Hướng về một công trình
Những thách thức đặt ra trong khi viết một bộ lịch sử văn học
toàn cầu gồm ba vấn đề, đó là việc định nghĩa, sắp xếp và tính mục đích. Liệu
lĩnh vực được đưa ra có thể định nghĩa theo cái cách mà một bộ lịch sử mang ý
nghĩa có thể hình thành? Nếu như vậy, có thể tạo ra một sự tổ chức có hiệu quả
và một kế hoạch có kiểm soát nhằm đưa ra sự định hình cụ thể cho một dự án mang
phạm vi toàn cầu? Vấn đề cuối cùng và cũng khó khăn hơn cả, liệu một bộ lịch sử
văn học thế giới có thể được viết ra khiến bất cứ ai cũng thực sự muốn đọc?
Những thách thức đặt ra trong khi viết một bộ lịch sử văn học
toàn cầu gồm ba vấn đề, đó là việc định nghĩa, sắp xếp và tính mục đích. Liệu
lĩnh vực được đưa ra có thể định nghĩa theo cái cách mà một bộ lịch sử mang ý
nghĩa có thể hình thành? Nếu như vậy, có thể tạo ra một sự tổ chức có hiệu quả
và một kế hoạch có kiểm soát nhằm đưa ra sự định hình cụ thể cho một dự án mang
phạm vi toàn cầu? Vấn đề cuối cùng và cũng khó khăn hơn cả, liệu một bộ lịch sử
văn học thế giới có thể được viết ra khiến bất cứ ai cũng thực sự muốn đọc?
Kỷ nguyên toàn cầu hoá của chúng ta khiến công việc viết một
bộ lịch sử văn học thế giới trở nên dễ dàng nhất hoặc cũng khó khăn nhất. Cho tới
gần đây, công việc viết lịch sử văn học vẫn bị thống trị khá nặng nề bởi những
mô hình mang tính quốc gia, chúng khiến ý tưởng thực sự về một bộ lịch sử văn học
toàn cầu sẽ không tương thích và thậm chí còn tệ hơn - đó là điều chẳng hề thú
vị. Dường như rất hợp lý khi Ian Watt gọi nghiên cứu của mình về nhiều tiểu
thuyết gia Anh là Sự trỗi dậy của tiểu thuyết, tên gọi này thích hợp hơn
là Sự trỗi dậy của tiểu thuyết Anh (1). Một số ít nhà phê bình Anh cho rằng,
mặc dù tồn tại những tác phẩm đáng chú ý mang hơi hướng tiểu thuyết được viết ở
những quốc gia khác do những nhân vật gây ảnh hưởng như Cervantes và Madame de
Lafayette nhưng điều được chấp thuận phổ biến là tiểu thuyết Anh có một lịch sử
phân biệt, nó có thể được nghiên cứu một cách hợp lý thậm chí là hợp lý nhất
trong phạm vi của chính nó, độc lập với những phát triển của Pháp và Tây Ban
Nha. Quan niệm kiểu này dường như chẳng cần đến việc đề cập tới tác giả
Heliodorus (Hy Lạp) và Apuleius (La Mã), hoặc phương bắc có tác phẩm Njals
Sa fa và phương đông có Câu chuyện về Genji. Thậm chí nếu một
người tìm ra một cách để dung hoà những khác biệt giữa tiểu thuyết, thể loại
romance cổ xưa, saga, và monogatari dưới đề mục “hư cấu dạng văn xuôi” thì cũng
khó mà hình dung rằng những thời đại không tiếp nối nhau và những địa điểm khác
nhau có thể mang lại bất cứ điều gì tương đồng với một bộ lịch sử thông thường,
hay ít nhất là bất kỳ bộ lịch sử nào được viết theo tuyến, theo cách thức mang
tính mục đích được khơi gợi bởi một nhóm từ như “sự trỗi dậy của”.
Tình hình cũng tương tự cho lịch sử thể chế cũng như lịch sử
văn học. Nghiên cứu phá cách của Gerald Graff do đó mang tiêu đề Giảng dạy
văn học, nó nghe hợp lý hơn là Giảng dạy văn học Anh và Mỹ tại Hợp chủng
quốc Hoa Kỳ (2). Nghiên cứu của ông gồm lịch sử ban đầu của những nghiên cứu
kinh điển tại Mỹ, và ông thừa nhận rằng những nền văn học hiện đại khác đã được
dạy lâu dài ở quốc gia này; ngay cả tính đặc thù dân tộc trong nghiên cứu của
ông cũng không xuất hiện trong tiêu đề và điều này cũng được bàn đến ngay từ phần
đầu của tác phẩm. Thực sự là Graff đã viết một bộ lịch sử toàn cầu về nghiên cứu
mọi nền văn học tại tất cả các quốc gia. Tiêu đề Giảng dạy văn học có
thể kiếm được ít độc giả hơn, và hầu hết mọi người sẽ chỉ xem một hai chương gần
nhất với lĩnh vực nghiên cứu của mình. Tính quốc gia là cái khung tự nhiên cho
một bộ lịch sử thể chế, cũng giống như là những nền văn học quốc gia Anh, Mỹ (vốn
liên quan mật thiết) dường như là sự tập trung hợp lý trong sự sắp đặt kiểu Mỹ.
Khi mọi người nhìn sang bên kia những đường biên giới của một
quốc gia đơn lẻ, họ thường ở trong một vùng đặc biệt, như trong tác phẩm Văn
học châu Âu và thời trung cổ Latin của Ernst Robert Curtius và Mimesis,
phương thức biểu hiện thực tại trong văn học phương Tây (3) của Erich
Auerbach. Thậm chí trong phần trọng tâm đã được công bố của họ về văn học châu
Âu và phương Tây, Curtius và Auerbach chỉ tập trung nhiều vào nền văn học của một
số ít quốc gia. Vì vậy, dù thường được tán dương như tác phẩm đáng chú ý về
nghiên cứu văn học phương Tây nhưng thực sự là trong tổng số hai mươi văn bản
thì mười lăm văn bản của cuốn sách Mimesis có thể được đặt tên là Phương
thức biểu hiện thực tại ở Ý và Pháp.
Những tiến trình nghiên cứu tổng quát cũng đã từng xây dựng
những bộ lịch sử văn học khá yên ả với phạm vi quốc gia hoặc vùng miền tốt nhất.
Hầu như cả thế kỷ XX, tiến trình “Giới thiệu văn học” Mỹ điển hình sử dụng hoàn
toàn tài liệu phương Tây (và hầu như của Anh và Mỹ). Những tiến trình văn học
thế giới và những hợp tuyển hỗ trợ đi kèm cho thấy sự thiếu tương thích trong
khi định nghĩa từ “thế giới” đơn thuần theo những thuật ngữ của Tây Âu, trong
phạm vi Kinh Thánh và những tác phẩm cổ điển trước đó, thỉnh thoảng lắm mới thấy
một số ít nhà văn Nga và Mỹ được đánh giá cao có tên trong đó. Tình hình này đã
thay đổi một cách ấn tượng vào giữa thập kỷ 90 thế kỷ trước, bắt đầu với bộ Văn
tuyển thế giới (Harper Collins xuất bản) của Caws và Prendergast gồm khoảng
475 tác giả từ khắp thế giới được theo sát bởi việc “xuất bản mở rộng” Hợp
tuyển Norton về văn học thế giới (4) gồm hai ngàn trang tác phẩm ngoài
phương Tây cùng với bốn ngàn trang văn học Mỹ và châu Âu.
Sự hết thời của mô hình quốc gia đã từng thống trị và sau đó,
sự mở ra một cách nhìn toàn cầu đang chớm nở, tạo nên một thời kỳ hứa hẹn để
suy ngẫm dự án về một bộ lịch sử văn học thế giới. Tuy nhiên đây là thời kỳ có
thể dễ dàng nhất nhưng cũng khó khăn nhất để viết một bộ lịch sử như vậy vì
toàn cầu hoá có thể xói mòn lịch sử thực sự, đó là cái mà nó cũng đang bảo tồn.
Điều này có thể xảy ra theo một trong hai cách hoàn toàn khác biệt. Đầu tiên, bằng
việc tạo ra một trường văn học luôn tăng trưởng, việc toàn cầu hoá văn học thế
giới tạo nên một sự bùng nổ những tác phẩm mà mọi vấn đề bản quyền nên được
tính đến, một kiểu mở rộng đến phi lý trong một không gian liên lục địa vô hạn.
Nếu văn học thế giới là toàn bộ những thứ đã từng được viết ra, chúng ta không
chỉ giải quyết một dãy vô tận những văn bản mà còn cả những bộ lịch sự địa
phương thừa thãi và những nền văn hoá thành văn mang tính cạnh tranh, cái mà
không có gì giống như một bộ lịch sử toàn diện cho dù đó như là một đống tài liệu
có thể được xử lý và trình bày.
Một vấn đề đối lập tương đương khác là trên thực tế, một nền
văn học toàn cầu có thể không có nhiều lịch sử để bắt đầu. Một quan niệm về “Lịch
sử toàn cầu mới” được nhà sử học Bruce Mazlish bảo vệ, ví dụ, nhìn toàn cầu hoá
như một hiện tượng có mốc cùng lắm là năm mươi năm về trước, bao gồm không chỉ
những mối quan hệ kinh tế mới mà còn là một sự thay đổi cơ bản trong ý thức của
bản thân và thế giới của chúng ta (5). Nền văn học thuộc một thế giới mới như vậy
nhất thiết sẽ khác hẳn với những gì diễn ra trước đó. Nếu văn học thế giới được
định nghĩa như một nền văn học thuộc phạm vi toàn cầu thực sự, trong mục đích của
tác giả hay trong sự lưu hành của nó giữa những độc giả, sau đó chúng ta chỉ
đang nhìn thấy sự ra đời của hình thức văn học này, lịch sử thực sự của nó nằm ở
tương lai nhiều hơn quá khứ. Đây không phải là một ý tưởng mới. Goethe đã từng
giả định về tương lai của Weltliteratur (Văn học thế giới) trong những
lần sử dụng đầu tiên thuật ngữ ban đầu của ông. Ông đã suy ngẫm mạch lạc về văn
học thế giới như một loại thực thể mới, một sự tiếp nối những nền văn học quốc
gia già nua hơn, thứ mà ông tin là đang tàn lụi đi. Như ông đã nói với môn đệ của
mình là Johann Peter Eckermann vào tháng Giêng năm 1827, “Văn học quốc gia giờ
là một thuật ngữ khá vô nghĩa, kỷ nguyên của văn học thế giới sắp đến, và mọi
người phải cố gắng đẩy mạnh việc tiếp cận nó” (6).
Theo dòng tư tưởng của Goethe, chúng ta có thể nói rằng phác
hoạ đầu tiên của văn học thế giới bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX trong
tác phẩm của những tác giả như Rudyard Kipling, người được đọc - và viết ra để
được đọc - tại bốn lục địa khi vẫn còn chưa đầy ba mươi tuổi. Ngay cả đối tượng
đọc Kipling cũng được mở rộng tới những nước sử dụng Anh ngữ trong thập kỷ 80
thế kỷ XIX, và tác phẩm của ông vẫn tiếp tục tập trung vào người Anh (và đôi
khi là thanh thiếu niên Ireland) tại quê hương và trong những mối quan hệ mang
dấu ấn đế quốc, thực dân tại nước ngoài. Chỉ từ thập niên 60 của thế kỷ trước
chúng ta đã chứng kiến sự nở rộ của Văn học thế giới được Goethe hình
dung trước đó, hậu dân tộc trong khái niệm và đầy tính quốc tế trong tiếp nhận,
được tạo nên bởi những nhà văn toàn cầu được hy vọng như Salman Rushdie, người
kế vị Kipling. Được định nghĩa theo cách này, văn học thế giới khó mà có được bất
cứ lịch sử nào. Nó chỉ bao gồm một tập hợp nhỏ những tác phẩm được viết ngay
trong thời kỳ hiện nay và gần như chẳng tính đến những gì được viết cách đây
năm mươi năm, gồm những tác phẩm được nhắc tới bất cứ lúc nào trong trong số 99
phần trăm đầu tiên của năm ngàn năm sáng tác văn học trên toàn thế giới.
Tuy nhiên không phải mọi nhà sử học đều cho rằng toàn cầu hoá
là một hiện tượng đương đại thuần tuý; những cơ chế gốc của nó có thể được thấy
rõ trong những mẫu hình hiện đại ban đầu về thám hiểm, xâm lược và thương mại,
cùng với những ví dụ xa xưa hơn trong những lộ trình thương mại và trao đổi văn
hoá như Con đường tơ lụa.
Tầm vóc chủ yếu trong sự vận động của một tác phẩm từ một văn
cảnh quốc gia tới phạm vi văn học thế giới là sự tiếp nhận nó trong một vương
quốc văn hóa và ngôn ngữ khác, như đã xuất hiện với Thiên sử thi về
Gilgamesh đầu thiên niên kỷ hai TCN khi nó được dịch ra tiếng Hittite ở
nơi mà giờ là Thổ Nhĩ Kỳ. Sử thi của Homer có cuộc sống mới ở đế chế La Mã mặc
dù Horace và Virgil vẫn đọc chúng bằng tiếng Hy Lạp.
Chắc chắn là, sự vận hành của một cuốn sách trong phạm vi văn
học thế giới có thể xuất hiện với tốc độ chóng mặt ngày nay: những bản quyền nước
ngoài có thể được bán tại hội chợ sách Frankfurt để xúc tiến việc dịch ra mười
tới hai mươi ngôn ngữ khi tác phẩm mới chỉ ở dạng bản thảo. Tuy nhiên sự toàn cầu
hoá văn học này thể hiện một sự khác biệt về mức độ hơn là sự khác biệt về thể
loại từ những quá trình lưu hành và biến đổi văn bản được thiết lập lâu dài.
Tác phẩm Candide của Voltaire đi vào văn học thế giới khi nó vượt qua
eo biển Anh để trở thành Candid trong bản dịch tiếng Anh, một chuyến
du hành diễn ra vào cái năm đáng nhớ 1759 cho lần xuất bản đầu tiên tại Anh. Trở
thành điểm nhấn của nhiều tháng, Candide được đọc khắp châu Âu và
ngoài cả châu Âu, với bản dịch tiếng Pháp hay với một trong số những bản dịch
khác ngày một tăng mạnh. Thực sự, ở một vài khía cạnh, sự thiếu vắng luật bản
quyền trong thời của Voltaire cho thấy rằng các tác phẩm có thể lưu hành ngoài
nước thoải mái hơn là thời nay. Candide được dịch sang tiếng Anh
không chỉ một mà những hai lần trong một năm. Trong bản thân cuốn sách, ta thấy
những chuyến du hành Nam Mỹ của nhân vật Candide gồm cả một chặng dừng để gặp gỡ
những nô lệ ở Suriam, rồi thấy cả chóp mũ đính lông của Voltaire tới tác giả
Aphra Benhn, tác phẩm Oroonoko của ông này cho tới gần đây đã có bản
dịch thứ bẩy tại Pháp. Sự lưu hành mạnh của Candide tại những
vùng miền khác nhau và bằng những ngôn ngữ khác nhau tạo ra một sự mở rộng tính
thế giới được khắc hoạ trong chính bản thân tác phẩm, không chỉ trong những lần
rủi ro của Candide khi vượt Đại Tây Dương mà còn cả trên trang tiêu đề chính của
cuốn sách. Những cuốn sách trước đó của Voltaire đã từng bị kiểm duyệt và khiến
ông bị tống giam, do đó ông đã công bố Candide khuyết danh, hay,
chính xác là, dưới vỏ bọc một bản dịch khuyết danh của “de l’Allemand de Mr. le
Docteur RALPH” (Quý ông tiến sĩ Raplph), được cho là tác giả của câu chuyện viết
ra không lâu trước khi ông tử nạn trong một trận đánh của cuộc chiến bẩy năm.
Không quan tâm tới sự phiền toái từ những tranh luận chống lại công giáo của
Voltaire, những thứ có thể động chạm tới ông tại quê hương, nhà xuất bản London
đặt tên Voltaire ở vị trí nổi bật của trang tiêu đề trong của bản dịch tiếng
Anh, điều mà không thể có được tại nguyên bản tiếng Pháp (7).
Tác phẩm của tiến sĩ Ralph vì vậy đã trở thành sách của
Voltaire chỉ ngay trong bản dịch đầu tiên. Sự lựa chọn một “tác giả” Đức cho những
cuộc phiêu lưu của Candide đặc biệt thích hợp vì tác phẩm Candide về
nhiều mặt là một sự cập nhật của cuốn Những cuộc phiêu lưu của
Simplicissimus Teutsch (1668) được viết trước đó của Grimmelshausen
(Đức) trong bối cảnh cuộc chiến tranh ba mươi năm, nó đã được tiếp nối bằng cuộc
chiến tranh bẩy năm mang đến cái chết cho Doctor Ralph. Nhân vật Simplicius
Simplicissimus ngờ nghệch lang thang trên châu Âu chiến trận và cuối cùng thấy
được một miền đất không tưởng ẩn dấu, lục địa chìm Atlantic; giống như lần dừng
chân của Candide tại vùng đất Eldorado chỉ có trong truyền thuyết, con đường
vòng đưa ra một cơ hội cho sự châm biếm chống lại bạo lực và sự mục nát của một
châu Âu hiện đại (8). Gợi đến nhà văn Grimmelshausen cũng như Behn từ một cao điểm
thuộc biên giới Thuỵ Sĩ, Voltaire chắc chắn là một tác giả quốc tế từ lúc ban đầu.
Văn học thế giới được tạo ra thông qua sự ảnh hưởng tương tác
mạnh giữa những nền văn học vùng miền và quốc gia. Thực sự, văn học thế giới được
cho là có trước sự ra đời của nhà nước độc lập hiện đại nhiều thế kỷ. Đây cũng
là quan điểm của Hutcheson Macaulay Posnett, người công bố cuốn sách đầu tiên
có tên Văn học so sánh (Comparative literature) (ông là người đầu
tiên dùng thuật ngữ này bằng tiếng Anh) vào năm 1886(9). Tác giả Posnett phác
thảo lịch sử văn học như một tiến trình từ văn học địa phương, thị tộc tới phạm
vi lớn hơn thuộc quốc gia và đế quốc. Tuy nhiên, một cách hệ thống, ông đặt sự
ra đời của văn học thế giới vào thế giới Hi Lạp cổ đại hậu kỳ, một thời gian
dài trước thời kỳ những nền văn học quốc gia. Trong nghiên cứu của Posnett, việc
đạt tới xuyên văn hoá của đế chế La Mã mở đường cho những cách thức viết mới mẻ,
phi địa phương hoá, không còn kết nối mật thiết tới bất cứ cộng đồng cụ thể nào
và những truyền thống của nó, và có thể đọc được tại nhiều vùng xung quanh đế
chế.
Một ví dụ hay về nhà văn thế giới theo cảm quan của Posnett
đó là tác giả Apuleius thuộc Madauros. Apuleius lớn lên với tiếng Punic, một
ngôn ngữ Bắc Phi địa phương, nhưng được cho đi học tại Hi Lạp khi còn nhỏ tuổi.
Ông ta viết cuốn Biến hình(10) hay còn gọi là Con lừa vàng bằng
tiếng Latin để giúp vui cho những người đọc từ Syria tới Tây Ban Nha bằng những
cuộc phiêu lưu của người anh hùng bị biến thành lừa tại Thessaly và Ai Cập. Tạ
lỗi một cách hài hước trong phần mở đầu vì phong cách Latin phá cách, Apuleius
tự so sánh mình với người cưỡi ngựa trong rạp xiếc, nhảy thoăn thoắt từ con ngựa
này sang con ngựa khác. Ông ta khẳng định rằng sự biến đổi ngôn ngữ của mình phản
ánh sự biến đổi thân xác của nhân vật anh hùng trong tác phẩm và hứa là những bạn
đọc của ông sẽ thích thú nếu họ tham dự “một câu chuyện kiểu Hi Lạp” được viết
trên giấy cói “với sự sắc bén của một cây sậy từ sông Nile”.
Một lịch sử đầy đủ về văn học thế giới nên được phác dựng
theo tinh thần của Posnett về Goethe - hay về Immanuel Wallerstein - và nên bao
gồm cả Apuleius, Murasaki Shikibu, và Voltaire cũng như Kipling và Rushdie. Nó
nên mở ra những tiến trình và chiến lược phong phú thông qua điều mà những nhà
văn thúc đẩy trên cấp độ chung và riêng sự thương thảo lâu dài giữa những nền
văn hoá địa phương và thế giới bên ngoài.
Sự thiết kế
Những khả năng thực hiện gần như đa dạng bằng chính bản thân
văn học thế giới và được đặt vào bất cứ đâu trên một cán cân dao động từ sự độc
tưởng (monomania) tới Từ điển bách khoa Wiki. Ở một thái cực, một học giả độc lập
có thể nhận viết bộ lịch sử này, dưới hình thức rút gọn như Đại cương lịch
sử của H.G. Well hay dưới hình thức mở rộng hơn như Nghiên cứu lịch sử (11) 12
tập của Arnold Toynbee. Tình hình khá là bi quan cho dù có một công trình đáng
kể mà Posnett dồn tâm huyết trong tác phẩm Văn học so sánh, đây có thể
dường như là kết quả từ một thập kỷ tác giả đọc chuyên sâu mọi thứ từ những sử
thi tiếng Phạn cho tới thơ qasida Arab, rồi tới những chuyện kể Navajo. Cuốn
sách của Posnett là một thành tựu đáng kể, đưa ra một khảo sát mang tính toàn cầu
thực sự về việc đánh giá văn học từ những kỷ nguyên sớm nhất và những biểu hiện
sơ khai nhất tới những nền văn học thời ông sống. Một cách tự nhiên, Posnett tin
tưởng sâu sắc vào tác phẩm của những chuyên gia tại những nền văn hoá khác nhau
mà ông nghiên cứu, ngoài ra ông còn tin rằng chẳng có gì sai lầm khi sự uyên
thâm của họ đã tổng hợp nên một tác phẩm mang tính chuyên biệt hơn nữa. Một sự
mô phỏng theo ý tưởng này gần đây đã được hồi sinh, cái mà Franco Moretti gọi
là “đọc xa” (distant reading), một hình thức nghiên cứu mở rộng xây dựng trên kết
quả của những lịch sử văn học địa phương nhằm cấu trúc một bức tranh toàn cảnh
về sự phát triển văn học toàn cầu. “Lịch sử văn học”, Moretti nói, “sẽ trở
thành ‘đồ cũ’: một tác phẩm chắp vá từ nghiên cứu của những người khác nhau, thiếu
vắng việc đọc từng nguyên bản trực tiếp. Vẫn đầy tham vọng, và thực sự còn
hơn cả trước đây (về văn học thế giới!); nhưng tham vọng giờ đây tỉ lệ thuận với khoảng
cách từ nguyên bản”(12).
Như vậy, những dự án của Posnett ngày nay với một số người vẫn
mới mẻ dù chúng ta không muốn nhắc lại những thành tựu của Posnett đạt được vào
thời ông sống. Nghiên cứu toàn bộ lịch sử tác phẩm văn học thế giới chỉ trong
có ba trăm trang, chắc chắn Posnett bỏ sót một lượng lớn tác phẩm và đã đơn giản
hoá quá mức những tác phẩm ông đưa vào, gò ép những truyền thống văn học thế giới
vào một mô hình tiến hoá xã hội kiểu một kích cỡ phù hợp với tất cả được vay mượn
từ những học thuyết của Herbert Spencer. Tuy nhiên, thực tế là ông có thể đã viết
xong cuốn sách của đời mình với nhiều thành công như ông đã nhận được, điều này
cho thấy việc chính yếu có thể đã được giải quyết. Những cố gắng gần đây hơn
trong một bộ lịch sử văn học mở rộng là chiều hướng đưa vào những nhóm làm việc
hợp tác, những thành viên của họ nhìn chung có sự tinh thông mà một mình
Posnett không bao giờ đạt tới.
Dự án năm tập của Moretti về lịch sử tiểu thuyết, Il
Romanzo, có bảy mươi người cộng tác, công việc của họ phối hợp cùng sự chỉ đạo
biên tập sáng suốt từ Moretti, và nó thành công trong việc kết hợp những nghiên
cứu bao quát về sự truyền bá tiểu thuyết toàn cầu với nghiên cứu chuyên sâu mở
rộng về những nền văn hoá chữ viết riêng biệt và thậm chí là những tác phẩm
riêng lẻ. Đọc xa đã bắt tay với đọc gần (đọc nguyên bản) trong dự án thú vị
này.
Tuy nhiên lịch sử toàn cầu đã lộ ra nhiều vấn đề liên quan đến
sự cân đối. Il Romanzo ra được năm tập dầy dặn trong lần xuất bản trọn
bộ tiếng Ý, tuy nhiên nó chỉ đề câp đến một thể loại viết riêng biệt nổi lên
tương đối gần đây và cứ tiểu thuyết là máy móc đưa vào. Và bao nhiêu người có
thể đọc hết năm tập sách này? Ở bất cứ phương diện nào Moretti không có bạn đọc
nói tiếng Anh. Những bản dịch đầy đủ bằng tiếng Hàn và Tây Ban Nha đã xuất hiện,
nhưng nhà xuất bản đại học Princeton do dự, thay vào dịch cả thì là lựa ra hai
tập được rút gọn (13). Để mở rộng cách làm của Moretti cho một bộ lịch sử đầy đủ
về văn học thế giới có thể cần tới ba trăm người tham gia và toàn bộ những tập
sách có nội dung liên quan. Không chỉ là chuyện một bộ lịch sử nhất thiết cần
được đón đọc từ tập này sang tập khác, mà đứng về một phương diện nào đó, một dự
án có thể đủ lớn để đánh bại ý đồ đưa ra một bộ lịch sử khái quát chung chung,
và chúng ta đang phải xử lý một thứ gì đó gần với một bản tóm tắt những lịch sử
về những nền văn học quốc gia trên thế giới.
Hơn một phần tư thế kỷ qua, Hội Văn học so sánh quốc tế bảo
trợ cho một xê-ri sách về “Lịch sử so sánh những nền văn học bằng ngôn ngữ châu
Âu”, rút cục là nó đã trở thành hạt nhân của một bộ lịch sử qui mô lớn, đúng
hơn là một tủ sách chứa đầy các bộ lịch sử văn học. Cùng với những tập sách về
các trào lưu như lãng mạn, tượng trưng, loạt sách bao gồm những tập sách về văn
học Caribe, một bộ lịch sử được hình thành một cách sáng tạo về văn học Đông
Âu, một bộ lịch sử ba tập về văn hoá văn học Mỹ Latin(14). Những bộ lịch sử này
chú tâm một cách đáng khâm phục tới những quốc gia lớn cũng như quốc gia nhỏ và
tới những mối quan hệ đa dạng trong những vùng ngoại biên cũng như những mối
quan hệ trung tâm/ngoại biên trực tiếp. Ngoài tác phẩm của Hội Văn học so sánh
quốc tế, những nhà viết văn học sử khác bắt đầu cân nhắc lại về những bộ lịch sử
văn học vùng miền. Một sự cố gắng đầu tiên đầy hoài bão nhằm quan niệm lại những
ranh giới của văn học châu Âu có thể được tìm thấy trong cuốn Lịch sử văn
học châu Âu của Annick Benoit-Dusausoy và Guy Fontaine, một bộ sách có 150
học giả tham gia.
Như những nhà biên tập viết ở phần mở đầu, “Một sự ám ảnh dai dẳng với tính quốc gia, dân tộc đã giới hạn tác giả vào một phạm vi cụ thể, trên phương diện ngôn ngữ và địa lý, đó chính là một nếp tư duy thâm căn cố đế, nó bám theo chúng ta từ thế kỷ XIX, chết cứng lại”(15). Tại phần nói về các quốc gia, tập sách đưa ra những trào lưu trên toàn châu Âu (Nhân đạo, Ánh sáng, Lãng mạn), những thể loại (truyện du ký, tiểu thuyết giang hồ), và những chủ đề rộng lớn (“Tri giác và cảm hứng”, “Phụ nữ và thần thoại”).
Như những nhà biên tập viết ở phần mở đầu, “Một sự ám ảnh dai dẳng với tính quốc gia, dân tộc đã giới hạn tác giả vào một phạm vi cụ thể, trên phương diện ngôn ngữ và địa lý, đó chính là một nếp tư duy thâm căn cố đế, nó bám theo chúng ta từ thế kỷ XIX, chết cứng lại”(15). Tại phần nói về các quốc gia, tập sách đưa ra những trào lưu trên toàn châu Âu (Nhân đạo, Ánh sáng, Lãng mạn), những thể loại (truyện du ký, tiểu thuyết giang hồ), và những chủ đề rộng lớn (“Tri giác và cảm hứng”, “Phụ nữ và thần thoại”).
Dù vẫn có gì đó khá nặng nề trong phần trình bày về văn học
Pháp – thí dụ trường hợp tác giả Marquis de Sade, người được đưa ra như một tác
giả quan trọng cần lưu ý, không giống như trường hợp Friedrich Schiller và
Alexander Pope - nhưng bộ sách của Benoit-Dusausoy và Fontaine đã đưa ra một sự
thay đổi quan trọng ngay từ lúc ban đầu thực hiện, mạnh dạn đặt tên những nhà
văn Hungary, Hà Lan, Catalonia (thuộc Tây Ban Nha) xen lẫn những tên tuổi lớn
gây ảnh hưởng. Thí dụ, bàn về trào lưu tượng trưng, những người đóng góp là
Karel Hlavác (Czech), Konstantinos Hadjopoulos (Hi Lạp), Vilhelm Ekelund (Thuỵ
Điển), Jeno Komjáthy (Hungary), Ivan Vazov (Bungaria) và August Vermeylen vùng
Flanders (Bỉ) được đặt cạnh những tác giả kinh điển như nhà thơ Rimbaud và
Verlaine (Pháp), Stefan
George (Đức) và nhà mỹ học Arthur Symons (Anh) (tr.498-502).
George (Đức) và nhà mỹ học Arthur Symons (Anh) (tr.498-502).
Bộ Lịch sử văn học châu Âu gây ấn tượng bởi tầm vóc
của nó, tuy nhiên cũng khó đọc một mạch. 150 người tham gia đã làm việc quy mô
trong tình trạng tách biệt với nhau, và những kết quả thường gián đoạn hơn là
chỉ một người mong muốn dốc sức nhằm đưa ra sự liên kết giữa các nền văn hoá
thành văn châu Âu. Hơn thế nữa, bằng việc kiên quyết xếp đồng hạng các quốc
gia, cuốn sách của Benoit-Dusausoy và Fontaine giải quyết chưa thấu đáo một nền
tảng quan trọng của những tác phẩm giàu tính văn học, thường xuyên đưa ra những
tuyên bố cường điệu cho tầm quan trọng của những tác giả ít được biết đến, những
người mà phạm vi hoạt động và tầm ảnh hưởng thực sự của họ chỉ tầm cỡ địa
phương.
Tất cả những vấn đề này nổi lên với riêng văn học châu Âu; một
lịch sử đầy đủ về văn học thế giới đối diện với những thách thức có thể so sánh
được trên một hệ thống đánh giá lớn hơn nhiều. Những thách thức này có thể thấy
được trong bộ sách bốn tập gần đây, Lịch sử văn học: Hướng về một viễn cảnh
toàn cầu (16). Đây là một dự án của nhóm Scandinavia được Hội đồng nghiên cứu
Thuỵ Điển tài trợ, những sự chuẩn bị của họ bao gồm nhiều cuộc họp và một cuộc
hội thảo lớn để rồi tạo ra một tập sách định hình lập trường bởi những thành
viên của nhóm làm việc và một loạt cộng tác viên nước ngoài. Anders Pettersson,
Gunilla Lindberg-Wada và những đồng nghiệp của họ hình dung tập sách với một trọng
tâm kép: đầu tiên, như một sự giới thiệu những nền văn hoá thành văn ngoài
phương Tây cho bạn đọc phương Tây và thứ hai, như một sự khám phá những hình mẫu
của giao tiếp và xuyên văn hóa (17). Tập sách đầu tiên của họ được dành cho những
khái niệm văn học trong những nền văn hoá khác nhau; tập sách thứ hai bàn luận
về nhiều thể loại ngoài văn học phương Tây; tập sách thứ ba và thứ tư xem xét sự
tương tác trong thế giới hiện đại, đặc biệt là sự phóng tác và biến đổi những mẫu
hình văn học châu Âu tại châu Á và châu Phi.
Như phần phụ đề của bộ sách đã chỉ ra, dự án thể hiện một cố
gắng ban đầu “hướng tới một viễn cảnh toàn cầu” về lịch sử văn học, hơn là một
bộ lịch sử theo dạng sắp xếp đánh giá đầy đủ. Hai tá cộng tác viên của dự án
làm việc sát cánh bên nhau và tập trung chủ yếu vào việc viết những nghiên cứu
trường hợp mở rộng, nhờ đó tránh được những vấn đề giản lược quá vắn tắt và sự
vênh lệch mục đích lộ rõ trong bộ Lịch sử văn học châu Âu của
Benoit-Dusausoy và Fontaine. Nhưng đặc trưng của những phần viết lịch sử nghiên
cứu trường hợp của họ tạo ra một loại hiệu quả sáng chói, phác thảo một cách chọn
lọc những hình mẫu văn học, thể loại và những giá trị lôi cuốn, toả sáng của biến
đổi văn hoá hơn là đưa ra kiểu lịch sử văn học bao quát được gợi ra từ tên dự
án. Ví dụ, những tiểu luận trong tập bốn, liên quan đến những chủ đề sau đây:
Tiểu thuyết Ghana bằng tiếng Anh, những chuyện kể Mỹ da đỏ và châu Âu trong sự ảnh
hưởng lẫn nhau, tính lại ghép trong văn học Anh Ấn, chủ nghĩa hiện đại dưới sự
thống trị của Bồ Đào Nha, những tiểu thuyết trinh thám thuộc khối Cộng sản; nét
đặc sắc châu Á trong sân khấu châu Âu; so sánh giữa các nền văn hoá tại Oman và
các tiểu vương quốc Arab; những va đập về văn hoá trong văn học dành cho trẻ em
tại Thổ Nhĩ Kỳ. Sau cùng là bàn luận về toàn cầu hoá. Chắc chắn là tuyển tập
này đưa ra một hệ thống phân loại mang tính loại hình hơn là lịch sử nói chung.
Tập đầu tiên của tuyển tập, những khái niệm về văn học và
tính văn học khá tóm lược, tập sách tập trung chủ yếu vào những khái niệm ngoài
văn học phương Tây, chủ yếu là từ “những nền văn hoá lớn” thuộc Trung Quốc, Ấn Độ,
Nhật Bản cùng với một tiểu luận viết về những nhà thơ Arab cổ điển và hai dạng
văn học truyền miệng tại châu Phi. 1100 trang được tuyển chọn kỹ, và giá tiền
là 425 đô la cho một bộ sách 4 tập do de Gruyter xuất bản, dự án của nhóm Thuỵ
Điển đúng ra có thể lớn như một bộ lịch sử văn học nếu nó được dự tính để được
đọc và không chỉ đơn thuần cho tra cứu khi cần. Như vậy, một bộ lịch sử bao gồm
châu Âu và châu Mỹ, bao gồm cả một phạm vi rộng lớn hơn thuộc văn hoá châu Á và
châu Phi, đưa ra một sự trình bày đầy đủ hơn về những nền văn hoá được bàn đến,
sẽ cần được xây dựng theo cách thức mới.
Một cách thức thể hiện mới sẽ cần phải đối diện với một loạt
những thách thức về cấu trúc: đưa ra một tổng quan có hiệu quả trong số lượng
trang viết có thể kiểm soát; tìm kiếm những cách thức nhằm bổ sung đầy đủ cho
phác thảo mang tính đại cương với những nghiên cứu trường hợp mà từ đó có thể
mang đến nguồn tài liệu quan trọng cho cuộc sống; cho phép người đọc sử dụng với
những mức độ quan tâm đa dạng đáng kể về tác giả, thể loại, vùng miền, hoặc kỷ
nguyên được giới thiệu. Đây là nơi mà mô hình từ điển Wikipedia có thể truy cập
dễ dàng, khiến cho lịch sử cơ bản mở rộng theo những siêu liên kết ở những cấp
độ lồng ghép chồng chéo, sâu rộng và đặc thù hơn. Một dự án kiểu này sẽ có ý
nghĩa quan trọng dù nó không chỉ dựa vào Internet. Những tập sách in ngày nay vẫn
chưa mất đi tính hữu dụng của chúng, và đặc biệt là những sinh viên văn học vẫn
có ít nhất hơn một tài liệu sách in tham khảo đầy màu sắc hoài cổ. Bản thân mô
hình Wikipedia theo kiểu chủ nghĩa công đoàn vô chính phủ hướng tới mô hình
bách khoa toàn thư và thậm chí là hỗn độn (chaotic); một tập sách in kèm theo sẽ
cung cấp điểm tựa có giá trị cho dự án, đưa ra một tổng quan có thể kiểm soát,
cái mà dễ đọc đồng thời cũng giúp người đọc có được khung kiến thức cho sự khảo
sát sâu xa hơn.
Một mô hình tốt cho một công trình kép đang tồn tại, được
phát triển một cách thích đáng bằng những trường phái văn học cổ xưa nhất trên
thế giới. Hơn một thập kỷ qua một nhóm làm việc quốc tế tại Oxford đã tập hợp
được bộ Sao lục văn bản văn học Sumer điện tử hoặc còn gọi là ETCSL, được biết
như là một dự án nhỏ nhưng lại được sự ủng hộ trên toàn thế giới. Những bản sao
và bản dịch của tất cả những văn bản văn học Sumer được biết tới có thể được
tìm thấy trên địa chỉ etcsl.orient.ox.ac.uk; phương tiện truyền thông điện tử
cho phép cập nhật thường xuyên những văn bản và bản dịch như những bản khắc chữ
hình nêm (cuneiform), những mảnh vỡ được tìm thấy và những đoạn văn tối nghĩa
được làm rõ nghĩa hơn. Vào cùng thời điểm, những văn bản quan trọng nhất của cơ
sở dữ liệu sẵn sàng có mặt trong một tập sách in tương đồng, cuốn Văn học
Sumer cổ xưa (18). Một dạng thức văn bản kép tương đương nhau có thể vận
hành tốt cho một bộ lịch sử văn học thế giới. Một tập sách in (hoặc cùng lắm là
2 đến 3 tập) có thể đưa ra một lịch sử tổng thể cùng với một ít ví dụ đặc thù
và những nghiên cứu trường hợp; sau đó trang web sẽ cho bạn đọc cơ hội truy cập
tới nội dung sâu xa hơn về bất cứ vấn đề nào. Sách in có thể được làm bởi một đội
chuyên gia chừng 12 người (một con số thông thường ngày nay để làm những hợp
tuyển tổng quát về văn học thế giới), và sau đó họ có thể làm việc như một ban
biên tập nhằm xem xét lại những đề xuất và mục từ tra cứu cho lịch sử mở rộng
trên trang web. Trang web có thể có nhiều mức độ khác nhau, mức đầu tiên tương ứng
với bản in, từ đó mở ra những mức độ khác cho phép bạn đọc truy cập sâu hơn về
vùng miền, quốc gia, thể loại, tác giả hoặc những hạng mục chủ đề khác nhau. Những
người làm dự án mong muốn dự án có thể mở rộng theo bất cứ hướng và chi tiết
nào trong khi bản in sẽ phục vụ cho toàn bộ dự án và tạo cho nó một sự gắn kết
tổng thể.
Mục đích
Điều gì sẽ là trọng điểm khi viết một bộ lịch sử văn học thế
giới? Wikipedia cho phép người đọc tra về thơ Sumer hoặc văn sĩ Murasaki
Shikibu, và nếu mục từ về chủ nghĩa lãng mạn vẫn chưa đủ phong phú ở phần tham
khảo như chúng ta cần, hạn chế đó có thể được giải quyết một cách đơn giản bằng
việc xem xét những mục từ đang tồn tại trên Wikipedia (như vị trí sẵn sàng cho
phép những người tra cứu truy cập) bao gồm cả những tác giả Brazil và Bengali
có liên quan. Sẽ là vô nghĩa nếu cứ ôm lấy một dự án đầy khó khăn nhằm viết nên
một bộ lịch sử văn học thế giới quy mô, đầy đủ trừ phi dự án có một giá trị thực
sự trong việc giúp bạn đọc, không chỉ là việc cung cấp thông tin cho họ mà còn
thách thức họ đưa ra những câu hỏi mới và làm việc theo những cách thức mới. Điều
gì có thể là nền tảng cho một chuyện kể lôi cuốn về lịch sử văn học thế giới?
Một cách để tới gần câu hỏi này đó là điễn đạt nó khác đi: một
bộ lịch sử như thế sẽ phải đối chọi với vấn đề gì? Với tôi dường như có trọng
điểm: một chủ nghĩa dân tộc eo hẹp, bị giới hạn và một chủ nghĩa toàn cầu nghẹt
thở, vô biên. Cơ hội mà lịch sử văn học thế giới tạo ra cho những truyền thống
dân tộc là một cái gì đó tốt hơn là sự tan biến trong một siêu hiện thực toàn cầu
hoá. Hơn nữa, một bộ lịch sử văn học toàn cầu có thể vận hành tốt để đối chọi lại
lối nghiên cứu duy hiện tại (presentism) ngoan cố tại rất nhiều cuộc thảo luận
trên toàn cầu, và nó có thể ghi dấu tầm quan trọng lâu dài và luôn tiếp diễn của
tính địa phương và quốc gia trên toàn cầu. Bằng việc mở ra một quãng đường dài
lịch sử văn học, lịch sử toàn cầu có thể bộc lộ những mối quan hệ có tính hệ thống
rộng rãi hơn giữa những nền văn hoá thành văn, không những không đối lập văn học
thế giới với những nền văn học quốc gia mà còn đảm nhận việc tìm kiếm sự đồng
sáng tạo thuộc những hệ thống văn học, cái mà gần như thường xuyên được pha trộn,
vừa mang tính địa phương hoá, vừa xuyên địa phương.
Posnett có cái nhìn thấu hiểu quan trọng khi ông nhận ra hình
thức đầu tiên của văn học thế giới hình thành trước nhà nước độc lập hiện đại,
dù chúng ta không cần phải thấy văn học như đang vận động trong một tiến trình
trật tự của những phạm vi hoạt động văn học xã hội mà ông đã đưa ra trong tác
phẩm. Một bản báo cáo đầy đủ hơn về văn học thế giới sẽ cho thấy những nền văn
hoá thành văn thường là những hiện tượng pha trộn ở nhiều cấp độ, điều này hơn
hẳn việc đưa ra một chuỗi những nền văn học thuộc thị tộc, thành phố tự trị, đế
chế, và quốc gia. Thế giới ảnh hưởng lâu dài tới thành phố tự trị và quốc gia
trước khi Liên hiệp quốc và Quỹ tiền tệ quốc tế hình thành, và những quốc gia
và những vùng đất hình thành sau khi quốc gia chia tách tiếp tục như nơi gặp gỡ
chủ yếu của sản phẩm văn học và sự tiếp nhận ngày nay. Tuy nhiên, một tác phẩm
mang tính “toàn cầu” có thể được bán trong những thị trường địa phương và được
đọc trước tiên bởi những người có giáo dục trong một hệ thống quốc gia. Thực sự
là trong một bản dịch hiện đại, thậm chí là bản dịch một văn bản cổ xưa ta cũng
có thể thấy cảm quan hiện đại của một tác phẩm đương đại: bản dịch Iliad của
Robert Fagles đã kế tục và phỏng theo lối diễn đạt của người
Mỹ đương đại, cho dù khoảng cách văn hoá và thời gian của Homer vẫn tiếp tục thách thức những mong đợi của bạn đọc đương đại(19).
Mỹ đương đại, cho dù khoảng cách văn hoá và thời gian của Homer vẫn tiếp tục thách thức những mong đợi của bạn đọc đương đại(19).
Từ thiên niên kỷ đầu tiên TCN, cùng lúc, văn học mang cả tính
địa phương lẫn xuyên địa phương. Từ thiên niên kỷ thứ hai TCN đến nay, hiếm khi
có trường hợp một chính thể tạo nên một nền văn học tách biệt với những vùng
lân cận và những nền văn hoá xa xôi hơn. Trong thế giới Địa Trung Hải cổ xưa,
vương quốc Ai Cập cổ đại là ngoại lệ vì đã phát triển một hệ thống chữ viết duy
nhất và tạo nên một nền văn học được phát triển hầu như hoàn toàn nằm trong hệ
thống chữ viết đó, có vẻ như nó hấp thụ ít những ảnh hưởng nước ngoài và hiếm
khi được đọc bên ngoài vùng thung lũng sông Nile. Điển hình hơn nữa là trải
nghiệm của hệ thống chữ viết hình nêm được phát triển khoảng năm 3100 TCN bởi
những người Sumer phía nam vùng Lưỡng Hà. Nền văn hoá của họ nhanh chóng ngự trị
những thành phố hùng mạnh của vùng Akkad và những vùng đất liên minh; Khi tiếng
Akkad trở thành ngôn ngữ nổi trội trong vùng, hệ thống chữ viết Sumer được thay
đổi để sử dụng thích ứng cùng ngôn ngữ Akkad và những ngôn ngữ khác khắp vùng
Lưỡng Hà và Fertile Crescent. Nền văn học Babylon được phát triển trong thiên
niên kỷ thứ hai như một hệ thống sáng tác song ngữ có nền tảng từ một hệ thống
chữ viết đơn lẻ, nó lan toả khắp những thành quốc và những đế chế thuộc bắc và
nam vùng Lưỡng Hà, tiến về phía đông Persia và sau đó là Anatolia và Levant.
Trong tất cả những khu vực này, sản phẩm văn học viết bắt đầu
trong vương quốc của một hệ thống chữ viết quốc tế, được viết bởi những người
chép thuê được đào luyện trong cả hai hệ thống ngôn ngữ, tiếng mẹ đẻ và tiếng
Sumer, thứ ngôn ngữ để lại nền tảng lâu dài cho việc đọc, viết chữ hình nêm, kể
cả sau khi những người Sumer ngừng sử dụng dưới bất cứ hình thức nào. Thực sự
là, tiếng Sumer được nghiên cứu trong nhiều thế kỷ sau khi việc nói ngôn ngữ
này chấm dứt, tuy nhiên nó vẫn tồn tại dưới dạng ngôn ngữ văn học cho đến khi
việc sử dụng ký tự hình nêm kết thúc, giống như trường hợp tiếng Latin, tiếng
Latin văn học tồn tại lâu hơn sự liên kết của nó tới cuộc sống của một dân tộc
đặc thù. Những điều tôi suy ngẫm về thế giới ký tự hình nêm trở thành một ma trận
trong đó nổi lên những nền văn học riêng biệt thuộc Babylon, Assyria, Persia,
Ugarit và đế chế Hittite. Thậm chí Ai Cập không thể giữ lại mãi sự biệt lập huy
hoàng từ những gì có thể gọi là hệ thống chữ viết từ thế giới Cận Đông; thời điểm
đó, việc tốc ký chữ tượng hình do các tu sĩ đảm nhận cho ra đời hệ thống mẫu tự
Tây Semite, nó lan toả khắp Cận Đông và tới cả Hy Lạp và Rome, cuối cùng nó trở
lại Ai Cập để hạ bệ hệ thống chữ tượng hình của chính nơi này. Theo dòng thời
gian, loại mẫu tự này phát triển thành nhiều hệ thống chữ viết phân biệt lan toả
nhanh chóng khắp toàn cầu - La Mã, Arab, Cyril và lần lượt từng nước, văn học lần
đầu tiên được viết ra trong một văn cảnh rộng lớn hơn thuộc một hệ thống chữ viết
và sự vận hành của nó.
Một câu chuyện tương tự có thể được kể ra đây về việc phát
minh ra chữ viết dưới triều đại nhà Thương, sau đó hệ thống chữ viết này trải
khắp những nơi mà sau này được biết đến như Trung Quốc; trong nhiều thế kỷ,
Trung Quốc không phải là quốc gia có sự kết hợp các ngôn ngữ và thể chế chính
trị, người ta kết nối thông qua trung gian là một hệ thống chữ viết riêng và nền
văn hoá chữ viết của nó (thậm chí trong cả thời kỳ bị chia cắt như Chiến Quốc).
Sự lan toả những đặc tính Trung Hoa tới Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và những
nơi xa xôi hơn đã mở rộng sự hiện diện xuyên ngôn ngữ, điều mà hệ thống chữ viết
đã từng có được từ thời kỳ sớm nhất của văn học viết(20).
Nếu văn học thường mang tính quốc tế, thì chắc chắn nó vẫn
còn lại tính dân tộc trong thế giới toàn cầu ngày nay. Thậm chí những ngôn ngữ
được sử dụng rộng rãi như Arab, Anh, Tây Ban Nha được biến đổi tuỳ theo địa
phương và có những trung tâm xuất bản và phát hành tại các địa phương. Những
nhà văn toàn cầu như Rushdie, Dereck Walcott và Orhan Pamuk có thể được đọc tại
nhiều quốc gia và họ có thể tự phân chia thời gian của mình giữa những địa điểm
khác nhau, tuy nhiên mỗi nhà văn trong số họ vẫn còn lại sự kết nối mật thiết với
quê hương, thậm chí ngay cả khi họ gắn kết cuộc đời với một hoặc hai quốc gia mới,
không khác lắm với những tiến trình lưu hành tác phẩm của Apuleius, từ Madauros
tới Athens, sau đó tới Rome, và cuối cùng lại trở về quê hương Bắc Phi. Tương tự,
giới bạn đọc rộng rãi của họ gồm những bạn đọc tại nhiều nơi khác biệt. Cuốn tiểu
thuyết Kar (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ nghĩa là Tuyết) của nhà văn Thổ Nhĩ
Kỳ Pamuk đi vào những mối quan hệ mới với một môi trường văn hoá quốc tế bất cứ
khi nào một người bán sách ở Barcelone bán ra cuốn Nieve (Tuyết trong
tiếng Tây Ban Nha), một sinh viên ở Berlin được giao nhiệm vụ đọc cuốn Schnee (Tuyết trong
tiếng Đức), hay một câu lạc bộ sách ở Los Angeles thảo luận về cuốn Snow (Tuyết trong
tiếng Anh). Những sự khác biệt mang tính địa phương cũng quan trọng: những bạn
đọc ở Catalonia sẽ có một sự lĩnh hội khác biệt với những chủ đề giao thoa văn
hoá của Pamuk hơn những bạn đọc ở Madrid, trong khi bản thân tuyết là một thứ
xa lạ tại Los Angeles thì nó lại chẳng làm những bạn đọc ở Wisconsin bận
tâm.
Trong bản tính kép thậm chí là đa dạng của mình, văn học đưa
ra một trường hợp quan trọng về việc địa phương hoá trong toàn cầu và đồng thời
là toàn cầu hoá trong địa phương. Như bản thân Wallerstein nhận xét, “lịch sử
thế giới là một sự đối lập với khuynh hướng ngả về đồng nhất hoá văn hoá; nó là
một khuynh hướng ngả về tính khác biệt văn hoá, hoặc tạo dựng văn hoá, hoặc sự
phức hợp văn hoá”(21). Nghiên cứu những sự tạo dựng mang tính phức hợp thì
không gì tốt hơn là văn học thế giới, ngày nay cũng như là cả lịch sử phát triển
của nó.
Để vượt qua tính dân tộc hẹp hòi cần phải thay đổi cách thức
phân tích lịch sử cũng như quan điểm của chúng ta về những đối tượng chúng ta
nghiên cứu. Chúng ta sẽ không thường xuyên có thể tìm thấy những liên kết có
nguồn gốc hay những ảnh hưởng trong các hiện tượng đa dạng mà chúng ta khảo
sát, thay vào đó chúng ta đang tìm kiếm những nguồn gốc của chữ viết, sự phát
triển của những nền văn hoá ghi chép tại những khuôn viên cung điện và thánh thất,
lịch sử của văn xuôi hư cấu, hay những tiến trình xuyên văn hoá, tất cả những
điều này xảy ra một cách khác biệt trong những thời kỳ và địa điểm khác nhau.
Tuy nhiên, sự khác biệt lớn này là một trong những thuận lợi tuyệt vời của việc
nghiên cứu lịch sử văn học thế giới. Khá là thường xuyên, những bộ lịch sử như
“sự trỗi dậy của tiểu thuyết”, hay chủ nghĩa lãng mạn hay thể loại kavya viết
bằng tiếng Phạn đã và đang tiến triển như thể một loạt những lựa chọn của một nền
văn hoá được đưa ra chỉ có một lựa chọn có thể thực thi. Vì thể loại monogatari
và tiểu thuyết thời vua Arthur được viết ra trong những nền văn hoá chữ viết
riêng biệt nên nghiên cứu về một trong những hình thức viết đó có thể đạt lợi
ích bằng việc nhận thức về điều có thể xảy ra tại nơi khác trên thế giới vào thời
gian đó. Molière chưa bao giờ nghe tới Chikamatsu Monzaemon, nhà viết kịch cùng
thời với ông thế nhưng ông và kịch gia Nhật Bản vĩ đại này đều viết những vở kịch
phản ứng lại sự phát triển của văn hoá thương mại trung lưu trong một môi trường
quý tộc và tác phẩm của họ có thể so sánh ở nhiều cấp độ. Quý ông tư sản của
Molière là con trai một người buôn vải, trong khi người hùng trong Những vụ
tự vẫn vì tình tại Amijima của Chikamatsu là một người buôn giấy; nhân vật
chính của cả hai vở kịch đều phải lòng người thuộc đẳng cấp cao hơn, và cả hai
buộc phải đương đầu với những hạn chế do vươn tới đẳng cấp xã hội khác là điều
mà chính gia đình họ cũng thừa nhận. Cả hai tác gia kịch cách mạng hoá những hình
thức nghệ thuật đại chúng nhằm đưa ra một chiều sâu mới cho nghệ thuật trình diễn
kịch, và những vở kịch của họ mang tính siêu sân khấu (metatheatrical) một cách
rõ rệt, sử dụng diễn xuất và trang phục như những ẩn dụ cho đặc tính xã hội
trong một thời đại bất ổn. Trong Những vụ tự vẫn vì tình tại Amijima và Trưởng
giả học làm sang các nhân vật miêu tả chính bản thân khiến người xem có cảm
giác như các diễn viên đang trong những vai diễn xa lạ.
Những bộ lịch sử tương tự và có thể lựa chọn ra không chỉ quan
trọng trong việc tìm hiểu những thời kỳ sớm hơn. Hơn thế nữa, làm việc này cũng
giúp chúng ta hoà hợp những sự đa dạng của những mối quan hệ có thể xảy ra
trong một vùng riêng biệt thậm chí một quốc gia riêng biệt. Có quá nhiều nghiên
cứu về văn học Anh hiện đại được biết tới trong thời kỳ 1900-1930, hầu như toàn
bộ được xếp vào đề mục chủ nghĩa hiện đại, chúng bàn luận về những nhà văn theo
chủ nghĩa hiện đại (hoặc được cho là thế) đồng thời loại bỏ gần như mọi nhà
văn. Buộc phải loại bỏ chuyện kể có kết nối mang tính hệ thống và sự phát triển
theo tuyến tính, lịch sử văn học thế giới mở ra những dạng thức tư duy có thể
tuỳ ý chọn ra, những dạng thức này cũng có thể áp dụng tại các địa phương. Nhìn
chung Molière và Chikamatsu chứng minh được một điều thú vị, cảm ơn những sự
phát triển xã hội tương đương ở những vùng đất xa cách, những nơi vẫn chưa thể
xếp vào một hệ thống toàn cầu thống nhất; ngược lại, Virginia Woolf và Arnold
Bennett (hai nhà văn Anh cùng thời) chả có gì để nói với nhau trong những dịp hiếm
hoi khi họ không thể tránh được gặp mặt. Một nghiên cứu ba chiều về văn học Anh
hiện đại, như phần về kịch thế giới hiện đại, phải dùng tới những thuật ngữ gắn
với một phạm vi rộng những tương quan và bất tương quan, để trở nên tương thích
với sự tương đồng trong cách biệt của Molière và Chikamatsu và sự
bất đồng ngay cả khi gần kề của ông Bennett và bà Woolf.
Một bộ lịch sử toàn cầu về văn học thế giới sẽ cho phép chúng
ta đặt những mối quan tâm đặc biệt của mình trong một cái khung rộng lớn hơn của
những tác phẩm văn học trên thế giới. Không nhất thiết phải dừng lại những vấn
đề nghiên cứu quan trọng, những nền văn học quốc gia sẽ được nhìn nhận theo những
hướng mới, phù hợp với nguyện vọng của những người viết văn học sử độc lập, những
người làm việc trong và xuyên suốt quá trình. Vì vậy nghiên cứu văn học thế giới
có thể mở rộng những hiệu quả tốt đẹp mà lý luận văn học có được trên lĩnh vực
phê bình nhiều thập kỷ qua. Thậm chí khi các học giả chỉ tập trung vào một tác
phẩm riêng biệt, Northrop Frye vẫn nhận xét như sau vào năm 1957, “không cần
thiết phải cho rằng thứ họ đóng góp là vô hình, như đảo san hô là vô hình đối với
sinh vật đơn bào” (22). Nhà sinh thái học uyên thâm có thể nghiên cứu rất tốt một
đám sinh vật đơn bào tại địa phương nhưng lại không nhận thức rõ vị trí của
chúng trong đảo san hô vòng, và tiếp theo là vị trí của đảo san hô vòng trong hệ
sinh thái của quần đảo. Một bộ lịch sử văn học thế giới có giá trị được viết ra
sẽ đưa ra một tấm bản đồ vô giá để đặt tác phẩm của chúng ta vào một thế giới rộng
lớn hơn.
(Theo “Toward a History of World Literature. David
Damrosch”, New Literary History, The Johns
Hopkins University Press, Vol. 39, No. 3, Literary History in the Global Age
(Summer, 2008),
pp. 481-495).
(1) Ian Watt: The Rise of the Novel: Studies in Defoe,
Richardson, and Fielding/ Sự trỗi dậy của tiểu thuyết: Những nghiên cứu về
Defoe, Richardson và Fielding. Univ. of California Press, Berkeley and Los
Angeles, 1957.
(2) Gerald Graff: Professing Literature: An
Institutional History. Univ. of Chicago Press, Chicago, 1987.
(3) Ernst Robert Curtius: European Literature and the
Latin Middle Ages/ Văn học châu Âu và Latin thời Trung cổ (trans.
Willard R. Trask). Princeton Univ. Press, Princeton, NJ., 1953; Erich Auerbach: Mimesis:
The Representation of Reality in Western Literature/ Mimesis, phương thức biểu
hiện thực tại trong văn học phương Tây (trans. Willard R. Trask).
Princeton Univ. Press, Princeton, NJ., 1953.
(4) Mary Ann Caws, Christopher Prendergast et al., eds.: The
HarperCollins World Reader/ Văn tuyển thế giới của HarperCollins,
2 vols. HarperCollins, New York, 1994; Maynard Mack et al., eds.: The
Norton Anthology of World Masterpieces/ Hợp tuyển Norton về văn
học thế giới, expanded ed., 6 vols. Norton, New York, 1995.
(5) Bruce Mazlish: The New Global History/ Lịch sử
toàn cầu mới. Routledge, New York, 2006.
(6) Johann Wolfgang von Goethe: Conversations with
Eckermann/ Những cuộc đàm luận với Eckermann (trans. John Oxenford).
North Point, San Francisco, 1984, tr.132.
(7) François-Marie Arouet de Voltaire: Candide ou
l’optimisme, in Romans et contes/ Candide hay sự lạc quan, trong tiểu thuyết
và truyện kể (ed. René Pomeau). Garnier, Paris, 1966, tr.179-259.
Translated as Candid: Or, All for the Best. J. Nourse, London, 1759.
(8) Hans Jakob Christoffel von Grimmelshausen: Der
Abenteuerlicher Simplicius Simplicissimus. Goldmann, Munich, 1964. Translated
by George Schulz-Behrend as The Adventures of Simplicius Simplicissimus/ Những
cuộc phiêu lưu của Simplicius Simplicissimus. Camden House, Columbia, SC.,
1993.
(9) Hutcheson Macaulay Posnett: Comparative Literature/ Văn
học so sánh (repr.). Johnson Reprint, New York, 1970.
(10) Apuleius: Metamorphoses/ Biến hình (ed.
and trans. J. Arthur Hanson), 2 vols. Harvard Univ. Press, Cambridge, MA.,
1989), tr.44 (hereafter cited in text).
(11) H.G. Wells: The Outline of History: Being a Plain
History of Life and Mankind/ Phác thảo lịch sử: một sự thực về đời sống
và con người. Macmillan, New York, 1927; Arnold J. Toynbee: A
Study of History/ Nghiên cứu lịch sử, 12 vols. Oxford Univ. Press, London,
1934–1961.
(12) Franco Moretti: “Conjectures on World Literature/ Những
phỏng đoán về văn học thế giới”. New Left Review 1 (January–February
2000), tr.57 (Moretti’s emphases).
(13) Moretti (ed.): Il Romanzo/ Tiểu thuyết, 5
vols. (Turin: 2001–2013); The Novel, 2 vols. Princeton Univ. Press,
Princeton, NJ., 2006.
(14) Marcel Cornis-Pope and John Neubauer (eds.): History
of the Literary Cultures of East-Central Europe: Junctures and Disjunctures in
the 19th and 20th Centuries/ Lịch sử những nền văn hoá thành văn tại Đông
và Trung Âu, những sự nối liền và đứt gẫy trong thế kỷ XIX và XX. J. Benjamins,
New York, 2004); Mario J. Valdés and Djelal Kadir (eds.): Literary
Cultures of Latin America: A Comparative History/ Những nền văn hoá thành
văn của Mỹ Latin: Một lịch sử so sánh, 3 vols. Oxford Univ. Press, New York,
2004.
(15) Annick Benoit-Dusausoy and Guy Fontaine (eds.): History
of European Literature/ Lịch sử văn học châu Âu (trans. Michael Woolf).
Routledge, London, 2000, tr.xxvii.
(16) Anders Pettersson (ed.): Literary History: Towards
a Global Perspective/ Lịch sử văn học: Hướng tới một viễn cảnh toàn cầu, 4
vols. de Gruyter, Berlin, 2006.
(17) Gunilla Lindberg-Wada (ed.): Studying Transcultural
Literary History/ Nghiên cứu lịch sử văn học xuyên văn hoá. de Gruyter, Berlin,
2006.
(18) Jeremy Black (ed.): The Literature of Ancient
Sumer/ Văn học Sumer cổ xưa. Oxford Univ. Press, Oxford, 2004.
(19) Homer: The Iliad (trans. Robert Fagles).
Viking, New York, 1990.
(20) David Damrosch: “Scriptworlds: Writing Systems and the
Formation of World Literature/ Những thế giới chữ viết: Những hệ thống chữ viết
và sự hình thành của văn học thế giới”, Modern Language Quarterly, 68, No.2
(2007), tr.195-219.
(21) Immanuel Wallerstein: “The National and the Universal:
Can There Be Such a Thing as World Culture?/ Tính quốc gia và tính thế giới: có
thể có một thứ như là văn hóa thế giới?”, trong Culture, Globalization,
and the World-System: Contemporary Conditions for the Representation of
Identity”/ Văn hóa, toàn cầu hóa và hệ thống thế giới: Những điều kiện đương đại
cho sự thể hiện bản sắc (ed. Anthony D. King). Univ. of Minnesota Press,
Minneapolis, 1997, tr.96.
(22) Northrop Frye: Anatomy of Criticism: Four Essays/ Giải
phẫu phê bình: bốn tiểu luận. Princeton Univ. Press, Princeton, NJ., 1957,
tr.12.
DAVID
DAMROSCH*



















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét