Đi tìm vài góc khuất
NGƯỜI TA KHÔNG SINH RA NHƯ LÀ, MÀ TRỞ NÊN, ĐÀN BÀ
Simone de Beauvoir nói thế: On
ne naît pas femme: on le devient. Người ta không bẩm sinh mang thân phận
đàn bà, mà bị buộc phải làm đàn bà.
Tiếp nối các cây bút nữ đi trước của trào lưu văn chương mới
với những Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ…, NgH xông xáo, đi tới,
đi xa hơn, không phải để đòi, để tranh đấu, mà để xác định quyền của NgH: một con
người trong thân xác đàn bà. Nữ quyền là nhân quyền, nói theo Hillary
Clinton. Đàn bà với một số các khái niệm tiêu cực đi kèm, không phải là bản chất
mà là sự áp đặt, một áp đặt hàng ngàn năm xuất phát từ một xã hội do đàn ông thống
trị. Đàn ông biến đàn bà, nói theo Beauvoir, thành một “deuxièm sexe”, giới
tính thứ hai. Giới tính thứ hai là thứ cấp, là lệ thuộc, là công dung ngôn hạnh,
là tứ đức tam tòng, vân vân và vân vân, toàn là những ràng buộc vừa khắt khe vừa
vô lý. Văn chương NgH là một vùng vẫy, một thách đố, một chống chỏi để vượt
thoát khỏi “giới tính thứ hai” như một thân phận,một định mệnh. NgH không đòi nữ
quyền; nữ quyền, nói nghe ghê gớm, thực ra vẫn hàm ý tiêu cực, vì chỉ đòi quyền
của người nữ mà quyền của người nữ chỉ là “quyền của người nữ”. NgH đòi quyền
làm người. NgH chống áp đặt. Chống giả tạo. Chống ràng buộc
Bạch hóa
Áp đặt lớn nhất đối với phụ nữ là tình dục. Dù trinh tiết chỉ
là một “miếng tóp mỡ hay thẻo vỏ quýt phơi khô đã trổ màu sậm sì”, mất trinh là
một kinh nghiệm đặc thù đối với phụ nữ, trước hết, do những ám ảnh vô thức nặng
nề của thứ triết lý giáo dục do đàn ông đề xướng, thứ đến, do những cảm giác lẫn
lộn về mặt sinh lý. “Nhà có cửa khóa trái”, “Chủ nhật” và “Nghỉ mát trên bãi biển”
được sáng tác từ thuở đầu đời có thể xem là một bộ ba liên văn bản, qua đó, NgH
cho rằng tình dục là một đòi hỏi cần thiết bình thường, do đó, “thất thân” đối
với đàn bà cũng giống như người ta ăn uống, ngủ, bài tiết, giải trí. Mặt khác,
thất thân là một chọn lựa tự do: một cô gái có thể thất thân với một người đàn
ông, không nhất thiết phải là người mình yêu. Dẫu vậy, “trở thành đàn bà” là một
kinh nghiệm độc nhất vô nhị, kinh nghiệm đó có thể trở thành một ám ảnh.
Nguyễn Du viết:
Tiếc thay một đóa trà mi
Con ông đã tỏ đường đi lối về
Nguyễn Du “đẹp hóa”, “sang hóa” cái “nhăm rúm”. NgH, không
“con ong” cũng chẳng “đóa trà mi”. Cũng chẳng thèm tiếc nuối. Không những thế,
kinh nghiệm thất thân là một cái thú, “thú đau thương”:
“Tôi bấu tay trên lưng chàng. Thật không còn thứ đau đớn nào
hơn. Thứ đau đớn để nhớ lại bùi ngùi về sau trong những tình cảm ơn nghĩa. Đêm
nóng và mùi mồ hôi trộn lẫn giữa hai người làm tôi bứt rứt cảm động.” (Nhà có cửa
khóa trái)
Tôi nhớ Francois Sagan: “Chàng nắm lấy cánh tay tôi, vừa giữ
tôi lại vừa cười. Tôi quay về phía chàng và nhìn chàng; mặt chàng tái đi như
tôi và buông tay tôi ra. Nhưng rồi chàng lại vội vàng ôm lấy tôi và kéo tôi lại.
Tôi mơ hồ cảm nhận: cái đó sắp tới rồi, cái đó sắp tới rồi. Sau đó là liên khúc
tình yêu: nỗi sợ hãi tiếp sức cho cơn ham muốn, sự dịu dàng và cuồng nhiệt và rồi
nỗi đau buốt nối tiếp với cơn hả hê khoái cảm. Ngày ấy, tôi sung sướng - còn
Cyril hết sức dịu dàng - khám phá cơn khoái cảm đó” [1] (Bonjour Tristesse).
Sagan viết đoạn này vào giữa thế kỷ 20 ở bên trời Tây, mô tả
cảm giác của người con gái lần đầu tiên có quan hệ tình dục, lại là quan hệ tự
nguyện, quan hệ để khám phá, đã gây ra một cái “sốc” lớn trong xã hội Pháp, đến
nỗi, Françoise Mauriac, một trong những nhà văn được kính trọng nhất thời bấy
giờ, trong một bài báo viết trên trang đầu của tờ “Le Figaro” ngay sau khi tác
phẩm được phát hành, gọi tác giả là một “tiểu yêu khả ái” (charmant petit
monstre). NgH viết “Nhà có cửa khóa trái” chỉ khoảng 15 năm sau đó, từa tựa, lại
ở Việt Nam, thành nếu gây sốc cũng không lấy gì làm lạ.
“Chủ nhật” diễn tả một cảm giác khác, còn đậm nét hơn, về lần
ân ái đầu tiên:
“Dù thế nào tôi vẫn không thể phân trần với ai về cái ấn tượng
khủng khiếp một buổi tối tôi nằm ngửa dưới thân thể nóng hực của Định, mở mắt
trân trối nhìn lên trần gian phòng lạ hoắc, lắng nghe da thịt vỡ tung cùng một
lúc với ngày tháng mù mịt trước mặt. Định đã ra khỏi tôi, nhưng sự ê ẩm vẫn còn
sót theo các lóng xương trong cơ thể, trong trí nhớ.”
Trong bộ ba, “Nghỉ mát ở bãi biển” mô tả kinh nghiệm mất
trinh một cách bài bản hơn, sống động hơn và cũng rối rắm hơn, đặc biệt nhấn mạnh
đến sự chọn lựa của một cô gái mới lớn. Cô cô đơn, không biết chơi với ai, hay
bày tỏ với ai những cảm nghĩ cá nhân của mình, nên chỉ biết viết nhật ký, viết
để ‘tự cởi trói”. Cô “khao khát chọn lựa”, nghĩ đến một người tên Trường như một
điểm tựa, lại là một điểm tựa rất yếu đuối vìTrường thiếu quả quyết và từ đó, sẵn
sàng chọn lựa “một người nào khác bất cứ.” Và rồi cô gặp một người tên Dự, tình
cảm hơn và quả quyết hơn. Không yêu Dự, nhưng “Tôi làm như thể tôi không thể sống
thiếu Dự. Thực ra tôi ý thức được hết những chuyện này. Trong bữa ăn, tôi ngồi
đối diện với Dự nghiêm trang, lúc nào tôi cũng muốn tỏ ra buồn kín đáo, u ẩn.
(…) Tôi thành công, nhưng còn làm bộ cười gượng chống chế.” Quyết định chọn lựa
Dự để thử nghiệm, cô đề nghị đi chơi với Dự và chuẩn bị kỹ cho chuyến đi này:
xin phép ở sở làm, nói dối mẹ và làm lơ hẳn với Trường khi gặp lại anh chàng
này một ngày trước ngày hẹn. Khi Dự vào thuê một khách sạn tồi tàn ở bãi biển,
cô gái “làm bộ đóng tuồng điềm tĩnh, quan sát căn phòng với vẻ hiểu biết của
người trong cuộc.” Khi Dự tắm xong đi ra, tỏ vẻ thân mật thì, cô “ngùng ngoằng
dằng tay ra như vai thôn nữ trong một vở thoại kịch.” Tóm lại, cô gái làm bộ thụ
động trong lúc hoàn toàn chủ động mà chính Dự, một tay đàn ông sành sõi, cũng
không biết. Và rồi chuyện gì đến phải đến:
“Tôi nằm ngửa ngó ngược lên trần căn phòng. Đêm ngoài tầm hiểu
biết. Dự nhỏ nhẹ, anh dạy cho em làm vợ chồng.” Rồi sau đó, “Tôi co người như
con tép thụt sát góc giường ngó trân trân người đàn ông lạ mặt nằm ngủ. Tôi đập
muỗi chan chát, nôn ruột ụa mửa những búng nước tanh lỏng le, tôi lò dò đi tiểu,
rửa ráy, cầm nhín cái thau nhôm vàng khè nhớt nhợt.”(…) “Tôi ngồi thụp xuống
giường rên rỉ. Em đau quá anh, cho em về nằm ở nhà, em sẽ nói với má em em đau
quá. Má, má yêu dấu của con.” (…) “Tôi đi khấp khởi, nhìn ngó chung quanh. Tôi
đây, tôi đàn bà. Nhìn tôi coi mọi người. Tôi vừa bước ra khỏi khách sạn phòng số
14 tầng hai. Người này người kia và người đó nữa, ngó coi, tôi đàn bà.”
Tôi đã thành đàn bà rồi! Than van? Nuối tiếc? Ân hận? Reo
vui? Hình như tất cả. Cô Kiều ấm ức tiếc vì cô bị bắt buộc phải hiến dâng trinh
tiết cho một người không yêu; nhân vật của NgH chọn lựa hiến tặng,
đúng hơn là tự nguyện cho đi trinh tiết của mình. Một thử nghiệm tự
do, lạ, đầy cảm giác. Trở thành đàn bà và tiếng kêu “mạ ơi” cho thấy kinh nghiệm
mất trinh là kinh nghiệm ghê gớm, độc nhất của một cái gì sang trang, một cái
gì qua đi, mất đi không bao giờ tìm lại được. Mất trinh, như thế, trông có vẻ
là một hiện tượng sinh lý, thực ra, là một hiện tượng tâm lý. Và hiện tượng này
xuất hiện từ mặc cảm văn hóa do đàn ông chế tạo: biến một sự kiện sinh học bình
thường thành một taboo văn hóa, thậm chí taboo tôn giáo.
Chính vì thế, trở thành đàn bà vẫn tiếp tục ám ảnh cô gái:
“Những lần trần truồng một mình, tôi vẫn hay nhìn ngắm tôi
trong tấm gương lớn trong phòng tắm, như soi bói một kẻ lạ. Tôi thù ghét chỗ
này chỗ nọ, chỗ này tôi không thể rửa sạch được bằng nước, chỗ này tôi không thể
kỳ cọ, hơi thở tôi gay gắt mùi thuốc lá, hơi đàn ông lẫn trong chân tóc, còn chỗ
nào không, tôi tan hoang từ đầu xuống chân. (…) Tôi đã nghĩ đến má lúc ấy, từ sự
nhơ bẩn tương tự, tôi được sinh ra. Ba đã giày vò má, mọi người giày vò nhau để
những đứa trẻ dưng không được bước ra từ cơn đau ấy…” (Chủ nhật)
Nhớ đến mẹ trở thành một phương cách tự vệ duy nhất của người
phụ nữ trong việc dịch chuyển bất hồi tố trong quá trình trở thành đàn bà. Ở điểm
này, NgH đưa ra một nhận định có tính triết lý:
“Đó là tình yêu chăng, em những tưởng anh như một phương tiện
cho em thể hiện sự tự do, đến khi không còn là nô lệ của chính thể xác mình, em
cũng biết đó cũng là một cách nô lệ, nhưng với một thể xác khác.” (Chủ nhật)
Một song quan luận (dilemma) về tự do: một mặt, cô gái biểu lộ
tự do bằng cách không xem trinh tiết là điều quan trọng, là phá bỏ xiềng xích
truyền thống về thân xác đàn bà; nhưng mặt khác, cô lại phải lệ thuộc vào một
thân xác khác là đàn ông, mà rốt cuộc là mất tự do. Nói khác đi, tự do tuyệt đối
là điều bất khả đối với con người. Dẫu vậy, NgH tìm cách vượt qua song quan luận
đó. Bằng cách nào? Bằng cách nói lên, nói hết, nói sạch. Không e lệ, không thẹn
thùng, e ấp. Không che đậy. Và không ân hận. Bạch hóa nó, biến nó thành một điều
bình thường. Y như nam giới. Thể xác không tự do, nhưng ý thức thì tự do. Kinh
nghiệm thể xác là một kinh nghiệm sinh lý, nam lẫn nữ. Bạch hóa nó là phá vỡ một
taboo. Là tự do.
Đàn ông:
Ám ảnh tình dục cũng là ám ảnh về đàn ông. NgH xây dựng đàn
ông qua nhiều hình ảnh khá khác nhau. Trước hết, là đàn ông viết văn làm thơ.
NgH mê và yêu văn nghệ từ nhỏ, nên cũng chẳng lạ gì, hình ảnh những những nhà
thơ, nhà văn đàn ông thường xuất hiện trong các truyện của NgH, khi thì rõ
ràng, khi thì thấp thoáng. Đàn ông văn nghệ vừa gây rắc rối lại vừa là nhu cầu.
Túy Hồng viết:
“Bọn đàn ông văn nghệ người nào cũng có một “cháu” để ngoài
đường và có một vợ để ở nhà. Bọn đàn ông văn nghệ nào cũng chia cuộc đời ra làm
hai cảnh sống, một cho vợ và một cho người tình. (…) Tôi chủ trương rằng làm vợ
bọn đàn ông này là giờ phút nào cũng phải ghen, cũng phải đổ bể chén đĩa, cũng
phải nấu canh bằng nước mắt mình, cũng phải cầm dao phay đi lóc thịt xẻ xương
tình địch. (…) Tôi chủ trương rằng làm vợ bọn đàn ông này dù có đặt tay lên ký
một trăm tờ hôn thú cũng cầm bằng một cái lắc đầu.” (Tôi nhìn tôi trên vách)
Hình như NgH có phần đồng ý với Túy Hồng, vừa bài bác lại vừa
nhận chịu:
“Em đã có những tháng ngày lãng mạn nhưng hợp vệ sinh với nhà
văn này nhà thơ nọ, luôn luôn cảnh giác giữ tư thế ngồi để tránh nhăn lưng áo.
Chính anh đã đẩy em vào thế giới sáng tác nơi em không thể không cà-phê phin hoặc
trà chanh đường với những văn nhân hàng ngày ngồi chơi xơi nước ở quán Cái Chùa
hoặc Givral - khu vực… hmmm… văn hóa nhất của Sài Gòn ngày trước. Kẹt cái là họ đều
có vợ, đỡ cái là em không chủ trương làm lẻ làm chẵn để làm chi. Mấy ông kẹ thấy
táo hườm hườm thì muốn hái, nhưng đúng ra chỉ là trái cây chín dú.” (Telecom)
Cái khác là Túy Hồng, trong lúc than trách bọn đàn ông, vẫn
nghe giọng hờn trách. NgH không hờn trách. NgH lột, bóc, bóc ra từng mảng thực
chất của đàn ông văn nghệ. Trong “Phục chế ảnh cũ”, kể lại mối tình giữa một cô
gái mới lớn mê văn chương với một nhà thơ lính,NgH nhìn thẳng, nhìn ngay vào sự
thật, một mặt, lật tung trò ma mãnh, dụ khị của người tình, nhưng mặt khác,
cũng tự lột mặt nạ chính mình, chấp nhận chúng y như không thể khác hơn, y như
đàn ông là phải thế và đàn bà phải thế. Tình yêu, rốt cuộc, là một quan hệ
thành khẩn và lệch lạc, thành khẩn trong lệch lạc. Cô gái trút hết tình cảm sâu
đậm của mình cho người tình, còn anh ta “quơ cả bụm”, bất chấp “còn chín hay
chua”. Từ đó, NgH “khám phá" ra cái gọi là tính cách đàn ông trong quan hệ
với đàn bà:
“Có phải tất cả những người đàn ông đều giống nhau? Họ đều ngủ
và ngáy sau trận mây mưa? Ai trong số họ cũng cần một cái lỗ để thỉnh thoảng
đâm vào, ngoáy sâu đến hụt hơi, đứt phựt rồi ngã vật ra giường? Vì sao họ có thể
ngủ say liền sau đó không trăn trở tư duy dằn vặt? Họ tha lòng thòng của quý đi
khắp nơi, vật bất ly thân có giá trị nhân chủng nhân bản nhân loại toàn cầu, có
lúc nào họ quên là họ có nó không? Tôi đã thầm đặt những câu hỏi tương tự với bất
cứ người đàn ông nào quen biết, gặp gỡ, nhìn thấy. Họ tràn ra đường lái xe hơi,
đi gắn máy, đạp xe, bách bộ, ngồi quán, chờ xe buýt, cười nói, nhai nuốt, phì
phèo, mập thù lù hoặc ốm nhom ốm nhách, già khú đế hoặc trẻ non trẻ nụ, giàu sụ
hoặc nghèo mạt, phè phỡn hoặc băn khoăn, chăm chú hoặc lơ đãng. Tất cả bọn họ,
dù hùng hục cày cấy hay nho nhã sáng tạo, cũng đang sục tìm một lỗ trống, chờ đợi
cái lúc được đâm vào?” (Phục chế ảnh cũ)
Hỏi mà cũng là trả lời. Thú thật, trích đoạn này làm tôi, một
đàn ông, giật thót mình. Một cái nhìn thẳng tuột, trông rất tàn nhẫn và than
ôi, không xa… sự thực là mấy! NgH đánh đổ mọi giá trị đàn ông? Không. NgH bảo
là, trong truyện này, NgH phân tích đàn ông về mặt sinh học [2]. Ừ, thì sinh học.
Nhưng rõ ràng là không chỉ sinh học. NgH soi rọi thẳng vào từng mảng hiện thực,
dù là đàn ông hay đàn bà, kể cả chính NgH, qua những nhân vật “tôi” hiện diện kiểu
này hay kiểu khác ngay từ bộ ba truyện liên văn bản đầu tay.
Trong một số truyện, NgH dựng nên hình ảnh một đàn ông khác với
loại đàn ông kiểu “quơ cả bụm” trên.“Chàng” trong “Nhà có cửa khóa trái”, trông
hiền, nhu mì, thụ động. Nhân vật chính - cô con gái còn ngây thơ, trong trắng trái lại, tính tình quả quyết, chủ động, tỉnh táo. Chàng được cô nhìn ngắm như
nhìn ngắm một người đẹp: “hai vai tròn trịa khỏe mạnh, hai cánh tay bỏ trần, những
hạt tàn nhang trên ngực, cổ, gáy, chiếc áo may ô trắng mới nhét trong cái quần
tây chưa thay.” Những hoạt động bình thường hàng ngày của chàng trông êm ả, gọn
gàng và đáng yêu, từ việc đánh răng, nằm, đọc báo, nghe nhạc, trở mình cho đến
khi ngủ “với tờ báo đắp trên ngực, cái đầu ngoẻo một bên vai.” Vì thế, cô gái
“thường bỏ ngủ ngồi ngắm nghía chàng, chờ giờ chàng đi làm buổi chiều.” Suốt cả
truyện, chàng cứ như thế, hiền lành, đáng yêu. Ở với nhau một thời gian, “Một
hôm chúng tôi đồng ý xa nhau.” Và thế là “Sáng sớm tôi xếp quần áo vào va-li.
Chàng ngồi cạnh mép giường nhìn tôi đi tới đi lui thu dọn những thứ lặt vặt
(bàn chải đánh răng, khăn mặt, kính soi, kẹp tóc, thuốc gội đầu, thuốc ho...).
Tôi mang đi hết, không để sót một món. Tôi ghét di tích, kỷ niệm.” và “Tôi hít
lấy hít để ngực áo chàng, cánh tay chàng, cổ chàng.” Còn chàng không biết làm gì,
chỉ “ngồi tằn mằn mớ quần lót”, “thoa vòng trên môi tôi chút nước thơm”.
Chàng y như “giới tính thứ hai”, hay cũng gần gần như thế. Và
hiển nhiên hưởng đủ phẩm tính của cái thứ hai này: dịu dàng, ngoan ngoãn, dễ
thương. Chàng không còn là “hắn”, là “ông kẹ” chuyên đi dụ gái mà là một phái
khác: phái đẹp, phái yếu.
“Người thuận tai trái” đưa ra một đàn ông còn thụ động hơn.
Khi quen nhau, tới thăm nhà nàng, chàng mắc cỡ, “ngoan ngoãn nằm tòn ten trên
cái võng treo ngay bên dưới phòng tôi.” Cưới xong, chàng ở rể. “Ngay đêm tân
hôn chàng khóc. Sao vậy? Nhớ má. Tôi dỗ dành, ngủ đi mai tôi đưa ông về nhà trọ
thăm bà già. Sau khi rước dâu về chính nhà cô dâu, bà cụ còn nấn ná ở chơi vài
hôm, trọ trên căn gác thuê của chàng. Chắc hẳn đời chàng đang qua một khúc
quanh. Còn đời tôi? Trước đó chúng tôi không có hẹn hò, sau đó không có tuần
trăng mật. Đời con gái đêm tân hôn phải dỗ nín đời trai.”Anh chồng chẳng biết sửa
soạn gì cho chính mình, mà phải nhờ vợ thêm râu, thêm tóc, sắm quần tây, áo
sơ mi, giày vớ, thắt lưng và ví đựng tiền. Không những thụ động đối với vợ mà
thụ động đối với mẹ. Khi về ở chung với mẹ, bị mẹ giành giật với vợ, la mắng,
đuổi đánh nhiều lần mà chịu đựng, không dám làm gì. Rốt cuộc, mỗi người một ngả.
Những nhân vật đàn ông trên cho thấy giới tính thứ hai hay
phái yếu là một tính cách, tính cách người, có thể nằm ở bất cứ ai, không
chỉ nằm trong hai chữ “đàn bà”. Hay nói cách khác, đàn bà không tất nhiên phải
yếu, phải thụ động, phải tình cảm, phải nhẹ dạ, phải cảm tính… Và đàn ông không
tất nhiên phải mạnh, phải lý trí, phải chủ động...
NgH còn dựng nên chân dung một loại đàn ông phi truyền thống
khác, hao hao dấu vết của giới tính thứ hai, qua hình ảnh của người tình
nhí. Hình ảnh này xuất hiện ở “Tuyệt tác - Chín biến khúc” và “Cải lương”, được
viết dưới dạng (tạm gọi là) hiện thực huyền ảo, đen xen giữa hiện thực đời sống
và hội họa. Cả hai, mô tả tâm tình của người đàn bà lớn tuổi, sống đơn thân,
dày dạn, từng trải, mơ tưởng được có một người tình thuộc loại “Khi tôi thành
đàn bà thì nó hãy còn bú, ỉa đùn trong tã lót, mồm miệng chỉ có nướu mà không
có răng.” (Tuyệt tác) Đó là thứ tình yêu “Không có những xoắn xít tầm thường,
không lôi thôi tiền bạc. Thuần túy tình mẫu tử, tình chị em, tình thầy trò,
tình bạn.” (Cải lương) Mơ tưởng này, rốt cuộc, chỉ có thể tìm thấy trên giá vẽ,
nơi người tình nhí này là sản phẩm của chính mình, không gia trưởng, không độc
đoán, lại nhu mì, hiền lành, dễ bảo, vân vân và vân vân. Tranh mà, đâu phải là
người! Một quan hệ ảo. “Tôi tự cưới lấy mình, hôn phối với bản thân (…) “Trong
cái xã hội đầy ước lệ và giáo điều, nó có dáng vẻ của một thanh niên điềm đạm,
tỉnh táo.” (Tuyệt tác) “Nó”, thứ đàn ông đó, rất dễ cư xử: “Nấu sao cho nó ăn vừa
no vừa ngon vừa bổ. Tính coi kể gì cho nó nghe cho vui. Làm mặt ngầu cho nó sợ,
hoặc cười bí ẩn như Mona Lisa cho nó hoang mang chơi. (…) Bảo nó trật áo ra cho
xem cái vai để vẽ thực ra để coi con thú vật nơi người đàn ông có nhào ra
không.” (Cải lương)
Ảo có phần khác với thực. “Người đàn bà hai con” hiện thực
hơn, kể một câu chuyện thuộc loại vòng tay học trò. Lúc quen nhau, cô giáo Doãn
37, cậu học trò Kiệt thua cô 17 tuổi, tức là mới 20 và lớn hơn con cô giáo 10
tuổi. Với số tuổi chênh lệch kiểu đó, cả ba người khi cùng đi chơi với nhau,
trông như một bà mẹ có hai con. Cô ốm “quắt queo”, hơi giống đàn ông, giọng dữ,
lạnh lùng và hơi ác. Còn cậu học trò thuộc loại con nhà bình dân, “đời trai hẻm
nhỏ”, mặt xương xương, lưỡng quyền hơi cao, cằm nhọn, hai mắt nhỏ, tính trầm
tĩnh. Với Kiệt, cô giáo Doãn không hấp dẫn, nhưng có “nhiều ngóc ngách khác, im
ỉm, đen tối và gây tò mò.” Dưới mắt cô, nó là một thằng nhỏ được việc. “Sáng
xách nước lên gác tưới mấy cây kiểng của bé Bo rồi đi học may, ăn cơm tối xong
biết phụ rửa chén bát, thỉnh thoảng lau nhà, lâu lâu ủi đồ, thậm chí còn cắt
may cho cô Doãn một áo sơ mi ca rô kiểu đàn ông. Trông nó như thằng ở đợ, hơi
hèn hèn.” Ấy thế mà rồi, cô và trò gắn bó nhau. Một thời gian sau, Kiệt được bảo
lãnh đi nước ngoài. Và rồi, anh chàng Kiệt, Việt kiều, về nước nhiều lần, bị bé
Bo, con của cô, mỗi năm lớn thêm một tuổi, "hút cạn" chịu không thấu.
Người tình nhí để sai vặt ngày nào bây giờ nghiễm nhiên trở thành… tình mẹ
duyên con! An ủi cái là, đàng nào thì Kiệt, người tình nhí hay bồ của con, cũng
vẫn là “thằng nhỏ được việc” của cô giáo Doãn, bây giờ đã đeo kính lão. Tính ra
đã 14 năm, kể từ ngày ấy, khi cô trò quen nhau.
Âm thầm nuôi một con đực và một con cái.
Nhưng có một quan hệ làm người phụ nữ cảm thấy mình hoàn toàn
được “giải phóng” về mặt bản thân: đồng tính. “Bật ngửa” là một truyện khá dài
hơi, mô tả chi li một mối tình thầm lặng kéo dài hàng nhiều năm giữa hai phụ nữ,
một Tây và một Việt Nam. Họ làm việc với nhau, trao đổi, giúp đỡ nhau và âm thầm
thăm dò lẫn nhau khi ở chung cũng như qua điện thư, vì ngại thành kiến của người
chung quanh về mối tình đồng tính. Phải đến mười mấy năm sau, mối tình thầm lặng
đó mới thành hiện thực: người phụ Tây thổ lộ cho bạn tình của mình trong một buổi
chiều:
“Thay vì ôm lấy vai bạn và nói cám ơn, tôi bỗng nhiên nghe
nóng bừng mặt vì một tình cảm mơ hồ lúc ấy bị thôi thúc phải thể hiện bằng một
cái hôn giữa chốn công cộng, ngay trên cái xứ sở nhiều thành kiến của bạn. (…)
Ba tuần im lặng của bạn cho tôi thời gian để hiểu rằng suốt đời tôi chưa bao giờ
có khả năng yêu một người đàn ông, nhưng cuối cùng lại có thể làm điều đó với một
người đàn bà.”
Trong “Lệch một khấc”, cặp đồng tính đắm đuối, say mê trong
cơn ân ái:
“Họ nằm rúc vào nhau, và chuyện đã không dừng lại ở đấy. Ban
đầu Thị đâm hoảng với những rung động da thịt đầu đời, hoang mang không biết từ
đâu Vi đã học được các thao tác thật tự nhiên đầy kinh nghiệm; dần dần Thị phó
mặc cho xúc giác đưa dẫn đến những vi mạch khác của các giác quan còn lại.” (…)
Họ đầm đìa đắm đuối ở mọi ngóc ngách của khu nhà trống. Họ cũng thường nhìn
nhau châm bẩm để thăm dò chính mình hơn là để quan sát kẻ đối diện.”
Quan hệ đồng tính dễ dàng, đơn giản đến nỗi có thể thực hiện
online trong “Trổ đồi mồi”:
“Khi giọt tình rụng xuống, người Thị rướn lên, đầu trật ra
phía sau, khoái cảm cuộn từng đợt như sóng. Trong tư thế ngồi, Thị bấu hai tay
vào cạnh bàn viết, lẩy bẩy đến rung rinh cả cái VAIO trước mặt. Diện tích màn
hình chữ nhật nhỏ xíu bằng nửa tờ nhật báo gấp đôi sáng nhờ nhờ như hư ảnh hút
Thị miết miết đến ngộp thở. Trong suốt bao nhiêu năm làm đàn bà, chưa có người
đàn ông nào làm Thị vừa tròng trành vừa đau đớn đã đời như Vili.” (Trổ đồi mồi)
So với những mô tả về những lần ân ái dị tính trong bộ ba
liên văn bản “Nhà có cửa khóa trái”, “Chủ nhật” và “Nghỉ mát ở bãi biển”, trông
bộ kiểu ân ái đồng tính này được NgH viết một cách, tuy đơn giản, nhưng điệu
nghệ, mướt mát, trơn tru hơn nhiều. Phải chăng tình yêu đồng tính “đẹp” hơn
tình yêu dị tính?!
HỘI CHỨNG NHÂN SINH
Như đã nói ngay từ đầu, đọc NgH là đọc văn hơn là đọc truyện
hay đọc chuyện. Người không thích, đọc, chỉ thấy NgH viết nhăng viết cuội. Người
thích, mới đọc, không rõ mình thích cái gì. Đọc rồi, thấm, bỗng tìm thấy ở cái
văn phong này một hiệu ứng rất lạ: tất cả mọi thứ quan hệ tình cảm nhân sinh
(tình yêu, tình bạn, tình gia đình, tình thầy trò…), quan hệ xã hội (tôn giáo,
chính trị, văn nghệ, nghề nghiệp…), và cuối cùng, quan hệ với chính bản thân
mình, từ lâu nay vốn mang một khuôn mặt êm ái, trơn tru, thân thiện, tình cảm
bây giờ bỗng trở nên lỏi chỏi, rạn nứt, trục trặc và có lúc mang vẻ giả trá, ngụy
tạo một cách lạ lùng. Nhất là vì, không có tác giả nào mà cái “tôi” được phơi
bày một cách rạch ròi, chi li và tiêu cực trong văn chương đến vậy bằng NgH. Tất
cả các nhân vật “tôi” dường như đều tự khỏa thân, bóc mẻ và cào xước chính
mình.
Nhưng cũng cần phải nói ngay, tất cả những nhân vật của NgH đều
tích cực tham dự cuộc sống, từ người chồng, người cha, người mẹ, người tình,
người thầy, cho đến người bạn hay nhà văn, nhà thơ, tu sĩ. Họ đều là những nhân
vật sống ở đời, không ai hoài nghi, không ai lên án cuộc đời là phi lý, là hư
vô và từ đó, nôn mửa. Cũng không ai sống cuồng, sống vội. Ai cũng sống y như thể
họ phải sống. Không có nhân vật nào sống trong hoang tưởng. Tóm lại, mọi nhân vật
của NgH đều có thể gặp đâu đó trong cuộc sống hàng ngày. Ấy thế mà mọi quan hệ
giữa người và người, giữa cá nhân nầy và cá nhân nọ dường như luôn luôn bất ổn.
Họ yêu nhau, nhưng vẫn vờn nhau. Thương nhau nhưng biết rõ hậu ý của nhau. Đến
với nhau nhưng vẫn đề phòng nhau. Quan hệ tốt với nhau nhưng vẫn xa cách nhau.
Tất cả những nghịch lý đó chờn vờn trên tất cả các trang văn của NgH, khiến cho
ngay cả những lúc cảm động nhất hay nghiêm trang nhất, người ta đều cảm thấy có
cái gì khôi hài, giễu cợt, bất thường.
Hãy thử đọc truyện “Mataco, Ltd”. Tựa đề truyện là tên một
công ty mai táng. Bà mẹ già hạng thượng thọ hấp hối, nhân vật “tôi” là cô con
gái út từ nước ngoài bay vội về. Trên máy bay, cô tưởng tượng cảnh mẹ “chầu
trời”, “thăng thiên”. Tới đầu hẻm, cô đã thấy “lô nhô màn trướng cờ
quạt.” Cô đã từng tự hứa là sẽ đợi khi má chết “khóc một trận tổng kết” cho
đã, nhưng giờ má mới chết mà nước mắt cô chỉ “rỉ” giống như “vải
lau nhà vắt chưa ráo đã đem hong.” Thấy cái“quần thể người xôn xao” quanh
thi thể bà mẹ, cô viện cớ đi làm giấy tờ khai tử để tránh mùi nhang khói vì bị
suyễn. Những đứa con khác, “Nghe nói số 3 đi cùng số 5 chỉ đến lạy mẹ lúc
liệm rồi xin cáo lui vì lý do sức khỏe. Số 1 đã qua đời, không tính. Số 7 còn
đang bay trên Tokyo, sẽ hạ cánh kịp lễ động quan. Đích danh đích tử chỉ có số 6
giày rơm gậy trúc đấu thầu công khai.” Trong lúc đó, thân bằng quyến thuộc
đến viếng tang “nườm nượp như trẩy hội”. Cái hòm sơn son thếp vàng của
bà mẹ “nằm chình ình.” Thi thể bà mẹ bây giờ thì “teo tóp gọn lỏn
trong sáu tấm ván bít bùng”. Lễ động quan xúc tiến với “sự vẻ vang của giấy
phép mai táng”dưới ánh nhìn tinh nghịch của người đã khuất. Khi đưa vào lò
thiêu, những lóng xương bà mẹ “sụm xuống giống căn nhà bị hỏa hoạn, điêu
tàn một nhúm tro.” Cô cho rằng thà như thế vẫn hơn là để mẹ “nằm dưới
lòng đất lạnh với bọn dòi bọ tự tung tự tác.” Trong khi tang lễ đang diễn
tiến, người con thứ 6 đã “cầm lòng không đậu” bàn chuyện chia của.
Ngày đưa đám, mấy đứa con số 2,3,4 và 5 “biến” vì lý do sức khỏe. Lần
cúng thất tuần, chỉ có “lèo tèo” hai đứa con hiện diện. Sau thất tuần,
cái nhà ở im ắng, tủ bàn xộc xệch, điện đóm tù mù, giây phơi đồ giăng ngang dọc,
chỉ có một thứ “lẫm liệt” là “một bình hoa vạn thọ bằng nhựa
vàng chóe điểm xuyết những chiếc lá xanh bội thực diệp lục tố”. Và sau đó là cuộc
tranh chấp tài sản giữa những người thừa kế. Cái chết nhường chỗ cho cái sống.
Người mẹ hoàn toàn đi vào quên lãng. Thực ra, bà đã bị quên lãng ngay cả trước
khi người ta nhận biết nó. Trong lúc lo đám cho người chết, người ta không thôi
lo cho chính bản thân mình. Nỗi niềm tiếc nuối dành cho người đã khuất không
che giấu được những lo toan riêng của người còn sống.
Chẳng thế mà, từ đầu chí cuối, truyện diễn ra như một hoạt cảnh
bát nháo trên sân khấu được dàn dựng hấp tấp bởi một đạo diễn mới ra lò. Chữ
nghĩa NgH (mà tôi in nghiêng trong đoạn trên) góp phần tạo nên các độ đậm, nhạt
khác nhau của một khung cảnh trông khá bất bình thường, chẳng giống gì với tang
lễ của một bà mẹ có 8 đứa con hiếu đạo. NgH muốn gửi gắm cái gì? Bi kịch?
Không. Phi lý? Không. Đáng buồn nôn? Cũng không. Riêng tôi, đọc xong truyện,
tôi có một cảm giác rất lạ: rã rời. Những cái trông như bất bình thường ấy, khổ
nỗi, lại rất bình thường: hoạt cảnh đám tang như thế có thể tìm thấy ở khắp
nơi, không chừng ngay cả ở đám tang người thân yêu của mình mà mình đã từng dự.
Tất cả dường như xuất phát từ một thứ hội chứng, hãy gọi là hội chứng nhân
sinh: các quan hệ giữa người và người, giữa tôi và tha nhân dường như luôn luôn
bị chi phối bởi những bất tương hợp/ so le/ khác biệt. Mỗi một cá nhân, trong
hoàn cảnh và cá tính rất riêng của mình, không hề khớp với người khác, cũng
trong hoàn cảnh và cá tính rất riêng của họ. Chữ nghĩa, và qua đó, văn chương
NgH, soi rọi vào từng ngóc ngách của hội chứng đó, đẩy bật chúng ra ngoài ánh
sáng, khiến ta sửng sốt. Cái bất thường, cái tiêu cực, cứ tưởng chỉ có ở hay là người
khác, hóa ra, cũng ở, cũng là mình. Mình vẫn là kẻ xa lạcủa chính
mình. Hay nói một cách khác, kẻ xa lạ, hóa ra, là người quen, rất quen. Chỉ
là mình không nhận ra và không muốn nhận ra mà thôi.
Tôi tìm thấy hội chứng nhân sinh (và cũng là sự giải thích hội
chứng này) trong “Chuông gió”. Sau khi lăng ba vi bộ đủ thứ chuyện như một tiểu
luận về phép xử thế, NgH dẫn ta đến một chuyện tình. “Sau vài tháng tòn teng với
Kha, một hôm thật bất ngờ, tôi được anh nhỏ nhẹ định bệnh: em mắc chứng tự
kỷ.” Dựa theo định nghĩa chuyên môn về chứng tự kỷ (autism), theo đó, người tự
kỷ bị “khiếm khuyết về mặt quan hệ nhân sinh, không có tương tác xã hội do đó
phát triển tâm lý, giao tiếp ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ và sở thích cá nhân đều
bị hạn chế, có những thói quen và cách tư duy cố định cùng một số hành vi được
lập đi lập lại”, nhân vật “tôi” tự thấy “không khác chi” so với mô tả vì đã sống
một cuộc sống “không có gì khác thường”: ăn, ngủ, thức dậy đúng giờ giấc, ngăn
nắp, giản dị, thích đọc sách, thích nghe nhạc, không thích ăn ngoài, ghét tán gẫu,
hạn chế giao tiếp, sợ thay đổi thói quen, tránh các thủ tục pháp lý và hành
chánh, vân vân và vân vân. Ô hay, sống tươm tất, ngăn nắp, như thế mà lại tự kỷ?
Đúng. Đó là tôi, “một con đà điểu với hội chứng rối loạn phổ tự kỷ ở dạng bị
kìm hãm”, theo NgH. Trong cuộc sống nhiều phức tạp của cuộc nhân sinh, “Vùi đầu
xuống cát như đà điểu để đối phó với những hiểm nguy xung quanh” là cách ứng xử
mà con người tinh khôn rất nên học tập.”Nhưng phải chăng chính cái khôn ngoan ấy
lại là đầu mối của chia cách và ngăn cách. Khôn ngoan quá giúp người ta “đối
phó” với cuộc đời nhưng lại không hòa giải được với cuộc đời. Rốt cuộc, cuộc
tình tan vỡ. Vì sao? Kha bảo, “em là cái chuông anh biết cách rung, nhưng rung
mãi những âm thanh lục bục như nước sôi nồi đất riết cũng phát chán,” mặc dầu
Kha biết là “tôi chân thành và sẽ chung tình.” Hóa ra, hội chứng nhân sinh rốt
cuộc là thứ hội chứng: chỉ biết có mình!
ÁC TÍNH
Hội chứng nhân sinh có thể tìm thấy ở một truyện khác: “Ác
tính”, mộttruyện khá lạ về nội dung, gồm hai phần nối kết nhau.
Phần đầu, dịch từ một truyện Pháp, Maligne, kể chuyện bệnh
nhân Hores bị con quỷ háu đói hành hạ đến nỗi ăn mọi thứ, kể cả thịt của mình,
rồi chết. Con quỷ này, một khối u ảo, theo Hores, “Nó ẩn núp. Nó chống trả. Nó
ranh ma, khôn lỏi và biết suy nghĩ. Nó phát triển. Nó di động. Không phải vô cớ
mà người ta nói nó ác.” Nhưng theo Sam Kurger, bác sĩ điều trị tâm lý cho
Hores, nó“không gì khác hơn là kết quả từ những đau đớn trong tâm hồn. Cái người
ta dồn nén lại, cái người ta phủ nhận đi. Tất cả tích tụ lại. Quay mặt giả lơ với
ưu phiền không làm nó biến đi, trái lại còn làm nó thối rữa thêm trong góc
riêng.”
Phần sau, sáng tác, kể chuyện nhân vật “tôi”, khi đột ngột
khám phá trong cơ thể mình một khối u, đâm hoảng hốt và thấy nó tương tự như
con quỷ háu đói của Hores. Sau khi giải phẫu, trục cái khối u (thực) ra, nhân vật
“tôi” tự hỏi: “Thứ gì trong đầu mình và từ hồi nào đã tích tụ thành con quỷ
cái? Trong khối nhầy nhụa đó phải chăng rùng rùng dư chấn tuổi thơ, tình bất toại,
mộng tan tành - tất cả hợp thành bó, xoắn vặn? Nó đeo theo đứa nhỏ, ăn hớt tuổi
thanh xuân, đuổi bén gót những năm tháng trung niên, trì trì ở bụng dưới ngay
đúng cái nhánh đã từng có hoa trái. Nó cộm lên do dị ứng với hạnh phúc phẳng.”
Đọc xong “Ác tính”, thú thật, tôi rùng mình. Thì ra, cái ác
là “ác tính” (hay tính ác). Và ác tính nằm ngay trong mỗi người. Chợt liên tưởng
đến Tuân Tử: nhân chi sơ, tính bản ác, tính con người vốn ác. Phải chăng?
KẾT
Không dám chắc là tôi đã đoán trúng ý của NgH. NgH rất giỏi
nghệ thuật lăng ba vi bộ. Nhưng điều này đâu có gì quan trọng. NgH viết theo
cách của NgH. Tôi đọc NgH theo cách của tôi. Đi tìm những góc khuất trong văn
chương NgH, rốt cuộc, tôi bắt gặp những góc khuất chính mình.
[9] Il m’avait rattrapée par le bras et me retenait en riant.
Je me retournai vers lui et le regardai; il devint pâle comme je devais l’être
moi-même et lâcha mon poignet. Mais ce fut pour me reprendre aussitôt dans ses
bras et m’entrainer. Je pensais confusément: cela devait arriver, cela devait
arriver. Puis ce fut la ronde de l’amour: la peur qui donne la main au désir,
la tendresse et la rage, et cette souffrance brutale que suivait, triomphant,
le plaisir. J’eus la chance - et Cyril la douceur nécessaire - de le découvrir
dès ce jour-là.
[10] Đặng Thơ Thơ phỏng vấn Trần Thị NgH.
6/2019
Trần Hữu Thục








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét