Thứ Năm, 8 tháng 8, 2019

Rượu với văn chương

Rượu với văn chương
Người Việt Nam cũng như các dân tộc khác trên thế giới biết cách ủ rượu, nấu rượu và uống rượu từ lâu đời.
Nhiều nhà nghiên cứu khoa học cho rằng, rượu là một phát minh vĩ đại của con người sau lửa. Khi phát minh ra lửa thì con người đã bắt đầu ăn thịt chín. Đến lúc động vật hiếm dần, con người chuyển sang ăn thực vật. Mà một trong những loài thực vật đầu tiên con người cổ xưa tìm ăn là quả nho, loại quả hoang dại mọc ở vùng châu thổ sông Nin. Rồi quả nho cũng trở nên thưa vắng. Với bản tính tư hữu, con người đem nho về cất giấu tại nơi ở của mình. Nho được ủ lại sau mấy ngày đem ăn, họ cảm thấy khỏe hơn, thông minh hơn, yêu đời hơn… Và họ liền đặt cho cái lâng lâng đó một biệt danh là Spirít, nghĩa là linh hồn, ngày nay thuật ngữ ấy là Rượu.
Ngay từ thời đại các vua Hùng, việc ăn mặc của dân tộc ta tuy còn thô sơ, nhưng đã có một trình độ văn hóa nhất định. Sách Lĩnh Nam chích quái chép rằng:
“… Hồi quốc sơ, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung lư làm cơm, lấy cầm thú, cá, ba ba làm mắm, lấy rễ rừng làm muối, cày bằng dao… Đất sản xuất được nhiều gạo nếp, lấy ống tre mà thổi cơm…”.
Rồi qua một thời gian dài từ thế kỷ nọ đến thế kỷ kia, trên cơ sở những thực phẩm chính của dân tộc: loại chất bột chủ yếu là gạo, ngô, khoai, sắn; loại prôtít như cá, thịt; loại thực vật như rau, cà; loại chất lỏng như rượu, trà, dân ta đã chế biến và sáng tạo nhiều món ăn của người Việt.
Sách Văn hóa Việt Nam những điều học hỏi (NXB Văn hóa - Thông tin, 2008), Vũ Ngọc Khánh có nhắc: Ta thường hay nói tới bầu rượu, túi thơ, nhưng đã mấy ai nhớ đến bầu. Bầu là cái gì?
Xa xưa lắm, người Việt Nam có những Thần rượu, đã biết ông Lý Thiết Quài và những rượu đế, rượu ngang, rượu tăm, rượu cần, rượu nếp và… rượu quốc lủi. Xét về tên gọi, như thế, rượu của ta “bình dân” hơn, ít mỹ miều nhưng gần gũi với dân lao động hơn so với các quốc gia khác. Sự “bình dân” của rượu nước Nam đúng như câu ca dao cũ: Rượu ngon bất luận be sành.
Những thứ đựng rượu của dân mình bây giờ gọi là “bao bì” dân dã, quê kiểng nhưng thật gần gũi với cuộc sống. Ấy là những bè, nậm, hũ, be, cút, chĩnh, ché, sừng, bầu, bát… bằng gốm sứ, bằng vỏ quả bầu, bằng cả sừng và bằng cả bong bóng con vật rất gần gũi với thôn dân: con trâu. Bên mâm cỗ ngày xuân, ta không có những ly cà phê, cũng chẳng có những chén ngà, chén ngọc. Đồ uống của mình chỉ là dăm ba cái chén Bát Tràng, thứ to có chén vại, thứ nhỏ có chén hạt mít, bỗ bã hơn là tô, là ang. Ấy vậy mà vẫn chén chú, chén anh, chén tạc, chén thù một cách vui vẻ, đậm đà.
Đã nhắc đến bầu rượu thì cũng không nên quên cách uống rượu của người Việt. Cái nếp thanh lịch: “Bán dạ tam bôi tửu” (nửa đêm ba chén rượu) là của các nhà chữ nghĩa, thích an tâm dưỡng khí, chứ người dân ta thì uống bằng cút, bằng be, bằng vò, bằng hũ, bằng bát. Hồi công ty Nam Đồng Ích được nhà nước thực dân cho phép kinh doanh, sản xuất ra một thứ chai đựng rượu, có dán nhãn quảng cáo hình con hưu (hươu), thì được dân chấp nhận ngay, vì lượng rượu của nó vừa phải. Người ta gọi ngay là một hưu rượu. Cũng tương tự giống như khi dùng lon sữa bò để đong gạo, người ta cứ quen là suất ăn mỗi người một bò (đúng 250 gram)… Rượu ngoại, dân ta không chuộng. Người ta thích rượu của các làng cất lấy, có nồng độ, có chất lượng và nhất là thật hơn. Dân gian thường truyền đi những câu về tứ vật (khuyên tránh không lấy vợ; không chơi bạn; không đánh cờ và không uống rượu ở làng nào đấy), thực ra cũng có ý giới thiệu giá trị của rượu từng địa phương. “Vật ẩm Duy Tịnh tửu” (Đừng uống rượu ở làng Duy Tịnh). Thật ra thì rượu ở đây nổi tiếng khắp miền Thanh nên bị một số người tìm cách đánh tráo, lừa khách qua đường. Nhiều nơi khác, rượu được ưa chuộng như rượu làng Vân chẳng hạn. Vùng miền núi có rượu cần là loại rượu mà truyện cổ tích Mường Thái gọi là “nước thân, nước thương chảy ngược”. Chả là uống rượu không rót ra chén bát mà phải cầm cần hút cho rượu dưới vò chảy ngược lên trên miệng. Rượu cần uống vừa ngọt, vừa đậm, đổ bao nhiêu sừng trâu nước lã vào đấy mà không thấy nhạt, thường rất khó say. Người Mường có câu rất hay:
Ủ gạo làm rượu ngon
Đốt củi bên sưởi ấm.
Từ những hơi men, tạo nên con người. Nhà thơ Nguyễn Bính đã phải dặn đi dặn lại: Rượu cần em uống cho say/ Vui cùng chị một vài giây cuối cùng. Dù là dân gian, Nguyễn Bính vẫn là nhà thơ của thời đại mới, chứ những nhà thơ, nhà học giả thời trước phải uống rượu có bỏ hoa cúc vào. Rượu cúc, trà sen là rất quen thuộc với các cụ ngày xưa.
Nâng chén rượu, chén trà, các cụ sành ăn uống, các bậc văn sĩ phải biết chất lượng của trà, rượu: ở phần nào là cao hơn. Người ta sẽ bảo nhau: Rượu trên be, chè dưới chén (hay dưới ấm)…
Người xưa dạy “Trà tam rượu tứ” ý nói uống trà chỉ nên ba chén (pha tới lần thứ ba, sau đó thì nước đã nhạt); uống rượu chỉ nên bốn chén (chén mắt trâu, chén hạt mít) vì uống chừng đó còn đủ tỉnh táo, sáng suốt để nói năng.
Chén rượu của các cụ, các văn sĩ đâu phải chỉ là chén rượu bình thường. Có nhiều loại rượu:
Rượu tiễn biệt: Tiễn đưa một chén quan hà.
Rượu bằng hữu: Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.
Rượu thề nguyền: Chén son nguyện với trăng già.
Rượu chiến đấu: Chén tân khổ nhắp ngon mùi chính khí…
Hầu như trong nhiều loại cỗ bàn, dù là giỗ Tết hay hiếu hỷ thì thực phẩm dâng cũng chủ yếu vẫn là hoa quả. Điều ấy mang ý nghĩa tâm linh rất rõ. Tâm linh mà gắn với cội nguồn. Còn trầu, rượu sử dụng trong tất cả mọi trường hợp để tỏ lòng thành kính. Không rượu bất thành lễ. Đối với người bình dân nói chung, văn nghệ sĩ nói riêng, rượu đem lại cho họ nhiều cung bậc trong đời sống vật chất và tinh thần. Còn bảo người Việt ta uống nhiều rượu, đó là một chuyện khác, chúng tôi không bàn ở đây. Sinh thời, trong cuốn sách Nói chuyện với người uống rượu (NXB TP.Hồ Chí Minh, 1981), bác sĩ Trần Hữu Nghiệp dẫn ra một tư liệu đáng tin cậy, rằng “Xã hội Việt Nam thời trước, nhân dân lao động nói chung không hề lạm dụng rượu. Trong quyển sách in năm 1898, nhà bác học, là bác sĩ Can-mét (A. Calmette) ước lượng anh em “cu li” nghèo ở Sài Gòn tiêu thụ mỗi tháng từ 2,5 đến 3 lít rượu đế 36 chữ (độ), tức là trung bình ba ngày uống hết một xị, nghĩa là chỉ một phần tư lít. Không nhiều!”.
Đối với văn sĩ, đây đó, và thời nào họ cũng thường bị oan cho là họ uống nhiều rượu, thậm chí họ uống nhiều không thua những người ở ngành nghề khác, kể cả binh sĩ ngoài trận mạc. Xin nhắc một chuyện có thật bị hiểu lầm về rượu. Trong hồi ký của một vị tướng quân đội ta, tác giả kể rằng: Ở Điện Biên Phủ, sau khi bị ta bắt làm tù binh, tướng Đờ Cát hỏi:
- Có phải trước khi ra trận, các ông cho binh lính uống nhiều rượu mạnh không? Lính các ông nhỏ người, nhưng lúc xông vào sở chỉ huy của tôi, người nào mặt cũng đỏ gay, mắt quắc lên, mạnh mẽ trông thật đáng sợ.
Câu trả lời với tướng bại trận rất đơn giản:
- Không có rượu mạnh nào cả mà chỉ có chí căm thù. Căm thù các ông sang xâm lược nước tôi. Cái đó mạnh hơn rượu rất nhiều. (Sách Nói chuyện với người uống rượu).
Một chuyện khác: Năm 1973, mùa xuân. Hiệp định Hòa bình Paris về Việt Nam được ký kết, Nhà nước ta đã mời tiến sĩ Henri Kitxinhgiơ, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Hoa Kỳ sang thăm thủ đô Hà Nội. Sau khi mời đi thăm phố Khâm Thiên đổ nát, viếng đài tưởng niệm những người dân thường bị bom Mỹ hủy diệt đêm 26 tháng Chạp năm Nhâm Tý (1972), thăm Viện Bảo tàng lịch sử… Chính phủ ta mở tiệc chiêu đãi cố vấn Kitxinhgiơ, với cố vấn đặc biệt của Chính phủ ta Lê Đức Thọ. Sau các cuộc hòa đàm thẳng thắn, nóng bỏng ở Paris, hai vị cố vấn đã hiểu biết lẫn nhau hơn. Những câu chuyện vui nhưng không kém phần thâm ý của hai vị cố vấn giữa giờ giải lao của cuộc họp kéo dài căng thẳng và quyết liệt cũng có phần cởi mở và dễ chịu hơn. Sau những giờ phút lo lắng khi đặt chân đến thủ đô của một dân tộc bất khuất, ngàn năm văn hiến, tiến sĩ Kitxinhgiơ đã thật sự yên tâm. Do đó, khi cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ ngỏ lời mời tiến sĩ Kitxinhgiơ dự cuộc chiêu đãi trọng thể của Chính phủ ta, ông đã thẳng thắn hỏi:
- Thưa ngài, tôi có thể biết trước thực đơn không?
Cố vấn Lê Đức Thọ nói:
- Đó là các món đặc sản của dân tộc tôi, cơm tám, giò chả.
Người phiên dịch nói xong, tiến sĩ Kitxinhgiơ gật đầu rồi ra hiệu, hỏi tiếp:
- Trong bữa ăn có món rượu được đóng nắp bằng thứ lá chuối khô mà các ngài quen gọi là Quốc lủi không? (từ cuốc lủi ông ta không sao diễn tả hết được).
Cố vấn Lê Đức Thọ trả lời:
- Nếu ngài thích rượu đó.
Cố vấn Kitxinhgiơ nói ngay:
- Tôi nghe người Nga khen thứ rượu đó rất ngon.
Thế là trong bữa tiệc chiêu đãi cố vấn Kitxinhgiơ không thể thiếu rượu ngang. Nhưng không phải là rượu ngang làng Vân hay rượu ngang mua ngoài hàng nước. Đó là thứ rượu được cất bằng nước mưa với nếp quýt hoa vàng của tỉnh Thái Bình. Người nghệ nhân đóng chiếc cối xay thật là kỳ tài! Cả trăm hạt thóc cho vào xay đều vỡ bong thành hai cánh trấu. Như vậy còn chứng tỏ thóc được phơi rất đều nắng. Và sau cùng là khâu nấu cơm nếp, ủ men, cất rượu phải thật đúng quy trình và đúng nhiệt độ. Rượu này, vào ngày Tết, lễ của các nước anh em thuộc Đông Âu cũ, các đồng chí lãnh đạo vẫn gửi biếu các nguyên thủ quốc gia đó. Lần này đãi vị cố vấn đặc biệt Hoa Kỳ, thứ rượu ngon ấy lại được đem ra. Theo yêu cầu của khách, những chai rượu sủi tăm, nút lá chuối khô được bày ngay ngắn trên bàn tiệc. Tiến sĩ Kitxinhgiơ tấm tắc khen êm giọng và thơm đến rạo rực, kỳ diệu của hương gạo nếp. Ông bảo ông đã uống rất nhiều rượu trên thế giới nhưng không một thứ rượu nào nặng, êm giọng và thơm tuyệt vời như cuốc lủi Việt Nam. Và, ông đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ giải thích từ cuốc lủi. Ông Lê Đức Thọ nói đó là thứ rượu Nhà nước cấm tư nhân nấu để tiết kiệm lương thực phục vụ nhiệm vụ chiến đấu, song các ngày lễ, Tết cổ truyền ở Việt Nam người ta vẫn nấu một vài nồi. Có người dùng không hết đem bán lén ra thị trường, nên gọi là cuốc chui, cuốc lủi. Vị cố vấn tỏ ra khoái trá, cười ầm lên.
Bữa tiệc ấy, tiến sĩ Kitxinhgiơ cảm thấy thật ngon miệng. Ông đã uống rất nhiều và đã rất say!
Cứ nghĩ rằng ông khen xã giao, nhưng trước khi chia tay ông đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ nếu có tặng phẩm cho ông thì cứ cho xin dăm lít cuốc lủi để ông giới thiệu với bạn bè ông ở Mỹ thứ rượu tinh khiết, ngon tuyệt vời được cất ủ bằng một loại lương thực cao cấp của Việt Nam! Ông bảo, đó là một trong vài thứ rượu ngon tuyệt trần của thế giới mà ông có may mắn được thưởng thức. Ông còn hỏi giá thành rượu này có cao không? Cố vấn Lê Đức Thọ nói khoảng 500 đồng (lúc đó) một lít. Tiến sĩ Kitxinhgiơ phiên từ tiền Ngân hàng Việt Nam sang đôla Mỹ và thốt lên:
- Rẻ quá! Rẻ quá! Mà lại rất ngon, rất tuyệt, rất tinh khiết!
Theo sách Văn hóa rượu.
Tục ngữ có câu: “Rượu vào lời ra”, ấy là chỉ cái xấu của những người uống rượu nói dai, nhưng đối với người có nợ với văn chương thì rượu là nguồn cảm hứng bao la của bao nhiêu sáng tác văn học rực rỡ như đã thưa ở trên. Đường thi có câu: Đấu tửu thi bách niên - nghĩa là rượu vào hàng trăm bài thơ ra. Uống rượu, có triết lý về rượu, uống trà là có bao nhiêu những ưu tư nghiền ngẫm…
Đọc và chép lại những vần thơ cũ trích dẫn dưới đây, tôi nghĩ thơ cũng giống như rượu: càng lâu năm thì càng quý. Quan hệ mật thiết giữa rượu và thơ là như hình với bóng - cùng nhau trưởng thành già dặn qua thời gian, và tôi rất tán thành về sự so sánh giữa rượu và thơ của Ưng Bình Thúc Giạ Thị:
Rượu có mùi thơm nên uống mãi,
Thơ là thuốc bổ cứ ngâm hoài…
Người xưa cũng có câu:
Nửa đêm ba chung rượu
Sáng sớm giở chén trà
Ngày ngày cứ như thế
Thầy thuốc chẳng đến nhà.
Chúng ta cùng thưởng thức hương vị rượu qua những vần thơ trong văn học Việt Nam xưa.
Đặc điểm nổi bật của thẩm mỹ thời xưa là tính ước lệ. Gần đây, tháng 7-2016, trên báo Giáo dục với thời đại, Túy Phượng cho rằng:
Quan niệm về vẻ đẹp của con người cũng nằm trong mạch chảy đó. Chúng ta không lạ với chân dung người trai tài tử trung đại trong văn học Việt Nam được dựng bằng hình ảnh gắn liền với: cầm, kỳ, thi, tửu. Thành ngữ Cầm kỳ thi tửu với nội dung diễn tả lối sống tao nhã của nhà nho thời phong kiến. Họ lấy nghệ thuật và hương vị men cay (đánh đàn, chơi cờ, làm thơ, uống rượu) làm tiêu chí sống.
Cầm, kỳ, thi, tửu,
Đường ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay.
Đàn năm cung réo rắt tính tình đây,
Cờ đôi nước rập rình xe ngựa đó.
Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ,
Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà.
Cầm kỳ thi tửu - Nguyễn Công Trứ.
Còn Phạm Xuân Nguyên thì: Tôi cứ nghĩ có hai thứ lửa trên đời. Một thứ lửa của mặt trời là do đất trời thiên nhiên tạo ra cho muôn loài. Một thứ lửa của rượu là do con người tạo ra cho lòng mình. Lửa của mặt trời là lửa. Lửa của rượu là nước. Nhân loại có một thứ ngôn ngữ chung là rượu dù tên gọi của nó ở mỗi quốc gia dân tộc có khác nhau. Khi vui uống rượu mừng vui. Khi buồn uống rượu chia buồn. Lúc đám đông rượu để hòa đồng. Lúc cô đơn rượu để một mình. Rượu đem lại trạng thái say. Cái say nguyên thủy là say rượu, từ đó mới ra các thứ say khác: say người, say tình, say tài… Đây là nói cái say theo nghĩa đẹp, hoặc là nói say dưới góc độ mỹ học. Cái say viết hoa - SAY. Có ai trong đời không một lần say một cái gì không? Nếu có một người như thế thì người đó thật là bất hạnh, bất hạnh cho chính mình và bất hạnh cho đồng loại. Say là cảm giác tuyệt đỉnh, tột cùng. Trong say cảm xúc lên đến đỉnh chon von, châng lâng. Người uống rượu chân chính, đích thực không phải uống để say mà uống để SAY. Ai uống để say để quậy không phải là người uống rượu nữa mà là rượu uống người. Trong tất cả các nền văn hóa, có hơn một kiểu đồ uống mang chất rượu được dùng, các đồ uống được phân loại theo ý nghĩa xã hội của chúng, việc phân loại đồ uống được dùng để xác định thế giới xã hội. Rất ít, nếu không nói là tuyệt đối không có, thứ đồ uống “trung lập về mặt xã hội”. Mọi thứ đồ uống đều mang theo một ý nghĩa tượng trưng, mọi thứ đồ uống đều chuyên chở một thông điệp. Rượu là một phương tiện mang tính tượng trưng để nhận diện, miêu tả, cấu trúc và vận hành các hệ thống văn hóa, các giá trị, các quan hệ liên cá nhân, các chuẩn mực hành vi và các dự tính. Rượu có men, mỗi thứ rượu có một chất men riêng, người uống rượu ngấm men, bốc men, và rượu thì ai cũng uống được dù ít dù nhiều, nhưng uống rượu để men rượu ngấm vào lòng biến thành cái SAY tinh thần, cảm xúc thì chỉ ít người uống được. Lý Bạch nói: “Cổ kim thánh hiền giai tịch mịch. Duy hữu ẩm tửu lưu kỳ danh”, nhưng “kỳ danh” của những ẩm tửu gia lưu lại nhiều nhất là các thi nhân, như chính ông. Vì sao vậy? Vì rượu đã dẫn men nhập hồn thơ thi nhân làm bốc lên ngọn lửa của ý tình, cảm xúc, vần điệu khiến những câu thơ vụt ra đầu ngọn bút như cũng có men nồng gây say cho người đọc. Và chính cái SAY đó đã đưa chân Lý Bạch lội xuống hồ tìm vớt trăng lên. Có ai SAY được như ông Lý thế không.
Một số truyện thơ Nôm khuyết danh chứa đựng những nội dung rất đẹp về rượu:
- Thưởng xuân sinh cũng dạo chơi,
Thơ lưng lưng túi, rượu vơi vơi bầu.
Bích Câu kỳ ngộ.
- Hề đồng theo bốn năm thằng,
Thơ ninh ních túi, rượu lưng lửng bầu.
Nhị độ mai.
- Chè sen rượu cúc thảnh thơi,
Cóc ngồi chịu chuyện, Bén ngồi ngâm thơ.
Trê cóc.
Trong thơ khuyết danh có một bài khá hay, bài Rượu ngon cứ uống:
Rượu ngon ai chẳng chuộng,
Gặp rượu đây hãy uống một đôi vò
Gối chưa mòn, răng chưa rụng,
đầu chưa bạc, vai chưa so
Còn quắc thước dễ hồ ta chịu hẳn.
Xuân tàm đáo tử ti phướng tận
Lạp chúc thành hôi lệ vị can
Giốc nghìn vàng một tiệc cho yên
Như dụng ngã, tam niên thì biết rõ
Cơn chếnh choáng việc tầy trời cũng nhỏ
Dẫu thị phi, phi thị có là chi.
Mặc đời, hãy cứ uống đi…
Sách Cùng một lứa bên trời lận đận, NXB Thanh Niên, 2009.
Còn ca dao thì vô cùng nhiều:
- Đốt than nướng cá cho vàng
Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi.
- Rượu nhạt uống lắm cũng say
Anh nhiều lời nói, em ngây tấm lòng.
- Xưa kia ai biết ai đâu
Vì chung chén rượu mở đầu làm quen.
- Còn trời, còn nước còn non
Còn cô bán rượu, anh còn say sưa.
- Say là say nghĩa say nhân
Say thơ Lý Bạch, say đàn Bá Nha.
- Mang bầu đến quán rượu dâu
Say sưa quên hết những câu ân tình.
- Đố ai nằm võng không đưa
Ru em không hát, anh chừa rượu tăm.
- Tặng em một thúng xôi vò
Hai con lợn béo với vò rượu tăm.
- Làng Mui thì bán củi đồng
Nam Dư mía mật giàu lòng ăn chơi
Thanh Trì buôn bán mọi nơi
Đồng Nhân, Thúy Ái là nơi chăn tằm
Làng Mơ thì bán rượu tăm
Sở Lờ cua ốc quanh năm đủ đời.
Sách Ca dao - Ngạn ngữ Hà Nội, Hội Văn nghệ Hà Nội, 1972.
- Em là con gái Kẻ Mơ
Em đi bán rượu tình cờ gặp anh
Rượu ngon chẳng quản be sành
Áo rách khéo vá hơn lành vụng may
Rượu lạt uống lắm cũng say
Áo rách có mụn vá may lại lành.
- Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu hồng đào chưa nhắm đã say.
- Rượu nằm trong nhạo chờ em
Anh nằm phòng vắng chờ em tối ngày.
- Bắt con cá lóc nướng trui
Làm mâm rượu trắng đãi người phương xa.
- Rượu lạt uống riết cũng say
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm.
- Thương tôi rượu chén trầu cơi
Đến cùng phụ mẫu, đến nơi sinh thành.
Sách Bộ hành với ca dao, Lê Giang sưu tầm, NXB Trẻ, 2004.
Ở Nam Bộ có câu hát ru: Ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi/ Khó đi mượn chén ăn cơm/ Mượn ly uống rượu, mượn đờn kéo chơi. Mượn ly uống rượu thì chỉ cần một cái là đủ, để rảnh tay mượn thêm cây đờn kéo chơi nữa chớ!
Đó cũng chỉ là cách nói cà rỡn thôi. Người Nam Bộ có thói quen “trà tam rượu tứ” (hiểu theo cách: uống trà phải ba người và uống rượu thì bốn người) chứ không phải như câu giải thích mà các vị vừa đọc ở trang trước. Cách uống rượu ở Nam Bộ, một là người già trước bữa ăn uống một ly nhỏ rượu thuốc… cho tiêu cơm. Còn cuộc nhậu thì phải có bốn người trở lên mới vui. “Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu” thì ở Nam Bộ “trời biểu thôi”, có tri kỷ đến thăm thì phải báo hàng xóm, dòng họ gần đó đến chung vui, chớ hai người “thiên bôi thiểu” thì hàng xóm gọi là “hai ông hiệp sĩ” uống rượu ghiền!
Trong sách Đồng bằng sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa, nhà văn Sơn Nam đã sưu tầm được bài vè đám cưới xưa ở vùng đất phương Nam. Theo Sơn Nam, đám cưới ở miền đất mới này tổ chức rất đơn giản về nghi lễ, nặng về ăn uống và có hai thứ không thể thiếu là đờn ca tài tử và rượu. Mở đầu bài vè:
Dạy việc đám cưới chẳng phải là dễ
Che trại ra, mượn ván lót dài
Ngoài phòng trà lại có tay sai
Trong đãi rượu, ngoài trai dọn dẹp
Dĩa quả tử chưng ra coi đẹp
Ba bình bông kết phụng loan xòe
Rượu áp sanh mua lấy mười ve
Hai hũ rượu mâm trầu cho xứng
Bạc tiền hai gói đỏ niêm phong
Trong viên quan uống rượu đánh cờ
Ngoài tài tử đờn ca xướng hát…
Bài vè trên lời lẽ chưa ổn, văn vẻ còn tả chân, chưa  trau chuốt.
Cũng như trong văn học dân gian, trong các tác phẩm văn học Việt Nam xưa, rượu xuất hiện nhiều và không thể thiếu trong các nghi lễ. Trong chiến trận, tướng sĩ thể hiện tinh thần đoàn kết một lòng được Nguyễn Trãi ghi lại trong Bình Ngô đại cáo với chi tiết: Tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào. Chén rượu thề thể   hiện cho quyết tâm đồng cam cộng khổ cùng sinh tử vì đất nước.
Ở Hoa Tiên truyện của Nguyễn Huy Tự, rượu xuất hiện trong lời thề nguyện:
Tiên thề dù hãi chút lòng,
Trên mồ một chén, rượu trong cũng là.
Dùng rượu thay lời tiễn biệt trong các cuộc biệt ly:
Rót ba chén rượu phụng bồi,
Lễ đưa Đạo Dẫn, một hồi tạm ly.
Ngư Tiều y thuật vấn đáp - Nguyễn Đình Chiểu.
Rượu là hơi men làm cho tình bằng hữu thêm thắm thiết:
Cùng nhau kết bạn đồng tâm,
Khi cờ khi rượu khi cầm khi thi.
Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu.
Rượu trở thành nguồn cảm hứng, là đề tài của thơ ca:
Cùng nhau tả chút tình hoài,
Năm ba chén rượu một vài câu thơ.
Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu.
Trong bài Từ biệt cố nhân, cụ Đồ Chiểu viết:
Vì câu danh nghĩa phải đi xa
Day mũi thuyền nan dạ xót xa
Người dễ muốn chi nương đất khách
Trời đà khiến vậy mến vua ta
Một phương thà tránh đường gai góc
Trăm tuổi cho tròn phận tóc da
Chén rượu ấm lòng xin cạn chén
Nhớ nhau ngày khác biết sao mà.
Khi tướng sĩ thắng trận, vua thường dùng rượu để ban thưởng cho những công lao mà kẻ ở sa trường vừa lập được:
Sở Vương bước xuống kim giai,
Tay bưng chén rượu thưởng tài trạng nguyên.
Rượu có một vai trò rất lớn. Thế nhưng rượu cũng gây những tác hại không nhỏ. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ văn đã cảnh báo rõ những tác hại ghê gớm. Tướng sĩ dưới quyền: có kẻ thích rượu ngon thì khi giặc Mông Thát tràn sang chén rượu ngọt ngon sẽ không đủ làm giặc say chết, và như thế thì nguy cơ mất nước tan nhà đã hiển hiện trước mắt.
Đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, cụ Đồ Chiểu cũng chỉ trích nặng nề những kẻ cam tâm làm tay sai cho giặc để được chia rượu lạt gậm bánh mì nghe càng thêm hổ!
Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705, quê ở trấn Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Năm 37 tuổi, bà mới nhận lời lấy Nguyễn Kiều, một tiến sĩ nổi tiếng hay chữ, đã góa vợ. Vừa cưới xong, Nguyễn Kiều lại phải đi sứ Trung Quốc ba năm. Có lẽ trong thời gian xa chồng này, Đoàn Thị Điểm đã dịch ra quốc âm tập Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Năm 1745, Nguyễn Kiều về nước được cử làm tham thị ở Nghệ An. Đoàn Thị Điểm cùng đi với chồng. Trên đường đi, bà bị cảm nặng và mất ở Nghệ An vào ngày 11 tháng 9 âm lịch (năm Mậu Thìn). Chúng tôi xin trích một đoạn trong Chinh phụ ngâm:
Ngòi đầu cầu nước trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền
Nước có chảy lòng phiền khôn rửa
Cỏ có thơm dạ nhớ chẳng khuây
Nhủ rồi, nhủ lại cầm tay
Bước đi một bước, giây giây lại dừng
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo
Dạ chàng xa, tìm cõi thiên san
Múa gươm, rượu tiễn chưa tàn
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.
Thi, cầm, kỳ, tửu cũng được nhắc đến trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Đây là khúc ngâm lấy lời người cung nữ bị vua ruồng bỏ, oán than về thân phận mình. Mở đầu là hình ảnh một đêm thu lạnh lẽo, người cung nữ sống cô đơn trong cung cấm đang hồi tưởng về nông nỗi cuộc đời mình. Nàng nhớ lại thuở còn chưa vào cung. Nhan sắc lộng lẫy, tài cầm, kỳ, thi, tửu đều hơn người, tiếng tăm vang lừng khắp trong nước, khiến cho biết bao nhiêu vương tôn, công tử hâm mộ, nhưng nàng vẫn chẳng để ý đến một ai.
… Câu cầm tú đàn anh họ Lý
Nét đan thanh bậc chị chàng Vương
Cờ tiên rượu thánh ai đang
Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm
Cầm điếm nguyệt phỏng tầm Tư Mã
Địch lầu thu đường gã Tiêu Lang
Dẫu nghề tay múa miệng xang
Thiên tiên cũng xếp nghê thường trong trăng…
Cung oán ngâm khúc
Về sau, những bậc hiền tài, nặng lòng thương dân yêu nước, không bao giờ xem thú tiêu khiển “cầm, kỳ, thi, tửu” là thật hay, thật tốt, trái lại ôn tồn, răn dạy cháu con: Đua chi chén rượu, câu thơ/ Thuốc lào ngon nhạt, nước cờ thấp cao (Nguyễn Trãi, Gia huấn ca).
Nhưng ở góc độ thể hiện tâm trạng, từ thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã để lại những vần thơ đầy cảm xúc:
Chén rượu câu thơ ấy hứng nồng
Ngõ tênh hênh nằm cửa trúc
Say lểu thểu đứng đường thông.
Thuật hứng, 16.
Trong Quốc Âm thi tập, Nguyễn Trãi có những vần thơ về rượu:
Túi thơ bầu rượu quẩy xình xoàng
Khỏe dụng đầm hâm mấy dặm trường…
Bài số 8.
hoặc:
- Chén chăng lọ chuốc rượu la phù
Khách đến ngâm chơi miễn có câu
Lòng một tấc son còn nhớ chúa
Tóc hai phần bạc bởi thương thu.
Mạn thuật, số 7.
- … Rượu năm ba chén đổi công danh
Ngoài chưng phần ấy cầu đâu nữa
Cầu một ngồi coi đời thái bình.
Tự thán, số 10.
- … Công danh lỡ đường vô sự
Non nước ghê chốn hữu tình
Nào của cởi buồn trong thuở ấy
Có thơ đầy túi, rượu đầy bình.
Tự thán, số 16.
- Ngủ thì nằm, đói thì ăn
Việc văn ai hỏi áo bô cằn
Tranh trương vách nài chi bức
Đình thưởng sen năng có gian
Vườn quỳnh dầu chim kêu hót
Cõi trần có trúc đứng ngăn
Già (trà) vưỡn lấy rượu làm khỏe
Hoại lại quen lòng khó khăn.
Tự thán, số 40.
Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm tiêu diêu trong cảnh nhàn tản, đã hạ bút:
Một mai một cuốc một cần câu
Thơ thẩn dù ai vui thú nào
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp
Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao…
Bài Nhắp rượu.
Và xem đó như một lẽ sống để tránh xa thói đời.
Mạnh mẽ, quyết liệt như Hồ Xuân Hương cũng có lúc ngao ngán cho phận hồng nhan, mượn men rượu để quên đi thực tế phũ phàng, chua chát. Buồn thay, rượu càng uống càng tỉnh, tỉnh để nhận rõ sự đời ngao ngán:
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn.
Tự tình
Còn bà Huyện Thanh Quan thì:
Bầu giốc giang sơn say chấp rượu
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ.
Tức cảnh chiều thu
Nguyễn Công Trứ thì tỏ thái độ qua những vần thơ ngông ngạo với đời:
- Ai say, ai tỉnh, ai thua được,
Ta mặc ta, mà ai mặc ai.
- Thơ một túi, phẩm đề câu nguyệt lộ,
Rượu ba chung, tiêu sái cuộc yên hà.
- Thơ một túi gieo vần Đỗ, Lý
Rượu lưng bầu rót chén lưu linh.
Cầm kỳ thi tửu, bài 3.
Một bài khác của Nguyễn Công Trứ:
Trời đất cho ta một cái tài,
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.
Dở duyên với rượu không từ chén,
Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời.
Cờ sẵn bàn sơn, xe ngựa đó,
Đàn còn phím trúc, tính tình dây.
Ai say, ai tỉnh, ai thua được,
Ta mặc ta, mà ai mặc ai.
Bài Cầm kỳ thi tửu.
Và một bài nữa, bài Thú uống rượu của Nguyễn Công Trứ:
Đánh ba chén rượu khoanh tay giấc
Ngâm một câu thơ vỗ bụng cười
Cái công danh là cái nợ đời
Đường thản lý cát nhân chi đã vội
Giắt lòng giang sơn vào nửa túi
Rót nghiêng phong nguyệt cạn lưng bầu
Cảnh cùng thông ai có bận chi đâu
Mùi tiêu sái trần gian âu mấy nhỉ.
Bởi trót đã khuya sớm với rượu nên nhà thơ ngày đêm vẫn uống cho dù mặc người đời khen hay chê thì cứ bỏ ngoài tai, miễn sao vào vòng cương tỏa chân vẫn không vướng, tới cuộc trần ai, áo cũng chẳng hoen:
Trót đà khuya sớm với ma men,
Mặc kệ người chê, mặc kệ khen.
Ngó lại hàng rào hương cúc lộn,
Trông ra cửa sổ bóng trăng chen.
Vào vòng cương tỏa chân không vướng,
Tới cuộc trần ai áo chẳng hoen.
Cứ những ai hay tình thú ấy,
Có chăng Bành Trạch với Thanh Liên.
Bài Uống rượu tự vịnh của Nguyễn Công Trứ.
Trong bài Cầm kỳ thi tửu của Nguyễn Công Trứ, ta thấy mấy món ăn chơi thanh lịch bổ túc cho nhau:
Tiếng đàn hay, làm cơ sáng nước
Ý thơ vui, vì rượu say nồng.
Thơ túi rượu bầu là hình ảnh của người đã thoát vòng danh lợi và là phần thưởng của kẻ đã trả xong nợ đời.
Nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu.
Chí làm trai - Nguyễn Công Trứ
và…
Hẹn với lợi danh ba chén rượu
Vui cùng phong nguyệt một bầu thơ.
Thoát vòng danh lợi - Nguyễn Công Trứ
Cùng là “uống rượu tiêu sầu” nhưng ở Cao Bá Quát đã có một phong vị khác thường, nó nói lên con người này không chỉ có chất Lão - Trang “Mảnh hình hài không có có không”, nhàn tản “Trầm tư bách kế bất như nhàn”, mà còn có một cái nhìn bao trùm “cửu hoàn”, “kim cổ” - cái kích thước ấy, không phải chỉ để “nói chí” mà quả là có cái phi thường:
Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy?
Cảnh phù du trông thấy đã nực cười.
Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,
Tiêu khiển một vài chung lếu láo.
Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu,
Trầm tư bách kết bất như nhàn.
Dưới thiều quang thấp thoáng bóng Nam San,
Ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ.
Khoảng trời đất cổ kim kim cổ,
Mảnh hình hài không có có không.
Lọ là thiên tứ vạn chung.
Và đây là bài “Uống rượu tiêu sầu” thứ hai, cũng trích trong Cao Bá Quát toàn tập, tập I, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, NXB Văn học, 2004.
Thế sự thăng trầm quân mạc vấn,
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu.
Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu,
Đem mộng sự đọ với chân thân thì cũng hết.
Duy giang thượng chi thanh phong,
Dữ sơn gian chi minh nguyệt.
Kho trời chung, mà vô tận của mình riêng.
Cuộc vuông tròn phó mặc khuôn thiêng,
Ai thành thị, ai vui miền lâm tẩu.
Gõ nhịp lấy, đọc câu “Tương tiến tửu”:
“Quân bất kiến
Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi”.
Làm chi cho mệt một đời.
Đối với Cao Bá Quát nhìn hơi men là để nhìn đời, nhìn người:
Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu - (Hễ) quán rượu ở đầu gió có rượu ngon.
Tỉnh giả thường thiểu, túy giả đồng - (Thì) ít người tỉnh mà vô số người say.
Rồi phó mặc cho thế sự:
Thôi công đâu chuốc lấy sự đời
Tiêu khiển một vài chung lếu láo.
Uống rượu tiêu sầu.
Trước khi chúng tôi dành khá nhiều trang để nói về rượu trong Truyện Kiều, xin mời quý bạn đọc lại bài thơ về rượu rất hay của đại thi hào Nguyễn Du. Bài thơ chữ Hán có tựa đề Đối tửu, tạm dịch như sau:
Ngồi xếp bằng tròn trước cửa sổ,
rượu vào hơi say, mắt lim dim
Vô số cánh hoa rơi trên thềm rêu xanh
Lúc sống, không uống cạn chén rượu
Chết rồi, ai rưới lên mồ cho?
Sắc xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi
Năm tháng ngầm thôi thúc đầu bạc
Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày
Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn.
Sách Tinh tuyển Văn học Việt Nam, Văn học thế kỷ 18, NXB Khoa học xã hội, 2004.
Nhân vật Thúy Kiều chịu cảnh thân lươn bao quản lấm đầu trong kiếp hồng nhan mong manh thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần. Thế nhưng đời nàng cũng có lúc nồng ấm với men tình, men rượu, có lúc đắng cay tủi nhục với những cơn say túy lúy. Lần đầu tiên, rượu đến với Kiều như men tình hạnh phúc cùng chàng Kim Trọng:
Thêm nến giá, nối hương bình,
Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan.
Chén quỳnh chứng cho lời minh sơn thệ hải. Nhưng bể dâu biến đổi, Kiều phải thăng trầm trong bước đường lưu lạc. Kiều rơi vào lầu xanh của mụ Tú Bà, chấp nhận cái cảnh Biết bao bướm lả ong lơi/ Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm cho đến:
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Truyện Kiều từ trước tới nay vẫn được coi là một tác phẩm văn học cổ điển ưu tú trong lịch sử văn học nước ta, được phổ biến rất rộng rãi trong nhân dân. Dưới rất nhiều hình thức, như: lẩy Kiều, tập Kiều, bói Kiều, đố Kiều… Gần 200 năm từ khi Truyện Kiều ra đời tới nay, nhân loại đã tốn không biết bao nhiêu là giấy mực để bàn tới nó. Nói chuyện “văn nghệ giữa đời thường”, chúng tôi đã sưu tầm được và biên soạn chữ Tửu trong Truyện Kiều của Hồ Tĩnh Tâm, do kỷ lục gia nghiên cứu truyện Kiều Phan Đan Quế cung cấp đôi nét về THI - TỬU trong Truyện Kiều - Vốn là một đề tài từ trước tới nay hình như rất ít người đề cập.
Cứ như Nguyễn Du miêu tả, thì Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, có thể làm xiêu thành đổ quách; nhưng dường như trong số kiếp đã ẩn sẵn “một thiên bạc mệnh”. Chính vì vậy, khi tình yêu giữa nàng và chàng Kim mới vừa chớm nở, họ đã lập tức thành tâm giao tâm đắc, tri kỷ tri âm, cùng vịnh thơ với nhau, nâng bầu mời rượu với nhau. Ưu ái cho tình yêu của đôi trai tài gái sắc, chỉ trong một ngày, Nguyễn Du đã phóng tay, để cho họ được tới hai lần uống rượu với nhau.
Lần thứ nhất vào ban ngày. Nhân cha mẹ và hai em về dự sinh nhật bên ngoại, Thúy Kiều đã tìm đến tận thư phòng của Kim Trọng để tình tự. Kiều vẽ tranh Đạm Thanh. Chàng Kim thảo vài câu thơ vào tranh ấy. Rồi hai người chuốc rượu mời nhau. Xét theo quan điểm “nam nữ thụ thụ bất thân”, việc chỉ có hai người với nhau trong thư phòng vắng vẻ, đã là một điều cấm kỵ; đằng này, cụ Nguyễn còn giải phóng cho họ nâng ly mời nhau, thì… cụ Nguyễn quả là người đi tiên phong đầu tiên trong lĩnh vực giải phóng phụ nữ.
Phải chăng đây là lần đầu Kiều uống rượu:
Đủ điều trung khúc ân cần,
Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.
“Trung khúc” là khúc lòng thầm kín. “Đủ điều trung khúc ân cần” là hai người nói với nhau rất nhiều về nỗi niềm thầm kín của lứa đôi. Đã vậy lại còn thêm chén rượu nồng đưa đẩy, đến mức “lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng”. “Chén xuân” là chén rượu tỏ tình yêu. Càng uống càng thấy “lòng xuân” tràn đầy tình yêu “phơi phới”, đến mức đã “tàng tàng” với nhau, tức cả hai đều đã ngà ngà vì nhau và vì rượu. Không biết cuộc hàn huyên bắt đầu từ bao giờ. Nhưng chắc chắn là nó đã kéo dài tới mức cả hai đều quên cả thời khắc, nên mới giật mình nhận thấy: “Trông ra ác đã ngậm sương non đoài”.
Uống như vậy gọi là uống rượu tình trong buổi đầu bày tỏ. Chỉ có hai người thôi. Cụ Nguyễn thật là khéo. Vậy mà nào đã thôi đâu. Liền đó, cụ Nguyễn đã mạnh bạo đi thêm nước cờ thứ hai, mà tôi dám đoan chắc rằng, toàn bộ giai cấp thống trị phong kiến, và những nhà hủ nho phong kiến, nhất định sẽ phải giãy nảy lên mà la làng. Vì cụ Nguyễn đã cách tân quá thể, khi cụ dám để Thúy Kiều ngay trong đêm hôm đó, khi vừa mới chia tay trở về, đã lập tức quay ngay trở lại, bằng cách “xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình”. Quả là táo bạo tới không tưởng nổi. Thân gái đêm hôm, dám một mình xăm xăm đi tắt tới nhà trai. Vào thời ấy, hẳn chỉ có Nguyễn Du mới dám viết như vậy.
Và cuộc rượu ái tình lần này mới thật là đáng nhớ. Thơ Nguyễn Du dành cho họ, cứ như chảy tràn ra từ đáy cốc; lóng lánh ngời lên tình yêu đôi lứa.
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Chén hà sánh giọng quỳnh tương,
Dải là hương lộn bình gương bóng lồng.
Quả là phong lưu, phong vận, tao nhã và đài các. Không gian hẹp, không gian rộng đều tuyệt cả. Trong phòng thì lửa nến, hương trầm; ngoài trời thì vầng trăng vằng vặc. Không gian ấy, thời gian ấy, cảnh ấy… sinh tình xiết bao. Họ không chỉ nói với nhau lời vàng đá, mà còn thảo ra lời vàng đá, rồi cùng nhau thề thốt đinh ninh “hai mặt một lời” với bầu xanh cao vòi vọi.
Lần đầu gặp nhau “trong tiết tháng ba”, “Vương Quan quen mặt ra chào”, còn “hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa”, ấy vậy mà Kim, Kiều đã đem lòng tương tư. Lần thứ hai gặp nhau nâng chén, hai bên đã lập tức bày tỏ nỗi niềm thầm kín trắc ẩn. Còn lần này thì họ đã vượt lên tất cả lệ luật của đạo giáo và của thời đại. Họ tự xe duyên bằng “tóc tơ căn vặn tấc lòng, trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”. Họ đâu cần ông tơ bà nguyệt. Chất “anh hùng ca” của tình yêu tự “giải phóng” là ở chỗ đó. Thúy Kiều đâu phải là cô gái “ngoan thảo” chịu chấp nhận “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Thúy Kiều là hiện thân của tư tưởng tự giải phóng khỏi ràng buộc lễ nghi phong kiến. Đó chính là tư tưởng của Nguyễn Du, tình yêu của Nguyễn Du, đối với một tầng lớp nhân dân bị đè nén và ràng buộc bởi tư tưởng phong kiến, đạo giáo phong kiến, và lề luật phong kiến, tới mức thống khổ.
Nếu như “tiên tửu” là một cách uống đẹp, thì cuộc rượu “tiên thề” của chàng Kim và nàng Kiều cũng là một cách uống đẹp (tôi gọi là “tình tửu” hay “đôi lứa tửu”) - “Chén hà” là chén ngọc nhuốm ráng chiều, rực lên. “Quỳnh tương” là rượu quý. Chén quý không thể rót rượu xoàng. Rượu quý không thể uống chén xoàng. Chén và rượu phải “sánh giọng” với nhau. “Dải là hương lộn” là những dải lụa ở trong thư phòng đều có tẩm mùi trầm hương bay lộn lên mà thấm vào. “Bình gương bóng lồng”. “Bình” là bức bình phong trong thư phòng. “Gương” là tấm gương soi gắn trên bình phong. “Bình gương bóng lồng” là bóng hai người lồng vào nhau trong tấm gương soi trên bức bình phong. Thiết nghĩ, chỉ với hai câu lục bát, thì không thể nào còn có thể tả hay hơn và đẹp hơn về cảnh đôi lứa nâng ly thề nguyền được nữa!
Hơn 10 năm trước đây, Hồ Tĩnh Tâm cho biết, khi cùng Hoàng Dân viết cuốn Luận về Truyện Kiều (NXB Thanh Niên, 2002), chúng tôi, không hiểu sao lại bỏ qua vấn đề rượu trong Truyện Kiều rất thú vị này?! Nay mới được dịp dư dả thời gian, lại được sự khuyến khích của mấy ông bạn thơ, bạn rượu, chuyên chú vào chỉ một đề tài ấy, chúng tôi mới để tâm đọc kỹ lại Nguyễn Du - Truyện Kiều để cho bài khảo luận này.
Tất nhiên thơ cụ Nguyễn Tiên Điền thuộc loại thi ca kinh điển Việt Nam: mênh mông, siêu uẩn, càng đọc càng hay, càng nghĩ càng ngợp, lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu. Tài lực chúng tôi chỉ mong manh hạt bụi, nên đành biết đâu nói đấy, bạo gan đánh trống qua cửa nhà sấm, không khỏi khiến các bậc thức giả, các nhà Kiều học, các tửu đồ, thi nhân bốn phương chê cười… thì cũng đành cam chịu tiếng hàm hồ, con oanh học nói… chứ còn biết làm sao cho thỏa tấm lòng yêu kính Tố Như tiên sinh được đây!
Người biên soạn công trình này cho biết: Tổng số câu thơ/ lần trong Truyện Kiều nói về rượu và uống rượu là 28/28 trong tổng số 3254 câu thơ, (khoảng 2,9%); trải dài suốt quá trình phát triển của cốt truyện từ đầu (gia thế - gia biến - lưu lạc - đoàn viên) đến cuối. Nếu so sánh với các truyện Nôm hữu danh và khuyết danh khác, các văn tế, khúc ngâm thời trung đại ở Việt Nam thì Truyện Kiều có tổng số lần/ câu nói về rượu - uống rượu nhiều nhất, phong phú nhất.
Sau đây là thứ tự câu, ngữ cảnh nói đến rượu - uống rượu trong Truyện Kiều và hoàn cảnh xuất hiện (bản của Đào Duy Anh, NXB Văn học, 1979), theo trình tự cốt truyện:

Lần thứ

Thứ tự câu

Ngữ cảnh

Hoàn cảnh xuất hiện

1

424

Đủ điều trung khúc ân cần

Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng.

Ngày vui ngắn chẳng đầy gang

Kiều - Kim gặp gỡ tại nhà trọ của Kim.

2

454

Chén hà sánh giọng quỳnh tương

Dải là hương lộn, bình gương bóng lồng.

Kiều - Kim cùng uống rượu sau lễ thề nguyền dưới trăng.

3

701

Thề hoa chưa ráo chén vàng

Lỗi thề, thôi đã phụ phàng với hoa.

Kiều ngồi một mình trong đêm, sau quyết định bán mình chuộc cha.

4

727

Kể từ khi gặp chàng Kim

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

Trong đêm trao duyên.

5

1039

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống hãy rày trông mai chờ.

Tâm trạng Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích.

6

1230

Biết bao bướm lả ong lơi

Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.

Cuộc sống của Kiều sau khi nàng buộc phải nhận tiếp khách.

7

1233

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,

Giật mình, mình lại thương mình, xót xa!

Kiều một mình trong đêm tàn tại lầu xanh của Tú Bà.

8

1295

Khi gió gác, khi trăng sân,

Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ.

Kiều - Thúc tại lầu xanh của Tú Bà.

9

1473

Mảng vui rượu sớm, cờ trưa

Đào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh.

Cuộc sống Kiều - Thúc tại nhà riêng ở Lâm Tri.

10

1499

Tiễn đưa một chén quan hà

Xuân đình thoắt đã đổi ra Cao đình.

Kiều tiễn Thúc về thăm Hoạn Thư - vợ cả.

11

1504

Cầm tay dài ngắn thở than

Chia phôi ngừng chén hợp tan nghẹn lời.

nt

12

1517

Chén đưa nhớ bữa hôm nay

nt

13

1518

Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau.

nt

14

1571

Tẩy trần vui chén thong dong

Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra.

Hoạn Thư mở tiệc mừng chồng về thăm.

15

1834

Tẩy trần, mượn chén giải phiền đêm thu.

Hoạn Thư - Thúc Sinh uống rượu, Kiều hầu rượu.

16

1835

Vợ chồng chén tạc chén thù



17

1836

Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.

Bắt khoan bắt nhặt đến lời

Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay.

Sinh càng như dại như ngây.

Thúc Sinh vừa uống vừa khóc.



18

1840

Giọt dài giọt ngắn, chén đầy chén vơi

Ngảnh đi, chợt nói chợt cười.

Thúc cáo say, lảng ra.

19

1842

Cáo say, chàng đã tính bài lảng ra.

Tiểu thư vội thét: - Con Hoa!

Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn!

Sinh càng nát ruột tan hồn.

Thúc đành phải cạn chẽn nữa.

Hoạn lại bày tiếp trò chơi.

20

1846

Chén mời phải ngậm bồ hòn, ráo ngay!



21



Tiểu thư cười nói tỉnh say



22

1847

1848

Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.



23

2568

Bắt nàng thị yến dưới màn,

Dở say, lại ép cung đàn nhặt tâu

Hồ Tôn Hiến dở say, bắt Kiều đàn.

24

2590

Hạ công chén đã quá say

Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra.

Hồ Tôn Hiến quá say trong tiệc.

25

3061

Tàng tàng chén cúc dở say,

Đứng lên, Vân mới giãi bày một hai.

Tiệc đoàn viên ở nhà họ Vương.

26

3135

Động phòng dìu dặt chén mồi

Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa.

Kiều - Kim uống rượu đêm động phòng.

27

3190

Thêm nến giá, nối hương bình

Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan.

nt

28

3223

Khi chén rượu, khi cuộc cờ,

Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.

Cuộc sống của Kiều sau đêm đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ.
Cụ thể, trong Truyện Kiều, chúng tôi nhận thấy:
- 18/28 lần tả - kể trực tiếp cảnh uống, say rượu.
- 3/28 lần Kiều hồi ức nhớ lại cảnh uống rượu thề dưới trăng.
- 6/28 lần tả cuộc sống, sinh hoạt của các nhân vật, tả thời gian trôi.
- 3/28 lần tả uống rượu buổi chia ly (Kiều - Thúc).
- 3 lần tả uống rượu đoàn viên (Vân - Kiều - Kim).
- 14/28 lần tả tâm trạng nhân vật khi uống rượu, lúc say, lúc tỉnh.
Trong Truyện Kiều, Kiều uống rượu cùng Kim Trọng tất cả 7 lần. 2 lần trong đoạn đầu: gặp gỡ - thề bồi; 2 lần trong đêm đoàn viên - hội ngộ. Còn 3 lần trong thời gian gia biến - lưu lạc được Nguyễn Du tái hiện trong hồi ức của Kiều chỉ nhớ về lần uống thứ hai. Sau khi cùng chàng Kim quỳ bái dưới trăng: Tóc tơ căn vặn tấc lòng/ Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương, thì đến cảnh: Chén hà sánh giọng quỳnh tương/ Giải là hương lộn, bình gương bóng lồng… sống lại trong trí nhớ của Kiều như vừa mới… đêm qua. Như vậy, thực tế Kiều - Kim đối ẩm có 4 lần. Giữa 2 lần đầu và 2 lần cuối cách nhau dằng dặc một khoảng thời gian 15 năm.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nguyễn Khuyến với bao tâm trạng khi phải cáo quan về quê nhà sống cuộc đời thanh đạm, cũng mượn rượu để giải khuây đầy vơi tâm sự. Chúng tôi xin dẫn một số đoạn trích và một vài bài thơ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến.
Trổ tài muốn học ông say,
Thì ba trăm chén dốc ngay cạn bầu.
Khi Dương Khuê mất, tất cả dường như đã chấm dứt với cụ Yên Đổ:
Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau
… Có khi từng gác cheo leo
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân
Có khi bàn soạn câu văn
Biết bao đông bích điển phần trước sau
… Ai chẳng biết chán đời là phải
Sao vội vàng đã mải lên tiên
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua.
RƯỢU
Trời sinh ăn uống đã thành quen,
Nghi Địch trời con đáng đặt tên!
Nghiêu, Thuấn trước không bài Tửu cáo,
Thương, Chu mới có tiệc Tân diên.
Ví cho men gạo dùng không tốt,
Sao ở văn chương tiếng vẫn truyền?
Nhìn lại bọn ta đâu vắng cả?
Đeo bầu chỉ có lão này tiên!
UỐNG RƯỢU MÙA THU
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy,
Độ năm ba chén đã say nhè.
UỐNG RƯỢU Ở VƯỜN BÙI
Túy ông ý chẳng say về rượu,
Say vì đâu nước thẳm với non cao.
Non lạnh ngắt, nước tuôn ào
Tôi với bác xưa nay cùng thích thế!
Đời trước thánh hiền đều vắng vẻ,
Có người say rượu tiếng còn nay
Cho nên say, say khướt cả ngày,
Say mà chẳng biết rằng say ngã đùng
Chú Ba Nhân thuở trước sang sông,
Chỉ tỉnh rượu ba ngày không phải ít
Kêu gào thế cười chi cho mệt
Chớ buồn chi nghe tiếng hát làng say
Xin ngươi gắng cạn chén này.
CHƠI TÂY HỒ
Thuyền lan nhè nhẹ,
Một con chèo đủng đỉnh dạo hồ Tây.
Sóng dập dờn sắc nước lẫn chiều mây
Bát ngát nhẽ, ghẹo người du lãm
Yên thủy mang mang vô hạn cảm,
Ngư long tịch tịch thục đồng tâm.
Rượu lưng bầu mong mỏi bạn tri âm,
Xuân vắng vẻ biết cùng ai ngâm họa?
Gió hây hây nức mùi hương xạ,
Nhác trông lên vách phấn đã đôi bài.
Thơ ai xin họa một bài!
ĐẠI LÃO
Năm nay tớ đã bảy mươi tư,
Rằng lão, rằng quan tớ cũng ừ.
Lúc hứng, uống thêm dăm chén rượu,
Khi buồn ngâm láo một câu thơ.
Bạn già lớp trước nay còn mấy?
Chuyện cũ mười phần chín chẳng như.
Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa,
Thử xem trời mãi thế này ư?
SAU KHI SAY
Năm chục xuân thu, nửa mẫu ao,
Trước song nằm khểnh thảnh thơi sao.
Bùn sâu, mặt nước sen che kín,
Gió cuốn, ven đường cỏ lướt theo.
Câu vặt chi cần người khác thưởng,
Cảnh nhàn chỉ có rượu thêm hào.
Xuân tàn, mắt lóa trông nào rõ,
Chỉ thấy lơ mơ ánh nắng chiều.
CHỪA RƯỢU
Những lúc say sưa cũng muốn chừa,
Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.
Hay ưa nên nỗi không chừa được
Chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa.
Nguyễn Khuyến là nhà thơ có nhiều duyên nợ với rượu, cả trong đời lẫn trong sáng tác thơ văn. Theo Hồ Tĩnh Tâm, trong thơ Nôm, thơ chữ Hán đã có 53 lần Yên Đổ nói đến rượu - uống rượu. Có rất nhiều bài hay và đoạn thơ hay mà chúng tôi đã giới thiệu một ít bài kể trên, nếu chúng ta muốn biết thêm, đó là các bài: Nếm rượu, Chén rượu Đồ Tô, Rượu Trung Sơn, Ông phỗng đá, Chợ Đồng, Mừng ông nghè mới đỗ, Ngày xuân gửi bạn…
Nhà thơ Tú Xương cũng rất thích rượu. Một buổi sáng nọ, các chai, nậm, trong nhà ông không còn một giọt nào. Người ông bần thần, chân tay rời rạc khiến ông không sao cầm bút viết nổi một chữ. Ông cứ đứng lên ngồi xuống, ra ra vào vào ngóng vợ, y như trẻ con ngóng mẹ.
Bà Tú cắp thúng từ chợ Rồng về đến cửa, ông Tú đã ra đón, gãi đầu gãi tai, nói:
- Tôi mong bà phỏng cả mắt, bà có thấy sốt ruột nóng gan không?
- Có chuyện gì vậy ông? - Bà Tú ngạc nhiên hỏi.
- Hôm nay tôi muốn uống với bà mấy chén rượu, tạo cảm hứng viết một bài thơ tặng bà. Tôi vừa tìm ra tứ…
Bà Tú (tên thật là Phạm Thị Mẫn) vốn cũng thuộc dòng nho gia. Bà rất yêu thích thơ văn. Với văn chương ông Tú, bà là độc giả số một. Vậy nên khi ông hé lộ việc ông sắp viết thơ tặng bà thì bà hưởng ứng ngay, dù bà thừa biết ông làm thơ tặng bà lúc này còn vì muốn được bà chuốc rượu.
Bà Tú đã phỏng đoán không sai: Bà cầm cả mấy cái chai, cái nậm trong góc nhà giơ lên lắc lắc thì chẳng có cái nào phát ra thứ âm thanh chứng tỏ nó còn rượu. Bà vội móc hầu bao sai con chạy ra quán đầu phố Hàng Nâu (Nam Định). Một lúc sau, chai rượu nếp bắc cắm tăm đã được thằng bé mang về. Ông Tú mời bà Tú lên sập gụ ngồi đối diện với ông. Ông rót rượu ra hai cái chén cổ, bưng mời bà một chén với phong độ rất trịnh trọng. Ông nâng chén của mình nhấp một ngụm rồi từ tốn đọc:
Rượu với thơ suông cũng nhạt phèo…
Biết chồng có ý vòi đồ nhắm, bà Tú mau lẹ xuống bếp rán mấy thanh đậu phụ bà mới mua ở chợ về. Trong lúc bà rán đậu dưới bếp thì trên nhà, ông Tú đã “đi” được đôi ba chén, cái đầu lâng lâng, tứ thơ bây giờ mới xuất thần. Bà Tú bưng đồ nhắm lên, gắp một thanh đậu chấm nước mắm bỏ vào bát ông Tú. Ông Tú càng thêm hứng khởi, nói:
- Tôi vừa làm xong bài thơ tặng bà đây… Rồi đọc:
Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được cái gì hay cái ấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà.
Bà Tú bật cười, nói:
- Ông thì chỉ được cái nói mép, chứ có chừa được cái gì! Đấy, như ông bảo chừa rượu sao không chừa đi lại còn vòi vĩnh?
Ông Tú nói giọng hài hước nhưng thật bụng:
- Tôi nói “có chăng” chứ tôi đâu đã dám chắc sẽ chừa! Mà suy cho cùng cũng chỉ bởi vì tôi không chừa được bà cho nên mới không chừa được rượu. Tửu sắc tương liên mà lỵ!
Trong sách giáo khoa Văn học lớp 11 tập I, NXB Giáo dục, 2005, viết về văn thơ Phan Bội Châu: Văn thơ cụ Phan là một thành công rực rỡ của thể loại văn chương tuyên truyền cổ động cách mạng. Ở đây, lý tưởng dân tộc cao cả, tình cảm thương dân, thương nước sâu nặng, phong phú, nhiệt huyết, sôi sục cuồn cuộn đã là cội nguồn cảm hứng sáng tạo và cũng trở thành phong cách nghệ thuật văn chương của cụ. Nhưng ít ai biết báo Tiếng Dân, ngày 9-1-1937, đăng bài nói về rượu với tựa đề “Tình tự với rượu”, khá thâm trầm của cụ:
I
Buồn tẻo, buồn teo, hỡi chị men,
Thôi thời với chị kể nhân duyên.
Non sông nợ cũ đền chưa trắng,
Gió sấm luồng xưa rủi đã đen.
Thân vẫn còn đây trời ngó xuống,
Đời như sáo nữa, đất bùng lên.
Ừ năm ba chén cười hay khóc,
Khóc lại cười ư cũng đảo điên.
II
Mưa khéo trêu nhau gió chọc nhau,
Núi sông bó chặt những dây sầu.
Bà đâu vắng ngắt bà cùng chén,
Bạn luống trông hoài bạn với bầu
Khấn nguyện đàn sau chim đỉnh núi
Kêu rêu hồn nước quốc đêm thu
Trời ơi, chớ bảo say là quấy!
Trời nếu như tôi cũng gật gù.
III
Muốn tạ thần thơ, thần cứ tiến
Toan đuổi ma sầu, ma lại đến
Có sống thôi đi đỡ với đời
Chẳng say thời cũng chi hơn chén
Văn minh nhảy nhót gái xô trai
Phấn đấu lung tung, vàng lẫn vện
Giốc hồ đạp án nói trời kêu
Nay ta quyết với trời già, kiện.
Khi nói với một trong những nhà khoa bảng có lối hành văn trữ tình hào hoa cuối thế kỷ 19, người ta thường nhắc tới ông nghè Chu Mạnh Trinh (1862-1905). Trước đây và hiện nay, có nhiều người vẫn thuộc lòng một số thơ văn của ông mà tiêu biểu là bài Phong cảnh Hương Sơn.
Tác phẩm Chu Mạnh Trinh để lại không nhiều. Nhà thơ mất sớm, các hậu duệ còn nhỏ nên rất tiếc tập hợp các tác phẩm còn ít. Xin giới thiệu một bài thơ Mừng xuân của ông, do nhà văn Lê Văn Ba sưu tầm in trong cuốn Nhà thơ Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh (NXB Văn hóa dân tộc, 2016). Lê Văn Ba viết:
Nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày, có mấy ngày hả hê như giáp Tết năm ấy? Chu Mạnh Trinh để lại thị xã Hưng Yên bao kỷ niệm đẹp. Từ hôm đó ông trở về quê, làm một người bình thường, một người tự do.
Tan một bữa rượu, cụ Cử ra về. Còn lại một mình. Chu Mạnh Trinh ngồi lại trong thư phòng qua bức mành thấy mưa xuân lất phất bay. Những giọt li ti đang rửa sạch bụi bám trên lá cây. Tiếng con chim hót đâu đây như hỏi ông có nhớ ước mộng năm xưa đi chơi chùa Hương, muốn trở thành Lưu Thần, Nguyễn Triệu? Nhà ông cũng có cảnh “Bồng lai xuân sắc mãn giang quan” cơ mà. Chu Mạnh Trinh vớ tay cầm chiếc nậm rót thêm rượu. Chỉ một chén vơi nhưng đã có hoa mai, cây trúc đây cùng say. Ông được nghỉ việc công rồi, được cáo quan về nhà rồi. Sống tùy ý, tùy thích, phải chăng đấy mới là mùa xuân? Thi hứng tràn đầy, sẵn bút, mực còn để trên bàn, Chu Mạnh Trinh lia bút đề ngay lên tường bài thơ xuân. Nét mực đưa tới đâu, tường vội hút chặt ngay lấy như muốn lưu giữ vĩnh viễn chút gì đó của hồn thơ.
MỪNG XUÂN
Sớm mưa, rửa sạch bụi trần
Oanh ca trên nước, tan dần chiêm bao
Mừng xuân, hoa liễu đón chào
Tấm lòng non nước gửi vào văn nhân
Cành mai say chén tri âm
Nghe thơ, trúc tỏ tình thân láng giềng
Việc xong, sức khỏe vẹn tuyền
Lâng lâng, thỏa mọi nỗi niềm, ấy xuân.
Trần Lê Văn dịch
Trong An ninh thế giới cuối tháng, số tháng 12-2008, Hoài Nam viết: Cổ nhân có câu: “Dĩ tửu trợ văn, dĩ văn hội hữu” (lấy rượu giúp cho cảm hứng văn chương, lấy văn chương để kết giao bạn bè). Lại có thêm quan niệm: Rượu là sự thăng hoa của ngũ cốc, thơ là sự kết tinh của ngôn từ. Chỉ bằng từng ấy có lẽ đã đủ để nhìn ra một mối liên hệ thật mật thiết giữa rượu, thơ và thi sỹ. Trên thực tế của nhiều trường hợp, đó là cái tam vị đã làm nên sự nhất thể. Tình bạn giữa những con người trong giới bút mực. Tình bạn ấy diễn ra trong đời thường, và cũng có lúc, như một sự ngẫu nhiên thú vị, nó in dấu trong thơ, nó giúp người yêu thơ hiểu thêm về các thi sĩ và tình cảm bằng hữu mà họ dành cho nhau.
Năm 1937, trên báo Đàn bà xuất hiện một bài thơ của Nguyễn Vỹ, có cái tên “Gửi Trương Tửu”. Khi soạn “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã đưa bài thơ này vào sách và cho rằng: Đây “mới thực là kiệt tác của Nguyễn Vỹ”. Mở đầu bài thơ đã là những câu ngây ngất hơi men: “Nay ta thèm rượu nhớ mong ai/ Một mình nhấm nháp chẳng buồn say/ Trước kia hai thằng hết một nậm/ Trò chuyện dông dài mặt đỏ sậm/ Nay một mình ta một be con/ Cạn rượu rồi thơ mới véo von…”.
Rượu làm sống lại hồi ức của tác giả về người bạn thân thiết Trương Tửu, về những kỷ niệm khi hai người còn gần gũi bên nhau. Và đây là những câu thơ mà nhiều người đã thuộc nằm lòng, có thể nói, những câu thơ “xanh mãi với thời gian” bởi chất kiêu bạc phóng túng của chúng: “Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác/ Mà vẫn coi tiền như cái rác/ Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang/ Rủ nhau chè chén nói huênh hoang/ Xáo lộn văn chương với chả cá/ Chửi Đông, chửi Tây chửi tất cả/ Rồi ngủ một giấc mộng với mê/ Sáng dậy, nhìn nhau cười hê hê”. (Sau này, trong bài viết “Kỷ niệm về Trương Tửu”, Nguyễn Vỹ kể khá chi tiết về việc ông cùng Trương Tửu và Vũ Trang sống với nhau trên gác trọ phố Khâm Thiên - khoảng 1934, 1935. Mỗi sáng về mùa đông, ba người lại trùm ba cái chăn bông ngồi ở phòng khách, uống trà, nói chuyện văn chương. Nhiều tháng họ không có tiền, nhưng có lần Nguyễn Vỹ được 10 đồng nhuận bút, Trương Tửu lấy 4 đồng uống rượu đế ăn thịt cầy, Vũ Trang lấy 4 đồng đi Nam Định để biểu diễn thôi miên. Trong bài viết này, Nguyễn Vỹ cũng tỏ ra rất khâm phục sức đọc sức nghĩ và tài hùng biện của Trương Tửu.
Với “Gửi Trương Tửu”, Nguyễn Vỹ công khai bộc lộ nỗi chán chường cá nhân trước tình cảnh cùng quẫn và sự bế tắc tinh thần của những người sống bằng ngòi bút viết văn, viết báo trong một xã hội Việt Nam thuộc địa và tư sản hóa. Câu thơ được truyền tụng nhiều nhất: “Nhà văn An Nam khổ như chó”! Đó cũng đồng thời là nỗi chán chường trước tình cảnh của hai người bạn: “Anh đi che tàn một lũ ngốc… Còn tôi bưng thúng theo đàn bà”. Nhưng không chỉ có vậy, “Gửi Trương Tửu” còn là sự gửi gắm những ước mơ của hai người bạn Nguyễn Vỹ - Trương Tửu. Trong văn bản bài thơ được in ở “Thi nhân Việt Nam” ước mơ ấy hiện ra khá mờ nhạt: “Tôi làm trạng nguyên, anh tể tướng/ Rồi anh bên võ tôi bên văn/ Múa bút tung gươm hả một phen”. Nó, ước mơ ấy, sẽ thực sự là ước mơ cháy bỏng nếu ta hoàn nguyên 14 câu thơ đã bị chính quyền thực dân kiểm duyệt - theo tư liệu mà gia đình giáo sư Trương Tửu hiện còn lưu giữ: “Cho bõ căm hờn cái xã hội/ Mà anh thường kêu mục, nát, ruỗng/ Cho người cày ruộng kẻ làm công/ Đều được yên vui hớn hở lòng/ Bao giờ chúng mình gạch một chữ/ Làm cho đảo điên pho lịch sử/ Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa/ Hất mồ nhổm dậy cười say sưa/ Để xem hai chàng trai quắc thước/ Quét sạch quân thù trên đất nước/ Để cho toàn thể dân Việt Nam/ Đều được tự do muôn muôn năm/ Để cho muôn muôn đời dân tộc/ Hết đói rét, lầm than, tang tóc…”.
Những câu thơ như vậy, tất nhiên, không cách gì tránh khỏi được nhát kéo kiểm duyệt của chính quyền thực dân. Nhưng quan trọng là, qua những câu thơ đó, Nguyễn Vỹ đã thực sự hiểu, chia sẻ với nguyện vọng và tư tưởng của bạn. Điều này sẽ được chứng minh nếu chúng ta không quên rằng, từ giữa những năm 30, nhà văn - nhà phê bình văn học Trương Tửu đã bắt đầu đọc sách của chủ nghĩa Marx, tiếp cận với báo của Đảng Cộng sản do Trần Huy Liệu phụ trách, rồi tham gia chống việc Bảo Đại vận động tranh cử và vì thế bị chính quyền thực dân kết án. Tinh thần đấu tranh hừng hực - như đoạn thơ 14 câu trên cho thấy - hẳn đã thường trực trong tư tưởng Trương Tửu, và cũng hẳn đã lôi cuốn Nguyễn Vỹ. Nhưng lôi cuốn là một chuyện, cùng đi được với nhau trên một con đường hay không lại là một chuyện khác. Có lẽ chính vì thế mà Nguyễn Vỹ, sau cao trào, đã kết lại bài thơ gửi bạn của mình bằng một thoái trào: “Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ/ Chơi cờ nước cao gặp thế bí/ Rồi đâm ra điên ra vẩn vơ/ Rốt cuộc chỉ còn… mộng vơi mơ”.
Hơi men vẫn còn ngây ngất ướp lấy bài thơ khi tác giả chua thêm ở cuối bài năm chữ: “Viết rồi vẫn còn say”, chính cái hơi men đã tái hiện một tình bạn và góp phần làm nên sức trường tồn của một thi phẩm.
Ưng Bình Thúc Giạ Thị là nhà nho uyên bác, lại tinh thông Tây học, từng làm quan lớn trong triều Nguyễn, nhưng nhà thơ trước sau vẫn giản dị là một con người Việt Nam, yêu dân tộc Việt Nam, yêu Tổ quốc Việt Nam, luôn luôn thiết tha với cảnh vật, con người xứ sở mình. Ông được nhiều tầng lớp người trong xã hội quý mến, kính nể. Chẳng thế mà năm 1951, khi ông tròn 75 tuổi, bạn bè tổ chức lễ điếu sống ông.
Không ít bài thơ viết bằng chữ Hán, cũng như Quốc ngữ, ta bắt gặp tâm trạng cô đơn, nỗi sầu da diết của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, cô đơn ngay cả khi tiệc tùng đàn ca réo rắt, cô đơn ngay cả giữa chốn đông người. Xin dẫn bài: Giáp Tý xuân tam nguyệt nhị thập cửu dạ chiêu ẩm tác thi mệnh cầm đề thi: Mùa xuân năm Giáp Tý - 1924, đêm 29 tháng 3 cùng khách uống rượu làm thơ và nghe đàn.
Dịch thơ: Đông Chi, Mộng Vị mối tình lan/ Chàng bẵng ngâm thơ biếng gảy đàn/ Sầu nhớ thương người vài chén rượu/ Nỗi lòng vằng vặc vạn trùng san/ Quỷ ma ác liệt đầy sòng bạc/ Mặc khách thanh tao thiếu bạn vàng/ Vẳng điệu Hành Vân đàn thập lục/ Rì rào réo rắt hạt mưa tan.
Và đây là bài “Tiễn biệt người tình”, ông sáng tác ở Hội An, 1904:
Ngọn gió ngành xuân thổi phất phơ
Khi đưa, khi đón lại khi chờ
Câu thi tiễn biệt càng ngao ngán
Chén rượu tương phùng luống ngẩn ngơ
Ngoắt bạn, bạn đành chân bước tới
Kêu ai, ai giả bộ làm ngơ.
Thôi thôi đã thế thôi thì thế
Thương cũng xin vâng, ghét cũng nhờ.
Theo nhà văn Triệu Xuân, Nguyễn Đình Thi có bài thơ rất độc đáo về rượu. Đó là bài “Không đề”. Triệu Xuân viết: Những năm cuối đời, mỗi khi vô Sài Gòn, nhà văn Nguyễn Đình Thi thường lui tới nhà Triệu Xuân… Sau Tết năm 1999, đến chơi nhà Triệu Xuân (16-3-1999), trong tiệc rượu, nhà thơ Nguyễn Đình Thi có đọc - và chép tặng Triệu Xuân - vài bài thơ. “Không đề” là một trong số bài thơ đó. Khi ông Thi vừa đọc xong, tôi thuộc liền, nhất là câu thơ cuối: “Chén rượu bên đèn nước mắt đầy”, nghe lần đầu đã nổi da gà. Tôi hỏi ông Thi: Sao lạ thế, giống hệt tâm trạng của không ít người (ý nói là của Triệu Xuân)! Ông Thi lặng đi, mãi mới trả lời: "Ý câu ấy, tôi lấy của ông Tuân (Nhà văn Nguyễn Tuân). Một hôm, đến cơ quan Hội rất sớm, mặt mày phờ phạc, ông Tuân nói với tôi: Thi ơi, đêm qua tôi không ngủ được, thức và viết mãi, khi cầm chén rượu uống, thấy mặn chát, thì ra toàn nước mắt, ông ạ!".
Cuộc đời như một áng mây trôi
Gió thu lại thổi suốt đêm dài.
Bạn bè ngày ấy dần xa khuất
Chén rượu bên đèn nước mắt đầy
Chép tặng Triệu Xuân. Ký tên Nguyễn Đình Thi
Trong Tuyển thơ Nguyễn Đình Thi, bài Không đề được làm năm 1997, nó như sau: Năm mươi năm như một bóng mây/ Gió thu lại thổi suốt đêm dài/ Vẳng nghe khúc hát người năm ấy/ Chén rượu bên đèn nước mắt đầy.
Rõ ràng, bản mà Ông Thi chép tặng Triệu Xuân ngày 16-03-1999, hay hơn! - Rút từ “Triệu Xuân Sống và Viết”.
Nhà báo, nhà phê bình văn học Phạm Ngọc Luật cho rằng thi sĩ Vũ Hoàng Chương là lớp hậu sinh thuộc hàng con cháu cụ Tản Đà. Người thơ này nổi tiếng cả trong viết và trong các ngón nghề ăn chơi theo đường Tây học. “Say đi em” là bài thơ bạo liệt nhất của ông chứ gì? Ông giục giã say cho “Lơi lả ánh đèn, cho điên rồ xác thịt”. Ông giục giã uống để quên, quên hết “Rượu, rượu nữa và quên, quên hết/ Ta quá say rồi/ Sắc ngả mầu trôi”. Cảm giác vật chất, gấp gáp và hối thúc như kiểu vũ trường điện tử hôm nay quả là không hiếm gặp trong thơ ông cách đây đã hơn bảy thập kỷ. Ngay cả khi ông thông báo trong bài “Một phút ngừng say” thì tôi vẫn thấy hiện hình cảm giác vật chất của rượu - thơ - say còn sót lại. Công bằng mà nói, sau những câu thơ tốc độ và đậm sắc màu điện tử, có vẻ lạ, có vẻ dễ được một thời vồ vập ấy thì những câu thơ “hậu rượu” - tôi muốn được gọi như thế - của ông là những câu thơ tôi cho là hay nhất, dễ thương nhất. Đã mấy thi sĩ viết được những câu đi qua rượu mà lắng sâu, xa vắng được thế này:
Bấc trĩu hoa đèn nhựa úa nâu
Phai say nằm khóc mộng ban đầu
Bước chân song sóng vòng tay mở
Dạo ấy người ơi xa lắm đâu
… Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không
Mà đây lòng trắng một mùa đông
Tương tư nối đuốc thâu canh đợi
Thoảng gió Trà My động mấy bông.
Cũng như nhiều nhà thơ đương thời, Vũ Hoàng Chương mượn rượu để tiêu sầu, nhưng cái sầu càng sâu đậm thêm. Trong bài Đời vắng em rồi, Vũ Hoàng Chương viết:
Có ai say để quên sầu,
Lòng ta lảo đảo càng sâu vết buồn
và…
Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai?
Xin mời đọc lại bài Phương xa của ông:
Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng,
Xuôi về đông hay giạt tới phương đoài,
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng,
Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi.
Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bảy đứa,
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh.
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.
Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ.
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.
Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt,
Treo buồm cao cùng cao tiếng hò khoan.
Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt,
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương nổi tiếng với tập Thơ say (1941). Ông còn mê rượu, thơ, hát cô đầu… cả Quan Họ nữa. Sau Thơ say hai năm, ông cho in tập Mây. Nó từ một mối tình của ông. Nguyên do thế này.
Tháng tư năm Nhâm Ngọ (1942) ông theo thi sĩ Lê Trọng Quỹ sang làng Dương Ổ (Hà Bắc) nghe hát Quan Họ. Bên ấy, Lê Quân có “đệ nhị phòng” là cô Tạ, anh em đùa là Dương Quý Phi của Lê thi sĩ. Tới nơi, cô ta đón tiếp trọng thể, bê lên một mâm rượu rồi đi mời thêm bạn hát. Hoàng và Lê ngồi uống, rồi Hoàng say kê đầu lên cái gối bằng giấy xếp, đánh một giấc. Khi tỉnh dậy thấy có 9-10 người ngồi hát quây quần, trong đám ấy có một thiếu nữ “đẹp như mộng”. Hỏi thầm Lê Quân biết là cô Mây - Hoàng ứng khẩu ngay một bài thơ tứ tuyệt, vừa thôi xao tức thì:
Ánh rượu đào trên má đỏ hây
Tiếng ca tròn với khuôn trăng đầy
Ngọn cau, trăng cũng tròn theo tiếng
Tròn não nùng, như tuổi của Mây.
Mọi người biết ngay thi sĩ phải bùa rồi, và cũng ủng hộ. Nhưng Mây, vừa tuổi trăng rằm, đẹp lắm lại đã có chồng từ ba năm trước. Chồng nàng kém nàng năm tuổi. Giờ nó lên 10, còn chơi khăng đánh đáo. Tục lệ ở làng rất ngặt, nếu cô gái lớn lên có trục trặc gì, nhà gái phải trả nhà trai toàn bộ tổn phí cưới xin trước đó, gọi là trả của. Cuộc tình của Mây với Hoàng khó thành. Vì Mây nhút nhát, nghe cha mẹ. Yêu Hoàng, Mây chỉ biết khóc, mà nói chuyện về hội hè đình đám thì có duyên lắm.
Hoàng, sau nhiều lần từ Hà Nội sang, ngày càng khó xử. Ngặt nỗi nếu Mây thuyết phục được gia đình trả của, nàng cũng không thể theo Hoàng rời làng được, chị em bạn bè nàng cũng vậy. Mà Hoàng lại không thể nhập tịch làng Dương Ổ, vì là con trưởng, cưới vợ, tất dâu trưởng phải lo cúng giỗ ở Nam Định, quê Hoàng.
Sau lần cùng Mạnh Phú Tư sang Dương Ổ, đi xe tay từ Hà Nội lúc chập tối, vào làng đã 10 giờ đêm, dân làng cho rằng Hoàng có thể rủ Mây đi trốn, mà Mây nhẹ dạ dễ theo công tử Hà Thành lắm. Và gia đình Mây đã bắt Mây lập tức phải về nhà chồng, mặc nàng phản đối.
Nhùng nhằng đi lại hết cả mùa hè. Vào thu Hoàng phải xuống Hải Phòng dạy học, thế là ước mộng thành mây khói.
Cuối năm tập thơ Mây của Hoàng đã được bạn bè đón đợi, Huy Cận ứng khẩu:
Đã lâu gặp lại chàng say
Lửa thiêng xin đốt chờ Mây xuống trần.
Nhưng cũng phải đến hết mùa thu năm sau, trời rét, tập Mây mới in xong. Bìa tập, họa sĩ Tô Ngọc Vân vẽ một cái bầu rượu màu nâu, hình thù mập tròn chứa đám mây giang hồ. Căn cứ vào tầm quan trọng của cái bầu rượu lại bởi cái huy hiệu của NXB Đời Nay in nhỏ, khó xem, nên có người xuyên tạc là nhà xuất bản Hồ Lô.
Thật cũng duyên lạ, tỉnh rượu, Vũ Hoàng Chương gặp được người đẹp tên Mây, và tập thơ ra đời từ ấy, lại được ông Vân (Mây) vẽ bìa, bìa lại có hình nậm rượu chứa đám mây. Bánh xe “chuyển xa luân” thế cũng khéo một vòng. Chắc cũng bởi cái họ Vũ (Mưa) mà mối tình dang dở?
Ngoài tập thơ Mây do mối tình này, Vũ Hoàng Chương còn viết kịch thơ Vân Muội, khi diễn ông thủ vai chính. Ông gặp Mây năm 26 tuổi, cứ theo tinh thần hồi ký của ông thì có thể đoán đây là mối tình đầu, nó sâu sắc và lưu dấu không phai trong đời. - Theo sách Văn hóa rượu.
Cùng tầm tuổi, cùng sinh ra ở Nam Định, cùng xếp liền nhau trong Thi nhân Việt Nam, cùng có những năm tháng tiêu tao ngất ngưởng rượu thơ đây đó, nhưng khác với thi sĩ “Tố của Hoàng”, Nguyễn Bính lại là một kênh hoàn toàn khác. Và ông khác ngay ở một mô-típ muôn đời là rượu với thơ.
Đến Lạng Sơn năm 1940, trong tâm hồn ông là cả “một trời quan tái”. Trong chén rượu, đằng trước và đằng sau bước chân thứ lữ giang hồ vẫn chỉ là hình bóng giai nhân:
Chiều lại buồn rồi, em vẫn xa
Lá rừng thu đổ, nắng sông tà
Chênh vênh quán rượu mờ sương khói
Váng vất thôn sâu quạnh tiếng gà.
Rồi cũng không còn nghe thấy tiếng gà và cảm giác váng vất nữa, Nguyễn Bính tuyệt vời trong một đặc tả sức thất tình trong bốn câu thơ rượu kết thúc bài “Một trời quan tái”.
Chiều nay… thương nhớ nhất chiều nay
Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy
Tôi uống cả em và uống cả
Một trời quan tái mấy cho say.
Đến Huế năm 1941, để rồi có bài thơ “Trời mưa ở Huế” - bài thơ là cả cuộc đời ông vần vụ trong nghèo túng mà vẫn không nghèo xót thương và tâm tưởng:
… Cúi mặt soi gương chén rượu đầy
Bốn mắt nhuộm chung màu lữ thứ
Đôi lòng hòa một vị chua cay
Đứa thương cha yếu thằng thương mẹ
Cha mẹ chiều chiều… con nước mây.
Và dễ thường không phải là ông, không phải là Nguyễn Bính đâu dễ có được những câu thơ rượu hay hết nhẽ, hay vì chưa ai nói được cái cảm giác “lạnh ngón tay” của người nâng ly rượu ngày mưa lúc xa nhà, xa mọi thứ:
Sầu nghiêng mái quán mưa tong tả
Chén ứa men lành lạnh ngón tay.
Nguyễn Vỹ đã viết mấy câu thơ nổi tiếng:
… Mỗi lần cầm bút nói văn chương
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương
Và nhìn chúng mình hì hục viết
Suốt mấy năm giời kiết vẫn kiết.
Nguyễn Bính không nói bỗ bã như Nguyễn Vỹ, nhưng tâm tư của ông thì cũng như vậy. Và rồi cũng như Nguyễn Vỹ, ông lại dùng rượu để quên buồn phiền.
… Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc
Ly tán vì cơn gió bụi này
Người ơi, buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy
Vẫn đám tiêu hoang cho đến hết
Ngày mai ra sao rồi hẵng hay
Ngày mai xán lạn màu non nước
Cốt nhất làm sao tự buổi này
Ta đi, nhưng biết về đâu chứ?
Đã mấy phong yên lộng bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi!
Bài Hành phương Nam
Lại uống rượu! Nếu có người nào chịu khó đi đếm những lần Nguyễn Bính nhắc đến rượu ở trong thơ sẽ gặp được nhiều lần. Có lẽ cả trăm lần ông dùng từ rượu:
- Chị ơi! Tết đến em mua rượu
Em uống cho say đến não lòng.
Xuân tha hương
- Hôm qua còn sót hơn đồng bạc
Hai đứa bàn nhau uống rượu say.
Giời mưa ở Huế
- Nhưng mộng mà thôi mộng mất thôi
Hoa tàn rượu ế ấy tình tôi.
Hoa với rượu
Nhưng ngồi giữa chợ “để uống say mà gọi thế nhân ơi!” cũng thật là thú vị. Tiếc là Nguyễn Bính không chịu kết lại bài thơ ở đây để ông còn ngồi uống rượu mãi giữa chợ mà ông lại viết thêm một khổ nữa:
Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Ngươi ơi! Hề! Ngươi ơi!
Người sang bên ấy sao mà lạnh
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi…
Có lẽ như ông đã quá say.
Nói đến thơ Nguyễn Bính, người đời thường ghi nhớ, truyền tụng nhiều bài thơ tình bất hủ của ông: Tương tư, Cô hàng xóm, Cô lái đò, Lỡ bước sang ngang, Chân quê… Có lẽ ít ai biết bài thơ Cho tôi ly nữa. Bài thơ lúc đầu đăng trên Tiểu thuyết thứ 5, sau in trong tập Tâm hồn tôi (NXB Nguyễn Cường, 1940). Đó là sự say của một thi sĩ lớn, một tâm hồn lớn mang nặng nỗi đau đời. Cái hay, cái độc đáo là ở tứ thơ phát triển theo từng cung bậc tâm lý người say sau mỗi chén rượu. Lời thơ cứ nhẹ tênh theo hơi men phảng phất mà sức chuyển tải tư tưởng rất nặng, rất đằm. Bước vào cuộc say thi sĩ còn nói lỡm cô chủ quán rằng đừng nghỉ sớm, trưa, chiều, tối càng có mặt càng mê nàng…
Năm 1934, báo Phong Hóa có đăng bài thơ dài “Minh niên khai bút” của nhà thơ Tú Mỡ chúc Tết cho 15 nhân vật thời ấy mà ông gọi là “Thập ngũ tài tử”, trong đó có hai nhân vật văn học là Tản Đà và Nguyễn Thị Manh Manh, bấy giờ đang trong cuộc đấu tranh giữa thơ mới và thơ cũ.
Nhà thơ Tản Đà mà chúng ta đã quen thuộc, được Tú Mỡ chúc như sau:
Minh niên khai bút, nút khai chai
Vạn sự giai thành, một hóa hai
Còn rượu, còn thơ, còn chếnh choáng
Còn chưa đáng chán cõi trần ai.
Còn bà Nguyễn Thị Manh Manh (tên thật là Nguyễn Thị Kiêm), sinh năm 1914 tại Gò Công - một người nhiệt thành đấu tranh cho thơ mới, đã mấy lần hăng hái diễn thuyết tại Hội Khuyến học Sài Gòn, tranh luận với các đại biểu thơ cũ. Nhà thơ Tú Mỡ đã chúc bà Nguyễn Thị Kiêm như sau:
Minh niên khai mỏ, lại khai môi
Ngoáy “đít cua” rồi thở hết hơi
Kêu rống trong Nam ngoài đất Bắc
Làm cho bành trướng gái tân thời.
Cũng trong số báo Phong Hóa này, Nguyễn Bính còn viết đôi câu đối:
Tết tung túng tắng tiền tiêu Tết
Xuân xiếc xênh xang sắm sửa xuân.
Còn đây là đôi câu đối của bạn đọc ở Hải Dương chúc Tết cho hai kiện tướng của Tự Lực văn đoàn năm 1934:
- Xuân sang, kể chuyện “Đào hoa”, Khái Hưng ru “Hồn bướm vào cõi tiên”, chợt nghĩ đến “Nửa chừng xuân” mà đã lo quãng “Đời mưa gió”.
- Tết đến, đọc văn “Thơ mới”, Thế Lữ ngắm “Đêm trăng ở hang Văn Dú” mới tưởng tới “Lưỡi tầm sét” rồi thấy sợ con “Đường thiên lôi”.
Năm 1933, cụ Tú Mỡ có bài thơ “Tửu đức tụng”. Cụ làm bài thơ này không chủ đích ca ngợi rượu, vì cụ không uống rượu, mặc dù cụ viết:
Anh em hỡi, này ta bảo thật:
Rượu cho nhiều mà sướng nhất trần ai
Ai ơi! Chẳng uống cũng hoài!
Cụ viết bài thơ này vì “hôm rằm tháng bảy 1933 nhà nước bãi độc quyền rượu, để người Nam được nấu rượu Nam”. Các ông Lưu Linh Việt Nam là sung sướng lắm. Vậy Tú Mỡ đặt bài “Tửu đức tụng” này để tặng chung bà con trong làng say, và tặng riêng cho ông chích tiên, thi sĩ kiêm tửu sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.
Một chuyện vui khác: Mồng ba Tết năm 1942, nhà văn Thạch Lam rủ một số bạn văn về quê ông ở Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương mừng xuân. Trong số bạn văn ấy có Khái Hưng, Trần Tiêu, Thế Lữ, Song Kim, Huyền Kiêu, Đinh Hùng.
Cuộc rượu diễn ra trong ngôi nhà làm theo kiểu Ánh Sáng, có cửa rộng nhìn ra vườn đầy hoa. Thạch Lam có bà vợ giỏi nấu ăn, thường gọi là chị Lâm, bao giờ cũng làm mâm cỗ rất Hà Nội mỗi khi có giỗ tế. Tác giả “Hà Nội băm sáu phố phường” còn được bạn bè suy tôn là người có “quan niệm siêu đẳng về thực ẩm”.
Mọi người nâng chén và tấm tắc khen rượu ngon: tinh chất hơn Mai Quế Lộ, đằm thắm hơn Thanh Mai, thơm hơn hẳn mọi thứ Cẩm, Cúc…
Tuy khen rượu ngon, ngon đặc biệt, mà vẫn không ai biết là loại rượu gì. Thạch Lam cười và nói vợ mang cả hũ rượu ra. Đó là một hũ sành to có nút lá chuối khô bịt kín, có dán một mảnh giấy hồng điều viết bốn chữ nho làm nhãn “Đào Lê Mỹ Tửu”.
Nhà văn Thạch Lam nghiêm trang giải thích: “Đào Lê Mỹ Tửu là rượu ngon đã đành. Có ngon mới đem thết bạn. Nhưng Đào Lê không phải là quả đào, quả lê đâu nhé. Nói lái là Đề Lao. Cả người nấu và người uống thứ rượu này là dễ bị Tây đoan tống vào đề lao lắm đấy”.
Cả mâm rượu phá lên cười:
- Đào Lê Mỹ Tửu vạn tuế!
Ngày xuân ai chẳng có chút say. Trước cảnh sắc tươi non, trong hương bay ngào ngạt, ai cũng nghĩ cảnh sắc đó, hương thơm ấy là của vũ trụ ban tặng cho riêng mình. “Vì ta sông núi nổi màu xuân” (thơ Đỗ Phủ). Ngập trong lời chúc của thân quyến, bạn bè họ tự thưởng thêm cho mình một chút say.
Các thi sĩ là người sống hết mình, yêu hết mình và cũng say hết mình
Lưu Trọng Lư có cái say của đấng tao nhân mặc khách. Một sự say thảng đến, chợt đi trên bước giang hồ, lữ thứ. Dưới cây bút tài hoa của Lưu Trọng Lư nó như một tiếng đờn bầu bật lên ngân vọng giữa bao la trời đất:
Ước gì ta có rượu say
Sông kia bên ấy, bên này của ta.
Trời cao đất rộng bao la
Hiu hiu gió sậy, la đà dặm trăng.
Một mai bên quán ngập ngừng
Quẩy theo với rượu một vừng giai nhân…
Ở Lưu Trọng Lư, rượu tượng trưng cho cuộc sống phóng túng của một lãng tử. Đây là bài thơ nổi tiếng mang tên Giang hồ:
Mời anh cạn hết chén này,
Trăng vàng ở cuối non tây ngậm buồn.
Tiếng gà đã rộn trong thôn,
Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay.
Để lòng với rượu cùng say,
Chừ đây lời nói chua cay lạ thường!
Chừ đây đêm hãy đầy sương,
Con thuyền còn buộc, trăng buông lạnh lùng!
Chừ đây trăng nước não nùng,
Chừ đây hoa cỏ bên sông rũ buồn.
Tiếng gà lại rộn trong thôn...
Khoan đừng tơ tưởng vợ con ở nhà
Giờ này còn của đôi ta,
Giang hồ rượu ấy còn pha lệ người,
Ô sao rượu chẳng kề môi,
Lời đâu kiều diễm cho nguôi lòng chàng?
Tay em nâng chén hoàng hoa,
Sá gì hớp rượu vì ta bận lòng.
Hãy gượm lắng nghe dòng sông chảy,
Gió đùa trăng trên bãi lạnh lùng.
Sá gì hớp rượu, bận lòng,
Đợi gì môi nhấp rượu nồng mới say?
Hãy nhích lại đưa tay ta nắm
Hãy buông ra đằm thắm nhìn nhau.
Rồi trong những phút giây lâu,
Mắt sầu gợn sóng, lòng đau rộn tình.
Phút giây ấy, ta mình ngây ngất,
Bỗng con thuyền buộc chặt, rời cây.
Cho ta khất chén rượu này,
Vì ta em hãy lựa dây đoạn trường.
Khoan để đốt chút hương trầm đã!
Đợi trầm bay rộn rã lời ca...
Nghe xong ta ngắm lời xa,
Dòng sông Ngân đã nhạt mờ từ lâu.
Tiếng gà đã gáy mau trong xóm,
Bình minh đà rạng khóm tre cồn.
Trông nàng môi lạt màu son,
Giật mình ta nhớ vợ con ở nhà,
Từ đấy chẳng bao giờ phiêu lãng,
Niềm thê nhi ngày tháng quen dần.
Đôi phen nhớ cảnh phong trần:
Bóng nàng ẩn hiện xa gần đâu đây.
Tưởng nghe tiếng gọi nơi hồ hải,
Mắt lệ mờ ta mải trông theo,
Trong buồng bỗng tiếng con reo,
Vội vàng khép cửa gió heo lạnh lùng.
Đêm ấy rượu nàng ta không uống,
Từ sau thề không uống rượu ai.
Đòi phen ngồi ngóng chân trời,
Chẳng bao giờ nghĩ đến đời phiêu lưu.
Ngoan ngoãn như con cừu non dại,
Cỏ quanh vườn cắn mãi còn ngon.
Sau lưng nghe tiếng cười dòn,
Vội vàng ngoảnh lại... thằng con vẫn cười.
Nó đưa ta một chai rượu bé,
Bảo rằng: "Đây, rượu mẹ dâng cha"
Giật mình ta mới nhớ ra:
Là ngày sinh nhật vợ ta đó mà!
Ta uống chẳng hoá ra lỗi hẹn,
Mà từ nan đâu vẹn đạo chồng!
Than ôi! trời giá đêm đông,
Màu du tử thực bên lòng hết sôi?
Chén lại chén kề môi thủ thỉ,
Càng vơi càng tuý luý càng đầy!
Lúc tỉnh rượu lặng ngồi bên án,
Trông vào gương, lằn trán có vôi;
Vợ con khúc khích đừng cười,
Còn ta vô ý lệ rơi xuống bàn,
Hết say vẫn bàng hoàng trong mộng
Xót xa thay cái giống giang hồ!
Ngón đàn thêm một đưòng tơ,
Mà người sương gió nghìn thu nhọc nhằn,
Thôi rồi ra chốn nước non,
Lồng son lại để sổ con chim trời.
Thú hồ bể quyến mời du tử,
Niềm thê nhi khôn giữ được người.
Biết sao trái được tính trời,
Giang hồ cốt ấy, trọn đời phiêu linh...
Hôm nay ngồi rũ canh trường,
Nơi thuyền trọ, rượu quỳnh tương ai mời
Người dâng rượu xa nơi trần giới,
Lạnh lùng thay gió thổi đêm đông!
Tuy người đã khuất non sông,
Mặt hoa lãng đãng như lồng dưới trăng
Mường tượng thấy tung tăng cười nói,
Như tưởng chừng người mới hôm qua!...
Nào hay nghìn cổ cách xa,
Tài tình đến thế mà ra hão huyền!
Hoạ còn chút trong thuyền dấu cũ,
Cây đàn tranh mốc ủ trên phên,
Phím long, dây đã rỉ rền,
Còn nguyên trên gỗ ghi tên họ người.
Nàng xưa vốn một loài trăng gió
Cũng vì vương víu nợ cầm ca
Một đi lìa cửa lìa nhà,
Nắm xương tàn lạnh phương xa gửi nhờ.
Đêm nay hoạ có mình ta,
Đốt hương trầm cũ chờ ma dạo đàn.
Nguồn: Thi nhân Việt Nam. Hoài Thanh, Hoài Chân. NXB Văn học, 2007.
Với nhà thơ Tố Hữu, thì rượu mạnh mẽ hơn, hùng dũng hơn. Trong bài Ly rượu thọ, ông viết năm 1939, có đoạn:
Mã Chiếm Sơn buông cương và ngẫm nghĩ
Ngựa rung đầu hí lạnh giữa tàn quân
… Rồi từ đó, và gươm vàng võ phục
Và cừu hận và lòng sôi rửa nhục
Mãi chôn sâu trong một cõi trời riêng
Buông hồn đau, liễu rủ suối ưu phiền
Cốt oanh liệt đã khoác màu ẩn sĩ
Rượu cứ rót cho say sưa lạc hỉ
Đàn ca lên cho át tiếng đầu rơi
Dưới gươm bay vun vút loáng xanh trời
… Và bàn tay run rẩy đỡ ly ngà
Bỗng quật xuống nền hoa: ly rượu vỡ!
Ly rượu vỡ tan tành. Ôi bỡ ngỡ
Ôi hãi hùng, Mã tướng run toàn thân.
Tháng 8-1964, Tố Hữu sang thăm Cu Ba, ông viết một bài thật tình cảm, hình như gửi tặng một người con gái Cu Ba:
Anh viết cho em, tự đảo này
Cu Ba, hòn đảo lửa, đảo say
Ở đây say thật, say trời đất
Sóng biển say cùng rượu, mật say
Mừng bạn ngày vui, chén rượu đầy
Hết buồn, chưa hết nhớ chua cay
Em ơi, mía ngọt từng khi mặn
Máu trộn bùn vun gốc mía này…
Thanh Tịnh là nhà thơ tiền chiến có thể là duy nhất suốt phần đời còn lại chung thủy với màu áo lính. Ông làm thơ từ thuở tuổi đôi mươi nhịp với những nhà thơ mới lớp đầu tiên. Nét riêng của thơ, văn ông là khi thơ văn lãng mạn nghiêng về những tình cảm mới mẻ, thích sử dụng mô típ văn học phương Tây, thì thơ văn của Thanh Tịnh nghiêng về những tình quê hương, nhất là ở xứ Huế của ông. Bài “Kính tặng sư Viên Thành” của ông lại có nói một chút về rượu, hơi lạ?
Một mái am tranh bạn cổ tùng
Bốn mùa sương gió tỏa mông lung
Bên đồi dương vắng, dòng khe vắng
Có kẻ giang hồ thấy nản chân
Cửa Phật đây rồi, tôi thấy tôi
Mơ trời cao cả luyến xa xôi
Chuông chùa ngân rã mười phương mộng
Khe biếc say kinh cá hận mồi
Ơi đạo sĩ ơi! Tôi đến đây
Van xin chút rượu gội đêm nay
Tôi người mơ mộng ham cùng cá
Coi nhẹ trăm năm hận một ngày!
Cảm tấm chân thành đạo sĩ thương
Đón tôi trong cửa mở muôn phương
Nhưng sen hồ lạnh mùa thu dậy
Tôi nhớ hương cây cảm bụi đường
Từ biệt anh ngàn tôi lại đi
Lang thang chưa chán bước lưu ly
Quen đời quán chật hồ thu rộng
Chán kiếp bằng ngang sổ thẳng lỳ
Đạo sĩ chờ tôi chán hải hồ
Tôi chờ đạo sĩ lãng hư vô
Tôi mơ đêm lạnh lòng sơn tự
Ấp ủ men ngàn đợi áo khô.
Còn Huyền Kiêu thì:
Hiu hắt trăng khuya lạnh bốn bề
Ý sầu lên vút tới sao Khuê
Quý thay giây phút gần tương biệt
Vương vấn người đi với kẻ về
Ngồi suốt đêm trường không nói năng
Ngậm ngùi chén rượu ánh vầng trăng
Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ?
Có giống như mình lưu luyến chăng?
Trích bài Tương biệt dạ.
Nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: Vị trí nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) đối với thơ mới có cái gì na ná như Thôi Hiệu ở Trung Quốc đối với thơ Đường. Nếu chọn mười nhà thơ Đường lớn nhất chưa chắc đã có Thôi Hiệu. Nhưng nếu chọn mười bài thơ Đường hay nhất không thể không có Hoàng hạc lâu. Vâng, kể tên mười nhà thơ lớn nhất không chắc có Thâm Tâm. Nhưng chọn mười bài thơ mới hay nhất khó có thể bỏ qua Tống biệt hành. Thi phẩm là sự thăng hoa đột xuất của ngòi bút Thâm Tâm.
So với nhiều thi sĩ khác, Thâm Tâm càng uống càng tỉnh, nhìn cuộc đời cái gì cũng có liên quan đến rượu. Ông nhìn mưa bay bằng con mắt ấy:
Ngoài phố mưa bay xuân bốc rượu.
Nhìn cả cuộc đời thoáng qua bằng con mắt ấy:
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.
Hầu như toàn bộ thơ Thâm Tâm là tinh hoa chắt ra từ “cái sống ngang tàng quen bốc men”. Thơ viết bằng rượu. Rượu làm nên thơ. Còn có vinh dự nào hơn?
Ông có bài thơ dài viết ngày 4-5-1940 với tựa đề Gửi T.T.Kh. Xin trích mấy câu:
Các anh hãy uống thật say
Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im
Giờ hình như quá nửa đêm,
Lòng đau đem lại cái tin cuối mùa:
Hơi đàn buồn như trời mưa
Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi.
Giờ hình như ở ngoài trời
Tiếng xe đã nghiến rã rời ra đi…
… Hãy vui lên, các anh ơi,
Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về
Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe
Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều
Giờ hình như gió thổi nhiều
Những loài hoa máu đã gieo nốt đời.
Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi,
Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh
Sá chi những chuyện tâm tình
Lòng đau đem chứa trong bình rượu cay!
Có lần, một bạn thơ đến thăm nhà thơ Yến Lan lúc ông nằm trên giường bệnh mấy tháng trước khi qua đời. Ông nói: “Cái sợ nhất của tuổi già là sự tỉnh táo”.
Câu nói không hẳn chỉ là sự chiêm nghiệm của ông khiến tôi lạnh người. Người già thường sợ cô đơn, hoặc sợ lú lẫn làm phiền con cháu. Với ông - một thi sĩ, sự tỉnh táo của tuổi già còn đáng sợ hơn. Cũng lần này, hỏi thăm ông về mấy năm tháng buồn vì tai nạn nghề cầm bút, ông im lặng nói lảng sang chuyện khác. Ôi cái sự tỉnh của ông, sao nghĩ tới thấy buồn thương.
Linh Lân Yến Lan lành hiền và từng chói sáng trên thi đàn với “Nhóm thơ Bình Định” và “Trường thơ loạn”, ít nhất tới giờ mọi người vẫn ngưỡng mộ với Bến My Lăng và Bình Định năm 1935. Riêng Bến My Lăng, cái bến thơ đẹp lộng lẫy và kỳ ảo không thể thiếu trong danh mục những bài thơ hay nhất Việt Nam thế kỷ XX! Thử đọc lại vài đoạn: “Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách/ Rượu hết rồi ông lái chẳng buông câu/ Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách/ Ông lái buồn để gió lén mơn râu/… Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã/ Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly/ Chàng lái đò, gọi đò như hối hả/ Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi/ Ông lão vẫn say trăng nằm gối sách/ Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng/ Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách/ Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng”. Ông đã về với cái bến trăng huyền ảo của ông cách đây đúng 10 năm. Lạ lùng thay lại nhằm vào đêm trăng đẹp nhất trong năm: trung thu. Ông lặng về với trăng trong niềm hân hoan lớn của trẻ nhỏ tùng cắc múa lân, ông, con linh thú lân lành hiền đi không làm đau cỏ!
Kỷ niệm sinh nhật thứ 73 của ông, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn tặng ông câu đối: “Nẫm niên dư bắc thượng nam quy tứ hữu thi đàn do lưu văn nghệ sứ. Thất tuần ngoại triêu ngâm mộ vịnh nhứt sinh hoa bút trường thán nguyệt vân thiên”. Một đời ra bắc về nam có mặt với thi đàn, một đời “hoa bút” để rồi “trường thán nguyệt vân thiên”. Sau khi nhận quà tặng, Yến Lan cười buồn nói nhỏ nhẹ: “Ông phê tui!”. Ngửa mặt mà than dài với trăng mây, xét cho cùng cũng là chỗ bấu víu của văn nghệ sĩ mọi thời.
Nhưng cũng chỉ là cách nói có tính chia sẻ. Bằng cách của mình, bằng “sự tỉnh táo” đáng sợ cuối đời, Yến Lan cứ lặng lẽ “nhả” những sợi tinh tơ bằng thơ tứ tuyệt. Có lẽ khi văn học sử ghi nhận Yến Lan thời Thơ Mới thì đến nay, tài thơ tứ tuyệt, nhất là chuỗi thơ mấy chục năm về hưu của ông chưa được nhìn nhận đúng tầm. Tôi xin bắt đầu phần này bằng bài thơ cách ngày ông mất vài tháng (xin lưu ý, hai năm cuối đời, ông chỉ nằm, đọc cho bà Lan, người vợ, người bạn đời của ông ghi lại): “Nghe báo trên trời thiếu một sao/ Đàn chim kinh ngạc hoảng nhìn nhau/ Có người đã thức nhiều đêm trắng/ Tìm mãi không ra trống chỗ nào” (Mất sao). Bài thơ ghi ngày 9-7-1998. Cùng mạch chiêm nghiệm này, xin trích thêm một số nữa: “Vò rối tơ rồi gỡ rối tơ/ Gỡ không ra mối lại đem vò/ Nàng Vân giả dại nàng Vân dại/ Vân dại nên đời cũng ngẩn ngơ” (Chèo); “Tay bưng thuốc đắng nhìn xuyên chén/ Năm tháng còn trên mấy đốt tay” (Hẹn); “Lắc chiếc lọ sành còn rượu nhín/ Vọng lên đỉnh núi cụng vài ly” (Xuân tảo)… Nhiều, nhiều lắm lắm những bài thơ câu thơ tứ tuyệt hay như thế trong hơn 500 bài.
Báo Thanh Niên, 22-9-2008.
Báo Thanh Niên số ra ngày 9-10-1998, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết: Thi sĩ Bùi Giáng, anh là ai? Anh là hư không, là vô thường, là thiên niên kỷ trước, là vô biên mầu nhiệm, là bát quái trận đồ vô ra bế tắc mà rốt cùng vẫn luôn lưu một sự đời miên viễn nói cười hả hê vu vơ khôn cùng. Anh ít dùng rượu để ru mình. Ở cõi đời này, anh đã đến, đã sống và đã rơi vào cơn hôn mê vô tận. Anh nói cười bằng một thứ ngôn ngữ xa lạ với thế gian, và từ đó sinh ra ngộ nhận, tất nhiên không hẳn vì rượu. Anh đã mắng chửi tôi suốt một đời như một hiền giả đi qua cuộc đời này đã mắng chửi một hòn đá cuội. Tôi đã giác ngộ ra điều đó trong phút anh chia tay với cuộc đời này. Dù sao lý do để tồn tại, tôi nghĩ rằng, với anh cũng chỉ bằng một giây phút lâm chung. Anh đã yên tâm nhắm mắt, nằm nghỉ trong một giấc ngủ dài. Anh không còn bận tâm về một thiên đường hay một địa ngục nào nữa. Bởi vì, nói cho cùng, thiên đường và địa ngục cũng chính là anh trong cõi tịch lặng của bản lai diện mục.
Anh đã sống không buồn vui và cũng đã chết không vui buồn. Anh đã sống như đã chết và bây giờ anh chết chính là thời khắc anh được phục sinh. Trên thập giá hồng anh bước xuống và anh nói rằng: “Tao đã phục sinh. Bạn bè của tôi ơi tôi đã phục sinh và tôi sẽ nói cho các bạn nghe: Có một tình yêu đối với tất cả mọi người, một tình yêu vô tận, vô cùng to lớn đó là tình yêu đối với nỗi đau của tất cả mọi người”.
Bùi Giáng con đường, Bùi Giáng xứ sở, Bùi Giáng đi qua cuộc đời bé nhỏ. Bé nhỏ mà to. To lớn vô cùng. Bùi Giáng hiền hòa. Bùi Giáng hiểm nguy. Bùi Giáng thi sĩ. Bùi Giáng cũng chẳng ra gì. Đôi khi thường quá. Nhiều khi cũng rất phi thường. Phi thường trong cõi vô thường. Bùi Giáng muôn hình vạn trạng. Nói không hết lời - Hết lời là cạn, Bùi Giáng chảy hoài. Chảy đến trăm năm. Chảy bằng nỗi nhớ. Nhớ đời. Nhớ cõi. Nhớ cõi xa xăm. Lên ngôi một bận. Nhớ trời lận đận. Nhớ em vô tận. Nhớ chốn mênh mông. Bùi Giáng không còn. Ai ơi ai nhớ. Bùi Giáng hư vô. Nhớ làm gì nữa. Bùi Giáng ơi ơi nhớ làm gì nữa. Nhớ làm gì nữa Bùi Giáng ơi ơi.
Lời văn của họ Trịnh trên đây rất chi là giống tâm trạng Bùi Giáng thường nhật. Sơn nói Bùi Giáng ít dùng rượu, không hẳn.
Nhà báo Giao Hưởng có bài phỏng vấn Nguyễn Thanh Hoài, người cháu từng sống gần gũi nhất với thi sĩ Bùi Giáng trong những năm cuối đời tại căn nhà nằm trong một đường hẻm, thuộc quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Anh Hoài nhớ rất rõ về sinh hoạt thường ngày mà người trong nhà xem là có phần “bất thường” của Bùi Giáng. Cứ mỗi sáng ông thức dậy rất sớm, khoảng 3-4 giờ, yên lặng ngồi thiền khoảng một tiếng đồng hồ. Sau đó ông bắt đầu lên tiếng, khi thì kể chuyện xưa, chuyện nay một mình, khi thì đọc dăm bài thơ với giọng sang sảng. Đôi lúc ông lại mắng này mắng nọ, to tiếng như để đánh thức cả nhà dậy cùng. Sau này có lần ông nói với tôi rằng ông không muốn mọi người “ngủ nướng”, vì ông cho rằng bầu thanh khí dồn tụ ngẫu nhiên, đậm đặc vào buổi sáng sớm, không dậy mà hưởng thì rất uổng. Ông la hét một thôi một hồi rồi leo rào để đi ra đường. Thường thường nơi đặt chân đầu tiên trong ngày của ông là một quán cà phê “cóc” nào đó. Ông gọi cà phê đen để uống và để nhìn thiên hạ qua lại lúc đèn đường còn sáng cho tới khi mặt trời lên. Đó là thú vui không thay đổi của ông suốt mấy chục năm cuối đời.
Những sáng sớm ấy, ông thường rủ rê con cháu đi theo, nhưng giờ đó còn quá sớm không ai đi được. Vì thế ông đơn độc ra đường, hễ uống xong ly cà phê là ông chuyển qua uống rượu và rong chơi khắp Sài Gòn bất kể mưa nắng. Ông đi bộ là chính, nhiều khi đi suốt ngày - nếu có về nhà cũng chỉ nghỉ chân một lát, sau đó lại tiếp tục ra khỏi nhà, là đà lãng đãng trên đường trong cơn nửa say nửa tỉnh. Khi nào về nhà, ông thường mang quà phân phát cho mấy cháu nhỏ trong nhà, cất những bài thơ đã làm, ăn qua loa vài miếng cơm, rồi… đi nữa! Nếp sinh hoat đó cứ đều đặn lặp đi lặp lại cho đến khuya ông mới chịu dừng bước. Thông thường trước khi đi nghỉ, dầu nhâm nhi rượu trắng suốt ngày ông vẫn ngồi thiền khoảng một tiếng mới ngả lưng xuống giường. Còn như những lúc quá say thì “bạ đâu ông nằm đó”, những lúc ấy gia đình phải ẵm ông vào phòng mới được.
Ông rất thương những người bán ve chai, nên đi tới nơi nào ông cũng ngó quanh ngó quất xem có món nào người ta vứt đi để góp nhặt. Những thứ nào còn xài được, bán được, từ chai xì dầu đến miếng nhựa bên đường, ông đều lượm bỏ vào bao mang về nhà chất đó, đợi đến khi mấy cô mua ve chai đi qua nhà, ông gọi vào trân trọng đem ra tặng mấy cô ấy. Ông nói mấy cô ấy tuy số phận và công việc có cực nhọc, nhưng so với các nữ hoàng, các nàng công chúa, các tài tử xinê nổi tiếng như Marilyn Monroe, hoặc Brigitte Bardot, thì thân xác dung nhan có khác gì nhau? Cái tâm bình đẳng nơi ông không chỉ đối với tài tử giai nhân và những người đẹp ve chai trẻ già bé lớn, mà dường như hết thảy ai ai ông cũng xem như nhau, không phân biệt thành phần, tuổi tác. Đối với ai, ông cũng xem là “ngẫu nhĩ tồn sinh” nhất là khi uống rượu như ông từng hét trước sân nhà: Rồi đây tôi sẽ nhớ nhung/ Cái ly rượu đế vô cùng trần gian. Có người vô tình hỏi ông uống suốt ngày làm chi vậy, ông khoa tay đọc mấy câu: Bấy nay gặp gỡ cười chào/ Con đâu có biết cái đầu tiên ông/ Nghĩa là ông rất phiêu bồng/ Đầu tiên rất mực cuối cùng ông điên…
Giống như Phùng Quán, Bùi Giáng uống rượu thường ghi nợ ở một quán gần nhà (nằm trong con hẻm đường Lê Quang Định), chủ quán là ông Tốt rất “từ bi”, hễ Bùi Giáng uống rượu chịu bao nhiêu vẫn cứ để ghi sổ dài dài, nên cuối năm 1997, giáp Tết Mậu Dần 1998 (năm Bùi Giáng mất), đã viết mấy câu vào sổ nợ: “Bài thơ thân tặng Đại ca/ Kính thưa ông Tốt là cha thằng Bùi khùng”.
Nghe nói ông Tốt đã xin Bùi Giáng đừng gọi ông ta bằng “cha” mà ông ta sẽ bị tổn thọ. Song Bùi Giáng bác bỏ, nói biết đâu kiếp trước, kiếp xưa, kiếp xa “ngài” đã mấy triệu lần làm cha “Bùi” này rồi. Chiều 30 Tết, gia đình ra trả nợ để lấy cuốn sổ ấy về, thay vào cuốn sổ mới, Bùi Giáng lập tức ghi mở hàng: “Trả xong món nợ láng giềng/ Lòng vui phơi phới tháng Giêng Mậu Dần”.
Nhưng chỉ vài giờ sau giao thừa, Bùi Giáng lại xuất hiện trước cửa ông Tốt “đạp đất” để khai bút đầu năm vào sổ, thiếu “một ngàn rưỡi ngày nguyên đán”. Mồng hai, mồng ba cũng vậy, đến: “Hôm nay mồng bốn tháng giêng/ Hai ngàn nợ này - say rượu suốt hoài trăm năm” và kéo dài gần hết tháng giêng: “Sau tết 20 ngày nợ hai ngàn rưỡi” và “sau tết 22 ngày/ nợ nơi này hai ngàn rưỡi”… Điều khác người, là tiền nợ ông ghi bằng chữ chứ không ghi bằng số.
Hãy đọc một đoạn trích bài thơ về rượu của Bùi Giáng, bài Rượu và khô đuối:
Anh chỉ biết rằng một hôm khô đuối
Chợt đi về và bảo với riêng anh
Rằng khô mực của xuân xanh xua đuổi
Rất thập thành dễ sợ bóng đi nhanh
Đành phải cảm phiền cô rượu đế
Đong cho giùm một xị rưỡi lem nhem
Để có thể giúp máu tim hồng lệ
Đắp đền cho thân thể đang thuồng thèm
Anh chỉ biết đành phải tuân mệnh lệnh
Rất tuyệt trù là sự thể tối cao
Của tim máu thể thân đòi hỏi đến
Và bất cần hậu quả sẽ ra sao
Em sẽ hỏi rằng thật ra như thế
Hay thật thà chẳng phải thế chăng ru
Anh sẽ đáp rằng dẫu sao thì dẫu
Khô đuối kia vẫn kiều diễm tuyệt trù
Còn khô mực đế vương kia quá dễ sợ
Nó đắt tiền quá cỡ túi tiền ta
Chỉ khô đuối thần tiên kia tương trợ
Với túi quần và túi áo lân la
Là tâm sự láng giềng thân thiết lắm
Với thôn làng hàng xóm rất bôn ba
Từ bốn biển ngược xuôi từ vô tận
Của thời gian về đày đọa trẻ, già
Em sẽ hỏi rằng thật ra sự thật
Thật thà là như thật thế hay sao
Anh chẳng thể đáp thế nào được cả
Vì bản thân anh là Thượng đế chui rào…
Bùi Giáng sinh ngày 17-12-1926 tại Duy Xuyên (Quảng Nam); từ trần lúc 14 giờ ngày 7/10/1998 (ngày 17/8 Mậu Dần) tại Sài Gòn, hưởng thọ 73 tuổi. Ông là một nhà thơ có kiến thức uyên bác đã cho xuất bản hơn 60 cuốn sách gồm: hơn 10 tập thơ, hàng chục dịch phẩm, nhiều tập biên khảo về triết học và thơ. Ông từng “khét tiếng” trên văn đàn miền Nam trước năm 1975 với lối thơ “xiêu đình đổ quán”, mà ông có thể “nhấm bút” cả chục bài liền trong quán rượu hay quán cà phê. Thời ông mắc bệnh điên cũng là thời “phát tiết” ra nhiều tác phẩm nổi tiếng. Ông lấy trời đất làm nhà, lấy chuồn chuồn, châu chấu, lấy rượu làm bạn và làm thơ phiêu bồng phóng dật, tạo ra một lối thơ mà người ta gọi là “Trường phái Bùi Giáng”.
Báo An ninh thế giới cuối tháng, số 8 tháng 4 năm 2002, Nguyễn Triều kể lại câu chuyện rất vui và cảm động. Dạo đó: Quán Xăng xết ở 107 phố Huế là một quán rượu lạ kỳ. Cái ngách vào chỉ một người đi lọt. Cả quán giỏi được 6m2, chứa được dăm bảy người. Chủ quán là bà cụ Cả, lúc đó đã gần 90 tuổi. Cụ là người Công giáo, hiền hậu và cả nể. Cụ Nguyễn Thế Phương, tác giả Đi bước nữa, hay đến đây. Một dạo cụ bệnh, phải vào Việt-Xô nằm. Sau bữa cơm chiều, cụ thường trốn viện, để nguyên cả bộ quần áo bệnh nhân, đến quán. Cụ mua một cút, gọi thêm một chén, cứ đứng, cụ dốc tuột một hơi, rồi chào mọi người ra về. Chúng tôi bao giờ cũng nài: “Bác ơi, đi bước nữa đi!”. Cụ không từ chối. Chúng tôi lại mời cụ đi thêm bước nữa. Cụ không từ chối. Rồi cụ Cả can, chúng tôi đưa cụ Phương ra phố, gọi xích lô đưa cụ về viện.
Lặng lẽ nhỏ nhẹ nhất là cụ Trọng Hứa. Cụ nói chuyện cứ như sợ ai nghe trộm. Cụ lặng uống rồi đi. Như một cái bóng…
Hữu Nội là một ca sĩ lúc đó đang lên. Anh uống và hút thuốc lào mới khiếp. Sắp lên chương trình rồi mà còn tranh thủ ra quán làm mấy chén, kéo dăm hơi thuốc lào. Thế mà họng không làm sao. Tài thật.
Quán Trúc Viên ở 41 Trần Hưng Đạo, ông chủ là anh Chí Thắng, một thời tập trung nhiều nhà văn, nhà báo, nhà thơ. Thậm chí họ còn ra cả một tập thơ riêng về quán này do các tửu sĩ quen viết và xuất bản. Cụ Hoàng Trung Thông cũng cho quán mấy chữ Hán. Chữ Hán của cụ đẹp lắm.
Nhà báo, nhà phê bình văn học Phạm Ngọc Luật, như sách đã dẫn, anh cho biết: Anh rất biết là nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi. Anh làm thơ, yêu thơ và diễn thuyết về thơ đầy tâm huyết như anh xem bóng đá, lại rất “kỵ giơ” với rượu, thế mà anh viết những câu thơ rượu cứ như khẩu khí Lý Bạch vậy:
Ừ thì một chén nữa
Sao đất nghiêng thế này?
Uống cho đất bằng lại
Dễ gì ta đã say.
Đấy là uống rượu có bạn. Còn đây, nhà thơ Quang Khải uống rượu một mình cốt là để có thêm không gian mà suy ngẫm:
Không bạn hữu, chẳng láng giềng
Mình nhâm nhi với nỗi niềm mình thôi.
- Nâng ly!
Đã chếnh choáng rồi
Thì ra tận đáy là nơi thật mình.
Nhà thơ Nguyễn Duy đã có hẳn một du ký về những vùng miền rượu dọc chiều dài đất nước, độc đáo lắm. Khảo sát đó vẫn còn nhiều phần trăm của văn hóa ẩm thực. Còn một khi nổi chất thi nhân, thơ rượu của anh cũng đằm chuyện gia đình vợ con như cụ Yến Lan, ngấm nghía lắm: “Tình như rượu chôn lâu đằm lịm/ Cuối đời đem ra nhấm mới mềm lòng”. Tư chất ấy cho anh cực thân thương gọi “Vợ ơi” trong bài “Mời vợ uống rượu” đầu năm mới:
Mỗi năm Tết có một lần
Mời em ly rượu tay nâng ngang mày
Vợ cười chưa uống đã say
Ngọt bùi thì nổi đắng cay thì chìm.
Nguyễn Duy có bài thơ Ông già sông Hậu rất hay, được dư luận khen, chê một thời:
Ông già giống cha tôi quá thể
Đi làm đồng có xị đế giắt lưng
Đang mùa cày không ngày nào bỏ buổi
Khách tới thăm - tìm chủ ở ngoài đồng
Khoanh rắn hổ nướng vàng trên lửa rạ
Thịt rắn xé trắng ngần mâm lá sen xanh non
Rượu trong veo, muối tiêu và ớt đỏ
Chủ khách cụng ly ngay bờ cỏ chân cồn
Trôi dạt theo sông về đây cày cấy mướn
Sống giang hồ trên đồng ruộng bao la
Hỏi gia sản một đời người đâu cả
Người chỉ tay vào cái bụng, khà khà
“Qua ngẫm chán, sống nghĩa là xả láng
Ăn hết nhiều, chứ ở hết bao nhiêu
Nhà cửa tà tà che lá dừa lá mía
Nón áo khỏi lo nhưng nhậu phải đều đều”
“Ai nghèo thiếu, qua chia cơm sẻ áo
Bụng người sôi cũng sôi giống bụng ta
Ki cóp một thân làm chi cho cực
Giàu ở lòng còn đẹp ở thịt da…”
Chủ giục khách nhậu đi đừng hỏi nữa
Việc bán lúa dư đăng báo chí cho phiền
Dư ít nuôi làng, dư nhiều nuôi nước
Thành tích có gì mà phải nêu tên.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng bình bài thơ trên: Lúc mới ra đời - 1977, bài thơ này rất khó in, vì nó có vẻ ngang ngang không thuận với đường hướng tuyên truyền chính sách lúc bấy giờ. Nhưng con người thì vẫn vốn có cái cốt cách riêng chớ. Ông già đó nhậu đó, mà sản xuất giỏi đó, giàu lòng nhân và trách nhiệm công dân cao cả, thật đúng cách một ông già Nam Bộ.
Trần Nhuận Minh, tuy chưa làm cái việc kiểm toán đời mình như Yến Lan hoặc Nguyễn Duy, nhưng chỉ với hai bài “Bạn hữu” và “Tiệc đêm” đã thấy, bằng những câu thơ rượu, anh đã rất thế sự làm cái việc “chạnh”, mà “chạnh” rất dữ dội vào lòng chúng ta: “Ngổn ngang lưng chén rượu/ Sương nắng bạc đời người/ Niềm tin yêu thuở ấy/ Đâu đã thành xa xôi”; và báo động cho một nhỡn tiền chẳng mấy vui: “Anh làm chủ tịch khóa này/ Bước ra trong tiếng vỗ tay vang rền/ Ngà ngà chén rượu sang đêm/ Nỗi vui nghiêng ngửa, bóng đèn đung đưa… Mong sao lúc thất thế rồi/ Trong đây còn có một người đón anh”.
Một bài khác của Trần Nhuận Minh, bài “Bạn thơ mời rượu trên sông Tiền”:
Rắn nướng ngon động trời
Rượu đế say sụt đất
Gặp nhau có dễ đâu
Sông Tiền trôi ngang mặt
Ngàn ly dù uống cạn
Một nỗi niềm không vơi
Thế trận cài răng lược
Can qua nửa đời người
Ta thì bảo theo địch
Địch lại rằng theo ta
Thời nào cũng lận đận
Cũng không yên cửa nhà
Hai em trai chết trận
Chiến tranh ở hai đầu
Ảnh thờ mờ sương khói
Vẫn không nhìn mặt nhau
Câu thơ như gan ruột
Phơi ra giữa trời mây
Mỗi người một số phận
Ngang qua thế kỷ này…
Đất nước liền một dải
Hòa bình luôn bốn mùa
Thế là sướng cái bụng
Kể chi ngày khổ xưa…
Miệt vườn không rớt nắng
Lá ẩm tiếng ong bay
Điệu đờn ca lãng tử
Rượu uống hoài chẳng say…
Sóc Trăng - Mỹ Tho, 30-10-1999.
Lưu Quang Vũ có bài thơ dài nói về “Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói chuyện những cuộc chia tay thời chiến tranh”. (nhà báo Nguyễn Lâm và Nghệ sĩ Nhân dân Đào Trọng Khánh). Xin trích:
Nhang tàn lả tả rơi lưng cốc
Nhà lạnh trần cao ngọn nến gầy
Chăn rách chiếu manh quần áo lạ
Chuyện dài đêm vắng rượu buồn say
Gió hú ầm ào qua gạch vỡ
Người chết vùi thân dưới hố bom
Kẻ sống vật vờ không chốn ở
Lang thang trẻ ốm ngủ bên đường
Cơ sự làm sao đến nỗi này
Mông lung không đoán được ngày mai
Máu chảy thành sông thây chất núi
Bè bạn tan hoang mình rã rời
Thơ Khánh buồn như lòng đất nước
Thơ hay đời loạn chẳng đâu dùng
Vườn cũ cây tàn chim chết cả
Người chơi đàn nguyệt có còn không
… Tối đen thành phố đêm lưu lạc
Máy bay giặc rít ở trên đầu
Ba đứa da vàng ngồi uống rượu
Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu
Chúng mình không có bom nguyên tử
Chỉ có thuốc lào hút với nhau
Thương nhà thương nước thương cho bạn
Không khóc mà sao cổ nghẹn ngào
Thôi nhé mai này tiễn Khánh đi
Đường xa bom phá tàu không về
Lênh đênh ai hát ngoài song cửa
Bài ca thanh bình đêm cũ
“Hoa lá quên giờ tàn
Mây trắng bay tìm đàn”
Ngày xưa yên ấm quá
Trẻ hát đồng dao trên phố
Con trai xách điếu đi cày
Con gái quang liềm gặt lúa
Bao giờ hết loạn người ơi
Cạn cùng nhau chén nữa
Tàn canh là xa xôi
Lòng như vầng trăng nhọn
Chém giữa trời không nguôi.
Nhà thơ giàu chất thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo đã lộ hết mình trong thơ rượu: “Đắc đạo rượu ngon đắc đạo tình” là đúng anh. Không chệch được. Còn đúng hơn trong một tự họa này: “Vẽ tôi mực rượu giấy trời/ Nửa say nửa tỉnh nửa cười nửa đau”. Con người vừa mới tuyên bố, kích cỡ khẩu khí có vẻ tung có vẻ hoành như Lý Bạch: “Sông Hương hóa rượu ta đến uống/ Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say”, ấy thế rồi cũng lại là người dễ “co” về với cảm thái cô đơn, đổ vỡ:
Tôi còn cái xác không hồn
Cái chai không rượu, tôi còn vỏ chai.
Nhưng có lẽ đúng nhất hay là hay nhất khi anh Tạo cùng bạn bè hòa trong nhau, cưu mang nhau vì rượu:
Đất trời lướt khướt dìu nhau bước
Đắc đạo rượu ngon đắc đạo tình
Bạn bè ở Huế thương nhau thiệt
Một đứa vợ la chục đứa kinh.
Mùa lụt 1983 tôi ghé Huế, tình cờ gặp nhà thơ Thu Bồn đang uống rượu ở nhà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. (Nguyễn Trọng Tạo viết trên tờ Đà Nẵng cuối tuần, chủ nhật, 6-7-2003). Anh đang sướng vì câu nói ngây thơ và rất nên thơ của bé Hoàng Dạ Thi: “Huế vừa đi vừa tím”. Thu Bồn thú nhận rằng, anh đã đến Huế nhiều lần, và cũng bị ám ảnh về “Huế tím”, nhưng không thể nào hình dung ra được “Huế vừa đi vừa tím” rất xuất thần như vậy. Anh bảo thơ ca lạ lùng nhất phát ra từ cặp mắt và tâm hồn trẻ thơ, và khen Hoàng Dạ Thi là một “thi sĩ đại tài thiên bẩm”. Khi rượu đã ngấm men, tình càng thúc gọi, anh rủ tôi đi bộ qua cầu Gia Hội sang Chi Lăng thăm cô gái anh mới quen, cô Châu. Cô Châu mắt to, mũi cao, da ngăm, có dáng thể thao, khỏe mạnh, vui vẻ đón chúng tôi. Ngồi uống nước trước bàn thờ còn đọng ngấn nước sau trận lụt mới vừa lui, Thu Bồn bảo chính ngấn nước ngập bàn thờ ấy đã “xui” anh viết được bài thơ về lụt Huế, rồi anh đọc rất xúc động bài thơ ấy. Tôi nhớ có câu thật ấn tượng: “Một phen cóc nhái nhảy lên bàn thờ”. Nhưng có lẽ bài thơ hay nhất anh viết về Huế lại là bài “Tạm biệt” anh viết sau đó mấy hôm:
Bởi vì em dắt anh lên thăm những ngôi đền cổ
Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu.
Anh thổ lộ với tôi, Em trong bài thơ là một cô gái có thật. Tôi đoán cô Châu. Anh cười hiền.
Người yêu thơ ở Huế không ai không thuộc bài thơ này. Bài thơ có hai câu rất xuất thần về Huế - sông Hương:
Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.
Sau này, anh tục huyền với nghệ sĩ Lý Bạch Huệ, trong các cuộc rượu với Thu Bồn, anh em Huế thường đùa anh, đọc trệch chữ Huế thành chữ Huệ bằng giọng Huế thật dễ thương: “Sông chảy vào lòng nên Huệ rất sâu”. Đến hai câu kết bài thơ “Tạm biệt Huế với chiếc hôn thầm lặng - Anh trở về hóa đá phía bên kia”, anh em lại đùa anh: “Anh trở về hóa đá ở trong bia”. Đá ở đây là nước đá, và bia ở đây là bia anh vẫn hay uống, chứ không phải là “trăm năm bia đá thì mòn”. Điều đó chứng tỏ bài thơ “Tạm biệt” của Thu Bồn đã trở thành bài thơ ngôn truyền hết sức độc đáo.
Nguyễn Trọng Tạo viết tiếp: Năm 1985, vào ngày đổi tiền, tôi và Thu Bồn lang thang trên đường phố Hà Nội, không đồng xu dính túi, mà lại thèm ngồi nhâm nhi chén rượu với nhau. Thu Bồn tháo đồng hồ tay và lấy chiếc mũ cối bộ đội của tôi đi bán cho con phe để lấy tiền uống rượu, nhưng con phe cũng từ chối. Anh quyết định “đẩy” chiếc xe máy Vespa, nhưng người hẹn mua không tới. Liền rủ tôi đến nhà nhà văn Ngô Thảo xúc mấy ký gạo ra chợ Âm Phủ đổi lấy rượu và thịt chó. Thế là bạn bè kéo đến uống rượu, đọc thơ. Tối hôm ấy, tôi và Thu Bồn ngủ trên sân thượng nhà Nguyễn Thụy Kha (cùng ngõ với Ngô Thảo).
Ngủ trên sân thượng thật mát mẻ, phóng khoáng, nhưng quá nửa đêm trời đổ mưa. Sợ phiền vợ chồng Kha, tôi và anh cuốn chiếu xuống hành lang cạnh cầu thang ngủ tiếp. Nào ngờ cản đường chuột chạy. Một con chuột cống đã cắn vào trán Thu Bồn, tóe máu. Sáng ra, vợ Kha hốt hoảng, tìm bông băng lại vết thương cho anh. Ngô Thảo thương quá, tổ chức một tiệc rượu để “chia buồn” với thi sĩ bị chuột cắn.
Cuộc rượu toàn những nhà thơ, nhà văn lính. Bỗng có hai cô gái Hà Nội rất xinh đến thăm “thương binh”, họ ào vào ngồi hai bên tả hữu Thu Bồn mà… rót rượu. Nhà nghiên cứu phê bình Đào Thái Tôn xuất hiện, đòi ngồi cạnh Thu Bồn để “nghiên cứu” vết thương trên trán anh, nhưng hai cô gái quyết cố thủ. Họ Đào thất thế, bỗng xuất thần đọc câu thơ sáu chữ trả miếng hai cô gái:
Anh ngon đến chuột cũng thèm!
Câu thơ xuất thần bất ngờ được vỗ tay tán thưởng, khiến hai cô đỏ mặt, vội nhường chỗ cho họ Đào ngồi bên Thu Bồn để “nghiên cứu” vết thương và rượu Làng Vân.
Sau hôm đó, tôi làm bài thơ “Những nhà thơ lính” để tặng Thu Bồn, có hai câu kết:
Không phải khách ăn theo không phải thợ gặt giùm
Những nhà thơ qua máu lửa chiến trường!
Cũng trong bài báo này, Nguyễn Trọng Tạo nhớ lại: Người ta thường tiếu lâm về cái tính tằn tiện của người Khu Năm, nhưng với Thu Bồn thì khác. Có tiền là anh nghĩ đến việc tổ chức cuộc vui cho bạn bè. Hồi tôi còn ở Huế, Thu Bồn vào sống ở thành phố Hồ Chí Minh, một dịp đi qua Huế, anh đưa một xe bạn bè vào nhà tôi và tuyên bố với vợ tôi là sẽ bày cuộc nhậu ở đây. Vợ tôi lúng túng vì tôi đang vắng nhà, anh bảo vợ tôi vào bếp nổi lửa lên, còn anh thì mang vào một lồng gà và mấy ký thịt bò mua dọc đường. Và Thu Bồn xắn tay lên làm bếp. Khi tôi về thì đã thấy một bữa tiệc linh đình bày ra trên sàn nhà lát gạch. Anh bảo tôi gọi bạn bè ở Huế đến nhậu. Nhậu xong, anh mang chiếc cát xét ra bật nhạc lên và… nhảy. Thu Bồn thích nhảy những điệu nhảy Mỹ Latinh, khiến cả căn phòng nhộn nhịp như một vũ trường.
Năm 1998, tôi từ Hà Nội vào Đà Nẵng dự Hội nghị văn học miền Trung, ở cùng phòng với Thu Bồn. Tôi kiểm tra ví của anh. Anh bảo: “Thu Bồn giờ túi hết tiền, bút hết mực, súng hết đạn rồi. Buồn lắm!”. Tôi thấy thương anh quá, đưa anh ít tiền tiêu vặt. Sáng hôm sau, tôi cùng Thanh Thảo, Nguyễn Thụy Kha đến thăm một Tổng biên tập báo, được nhận một số tiền đặt viết bài. Chúng tôi gom lại đưa cho Thu Bồn. Anh cảm động lắm. Nhưng tối hôm đó, anh đã dùng tất cả số tiền ấy mua một chai rượu Tây loại xịn, mở ra mời mọi người cùng uống. Tôi trách anh. Anh nói nhỏ nhẹ với tôi: “Tao thấy chúng nó thèm rượu quá mà chẳng đứa nào chịu chi. Hình như chúng nó cũng chẳng có tiền đâu Tạo ạ!”.
Lại nhớ một lần vào thành phố Hồ Chí Minh, tôi rủ Thu Bồn đến quán bia 81 Trần Quốc Thảo, nơi anh em văn nghệ vẫn thường lui tới. Tôi gọi một can bia hơi, Thu Bồn ngăn lại. Anh bảo, chỉ gọi hai ly và một đĩa đậu phụng thôi. Tôi ngạc nhiên. Anh bảo: “Ta chỉ gọi cò mồi thôi. Lát nữa chúng nó tới, không đủ sức mà nhậu đâu”. Quả đúng như vậy, một lát sau, anh em văn nghệ tới, người gọi bia, kẻ gọi đồ nhậu cứ tưng bừng như nhà có đám. Trịnh Công Sơn vừa gọi mười lon bia Ken ứng với số tiền trong túi, thì Trần Tiến đã gọi một thùng đặt vào bàn rồi cáo lui vì có việc bận. Không biết trong cuộc nhậu, Thu Bồn đã hẹn hò thế nào mà tối hôm đó, tại nhà Thu Bồn ở số 6 Đặng Thái Thân tụ hội gần 20 người bạn. Bữa tiệc ấy do anh làm đầu bếp cùng với mấy chị rất xinh đẹp đều là vợ của bạn anh. Lại đọc thơ, lại hát. Tôi còn nhớ, Trịnh Công Sơn khen bộ bàn ghế bằng gốc dừa của Thu Bồn thật dễ thương. Thế là sáng hôm sau, anh thuê xe chở cả bộ bàn ghế ấy đến nhà họ Trịnh tặng bạn…
Bỗng Thu Bồn bị tai biến mạch máu não. Tuổi sáu lăm đang phong độ bỗng sụp xuống như một con voi ngã bệnh. Đủ các loại thầy thuốc cứu chữa. Cuối năm 2001, tôi và Nguyễn Thụy Kha vào thăm mộ Trịnh Công Sơn ở chùa Quảng Bình nghĩa trang Gò Dưa, ghé suối Lồ Ồ thăm Thu Bồn. Chúng tôi đến sau một giờ gọi điện thoại. Ô tô vừa đến cổng đã thấy Thu Bồn đứng giữa sân dang hai tay lên trời như muốn ôm chầm lấy cả chiếc ô tô. Nguyễn Đình Toán nhảy khỏi xe chụp ảnh lia lịa về cuộc gặp gỡ này. Thu Bồn đưa chúng tôi đi thăm khắp vườn, lên nhà trên, xuống nhà dưới, vào tận phòng ngủ của hai người. Trên đầu giường vẫn để một khẩu súng ngắn và mấy viên đạn đồng vàng sẫm. Thu Bồn nói rằng, anh chưa bao giờ rời khẩu súng này. Để làm gì? Để nhớ lính, và để ngừa kẻ trộm. Nhưng kẻ trộm đã lén vào nhà khuân đi khá nhiều tranh, tượng quý giá của anh. Biết chúng tôi đến, nhưng Lý Bạch Huệ không kịp về. Chị đang mải đi tặng thơ Thu Bồn vừa xuất bản tận trên Biên Hòa.
Thu Bồn lấy một bình rượu quý bảo tôi rót mời mọi người nâng ly. Thu Bồn cũng nâng ly, nhưng anh chỉ nhấp môi chứ không dám uống. Bệnh tật đã cướp của anh cái thú vui mãn tính. Thu Bồn nhìn chúng tôi uống rượu, chợt cười buồn…
Xe chúng tôi rời cổng nhà anh, anh vẫn đứng giữa sân dang hai tay lên trời. Mái tóc bạc trắng bay tung trong gió. Nụ cười sáng giữa lởm chởm râu bạc.
Kỷ niệm một năm ngày Thu Bồn mất, Tạ Văn Sỹ, người Bình Định, sinh năm 1955, nhỏ hơn Thu Bồn gần hai con giáp, viết một bài thơ “Uống rượu với Thu Bồn”:
- Sỹ ơi, uống nữa cho vơi
Anh em ta kẻ chịu chơi cuối cùng
Đã chơi không được nửa chừng
Đau già buồn trẻ cụng chung ly này.
- Vâng, thưa anh, uống cho say
Rồi ra ta vỗ trắng tay phong trần
Đau anh hồn lớn thi nhân
Buồn tôi là những thăng trầm nhục vinh
Đau anh một cõi tử sinh
Buồn tôi thế thái thân tình thiệt hơn
Đau anh bao mộng chưa tròn
Buồn tôi là những cỏn con chuyện đời…
Một ly này nữa, xin mời
Đông tây kim cổ đất trời say chung
Một ly này nữa, xin mừng
Hồn thiêng thiên cổ cụng cùng muôn sau
Một ly này nữa, mời nhau
Đánh đu cùng với bể dâu đã từng…
Sá gì, trong cuộc sầu chung
Ly vui chạm với ly mừng mà say!
Cũng giầu giầu chất thi sĩ như Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ Vũ Duy Thông lại có một kiểu cách hay khang khác, anh trầm kín và nồng nàn trong khá nhiều bài thơ có phong vị rượu, hay nói đúng hơn là “mượn” rượu để tỏ tình. “Khau Vai” là bài thơ hay, hay cả bài, kiểu đó. Tám câu cuối bài không giấu được độ “liều” đáng yêu của thi sĩ:
… Uống cho người ấy không yên được
Dẫu đã chồng con đã vẹn bề
Uống cho trăng lên bên kia núi
Bật khóc thương người trong cơn mê
Uống cho Khau Vai xa thăm thẳm
Thăm thẳm trời xa thăm thẳm buồn
Mai người xuống núi người ở lại
Cầm chắc chân trời mưa gió tuôn.
Sau Trần Quốc Thực là Trần Thanh Sơn, những người thơ nhiều chất thi sĩ, đã lần lượt không còn. Các anh đã “phiêu” trong thơ rượu nhiều lần. Đây là một lần với Trịnh Thanh Sơn:
Một cộng với một thành hai
Anh cộng cô đơn thành biển
Nắng tắt mà người không đến
Anh ngồi rót biển vào chai.
Không là tất cả nhưng xem ra, một khi cái sức thất tình và đa tình của các nhà thơ càng lớn thì rượu thơ không muốn cũng mò về. Tôi rất tin là thơ rượu với thi nhân đúng là duyên trời định.
Nhà văn Triệu Xuân cho tôi nhiều tư liệu quý, hiếm! Đây là bài thơ Canh rượucủa nhà thơ Xuân Sách, tên khai sinh: Ngô Xuân Sách. Sinh ngày 4 tháng 7 năm 1932 tại xã Trường Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa; mất ngày 2 tháng 6 năm 2008, tại Hà Nội, thọ 66 tuổi. Ông chép tặng Triệu Xuân bài Canh rượu tại Nhà sáng tác Vũng Tàu, ngày 3-10-2005.
Cởi giày dép ra ngồi chiếu hoa
Chó thui rơm rạ khói quê nhà
Nào ta nâng chén mừng hội ngộ
Những đứa ở gần những đứa xa
Bạn bè một thuở rồi ly tán
Đứa ở trời Tây đứa ở nhờ
Có đứa lập ngôn đứa lập nghiệp
Đứa đi buôn chuyến đứa làm thơ
Trái đất quay tròn ta cũng quay
Chạy đâu cũng nắng với mưa này
Cùng nhau đấu hót trong canh rượu
Tỉnh dậy đứa nào cũng trắng tay!
Xuân Sách. Theo bản viết tay do Tác giả chép tặng nhà văn Triệu Xuân tại Nhà sáng tác Vũng Tàu, ngày 03-10-2005. Bài đã post trên www.tyrieuxuan.info ngày 15-9-2008.
Cuối cùng, tôi muốn mượn lời của Phạm Xuân Nguyên nói đến rượu và hoa, hoa và rượu với văn sĩ muôn đời:
Rượu với thi nhân, và những ai mang tâm hồn thi nhân khi đến với rượu, vì thế, thường sánh với hoa. Cái nồng của rượu cần cái sắc hương của hoa như một hòa hợp, một nâng đỡ, một dìu dặt, một tương giao. Đối hoa ẩm tửu, người uống không còn là kẻ phàm phu tục tử. Hoa làm cho rượu thêm thơm ngon. Hoa thanh lọc những ô tạp của rượu để còn lại cái thần, cái chất. Hoa là thành tố của một cuộc rượu được nâng lên mức nghệ thuật. Nói không quá, có một thứ văn hóa “rượu hoa”. Nhưng tao nhân mặc khách thuở trước “khi xem hoa nở khi chờ trăng lên” bao giờ cũng nhấn thêm một chút phảng phất của hồn say, vài chén tửu lúc đó thêm phần lung linh, huyền diệu cho cái đẹp.
Vâng, cái ĐẸP là phải được chiêm ngưỡng, phải được SAY. Như Cao Bá Quát “nhất sinh đê thủ bái mai hoa”. Rượu và hoa hay cái tình tri âm tri kỷ. “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu” [1], mà tri kỷ đây lại là cái Đẹp vốn mong manh, hiếm quý trong đời, một chén này đây mừng có người có ta, một chén này đây say quan hà biên tái, một chén này đây khóc hội ngộ cười chia xa. Rượu độc ẩm là buồn, cực buồn. Nhưng vắng hoa, vắng đẹp, vắng tri âm tri kỷ thì đành, không thể uống một cuộc rượu đầy vơi không biết, mất còn không hay được. Một mình thì một chén cũng là say mà nghìn chén vẫn là tỉnh, như Nguyễn Bính “thoáng thấy em trong cốc rượu đầy” nên “tôi uống cả em và uống cả, một trời quan tái mấy cho say”. Dễ mấy ai trong đời tương hợp được trọn vẹn rượu và hoa!
Rượu là nước có lửa, hoa là lửa có nước. Tưởng tương khắc mà tương sinh. Nghĩ cũng hay và tài tình cho tiếng Việt, rượu và chè là hai thứ đồ uống nhưng ghép lại với nhau thành “rượu chè” là mang nghĩa xấu, là hàm một ý chê. Hoa và rượu là hai thứ, hai phạm trù khác nhau, tưởng đối lập nhau, nhưng đặt bên nhau lại là một tương hợp. Ngắm hoa, ngắm cái đẹp, thưởng thức một điều ưng ý vừa lòng, thiếu đi một nồng độ say, như không cảm được hết, không thấu được sâu, không hiểu được xa cái huyền ảo diệu kỳ bên trong. Nâng chén dốc vào lòng một ngụm say mà trước mắt không có đối tượng để nhìn để ngẫm để suy thì chén rượu ngon lắm lúc hóa thành rượu đắng. Cuộc đời cần có rượu và hoa, cần cả rượu và hoa, như vật chất và tinh thần, như thể và tâm, như động và tĩnh, như phàm nhân và thánh nhân, như hữu và vô. Có nghĩa gì đâu, “hai đứa sống bằng hoa với rượu, sống vào giời đất sống vào nhau”, một cuộc sống giản dị yên lành đến thế đến tận thiên niên kỷ ba vẫn là niềm mong mỏi của số đông nhân loại.
Tôi ước được một lần như một thi sĩ đời Đường kia đem rượu ra uống trước hoa, “cạn dăm ba chén gọi là mua vui”. Đời hiếm lắm những khoảnh khắc thanh thản, thôi thì ta lắng lòng mình lại bằng cái chất nước của con người làm ra sánh với chất lửa của trời đất. Uống cho một thoáng giật mình “Chỉ e hoa biết mỉm cười, Hoa không phải nở cho người già nua”. Nghĩ được như thi gia đó đã là một cao diệu của hoa và rượu rồi vậy!.
Ghi chú:
[1] Thơ Âu Dương Tu (Đời Tống, Trung Quốc): Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu/ Thoại bất đầu cơ bán cú đa/ Dao tri hồ thượng nhất tôn tửu/ Năng ức thiên nhai vạn lý nhân (Bài: Xuân nhật Tây Hồ ký tạ pháp Tào Vận). Dịch nghĩa:
Dịch nghĩa: Ngày Xuân ở Tây Hồ, Thơ gửi ông Tư pháp họ Tạ. Uống rượu mà gặp bạn hiểu mình thì ngàn chén cũng là còn ít/ Nói chuyện mà không hợp nhau thì nửa câu cũng là còn nhiều/ Mới biết ở trên hồ nâng một chén rượu/ Hay nhớ đến người đi vạn dặm nơi chân trời xa xôi. Chú thích của Triệu Xuân.
Trần Thanh Phương
Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương 
sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017
Theo https://trieuxuan.info/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...