Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông
và những ca khúc nổi tiếng
“Mấy Dặm Sơn Khê” - Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và bản thu âm mới nhất 2014
Tâm tình cuối năm của tác giả ca khúc nổi tiếng trong Mùa Xuân:
“Mấy Dặm Sơn Khê” - là ca khúc không mấy ai không biết đến của một người lính Quốc Gia, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông… mang tâm hồn nhạc từ khi còn ở dưới mái trường Thiếu Sinh Quân VNCH- Vũng Tàu. Mời nghe Mấy Dặm Sơn Khê - Xuân Thanh (Nguyễn Văn Đông)
https://www.youtube.com/watch?v=8b11Qrw41hU
LTS: Nhân cuộc trò chuyện để có tài liệu cho một ca khúc giới thiệu trên trang báo NVTB, bằng email nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cũng là người bạn của các anh em chiến hữu có thời cùng sống trong trại Suối Máu qua những tâm tình được trích đăng, để được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông trả lời một số câu hỏi như:
1) Trong trường hợp nào nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã làm bài hát này?
2) Cảm hứng riêng của tác giả khi sáng tác ca khúc có nhắc tới mùa Xuân thời 1957: “Mấy Dặm Sơn Khê”… ở một vùng núi rừng Miền tiền tuyến nào tại Việt Nam thời Đệ Nhất Cộng Hòa.
3) Tại sao nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông viết “tang trắng” hay là “giữa vùng-sương trắng” (miền sơn khê), hay là “vòng hoa chiến thắng”?
nguồn: Báo Người Việt Tây Bắc (tháng 1-2014)
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông tâm tình lúc tân niên:
Cám ơn quý anh quan tâm bản Mấy Dặm Sơn Khê. Theo yêu cầu của anh cho bài viết, tôi (nhạc sỹ Nguyễn Văn Đông) ghi lại một số tài liệu sau đây:
Trước hết: Trần văn Trạch và Lệ Thanh là hai nghệ sĩ đầu tiên thâu thanh ra đĩa 45 tours của hãng Tân Thanh vào năm 1960. Trần văn Trạch sử dụng chất giọng đặc Nam Bộ, pha luyến láy làn điệu “Bình Bán” cổ phương Nam, nghe rất duyên dáng (tìm nghe: Trần văn Trạch và Lệ Thanh qua youtube hoặc Google Search). Năm 1961, tác giả và ca sĩ Thái Thanh cùng Nghiêm Phú Phi, trình bày lần đầu tiên trong Đại nhạc hội Trăm Hoa Miền Nam, một tổ chức văn nghệ quy mô vào thời đó do bà cố vấn Ngô Đình Nhu chủ tọa, diễn ra suốt 10 đêm tại rạp hát Hưng Đạo, Thủ đô SaiGòn. Tôi nhớ khi ấy tác giả cùng Thái Thanh song ca thì nhạc sĩ Lê Thương đánh nhịp Ban nhạc Đại hoà tấu, còn nhạc trưởng Nghiêm Phú Phi ngồi đàn dương cầm dạo Prélude (tìm nghe: Thái Thanh qua youtube hoặc Google Search). Sau đó một số nghệ sĩ như Hà Thanh, Hùng Cường, Tuyết Mai trình bày Mấy Dặm Sơn Khê cũng rất thành công. Thời gian sau, vào tháng 11/1961, Bộ Thông Tin ra thông báo cấm lưu hành và trình diễn 2 bài “Chiều Mưa Biên Giới và “Mấy Dặm Sơn Khê” trên toàn quốc.
Thứ đến: Lý do lệnh cấm Mấy Dặm Sơn Khê vì ấn phẩm đầu tiên có lời ca mà Bộ cho là không thuận lợi cho cuộc chiến. Đó là những phân câu sau đây:
a) Non nước ơi! Bèo trôi theo sóng đưa, hiến thân đời gió bụi…
b) Chờ mùa xuân tươi sang nhưng mùa thắm không sang…
c) Mấy ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên?
d) Chít lên vành tang trắng. Cầm tay nhau đi anh, tơ trời quá mong manh. (Đính kèm Bản lời ca 1, ấn phẩm đầu tiên bị cấm).
Xin giải thích dụng ý câu “Chít lên vành tang trắng” là chít lên vành khăn tang trắng lên người goá phụ có chồng là tử sĩ, không nhằm gợi ý trừu tượng hay ẩn dụ về “Sương trắng phủ ngang mấy dặm sơn khê” như anh đặt câu hỏi.
Thời gian sau, tôi có chỉnh sửa, đặt lại lời 2 theo yêu cầu của Nhà Xuất Bản như sau:
a) Non nước ơi! Hồn thiêng của núi sông kết trong lòng thế hệ…
b) Chờ mùa xuân tươi sang nhưng mùa thắm chưa sang…
c) Nhớ ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên…
d) Khoác lên vòng hoa trắng. (Ý nói đoàn binh khoác vòng hoa chiến thắng thay vì chít khăn tang trắng lên người goá phụ tử sĩ).
(Tìm nghe: lời ca 2 được phép phổ biến qua youtube hoặc Google Search).
Và qua Bản Music sheet Mấy Dặm Sơn Khê lần này được chụp hình lại và Scan bằng máy thật tốt nên có chất lượng trội hơn bản trước đã gởi anh.
Câu trả lời chót là: Trong binh nghiệp, tác giả Mấy Dặm Sơn Khê phần lớn thời gian phục vụ ở các đơn vị tác chiến, xuyên dọc qua các vùng chiến thuật, có cả vùng thượng du rừng núi Bắc Việt năm 1954, đi gần hết chiều dài cuộc chiến. Vì vậy, “Mấy Dặm Sơn Khê” có thể là phản ánh vùng núi rừng cao nguyên miền Trung hay Thất Sơn miền tây Nam Bộ mà tác giả đã từng sống và chiến đấu ở các nơi đó. Mong anh hài lòng với giải đáp này. Đính kèm theo 6 files.
Sau hết, quý anh là chiến hữu cùng trải qua nghiệt ngã ở trại Suối Máu, tôi rất mừng được gặp lại anh qua mail. Trước thềm xuân mới Giáp Ngọ, chúc anh vui khỏe, bút lực sung mãn, gia đình hạnh phúc, an khang, thịnh vượng. Đặc biệt trang NGƯỜI VIỆT TÂY BẮC do anh chủ trương thành công nối tiếp thành công hơn nữa trong năm mới.
NGUYỄN VĂN ĐÔNG - SàiGòn
bạn tù “cải tạo” Suối Máu - Sàigòn.
Tái bút: Tôi có gởi đến anh (phần cuối bài) “Chuyện văn nghệ tất niên”.
“Mấy Dặm Sơn Khê” - là ca khúc không mấy ai không biết đến của một người lính Quốc Gia, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông… mang tâm hồn nhạc từ khi còn ở dưới mái trường Thiếu Sinh Quân VNCH- Vũng Tàu. Mời nghe Mấy Dặm Sơn Khê - Xuân Thanh (Nguyễn Văn Đông)
https://www.youtube.com/watch?v=8b11Qrw41hU
LTS: Nhân cuộc trò chuyện để có tài liệu cho một ca khúc giới thiệu trên trang báo NVTB, bằng email nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cũng là người bạn của các anh em chiến hữu có thời cùng sống trong trại Suối Máu qua những tâm tình được trích đăng, để được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông trả lời một số câu hỏi như:
1) Trong trường hợp nào nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã làm bài hát này?
2) Cảm hứng riêng của tác giả khi sáng tác ca khúc có nhắc tới mùa Xuân thời 1957: “Mấy Dặm Sơn Khê”… ở một vùng núi rừng Miền tiền tuyến nào tại Việt Nam thời Đệ Nhất Cộng Hòa.
3) Tại sao nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông viết “tang trắng” hay là “giữa vùng-sương trắng” (miền sơn khê), hay là “vòng hoa chiến thắng”?
nguồn: Báo Người Việt Tây Bắc (tháng 1-2014)
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông tâm tình lúc tân niên:
Cám ơn quý anh quan tâm bản Mấy Dặm Sơn Khê. Theo yêu cầu của anh cho bài viết, tôi (nhạc sỹ Nguyễn Văn Đông) ghi lại một số tài liệu sau đây:
Trước hết: Trần văn Trạch và Lệ Thanh là hai nghệ sĩ đầu tiên thâu thanh ra đĩa 45 tours của hãng Tân Thanh vào năm 1960. Trần văn Trạch sử dụng chất giọng đặc Nam Bộ, pha luyến láy làn điệu “Bình Bán” cổ phương Nam, nghe rất duyên dáng (tìm nghe: Trần văn Trạch và Lệ Thanh qua youtube hoặc Google Search). Năm 1961, tác giả và ca sĩ Thái Thanh cùng Nghiêm Phú Phi, trình bày lần đầu tiên trong Đại nhạc hội Trăm Hoa Miền Nam, một tổ chức văn nghệ quy mô vào thời đó do bà cố vấn Ngô Đình Nhu chủ tọa, diễn ra suốt 10 đêm tại rạp hát Hưng Đạo, Thủ đô SaiGòn. Tôi nhớ khi ấy tác giả cùng Thái Thanh song ca thì nhạc sĩ Lê Thương đánh nhịp Ban nhạc Đại hoà tấu, còn nhạc trưởng Nghiêm Phú Phi ngồi đàn dương cầm dạo Prélude (tìm nghe: Thái Thanh qua youtube hoặc Google Search). Sau đó một số nghệ sĩ như Hà Thanh, Hùng Cường, Tuyết Mai trình bày Mấy Dặm Sơn Khê cũng rất thành công. Thời gian sau, vào tháng 11/1961, Bộ Thông Tin ra thông báo cấm lưu hành và trình diễn 2 bài “Chiều Mưa Biên Giới và “Mấy Dặm Sơn Khê” trên toàn quốc.
Thứ đến: Lý do lệnh cấm Mấy Dặm Sơn Khê vì ấn phẩm đầu tiên có lời ca mà Bộ cho là không thuận lợi cho cuộc chiến. Đó là những phân câu sau đây:
a) Non nước ơi! Bèo trôi theo sóng đưa, hiến thân đời gió bụi…
b) Chờ mùa xuân tươi sang nhưng mùa thắm không sang…
c) Mấy ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên?
d) Chít lên vành tang trắng. Cầm tay nhau đi anh, tơ trời quá mong manh. (Đính kèm Bản lời ca 1, ấn phẩm đầu tiên bị cấm).
Xin giải thích dụng ý câu “Chít lên vành tang trắng” là chít lên vành khăn tang trắng lên người goá phụ có chồng là tử sĩ, không nhằm gợi ý trừu tượng hay ẩn dụ về “Sương trắng phủ ngang mấy dặm sơn khê” như anh đặt câu hỏi.
Thời gian sau, tôi có chỉnh sửa, đặt lại lời 2 theo yêu cầu của Nhà Xuất Bản như sau:
a) Non nước ơi! Hồn thiêng của núi sông kết trong lòng thế hệ…
b) Chờ mùa xuân tươi sang nhưng mùa thắm chưa sang…
c) Nhớ ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên…
d) Khoác lên vòng hoa trắng. (Ý nói đoàn binh khoác vòng hoa chiến thắng thay vì chít khăn tang trắng lên người goá phụ tử sĩ).
(Tìm nghe: lời ca 2 được phép phổ biến qua youtube hoặc Google Search).
Và qua Bản Music sheet Mấy Dặm Sơn Khê lần này được chụp hình lại và Scan bằng máy thật tốt nên có chất lượng trội hơn bản trước đã gởi anh.
Câu trả lời chót là: Trong binh nghiệp, tác giả Mấy Dặm Sơn Khê phần lớn thời gian phục vụ ở các đơn vị tác chiến, xuyên dọc qua các vùng chiến thuật, có cả vùng thượng du rừng núi Bắc Việt năm 1954, đi gần hết chiều dài cuộc chiến. Vì vậy, “Mấy Dặm Sơn Khê” có thể là phản ánh vùng núi rừng cao nguyên miền Trung hay Thất Sơn miền tây Nam Bộ mà tác giả đã từng sống và chiến đấu ở các nơi đó. Mong anh hài lòng với giải đáp này. Đính kèm theo 6 files.
Sau hết, quý anh là chiến hữu cùng trải qua nghiệt ngã ở trại Suối Máu, tôi rất mừng được gặp lại anh qua mail. Trước thềm xuân mới Giáp Ngọ, chúc anh vui khỏe, bút lực sung mãn, gia đình hạnh phúc, an khang, thịnh vượng. Đặc biệt trang NGƯỜI VIỆT TÂY BẮC do anh chủ trương thành công nối tiếp thành công hơn nữa trong năm mới.
NGUYỄN VĂN ĐÔNG - SàiGòn
bạn tù “cải tạo” Suối Máu - Sàigòn.
Tái bút: Tôi có gởi đến anh (phần cuối bài) “Chuyện văn nghệ tất niên”.
Lời ca khúc: MẤY DẶM SƠN KHÊ (trước 1961)
Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng
ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê
non nước ơi, bèo trôi theo xóm đưa
Hiến thân đời gió bụi, nghìn sau nối nghìn xưa
Như giấc mơ giữa khung trời phiêu lãng,
Chờ mùa Xuân tươi sang, nhưng mùa thắm không sang
Anh đến đây, rồi anh như bóng mây,
Chốn phương trời ấm lạnh hòa chung mái nhà tranh
Anh như ngàn gió, thăm ngược xuôi, theo đường mây,
Tóc tơi bời lộng gió bốn phương,
Nước non còn đó một tấc lòng,
không mờ xóa cùng năm tháng,
mấy ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên,
Chít lên vầng tang trắng, cầm tay nhau đi anh
Tơ trời quá mong manh
Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh,
giữa khung trời gió lộng, nghìn sau tiếc nghìn xưa
Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng
ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê
non nước ơi, bèo trôi theo xóm đưa
Hiến thân đời gió bụi, nghìn sau nối nghìn xưa
Như giấc mơ giữa khung trời phiêu lãng,
Chờ mùa Xuân tươi sang, nhưng mùa thắm không sang
Anh đến đây, rồi anh như bóng mây,
Chốn phương trời ấm lạnh hòa chung mái nhà tranh
Anh như ngàn gió, thăm ngược xuôi, theo đường mây,
Tóc tơi bời lộng gió bốn phương,
Nước non còn đó một tấc lòng,
không mờ xóa cùng năm tháng,
mấy ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên,
Chít lên vầng tang trắng, cầm tay nhau đi anh
Tơ trời quá mong manh
Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh,
giữa khung trời gió lộng, nghìn sau tiếc nghìn xưa
Tái bút về câu chuyện cho bài viết Tân Niên của Nguyễn Văn Đông.
Chào quý anh…
Sau khi gởi cho tòa soạn các tài liệu về bản Mấy Dặm Sơn Khê, tôi có vào xem trang Người Việt Tây Bắc (qua online và Google), Tôi đặc biệt thích thú các bài vở đặc sắc viết về nghệ sĩ ỡ trang “Văn học Nghệ Thuật.” Bài của tác giả Phạm Kim viết về nhạc sĩ Anh Bằng và nhóm Lê Minh Bằng hấp dẫn tôi từ đầu đến cuối. Tôi cho đây là bài viết hay nhất về cuộc đời sự nghiệp văn nghệ; của nhạc sĩ Anh Bằng qua ngòi bút tinh tế tài hoa của tác giả. Là nhạc sĩ, tôi cũng có ước mơ ngày nào đó, anh có hứng chấp bút viết một bài về tôi, về Mấy Dặm Sơn Khê chẳng hạn. Đọc bài về Anh Bằng, tôi quan tâm đoạn tác giả tả về đời sống phong lưu của NS Anh Bằng, giàu có bằng tài năng và chuyên cần do tự mình tạo ra. Tôi cho rằng bài viết rất chính xác. Trích đoạn anh Phạm Kim viết:
“Từ thập niên 1965-1975, với những ca khúc top hit như: Nếu Vắng Anh, Giấc Ngủ Cô Đơn, và khi sang đến hàng loạt sáng tác như Chuyện Tình Lan Và Điệp 1, 2, 3… ra đời cùng với các nhạc phẩm khác của Sóng Nhạc, lúc ấy Nhạc Sĩ Anh Bằng đã là người nhạc sĩ sống rất phong lưu, bằng tài và chuyên cần, tự mình tạo ra; đi lại bằng xe Toyota tư nhân mới, tiền bạc vô nhiều không kể, không nhạc sĩ sáng tác hoặc nhà văn có tác phẩm nào có thể giầu bằng”. (Hết trích) Bài viết Phạm Kim: Nhạc sĩ Anh Bằng - Một Đời Cho Âm Nhạc, Nhìn lại sau hơn 50 năm sáng tác. Wednesday, April 3rd, 2013.http://www.nvnorthwest.com/category/arts/
Tôi là người trong cuộc, sống cùng thời, xác nhận thực tế đúng trăm phần trăm. Đó cũng là điển hình chung về đời sống vô cùng phong phú của lớp nghệ sĩ tài ba ở Miền Nam dưới chế độ Cộng Hòa. Thời gian này, Anh Bằng và nhóm Lê Minh Bằng có hợp tác với hãng đĩa Continental và Sơn Ca của tôi. Những hợp đồng của nhóm Lê Minh Bằng ký với hãng đĩa của tôi có giá trị hằng mấy trăm lượng vàng và nhiều hợp đồng như vậy trong suốt thời gian dài ở thập niên 1965-1975 như tác giả Phạm Kim có nêu ra ở trích đoạn trên. Qua những biến thiên, vật đổi sao dời, tôi vẫn còn giử được vài hợp đồng kỷ niệm về nhóm Lê Minh Bằng và những nhạc phẩm của nhóm trên list nhạc của hãng đĩa tôi. Bằng tài năng và công sức đóng góp, Anh Bằng và nhóm Lê Minh Bằng được hãng đĩa đền công tương xứng và có cuộc sống sung túc giàu sang là điều dể hiểu. Tôi hãnh diện có thời gian sát cánh cùng với các bạn này và làm nên điều kỳ diệu mang lại đời sống vật chất sung túc. Tôi chỉ tiếc, đúng ra là tủi thân, vì trong suốt bài viết về cuộc đời sự nghiệp Anh Bằng cùng nhóm Lê Minh Bằng, không có chút kỷ niệm nào dành cho thời gian cộng tác với hãng Continental và Sơn Ca của tôi, trong khi đồng nghiệp Sóng Nhạc thì lại được nhằc nhở trân trọng bằng những lời có cánh. Tác giả Phạm Kim có thấy tôi đòi hỏi quá đáng không, để sau này tác giả cũng viết “bù lỗ” cho hãng đĩa tôi thôi. Tôi vừa kể chuyện văn nghệ tất niên cho quý anh vui. Tôi cũng đã cung cấp tài liệu “Mấy Dặm Sơn Khê” cho anh rồi. Tôi yên tâm ăn tết.
Bạn (Tù cải tạo) Suối Máu của quý anh.
NGUYỄN VĂN ĐÔNG - Sài Gòn tháng 1-2014
Nguồn: http://nvnorthwest.com/2...nhac-si-nguyen-van-dong/
Tôi cho họ Nguyễn là một trường hợp đặc biệt của giới văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam, 20 năm. Khi, một mặt, ông vẫn chu toàn nhiệm vụ “người lính gác giặc” của mình. Mặt khác, ông vẫn can đảm cất lên tiếng nói của lương tri. Tiếng nói của một kẻ sĩ trước thời cuộc. Những ghi nhận từ đáy tầng khát khao của dân tộc, đất nước…
Vì thế, ngay khi lệnh cấm của Bộ Thông Tin được báo chí thời đó đăng tải nơi trang nhất thì dư luận quần chúng khắp nơi đã đồng loạt phản ứng. Họ bênh vực họ Nguyễn, như bênh vực người phát ngôn trung thực nhất, về những mơ ước, khát khao thầm kín của họ. Phản ứng bất ngờ của đám đông cũng khiến nhiều cơ quan ngôn luận nhập cuộc. Lên tiếng bênh vực. Ủng hộ tinh thần tác giả “Chiều mưa biên giới.”
Sự kiện vừa kể, cách gì, cũng không cứu được tác giả thoát khỏi 15 ngày trọng cấm! Lệnh phạt theo quân kỷ. Ban hành bởi Bộ Quốc Phòng. Lý do:
“Đương sự đã không tuân hành huấn lệnh quy định rằng, bất cứ một quân nhân nào, khi sáng tác thơ, văn, âm nhạc… trước khi phổ biến cho công chúng, phải được nhân viên hữu trách của Bộ Quốc Phòng duyệt trước và, cấp giấy cho phép!...”
Lệnh phạt ấy còn kèm theo một điều khoản trói tay, triệt tiêu nỗ lực phát triển tài hoa, nghệ thuật của họ Nguyễn. Đó là điều khoản:
“… Đương sự không được phép xuất hiện trong mọi sinh hoạt ca nhạc nơi công cộng!”
Mặc dù khi ấy, với cấp bậc đại úy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đảm nhiệm nhiều chức vụ khá quan trọng như: Bí thư Tổng giám đốc Cảnh sát, Công an và, Chánh văn phòng Bộ Tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô.
Hồi tưởng thời điểm này, tác giả “Phiên gác đêm xuân” có lần đã tâm sự với một số người thân của ông rằng: Trở thành nhạc sĩ hay nghệ sĩ nói chung, là một trở ngại lớn cho ông, trên bước đường binh nghiệp. Bởi vì những cấp Bộ có trách nhiệm thăng chức đều không tin tưởng giới nghệ sĩ. Họ quan niệm nghệ sĩ là giới ăn chơi, hút xách, lãng mạn, tính khí thất thường… không thích hợp với vai trò điều quân khiển tướng. Mặc dù ngay tự khởi đầu binh nghiệp, họ Nguyễn đã chứng tỏ ông có đầy đủ uy tín, thành tích và, thâm niên để được đề bạt vào những chức vụ quan trọng hơn…
Trường hợp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông khiến không ít người liên tưởng tới trường hợp của cố đại tá Anh Việt/ Trần văn Trọng - Tác giả những ca khúc nổi tiếng như “Bến cũ,” “Thơ ngây”… Tuy ông không bị nhiều khó khăn, gập ghềnh như trường hợp họ Nguyễn; nhưng với thâm niên quân vụ như họ Trần, cuối cùng, chức vụ cao nhất mà nhạc sĩ Anh Việt được giao phó, cũng chỉ là Cục trưởng cục Quân Cụ mà thôi.
Về mặt trái của tấm huy chương hay sự nổi tiếng, theo ghi nhận của tác giả ca khúc “Về mái nhà xưa” là, phản ứng đố kỵ, dèm pha của những người cùng ngành nghề! Khi họ thấy, một sớm, một chiều, chỉ với một ca khúc thôi, Nguyễn Văn Đông đã được quần chúng nhiều giới khác nhau, ái mộ, như ái mộ một thần tượng mà họ chờ đợi đã từ rất lâu.
Bên cạnh đó, họ Nguyễn cũng kể lại một câu chuyện điển hình cho cái mà, ông gọi là “tai họa” cho bất cứ một nghệ sĩ nào, nếu may mắn có được một vị trí tương đối, trong guồng máy chính quyền hay, quân đội. Đó là sự kiện một số không nhỏ những người thân quen, nhân danh “tình nghĩa nghệ sĩ” xin ông can thiệp để họ được làm lính kiểng, lính ma; hoặc, vận động, chạy chọt cho họ được thuyên chuyển từ các đơn vị tác chiến, tiền đồn về văn phòng hay, hậu cứ! Và, khi bị từ chối thì, cũng chính đám người đó, lại là những người tìm mưu, lập kế ám hại ông nhiều nhất.
Tác giả “Hải ngoại thương ca” nhớ lại: “Có lần Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi tôi vào dinh Độc Lập, trình diện ông. Ông bảo: ‘Anh bị rất nhiều người tố cáo rằng anh lợi dụng danh tiếng nhạc sĩ đi hại đời con gái người ta! Anh đã phá hoại gia cang nhiều gia đình người khác! Anh cũng bị tố là ăn chơi sa đọa, đơn tố cáo chất chồng ở đây… Anh phải stop ngay vì uy tín của quân đội…’ ”
Dù thường xuyên bị đe dọa bởi những cơn bão lớn, nhiều lúc tưởng chừng con đường binh nghiệp có thể bị cắt ngang, thậm chí rơi vào vòng lao lý, nhưng giữa hai con người quân nhân và nghệ sĩ, thời gian đã cho thấy họ Nguyễn vẫn chọn nghiêng nặng về phía con người nghệ sĩ. Phải chăng, từ sâu thẳm tâm hồn mình, ông từng tự nhắc nhở mình rằng: “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng - thì đường trần mưa bay gió cuốn - còn nhiều anh ơi”?
Tôi nghĩ, ý niệm “khanh tướng” này của tác giả, nhiều phần đi ra từ câu thơ cổ “nhất tướng công thành vạn cốt khô.”
Chào quý anh…
Sau khi gởi cho tòa soạn các tài liệu về bản Mấy Dặm Sơn Khê, tôi có vào xem trang Người Việt Tây Bắc (qua online và Google), Tôi đặc biệt thích thú các bài vở đặc sắc viết về nghệ sĩ ỡ trang “Văn học Nghệ Thuật.” Bài của tác giả Phạm Kim viết về nhạc sĩ Anh Bằng và nhóm Lê Minh Bằng hấp dẫn tôi từ đầu đến cuối. Tôi cho đây là bài viết hay nhất về cuộc đời sự nghiệp văn nghệ; của nhạc sĩ Anh Bằng qua ngòi bút tinh tế tài hoa của tác giả. Là nhạc sĩ, tôi cũng có ước mơ ngày nào đó, anh có hứng chấp bút viết một bài về tôi, về Mấy Dặm Sơn Khê chẳng hạn. Đọc bài về Anh Bằng, tôi quan tâm đoạn tác giả tả về đời sống phong lưu của NS Anh Bằng, giàu có bằng tài năng và chuyên cần do tự mình tạo ra. Tôi cho rằng bài viết rất chính xác. Trích đoạn anh Phạm Kim viết:
“Từ thập niên 1965-1975, với những ca khúc top hit như: Nếu Vắng Anh, Giấc Ngủ Cô Đơn, và khi sang đến hàng loạt sáng tác như Chuyện Tình Lan Và Điệp 1, 2, 3… ra đời cùng với các nhạc phẩm khác của Sóng Nhạc, lúc ấy Nhạc Sĩ Anh Bằng đã là người nhạc sĩ sống rất phong lưu, bằng tài và chuyên cần, tự mình tạo ra; đi lại bằng xe Toyota tư nhân mới, tiền bạc vô nhiều không kể, không nhạc sĩ sáng tác hoặc nhà văn có tác phẩm nào có thể giầu bằng”. (Hết trích) Bài viết Phạm Kim: Nhạc sĩ Anh Bằng - Một Đời Cho Âm Nhạc, Nhìn lại sau hơn 50 năm sáng tác. Wednesday, April 3rd, 2013.http://www.nvnorthwest.com/category/arts/
Tôi là người trong cuộc, sống cùng thời, xác nhận thực tế đúng trăm phần trăm. Đó cũng là điển hình chung về đời sống vô cùng phong phú của lớp nghệ sĩ tài ba ở Miền Nam dưới chế độ Cộng Hòa. Thời gian này, Anh Bằng và nhóm Lê Minh Bằng có hợp tác với hãng đĩa Continental và Sơn Ca của tôi. Những hợp đồng của nhóm Lê Minh Bằng ký với hãng đĩa của tôi có giá trị hằng mấy trăm lượng vàng và nhiều hợp đồng như vậy trong suốt thời gian dài ở thập niên 1965-1975 như tác giả Phạm Kim có nêu ra ở trích đoạn trên. Qua những biến thiên, vật đổi sao dời, tôi vẫn còn giử được vài hợp đồng kỷ niệm về nhóm Lê Minh Bằng và những nhạc phẩm của nhóm trên list nhạc của hãng đĩa tôi. Bằng tài năng và công sức đóng góp, Anh Bằng và nhóm Lê Minh Bằng được hãng đĩa đền công tương xứng và có cuộc sống sung túc giàu sang là điều dể hiểu. Tôi hãnh diện có thời gian sát cánh cùng với các bạn này và làm nên điều kỳ diệu mang lại đời sống vật chất sung túc. Tôi chỉ tiếc, đúng ra là tủi thân, vì trong suốt bài viết về cuộc đời sự nghiệp Anh Bằng cùng nhóm Lê Minh Bằng, không có chút kỷ niệm nào dành cho thời gian cộng tác với hãng Continental và Sơn Ca của tôi, trong khi đồng nghiệp Sóng Nhạc thì lại được nhằc nhở trân trọng bằng những lời có cánh. Tác giả Phạm Kim có thấy tôi đòi hỏi quá đáng không, để sau này tác giả cũng viết “bù lỗ” cho hãng đĩa tôi thôi. Tôi vừa kể chuyện văn nghệ tất niên cho quý anh vui. Tôi cũng đã cung cấp tài liệu “Mấy Dặm Sơn Khê” cho anh rồi. Tôi yên tâm ăn tết.
Bạn (Tù cải tạo) Suối Máu của quý anh.
NGUYỄN VĂN ĐÔNG - Sài Gòn tháng 1-2014
Nguồn: http://nvnorthwest.com/2...nhac-si-nguyen-van-dong/
Chiều Mưa Biên Giới
Nguyễn Văn Đông
Chiều mưa biên giới - Nguyễn văn Đông - YouTube
Chiều mưa biên giới anh đi về đâu
Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu
Kìa rừng chiều âm rét mướt
Chờ người về vui trong giá buốt
Người về bơ vơ
Tình anh theo đám mây trôi chiều hoang
Trăng còn khuyết mấy hoa không tàn
Cờ về chiều tung bay phất phới
Gợi lòng này thương thương nhớ nhớ
Bầu trời xanh lơ
Đêm đêm chiếc bóng bên trời
Vầng trăng xẻ đôi vẫn in hình bóng một người
Xa xôi cánh chim tung trời
Một vùng mây nước cho lòng ai thương nhớ ai
Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay
Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng
Đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng
Người tìm về trong hơi áo ấm
Gợi niềm xa xăm
Người đi khu chiến thương người hậu phương
Thương màu áo gởi ra sa trường
Lòng trần còn tơ vương khanh tướng
Thì đường trần mưa bay gió cuốn
Còn nhiều anh ơi
Nguyễn Văn Đông
Chiều mưa biên giới - Nguyễn văn Đông - YouTube
Chiều mưa biên giới anh đi về đâu
Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu
Kìa rừng chiều âm rét mướt
Chờ người về vui trong giá buốt
Người về bơ vơ
Tình anh theo đám mây trôi chiều hoang
Trăng còn khuyết mấy hoa không tàn
Cờ về chiều tung bay phất phới
Gợi lòng này thương thương nhớ nhớ
Bầu trời xanh lơ
Đêm đêm chiếc bóng bên trời
Vầng trăng xẻ đôi vẫn in hình bóng một người
Xa xôi cánh chim tung trời
Một vùng mây nước cho lòng ai thương nhớ ai
Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay
Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng
Đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng
Người tìm về trong hơi áo ấm
Gợi niềm xa xăm
Người đi khu chiến thương người hậu phương
Thương màu áo gởi ra sa trường
Lòng trần còn tơ vương khanh tướng
Thì đường trần mưa bay gió cuốn
Còn nhiều anh ơi
Về Mái Nhà Xưa
Nguyễn Văn Đông
Lưu Bích - Về Mái Nhà Xưa (Nguyễn Văn Đông) PBN 49 - YouTube
Về đây ngơ ngác chim bay tìm đàn
Về đây hoang vắng lạnh buốt cung đàn
Tôi lắng nghe tâm tình nhân thế
Qua đáy tim chưa đục sông Mê
Qua ước mơ duyên tình đơn sơ
Về đây đâu phút vui xưa sum vầy
Thềm hoang thêu nắng phượng thắm rơi đầy
Anh có nghe trong lòng thu chết
Bao lá khô phai nhạt hương đêm
Tan tác bay phiêu bạt dưới trời quên
Nơi xưa quê nghèo nhà tranh nát tiêu điều
Tình xưa không hàng gắn
Người đã xa rồi người về đâu có hay
Đâu vòng tay đắm say
Về đây mây nước đêm thâu lạnh lùng
Vườn dâu thưa lá ngại nói tương phùng
Em ái yêu trong chiều đông gió
Mang áo xanh theo chồng sang sông
Quên mái tranh quên con đò xưa
Nguyễn Văn Đông
Lưu Bích - Về Mái Nhà Xưa (Nguyễn Văn Đông) PBN 49 - YouTube
Về đây ngơ ngác chim bay tìm đàn
Về đây hoang vắng lạnh buốt cung đàn
Tôi lắng nghe tâm tình nhân thế
Qua đáy tim chưa đục sông Mê
Qua ước mơ duyên tình đơn sơ
Về đây đâu phút vui xưa sum vầy
Thềm hoang thêu nắng phượng thắm rơi đầy
Anh có nghe trong lòng thu chết
Bao lá khô phai nhạt hương đêm
Tan tác bay phiêu bạt dưới trời quên
Nơi xưa quê nghèo nhà tranh nát tiêu điều
Tình xưa không hàng gắn
Người đã xa rồi người về đâu có hay
Đâu vòng tay đắm say
Về đây mây nước đêm thâu lạnh lùng
Vườn dâu thưa lá ngại nói tương phùng
Em ái yêu trong chiều đông gió
Mang áo xanh theo chồng sang sông
Quên mái tranh quên con đò xưa
Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người
Chạnh lòng tôi khơi bao niềm nhớ
Người nơi xa xăm phương trời ấy
Người còn buồn còn thương còn nhớ
Nắng phai rồi em ơi
Chiều xuân có một người ngơ ngác đi tìm
Một tình thương nơi phương trời cũ
Chiều nay hoa xuân bay nhiều quá
Chiều tàn dần phai trên ngàn lá
Tìm đâu bóng hình ai
Người về còn nhớ khúc hát
Người yêu dấu bên bờ thành Vienne
Lòng này còn quyến luyến mãi
Đêm xuân dài mà đâu có hay
Chiều nay có một loài hoa vỡ bên trời
Đợi mùa xuân sang tô màu nhớ
Dừng chân trông hoa xuân hồng thắm
Buồn tìm về tình ai đằm thắm
Giờ vun vút trời mây
Chạnh lòng tôi khơi bao niềm nhớ
Người nơi xa xăm phương trời ấy
Người còn buồn còn thương còn nhớ
Nắng phai rồi em ơi
Chiều xuân có một người ngơ ngác đi tìm
Một tình thương nơi phương trời cũ
Chiều nay hoa xuân bay nhiều quá
Chiều tàn dần phai trên ngàn lá
Tìm đâu bóng hình ai
Người về còn nhớ khúc hát
Người yêu dấu bên bờ thành Vienne
Lòng này còn quyến luyến mãi
Đêm xuân dài mà đâu có hay
Chiều nay có một loài hoa vỡ bên trời
Đợi mùa xuân sang tô màu nhớ
Dừng chân trông hoa xuân hồng thắm
Buồn tìm về tình ai đằm thắm
Giờ vun vút trời mây
Khúc Tình
Ca Hàng Hàng Lớp Lớp
Nguyễn Văn Đông
Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp - Thanh Tuyền & Thanh Phong
Nguyễn Văn Đông
Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp - Thanh Tuyền & Thanh Phong
Còn đây giây phút này
Còn nghe tiếng hát nụ cười xinh tươi
Còn trông ánh mắt còn cầm tay nhau
Ngày mai xa cách nhau
Một người gối chiếc cô phòng
Còn người góc núi ven rừng
Chân mây đầu gió
Còn đây đêm cuối cùng
Nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha
Ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em
Người đi giúp núi sông
Hàng hàng lớp lớp chưa về
Hàng hàng nối tiếp câu thề
Dành lấy quê hương
Hỡi người anh thương chưa tròn thề ước
Nhưng tình đất nước
Đâu phải khi cho mình dệt mộng thắm kết uyên ương
Phương trời anh đi xa xôi vạn lý
Đêm nằm gói súng
Chung ánh trăng nhưng đôi đường ly cách
Trong tình thương
Và xin em hiểu rằng
Dù nơi chiến tuyến mịt mờ mưa bay
Lòng anh vẫn nhớ tình người hôm nay
Đường đi biên giới xa
Lòng này thách với tang bồng
Đừng làm má thắm phai hồng
Buồn lắm em ơi
Còn đây giây phút này
Còn nghe tiếng hát dập dìu bên hoa
Còn trông bóng dáng ngưới mình thương yêu
Ngày mai xa cách nhau
Một người góc núi chân đèo
Còn người gối chiếc cô phòng
Đêm đông một bóng
Còn đây đêm cuối này
Đàn ai réo rắc nhạc lòng chia ly
Sợ khi nước mắt buồn người ra đi
Đường mây chân núi xa
Dù ngàn nắng lửa mưa dầu
Lòng người nhất quyết không đầu
Dành lấy mai sau
Hỡi ngươi anh thương chưa tròn thề ước
Nhưng tình đất nước
Ôi lớn lao không đành lòng dệt mối thắm riêng tư
Phương trời anh đi xa xôi vạn lý
Đêm nằm gối súng
Chung ánh trăng cho người gợi nhớ
Thương người kia
Và xin em hiểu rằng
Người đi giúp nước nào màng danh chi
Cầu cho đất nước vượt ngàn gian nguy
Đời dâng cho núi sông
Lòng này thách với tang bồng
Đừng sầu má ấy phai hồng
Buồn lắm em ơi
Còn nghe tiếng hát nụ cười xinh tươi
Còn trông ánh mắt còn cầm tay nhau
Ngày mai xa cách nhau
Một người gối chiếc cô phòng
Còn người góc núi ven rừng
Chân mây đầu gió
Còn đây đêm cuối cùng
Nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha
Ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em
Người đi giúp núi sông
Hàng hàng lớp lớp chưa về
Hàng hàng nối tiếp câu thề
Dành lấy quê hương
Hỡi người anh thương chưa tròn thề ước
Nhưng tình đất nước
Đâu phải khi cho mình dệt mộng thắm kết uyên ương
Phương trời anh đi xa xôi vạn lý
Đêm nằm gói súng
Chung ánh trăng nhưng đôi đường ly cách
Trong tình thương
Và xin em hiểu rằng
Dù nơi chiến tuyến mịt mờ mưa bay
Lòng anh vẫn nhớ tình người hôm nay
Đường đi biên giới xa
Lòng này thách với tang bồng
Đừng làm má thắm phai hồng
Buồn lắm em ơi
Còn đây giây phút này
Còn nghe tiếng hát dập dìu bên hoa
Còn trông bóng dáng ngưới mình thương yêu
Ngày mai xa cách nhau
Một người góc núi chân đèo
Còn người gối chiếc cô phòng
Đêm đông một bóng
Còn đây đêm cuối này
Đàn ai réo rắc nhạc lòng chia ly
Sợ khi nước mắt buồn người ra đi
Đường mây chân núi xa
Dù ngàn nắng lửa mưa dầu
Lòng người nhất quyết không đầu
Dành lấy mai sau
Hỡi ngươi anh thương chưa tròn thề ước
Nhưng tình đất nước
Ôi lớn lao không đành lòng dệt mối thắm riêng tư
Phương trời anh đi xa xôi vạn lý
Đêm nằm gối súng
Chung ánh trăng cho người gợi nhớ
Thương người kia
Và xin em hiểu rằng
Người đi giúp nước nào màng danh chi
Cầu cho đất nước vượt ngàn gian nguy
Đời dâng cho núi sông
Lòng này thách với tang bồng
Đừng sầu má ấy phai hồng
Buồn lắm em ơi
Một mùa thương kết muôn hoa lòng
Người về đây nối câu tâm đồng
Về cho thấy xuân nồng áo em
Cho tình xưa thôi cách xa
Về chung mái nhà lá
Người về đây giữa non sông này
Hội trùng dương hát câu sum vầy
Về cho thấy con thuyền nước Nam
Đi vào mùa xuân mới sang
Xa rồi ngày ấy ly tan
Tôi đi giữa trời bồi hồi
Cờ bay phất phới quên chuyện ngày xưa
Mong sao nước Việt đời đời
Anh dũng oai hùng chen chân thế giới
Mặc thời gian tóc pha đôi màu
Mặc đại dương sóng to mưa gào
Đàn chim bé trong làn chớp xanh
Yêu trời tự do Á Đông
Thương về đồi núi xa xa
Người về đây nối câu tâm đồng
Về cho thấy xuân nồng áo em
Cho tình xưa thôi cách xa
Về chung mái nhà lá
Người về đây giữa non sông này
Hội trùng dương hát câu sum vầy
Về cho thấy con thuyền nước Nam
Đi vào mùa xuân mới sang
Xa rồi ngày ấy ly tan
Tôi đi giữa trời bồi hồi
Cờ bay phất phới quên chuyện ngày xưa
Mong sao nước Việt đời đời
Anh dũng oai hùng chen chân thế giới
Mặc thời gian tóc pha đôi màu
Mặc đại dương sóng to mưa gào
Đàn chim bé trong làn chớp xanh
Yêu trời tự do Á Đông
Thương về đồi núi xa xa
Hoa phượng rơi đón mùa Thu tới
Màu lưu luyến nhớ quá Thu ơi
Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi
Xác tươi màu pháo vui
Tiễn em chiều năm ấy
Xưa từ khu chiến về thăm xóm
Ngàn xác pháo lấp lánh sao hôm
Chiều hành quân nay qua lối xưa
Giữa một chiều gió mưa
Xác hoa hồng mênh mông
Đời tôi quân nhân
Chút tình riêng gửi núi sông
Yêu màu gợi niềm thủy chung
Nhưng rồi vẫn nhớ
Một trời vẫn nhớ đời đời
Phương rơi rơi trong lòng tôi
Thu vừa sang sắc hồng tô lối
Tình Thu thắm thiết quá Thu ơi
Nhìn màu hoa xưa tan tác rơi
Nhớ muôn vạn nhớ ơi
Hát trong màu hoa nhớ
Tôi lại đi giữa trời sương gió
Màu hoa thắm vẫn sống trong tôi
Chiều Thu sau không qua lối xưa
Để nhìn trời gió mưa
Xác hoa hồng mênh mông
Màu lưu luyến nhớ quá Thu ơi
Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi
Xác tươi màu pháo vui
Tiễn em chiều năm ấy
Xưa từ khu chiến về thăm xóm
Ngàn xác pháo lấp lánh sao hôm
Chiều hành quân nay qua lối xưa
Giữa một chiều gió mưa
Xác hoa hồng mênh mông
Đời tôi quân nhân
Chút tình riêng gửi núi sông
Yêu màu gợi niềm thủy chung
Nhưng rồi vẫn nhớ
Một trời vẫn nhớ đời đời
Phương rơi rơi trong lòng tôi
Thu vừa sang sắc hồng tô lối
Tình Thu thắm thiết quá Thu ơi
Nhìn màu hoa xưa tan tác rơi
Nhớ muôn vạn nhớ ơi
Hát trong màu hoa nhớ
Tôi lại đi giữa trời sương gió
Màu hoa thắm vẫn sống trong tôi
Chiều Thu sau không qua lối xưa
Để nhìn trời gió mưa
Xác hoa hồng mênh mông
Phiên Gác Đêm Xuân
Nguyễn Văn Đông
PHIÊN GÁC ĐÊM XUÂN - Nguyễn Văn Đông - Elvis Phương - YouTube
Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
Ngỡ rằng pháo tung bay
Ngờ đâu hoa lá rơi
Bấy nhiêu tình là bao nước sông
Trời thương nhớ cũng vương mây hồng
Trách chi người đem thân giúp nước
Đôi lần nhớ bâng khuâng
Gượng cười hái hoa xuân
Ngồi ngắm mấy nốc chòi canh
Mơ rằng đây mái nhà tranh
Mà ước chiếc bánh ngày xuân
Cùng hương khói vương niềm thương
Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu
Vì mơ ước trắng như mây chiều
Tủi duyên người năm năm tháng tháng
Mong chờ ánh xuân sang
Ngờ đâu đêm cứ đi
Chốn biên thùy này xuân tới chi
Tình lính chiến khác chi bao người
Nếu xuân về tang thương khắp lối
Thương này khó cho vơi
Thì đừng đến xuân ơi
Nguyễn Văn Đông
PHIÊN GÁC ĐÊM XUÂN - Nguyễn Văn Đông - Elvis Phương - YouTube
Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
Ngỡ rằng pháo tung bay
Ngờ đâu hoa lá rơi
Bấy nhiêu tình là bao nước sông
Trời thương nhớ cũng vương mây hồng
Trách chi người đem thân giúp nước
Đôi lần nhớ bâng khuâng
Gượng cười hái hoa xuân
Ngồi ngắm mấy nốc chòi canh
Mơ rằng đây mái nhà tranh
Mà ước chiếc bánh ngày xuân
Cùng hương khói vương niềm thương
Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu
Vì mơ ước trắng như mây chiều
Tủi duyên người năm năm tháng tháng
Mong chờ ánh xuân sang
Ngờ đâu đêm cứ đi
Chốn biên thùy này xuân tới chi
Tình lính chiến khác chi bao người
Nếu xuân về tang thương khắp lối
Thương này khó cho vơi
Thì đừng đến xuân ơi
Thu Hoài Cảm
Nguyễn Văn Đông
Thu Hoài Cảm - Thanh Lan - NhacCuaTui
Hiu hắt sương thu pha màu lá
U ám chân mây phương trời xa
Lòng ta chạnh nhớ tới thu nào
Kết lá đếm sao chia cùng nhau
Trông lá thu rơi trên thềm cũ
Héo hắt tim ta thu lại thu
Hồn ta lạc lối giữa u sầu
Ngỡ tiếng bước ai nhẹ gót về
Thu sang sầu trinh nữ duyên bẽ bàng
Bâng khuâng tình cô lữ quán bên sông
Vì đâu mưa ngâu từ muôn kiếp
Gieo nỗi sầu đời đời chuyện trái ngang
Nơi ấy xa xăm phương trời thắm
Ai có nhớ ai khi mùa sang
Còn ta ngồi xếp lá thu tàn
Đếm mãi nhớ thương sầu lỡ làng.
Nguyễn Văn Đông
Thu Hoài Cảm - Thanh Lan - NhacCuaTui
Hiu hắt sương thu pha màu lá
U ám chân mây phương trời xa
Lòng ta chạnh nhớ tới thu nào
Kết lá đếm sao chia cùng nhau
Trông lá thu rơi trên thềm cũ
Héo hắt tim ta thu lại thu
Hồn ta lạc lối giữa u sầu
Ngỡ tiếng bước ai nhẹ gót về
Thu sang sầu trinh nữ duyên bẽ bàng
Bâng khuâng tình cô lữ quán bên sông
Vì đâu mưa ngâu từ muôn kiếp
Gieo nỗi sầu đời đời chuyện trái ngang
Nơi ấy xa xăm phương trời thắm
Ai có nhớ ai khi mùa sang
Còn ta ngồi xếp lá thu tàn
Đếm mãi nhớ thương sầu lỡ làng.
Mùa Sao Sáng
Nguyễn Văn Đông
Mùa Sao Sáng... Nguyễn Văn Đông sáng tác, Khánh Ly trình bày
Một mùa sao sáng đêm noel Chúa sinh ra đời
Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui
Quỳ lạy Mẹ Maria lòng Mẹ từ bi bao la
Tấu khúc nhạc lên xin ơn trên ban cho nhà Nam
Từ mùa đông trước qua mùa đông tiếp theo sau này
Người bạn còn đi mà niềm tin vẫn thắm trên môi
Giặc tràn về quê hương tôi giặc diệt niềm tin Ki Tô
Lớp lớp đàn Chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao
Đêm nay tôi nhớ người chưa trở lại
Chênh chếch mùa sao lạc loài
Ôi những mùa sao lẻ đôi
Cho tôi thương nhớ mùa sao ngày nào
Thương những mùa sao Hồng Đào
Ôi những mùa sao cách xa
1. Một mùa đông giá hang Bê-lem Chúa sinh ra đời
Một trời đầy sao nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao
Lạy Mẹ Sầu Bi ban ơn người Việt cùng thương nhau hơn
Đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao
2. Một mùa sao sáng ôi mùa sao chói chan muôn đời
Vạn lời truyền rao nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao
Lạy Mẹ Đồng Trinh ban ơn người Việt cùng thương nhau hơn
Đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao
Nguyễn Văn Đông
Mùa Sao Sáng... Nguyễn Văn Đông sáng tác, Khánh Ly trình bày
Một mùa sao sáng đêm noel Chúa sinh ra đời
Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui
Quỳ lạy Mẹ Maria lòng Mẹ từ bi bao la
Tấu khúc nhạc lên xin ơn trên ban cho nhà Nam
Từ mùa đông trước qua mùa đông tiếp theo sau này
Người bạn còn đi mà niềm tin vẫn thắm trên môi
Giặc tràn về quê hương tôi giặc diệt niềm tin Ki Tô
Lớp lớp đàn Chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao
Đêm nay tôi nhớ người chưa trở lại
Chênh chếch mùa sao lạc loài
Ôi những mùa sao lẻ đôi
Cho tôi thương nhớ mùa sao ngày nào
Thương những mùa sao Hồng Đào
Ôi những mùa sao cách xa
1. Một mùa đông giá hang Bê-lem Chúa sinh ra đời
Một trời đầy sao nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao
Lạy Mẹ Sầu Bi ban ơn người Việt cùng thương nhau hơn
Đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao
2. Một mùa sao sáng ôi mùa sao chói chan muôn đời
Vạn lời truyền rao nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao
Lạy Mẹ Đồng Trinh ban ơn người Việt cùng thương nhau hơn
Đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao
Chúng ta có thể nói mà, không sợ sai lắm rằng, dân tộc nào cũng có cho riêng mình, một bài “Chiêu hồn tử sĩ.” Tử sĩ, những người lính trải qua nhiều thời kỳ, chết cho quê hương, tổ quốc họ. Do đó, ngay cả thời bình, hình ảnh người lính cũng xuất hiện rất thường, trong thi ca và, trong âm nhạc. Huống hồ chi, nếu đất nước đó, lại là một đất nước chìm, đắm triền miên trong chiến tranh.
Chân dung người lính, nói một cách đơn giản; hoặc còn được gọi một cách văn vẻ là “chinh phu,” “chinh nhân” hoặc, “chiến sĩ”… được mô tả như thế nào (?) ra sao (?) thì, chúng tùy thuộc cảm quan từng tác giả. Chúng không nhất thiết phải giống nhau, hay chỉ có một diện mạo. Thí dụ nhạc sĩ Lê Thương, người đã cống hiến cho nền tân nhạc Việt Nam, một trường ca bất tử: Trường ca “Hòn vọng phu.”
Với trường ca này, chính họ Lê cho biết, được gợi hứng từ tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của bà Đoàn Thị Điểm. Nên, người lính trong “Hòn vọng phu” của Lê Thương là một “chinh phu.”
Ở một số nhạc phẩm của nhiều nhạc sĩ khác, thì người lính trong ca khúc của họ, lại được gọi một cách dung dị, là “binh sĩ.” Thí dụ hình ảnh người lính trong ca khúc “Ly rượu mừng” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Một ca khúc như viên ngọc quý, càng ngày càng “lên nước” với thời gian. Trong ca khúc mà chúng ta thường được nghe trong mỗi độ xuân về, họ Phạm cũng đã dành một vị trí trân trọng cho người lính, qua câu nhạc:“… Rót thêm tràn đầy chén quan san/ chúc người binh sĩ lên đàng/ chiến đấu công thành/ sáng cuộc đời lành/ mừng người vì Nước quên thân mình.” (1)
Một trong những bất hạnh lớn của dân tộc và, đất nước Việt Nam là thường xuyên chìm, đắm trong chiến tranh, ly tán! Vì thế, hầu như nhạc sĩ nào của 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam, ít hay nhiều, cũng đã ghi nhận hình ảnh người lính. Hình ảnh ấy có thể thấp thoáng hoặc, rõ nét. Đích danh.
Vì vai trò của người lính ở đâu, giai đoạn nào, cũng vẫn là cái nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ quê hương, bảo vệ nòi giống; nên chân dung người lính thường được mô tả một cách hào hùng, lẫm liệt như hình ảnh người lính trong ca khúc “Biệt kinh kỳ” (nhạc Minh Kỳ, lời Hoài Linh): “Bạn ơi! Khi nào ai hỏi đến tên tôi/ đời tôi lính chiến cánh chim tung trời/ ngày nào khi đất nước hết binh đao/ giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu/ trở về thành đô nắm tay ta mừng nhau.”
Hoặc lãng mạn, mang tính biểu tượng cực tả, như hình ảnh người lính, trở thành thương binh, trong ca khúc “Ngày trở về” của Phạm Duy: “Ngày trở về có anh nông phu chống nạng cầy bừa / vì thương yêu anh nên ngày trở về / có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ…”
Ở một cực khác, cực đối nghịch, cũng với Phạm Duy, trong ca khúc “Kỷ vật cho em” (thơ Linh Phương) thì, chân dung người lính lại là:
“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại/ xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về/ anh trở về có thể bằng chiến thắng Pleime/ hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã/ anh trở về, anh trở về hàng cây nghiêng ngả/ anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa/ anh trở về trên chiếc băng ca/ trên trực thăng sơn màu tang trắng/.../ Anh trở về chiều hoang trốn nắng/ Poncho buồn liệm kín hồn anh/ anh trở về bờ tóc em xanh/ chít khăn sô lên đầu vội vã… em ơi!”
Trong 20 năm tân nhạc miền Nam, Việt Nam, Nguyễn Văn Đông cũng là một nhạc sĩ nổi tiếng không chỉ với một hai ca khúc viết về người lính mà, với hầu hết những ca khúc ông viết về đề tài này.
Những ca khúc làm thành tên tuổi ông như ca khúc “Phiên gác đêm xuân,” ông sáng tác đêm giao thừa 1956, khi đang đóng quân ở khu 9, Đồng Tháp Mười. Hai ca khúc nổi tiếng khác của họ Nguyễn cũng được ra đời sau đó, là ca khúc “Chiều mưa biên giới,” khi ông đóng quân gần biến giới Việt - Miên và “Mấy dặm sơn khê,” khi đồn trú ở vùng cao nguyên trung phần.
Nhưng chân dung hay, hình ảnh người lính trong các ca khúc vừa kể của Nguyễn Văn Đông, tuy cũng đậm tính thơ mộng… Nhưng đó là cái thơ mộng dung dị, nhân bản, gần với đa số, với đám đông, những người lính vô danh.
Ông không vẽ chân dung người lính của ông bằng hình ảnh hào hùng lẫm liệt, như hai nhạc sĩ Minh Kỳ và Hoài Linh. Người lính trong ca khúc của Nguyễn Văn Đông có thể đi ở hàng… cuối chót, của đoàn quân chiến thắng trở về thủ đô - Thậm chí, họ cũng có thể vắng mặt trong những cuộc duyệt binh, mừng thắng trận; khi ông viết: “Đón giao thừa một phiên gác đêm/ chào xuân đến súng xa vang rền/ xác hoa tàn rơi trên báng súng/ ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi/…? Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu/ vì mơ ước trắng như mây chiều/ tủi duyên người năm năm tháng tháng/ mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi/ Chốn biên thuỳ này xuân tới chi?/ tình lính chiến khác chi bao người/ nếu xuân về tang thương khắp lối/ thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi! (Trích “Phiên gác đêm xuân.”)
Ông cũng không khẳng định người lính của ông phải là người tạo được những chiến thắng lẫy lừng, như chiến thắng Pleime, Đức Cơ… mà, chỉ là những cá nhân bình thường, với những tâm tình, những khát khao, nhớ thương đời thường: “Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay/ Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng/ đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng/ người tìm về trong hơi áo âm/ gợi niềm xa xăm/ Người đi khu chiến thương người hậu phương/ thương màu áo gửi ra sa trường/ lòng trần còn tơ vương khanh tướng/ thì đường trần còn mưa bay gió cuốn/ còn nhiều anh ơi!” (Trích “Chiều mưa biên giới.”)
Ông cũng không quả quyết rằng, người lính của ông sẽ trở về bằng một chiếc quan tài có “cài hoa.” Mà, chân dung người lính trong nhạc Nguyễn Văn Đông là một chân dung bình dị, không quá đặc biệt. Không ngoại lệ. Đó là một con người như bất cứ một con người nào thuộc về đám đông. Vì ngoài bổn phận người lính, thì trong thẩm sâu của tâm hồn người lính, vẫn là một con người (như mọi người,) với cá tính, rung động, cảm nhận chân thật khi đối đầu, cọ sát với thực tế và vận mệnh chung của dân tộc: “Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng/ ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê/ non nước ơi, hồn thiêng của núi sông/ kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa/ Bao ước mơ giữa khung trời phiêu lãng/ chờ mùa xuân tươi sáng, nhưng mùa thắm chưa sang/ anh đến đây rồi anh như bóng mây/ chốn phương trời ấm lạnh, hòa chung mái nhà tranh/ Anh như làn gió, ham ngược xuôi theo đường mây/ tóc tơi bời lộng gió bốn phương/ nước non còn đó, một tấc lòng/ không mờ xoá cùng năm tháng/ mấy ai ra đi hẹn về/ dệt nốt tơ duyên…” (Trích “Mấy dặm sơn khê.”)
Giải thích về hình ảnh người lính trong âm nhạc của mình, một người lính bình thường, đầy nhân bản, tác giả “Phiên gác đêm xuân” cho biết:
Ra trường cấp Thiếu úy, ông được tung ngay vào đơn vị tác chiến. Khi là Đại đội trưởng của Tiểu Đoàn khinh binh 68, ông cùng Tiểu đoàn hành quân suốt chiều dài Nam bộ từ Miền Đông sang Miền Tây. Quần thảo với địch từ Cà Mau, Năm Căn, U Minh lầy lội nắng cháy đến vùng đồi núi chập chùng Thất sơn vùng bảy núi hiểm yếu, Châu Đốc đến Hà Tiên… ông cùng đồng đội đã lao mình trong lửa đạn, trải qua những trận đánh ác liệt vô cùng tàn nhẫn. Ông chứng kiến tận mắt, sự hy sinh, mất mát của đồng đội! Trước những cái chết thật thê thảm bất ngờ ấy, ông có cái nhìn thực tế, rất riêng về lính trong tác phẩm của mình. Nó rất khác với các nhạc sĩ viết cùng đề tài này.
Lại nữa, khi còn là Tiểu Đoàn Trưởng Trọng Pháo 553 yểm trợ cho đơn vị bạn hành quân, ông phải chứng kiến bao cảnh biển máu, thây phơi đầy trận địa do pháo dập từng hồi… ông không khỏi nao lòng trước những thân xác hấp hối, nhờ chuyển lời trăn trối đến người thân, người yêu!
“Tôi tự hỏi, trước những cái chết đau đớn, lặng lẽ của những người lính kia, không mấy người biết đến sự hy sinh thầm lặng họ?” Họ Nguyễn tâm sự.
Chưa hết, khi là Trưởng phòng hành quân của Chiến khu Đồng Tháp Mười, ông cùng đoàn trinh sát - thám báo xẻ dọc vùng Đồng Tháp Mười (nơi truyền tụng huyền thoại về giống “lúa ma” nuôi quân đánh giặc Pháp thời Thiên Hộ Vương vào thế kỷ 19.) Từ tuyến lửa Thông Bình Cái Cái, qua Gảy Cờ Đen đến trận đánh Ấp Bắc lừng danh thế giới, vùng Tam Giác Sắc máu lửa, đâu đâu ông cũng thấy máu người lính ngã xuống ở tuổi thanh xuân, đỏ đất, đỏ rạch!
Rồi ông hồi tưởng đến những giờ phút đăng quang, có diễn binh long trọng; có vòng hoa chiến thắng; có huy chương, có kèn trống… Nhưng với ông, đó chỉ là những hào quang phù phiếm đối trước sự hy sinh mạng sống của những người lính đã nằm xuống nơi chiến địa mà thôi…
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, một người gắn bó với sinh hoạt âm nhạc tự những năm giữa thập niên 1950, khi ông còn rất nhỏ, cho biết, người đầu tiên trình bày ca khúc “Chiều mưa biên giới” của Nguyễn văn Đông là ca, nhạc sĩ Trần Văn Trạch. Họ Trần mang ca khúc này qua Pháp trình diễn. Khi trở về Saigòn, vào đầu năm 1960, tại rạp Hưng Đạo, cùng với nữ ca sĩ Thái Thanh, ông đã trình bày ca khúc ấy với ban Đại Hòa Tấu do nhạc trưởng Nghiêm Phú Phi điều khiển.
Bên cạnh đó, theo một bản tin được phổ biến trên trang mạng Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia thì, sau khi hai ca khúc “Chiều mưa biên giới” và “Mấy dặm sơn khê” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông được bằng hữu trong giới, trân trọng giới thiệu với quần chúng, tác giả đã gặp nhiều khó khăn từ Bộ Thông Tin Saigòn… Cụ thể, năm 1961, bộ này đã ra quyết định cấm phổ biến hai ca khúc vừa kể với lý do: Nội dung “phản chiến!” Có thể đưa tới sự sa sút tinh thần của những người lính trấn đóng ở những vùng hẻo lánh, núi non, biên giới…
Hôm nay, nhìn lại, người ta thấy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông không chỉ cho những người yêu nhạc của ông, một chân dung khác về người lính miền Nam Việt Nam, 20 năm. Mà, ở nhiều ca khúc còn lại, ông vẫn trung thành với cảm nhận rất nhân bản, rất con người của mình. Dù cho hình ảnh hay, chân dung của người lính, trong ca khúc của họ Nguyễn, không được chính quyền thời đó, chấp nhận.
Mặc dù họ Nguyễn tình nguyện hiến cuộc đời mình cho quân đội khi ông còn rất trẻ; nhưng bên cạnh tư cách một người lính, ông còn là một nhạc sĩ. Trong vai trò này, ông lại là nhạc sĩ miền Nam, được thế giới biết đến tên tuổi rất sớm.
Điển hình là sự kiện ngay từ năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã được đài Europe No. 1 và đài Truyền hình Pháp thu âm, rồi thu hình ca khúc “Chiều mưa biên giới” của ông, gây tiếng vang lớn ở Âu châu. “Biến động” này đã tạo sức dội ngược về Việt Nam, khiến chỉ trong vòng 3 tháng, nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam của nhạc sĩ Lê Mộng Bảo, đã bán hết 60,000 bản nhạc lẻ, phá kỷ lục số ấn bản lớn nhất từ xưa, ở thời điểm đó. Âm vang của ca khúc “Chiều mưa biên giới” lại được khuếch tán thêm nữa, khi cũng trong năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch, lần đầu tiên, trình bày ca khúc ấy tại “Đại nhạc hội Trăm Hoa Miền Nam” với dàn nhạc của Đài Truyền Hình Pháp, thu “play back.” (2)
Chân dung người lính, nói một cách đơn giản; hoặc còn được gọi một cách văn vẻ là “chinh phu,” “chinh nhân” hoặc, “chiến sĩ”… được mô tả như thế nào (?) ra sao (?) thì, chúng tùy thuộc cảm quan từng tác giả. Chúng không nhất thiết phải giống nhau, hay chỉ có một diện mạo. Thí dụ nhạc sĩ Lê Thương, người đã cống hiến cho nền tân nhạc Việt Nam, một trường ca bất tử: Trường ca “Hòn vọng phu.”
Với trường ca này, chính họ Lê cho biết, được gợi hứng từ tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của bà Đoàn Thị Điểm. Nên, người lính trong “Hòn vọng phu” của Lê Thương là một “chinh phu.”
Ở một số nhạc phẩm của nhiều nhạc sĩ khác, thì người lính trong ca khúc của họ, lại được gọi một cách dung dị, là “binh sĩ.” Thí dụ hình ảnh người lính trong ca khúc “Ly rượu mừng” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Một ca khúc như viên ngọc quý, càng ngày càng “lên nước” với thời gian. Trong ca khúc mà chúng ta thường được nghe trong mỗi độ xuân về, họ Phạm cũng đã dành một vị trí trân trọng cho người lính, qua câu nhạc:“… Rót thêm tràn đầy chén quan san/ chúc người binh sĩ lên đàng/ chiến đấu công thành/ sáng cuộc đời lành/ mừng người vì Nước quên thân mình.” (1)
Một trong những bất hạnh lớn của dân tộc và, đất nước Việt Nam là thường xuyên chìm, đắm trong chiến tranh, ly tán! Vì thế, hầu như nhạc sĩ nào của 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam, ít hay nhiều, cũng đã ghi nhận hình ảnh người lính. Hình ảnh ấy có thể thấp thoáng hoặc, rõ nét. Đích danh.
Vì vai trò của người lính ở đâu, giai đoạn nào, cũng vẫn là cái nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ quê hương, bảo vệ nòi giống; nên chân dung người lính thường được mô tả một cách hào hùng, lẫm liệt như hình ảnh người lính trong ca khúc “Biệt kinh kỳ” (nhạc Minh Kỳ, lời Hoài Linh): “Bạn ơi! Khi nào ai hỏi đến tên tôi/ đời tôi lính chiến cánh chim tung trời/ ngày nào khi đất nước hết binh đao/ giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu/ trở về thành đô nắm tay ta mừng nhau.”
Hoặc lãng mạn, mang tính biểu tượng cực tả, như hình ảnh người lính, trở thành thương binh, trong ca khúc “Ngày trở về” của Phạm Duy: “Ngày trở về có anh nông phu chống nạng cầy bừa / vì thương yêu anh nên ngày trở về / có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ…”
Ở một cực khác, cực đối nghịch, cũng với Phạm Duy, trong ca khúc “Kỷ vật cho em” (thơ Linh Phương) thì, chân dung người lính lại là:
“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại/ xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về/ anh trở về có thể bằng chiến thắng Pleime/ hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã/ anh trở về, anh trở về hàng cây nghiêng ngả/ anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa/ anh trở về trên chiếc băng ca/ trên trực thăng sơn màu tang trắng/.../ Anh trở về chiều hoang trốn nắng/ Poncho buồn liệm kín hồn anh/ anh trở về bờ tóc em xanh/ chít khăn sô lên đầu vội vã… em ơi!”
Trong 20 năm tân nhạc miền Nam, Việt Nam, Nguyễn Văn Đông cũng là một nhạc sĩ nổi tiếng không chỉ với một hai ca khúc viết về người lính mà, với hầu hết những ca khúc ông viết về đề tài này.
Những ca khúc làm thành tên tuổi ông như ca khúc “Phiên gác đêm xuân,” ông sáng tác đêm giao thừa 1956, khi đang đóng quân ở khu 9, Đồng Tháp Mười. Hai ca khúc nổi tiếng khác của họ Nguyễn cũng được ra đời sau đó, là ca khúc “Chiều mưa biên giới,” khi ông đóng quân gần biến giới Việt - Miên và “Mấy dặm sơn khê,” khi đồn trú ở vùng cao nguyên trung phần.
Nhưng chân dung hay, hình ảnh người lính trong các ca khúc vừa kể của Nguyễn Văn Đông, tuy cũng đậm tính thơ mộng… Nhưng đó là cái thơ mộng dung dị, nhân bản, gần với đa số, với đám đông, những người lính vô danh.
Ông không vẽ chân dung người lính của ông bằng hình ảnh hào hùng lẫm liệt, như hai nhạc sĩ Minh Kỳ và Hoài Linh. Người lính trong ca khúc của Nguyễn Văn Đông có thể đi ở hàng… cuối chót, của đoàn quân chiến thắng trở về thủ đô - Thậm chí, họ cũng có thể vắng mặt trong những cuộc duyệt binh, mừng thắng trận; khi ông viết: “Đón giao thừa một phiên gác đêm/ chào xuân đến súng xa vang rền/ xác hoa tàn rơi trên báng súng/ ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi/…? Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu/ vì mơ ước trắng như mây chiều/ tủi duyên người năm năm tháng tháng/ mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi/ Chốn biên thuỳ này xuân tới chi?/ tình lính chiến khác chi bao người/ nếu xuân về tang thương khắp lối/ thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi! (Trích “Phiên gác đêm xuân.”)
Ông cũng không khẳng định người lính của ông phải là người tạo được những chiến thắng lẫy lừng, như chiến thắng Pleime, Đức Cơ… mà, chỉ là những cá nhân bình thường, với những tâm tình, những khát khao, nhớ thương đời thường: “Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay/ Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng/ đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng/ người tìm về trong hơi áo âm/ gợi niềm xa xăm/ Người đi khu chiến thương người hậu phương/ thương màu áo gửi ra sa trường/ lòng trần còn tơ vương khanh tướng/ thì đường trần còn mưa bay gió cuốn/ còn nhiều anh ơi!” (Trích “Chiều mưa biên giới.”)
Ông cũng không quả quyết rằng, người lính của ông sẽ trở về bằng một chiếc quan tài có “cài hoa.” Mà, chân dung người lính trong nhạc Nguyễn Văn Đông là một chân dung bình dị, không quá đặc biệt. Không ngoại lệ. Đó là một con người như bất cứ một con người nào thuộc về đám đông. Vì ngoài bổn phận người lính, thì trong thẩm sâu của tâm hồn người lính, vẫn là một con người (như mọi người,) với cá tính, rung động, cảm nhận chân thật khi đối đầu, cọ sát với thực tế và vận mệnh chung của dân tộc: “Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng/ ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê/ non nước ơi, hồn thiêng của núi sông/ kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa/ Bao ước mơ giữa khung trời phiêu lãng/ chờ mùa xuân tươi sáng, nhưng mùa thắm chưa sang/ anh đến đây rồi anh như bóng mây/ chốn phương trời ấm lạnh, hòa chung mái nhà tranh/ Anh như làn gió, ham ngược xuôi theo đường mây/ tóc tơi bời lộng gió bốn phương/ nước non còn đó, một tấc lòng/ không mờ xoá cùng năm tháng/ mấy ai ra đi hẹn về/ dệt nốt tơ duyên…” (Trích “Mấy dặm sơn khê.”)
Giải thích về hình ảnh người lính trong âm nhạc của mình, một người lính bình thường, đầy nhân bản, tác giả “Phiên gác đêm xuân” cho biết:
Ra trường cấp Thiếu úy, ông được tung ngay vào đơn vị tác chiến. Khi là Đại đội trưởng của Tiểu Đoàn khinh binh 68, ông cùng Tiểu đoàn hành quân suốt chiều dài Nam bộ từ Miền Đông sang Miền Tây. Quần thảo với địch từ Cà Mau, Năm Căn, U Minh lầy lội nắng cháy đến vùng đồi núi chập chùng Thất sơn vùng bảy núi hiểm yếu, Châu Đốc đến Hà Tiên… ông cùng đồng đội đã lao mình trong lửa đạn, trải qua những trận đánh ác liệt vô cùng tàn nhẫn. Ông chứng kiến tận mắt, sự hy sinh, mất mát của đồng đội! Trước những cái chết thật thê thảm bất ngờ ấy, ông có cái nhìn thực tế, rất riêng về lính trong tác phẩm của mình. Nó rất khác với các nhạc sĩ viết cùng đề tài này.
Lại nữa, khi còn là Tiểu Đoàn Trưởng Trọng Pháo 553 yểm trợ cho đơn vị bạn hành quân, ông phải chứng kiến bao cảnh biển máu, thây phơi đầy trận địa do pháo dập từng hồi… ông không khỏi nao lòng trước những thân xác hấp hối, nhờ chuyển lời trăn trối đến người thân, người yêu!
“Tôi tự hỏi, trước những cái chết đau đớn, lặng lẽ của những người lính kia, không mấy người biết đến sự hy sinh thầm lặng họ?” Họ Nguyễn tâm sự.
Chưa hết, khi là Trưởng phòng hành quân của Chiến khu Đồng Tháp Mười, ông cùng đoàn trinh sát - thám báo xẻ dọc vùng Đồng Tháp Mười (nơi truyền tụng huyền thoại về giống “lúa ma” nuôi quân đánh giặc Pháp thời Thiên Hộ Vương vào thế kỷ 19.) Từ tuyến lửa Thông Bình Cái Cái, qua Gảy Cờ Đen đến trận đánh Ấp Bắc lừng danh thế giới, vùng Tam Giác Sắc máu lửa, đâu đâu ông cũng thấy máu người lính ngã xuống ở tuổi thanh xuân, đỏ đất, đỏ rạch!
Rồi ông hồi tưởng đến những giờ phút đăng quang, có diễn binh long trọng; có vòng hoa chiến thắng; có huy chương, có kèn trống… Nhưng với ông, đó chỉ là những hào quang phù phiếm đối trước sự hy sinh mạng sống của những người lính đã nằm xuống nơi chiến địa mà thôi…
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, một người gắn bó với sinh hoạt âm nhạc tự những năm giữa thập niên 1950, khi ông còn rất nhỏ, cho biết, người đầu tiên trình bày ca khúc “Chiều mưa biên giới” của Nguyễn văn Đông là ca, nhạc sĩ Trần Văn Trạch. Họ Trần mang ca khúc này qua Pháp trình diễn. Khi trở về Saigòn, vào đầu năm 1960, tại rạp Hưng Đạo, cùng với nữ ca sĩ Thái Thanh, ông đã trình bày ca khúc ấy với ban Đại Hòa Tấu do nhạc trưởng Nghiêm Phú Phi điều khiển.
Bên cạnh đó, theo một bản tin được phổ biến trên trang mạng Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia thì, sau khi hai ca khúc “Chiều mưa biên giới” và “Mấy dặm sơn khê” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông được bằng hữu trong giới, trân trọng giới thiệu với quần chúng, tác giả đã gặp nhiều khó khăn từ Bộ Thông Tin Saigòn… Cụ thể, năm 1961, bộ này đã ra quyết định cấm phổ biến hai ca khúc vừa kể với lý do: Nội dung “phản chiến!” Có thể đưa tới sự sa sút tinh thần của những người lính trấn đóng ở những vùng hẻo lánh, núi non, biên giới…
Hôm nay, nhìn lại, người ta thấy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông không chỉ cho những người yêu nhạc của ông, một chân dung khác về người lính miền Nam Việt Nam, 20 năm. Mà, ở nhiều ca khúc còn lại, ông vẫn trung thành với cảm nhận rất nhân bản, rất con người của mình. Dù cho hình ảnh hay, chân dung của người lính, trong ca khúc của họ Nguyễn, không được chính quyền thời đó, chấp nhận.
Điển hình là sự kiện ngay từ năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã được đài Europe No. 1 và đài Truyền hình Pháp thu âm, rồi thu hình ca khúc “Chiều mưa biên giới” của ông, gây tiếng vang lớn ở Âu châu. “Biến động” này đã tạo sức dội ngược về Việt Nam, khiến chỉ trong vòng 3 tháng, nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam của nhạc sĩ Lê Mộng Bảo, đã bán hết 60,000 bản nhạc lẻ, phá kỷ lục số ấn bản lớn nhất từ xưa, ở thời điểm đó. Âm vang của ca khúc “Chiều mưa biên giới” lại được khuếch tán thêm nữa, khi cũng trong năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch, lần đầu tiên, trình bày ca khúc ấy tại “Đại nhạc hội Trăm Hoa Miền Nam” với dàn nhạc của Đài Truyền Hình Pháp, thu “play back.” (2)
Tôi cho họ Nguyễn là một trường hợp đặc biệt của giới văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam, 20 năm. Khi, một mặt, ông vẫn chu toàn nhiệm vụ “người lính gác giặc” của mình. Mặt khác, ông vẫn can đảm cất lên tiếng nói của lương tri. Tiếng nói của một kẻ sĩ trước thời cuộc. Những ghi nhận từ đáy tầng khát khao của dân tộc, đất nước…Vì thế, ngay khi lệnh cấm của Bộ Thông Tin được báo chí thời đó đăng tải nơi trang nhất thì dư luận quần chúng khắp nơi đã đồng loạt phản ứng. Họ bênh vực họ Nguyễn, như bênh vực người phát ngôn trung thực nhất, về những mơ ước, khát khao thầm kín của họ. Phản ứng bất ngờ của đám đông cũng khiến nhiều cơ quan ngôn luận nhập cuộc. Lên tiếng bênh vực. Ủng hộ tinh thần tác giả “Chiều mưa biên giới.”
Sự kiện vừa kể, cách gì, cũng không cứu được tác giả thoát khỏi 15 ngày trọng cấm! Lệnh phạt theo quân kỷ. Ban hành bởi Bộ Quốc Phòng. Lý do:
“Đương sự đã không tuân hành huấn lệnh quy định rằng, bất cứ một quân nhân nào, khi sáng tác thơ, văn, âm nhạc… trước khi phổ biến cho công chúng, phải được nhân viên hữu trách của Bộ Quốc Phòng duyệt trước và, cấp giấy cho phép!...”
Lệnh phạt ấy còn kèm theo một điều khoản trói tay, triệt tiêu nỗ lực phát triển tài hoa, nghệ thuật của họ Nguyễn. Đó là điều khoản:
“… Đương sự không được phép xuất hiện trong mọi sinh hoạt ca nhạc nơi công cộng!”
Mặc dù khi ấy, với cấp bậc đại úy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đảm nhiệm nhiều chức vụ khá quan trọng như: Bí thư Tổng giám đốc Cảnh sát, Công an và, Chánh văn phòng Bộ Tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô.
Hồi tưởng thời điểm này, tác giả “Phiên gác đêm xuân” có lần đã tâm sự với một số người thân của ông rằng: Trở thành nhạc sĩ hay nghệ sĩ nói chung, là một trở ngại lớn cho ông, trên bước đường binh nghiệp. Bởi vì những cấp Bộ có trách nhiệm thăng chức đều không tin tưởng giới nghệ sĩ. Họ quan niệm nghệ sĩ là giới ăn chơi, hút xách, lãng mạn, tính khí thất thường… không thích hợp với vai trò điều quân khiển tướng. Mặc dù ngay tự khởi đầu binh nghiệp, họ Nguyễn đã chứng tỏ ông có đầy đủ uy tín, thành tích và, thâm niên để được đề bạt vào những chức vụ quan trọng hơn…
Trường hợp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông khiến không ít người liên tưởng tới trường hợp của cố đại tá Anh Việt/ Trần văn Trọng - Tác giả những ca khúc nổi tiếng như “Bến cũ,” “Thơ ngây”… Tuy ông không bị nhiều khó khăn, gập ghềnh như trường hợp họ Nguyễn; nhưng với thâm niên quân vụ như họ Trần, cuối cùng, chức vụ cao nhất mà nhạc sĩ Anh Việt được giao phó, cũng chỉ là Cục trưởng cục Quân Cụ mà thôi.
Về mặt trái của tấm huy chương hay sự nổi tiếng, theo ghi nhận của tác giả ca khúc “Về mái nhà xưa” là, phản ứng đố kỵ, dèm pha của những người cùng ngành nghề! Khi họ thấy, một sớm, một chiều, chỉ với một ca khúc thôi, Nguyễn Văn Đông đã được quần chúng nhiều giới khác nhau, ái mộ, như ái mộ một thần tượng mà họ chờ đợi đã từ rất lâu.
Bên cạnh đó, họ Nguyễn cũng kể lại một câu chuyện điển hình cho cái mà, ông gọi là “tai họa” cho bất cứ một nghệ sĩ nào, nếu may mắn có được một vị trí tương đối, trong guồng máy chính quyền hay, quân đội. Đó là sự kiện một số không nhỏ những người thân quen, nhân danh “tình nghĩa nghệ sĩ” xin ông can thiệp để họ được làm lính kiểng, lính ma; hoặc, vận động, chạy chọt cho họ được thuyên chuyển từ các đơn vị tác chiến, tiền đồn về văn phòng hay, hậu cứ! Và, khi bị từ chối thì, cũng chính đám người đó, lại là những người tìm mưu, lập kế ám hại ông nhiều nhất.
Tác giả “Hải ngoại thương ca” nhớ lại: “Có lần Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi tôi vào dinh Độc Lập, trình diện ông. Ông bảo: ‘Anh bị rất nhiều người tố cáo rằng anh lợi dụng danh tiếng nhạc sĩ đi hại đời con gái người ta! Anh đã phá hoại gia cang nhiều gia đình người khác! Anh cũng bị tố là ăn chơi sa đọa, đơn tố cáo chất chồng ở đây… Anh phải stop ngay vì uy tín của quân đội…’ ”
Dù thường xuyên bị đe dọa bởi những cơn bão lớn, nhiều lúc tưởng chừng con đường binh nghiệp có thể bị cắt ngang, thậm chí rơi vào vòng lao lý, nhưng giữa hai con người quân nhân và nghệ sĩ, thời gian đã cho thấy họ Nguyễn vẫn chọn nghiêng nặng về phía con người nghệ sĩ. Phải chăng, từ sâu thẳm tâm hồn mình, ông từng tự nhắc nhở mình rằng: “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng - thì đường trần mưa bay gió cuốn - còn nhiều anh ơi”?
Tôi nghĩ, ý niệm “khanh tướng” này của tác giả, nhiều phần đi ra từ câu thơ cổ “nhất tướng công thành vạn cốt khô.”
Vì thế, sau hai ca khúc bị cấm phổ biến là “Chiều mưa biên giới” và “Mấy dặm sơn khê,” nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vẫn tiếp tục sáng tác những ca khúc mang tính “phản chiến” như các bài “Lá thư người lính chiến.” Bài này bị bộ Thông Tin cấm lưu hành vì các câu: “Mẹ ơi! Cầu xin cho xóm làng quê hương xóa mờ chiến trường - Đồng bào ta cùng thương nhau xóa hận thù đi - xóa đi đường ranh giới…” Mặc dù, hai câu chót, trong phần ca từ của bài này, ghi rõ rằng: “Mẹ ơi và con trai của mẹ ngày mai sẽ về… sẽ về - Mẹ ơi! Mẹ hiền ơi! Chớ buồn vì con, nước non chưa tròn…”
Cách khác, dù mong mỏi hòa bình đến cho dân tộc, nhưng không vì thế mà tác giả từ chối nhiệm vụ của một người lính.
Ca khúc nhan đề “Anh trước tôi sau,” Nguyễn Văn Đông viết để tưởng niệm người bạn thuở cùng học với ông ở trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu: Cố Thiếu tướng Trương Quang Ân, Tư lệnh sư đoàn bị bắn rớt máy bay, tử nạn khi ông mới 37 tuổi, cũng bị xếp vào loại nhạc “phản chiến.” Nội dung ca khúc này chỉ muốn nói, là những quân nhân đã tự nguyện hiến mình cho tổ quốc thì, cái chết là điều đương nhiên sẽ phải đến với người lính. Khác nhau chăng chỉ là thời gian. Sớm, muộn!
Riêng ca khúc “Anh” tức “Anh nhớ gì không anh” của họ Nguyễn thì bị cấm vì các câu như: “Nước mắt dân Hời, thành quách một thời tan tành hệ bởi đâu? Sao ta nỡ xa ta, xẻ chia sơn hà cho Bắc Nam mình xa cách nhau!”
Như đã nói, cái tinh thần kẻ sĩ, cái ý thức đất nước, dân tộc, khiến Nguyễn Văn Đông chấp nhận thua thiệt trong binh nghiệp, nhưng bảo vệ được khí tiết của một kẻ sĩ thao thức, trằn trọc trước tang thương đất nước. Nhưng đó là sự lên tiếng của một người lính tự nguyện. Một người lính vẫn làm tròn bổn phận của một công dân thời đất nước binh đao, ly loạn… Sự kiện này vẫn khác, hoàn toàn khác với những nhạc sĩ cũng giương cao ngọn cờ phản chiến; nhưng lại là những người từ chối trách nhiệm của một công dân trước thời cuộc.
Hơn một lần, nhạc sĩ Hoàng Thi Thao từng nói với tôi: “Về phương diện nhạc chống chiến tranh thì, Nguyễn Văn Đông là người thứ nhất, người đầu tiên xông xáo vào con đường nhậy cảm và, gai góc này.”
Tuy nhiên, tôi vẫn thấy cần phải ghi nhận một cách công bình rằng, tiếng nói của Nguyễn Văn Đông, cách gì, cũng vẫn là tiếng nói phản ảnh tâm tư của một nghệ sĩ đau đáu trước những đau thương, tang chế của đất nước - - Song song với con người chọn con đường binh nghiệp khi còn rất trẻ. Đó là sự khác biệt to lớn, giữa một người đứng trong lửa đạn và, những người đứng ngoài, với những kêu đòi vô trách nhiệm.
Trong đời nhạc Nguyễn Văn Đông, tình yêu tổ quốc luôn nồng nàn, như thể đó là tình yêu thứ nhất của đời ông:
“Và xin em hiểu rằng, người đi giúp nước nào màng danh chi - Cầu cho đất nước vượt ngàn gian nguy - Lòng anh vẫn nhớ tình người hôm nay - Đời dâng cho núi sông - Lòng này thách với tang bồng - Đừng làm má thắm phai hồng, buồn lắm em ơi!...” (Trích “Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”.)
Hoặc:
“Người về đây giữa non sông này - Hội trùng dương hát câu sum vầy - Về cho thấy con thuyền nước Nam - Đi vào mùa xuân mới sang - Xa rồi ngày ấy ly tan - Tôi đi giữa trời bồi hồi - Cờ bay phất phới tôi quên chuyện ngày xưa - Mong sao nước Việt đời đời - Anh dũng oai hùng chen chân thế giới…” (Trích “Hải ngoại thương ca”.)
Tôi cho đó là tấm lòng, là trái tim của một nghệ sĩ chọn ở với tổ quốc của mình, bằng một tình yêu một chiều; mà, không một tình yêu nào có thể so sánh hoặc thay thế được.
Có một vài tài liệu ghi nhận rằng, nhạc sĩ Nguyễn văn Đông sinh năm 1934; nhưng theo sự xác nhận của họ Nguyễn thì, ông sinh năm 1932 tại Quận Nhất, thành phố Saigòn. Nguyên quán của ông là tỉnh Tây Ninh, Huyện Bến Cầu. Thuở bé Nguyễn Văn Đông học trường Huỳnh Khương Ninh, Phường Đakao, Tân Định, Saigòn. Năm 1945- 1946 loạn lạc, trường Huỳnh Khương Ninh đóng cửa.
Gia đình gửi ông vào trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam, ở thành phố Vũng Tàu, khi ấy ông mới 14 tuổi. Và, con đường binh nghiệp của ông, chính thức khởi đi từ đấy.
Năm 1950 Nguyễn Văn Đông tốt nghiệp trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, cũng là nơi xuất thân của trên dưới 30 tướng lãnh thuộc quân lực VNCH cũ. Trong đó, có Thống tướng Lê văn Tỵ,Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của QL/VNCH, người được coi là anh cả của Thiếu sinh quân Việt Nam.
Năm 1951 Nguyễn Văn Đông được cử theo học khóa 4 trường Võ bị Sĩ quan Vũng Tàu. Họ Nguyễn tốt nghiệp thủ khoa với cấp bực Thiếu uý năm 1952. Tưởng cũng nên nói thêm rằng, Đại tướng Cao Văn Viên, người giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH sau cùng của miền Nam Việt Nam, cũng tốt nghiệp thiếu úy khóa 1 của trường này.
Năm 1953, Thiếu úy Nguyễn Văn Đông tốt nghiệp khóa “Đại đội trưởng” tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Cũng năm này, ông có chân trong Ban giám khảo chấm thi Khóa Võ bị Đalạt 1953 do Quốc trưởng Bảo Đại chủ tọa lễ bế giảng khóa.
Năm 1954, họ Nguyễn lại được gửi ra Hà Nội theo học khóa “Tiểu Đoàn trưởng” tại Trường Chiến thuật Hànội. Ra trường, ông được chỉ định vào chức vụ Tiểu Đoàn trưởng Trọng pháo 553. Đó là năm 1955, khi họ Nguyễn mới 24 tuổi; một tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của quân đội.
Trải qua nhiều chức vụ, nhiều đơn vị và đồn trú ở nhiều nơi chốn khác nhau, trước khi được đưa về Saigòn, giữ những chức vụ tương đối quan trọng; cấp bực sau cùng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là Đại tá, Trưởng khối lãnh thổ Bộ Tổng tham mưu. Ông cũng từng được trao tặng huân chương cao quý nhất; đó là huy chương Bảo quốc huân chương.
Cách khác, dù mong mỏi hòa bình đến cho dân tộc, nhưng không vì thế mà tác giả từ chối nhiệm vụ của một người lính.
Ca khúc nhan đề “Anh trước tôi sau,” Nguyễn Văn Đông viết để tưởng niệm người bạn thuở cùng học với ông ở trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu: Cố Thiếu tướng Trương Quang Ân, Tư lệnh sư đoàn bị bắn rớt máy bay, tử nạn khi ông mới 37 tuổi, cũng bị xếp vào loại nhạc “phản chiến.” Nội dung ca khúc này chỉ muốn nói, là những quân nhân đã tự nguyện hiến mình cho tổ quốc thì, cái chết là điều đương nhiên sẽ phải đến với người lính. Khác nhau chăng chỉ là thời gian. Sớm, muộn!
Riêng ca khúc “Anh” tức “Anh nhớ gì không anh” của họ Nguyễn thì bị cấm vì các câu như: “Nước mắt dân Hời, thành quách một thời tan tành hệ bởi đâu? Sao ta nỡ xa ta, xẻ chia sơn hà cho Bắc Nam mình xa cách nhau!”
Như đã nói, cái tinh thần kẻ sĩ, cái ý thức đất nước, dân tộc, khiến Nguyễn Văn Đông chấp nhận thua thiệt trong binh nghiệp, nhưng bảo vệ được khí tiết của một kẻ sĩ thao thức, trằn trọc trước tang thương đất nước. Nhưng đó là sự lên tiếng của một người lính tự nguyện. Một người lính vẫn làm tròn bổn phận của một công dân thời đất nước binh đao, ly loạn… Sự kiện này vẫn khác, hoàn toàn khác với những nhạc sĩ cũng giương cao ngọn cờ phản chiến; nhưng lại là những người từ chối trách nhiệm của một công dân trước thời cuộc.
Hơn một lần, nhạc sĩ Hoàng Thi Thao từng nói với tôi: “Về phương diện nhạc chống chiến tranh thì, Nguyễn Văn Đông là người thứ nhất, người đầu tiên xông xáo vào con đường nhậy cảm và, gai góc này.”
Tuy nhiên, tôi vẫn thấy cần phải ghi nhận một cách công bình rằng, tiếng nói của Nguyễn Văn Đông, cách gì, cũng vẫn là tiếng nói phản ảnh tâm tư của một nghệ sĩ đau đáu trước những đau thương, tang chế của đất nước - - Song song với con người chọn con đường binh nghiệp khi còn rất trẻ. Đó là sự khác biệt to lớn, giữa một người đứng trong lửa đạn và, những người đứng ngoài, với những kêu đòi vô trách nhiệm.
Trong đời nhạc Nguyễn Văn Đông, tình yêu tổ quốc luôn nồng nàn, như thể đó là tình yêu thứ nhất của đời ông:
“Và xin em hiểu rằng, người đi giúp nước nào màng danh chi - Cầu cho đất nước vượt ngàn gian nguy - Lòng anh vẫn nhớ tình người hôm nay - Đời dâng cho núi sông - Lòng này thách với tang bồng - Đừng làm má thắm phai hồng, buồn lắm em ơi!...” (Trích “Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”.)
Hoặc:
“Người về đây giữa non sông này - Hội trùng dương hát câu sum vầy - Về cho thấy con thuyền nước Nam - Đi vào mùa xuân mới sang - Xa rồi ngày ấy ly tan - Tôi đi giữa trời bồi hồi - Cờ bay phất phới tôi quên chuyện ngày xưa - Mong sao nước Việt đời đời - Anh dũng oai hùng chen chân thế giới…” (Trích “Hải ngoại thương ca”.)
Tôi cho đó là tấm lòng, là trái tim của một nghệ sĩ chọn ở với tổ quốc của mình, bằng một tình yêu một chiều; mà, không một tình yêu nào có thể so sánh hoặc thay thế được.
Có một vài tài liệu ghi nhận rằng, nhạc sĩ Nguyễn văn Đông sinh năm 1934; nhưng theo sự xác nhận của họ Nguyễn thì, ông sinh năm 1932 tại Quận Nhất, thành phố Saigòn. Nguyên quán của ông là tỉnh Tây Ninh, Huyện Bến Cầu. Thuở bé Nguyễn Văn Đông học trường Huỳnh Khương Ninh, Phường Đakao, Tân Định, Saigòn. Năm 1945- 1946 loạn lạc, trường Huỳnh Khương Ninh đóng cửa.
Gia đình gửi ông vào trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam, ở thành phố Vũng Tàu, khi ấy ông mới 14 tuổi. Và, con đường binh nghiệp của ông, chính thức khởi đi từ đấy.
Năm 1950 Nguyễn Văn Đông tốt nghiệp trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, cũng là nơi xuất thân của trên dưới 30 tướng lãnh thuộc quân lực VNCH cũ. Trong đó, có Thống tướng Lê văn Tỵ,Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của QL/VNCH, người được coi là anh cả của Thiếu sinh quân Việt Nam.
Năm 1951 Nguyễn Văn Đông được cử theo học khóa 4 trường Võ bị Sĩ quan Vũng Tàu. Họ Nguyễn tốt nghiệp thủ khoa với cấp bực Thiếu uý năm 1952. Tưởng cũng nên nói thêm rằng, Đại tướng Cao Văn Viên, người giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH sau cùng của miền Nam Việt Nam, cũng tốt nghiệp thiếu úy khóa 1 của trường này.
Năm 1953, Thiếu úy Nguyễn Văn Đông tốt nghiệp khóa “Đại đội trưởng” tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Cũng năm này, ông có chân trong Ban giám khảo chấm thi Khóa Võ bị Đalạt 1953 do Quốc trưởng Bảo Đại chủ tọa lễ bế giảng khóa.
Năm 1954, họ Nguyễn lại được gửi ra Hà Nội theo học khóa “Tiểu Đoàn trưởng” tại Trường Chiến thuật Hànội. Ra trường, ông được chỉ định vào chức vụ Tiểu Đoàn trưởng Trọng pháo 553. Đó là năm 1955, khi họ Nguyễn mới 24 tuổi; một tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của quân đội.
Trải qua nhiều chức vụ, nhiều đơn vị và đồn trú ở nhiều nơi chốn khác nhau, trước khi được đưa về Saigòn, giữ những chức vụ tương đối quan trọng; cấp bực sau cùng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là Đại tá, Trưởng khối lãnh thổ Bộ Tổng tham mưu. Ông cũng từng được trao tặng huân chương cao quý nhất; đó là huy chương Bảo quốc huân chương.
Khi biến cố tháng 4-1975 xảy ra, như tất cả những sĩ quan QLVNCH khác, Nguyễn Văn Đông bị tù cải tạo. Sau 9 năm 6 tháng, ông được trả về ngày 1/1/1985 với lý do:
“Đương sự bị bệnh sắp chết, nên cho phép gia đình đem về nhà chôn cất!”
Tuy thuộc diện HO, đủ điều kiện để xin định cư tại Hoa kỳ, nhưng gia đình thấy họ Nguyễn đau bệnh quá nặng, không biết chết lúc nào, nên đã giữ ông ở lại, thể theo ước nguyện của ông là, khi chết xin được chôn tại quê nhà.
Về sự kiện này, tác giả “Về mái nhà xưa” cho biết, ông cũng không hiểu do đâu, mà Trời Phật đã nhìn lại ông và, cho ông sống, dù là một đời sống “rất lê lết” (chữ của ông,) cho đến ngày hôm nay.
Về cái mà tôi muốn gọi là “nhạc nghiệp” của nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Văn Đông, theo một số tài liệu đã được phổ biến ở hải ngoại cũng như tại Việt Nam thì: Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông chính thức tham dự vào sinh hoạt âm nhạc ở miền Nam Việt Nam vào khoảng giữa thập niên 1950. Ông nổi danh ngay với những ca khúc đầu tay như “Chiều mưa biên giới,” “Phiên gác đêm xuân,” “Súng đàn”… là ba ca khúc ra đời trong năm 1956 và được phổ biến rất rộng rãi. Nhưng ca khúc “Thiếu sinh quân hành khúc” bài hát được công nhận là ca khúc chính thức của trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, Nguyễn sáng tác năm 1948, khi mới 16 tuổi, mới thực sự là sáng tác đầu tay của người nhạc sĩ đa tài này.
Ngoài bút hiệu và cũng là tên thật, Nguyễn Văn Đông, họ Nguyễn còn dùng nhiều bút hiệu khác như Phượng Linh, Phương Hà, Đông Phương Tử, Vì Dân, Hoàng Long Nguyên.
Cũng ngay từ giữa thập niên 1950, trong vai trò Truởng Đoàn văn nghệ Vì Dân ở Saigòn, Nguyễn Văn Đông đã nhận được sự hợp tác của rất nhiều ca, nhạc sĩ tên tuổi thời đó, như Mạnh Phát, Minh Kỳ, Hoài Linh, Thu Hồ, Quách Đàm, Minh Diệu, Khánh Ngọc và các nghệ sĩ thuộc lãnh vực kịch nghệ, điện ảnh, cải lương danh tiếng như Kim Cương, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch… Ông cũng cho thấy tài tổ chức và điều khiển các chương trình Đại nhạc hội lớn, rất thành công tại Sài Gòn, cũng như các tỉnh.
Về sinh hoạt liên quan tới đài phát thanh thì, ngay từ năm 1958, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã là trưởng ban nhạc “Tiếng Thời Gian” của đài Saigòn. Ban nhạc của ông quy tụ những tên tuổi như Lệ Thanh, Anh Ngọc, Hà Thanh, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát, Thu Hồ, Quách Đàm...
Ở cấp độ quốc gia thì, năm 1959, họ Nguyễn được chọn làm trưởng ban tổ chức “Đại hội thi đua Văn nghệ toàn quốc,” tập hợp hơn 40 đoàn văn nghệ, đại diện cho toàn miền Nam; tranh giải liên tiếp 15 ngày đêm tại Sài Gòn. Với tất cả những thành tích kể trên, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã được trao tặng “Giải âm nhạc quốc gia.” Bà cố vấn Ngô Đình Nhu là người trao tặng giải thưởng này cho họ Nguyễn.
Nói tới nhạc nghiệp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông mà, không nói tới thời gian họ Nguyễn làm Giám đốc hãng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, nổi tiếng một thời ở miền Nam, tôi cho là một thiếu sót quan trọng.
Ở vai trò này, với sự hợp tác tích cực của những nhạc sĩ như Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Y Vân, Lê Văn Thiện… Hai hãng đĩa của ông đã đem sự giầu có, phong phú cho sinh hoạt tân nhạc cũng như cổ nhạc miền Nam, 20 năm; với những album riêng cho từng ca sĩ.
Quay lui lại thời điểm đầu thập niên 1960, sự kiện trung tâm băng nhạc Sơn Ca cho ra đời những băng nhạc chỉ với một tiếng hát như Sơn Ca # 6, tiếng hát Giao Linh; Sơn Ca # 7, tiếng hát Khánh Ly; Sơn Ca # 8, tiếng hát Lệ Thu; Sơn Ca # 9, tiếng hát Phương Dung, Sơn Ca # 10, tiếng hát Thái Thanh và ban hợp ca Thăng Long… cùng một số băng nhạc riêng, dành cho nhạc Trịnh Công Sơn, là một sáng kiến cực kỳ mới lạ. Nó mở đầu cho những album sau này, với một tiếng hát, của nhiều trung tâm băng nhạc khác.
Lại nữa, tôi cho rằng chúng ta cũng sẽ không phải với nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, một người, không chỉ tận tụy cống hiến trọn cuộc đời mình cho nền tân nhạc miền Nam, 20 năm; mà ông còn là người có công đầu trong nỗ lực khai sinh, hình thành rồi phát triển một hình thái nghệ thuật mà, sau này chúng ta quen gọi là hình thái âm nhạc “Tân Cổ Giao Duyên.”
Trước khi đi sâu vào lịch sử hình thành của hình thái nghệ thuật từng được chào đón tại miền Nam Việt Nam, tính đến tháng 4 năm 1975, chúng tôi muốn nhắc tới bài “Tân cổ giao duyên” đầu tiên của hình thái phối hợp nghệ thuật đặc biệt này. Đó là bài “Khi đã yêu” sáng tác của Phượng Linh và soạn giả Đông Phương Tử. Do 2 nghệ sĩ nổi tiếng của sân khấu Cải lương là Thanh Nga, Minh Phụng thu âm lần đầu, tại Saigòn. Bài “Tân cổ giao duyên” này, sau đó, đã được nhà xuất bản Hồng Hoa ấn hành thành nhạc bản.
Tuy là hai bút hiệu khác nhau, nhưng sự thực, chỉ là một.
Những người yêu nhạc Nguyễn Văn Đông hẳn không quên, với bút hiệu Phượng Liên, ông là tác giả của những ca khúc nổi tiếng như “Bóng nhỏ giáo đường,” “Niềm đau dĩ vãng,” “Đom đóm,” “Khi đã yêu,” “Thương muộn,” “Lời giã biệt” v.v… Và, bút hiệu Đông Phương Tử họ Nguyễn dùng cho tất cả những sáng tác liên quan đến phần cổ nhạc.
Nhưng phải đợi tới sáng tác “Tân cổ giao duyên” thứ hai, cũng của Nguyễn Văn Đông, đó là bài “Mùa sao sáng,” do Mộng Tuyền trình bày, thì phong trào “Tân cổ giao duyên” mới thực sự rộ lên, không chỉ tại Saigòn mà, khắp mọi miền đất nước.
Vì ca khúc “Mùa sao sáng” ký tên Nguyễn Văn Đông, nên bài Tân cổ giao duyên “Mùa sao sáng” được phổ biến với hai tên: Nhạc Nguyễn Văn Đông, Soạn giả Đông Phương Tử. Bài Tân cổ giao duyên này, theo thiển ý của chúng tôi, rất thích hợp cho những mùa Lễ Giáng Sinh của người Việt Nam, nơi quê người.
Sau khi in lại phóng ảnh bìa của hai bài “Tân cổ giao duyên” nhan đề “Khi đã yêu” và “Mùa sao sáng” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, do nhà xuất bản Hồng Hoa ấn hành, chúng tôi nhận được một phóng ảnh bản tin “Cổ Nhạc Việt Nam số 3,” của nhà Đồng Nai xuất bản (in kèm bài này;) do một thân hữu gửi tặng.
Nguyên văn trang nhất của bản tin đó như sau:
“Đôi Lời Giao Cảm,
“Những năm gần đây, phong trào nghe nhạc ‘Tân Cổ Giao Duyên’ rất thịnh hành, lan rộng từ thành thị đến thôn quê. Đồng bào các giới nhiệt liệt tán thưởng, ưa thích. Môn ‘Nghệ Thuật Mới’ đến với chúng ta như một cơn bão, thách thức với thời gian và nhân-sinh quan nghệ-thuật.
“Tân Cổ Giao Duyên là gì?
“Là bài ca 6 câu vọng cổ được cắt bớt đi 2 hoặc 3 câu để xen vào đó một đoạn “Tân nhạc mà chúng ta gọi nôm na là nhạc mới.
“Sự kết hợp giữa Tân và Cổ nhạc thật là kỳ thú, đem lại cho người nghe những âm hưởng luôn luôn biến thoát, làm tăng thêm sự cảm khoái của người thưởng thức và cả người nghệ sĩ diễn tả.
“Trước hướng đi lên của nền nghệ thuật mới, Nhà xuất bản ‘Đồng Nai’ chúng tôi tiền phong cho ấn hành một loạt bài ca ‘Tân Cổ Giao Duyên’ để giúp cho các bạn mộ điệu có thể tự học lấy dễ dàng.
“Nhờ sự hợp tác của một số nhạc sĩ hữu danh Tân-Cổ, các bản nhạc này được trình bày bằng các phương pháp ký âm rất dản dị. Nhà xuất bản chúng tôi cũng đặc biệt nhờ nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông nghiên cứu ghi ký âm pháp sự hoà hợp giữa Tân và Cổ nhạc bằng các phương pháp dễ hiểu, hợp mọi trình độ nhạc lý.
“Mục đích nhằm vào:
“1- Giúp ca sĩ cổ nhạc và các Ban Tân và Cổ nhạc có thể nhìn vào bản này, hoà tấu ăn khớp ngay như bên giới Tân nhạc.
“2- Người ca sĩ cổ nhạc có dịp làm quen với các ký âm pháp, và trong thời gian ngắn sẽ ca hát rành rẽ các bài bản Tân nhạc như các ca sĩ Tân nhạc.
“3- Với lối trình bày tân-tiến hình thức của bản nhạc, người ca sĩ cổ nhạc khi cầm bản nhạc này trình bày trước Nhạc Hội, Quan Khách, sẽ làm tăng thêm vẻ duyên dáng lịch sự, trí thức như các ca sĩ tân nhạc mà ta vẫn thường thấy trên các sân khấu Đại Nhạc Hội và Đài Phát Thanh.
“Ngay bây giờ, các bạn mộ điệu muốn học hỏi, trao dồi nghề nghiệp, hãy sưu tầm ngay cho đủ bộ các ấn phẩm của chúng tôi được đánh dấu từ số 1.
“Nhà xuất bản ‘Đông Nai’.”
Với tài liệu vừa trình bày, chúng ta thấy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông không chỉ là một trong những người có công đầu về sự hình thành và, phát triển phong trào “Tân cổ giao duyên” mà, ông còn là người nghiên cứu và phổ biến nhu cầu ký âm để các bản nhạc “tân cổ giao duyên” có thể in ra cho các nghệ sĩ cổ nhạc cầm lên sân khấu hát một cách dễ dàng như một bản tân nhạc vậy.
Đề cập tới nguyên nhân sâu xa đưa đến sự hình thành hình thái nghệ thuật “Tân cổ giao duyên,” một số nhân vật tham gia từ đầu cho biết: Vào năm 1962, các hãng băng đĩa nhạc Sàigòn chuyên sản xuất các chương trình ca cổ nhạc thuần túy, bị thất thu nặng nề, vì số người mua đĩa sút giảm hẳn. Trước tình hình thương vụ bị suy giảm một cách đáng ngại, các hãng băng đĩa cổ nhạc bàn nhau, tìm một hướng đi mới, hầu cứu vãn tình thế. Thời gian đó, trong số các hãng chuyên sản xuất chương trình cổ nhạc có kỹ sư Ngô văn Đức; du học ở Pháp về. Kỹ sư Đức nối nghiệp cha là ông Năm Mạnh, làm chủ hãng đĩa Asia. Hãng này chuyên in, sản xuất đĩa 33 và 45 tours, cung cấp cho các Trung tâm băng đĩa như Hồng Hoa, Sóng nhạc… Ông Đức là người có công đứng ra mời gọi các soạn giả và, các chuyên gia âm nhạc hiến kế cải cách cấu trúc 6 câu của cổ nhạc. Và, kỹ sư Ngô văn Đức đã nhờ nhạc sĩ Nguyễn văn Đông nghiên cứu lắp ráp phần tân nhạc, còn soạn giả Viễn Châu, tức Bảy Bá (nổi tiếng với bài ca cổ nhạc “Tình anh bán chiếu” do Út Trà Ôn ca), nhận lãnh nghiên cứu sắp xếp phần cổ nhạc, sao cho ăn khớp với phần tân nhạc… Kết quả nhạc sĩ Nguyễn văn Đông đã cho xuất bản bài ca “tân cổ” mẫu; tựa đề “Hướng dẫn ca và kỹ thuật sáng tác bài tân cổ giao duyên”. (Sự kiện này, được nhà xuất bản Đồng Nai ghi công, như chúng tôi đã sao lục ở trên).
Tóm lại, sự khai sinh của hình thái nghệ thuật “Tân Cổ Giao Duyên” là một công trình tập thể, với sự đóng góp tài năng, trí tuệ của nhiều người. Trong số đó, công lao của kỹ sư Ngô văn Đức không nhỏ. Dù cho ông không phải là nhạc sĩ hay, nhà chuyên môn nghiên cứu âm nhạc. Tuy nhiên, một thân hữu khác của chúng tôi lại cho hay, vấn đề khởi nguồn “tân cổ giao duyên,” tới nay vẫn bị/ được một số người trong nghề, cho rằng họ mới là những người có công…
“Nhưng tiếc thay, cho đến nay, chưa một ai, trong số những người đó, trưng dẫn được một bằng cớ cụ thể về “thành tích” của họ!” Nhân vật này nói.
Trở lại với nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, trong phần tiểu sử do một số trang mạng phổ biến thì, họ Nguyễn không chỉ có những đóng góp đáng kể cho phong trào “Tân cổ giao duyên” mà, ông còn là đạo diễn, viết nhạc nền, sáng tác ca khúc lồng trong trên dưới 50 vở tuồng cải lương nổi tiếng ở miền Nam. Điển hình như các vở tuồng “Nửa đời hương phấn” của soạn giả Hà Triều-Hoa Phượng; “Sân khấu về khuya” của soạn giả Năm Châu; “Mắt em là bể oan cừu” của soạn giả Vân An v.v…
Giải thích cho sự “lấn sân” từ “tân’ qua “cổ” nhạc một cách “ngọt ngào” của mình (*), nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết, miền nam Việt Nam, đặc biệt là miền Tây Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long, đa số người dân thích ca cổ nhạc hơn tân nhạc. Thị phần tiêu thụ băng đĩa cổ nhạc và tuồng cải lương chung cả nước, cũng lấn lướt bên tân nhạc. Ông nói:
“Thí dụ một chương trình tân nhạc phát hành lần đầu tiên tiêu thụ được 10 ngàn đĩa, thì chương trình cổ nhạc tiêu thụ được 3 lần nhiều hơn. Mặc dù chi phí đầu tư có nhỉnh hơn đôi chút. Nhưng nhà đầu tư rất an tâm vì không sợ bị lỗ vốn…”
Theo một tài liệu chúng tôi hiện có thì, vào năm 1960, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cùng một người bạn vong niên là nhà doanh nghiệp Huỳnh Văn Tứ, đồng sáng lập hãng băng đĩa Continental. Ông Huỳnh văn Tứ đảm trách vai trò Giám đốc sản xuất. Họ Nguyễn đảm nhận trách nhiệm Giám đốc nghệ thuật. Hãng đĩa Continental có 36 chi nhánh, phát hành toàn miền Nam - Chủ trương phát triển cùng lúc 2 bộ môn tân và cổ nhạc. Khi đó, tác giả “Phiên gác đêm xuân” được rất nhiều soạn giả cải lương nổi tiếng cộng tác. Nhưng các soạn giả này lại không rành lắm về tân nhạc. Do đó, việc dàn dựng kịch bản thường không ăn khớp với tân nhạc. Để bổ khuyết, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông phải “lăn lưng” vào cuộc. Ông dành thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi... sau một thời gian ông đâm ra yêu thích bộ môn nghệ thuật ấy. Ông kể:
“Tôi rất nhớ ơn cố soạn giả Hoàng Khâm và các tay danh cầm bên cổ nhạc như Văn Tỷ, Năm Cơ, Hai Thơm… Họ đã chỉ vẽ cho tôi một cách tình, không dấu nghề. Vì thế mà chỉ một năm sau, tôi đã có thể tự tin đủ sức bước sâu vào lãnh vực mới mẻ này; cũng với tất cả đam mê, như khi tôi ‘khám phá’ thế giới tân nhạc, trước đó vậy.”
Chú thích:
(1) Nhạc sĩ Phạm Đình Chương từng ghi lại trong tuyển tập nhạc nhan đề “Phạm Đình Chương, Ly rượu mừng,” do Phạm Thành xuất bản tại Hoa Kỳ, 1991, thì: Ca khúc “Ly rượu mừng” được ông sáng tác năm 1955 tại Saigòn. Để đăng tải trong Giai phẩm Xuân Đời Mới; theo yêu cầu của cụ Trần Văn Ân và, nhà văn quá cố Nguyễn Đức Quỳnh, là hai người chủ trương báo này.
(2) Đại nhạc hội này do nhà xuất bản Trăm Hoa Miền Nam tổ chức. Nhân đây, cũng xin lưu ý: “Trăm Hoa Miền Nam” và “Tinh Hoa Miền Nam” là hai nhà xuất bản nhạc lẻ khác nhau.
“Đương sự bị bệnh sắp chết, nên cho phép gia đình đem về nhà chôn cất!”
Tuy thuộc diện HO, đủ điều kiện để xin định cư tại Hoa kỳ, nhưng gia đình thấy họ Nguyễn đau bệnh quá nặng, không biết chết lúc nào, nên đã giữ ông ở lại, thể theo ước nguyện của ông là, khi chết xin được chôn tại quê nhà.
Về sự kiện này, tác giả “Về mái nhà xưa” cho biết, ông cũng không hiểu do đâu, mà Trời Phật đã nhìn lại ông và, cho ông sống, dù là một đời sống “rất lê lết” (chữ của ông,) cho đến ngày hôm nay.
Về cái mà tôi muốn gọi là “nhạc nghiệp” của nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Văn Đông, theo một số tài liệu đã được phổ biến ở hải ngoại cũng như tại Việt Nam thì: Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông chính thức tham dự vào sinh hoạt âm nhạc ở miền Nam Việt Nam vào khoảng giữa thập niên 1950. Ông nổi danh ngay với những ca khúc đầu tay như “Chiều mưa biên giới,” “Phiên gác đêm xuân,” “Súng đàn”… là ba ca khúc ra đời trong năm 1956 và được phổ biến rất rộng rãi. Nhưng ca khúc “Thiếu sinh quân hành khúc” bài hát được công nhận là ca khúc chính thức của trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, Nguyễn sáng tác năm 1948, khi mới 16 tuổi, mới thực sự là sáng tác đầu tay của người nhạc sĩ đa tài này.
Ngoài bút hiệu và cũng là tên thật, Nguyễn Văn Đông, họ Nguyễn còn dùng nhiều bút hiệu khác như Phượng Linh, Phương Hà, Đông Phương Tử, Vì Dân, Hoàng Long Nguyên.
Cũng ngay từ giữa thập niên 1950, trong vai trò Truởng Đoàn văn nghệ Vì Dân ở Saigòn, Nguyễn Văn Đông đã nhận được sự hợp tác của rất nhiều ca, nhạc sĩ tên tuổi thời đó, như Mạnh Phát, Minh Kỳ, Hoài Linh, Thu Hồ, Quách Đàm, Minh Diệu, Khánh Ngọc và các nghệ sĩ thuộc lãnh vực kịch nghệ, điện ảnh, cải lương danh tiếng như Kim Cương, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch… Ông cũng cho thấy tài tổ chức và điều khiển các chương trình Đại nhạc hội lớn, rất thành công tại Sài Gòn, cũng như các tỉnh.
Về sinh hoạt liên quan tới đài phát thanh thì, ngay từ năm 1958, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã là trưởng ban nhạc “Tiếng Thời Gian” của đài Saigòn. Ban nhạc của ông quy tụ những tên tuổi như Lệ Thanh, Anh Ngọc, Hà Thanh, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát, Thu Hồ, Quách Đàm...
Ở cấp độ quốc gia thì, năm 1959, họ Nguyễn được chọn làm trưởng ban tổ chức “Đại hội thi đua Văn nghệ toàn quốc,” tập hợp hơn 40 đoàn văn nghệ, đại diện cho toàn miền Nam; tranh giải liên tiếp 15 ngày đêm tại Sài Gòn. Với tất cả những thành tích kể trên, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã được trao tặng “Giải âm nhạc quốc gia.” Bà cố vấn Ngô Đình Nhu là người trao tặng giải thưởng này cho họ Nguyễn.
Nói tới nhạc nghiệp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông mà, không nói tới thời gian họ Nguyễn làm Giám đốc hãng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, nổi tiếng một thời ở miền Nam, tôi cho là một thiếu sót quan trọng.
Ở vai trò này, với sự hợp tác tích cực của những nhạc sĩ như Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Y Vân, Lê Văn Thiện… Hai hãng đĩa của ông đã đem sự giầu có, phong phú cho sinh hoạt tân nhạc cũng như cổ nhạc miền Nam, 20 năm; với những album riêng cho từng ca sĩ.
Quay lui lại thời điểm đầu thập niên 1960, sự kiện trung tâm băng nhạc Sơn Ca cho ra đời những băng nhạc chỉ với một tiếng hát như Sơn Ca # 6, tiếng hát Giao Linh; Sơn Ca # 7, tiếng hát Khánh Ly; Sơn Ca # 8, tiếng hát Lệ Thu; Sơn Ca # 9, tiếng hát Phương Dung, Sơn Ca # 10, tiếng hát Thái Thanh và ban hợp ca Thăng Long… cùng một số băng nhạc riêng, dành cho nhạc Trịnh Công Sơn, là một sáng kiến cực kỳ mới lạ. Nó mở đầu cho những album sau này, với một tiếng hát, của nhiều trung tâm băng nhạc khác.
Lại nữa, tôi cho rằng chúng ta cũng sẽ không phải với nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, một người, không chỉ tận tụy cống hiến trọn cuộc đời mình cho nền tân nhạc miền Nam, 20 năm; mà ông còn là người có công đầu trong nỗ lực khai sinh, hình thành rồi phát triển một hình thái nghệ thuật mà, sau này chúng ta quen gọi là hình thái âm nhạc “Tân Cổ Giao Duyên.”
Trước khi đi sâu vào lịch sử hình thành của hình thái nghệ thuật từng được chào đón tại miền Nam Việt Nam, tính đến tháng 4 năm 1975, chúng tôi muốn nhắc tới bài “Tân cổ giao duyên” đầu tiên của hình thái phối hợp nghệ thuật đặc biệt này. Đó là bài “Khi đã yêu” sáng tác của Phượng Linh và soạn giả Đông Phương Tử. Do 2 nghệ sĩ nổi tiếng của sân khấu Cải lương là Thanh Nga, Minh Phụng thu âm lần đầu, tại Saigòn. Bài “Tân cổ giao duyên” này, sau đó, đã được nhà xuất bản Hồng Hoa ấn hành thành nhạc bản.
Tuy là hai bút hiệu khác nhau, nhưng sự thực, chỉ là một.
Những người yêu nhạc Nguyễn Văn Đông hẳn không quên, với bút hiệu Phượng Liên, ông là tác giả của những ca khúc nổi tiếng như “Bóng nhỏ giáo đường,” “Niềm đau dĩ vãng,” “Đom đóm,” “Khi đã yêu,” “Thương muộn,” “Lời giã biệt” v.v… Và, bút hiệu Đông Phương Tử họ Nguyễn dùng cho tất cả những sáng tác liên quan đến phần cổ nhạc.
Nhưng phải đợi tới sáng tác “Tân cổ giao duyên” thứ hai, cũng của Nguyễn Văn Đông, đó là bài “Mùa sao sáng,” do Mộng Tuyền trình bày, thì phong trào “Tân cổ giao duyên” mới thực sự rộ lên, không chỉ tại Saigòn mà, khắp mọi miền đất nước.
Vì ca khúc “Mùa sao sáng” ký tên Nguyễn Văn Đông, nên bài Tân cổ giao duyên “Mùa sao sáng” được phổ biến với hai tên: Nhạc Nguyễn Văn Đông, Soạn giả Đông Phương Tử. Bài Tân cổ giao duyên này, theo thiển ý của chúng tôi, rất thích hợp cho những mùa Lễ Giáng Sinh của người Việt Nam, nơi quê người.
Sau khi in lại phóng ảnh bìa của hai bài “Tân cổ giao duyên” nhan đề “Khi đã yêu” và “Mùa sao sáng” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, do nhà xuất bản Hồng Hoa ấn hành, chúng tôi nhận được một phóng ảnh bản tin “Cổ Nhạc Việt Nam số 3,” của nhà Đồng Nai xuất bản (in kèm bài này;) do một thân hữu gửi tặng.
Nguyên văn trang nhất của bản tin đó như sau:
“Đôi Lời Giao Cảm,
“Những năm gần đây, phong trào nghe nhạc ‘Tân Cổ Giao Duyên’ rất thịnh hành, lan rộng từ thành thị đến thôn quê. Đồng bào các giới nhiệt liệt tán thưởng, ưa thích. Môn ‘Nghệ Thuật Mới’ đến với chúng ta như một cơn bão, thách thức với thời gian và nhân-sinh quan nghệ-thuật.
“Tân Cổ Giao Duyên là gì?
“Là bài ca 6 câu vọng cổ được cắt bớt đi 2 hoặc 3 câu để xen vào đó một đoạn “Tân nhạc mà chúng ta gọi nôm na là nhạc mới.
“Sự kết hợp giữa Tân và Cổ nhạc thật là kỳ thú, đem lại cho người nghe những âm hưởng luôn luôn biến thoát, làm tăng thêm sự cảm khoái của người thưởng thức và cả người nghệ sĩ diễn tả.
“Trước hướng đi lên của nền nghệ thuật mới, Nhà xuất bản ‘Đồng Nai’ chúng tôi tiền phong cho ấn hành một loạt bài ca ‘Tân Cổ Giao Duyên’ để giúp cho các bạn mộ điệu có thể tự học lấy dễ dàng.
“Nhờ sự hợp tác của một số nhạc sĩ hữu danh Tân-Cổ, các bản nhạc này được trình bày bằng các phương pháp ký âm rất dản dị. Nhà xuất bản chúng tôi cũng đặc biệt nhờ nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông nghiên cứu ghi ký âm pháp sự hoà hợp giữa Tân và Cổ nhạc bằng các phương pháp dễ hiểu, hợp mọi trình độ nhạc lý.
“Mục đích nhằm vào:
“1- Giúp ca sĩ cổ nhạc và các Ban Tân và Cổ nhạc có thể nhìn vào bản này, hoà tấu ăn khớp ngay như bên giới Tân nhạc.
“2- Người ca sĩ cổ nhạc có dịp làm quen với các ký âm pháp, và trong thời gian ngắn sẽ ca hát rành rẽ các bài bản Tân nhạc như các ca sĩ Tân nhạc.
“3- Với lối trình bày tân-tiến hình thức của bản nhạc, người ca sĩ cổ nhạc khi cầm bản nhạc này trình bày trước Nhạc Hội, Quan Khách, sẽ làm tăng thêm vẻ duyên dáng lịch sự, trí thức như các ca sĩ tân nhạc mà ta vẫn thường thấy trên các sân khấu Đại Nhạc Hội và Đài Phát Thanh.
“Ngay bây giờ, các bạn mộ điệu muốn học hỏi, trao dồi nghề nghiệp, hãy sưu tầm ngay cho đủ bộ các ấn phẩm của chúng tôi được đánh dấu từ số 1.
“Nhà xuất bản ‘Đông Nai’.”
Với tài liệu vừa trình bày, chúng ta thấy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông không chỉ là một trong những người có công đầu về sự hình thành và, phát triển phong trào “Tân cổ giao duyên” mà, ông còn là người nghiên cứu và phổ biến nhu cầu ký âm để các bản nhạc “tân cổ giao duyên” có thể in ra cho các nghệ sĩ cổ nhạc cầm lên sân khấu hát một cách dễ dàng như một bản tân nhạc vậy.
Đề cập tới nguyên nhân sâu xa đưa đến sự hình thành hình thái nghệ thuật “Tân cổ giao duyên,” một số nhân vật tham gia từ đầu cho biết: Vào năm 1962, các hãng băng đĩa nhạc Sàigòn chuyên sản xuất các chương trình ca cổ nhạc thuần túy, bị thất thu nặng nề, vì số người mua đĩa sút giảm hẳn. Trước tình hình thương vụ bị suy giảm một cách đáng ngại, các hãng băng đĩa cổ nhạc bàn nhau, tìm một hướng đi mới, hầu cứu vãn tình thế. Thời gian đó, trong số các hãng chuyên sản xuất chương trình cổ nhạc có kỹ sư Ngô văn Đức; du học ở Pháp về. Kỹ sư Đức nối nghiệp cha là ông Năm Mạnh, làm chủ hãng đĩa Asia. Hãng này chuyên in, sản xuất đĩa 33 và 45 tours, cung cấp cho các Trung tâm băng đĩa như Hồng Hoa, Sóng nhạc… Ông Đức là người có công đứng ra mời gọi các soạn giả và, các chuyên gia âm nhạc hiến kế cải cách cấu trúc 6 câu của cổ nhạc. Và, kỹ sư Ngô văn Đức đã nhờ nhạc sĩ Nguyễn văn Đông nghiên cứu lắp ráp phần tân nhạc, còn soạn giả Viễn Châu, tức Bảy Bá (nổi tiếng với bài ca cổ nhạc “Tình anh bán chiếu” do Út Trà Ôn ca), nhận lãnh nghiên cứu sắp xếp phần cổ nhạc, sao cho ăn khớp với phần tân nhạc… Kết quả nhạc sĩ Nguyễn văn Đông đã cho xuất bản bài ca “tân cổ” mẫu; tựa đề “Hướng dẫn ca và kỹ thuật sáng tác bài tân cổ giao duyên”. (Sự kiện này, được nhà xuất bản Đồng Nai ghi công, như chúng tôi đã sao lục ở trên).
Tóm lại, sự khai sinh của hình thái nghệ thuật “Tân Cổ Giao Duyên” là một công trình tập thể, với sự đóng góp tài năng, trí tuệ của nhiều người. Trong số đó, công lao của kỹ sư Ngô văn Đức không nhỏ. Dù cho ông không phải là nhạc sĩ hay, nhà chuyên môn nghiên cứu âm nhạc. Tuy nhiên, một thân hữu khác của chúng tôi lại cho hay, vấn đề khởi nguồn “tân cổ giao duyên,” tới nay vẫn bị/ được một số người trong nghề, cho rằng họ mới là những người có công…
“Nhưng tiếc thay, cho đến nay, chưa một ai, trong số những người đó, trưng dẫn được một bằng cớ cụ thể về “thành tích” của họ!” Nhân vật này nói.
Trở lại với nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, trong phần tiểu sử do một số trang mạng phổ biến thì, họ Nguyễn không chỉ có những đóng góp đáng kể cho phong trào “Tân cổ giao duyên” mà, ông còn là đạo diễn, viết nhạc nền, sáng tác ca khúc lồng trong trên dưới 50 vở tuồng cải lương nổi tiếng ở miền Nam. Điển hình như các vở tuồng “Nửa đời hương phấn” của soạn giả Hà Triều-Hoa Phượng; “Sân khấu về khuya” của soạn giả Năm Châu; “Mắt em là bể oan cừu” của soạn giả Vân An v.v…
Giải thích cho sự “lấn sân” từ “tân’ qua “cổ” nhạc một cách “ngọt ngào” của mình (*), nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết, miền nam Việt Nam, đặc biệt là miền Tây Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long, đa số người dân thích ca cổ nhạc hơn tân nhạc. Thị phần tiêu thụ băng đĩa cổ nhạc và tuồng cải lương chung cả nước, cũng lấn lướt bên tân nhạc. Ông nói:
“Thí dụ một chương trình tân nhạc phát hành lần đầu tiên tiêu thụ được 10 ngàn đĩa, thì chương trình cổ nhạc tiêu thụ được 3 lần nhiều hơn. Mặc dù chi phí đầu tư có nhỉnh hơn đôi chút. Nhưng nhà đầu tư rất an tâm vì không sợ bị lỗ vốn…”
Theo một tài liệu chúng tôi hiện có thì, vào năm 1960, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cùng một người bạn vong niên là nhà doanh nghiệp Huỳnh Văn Tứ, đồng sáng lập hãng băng đĩa Continental. Ông Huỳnh văn Tứ đảm trách vai trò Giám đốc sản xuất. Họ Nguyễn đảm nhận trách nhiệm Giám đốc nghệ thuật. Hãng đĩa Continental có 36 chi nhánh, phát hành toàn miền Nam - Chủ trương phát triển cùng lúc 2 bộ môn tân và cổ nhạc. Khi đó, tác giả “Phiên gác đêm xuân” được rất nhiều soạn giả cải lương nổi tiếng cộng tác. Nhưng các soạn giả này lại không rành lắm về tân nhạc. Do đó, việc dàn dựng kịch bản thường không ăn khớp với tân nhạc. Để bổ khuyết, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông phải “lăn lưng” vào cuộc. Ông dành thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi... sau một thời gian ông đâm ra yêu thích bộ môn nghệ thuật ấy. Ông kể:
“Tôi rất nhớ ơn cố soạn giả Hoàng Khâm và các tay danh cầm bên cổ nhạc như Văn Tỷ, Năm Cơ, Hai Thơm… Họ đã chỉ vẽ cho tôi một cách tình, không dấu nghề. Vì thế mà chỉ một năm sau, tôi đã có thể tự tin đủ sức bước sâu vào lãnh vực mới mẻ này; cũng với tất cả đam mê, như khi tôi ‘khám phá’ thế giới tân nhạc, trước đó vậy.”
Chú thích:
(1) Nhạc sĩ Phạm Đình Chương từng ghi lại trong tuyển tập nhạc nhan đề “Phạm Đình Chương, Ly rượu mừng,” do Phạm Thành xuất bản tại Hoa Kỳ, 1991, thì: Ca khúc “Ly rượu mừng” được ông sáng tác năm 1955 tại Saigòn. Để đăng tải trong Giai phẩm Xuân Đời Mới; theo yêu cầu của cụ Trần Văn Ân và, nhà văn quá cố Nguyễn Đức Quỳnh, là hai người chủ trương báo này.
(2) Đại nhạc hội này do nhà xuất bản Trăm Hoa Miền Nam tổ chức. Nhân đây, cũng xin lưu ý: “Trăm Hoa Miền Nam” và “Tinh Hoa Miền Nam” là hai nhà xuất bản nhạc lẻ khác nhau.
Du Tử Lê
Theo https://forum.trungtamasia.com/



















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét