Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

Sáng tạo, ký ức và không gian

Sáng tạo, ký ức và không gian
Mười năm qua có một mối quan tâm mới vào hai lĩnh vực chồng khớp nhau của khoa học xã hội và nhân văn: ký ức và địa lý, hay cụ thể hơn, nghiên cứu về không gian của con người. Cả hai đều cho ra đời rất nhiều công trình thú vị, những công trình thực sự gây dựng nên những lĩnh vực nghiên cứu và tìm hiểu mới. Việc quan tâm đến ký ức, chẳng hạn, đã mở ra những dạng thức sáng tác ngày càng thông dụng như hồi ký và tự thuật cá nhân mà hầu như mỗi một tiểu thuyết gia danh tiếng đều thử sức, đó là chưa kể đến sự xuất hiện đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, các nhân vật của công chúng v.v…
Mười năm qua có một mối quan tâm mới vào hai lĩnh vực chồng khớp nhau của khoa học xã hội và nhân văn: ký ức và địa lý, hay cụ thể hơn, nghiên cứu về không gian của con người. Cả hai đều cho ra đời rất nhiều công trình thú vị, những công trình thực sự gây dựng nên những lĩnh vực nghiên cứu và tìm hiểu mới. Việc quan tâm đến ký ức, chẳng hạn, đã mở ra những dạng thức sáng tác ngày càng thông dụng như hồi ký và tự thuật cá nhân mà hầu như mỗi một tiểu thuyết gia danh tiếng đều thử sức, đó là chưa kể đến sự xuất hiện đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, các nhân vật của công chúng v.v…Sự chú tâm của cả nước vào hồi ức, tự thú và nhân chứng thể hiện từ các tự thú công khai – chẳng hạn scandal Clinton-Lewinsky – cho đến nhiều nghiên cứu về ý nghĩa của ký ức tập thể, của suy tư mở, nhiều phân tích trường hợp, cộng thêm vô số những ghi chép tiêu biểu. Tôi sẽ trình bày điều đó ở phần sau. Ngoài ra và hơi ngoài lề, người ta cũng đòi hỏi một cách nghiêm túc, đôi khi gay gắt, về tính chân thực của các ký ức cũng như, ở phía khác điềm tĩnh hơn, một phân tích học thuật nổi bật về vai trò của những vấn đề như truyền thống và kinh nghiệm lịch sử tập thể.
Sau đây là một số cuộc tranh luận căng thẳng, thậm chí thống thiết: Trong hình thức ấn bản của mình, nhật ký Anne Frank thực sự là của cô hay bị nhà xuất bản, thành viên gia đình hoặc người khác sửa chữa nhằm che dấu những phiền toái trong đời sống riêng tư của cô? Ở châu Âu từng diễn ra một cuộc tranh luận lớn và thường xuyên gay gắt về ý nghĩa của Holocaust [i] với hàng loạt quan điểm như điều gì đã xảy ra, tại sao lại xảy ra, và nó cho chúng ta biết gì về bản chất của nước Đức, nước Pháp và một số quốc gia khác có liên quan. Vài năm trước nhà cổ điển học nổi tiếng người Pháp Pierre Vidal-Naquet từng viết một cuốn sách gây ảnh hưởng có tên Những kẻ bóp méo ký ức nói về những người Pháp phủ nhận Holocaust và gần đây hơn phiên tòa xử Papon [ii] ở Bordeaux đã làm dấy lên những câu hỏi không dễ trả lời liên quan không chỉ tới ký ức về Chiếm đóng mà còn tới tính chính đáng của những người Pháp cộng tác với Phát xít và tới những gì mà nó đề cập đến các ký ức được tuyển lựa của người Pháp về thể chế Vichy. Ở Đức đương nhiên việc tranh luận về tính xác thực của những trại tập trung hà khắc cũng như ý nghĩa triết học và chính trị của chúng thường xuyên trải qua những đợt luận chiến mới, mà gần đây nhất được truyền cảm hứng từ việc ấn hành bản dịch tiếng Đức cuốn sách của Daniel Goldhagen [iii] Những đao phủ tự nguyện của Hitler. Ở Mỹ hãy xem xét sự phẫn nộ của những dân biểu ủng hộ văn hóa chính thống và thành viên chính phủ đối với Viện Smithson [iv] – được coi chính là một dạng hiện thân cho ký ức chính thống của đất nước – trong những nỗ lực không thành công của nó nhằm khuếch trương hai cuộc triển lãm, một là về Enola Gay [v], một là về trải nghiệm của người Mỹ gốc Phi. Trước đây từng có một cơn say mê trước các triển lãm gây ấn tượng tại Phòng trưng bày Quốc gia về Nghệ thuật Mỹ, Nước Mỹ như là Phương Tây, vốn được lập ra nhằm đối sánh những biểu hiện về đất đai, thổ dân Anh Điêng và điều kiện sống ở Tây Mỹ trong những năm 1860s: đất đai bị ép buộc định cư, người Anh Điêng bị tiêu diệt, sự biến đổi từ môi trường nông thôn yên bình sang môi trường đô thị trấn áp. Thượng nghị sĩ bang Alaska Ted Stevens đã công khai chỉ trích rằng toàn bộ điều này là một cuộc tấn công vào nước Mỹ mặc dù ông thú nhận bản thân ông chưa hề đi xem triển lãm. Trong bất cứ sự kiện nào, những tranh luận này đều làm dấy lên câu hỏi không chỉ về cái gì được tưởng nhớ mà còn tưởng nhớ như thế nào và tưởng nhớ trong hình thức gì. Đây chính là vấn đề bản chất dễ kích động của sự biểu hiện, không đơn thuần chỉ là về nội dung.
Ký ức và những biểu hiện của nó có liên quan sâu sắc tới vấn đề căn cước, chủ nghĩa dân tộc, quyền lực và thẩm quyền. Không hề là một thực hành trung lập về các thực tế và các niềm tin cơ bản, việc nghiên cứu lịch sử, thứ đương nhiên là nền tảng của ký ức trong các cơ sở giáo dục và đại học, ở một mức độ đáng kể nào đó là một nỗ lực của các nhà dân tộc chủ nghĩa nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng một lòng trung thành đáng mong muốn và sự hiểu biết của cư dân về dân tộc, truyền thống và đức tin. Như mọi người đều rõ, có một cuộc tranh luận gay gắt ở Mỹ về những tiêu chuẩn dân tộc trong lịch sử, ở đó những chủ đề như liệu có nên tăng thời lượng giảng dạy về George Washington hoặc Abraham Lincoln trong chương trình giảng dạy lịch sử hay không đã làm dấy lên những tranh luận nảy lửa. Tương tự, như Howard Zinn gợi ý trong công trình của ông, người ta từng nghi ngờ việc tại sao nghiên cứu lịch sử nước Mỹ lại chỉ tụng ca những chiến công hiển hách của các vĩ nhân mà không đề cập đến những gì đã xảy ra đối với những con người bé nhỏ, những người xây dựng nên đường sắt, làm việc trong các nông trại, đổ mồ hôi trong những nhà máy công nghiệp khổng lồ, tạo nên phần đa của cải và sức mạnh to lớn cho đất nước này (Ông tái nhấn mạnh sự thiếu cân đối này trong cuốn sách gây ấn tượng bán được nửa triệu bản Một lịch sử cư dân Mỹ) 1. Trong một bài viết gần đây, ông thậm chí còn nói rõ hơn. Sau khi được hỏi về việc tham dự một hội thảo về Thảm sát Boston [vi], ông nghĩ rằng ông muốn
thảo luận về các cuộc thảm sát khác bởi dường như với tôi chú tâm vào Thảm sát Boston là một hành động vô cảm của nhiệt tình yêu nước. Không có cách nào làm lu mờ những cách biệt sâu sắc giữa các chủng tộc và giai cấp trong lịch sử Mỹ rõ ràng hơn việc hợp nhất chúng ta nhằm cổ vũ cho Cách mạng Mỹ và toàn bộ các biểu tượng của nó (giống như bức chạm lạnh lùng khắc hình ảnh những người lính bắn vào đám đông của Paul Revere [vii]).
Tôi từng gợi ý cho những người có mặt tại Faneuil Hall (bức tường vây quanh chúng ta treo đầy chân dung những Người sáng lập và những vị anh hùng quân đội của dân tộc) rằng có những cuộc thảm sát khác, bị bỏ quên hoặc chỉ được tưởng nhớ qua quít, cũng đáng được tưởng niệm. Những sự kiện bị bỏ qua này có thể nói cho chúng ta nhiều điều về kích động chủng tộc và đấu tranh giai cấp, về những thời điểm đáng hổ thẹn trong quá trình bành trướng của chúng ta ở lục địa và nước ngoài, để chúng ta có thể nhìn nhận bản thân rõ ràng hơn, chân thực hơn 2.
Những nhận xét này ngay lập tức dẫn tôi đến vấn đề gây nhiều tranh cãi về chủ nghĩa dân tộc và căn cước dân tộc, về cái cách mà những kí ức quá khứ đã được xếp đặt để tương thích với ý niệm “chúng ta” là gì, hoặc nói cách khác, “họ” thực sự là ai. Căn cước dân tộc thường bao gồm những tự sự - về quá khứ dân tộc, về những người sáng lập của nó, về những dẫn liệu, những sự kiện trọng đại v.v…Song những tự sự này không bao giờ không thể nghi ngờ, cũng không đơn thuần chỉ là việc kể lại các thực tế một cách trung tính. Chẳng hạn ở Mỹ, sự kiện năm 1492 được tưởng niệm rất khác biệt bởi những cư dân coi mình là nạn nhân sự xuất hiện của Columbus – những người da màu, những cộng đồng thiểu số, những thành viên của giai cấp công nhân, nói ngắn gọn, những người tuyên bố họ có một ký ức tập thể khác đối với những gì được ngợi ca ở hầu hết các trường học như là một chiến thắng của tiến bộ và như là bước tiến chung của loài người. Bởi thế giới đã co hẹp lại– chẳng hạn sự phát triển thần kỳ của các phương tiện truyền thông - và bởi người dân thấy mình đang trải qua những thay đổi xã hội nhanh chóng nhất trong lịch sử, cho nên thời chúng ta trở thành một kỷ nguyên kiếm tìm các cội rễ, kỷ nguyên của những người cố gắng tìm trong ký ức tập thể của chủng tộc, tôn giáo, cộng đồng và gia tộc họ một quá khứ hoàn toàn riêng biệt, tránh khỏi những tàn phá của lịch sử và của thời đại biến động. Song điều này cũng làm dấy lên những tranh luận hết sức gay gắt, thậm chí gây đổ máu. Trong thế giới Hồi giáo, người ta đang tranh luận về cách đọc truyền thống chính thống (sunnah), chẳng hạn những câu hỏi làm thế nào giải thích được những câu chuyện về Mohammed mà về căn bản là những ký ức do môn đồ và thân hữu tái dựng nên, và làm thế nào để có được một hình dung về các chuẩn mực ứng xử và luật tắc của người Hồi giáo đương đại phù hợp và tương thích với những ký ức quý giá, nguyên sơ và thực sự cổ xưa đó. Những câu hỏi tương tự cũng nảy sinh trong những giải thích về Phúc âm Thiên chúa cũng như trong những cuốn sách về các nhà tiên tri Do Thái. Những câu hỏi này có tác động trực tiếp lên các vấn đề của cộng đồng và nền chính trị ngày hôm nay. Một số câu hỏi chính là nguyên nhân gây nên cuộc tranh luận ưa thích về các giá trị thân tộc mà các ứng viên chính trị, các triết gia đạo đức và các nhà phê bình của công chúng tán dương.
Toàn bộ vấn đề ký ức như một động thái xã hội, chính trị và lịch sử này đã làm xuất hiện thêm một vấn đề phức tạp, như tôi đã nhắc tới ở trên, đó là vai trò của sáng tạo. Năm 1983 hai sử gia xuất sắc người Anh Eric Hobsbawn và Terence Ranger đã biên soạn một cuốn sách tập hợp các tiểu luận của nhiều sử gia nổi tiếng khác có tựa đề Sáng tạo truyền thống 3. Tôi sẽ không cố gắng tóm tắt các ý tưởng trong cuốn sách tinh tế và phong phú này ngoài việc cho rằng đối tượng được nghiên cứu là cách thức mà các nhà cai trị – giới chức xã hội và chính trị trong giai đoạn kể từ khoảng 1850 – tạo ra những nghi lễ và tạo phẩm được cho là cổ xưa như váy của người Scotland hay các durbar [viii] ở Ấn Độ, từ đó thiết lập nên một ký ức giả, tức là một ký ức được sáng tạo về quá khứ như là một phương thức xác lập một cảm thức mới về căn cước cho người cai trị lẫn kẻ bị trị. Ở Ấn Độ, chẳng hạn, các durbar – mà trạng thái “truyền thống” là một hư cấu hoàn toàn – được cho là một nghi lễ lớn đặt ra ăn sâu vào ký ức của người Ấn Độ dù nó đáp ứng nhu cầu của giới chức thuộc địa Anh muốn ép buộc người dân Ấn Độ tin vào lịch sử trị vì lâu đời của đế chế Anh. “Ở châu Phi”, Ranger viết “những người da trắng cũng cần đến các truyền thống được sáng tạo để xác lập quyền uy và niềm tin cho phép họ hành động như những tác nhân của thay đổi. Hơn thế, trong chừng mực chúng được áp dụng một cách có chủ ý cho những người châu Phi, những truyền thống được sáng tạo [chẳng hạn ép buộc người châu Phi lao động trên những nông trại của quý tộc châu Âu] của châu Âu thế kỷ 19 chắc chắn được coi là những tác nhân của ‘hiện đại hóa’” 4. Ở nước Pháp thời hiện đại, theo Hobsbawn, sự thoái ngôi của Napoleon III và sự xuất hiện của một giai cấp công nhân bị chính trị hóa như được minh chứng trong Công xã Pari đã khiến cho “giai cấp tư sản của nền Cộng hòa ôn hòa” tin rằng chỉ có nó mới có thể ngăn chặn được nguy cơ của cách mạng bằng cách tạo ra một kiểu công dân mới, “biến nông dân thành người Pháp… [và] tất cả người Pháp thành những người Cộng hòa chân chính”. Theo đó cách mạng Pháp được thể chế hóa trong giáo dục bằng việc phát triển “một đội ngũ thế tục tương đương với nhà thờ…thấm nhuần các nguyên lý và nội dung của cách mạng và nền cộng hòa”. Hơn nữa, có một “sự sáng tạo nên những nghi lễ công cộng”. Nghi lễ quan trọng nhất trong số này, Ngày Bastille, có thể được lập nên đúng vào năm 1880. Thứ ba, có một “sự tạo tác hàng loạt các tượng đài công cộng” với hai kiểu chủ yếu – hình tượng của chính nền Cộng hòa như Marianne [ix] – và hình tượng những nhân vật thường dân râu ria được phong trào yêu nước địa phương lựa chọn làm những người quyền uy của nó” 5.
Nói cách khác, sáng tạo truyền thống là một thực tế thường xuyên được giới chức sử dụng làm công cụ cai trị trong nhiều xã hội khi những ràng buộc của các đơn vị xã hội nhỏ như làng và gia tộc tan rã và giới chức cần tìm kiếm những phương thức khác kết nối đông đảo cư dân với nhau. Sáng tạo truyền thống là phương pháp sử dụng ký ức tập thể một cách có lựa chọn bằng cách thao túng những sự kiện nào đó của quá khứ dân tộc, trấn áp, thậm chí loại bỏ những sự kiện khác trong một cách thức hoàn toàn thực dụng. Do đó ký ức không nhất thiết phải xác thực, mà đúng hơn phải hữu ích. Nhà báo Israel Tom Segev đã chỉ ra trong cuốn sách Triệu thứ bảy của ông rằng Holocaust được chính quyền Israel sử dụng một cách có chủ ý như là một cách thức củng cố căn cước dân tộc Israel sau nhiều năm không quan tâm lắm đến nó6. Tương tự, sử gia Peter Novick, trong một nghiên cứu mới xuất bản gần đây về hình ảnh Holocaust trong những người Do Thái Mỹ, chỉ ra rằng trước chiến tranh 1967 và chiến thắng của Israel trước các nhà nước Ả rập, người Do Thái Mỹ rất ít quan tâm tới những hình ảnh kinh hoàng đó (và trên thực tế họ đã cố gắng không nhắc đến nó nhằm tránh chủ nghĩa bài Do Thái) 7. Từ những thái độ đầu tiên đó tới việc xây dựng Bảo tàng Holocaust tại Washington là cả một chặng đường dài. Tương tự, cuộc tranh luận xoay quanh những ký ức về vụ thảm sát người Armenia [x] đang hết sức gay gắt do chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã phủ nhận vai trò của mình.
Luận điểm của tôi trong việc trích dẫn tất cả những trường hợp này là nhấn mạnh mức độ mà tại đó nghệ thuật ký ức cho xã hội hiện đại là một thứ thường xuyên được các sử gia, thường dân cũng như các thể chế sử dụng, lạm dụng và khai thác hơn là một thứ nằm trơ đó để mỗi người sở hữu và có được. Do đó việc nghiên cứu và quan tâm tới ký ức hay một quá khứ riêng đáng mong muốn và có thể tìm lại là một hiện tượng lan tỏa đặc biệt vào cuối thế kỷ 20 nảy sinh trong một thời đại thay đổi chóng vánh, thời đại của hàng loạt xã hội lớn và khuếch trương không thể hình dung nổi, của các phong trào dân tộc chủ nghĩa cạnh tranh nhau, và có lẽ quan trọng nhất, thời đại mà hiệu lực của những ràng buộc về tôn giáo, gia tộc và triều đại đang ngày càng suy giảm. Người dân giờ đây hướng về ký ức được tái tạo này, nhất là trong những dạng thức tập thể của nó, nhằm cấp cho họ một căn cước nhất quán, một tự sự dân tộc, một không gian trong thế giới, mặc dù như tôi đã chỉ ra, những quá trình ký ức là thường xuyên, nếu không muốn nói là luôn luôn, bị thao túng và can thiệp cho những mục tiêu đôi khi bức thiết của hiện tại. Sẽ thú vị khi đối sánh dạng ký ức hiện đại và có phần lỏng lẻo hơn này với nghệ thuật ký ức hệ thống và nghiêm ngặt trong thời cổ mà Frances Yates từng mô tả8. Ký ức với Cicero [xi] là một thứ được tổ chức và cấu trúc. Nếu bạn muốn nhớ điều gì đó cho một bài diễn văn sắp đọc, bạn phải tưởng tượng ra một ngôi nhà với tất cả phòng ốc và ngóc ngách, và bằng con mắt của tâm thức bạn chia nhỏ từng mảnh ký ức mà bạn muốn nhớ rồi đặt chúng trong nhiều phần khác nhau của ngôi nhà; khi bạn nói bạn đi qua căn nhà bằng tâm trí của bạn, có nghĩa bạn lưu ý các không gian, các vật thể và các cụm từ lúc bạn đi dọc theo. Trật tự đường hướng đó được duy trì trong ký ức. Nghệ thuật ký ức hiện đại dễ tái trật tự và tái triển khai sáng tạo hơn nhiều so với nghệ thuật ký ức thời cổ đại.
Về địa lý, hay địa lý như tôi muốn dùng từ này, với tư cách là một cảm thức về không gian được cấu trúc và được duy trì về mặt xã hội, các học giả và nhà phê bình đã giành rất nhiều quan tâm tới vai trò cấu thành đặc biệt của không gian trong hoạt động của con người. Ta hãy xét một dẫn chứng quen thuộc, từ toàn cầu hóa, một khái niệm không thể thiếu đối với kinh tế học hiện đại. Đây là một ấn định có tính không gian và địa lý biểu thị phạm vi toàn cầu của một hệ thống kinh tế hùng mạnh. Ta hãy hình dung những ấn định địa lý như Auschwiz [xii], hãy xem đâu là sức mạnh và sự cộng hưởng của những ấn định đó, vượt lên một thời điểm riêng biệt trong lịch sử hoặc một khu vực địa lý như Ba Lan hay Pháp. Ta cũng làm như vậy với Jerusalem, một thành phố, một hình dung, một lịch sử thuần nhất và đương nhiên, một khu vực địa lý cụ thể thường xuyên được biểu trưng bằng ảnh các vòm đá, bằng những bức tường thành, những ngôi nhà bao quanh nhìn từ Núi Ô Liu. Nó cũng được xác định rõ khi đi vào ký ức cũng như vào mọi dạng thức lịch sử và truyền thống được sáng tạo, tất cả chúng đều bắt nguồn từ nó, song hầu hết chúng đều xung đột với nhau. Xung đột này được gia cố bởi vị trí huyền thoại của Jerusalem – đối lập với vị trí địa lý thực - mà ở đó cảnh quan, nhà cửa, đường phố và những thứ tương tự đều bị che phủ, thậm chí tôi cho rằng, chúng hoàn toàn bị vây bọc bởi những kết hợp biểu tượng làm lu mờ hẳn thực tế tồn tại của một thành phố và một không gian Jerusalem thực. Ta có thể nói điều tương tự đối với Palestine, nơi mà các chức năng cảnh quan trong những ký ức về người Do Thái, người Hồi giáo và người Thiên chúa giáo là hoàn toàn khác nhau. Một trong những điều lạ lùng nhất đối với tôi khi tìm hiểu là ảnh hưởng mạnh mẽ của vùng đất này tới các đội quân viễn chinh châu Âu bất chấp khoảng cách xa xôi của họ. Chẳng hạn những hình ảnh Chúa bị đóng đinh trên thập giá và Chúa giáng sinh xuất hiện trong hội họa châu Âu Phục hưng đã diễn ra ở một Palestine bị biến khác, bởi vì không một nghệ sĩ nào từng nhìn thấy không gian đó. Một cảnh quan được lý tưởng hóa đã dần dần hình thành, duy trì tưởng tượng của người châu Âu hàng trăm năm. Việc Bernard [xiii] ở Clairvaux, đứng trong một nhà thờ tại Vezelay, trung tâm Burgundy, có thể tuyên bố một cuộc thập tự chinh giành lại Palestine và các thánh địa từ tay người Hồi giáo sẽ không thôi làm tôi kinh ngạc, và sau hàng trăm năm sống ở châu Âu những người Do Thái theo chủ nghĩa phục quốc vẫn cảm thấy Palestine đứng vững và thuộc về họ bất chấp hàng thiên niên kỷ lịch sử và bất chấp sự hiện diện của những cư dân trên thực tế. Đây cũng là một dấu hiệu cho thấy địa lý có thể bị thao túng, sáng tạo và mô tả khỏi một thực tế thuần túy tự nhiên của một vùng đất như thế nào.
Cuốn sách của Simon Schama Cảnh quan và ký ức đã mô tả mối quan hệ qua lại giữa các vùng địa lý cụ thể với tưởng tượng của con người. Chắc chắn khía cạnh hấp dẫn nhất trong cuốn sách của Schama là ở chỗ ông đã chỉ ra, bằng nhiều cách khác nhau, rằng rừng, làng mạc, núi non và sông ngòi không bao giờ trùng khớp với những thực tế ổn định ngoài kia vốn khu biệt và cấp cho chúng tính bền vững. Ngược lại, như trong một ví dụ ông dẫn ra về ngôi làng trước đây của gia đình ông ở Lithuania, hầu hết những dấu vết của nó đã biến mất; thay vào đó ông tìm thấy qua thơ ca của Adam Mickiewicz cái cách mà người Do Thái và người Poles “bị xáo trộn…trong số phận của nhau” bất chấp niềm tin của những người đương thời với ông cho rằng họ “chắc chắn xa lạ nhau”. Địa lý không chỉ khuấy động ký ức, mà còn khuấy động các giấc mơ, các huyễn tưởng, khuấy động thơ ca, hội họa, triết học (chẳng hạn trong Holzwege của Heidegger), tiểu thuyết (những tiểu thuyết về Cao nguyên của Walter Scott) và âm nhạc (chẳng hạn trong Finlandia của Sibelius hay Mùa xuân Appalachia của Copland) 9.
Nhưng điều gây thú vị đặc biệt cho tôi là ảnh hưởng của cả ký ức và địa lý tới tham vọng xâm chiếm và cai trị. Hai cuốn sách của tôi, Đông phương luận và Văn hóa và Chủ nghĩa đế quốc, dựa trên không chỉ ý tưởng về cái mà tôi gọi là địa lý tưởng tượng – chẳng hạn việc sáng tạo và xây dựng một không gian địa lý được gọi là phương Đông mà ít chú tâm tới tính thực hữu của địa lý và những cư dân của nó – mà còn dựa trên bản đồ, sự xâm chiếm và sát nhập lãnh thổ cả ở nơi mà Conrad gọi là những không gian tăm tối của trái đất [xiv] lẫn những nơi đông dân cư sinh sống và cư trú nhất của nó, chẳng hạn Ấn Độ hoặc Palestine. Những chuyến du hành lớn khám phá các vùng địa lý từ da Gama tới thuyền trưởng Cook có động lực không chỉ từ sự tò mò và yêu thích khoa học, mà còn từ tinh thần cai trị, điều trở nên rõ ràng ngay lập tức khi người da trắng đặt chân lên một số vùng đất xa xôi ít ai biết tới và người bản địa nổi dậy chống lại họ. Trong kỷ nguyên hiện đại Robinson Crusoe của Defoe là một ngụ ngôn quan trọng cho thấy địa lý và xâm lược gắn liền với nhau như thế nào, đưa đến một báo trước gần như kỳ bí về các nhân vật lịch sử như Clive và Hastings ở Ấn Độ hoặc những nhà du hành và thám hiểm khoa học như Murchison ở châu Phi nhiều thập kỷ sau đó. Những kinh nghiệm này dẫn đến những ký ức phức hợp cho người bản địa cũng như người Anh (trong trường hợp Ấn Độ); một mối liên hệ tương tự giữa ký ức với lãnh thổ đã củng cố mối quan hệ Pháp và Algeria trong 130 năm cai trị của Pháp ở Bắc Phi. Lẽ ra chúng ta đừng bỏ qua và bỏ quên Ấn Độ hoặc Algeria, chẳng hạn sử dụng những tình cảm lại giống xa lạ như khôi phục lại Raj [xv] – nhiều chương trình TV và phim ảnh như Đá quý trên Vương miện, Một con đường tới Ấn Độ, Gandhi, mốt mặc trang phục safari, mốt đội mũ, đi ủng kịch – như một cách thường xuyên khơi dậy nỗi luyến tiếc những ngày tháng quá khứ tốt đẹp của uy thế Anh tại châu Á và châu Phi, nơi mà hầu hết người Ấn Độ và Algeria nói rằng họ có được tự do là kết quả của nhiều năm đấu tranh giành độc lập, tái thiết căn cước, văn hóa và ngôn ngữ của họ, và trên hết, giành lại được lãnh thổ của họ từ tay thực dân. Vì thế, ở một mức độ nào đó, chúng ta chứng kiến sự xuất hiện đáng chú ý của một nền văn học Anh - Ấn của Anita Desai, Salman Rushdie, Arundhati Roy và nhiều tác giả khác, phát hiện lại và định hình lại quá khứ từ quan điểm hậu thực dân, từ đó xây dựng một không gian hậu bá quyền mới.
Ta dễ dàng nhận thấy thực tế chiếm chỗ trong trải nghiệm thuộc địa mà về bản chất là sự thay thế một quyền uy địa lý, một quyền uy đế chế, do một thế lực khác của bản địa gây ra. Tinh tế và phức tạp hơn là cuộc đấu tranh văn hóa không hồi kết nhằm giành lại lãnh thổ mà ở đó nhất thiết bao hàm các ký ức, các tự sự chồng chéo và các cấu trúc tự nhiên. Không ai nghiên cứu điều này có ảnh hưởng lớn như Raymond Williams quá cố trong cuốn sách kinh điển của ông Nông thôn và thành thị. Ông chỉ ra rằng những dạng thức văn chương và văn hóa như tụng thi, pamphlet chính trị và nhiều kiểu tiểu thuyết khác nhau đều có nền tảng mỹ học từ những thay đổi diễn ra trong địa lý hoặc cảnh quan do hệ quả của đấu tranh xã hội. Hãy để tôi giải thích điều này cụ thể hơn. Thể loại thơ trang viên từ giữa thế kỷ 17 đến thế kỷ 18, vốn nhấn mạnh vào sự trang trọng êm đềm và sự cân xứng cổ điển của ngôi nhà – “Trung tâm của Thiên đường, Không gian của Tự nhiên” – không giống với thơ trang viên trong tác phẩm của Marvell, Ben Jonson và muộn hơn, của Pope. Jonson khiến ta chú ý tới cái cách mà ngôi nhà không bị những cư dân làm nông quấy nhiễu, xâm lấn; Marvell, theo một cách phức tạp hơn, coi trang viên là kết quả của sự kết hợp giữa tiền, tài sản và chính trị; ở Pope ngôi nhà trở thành một dạng tâm điểm đạo đức; và sau này trong Trang viên Mansfield của Jane Austen ngôi nhà chính là hiện thân cho tất cả những gì nhân từ và tốt đẹp ở Anh. Tài sản ở cả bốn nhà văn đều được củng cố; điều chúng ta thấy là sự chiến thắng tuần tự của một biện chứng xã hội ca ngợi đức hạnh và nhu cầu của giai cấp giàu có, giai cấp mà chính nó dường như là đại diện rõ rệt nhất cho dân tộc. Ở từng trường hợp, các nhà văn đều nhớ về quá khứ theo cách riêng của họ, quan sát những hình ảnh tiêu biểu cho quá khứ đó, lưu giữ một quá khứ và loại bỏ các quá khứ khác. Những nhà văn sau này, chẳng hạn các tiểu thuyết gia đô thị như Dickens và Thackeray, sẽ nhìn giai đoạn này như là một dạng thiên đường nông thôn mà từ đó nước Anh sa sút; vẻ đẹp của những cánh đồng bị thay thế bởi những thành phố công nghiệp bụi bẩn, tăm tối và ám khói. Cả hình ảnh hồi ức và hình ảnh hiện tại, Williams nói, đều là những kiến tạo lịch sử, những huyền thoại địa lý xã hội về căn cước dân tộc, về chính thể, về toàn thể đất nước, được các giai cấp, các lợi ích, các hình dung khác nhau tạo ra trong nhiều giai đoạn và không kiến tạo/huyền thoại nào là không trải qua xung đột trên thực tế và tranh chấp về mặt tu từ 10.
Tất cả những gì mà tôi đang thảo luận ở đây - sự tương tác giữa địa lý, ký ức và sáng tạo, theo nghĩa rằng sáng tạo chắc chắn sẽ xảy ra nếu như có sự hồi tưởng – có liên quan đặt biệt tới một trường hợp của thế kỷ 20 là Palestine. Palestine cho thấy sự phong phú lạ thường và sự xung đột gay gắt của ít nhất hai ký ức, hai dạng sáng tạo lịch sử, hai kiểu hình dung địa lý. Tôi muốn lập luận rằng chúng ta có thể đứng đằng sau các tiêu đề và những tường thuật về xung đột Trung Đông của các phương tiện truyền thông ngày càng hiện đại và nhận ra có một cuộc xung đột thú vị và tinh tế hơn nhiều so với những gì hay được nói đến. Chỉ khi hiểu được sự hòa trộn đặc biệt đó giữa địa lý nói chung và cảnh quan nói riêng với ký ức lịch sử, mà như tôi đã nói là một dạng thức sáng tạo đáng chú ý, thì chúng ta mới có thể nhận thức được sự tồn tại liên tục của xung đột và sự khó khăn khi giải quyết nó, một nan giải - phức tạp và quan trọng hơn nhiều so với tiến trình hòa bình hiện nay -  mà ta có thể phải đối mặt, chưa nói đến giải quyết.
Cho phép chúng tôi đặt cạnh nhau một số thời điểm và sự kiện có liên quan tới nhau. Với người Palestine, năm 1948 được nhớ tới như là năm thảm họa (nakba) khi 750.000 người chúng tôi đang sống ở đó – tức hai phần ba dân số - đã bị xua đuổi, tài sản của chúng tôi bị lấy mất, hàng trăm ngôi làng bị tàn phá, toàn bộ xã hội bị tận diệt. Với người Israel và nhiều người Do Thái trên khắp thế giới, năm 1998 là dịp kỷ niệm 50 năm độc lập và kiến thiết của Israel, một câu chuyện thần kỳ về sự khôi phục hậu Holocaust, về dân chủ, về việc tạo nên một phát triển rực rỡ trên sa mạc v.v… Như vậy hai đặc trưng hoàn toàn khác nhau về một sự kiện hồi cố đã được kiến tạo nên. Điều lâu nay vẫn làm tôi chú ý về tính chất không thể hòa giải gay gắt này, vốn là nguồn gốc của xung đột Palestine – Israel, đó là nó thường bị loại ra khỏi những quan tâm về các chủ đề liên đới nhau liên quan tới ký ức sắc tộc (hay ký ức tập thể), phân tích địa lý và phản tư chính trị. Điều này thể hiện rõ rệt nhất trong các nghiên cứu về thảm họa của nước Đức cũng như các nghiên cứu về xung đột sắc tộc ở Nam Tư cũ, Rwanda, Ireland, Sri Lanka, Nam Phi và các quốc gia khác.
Trước tiên hãy lấy trường hợp nước Đức. Người ta hầu như không nghi ngờ tầm quan trọng của việc ngăn chặn các xuyên tạc ký ức phủ định hoặc hạ thấp Holocaust, song cũng quan trọng là đừng quên chỉ ra sự kết nối, được xác lập vững chắc trong ý thức của người Do Thái đương đại, giữa Holocaust và việc thiết lập Israel như là một nơi trú ẩn cho người Do Thái. Kết nối này cũng hàm nghĩa rằng việc đẩy người Palestine ra khỏi nhà cửa và nông trại của họ không bao giờ được nói ra trên thực tế, mặc dù đối với người Palestine nó làm tăng thêm nỗi đau thân phận của họ: Tại sao, họ thắc mắc, chúng tôi lại phải trả giá cho những gì xảy ra đối với người Do Thái ở châu Âu, hệ quả của cái mà về thực chất là một cuộc thảm sát của người Thiên chúa giáo phương Tây? Câu hỏi này sẽ không bao giờ xuất hiện trong các tranh luận ở Đức hoặc về nước Đức, dù nó có nguyên nhân trực tiếp từ những thực tế như lượng tiền khổng lồ mà Đức trả cho Israel để bồi thường Holocaust và dù nó xuất hiện trong các tuyên bố chống lại ngân hàng Thụy Sĩ. Tôi xin khẳng định rằng, vâng, Đức và Thụy Sĩ phải bồi thường, nhưng điều đó cũng có nghĩa rằng người Palestine trong năm mươi năm qua với những mất mát nặng nề cũng xứng đáng có được một điều trần, nhất là kể từ khi những khoản bồi thường này, đối với chúng tôi, đến Israel để củng cố sự kiểm soát của Israel không chỉ lên những gì chúng tôi bị mất năm 1948 mà còn lên những phần lãnh thổ bị chiếm đóng năm 1967. Người Palestine không bao giờ có được dù chỉ là một thừa nhận chính thức nhỏ nhất sự bất công to lớn mà họ phải chịu, nhỏ hơn rất nhiều khả năng thực thi những khiếu nại vật chất đòi Israel phải trả cho những tài sản bị mất, người dân bị giết, nhà cửa bị phá hủy, nước uống bị tước đoạt, tù nhân bị giam giữ v.v…Cũng có vấn đề phức tạp, gần như khó hiểu và quan trọng liên quan đến trách nhiệm của Anh. Quan trọng hơn, điều gây ngạc nhiên với tôi là sự chối bỏ trong tự sự chính thức của Israel việc xem xét tội đồng lõa và trách nhiệm của nhà nước trong việc trục xuất người Palestine. Trong nhiều năm một chiến dịch không biết mệt mỏi nhằm duy trì một kiểu tự sự anh hùng đông cứng của Israel nói về hồi hương và công lý đã làm triệt tiêu mọi khả năng của một tự sự Palestine, chủ yếu bởi những thành tố then chốt trong câu chuyện Israel đã nhấn mạnh các đặc điểm địa lý của chính Palestine. Hãy lấy một ý niệm chính về giải phóng: câu chuyện về độc lập và sự xuất hiện trở lại của người Do Thái hậu Holocaust mạnh mẽ tới mức hầu như không thể đặt câu hỏi, Tự do và độc tập từ ai? Nếu như câu hỏi này được trả lời thì luôn được trả lời là tự do từ tay Đế quốc Anh. Hoặc khi câu chuyện đi vào chi tiết, câu trả lời là sự bảo vệ chống lại các quân đội xâm lược Ả rập muốn tiêu diệt nhà nước non trẻ. Người Palestine do đó dần rơi vào tình trạng tăm tối bủa vây và hăm dọa của “người Ả rập”, ở đó họ là các cư dân thực vừa bị bưng bít vừa bị chối bỏ.
Có lẽ trận chiến lớn nhất mà người Palestine tiến hành trong tư cách người dân là đòi quyền có một sự hiện diện được nhớ tới và bằng sự hiện diện đó là quyền sở hữu và giành lại một thực tế lịch sử tập thể, ít nhất kể từ khi phong trào phục quốc Do Thái bắt đầu lan rộng trên lãnh thổ. Một trận chiến tương tự cũng được tất cả cư dân thuộc địa tiến hành, những người mà quá khứ và hiện tại của họ bị chi phối bởi những thế lực bên ngoài, những thế lực này ban đầu xâm chiếm lãnh thổ rồi sau viết lại lịch sử sao cho trong lịch sử ấy xuất hiện chủ nhân đích thực của lãnh thổ đó. Mỗi nhà nước độc lập xuất hiện sau khi các đế chế cổ điển giải thể vào những năm hậu Thế chiến thứ hai đều nhận thấy cần phải kể về lịch sử của chính mình, thoát khỏi tối đa những định kiến và hiểu sai của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Đức hoặc nhiều sử gia thực dân khác về lịch sử đó.
Nhưng số phận của lịch sử Palestine lại là một số phận đáng buồn, bởi Palestine không chỉ không giành được độc lập mà còn gần như không có được một nhận thức chung nào về tầm quan trọng của việc kiến tạo một lịch sử tập thể như là một phần của nỗ lực giành độc lập. Để trở thành một dân tộc xét theo nghĩa đúng của từ, một cư dân cần kiến tạo chính mình sao cho không dừng lại chỉ là một tập hợp các bộ tộc hay chỉ là những tổ chức chính trị như người Palestine đã tạo nên và duy trì kể từ cuộc chiến tranh 1967. Với một đối thủ mạnh mẽ như phong trào phục quốc Do Thái, nỗ lực viết lại lịch sử Palestine nhằm loại bỏ các cư dân của lãnh thổ đã dẫn đến hậu quả tai hại đối với quá trình tìm kiếm quyền tự quyết của Palestine. Điều mà chúng ta không bao giờ hiểu được là sức mạnh của một lịch sử tự sự trong việc huy động người dân hướng theo một mục đích chung. Trong trường hợp Israel, tiêu điểm của tự sự này là mục tiêu của phong trào phục quốc Do Thái muốn khôi phục, tái thiết, cho hồi hương và liên kết lại người dân bằng tổ quốc ban đầu của nó. Chính tài năng của Herzl [xvi] và Weizmann [xvii] đã khiến cho những tư tưởng gia như Einstein và Buber cũng như những nhà tài phiệt như Lord Rothschild và Moses Montefiore bỏ thời gian và nỗ lực của họ để ủng hộ một kế hoạch quan trọng và được biện minh về mặt lịch sử như vậy. Tự sự về tái thiết và khôi phục này đã đạt được mục đích của nó không chỉ trong phạm vi những người Do Thái mà còn khắp cả thế giới phương Tây (thậm chí ở một số khu vực phương Đông). Do sức mạnh và sự lôi cuốn của tự sự và tư tưởng phục quốc Do Thái (phụ thuộc vào một cách đọc Kinh Thánh đặc biệt) và do người dân Palestine không đủ khả năng tập thể để tạo nên một tự sự thuyết phục có khởi đầu, tiếp diễn và kết thúc (chúng tôi luôn hỗn loạn, lãnh đạo của chúng tôi luôn quan tâm tới việc duy trì quyền lực, hầu hết trí thức của chúng tôi chối bỏ cam kết trở thành một nhóm có chung mục tiêu, chúng tôi cũng thường thay đổi mục đích của mình) nên người Palestine vẫn là những nạn nhân phân tán và không hiệu quả về mặt chính trị của chủ nghĩa phục quốc Do Thái, khi phong trào này vẫn tiếp tục lấy thêm đất và lấn thêm lịch sử.
Còn cuộc tấn công vào lịch sử và do đó vào ký ức chủ đạo của dân chúng đã được suy tính và duy trì như thế nào và nhiều năm qua người ta đã giành bao nhiêu quan tâm để xây dựng lại lịch sử người Do Thái phù hợp với những mục tiêu của chủ nghĩa phục quốc trong tư cách một phong trào chính trị là những vấn đề mà sử gia người Scotland chuyên về lịch sử Cận Đông cổ đại Keith W.Whitelam đã phân tích cực kỳ sáng rõ trong cuốn sách hết sức quan trọng của ông Kiến tạo Israel thời cổ: Sự im lặng của lịch sử Palestine. Do tôi không chuyên về xã hội cổ đại nói chung cũng như Palestine cổ đại nói riêng, nên tôi không thể đưa ra nhận định về từng luận điểm của Whitelam; tuy nhiên tôi có thể nhận xét những gì ông nói về khoa học hiện đại nghiên cứu Israel cổ, và tôi rất ấn tượng với lập luận thận trọng mà cũng hết sức táo bạo của ông. Thực chất Whitelam đang nói về hai điều: một là chính trị của ký ức tập thể và hai là việc các học giả và sử gia theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái đã sáng tạo ra một hình dung địa lý về Israel cổ đại, sáng tạo này bị quy định bởi nhu cầu ý thức hệ và áp lực của phong trào phục quốc Do Thái thời hiện đại 11.
Như tôi đã gợi ý ở trên, ký ức tập thể không phải là một thứ trơ lỳ và thụ động mà là một lĩnh vực hoạt động ở đó các sự kiện quá khứ được lựa chọn, tái dựng, duy trì, điều chỉnh và được cấp cho ý nghĩa chính trị. Trong cuốn sách xuất bản năm 1995 Những cội rễ được phục hồi: Ký ức tập thể và việc kiến tạo truyền thống dân tộc Israel, sử gia người Mỹ gốc Israel Yael Zerabavel đã chỉ ra rằng trước cuối thế kỷ 19 câu chuyện về Masada [xviii] không được hầu hết người Do Thái biết tới. Đến năm 1862 người ta mới cho xuất bản một bản dịch sang tiếng Hebrew những tư liệu tiếng La Mã về Masada trong Những cuộc chiến tranh Do Thái của Joshephus, và trong một thời gian ngắn câu chuyện này bị biến tấu do tái cấu trúc thành bốn nội dung quan trọng: một bước ngoặt chính yếu trong lịch sử Do Thái, một địa điểm hành hương thời hiện đại, một vị trí khảo cổ học nổi tiếng và một ẩn dụ chính trị đương thời” 12. Khi tướng Yigael Yadin khai quật ra Masada sau năm 1948, đoàn thám hiểm có thêm hai khía cạnh bổ sung: một cuộc điều tra khảo cổ học và “việc thực thi một sứ mệnh dân tộc”13. Cuối cùng không gian thực này chính là nơi diễn ra các nghi lễ quân đội của Israel, một sự tưởng nhớ phẩm chất anh hùng của người Do Thái, đồng thời là một giao ước về trình độ quân sự trong hiện tại và tương lai. Như vậy một sự kiện mập mờ và khá vô danh trong quá khứ đã được tái dựng một cách có ý thức thành một hạng mục chủ yếu trong đề án dân tộc của nhà nước hiện đại; Masada trở thành một biểu tượng hiệu quả của tự sự dân tộc Israel nói về đấu tranh và tồn sinh.
Whitelam đưa ra một bức tranh giống nhau đáng chú ý cho thấy Palestine cổ đại đã dần bị thay thế ra sao bởi một hình dung chủ yếu là bịa đặt về Israel cổ, một thực thể chính trị thực tế chỉ đóng một vai trò nhỏ trong khu vực mà Palestine được xác định về mặt địa lý. Theo Whitelam, Palestine cổ đại là quê hương của nhiều cư dân và nhiều lịch sử khác nhau; đây là nơi sinh sống và hưng thịnh của người Jebusite, Israel, Canaan, Moabite, Philistine và nhiều tộc người khác. Tuy nhiên những năm đầu của nửa cuối thế kỷ 19, lịch sử phức tạp và phong phú hơn này lại bị bưng bít, gạt bỏ để lịch sử các bộ tộc xâm lược Israel, những người đã đàn áp và trục xuất các cư dân bản địa, trở thành tự sự đáng lưu tâm duy nhất. Do đó đối với những học giả như W.F. Albright, sử gia hàng đầu về Palestine cổ đại trong những năm đầu thế kỷ 20, việc tiêu diệt cư dân Palestine bản địa vào cuối Thời kỳ Đồ đồng trở thành một đặc điểm có thể chấp nhận và dần diễn ra thường xuyên của một kiểu lịch sử Do Thái chiến thắng và điều này giúp bưng bít lịch sử người Palestine bản địa khi nó bị lịch sử của những người Israel mới đến thay thế. Nhìn về quá khứ, Albright thậm chí đã bỏ qua hành động tiêu diệt cư dân Palestine bản địa thời cổ để bênh vực những cư dân ưu việt hơn: “từ lập trường khách quan của một triết gia lịch sử”, ông nói, “dường như cư dân thuộc về một dạng nhược tiểu rõ rệt [tức là người Palestine gốc Canaan cổ đại] nhất thiết phải biến mất trước khi xuất hiện một cư dân mang những phẩm chất ưu việt [người Israel], bởi vượt qua một mức độ nào đấy sự pha trộn chủng tộc không thể diễn ra mà không có thảm họa” (dẫn theo K, trang 83).
Thể hiện trực diện thái độ phân biệt chủng tộc, tuyên bố này, vốn của một học giả được cho là khách quan nhưng ngẫu nhiên trở thành một nhân vật có ảnh hưởng nhất trong nghành khảo cổ học Kinh thánh hiện đại, làm chúng ta ớn lạnh. Nhưng nó gợi ý cho thấy trong tham vọng muốn vượt qua những rào cản trên đường đi của mình, thậm chí đến mức bỏ qua hành động trục xuất và diệt chủng trong quá khứ, chủ nghĩa phục quốc Do Thái cũng tìm cách áp đặt một dạng mục đích luận khi hồi tưởng quá khứ. Whitelam tiếp tục chỉ ra cái cách mà những học giả như Albright và nhiều người khác đã xây dựng trong tác phẩm của họ “một nhà nước…to lớn, hùng mạnh, toàn vẹn và tự trị được gán cho David người sáng lập của nó” (K, trang 124). Whitelam chỉ ra rằng nhà nước này thực chất là một sáng tạo được lập ra nhằm củng cố nỗ lực phục quốc Do Thái trong thế kỷ 20 hòng giành kiểm soát đối với lãnh thổ Palestine; do đó “ngành nghiên cứu Kinh thánh, trong quá trình kiến tạo một nhà nước Israel cổ đại, đã bị lôi kéo vào các cuộc đấu tranh chiếm lãnh thổ đương đại” (K, trang 124). Whitelam lập luận rằng một nhà nước như thế còn xa mới quan trọng bằng những người ủng hộ nó trong thời hiện đại, đó là: một Israel cổ đại bịa tạo “đã làm câm lặng lịch sử Palestine và ngăn cản những tuyên bố khác về quá khứ” (K, trang 124). Bằng việc sáng tạo nên một vương quốc Israel cổ đại thay thế lịch sử Palestine cổ xưa, các học giả hiện đại đã khiến cho những người Palestine ngày nay gần như không thể khẳng định những tuyên bố của họ về Palestine là có giá trị lịch sử lâu dài. Quả thực những học giả ủng hộ chủ nghĩa phục quốc Do Thái như thế đã tiếp tục khẳng quyết Israel cổ đại khác biệt về chất so với mọi hình thái chính quyền khác ở Palestine, điều này cũng giống như các nhà phục quốc Do Thái hiện đại cho rằng việc họ đến Palestine đã biến một vùng đất sa mạc “hoang vu” thành một nơi trù phú. Hình dung trong cả trường hợp cổ đại lẫn hiện đại là giống nhau và dĩ nhiên đối lập hoàn toàn với đặc tính đa văn hóa và phức hợp hơn nhiều của vùng đất này.
Whitelam hoàn toàn đúng khi phê phán công trình của tôi bàn về cuộc đấu tranh cho Palestine thời hiện đại bởi tôi đã không giành quan tâm tới diễn ngôn của các nghiên cứu Kinh thánh. Diễn ngôn này, ông nói, thực ra là một phần của Đông phương luận, ở đó người châu Âu đã tưởng tượng và biểu hiện phương Đông vô tận như họ muốn thấy, không phải như phương Đông vốn có hoặc như người bản địa tin vào. Do vậy nghiên cứu Kinh thánh, vốn tạo nên một Israel tách biệt khỏi môi trường của nó và được cho là đem văn minh và tiến bộ tới khu vực này, đã được gia cố bởi ý thức hệ phục quốc Do Thái và sự quan tâm của châu Âu tới những cội rễ quá khứ của chính nó. Nhưng ông kết luận “diễn ngôn này lại loại trừ đại đa số cư dân của khu vực”. Đây chính là diễn ngôn quyền lực “đã tước đoạt lãnh thổ và quá khứ của người Palestine” (K, trang 235).
Whitelam nghiên cứu lịch sử cổ đại và tìm hiểu bằng cách nào mà một phong trào chính trị quan trọng có thể sáng tạo ra một quá khứ hữu ích, thứ quá khứ trở thành một phương diện chủ yếu của ký ức tập thể Israel thời hiện đại. Cách đây ít năm, khi thị trưởng Jerusalem tuyên bố rằng thành phố này là kết quả của 3000 năm thống trị liên tục của người Do Thái, ông đã huy động một câu chuyện bịa tạo cho các mục đích chính trị của một nhà nước hiện đại cố gắng triệt tiêu người Palestine bản địa, những người mà giờ đây chỉ được coi là những kẻ xa lạ được dung thứ.
Cùng với hình dung Israel là tự do và độc lập, một sự tái thiết quyền uy của người Do Thái được xác lập theo một motif cơ bản là giống nhau, đấy là motif kiến tạo sự thịnh vượng trên sa mạc, với ám chỉ rằng Palestine là nơi hoang vu (như trong khẩu hiệu của phong trào phục quốc Do Thái “đất không dân cho dân không đất”) hoặc bị dân du mục và nông dân vô danh sống ở đó bỏ quên. Ý đồ chính này không chỉ phủ nhận sự hiện diện lịch sử của người Palestine trong tư cách một cộng đồng mà còn hàm ý rằng họ không phải là cư dân có căn tính lâu đời. Năm 1984 một cuốn sách của một người bà con vô danh có tên là Joan Peter được một nhà xuất bản thương mại lớn (Happer & Row) ấn hành đã chỉ ra rằng cư dân Palestine là một hư cấu có tính ý thức hệ và tuyên truyền; cuốn sách của bà Từ cổ xưa đã giành mọi giải thưởng và lời khen của những nhân vật nổi tiếng như Saul Bellow và Barbara Tuchman, những người khâm phục “thành công” của Peter trong việc chỉ ra rằng người Palestine là “một câu chuyện cổ tích”. Tuy nhiên cuốn sách đã dần dần mất đi uy tín của nó dù được in tới tám hay chín lần, như nhiều nhà phê bình, mà Norman Finkelstein là tiêu biểu nhất, đã chỉ ra về mặt phương pháp rằng cuốn sách là một công trình chắp vá của những điều lừa gạt, xuyên tạc và bịa đặt, thậm chí là một sự gian lận khổng lồ. Sự lưu hành ngắn ngủi của cuốn sách (nó đã biến mất trên thực tế và không được trích dẫn nữa) là một biểu hiện cho thấy ký ức phục quốc Do Thái đã thành công áp đảo như thế nào trong việc triệt tiêu cư dân và lịch sử Palestine, biến cảnh quan của nó thành một nơi hoang vu, như Peter khẳng định, tràn ngập những người tỵ nạn Ả rập (vào giữa những năm 1940) từ các nước láng giềng đến đây vì hy vọng vào sự thịnh vượng của người Do Thái 14. Tôi nhớ tới sự phẫn nộ của mình khi đọc một cuốn sách vô liêm sỷ nói với tôi rằng nhà cửa và xuất thân của tôi ở Jerusalem năm 1935 (trước làn sóng tỵ nạn “Ả rập” mà Peter nói đến) không hề nói lên sự tồn tại thực sự của bố mẹ, chú bác, cô dì, ông bà tôi, và toàn thể gia tộc của tôi ở Palestine không ở đó trên thực tế, không sống ở đó nhiều thế hệ, và vì vậy không có tư cách thuộc về một vùng đất đặc biệt của cam và những rừng ô liu mà tôi vẫn nhớ trong ký ức lờ mờ về thưở thiếu thời của mình. Tôi cũng nhớ vào năm 1986 tôi chủ định xuất bản một cuốn sách ảnh của Jean Mohr, Sau bầu trời cuối cùng: Những sự sống Palestine, ở đó tôi đã viết một phân tích cụ thể mà nhờ hiệu quả từ những bức ảnh liên đới nhau tôi hy vọng sẽ xua tan đi huyền thoại về một cảnh quan hoang vu và một cư dân vô danh không tồn tại 15.
Tất cả cùng với câu chuyện của Israel, được gia cố ngầm và công khai bằng những ký ức về nỗi kinh hoàng của phong trào bài Do Thái vốn diễn ra trớ trêu trong một cảnh quan hoàn toàn khác biệt, đã tẩy chay lịch sử Palestine diễn ra ở Palestine, phục vụ cho quá trình trục xuất cư dân về mặt địa lý và tự nhiên của Israel. Cái cảm giác được biện minh “không bao giờ nữa” (vốn trở thành khẩu hiệu của ý thức Do Thái khi, chẳng hạn, phiên tòa Eichmann [xix] được công khai hóa rộng rãi biểu lộ phạm vi nỗi sợ Holocaust) đã gạt bỏ ý thức ăn sâu về nhu cầu khẳng định của người Palestine đang dâng cao trong cộng đồng đó. Có một điều gần như trớ trêu đáng buồn về cái cách mà cuộc chiến tranh 1967 một mặt củng cố sự khẳng định căn cước Israel chiến thắng, mặt khác làm tăng thêm nhu cầu của người Palestine muốn kháng cự và chống bá quyền một cách có tổ chức. Chỉ trong thời điểm này Israel mới chiếm được phần còn lại của Palestine và có được một cư dân gần hai triệu người mà nó cai trị trong tư cách một chính quyền quân quản (20% công dân Israel là người Palestine). Những ký ức mới khai quật từ quá khứ Do Thái đã xuất hiện – người Do Thái là chiến binh, là quân nhân và là đấu sĩ hùng mạnh – thay thế hình ảnh người Do Thái có học thức, thông thái và có phần lãnh đạm. Sự thay đổi này trong tranh ảnh được Paul Breines mô tả một cách sắc nét trong cuốn sách của ông Người Do Thái hung bạo.16
Với sự trỗi dậy của Tổ chức Giải phóng Palestine, đầu tiên ở Jordan, sau ở Beirut tháng chín năm 1970, một mối quan tâm mới của người Palestine về quá khứ đã xuất hiện, thể hiện qua các hoạt động lẻ tẻ như nghiên cứu lịch sử có tổ chức, sáng tác thơ và tiểu thuyết dựa trên cảm thức về lịch sử được khôi phục; lịch sử này trước đây bị lu mờ nhưng nay được tái khẳng định trong thơ của Zayyat, Darwish, Hussein và al-Quassem, trong tiểu thuyết của Kanafani và Jabra, cũng như trong hội họa, điêu khắc và trước thuật lịch sử, chẳng hạn sưu tập của Abu Lughod Chuyển biến của Palestine. Các công trình sau này, chẳng hạn những biên soạn của Walid Khalidi – Trước cuộc di dân của họ và Tất cả vẫn còn – nghiên cứu của Rashid Khalidi Căn cước Palestine, Người Ả rập ở Palestine của Sabry Jiryis, nghiên cứu về tầng lớp tinh hoa Palestine của Bayan al Hout, Người Palestine ở Israel của Elia Zureik và nhiều công trình khác, đều của các học giả Palestine, đã dần dần xác lập nên một đường dây nối kết năng động giữa các sự kiện năm 1948 với các sự kiện trước và sau thảm họa đó, đặt nền tảng cho ký ức dân tộc của sinh mệnh tập thể Palestine, bất chấp những tàn phá do sự tước đoạt tàn tạo, bất chấp tình trạng chiếm đóng quân sự và sự phủ nhận từ phía chính quyền Israel 17. Vào giữa những năm 1980, một xu hướng mới bắt đầu xuất hiện trong các công trình sử học phê phán của Israel bàn về những ký ức chính thống được điển phạm hóa.
Theo tôi nguồn gốc của chúng, ở một mức độ nào đó, nằm ở cuộc đụng độ mang tính thực dân diễn ra gay gắt nhưng cạnh nhau giữa người Israel và người Palestine trong các lãnh thổ bị chiếm đóng. Nên nhớ rằng do uy thế tăng lên của phái cánh tả Likud vào năm 1977 mà những lãnh thổ này bị đổi tên thành Judea và Samaria; chúng bị cải tên từ lãnh thổ và các khu định cư “Palestine” sang lãnh thổ và các khu định cư “Do Thái” – mà mục tiêu ngay từ đầu không gì khác hơn chính là thay đổi cảnh quan bằng việc du nhập ồ ạt nhà ở tập trung theo phong cách châu Âu trong khi chưa có tiền lệ hoặc cơ sở trong địa hình địa phương – và dần dần lan rộng ra khắp khu vực Palestine, thách thức nghiêm trọng môi trường tự nhiên và con người bởi những chia tách thô thiển đặc trưng của dân Do Thái. Theo tôi những khu định cư này, gồm một loạt dự án nhà ở kiên cố rải khắp thành phố Jerusalem, rõ ràng có chủ ý minh họa cho quyền lực của Israel, chúng là những gá lắp vào cảnh quan êm đềm, cho thấy sự xâm lược chứ không phải thích nghi và tiếp biến.
Khuynh hướng mới này trong sử học phê phán của Israel được mở đầu bởi Simha Flaphan quá cố, nhưng sau đó được tiếp tục trong các chuyên khảo và công trình khoa học gây tranh cãi của Bennie Morris, Avi Shlaim, Tom Segev, Ilan Pappe và Beni Beit Halahmi. Nhiều công trình tôi tin là được truyền cảm hứng từ sự nổi dậy (intifada) của người Palestine, dựa trên ý tưởng về sự im lặng và vắng mặt của họ. Lần đầu tiên một phê phán mang tính hệ thống đối với phiên bản chính thống đã cho thấy vai trò chủ yếu của sự bịa tạo trong một ký ức tập thể đã hóa thạch thành biểu hiện cố định, gần như bị thiêng hóa, và, liên quan tới người Palestine, bị phi nhân hóa. Người Palestine không hề ra đi hoặc bỏ chạy bởi họ được lãnh đạo của họ chỉ thị như thế (đây là một lập luận phổ biến giải thích cảnh tượng sụt giảm dân số đột ngột năm 1948), những sử gia này chỉ ra rằng theo văn khố quân đội phục quốc Do Thái, có một kế hoạch tàn nhẫn nhằm xua đuổi, triệt tiêu và tống khứ cư dân bản địa sao cho người Palestine không làm rối loạn Israel do sự hiện diện phi Do Thái của họ. Lực lượng Do Thái không hề nhỏ, không hề bị vượt trội và bị đe dọa thực sự, họ chỉ ra rằng lực lượng này lớn hơn về mặt quân số so với các quân đội Ả rập cộng lại, họ được trang bị vũ khí tốt hơn, họ có chung mục tiêu mà địch thủ của họ hoàn toàn không có. Còn thực sự với người Palestine chúng tôi, họ không có người lãnh đạo hiệu quả, không có vũ khí, và ở những nơi như Jerusalem – nơi tôi nhớ như in chính mình khi tôi mới 12 tuổi – họ hoàn toàn bị phó mặc cho lực lượng phòng vệ và quân đội quốc gia Do Thái, những người mà mục tiêu trước sau là quét sạch họ. Và không hề có chính sách “vũ khí thuần khiết”, một mỹ từ trong chính sách quân sự Israel, mà là hàng loạt những cuộc tàn sát và giết chóc được lên kế hoạch cụ thể nhằm khủng bố những người Palestine thiệt thòi, khiến họ phải bỏ chạy và/hoặc chịu đựng.
Gần đây hơn, một sử gia xã hội nổi tiếng của Israel Zeev Sternhell đã thăm lại văn khố nhà nước và hùng hồn chỉ ra rằng cái đang hiện diện với thế giới trong tư cách một chế độ dân chủ xã hội là không hề tồn tại trên thực tế, thế nhưng cái mà chính ông gọi là một chế độ xã hội chủ nghĩa có màu sắc dân tộc được ưu tiên kiến thiết lại tạo ra một cộng đồng mới tàn bạo, lại đi giành đất đai bằng xâm lược và cấp cho mỗi cá nhân Do Thái một tập thể tính gần như cuồng nhiệt 18. Vì vậy trên thực tế Israel đã chống chủ nghĩa xã hội một cách sâu sắc, thực sự tạo nên một nền chính trị thần quyền hạn chế nghiêm ngặt cá nhân và triển vọng của nhà nước hơn là khuyến khích quyền lợi cá nhân và quan niệm công dân bình đẳng. Các cộng đồng Israel (kibbutzim) – được dự báo từ lâu là một thử nghiệm xã hội khác thường trong việc chia sẻ chủ nghĩa quân bình và sáng kiến – Sternhell nói, là hình thức bề ngoài, chỉ giới hạn nghiêm ngặt trong các thành viên của chúng (chưa có người Ả rập nào được phép làm thành viên). Israel giờ đây là nhà nước duy nhất trên thế giới không phải là nhà nước của công dân mình mà là của toàn thể người Do Thái ở bất cứ đâu mà họ có mặt. Không chỉ chưa có biên giới quốc tế đến tận ngày nay, Israel còn không có cả hiến pháp, chỉ có một Bộ luật Cơ bản mà một trong số đó là Luật Trở về cho phép bất cứ người Do Thái nào ở bất cứ nơi đâu đều có quyền trở thành công dân Israel ngay lập tức, trong khi những gia đình người Palestine bị trục xuất năm 1948 thì không hề có được quyền đó. Chín mươi hai phần trăm đất đai được giao phó cho một cơ quan chuyên trách về cư dân Do Thái; điều này có nghĩa rằng những công dân phi Do Thái, nhất là một triệu người Palestine ở Israel, chiếm 20 gần phần trăm dân số, hoàn toàn bị cấm mua, thuê hoặc bán đất. Ta có thể hình dung sự phẫn nộ ở Mỹ nếu đất đai chỉ được cấp phép cho người da trắng Thiên chúa mà không phải cho người Do Thái hay những cư dân phi da trắng.
Như vậy mô thức chủ đạo trong tư tưởng về địa lý Palestine, qua một thiên niên kỷ rưỡi cư trú của đại đa số những người phi Do Thái, là ý tưởng về sự trở về: trở về Israel vì những người Do Thái chưa bao giờ ở đó là trở về với Jerusalem, với nhà nước sơ khai nơi người Do Thái bị trục xuất. Trong một nghiên cứu sắc bén, Carol Bardenstein lưu ý cái cách mà những hình dung giống nhau về xương rồng, cam, cây cối và sự trở về đã len lỏi vào trong các diễn ngôn ký ức của cả người Do Thái lẫn người Palestine. Song diễn ngôn này của người Do Thái đã loại bỏ khỏi cảnh quan sự hiện diện trước đây của người Palestine:
Tôi từng có cơ hội đi thăm nhiều ngôi làng cũ của Palestine, chúng đã thay đổi nhiều do các đề án trồng cây và các đề án có liên quan của Quỹ quốc gia Do Thái. Đường hướng của những đề án này có vẻ để xúc tiến sự lãng quên “tập thể”, nếu không muốn nói sự lãng quên có tính lựa chọn. Nếu ai đi thăm ngôi làng bị tàn phá Ghabsiyah ở Galilee, để ý kỹ cây cối và cảnh quan thì sẽ thấy hai tự sự rất khác biệt và trái ngược về cùng một địa điểm. Ta phải dựa vào những tài liệu nói về cảnh quan, bởi có rất ít tài liệu nào khác hiện còn. Điều dễ nhận thấy nhất đối với những du khách đến đây lần đầu là những cái cây của dự án được trồng tại ngôi làng – một kết hợp dễ thấy giữa thông và các cây khác sinh trưởng bốn thập niên qua trong một cách thức khiến ta cứ tưởng như thể tất cả chúng đã từng ở đó 19.
Bằng một kết luận vắn tắt cho phép tôi được chỉ ra triển vọng của sự tương tác giữa ký ức, không gian và sáng tạo nếu nó không bị sử dụng cho ý đồ trục xuất, tức là nếu nó được sử dụng cho tự do và sự tồn tại cạnh nhau giữa các xã hội mà tính lân cận của chúng đòi hỏi một dạng thức thương thỏa dài lâu trên tinh thần khoan dung. Một lần nữa tôi muốn lấy vấn đề Palestine làm dẫn chứng cụ thể của mình. Người Israel và Palestine giờ đây có mối liên hệ về lịch sử, địa lý và thực tế chính trị mật thiết đến mức mà với tôi sẽ hết sức nực cười nếu cố gắng hoạch định tương lai cho một bên mà không tính đến tương lai của bên kia. Bài toán đối với quá trình thi hành Hiệp ước Oslo [xx] do Mỹ bảo trợ là ở chỗ nó lấy tiền đề dựa trên ý niệm về sự chia cắt và tách biệt, trong khi ở bất cứ đâu nhìn vào lãnh thổ của Palestine trong lịch sử người ta cũng thấy người Do Thái và người Palestine sống cùng nhau. Ý niệm về sự tách biệt cũng kéo lại gần nhau hai cộng đồng bất hạnh chênh lệch này. Hầu hết người Palestine đều thờ ơ và thường nổi giận trước những câu chuyện về nỗi đau của người Israel, bởi dường như với họ những chủ đề bài Do Thái của quân đội Israel có vẻ xa lạ và không phù hợp trong khi đất đai của họ thì bị tước đoạt, nhà cửa thì bị san ủi. Ngược lại hầu hết người Israel không thừa nhận Israel được gây dựng trên đống đổ nát của xã hội Palestine và với họ thảm họa năm 1948 vẫn tiếp diễn đến tận ngày nay. Nhưng sẽ không thể có thương thỏa và giải pháp khả dĩ nếu như hai cộng đồng này không công khai nhìn thẳng vào kinh nghiệm của nhau. Theo tôi điều quan trọng là sẽ không thể có hy vọng hòa bình nếu như cộng đồng mạnh hơn, người Do Thái Israel, không thừa nhận ký ức ám ảnh nhất của người Palestine: sự trục xuất toàn bộ cư dân của họ. Với tư cách phía yếu thế hơn, người Palestine cũng phải đối mặt với thực tế rằng người Do Thái Israel tự coi họ là những kẻ sống sót của Holocaust, dù rằng tấn thảm kịch không thể biện minh cho việc trục xuất người Palestine. Có lẽ trong bầu không khí sôi sục do chiếm đóng quân sự và bất công hiện nay dường như người ta quá trông chờ vào những thừa nhận này. Nhưng, như tôi đã lập luận ở chỗ khác, ở một chừng mực nào đó họ vẫn phải trông chờ.
Nguyễn Đào Nguyên dịch
Nguồn: Invention, Memory and Space, Critical Inquiry, Vol.26, No.2. (Winter, 2000), trang 175-192
* Edward W. Said: Giáo sự Anh văn và văn học tại Đại học Columbia.
1 Xem Howard Zinn, Một lịch sử cư dân Mỹ (New York, 1980).
2 Zinn, “Những cuộc thảm sát trong lịch sử”, The Progressive 62 (tháng 8. 1998): 17.
3 Xem Sáng tạo truyền thống, Eric Hobsbawn và Terence Ranger biên soạn (Cambridge, 1983).
4 Ranger, “Sáng tạo truyền thống ở Châu Phi thuộc địa”, Sđd, trang 220.
5 Hobsbawn, “Những truyền thống được sáng tạo hàng loạt: Châu Âu, 1870 – 1914”, trang 271 – 272.
6 Xem Tom Segev, Triệu thứ bảy: Người Israel và Holocaust. Haim Watz-man (New York 1993).
7 Xem Peter Novick, Holocaust trong đời sống Mỹ (New York 1999), trang 146 – 203.
8 Xem Frances A. Yates, Nghệ thuật ký ức (Chicago, 1966).
9 Simon Schama, Cảnh quan và ký ức (New York, 1995), trang 30.
10 Xem Raymond Williams, Nông thôn và thành thị (London, 1973).
11 Xem Keith W.Whitelam, Kiến tạo Israel thời cổ: Sự im lặng của lịch sử Palestine (New York, 1996). Từ đây viết tắt là K.
12 Yael Zerabavel, Những cội rễ được phục hồi: Ký ức tập thể và việc kiến tạo truyền thống dân tộc Israel (Chicago, 1995), trang 63.
13 Sđd.
14 Xem Edward W. Said, “Mưu đồ ngợi khen” và Norman G. Finkelstein, “Thông tin sai lệch và vấn đề Palestine: Trường hợp không - lạ lùng - đến thế: Từ cổ xưa của Joan Peter” trong Buộc tội nạn nhân: Khoa học giả mạo và Vấn đề Palestine, E.Said và Christopher Hitchens biên tập (New York, 1988), trang 23-31, 33-69.
15 Xem Said và Jean Mohr, Sau bầu trời cuối cùng: Những sự sống Palestine (New York, 1986).
16 Xem Paul Breines, Người Do Thái hung bạo: Huyễn tưởng chính trị và nan giải đạo đức của người Do Thái Mỹ (New York, 1990).
17 Xem Chuyển biến của Palestine: Những tiểu luận về nguồn gốc và sự phát triển của xung đột Ả rập – Israel, Abu Lughod biên tập (Evanston, III, 1971); Walid Khalidi, Trước cuộc di dân của họ: Lịch sử nhiếp ảnh của người Palestine (Washington, D.C, 1984); Tất cả vẫn còn: Làng mạc Palestine bị Israel chiếm đóng và xua dân năm 1948, Walid Khalidi biên tập (Washington, D.C, 1992); Rashid Khalidi, Căn cước Palestine: Kiến tạo ý thức dân tộc thời hiện đại (New York, 1997); Sabri Jiryis, Người Ả rập ở Israel, Inca Bushnag dịch (New York, 1976); Bayan al Hout, Lãnh đạo chính trị và các thể chế ở Palestine, 1917-48 [tiếng Ả rập] (Beirut, 1984); Elia Zureik, Người Palestine ở Israel: Một nghiên cứu về chủ nghĩa thực dân nội địa (London, 1979).
18 Xem Zeev Sternhell, Các huyền thoại sáng lập của Israel: Chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa xã hội và việc kiến tạo nhà nước Do Thái, David Maisel dịch (Princeton, N.J, 1998).
19 Carol Bardenstein, “Những sợi chỉ ký ức và diễn ngôn về nguồn cội: Cây, cam và xương rồng ở Israel/Palestine”, Edebyât 8, no.1 (1998): 9.
[i] Holocaust: Tên gọi chủ yếu chỉ các cuộc tàn sát người Do Thái do Phát xít Đức gây ra trong Thế chiến thứ hai. Holocaust có gốc từ tiếng Hy Lạp: “holos” (toàn bộ), “kausis” (đốt cháy).
[ii] Maurice Papon (1910 – 2007): Quan chức Pháp, cảnh sát trưởng một số quận của Pháp trong giai đoạn Phát xít Đức chiếm đóng Pháp; cảnh sát trưởng Paris trong những năm 1960. Năm 1998 Papon bị toà kết án phạm tội ác chống lại loài người, trong đó có việc bắt bớ và tống giam 1600 người Do Thái vào các trại tập trung trong Thế chiến thứ hai.
[iii] Daniel Goldhagen (sinh 1959): Nhà chính trị học người Mỹ gốc Do Thái, nổi tiếng với cuốn sách Những đao phủ tự nguyện của Hitler xuất bản năm 1996. Trong cuốn sách này ông cho rằng hầu hết người Đức là những “đao phủ tự nguyện” vì họ đã ủng hộ Holocaust, điều này có nguyên nhân từ một căn tính Đức phát triển trong quá khứ lấy nền tảng từ một thứ tôn giáo thời Trung cổ bị thế tục hóa.
[iv] Viện Smithson: Là một tổ hợp các bảo tàng và các trung tâm nghiên cứu đặt dưới sự quản lý của chính phủ Hoa Kỳ. Viện được thành lập năm 1846, lấy tên của nhà khoa học Anh James Smithson (1765-1829). Ban đầu Viện hoạt động như một cơ quan nghiên cứu, nhưng sau đó cơ sở của Viện nhanh chóng biến thành nơi lưu trữ các bộ sưu tập của chính phủ liên bang. Viện có trụ sở chính ở Washington D.C, ngoài ra còn một số chi nhánh ở Arizona, Maryland, Massachusetts, New York, Virginia, Panama.
[v] Enola Gay: Tên gọi máy bay Boeing B-29 được sản xuất để ném bom nguyên tử trong Thế chiến thứ hai, nổi tiếng nhất là hai chuyến xuất kích ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, Nhật Bản.
[vi] Thảm sát Boston: Diễn ra vào mùng 5/3/1770 tại Boston. Lính Anh đã sát hại năm người đàn ông và làm bị thương sáu người khác.
[vii] Paul Revere (1734 – 1818): Thợ chạm với bức chạm nổi tiếng “Thảm sát đẫm máu tại phố Nhà vua” mô tả cảnh lính Anh chĩa súng bắn vào đám đông trong vụ Thảm sát Boston 1770.
[viii] Durbar: Tện gọi có nguồn gốc từ tiếng Ba Tư, có nghĩa “buổi thiết triều của Đức vua”. Trong thời kỳ Ấn Độ bị đế chế Ba Tư cai trị, durbar là một khán phòng lớn nơi hội đồng nhà nước họp mặt để phân xử các vấn đề của quốc gia. Trong thời kỳ Ấn Độ bị Anh cai trị, durbar mang nghĩa khác, chỉ những cuộc tụ họp lớn có tính lễ nghi biểu thị lòng trung thành với Đế chế Anh. Có 3 durbar lớn nhất tại Ấn Độ thời kỳ này: durbar năm 1877 tuyên xưng nữ hoàng Victoria là nữ hoàng đầu tiên của Ấn Độ; durbar năm 1903 chào mừng vua Edward VII lên ngôi, trở thành Hoàng Đế của Ấn Độ; durbar năm 1911 tấn phong George V và vợ là nữ hoàng Mary làm Hoàng đế và Nữ hoàng Ấn Độ.
[ix] Marianne: Tên huyền thoại, được tạo ra bằng cách ghép hai tên hay được phụ nữ Pháp dùng là “Mary” và “Anna”.. Trong cách mạng Pháp 1789, Marianne là hình tượng một người phụ nữ đội mũ Phrygia (một loại mũ rủ trùm tai) tay cầm cờ ba sọc (quốc kỳ Pháp). Marianne được hình tượng hóa nhiều trong tranh, tượng, là biểu tượng của Tự do, Lý trí, Dân tộc và Tổ quốc, những giá trị của nền Cộng hòa Pháp.
[x] Thảm sát người Armenia: Do chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành vào năm 1915, nhằm vào cộng đồng thiểu số Armenia nằm trong lãnh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ. Ước tính có khoảng 1,5 triệu người chết trong cuộc thảm sát này.
[xi] Cicero (106-43 TCN): Triết gia, nhà hùng biện, chính khách La Mã. Ông được coi là một trong những nhà hùng biện vĩ đại nhất La Mã.
[xii] Auschwitz: Tên trại tập trung lớn nhất của Đức quốc xã trong Thế chiến thứ hai. Trại này nằm ở Ba Lan, được đặt tên theo thành phố Oświęcim gần đó. Trong thời kỳ Đức Quốc xã chiếm đóng Ba Lan năm 1939, Oświęcim sát nhập vào Đức và đổi tên thành Auschwitz.
[xiii] Thánh Bernard (1090 – 1153): Tu viện trưởng tu viện Clairvaux, Pháp, người có ảnh hưởng nhất của dòng tu Xiteaux.
[xiv] Joseph Conrad (1857 – 1924): Nhà văn Anh gốc Ba Lan. Edward Said đang nhắc tới tiểu thuyết Trung tâm bóng tối (Heart of darkness) của Conrad. Câu chuyện kể về chuyến hành trình men theo sông Congo để vào Congo, trung tâm của châu Phi, nơi Conrad gọi là trung tâm của bóng tối Phi châu. Cuốn tiểu thuyết cho rằng có rất ít sự khác biệt giữa cái mà ta gọi là người văn minh với những người hoang dã, điều này làm dấy lên những vấn đề quan trọng của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
[xv] Raj: Tiếng Hindi có nghĩa là “đức vua”, “kẻ cai trị”. Thời Ấn Độ thuộc Anh, Raj hàm nghĩa Đế chế Anh tại Ấn Độ.
[xvi] Theodor Herzl (1860-1904): Nhà báo Áo – Hung gốc Do Thái, cha đẻ của chủ nghĩa phục quốc Do Thái và có ảnh hưởng tới Nhà nước Do Thái.
[xvii] Chaim Weizmann (1874-1952): Một nhà lãnh đạo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, chủ tịch Tổ chức phục quốc Do Thái và cũng là tổng thống đầu tiên của Israel.
[xviii] Masada: Tên pháo đài của người Do Thái nằm phái Tây Nam biển Chết, được vua Herod I cho xây dựng trong khoảng 10 năm từ năm 40 TCN đến năm 30 TCN. Đây là một pháo đài phòng thủ kiến cố, nằm trên một khoảnh đất có vách đá dựng đứng.
[xix] Adolf Eichmann (1906 – 1962): Trung tá lực lượng vũ trang SS của Đức quốc xã, được giao trách nhiệm chính trong kế hoạch thủ tiêu người Do Thái ở châu Âu.
[xx] Hiệp ước Oslo: Được thủ tướng Israel Yizhak Rabin và Chủ tịch Tổ chức Giải phóng Palestine Yasser Arafat ký kết vào ngày 13/9/1993 tại Washington  trước sự chứng kiến của tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton. Hiệp ước này khởi đầu cho cả một quá trình gọi là “tiến trình hòa bình Trung Đông”; nội dung chính của Hiệp ước: phía Tổ chức giải phóng Palestine thừa nhận quyền sống của Israel trong hòa bình và an ninh, từ bỏ việc sử dụng công cụ khủng bố cùng các hình thức bạo động khác. Ngược lại, phía Israel quyết định công nhận Tổ chức Giải phóng Palestine như là đại diện của nhân dân Palestine và bắt đầu thương thuyết với tổ chức này trong khuôn khổ tiến trình hòa bình Trung Đông.
Edward W. Said*
Nguyễn Đào Nguyên dịch
Nguồn: Invention, Memory and Space, 
Critical Inquiry, Vol.26, No.2. (Winter, 2000), trang 175-192
Theo http://vienvanhoc.vass.gov.vn/




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...