I. Nhớ hơn bốn mươi năm về trước, vào khoảng đầu mùa đông năm
1974 - mùa dỡ củ dong riềng - tôi đi chợ Chũ (Lục Ngạn), mua được tập truyện Khúc
sông. Trên lối mòn đường rừng, bước thấp bước cao, tôi vừa đi vừa tranh thủ đọc.
Ngày ấy, tôi chỉ biết tên tác giả là Nguyễn Thiều Nam, nào có biết đẳng cấp của
ông trong làng văn ra sao!
Đọc tập truyện, tôi cứ ấn tượng mãi về dòng sông Bồ với đội
thuyền vận tải, về cái đêm chị Thích và Hiệt nằm bên con suối lũ: “Chị tưởng ở
đây có hai người thôi à! Tôi nói có bốn: chị và lương tâm chị, tôi và lương tâm
tôi!” – “Vậy là chị hơn tôi 6 tuổi, tôi coi chị như chị cả” – “Thôi, ngủ
đi chị ạ! Đừng trăn trở vớ vẩn, ngủ đi là quên hết”. Thế rồi chị Thích hy
sinh... Giữa cái thời đạn bom ấy “mỗi cái chết đều không phải vì người chết mà
vì sự đòi hỏi đối với người sống” thì sự ra đi vĩnh viễn của chị Thích lại gieo
vào lòng người đọc một chút chạnh lòng trắc ẩn, một nốt nhạc trầm về thân phận,
về quyền sống và tính nhân văn muôn thuở, nó chớp sáng giữa thời đoạn bất bình
thường, khi mỗi con người phải cương lên với ý nguyện và trách nhiệm, sống vượt
lên mình cho kịp bước đi của thời đại: “Giờ đây ai cũng nói về chị những điều tốt
lành; và ai cũng hối hận rằng, dường như những năm tháng vừa qua chưa sống với
chị thật trọn vẹn. Đáng lẽ phải thương yêu hơn, ưu ái hơn, càng thương yêu ưu
ái những lúc chị lỗi lầm”...
Thời gian qua đi. Tôi cũng chẳng biết gì nhiều hơn về tác giả Khúc
sông.
Đến hồi năm 1988, truyện ngắn Truyền thuyết về Quán Tiên in
liền hai kỳ trên báo Văn nghệ và tạo được tiếng vang rộng lớn. Từ đó
tôi mới tìm hiểu và biết được nhà văn Xuân Thiều này cũng chính là Nguyễn Thiều
Nam năm nào.
Rồi tôi được biết thêm, nhà văn tên thật là Nguyễn Xuân Thiều,
sinh ngày 1-4-1930 tại làng Triều Đông (Bùi Xá - Đức Thọ - Hà Tĩnh). Ngoài hai
bút danh trên, ông còn là Tú Hói, Ba Quang với tài năng ứng đối và làm câu đối
có hạng trong làng văn.
Nhập ngũ từ tháng 2-1947, ông từ một chiến sĩ rồi trở thành
nhà văn; hay nói khác đi, ông là nhà văn - chiến sĩ từ trong máu thịt. Và đây mới
là điều quan trọng, hầu như tất cả các tác phẩm của ông đều tập trung viết về
chiến tranh cách mạng và người lính. Xin điểm lại các tác phẩm đã xuất bản: Người
anh nuôi của đơn vị (In chung, tập truyện, 1959), Đôi vai (truyện
ngắn, 1968), Một người lính (In chung, truyện ngắn, 1961), Chiến
đấu trên mặt đường (ký, 1968), Trời xanh (truyện ngắn, 1969), Mặt
trận kêu gọi (truyện dài, 1975), Trước giờ ra trận (tập thơ,
1972), Khúc sông (truyện ngắn, 1974), Từ một cánh rừng (truyện
phim, 1975), Bắc Hải Vân xuân 1975 (ký, 1977), Khúc hát mở đầu (truyện
dài thiếu nhi 1981, 1996), Huế mùa mai đỏ (tiểu thuyết, tập I, 1987), Gió
từ miền cát (truyện ngắn, 1989; Giải thưởng Bộ Quốc phòng), Người mẹ
tội lỗi (tập truyện, 1989), Xin đừng gõ cửa (truyện ngắn,
1994; Giải thưởng Bộ Quốc phòng 1995 và tặng thưởng Ban Quốc phòng an ninh
Hội Nhà văn 1996), Tư Thiên (tiểu thuyết, 2 tập, 1995), Tiếng
nói cảm xúc (Tiểu luận – phê bình, 1996), Và nỗi nhớ (tập thơ,
1998)... Điều này, đúng như ông tâm sự: “Đã 50 tuổi quân, tôi coi việc viết về
chiến tranh cách mạng và người lính là thiên chức”. Cho đến nay, với 8 giải thưởng
và tặng thưởng các loại (đặc biệt với việc vừa được truy tặng Giải thưởng Hồ
Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2016 và được đặt tên cho trường tiểu học tại
quê nhà năm 2011), nhà văn Xuân Thiều đã khẳng định được vị trí và thành tựu
sáng tác nổi bật của mình trên một khu vực đề tài không mấy dễ dàng.
Là nhà văn trực tiếp gắn với cuộc đời chiến sĩ, từng sống và
viết giữa chiến trường, Xuân Thiều có vốn sống “người lính” hết sức phong phú.
Bên cạnh các quan sát tư liệu riêng, ông đã có nhiều trang ký, ghi chép về cuộc
đời các anh hùng, chiến sĩ gắn với từng trận đánh, từng mặt trận, từng thời điểm
và giai đoạn cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Chính điều này đã giúp cho nhiều
thiên truyện ngắn và tiểu thuyết của ông giàu tính hiện thực, tràn đầy hơi thở
cuộc sống một thời khói lửa. Ngay như các tiêu đề tác phẩm của ông cũng thường
cho thấy rõ nội dung, bối cảnh cuộc chiến, thậm chí cả thời gian và địa bàn xảy
ra các sự kiện. Ưu tiên cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc và ý thức viết về chiến
tranh “nhằm khám phá hiện thực chiến tranh, tìm những vẻ đẹp con người Việt
Nam... tâm hồn, tính cách Việt Nam, yếu tố quan trọng bậc nhất để lý giải vì
sao dân tộc ta chiến thắng được những quân đội xâm lược khổng lồ”, tác phẩm của
Xuân Thiều thực sự là bài ca chiến trận theo sát từng bước phát triển của đội
quân cách mạng. Ban đầu, đó là Hiên trong truyện ngắn Gieo mầm - nhân
vật người đảng viên trung kiên - tấm gương sáng trong một cốt truyện kết thúc
có hậu đã báo hiệu cho ngày mai tất thắng; rồi những ngày gian khổ trên một
“khúc sông”, “chiến đấu trên mặt đường”, “từ một cánh rừng” cho đến ngày toàn
thắng “Bắc Hải Vân xuân 1975”. Đồng hành với công cuộc Đổi mới, dường như để lắng
lại những trải nghiệm thời chiến tranh, Xuân Thiều viết bộ tiểu thuyếtTư Thiên (2
tập), trong đó tập đầu vốn có tên Huế mùa mai đỏ, mà thời gian tính từ
khi khởi bút tới ngày hoàn thành mất trọn 15 năm. Tác giả tái hiện về cuộc tổng
tiến công Mậu Thân (1968) trong âm hưởng anh hùng ca, có thể coi đây là một sự
tổng kết và dấu hiệu vận động của tư duy nghệ thuật ở ngòi bút Xuân Thiều. Chỉ
có điều để bứt phá khỏi đường hướng tư duy luận đề “tái hiện, phản ánh” và hướng
tới khám phá sâu sắc hơn thế giới nhân vật người lính và hiện thực chiến tranh
vốn mang trăm vẻ mặt..., thì chính tác giả đã tự vượt lên mình; hơn nữa, còn phải
đợi cả thời gian, đợi chờ cả một cái nhìn gợi mở, sâu sắc và đa diện về tháng
năm hào hùng của dân tộc mang đầy phẩm chất cổ tích đã qua. Ở đây, thế hệ nhà
văn Xuân Thiều đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của mình, đòi hỏi
những người chạy tiếp sức thời hậu chiến và Đổi mới phải có những thành tựu kế
tiếp xứng đáng, nếu không muốn nói có người đang chạy dẫm chân tại chỗ về mặt
tư duy nghệ thuật.
Trên thực tế, để có một quan niệm mới, một cách đánh giá mới
về hiện thực là điều thật khó. Với văn chương, để đổi mới được một chút quan niệm
và tư duy nghệ thuật lại càng khó khăn biết bao nhiêu. Nhà văn Xuân Thiều, trong
đội hình chung ngày càng cố gắng suy nghiệm, đào xới sâu hơn về quá khứ, góp
thêm một cách nhìn riêng tư sâu lắng – mà biểu hiện rõ nhất là ở Truyền
thuyết về Quán Tiên và bộ tiểu thuyếtTư Thiên (Tặng thưởng Hội Nhà
văn năm 1996). Đương nhiên, tất cả các tác phẩm trước kia cũng có giá trị lịch
sử bền vững của nó - thậm chí là những giá trị sáng tạo tinh thần vô giá không
thể lặp lại - song chính những tác phẩm trên đây mới có ý nghĩa vận động, mở đường
cho tư duy nghệ thuật phát triển. Và tôi tin đó mới chính là năng lực sáng tạo,
là nhân cách và phẩm chất của cây bút Xuân Thiều - đời văn chiến sĩ.
II. Tôi đã gặp nhà văn Xuân Thiều nhiều lần nhưng chưa có dịp
nào nói chuyện cùng ông. Ấn tượng chung của tôi về ông, về văn của ông là một sự
mực thước, đôn hậu và sâu lắng. Điều này có lý bởi văn nghiệp của ông trong
ngót hai mươi năm đầu, tôi ít được đọc. Còn về sau này, nhất là từ sau tập truyện Khúc
sông (1974) có bút danh Nguyễn Thiều Nam (mà cũng mãi về sau tôi mới hiểu
ông này cũng chính là ông hói Xuân Thiều oai phong kia), tôi mới đọc văn ông
nhiều hơn. Và tôi cứ nghĩ, dường như ông có duyên hơn với thể truyện ngắn; dường
như ông có quyền viết chậm để có quyền được chọn nơi in, dường như các ông tổng
biên tập khi đón nhận truyện của ông đôi khi cũng có dịp để được sử dụng cái
“quyền” lựa chọn in hay không in. Thế cho nên, khi nhà thơ Trần Đăng Khoa đang ở
Nga gửi thư tay nhờ tôi chuyển tới ông, tôi muốn tìm đến tận nhà ông, nhân thể
cũng có chút công chuyện.
Buổi chiều xuân Hà Nội năm 1993. Tôi đang phấn chấn vì vừa
cùng giáo sư Phạm Tú Châu tiếp kiến nữ sĩ Hồng Khương là con gái nhà thơ nổi tiếng
Á Nam Trần Tuấn Khải mới từ Sài Gòn qua thăm nhà nhạc sĩ Hoàng Giác nên cứ đội trời đi trong mưa. Theo địa chỉ, tôi tìm đến số nhà 16A phố Lý Nam Đế. Đó là một
căn hộ trong dãy nhà tập thể, có lẽ dãy phố nhà binh này mới hình thành do tác
động của cơ chế thị trường “bung ra” nên mới xoay lại cửa ra ngoài mặt đường!?
Nhà ông ở có cả phòng trệt và tầng hai. Gian dưới bày đầy đồ hàng. Bà vợ ông
đang vừa trông cửa hàng tạp hóa vừa tranh thủ dọn dẹp nhà. Nghe tôi hỏi thăm,
bà bảo:
- Ông
nhà tôi đang ngồi viết trên nhà! - Rồi bà gọi với lên bằng chất giọng xứ Nghệ -
Ông ơi, ông xuống có khách.
Ông vừa nghe tôi giới thiệu vừa pha ấm trà, lại có thêm bao
thuốc Du lịch. Tôi chuyển cho ông bức thư của nhà thơ Trần Đăng Khoa. Ngại ông
đang bận viết, tôi vào đề luôn:
- Mấy
anh em Tạp chí Đất nước thuộc Cơ quan Sứ quán Việt Nam ở Liên bang
Nga đang làm tuyển truyện ngắn hay 10 năm và có chú ý tới Truyền thuyết về
Quán Tiên. Bây giờ trong tay cháu đã có chuyện nàyin trong tập Người mẹ tội
lỗi, song lại sợ bản in không đầy đủ - Nói rồi tôi đưa cho ông xem qua tập truyện
của ông mà tôi mới mượn của thư viện và nói tiếp - Vậy xin chú cho in văn bản
nào đầy đủ nhất, không bị cắt xén gì!
Ông Xuân Thiều bảo:
- Kể
ra, bản in này có thể coi là tốt nhất. So với bản in trên Văn nghệ, mình
có sửa đôi chữ, thuộc về tiểu tiết, không can hệ gì. Đây, thư Khoa cũng có nói
về việc này đây.
Rồi ông kể lại cho tôi nghe sự kiện Truyền thuyết về
Quán Tiên - những sự kiện tôi đã “văn kỳ thanh” với tất cả sự phóng đại
ghê gớm qua lăng kính của giai thoại, của truyền thuyết. Bởi nếu không “có vấn
đề”, không phốt, không an ti, sao người ta phải bóc cả cái chuyện
ấy đi. Và thế là, mời bạn cùng kiểm tra lại tạp chí Văn nghệ quân đội, số
tháng 4-1986, thiếu hẳn từ trang 77-102. Đó chính là văn bản khuyết, âm bản, vô
bản của thiên truyện ngắn Truyền thuyết về Quán Tiên trên kia. Rồi
ông cao giọng hơn, dường như thoáng có vẻ nhếch mép:
- Kể
cũng lạ cái cơ chế này thật! Mình cũng đảng viên kỳ cựu, bao nhiêu năm lăn lộn
mà cũng đại tá như các bố hẳn hoi. Văn mình xếp thành tập, hẳn mình phải có nghề
hơn. Ấy thế mà các vị trợ lý, các vị thủ trưởng mù tịt văn chương lại được cái
quyền phán quyết văn chương, được ký quyết định bóc cả cái truyện đi. Cái gọi
là “chấp hành mệnh lệnh cấp trên”, kể cũng chẳng biết nói thế nào! Đến khi báo Văn
nghệ đàng hoàng in toàn văn, các bố mới ngã ngửa ra, rồi mời mình đến làm
công tác tư tưởng: “Chậc! Truyện của anh tốt thôi. Nhưng phải tùy tình hình. Có
những lúc in ngay không lợi”. Điệp khúc muôn thuở, lạ gì!...
Nhân lúc ông đang hứng khởi, tôi lựa lời:
- Thưa
chú, trong vận hạn có phong lưu. Xưa, Lão Tử nói: “Họa hề phúc chi sở ỷ” (Trong
cái hoạ vẫn có sự may mắn). Truyện bị bóc đi, bị in chậm, nhưng nhờ đó mà nó
thành một sự kiện, thành vấn đề, thành hẳn một cái giai thoại cho làng văn lưu
truyền lại hậu thế chơi!
Hai chú cháu tôi cùng hút thuốc và tự thưởng cho mình chén
trà thơm.
Ông Xuân Thiều kể lại, âm sắc đã có phần hãnh diện. Đại để
sau khi truyện bị bóc, ông có tìm cách xin được hơn mươi bản về tặng anh em. Tiếc
bây giờ chính tác giả cũng không còn giữ được bản nào. Ông nói:
- Tôi
nhớ ông Tào Mạt, ông viết chèo nổi tiếng, nhà ngay gần đây, có một bản. Hôm ấy
đã 11 giờ khuya mà ông ấy còn gõ cửa gọi tôi chỉ để nói một câu: “Truyện được lắm,
không phải bỏ chữ nào mới phải”. Sáng hôm sau, ông đem đến tặng tôi một bài thơ
chữ Hán. Này nhé:
Khứ niên hoàng đế mạ kỳ ngu,
Hạnh đáo kim xuân truyện đắc thu.
Bác tước văn chương nguyên khả nộ,
Ngưỡng thiên đại tiếu, tiếu hi hu.
Tôi xin tạm dịch:
Năm xưa ông chúa mắng anh ngu,
May đến xuân này truyện được thu.
Xé bỏ văn chương đà đáng ghét,
Ngửa mặt cười vang một tiếng hu!...
Năm xưa ông chúa mắng anh ngu,
May đến xuân này truyện được thu.
Xé bỏ văn chương đà đáng ghét,
Ngửa mặt cười vang một tiếng hu!...
Nhà văn Xuân Thiều kể thêm: Ngày ấy đoàn nhà văn đang tổ chức
trại viết trên Quảng Bá. Một lần có ông lớn nọ nghe nói có anh em nhà văn thì rẽ
qua chơi chứ nào phải văn veo gì. Trong lúc trò chuyện, Xuân Thiều nêu ý kiến rằng
năm Mậu Thân ta hy sinh nhiều quá, không biết nên định hướng phản ánh hiện thực
chiến tranh ra sao đây? Thế là ông lớn nọ quát tháo đùng đùng: “Để giành chiến
thắng thì hy sinh bao nhiêu vạn người cũng phải chịu chứ”. Đôi ba tiếng nói dàn
hòa. Chuyện này vang trong văn giới một thời nhưng chát chua gì cũng thôi không
nói nữa.
Tôi nhanh tay nhanh mắt rút bút, đưa sổ ra, lật một trang mới
nguyên, xin ông chép giúp luôn bài thơ “để làm kỷ niệm”. Thế là có ngay một tư
liệu quý, lại là bản thủ bút của nhà văn!
Rồi tôi chuyển sang hỏi ông về hiện tượng nhà văn “tứ thập
nhi bất hoặc” Nguyễn Huy Thiệp. Ông trả lời dùng dắng như một cánh cò phân vân
giữa trời trở gió:
- Thiệp
là hiện tượng lạ nhưng thiếu định hướng xây dựng. Nói chung tôi không thích.
Riêng truyện Tướng về hưu thì thật xuất thần, tuyệt tác. Mà chi tiết
kê kích câu “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” phi lịch sử, không cần
thiết…
Tôi tạm biệt nhà văn ra về. Mưa nặng hạt. Lá vàng trải đầy mặt
phố Lý Nam Đế...





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét