Bên dòng sông Hương - Khái Hưng
Chiều đến thả thuyền từ bến Ðông Hà theo dòng sông đi xuôi xuống
phía dưới, vượt qua cù lao Bộc Thanh, lữ khách sẽ nghe tiếng ồn ào ở trong chợ,
ở trên cầu, tiếng còi ô tô, tiếng nhạc xe kéo dần dần một lúc xa, rồi bỗng có
cái cảm giác vừa rời chốn thị thành huyên náo mà đi tới một nơi thôn quê tịch mịch.
Ðối diện với đầu mỏm cù lao ấy là xóm Vĩ Dạ.
Mấy tháng trước hai vợ chồng một người Bắc đưa nhau đến xóm ấy
thuê nhà ở. Gia nhân duy có một tên đầy tớ. Ðồ đạc chỉ trơ trọi một cái giường,
một cái bàn và bôn cái ghế. Ðến như sự giao dư thì vợ chồng nhà ấy ít lắm: chẳng
mấy khi có người quen thuộc đến chơi. Những người láng giềng thường thì thào bảo
nhau: vợ chồng nhà ấy đến ở đây làm gì? Có người tò mò hỏi anh đầy tới thì cũng
chỉ biết rằng ông khách lạ ấy đậu cử nhân luật, trước làm nghề viết báo và soạn
sách ở Hà Nội.
Cái nhà hai vợ chồng người ấy thuê tuy nhỏ và không gác nhưng
có vườn rộng bao bọc chung quanh. Chiều chiều mặt trời tà phản chiếu ánh vàng
vào lá cây mít sáng loáng và gió thổi rì rào trong đám lá thông xanh tươi xen lẫn
với những cành xoan đầy hoa tím nhạt, càng làm tăng vẻ bí mật và khiến ai qua lại
trông vào tưởng đó là một cái vườn bỏ hoang, vì cổng trước, cổng sau thường thấy
đóng.
Thực vậy, thuê cái nhà ấy, Vinh sơn chỉ muốn lánh cuộc đời
phiền phức để cùng người yêu được hoàn toàn hưởng hạnh phúc ái tình. Vì thế
chàng mới đưa bạn vào tận Huế tìm đến ở một xóm hẻo lánh quạnh hiu.
Từ ngày ở Pháp về, và ngắm xã hội Việt Nam, từ những tục lệ
bó buộc cho chí cách sinh hoạt khuôn sáo, chàng lấy làm khó chịu, tiếc cái thời
kỳ ở Paris. ở đấy, chàng đã tiêm nhiễm những cử chỉ khoáng đạt, những tư tưởng
khoáng đạt, khiến chàng lúc nào cũng được khoan khoái dễ chịu, và chẳng cần phiền
lụy đến ai, chẳng bị ai làm phiền lụy đến mình.
Một hôm, tình cờ chàng gặp Diễm Lan, cựu nữ sinh viên trường
Sư phạm, một trang tâ n tiến, cực kỳ mỹ lệ, đã nổi tiếng lãng mạn khắp Hà
Thành.
Rồi hai người cùng nhau lăn lóc trong cõi tình. Rồi không những
Vinh Sơn không được nhà cho phép cùng người yêu kết hôn, mà lại còn bị anh em bạn
bè và những người quen thuộc chế giễu, khinh bỉ.
Nghe những lời bình phẩm, chàng chỉ cườị Vì thực ra chàng chẳng
cần gì trinh tiết, chẳng cần gì tứ đức tam tòng. Chàng cho những cái đó không
có liên quan đến ái tình, không có dính dáng đến hạnh phúc. Yêu là yêu chứ
không là gì khác nữa. Nhưng cứ bị dư luận eo hẹp rầy rà mãi, chàng cũng khó chịu.
Một ngày kia, bỗng vắng bặt bóng Vinh Sơn và Diễm Lan ở các
phố Hà Nội. Hai người đã đưa nhau đi ẩn, hay nói cho đúng đi tìm một cảnh thích
hợp với ái tình. Cảnh ấy là sông Hương.
Trong tháng đầu, cái nhà ở bến Vị Dạ chỉ là một tổ uyên ương.
Hai người không lúc nào rời nhau, khi cùng nhau đọc sách dưới ánh đèn, khi cùng
ngồi ở bực gạch ngắm cảnh hoàng hôn trên sông Hương, hay đi chơi thuyền trên
làn nước trong xanh, yên lặng, êm đềm, uốn éo, dịu dàng như cô gái Thần Kinh.
Từ hôm tôi vào Sầm Sơn, sáng nào trời cũng mưa rả rích. Buổi
trưa tạnh ráo thì mây lại u ám, và về chiều gió đông nam nổi lên thổi mạnh, làm
thời tiết trở lạnh như vào khoảng cuối thu. Tôi buồn rầu nghĩ đến cảnh nghỉ hè
trên Sapa. Vào đây mục đích là để tắm biển, để phơi nắng thế mà đã năm sáu hôm
nay tôi chỉ khoác áo ngủ dài ra ngoài pull'over đứng vẩn vơ tựa hiên nhìn đường
vắng. Chán nản quá đến nỗi sách cũng không đọc được. Rồi sinh ra cáu kỉnh, gắt
gỏng ngầm ngấm trong lòng. Tiếng học chữ Hán và quốc ngữ của lũ trẻ ở phía sau
nhà càng làm tôi thêm khó chịu, bực tức!
Nhưng sáng nay, lòng tôi vui thích. Nhớ lại tính nết tôi mấy
hôm trước, tôi thấy tôi vô lý. Tiếng học chữ Hán vẫn bay sang, lanh lảnh như tiếng
tụng kinh của một chú tiểu tốt giọng, đều đều như tiếng niệm phật của các tín nữ
lên chùa, và quen quen, thân mật như tự ngàn xưa sống lại. Cả một thời ký vãng
của tôi cũng sống lại, cái thời thơ ấu học chữ Nho. Tôi tưởng như chính tôi
đương ê a đọc đi đọc lại mãi một câu: "I a phận từ tử hiến i a... i a phận
từ tử hiến i a...". Giọng đường trong khiến tôi nhớ tới một bậc đàn anh
người xứ Thanh. Ngày xưa không gì thú cho tôi bằng nghe anh đọc thơ và bình văn
tuy tôi chẳng hiểu chi hết. Bất giác bắt chước giọng anh, tôi ngâm nga đọc hai
câu thơ của anh mà cái trí nhớ thời tám chín tuổi vẫn còn giữ vẹn toàn, tươi
mát như rau nguồn vừa mới hái:
Thuấn hà nhân dã ngã tư tề,
Lạc thiện tâm tùy báo hiểu kê...
Các bạn có hiểu tại sao tôi vui thế không, tại sao hôm nay
tôi sung sướng thế không? Mặt trời cuối xuân đã mọc trên từng không xanh ngắt
và trong lòng tôi sáng tươi.
Tôi ra bãi biển, mặc sơ sài có một cái áo sát, một cái quần
đùi ngắn. ở đó cố nhiên tôi chỉ gặp toàn những dân chài lưới, người nghỉ mát độc
nhất là tôi. Nhưng không vì vắng người tắm biển mà bãi biển kém vẻ hoạt động,
dù đây không còn là cái hoạt động thanh lịch, xinh xẻo, cái hoạt động phô bày,
dàn xếp từ các nơi thành thị đem về như người ta phô bày, dàn xếp một cảnh hoạt
động giả dối ở trên sân khấu nhà hát. Đây là cái hoạt động thiên nhiên, mộc mạc
và hùng vĩ.
Ven làn nước có phần êm lặng so với những buổi chiều huyên
náo mấy hôm trước, từng hàng người lực lưỡng kéo lưới. Những tấm thân cường
tráng, nổi từng bắp thịt rắn chắc và rám tía cùng ưỡn ra, ngả về phía sau. Những
bộ đùi mập mạp cứng như thép cùng duỗi thẳng để nhịp nhàng giẫm chân xuống cát
và từ từ lùi lại, từ từ quá đến nỗi ta sẽ tưởng vẫn đứng y nguyên một chỗ, nếu
thỉnh thoảng người cuối hàng không tháo dây móc ra để lộn lên đầu hàng, rồi lại
lặng lẽ lạnh lùng, không suy nghĩ, ưỡn mình ngả về phía sau giẫm chân từ từ
kéo. ánh nắng vàng dịu, trong mát, mong manh, mịn màng như lọc qua mấy đợt mây
xanh, vẽ dài những hình rung động lên cát ướt.
Một cái lưới kéo vào bờ. Yên lặng đứt quãng, yên lặng mà tiếng
sóng biển ầm ĩ, đều đều càng làm tăng lên. Một cái mảng từ đâu chở đến vừa vụt
hiện ra để hứng lấy từng sải lưới. Đàn trẻ mót cá tua tủa chạy lại, xôn xao cười
nói, mỗi đứa tay cầm một cái vợt nhỏ. Một người đánh cá cởi trần quần nâu bện
lên tới háng, giơ ra một cái que nứa và dữ tợn dọa nạt: "Chúng mày mà lại
gần thì chết đòn bây giờ!". Bọn kia như không thèm nghe, lội cả xuống nước,
quây quần lấy cái mảng, đứng sát vào hai bên thành lưới đã kéo gần tới đây. Tiếng
que nứa mỏng vun vút trong không, hay đen đét lên đầu, lên mình lũ trẻ nhốn
nháo. Những con cá lớn, trắng, sáng loáng như bạc từ dưới nước tự ném mình lên
trên không để lại rơi xuống khoảng lưới vẫn đương kéo vào. Những con cá nhỏ, đầu
nhọn thân dài và dẹp mắc trong mắt lưới bị người ta dứt mạnh vứt vào cái lồ đặt
trên mảng, nếu không bị một thằng bé con nhanh nhẹn, nhẹ nhàng hắt vào trong vợt
của nó.
Chỉ dăm phút, cá đã bỏ hết vào lồ đầy tới hai phần ba. Trộn lộn,
lúc nhúc, nào cá thu phơn phớt màu xanh, nào cá chim lấp lánh màu bạc và biết
bao nhiêu các thứ cá nhỏ giống nhau mà chỉ dân vùng biển mới có thể phân biệt
và thuộc tên. Lẫn vào đó những con mực râu dài, những con cua với đôi khuyên
tròn như cặp mắt vẽ trên mai, những con tôm vàng đầu to, uốn mình nhảy tanh
tách.
Năm, sáu chị buôn cá xúm lại, vây chặt lấy cái lồ đã khiêng
lên bãi. Câu nói thách, câu mặc cả, lời cãi nhau, mắng nhau. Một người đàn bà
lôi lấy lồ, một người đàn ông kéo giật lại. Nhưng rồi mua bán cũng xong ngay,
và mấy người đàn bà vội vàng cùng nhau chia phần đổ vào thúng, thoăn thoắt gánh
đi.
Yên lặng lại trở về trong bầu không khí vẫn sáng dịu. Và những
cái bóng yên lặng của những người kéo lưới vẫn nằm dài trên làn cát ướt. Lũ trẻ
đã biến đâu mất cả. Ngoài bọn dân chài chỉ còn lại ở dưới bóng rợp cái mảng kê
trên nạng, hai đứa bé mà tôi trông thấy ngay từ lúc mới ra bãi biển. Một thằng
ngồi bó gối, một thằng nằm sấp, cả hai cùng chăm chú nhìn vào một khoảng đất ở
trước mặt, và cùng có vẻ suy nghĩ, tìm tòi.
Tôi lại gần thì đó hai vị tiểu tiên đương ham mải một ván cờ
"hoa thị"; những quân cờ là những mẩu que nứa cắm xuống cát. Tôi đứng
nhìn qua một lượt, xem xét thế trận của hai bên quân que để nguyên và quân que
bẻ gẫy, rồi tôi mỉm cười tuyên bố: "Hòa thôi!". Cả hai đứa trẻ cùng
ngửng lên. Một đứa đăm đăm nhìn tôi và chào: "Thầy! Năm nay thầy ra nghỉ
mát sớm!". Tôi nghĩ thầm: "Nghĩa là năm ngoái nó đã gặp mình".
Tôi hỏi:
- Thế nào? Hòa thôi chứ, em? Hai bên bằng quân mà tướng lại
cùng bị vây...
Thằng kia cười đáp:
- Vâng, hòa. Hòa thôi, Tuất ạ. Đánh ván khác nhé?
Tuất lạnh lùng:
- Thôi, chả đánh nữa! Đánh với mày buồn chết, ván nào cũng
hòa.
Rồi nó đứng dậy đi bên cạnh tôi.
- Thưa thầy, thầy ở Hà Nội?
- Ừ, sao em biết?
Tôi mỉm cười đáp. Tuất rất tự nhiên trả lời:
- Thưa thầy, con tưởng những người Bắc vào đây toàn là người
Hà Nội cả.
- Vậy em đã biết Hà Nội chưa?
Tôi tưởng hỏi đùa, và tôi ngạc nhiên khi nghe Tuất đáp lại:
- Thưa thầy đã.
Nó ngước nhìn tôi, nhìn rất lâu như để tìm cái hình ảnh Hà Nội
in trong đôi con ngươi của một người Hà Nội mới đem vào. Lần đầu tôi nhận thấy
cặp mắt sáng và trong, cặp mắt hơi xếch lên thái dương nhưng không vì thế mà dữ
tợn, không vì thế mà mất vẻ ngây thơ dịu dàng, nhân hậu. Cặp mắt của anh đồ
Thanh, của anh "đồ Râu" (vì anh có bộ râu rất đen và đẹp), tác giả
hai câu thơ trên kia. Cặp mắt của một người chở phà mà tôi đã gặp năm kia ở một
bến đò qua sông Mã trên một con đường hẻo lánh. Hôm ấy ngắm người trai trẻ vạm
vỡ tuấn tú và trang nghiêm, không hiểu sao tôi nghĩ ngay tới chú đình trưởng
Lưu Bang, nhưng hôm nay nhìn thằng bé xinh xẻo với cũng cặp mắt trong sáng và
hơi xếch ấy, tôi lại tưởng tới vua Lê Lợi, thời còn hàn vi, ẩn náu ở một bến đò
nào đó bên dòng sông Mã nước chảy phăng phăng ra biển khơi.
Sau một phút im lặng đi cạnh tôi, Tuất hỏi:
- Thầy có biết phố nhà Thương không?
Tôi hỏi lại:
- Có phải phố Phủ Doãn không?
Tuất nhìn tôi, ngẫm nghĩ:
- Dạ, có lẽ phải đó. Con không sao nhớ được cái tên ấy, con
chỉ gọi là phố nhà Thương, ở ngay sau nhà thương, rẽ ra phố Tràng Tiền, thẳng
lên phố Bônbe có hiệu Gôđa. Con đã vào hiệu Gôđa rồi, to lắm, đẹp lắm...
Tôi mỉm cười ngắt lời nó:
- Vậy ra em đã ở Hà Nội?
- Dạ.
Rồi Tuất kể cho tôi nghe tất cả câu chuyện đời nó.
Mẹ Tuất chết rồi. Cả cậu Tuất nữa. Tôi không rõ tại sao cậu
Tuất lại có một địa vị quan trọng trong đời Tuất và trong câu chuyện của Tuất.
Tôi cũng không hỏi kỹ để biết duyên cớ. Trước tôi vẫn tưởng "cậu" là
người sinh ra thằng bé, tuy tôi cũng hơi lạ một điều về cách xưng hô của nó: mẹ
với cậu. Nhưng không, không phải cậu là cha Tuất, cậu chính là em mẹ Tuất, Tuất
nói thêm cho tôi biết thế. "Còn cha Tuất?" Câu hỏi ấy chỉ chực thốt
ra, nhưng vẫn bị giữ lại. Tôi như sợ làm buồn hoặc phật lòng thằng bé, vì một
thiên tiểu thuyết gia đình vừa phác ra trong trí tưởng tượng của tôi. Tôi thấy
thằng bé mồ côi mẹ, rồi cha nó lấy vợ kế, một người vợ đảm đang và cay nghiệt,
và nhiều lời như một số đàn bà tôi thường gặp ở Sầm Sơn. Nhưng trong mấy năm
sau khi mất mẹ, thằng bé còn được cậu bênh vực, che chở, chống cự lại người mẹ
kế dữ tợn. Rồi người cậu cũng mất. Từ đó thằng bé bỗng thấy mình trơ trọi trong
cái gia đình không yêu mến. Tôi cúi nhìn Tuất như để đọc thiên tiểu thuyết của
tôi in trong gương mắt ngây thơ, nhưng thằng bé vẫn vui vẻ kể tiếp câu chuyện của
nó.
Nó đến ở với bà An Lợi. Bà ta yêu nó lắm. Còn ai không yêu được
một thằng bé con kháu khỉnh như nó? Trừ có là dì ghẻ nó. Thế rồi gần hết hè bà
ta hỏi nó có muốn theo ra Hà Nội không.
Ra Hà Nội? Tuất chưa từng bao giờ nghĩ tới. Nhưng bắt đầu từ
hôm ấy nó nghĩ tới. Nó không thể tưởng tượng được Hà Nội như thế nào. Song nó
chắc ở đó có nhiều, rất nhiều nhà gạch vừa to vừa cao, và rất nhiều ô tô vừa đẹp
vừa nhanh. Còn người ở Hà Nội thì chắc như tất cả những "thầy", những
"cô" vào Sầm Sơn nghỉ mát. Hình ảnh cái thành phố lớn lao, đẹp đẽ
ngày đêm hiện ra trong khối óc mười lăm tuổi, hiện ra lờ mờ, xa xăm như hình ảnh
thiên đường và địa ngục hiện ra trong óc một người đàn bà tin đạo. Thực ra nó
yêu Hà Nội như người ta yêu thiên đường, nhưng nó cũng sợ Hà Nội như người ta sợ
địa ngục.
Một hôm nó bảo bà An Lợi:
- Thưa bà, chắc Hà Nội đông người lắm?
Bà kia mỉm cười:
- Đông lắm. Đông như một tổ kiến vậy.
- Thưa bà, nhà cao dễ đến chục từng?
- Không, chỉ hai, ba từng thôi, nhưng mà to và nhiều lắm.
- Còn xe ô tô?
- Ồ! Xe ô tô ư! Đường đi như mắc cửi.
Thằng bé nghĩ ngợi, lo lắng. Về Hà Nội, nó làm thế nào để
tránh được ô tô, để khỏi bị đè chết?
Nhưng hôm bà An Lợi sửa soạn ra về nó bỗng quả quyết bằng
lòng đi theo hầu. Giọng thằng bé đến đây cất cao lên:
- Thưa thầy quả thực Hà Nội đẹp. Mà có nhiều cái đẹp quá. Hôm
mới ra, mỗi lần bà chủ sai con đi đâu có việc gì, lúc về thể nào con cũng bị cốp,
vì con đi lâu quá, gặp cái gì con cũng đứng lại xem. Gặp người nào đẹp, ăn mặc
hay hay con cũng đứng lại ngắm nghía. Có người thấy con nhìn cũng nhìn lại con,
rồi bật lên cười to, làm con xấu hổ cắm đầu chạy. Một hôm bà chủ sai con mua một
lạng cà phê ở hiệu Gô đa, con đi mất hết cả buổi sáng. Về, bà con tát cho hai
cái nên thân, nhưng mà con cũng hả. Trời ơi, đẹp quá thầy ạ... Thế rồi con cũng
quen dần đi. Về sau, con không lạ nữa, bà chủ sai con đi đâu con đi một mạch,
chẳng nhìn trước, nhìn sau, bên phải, bên trái nữa.
Thấy Tuất ngừng lại, tôi hỏi:
- Nhưng nay sao em không ở với bà An Lợi?
Thằng bé buồn rầu kể cho tôi nghe đoạn cuối câu chuyện:
Bà An Lợi yêu nó lắm, vì nó ngoan ngoãn nết na. Nhưng không
hiểu sao một hôm nó chợt thấy nhớ nhà, nhớ núi Sầm Sơn, nhớ biển Sầm Sơn, nhớ
bãi cát Sầm Sơn, nhớ lũ trẻ nô đùa và nhớ cả thầy đồ dạy chữ Hán. Có lẽ lòng
háo hức thích Hà Nội đã nhạt. Cái thành phố tráng lệ không còn sức hấp dẫn đối
với khối óc ham muốn, không còn đủ mãnh lực để đè át cái tình nhớ quê hương vẫn
âm thầm, ẩn náu trong lòng thằng bé con vùng biển.
- Thưa thầy, Tuất kể, suốt một tháng, đêm nào con cũng tưởng
đương ở nhà, đương chạy nhảy hay đánh cờ ở ngoài bãi với bạn bè. Bên tai con,
tiếng sóng biển réo ầm ầm. Nhưng giật mình tỉnh dậy, con vẫn thấy con nằm ở
trên gác nhà bà chủ con. ở dưới đường, đèn điện sáng như ban ngày mà xe ô tô
thì chạy rầm rập qua trước cổng nhà thương. Con bưng mặt ngồi khóc, khóc mãi
cho tới lúc mệt quá lại ngủ thiếp đi. Mấy hôm đầu, con còn khóc to, nhưng bà chủ
con mắng và đánh nữa, nên về sau con chỉ khóc thầm nhét vạt áo vào miệng cho bà
chủ khỏi nghe thấy tiếng. Mà người con mỗi ngày một gầy đi. Con gầy quá cơ, thầy
ạ. Thầy tính hằng hai, ba ngày liền ăn mỗi bữa một miếng cơm, có khi nhịn đói
và chỉ uống nước lã thì làm gì mà không gầy không sút đi. Bà chủ con thương con
lắm, cứ hỏi con tại sao con hay buồn hay khóc. Trước con còn giấu quanh; về sau
con liền thú thực với bà chủ con rằng con nhớ nhà. Bà chủ con dỗ con: "Rồi
lâu quên đi". Nhưng con không quên, thầy ạ. Bà chủ con lại mắng con;
"Đã lớn rồi mà còn nhớ nhà!"
Đến đây, tôi ngắt lời Tuất và hỏi:
- Nhưng em nhớ ai? Em đã bảo mẹ em chết rồi, và cả cậu em
cũng chết rồi kia mà.
- Thưa thầy, con nhớ nhà. Nhớ biển, nhớ núi, nhớ... nhớ hết cả
mọi thứ. Với lại chính vì má con với cậu con nữa. Má con cứ luôn luôn bảo con;
"Tuất ơi! Về đi thôi, về đi thôi. ở đây làm gì, đây không phải nhà
mày!" Cả cậu con nữa, cậu con cứ đuổi con "ồi ồi".
- Mẹ em? Cậu em? Tưởng mẹ em và cậu em đều mất rồi kia mà?
- Dạ, má con và cậu con chết rồi. Con nói con nằm chiêm bao đấy
chứ. Một tuần lễ trước hôm được về nhà, đêm nào con cũng nằm chiêm bao thấy má
con và cậu con hiện lên đuổi con về. Hôm sau cùng má con gắt và mắng con:
"Sao tao dạy bảo mày không nghe lời tao, hở Tuất?" Con lên kêu van với
bà chủ con. Bà chủ con thấy con gầy rạc, mặt mũi hốc hác, xanh xao thì sợ con
chết nên bằng lòng cho phép con về. Nhưng bảo con hãy chờ vài hôm để bà tìm người
đưa con vào Sầm Sơn. Con nói liều: "Thưa bà con nhớ đường, bà cứ để con
vào một mình". Thế là bà chủ trả tiền công con, lại cho con hai đồng tiền
tầu. Chiều hôm ấy con về tới Thanh Hóa, rồi đi bộ vào Sầm Sơn liền. Mãi khuya
con mới về tới nhà. Nhân đêm hôm ấy có trăng, con đi thẳng ra bãi biển, và con
ngồi xuống cát, con khóc, khóc mãi...
Tuất ngừng hẳn, yên lặng đi bên cạnh tôi. Bỗng một lát sau nó
vơ vẩn nhìn lên đường hỏi:
- Thưa thầy, nghe nói tiền tầu nay tăng giá. Năm ngoái con lấy
vé mất có một đồng mười ba xu.
Tôi lơ đãng trả lời thằng bé:
- Bây giờ vẫn thế.
Và tôi nghĩ thầm:
"Hay nó còn nhớ tiếc Hà Nội và nghĩ đến món tiền mua vé
xe lửa đấy chăng?"
Rút từ tập truyện ngắn Cái Ve.
Nxb Đời nay, Hà Nội, 1944.
I
Bọn họ bốn người ngồi đợi bạn đi làm về để ăn cơm sáng. Có lẽ họ cùng đói cả, vì đều yên lặng, đều uể oải chẳng ai chuyện trò với ai. Một người làu nhàu nói một mình:
Bọn họ bốn người ngồi đợi bạn đi làm về để ăn cơm sáng. Có lẽ họ cùng đói cả, vì đều yên lặng, đều uể oải chẳng ai chuyện trò với ai. Một người làu nhàu nói một mình:
- Làm gì mà giờ chưa về?
Rồi quay sang hỏi người bên cạnh đương nằm khểnh, vắt chân chữ
ngũ, chăm chú dùng móng ngón tay trỏ và ngón tay cái làm nhíp nhổ râu.
- Trường, thằng Việt nó có dặn mày nó không ăn cơm nhà không?
Trường nhăn mặt xuýt xoa, vì đã lơ đãng bấm phải da cằm. Người
hỏi thấy vậy nhún vai ngồi im. Một lát, chàng lại cằn nhằn nói một mình:
- Lại lão giáo nữa!
Một hồi chuông giòn giã. Một người thở hổn hển dắt xe đạp đi
vào, rồi vừa nhắc xe đặt lên cái giá gỗ, vừa cười nói:
- Xin lỗi các anh. Tôi về hơi muộn vì gặp thằng cha khó chịu
quá, nó cứ vật nài đặt xong cho nó cái hòm "ắc qui" để nó đi Đồ Sơn
nghỉ mát ngay trưa hôm nay.
- Hừ! ắc quy với chẳng ắc qui! Mười hai rưỡi rồi còn gì? Người
ta làm lụng đầu tắt mặt tối, tháng tháng kiếm được mươi mười hai đồng bạc. Đã
thế, đến bữa cơm còn chưa được ăn!
- Việt đấy chứ moa thì hết giờ rồi moa cóc lắp nữa, phỏng đã
làm gì moa tốt! Tội gì lại chịu đói cào ruột ra để lắp hòm điện cho nó đi nghỉ
mát, đi nghỉ mát với gái.
Việt cười xòa:
- Thôi "bạc đồng" cả các anh!... Thì đã giao hẹn cứ
đợi đến đúng mười hai giờ là cùng kia mà, sao các anh còn...
Trường ngắt lời Việt, cất tiếng gọi:
- Ve! Có cho người ta ăn không?
- Xong rồi đây!
Một người con gái bưng mâm cơm ra, đặt lên phản. Nàng y phục
nửa thôn quê, nửa thành thị: cái quần vải thâm, cái áo dài vải đồng lầm cài kín
tà, để chừa lại khuy cổ và khuy vai, cái khăn nhung vấn lẳn vành, mái tóc rẽ
hơi lệch như muốn theo kiểu mới, nhưng còn nhút nhát, rụt rè, chưa dám quả quyết.
Nhẩm đếm trong mâm có năm cái bát và năm đôi đũa. San, người
thợ nguội ở một xưởng chữa ô tô, hất hàm hỏi:
- Thế nào, Ve, ông giáo bữa sáng nay lại không cùng ăn?
- Mời các bác xơi cơm thôi, hôm nay dễ ông ấy đi ăn cơm
khách, vì mãi giờ vẫn chưa thấy về. Với lại ông ấy đã dặn hễ đến bữa mà ông ấy
chưa về thì đừng đợi cơm, đừng để phần để phiếc gì hết.
Không nghĩ ngợi, không do dự, năm người ngồi xuống ăn liền. Họ
vẫn chẳng ưa gì ông giáo Thanh mà họ cho là không vào cảnh lao động với họ: một
người kiêu ngạo, ít nói, vui buồn không để lộ ra ngoài mặt, một người đã nhiều
phen phê bình lời bông đùa, cợt nhả của họ bằng sự yên lặng trang nghiêm. Có lần
cáu tiết, bọn họ đã bảo bác Cả, mẹ Ve, dọn riêng ra cho ông ta ăn một mình.
Nhưng bác Cả vẫn cố tìm lời khôn khéo nói với họ để tránh sự tổn phí thêm mâm
thêm bát.
Bọn họ đã theo nghề mà phân biệt giai cấp, nhưng nếu họ biết
rõ tình cảnh của Thanh thì họ sẽ thấy cũng chẳng hơn gì tình cảnh họ: dăm bộ
bàn ghế nát, một cái bảng đen trong gian nhà lá trống trải, đó là khí cụ để
xoay kế sinh nhai. Còn khách hàng: vài ba chục cậu trò nhỏ từ sáu đến mười hai
tuổi từ lớp đồng ấu đến lớp sơ đẳng và toàn là con các nhà bình dân buôn bán ở
ngoại ô, nghĩa là không sẵn tiền và nhiều khi túng bấn nữa. Vì thế học phí chẳng
lấy gì được trả sòng phẳng luôn luôn, và món tiền thầy giáo kiếm được hàng
tháng chẳng mấy khi quá số mười lăm đồng. Trừ tiền thuê lớp học và các khoản
chi phí khác, khéo lắm còn hơn chục bạc để ăn tiêu.
- Ve!
- Cái gì nữa thế?
- Lấy thêm cơm, mau!
Trên mâm, đĩa đậu phụ om tương, đĩa rau muống sào tóp mỡ đĩa
đu đủ xanh om mắm tôm, đã sạch sẽ như lau. Ai nấy ăn ngốn ngấu, vội vàng, không
trò chuyện, không ngừng gắp, không ngừng nhai. Người ta chỉ nghe thấy tiếng hai
hàm răng chạm nhau côm cốp, tiếng thìa đũa đụng mâm lách cách và tiếng húp canh
sụp soạp.
Ăn no, ai nấy trở nên vui vẻ, và những câu chuyện khôi hài
nghịch ngợm, những câu pha trò thô tục, nhạt nhẽo kế tiếp nhau, chen đua nhau
không ngớt, dù Ve có đứng gần đấy cũng mặc. Họ đã quen coi Ve là một người để
sai khiến, một người nấu cơm cho họ ăn, thế thôi. Còn cái tuổi mười tám của Ve,
họ không hề nghĩ đến bao giờ. Thấy Ve bỏ chạy, họ cho là một sự rất thường hoặc
để xuống bếp làm lụng, hoặc để đi mua thức gì cần dùng, chứ không một lần nào họ
tưởng rằng những lời lỗ mãng, những câu bẩn thỉu của họ đã làm Ve bẽn lẽn xấu hổ
và đã đuổi Ve đi.
Là vì Ve xấu số, chẳng có nhan sắc như nhiều cô gái khác, hơn
nữa, chẳng có một chút duyên lộ duyên thầm của một cô con gái đến thì. Sự trang
sức của Ve,- vì Ve mới bắt đầu chăm chỉ trang sức - càng phô rõ những điểm xấu
của Ve ra. Cái mặt kỳ cọ bóng loáng, hai hàm răng xỉa thuốc đen láy, chỉ làm
cho cặp môi thêm thâm, thêm cong. Đôi lông mày nhổ tỉa hình bán nguyệt càng
thanh bao nhiêu thì hai con mắt lồi càng thô bấy nhiêu, hai con mắt đục và ướt
như lúc nào cũng ám khói bếp. Một cái sẹo trắng nằm dài ở mi bên phải khiến thoạt
nhìn Ve là người ta để ý đến mắt Ve ngay. Có lẽ Ve cũng biết thế, nên vẫn hết sức
chữa cho cái sẹo mờ đi: trước Ve đã bôi nghệ, nhưng thấy màu nghệ vàng khè
không giống màu da, nàng lại thôi. Mãi sau nàng mới nghĩ ra được cách dùng màu chì
nhạt. Từ đấy trong túi áo lót mình của Ve bao giờ cũng có mẩu bút chì và cái
gương tròn nhỏ.
Chính cái sẹo ấy đã đặt tên cho Ve. Thực ra Ve không có tên
riêng. Khi Ve ra đời, mẹ Ve chỉ gọi Ve là cái Riêm con, và cái Riêm, chị Ve, đã
nghiễm nhiên thành cái Riêm nhớn.
Năm bảy tuổi, Ve đau mắt nặng. Khỏi bệnh, còn lại cái sẹo ở
mi bên phải. Từ đó, mẹ nàng khi mắng nàng thường chỉ kêu nàng là cái Ve, rồi chẳng
bao lâu ai ai cũng theo thế mà gọi nàng.
- Ve!
- Các bác bảo gì?
- Bưng đi, Ve!
Rồi trong khi người con gái thu dọn các đĩa bát rếch, chàng
cười bảo Trường:
- Mày ạ, ban nãy tao ở nhà máy về gặp con bé chỉ độ mười bảy
tuổi đầu thôi. Kháu quá, mà tình quá! Tao nháy nó, nó tủm tỉm.
- Ồ thú nhỉ!
San cười phì cả ngụm nước vừa uống:
- Mày tin gì nó! Nó làm như nó đẹp giai lắm, các cô con gái
Hà Nội ai cũng phải lòng nó.
- Mày thì đẹp! Hôm nọ ghẹo con hàng chuối nó mắng vào mặt
cho, còn không biết thân!
Ve bưng mâm bát, đĩa xuống nhà, trong lòng buồn rầu man mác.
Năm nay nàng đã mười tám tuổi rồi, mà chưa một lần nào được ai nháy hay bị ai
chòng ghẹo. Nàng không hiểu sao người ta lại nháy nhau, lại chòng ghẹo nhau được
và làm như thế có ích gì. Nàng chỉ biết khi một người đàn ông, như ông giáo
Thanh chẳng hạn, nói với nàng những câu dịu dàng, đứng đắn, khác với những lời
cục cằn của mấy bác thợ ăn cơm trọ nhà nàng thì nàng thấy tim nàng đập mạnh và
nàng cảm động quá, chỉ muốn ứa nước mắt. Nhưng nàng cũng mới gặp có một ông
giáo Thanh đối đãi với nàng như thế. Giá ông ấy có nháy nàng hay chòng ghẹo
nàng, thì nàng xin thề với nàng rằng nàng chẳng dám tủm tỉm mà cũng chẳng dám mắng
vào mặt ông ấy.
- Ve, mày không đi rửa bát, còn ngồi thừ ra đấy mà nghĩ ngợi
gì thế?
Nghe tiếng mẹ cự, Ve thở dài đứng dậy cắp rổ bát đĩa thong thả
ra ao.
Mặt trời giữa trưa xiên thẳng ánh sáng xuống làn nước màu
xanh vàng. Ve trùm vạt áo sau lên đầu để che mắt cho khỏi nắng và đỡ chói, ngồi
cầu ao lấy búi rơm thong thả cọ từng cái bát, cái đĩa. Đàn cá nhỏ xúm xít bơi lại
gần đớp những hạt cơm rơi, mặt nước lấm tấm, lấp loáng trông như có những hạt
mưa đương dồn dập đổ xuống. Ve lấy tay khỏa mạnh, tức thì bóng nàng tan ra với
đàn cá nhép tản mát lan đi. Nàng lò mò cúi xuống nhìn: mặt nước dần dần lắng lại,
bóng cái sẹo ở mi mắt lờ mờ thành hình. Ve rửa tay thực kỹ, kéo vạt áo lau cho
khô, rồi móc túi lấy ra cái gương con và mẩu bút chì để tô.
Giữa lúc ấy có tiếng gọi:
- Ve! Mày chết gí ở ngoài ấy à?
Ve bỏ vội gương và bút chì vào túi, cắp rổ bát đĩa đứng dậy,
trong lòng căm tức nghĩ thầm: "Người nào cũng vậy, động nói với mình là rủa
mắng! Khó chịu quá!"
Nàng cau có hỏi mẹ:
- Cái gì mà bu làm ầm lên thế?
- Con giời đánh, mày có sắp sửa đi chợ không, còn dềnh dàng
mãi.
- Thì cũng phải rửa xong bát đĩa đã chứ!
- Câm ngay, con đĩ dại! Đây này, cầm hào bạc ra chợ mua cho
tao năm bìa đậu với lại hai xu cải, một trinh hành hoa. Bữa sáng còn rau muống,
còn cá kho đấy, chiều dọn ra, như thế là tươm rồi.
- Có mua thêm thịt kho cho ông giáo ăn không?
Bác Cả nguýt dài, mắng con:
- Rõ khéo lôi thôi, tao bảo mua thức gì thì cứ mua thức ấy có
được không?
Ve bĩu môi đáp lại:
- Thì người ta giả hơn tiền, cũng phải cho người ta ăn tươm tất
hơn một tí chứ.
Bác Cả gí ngón tay vào trán con, hai hàm răng rít lại, thì thầm:
- Thổi cơm trọ như mày thì có khi phải bán nhà mà bù. Sáu đồng
bạc một tháng, mày tưởng to lắm đấy à?
- Chẳng to lắm thì cũng to hơn phần mọi người khác, họ chỉ giả
bu có bốn đồng thôi.
- Nhưng đằng này người ta vừa ăn vừa trọ. Thôi, mày im ngay,
đừng làm tao lộn tiết lên nữa, mà tao phang cái chày này vào mặt bây giờ.
Bác Cả đứng im vài giây rồi cười chua chát, nói tiếp:
- Dễ thường con bé này nó phải lòng nhà thày giáo chắc! Chả
thế mà hôm nào nó cũng săn sóc riêng đến bữa cơm của thày ta.
Ve vùng vằng bỏ ra đi.
II
Ve đương ngồi ở bếp thái hành để muối dưa, bỗng nghe tiếng guốc
lộp cộp sau lưng: nàng biết rằng đó là ông giáo Thanh, vì chỉ có mình nàng với
ông giáo ở nhà. Mẹ nàng ra chợ, còn năm người ăn cơm trọ, xong bữa sáng, đã kéo
nhau đi cả.
Ve cố thản nhiên chăm chỉ làm việc, như không để ý đến mọi sự
xảy ra chung quanh mình.
- Cô Ve!
Không lần nào nghe hai tiếng "cô Ve" mà cô gái xấu
xí không nóng bừng mặt. Cách xưng hô ấy, Ve cho chỉ để tặng riêng những người lịch
sự, xinh đẹp trong các gia đình cao sang hay giàu có. Còn đối với nàng, đó chỉ
có thể là một sự mỉa mai cay độc. Vì thế, buổi đầu Thanh gọi nàng là cô, nàng
căm tức tưởng như bị chế nhạo. Nhưng lâu dần nàng cũng quen tai, tuy vẫn còn
hơi bẽn lẽn một chút, bẽn lẽn sung sướng.
- Cô Ve!
- Dạ.
Ve từ từ đứng dậy, dáng điệu giữ gìn khoan thai, yểu điệu, nhất
là cố ý nhìn thẳng để Thanh chỉ trông thấy một nửa mặt không có cái sẹo dài ở
mí mắt.
- Cô Ve làm ơn đun hộ tôi ấm nước sôi nhé?
- Thưa ông, vâng.
- Đây, ấm đây, cô Ve.
Ve đỡ lấy cái ấm đồng ở tay Thanh, ra vại múc nước, bắc lên bếp
kiềng nhóm lửa. Rồi nàng lại ra ngồi thái hành, lòng bâng khuâng cảm động:
"Người ta có học hành chữ nghĩa vẫn hơn. Ăn nói ôn tồn quá. Chả bù với năm
bác kia nhất là bác Trường, với bác San, động nói là gắt, bảo làm việc gì thì
như sai đầy tớ vậy. Rõ nhắng quá! Ai là đầy tớ họ mới được chứ?"
Một lát sau, Ve xách ấm nước lên nhà, nói se sẽ:
- Thưa ông, nước sôi được rồi đây ạ.
Thanh đương mải chấm bài học trò ở cái hòm lớn đặt trên giường
và dùng làm bàn. Ve phải nhắc một lần nữa, chàng mới nghe thấy và quay lại tươi
cười nói:
- Cám ơn cô nhé. Cô để đấy cho tôi.
Ve cúi đầu, thỏ thẻ:
- Thưa thầy, thầy pha nước hay để làm gì?
- Tôi pha nước đấy, cô ạ.
- Thế con đi súc ấm nhé?
- Được, cô để mặc tôi.
Nhưng Ve đã nhanh nhẹn ra bàn nước mở cái giỏ làm bằng tre
ghép, màu sơn quang dầu đã mờ sạm và trên đậy nắp vải nâu cũ, rách, để lòi cả
bông nhồi ra. Nàng kéo lên một cái ấm Thanh Trì vòi thiếc cáu đầy cặn chè nụ,
và mở vung ghé mắt nhòm, lẩm bẩm:
- Gớm! Tệ quá! Uống cạn chẳng để phần người ta lấy một giọt.
Tiếng "người ta" dùng để chỉ ông giáo Thanh mà Ve
buột miệng thốt ra, nàng nghe như có chiều thân mật quá. Vì thế nàng đưa mắt liếc
trộm xem Thanh có nghe rõ không. Thấy Thanh vẫn cặm cụi chấm bài, nàng mới yên
tâm.
- Thưa thầy, con súc ấm tra chè mới nhé?
Thanh vẫn không ngửng lên, đáp:
- Cám ơn cô, thế thì còn nói gì nữa. Nhưng hình như chè hãy
còn tốt đấy mà, bỏ sợ phí, cô Ve ạ.
Ve bóp mấy hạt chè bã:
- Thưa thầy, còn tốt đâu! Bã nát nhẽo ra rồi!
Ve dềnh dàng để được ở gần Thanh lâu thêm một lát nữa. Trong
lúc nhà vắng đứng nói chuyện với Thanh, nàng coi như một việc thầm kín, vụng trộm,
một việc có lỗi. ý nghĩ ấy làm Ve sung sướng, chân tay luống cuống. Nàng tra
chè mới rồi rót nước vào ấm.
- Thưa thầy, con để đây, thầy chờ một lát cho ngấm đã rồi hãy
uống.
- Được, cám ơn cô, cô cứ để đấy cho tôi. Nhưng này cô Ve, sao
cô cứ xưng con với tôi thế? Tôi chỉ hơn cô độ hai, ba tuổi là cùng, cô xưng con
với tôi như thế e không tiện.
Ve yên lặng đứng ngây người nhìn Thanh, và ngẫm nghĩ:
"Thế nghĩa là gì? Đó là câu đùa bỡn trêu ghẹo, hay là lời đứng đắn tự
nhiên?". Nhưng thấy Thanh vẫn cúi đầu chữa bài học trò, Ve liền rón rén lảng
xuống bếp. Một lát sau, nàng lại lên nhà, rót chén nước chè nụ đầy bưng đến để
bên cạnh ông giáo và lễ phép nói:
- Thưa thầy, nước chè ngấm, vừa uống rồi đấy ạ
Thanh ngửng đầu lên tươi cười đáp.
- Cám ơn cô nhé.
Ve giật mình vì vô tình nàng đã xây về phía Thanh nửa mặt có
cái sẹo ở mí mắt. Nàng cúi vội đầu xuống rồi ngoảnh trông nghiêng.
- Ve!
Ve chạy biến vào trong bếp. Tiếng bác Cả réo từ ngoài đường
réo vào:
- Ve! Con chết đâm ra đây tao bảo.
Ve sợ hãi bước lại gần, hỏi:
- Cái gì thế, bu?
- Cái gì à? Lại còn cái gì à, con quạ mổ?
Ve ngượng quá, đưa mắt nhìn Thanh, và thầm mong rằng Thanh mải
chấm bài, không nghe thấy lời rủa mắng của mẹ.
- Thì tao hãy hỏi mày: mày mua na để làm gì, hử? Tiền đâu mà
mua na, hử con ranh kia? Mày ăn bớt tiền chợ để ăn quà, phải không con đĩ?
Trong khi người mẹ nói một thôi một hồi, Ve chỉ đứng lặng, mặt
tái đi nhìn quanh mình như để tìm cầu cứu. Bác Cả thét càng to:
- Con nỡm! Sao tao hỏi, mày cứ đứng ỳ thần xác ra như con câm
thế kia?
Ve cáu tiết trả lời buông sõng:
- Làm gì có tiền mà mua? Ai mua? Rõ bu chỉ lôi thôi.
Bác Cả đặt phịch cái rổ thức ăn xuống đất, ngón tay trỏ sỉa
sói vào mặt con:
- À, lại còn gái đĩ già mồm à? Tao đi qua hàng chị Thẽn, chị ấy
bảo mày mua bốn xu hai quả na, rồi gửi chị ấy, chị ấy nhờ tao mang về cho mày
đây này, còn cãi nữa thôi, con chết tiệt, con chết băm?
Ve cuống quít cãi liều:
- Ô hay, bu mới hay nhỉ! Có để cho ông giáo ông ấy chấm bài
không?
Nghe nói đến mình, Thanh ngửng đầu nhìn: Chàng đã mục kích
nhiều lần cái cảnh náo nhiệt giữa hai mẹ con bác Cả, nên những tiếng chửi rủa
nhiếc móc tục tằn, chàng coi thường rồi, không lấy làm chướng tai, như buổi mới
đến ở trọ nữa.
- Hay sao, mày bảo tao hay sao, con kia? Tao hãy hỏi mày: tiền
đâu mày mua na?
Thấy Thanh nhìn mình, Ve vớ ngay lấy chàng như người sắp chết
đuối với lấy mảnh ván trôi.
- Ông giáo đấy chứ...
- Ông giáo sao?
- Mua cho ông giáo đấy chứ!
Thanh thoáng hiểu tình cảnh một cô gái đi chợ ăn quà vụng mẹ.
Chàng liền nghĩ cách cứu vớt:
- À, cô Ve, tôi nhờ cô mua na cho tôi, cô đã mua chưa?
Ve toan nói: "Đấy bu coi", nhưng nàng cảm động quá,
chỉ ứa nước mắt, nghẹn ngào đứng im. Nàng không hiểu sao ông lại bênh vực nàng
như thế, và bênh vực nàng như thế, ông ta có định ý gì không. Xưa nay có ai
thèm thương hại nàng bao giờ đâu. Nàng ra chợ mất cắp, người ta cười chế nhạo
nàng. Nàng bị mẹ mắng chửi, đánh đập, mấy người ăn cơm trọ khúc khích cười lấy
làm thích chí như ngồi coi hát chèo. Thậm chí có khi nàng ngã sây sứt cả chân
tay, mà những người qua đường cũng vỗ tay reo cười được. Không bao giờ, thực
không bao giờ nàng được nếm chút tình trắc ẩn nó an ủi, vỗ về, xoa dịu lòng con
người trong những giờ đau đớn.
Ve lại thuộc hạng người nhiều tình cảm. Thực là một tấm lòng
yếu đuối, một tâm hồn ủy mị, chứa trong một hình thể cục mịch, một cốt cách thô
sơ. Vì thế, Ve càng nhận thấy rõ rệt và cảm thấy thấm thía những sự đối đãi tai
ngược và bất công của người đời. Nàng không sao thân mật được, như mẹ nàng, với
cái hoàn cảnh nàng đương sống và đã sống gần hai chục năm nay, và có lẽ nàng
còn sống mãi mãi cho đến khi già, khi chết.
- Thế nào, na của tôi đâu, cô Ve?
Sợ mẹ trông thấy sự cảm động của mình biểu lộ ra bằng hai
dòng nước mắt, nàng bỏ chạy xuống bếp. Thanh mỉm cười thầm, cho là nàng ngượng
với mình, vì có cái nết thứ tư của "cô con gái bảy nghề". Còn bác Cả
thì vẫn chưa hết thét, tuy bác đã biết con bác không có tội.
- Ve! Con bé thế này thì thật. Sao ông giáo hỏi lại bỏ chạy,
hử, con đĩ? Đấy, thầy tính nó hư đủ nết như thế, thì tôi không gào không thét
làm sao được cơ chứ. Mua có hai quả na cho thầy cũng còn bỏ quên được mới nghe.
Vừa nói, bác Cả vừa cầm hai quả na còn cả lá, gượng nhẹ đặt
vào khay nước.
- Thầy xơi ngay được đấy. Na đầu mùa chín tới ngon lắm.
- Cám ơn bà, bà cứ để đấy cho tôi.
- Thôi thầy ở nhà nhé. Tôi lại phải ra chợ. Đã mua bán xong
đâu. Tôi chủ định về cho con bé một trận.
Dứt lời bác Cả vừa cười, vừa cắp rổ đứng dậy. Thanh tưởng nên
hỏi một câu cho có chuyện, nhân tiện để làm thân với bà chủ nhà:
- À, bác đã được tin bác giai bao giờ về chưa?
- Về gì đây! Có về thì cũng gần Tết. Nghe đâu nhà tôi nó đã lấy
vợ lẽ ở mỏ rồi thì phải.
Nói câu ấy, bác Cả không có giọng ghen tuông tức tối, như nói
đến một việc thường xảy ra, và xảy ra một cách rất tự nhiên. Thanh toan hỏi một
câu nữa, thì bác Cả đã ra khỏi cửa rồi. Chàng lại cúi xuống chấm bài.
Bỗng nghe lách cách động chén, chàng quay ra nhìn thấy Ve, liền
mỉm cười nói:
- Na của cô đấy, mời cô cứ tự do xơi đi, bà Cả ra chợ rồi, cô
không còn sợ hãi gì nữa.
- Không... tôi... mua...
Ve muốn nói: "Tôi mua biếu thầy", nhưng hổ thẹn, ngập
ngừng, không dám nói dứt câu. Thanh tưởng nàng xấu hổ định chữa thẹn mà không
tìm được câu ổn thỏa. Chàng đỡ lời:
- Cái đó là sự thường. Ai chả có lúc ăn quà? Vả lại ăn hoa quả
tốt lắm, tôi nói ăn hoa quả chín, vì ăn hoa quả xanh rất độc rất dễ sinh bệnh,
cô chớ có ăn hoa quả xanh vào.
Ve uất ức về nỗi oan của mình, mà không thể bộc bạch được.
Ban nãy, ra chợ, thấy có mớ na đầu mùa vừa chín tới, nàng
nghĩ thầm: "Ông giáo Thanh rất thích na, ta mua cho ông hai quả".
Nàng vẫn có cái vốn riêng hơn hai đồng bạc, góp nhặt lâu ngày bằng tiền mừng tuổi
Tết, và các khoản ăn bớt tiền chợ cùng là tiền thưởng, tiền thuê vặt vãnh. Nàng
bỏ ra bốn xu chọn mua hai quả na to nhất mẹt. Nhưng vừa trả tiền xong thì nàng
nhận ngay ra điều này: "Làm thế nào đưa na cho thầy giáo được? Chẳng nhẽ
mình biếu thầy ấy! Hay nói mua hộ thầy ấy? Nhưng thầy ấy có nhờ mình mua đâu?
Mà nhỡ gặp lúc thầy ấy túng quá không có bốn xu giả lại mình thì thầy ấy ngượng
chết."
Đương phân vân nghĩ ngợi thì thoáng thấy bóng mẹ ở đằng xa,
nàng vội gửi tạm nhà hàng hai quả na, hẹn chốc nữa ra lấy.
Về nhà làm lụng và trong khi ngồi chờ ấm nước sôi, nàng chợt
tìm ra được một cách rất tự nhiên, rất giản dị, là nói với ông giáo Thanh rằng
có người gửi biếu. Ông ấy có hỏi ai biếu thì mình nói không biết, thế là xong.
Nàng mừng thầm, thấp thỏm đợi mẹ về chợ để ra lấy na. Chẳng
ngờ đã xảy ra lôi thôi.
- Kìa cô xơi na đi chứ, chẳng ruồi nó bâu, nó đẻ trứng vào
thì rồi nó sẽ nở ở trong ruột ấy.
- Gớm! Thầy chỉ...
Thanh mỉm cười:
- Hay cô muốn biếu ân nhân một nửa đấy?
Ve sung sướng choáng váng cả người, nói rất mau:
- Vâng mời thầy xơi, na ngon lắm, mời thầy xơi.
Ve bưng khay na đặt bên cạnh Thanh, nhắc lại một lần nữa:
- Mời thầy xơi.
- Ai lại thế! Cô ăn đi.
- Không, con cốt mua mời thầy xơi.
Thanh cho đó là một câu nói khéo, hoặc một câu nói để che đậy
cái nết xấu hay ăn quà vặt.
- Vâng thì ăn. Nhưng hết bao nhiêu tiền rồi tôi giả cô đấy.
Và chàng nghĩ thầm: "Thế nào cô ả cũng ăn lãi được một,
hai xu." Nhưng Ve chạy vụt xuống bếp, nói giọng nũng nịu:
- Không, con chả dám lấy tiền của thầy đâu.
III
Sáng hôm ấy, trước giờ đi dạy học, Thanh nhăn nhó bưng bát
cháo nóng lên gần miệng húp một thìa rồi lại đặt bát xuống thở dài và rên se sẽ.
Bác Cả cắp rổ ra chợ đứng lại hỏi thăm một câu lấy lệ:
- Thế nào ông giáo, hôm nay ông đỡ sốt rồi chứ?
- Cám ơn bà, tôi đã khá.
Thanh trả lời thế cho xong chuyện, vì biết bác Cả cũng chẳng
lưu tâm cũng chẳng săn sóc gì đến mình. Thực ra, bệnh sốt của chàng từ chiều
hôm trước đã tăng quá mau.
Chàng bỗng bỏ giở bát cháo, đứng dậy lấy mũ trắng đội. Nhưng
đầu gối run lẩy bẩy chỉ chực khuỵu.
Chàng tức tối vứt mũ xuống giường, ngồi suy nghĩ, và rút chiếc
đồng hồ vỏ sắt ở túi áo ra xem giờ. Rồi lắc đầu phàn nàn:
- Giời ơi! Khổ thân tôi chưa!
Giữa lúc ấy, Ve xách ấm nước chè nụ từ dưới bếp đi lên để bỏ
vào giỏ. Lần đầu tiên, nàng nghe thấy ông giáo kêu khổ, người mà nàng tưởng
không phút nào không vui vẻ, sung sướng, lúc làm việc cũng như lúc nhàn rỗi, vì
nàng thường liếc mắt ngắm trộm ông giáo và thấy nụ cười luôn luôn nở trên cặp
môi tươi, dù khi ông ta cặm cụi ngồi chấm bài học trò, hay gặp ngày nghỉ, ông
ta chắp hai tay sau lưng, lững thững đi bách bộ bên rặng ổi bờ ao.
Thương hại, nàng hỏi:
- Thưa, ông mệt lắm?
Thanh quay lại ngơ ngác nhìn. Ve thoáng trông thấy đôi mắt đỏ
ngầu, và bộ mặt xanh tái.
- Giời ơi! Thầy sao thế kia?
Thanh với mũ, cắp cặp, cố gượng đi. Nhưng, lần được đến cửa,
chàng thấy chóng mặt, phải vội víu lấy cánh cửa để khỏi ngã. Ve kinh hãi chạy lại.
Nàng không dám đỡ, chỉ áy náy đứng nhìn.
- Thưa ông, dễ ông không đi dạy học được... Phải nghỉ...
- Không sao...
Thanh lại cố gượng đi. Nhưng lần này chàng ngã khuỵu xuống
ngưỡng cửa. Không kịp suy nghĩ, giữ gìn, Ve đưa tay ra nâng Thanh đứng dậy, rồi
thong thả dắt chàng lại giường.
- Đấy, thầy coi, thầy... không đi được.
Nghe lời nói cảm động và hơi thở mau, Thanh ngước mắt nhìn, mỉm
cười cám ơn.
- Cô cũng ốm đấy à?
- Thưa thầy ... không.
Ve bẽn lẽn cúi đầu. Nàng xấu hổ. Thực ra nàng cũng nhận thấy
mặt tai và chân tay nàng nóng rực lên. Lần đầu nàng được nâng đỡ một người đàn
ông trẻ tuổi, và người đàn ông ấy lại là ông giáo Thanh, người mà nàng vẫn kính
trọng, mến yêu thầm kín. Nàng sung sướng để thân thể Thanh uể oải đè nặng lên
cánh tay nàng, và hơi thở hổn hển của Thanh nàng tưởng như lướt qua gáy và ngực
nàng. Tim nàng hồi hộp đập mạnh, miệng, lưỡi nàng khô rát và tiếng nàng run
run;
- Ông... ngồi xuống... Con đi... rót nước... ông xơi nhé?
Nàng bưng lại đưa cho Thanh một chén nước trà khói ngát bốc
lên. Thanh mỉm cười:
- Cám ơn cô... Không bao giờ tôi sốt nặng như lần này.
- Có lẽ ông bị cảm thử... Hôm qua nóng bức quá... Ông nghỉ
thôi.
Thanh nằm vật ra giường vừa thở vừa đáp:
- Không... thể được, cô ạ... Mấy chục học trò... đương đợi.
Suy nghĩ một lát, Thanh lại nói:
- Giá anh Nghĩa anh ấy dạy hộ một buổi...
- Anh Nghĩa nào thế, thầy?... Cô phải anh Nghĩa con ông lang
Đạo không?
- Phải đấy.
- Thế thì được rồi, thầy để con đến bảo anh ấy dạy giúp thầy.
Ve toan chạy đi ngay. Thanh gọi giật lại, nói để đợi viết thư
đã. Rồi vừa viết chàng vừa nói:
- Cô Ve này, tôi đã bảo cô đừng xưng con với tôi, sao cô
không nghe.
Ve đứng im lặng đưa tay lên kéo mái tóc: mấy hôm trước, khăn
sổ, nàng soi gương vấn lại. Ngẫu nhiên nàng ngắm thấy mái tóc xõa gần mắt không
những làm cho khuôn mặt nàng bớt rộng mà lại loáng thoáng che được cả cái sẹo ở
mi bên phải. Từ đó nàng vẫn có ý kéo thấp mái tóc xuống.
- Nếu cô còn xưng con với tôi, thì... từ rầy tôi không dám nhờ
cô một việc gì nữa.
Bắt đầu ngay lúc ấy, bệnh Thanh tăng gấp. Rồi trong luôn ba
hôm, chàng sốt mê man, chẳng biết gì.
Hôm nay, chàng như thức một giấc ngủ liên miên đầy chiêm bao,
đầy mộng mị. Chàng đưa tay lên trán gạt mồ hôi, nghĩ thầm: "Giời ơi! Mình
ngủ say quá? Nhớ mới buổi sáng viết thư cho anh Nghĩa dạy học giúp. Thế là mất
hai buổi rồi. Chẳng biết học trò có kêu ca gì không?"
Cái buồng hẹp và tối như làm cho Thanh bứt rứt khó thở. Chàng
toan đứng dậy chống cánh phên cửa sổ trông ra ao cho sáng, và thoáng hơn một
chút. Nhưng vừa sẽ trở mình, chàng thấy gân cốt đau đớn, và đầu nặng như gắn chặt
xuống gối. Chàng cố sức ngồi dậy mà không sao nhúc nhích được chân tay:
"Chết chửa! bệnh mình nặng đến thế kia à?"
Chàng định thần nhìn kỹ cái hòm ở chân giường, và bát thuốc cạn
đặt trên mặt hòm. Thốt nhiên một giấc mộng dần dần nối tiếp hiện ra trong trí
nhớ:
"Chàng ốm li bì, nằm thiêm thiếp, chập chờn nửa tỉnh nửa
mê. Trong buồng, mọi vật lờ mờ, và dưới sức nặng buổi trưa, không khí nóng như
than hồng bên lò sưởi
"Bỗng một cơn gió mát thổi qua. Hương thơm ngào ngạt đầy
phòng. Rồi một nàng tiên yểu điệu, nhẹ nhàng bước vào, một nàng tiên với bộ y
phục trắng và trong.
"Thanh mỉm cười nghĩ thầm: "Ta chiêm bao rồi. Chứ
thời nay làm gì còn tiên". Nhưng kinh dị xiết bao! Nàng tiên đặt tay mát rợi
lên trán chàng. Cái cảm giác mát ấy nhắc chàng biết rằng chàng thức. Chàng sợ
hãi, kêu ú ớ rồi ngất đi.
"Lúc tỉnh dậy, chàng vẫn thấy nàng tiên đứng bên giường.
Nàng thì thầm nói với chàng những lời dịu dàng êm ái rồi đỡ đầu chàng, đưa bát
thuốc đến tận miệng cho chàng uống. Từ lúc đó, luôn luôn nàng tiên hiện đến
thăm chàng. Có khi nửa đêm nàng cũng đến đưa tay xoa trán chàng, lắng tai nghe
ngóng vài phút, rồi khi thấy chàng ngủ yên lại biến đi ngay... Kỳ thực, Thanh vẫn
thức, nhưng chàng vờ lim dim cặp mắt làm như ngủ say để được ngắm nghía nàng
tiên trong khi nàng bất ý..."
Ôn lại giấc chiêm bao, Thanh tưởng như nằm chiêm bao một lần
nữa và muốn liên miên kéo dài mãi những cảm giác êm đềm trong giấc mộng đẹp. Một
tiếng động khẽ ở cửa buồng. Có ai rón rén bước lại gần giường. Chàng nằm im chờ
đợi. Một bàn tay mát đặt lên trán chàng. Chàng tưởng ngửi thấy hương thơm và se
sẽ như nói mê: "Nàng tiên đã đến." Chàng sung sướng ngước mắt nhìn
lên, và chỉ thấy Ve đầu tóc rối bù, quần áo lếch thếch. Chàng thở dài, thất vọng,
chán nản.
Ve vui mừng hỏi:
- Thưa ông đã tỉnh?
Thanh cáu kỉnh nghĩ thầm; "Ngủ dậy thì tất là phải tỉnh,
rõ hỏi lẩn thẩn!?" Nhưng Ve nói tiếp:
- Mấy hôm nay, ông sốt nặng quá, nói mê sảng luôn mồm.
- Mấy hôm nay?
- Vâng, ba hôm nay.
Thanh lo lắng tự nhủ "Ba hôm! Thế mà mình tưởng một nửa
buổi". Vơ vẩn chàng nghĩ đến truyện thần tiên: "Mình mộng gặp tiên có
khác vì ở tiên giới có lẽ một ngày dài gấp ba ở nhân gian".
- Thưa ông, thuốc tôi hãm vừa uống, xin mời ông xơi ngay chẳng
nguội.
Thanh mỉm cười mỏi mệt và thì thào câu cám ơn. Rồi chàng cố
ngồi dậy, nhưng không sao cử động được chân tay. Ve phải cúi nâng đầu chàng lên
chàng mới uống được thuốc. Trong lúc sốt sắng trông nom người ốm, Ve chẳng kịp
nghĩ đến giữ gìn và hổ thẹn.
Đầu Thanh nóng bừng đặt vào trong cánh tay và cái ngực béo
mát của Ve. Cảm giác êm đềm ấy làm cho trí Thanh liên miên nhớ tới giấc mộng ôn
lại giở chừng. Và Thanh mơ màng tưởng tượng ra một cách rõ rệt, với những màu,
những nét tươi sáng dịu dàng, cái dung nhan kiều diễm, cái dáng điệu tiên nga của
người đương âu yếm nâng niu chàng. Mắt chàng như được trông thấy hai bàn tay trắng
nõn, mềm mại, nhẹ nhàng đỡ hai bên tay chàng để đặt đầu chàng xuống gối.
- Ve!
Lần thứ hai giấc mộng đứt. Ve lẩm bẩm:
- Làm gì mà gọi ầm lên thế không biết?
- Ve! Con chết tiệt, mày có đi dọn cơm không? Gần tối rồi,
còn gì.
Ve thì thầm bảo Thanh:
- Ông nằm nghỉ. Lát nữa tôi bưng cháo vào ông xơi nhé.
Rồi Ve tất cả chạy ra ngoài. Tiếng bác Cả lọt vào tai Thanh:
- Con bé thế thì thôi. Rúc cổ xó nào hết ngày hết buổi.
Tiếng Ve đáp khẽ, Thanh không nghe rõ, nhưng bác Cả vẫn oang
oang:
- Rồi hỏi thầy ta xem quê quán thầy ta ở đâu, hay thầy ta có
bà con nào ở Hà Nội không để nhắn đến mà đưa thầy ta về. Nhỡ thầy ta chết ra đấy,
thì sao?
- Ô hay! Bu nói khẽ chứ!
Đêm khuya, Thanh thét lên một tiếng trong giấc chiêm bao dữ dội.
Chàng vừa mơ thấy chàng chết. Họ hàng thân thích không ai. Bên giường, nàng
tiên đứng khóc, nước mắt rỏ lên mặt chàng. Bỗng bác Cả hung tợn bước vào lớn tiếng
thét:
- Khiêng vứt xác thầy ta ra đường kia.
Thanh sợ hãi níu lấy vạt áo nàng tiên và tỉnh dậy.
Bên ngoài, mưa gió, sấm chớp. Trong buồng ai vừa thoáng hiện
ra lại vụt biến đi.
Và Thanh sung sướng tưởng tới nàng tiên xinh đẹp.
IV
Trong nhà ai nấy ngủ yên. Một mình Thanh vẫn còn trằn trọc
trên giường.
Mỗi lần chàng trở mình, cái dát nứa lại kêu răng rắc giữa khoảng
tĩnh mịch đêm trường.
Tiếng muỗi bay ngoài màn, tiếng dế rúc quanh hiên càng làm
cho chàng cảm thấy rõ rệt tinh thần tỉnh táo của một người khó ngủ. Chàng lẩm bẩm:
"Thôi, phải rồi, vì ban nãy ta uống một cốc chè tầu pha đường!"
ý nghĩ ấy khiến Thanh mơ màng như trông thấy Ve hiện ra, hai
tay bưng cốc nước tỏa khói thơm.
Cảm động hãy còn man mác trong lòng chàng. Chàng sẽ cảm động
hơn nữa nếu chàng biết vì cốc nước chè tàu ấy mà Ve đã bị mẹ cốp bươu đầu. Buổi
chiều ăn cơm xong, chàng ngồi vơ vẩn nói một mình: "Ước gì được một chén
chè tầu đường mà uống, thì sung sướng quá!" chẳng ngờ câu ấy đã lọt tai
Ve. Nàng cho rằng người mới ốm dậy, ăn uống được những thứ mình thèm thì chóng
lại sức lắm. Tức khắc, chẳng cần suy nghĩ, nàng chạy ngay ra hiệu tạp hóa mua
hai xu trà liên tâm và một xu đường phèn, rồi về cặm cụi đến nỗi quên cả rửa
bát, và vì thế đã bị đòn.
Từ cốc nước trà, Thanh liên miên nghĩ tới những sự chú ý săn
sóc của Ve trong hơn tuần lễ chàng đau yếu. Mấy hôm đầu, chàng sốt nặng nên mê
man chẳng biết gì, và vẫn tưởng mộng thấy có người con gái ngày đêm chăm nom
thuốc thang cho mình.
Thanh càng yên trí rằng đó là một giấc mơ, khi qua mấy ngày
mê sảng, chàng tỉnh táo nhận xét được mọi việc xảy ra quanh mình: mộng tàn, và
người con gái xinh đẹp kia cũng biến mất.
Chàng có biết đâu rằng từ hôm thấy bệnh chàng đã bớt và chàng
đã ngồi dậy được, Ve tị hiềm không dám bạ lúc nào cũng bước chân tới buồng
chàng nữa, trừ ra ngày dăm, sáu lần bưng cơm, cháo, thuốc và nước vào. Những
lúc ấy, Ve se sẽ đặt khay cơm hay chén nước xuống mặt hòm dùng làm bàn, yên lặng
đứng ngắm qua Thanh vài giây, rồi lại rón rén đi ra liền. Họa hoằn lắm nàng mới
dám hỏi thăm một câu: "Thưa ông hôm nay ông đã đỡ nhiều chưa?"
Một hôm, Thanh bảo Ve:
- Cô làm ơn hỏi ông lang hộ tôi xem hết bao nhiêu tiền tất cả
để tôi giả, rồi thôi cô đừng lấy thuốc cho tôi nữa.
Ve bùi ngùi nhìn Thanh:
- Ông còn yếu lắm nên uống thêm vài chén nữa cho khỏe.
- Tôi chỉ còn hơi mệt thôi, nghỉ vài hôm nữa sẽ khỏi hẳn. Với
lại tốn lắm. Tiền đâu!... Dễ tôi uống đến bốn, năm chén rồi đấy nhỉ?
- Vâng, năm chén.
- Đấy, cô coi, năm chén, ít ra cũng hết đồng rưỡi.
Ve cố giữ một tiếng thở dài, lặng lẽ bước ra ngoài, và buồn rầu
nghĩ thầm: "Ta có hơn hai đồng bạc, giá làm thế nào giả được tiền thuốc
cho thầy ấy!". Chẳng tìm được cách ổn thỏa, Ve đành đem tiền Thanh giao
cho sang trả ông lang Đạo. Và nàng ngao ngán tiếc những ngày ba buổi được bưng
thuốc vào buồng.
Về phần Thanh, chàng cũng cảm thấy trơ trọi hơn trước.
Chàng là người từ thuở bé không từng được gần tình âu yếm và
hưởng những sự vui thú của tuổi trẻ thơ. Chàng ra đời được một năm thì mẹ chết,
cha chàng vào Nam kiếm ăn, nhờ người em gái ở một tỉnh nhỏ nuôi nấng con hộ.
Người cô nhiều con, cố nhiên chẳng săn sóc yêu thương đến cháu.
Chín mười năm sau kiếm được một cái vốn dăm trăm cha chàng lại
quay ra Bắc làm ăn, và đưa theo ra một người vợ "Sài Gòn", người mẹ kế
của Thanh mà Thanh không sao yêu được dù chàng sợ hãi cha đến đâu mặc lòng.
Hồi đó, Thanh đương học lớp nhì. Hai năm sau, chàng đậu bằng
tiểu học. Muốn tránh xa người mẹ kế ác nghiệt, Thanh xin ra Hà Nội kiếm việc
làm và nhân tiện học thêm. Bắt đầu từ tuổi mười bốn, Thanh đã theo đủ các nghề,
nghề chạy giấy, bán hàng, phát vé xe ô tô cho tới ngày nay đạt được cái hy vọng
to tát nhất trong đời: mở một trường học nhỏ ở vùng ngoại ô Hà Nội.
Đằng đẵng hai mươi năm trời, không một lúc nào chàng được ai
yêu mến, thương xót. Chàng ao ước rằng bọn học trò nhỏ sẽ coi chàng như một người
anh cả. Nhưng sự chăm chỉ nghiêm ngặt của ông thầy trong giờ học đã cắt đứt
tình yêu mến của lũ trẻ thơ.
Lần đầu, Thanh nhớ lại rõ ràng cái đời đã sống, cái đời khô
héo, buồn tẻ không một kỷ niệm êm đềm, không một người nào để ý đến một cách
hơi thân thiết.
Thốt nhiên, Thanh nghĩ đến Ve, và chàng mỉm cười tự thương
thân: "Ngày nay, có mỗi một người lưu ý đến đời mình. Nhưng người ấy lại
là cô Ve!". Chàng cho đó là một sự mỉa mai độc địa và chàng tự nhủ thầm:
"Ta chỉ đáng được người hèn hạ, xấu xí như Ve săn sóc tới mà thôi!".
ý tưởng ấy vừa thành hình đã bị xóa nhòa ngay. Chàng như nghe
có tiếng trong thâm tâm trách nhiếc: "Hèn hạ! Sao lại hèn hạ được? ở đời
chỉ có một sự hèn hạ, sự hèn hạ của tâm hồn. Ngoài ra không có cái gì hèn hạ cả.
Vả lại, mình thì cao quý với ai?".
Chàng cảm thấy dần dần rằng chàng tự khinh bỉ, tự thương hại
chàng. Rồi chàng cố bình tĩnh ôn lại những cử chỉ cảm động của Ve đối với
chàng, đối với một người xa cửa xa nhà giữa lúc ốm đau.
Thanh nhớ một đêm tỉnh giấc mơ, chàng thấy Ve đứng ngay bên
giường. Nghe tiếng kêu ú ớ, nàng đã vội chạy vào, rồi thấy chàng nằm yên, nàng
lại rón rén bước ra. Một đêm có khi đến ba, bốn lượt nàng vào buồng như thế. Và
Thanh tuy thức, vẫn vờ ngủ say không biết gì.
Có lần chàng quên bẵng đi và buột miệng hỏi:
- Cái gì thế, cô Ve?
Ve bẽn lẽn, xấu hổ vừa hấp tấp bước ra vừa ấp úng đáp:
- Thưa ông... không
Từ đó, Ve sinh ra sợ hãi, giữ gìn, đến cửa buồng chỉ thò đầu
vào nhìn, rồi khi nghe thấy yên lặng lại quay đi.
"Một người tốt như thế, một người mà trong những giấc mộng
ta lẫn với nàng tiên xinh đẹp, thì người ấy không thể hèn hạ được".
Chàng băn khoăn nghĩ ngợi. Tiếng gà gáy nửa đêm càng làm cho
chàng thêm sốt ruột, thêm khó chịu. Chàng liền ra ngoài màn và chống cái phên cửa
sổ lên.
Cùng một luồng gió nhẹ, một luồng ánh trăng vàng lọt vào
phòng và chênh chếch in hàng chấn song tre lên chiếu.
Cảnh ấy đã quen mắt Thanh lắm nhưng chàng tưởng được ngắm lần
đầu với những cảm giác mới mẻ lạ lùng. Từ dãy cây ổi lấp lánh như bạc, cái ao
con, mặt nước thỉnh thoảng khẽ rung động giãn ra như nhách một nụ cười, cho chí
cái mái tranh, cái giậu chuồng gà nửa sáng, nửa tối, vũng nước bùn loang loáng
tựa tấm gương tròn, mọi vật đều như nhuộm một thi vị thần tiên.
Thanh sung sướng mắt chớp mau tưởng đứng trước một cảnh mộng.
Rồi chẳng kịp suy nghĩ rằng mình mới ốm khỏi phải kiêng gặp lạnh, chàng khoác vội
cái áo lương mở cửa đi ra vườn sau.
Bên gốc ổi lả ngọn xuống mặt nước ao, một cái chõng như ân cần
mời mọc. Nhưng vừa ghé ngồi, Thanh giật mình vội đứng dậy: chỗ ấy ai vừa ngồi
vì còn âm ấm hơi người.
Thanh thì thầm tự nhủ: "Chắc ai vừa ra đấy, thấy ta nên
bỏ chạy. Ai? Lại còn có thể ai được nữa?".
Như đáp lại câu hỏi thầm kín của chàng, vụt hiện in lên nền
lá tre lờ mờ, cái bóng đen, cái bóng yểu điệu thướt tha của một tấm thân mềm mại
và đều đặn cân đối, Thanh chỉ kịp thốt một tiếng gọi: "Cô Ve!", cái
bóng đã chạy biến vào trong nhà.
Thanh trở về phòng nằm mơ mộng cho mãi tới khi trời sáng rõ.
Một ý tưởng đã chiếm cả lấy tâm hồn chàng. Chàng lẩm bẩm luôn miệng như người
mê: "Nghĩ cho cùng thì Ve chả xấu...".
Mấy hôm sau, như sợ vơ vẩn điều gì, Thanh dọn đi ở trọ nơi
khác. Nhưng cái bóng đen một đêm trăng sẽ không bao giờ rời chàng, và trong tim
chàng sẽ in sâu mãi mãi cái kỷ niệm một sự dịu dàng âu yếm, sự dịu dàng âu yếm
độc nhất trong đời chàng.
Thu 1936
Rút từ tập truyện ngắn Cái Ve.
Nxb Đời nay, Hà Nội, 1944.
Thời ấy, ở một huyện lỵ buồn tẻ, tôi sống như bị chôn giữa bốn
bức hàng rào dày, qua đó tôi trông ra đồng rộng mênh mông như qua then lồng,
con chim non nhìn quãng trời xanh lá biếc. Rất ngắn ngủi những giờ giải trí của
tôi, sau những giờ học dài đằng đẵng.
Ngày nay đã có lần tôi trở về thăm nơi kỷ niệm cũ. Tôi thấy
nó nhỏ hẹp quá. Thời xưa đối với tôi, nó rộng như một thế giới. Cái hồ sen mà cặp
giò nhỏ xíu của tôi không mấy khi chạy nổi một vòng, bây giờ tôi thấy chỉ như
cái bể nước đựng núi non bộ, tròn trĩnh, nhẵn nhụi, hàng giậu dâm bụt vây chung
quanh cắt xén bằng chằn chặn. Hai cái nhà tây - tây là vì nó có hiên, có trần
và có nền cao - đứng đối nhau hai bên công đường, tôi thấy giống như thứ đồ
chơi trẻ con. Trong một nếp nhà ấy, tôi đã sống bao ngày bằng phẳng, đều đều, với
quyển sách chữ nho, với cái bút lông tô dạm nét son của một ông thầy học nghiêm
khắc; với những buổi chiều hè vang động tiếng sáo diều trên không, và, trong
yên lặng hoàn toàn, với những buổi trưa chán nản kéo dài tiếng cút kít gióng một
của chiếc xe lợn trên con đường thiên lý.
Trong cái thế giới buồn tẻ ấy, thỉnh thoảng một bọn hát chèo
lại đem đến cho mấy anh em chúng tôi một ít màu tươi của sự thay đổi: một hai tối,
có khi luôn một tuần lễ, cái sân huyện trở nên một nơi hội hè om xòm, tiếng cười
của dân phố huyện đến xem chen với giọng ca của cô đào, tiếng thét của ông tướng
mặt xanh mặt đỏ, câu pha trò của vai hề quê mùa vừa nhạt nhẽo vừa tục tằn.
Rồi gánh hát từ giã ra đi, cái huyện nhỏ lại rơi vào trong
yên lặng buồn tẻ.
Phần nhiều những phường chèo ấy, tôi còn nhớ tên phường
"Kha lý", phường "Quốc nhớn", phường "Quốc con".
Nhưng cái phường, khi ra đi làm cho tôi ngao ngán, khổ sở nhất, thì tôi lại
không biết tên là gì. Chừng vì đó cũng là một bọn hát tầm thường. Tôi chỉ theo
ông thầy học tôi và những người lớn mà gọi là phường Mơ, vì trong số ba cô đào,
một cô tên là Mơ.
Mơ là một cô gái quê chừng mười tám tuổi. Thân hình uyển chuyển
của Mơ càng uyển chuyển khi Mơ đóng những vai đào lẳng như Vân Dại, Thị Màu hay
Vợ quỷ. Và mặt trái xoan đều đặn của Mơ dưới lớp phấn chèo trông lộng lẫy như
trong bức tranh tiên. Hoạt động nhất là hai con mắt đen láy của Mơ, hai con mắt
bao giờ cũng cười trước khi cặp môi hé mở hàm răng hạt huyền.
Năm năm, cứ sang xuân, trong thời còn nghỉ học, tôi lại mong
nhớ Mơ, sự mong nhớ âm thầm, buồn bã của một tâm hồn ngây thơ. Quả nhiên, trong
hai tháng sau tết, các phường chèo kế tiếp nhau đến, tựa bầy chim én trở về
cùng với những ngày quang đãng, ấm áp, vui tươi.
Tim tôi hồi hộp khi tôi thấy những gánh hòm vuông sơn đen,
sơn đỏ qua cổng huyện, tiến vào trong sân. Và tôi thất vọng nếu phường xin hát
không phải là phường Mơ. Nay nhớ lại, tôi còn cảm thấy sự thất vọng của tôi
mênh mang không biết đến đâu tuy chỉ là một sự thất vọng trong phút chốc. Rồi
tiếng trống chèo rung đổ hồi lại đem vui cười vào lòng tôi ngay.
Nhưng thế nào, sớm muộn, phường Mơ cũng đến, ít ra mỗi năm một
lần, trong mùa xuân. Gặp Mơ, tôi cảm động nghẹn ngào ngây người đứng nhìn. Mơ
cũng yêu tôi lắm. Nàng chạy vội đến bế bổng tôi lên mà hôn chùn chụt ở hai bên
má tôi, khiến tôi sung sướng nóng bừng cả mặt. Rồi nàng thỏ thẻ bảo tôi:
- Cậu lên xin phép thầy cho chúng tôi hát nhé?
Tôi cho câu ấy là thừa, vì cũng như tôi, những người lớn đều
thích phường Mơ cả, bắt đầu từ thầy học của tôi. Chỉ trông cánh tay ông giơ cao
roi chầu, ra sức vụt mạnh vào tang trống, khi Mơ múa hát, cũng đủ biết ông yêu
Mơ đến bực nào. Lúc không cầm chầu thì ông trố mắt nhìn Mơ, và lớn tiếng thốt
những câu bình phẩm sỗ sàng để chòng ghẹo Mơ, làm cho Mơ phải mỉm cười dù lúc
Mơ đóng vai pho tượng như tượng đức Phật Quan Âm.
Rồi sau một, hai hay ba hôm, Mơ lại theo phường bạn rời đi
nơi khác. Chẳng bao giờ tôi cảm thấy tôi trơ trọi bằng lúc ấy. Tôi ngơ ngẩn như
người mất linh hồn. Anh tôi thấy thế cười, bảo tôi:
- Dễ Linh nó ốm tương tư cái Mơ đấy.
Tôi xấu hổ, cười gượng, rồi trốn vào xó tối đứng sụt sùi
khóc.
Từ khi ra tỉnh theo học chữ Pháp, không một lần nào tôi gặp
Mơ nữa. Nhưng mỗi năm, sau những ngày rét mướt, gió ấm mùa xuân lại thổi vào
tâm hồn tôi sự mong ước nhớ nhung không cỗi rễ. Phải chăng đó là vết tích mối
tình thơ ấu của những ngày sống giữa sự lạnh lẽo nặng nề?
Cách độ hơn mười năm, một hôm tôi gặp một người kép hát trong
một rạp chèo ở một tỉnh nhỏ. Người ấy nhận được tôi, nói vì tôi không thay đổi
mấy. Kỳ thực, người ấy đã hỏi dò lai lịch tôi. Khi biết bác kép trước cùng ở một
phường với Mơ, tôi vội vàng hỏi thăm tin tức cô đào hát. Bác ta cười bảo tôi:
- Chị ấy nay đi cầu bơ cầu bất hát chẳng rõ ở đâu.
Rồi kể cho tôi nghe cái đời khổ sở của Mơ, Mơ lấy lẽ một ông
chủ đồn điền. Vợ cả ghen, ông này đưa Mơ về Hà Nội thuê nhà cho ở. Nàng đã sinh
được một trai. Một tối ông ta cùng Mơ đi xem chèo. Mơ nhớ đến nghề xưa liền bỏ
chồng con xin nhập bọn rạp hát. Chẳng bao lâu Mơ được chủ rạp yêu quí. Nhưng Mơ
đã "quen nết hư" chẳng giữ tình chuyên nhất với một ai, nay đi với
người này, mai ở với người khác. Nhất Mơ lại phóng đãng thái quá nên mất cả giọng,
tàn cả nhan sắc.
Tôi hỏi:
- Mơ hát không còn hay như xưa nữa?
Anh kép ngoác cái miệng rộng ra cười:
- ấy, ông cũng còn nhớ đấy: chị Mơ hát hay lắm, có lẽ hay nhất
"Bắc cờ". Mà chị ấy cũng đẹp hơn hết các cô đào hát "Bắc cờ".
- Thế bây giờ chị ấy đâu?
- Bây giờ chị ấy bệ rạc, đói rách lắm, ông ạ, cùng người chồng
mù đi lang thang khắp đó đây hát gõ kiếm ăn.
Tôi kinh ngạc:
- Chị ấy lấy sẩm?
Người kép buồn rầu:
- Thưa ông cũng không hẳn là sẩm.
Rồi đột ngột hỏi tôi:
- Ông có nhớ anh Thiếp không nhỉ?
Tôi ngẫm nghĩ đáp:
- Không.
- Vâng, ông nhớ sao được, ngày ấy ông mới lên bảy, lên tám.
Anh Thiếp trước ở cùng phường với chị Mơ, với tôi. Anh ấy có tài thổi sáo, kéo
nhị. ấy, chị Mơ đã một dạo mê anh ta về tiếng sáo réo rắt.
Người kép ngừng lại một giây rồi lắc lư cái đầu búi tóc, đọc
hai câu Kiều:
Rõ thực:
Có tài mà cậy chi tài.
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Và kết luận:
- Ông coi, chẳng qua là duyên số cả, ngày xưa chị ấy đẹp thế,
tưởng làm nên bà nọ bà kia, ai ngờ...
Tôi buồn rầu ngắt lời:
- Thì chị ấy chả làm nên bà chủ đồn điền trong một năm là gì!
Bác kép thở dài:
- Thưa ông, giá cứ ở hẳn với ông chủ đồn điền thì nay cũng chả
đến nỗi.
Bác ta cười sằng sặc nói tiếp như khi pha trò hề trên sân khấu:
- Giá ngày xưa mà ông đã lớn tuổi như bây giờ thì dễ thường
ông cũng say mê chị ấy, đấy nhỉ?
- Hẳn thế, chứ lị!
Từ đó mỗi lần xuống phà hay qua hè phố, gặp một cặp vợ chồng,
chồng kéo nhị vợ hát chèo, tôi lại tưởng nhận được tiếng Mơ. Và tôi miên man
nghĩ đến những con chim sơn ca cùng mùa xuân, đem cái vui tới nơi thôn dã.
Và buồn rầu tôi thấy hiện ra trong ký ức hình ảnh một cô gái
quê xinh đẹp, hình ảnh vai Vân Dại lẳng lơ, vai Thị Mầu nhí nhảnh, ái tình của
cái tuổi thơ lạnh lùng trơ trọi.
Rút từ tập truyện ngắn Đợi chờ
Nxb Đời nay, Hà nội, 1940.
Tôi đổi về Thái Bình đã hơn hai năm, mà chưa có dịp nào trở lại
thăm nơi làm việc cũ.
Lễ Phục sinh mới rồi, nhân được nghỉ bắc cầu thêm một ngày,
tôi lên chơi Hà Nội, tình cờ gặp anh Thanh, người bạn trước cùng làm buồng giấy
với tôi ở Vĩnh Yên. Anh em mừng ôn lại chuyện cũ, những cuộc chơi xưa.
Hỏi thăm những người quen biết, khi tôi nhắc đến tên anh Mã,
anh tham Mã, thì bạn thở dài bảo tôi:
- Tội nghiệp! Nó điên đã sáu tháng nay.
Tôi kinh ngạc:
- Điên? Anh Mã điên?
Bạn tôi vẫn điềm tĩnh, nói tiếp:
- Từ ngày người bạn thân của anh ấy chết đi và anh ấy định tự
tử chết theo không được là bệnh điên phát ra liền. Hình như vì trông thấy máu
chảy, nên anh ấy bị một định kiến ám ảnh: anh ấy mơ màng thấy mình đã giết bạn,
gặp ai cũng kể việc ám sát tưởng tượng một cách rất có thứ tự, nghe như thực vậy.
May mà người ta biết anh ấy điên, nếu không có lẽ anh ấy ngồi tù.
Tôi sửng sốt hỏi:
- Lạ nhỉ? Nhưng người chết là ai thế?
- Anh Hùng. Anh Hùng chủ đồn điền mà chúng mình đã cùng anh
Mã về chơi mấy lần, anh có nhớ không?
- Tôi nhớ lắm, tôi nhớ cái tính tình hào phóng của anh Hùng;
nhớ cả người vợ rất đẹp của anh, một thiếu phụ trẻ tuổi, có học vấn, có nền
giáo dục thức thời.
Nghe bạn nhắc đến tên Hùng; thốt nhiên tôi thấy hiện ngay ra
hình ảnh tươi cười và dáng điệu nhanh nhẹn của người đàn bà ấy. Tôi hỏi:
- Anh Hùng, người khỏe mạnh, sung sướng như thế mà chết. Chết
về bệnh gì?
- Tự tử.
- Tự tử! Vô lý!
- Chẳng một mình anh cho là vô lý, mà ông thầy thuốc khám tử
thi cũng nói như vậy. Cho đến cả các báo cũng nhao lên về cái chết khả nghi ấy.
Nhưng may mà anh ấy tự tử thật, chứng cớ hiển nhiên còn đó...
Rồi anh Thanh lại đem kể cho tôi nghe đầu đuôi câu chuyện:
- Cách đây sáu tháng, một hôm vào buổi giữa trưa, bỗng nghe
có tiếng súng nổ ở nhà Hùng. Người ta chạy đến coi thấy anh Hùng nằm trên giường
ngủ, áo lót mình và khăn giải nệm hơi vấy máu, bên cạnh có một cây súng bắn
chim. Bên giường, vợ Hùng gục đầu xuống khóc. Ngồi ở một cái ghế gần đấy, Mã,
người bạn rất thân của Hùng, hai bàn tay ôm đầu có vẻ buồn rầu đau đớn.
Tài xế của Hùng lên ngay tỉnh lỵ báo tin và gọi điện thoại
cho thân phụ người chết.
Hai giờ sau ông thầy thuốc cùng ông án sát ở tỉnh về khám xét
tử thi. Thì lạ quá, cứ theo đường đi của viên đạn, người chết bị giết chớ không
phải tự tử; không phải tự tay người chết bóp cò được, phát súng phải ở tay người
khác bắn và đứng cách xa một quãng ít ra là vài thước. Ông án tạm xướng lên cái
thuyết: người chết để súng nằm trên bụng và dùng ngón chân cái ấn cò, rồi tiếng
nổ giựt mạnh quá văng súng ra một bên.
Hỏi người vợ xem có lấy cây súng ở trên thây người chết ra không,
thì nàng nói nghe tiếng nổ, mới hoảng hốt ở buồng bên chạy sang, và vẫn thấy
các vật y nguyên như thế.
Còn Mã, người bạn chí thân của Hùng, chàng chỉ ngồi khóc và ấp
úng trả lời viên thẩm phán rằng chẳng biết vì lẽ gì Hùng lại tự tử.
Hình như chàng buồn quá nên quẫn cả trí nghĩ. Đến lượt người
tài xế và người bếp, họ đều khai như nhau rằng khi tới buồng chủ, thấy chủ ngắc
ngoải sắp chết, đương thì thầm dặn dò bà Hùng và ông Mã những gì mà họ không
nghe rõ.
Người vợ có nhận là đúng, và khai thêm rằng người sắp chết
xin lỗi họ, và một mảnh giấy người chết cầm trong tay trái cũng chứng thực điều
đó. Mảnh giấy có mấy hàng ngòng ngoèo sau đây:
"Tôi xin cha tôi, vợ tôi và bạn tôi thân nhất trên đời của
tôi tha lỗi cho tôi. Vì mắc bệnh đau tim, tôi đã hèn nhát trốn nợ đời"
Hùng
Chữ viết chính là chữ Hùng, tuy lệch lạc, dòng lên dòng xuống
như chữ người ốm nặng. Nhưng có thể cho rằng người ta lúc sắp tự tử, cảm động
quá không có can đảm để trấn tĩnh mà viết được như thường. Chữ tên ký thì thực
là nét chữ Hùng. Các nhà giám định đã thẩm tra kỹ lưỡng và đều công nhận như thế.
Chiều hôm ấy, thân phụ người chết ở Hà Nội đi ô tô lên. Bấy
giờ ông án và ông thầy thuốc sắp sửa mổ tử thi khám nghiệm, nhưng ông cụ không
muốn người ta phạm đến xác thịt con mình, cố nài xin thôi để khâm liệm, mai
táng. Ông nói cứ tin ở bức thư tuyệt mệnh của người chết cũng đủ.
Thế rồi sáng hôm sau cất đám. Trong bọn đi đưa, người ta lưu
ý nhất đến Mã. Chàng khóc lóc thảm thiết. Không ai ngờ tình bằng hữu lại thân mật
được đến như thế.
Khi chôn xong, Mã thì thầm khấn khứa rất lâu rồi vì thương
quá, ngất đi ở trên mộ. Người nhà Hùng phải khiêng về ấp. Thế là Mã lên cơn sốt,
bất tỉnh nhân sự. Ba hôm sau bệnh Mã lui thì bỗng người ta lại nghe có tiếng
súng nổ. Tiếng súng thứ hai này cách tiếng súng trước đúng bốn ngày. Có lẽ Mã
lên cơn sốt làm mê mẩn, nên đã vớ lấy súng bắn chim tự chĩa vào ngực bóp cò.
May mà tay người ốm còn yếu, cầm súng không được vững, nên viên đạn đi lệch, chỉ
sượt trái tim.
Từ đó, Mã mắc bệnh điên.
Tôi nghe câu chuyện, đăm đăm ngẫm nghĩ, trong lòng nẩy mối ngờ
vực vẩn vơ. Tôi hỏi:
- Thế bây giờ anh Mã ở đâu?
- Tôi vừa đến thăm. Anh ấy xin phép sáu tháng ăn nửa lương về
nghỉ tại Hà Nội. Nhà ở phố B... Số tám.
Tính tò mò của tôi đã lên tới cực điểm. Tôi giơ tay bắt tay Thanh
rồi vội vã lại phố B... thăm bạn cũ.
Tôi tuy làm cùng sở với Mã trong mấy năm, chúng tôi lại hợp
tính nhau lắm, nhưng tôi vẫn không biết gia thế anh ấy ra sao, mãi khi đến nhà,
tôi mới rõ anh ấy là con nhà giầu có và hình như được cha mẹ chiều chuộng lắm
thì phải.
Lúc bấy giờ, ông thân Mã đi chơi vắng. Tôi chỉ gặp có một
mình bà mẹ. Bà cụ ôn tồn mời tôi ngồi chơi rồi buồn rầu bảo tôi:
- Đã năm, sáu hôm nay, em nó không hé răng nói một lời, suốt
ngày chỉ ngồi nhìn qua cửa sổ như mơ mộng điều gì. Rõ khổ quá! Nhà tôi xưa nay
có ai mắc bệnh điên như thế bao giờ đâu?
Sau khi thuật lại một cách rất tường tận bệnh trạng của con
trong mấy tháng, bà cụ lại tiếp:
- Người ta mách tôi rằng ông lục sự Thanh Oai có bài thuốc
chuyên môn chữa bệnh điên. Tôi đã mời đến chữa cho em; ông ta bảo điên mà hay
nói thì rất nhẹ, chỉ sợ ngồi lì cả ngày không nói câu nào mà thôi. Vì thế, ít bữa
nay tôi thấy em nó bỗng như câm bặt, không chuyện trò lảm nhảm nữa mà tôi lo.
Tôi xin phép đến buồng bệnh nhân. Bà cụ bảo người nhà đưa tôi
lên một gian phòng ở trên gác.
Mã đang ngồi xem quyển tiểu thuyết chữ Pháp, thấy tôi bước
vào ngước mắt đăm nhìn.
Tôi đứng dừng lại, không vội tiến. Mã hất hàm như để hỏi tôi
việc gì. Tôi ngả đầu chào và xưng tên. Anh liền mỉm cười, đứng dậy ra bắt tay tôi,
rồi kéo tôi ngồi xuống ghế mà bảo tôi rằng:
- Được tiếp một người bạn ở Vĩnh Yên về chơi, tôi lấy làm
sung sướng quá.
Tôi đương ngờ vực câu ấy có vẻ điên vì thấy Mã quên rằng tôi
đã đổi về Thái Bình từ lâu rồi, thì anh lại tiếp luôn:
- Ở đây, thấy mọi người họ đều cho tôi là điên, tôi nói gì họ
cũng không tin, nên tức mình tôi giả câm, đã năm sáu hôm nay. Rồi anh sẽ rõ tôi
điên hay lành.
Dứt lời, Mã dõng dạc cất tiếng gọi người nhà bảo pha nước,
dáng điệu khoan thai, giọng nói của một người không mất trí khôn.
Tôi đưa mắt ngắm quanh cái buồng có cửa sổ rào chấn song sắt
và so sánh với một phòng nhốt người điên ở nhà thương Phủ Doãn. Khi ta đã có định
kiến ấy, nó gợi ra trong trí ta biết bao ý tưởng giống loại với nó. Đến nỗi quyển
tiểu thuyết bạn tôi đương cầm ở tay, tôi cũng cho là phải điên rồ mới thích đọc
được.
Tôi còn mải mơ màng với những ý nghĩ viển vông thì một câu hỏi
của Mã làm tôi giật mình như người tỉnh ngủ:
- Anh còn nhớ anh Hùng không?
Tôi vờ:
- Anh Hùng nào?
- Anh Hùng chết năm, sáu tháng trước ấy mà!... Anh không xem
nhật trình hay sao mà không biết chuyện anh Hùng tự tử ở một cái đồn điền thuộc
tỉnh Vĩnh Yên? Thực ra anh ấy không tự tử đâu. Chính anh ấy bị ám sát mà kẻ ám
sát chính là tôi.
- Không, đâu phải.
- Cả anh nữa, anh cũng không tin tôi nốt! Nhưng được, dù anh
tin hay không tin tôi cũng xin anh hãy lắng tai nghe những lời tôi kể sau đây.
Rồi hình như vì thuật đi thuật lại nhiều lần, nên đã thuộc
lòng câu chuyện, Mã nói trơn tru, lời văn gọn gàng và bóng bẩy (có lẽ đó là triệu
chứng của bệnh điên chăng?):
"- Tôi là một người trọng danh dự như thế nào, anh và
các anh em bạn tôi đã biết, nhất khi danh dự lại có dính líu đến một người đàn
bà. Mà các anh cũng chẳng lạ rằng đối với bằng hữu tôi là một người rất tốt, rất
trung thành, tận tâm tận lực. Anh đừng vội cười mà cho là tôi khoe khoang, muốn
phô những nết tốt của mình ra. Không cần gì tôi phải khoe khoang, và tôi cũng
không còn được phép khoe khoang nữa kia mà, vì tôi là một kẻ sát nhân.
"Vâng, tôi không khoe khoang. Tôi phô những đức tính kia
ra nếu đó có thể gọi được là đức tính (Mã điểm một nụ cười chua chát) là chỉ cốt
để tỏ cho anh hay rằng một người như thế mà khi mê muội, khi bị ái tình nhục thể
huyền hoặc, mờ ám, cũng trở nên được một tên giết người tầm thường, đê tiện,
hèn mạt.
"Trời ơi! Có thể như thế được không? Có thể yêu vợ bạn rồi
giết chết bạn được không? Đó là ái tình ư? Không, đó là một tính cách cầm thú của
bản năng con vật ẩn núp, lẩn quất trong linh hồn con người... Khốn nạn! Đồ khốn
nạn! Sao không nhốt nó vào nhà pha! Mau! Tống cổ nó vào ngục thất mau!".
Mã lớn tiếng thét rồi hình như mất hết nghị lực, đưa hai bàn
tay lên bưng mặt khóc rưng rức, lẩm bẩm nói những gì, tôi không rõ. Tôi đứng dậy,
khép cái cửa ra cầu thang gác, sợ ở nhà ngoài, bà mẹ nghe tiếng kêu gào mà lên,
thì tôi sẽ không được nghe chuyện.
Tiếng giầy đi trên ván khiến Mã ngửng mặt lên, có lẽ tưởng
tôi bỏ ra đi. Anh vội vàng chạy theo níu tôi ngồi xuống ghế, và mỉm cười - cái
cười đầy nước mắt - bảo tôi:
- Anh phải nghe hết câu chuyện đã.
- Nhưng anh đừng hét nữa kia. Anh hét thế tôi sợ lắm, không
dám ngồi gần anh đâu.
Mã lại mỉm cười:
- Oan khổ, anh coi tôi như một thằng bé con lên ba, lên bốn.
Hoặc giả anh cho tôi là thằng điên thực. Nếu tôi điên sao không nhốt tôi vào
nhà điên, lại để tôi tự do sống như một thằng lừa dối, một thằng phản bạn, một
thằng giết người sống cái đời tự do, yên lặng của nó? Anh ạ, có lần tôi đã có
làm cho điên thực, để họ nhốt vào nhà điên vì họ không muốn bỏ tù tôi, họ không
muốn làm tội. Không những họ không tố giác tôi, họ lại còn không để tôi tự tố
cáo tôi nữa. Đã mấy lần tôi định đến sở cẩm, đến tòa án, tự đưa tay vào xích, tự
lăn mình vào lưới pháp luật, nhưng lần nào cũng bị người ta tóm được. Rồi người
ta nhốt tôi vào cái buồng kín mít này nó cũng chẳng kém gì cái nhà tù. Họ còn dọa
hễ tôi phá phách quá lắm để tìm lối trốn thoát, thì họ sẽ bỏ tôi vào cái cũi sắt
nữa kia. ấy vì thế ít khi thả lỏng tôi thế này và cho tôi được phép tiếp bạn bè
trong chốc lát. Rồi anh coi, họ sắp lên đuổi anh ra ngay bây giờ.
Tôi lo lắng nhìn cái cửa ra thang gác, nóng ruột muốn biết
câu chuyện giết người của Mã, câu chuyện có lẽ chỉ những người ngu ngốc, đần độn,
hay điên cuồng mới không tin là có thực.
"- Anh đã làm việc ở Vĩnh Yên, chắc anh cũng có biết anh
Hùng. Một người hào hiệp, thẳng thắn như anh Hùng, ai mà không quen, ai mà
không muốn gần gũi chơi bời.
"Tôi thì khác. Tôi thương mến anh Hùng ngay từ khi còn
cùng nhau theo học lớp ba trường Hàng Vôi. Tình bằng hữu một ngày một thêm
khăng khít. Rồi hai người cùng thi đậu bằng thành chung. Anh Hùng kế nghiệp
cha, ra làm đồn điền, còn tôi theo đuổi việc học tại trường Pháp Chính. Chúng
tôi mến nhau chẳng khác anh em ruột thịt. Hơn nữa, chúng tôi yêu nhau như một cặp
tình nhân vậy.
"Nhưng khổ cho chúng tôi, không may cho tình bằng hữu thiêng
liêng (anh ngừng lại một giây và gạch hai chữ thiêng liêng bằng một cái nhếch
mép độc địa, cái nhếch mép nửa giống như cười, nửa giống như mếu), không may
cho tình bằng hữu thiêng liêng của chúng tôi, anh Hùng lấy vợ. Không may nữa, vợ
anh là người... bậy bạ... lẳng lơ...
"- Trời ơi! Con thiếu phụ! Con ác phụ! Sao tôi không giết
nó? Sao tôi lại giết bạn tôi?".
Tôi nhìn ra cửa ngắt lời:
- Nếu anh còn gào thét thì tôi xin về.
Mã dịu lời:
- "Nhiều lần đến thăm anh Hùng, tôi đã nhận thấy cặp mắt
đa tình, cặp môi đa dục của nó. Tôi đoán chừng đối với anh Hùng, anh em đến
chơi đông, một phần vì anh có lòng mến khách thực, nhưng một phần cũng vì con mụ
đàn bà kia. Cái dung nhan rực rỡ, cái cười tình đằm thắm của nó, cái thân thể nở
nang, uốn éo của nó đã quyến rũ người ta, đã thôi miên người ta, đã mê hoặc người
ta.
"Anh Hùng vẫn chẳng biết gì hết. Anh yêu thương vợ anh.
Anh mê mẩn vợ anh đến nỗi chẳng nhìn thấy gì hết.
"Nhưng tôi nhìn thấy. Tôi chỉ là bạn chồng nó chứ không
phải là chồng nó. Tôi không nỡ để một người tốt như bạn tôi bị lừa dối. Tìm
cách mở mắt cho người mù vì ái tình vẫn là một việc khó, khó hơn lấy lại ánh
sáng cho một người mù thực, nhưng khó, tôi cũng không từ, không lui.
"Năm ngoái, nhân một dịp nghỉ lễ, tôi về chơi đồn điền
anh Hùng. Cố nhiên tôi gặp một lũ bạn giả dối, và trong số đó có thằng tình
nhân khốn nạn của con đàn bà khốn nạn.
"Trời ơi! Sao tôi không bắn chết hai đứa thất phu, thất
phụ ngay hôm chúng nó tư tình với nhau ở sau một đống rạ sau đồng? Sao tôi lại
để cho chúng nó thoát? Trời ơi! Nhưng tôi cũng chỉ là một thằng khốn nạn".
Lần thứ hai, tôi ngắt lời bạn:
- Kìa! Anh lại thét. Thôi tôi không nghe nữa.
- "Xin lỗi anh, nhưng tôi khốn nạn lắm kia, Con dâm phụ
thấy tôi biết chuyện bậy bạ của nó, thấy tôi rình mò, do thám nó, thì nó nghĩ
ngay ra một quỷ kế, một kế mỹ nhân.
"Nó than, nó khóc, nó kể lể, nó phàn nàn nhiều điều về
anh Hùng, nào anh ác nghiệt, cay độc, tình phụ nó, ruồng rẫy nó, hàng tháng,
hàng năm không yêu thương nó, mà nó thì nó rất thèm khát sự yêu thương...
"Rồi không biết nó nói thực hay nói dối - còn ai hiểu được
bụng nó - nó bảo ở trên này nó chỉ yêu có một người, nhưng nó không dám, nó
không thể nói cho người ấy biết được. Nó đành chôn sâu trong trái tim, trong
linh hồn khối tình tuyệt vọng.
"Thế là bắt đầu sự đê hèn của tôi! Vì tôi đã hơi tin nó.
Trời ơi! Anh Hùng ơi! Sao tôi còn vác được cái mặt dầy mà sống ở đời?"
Mã bưng mặt khóc, khóc nức nở...
Tôi chờ Mã, không thấy anh kể nốt, liền nhắc:
- Câu chuyện chỉ có thế?
Anh Mã vội vàng ngửng đầu lên, lau nước mắt trả lời:
- Nếu chỉ có thế thì còn nói gì? Nhưng nào chỉ có thế.
"Ngày tôi bắt đầu thương hại vợ bạn là ngày tôi sa chân
xuống địa ngục. Vì từ thương hại cho tới thương yêu chỉ có một bước...
"Mà bước ấy, tôi đã... qua. Anh Hùng ơi! Sao tôi khổ sở
thế này?...
"Trời ơi! Cái sắc đẹp! Cái sắc đẹp giết người!"
Tôi chau mày bảo Mã:
- Nếu anh không tĩnh tâm mà kể thì tôi hiểu sao được?
"- Phải. Tôi mê man trong ái tình, trong dục tình.
"Chiều thứ bẩy nào tôi cũng phải mò về đồn điền bạn để
tình tự với vợ bạn. Chúng tôi yêu nhau điên cuồng đến nỗi dám định cùng nhau đi
trốn. Mà bạn tôi vẫn thẳng thắn, vẫn không ngờ vực mảy may.
"Thế rồi một buổi trưa chủ nhật..."
Mã như nghẹn lời không nói được nữa. Hai hàng nước mắt chảy
ròng. Tôi rùng mình ghê sợ, toan bỏ ra về nhưng không sao đứng dậy được. Còn Mã
thì ngồi đấy không hề ngó thẳng mắt tôi nữa, buồn rầu cúi gầm xuống mà kể tiếp:
"Một buổi trưa chủ nhật, ăn cơm sáng xong, Hùng rủ tôi
đi săn. Tôi vờ nhức đầu ở lại nhà. Anh tất cũng hiểu tôi ở nhà để làm gì...
"Bỗng một nửa giờ sau, bạn tôi hình như bỏ quên vật gì,
trở về vào buồng giữa lúc bọn gian phu dâm phụ sắp phạm tội nhục thể...
"Trời ơi! Tôi làm thế nào mà xóa bỏ trong trí nhớ cái cảnh
tượng xấu xa, nhơ nhuốc ấy?
"Bạn tôi, xưa nay tính vẫn nóng nẩy, chĩa súng về phía vợ
ngồi, định bắn. Tôi nhẩy phắt ngăn lại giật lấy súng; Hùng liền vớ ngay hai con
dao treo bài trí trên tường, sấn lại chém vợ. Người vợ hình như mất hết cả can
đảm, ngồi im để chờ chết. Hai lưỡi dao sáng loáng sắp bổ xuống đầu người thiếu
phụ, thì đứng trước mặt, tôi chẳng kịp nghĩ ngợi, giương súng... bóp cò... Bạn
lăn ra đất.
"Nhưng độ mấy giây sau, bạn tôi lại ngồi dậy. Tôi tưởng
anh không việc gì, vì thấy anh men lại giường, rồi bước lên nằm duỗi thẳng cẳng
trên nệm. Tôi nhìn cái áo lót của anh có vết máu ở ngực. Anh sẽ gật, ra hiệu bảo
tôi ghé lại gần. Lúc bấy giờ tôi, một người không hồn, làm theo những lời sai
khiến của bạn như cái máy theo người vặn. Anh Hùng thì thầm:
- Lấy mảnh giấy và cái bút chì mau!
"Rồi đặt lên trên một quyển sách có bìa cứng, anh viết mấy
dòng sau này:
Tôi xin cha tôi, vợ tôi và bạn thân nhất trên đời tôi (Mã đọc
đến đây, nấc lên một tiếng, và phải ngừng lại mấy giây) tha lỗi cho tôi, vì mắc
bệnh đau tim, tôi đã hèn nhát trốn nợ đời...
"Nằm nghĩ ngợi một lát, anh lại bảo tôi nhặt hai con dao
rơi ở mặt đất treo bên giường ngay bên cạnh mình.
"Người vợ, con đàn bà khốn nạn, từ nãy vẫn gục quỳ ngay
bên cạnh và luôn luôn van lạy xin lỗi. Lúc đó có người nhà chạy lên, nhưng tôi
chẳng hề để ý tới ai hết.
"Bạn tôi hiểu rằng mình còn sống trong giây phút, cố hết
sức tàn se sẽ bảo tôi.
"Thế rồi bạn tôi tắt nghỉ...".
Có lẽ Mã đã ghi hết nghị lực để lấy giọng bình tĩnh kể đoạn
chuyện sau cùng, vừa dứt lời, anh rú lên, văng từ ghế xuống gác, kêu rầm một tiếng.
Bà mẹ ở dưới nhà tất tả chạy lên, hoảng hốt khóc lóc mếu máo:
- Khổ quá! Con tôi đã lên cơn điên rồi!
Tôi cùng một người đầy tớ khiêng Mã lên giường rồi cáo từ bà
cụ ra về, trong trí còn phảng phất lời nói mỉa mai của Mã:
"Chỉ những người ngu dốt, đần độn hay điên cuồng mới không
tin là câu chuyện có thực".
Khái Hưng
Nguồn: Rút từ tập truyện ngắn
Dọc đường gió bụi. Nxb Đời nay, Hà Nội, 1936.














Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét