Năm 1992, trong một cuộc gặp gỡ trí thức văn nghệ sĩ ở Vinh,
nhà văn Ngô Thảo nói với tôi “cụ Phan Ngọc là nhà văn hóa lớn hiện nay”, lúc
này ông không còn trẻ nhưng cũng chưa già. Tôi được trực tiếp gặp ông hai lần,
môt lần với nhà văn Sơn Tùng ở Hà Nội, một lần với chị Phan Thị Quỳnh Trang ở
TP. Vinh. Và chủ yếu là gặp ông trên nhiều lĩnh vực ở sách báo khi tìm hiểu học
tập, với kết quả không là bao trong chiều rộng và chiều sâu những công trình đồ
sộ của ông. Cuối cùng, chỉ đọng lại một vài kỷ niệm, thế cũng là có ích lắm rồi!
Ấn tượng đầu tiên gặp ông có lẽ là hai thuật ngữ “thao
tác” và “mẹo”, - cũng là hai khái niệm, hai phương tiện xoáy sâu vào sự nghiệp
nghiên cứu độc đáo của ông. Từ thao tác và mẹo riêng có, để tìm đến cách tiếp cận
các công trình văn hoá bằng “thức nhận”, “vượt gộp” và “độ khúc xạ” một cách
khúc chiết tư duy, giản dị ngôn ngữ. Ở ông, văn hóa trùm lên tất cả. Thật khó
chọn một bộ môn nào là đối tượng chính mà ông chạm tới: Ngôn ngữ học, dân tộc học,
triết học, mỹ học, hán học, chính trị, dịch thuật, văn học, lý luận phê bình…
Hãy đi qua dịch thuật. Có thể nói sau Trương Vĩnh Ký (thế kỷ
19), Phan Ngọc là một trong những người Việt thông thạo nhiều ngoại ngữ ở thế kỷ
XX. Nghiên cứu văn hóa dân tộc nào ông dành mấy tháng học ngôn ngữ dân tộc đó,
có gần vài chục trường hợp như thế. Những công trình dịch thuật kèm theo văn bản
giới thiệu của ông đã cuốn hút nhiều tầng lớp bạn đọc. Xin nêu một vài tác phẩm
lớn: Từ thần thoại Hy Lạp tiếng Hy Lạp, Spartacus tiếng Ý đến Đạo Đức Kinh, Sử
Ký, Thơ Đỗ Phủ tiếng Hán; từ Shakespeare tiếng Anh đến Chiến tranh và Hòa bình
tiếng Nga; từ mỹ học Hegel tiếng Đức đến kịch Molie tiếng Pháp… Chỉ nói riêng
việc dịch thơ Đỗ Phủ đã thấy cảm hứng nhân văn của ông dâng lên đến mức nào.
Khi tôi kinh ngạc ông đã dịch một nghìn bài thơ Đỗ Phủ đáng giá cả về chất lẫn
lượng, ông nói:
- Một giáo sư Pháp gọi Đỗ Phủ là “nhà thơ nhân loại”. Đỗ Phủ
viết về nỗi khổ của người dân ở 7 phương diện: vua, quan, nha, mưa, nắng, bão,
lụt. Và mỗi phương diện có 7 bài tuyệt tác. Viết đúng cái huyệt cơ cực của dân.
Tôi gọi Đỗ Phủ là “nhà thơ dân đen”. Bác Hồ đã dẫn thơ Đỗ Phủ trong Di chúc…
Song tìm ra cách tiếp cận mới văn hóa Việt Nam, đặc biệt qua
truyện Kiều và tư tưởng Hồ Chí Minh mới là hướng chủ yếu của ông. Ông nói:
- Nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh phải nói đến cái bất biến của
tư tưởng này là đã kiên trì tìm đường cứu nước, là đã Việt Nam hóa được chủ
nghĩa Mác Lê Nin khi “khúc xạ” qua tư tưởng Hồ Chí Minh để đem đến kết quả cho
cách mạng Việt Nam. Bác Hồ theo chủ nghĩa Mác Lê Nin với thái độ của một người
bình luận, khác hẳn một tín đồ. Đây chính là con đường “thức nhận” tỉnh táo
phân biệt châu Á không phải là châu Âu, châu Âu không phải là toàn nhân loại.
Mác nặng về kinh tế, Bác trích Mác ít, chỉ 45 lần, trong đó 5 lần trích nguyên
văn, còn thì qua qua. Bác chú ý chữ Nhân, trích Khổng hơn 1.000 lần, cuối đời
thăm viếng Khổng. Mác không chú ý, không rõ phương Đông. Lê Nin có chú ý phương
Đông. Lê Nin mềm mại, có khả năng tập hợp. Stalin không có khả năng đó nên phải
dùng bạo lực… Về mặt này, việc đấu tranh giai cấp ở ta được ông Nguyễn khẳng định
không được diễn ra giống như ở phương Tây… Cái sơ lược của Mác - Lê nin là hạn
chế làm ngoại thương, tuy Lê nin có kêu gọi học buôn bán… Phê phán là quan trọng,
phương pháp làm là quan trọng. Trước lúc đánh Mỹ, Bác rất chú ý đề xuất của
giáo sư Trần Đại Nghĩa: phải làm nhiều đường, làm nhiều thủy lợi nhỏ để bom địch
không thể phá hết được. Bác đặc biệt quan tâm biện pháp, đã dự báo đúng nhiều sự
kiện, để làm cái làm được, nên luôn luôn thắng. Suy nghĩ độc lập, hành động
khôn khéo táo bạo, luôn luôn lấy nhân hoà làm sức mạnh quyết định. Đó là sự vượt
gộp để bảo về chủ nghĩa Mác - Lê nin trong hoàn cảnh thế giới đương thời. Bây
giờ Việt Nam là mục tiêu của cả Trung Quốc và Mỹ, - đó cũng là cơ hội, nhưng phải
có minh quân, có tập thể minh quân đi theo con đường của Bác. Con đường đó là
con đường văn hóa Việt Nam mà trước đây do hoàn cảnh khách quan đã không thực
hiện được chu đáo. Nay hoàn cảnh thuận lợi không phải chịu sức ép lớn từ bên
ngoài, Việt Nam sẽ đi đúng con đường của mình với văn hóa của chính mình. Còn
gì hơn thế nữa!
Nghiên cứu văn hóa Việt Nam, đặc biệt là về mảng nông thôn,
ông đã rút ra được cái hồn cốt lâu đời để dẫn đến 7 điều hấp dẫn. Dân làng sinh
ra trong quang cảnh nên thơ của làng; con người lao động chân bùn tay lấm, thuần
phong mỹ tục, công dung ngôn hạnh; thơ ca và những lời khấn; đồ tế lễ trên bàn
thờ gia tiên; hàng thủ công mỹ nghệ riêng có… và rải rác mồ mả, nghĩa địa làng.
Ông nói và viết về những vấn đề này bâng quơ nhưng nặng trĩu, đầy ám ảnh. Văn
hóa làng đã là sợi dây bền chắc níu kéo sự cố kết mọi người, mọi nhà, mọi họ tộc.
Một cuộc đời, nhiều cuộc đời và những cuộc đời vĩnh viễn mất đi, - dù ai đi
đâu, về đâu, thì cuối cùng đều nhận ra: chỗ quê hương đẹp hơn cả!
- Với Nghệ An. Tôi thấy Bác có để thì giờ viết hai bài phú.
Tôi không am hiểu về phú, chỉ biết văn học ta có “phú Tây Hồ” của Chu Mạnh
Trinh và “phú Bạch Đằng Giang” của Trương Hán Siêu. Gần đây có “phú Lôm Côm” của
Sỹ Giàng - “làm thật ăn cháo, láo nháo ăn cơm”… có lẽ đây là một mạch riêng, được
Bác viết với rất nhiều tâm huyết?
- Đúng vậy. Thời lều chõng ngày xưa, các sĩ tử thắng thua ở
bài phú. Khó, nhưng hấp dẫn. Phú không phải là thơ. Phú là trình bày, là mục
đích nói một tình hình. Đã trình bày thì phải có đối lập, nói cái này để ẩn một
cái kia. Đằng sau cái kia là một cái này, rất cụ thể, sẽ tạo ra một sự suy nghĩ
khác, đó là phương Đông. Một bài phú có 4 phần: khai, thừa, chuyển, hợp. 4 phần
này lại phải tiếp tục đối nhau… Nhiều nhà Nho đã tự nhận có thể mê phú đến quên
việc nước! Tôi tập làm phú theo sự bày vẽ của cha tôi. Bài thứ nhất viết về GS
Đặng Thai Mai: “thông minh vượt chúng, bụng chứa đầy văn hóa Việt, Pháp, Hoa.
Kiến thức trùm đời, chí nào sá thi thư văn, sử, triết…”, “đừng nói chết là hết,
tấm gương nhân hậu trong thản nhiên lo khắc phục gian lao. Chớ bảo sống là yên,
cuộc sống khiêm nhường, ngoài lặng lẽ, chứa đấu tranh quyết liệt…” để phần nào
nhớ Thầy, biết ơn Thầy, danh nhân lớn người xứ Nghệ.
Nhưng đến khi Tỉnh uỷ Nghệ An giao cho tôi viết bài phú làm “văn bia nghĩa trang liệt sĩ hữu nghị Việt Lào tại Anh Sơn” thì thực sự tôi cảm thấy rất hạnh phúc được thể hiện tình cảm đối với đất nước, trước “Sáu vạn thước vuông, mười nghìn nấm mộ”, “Bốn vạn người gục xuống để hai nước đứng lên, 50 năm trôi qua, khiến triệu nhà mong nhớ”, “Dựng tấm bia làm kỷ niệm, biết hạnh phúc có xương rơi, xây nghĩa trang nhắc toàn dân hiểu hòa bình nhờ máu đỏ”… tôi cũng có nhiều người thân trong số liệt sĩ này. Tình riêng tưởng đã lớn, mà lúc đứng trước nghĩa trang thấy nó nhỏ bé trong cái tình chung quá lớn lao. Những hy sinh này vì đâu, do đâu, chúng ta và con cháu phải luôn luôn hiểu và nhớ.
Nhưng đến khi Tỉnh uỷ Nghệ An giao cho tôi viết bài phú làm “văn bia nghĩa trang liệt sĩ hữu nghị Việt Lào tại Anh Sơn” thì thực sự tôi cảm thấy rất hạnh phúc được thể hiện tình cảm đối với đất nước, trước “Sáu vạn thước vuông, mười nghìn nấm mộ”, “Bốn vạn người gục xuống để hai nước đứng lên, 50 năm trôi qua, khiến triệu nhà mong nhớ”, “Dựng tấm bia làm kỷ niệm, biết hạnh phúc có xương rơi, xây nghĩa trang nhắc toàn dân hiểu hòa bình nhờ máu đỏ”… tôi cũng có nhiều người thân trong số liệt sĩ này. Tình riêng tưởng đã lớn, mà lúc đứng trước nghĩa trang thấy nó nhỏ bé trong cái tình chung quá lớn lao. Những hy sinh này vì đâu, do đâu, chúng ta và con cháu phải luôn luôn hiểu và nhớ.
- Thưa bác, trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, có lúc dùng
phương cách khu biệt hoặc trìu tượng hóa vấn đề; chính trị thì dựa vào phương
châm “dĩ bất biết, ứng vạn biến”; còn địa bàn khoa học xã hội mênh mông trời đất,
từ cái riêng kết lại cái chung, hoặc cái chung lẫn vào cái riêng. Trên “sa bàn
thao tác” chắc bác đã có được những kiếm thuật rạch ròi?
- Vấn đề này rộng, tôi chỉ nêu một vài ý. Ví dụ khi nghiên cứu
phê bình tác phẩm nào, thì không thể biết hết đối tượng, mà phải chọn một số
trang, số dòng hay nhất của họ thể hiện họ nhiều nhất, để mổ xẻ, để nêu bật -
điều này dễ hiểu. Còn về sáng tác, điều quan trọng nhất là phải có “cái góc” của
anh, cái góc đó không ai hơn anh được, để viết. Có khi 20 đến 30 năm sau mới
công bố, và nó sẽ sống. Sinh thời sẽ đụng chạm, không đụng chạm thì không có
giá. Khoa học, nghệ thuật là sự đụng chạm. Cái góc của Mác là tư bản. Mác lấy
cái góc tư bản từ Ăng Ghen là một trong ba nhà tư bản lớn nhất ở Đức nên không
ai hơn ông ấy được về vấn đề này, vấn đề tư bản. Mỗi người phải tự xác định cái
góc của mình trước khi viết tác phẩm chủ yếu. Tôi có cái góc của tôi, dù tôi vẫn
viết được về văn học phương Tây, không kém người ta lắm. Nhưng tôi chỉ là
tôi khi tôi chọn viết Nho giáo, và khó ai hơn tôi được. Nhân đây tôi có nhận
xét là cuốn Chân trời lạ của anh hay, Hoa đại thì phảng phất Nhặt
cánh hoa tàn của Lỗ Tấn,… Nhưng cái góc của anh phải là Quỳnh Lưu, nơi thể
hiện cái chất hùng, bi, hài và có cả chút cực đoan của cả một thời, của cả chế
độ. Cả nước tập trung đầy đủ nhất ở đó. Anh viết đi, tôi sẽ đề tựa cho!
- Thưa bác, chị họ tôi - PGS, Nhà văn Đặng Thị Hạnh chuyên
gia hàng đầu văn học Pháp cũng khuyên tôi như thế. Nhưng tôi đâu dám! Rất tiếc
là anh Nguyễn Minh Châu chỉ mới chớm vào,… Bác có nói ông thân của bác (cụ Phó
bảng Phan Võ) và ông nội tôi (cụ cử nhân Hồ Phi Huyền) là hai người giỏi chữ
Nho hơn cả người Tàu?
- Đúng thế. Đã có lần tôi viết cha tôi rất trọng thị
ông nội anh dám chống lại truyền thống khi thấy những điều không hợp. Ví dụ, việc
phủ định thuyết ngũ hành trong y học: Y lý không dựa vào ngũ hành, các vị thuốc
cũng vậy, dược tính là dược tính, y lý là y lý. Phải xét riêng từng trường hợp,…
Còn về tác phẩm Nhân đạo quyền hành của cụ viết trước
Cách mạng Tháng Tám, thì đây là một khát vọng rất lớn, chưa nói nó đúng hay nó
sai, khi muốn xây dựng một đạo đức học cho thời đại mình xuất phát ngay từ bản
chất con người. Hơn nữa, đó là điều đạo đức học phương Tây xưa chưa làm được,
trước sau họ đều xuất phát từ một ý niệm có sẵn chưa được kiểm chứng trong thực
tế, giống như xuất phát từ một tiêu đề. Cho nên thiếu tính phổ quát cần thiết
chung cho con người, với tính cách con người, được xem là lý do biện hộ cho nó…
Tôi chỉ nói qua tác phẩm này về mặt phương pháp luận của cụ Hồ Phi Huyền - một
nhà tư tưởng hiếm có trong tầng lớp Nho học xưa,…
Trong sự uyên thâm, phát sáng nghiên cứu văn hóa, đôi khi
Phan Ngọc cũng có chút “nghênh ngang” như Nguyễn Tuân trong văn học, ở một tỷ lệ
nào đó, ở một vài bóng dáng nào đó mang cốt cách phương Đông. Ông đã tiếp xúc
và thuyết giảng nhiều lần ở các Đại học Mỹ, phương Tây, Trung Quốc, Đông Nam Á.
Một lần, ở Hồng Kông, vị học giả trưởng lão Nhiêu Tông Di đáng kính của Đôn
Hoàng học, vốn biết Phan Ngọc cao đạo dịch Đạo Đức Kinh (dễ hiểu) của Lão Tử,
và là một người Việt Nam thuộc hơn 1.000 bài thơ Đường, điều mà không có một
người Trung Quốc nào làm được như vậy - đã đích thân xuống núi đàm đạo tri kỷ,…
Trên mặt bằng chung, sự lo ngại “Những chân trời không có người
bay” dường như được yên tâm hơn, khi có những đôi cánh nghiên cứu độc đáo với
cách tiếp cận hiện đại như Phan Ngọc, là rất cần thiết, để góp phần xác lập tầm
nhìn văn hóa Việt Nam - một tầm nhìn tự tin, có bệ phóng bản sắc dân tộc vững
vàng, tung cánh vào bầu trời hội nhập.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét