ là mình có danh thiếp của anh ta ở đâu đây...
- Thầy gặp ở đâu ạ? Ở Tokyo chăng?
- Không, ở đây chứ. Khoảng hai mươi năm nay tôi chưa hề đặt chân đến Tokyo. Dạo gần đây nghe nói có cái gọi là “xe điện”, tôi cũng muốn đi thử một lần xem sao.
- Chẳng có gì hay ho đâu ạ. Ồn ào lắm!
- Vậy sao? Người ta thường nói: “Chó quen sương mù thì sủa mặt trời, bò xứ nóng thì vật vờ dưới bóng trăng”. Những kẻ quê mùa như tôi chắc sẽ thấy khó chịu với cái loại xe điện ấy.
- Khó chịu thật mà! Nói chung là chán ngắt! - Thật sao?
Nước trong ấm đặt trên lò tỏa hơi nghi ngút. Hòa thượng lấy ấm chén để trong tủ, pha trà mời tôi.
- Anh dùng một cốc trà nhé. Nhưng không phải loại trà ngon như ở nhà ngài cư sĩ Shihoda đâu.
- Không sao đâu ạ.
- Hình như anh cũng thường đi đây đó phải không? Ði để vẽ tranh à?
- Vâng. Tôi thường mang dụng cụ theo, nhưng có vẽ được tranh hay không thì cũng chẳng có gì quan trọng.
- À... vậy phần nào chỉ là đi chơi thôi nhỉ?
- Vâng ạ. Nói thế cũng không sai. Chẳng qua là tôi muốn tránh sự soi mói của người đời thôi mà.
Có lẽ hòa thượng cũng không hiểu được ý tôi muốn nói gì.
- Soi mói thế nào kia?
- Nếu sống một thời gian dài ở Tokyo, thầy sẽ hiểu thế nào là soi mói.
- Sao lại thế?
Tôi phì cười:
- Nếu chỉ là soi mói không thôi thì còn chịu được. Nhưng họ còn đem cái xấu của mình ra phân tích nữa kia. Họ toàn nói những điều vô bổ, như cái kiểu miêu tả mông người khác có hình tam giác hay là hình vuông vậy!
- À, anh nói về vấn đề vệ sinh phải không?
- Không phải chuyện vệ sinh. Ý tôi muốn nói đến thói tọc mạch chuyện thiên hạ ấy!
- Tọc mạch à? Vậy là chuyện về đám cảnh sát phải không? Thật ra thì cảnh sát có làm nên trò trống gì đâu nhỉ? Chúng ta đâu cần đến một đám người như thế!
- Ðúng vậy. Giới họa sĩ thì lại càng không cần đến.
- Tôi cũng chẳng cần đâu. Tôi chẳng có việc gì cần phải phiền đến chuyện điều tra cả!
- Tôi cũng nghĩ vậy.
- Nhưng mà đám cảnh sát có tọc mạch đến đâu thì cũng chẳng hề gì. Miễn là tâm hồn mình trong sáng. Nếu ta chẳng làm điều gì xấu thì sự tồn tại của cảnh sát cũng chẳng ý nghĩa gì.
- Nhưng bị soi mói về con người cá nhân thì thật là kinh khủng!
- Hồi còn là một tiểu tăng, tôi đã được sư phụ dạy rằng: nếu không có can đảm của một người dám phơi bày gan ruột giữa đường phố đông người thì không thể tiến bộ trong tu học. Anh cũng nên học hỏi theo cách đó. Và sẽ thấy chẳng cần phải tìm đến nơi này nơi khác nữa.
- Nếu đã là một họa sĩ thực thụ thì lúc nào tôi cũng có thể làm như thế.
- Vậy thì anh nên trở thành một họa sĩ thực thụ đi.
- Nếu cứ bị soi mói mãi thì làm sao mà trở thành như thế được.
- A ha! Tôi nói anh nghe điều này nhé! Cô Nami ở nhà Shihoda mà anh đang trọ ấy, sau khi bỏ nhà chồng trở về đây thì bị rắc rối phiền não đủ điều. Nhưng từ khi cô ấy đến chỗ tôi học pháp thì mọi thứ đã bình ổn trở lại, như anh thấy đấy. Cô ấy là kiểu người thông minh và nhạy cảm.
- Vâng, tôi cũng thấy là cô ấy không giống như những người bình thường khác.
- Ồ, cô ấy ghê gớm lắm!... Có một tăng sinh trẻ tên là Taian cũng đến đây tu học đã từng gặp chuyện rắc rối to với cô ấy đấy... Có lẽ chuyện đó cũng là một bài học bổ ích để chú ấy ngộ ra được nhiều điều.
Những cây thông ngả bóng lặng im trong khu vườn thanh vắng. Mặt biển lấp lánh sáng, thoáng ẩn thoáng hiện ở đằng xa, như muốn đáp lại ánh sáng của những vì sao trên trời nhưng vẫn còn e ngại. Ánh đèn câu chợt lóe rồi chợt tắt.
- Nhìn những bóng thông kìa!
- Ðẹp quá phải không?
- Chỉ là đẹp thôi sao?
- Vâng ạ.
- Còn hơn cả đẹp. Chúng không suy suyển gì trước những cơn gió thổi qua.
Tôi uống nốt ly trà, úp cái cốc lên khay rồi đứng dậy.
- Ðể tôi đưa anh ra cổng. Ryoooonen! Tiễn khách về này!
Chúng tôi bước ra ngoài. Khi qua khỏi khu nhà ăn, tôi lại nghe tiếng chim bồ câu gù gù đâu đó.
- Chẳng có gì đáng yêu hơn những chú bồ câu. Ta chỉ cần vỗ tay là chúng bay đến ngay. Ðể tôi gọi thử cho anh xem nhé. Trăng vẫn sáng vằng vặc. Cây mộc lan vẫn đứng trang nghiêm, đám mây hoa trên mớ cành chằng chịt vẫn vươn cao đến tận vòm trời. Tiếng hòa thượng vỗ tay vang lên giữa đêm xuân thanh vắng, rồi chìm đi trong gió lộng. Chẳng có con bồ câu nào bay xuống cả!
- Sao chúng không bay xuống nhỉ? Tôi cứ nghĩ là thế nào chúng cũng bay xuống chứ!
Chú Ryonen nhìn tôi, thoáng mỉm cười. Dường như hòa thượng không để ý rằng mắt bồ câu không nhìn thấy trong đêm. Ðúng là vô tư thật!
Tôi chia tay hai thầy trò ở cổng chùa. Khi ngoái đầu nhìn lại, tôi thấy hai người, một bóng tròn nhỏ và một bóng tròn lớn, đang quay lại theo con đường lát đá, rồi lần lượt khuất dần về phía nhà ăn.
Chương 12.1
Tôi nhớ Oscar Wilde đã nói rằng: “Thiên Chúa giáo là món ăn tinh thần cao cấp nhất cho những tâm hồn nghệ sĩ”. Thiên Chúa giáo thì tôi không rõ. Nhưng tôi nghĩ rằng điều đó đúng với trường hợp như vị hòa thượng ở chùa Kankaiji. Không thể nói đó là sở thích. Mà cũng không phải thú vui để giải sầu. Ông đã treo lên tường một bức tranh vẽ Bồ Tát khó có thể gọi là hội họa, rồi lại còn khen là vẽ đẹp đấy chứ! Ông còn phát biểu rằng trong thế giới hội họa cũng nên có danh vị tiến sĩ. Và cũng chính ông đã nghĩ rằng mắt của loài bồ câu có thể nhìn thấy được trong đêm. Nhưng có thể nói rằng ông là người có tư chất của một họa sĩ, bất chấp tất cả những điều này. Tâm hồn ông như một cái giếng sâu không đáy. Mọi thứ đều có thể trôi tuột qua mà không gặp bất cứ trở lực nào. Ông hành xử rất tự nhiên thoải mái, lòng không gợn chút gì vẩn đục. Chỉ cần ở ông có thêm một chút đam mê nữa thì ông đã trở thành một họa sĩ đích thực, có thể nhập tâm vào ngoại giới ở bất kỳ đâu, trong từng chi tiết nhỏ của cuộc sống đời thường.
Người như tôi thì không thể là một họa sĩ đích thực chừng nào mình còn bị nhòm ngó bởi những đôi mắt tọc mạch ở xung quanh. Những lúc ấy thì tôi chỉ có thể ngồi vào trước giá vẽ. Hoặc có thể cầm bảng pha màu trên tay. Nhưng không thể là một họa sĩ đích thực. Chỉ khi đến một ngôi làng sơn cước xa lạ, khi đắm mình trong sắc màu của trời đất lúc cuối xuân như thế này thì tôi mới nhìn thấy ở bản thân mình hình ảnh một họa sĩ chân chính. Một khi đã bước chân vào thế giới này thì mọi vẻ đẹp trên đời đều trở thành cái đẹp của chính bản thân ta. Dù chưa vẽ nét cọ nào, chưa tô vệt màu nào thì ta vẫn cảm thấy mình là một họa sĩ thuộc hàng thượng đẳng. Dẫu biết mình không thể sánh với Michelangelo về kỹ thuật, không thể bì được Raphael ở sự tinh tế, nhưng nói về tố chất của một họa sĩ thì tôi phải khẳng định mình không hề thua kém những danh họa từ cổ chí kim. Từ khi đến chỗ suối nước nóng này tôi chưa vẽ được bức tranh nào cả. Tôi mang theo họa cụ chỉ đơn giản vì sự hứng thú nhất thời mà thôi. Có thể người khác sẽ cười vào mặt tôi mà bảo rằng, như thế mà cũng là họa sĩ! Nhưng dù có bị coi thường đến mấy thì giờ đây tôi vẫn cảm thấy mình đang là một họa sĩ thực thụ. Và là một họa sĩ tầm cỡ nữa! Ðạt đến trạng thái này thì không nhất thiết phải vẽ được những bức tranh đẹp. Nhưng người có thể vẽ ra những bức tranh đẹp không thể không trải nghiệm trạng thái này.
Trên đây là những điều tôi suy nghĩ lan man trong lúc ngồi thư thả hút thuốc sau bữa sáng. Mặt trời đã vượt lên cao hơn đám sương mù. Tôi mở cánh cửa trượt, ngắm dãy núi đằng xa. Rừng cây trên núi xanh một màu xanh trong trẻo và tươi mát đến lạ thường.
Tôi vẫn nghĩ rằng mối quan hệ giữa không khí, màu sắc và hình dáng sự vật là chủ đề nghiên cứu hấp dẫn nhất trên đời. Ta nên dùng màu sắc, hay hình dáng sự vật để thể hiện không khí. Hay ta lấy không khí làm chủ đạo để thể hiện màu sắc và sự vật đan xen? Sự phối hợp này trong hội họa chỉ cần khác đi một chút thì sẽ bức tranh sẽ thay đổi rất nhiều. Sự thay đổi này chắn chắn sẽ khác nhau tùy theo phong cách nghệ thuật của từng họa sĩ. Và tất nhiên cũng bị giới hạn bởi yếu tố địa điểm, thời gian. Tranh phong cảnh của họa sĩ Anh quốc chẳng có bức nào là sáng sủa. Có thể là họ không thích những bức tranh rực rỡ, nhưng dù có thích thì họ cũng chẳng vẽ được bức tranh sáng sủa nào trong bầu không khí ảm đạm ấy. Tuy cũng là người Anh nhưng tranh của Goodall[1] thì khác hẳn. Ðúng là một kiểu tranh rất khác. Tuy là người Anh nhưng ông chẳng bao giờ vẽ tranh phong cảnh về nước Anh. Họa sĩ này không lấy quê hương làm đề tài hội họa. Ông toàn chọn những nước như Ai Cập hay Ba Tư - những nơi có phong cảnh trong trẻo và tươi sáng hơn nhiều so với nước Anh. Thế nên tranh của ông thường làm người mới xem lần đầu phải giật mình kinh ngạc: một người Anh mà có thể vẽ được những bức tranh trong trẻo thế này sao? Phong cách cá nhân thì hẳn nhiên chẳng có gì để nói. Nhưng nếu chủ tâm vẽ tranh phong cảnh Nhật thì chúng ta phải thể hiện màu sắc và không khí đặc trưng của nước mình. Dù anh có ngưỡng mộ phong cảnh trong tranh Pháp đến đâu, anh cũng không thể vay mượn nguyên xi phong cảnh đó đưa vào trong tác phẩm của mình, rồi bảo đây là tranh phong cảnh Nhật.
Họa sĩ phải sống với phong cảnh thiên nhiên xung quanh mình, để tâm hồn hòa nhập vào cảnh mây chiều sương sớm, cho đến lúc nào đó chợt bắt gặp đúng sắc độ mình cần thể hiện thì ngồi ngay vào giá vẽ. Màu sắc đổi thay trong từng giây từng phút. Nếu để lỡ mất cơ hội thì không dễ gì gặp lại sắc độ mình cần. Trên sườn núi trước mắt tôi bây giờ đang tràn ngập những màu sắc vô cùng tươi đẹp nhưng lại rất khó tìm trong phong cảnh quanh đây. Một cơ hội quý báu dường này mà để trôi qua mất thì quả là đáng tiếc. “Mình phải vẽ lại thôi”, tôi tự nhủ.
[1] Frederick Goodall (1822 - 1904) là một họa sĩ người Anh.
Khi mở cửa bước ra hành lang, tôi thấy cô nàng Nami đang đứng tựa cửa trên tầng hai của gian nhà bên kia. Cằm cô khuất trong cổ áo, và tôi chỉ thấy được gương mặt nhìn nghiêng. Tôi định cất tiếng chào thì tay phải cô bỗng giơ lên, cứ như bị gió thổi, còn tay trái thì vẫn giữ nguyên tư thế đang buông xuống. Một luồng ánh sáng như tia chớp chạy nhằng qua ngực cô hai ba lần, có tiếng “tách” khe khẽ kèm theo, rồi ánh sáng biến mất. Tay trái cô đang cầm một con dao cán gỗ dài chừng ba tấc. Rồi ngay lập tức cô mất hút vào phía sau cánh cửa. Tôi bước ra khỏi nhà mà cảm giác như mình mới vừa xem một cảnh diễn Kabuki[2] vậy.
[2] Kabuki là một loại hình nghệ thuật sân khấu Nhật Bản, có kết hợp âm nhạc, kịch và vũ đạo.
Ra khỏi cổng, rẽ trái là thấy ngay một con đường dốc cheo leo dẫn lên sườn núi. Nghe loáng thoáng tiếng chim chích trong đám cây rừng. Bên trái là một con dốc thoải dần xuống thung lũng trồng đầy quýt. Bên phải là hai ngọn đồi thấp, hình như cũng là nơi trồng quýt thì phải. Mấy năm về trước tôi đã có lần đặt chân đến chỗ này. Chính xác là cách đây bao lâu thì tôi cũng chẳng buồn tính nữa. Chỉ nhớ lúc đó trời đang lạnh, có lẽ là vào độ cuối năm. Ðó cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy những vườn quýt sum xuê như vậy. Khi tôi ngỏ ý muốn mua một nhánh quýt thì người ngồi trên cành cây bảo rằng cứ lấy thỏa thích đi, rồi cất tiếng hát một điệu nhạc nghe rất lạ. Ở Tokyo thì ngay cả vỏ quýt cũng phải đến tiệm thuốc mà mua ấy chứ, tôi thầm nghĩ. Vào buổi tối tôi thường nghe tiếng súng. Hỏi ra mới biết đó là tiếng súng của những người đi săn vịt trời. Khi đó tôi chẳng biết gì về cô gái có tên là Nami cả.
Nếu là một diễn viên Kabuki, chắc hẳn cô ấy sẽ thành công rực rỡ. Những diễn viên bình thường thì khi lên sân khấu mới thoát ly đời thường để hóa thân vào vai diễn. Còn cô ấy thì diễn xuất ngay trong cuộc sống đời thường. Thậm chí bản thân cô không hề biết là mình đang diễn nữa. Diễn rất vô tư và rất tự nhiên. Trường hợp của cô có thể gọi là cuộc đời thi vị. Nhờ có cô mà tôi tiến bộ rất nhanh trong sáng tác hội họa.
Nếu không xem hành trạng của cô là động tác diễn xuất thì chắc là tôi phải bối rối hoang mang suốt cả ngày. Nếu nhìn sự việc và tìm hiểu cô bằng con mắt của những tiểu thuyết gia bình thường, những người được giáo dục kỹ về quy phạm và đạo lý, thì hẳn tôi phải cho rằng cô là một kẻ quá khích, và sẽ cảm thấy khó chịu ngay. Nếu giữa tôi và cô ấy nảy sinh một mối quan hệ lằng nhằng trong đời sống thực, thì có lẽ sự đau khổ của tôi không bút nào tả xiết. Nhưng vì trong chuyến đi này tôi đã chủ trương thoát ly tình cảm đời thường để đạt đến sự thăng hoa của tâm hồn nghệ sĩ, nên tôi phải nhìn mọi thứ hiện lên trước mắt mình qua lăng kính nghệ thuật. Tôi phải xem mọi người mình gặp đều là những nhân vật trong kịch No, Kabuki hoặc là những hình ảnh trong thơ. Nhìn qua lăng kính nghệ thuật theo kiểu này, tôi thấy cô là người có những động tác đẹp hơn tất cả những người phụ nữ mà tôi từng gặp. Hơn nữa, chính vì cô không ý thức được là mình đang diễn xuất, nên động tác của cô còn đẹp hơn cả động tác trên sân khấu của diễn viên.
Xin độc giả đừng hiểu nhầm ý tôi. Tôi chỉ nghĩ là không thỏa đáng nếu lấy tiêu chuẩn của những người bình thường để phê bình tư cách của một người như cô ấy. Sống cho tử tế, sống như một người có đạo đức hay tiết hạnh thì không đơn giản chút nào. Quên mình vì nghĩa lớn cũng là việc hết sức khó khăn. Ai muốn đạt được những giá trị này cũng đều phải trải qua đau khổ. Nhưng để người ta có thể chịu đựng được khổ đau, hẳn là phải có những niềm vui lớn lao tiềm ẩn trong sự hy sinh ấy. Hội họa, thơ ca và kịch nghệ chẳng qua chỉ là những tên gọi khác nhau thể hiện cùng một thứ cảm xúc thăng hoa từ những bi kịch kiểu này. Một khi thẩm thấu được cảm thức này, chúng ta mới có những hành động đầy dũng khí, hay những việc làm cao nhã, và mới có thể vượt qua mọi khổ đau để cảm giác thư thái tràn ngập tâm hồn. Chúng ta phải quên đi nỗi đau thể xác, coi thường mọi trở ngại của thế giới vật chất để tập trung rèn luyện tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì lòng nhân đạo. Nếu đưa ra một định nghĩa về nghệ thuật trong hoàn cảnh chật vật của cuộc sống đời thường, thì có thể nói nghệ thuật là cái tiềm ẩn trong tâm hồn những người có giáo dục, biết cải tà quy chánh, biết bỏ cong tìm ngay, biết giúp đỡ kẻ yếu và chế ngự kẻ mạnh; là sự kết tinh của tinh thần cống hiến hết mình, như một tấm phản chiếu ánh sáng mặt trời rạng rỡ. Có thể người ta sẽ cười nhạo ai đó có những hành vi giống như diễn kịch. Như họ vẫn cười nhạo những ai dám hy sinh cho cái đẹp, cho rằng như vậy là viển vông, thiếu thực tế. Họ cho rằng những ai ngu ngốc mới không chờ đến khi cái đẹp của tính cách tự nhiên hiển lộ mà lại đi phô trương cảm quan thẩm mỹ của mình một cách lộ liễu. Những người thấu hiểu được bản chất của vấn đề cũng có thể sẽ cười nhạo người khác theo kiểu đó. Nhưng loại người hạ đẳng không hiểu gì về nghệ thuật mà lại lấy sự tầm thường của mình làm chuẩn để chê cười kẻ khác thì không thể chấp nhận được. Ngày xưa có một chàng trai đã để lại bài thơ tuyệt mệnh trên một tảng đá, rồi nhảy từ độ cao ba mươi mét lao xuống dòng thác đang cuồn cuộn chảy. Theo tôi thì có thể nói rằng, chàng trai ấy đã hy sinh cuộc đời quý báu của mình vì một điều duy nhất là cái đẹp. Bản thân cái chết của chàng thì thật là hùng tráng, nhưng động cơ thúc đẩy chàng đến cái chết thì khó mà hiểu được. Dù sao, những người không hiểu được vẻ đẹp hùng tráng của cái chết thì chẳng có lý do gì để cười nhạo chàng Fuji Murashi ấy. Tôi cho rằng những ai không sánh được với chàng Fuji Murashi về vẻ đẹp tâm hồn, không hiểu được ý nghĩa sâu xa của một cái chết hùng tráng là để đưa cảm thức thẩm mỹ đến trạng thái viên mãn thì không thể có tư cách mà cười nhạo.
Còn tôi là một họa sĩ. Như thế thì với tư cách là một người hiểu biết về cái đẹp, tôi sẽ được tôn trọng hơn những người bình dân sống quanh mình, nếu tôi chịu hạ mình để sống trong cõi thế tục này như bao người khác. Là một thành viên trong xã hội, tôi đang ở vị trí phải chỉ bảo cho những người xung quanh về cái đẹp. Và tôi cũng có năng lực thể hiện cái đẹp hơn những người không có năng khiếu về thơ ca, hội họa hay kịch nghệ. Trong cuộc sống đời thường thì cái đẹp là sự đúng đắn, là sự chân thật, là lẽ phải. Nói cách khác, việc thể hiện sự đúng đắn, sự chân thực và lẽ phải thông qua ứng xử, hành vi được xem là tư cách của một công dân mẫu mực trong cõi đời này.
Tôi đang tạm thời thoát ly cuộc sống đời thường, và không hề cảm thấy cần phải quay về với những tình cảm đời thường ấy trong chuyến đi hiện tại. Nếu trở lại với đời thường thì chuyến đi này sẽ trở thành vô nghĩa. Như một kẻ đãi cát tìm vàng, tôi phải gạn lọc những cảm xúc tầm thường của nhân gian để chỉ tập trung thưởng thức cái đẹp đúng nghĩa. Tôi tự giải thoát mình khỏi trách nhiệm của một thành viên trong xã hội. Ðồng thời cũng tự giải thoát mình khỏi những vướng mắc đời thường để trở thành một họa sĩ thuần túy, để chỉ hoạt động trong thế giới của cái đẹp. Nghĩa là tôi không bị buộc vào bất cứ cái gì, bất kể điều đó là núi, là nước hay là những người sống quanh tôi. Vì vậy, trước mắt tôi thì hành trạng của cô nàng Nami cứ thể hiện tự nhiên như nó vốn là.
Ði được khoảng năm trăm mét trên con đường núi thì tôi nhìn thấy phía trước có một ngôi nhà màu trắng. Một ngôi nhà nằm giữa mênh mông vườn quýt, tôi thầm nghĩ. Con đường trước mặt rẽ làm hai nhánh. Tôi rẽ trái ở chỗ gần ngôi nhà màu trắng, quay nhìn lại phía sau thì thấy một cô gái mặc váy màu đỏ đang đi lên. Làn da thẫm màu của đôi chân lộ ra dưới gấu váy. Bàn chân xỏ trong đôi dép rơm đang chầm chậm tiến về phía tôi. Mấy cánh hoa anh đào núi còn vương trên mái tóc. Và sau lưng cô gái, nắng lấp lánh trên mặt biển đằng xa.
Ði hết con đường dốc thì đến một đỉnh gò tương đối bằng phẳng. Phía Bắc là ngọn núi mùa xuân với cây cối xanh rì. Có lẽ đây chính là ngọn núi mà lúc nãy tôi đã ngắm từ phòng trọ. Phía Nam là một khoảng đất có bề rộng chừng năm mươi mét, hình như là một mảnh nương. Nối tiếp mảnh đất này là một sườn núi bị sạt lở. Dưới chỗ đất sạt lở là những đám quýt mà tôi mới đi qua. Còn phía bên kia ngôi làng ở đằng xa tất nhiên chỉ còn là mênh mông mặt biển.
Có rất nhiều đường đi ở quanh đây. Những con đường cứ nhập vào rồi lại rẽ ra, nên tôi chẳng xác định được đâu mới là đường chính. Chỗ nào cũng có thể là đường đi, nhưng đồng thời chẳng có đường nào ra hồn cả. Chỉ là những mảng đất trống màu đỏ sậm lộ ra lác đác trên nền cỏ, chẳng phân biệt được mảng nào nối với đường nào. Ðúng là một sự rối rắm thú vị.
Tôi đi loanh quanh trên nền cỏ tìm một chỗ khả dĩ để ngồi xuống nghỉ chân. Cái phong cảnh có vẻ đầy hứa hẹn cho một bức tranh đẹp khi nhìn từ phòng trọ giờ đây trở nên rời rạc hẳn. Màu sắc cũng nhạt đi. Lúc vẩn vơ đi lại trên thảm cỏ, cảm hứng vẽ tranh trong tôi đã biến mất không biết tự khi nào. Ðã không muốn vẽ thì việc tìm chỗ ngồi cũng chẳng cần thiết nữa, nên tôi cứ ngồi tạm xuống chỗ mình vừa đặt chân đến. Khi buông người ngồi phịch xuống, tôi mới chợt nhận ra mình vừa làm vỡ tung một lớp khói mù tỏa trên mặt đất do ánh nắng mùa xuân thấm sâu vào lớp cỏ.
Mặt biển lấp loáng đằng xa, phía dưới chỗ tôi ngồi. Bầu trời mùa xuân không một
gợn mây tỏa ánh sáng chan hòa mặt biển, tạo cảm giác ấm áp như thể ánh mặt trời
rọi xuyên xuống tận đáy biển sâu. Biển như một dải màu xanh thẫm và bằng phẳng
trải dài, với vô số chiếc vẩy bạc lấp lánh trên cái nền xanh ấy như những đồng
tiền kim loại dưới ánh nắng mặt trời. Giữa cảnh trời nước mênh mông vô tận hiện
lên một cánh buồm trắng, nhìn từ xa bé xíu như một chiếc móng tay. Mà cánh buồm
cứ đứng im phăng phắc. Chắc hẳn những con thuyền đến từ Triều Tiên trước đây
cũng hiện ra từ đằng xa trên biển thế này. Ngoài cánh buồm kia thì thế giới
mênh mông chỉ có ánh nắng tỏa xuống biển khơi và mặt biển phản chiếu ánh nắng mặt
trời lấp lánh.
Tôi nằm lăn ra cỏ. Chiếc nón trượt khỏi đầu, giống như vầng hào quang gắn vào đằng
sau gáy. Có vài bụi lê hoa trà cao chưa đầy một mét mọc rải rác trên nền cỏ.
Tôi tìm được một bụi có bóng mát vừa đủ để ngả đầu. Lê hoa trà là một loài hoa
rất thú vị. Cành cây rất cứng, hầu như không thể bẻ cong. Nhưng nếu nói cành mọc
thẳng thì cũng không chính xác. Từng đoạn cành ngắn thì thẳng thật, nhưng cành
này cứ đan chéo vào cành khác, tạo thành một mớ rối rắm đầy góc cạnh. Và trên
những cành cây đan vào nhau ấy là những đóa hoa màu đỏ tươi hay màu trắng đang
khoe sắc dịu dàng. Cả những chiếc lá mềm mại nữa. Có thể nói lê hoa trà giống
như những người thông thái giả khờ. Trong thế gian có loại người giữ vững lòng
cương trực. Chắc hẳn loại người như thế sẽ thác sinh làm cây lê hoa trà. Tôi
cũng muốn trở thành một cây lê hoa trà như vậy.
Thuở nhỏ tôi đã từng lấy một cành lê hoa trà đang có cả lá và hoa về đẽo gọt thành một cái ống đựng bút có hình dáng vui mắt. Tôi cắm những cây bút rẻ tiền vào đó rồi đặt chiếc ống đựng bút với những ngọn bút lấp ló trong mớ hoa lá lên bàn và cảm thấy hết sức thú vị. Cả ngày hôm đó tôi chỉ chú tâm vào chiếc ống đựng bút của mình, kể cả khi đi ngủ. Sáng hôm sau, vừa mở mắt là tôi bật ngay dậy chạy đến bên bàn. Cái ống đựng bút phơi ra trước mắt tôi những chiếc lá khô quắt và những bông hoa héo rũ. Chỉ có đầu ngọn bút là vẫn sáng lấp lánh. Sao một cành hoa tươi đẹp thế chỉ qua có một đêm mà đã khô héo nhỉ? Nỗi thắc mắc không được giải đáp lúc đó cứ mãi ám ảnh tôi. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy hồi đó đúng là mình ngây thơ trong trẻo thật.
Những bông lê hoa trà lọt vào tầm mắt khi tôi nằm xuống là bạn tri kỉ của tôi hai mươi năm về trước. Khi ngắm chúng, tôi thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng, thanh thản hẳn. Và tôi lại có cảm hứng làm thơ.
Tôi cứ nằm mà suy nghĩ. Rồi ghi từng câu thơ làm được vào trong cuốn sổ tay. Chẳng mấy chốc đã xong một bài. Rồi tôi đọc lại bài thơ mới làm xong.
Ra đi lòng ngổn ngang
Gió xuân vờn nếp áo
Cỏ xanh vệt bánh xe
Sương mù giăng khắp lối
Dừng chân tự ngắm mình
Ánh sáng soi rạng rỡ
Chim oanh ca ríu rít
Hoa đào lả tả rơi
Ðề thơ trước cổng chùa:
“Cuối đường là đồng rộng”
Dạ sầu chất ngất mây
Cánh chim lướt ngang trời
Bao cảm xúc khôn nguôi
Quên chuyện đời chốc lát
Ba mươi đã chớm già
Kìa nắng lại bừng soi
Thong dong cùng mây gió
Hương thơm lẩn quất hoài...
Ôi xong rồi! Mình đã làm được một bài thơ! Nằm ngắm cây lê hoa trà, tôi đã quên cuộc sống đời thường để tìm được nguồn cảm xúc. Dù bài thơ không nói đến lê hoa trà, không có cảnh biển khơi. Chỉ cần thể hiện được cảm xúc là ổn cả. Tôi khe khẽ reo lên vì sung sướng, và chợt giật mình khi nghe tiếng hắng giọng “E hèm!” ngay bên cạnh.
Tôi trở mình nhìn về phía có tiếng động, thì thấy một người đàn ông vừa đi quanh cái gò nhô ra bên sườn núi, rồi hiện ra từ trong đám cây rừng.
Người đàn ông đội một chiếc mũ phớt màu nâu. Tôi nhìn thấy đôi mắt anh ta dưới vành mũ đội nghiêng hơi méo mó. Tôi không nhìn rõ lắm, nhưng hình như ánh mắt hơi mệt mỏi. Trang phục của anh ta thì khó mà tả được. Một chiếc quần kẻ sọc màu xanh đậm bó sát đùi và đôi guốc mộc dưới chân. Và nếu nhìn vào bộ râu xồm xoàm không cắt tỉa thì có thể đoán anh ta là du sĩ.
Tôi cứ tưởng người đàn ông kia đi xuống núi theo con đường dốc, không ngờ anh ta quay trở lại sau khúc quanh. Cứ tưởng anh ta sẽ khuất bóng theo đường cũ, nhưng lại không phải vậy. Anh ta cứ đi loanh quanh mãi. Trừ khi đến đây để mà đi dạo, không ai lại cứ đi loanh quanh theo kiểu đó. Nhưng dáng vẻ này khó có thể là một người đang tản bộ. Và cũng khó tin là anh ta sống ở gần đây. Thỉnh thoảng người đàn ông dừng lại. Nghiêng tai nghe ngóng. Rồi quay nhìn xung quanh. Hình như anh ta đang có điều gì ưu tư lắm. Cũng có thể là đang chờ một người nào đã hẹn. Nói chung là tôi không thể nào đoán được.
Tôi nhớ Oscar Wilde đã nói rằng: “Thiên Chúa giáo là món ăn tinh thần cao cấp nhất cho những tâm hồn nghệ sĩ”. Thiên Chúa giáo thì tôi không rõ. Nhưng tôi nghĩ rằng điều đó đúng với trường hợp như vị hòa thượng ở chùa Kankaiji. Không thể nói đó là sở thích. Mà cũng không phải thú vui để giải sầu. Ông đã treo lên tường một bức tranh vẽ Bồ Tát khó có thể gọi là hội họa, rồi lại còn khen là vẽ đẹp đấy chứ! Ông còn phát biểu rằng trong thế giới hội họa cũng nên có danh vị tiến sĩ. Và cũng chính ông đã nghĩ rằng mắt của loài bồ câu có thể nhìn thấy được trong đêm. Nhưng có thể nói rằng ông là người có tư chất của một họa sĩ, bất chấp tất cả những điều này. Tâm hồn ông như một cái giếng sâu không đáy. Mọi thứ đều có thể trôi tuột qua mà không gặp bất cứ trở lực nào. Ông hành xử rất tự nhiên thoải mái, lòng không gợn chút gì vẩn đục. Chỉ cần ở ông có thêm một chút đam mê nữa thì ông đã trở thành một họa sĩ đích thực, có thể nhập tâm vào ngoại giới ở bất kỳ đâu, trong từng chi tiết nhỏ của cuộc sống đời thường.
Người như tôi thì không thể là một họa sĩ đích thực chừng nào mình còn bị nhòm ngó bởi những đôi mắt tọc mạch ở xung quanh. Những lúc ấy thì tôi chỉ có thể ngồi vào trước giá vẽ. Hoặc có thể cầm bảng pha màu trên tay. Nhưng không thể là một họa sĩ đích thực. Chỉ khi đến một ngôi làng sơn cước xa lạ, khi đắm mình trong sắc màu của trời đất lúc cuối xuân như thế này thì tôi mới nhìn thấy ở bản thân mình hình ảnh một họa sĩ chân chính. Một khi đã bước chân vào thế giới này thì mọi vẻ đẹp trên đời đều trở thành cái đẹp của chính bản thân ta. Dù chưa vẽ nét cọ nào, chưa tô vệt màu nào thì ta vẫn cảm thấy mình là một họa sĩ thuộc hàng thượng đẳng. Dẫu biết mình không thể sánh với Michelangelo về kỹ thuật, không thể bì được Raphael ở sự tinh tế, nhưng nói về tố chất của một họa sĩ thì tôi phải khẳng định mình không hề thua kém những danh họa từ cổ chí kim. Từ khi đến chỗ suối nước nóng này tôi chưa vẽ được bức tranh nào cả. Tôi mang theo họa cụ chỉ đơn giản vì sự hứng thú nhất thời mà thôi. Có thể người khác sẽ cười vào mặt tôi mà bảo rằng, như thế mà cũng là họa sĩ! Nhưng dù có bị coi thường đến mấy thì giờ đây tôi vẫn cảm thấy mình đang là một họa sĩ thực thụ. Và là một họa sĩ tầm cỡ nữa! Ðạt đến trạng thái này thì không nhất thiết phải vẽ được những bức tranh đẹp. Nhưng người có thể vẽ ra những bức tranh đẹp không thể không trải nghiệm trạng thái này.
Trên đây là những điều tôi suy nghĩ lan man trong lúc ngồi thư thả hút thuốc sau bữa sáng. Mặt trời đã vượt lên cao hơn đám sương mù. Tôi mở cánh cửa trượt, ngắm dãy núi đằng xa. Rừng cây trên núi xanh một màu xanh trong trẻo và tươi mát đến lạ thường.
Tôi vẫn nghĩ rằng mối quan hệ giữa không khí, màu sắc và hình dáng sự vật là chủ đề nghiên cứu hấp dẫn nhất trên đời. Ta nên dùng màu sắc, hay hình dáng sự vật để thể hiện không khí. Hay ta lấy không khí làm chủ đạo để thể hiện màu sắc và sự vật đan xen? Sự phối hợp này trong hội họa chỉ cần khác đi một chút thì sẽ bức tranh sẽ thay đổi rất nhiều. Sự thay đổi này chắn chắn sẽ khác nhau tùy theo phong cách nghệ thuật của từng họa sĩ. Và tất nhiên cũng bị giới hạn bởi yếu tố địa điểm, thời gian. Tranh phong cảnh của họa sĩ Anh quốc chẳng có bức nào là sáng sủa. Có thể là họ không thích những bức tranh rực rỡ, nhưng dù có thích thì họ cũng chẳng vẽ được bức tranh sáng sủa nào trong bầu không khí ảm đạm ấy. Tuy cũng là người Anh nhưng tranh của Goodall[1] thì khác hẳn. Ðúng là một kiểu tranh rất khác. Tuy là người Anh nhưng ông chẳng bao giờ vẽ tranh phong cảnh về nước Anh. Họa sĩ này không lấy quê hương làm đề tài hội họa. Ông toàn chọn những nước như Ai Cập hay Ba Tư - những nơi có phong cảnh trong trẻo và tươi sáng hơn nhiều so với nước Anh. Thế nên tranh của ông thường làm người mới xem lần đầu phải giật mình kinh ngạc: một người Anh mà có thể vẽ được những bức tranh trong trẻo thế này sao? Phong cách cá nhân thì hẳn nhiên chẳng có gì để nói. Nhưng nếu chủ tâm vẽ tranh phong cảnh Nhật thì chúng ta phải thể hiện màu sắc và không khí đặc trưng của nước mình. Dù anh có ngưỡng mộ phong cảnh trong tranh Pháp đến đâu, anh cũng không thể vay mượn nguyên xi phong cảnh đó đưa vào trong tác phẩm của mình, rồi bảo đây là tranh phong cảnh Nhật.
Họa sĩ phải sống với phong cảnh thiên nhiên xung quanh mình, để tâm hồn hòa nhập vào cảnh mây chiều sương sớm, cho đến lúc nào đó chợt bắt gặp đúng sắc độ mình cần thể hiện thì ngồi ngay vào giá vẽ. Màu sắc đổi thay trong từng giây từng phút. Nếu để lỡ mất cơ hội thì không dễ gì gặp lại sắc độ mình cần. Trên sườn núi trước mắt tôi bây giờ đang tràn ngập những màu sắc vô cùng tươi đẹp nhưng lại rất khó tìm trong phong cảnh quanh đây. Một cơ hội quý báu dường này mà để trôi qua mất thì quả là đáng tiếc. “Mình phải vẽ lại thôi”, tôi tự nhủ.
[1] Frederick Goodall (1822 - 1904) là một họa sĩ người Anh.
Khi mở cửa bước ra hành lang, tôi thấy cô nàng Nami đang đứng tựa cửa trên tầng hai của gian nhà bên kia. Cằm cô khuất trong cổ áo, và tôi chỉ thấy được gương mặt nhìn nghiêng. Tôi định cất tiếng chào thì tay phải cô bỗng giơ lên, cứ như bị gió thổi, còn tay trái thì vẫn giữ nguyên tư thế đang buông xuống. Một luồng ánh sáng như tia chớp chạy nhằng qua ngực cô hai ba lần, có tiếng “tách” khe khẽ kèm theo, rồi ánh sáng biến mất. Tay trái cô đang cầm một con dao cán gỗ dài chừng ba tấc. Rồi ngay lập tức cô mất hút vào phía sau cánh cửa. Tôi bước ra khỏi nhà mà cảm giác như mình mới vừa xem một cảnh diễn Kabuki[2] vậy.
[2] Kabuki là một loại hình nghệ thuật sân khấu Nhật Bản, có kết hợp âm nhạc, kịch và vũ đạo.
Ra khỏi cổng, rẽ trái là thấy ngay một con đường dốc cheo leo dẫn lên sườn núi. Nghe loáng thoáng tiếng chim chích trong đám cây rừng. Bên trái là một con dốc thoải dần xuống thung lũng trồng đầy quýt. Bên phải là hai ngọn đồi thấp, hình như cũng là nơi trồng quýt thì phải. Mấy năm về trước tôi đã có lần đặt chân đến chỗ này. Chính xác là cách đây bao lâu thì tôi cũng chẳng buồn tính nữa. Chỉ nhớ lúc đó trời đang lạnh, có lẽ là vào độ cuối năm. Ðó cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy những vườn quýt sum xuê như vậy. Khi tôi ngỏ ý muốn mua một nhánh quýt thì người ngồi trên cành cây bảo rằng cứ lấy thỏa thích đi, rồi cất tiếng hát một điệu nhạc nghe rất lạ. Ở Tokyo thì ngay cả vỏ quýt cũng phải đến tiệm thuốc mà mua ấy chứ, tôi thầm nghĩ. Vào buổi tối tôi thường nghe tiếng súng. Hỏi ra mới biết đó là tiếng súng của những người đi săn vịt trời. Khi đó tôi chẳng biết gì về cô gái có tên là Nami cả.
Nếu là một diễn viên Kabuki, chắc hẳn cô ấy sẽ thành công rực rỡ. Những diễn viên bình thường thì khi lên sân khấu mới thoát ly đời thường để hóa thân vào vai diễn. Còn cô ấy thì diễn xuất ngay trong cuộc sống đời thường. Thậm chí bản thân cô không hề biết là mình đang diễn nữa. Diễn rất vô tư và rất tự nhiên. Trường hợp của cô có thể gọi là cuộc đời thi vị. Nhờ có cô mà tôi tiến bộ rất nhanh trong sáng tác hội họa.
Nếu không xem hành trạng của cô là động tác diễn xuất thì chắc là tôi phải bối rối hoang mang suốt cả ngày. Nếu nhìn sự việc và tìm hiểu cô bằng con mắt của những tiểu thuyết gia bình thường, những người được giáo dục kỹ về quy phạm và đạo lý, thì hẳn tôi phải cho rằng cô là một kẻ quá khích, và sẽ cảm thấy khó chịu ngay. Nếu giữa tôi và cô ấy nảy sinh một mối quan hệ lằng nhằng trong đời sống thực, thì có lẽ sự đau khổ của tôi không bút nào tả xiết. Nhưng vì trong chuyến đi này tôi đã chủ trương thoát ly tình cảm đời thường để đạt đến sự thăng hoa của tâm hồn nghệ sĩ, nên tôi phải nhìn mọi thứ hiện lên trước mắt mình qua lăng kính nghệ thuật. Tôi phải xem mọi người mình gặp đều là những nhân vật trong kịch No, Kabuki hoặc là những hình ảnh trong thơ. Nhìn qua lăng kính nghệ thuật theo kiểu này, tôi thấy cô là người có những động tác đẹp hơn tất cả những người phụ nữ mà tôi từng gặp. Hơn nữa, chính vì cô không ý thức được là mình đang diễn xuất, nên động tác của cô còn đẹp hơn cả động tác trên sân khấu của diễn viên.
Xin độc giả đừng hiểu nhầm ý tôi. Tôi chỉ nghĩ là không thỏa đáng nếu lấy tiêu chuẩn của những người bình thường để phê bình tư cách của một người như cô ấy. Sống cho tử tế, sống như một người có đạo đức hay tiết hạnh thì không đơn giản chút nào. Quên mình vì nghĩa lớn cũng là việc hết sức khó khăn. Ai muốn đạt được những giá trị này cũng đều phải trải qua đau khổ. Nhưng để người ta có thể chịu đựng được khổ đau, hẳn là phải có những niềm vui lớn lao tiềm ẩn trong sự hy sinh ấy. Hội họa, thơ ca và kịch nghệ chẳng qua chỉ là những tên gọi khác nhau thể hiện cùng một thứ cảm xúc thăng hoa từ những bi kịch kiểu này. Một khi thẩm thấu được cảm thức này, chúng ta mới có những hành động đầy dũng khí, hay những việc làm cao nhã, và mới có thể vượt qua mọi khổ đau để cảm giác thư thái tràn ngập tâm hồn. Chúng ta phải quên đi nỗi đau thể xác, coi thường mọi trở ngại của thế giới vật chất để tập trung rèn luyện tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì lòng nhân đạo. Nếu đưa ra một định nghĩa về nghệ thuật trong hoàn cảnh chật vật của cuộc sống đời thường, thì có thể nói nghệ thuật là cái tiềm ẩn trong tâm hồn những người có giáo dục, biết cải tà quy chánh, biết bỏ cong tìm ngay, biết giúp đỡ kẻ yếu và chế ngự kẻ mạnh; là sự kết tinh của tinh thần cống hiến hết mình, như một tấm phản chiếu ánh sáng mặt trời rạng rỡ. Có thể người ta sẽ cười nhạo ai đó có những hành vi giống như diễn kịch. Như họ vẫn cười nhạo những ai dám hy sinh cho cái đẹp, cho rằng như vậy là viển vông, thiếu thực tế. Họ cho rằng những ai ngu ngốc mới không chờ đến khi cái đẹp của tính cách tự nhiên hiển lộ mà lại đi phô trương cảm quan thẩm mỹ của mình một cách lộ liễu. Những người thấu hiểu được bản chất của vấn đề cũng có thể sẽ cười nhạo người khác theo kiểu đó. Nhưng loại người hạ đẳng không hiểu gì về nghệ thuật mà lại lấy sự tầm thường của mình làm chuẩn để chê cười kẻ khác thì không thể chấp nhận được. Ngày xưa có một chàng trai đã để lại bài thơ tuyệt mệnh trên một tảng đá, rồi nhảy từ độ cao ba mươi mét lao xuống dòng thác đang cuồn cuộn chảy. Theo tôi thì có thể nói rằng, chàng trai ấy đã hy sinh cuộc đời quý báu của mình vì một điều duy nhất là cái đẹp. Bản thân cái chết của chàng thì thật là hùng tráng, nhưng động cơ thúc đẩy chàng đến cái chết thì khó mà hiểu được. Dù sao, những người không hiểu được vẻ đẹp hùng tráng của cái chết thì chẳng có lý do gì để cười nhạo chàng Fuji Murashi ấy. Tôi cho rằng những ai không sánh được với chàng Fuji Murashi về vẻ đẹp tâm hồn, không hiểu được ý nghĩa sâu xa của một cái chết hùng tráng là để đưa cảm thức thẩm mỹ đến trạng thái viên mãn thì không thể có tư cách mà cười nhạo.
Còn tôi là một họa sĩ. Như thế thì với tư cách là một người hiểu biết về cái đẹp, tôi sẽ được tôn trọng hơn những người bình dân sống quanh mình, nếu tôi chịu hạ mình để sống trong cõi thế tục này như bao người khác. Là một thành viên trong xã hội, tôi đang ở vị trí phải chỉ bảo cho những người xung quanh về cái đẹp. Và tôi cũng có năng lực thể hiện cái đẹp hơn những người không có năng khiếu về thơ ca, hội họa hay kịch nghệ. Trong cuộc sống đời thường thì cái đẹp là sự đúng đắn, là sự chân thật, là lẽ phải. Nói cách khác, việc thể hiện sự đúng đắn, sự chân thực và lẽ phải thông qua ứng xử, hành vi được xem là tư cách của một công dân mẫu mực trong cõi đời này.
Tôi đang tạm thời thoát ly cuộc sống đời thường, và không hề cảm thấy cần phải quay về với những tình cảm đời thường ấy trong chuyến đi hiện tại. Nếu trở lại với đời thường thì chuyến đi này sẽ trở thành vô nghĩa. Như một kẻ đãi cát tìm vàng, tôi phải gạn lọc những cảm xúc tầm thường của nhân gian để chỉ tập trung thưởng thức cái đẹp đúng nghĩa. Tôi tự giải thoát mình khỏi trách nhiệm của một thành viên trong xã hội. Ðồng thời cũng tự giải thoát mình khỏi những vướng mắc đời thường để trở thành một họa sĩ thuần túy, để chỉ hoạt động trong thế giới của cái đẹp. Nghĩa là tôi không bị buộc vào bất cứ cái gì, bất kể điều đó là núi, là nước hay là những người sống quanh tôi. Vì vậy, trước mắt tôi thì hành trạng của cô nàng Nami cứ thể hiện tự nhiên như nó vốn là.
Ði được khoảng năm trăm mét trên con đường núi thì tôi nhìn thấy phía trước có một ngôi nhà màu trắng. Một ngôi nhà nằm giữa mênh mông vườn quýt, tôi thầm nghĩ. Con đường trước mặt rẽ làm hai nhánh. Tôi rẽ trái ở chỗ gần ngôi nhà màu trắng, quay nhìn lại phía sau thì thấy một cô gái mặc váy màu đỏ đang đi lên. Làn da thẫm màu của đôi chân lộ ra dưới gấu váy. Bàn chân xỏ trong đôi dép rơm đang chầm chậm tiến về phía tôi. Mấy cánh hoa anh đào núi còn vương trên mái tóc. Và sau lưng cô gái, nắng lấp lánh trên mặt biển đằng xa.
Ði hết con đường dốc thì đến một đỉnh gò tương đối bằng phẳng. Phía Bắc là ngọn núi mùa xuân với cây cối xanh rì. Có lẽ đây chính là ngọn núi mà lúc nãy tôi đã ngắm từ phòng trọ. Phía Nam là một khoảng đất có bề rộng chừng năm mươi mét, hình như là một mảnh nương. Nối tiếp mảnh đất này là một sườn núi bị sạt lở. Dưới chỗ đất sạt lở là những đám quýt mà tôi mới đi qua. Còn phía bên kia ngôi làng ở đằng xa tất nhiên chỉ còn là mênh mông mặt biển.
Có rất nhiều đường đi ở quanh đây. Những con đường cứ nhập vào rồi lại rẽ ra, nên tôi chẳng xác định được đâu mới là đường chính. Chỗ nào cũng có thể là đường đi, nhưng đồng thời chẳng có đường nào ra hồn cả. Chỉ là những mảng đất trống màu đỏ sậm lộ ra lác đác trên nền cỏ, chẳng phân biệt được mảng nào nối với đường nào. Ðúng là một sự rối rắm thú vị.
Tôi đi loanh quanh trên nền cỏ tìm một chỗ khả dĩ để ngồi xuống nghỉ chân. Cái phong cảnh có vẻ đầy hứa hẹn cho một bức tranh đẹp khi nhìn từ phòng trọ giờ đây trở nên rời rạc hẳn. Màu sắc cũng nhạt đi. Lúc vẩn vơ đi lại trên thảm cỏ, cảm hứng vẽ tranh trong tôi đã biến mất không biết tự khi nào. Ðã không muốn vẽ thì việc tìm chỗ ngồi cũng chẳng cần thiết nữa, nên tôi cứ ngồi tạm xuống chỗ mình vừa đặt chân đến. Khi buông người ngồi phịch xuống, tôi mới chợt nhận ra mình vừa làm vỡ tung một lớp khói mù tỏa trên mặt đất do ánh nắng mùa xuân thấm sâu vào lớp cỏ.
Thuở nhỏ tôi đã từng lấy một cành lê hoa trà đang có cả lá và hoa về đẽo gọt thành một cái ống đựng bút có hình dáng vui mắt. Tôi cắm những cây bút rẻ tiền vào đó rồi đặt chiếc ống đựng bút với những ngọn bút lấp ló trong mớ hoa lá lên bàn và cảm thấy hết sức thú vị. Cả ngày hôm đó tôi chỉ chú tâm vào chiếc ống đựng bút của mình, kể cả khi đi ngủ. Sáng hôm sau, vừa mở mắt là tôi bật ngay dậy chạy đến bên bàn. Cái ống đựng bút phơi ra trước mắt tôi những chiếc lá khô quắt và những bông hoa héo rũ. Chỉ có đầu ngọn bút là vẫn sáng lấp lánh. Sao một cành hoa tươi đẹp thế chỉ qua có một đêm mà đã khô héo nhỉ? Nỗi thắc mắc không được giải đáp lúc đó cứ mãi ám ảnh tôi. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy hồi đó đúng là mình ngây thơ trong trẻo thật.
Những bông lê hoa trà lọt vào tầm mắt khi tôi nằm xuống là bạn tri kỉ của tôi hai mươi năm về trước. Khi ngắm chúng, tôi thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng, thanh thản hẳn. Và tôi lại có cảm hứng làm thơ.
Tôi cứ nằm mà suy nghĩ. Rồi ghi từng câu thơ làm được vào trong cuốn sổ tay. Chẳng mấy chốc đã xong một bài. Rồi tôi đọc lại bài thơ mới làm xong.
Ra đi lòng ngổn ngang
Gió xuân vờn nếp áo
Cỏ xanh vệt bánh xe
Sương mù giăng khắp lối
Dừng chân tự ngắm mình
Ánh sáng soi rạng rỡ
Chim oanh ca ríu rít
Hoa đào lả tả rơi
Ðề thơ trước cổng chùa:
“Cuối đường là đồng rộng”
Dạ sầu chất ngất mây
Cánh chim lướt ngang trời
Bao cảm xúc khôn nguôi
Quên chuyện đời chốc lát
Ba mươi đã chớm già
Kìa nắng lại bừng soi
Thong dong cùng mây gió
Hương thơm lẩn quất hoài...
Ôi xong rồi! Mình đã làm được một bài thơ! Nằm ngắm cây lê hoa trà, tôi đã quên cuộc sống đời thường để tìm được nguồn cảm xúc. Dù bài thơ không nói đến lê hoa trà, không có cảnh biển khơi. Chỉ cần thể hiện được cảm xúc là ổn cả. Tôi khe khẽ reo lên vì sung sướng, và chợt giật mình khi nghe tiếng hắng giọng “E hèm!” ngay bên cạnh.
Tôi trở mình nhìn về phía có tiếng động, thì thấy một người đàn ông vừa đi quanh cái gò nhô ra bên sườn núi, rồi hiện ra từ trong đám cây rừng.
Người đàn ông đội một chiếc mũ phớt màu nâu. Tôi nhìn thấy đôi mắt anh ta dưới vành mũ đội nghiêng hơi méo mó. Tôi không nhìn rõ lắm, nhưng hình như ánh mắt hơi mệt mỏi. Trang phục của anh ta thì khó mà tả được. Một chiếc quần kẻ sọc màu xanh đậm bó sát đùi và đôi guốc mộc dưới chân. Và nếu nhìn vào bộ râu xồm xoàm không cắt tỉa thì có thể đoán anh ta là du sĩ.
Tôi cứ tưởng người đàn ông kia đi xuống núi theo con đường dốc, không ngờ anh ta quay trở lại sau khúc quanh. Cứ tưởng anh ta sẽ khuất bóng theo đường cũ, nhưng lại không phải vậy. Anh ta cứ đi loanh quanh mãi. Trừ khi đến đây để mà đi dạo, không ai lại cứ đi loanh quanh theo kiểu đó. Nhưng dáng vẻ này khó có thể là một người đang tản bộ. Và cũng khó tin là anh ta sống ở gần đây. Thỉnh thoảng người đàn ông dừng lại. Nghiêng tai nghe ngóng. Rồi quay nhìn xung quanh. Hình như anh ta đang có điều gì ưu tư lắm. Cũng có thể là đang chờ một người nào đã hẹn. Nói chung là tôi không thể nào đoán được.
Chương 12.2
Nhưng tôi không thể nào rời mắt khỏi người đàn ông lạ. Không phải vì tôi thấy sợ, mà cũng chẳng phải vì tôi muốn vẽ tranh. Chỉ đơn giản là mắt tôi cứ bị hút về phía người lạ ấy. Tôi cứ nhìn theo anh ta từ phải sang trái, rồi lại từ trái sang phải. Rồi bất ngờ anh ta đứng sững lại. Và một người nữa xuất hiện ngay sau đó.
Hai người có vẻ nhận ra nhau. Rồi cả hai cùng tiến lại gần. Khung cảnh tôi quan sát dần dần thu hẹp lại, rồi cuối cùng chỉ còn tập trung vào một điểm trên trảng cỏ. Giờ đây hai người đang đứng đối diện, rất gần nhau. Sau lưng họ là cảnh đồi núi mùa xuân. Trước mặt là biển cả.
Dĩ nhiên người đàn ông chính là du sĩ nọ. Còn người đứng đối diện với anh ta? Ðó là một cô gái. Chính là nàng Nami.
Vừa nhìn thấy nàng Nami, tôi nhớ ngay đến con dao nhỏ đã nhìn thấy trên tay cô lúc sáng. Biết đâu cô vẫn giấu con dao trong chiếc áo? Tôi thầm nghĩ và bất giác rùng mình ớn lạnh, tuy rằng đã quyết tâm từ bỏ những cảm xúc đời thường.
Họ cứ đứng nhìn nhau hồi lâu, sắc diện không thay đổi. Dường như cả hai đều không hề nhúc nhích. Có thể họ đang nói với nhau điều gì đó, nhưng tôi chẳng nghe được tiếng nào. Một lát sau, tôi thấy người đàn ông lặng lẽ cúi đầu. Còn cô gái thì quay nhìn về phía ngọn núi. Tôi không nhìn thấy gương mặt cô.
Có tiếng chim oanh đang hót trên ngọn núi. Hình như cô gái đang lắng tai nghe. Ðược một lúc thì người đàn ông ngẩng đầu lên và xoay người ra phía sau lưng. Thật lạ lùng! Thoáng chốc cô gái đã xoay người nhìn thẳng về phía biển. Chỗ thắt lưng cô hình như đang ló ra một chiếc cán dao. Người đàn ông bước đi, vẻ ung dung, vững vàng. Cô gái, chân mang dép rơm, chạy lúp xúp đuổi theo. Người đàn ông dừng lại. Chẳng biết có phải vì cô đã cất tiếng gọi không? Rồi khi người đàn ông quay lại thì, ngay lập tức, cô gái đưa tay phải lên ngang chỗ thắt lưng. Ồ, nguy hiểm quá!
Nhưng cái mà cô rút ra không phải là một con dao như tôi nghĩ. Ðó là một cái gói nhỏ bằng vải, trông giống như cái ví. Cô đưa cái gói cho người đàn ông. Bên dưới cánh tay trắng ngần là một sợi dây dài phất phơ trong gió.
Một chân cô bước về phía trước, hơi rướn người một chút khi đưa cái gói ra. Màu vải tím nổi bật trên cánh tay trắng muốt. Chỉ riêng hình ảnh ấy cũng đã tạo thành một bức chân dung tuyệt đẹp. Bề mặt của chiếc túi màu tím nhạt rất hợp với thế đứng xoay nghiêng của người đàn ông đang cách cô gái chỉ chừng vài centimet. “Gần mà xa”, có lẽ đó là câu nói phù hợp nhất để miêu tả hai người trong khoảnh khắc này. Cô gái như muốn níu người đối diện về phía mình, còn người đàn ông lại như muốn lùi ra để tránh cô. Nhưng thực ra thì họ chẳng hề níu kéo mà cũng chẳng tránh né gì nhau. Mối duyên của họ sắp đến hồi chấm dứt, với cái túi vải màu tím đang được chìa ra trước mắt kia.
Nếu ta nhìn như đang ngắm một bức tranh, thì hình ảnh hai người với dáng vẻ hài hòa tuyệt đẹp, nhưng vẻ mặt và trang phục thì khác biệt đến mức đối chọi nhau lại càng thêm thi vị. Một bên là người đàn ông có dáng người đậm chắc, râu rậm. Bên kia là cô gái mảnh mai nhưng khỏe khoắn với ngấn cổ cao và bờ vai thon thả. Người đàn ông mang guốc mộc xoay người về phía cô gái với vẻ cục cằn. Còn cô gái mỏng manh, trong bộ áo vải tơ mặc ngày thường vẫn dịu dàng và rạng rỡ, đang đứng hơi nghiêng về phía sau. Người đàn ông thì đội chiếc mũ nhàu nhĩ, quần sọc xanh bó sát đùi, trong khi cô gái thì mái tóc bồng bềnh buông xuống ngang lưng, như thể đang cháy lên trong quầng sáng mờ ảo những tia nắng phản xạ từ mặt đất, và thấp thoáng sau làn tóc là chiếc obi bóng loáng may bằng vải lụa đen, thể hiện một vẻ đẹp rạng ngời của tuổi thanh xuân đầy sức sống. Sự đối lập này quả là một chủ đề thú vị cho một bức họa thành công! Người đàn ông đưa tay ra cầm lấy chiếc túi vải. Và sự cân bằng tinh tế giữa hai người - một bên níu kéo và một bên miễn cưỡng - bị phá vỡ trong thoáng chốc. Cô gái giờ đã thôi níu kéo. Và người đàn ông cũng không còn bị giằng co nữa. Thì ra trạng thái tâm lý có thể chi phối cấu trúc của bức tranh đến vậy! Là họa sĩ nhưng trước đây tôi chẳng chú ý đến điều này.
Hai người rẽ về hai hướng khác nhau. Một người bên trái và người kia bên phải. Sự ràng buộc giữa hai người không còn nữa, nên cảm hứng vẽ tranh cũng phân tán mất rồi. Khi đến chỗ bìa rừng, người đàn ông ngoái đầu nhìn lại. Còn cô gái không một lần nào quay lại phía sau lưng. Cô cứ xăm xăm bước về phía tôi, rồi chẳng mấy chốc cô và tôi giáp mặt.
- Ồ, anh! Anh họa sĩ!
Cô thốt lên. Sao cô lại nhìn thấy tôi lúc này cơ chứ?
- Chuyện gì vậy?
Tôi hỏi và ngước nhìn cây lê hoa trà. Chiếc nón rơi xuống cỏ.
- Anh đến đây làm gì thế? - Tôi nằm đây làm thơ.
- Xạo! Anh đã thấy hết chuyện lúc nãy rồi, có phải không?
- Chuyện lúc nãy ư? Chuyện lúc nãy là chuyện gì?... Ừ..., thì tôi cũng có thấy thoáng qua...
Cô bật cười:
- Không cần phải thấy thoáng qua đâu! Anh thấy rõ mọi chuyện thì cũng chẳng hề gì!
- Ðúng là tôi thấy rõ mọi chuyện thật!
- Thì anh cứ việc nhìn! Mà này, anh đến đây một chút đi. Ðến chỗ cây lê hoa trà này một chút nào.
Tôi ngoan ngoãn nghe theo cô, đến dưới gốc cây lê hoa trà cô chỉ.
- Lại có việc gì dưới cây lê hoa trà này nữa sao?
- Không có gì. Tôi chỉ đang định đi về thôi.
- Vậy ta cùng về nhé!
- Ừ, đi nào!
Và tôi lại ngoan ngoãn nghe theo. Tôi trở lại cây lê hoa trà lúc nãy, đội nón lên, thu dọn họa cụ rồi cùng với cô nàng Nami trở xuống.
- Anh có vẽ được bức nào không?
- Tôi bỏ ý định vẽ rồi!
- Từ khi đến đây anh chẳng vẽ được bức nào, có đúng không?
- Ừ, đúng thế thật.
- Nhưng, anh đến đây để vẽ mà lại không vẽ được bức nào. Thế có khó chịu không?
- Có gì mà khó chịu?
- Thế à? Sao lại không cơ chứ?
- Kiểu gì thì cũng khó chịu hết! Vẽ hay không vẽ thì cũng khó chịu như nhau mà!
- Thế thì hay phết đấy! Hì hì..., anh đúng là người quá vô tư nhỉ!
- Nếu không vô tư thì tìm đến chỗ này để làm gì cơ chứ?
- Thôi đi! Nếu mà không vô tư thì sống để làm gì, dù có ở nơi nào đi nữa! Như tôi đây này, mới bị người ta nhìn sau lưng mà chẳng thấy xấu hổ, chẳng phải nghĩ ngợi gì hết cả.
- Thì có cần phải nghĩ ngợi gì đâu!
- Thế à? Vậy anh nghĩ người đàn ông lúc nãy là ai đấy?
- Xem nào..., anh ta chắc hẳn không phải là người có nhiều tiền.
Cô gái bật cười:
- Ðúng đấy. Anh chắc phải là một thầy bói cừ khôi! Anh ta nghèo lắm, bây giờ túng thiếu nên phải đến gặp tôi để lấy tiền!
- Thật thế sao? Mà anh ta từ đâu đến vậy?
- Từ dưới phố ấy.
- Thế thì xa quá nhỉ! Rồi anh ta lại đi đâu?
- À... có lẽ là sẽ đi Mãn Châu đấy.
- Ði đến đấy làm gì?
- Làm gì à? Thì để kiếm tiền. Hoặc là để chết. Tôi làm sao biết được.
Tôi đưa mắt nhìn cô. Một nét cười vừa thoáng nhẹ vành môi, rồi lập tức biến mất. Tôi không hiểu cô muốn nói gì.
- Người đàn ông đó là chồng tôi đấy!
Nhanh như một tia chớp, cô giáng vào tôi một cú choáng váng cả mặt mày. Tôi bất ngờ đến nỗi cứng cả họng. Tôi cũng không định hỏi anh ta là ai, mà cũng không nghĩ rằng cô đem cả những chuyện như thế ra nói cho mình biết!
- Anh thấy sao? Bất ngờ quá phải không? Cô gái hỏi.
- Ðúng là hơi bất ngờ thật đấy.
- Không phải chồng tôi hiện giờ đâu. Chồng cũ ấy.
- Thì ra thế. Vậy là...
- Chuyện chỉ có thế thôi.
- Thế à?...Ngôi nhà màu trắng ở chỗ trồng quýt đằng kia có vị trí đẹp quá nhỉ! Nhà ai thế?
- Nhà của anh tôi đấy. Tiện đường ta ghé vào một chút.
- Cô có việc gì ở đó không?
- Ừ, anh ấy có nhờ tôi chút việc.
- Vậy thì tôi sẽ ghé cùng cô.
Khi đến chỗ đầu con dốc dẫn lên núi, chúng tôi không đi thẳng xuống làng mà rẽ phải, rồi đi khoảng gần một trăm mét nữa thì đến trước cổng ngôi nhà. Chúng tôi vào cổng nhưng không bước lên nhà ngay mà đi vòng ra phía khu vườn. Cô gái chẳng hề tỏ ra dè dặt mà cứ thoăn thoắt bước đi, nên tôi cũng theo cô xăm xăm bước tới. Trong khu vườn mở ra hướng Nam có chừng ba bốn cây cọ, và ngay bên kia bức tường bằng đất là đám quýt trải dài.
Cô gái ngồi ngay xuống chỗ mép hành lang, bảo:
- Cảnh đẹp đấy chứ. Anh cứ nhìn mà xem.
- Ừ nhỉ. Ðẹp thật đấy.
Bên trong cánh cửa im phăng phắc, hình như không có người. Cô gái cũng chẳng cất tiếng gọi ai, chỉ ngồi điềm nhiên nhìn ra vườn quýt. Tôi cảm thấy thật là khó hiểu! Chẳng biết cô có việc gì mà phải đến đây? Rốt cuộc rồi cũng chẳng có chuyện gì để mà nói nữa. Hai chúng tôi cùng ngồi yên lặng nhìn ra vườn quýt. Trước mắt chúng tôi, đám lá quýt tắm trong ánh mặt trời giữa trưa đang rọi thẳng xuống sườn núi chừng như đang bốc hơi, lấp lánh sáng. Một lúc lâu, bỗng có tiếng gà kêu to từ chỗ nhà kho ở phía sau.
- Trời ạ, trưa mất rồi! Tôi có việc mà quên mất!... Kyuichi, Kyuichi!
Cô vừa cất tiếng gọi vừa đứng lên, đẩy nhẹ để mở cánh cửa trượt. Gian phòng rộng chừng mười chiếu bên trong trống hoác. Hai bức tranh cuộn thuộc phong cách Kano treo hờ hững ở góc nhà.
- Kyuichi!
Cuối cùng cũng có tiếng đáp vọng lên từ phía nhà kho. Rồi tiếng chân bước dừng lại phía bên kia vách trượt. Khi tấm vách vừa trượt mở, tôi thấy một thanh đoản kiếm trong vỏ bao màu trắng vừa được ném xuống tấm chiếu trải sàn.
- Quà chia tay của bác cho cậu đấy!
Không biết cô đã cho tay vào thắt lưng lúc nào mà tôi không hề nhìn thấy. Thanh đoản kiếm nảy lên mấy lần rồi lặng lẽ lăn trên chiếu đến dưới chân Kyuichi. Hình như kiếm gắn vào bao hơi lỏng lẻo, nên phần lưỡi kiếm ló ra khoảng vài phân, để lộ ánh thép lạnh lẽo đang lóe sáng.
Nhưng tôi không thể nào rời mắt khỏi người đàn ông lạ. Không phải vì tôi thấy sợ, mà cũng chẳng phải vì tôi muốn vẽ tranh. Chỉ đơn giản là mắt tôi cứ bị hút về phía người lạ ấy. Tôi cứ nhìn theo anh ta từ phải sang trái, rồi lại từ trái sang phải. Rồi bất ngờ anh ta đứng sững lại. Và một người nữa xuất hiện ngay sau đó.
Hai người có vẻ nhận ra nhau. Rồi cả hai cùng tiến lại gần. Khung cảnh tôi quan sát dần dần thu hẹp lại, rồi cuối cùng chỉ còn tập trung vào một điểm trên trảng cỏ. Giờ đây hai người đang đứng đối diện, rất gần nhau. Sau lưng họ là cảnh đồi núi mùa xuân. Trước mặt là biển cả.
Dĩ nhiên người đàn ông chính là du sĩ nọ. Còn người đứng đối diện với anh ta? Ðó là một cô gái. Chính là nàng Nami.
Vừa nhìn thấy nàng Nami, tôi nhớ ngay đến con dao nhỏ đã nhìn thấy trên tay cô lúc sáng. Biết đâu cô vẫn giấu con dao trong chiếc áo? Tôi thầm nghĩ và bất giác rùng mình ớn lạnh, tuy rằng đã quyết tâm từ bỏ những cảm xúc đời thường.
Họ cứ đứng nhìn nhau hồi lâu, sắc diện không thay đổi. Dường như cả hai đều không hề nhúc nhích. Có thể họ đang nói với nhau điều gì đó, nhưng tôi chẳng nghe được tiếng nào. Một lát sau, tôi thấy người đàn ông lặng lẽ cúi đầu. Còn cô gái thì quay nhìn về phía ngọn núi. Tôi không nhìn thấy gương mặt cô.
Có tiếng chim oanh đang hót trên ngọn núi. Hình như cô gái đang lắng tai nghe. Ðược một lúc thì người đàn ông ngẩng đầu lên và xoay người ra phía sau lưng. Thật lạ lùng! Thoáng chốc cô gái đã xoay người nhìn thẳng về phía biển. Chỗ thắt lưng cô hình như đang ló ra một chiếc cán dao. Người đàn ông bước đi, vẻ ung dung, vững vàng. Cô gái, chân mang dép rơm, chạy lúp xúp đuổi theo. Người đàn ông dừng lại. Chẳng biết có phải vì cô đã cất tiếng gọi không? Rồi khi người đàn ông quay lại thì, ngay lập tức, cô gái đưa tay phải lên ngang chỗ thắt lưng. Ồ, nguy hiểm quá!
Nhưng cái mà cô rút ra không phải là một con dao như tôi nghĩ. Ðó là một cái gói nhỏ bằng vải, trông giống như cái ví. Cô đưa cái gói cho người đàn ông. Bên dưới cánh tay trắng ngần là một sợi dây dài phất phơ trong gió.
Một chân cô bước về phía trước, hơi rướn người một chút khi đưa cái gói ra. Màu vải tím nổi bật trên cánh tay trắng muốt. Chỉ riêng hình ảnh ấy cũng đã tạo thành một bức chân dung tuyệt đẹp. Bề mặt của chiếc túi màu tím nhạt rất hợp với thế đứng xoay nghiêng của người đàn ông đang cách cô gái chỉ chừng vài centimet. “Gần mà xa”, có lẽ đó là câu nói phù hợp nhất để miêu tả hai người trong khoảnh khắc này. Cô gái như muốn níu người đối diện về phía mình, còn người đàn ông lại như muốn lùi ra để tránh cô. Nhưng thực ra thì họ chẳng hề níu kéo mà cũng chẳng tránh né gì nhau. Mối duyên của họ sắp đến hồi chấm dứt, với cái túi vải màu tím đang được chìa ra trước mắt kia.
Nếu ta nhìn như đang ngắm một bức tranh, thì hình ảnh hai người với dáng vẻ hài hòa tuyệt đẹp, nhưng vẻ mặt và trang phục thì khác biệt đến mức đối chọi nhau lại càng thêm thi vị. Một bên là người đàn ông có dáng người đậm chắc, râu rậm. Bên kia là cô gái mảnh mai nhưng khỏe khoắn với ngấn cổ cao và bờ vai thon thả. Người đàn ông mang guốc mộc xoay người về phía cô gái với vẻ cục cằn. Còn cô gái mỏng manh, trong bộ áo vải tơ mặc ngày thường vẫn dịu dàng và rạng rỡ, đang đứng hơi nghiêng về phía sau. Người đàn ông thì đội chiếc mũ nhàu nhĩ, quần sọc xanh bó sát đùi, trong khi cô gái thì mái tóc bồng bềnh buông xuống ngang lưng, như thể đang cháy lên trong quầng sáng mờ ảo những tia nắng phản xạ từ mặt đất, và thấp thoáng sau làn tóc là chiếc obi bóng loáng may bằng vải lụa đen, thể hiện một vẻ đẹp rạng ngời của tuổi thanh xuân đầy sức sống. Sự đối lập này quả là một chủ đề thú vị cho một bức họa thành công! Người đàn ông đưa tay ra cầm lấy chiếc túi vải. Và sự cân bằng tinh tế giữa hai người - một bên níu kéo và một bên miễn cưỡng - bị phá vỡ trong thoáng chốc. Cô gái giờ đã thôi níu kéo. Và người đàn ông cũng không còn bị giằng co nữa. Thì ra trạng thái tâm lý có thể chi phối cấu trúc của bức tranh đến vậy! Là họa sĩ nhưng trước đây tôi chẳng chú ý đến điều này.
Hai người rẽ về hai hướng khác nhau. Một người bên trái và người kia bên phải. Sự ràng buộc giữa hai người không còn nữa, nên cảm hứng vẽ tranh cũng phân tán mất rồi. Khi đến chỗ bìa rừng, người đàn ông ngoái đầu nhìn lại. Còn cô gái không một lần nào quay lại phía sau lưng. Cô cứ xăm xăm bước về phía tôi, rồi chẳng mấy chốc cô và tôi giáp mặt.
- Ồ, anh! Anh họa sĩ!
Cô thốt lên. Sao cô lại nhìn thấy tôi lúc này cơ chứ?
- Chuyện gì vậy?
Tôi hỏi và ngước nhìn cây lê hoa trà. Chiếc nón rơi xuống cỏ.
- Anh đến đây làm gì thế? - Tôi nằm đây làm thơ.
- Xạo! Anh đã thấy hết chuyện lúc nãy rồi, có phải không?
- Chuyện lúc nãy ư? Chuyện lúc nãy là chuyện gì?... Ừ..., thì tôi cũng có thấy thoáng qua...
Cô bật cười:
- Không cần phải thấy thoáng qua đâu! Anh thấy rõ mọi chuyện thì cũng chẳng hề gì!
- Ðúng là tôi thấy rõ mọi chuyện thật!
- Thì anh cứ việc nhìn! Mà này, anh đến đây một chút đi. Ðến chỗ cây lê hoa trà này một chút nào.
Tôi ngoan ngoãn nghe theo cô, đến dưới gốc cây lê hoa trà cô chỉ.
- Lại có việc gì dưới cây lê hoa trà này nữa sao?
- Không có gì. Tôi chỉ đang định đi về thôi.
- Vậy ta cùng về nhé!
- Ừ, đi nào!
Và tôi lại ngoan ngoãn nghe theo. Tôi trở lại cây lê hoa trà lúc nãy, đội nón lên, thu dọn họa cụ rồi cùng với cô nàng Nami trở xuống.
- Anh có vẽ được bức nào không?
- Tôi bỏ ý định vẽ rồi!
- Từ khi đến đây anh chẳng vẽ được bức nào, có đúng không?
- Ừ, đúng thế thật.
- Nhưng, anh đến đây để vẽ mà lại không vẽ được bức nào. Thế có khó chịu không?
- Có gì mà khó chịu?
- Thế à? Sao lại không cơ chứ?
- Kiểu gì thì cũng khó chịu hết! Vẽ hay không vẽ thì cũng khó chịu như nhau mà!
- Thế thì hay phết đấy! Hì hì..., anh đúng là người quá vô tư nhỉ!
- Nếu không vô tư thì tìm đến chỗ này để làm gì cơ chứ?
- Thôi đi! Nếu mà không vô tư thì sống để làm gì, dù có ở nơi nào đi nữa! Như tôi đây này, mới bị người ta nhìn sau lưng mà chẳng thấy xấu hổ, chẳng phải nghĩ ngợi gì hết cả.
- Thì có cần phải nghĩ ngợi gì đâu!
- Thế à? Vậy anh nghĩ người đàn ông lúc nãy là ai đấy?
- Xem nào..., anh ta chắc hẳn không phải là người có nhiều tiền.
Cô gái bật cười:
- Ðúng đấy. Anh chắc phải là một thầy bói cừ khôi! Anh ta nghèo lắm, bây giờ túng thiếu nên phải đến gặp tôi để lấy tiền!
- Thật thế sao? Mà anh ta từ đâu đến vậy?
- Từ dưới phố ấy.
- Thế thì xa quá nhỉ! Rồi anh ta lại đi đâu?
- À... có lẽ là sẽ đi Mãn Châu đấy.
- Ði đến đấy làm gì?
- Làm gì à? Thì để kiếm tiền. Hoặc là để chết. Tôi làm sao biết được.
Tôi đưa mắt nhìn cô. Một nét cười vừa thoáng nhẹ vành môi, rồi lập tức biến mất. Tôi không hiểu cô muốn nói gì.
- Người đàn ông đó là chồng tôi đấy!
Nhanh như một tia chớp, cô giáng vào tôi một cú choáng váng cả mặt mày. Tôi bất ngờ đến nỗi cứng cả họng. Tôi cũng không định hỏi anh ta là ai, mà cũng không nghĩ rằng cô đem cả những chuyện như thế ra nói cho mình biết!
- Anh thấy sao? Bất ngờ quá phải không? Cô gái hỏi.
- Ðúng là hơi bất ngờ thật đấy.
- Không phải chồng tôi hiện giờ đâu. Chồng cũ ấy.
- Thì ra thế. Vậy là...
- Chuyện chỉ có thế thôi.
- Thế à?...Ngôi nhà màu trắng ở chỗ trồng quýt đằng kia có vị trí đẹp quá nhỉ! Nhà ai thế?
- Nhà của anh tôi đấy. Tiện đường ta ghé vào một chút.
- Cô có việc gì ở đó không?
- Ừ, anh ấy có nhờ tôi chút việc.
- Vậy thì tôi sẽ ghé cùng cô.
Khi đến chỗ đầu con dốc dẫn lên núi, chúng tôi không đi thẳng xuống làng mà rẽ phải, rồi đi khoảng gần một trăm mét nữa thì đến trước cổng ngôi nhà. Chúng tôi vào cổng nhưng không bước lên nhà ngay mà đi vòng ra phía khu vườn. Cô gái chẳng hề tỏ ra dè dặt mà cứ thoăn thoắt bước đi, nên tôi cũng theo cô xăm xăm bước tới. Trong khu vườn mở ra hướng Nam có chừng ba bốn cây cọ, và ngay bên kia bức tường bằng đất là đám quýt trải dài.
Cô gái ngồi ngay xuống chỗ mép hành lang, bảo:
- Cảnh đẹp đấy chứ. Anh cứ nhìn mà xem.
- Ừ nhỉ. Ðẹp thật đấy.
Bên trong cánh cửa im phăng phắc, hình như không có người. Cô gái cũng chẳng cất tiếng gọi ai, chỉ ngồi điềm nhiên nhìn ra vườn quýt. Tôi cảm thấy thật là khó hiểu! Chẳng biết cô có việc gì mà phải đến đây? Rốt cuộc rồi cũng chẳng có chuyện gì để mà nói nữa. Hai chúng tôi cùng ngồi yên lặng nhìn ra vườn quýt. Trước mắt chúng tôi, đám lá quýt tắm trong ánh mặt trời giữa trưa đang rọi thẳng xuống sườn núi chừng như đang bốc hơi, lấp lánh sáng. Một lúc lâu, bỗng có tiếng gà kêu to từ chỗ nhà kho ở phía sau.
- Trời ạ, trưa mất rồi! Tôi có việc mà quên mất!... Kyuichi, Kyuichi!
Cô vừa cất tiếng gọi vừa đứng lên, đẩy nhẹ để mở cánh cửa trượt. Gian phòng rộng chừng mười chiếu bên trong trống hoác. Hai bức tranh cuộn thuộc phong cách Kano treo hờ hững ở góc nhà.
- Kyuichi!
Cuối cùng cũng có tiếng đáp vọng lên từ phía nhà kho. Rồi tiếng chân bước dừng lại phía bên kia vách trượt. Khi tấm vách vừa trượt mở, tôi thấy một thanh đoản kiếm trong vỏ bao màu trắng vừa được ném xuống tấm chiếu trải sàn.
- Quà chia tay của bác cho cậu đấy!
Không biết cô đã cho tay vào thắt lưng lúc nào mà tôi không hề nhìn thấy. Thanh đoản kiếm nảy lên mấy lần rồi lặng lẽ lăn trên chiếu đến dưới chân Kyuichi. Hình như kiếm gắn vào bao hơi lỏng lẻo, nên phần lưỡi kiếm ló ra khoảng vài phân, để lộ ánh thép lạnh lẽo đang lóe sáng.
Chương 13
Chúng tôi tiễn Kyuichi đến ga Yoshida theo đường sông. Trên thuyền, ngoài người được tiễn là Kyuichi, có những người đi tiễn là ông cụ, cô Nami, anh trai cô, anh Genbei giúp mang hành lý và cuối cùng là tôi. Tất nhiên tôi chỉ là người được mời đi theo cùng.
Tuy chỉ là đi theo nhưng khi được mời thì tôi rất sẵn lòng. Ði mà không cần biết là đi để làm gì. Trong lúc đi tìm sự thanh thản như thế này thì không có gì phải dè dặt cả. Chiếc thuyền của chúng tôi thuộc loại đáy phẳng, giống như một chiếc bè được gắn thêm thanh vịn ở hai bên. Ông cụ ngồi ở giữa. Tôi và cô Nami ngồi ở phía đuôi thuyền. Kyuichi và ông anh họ ngồi đằng mũi. Anh Genbei thì ngồi tách riêng, bên cạnh mớ hành lý.
- Kyuichi, cậu thích ra trận hay là không thích? Nami hỏi.
- Chưa ra thì chưa biết. Chắc hẳn là vất vả, nhưng biết đâu cũng có niềm vui - Kyuichi trả lời. Cậu vẫn chưa biết gì về chiến trận.
- Dù vất vả đến đâu thì cũng phải hết lòng vì nước - Ông cụ bảo.
- Khi nhận được thanh đoản kiếm này, hẳn là cậu cũng muốn ra trận để biết thế nào là chiến tranh chứ nhỉ?
Cô Nami lại hỏi một câu hỏi lạ lùng. Kyuichi khẽ gật đầu:
- Vâng ạ!
Ông cụ vuốt râu, cười. Còn ông anh họ vẫn làm mặt tỉnh khô.
- Cứ thản nhiên như thế này thì ra trận làm sao được!
Cô Nami táo tợn ghé sát gương mặt trắng xanh vào trước mặt Kyuichi. Kyuichi và ông anh họ khẽ đưa mắt nhìn nhau.
- Nami mà làm lính thì mới là dũng cảm!
Ðó là câu đầu tiên mà ông anh cả nói với cô em gái Nami. Nghe giọng nói thì có thể biết đó không phải là kiểu nói đùa.
- Em á? Em mà làm lính á? Nếu mà được vào lính thì em đã vào từ lâu rồi! Mà cũng đã chết từ lâu rồi! Kyuichi, cậu cũng nên chết ngoài chiến trường đi. Nếu mà còn sống trở về thì sẽ gặp khối chuyện rườm tai đấy!
- Nói năng kiểu gì thế hả?... Này, này! Cháu phải chiến thắng mà trở về trong khúc khải hoàn ca đấy nhé! Không phải cứ chết ngoài chiến trận là hết lòng vì đất nước đâu! Bác vẫn còn sống hai, ba mươi năm nữa. Bác cháu ta sẽ còn gặp lại!
Ông cụ nói mấy tiếng cuối cùng với giọng nghẹn ngào, đứt quãng, rồi chìm trong nước mắt. Chỉ có anh con trai cả là không bị xúc động. Kyuichi không nói gì, chỉ quay nghiêng đầu nhìn về phía bờ sông.
Bờ sông có một cây liễu già. Dưới gốc liễu buộc một chiếc thuyền câu nho nhỏ. Một người đàn ông đang chăm chú nhìn vào sợi dây câu trước mặt. Khi thuyền chúng tôi rẽ sóng chầm chậm lướt qua, người đàn ông bất chợt ngước lên, bắt gặp ánh mắt Kyuichi. Ánh mắt hai người gặp nhau mà chẳng có biểu hiện gì. Người đàn ông đang mải nghĩ về chuyện câu cá. Còn Kyuichi lúc này chẳng có bụng dạ nào nghĩ đến chuyện cá tôm. Thuyền chúng tôi cứ lặng lẽ lướt qua người đàn ông trên chiếc xuồng câu ấy.
Tôi không biết trong vòng một phút thì có mấy trăm người đi qua cầu Nihonbashi[1]. Nếu mà ta ra đứng giữa cầu để hỏi thăm từng người một về những ẩn ức trong đời sống cá nhân, hẳn ta sẽ kinh ngạc nhận ra rằng cuộc sống vô thường này là không thể nào chịu nổi! Chính vì chúng ta cứ nhìn nhau như là những người không quen biết nên mới có người tình nguyện đứng phất cờ tín hiệu cho tàu chạy qua cầu. Người đàn ông câu cá nhìn gương mặt Kyuichi chừng như sắp khóc mà không thấy thắc mắc gì, đó mới là điều may mắn. Khi tôi quay nhìn lại thì vẫn thấy ông ta đang điềm nhiên ngồi nhìn chiếc phao. Và có lẽ ông ta vẫn sẽ ngồi nhìn như thế cho đến khi chiến tranh Nhật - Nga chấm dứt.
[1] Tên một chiếc cầu ở khu trung tâm Tokyo.
Dòng sông không rộng lắm. Mà lòng sông cũng không sâu. Nước sông chảy lững lờ. Chúng tôi cứ tựa vào mạn thuyền này, trôi trên mặt nước này đến tận nơi đâu? Có lẽ là cứ trôi mãi qua lúc xuân tàn, trôi đến chỗ ồn ào đông đúc - nơi mà người ta cơ hồ muốn va chạm vào nhau. Chàng thanh niên có vết đỏ giữa chân mày như một thứ dấu hiệu của chiến tranh đẫm máu này đang kéo theo cả đoàn người chúng tôi không thương tiếc. Có lẽ chúng tôi phải đi theo chàng cho đến khi chấm dứt sợi dây duyên nghiệp đã ràng buộc giữa chàng và chúng tôi không biết tự ngày tháng năm nào. Cũng như chàng vì định mệnh mà phải đi đến tận phương Bắc xa xôi, tối tăm và khốc liệt. Khi nhân duyên giữa chúng tôi chấm dứt, giống như một sợi dây đến lúc đứt rời ra, thì chỉ còn một mình chàng thanh niên bị cuốn theo định mệnh của riêng chàng. Còn chúng tôi phải chấp nhận là những người ở lại. Lúc ấy cho dù có van xin, có vật nài đến đâu thì chàng cũng không thể nào kéo chúng tôi theo được nữa.
Cảm giác vui vui khi chiếc thuyền lướt đi rất nhẹ. Cỏ rậm rạp hai bên bờ sông hình như là loại cỏ đuôi chồn. Và nhiều cây liễu mọc phía trên bãi sông. Thỉnh thoảng lại hiện lên vài ngôi nhà mái rạ thấp lè tè, cửa sổ ám đầy muội khói. Những con vịt lông trắng rải rác đó đây. Chúng vừa kêu cạc cạc vừa bơi ra giữa dòng.
Hình như có cả hoa đào trắng lấp ló giữa những cành liễu. Tiếng thoi dệt vải khua lách cách xen lẫn với tiếng hát con gái thấp thoáng vọng ra. Nhưng làn điệu của bài hát thì không nghe rõ được.
- Anh vẽ cho tôi một bức chân dung nhé!
Cô Nami đề nghị. Kyuichi và ông anh họ đang say sưa trò chuyện về quân sự. Còn ông cụ thì đang thiu thiu ngủ.
- Ừ, tôi sẽ vẽ.
Tôi nói và lấy sổ phác họa ra ghi một bài thơ:
Gió xuân lồng lộng
Xổ tung dải thắt lưng
Tên là gì nhỉ?
Tôi đưa cho cô xem bài thơ, cô cười bảo:
- Chỉ vài nét thế này thì chưa được. Anh phải vẽ đàng hoàng để thể hiện rõ hơn khí chất của tôi kia.
- Tôi cũng muốn vẽ như thế lắm. Nhưng gương mặt cô mà vẽ theo kiểu đó thì không thành một bức chân dung được.
- Anh biện luận hay đấy! Vậy thì phải làm sao mới thành một bức chân dung?
- Có gì đâu, ngay bây giờ tôi cũng có thể vẽ được mà. Chỉ có điều bức chân dung sẽ không hoàn hảo. Mà sẽ rất đáng tiếc nếu vẽ ra một bức chân dung còn thiếu sót.
- Anh nói là thiếu sót ư? Gương mặt tôi khi sinh ra đã thế thì biết làm sao được bây giờ?
- Gương mặt bẩm sinh vẫn có thể thay đổi nhiều lắm chứ!
- Ý anh nói là tự tôi làm thay đổi đấy ư?
- Ừ.
- Ðừng có nghĩ rằng tôi là phụ nữ thì ngu ngơ đấy nhé!
- Chính vì cô là phụ nữ nên mới nói ra một câu ngớ ngẩn như vậy đấy!
- Vậy thì hãy chỉ tôi xem, anh đã làm thay đổi gương mặt anh như thế nào?
- Nó vẫn thay đổi rất nhiều theo từng ngày đấy chứ.
Cô gái im lặng quay mặt đi nơi khác. Bờ sông bây giờ chỉ thấp ngang mực nước, và xa hơn nữa là cánh đồng ngút ngát trải mênh mông. Một biển hoa đỏ thắm trải rộng trong màn sương đến vô cùng, tưởng như một cơn mưa đổ xuống tự lúc nào đã hòa tan một nửa vào trong màu đỏ ấy và loang rộng mãi ra. Ngước mắt lên, tôi nhìn thấy một ngọn núi sừng sững giữa tầng không, với những đám mây mùa xuân lãng đãng giăng ngang sườn núi.
- Ngọn núi mà anh đã vượt qua kia kìa!
Cô gái giơ cánh tay trắng muốt ra ngoài mạn thuyền, chỉ về phía ngọn núi mùa xuân mờ ảo như một giấc mơ.
- Có tảng đá Tengu đâu đấy không nhỉ?
- Cái vệt màu tím bên dưới chỗ có màu xanh đậm kia kìa!
- Chỗ bóng râm đấy à?
- Bóng râm á? Tôi lại nghĩ đó là chỗ sườn núi bị trọc kia.
- Xem nó bị lõm xuống kìa. Nếu là chỗ sườn núi bị trọc thì phải có màu nâu đậm hơn chứ.
- Vậy sao? Nói chung là tảng đá Tengu có lẽ nằm ở phía sau chỗ ấy đấy.
- Nếu thế thì đoạn đường “bảy khúc quanh” nằm hơi dịch về bên trái, đúng không?
- Ðoạn đường “bảy khúc quanh” thì ở xa tít bên kia cơ. Ở tận bên ngọn núi nằm phía sau ngọn núi này nữa chứ.
- À, có lẽ thế thật. Nhưng tôi đoán là nó nằm ở chỗ đám mây mỏng kia kìa.
- Ðúng rồi, ở phía ấy đấy.
Ông cụ đang ngủ gật, khuỷu tay chống vào mạn thuyền bỗng nhiên bị trượt làm ông giật mình tỉnh giấc.
- Vẫn chưa đến nơi à?
Rồi ông duỗi người, ưỡn ngực, tay phải choàng ra phía sau, tay trái vươn thẳng ra đằng trước, rồi bật lên tiếng kêu “hư...ư...” trong lúc làm động tác của một người kéo dây cung chuẩn bị bắn. Cô gái khúc khích cười.
- Tôi quen làm thế này... - Có lẽ cụ thích môn bắn cung lắm nhỉ? - Tôi cười cười, bắt chuyện.
- Hồi còn trẻ tôi cũng kéo được loại cung to lắm đấy. Bây giờ tay vẫn còn chắc lắm.
Ông cụ vỗ vỗ vào vai trái. Phía đầu thuyền, câu chuyện về chiến tranh vẫn đang giòn giã.
Một lúc sau, thuyền chừng như đã đi vào trong phố. Tôi thấy trên một cửa quán nhậu có biển ghi “Rượu và thức nhắm”. Một quán khác có tấm màn treo cửa cũ kĩ. Rồi một cửa hàng bán gỗ. Và có tiếng xe kéo thấp thoáng vọng sang. Lũ chim én ríu rít nhào liệng trên không. Ðám vịt thì kêu cạc cạc. Ðoàn chúng tôi rời thuyền, đi về phía nhà ga.
Tôi đang bị kéo về thế giới hiện thực. Theo cách nghĩ của tôi thì thế giới hiện thực là nơi ta có thể nhìn thấy những đoàn tàu hỏa. Không có gì đặc trưng cho sự văn minh của thế kỷ hai mươi bằng tàu hỏa. Những chiếc hộp chạy rầm rập nhồi nhét bên trong cả trăm người. Chẳng có chỗ nào dành cho cảm xúc. Những con người bị nhồi nhét ấy phải di chuyển cùng một tốc độ, dừng lại cùng một nơi, và cùng tắm mình trong thứ hơi nước động cơ của đoàn tàu. Người ta bảo là “lên tàu”. Tôi thấy như thế là bị nhồi nhét. Người ta bảo là “đi tàu”. Tôi thấy là “bị áp tải”. Chẳng có cái gì chối bỏ cá tính như là thứ tàu này. Văn minh làm cho con người có thể phát huy cá tính nhờ những phương tiện nhất định, nhưng rồi cũng có những thứ phương tiện hủy hoại cá tính của con người. Kiểu văn minh hiện thời cứ như là cấp cho mỗi người một mảnh đất nhỏ xíu như nhau, rồi bảo người ta cứ tùy ý, thức hay ngủ gì trên mảnh đất ấy cũng được. Ðồng thời lại dựng lên một hàng rào thép xung quanh mảnh đất kia, không cho người ta bước ra ngoài dù chỉ là một bước. Những người sống tự do bên trong hàng rào thì cũng muốn sống tự do ở bên ngoài, đó là chuyện hiển nhiên. Vậy là người dân tội nghiệp của một đất nước văn minh phải ngày đêm rên rỉ bên trong những chấn song lạnh lẽo này. Văn minh mang đến cho con người tự do cá nhân, biến họ thành những kẻ hung dữ như mãnh hổ, rồi ném họ vào bên trong cũi sắt để bảo vệ hòa bình. Ðó không phải là hòa bình thực sự, mà là kiểu yên bình như con hổ nằm trong lồng sắt nơi thảo cầm viên lừ mắt nhìn ra cảnh vật bên ngoài. Chỉ cần một thanh sắt của lồng giam rơi xuống là tất cả sẽ tan nát ngay thôi. Rồi có lẽ chúng ta sẽ phải trải qua cuộc cách mạng lần thứ hai như ở Pháp. Mà thực ra thì cuộc cách mạng ấy đang diễn ra ngày đêm trong mỗi cá nhân. Ibsen, một nhà viết kịch ở Bắc Âu, đã đưa ra những mô tả chi tiết về tình huống xảy ra cuộc cách mạng này. Mỗi khi tôi nhìn thấy một đoàn tàu hỏa rầm rập chạy, với tất cả những con người như một đống hàng hóa bị nhồi nhét lộn xộn, khi thấy sự tương phản giữa những con người cá nhân đang khép mình đến mức co rút lại giữa toa tàu chở khách với đoàn tàu chẳng hề quan tâm đến cá tính của một ai, tôi những muốn hét lên với đám người kia rằng: “Nguy hiểm, nguy hiểm kìa! Hãy cẩn thận đề phòng nguy hiểm đấy!”. Văn minh hiện thời là kiểu văn minh đầy nguy hiểm, đến mức tưởng như thứ mùi nguy hiểm ấy xộc vào tận vào mũi mình! Mà thứ tàu hỏa cứ lao sầm sập vào khoảng không đen ngòm phía trước là một trong những điều đáng sợ!
Tôi ngồi trong quán nước trước nhà ga, vừa ngắm những chiếc bánh dẻo để trước mặt vừa nghĩ về tàu hỏa. Tôi không định viết những suy nghĩ này vào trong sổ phác họa, mà cũng không cần phải nói chuyện với ai, nên chỉ ngồi yên lặng uống trà và ăn bánh ngọt.
Ở bàn đối diện có hai người đang ngồi. Cả hai đều mang dép rơm. Một người mặc áo khoác màu đỏ. Người kia mặc chiếc quần màu xanh nhạt có miếng vá nơi đầu gối, đúng chỗ anh ta đang chống khuỷu tay.
- Chắc là không ổn nhỉ?
- Không ổn rồi.
- Nếu mà có hai cái dạ dày như con bò thì hay biết mấy!
- Còn phải nói! Nếu mà được như thế thì có bị hư một cái cũng chỉ cần cắt bỏ là xong!
Hình như hai nông dân này đang mắc bệnh dạ dày. Họ là những người không hề biết đến những ngọn gió mang mùi tanh tưởi thổi qua vùng Mãn Châu. Mà cũng không hề biết đến những điều tệ hại của cuộc sống hiện đại hóa bây giờ. Lại càng không biết đến những khái niệm như là “cách mạng”. Và họ có thể hồn nhiên nói đến chuyện mình có một hay hai cái dạ dày! Tôi rút sổ ra, phác họa chân dung của hai người đối diện.
Chuông reo keng keng. Ðã mua được vé rồi.
- Nào, đi thôi!
Nami nói và đứng dậy.
- Ôi...!
Ông cụ cũng gắng gượng đứng lên. Cả đoàn chúng tôi hàng ngũ chỉnh tề đi qua cổng soát vé, ra khu vực đường tàu. Tiếng chuông vẫn kêu to, giục giã.
Có tiếng rầm rập vọng đến, rồi con rắn khổng lồ của xã hội văn minh oằn mình trườn tới trên đường ray bóng loáng. Miệng rắn nhả ra một cụm khói đen ngòm.
- Ðến lúc phải chia tay rồi đấy - Ông cụ bảo.
- Bác gắng giữ gìn sức khỏe ạ! Kyuichi cúi đầu chào.
- Nhớ là cậu phải hy sinh đấy nhé! Nàng Nami lặp lại.
- Hành lý đầy đủ chưa? Ông anh hỏi. Con rắn khổng lồ dừng trước mặt chúng tôi. Những cánh cửa dọc bên sườn được mở ra. Người lên, kẻ xuống. Kyuichi cũng đã bước lên rồi. Chỉ còn ông cụ, anh con trưởng, Nami và tôi đứng lại dưới sân ga.
Chỉ cần con tàu lăn bánh là Kyuichi sẽ không còn thuộc về thế giới của chúng tôi. Sẽ đi về một nơi xa, xa lắm. Nơi mà người ta đang sống trong bom đạn. Và trượt ngã trong màu đỏ tươi của máu. Với những tiếng gầm rú bất tận trên trời. Kyuichi, người sắp đi về nơi xa xôi ấy, đang đứng im lặng trong toa xe nhìn về phía chúng tôi. Vậy là mối duyên của chúng tôi với chàng trai kia, người đã đưa chúng tôi từ trong núi ra đây, sắp kết thúc rồi. Cuối cùng thì mối duyên cũng dứt. Chỉ vì những cánh cửa trên tàu còn mở nên chúng tôi vẫn còn được nhìn thấy mặt nhau. Người đi và người ở lại chỉ cách nhau chừng hai mét nhưng mối nhân duyên giữa hai bên thì đã chấm dứt rồi.
Những cánh cửa trên tàu đóng lại, và con tàu bắt đầu lăn bánh về phía chúng tôi. Mỗi lần một cánh cửa khép lại là khoảng cách giữa người đưa tiễn với người ra đi lại xa thêm một chút. Chẳng mấy chốc cánh cửa toa xe có Kyuichi đã đóng sập lại. Bây giờ đã là hai thế giới thật rồi! Ông cụ bất giác chồm lên bên cửa sổ. Chàng thanh niên ở bên trong cũng ló đầu ra.
- Nguy hiểm đấy! Tàu đang chạy!
Có tiếng ai hét lên từ bên dưới. Cả đoàn tàu cứ rầm rập lao đi một cách dửng dưng. Từng ô cửa sổ lướt qua trước mắt chúng tôi. Gương mặt Kyuichi nhỏ dần. Và khi toa hạng ba ở cuối đoàn tàu lướt qua, tôi lại nhìn thấy một gương mặt khác bên trong ô cửa sổ.
Bên dưới chiếc mũ phớt màu nâu nhàu nhĩ, du sĩ có bộ râu rậm đang ngóng nhìn ra bên ngoài với vẻ chán chường. Ngay lúc đó, Nami và anh ta bất chợt nhận ra nhau. Tàu vẫn chạy rầm rập trên đường sắt. Gương mặt du sĩ dần khuất dạng. Nami đứng ngơ ngẩn nhìn theo. Trong khoảnh khắc ngơ ngẩn ấy, bất ngờ trên gương mặt cô thoáng hiện vẻ tiếc nuối pha lẫn nỗi buồn. Ðó chính là cảm xúc aware mà tôi chưa từng thấy cô thể hiện trên nét mặt.
“Ðúng rồi! Ðúng rồi! Chính là cái mà ta đang tìm kiếm cho bức tranh kia!” - tôi vừa vỗ vào vai Nami vừa thốt lên khe khẽ. Và đó là khoảnh khắc mà bức tranh tôi đang vẽ ra trong tưởng tượng trở nên hoàn chỉnh với những đường nét thật rõ ràng.
Chúng tôi tiễn Kyuichi đến ga Yoshida theo đường sông. Trên thuyền, ngoài người được tiễn là Kyuichi, có những người đi tiễn là ông cụ, cô Nami, anh trai cô, anh Genbei giúp mang hành lý và cuối cùng là tôi. Tất nhiên tôi chỉ là người được mời đi theo cùng.
Tuy chỉ là đi theo nhưng khi được mời thì tôi rất sẵn lòng. Ði mà không cần biết là đi để làm gì. Trong lúc đi tìm sự thanh thản như thế này thì không có gì phải dè dặt cả. Chiếc thuyền của chúng tôi thuộc loại đáy phẳng, giống như một chiếc bè được gắn thêm thanh vịn ở hai bên. Ông cụ ngồi ở giữa. Tôi và cô Nami ngồi ở phía đuôi thuyền. Kyuichi và ông anh họ ngồi đằng mũi. Anh Genbei thì ngồi tách riêng, bên cạnh mớ hành lý.
- Kyuichi, cậu thích ra trận hay là không thích? Nami hỏi.
- Chưa ra thì chưa biết. Chắc hẳn là vất vả, nhưng biết đâu cũng có niềm vui - Kyuichi trả lời. Cậu vẫn chưa biết gì về chiến trận.
- Dù vất vả đến đâu thì cũng phải hết lòng vì nước - Ông cụ bảo.
- Khi nhận được thanh đoản kiếm này, hẳn là cậu cũng muốn ra trận để biết thế nào là chiến tranh chứ nhỉ?
Cô Nami lại hỏi một câu hỏi lạ lùng. Kyuichi khẽ gật đầu:
- Vâng ạ!
Ông cụ vuốt râu, cười. Còn ông anh họ vẫn làm mặt tỉnh khô.
- Cứ thản nhiên như thế này thì ra trận làm sao được!
Cô Nami táo tợn ghé sát gương mặt trắng xanh vào trước mặt Kyuichi. Kyuichi và ông anh họ khẽ đưa mắt nhìn nhau.
- Nami mà làm lính thì mới là dũng cảm!
Ðó là câu đầu tiên mà ông anh cả nói với cô em gái Nami. Nghe giọng nói thì có thể biết đó không phải là kiểu nói đùa.
- Em á? Em mà làm lính á? Nếu mà được vào lính thì em đã vào từ lâu rồi! Mà cũng đã chết từ lâu rồi! Kyuichi, cậu cũng nên chết ngoài chiến trường đi. Nếu mà còn sống trở về thì sẽ gặp khối chuyện rườm tai đấy!
- Nói năng kiểu gì thế hả?... Này, này! Cháu phải chiến thắng mà trở về trong khúc khải hoàn ca đấy nhé! Không phải cứ chết ngoài chiến trận là hết lòng vì đất nước đâu! Bác vẫn còn sống hai, ba mươi năm nữa. Bác cháu ta sẽ còn gặp lại!
Ông cụ nói mấy tiếng cuối cùng với giọng nghẹn ngào, đứt quãng, rồi chìm trong nước mắt. Chỉ có anh con trai cả là không bị xúc động. Kyuichi không nói gì, chỉ quay nghiêng đầu nhìn về phía bờ sông.
Bờ sông có một cây liễu già. Dưới gốc liễu buộc một chiếc thuyền câu nho nhỏ. Một người đàn ông đang chăm chú nhìn vào sợi dây câu trước mặt. Khi thuyền chúng tôi rẽ sóng chầm chậm lướt qua, người đàn ông bất chợt ngước lên, bắt gặp ánh mắt Kyuichi. Ánh mắt hai người gặp nhau mà chẳng có biểu hiện gì. Người đàn ông đang mải nghĩ về chuyện câu cá. Còn Kyuichi lúc này chẳng có bụng dạ nào nghĩ đến chuyện cá tôm. Thuyền chúng tôi cứ lặng lẽ lướt qua người đàn ông trên chiếc xuồng câu ấy.
Tôi không biết trong vòng một phút thì có mấy trăm người đi qua cầu Nihonbashi[1]. Nếu mà ta ra đứng giữa cầu để hỏi thăm từng người một về những ẩn ức trong đời sống cá nhân, hẳn ta sẽ kinh ngạc nhận ra rằng cuộc sống vô thường này là không thể nào chịu nổi! Chính vì chúng ta cứ nhìn nhau như là những người không quen biết nên mới có người tình nguyện đứng phất cờ tín hiệu cho tàu chạy qua cầu. Người đàn ông câu cá nhìn gương mặt Kyuichi chừng như sắp khóc mà không thấy thắc mắc gì, đó mới là điều may mắn. Khi tôi quay nhìn lại thì vẫn thấy ông ta đang điềm nhiên ngồi nhìn chiếc phao. Và có lẽ ông ta vẫn sẽ ngồi nhìn như thế cho đến khi chiến tranh Nhật - Nga chấm dứt.
[1] Tên một chiếc cầu ở khu trung tâm Tokyo.
Dòng sông không rộng lắm. Mà lòng sông cũng không sâu. Nước sông chảy lững lờ. Chúng tôi cứ tựa vào mạn thuyền này, trôi trên mặt nước này đến tận nơi đâu? Có lẽ là cứ trôi mãi qua lúc xuân tàn, trôi đến chỗ ồn ào đông đúc - nơi mà người ta cơ hồ muốn va chạm vào nhau. Chàng thanh niên có vết đỏ giữa chân mày như một thứ dấu hiệu của chiến tranh đẫm máu này đang kéo theo cả đoàn người chúng tôi không thương tiếc. Có lẽ chúng tôi phải đi theo chàng cho đến khi chấm dứt sợi dây duyên nghiệp đã ràng buộc giữa chàng và chúng tôi không biết tự ngày tháng năm nào. Cũng như chàng vì định mệnh mà phải đi đến tận phương Bắc xa xôi, tối tăm và khốc liệt. Khi nhân duyên giữa chúng tôi chấm dứt, giống như một sợi dây đến lúc đứt rời ra, thì chỉ còn một mình chàng thanh niên bị cuốn theo định mệnh của riêng chàng. Còn chúng tôi phải chấp nhận là những người ở lại. Lúc ấy cho dù có van xin, có vật nài đến đâu thì chàng cũng không thể nào kéo chúng tôi theo được nữa.
Cảm giác vui vui khi chiếc thuyền lướt đi rất nhẹ. Cỏ rậm rạp hai bên bờ sông hình như là loại cỏ đuôi chồn. Và nhiều cây liễu mọc phía trên bãi sông. Thỉnh thoảng lại hiện lên vài ngôi nhà mái rạ thấp lè tè, cửa sổ ám đầy muội khói. Những con vịt lông trắng rải rác đó đây. Chúng vừa kêu cạc cạc vừa bơi ra giữa dòng.
Hình như có cả hoa đào trắng lấp ló giữa những cành liễu. Tiếng thoi dệt vải khua lách cách xen lẫn với tiếng hát con gái thấp thoáng vọng ra. Nhưng làn điệu của bài hát thì không nghe rõ được.
- Anh vẽ cho tôi một bức chân dung nhé!
Cô Nami đề nghị. Kyuichi và ông anh họ đang say sưa trò chuyện về quân sự. Còn ông cụ thì đang thiu thiu ngủ.
- Ừ, tôi sẽ vẽ.
Tôi nói và lấy sổ phác họa ra ghi một bài thơ:
Gió xuân lồng lộng
Xổ tung dải thắt lưng
Tên là gì nhỉ?
Tôi đưa cho cô xem bài thơ, cô cười bảo:
- Chỉ vài nét thế này thì chưa được. Anh phải vẽ đàng hoàng để thể hiện rõ hơn khí chất của tôi kia.
- Tôi cũng muốn vẽ như thế lắm. Nhưng gương mặt cô mà vẽ theo kiểu đó thì không thành một bức chân dung được.
- Anh biện luận hay đấy! Vậy thì phải làm sao mới thành một bức chân dung?
- Có gì đâu, ngay bây giờ tôi cũng có thể vẽ được mà. Chỉ có điều bức chân dung sẽ không hoàn hảo. Mà sẽ rất đáng tiếc nếu vẽ ra một bức chân dung còn thiếu sót.
- Anh nói là thiếu sót ư? Gương mặt tôi khi sinh ra đã thế thì biết làm sao được bây giờ?
- Gương mặt bẩm sinh vẫn có thể thay đổi nhiều lắm chứ!
- Ý anh nói là tự tôi làm thay đổi đấy ư?
- Ừ.
- Ðừng có nghĩ rằng tôi là phụ nữ thì ngu ngơ đấy nhé!
- Chính vì cô là phụ nữ nên mới nói ra một câu ngớ ngẩn như vậy đấy!
- Vậy thì hãy chỉ tôi xem, anh đã làm thay đổi gương mặt anh như thế nào?
- Nó vẫn thay đổi rất nhiều theo từng ngày đấy chứ.
Cô gái im lặng quay mặt đi nơi khác. Bờ sông bây giờ chỉ thấp ngang mực nước, và xa hơn nữa là cánh đồng ngút ngát trải mênh mông. Một biển hoa đỏ thắm trải rộng trong màn sương đến vô cùng, tưởng như một cơn mưa đổ xuống tự lúc nào đã hòa tan một nửa vào trong màu đỏ ấy và loang rộng mãi ra. Ngước mắt lên, tôi nhìn thấy một ngọn núi sừng sững giữa tầng không, với những đám mây mùa xuân lãng đãng giăng ngang sườn núi.
- Ngọn núi mà anh đã vượt qua kia kìa!
Cô gái giơ cánh tay trắng muốt ra ngoài mạn thuyền, chỉ về phía ngọn núi mùa xuân mờ ảo như một giấc mơ.
- Có tảng đá Tengu đâu đấy không nhỉ?
- Cái vệt màu tím bên dưới chỗ có màu xanh đậm kia kìa!
- Chỗ bóng râm đấy à?
- Bóng râm á? Tôi lại nghĩ đó là chỗ sườn núi bị trọc kia.
- Xem nó bị lõm xuống kìa. Nếu là chỗ sườn núi bị trọc thì phải có màu nâu đậm hơn chứ.
- Vậy sao? Nói chung là tảng đá Tengu có lẽ nằm ở phía sau chỗ ấy đấy.
- Nếu thế thì đoạn đường “bảy khúc quanh” nằm hơi dịch về bên trái, đúng không?
- Ðoạn đường “bảy khúc quanh” thì ở xa tít bên kia cơ. Ở tận bên ngọn núi nằm phía sau ngọn núi này nữa chứ.
- À, có lẽ thế thật. Nhưng tôi đoán là nó nằm ở chỗ đám mây mỏng kia kìa.
- Ðúng rồi, ở phía ấy đấy.
Ông cụ đang ngủ gật, khuỷu tay chống vào mạn thuyền bỗng nhiên bị trượt làm ông giật mình tỉnh giấc.
- Vẫn chưa đến nơi à?
Rồi ông duỗi người, ưỡn ngực, tay phải choàng ra phía sau, tay trái vươn thẳng ra đằng trước, rồi bật lên tiếng kêu “hư...ư...” trong lúc làm động tác của một người kéo dây cung chuẩn bị bắn. Cô gái khúc khích cười.
- Tôi quen làm thế này... - Có lẽ cụ thích môn bắn cung lắm nhỉ? - Tôi cười cười, bắt chuyện.
- Hồi còn trẻ tôi cũng kéo được loại cung to lắm đấy. Bây giờ tay vẫn còn chắc lắm.
Ông cụ vỗ vỗ vào vai trái. Phía đầu thuyền, câu chuyện về chiến tranh vẫn đang giòn giã.
Một lúc sau, thuyền chừng như đã đi vào trong phố. Tôi thấy trên một cửa quán nhậu có biển ghi “Rượu và thức nhắm”. Một quán khác có tấm màn treo cửa cũ kĩ. Rồi một cửa hàng bán gỗ. Và có tiếng xe kéo thấp thoáng vọng sang. Lũ chim én ríu rít nhào liệng trên không. Ðám vịt thì kêu cạc cạc. Ðoàn chúng tôi rời thuyền, đi về phía nhà ga.
Tôi đang bị kéo về thế giới hiện thực. Theo cách nghĩ của tôi thì thế giới hiện thực là nơi ta có thể nhìn thấy những đoàn tàu hỏa. Không có gì đặc trưng cho sự văn minh của thế kỷ hai mươi bằng tàu hỏa. Những chiếc hộp chạy rầm rập nhồi nhét bên trong cả trăm người. Chẳng có chỗ nào dành cho cảm xúc. Những con người bị nhồi nhét ấy phải di chuyển cùng một tốc độ, dừng lại cùng một nơi, và cùng tắm mình trong thứ hơi nước động cơ của đoàn tàu. Người ta bảo là “lên tàu”. Tôi thấy như thế là bị nhồi nhét. Người ta bảo là “đi tàu”. Tôi thấy là “bị áp tải”. Chẳng có cái gì chối bỏ cá tính như là thứ tàu này. Văn minh làm cho con người có thể phát huy cá tính nhờ những phương tiện nhất định, nhưng rồi cũng có những thứ phương tiện hủy hoại cá tính của con người. Kiểu văn minh hiện thời cứ như là cấp cho mỗi người một mảnh đất nhỏ xíu như nhau, rồi bảo người ta cứ tùy ý, thức hay ngủ gì trên mảnh đất ấy cũng được. Ðồng thời lại dựng lên một hàng rào thép xung quanh mảnh đất kia, không cho người ta bước ra ngoài dù chỉ là một bước. Những người sống tự do bên trong hàng rào thì cũng muốn sống tự do ở bên ngoài, đó là chuyện hiển nhiên. Vậy là người dân tội nghiệp của một đất nước văn minh phải ngày đêm rên rỉ bên trong những chấn song lạnh lẽo này. Văn minh mang đến cho con người tự do cá nhân, biến họ thành những kẻ hung dữ như mãnh hổ, rồi ném họ vào bên trong cũi sắt để bảo vệ hòa bình. Ðó không phải là hòa bình thực sự, mà là kiểu yên bình như con hổ nằm trong lồng sắt nơi thảo cầm viên lừ mắt nhìn ra cảnh vật bên ngoài. Chỉ cần một thanh sắt của lồng giam rơi xuống là tất cả sẽ tan nát ngay thôi. Rồi có lẽ chúng ta sẽ phải trải qua cuộc cách mạng lần thứ hai như ở Pháp. Mà thực ra thì cuộc cách mạng ấy đang diễn ra ngày đêm trong mỗi cá nhân. Ibsen, một nhà viết kịch ở Bắc Âu, đã đưa ra những mô tả chi tiết về tình huống xảy ra cuộc cách mạng này. Mỗi khi tôi nhìn thấy một đoàn tàu hỏa rầm rập chạy, với tất cả những con người như một đống hàng hóa bị nhồi nhét lộn xộn, khi thấy sự tương phản giữa những con người cá nhân đang khép mình đến mức co rút lại giữa toa tàu chở khách với đoàn tàu chẳng hề quan tâm đến cá tính của một ai, tôi những muốn hét lên với đám người kia rằng: “Nguy hiểm, nguy hiểm kìa! Hãy cẩn thận đề phòng nguy hiểm đấy!”. Văn minh hiện thời là kiểu văn minh đầy nguy hiểm, đến mức tưởng như thứ mùi nguy hiểm ấy xộc vào tận vào mũi mình! Mà thứ tàu hỏa cứ lao sầm sập vào khoảng không đen ngòm phía trước là một trong những điều đáng sợ!
Tôi ngồi trong quán nước trước nhà ga, vừa ngắm những chiếc bánh dẻo để trước mặt vừa nghĩ về tàu hỏa. Tôi không định viết những suy nghĩ này vào trong sổ phác họa, mà cũng không cần phải nói chuyện với ai, nên chỉ ngồi yên lặng uống trà và ăn bánh ngọt.
Ở bàn đối diện có hai người đang ngồi. Cả hai đều mang dép rơm. Một người mặc áo khoác màu đỏ. Người kia mặc chiếc quần màu xanh nhạt có miếng vá nơi đầu gối, đúng chỗ anh ta đang chống khuỷu tay.
- Chắc là không ổn nhỉ?
- Không ổn rồi.
- Nếu mà có hai cái dạ dày như con bò thì hay biết mấy!
- Còn phải nói! Nếu mà được như thế thì có bị hư một cái cũng chỉ cần cắt bỏ là xong!
Hình như hai nông dân này đang mắc bệnh dạ dày. Họ là những người không hề biết đến những ngọn gió mang mùi tanh tưởi thổi qua vùng Mãn Châu. Mà cũng không hề biết đến những điều tệ hại của cuộc sống hiện đại hóa bây giờ. Lại càng không biết đến những khái niệm như là “cách mạng”. Và họ có thể hồn nhiên nói đến chuyện mình có một hay hai cái dạ dày! Tôi rút sổ ra, phác họa chân dung của hai người đối diện.
Chuông reo keng keng. Ðã mua được vé rồi.
- Nào, đi thôi!
Nami nói và đứng dậy.
- Ôi...!
Ông cụ cũng gắng gượng đứng lên. Cả đoàn chúng tôi hàng ngũ chỉnh tề đi qua cổng soát vé, ra khu vực đường tàu. Tiếng chuông vẫn kêu to, giục giã.
Có tiếng rầm rập vọng đến, rồi con rắn khổng lồ của xã hội văn minh oằn mình trườn tới trên đường ray bóng loáng. Miệng rắn nhả ra một cụm khói đen ngòm.
- Ðến lúc phải chia tay rồi đấy - Ông cụ bảo.
- Bác gắng giữ gìn sức khỏe ạ! Kyuichi cúi đầu chào.
- Nhớ là cậu phải hy sinh đấy nhé! Nàng Nami lặp lại.
- Hành lý đầy đủ chưa? Ông anh hỏi. Con rắn khổng lồ dừng trước mặt chúng tôi. Những cánh cửa dọc bên sườn được mở ra. Người lên, kẻ xuống. Kyuichi cũng đã bước lên rồi. Chỉ còn ông cụ, anh con trưởng, Nami và tôi đứng lại dưới sân ga.
Chỉ cần con tàu lăn bánh là Kyuichi sẽ không còn thuộc về thế giới của chúng tôi. Sẽ đi về một nơi xa, xa lắm. Nơi mà người ta đang sống trong bom đạn. Và trượt ngã trong màu đỏ tươi của máu. Với những tiếng gầm rú bất tận trên trời. Kyuichi, người sắp đi về nơi xa xôi ấy, đang đứng im lặng trong toa xe nhìn về phía chúng tôi. Vậy là mối duyên của chúng tôi với chàng trai kia, người đã đưa chúng tôi từ trong núi ra đây, sắp kết thúc rồi. Cuối cùng thì mối duyên cũng dứt. Chỉ vì những cánh cửa trên tàu còn mở nên chúng tôi vẫn còn được nhìn thấy mặt nhau. Người đi và người ở lại chỉ cách nhau chừng hai mét nhưng mối nhân duyên giữa hai bên thì đã chấm dứt rồi.
Những cánh cửa trên tàu đóng lại, và con tàu bắt đầu lăn bánh về phía chúng tôi. Mỗi lần một cánh cửa khép lại là khoảng cách giữa người đưa tiễn với người ra đi lại xa thêm một chút. Chẳng mấy chốc cánh cửa toa xe có Kyuichi đã đóng sập lại. Bây giờ đã là hai thế giới thật rồi! Ông cụ bất giác chồm lên bên cửa sổ. Chàng thanh niên ở bên trong cũng ló đầu ra.
- Nguy hiểm đấy! Tàu đang chạy!
Có tiếng ai hét lên từ bên dưới. Cả đoàn tàu cứ rầm rập lao đi một cách dửng dưng. Từng ô cửa sổ lướt qua trước mắt chúng tôi. Gương mặt Kyuichi nhỏ dần. Và khi toa hạng ba ở cuối đoàn tàu lướt qua, tôi lại nhìn thấy một gương mặt khác bên trong ô cửa sổ.
Bên dưới chiếc mũ phớt màu nâu nhàu nhĩ, du sĩ có bộ râu rậm đang ngóng nhìn ra bên ngoài với vẻ chán chường. Ngay lúc đó, Nami và anh ta bất chợt nhận ra nhau. Tàu vẫn chạy rầm rập trên đường sắt. Gương mặt du sĩ dần khuất dạng. Nami đứng ngơ ngẩn nhìn theo. Trong khoảnh khắc ngơ ngẩn ấy, bất ngờ trên gương mặt cô thoáng hiện vẻ tiếc nuối pha lẫn nỗi buồn. Ðó chính là cảm xúc aware mà tôi chưa từng thấy cô thể hiện trên nét mặt.
“Ðúng rồi! Ðúng rồi! Chính là cái mà ta đang tìm kiếm cho bức tranh kia!” - tôi vừa vỗ vào vai Nami vừa thốt lên khe khẽ. Và đó là khoảnh khắc mà bức tranh tôi đang vẽ ra trong tưởng tượng trở nên hoàn chỉnh với những đường nét thật rõ ràng.
Tác giả: Natsume Soseki
Dịch giả: Lam Anh
Nguồn ebook: http://tve-4u.org/
Dịch giả: Lam Anh
Nguồn ebook: http://tve-4u.org/































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét