Thứ Ba, 13 tháng 8, 2019

Trống mái - Khái Hưng

Trống mái - Khái Hưng
Chương 1
Sầm sơn, 15 tháng 6 năm 193...
Chère Oanh (1)
Chị tha lỗi cho em nhé. Em hẹn viết thư cho chị ngay thế mà ra đây đã được năm hôm em mới có bức thư này về thăm chị.
Em vừa viết vừa loay hoay nghĩa là chẳng loay hoay tí nào, chỉ tìm cớ để xin lỗi chị về sự chậm trễ đó là ngẫu nhiên. Em tưởng tới luận đề quốc văn cô giáo ra cho chúng ta hồi 4ème année (2): “Xin lỗi bạn về sự phúc đáp chậm trễ”.
Em còn nhớ ngày ấy cúng mình cười mãi về cái đề tài ngớ ngẩn và một câu văn tinh quái nghịch ngợm của chị Kha: “Cha tha lỗi cho tôi, tôi mải ngồi ngắm mây bay và mơ màng tới sự sống êm đềm nên quên lãng biên thư phúc đáp...”.
Em thì không mơ màng ngồi ngắm mây bay, nhưng em lại khó chịu về nỗi buồn và 'cái nóng'!. Ở Hà Nội mẹ em sợ nóng, trốn vào trong này. Nhưng ở đây cũng chẳn mát với ai, nhất là vào khoảng từ 12 giờ trưa đến 4 giờ chiều thì lại càng khó chịu với những cơn gió tây như đốt mà những giại, những phên nứa đan mắt cáo không đủ sức cản nổi.
Hôm nào không có gió thì cũng chẳng sung sướng gì hơn. Chị cứ tưởng tượng đứng trước một bức ảnh màu vĩ đại... Phải, một bức ảnh vì bao vật xanh tươi hồng thắm cho đến mây trắng trời lam đều đứng im phăng phắc như in trong một tấm hình vậy. Đến cả rặng phi lao, ngọn mềm như thế mà cũng không rung động mảy may. Vạn vật như sợ hãi nín thở trước sự hung tợn ầm ĩ của sóng biển ngày đêm lăn lộn gầm thét không thôi... Thơ mộng không?
Hết cái khó chịu về nóng, đến cái khó chịu về các hàng vặt. Suốt từ sáng đến chiều luôn luôn nghe những câu chào hàng qua bờ giậu. Nào mua “trấng mua chúi”, mua thuyền, mua tôm rồng. Thôi thì không còn một thứ gì họ không mời mình mua! Hôm đầu em còn cáu kỉn gắt gỏng, nhưng vì em thấy họ coi thường những lời cự tuyệt của mình nên em để cho họ tha hồ muốn mời, muốn gào mỏi miệng mặc kệ, không buồn đáp lại nữa. Chị đừng tưởng làm thế mà thoát đâu!. Họ còn thò tay qua phía trong mở chốt cổng để vào sân, vào vườn mà mời mình mua cho bằng được. Một hôm em đùa, thấy hàng nào hoặc đội, hoặc gánh cũng bảo ngồi đợi đấy rồi em mua. Một lát sân nhà em thành cái chợ nhỏ có đủ các thứ hàng bày la liệt. Bấy giờ em mới vào mời mẹ em ra. Mẹ em không thể nín cười được.
Nhưng thôi, viết dài dòng quá bắt chị đọc khổ thân. Để hôm nào em về em sẽ thuật lại cho nghe vì cứ xem nông nỗi này thì em cũng không ở đâu được đâu, chỉ độ tuần lễ nữa là em chuồn thôi.
Kính thư
Hiền
Sầm Sơn 16 tháng 6 năm 193...
Chị Oanh,
Hôm qua viết xong thư, em thân hành ra bỏ tận hộp nhà bưu điện. Gìữa đường gặp Lưu và Miện, trường Luật. Thấy tay em cầm phong bì, họ tủm tỉm cườị Chắc họ yên chí rằng đó là một bức thư tình nên em mới chịu khó thân đem đi bỏ, nhất họ lại biết villa (3) em cách nhà bưu điện rất xa. Có lẽ vì thế mà họ xăm xăm sấn lại hỏi chuyện em chăng? Thấy mắt họ lơ láo nhìn tay em, em trêu tức bỏ ngay phong bì vào ví làm hai cậu càng thêm ngờ vực.
Cho thế mới bõ ghét, chị ạ! Từ hôm em ra đây tới nay, hai tướng lượn quá đi mất, làm em đến phát cáu lên ấy!. Đi đâu cũng thấy hai người lẽo đẽo theo sau. Mà hễ em tắm chỗ nào là họ lởn vởn lại gần liền. Hôm kia tức mình em bơi ra xa làm hai cậu theo không nổ, đành phải quay vào bờ. Chị tính, bộ ấy thì bơi ở ao cũng vị tất được mấy chục thước chứ đừng nói ở biển có sóng lớn. Bơi được một quãng, em leo lên cái mảng đứng vẫy tay gọi họ ra, họ chỉ lắc đầu. Em buồn cười quá! Hừ! Thế mà cũng học "đòi chim gái!"
Em rõ lẩn thẩn, đương chuyện nọ kể xọ sang chuyện kia. Em nói hai tướng thấy em giấu vội bức thư vào ví thì tò mò đa nghi lắm, đưa mắt nhìn nhau. Hẳn 'hai ngàí cụt hy vọng vì tưởng em gửi thư cho người tình nào mà hai cậu biết chắc chắn rằng không phải là hai cậu.
Chẳng thế, mỗi lần hễ gặp em là chuyện nở như gạo rang, mà lần này thì tiu nghỉu như mèo bị cắt tai, hỏi thăm mấy câu nhạt nhẽo rồi ngả đầu chào đi thẳng.
Tưởng tối về, 'hai ngàí hẳn ngồi nhà mà than vãn cùng nhau về mối tình tuyệt vọng. Nhưng không chị ạ, đêm hôm qua em vừa kéo dứt bài “Ville d'Amour” đã nghe thấy tiếng cười khúc khích của hai tướng ở ngoài hàng giậu rồi. Em bực mình quá tắt đèn đi ngủ liền.
Tóm lại em xin nói trước để chị biết rằng thế nào vài hôm nữa em cũng về Hà Nội vì những lẽ này:
1/ Nóng.
2/ Buồn
3/ Không có bạn.
Nói tóm lại là bơ vơ quá!
Bạn chị,
Hiền
Tái bút: Em sắp dán thư thì Hồng đến chơị Hồng cửa Đông chứ không phải Hồng hàng Nón đâu nhé. Trông giờ nó gầy quá chị ạ, chẳng còn tí ngực nào nữa, mà người thì đét đèn đẹt. Em bảo nó tập Muller chẳng biết nó có nghe không.
Sầm Sơn 20 tháng 6 năm 193...
Ma Oanh Chérie (4)
Thư chị gửi vào em đã nhận được rồi, mừng quá. Mà may quá, vì em đã định gần nhất định mai từ biệt đất nước Sầm Sơn. Nếu thư chị gửi chậm một hai hôm thì có lẽ nó sẽ phải khứ hồi, về lại Hà Nội, và sẽ cùng em gặp nhau ở phố hàng Da.
Thế à chị? Ở Hà Nội nóng thế kia à?. Ừ, chẳng lẽ mất công đi nghỉ mát lại không mát bằng ở nhà!. Nhưng nếu chị bảo Hà Nội là một cái lò thì Sầm Sơm là một cái lò nhỏ hơn.
Chị tính, nóng như thế mà sáng hôm nay em đi chơi núi đấy. Em đi với mẹ em và chị Hồng. Chị Hồng yếu quá chị ạ, trèo dốc cứ thở hổn ha hổn hển mãi.
Chúng tôi đem theo con gà quay và một chai bia, ra khe Thờ tắm rồi lên hòn núi Trống Mái ngồi chén. Ở đó cũng khá mát, nhưng đến lúc nóng thì không thể tả được!. Thôi, cũng bõ! Ở Hà Nội có ai lòe, khoe hòn Trống Mái đẹp hay lạ thì cũng biết nó ở đâu, nhất là em lại chụp được một tấm hình “cặp gà đá” ấy. Rồi em sẽ đưa cho chị coi, và chị sẽ thấy nó chẳng đẹp mấy.
Thế là đã xem được núi. Còn rừng nữa. Em định chiều nay đi nốt để mai về. Em về thì chắc mẹ em ở lại một mình buồn lắm đấy. Nhưng lạy cụ thôi, cụ đi nghỉ mát để khỏe người, nhưng con, con chỉ mong đến bãi biển để vui đùa. Mà bãi biển Sầm Sơn thì vắng ngắt như bãi sa mạc, còn vui đùa sao được! Rõ em giận mẹ em quá!. Nói cụ đi Đồ Sơn thì cụ không nghe!.
Có lẹ em sẽ theo chị huyện Đài lên nghỉ ở Chapa ít ngày. Chị ạ, Chapa thì chắc cũng buồn, nhưng đi cho biết thôi mà. Với lại em muốn chụp mấy bức ảnh vận Mèo, chị ạ. Em được xem ảnh chị Đài chụp năm ngoái ở Chapa mà em thích lên đó quá.
Thôi, chào chị. Em phải mặc Maillot (5) đi tắm đây. Mẹ em đương giục kia. Kính chúc chị mạnh khỏe.
HIỀN
Chú thích:
(1) Chère: tiếng Pháp có nghĩa là thân mến; Chère Oanh nói chung là “Oanh thân mến”. Đây là lối viết thư của rất nhiều 'dân Việt trường Tây thuở trước.
(2) Tức lớp Đệ Ngũ thời đó, ngày nay là lớp 8.
(3) Villa: tiếng Pháp, có nghĩa là biệt thự.
(4) Ma chérie: tiếng Pháp, có nghĩa là người thân yêu dấu; không bắt buộc phải là người tình. Trong trường hợp này vì người nhận là phái nữ nên mới dùng “ma chérie”; giả sử là phái nam thì phải viết là “mon cher”.
(5) Maillot: tiếng Pháp, có nghĩa là áo lót. Nhưng trong trường hợp này có lẽ là áo tắm.
Chương 2
- Vâng, con xin đi đây.
Hiền gấp vội bức thư bỏ vào phong bì rồi đứng dậy vào buồn thay áo tắm. Mặc xong, nàng đưa tay nắm cặp đùi chắc nịch và xoa bộ ngực nở nang khoan khoái, sung sướng thở ra một hơi dài. Cử chỉ ấy nhắc nàng nhớ đến tập thể thaọ Nàng liền đứng thẳn người phưỡn ngực, mềm mại đưa đôi cánh tay lên xuống và hít vào, thở ra thật mạnh.
Bỗng nàng ngừng lại và nhếch một nụ cười: nàng vừa thoáng thấy bóng mình lờ mờ in nghiêng vào một bên cửa kính. Tuy những miếng kính phản chiếu không được rõ ràng tấm thân đầy đặn, cân đối của nàng, nàng cũng ngắm thấy đường lưng thẳng, nét ngực phồng và cái bụng thon thon. Kết quả ấy nàng đã tốn nhiều công phu lắm mới có được.
- Hiền!
Đạ!
- Mặc xong áo chửa Sao mà lâu thế?
- Xong rồi đây ạ.
Hiền từ trong buồng ngủ vội bước ra, cúi rạp đầu xuống chào theo điệu ca kịch trên sân khấu. Bộ áo tắm màu xanh non, rất ngắn để hở cặp đùi hồng hào, cái ngực trắng bóng và cái lưng lằn những bắp thịt khiến bà mẹ hơi chau mày:
- Sao con không mặc bộ như thường ngày.
Nghiễm nhiên Hiền đáp:
- Hôm nay con thích dùng bộ này.
- Mẹ trông nó hơi ngắn một tí... Nhưng thôi, cũng được!
Bà tham Hậu vẫn có tính nuông chiều con. Mà nuông chiều quá hoá nhát, hễ thấy con tỏ ý giận dỗi là hoặc dấu dịu, hoặc làm theo ý con ngay. Bà nhà giàu, góa chồng sớm, có được hai đứa con gái. Con lớn đã có chồng và đã sinh được một trai, một gái. Còn Hiền, con út thì tuy tuổi đã ngoài hai mươi nhưng vẫn nhất định chưa bằng lòng aị Hơn nữa, Hiền thường 'nửa thật nửa bỡn' bảo bà Hậu:
- Mẹ ạ, con chẳng muốn lấy chồng. Con chỉ ưa theo chủ nghĩa độc thân.
Nghe con nói, bà chỉ mỉm cườị Những người quen thuộc, những chỗ họ hàng, bà con thấy Hiền quá tự nhiên từ ngôn ngữ cho đến cử chỉ thì đều tức cười, cho rằng bà Hậu không chịu uốn nắn dạy con. Nhưng ai nói gì bà mặc kệ. Vả lại, bà cũng biết đối với Hiền, bà không đủ uy quyền để dạy bảo.
Tuổi bà quá gấp đôi tuổi Hiền, nhưng tính nết bà vẫn trẻ như Hiền. Chẳng thế, hôm đến một hiệu Tây mua áo tắm, bà lại vui vẻ nhờ Hiền chọn hộ một bộ. Bà biết rằng những kểu áo Hiền ưng bao giờ cũng dễ coi và hợp thời trang.
Chương 3
Hai người lẳng lặng đi ra bãi biển. Bà Hậu trong cái áo khoác vải bông trắng dài chấm mắt cá, trông còn có dáng khỏe mạnh, cứng cáp. Đi bên cạnh bà, Hiền như một cây non đương bồng bột lớn và chứ đầy nhực buổi đầu xuân: một tấm nhan sắc hoạt động hùng tráng, thanh khiết, trái ngược với thứ nhan sắc nhu nhược ủy mị, kín đáo, biểu hiệu của dục tính. Qua một quãn đường, một khoảng trồng đầy phi lao, hai người tới bãi cát.
Bấy giờ, gió đông nam bắt đầu thổi mạnh và đều, đã rủ rê hầu khắp dân tắm Sầm Sơn ra đùa giỡn với những làn sóng bạc đương ầm ầm xô đẩy nhau vào bờ. Nhưng nửa bãi khu trên vẫn vắng, lác đác chỉ có độ dăm ngườị Bà Hậu ở vào khu ấy nên hôm nay cũng phải cùng con gái đi mãi xuống chỗ mỏm đá đông người Việt Nam tắm hơn, mà bãi cát lại bằng phẳng chứ không gồ ghề, có nhiều hố sâu như ở phía kia.
- Hôm nay tắm ở đây thôi mẹ ạ.
Hiền chán nản chống tay vào cái mảng phơi bên làn nước và nũng nịu, uể oải nói với mẹ. Bà Hậu nhìn con đáp:
- Con mỏi chân rồi sao.
Hiền mỉm cười:
- Không mẹ ạ! Nhưng tắm đâu chả thế! Ở đây có cái mảng này sạch sẽ, vắt áo khoác tiện lắm.
- Nếu con không mỏi thì nên đến đằng kia tắm hơn. Vả lại hôm qua, mẹ đã trót hẹn với các bà ấy.
- Vâng cũng được.
Nhưng chẳng bao lâu, sự chán nản biến mất ngay trong tâm hồng cô thiếu nữ. Hiền vừa liếc thấy một bọn người Pháp, cả đàn ông lẫn đàn bà nhìn mình bằng cặp mắt khen ngợi, thèm muốn, ganh tị nữa. Nàng nghĩ thầm:
- “Muốn bình đẳng, phải đồng đẳng. Mà trước hết cần nhất phải đồng đẳng về thân thể tráng kiện!”.
Nàng sung sướng cất tiếng hát một bài ca Pháp theo gần hệt một cô đào Harvey.
Seratice un rêve.
Un Joli rêvẻ...
Mọi người đều quay lại nhìn nàng. Bà Hậu mắng yêu con:
- Sao con lại hát to thế?
- Con thích quá mẹ ạ. Hơi nước bể thơm quá!
Bà Hậu cười:
- Tanh thì có!
Một đứa bé con người Pháp trỏ Hiền bảo với mẹ nó:
- Me, kìa!
Hiền đứng lại tươi cười hỏ bỡn bằng tiếng Pháp:
- Sao cứ trông người ta mà cười thế?
Cô bé chẳng ngần ngừ trả lời liền:
- Vì người ta đẹp, mà người ta lại tân thời!
Thật vậy, nhờ kiểu áo tắm tối tân ăn khít vào tấm thâm luyện tập, Hiền nổi hẳn trong đám người ở bãi biển khiến ai gặp nàng cũng dừng bước tò mò nhìn.
- Chị Hiền!
- Ồ, Hồng đấy à?
Hồng bẽn lẽn lại chào bà Hậu, bắt tay Hìền rồi đưa mắt ngượng nghịu thầm so sánh thân thể bạn với thân thể mình gầu gò trong bộ áo tắm xám màu và quá rộng, quá dàị Hiền cũng hiểu vậy nên chữa thẹn cho bạn:
- Chị ốm mãi nên độ rày hơi sút. Nghỉ ít lâu lại béo lại như thường, lo gì.
Bà Hậu cười, nói tiếp:
- Mày chẳng san sẻ cho chị Hồng một tí?
- Thưa mẹ, con sắp tiếp máu cho chị Hồng đấy ạ. Nhưng kìa, chị đi đâu đấy.
Hồng chạy vội lên chỗ cát khô lấy cái áo khoác choàng vào mìnnh. Tuy biết rằng bạn cốt giấu tấm thân mảnh dẻ. Hiền vẫn làm như không lưu ý tới điều đó.
- Vẽ! Để vậy có mát hơn không?
Lúc đó một người Pháp đi qua, Hiền gặp dịp an ủi bạn:
- Chị trông cô đầm kia thì chẳng hơn gì chị.
Rồi nàng tiếp luôn:
- À, em nhờ chị trông coi mẹ em hộn nhé!
Bà Hậu cười:
- Mày làm như tao còn bé dại lắm ấy!... Nhưng mày không tắm à?
- Con xin phép mẹ nghỉ tắm hôm nay. Con bận phải đi đàng này một lát.
Nàng ôm lấy mẹ vừa cười vừa hôn:
- Mẹ tha lỗi cho con nhé!
Chung quanh, kẻ cười mát, người bĩu môị Những bà đứng tuổi cho là Hiền tây quá, quay lảng đi thì thầm nói chuyện với nhau để tỏ ý khinh bỉ.
Thấy thế, Hiền càng làm già, nhảy theo nhịp khiêu vũ quanh mình mẹ, đoạn ngả đầu chào rồi cắm cổ chạy thật mau về phía nhà khách sạn lớn.
- Cô tập chạy để dự thi khoa điền kinh đấy phải không?
Hiền đứng lại, vừa thở vừa đáp:
- Khoa điền kinh là khoa quỷ gì thế?
Nàng nhận ra là Lư và Miện, cặp bạn mà nàng chưa từng thấy xa nhau.
- Hai ông chưa thay quần áo để đi tắm?
- Hôm nay chúng tôi không tắm!
- Cả hai ông?
- Vâng.
Hiền cười:
- Khéo bảo nhau nhỉ! Tắm cùng tắm, nghỉ cùng nghỉ.
Lưu cũng cười:
- Chính vậỵ Chúng tôi đồng tâm, đồng ý, đồng tính, đồnh tình.
Hiền bĩu môi, chế nhạo câu nói kiểu cách:
- Đồng lằm thứ thế? Giá là cặp vợ chồng thì tốt duyên lắm nhỉ?
Dứt lời, nàng lại chạỵ Lưu gọi với, nhưng Hiền vờ không nghe tiếng, rảo bước trên làn cát ướt. Khi đến một chỗ đã xa bãi tắm, nàng đứng kiễng chân vươn tay khoan khoái thở mạnh. Mấy giọt nước biển bắn lên mặt khiến Hiền quay nhìn ra khơi ngắm những mảnh buồm nâu khi ẩn khi hiện đương rập rờn theo đợt sóng. Trước vạn vật hùng vĩ, nàng vut buồn rầu cảm thấy mình bé nhỏ yếu ớt.
Song chỉ vài phút sau nàng đã cười phá lên vì thấy những lớp sóng rầm rộ dữ dội từ nẻo xa đến, tưởng sắp nuốt chửng nàng đi, nhưng khi tới chân nàng đều nằm ép xuống như lặn lẽ quy hàng. Nàng nhớ tới những chuyện thần tiên của Perrault mà nàng đã đọc, và tự ví mình với một nàng tiên nữ tay cầm cái thước mầu nhiệm để ra phép chế ngự một con quái vật hung tàn.
Những tiếng 'dô tá làm cho Hiền tỉnh mộng, quay nhìn về phía xóm Trường Lệ. Một đám dân chài đương xúm nhau khiêng một chiếc thuyền lên bãi cao.
Nàng đi lại gần, tò mò đứng xem. Sáu người từ 17-18 tuổi tới ngoài 30 lực lưỡng, mập mạp, da sẫm đen và bóng như màu gỗ lim trên nước cùng gò sức cố nhấc bổng cái thuyền mành lên bằng ba cái đòn tre già và những dây thừng tọ Mỗi lần họ kêu 'dô tá sau câu hát ngắnn hai ba chữ của một người trong bọn thì những bắp thịt tròn ở tay, ở ngực, ở lưnng họ lại nổi lên một cách rõ rệt, trông như những quả lựu rám nắng vậy.
Luôn bốn năm lần họ dùng sức, chiếc thuyền vẫn không nhúc nhích. Thỉnh thoảng, một đợt sóng ở ngoài khơi chạy tới xô mạnh vào thân thuyền làm tung tóe nước mặn lên mặt họ khiến họ buông tay ra đứng cười, cái cười mộc mạc, vô nghĩa.
- Các bác yếu lắm nhỉ?
Nghe lời chê bai của Hiền, có người vui vẻ đáp:
- Vậy nhờ cô một tay.
Một người khác bảo:
- Trông cô ấy sức lực đấy chứ.
Hiền tay cầm đòn, tay cuốn dây thừng. Ai nấy tưởng nàng khiêng giúp thật, toan cũng ghé vai vài đòn thì nàng dã vội buông ra cười ngất:
- Nói đùa đấy thôi, chứ thôi yếu lắm!
Mọi người đương hì hục đào và xan thoai thoải cát ở phía trên để kéo thuyền lên thì bỗng có tiếng kêu vui mừng:
- May quá! Vọi kia rồi! Vọi mà giúp thì đến hai cái thuyền cũng xong chứ đừng nói một.
Quả thật, một người vạm vỡ từ trong xóm đi ra.
- Hộ một tăy, anh Vọi ơi!
Vọi yên lặng cởi áo, xắn quần. Hiền kinh ngạc. Nàng thấy hiện ra một nhà lực sĩ cường tráng, mỹ lệ như một pho tượng cổ Hy Lạp. Nàng không lưu ý đến màu da rám nắng ma chỉ ngắm nghía những nét nhịp nhàng cân đối của một tấm thân thể hoàn toàn. Vọi lại có khuôn mặt đều đạn, cặp mắt hơi xếch và sáng, cái cằm vuông và lồi khiến chàng nổi hẳn trong bọn dân chài nặng nề, kém thông minh.
Có lẽ sự xét đoán của Hiền cũng bị trí tưởng tượng làm sai đi vài phần. Nhưng một điều chắc chắn là Vọi đẹp, đẹp theo nhà hội họa, nhà điêu khắc, nhà thể thao...
Chương 4
Hiền yên lặng đứng ngắm Vọi ghé vai vào đằng lái thuyền và đẩy mạnh trong khi những người chài lưới khác hết sức khiêng bổng thuyền lên. Hai chân Vọi dậm lõm cát thành hai cái hố, mà môt lớp sóng rào lên tràn ngập.
Bỗng thuyền từ từ tiến lên phía cao... Hiền buông một hơi thở dài khoan khoái, vì nhìn mọi người cố sức, nàng cũng thấy bắp thịt của mình cứng lại, nổi lên như những lúc tập thể thao nàng lấy gân.
Bây giờ cái thuyền đã nằm yên ở chỗ cát khô. Mồ hôi chảy thành dòng trên những tấm thân màu đồng mắt cuạ Anh em chài lưới cười nói vui vẻ... Rồi kẻ thì bứt cái khăn bông nâu thắt cái mỏ rìu ở đầu để lau từ trán đến ngực, kẻ thì cúi xuống đưa hai bàn tay vốc nước biển rửa mặt.
Vọi thản nhiên thong thả mặc áo, rồi không để ý đến ai hết, không chào hỏi ai một câu, xăm xăm đi về phía Sầm Sơn. Hiền đùa gọi:
- Anh Vọi!
Vọi dừng bước, quay đầu lại miệng há hốc, mắt ngơ ngác nhìn, không hiểu sao cô kia lại gọi tên mình. Nhưng Hiền đã chạy đến gần hỏi:
- Anh đi đâu bây giờ?
Vọi tò mò ngắm nghía cô thiếu nữ:
- Thưa cô, tôi về nhà.
- Nhà anh ở đâu.
- Nhà tôi ở xóm Sơn.
- Xóm Sơn ở đâu.
- Ở đàng kia.
Vọi vừa bước vừa giơ tay trỏ về phía mỏm núị Hiền bước theo bên cạnh cười hỏi:
- Có gần hòn Trống Mái không?
Vọi cũng cười, cái cười bẽn lẽn, đáp lại:
- Đi qua hòn Trống Mái thì tới.
Hai người yên lặng. Vọi hơi khó chịu, không rõ tại sao cô kia lại ưng đi ngang hàng với mình. Vì thế có lúc chàng đi chậm lại, cốt để Hiền vượt lên trước. Nhưng Hiền cũng bước chậm theo, hỏi hết chuyện nọ đến chuyện kia: nào chuyện đá cá, chuyện bắt ngao, chuyện đi thuyền, chuyện gặp bão... Đối với những câu hỏi liên miên của thiếu nữ, anh chàng lười chỉ trả lời nhát gừng. Có lẽ vì chàng quá chất phác không biết nói chuyện, mà cũng có lẽ vì đi bên một cô gái trắng trẻo xinh đẹp, chàng ngượng ngùng bẽn lẽn.
Bỗng Hiền dừng lại, nhìn lên đường bảo Vọi:
- Anh đứng đây đợi tôi một lát nhé?
Vọi trù trừ:
- Nhưng tôi phải về kẻo ở nhà mẹ tôi mong.
- Một tí thôi mà!
Nàng vừa nói vừa chạy qua bãi cát khô, lẩn vào dưới rặng phi laọ Vọi lẩn thẩn nhìn quanh. Thỉnh thoảng chàng lại đưa mắt nhìn lên đường xem cô kia đã trở ra chưa và hình như chàng tự hỏi:
- “Đứng chờ cô ta làm gì mới được chứ?”.
Thế rồi chàng bỏ đị Nhưng chỉ được mươi bước lại quay về chỗ cũ, vẻ mặt ngần ngại, lo lắng sợ hãi, không dám quả quyết.
Có ai gọi tên mình, chàng quay lạị Một cô thiếu nữ chạy tới, tay cầm giơ lên một vật nhỏ xinh xắn, có giây da buông lònh thòng.
Đó chính là Hiền, nhưng Vọi không nhận ra vì nàng đã vận trùm ra ngoài bộ áo tắm một bộ 'pyjamá (đồ ngủ) rộng.
- Anh Vọi, anh đứng tôi chụp ảnh.
- À cô, tôi cứ tưởng ai.
- Vì tôi mặc 'pyjamá phải không? Bây giờ anh đứng quay lưng ra biển để tôi chụp ảnh.
-Vậy ra cô cầm ở tay là cái máy chụp ảnh đấy.
Hiền vừa đáp vừa ngắm kính mờ, tay vặn ốc để lấy hình cho rõ.
- Ấy, đứng im!
- Vậy cô chụp thật đấy à? Nhưng tôi ăn mặc xấu xí thế này thì cô chụp làm gì!
Hiền cười:
- Nếu sợ xấu xí thì anh nên cởi phăng ra.
Vọi bẽn lẽn không dám cười nhìn xuống chân thì Hiền lại nhắc:
-Anh cởi áo ra chứ. Mau, không tối quá mất!
Vọi ngớ ngẩn:
- Cởi áo ra.
- Phải, cởi áo và xắn quần lên như ban nãy anh kéo thuyền ấy mà.
Vọi có dáng băn khoăn:
- Ai lại thế?
- Một tí thôi mà, rồi mặc vào ngay.
Vọi vẫn còn trù trừ:
- Nhưng sao lại cứ phải cởi áo mới chụp được?
- Vì thân thể anh đẹp lắm.
Vọi không hiểu nhưng cũng vâng lời.
- Ừ! Đẹp lắm! Bây giờ thì anh xắn cao và bệ ống quần lạị Mau! Kẻo hết ánh sáng!
Vọi thấy cô kia gắt thì sợ hải làm theo ngay.
- Được! Thôi xong rồi!...
Hiền chụp luôn hai lần cho được chắc chắn. Lúc quay ra nàng mới biết nhiều người đứng chung quanh tò mò nhìn mình và trong bọn có cả Lưu và Miện. Người đánh cá buông ống quần và mặc áo rồi hỏi Hiền:
- Thưa cô chụp xong rồỉ
- Xong.
- Có thế thôỉ
- Phải, có thế thôi. Tôi đã bảo anh rằng chỉ một tí là xong.
- Vậy cô cho tôi xin một cái nào.
Hiền cười:
- Còn phải rửa rồi in ra giấy đã chứ. Mai đến nhà, tôi biếu một cái.
- Ô, hay nhỉ! Tưởng chụp thì được ngay hình chứ lỵ.
Hiền đã đưa ống ảnh ra phía biển ngắm một bọn bốn năm người đang nô đùa với làn sóng. Vọi thấy vậy hỏi:
- Cô chụp nữa à?
- Phải, chụp nữa.
- Sao Cái máy bằng một tí mà cô chụp được hai cái một lúc?
- Chụp được mười hai cái kia!
Anh chàng đánh cá kinh ngạc:
- Mười hai cái.
Rồi chàng ghé đầu nhìn vào kính mờ:
- Ồ! Đẹp quá cô nhỉ?... Nhưng sao người không ngược như ở cái máy của ông thợ ảnh?
- Cái máy này nhìn không ngược.
Chờ cho Hiền chụp xong, Lưu và Miện tiến lại gần mỉm cười, ngả đầu chàọ Lưu nói:
- Cô cho chúng tôi xin một cái ảnh nhhé?
- Ảnh anh Vọi.
- Anh Vọi nào thế? Không, chúng tôi nhờ cô chụp cho một cái ấy chứ.
Hiền ngẫm nghi rồi trả lời:
- Để khi khác các ông mặc quần áo sang trọng đã.
Vọi lấy làm lạ. Ban nãy nàng vừa bảo Vọi cởi áo xắn quần để nàng chụp thế mà bây giờ với hai người ấy nàng lại không chịu chụp, vì hai người ấy mặc áo tắm. Anh chàng đánh cá thật thà ngây thơ, có hiểu đâu rằng cô thiếu nữ kia chỉ cần giữ vẽ thẹn thùng đối với hạng người có học vấn, có trí thức, còn đối với một anh dân chài, nàng coi như đứng trước một người kiểu mẫu; hơn nữa, như đứng ngắm một pho tượng thiên nhiên. Chính Miện cũng có ý nghĩ ấy nên chàng cười, bảo Hiền:
- Nếu cô xấu hổ không muốn chụp chúng tôi mặc 'may ô' (maillot) thì cô làm ơn cho chúng tôi mượn máy ảnh. Chúng tôi chụp lẫn cho nhau vậy.
Hiền cười phá lên:
- Xấu hổ! Ông bảo tôi xấu hổ, thì xấu hổ về nỗi gì mới được chứ? Tôi không muốn chụp các ông mặc may ô chỉ vì các ông mặc may ô không đẹp mà thôị Một ông thì vai lệch, còn một ông thì bụng xệ. Đây này, ông nom anh Vọi, tôi vừa chụp anh ấy ở trần xong.
Lưu đưa mắt đứng nhìn người đánh cá trong lòng căm tức. Hiền lại nói tiếp:
- Khi nào người ta có tấm thân nở nang, đều đạn như thế thì chụp cởi trần mới bõ.
Miện khinh bỉ, bĩu môi:
- Ý hẳn cô sắp vào trường Mỹ thuật?
Hiền vẫn cười đáp:
- Không, nhưng tôi có nhiều bạn học ở trường ấy.
Lưu hỏi với giong chua chát:
- Bạn trai.
Hiền như không tưởng tới ý chế diễu của câu hỏi, nghiễm nhiên trả lời:
- Phải, bạn traị Họ đã vẽ và nặn tượng cho tôi trông khá lắm.
- Hẳn là khá!
Vọi đứng lơ đãng ngắm biển. Rồi cho là không ai cần đến mình nữa, chàng bảo Hiền:
- Thưa cô, tôi xin về thôi.
- Ừ, anh về nhé! Nhớ mai lên nhà, ttôi biếu anh bức ảnh.
- Nhà cô ở đâu cơ?
- Ở kia kìa.
Nàng trỏ tay về rặng phi lao:
- Bên cạnh nhà mấy chị em người dầm lai ấy mà!
- Thế thì tôi biết rôị Vậy sáng mai tôi xin đến. Thôi xin chào cô, chào hai ông.
- Không dám, anh về.
Lưu mỉm cười nhìn theo anh chàng đánhh cá rồi quay lại bảo Hiền:
- Thằng cha đẹp trai đấy chứ?
- Thì cố nhiên là đẹp! Ông đã nhìn thấy anh ta cởi trần chưa nhỉ?
- Đã, ban nãy, lúc cô chụp ảnh.
- Đấy, có phải không? Thật xưa nay tôi chưa từng thấy ai có tấm thân đẹp như anh tạ Lưu, Miện đưa mắt liếc nhau tủm tỉm cười, lấy làm lạ rằng một cô con gái dám nói năng tự do đến thế. Hiền cũng thừa biết là hai người lặng lẽ bình phẩm mình. Nàng lạnh lùng ngả đầu chào rồi đi về phía làng Trường Lê...
Chương 5
Từ biệt Hiền ra đi, Vọi coi như vừa tránh thoát được một người rất khó chịu. Vọi sinh trưởng trong đám dân quê, hơn nữa trong đám dân quê chài lưới, nghĩa là những người chỉ chó đức tính giản dị, chất phác thật thà. Tuy ở gần một thành phố ăn chơi đầy những bậc phong lưu đài các, nhưng Vọi không mấy khi giao thiệp với bọn họ, không mấy khi tò mò tìm hiểu họ là hạng người gì. Cũng có lần lúc kéo mẻ cá lên, họ dừng bước, yên lặng ngó qua nhưng lại đi liền chứ không bao giờ chịu hỏi lẩn thẩn, lôi thôi như thiếu nữ kỳ dị kia.
'Cô chụp ảnh', đó là cái tên Vọi vừa thầm đạt cho Hiền. Vọi không từng nghĩ bình phẩm tới cô ta, vì chàng cũng không chịu ảnh hưởng xem nhan sắc và tính tình của Hiền ra sao. Cái óc không bao giờ biết nhận xét còn lưu ý đến một sự cố gì? Nhưng Vọi hiểu lờ mờ rằng cô ta là một người rất lạ.
Vọi vui vẻ rảo bước trên bãi cát mong cho chóng về nhà để thuật lại câu chuyện chụp ảnh cho em gái anh ta nghe.
- “Chắc nó phải buồn cười nôn ruột”.
Nghĩ thế, chàng cũng bật lên tiếng cười thật lớn. Bấy giờ bãi biển đã vắng, không ai tắm nữa, chỉ còn lại ít người tụ năm tụ ba đi thung thăng hóng gió mát. Vọi tò mò nhìn mấy cô thiếu nữ choàng áo khoác đứng hỏi chuyện, tưởng như trong đó có cô chụp ảnh vì chàng chẳn biết phân biệt ai là ai. Nhưng khi đến gần thì những cô ấy toàn là người Pháp, hoặc là Pháp lai cả, vội cúi đầu đi mau vì chàng rất sợ các 'bà đầm' mà không bao giờ chàng dám nhìn thẳng vào cặp mắt xanh và cái mũi lõ.
Gió thổi mỗi lúc một thêm mạnh. Những ngọn sóng cao lớn văng vào mõm đá tung tóe lên và trắng xóa như thủy ngân. Vọi đứng lại vơ vẩn nhìn ra biển xa.
Phía đông nam, nơi chân trời mặt nước, những đám mây nặng nề, đặc sệt từ từ đùn lên và phản chiếu ánh chiều tà trở nên sắc tím hung, phớt màu vàng thắm da cam. Vọi lắc đầu lẩm bẩm:
- Không khéo đêm nay mưa mất. Trời này thì đi khơi sao được!
Hai tiếng 'đi khơí nhắc Vọi nhớ lại biết bao sự đau đớn!...
Năm ấy Vọi vừa chín tuổị Em gái Vọi, cái Vòi mới lên năm. Một buổi chiều người ta đến báo tin cho mẹ Vọi biết rằng anh Bật, thầy Vọi chết rồi.
Chị Bật òa lên khóc rầt thảm thiết. Hỏi duyên cớ vì đâu thì người kia thuật lại rằng tờ mờ sáng, Bật cùng với người ấy và hai người nữa thả hai cái mảng lớn, thứ mảng ba cột buồm, ra đánh khơị Anh em kêu sóng hơi dữ chỉ nên đánh lõng. Nhưng Bật là tay can đảm nhất ở vùng duyên hải, cả bọn đàn ông chài lưới ở khắp mấy làng đánh cá quanh bãi Sầm Sơn không ai sánh kịp tài đi biển, tài bơi lặn cùng cái sức quăng lưới kéo lưới của chàng. Nay há vì mấy đợt sóng xoàng kia mà chịu lùi hay sao.
Song, dân chài lưới không thể mạo hiểm vô lý bao giờ. Họ nhìn trời, họ nhìn sắc nước; họ đoán thế nọ thế kia... Bật ngẫm nghĩ rồi bảo mọi người:
- Anh em cứ vững tâm mà đị Trận gió tây này chỉ có đủ sức đưa ta ra khơi mà thôị Mặt trời chỉ lên cao bằng con sào là gió đứng. Lúc ấy, ta cứ việc bình yên kéo cá đầy mảng.
Xưa nay ai cũng phải tin lời nói của Bật vì mấy khi khoa thiên văn của chàng lại sai lầm. Vì thế, ba người vui vẻ cùng Bật khiêng mảng thả xuống biển rồi khuân xuống đủ các dụng cụ đi khơi như: nồi, mâm, bát, đĩa, gạo và khoai đủ sống trong ba bốn ngày phòng khi ra khơi gặp bão hay không có gió đưa mảng vào bờ ngay.
Ra đến khơi được một lát, quả nhiên gió tây ngừng thổị Anh em hạ buồm, buộc níu hai mảng vào nhau rồi bắt đầu quăng lướị Nhưng một lát sau lại phải giương buồm đi nữa, đi mãi ra xa mới gặp nơi có cá. Bật thấy lưới nặng tĩu như vướng vào vật gì, không sao lôi lên được. Mọi người xúm lại toan hợp sức cùng Bật để kéo cho bằng được lưới lên. Nhưng Bật gạt đi, bảo làm thế rách mất lưới vô ích, để chàng thử lặn xuống xem lưới mắc vào cái gì, và nếu có gỡ ra được thì vẫn hơn. Chàng liền cởi quần áo nhảy tỏm xuống nước rồi biến mất...
Ba phút... Năm phút... Mười phút vẫn không thấy chàng nổị Ai nấy bỗng đăm đăm nhìn mấy cái bọt nước từ từ ngoi lên mặt biển. Một người thất sắc kêu:
- Chết rồi! Cá mập!
Mặt ai người nấy tái xanh, mắt trợn trừng kinh hoàng nhìn nhaụ Biết rằng bạn gặp nạn nhưng không người nào dám nghi đến chuyện cứụ 'Xuống thời chết!', họ thì thầm bảo nhau.
Vơ vẩn, lo sợ, chờ đến hơn nửa giờ không thấy gì, họ mới buồn rầu thu xếp đồ đạc và giương buồm vào bờ, vì lúc ấy gió đông nam bắt đầu thổi mạnh...
Người đánh cá thuật lại câu chuyện ghê gớm như người ta kể chuyện cổ tích, giọng thong thả, thản nhiên. Mà chị Bật và Vọi há miệng ngồi chăm chú ngồi nghe cũng không kip nghĩ đến biểu lộ sự đau thương. Mãi đến lúc người kia ngừng kể, hai mẹ con mới lại cất tiếng gào khóc.
Chị Bật chẳng cần suy nghĩ cũng nhận thấy cái chết của chồng là một tai biến to cho gia đình chị. Bấy lâu nay chỉ trông vào chồng mà đủ ấm no sung túc. Bây giờ thì trông vào aỉ Con trai mới chín tuổi chưa biết 'đi nghề'. Con gái còn bé quá, không thể cho ở mướn được. Nông nỗi này có khi đến chết đói cả ba mạng!
Chị Bật vội lo buồn, chán nản là vìchị không nghĩ đến lòng rất tốt của anh em chài lưới. Họ chỉ chờ dịp để cưu mang lẫn nhaụ Ngay sáng hôm sau, mấy người bạn đồng phường đến thăm chị Bật. Thấy chị chít khăn ngang đương vừa khóc vừa đặt bát cơm quả trứng lên bàn thờ chồng, anh em liền an ủi chị và nói cho chị biết rằng chồng chị trước có chung lưng vốn với họ thì nay phần lợi vẫn về chị được hưởng, tuy chị là đàn bà yếu đuối chỉ biết đánh rút chứ không thể đi lõng, đi khơi với họ. Ho lại mang đến viếng chồng chị một gánh gạo và một thúng khoai lang. Chị cảm động quá, ngồi xuống đất ôm mặt khóc kể lể:
- Anh Bật ơi! Anh đi đâu không về mà trông thấy mặt anh em bạn anh. Họ tử tế với anh như thế này, anh ở suối vàng có thấy cho chăng?
Tuy lúc bấy giờ Vọi còn nhỏ nhưng đã hiểu cả. Nghe em khóc gọi 'thầy luôn mồm, Vọi cũng đã biết dỗ, dắt ra ngoài bãi biển mhặt vỏ ốc cho chơi Thấy con ngoan, chị Bật vui mừng, thầm khấn chồng phù hộ cho chúng ăn khỏe chóng lớn...
Thế rồi mỗi năm một khôn biết, Vọi dần dần thạo nghề. Trước còn bắt ngao và câu cá song, cá tráp ở khe Thờ, bãi Nít, bãi Lãn... Khi sức vóc đã khá, Vọi theo phường bạn đi đánh rút.
Năm Vọi 18 tuổi thì chàng trở nên lành nghề, đi lõng, đi khơi đều chẳng chịu kém một ai. Vọi đã nhận được phần di sản của cha là cái sức khỏe với tấm thân nở nang, vạm vỡ, lại có khuôn mặt tươi tắn, tròn trĩnh của mẹ khiến chàng khác hẳn bọn dân chài nét mặt nặng nề, thô lỗ, hay ngắn ngủi cộc cằn.
Vọi có mọi tính nết mà ai ai cũng chế nhạo: cái tính bẽn lẽn thẹn thùnng. Thấy chàng đẹp trai, nhiều cô trong làng thường trêu ghẹo hoặc đi sát vào chàng, hoặc hát ve vãn. Vì gái quê vùng Sầm Sơn chẳng mấy cô không biết hát, và hát được rất nhiều giọng. Nhưng Vọi chỉ đỏ mặt, cúi đầu chạy lánh xạ Phải tay khác, họ đã đứng lại đối đáp. Được gái hát ghẹo là môt cái hân hạnh chẳng nhỏ...
Năm nay Vọi đã ngoài 20 tuổi đầu rồi mà chàng vẫn chẳng hiểu ái tình là gì. Mẹ chàng nói đến dạm vợ cho chàng thì chàng gắt gỏng với mẹ, có khi giận mẹ đến ba bốn ngày liền. Vì thế, chị Bật cũng thôi không dám bàn chuyện vợ con với Vọi nữạ Biết thế, người ta càng giễu cợt chàng.
Vọi vừa đi vừa nghĩ đến những lời đùa bỡn độc địa của phường bạn, nhởn nhơ leo hết con đường dốc lúc nào không biết. Mãi khi trông thấy hòn Trống Mái, chàng mới kịp nhớ ra rằng lần nào về nhà, đến đó chàng cũng trèo lên tảng đá chênh vênh ngồi nghỉ.
Mặt trời đã gần lặn. Một làn ánh sáng vàng úa còn phảng phất, chập chờn lẩn quất trên những khối đá đứng nằm ngổn ngang để đợi giờ tan đi, tan vào trong đêm tối.
Vừa ngồi được mấy phút, Vọi chợt nghĩ đến mẹ đương mong ngóng ở nhà liền đứng dậy đi về. Lên một cái dốc, xuống một cái khe, Vọi trông thấy xóm Sơn lờ mờ nằm dưới chân núi Đầu Câụ Chàng chạy một mạch về đến nhà. Mẹ và em quả nhiên đương băn khoăn lo lắng chờ đợi.
Vọi hấp tấp vui vẻ cười nói:
- Mẹ ạ, con gặp một cô hay quá đi mất thôi! Cô ấy lại chụp cho con một tấm ảnh.
Vòi nhìn anh kinh ngạc. Mọi khi hễ bạn gái của nàng nói đùa anh một câu là nàng thấy anh xấu hổ bẽn lẽn, thế mà lần này dám đi chơi với một cô và để cô ấy chụp ảnh cho nữa. Nàng có ngờ đâu rằng đối với Vọi, 'cô chụp ảnh' kia cao sang quá, lạ lùng quá đến nỗi chàng không coi như là một người con gái!
Cơm tối vừa xong, Vọi đứng dậy cào mẹ ra đi. Vọi nói đùa một câu để trêu anh:
- Chừng anh vô phố Cầu hát đối.
Vọi không them trả lời toan đi thẳng, nhưng mẹ chàng giữ lại hỏi:
- Mai mày đi nghề dưới anh Trà phải không?
- Không đâu mẹ! Anh Trà ốm, mẹ không hay saỏ Ban nãy con sang ăn giỗ bên cậu, cậu dặn tối nay lại ngủ lều với cậu rồi vào đầu canh ba đi nghề sớm.
- Đi khơi chứ?
- Vâng, đi khơi. Chuyến này cậu định đến tận hòn Mê, vì mấy bữa bữa nay biển động, tôm cá chắc vào ẩn ở núi nhiều lắm.
Chị Bật lo lắng, ngước mắt nhìn trời. Một đám mây đen viền vàng vừa che khuất mặt trăng. Rặng phi lao ngăn bãi đất với những ruộng lúa xóm Sơn lờ mờ in hình lên nền trời xám nhạt để lộ ở khoảng giữa những thân cây thưa lá một làn nước biển lấp lánh gợn vàng lăn tăn chạy đuổi nhau. Gió mạnh thổi lạt sạt hàng lá gồi to bản xếp chen nhau thành cái bình phong trước xóm và uốn bạt ngọn phi lao khiến ta có cái ảo tưởng rằng chúng vẫn có cái hình cong hoặc nghiêng tự nhiên vì trong ánh sáng lờ mờ, ta như thấy đám lá mỏng mảnh đứng im tăm tắp.
Chị Bật thở dài, trỏ tay về phía đông nam hỏi con:
- Hòn Mê ở thẳng đây ra phải không?
- Thư mẹ, chính đó!. Cái đảo hình trông như mái nhà ấy mà.
Chị lại thở dài nhớ anh Bật. Chồng chị thuở xưa mất tích ở gần đấỵ Rồi chị hỏi vơ vẩn:
- Vậy mà mày đến đó?
- Vâng, đến đó. Thôi, con đi...
- Ừ! Mày đi cho được may mắn nhé!...
Vọi rời nhà, nhanh nhẹn leo khe núi Đường Trèo, trong lòng vui mừng rằng sắp sửa được ra khơi. Ít lâu nay biển động nên chàng chỉ ro ró ngồi nhà. Sáng, chiều vác thuổng ra bãi cát đào dã tràng về làm thức ăn tạm bợ. Đó là sự tiêu khiển buồn tẻ của chàng trong gần nửa tháng. Nay biển lặng, sóng lại yên, chàng lại sẽ cùng bạn nghề thả mảng vượt khơi sung sướng biết bao! Kẻ đi nghề yêu biển như trai gái yêu nhau. Lâu ngày không gặp nhau thì nhớ nhung phiền muộn.
Song tuy vội vàng mặc lòng, khi qua hò Trống Mái Vọi không thể không dừng bước. Hình như có mãnh lực gì giữ chàng lạị Rồi tự nhiên chàng trở nên mơ mộng, hồi tưởng đến thời còn nhỏ cùng bạn bè đánh ô trong bóng rợp hòn đá Mái. Những lỗ ô chính tay chàng đục nay bị nước mưa chảy xiết lau chùi đã nhẵn thín.
Thời gian! Đó là hai chữ không bao giờ Vọi nghĩ tới. Ngày ấy như ngày khác, chàng dần dần lớn trong khoang thuyền biển, trên chiếc mảng ngoài khơi... Nào chàng có biết thời gian qua! Cho đến sự thay đổi của bốn mùa, nếu không có các thứ cá phân biệt thì chàng cũng chẳng buồn để ý. Cái nghề nặng nhọc của chàng, cái thân thể như đồng như sắt khiến chàng chẳng thấy rét khi gió bấc thổi và chẳng thấy nực khi kéo lưới dưới lửa trời hè. Mỗi năm, chuyến đi khơi lần đầu cất được cá ó, cá sủ hay cá vược, chàng lại mỉm cười nghĩ thầm:
- “Họ đã sắp ra nghỉ mát rồi!”.
Cũng như cá rầu, cá bẹ, cá sâu, cá thu nhắc chàng rằng trời sắp mát, biển sắp trong, cá sắp sẵn. Thế thôi...
Bỗng Vọi rùng mình. Trăng vừa từ trong đám mây đen ló ra gieo ánh vàng lóng lánh xuống mặt biển, ngoài bãi khe Thờ, ở khoảng giữa hòn Buồn và núi Gầu Cao.
Bóng hòn Trống in xuống tảng đá bệ và gối lên đầu hòn Máị Bóng Vọi cũng nằm dài theo song song bóng tảng đá chênh vênh. Cảnh tượng ấy đã quá quen với mắt Vọi...
Chương 6
Hôm sau khi Hiền ra biển thì mặt trời vừa mọc và ẩn sau đám mây tím rải ngang trên làn nước đủ màu, từ màu lam sẫm, lam nhạt ngoài xa cho đến các màu hồng, màu vàng ở gần bờ.
Trên nền trời sắc da cam chói lọi những vạch đỏ thắm xòe ra như bộ nan quạt làm bằng ngọc lựu.
Quay lại nhìn về phía thành phố Sầm Sơn, ánh sáng đèn điện chưa tắt và nhợt nhạt lấp ló trong lá phi lao như những ngôi sao buổi sớm mai lờ mờ sau làn mây mỏng.
Hiền dừng bước dưới hàng cây mỉm cười, lắng tai nghe giọng hót đổ hồi và trong trẻo của con chim chích chòe đậu trên ngọn lá. Mãi khi chim thôi hót, chừng vì thấy mặt trời mọc đã cao, Hiền mới lững thững đi ra bãi cát.
Biển ra đã xạ Mực thủy triều ở Sầm Sơn lên xuống không cách nhau mấy nhưng bãi biển hơi thoai thoải nên lúc lui trông rất rộng.
Hiền tuy không mặc áo quần chẽn song thấy có gió mát, mà bãi biển lại ướt nên nàng cũng tập chạy để cho mệt mà thở. Những vạt áo và ống quần lụa đồng màu cốm non, gió thổi ép vào thân thể làm nổi hẳn bộ ngực nở và hai cái đùi tròn của Hiền.
Hai giải khăn choàng mỏng như mạng nhện giữ cho tóc vấn trần khỏi xổ bay lượn như hai làn khói nhạt. Môi lát Hiền đứng lại thở mạnh, hai tay vươn ra, co lại thong thả, nhịp nhàng, mềm mại.
Bỗng nàng để ý tới mấy người lom khom từ trong một túp lều chui ra, vai vác chèo, tay ôm lướị Nàng vội đến gần xem thì đó là hai cái mái tranh sơ sài ghép lại với nhau, hồi sau vít kín, còn hồi trước làm cửa ra vào.
Hiền tò mò cúi nhìn vào trong. Trên cái chõng tre, bó chiếu để ngổn ngang bên một cái nồi đồng to hết cơm và một cái mâm gỗ tròn trên đặt lỏng chỏng những đĩa bát rếch. Một người cởi trần, da bóng như đồng mắt cua đang quỳ xuống cát xếp lưới vào cái sọt đan thưa.
Ngay cạnh lều, hai cái mảng lớn nằm gối đầu lên cái chống. Trên một cái, một người đang kỳ cạch lấy dao tháo cái chốt ở đằng láị Hiền đăm đăm ngắm nghíạ Bỗng nàng vui mừng kêu lớn:
- Ô kìa, anh Vọi!
Nghe gọi tên mình, Vọi ngẩng đầu lên:
- Cô...
- Cô Hiền!
- Ảnh của tôi cô đã vẽ xong chưa.
Hiền buột miệng:
- Mới xong cái 'négatif'...
Rồi nàng mỉm cười nói chữa ngay:
- Mới xong phim, xong... kính, chốc tôi in ra giấy rồi tôi biếu một cái... Anh đi đánh cá đấy à?
- Vâng.
- Đi sớm thế?
Vọi cười:
- Thưa cô, muộn đấy ạ. Tôi nằm trong lều từ tối hôm qua chờ đến canh ba chở mảng ra khơi. Không ngờ đầu canh ba trời đổ mưa tầm tã, mãi sáng mới tạnh.
- Phải, mưa to quá! Vậy anh nằm trong cái tùm hụp này mà không ướt hết?
- Thưa cô, ướt cũng chịu chứ!
Rồi Vọi nhìn trời nói tiếp:
- Có khi ra khơi gặp mưa từ sáng đến tối cũng được nữa là!
Hiền rùng mình tưởng tới tình cảnh người đánh cá ngồi trên cái mảng không mui trôi lênh đênh trên mặt sóng dưới gió mưa, sấm sét. Nàng nhìn Vọi thương hại:
- Vậy anh không sợ chết?
Vọi ngây thơ đáp:
- Không! Không bao giờ chết được.
Hiền nhớ đến những chiếc thuyền to nằm trên bãi Lưu Trung, trông có vẻ bề thế, vững vàng.
- Anh không có thuyền?
- Có chứ! Nhưng mà mảng vững hơn. Thuyền gặp bão thì chìm, đi chạm phải đá ngầm thì vỡ. Còn mảng chẳng bao giờ chìm được. Nước đánh vào trong lại theo kẽ cây bường mà trôi ra đằng lái hết. Mà ống bường kín thế này thì chìm thế nào được!
Bấy giờ một người quảy gánh nặng từ trong lều đi ra, theo sau là một người nữa vác buồm và bơi chèo, mỏ neọ Họ đạt các thứ ở bên làn nước rồi quay lại gọi:
- Anh Vọi! Xong chưa.
- Xong rồi đâỵ
Hiền hỏi:
- Anh đẽo cái gì cong cong như cái cung thế?
- Cái nạng.
- Cái nạng dùng để làm gì?
- Để gác buồm.
Tính Hiền hay hỏi tẩn mẩn. Nhưng nghe Vọi trả lời nhát gừng thì biết rằng chàng đương bận nên chỉ đứng yên lặng tò mò nhìnn hết thứ nọ đến thứ kia cho mãi tới lúc họ khiêng hai cái mảng thả xuống nước và xếp đồ đạc vào trong. Sắp bước lên mảng, Vọi còn quay lại nói với Hiền:
- Vậy chiều tôi đến xin cô ảnh nhé?
- Được, chiều anh lạị Nhưng sao anh bảo mỗ lần đi khơi những năm, sáu ngày mới về?
- Khôi, tôi đi lõng thôị Vì những đám mây cao mà đen kia bám chặt lấy da trời thì tối nay hay sáng mai, chẳng bão táp cũng gió lớn mưa to. Đi khơi chưa được đâu!
Hiền chưa kịp hỏi thêm câu nữa thì hai cái mảng đã ra xa. Nàng đứng đó tới gần một giờ nhìn theo những cánh buồm nâu sẫm biến vào nơi chân trời nhấp nhô...
Chương 7
Cũng như mọi ngày, buổi trưa hôm nay rất oi nồng. Thỉnh thoảng mới có một cơn gió thoảng qua, nhưng là gió tây đem hơi nóng tớị Làn không khí như yên lặng để lắng xuống những chất đặc nặng nề đè ép lên ngực ta làm cho bứt rứt khó thở. Ngoài kia biển vẫn réọ Tiếng ồn ào rầm rộ khiến người ta tưởng tượng có luồng gió dữ gầm thét trong lá phi lao.
Trên cái sập quang dầu kê ở đầu hiên, bà Hậu thiu thiu ngủ, mắt chập chờn lim dim, tay luôn luôn phẩy cái quạt giấy. Ngoài sân bên chiếc lõng tre dưới tàn lá xanh của cây khế lấm tấm cài những chùm hoa đỏ tía. Hiền thiêm thiếp nằm trong cái võng gai mắc vào hai thân cây long não ngọn cao vượt hẳn lên từng không. Ánh nắng len qua kẽ lá chạy chấp chới trên bộ quần áo lụa mỗi khi có hơi gió nhẹ lướt qua.
- Ngủ đấy à?
Nghe câu hỏi, Hiền choàng thức giấc, mắt chớp bỡ nghỡ nhìn. Hồng cười:
- Trời ơi! Nóng thế này mà ngủ được! Đi chơi không?
Hiền cũng cười:
- Đi chơi càng nóng. Nhưng đi thì đi.
Hiền mời bạn uống nước dừa rồi thản nhiên đứng tháo võng gấp lạị Hồng hỏi:
- Tháo võng làm gì thế?
- Đem vào rừng.
Hồng hoảng hốt:
- Em không vào rừng đâu. Năm ngoái xảy ra chuyện gì chị không nhớ à?
Hiền đầu đội nón lá, tay ôm võng yên lặng tiến bước đi ra cổng. Hồng nói thì nói vậy nhưng cũng lững thững theo sau. Trong bằng hữu vẫn thường thế. Có hạng người rất nhu nhược đối với bạn hay nói trái lại, nhưng bao giờ cũng tự bắt buộc làm theo. Nhất là khi người kia có tánh quả quyết và bướng bỉnh. Tới con đường giáp bãi cát, Hiền bỗng trỏ tay ra biển bảo Hồng:
- Kìa, hình như có một cái thuyền đánh cá đương vào bờ. Có lẽ thuyền anh Vọi đấy.
Hồng nhìn theo:
- Không phải thuyền. Mảng đấy!
- Phải rồi! Mảng! Mảng anh Vọi!
Mãi lần này Hồng mới kịp để ý đến cái tên lạ lùng ấy, ngơ ngác nhìn bạn hỏi:
- Anh Vọi nào thế?
- À, chị chưa quan với anh Vọi nhỉ? Ta xuống xem đị Nếu phải anh Vọi thì em sẽ giới thiệu chị với anh ấy nhé? Rồi chị sẽ biết, anh Voi đẹp lắm kia.
Cặp má Hồng hây hây đỏ. Thấy thế, Hiền càng cười to:
- Không trách được bọn họ cứ mắng nhau 'bẽn lẽn như con gáí! Từ nay mà động nghe nói đến con trai hay đứng trước mặt đàn ông chị còn đỏ ửng cặp má lên thì em xin tặng ngay một quả đấm móc vẹo quai hàm để nhắc chị điều đó.
Hồng gượng cười nhưng trong lòng không được vui, miễn cưỡng theo bạn ra bãi biển. Chỉ trong khoảnh khắc, hai cánh buồm nâu vừa nhấp nhô ở ngoài xa đã cỡi ngọn sóng trắng vùn vụt phi vào gần bờ. Rồi người ta chưa kịp lưu ý tới, đôi đuồm đã hạ từ lúc nào, và cái mảng đã gối trên mũi đá.
Hiền vội chạy lại reo mừng:
- Đúng rồi, đúng anh Vọi rồi.
Vọi vừa cúi xuống buông trùng ống quần vừa ngước mặt nhìn:
- Kìa! Cô...
Hiền vẫn cười, vui vẻ trách:
- Cô Hiền! Có thế mà mãi không nhớ!
Rồi nàng quay lại vẫy bạn đứng ở khoảng cát trắng khô:
- Lại đây Hồng! Đấy, chị coi Vọi đẹp không?
Anh đánh cá nghe cô thiếu nữ khen mình đẹp vội ngồi xuống bới thúng cá vụn, nhặt những con ốc và những con bạch tuột nhỏ vứt đi. Còn Hồng trái lại, nàng không thẹn thùng nữa, chỉ rũ ra cười. Ban nãy nàng vẫn tưởng Vọi là tên thực hay tên gọi đùa của một trang công tử ra nghỉ mát ở Sầm Sơn, chứ với một anh dân chài thật thà đần độn kia, khi nào nàng còn phải giữ gìn e lệ?
Lưng nửa sọt các thứ cá lớn, cá lỡ và một thúng đựng lộn xộn vừa cá vụn, vừa tôm cua, trai, mực, đó là kết quả của cuộc đi lõng.
Cá chưa kịp quẫy lên bãi, mấy người lái đã xuốn mảng xoắn xít mặc cả rồi trả tiền và trút cả sang thúng của mình gánh đị Hiền thương hại, phàn nàn:
- Ngần ấy mà có một đồng bạc! Sao rẻ thế?
Hai người đánh cá thu xếp lưới và thúng sọt, dùng chèo gánh về nhà. Hiền và Hồng đi liền bên. Thấy Vọi có chiều không vồn vã tiếp chuyện mình. Hiền nhắc ngay đến ảnh. Quả nhiên Vọi hớn hở:
- Thưa cô, ảnh của tôi xong rồi à?
- Xong rồi! Nhưng tôi để ở nhà. Chốc nữa anh lại tôi biếu vài cái.
- Thưa cô, ngay bây giờ có được không?
Hiền cười:
- Bây giờ không được vì hôm nay tôi không muốn tắm, mà về thì bà tôi bắt tôi đi tắm mất!
Vọi tỏ vẻ kinh ngạc:
- 'Bà Cậú vẫn đi với cô là bà cô đấy à? Thế mà còn trẻ nhỉ?
Hồng và Hiền cùng cười rú lên khiến Vọi xấu hổ cuống quít rảo bước. Hồng giảng nghĩa:
- Anh lẩn thẩn lắm! Bà nghĩa là mẹ kia! Người ta thường gọi mẹ bằng bà như thế là thường chứ.
Từ đó Vọi lại im thin thít. Còn người bạn cùng nghề thì hai cô thiếu nữ có thể tưởng là câm vì chưa nghe thấy chàng nói một câu hay cười một tiếng. Bỗng Hiền thốt nghĩ đến những nỗi nguy hiểm ngoài khơi, ngập ngừng hỏi Vọi:
- Sáng hôm nay hai cái mảng cùng đi sao chỉ có một cái trở về?
- Cái kia về từ nãy rồi.
Hai người chài lưới đi rất mau hầu như chạỵ Hồng không sao theo kịp bèn dừng lại rồi cùng bạn rẽ vào rừng phi lao.
Hiền tìm nơi cây mọc dày để mắc võng cho được rợp. Một bọn con gái kiếm củi khô nghe tiếng động ù té chạy tán loạn. Mãi sau, một người quăy lại trông thấy Hiền và Hồng mới hoàn hồn cười khanh khách gọi bạn:
- Không phhải đâu!
Hiền chợt nghĩ đến những cái biển gỗ quét vôi trắng có chữ 'rừng cấm' đóng vào thân cây phi lao suốt dọc bãi từ Sầm Sơn ngược lên cửa Sông Mã. Chỉ thoánh nhìn vẻ khiếp sợ hiện trên nét mặt cá cô gái quê và con em bọn thuyền chài, nàng cũng đoán biết được sự trừng phạt nặng nề của thầy đội kiểm lâm đối với bọn đi kiếm củị Nàng ngỏ ý tưởng ấy với Hồng thì nàng ta cười đáp:
- Nhưng giá cứ để mặc họ thì chẳng bao lâu họ chặt hết rừng. Rồi vài chục năm sau ruộng nương vùng này se biến thành toàn đồi cát.
Giữa lúc ấy, ai cất giọng hát lanh lảnh ngân nga. Hai người không nhận rõ được một tiếng, song chừng là một câu ví có nghĩa tinh ranh lắm. Và lời ca vừa dứt thì cả bọn củng thét lên cười có vẻ khoái trá.
Hiền và Hồng còn đương đưa mắt thầm hỏi nhau cái cớ khiến họ cười như thế thì từ con đường hẻm xóm khuất một người vận quần áo nâu đi ra.
- Kìa, anh Vọi!
Người đánh cá toan đi thẳng nhưng Hiền gọi giật lại hỏi:
- Này anh Vọi! Các cô hái củi vừa hát bài gì thế?
Vọi hàm răng trên cắn lên môi dưới, cặp má tự nhiên đã đỏ càng đỏ thêm. Hiền đoán chắc rằng câu hát ví của cô kia có nghĩa trêu ghẹo, bỡn cợt anh chàng đẹp trai nên anh ta mới bẽn lẽn xấu hổ đến thế. Hiền thương hại hỏi sang chuyện khác:
- Sao anh bảo anh ở mãi bên kia hòn Trống Mái mà hôm nay lại thấy anh về đây.
Vọi chau mày lẩm bẩm mắng tụi cắt cỏ đương ranh mãnh nhìn mình cười rồi quay lại trả lời Hiền:
- Thưa cô, hôm nay tôi đi nghề với cậu tôị Cậu tôi ở làng Lưu Trung ngay gần đây.
Vừa nói chàng vừa giơ tay trỏ:
- Vậy bây giờ anh về nhà?
- Vâng, tôi về nhà... kẻo mẹ tôi mong ngóng.
Thấy lần nào nói đến về nhà Vọi cũng thêm vào câu 'kẻo mẹ tôi mong ngóng' Hiền phải bật cười, không nhịn được. Anh dân chài cuống quít ngơ ngác nhìn:
- Thôi, chào hai cô. Tôi xin về.
Hiền chềm luôn:
- Kẻo mẹ anh mong ngóng.
Vọi thật thà, không hiểu đó là câu chế giễu nên cũng lập lại:
- Vâng, kẻo mẹ tôi mong ngóng.
Một cô cắt cỏ ranh mãnh ghé vào tai Hiền thì thầm:
- Cô thử hỏi anh ấy có vợ chưa mà coi.
Tò mò muốn biết sự hiệu nghiệm của câu bí mật ấy, Hiền làm theo lời:
- Anh Vọi, anh đã có vợ chưa.
Tức thì Vọi cắm đầu rảo bước đi thẳng. Sau lưng chànggg, bọn cắt cỏ, kiếm củi phá lên cười vang cả một góc rừng. Hiền đứng vịn vào vai Hồng ngồi đu đưa trên võng mỉm cười khẽ nói:
- Trong bọn gái quê này thế nào chẳng có vài cô chết mệt vì anh đánh cá đẹp trai.
Hồng như không nghe rõ, ghé mắt nhìn qua rừng phi lao ra nơi biển xa:
- Về tắm nhé chị Hiền?
- Tắm làm gì? Lên hòn Trống Mái chơi có hơn không... Ồ, suýt nữa quên!
Hiền hoảng hốt chạy thật mau về phía Sầm Sơn. Một lát, nàng trở lạị Vọi lững thững theo saụ Hiền cười bảo bạn:
- Tháo võng cất đi về rồi cùng anh Vọi lên Trống Mái.
Nàng quay lại phía Vọi nói tiếp:
- Về nhà tôi đưa ảnh cho.
Vọi nghe nói đến ảnh quên cả câu chuyện bực mình ban nãy, nhanh nhẹn tháo võng bỏ vào cái nón rồi mang theo hai cô thiếu nữ, nét mặt thản nhiên như không thèm lưu ý đến tiếng cười ròn rã ở sau lưng...
Chương 8
Sầm Sơn 23 tháng 6 năm 193...
Chị Oanh,
Chị chờ em à? Thì ra em có viết thư hẹn với chị rằng em về mà em quên bẵn hẳn đị Xin lỗi chị nhé.
Vâng, quả có thế. Em vẫn dễ đổi ý kiến như khi còn đi học tuy ngày nay em đã già hơn thuở ấy những hai, ba tuổi. Vì thế, tuần trước em chỉ muốn về, bây giờ lại không muốn về nữạ Hay chị vào đây nghỉ mát cho vui.
Thế nào chị cũng vào đấy, vì Hồng ra Hà Nội sáng hôm qua thành thử ở trong này em trơ trọi, không bạn. Rõ em giận chị Hông quá đi mất thôi! Bảo thế nào cũng không chịu nghe! Không biết về làm gì vội thế, làm em nhớ nó từ hôm qua đến giờ cứ ngơ ngẩn cả người chẳng khác gì nhớ tình nhân! Em nói thế không biết tình nhân nhớ nhau thế nào.
May quá có anh Vọi, không thì em buồn chết. À, em chưa nói chuyện anh Vọi với chị lần nào nhỉ. Anh Vọi không phải là một công tử hợp thời, cũng không phải một nhà văn sĩ có tâm lý học hay triết lý học vẩn vơ, nhất lại không phải là một thi sĩ đa sầu đa cảm, đa tình đa tứ. Anh Voi chỉ là một anh đánh cá rất thật thà, hiền lành.
Mấy hôm trước lúc Hồng còn ở trong này, anh ấy đưa chúng tôi đi xem đủ các nơi quanh vùng... Nào rừng thông, nào núi Đường Trèo... Anh ấy còn hứa đem chúng tôi ra khơi nhưng Hồng nhát quá không dám nhận lời cùng đi nên lại thôi.
Em xin nhắc một lần nữa: thế nào chị cũng phải cố mà vào chơi. Em mong đấy.
Bạn của chị,
HIỀN
Hiền cho thư vào phong bì, mỉm cười tự nhủ thầm:
- “Chị Oanh biết Vọi là ai mà mình nói chuyện Vọi với chị ấy!”.
Có một điều nàng không nghĩ đến là trong thư nàng không khoe tấm thân nở nang, vạm vỡ, cân đối của Vọi như mọi khi nàng đã khoe với hết thảy mọi người. Có lẽ vì hai hôm trước đây, nhờ một sự tình cờ, nàng nhận ra rằng anh dân chài không phải chỉ có những vẻ đẹp về hình thể và tâm hồn anh không phải có những đặc tính thành thực, chất phác, ngây thơ.
Hôm ấy vào ba giờ chiều, ba người lên chơi hòn Trống Mái. Cùng đi với một người con trai đến nơi vắng vẻ, Hồng hơi ngượng tuy biết Vọi chỉ là một người quê mùa không đáng sợ. Nhưng vì quá nể Hiền, nàng không muốn trái ý bạn.
Trời nóng như thiêu như đốt. Lên hết cái dốc gần đường phố Cầu, Hồng phải ngồi lại nghỉ mệt dưới bóng một tảng đá lớn bên chùa Sầm Sơn. Nàng vừa cầm nón quạt vừa thở hổn hển. Hiền mỉm cười đưa mắt nháy Vọi để thầm bảo cho chàng biết rằng cô bạn của mình yếu đuối quá. Vọi không hiều nghĩa cử chỉ ấy mà chỉ bẽn lẽn đỏ mặt cúi đầu.
Nhưng chàng lại vui vẻ ngay được vì chàng thấy Hiền và Hồng không chút giấu diếm lấy gương và phấn ra trang điểm để sửa lại nhan sắc bị mồ hôi làm hoen ố.
- Các cô đánh phấn làm gì! Ở đây có ai đâu.
Câu nói rất hợp lý và rất ngộ nghĩnh khiến Hồng phải ngẫm nghĩ. Còn Hiền thì cười lớn bảo Vọi:
- Chẳng có anh là gì?
Vọi không hiểu, cũng cười theọ Gần đấy, trong một khoảng đất bằng phẳng, dăm con bò thản nhiên đứng gặm cỏ non. Bọn trẻ mục đồng vào ẩn nắng trong chùa nghe tiếng cười chạy ồ cả ra tò mò nhìn. Hiền khó chịu, giục Hồng đứng dậy đi.
Qua chùa, ba người xuống một cái dốc. Trời nóng bức nhưng Hiền vẫn luôn miệng hỏi chuyện Hồng dù bạn mình đã thở phào hơi tai và chỉ trả lời nhát gừng. Vọi thì đi rất mau, vượt hẳn lên trước. Chừng muốn tỏ cho anh đánh cá biết rằng mình cũng chẳng ươn hèn gì, Hiền rải bước đi kịp chàng và cách một quãng lại cùng chàng đứng chờ Hồng.
Trong khi ấy, hai người nói chuyện liên liên về hết các mọi thứ. Trông thấy ngọn núi, đống đá, thung lũng nào Hiền cũng hỏi tên. Mà Vọi cũng thích giảng nghĩạ Hình như khắp vùng này chứa đầy những kỷ niệm êm đềm về quá khứ của chàng nên chàng chỉ mong có người nhắc đến để nói, và nói thật nhiều.
- Đây là khe nước, hễ mưa to thì nước tràn lên thành cái suối nhỏ. Ngày còn bé tôi vẫn ra đó thả thuyền chơi.
- Thế núi này là núi gì?
- Đó là hòn Đá Lớn. Chắc cô chẳng trèo được vì cao và khó leo lắm.
Hiền mỉm cười hỏi:
- Anh đã leo lên ngọn lần nào chưa.
- Đã nhiều lần rồị
- Vậy chốc nữa tôi cũn leo lên đến tận ngọn cho anh coi.
Vọi kinh ngạc nhìn Hiền rồi chàng nở một nụ cười ngờ vực:
- Nó dốc mà nhọn, trông như cái vú con gái.
Đến lượt Hiền kinh ngạc trố mắt nhìn Vọị Nàng không ngờ trước mặt cô thiếu nữ Vọi lại 'dám' sỗ sàng như thế. Nhưng câu nói sỗ sàng đối với Hiền chỉ có nghĩa tự nhiên, thẳng thắn đối với khối óc người chất phác của một anh dân quê. Vì vậy, Vọi ngơ ngác không hiểu tại sao Hiền lại cười ngất réo bạn mà khoe rằng:
- Hồng ơi! Anh Vọi bảo hòn Đá Lớn kia giống cái vú con gái. Chị trông có hệt không?
Hồng xấu hổ không đáp. Vọi nghiễm nhiên nói tiếp:
- Nhất lá đứng dưới đường nhìn lên lại càng giống lắm! Tất cả dãy núi này người ta đặt tên là núi 'Người Nằm' hay núi 'Cô Con Gái. Hòn Gầu Cao là cái đầụ Hòn Đá Lớn cùng hòn Buồm là hai cái vú. Đường trèo chạy thẳng xuống dưới kia là đùi và chân.
Hiền rũ ra cười và chờ cho Hồng theo kịp. Nàng bảo bạn:
- Chị đã thấy chưả Dãy núi này là người con gái trần truồng hay mặc may ô nằm phơi mình dưới ánh mặt trời.
Rồi nàng quay hỏi Vọi:
- Thế xóm Sơn của anh ở vào chỗ nào người con gái.
Anh chàng đánh cá không hiểu đó là câu nói cợt nên ngớ ngẩn đáp:
- Thưa cô, tôi cũng không rõ. Tôi chỉ biết xóm tôi ở chân núi Đầu Câu.
- Đầu Câu Ồ, tên hay nhỉ!
Hồng chau mày, thì thầm trách bạn:
- Sao chị cứ đùa anh ấy mai thế? Người ta hiền lành, không nên chế nhạo người ta như thế!
Nhưng Vọi vẫn thật thà giảng nghĩa:
- Vâng, núi Đầu Câụ Người Tây thường gọi là núi Con Voi vì nó cũng hơi giống cái đầu voi thò xuống hút nước biển.
Hiền nghe lơ đãng vì đương mãi đăm đăm nhìn một người đàn bà lom kkhom từ trong túp lều tranh lụp sụp đi ra. Theo sau là một con chó mực xổ ra sủa dữ dội. Bà lão đuổi chó rồi ngửa tay xin tiền.
Hồng chun mũi ghê tởm vì bà ta ăn mặc vừa lôi thôi, vừa bẩn thỉụ Hiền cho cái lối xin tiền như thế là đê tiện quá, nhất là nàng lại thấy một người đàn bà khỏe mạnh ý chừng là con dâu bà lão đương ngồi thái khoai lang ở sân. Nàng nghĩ thầm:
- “Con cái kiếm ăn được sao lại để bà già tự hạ mình xin tiền khách qua đường?”.
Nhưng Vọi đã tiến lại gần chào hỏi:
- Bác ơi! Anh Đa đã đỡ chưa ạ?
Bà lão ngẩng nhìn:
- Anh Vọi đấy à? Nhà nó vẫn thế đó anh ạ!
Hiền tò mò nhìn vào trong nhà. Ở gian bên, một người đáp chiếu nằm rên trên một cái giường tre xiêu vẹo. Dưới gầm giường là môt đống khoai lang để ngổn ngảng. Cái giường ấy với cái phản thấp kê gian bên kia và cái ổ rơm ở gian giữa là tất cả đồ đạc trong nhà. Sự nghèo nàng làm cho Hiền rùng mình ghê sợ, không hiểu sao ở vào cảnh trơ trụi đến thế mà người ta sống nổi! Nàng thì thầm bảo Hồng:
- Trời ơi! Một mẹ già, hai vợ chồng với sáu, bảy đứa con lúc nhúc trong gian nhà chật hẹp hôi hám!
- Mà chị trông kìa! Những đứa con, đứa thì gầy, bụng thì ỏng, mắt thì toét!
Hiền ngắm Vọi nói chuyện với con dâu bà lão và bảo bạn:
- Trẻ con vùng này coi yếu đuối cả mà sao những người đi đánh cá thì khỏe mạnh vạm vỡ thế?
Sau khi cho mỗi đứa bé một xu, Hiền và Hồng cắm đầu đi thẳng không dám quay cổ trở lại nhìn túp lều tranh tồi tàn nữạ Vọi theo sau bảo hai người:
- Anh Đa ốm đã năm, sáu hôm nay mà không đi nghề được. Túng thiếu, đói lắm! Sáng nay qua nhà thương tôi có xin cho anh ấy mấy viên thuốc sốt đấy nhưng coi bộ chẳng ăn thua gì!
Hiền hỏi:
- Lúc nnãy anh đưa thuốc cho vợ người ốm phải không?
- Chính phảị Với lại tôi giúp chị ấy một hào.
Hiền cảm đợng nhìn Hồng. Vọi nói tiếp:
- Anh ấy túng bấn lắm, nhà đất bán cả, phải lên ở nhờ nhà nước, trồng qua quít, ít khoai, ít ngô lấy cái ăn.
- Nhưng anh ta cũng đi nghề mà?
- Đi nghề là khi nào người ta thuê. Hai cô tính, đi nghề phải có vốn sắm mảng. sắm lưới chứ. Vốn ấy nhiều thì hai, ba trăm bạc, mà ít ra thì cũng phải hai, ba chục bạc. Anh Đa đâu còn bao nhiêu tiền dư nên chỉ đi bắt ngao, câu cá nhì nhằng. Tôi thương anh ấy lắm. Một mẹ già với đàn con mà không có nghề thì đến chết đói mất! Vì thế tôi thường bảo anh ấy đi nghề với tôi; kiếm được nhiều thì tôi chia cho nhiều, kiếm được ít thì lấy ít vậy. Độ này anh ấy ốm không đi nghề được thì họa hoằn tôi cũng phải giúp anh ấy một vài hào, dăm ba xu.
Hai cô thiếu nữ lấy làm kính phục tấm lòng thương người của Vọi, đưa mắt nhìn nhau lẳng lặng nhìn nhau cảm động...
Chương 9
Cũng như mọi buổn sáng, hôm nay Hiền ra bãi biển rất sớm... Ra biển để hóng gió mát và để có cảm tưởng rằng biển là của con nhà nghề, của những người đánh cá bắt ngao kiếm sống chứ không phải của bọn khuê các, công tử thừa tiền, thừa thời giờ ra đó chơi bời thỏa thích.
Thật vậy, vào giờ ấy trên bãi cát rộng chỉ thấy toàn dân chài vận quần áo nâu hay cởi trần đóng khố. Chỗ này mấy người nngồi sửa sang cải mảng hoặc buộc lại những nút lạt mục, hay đóng lại những cái chốt lỏng lẻo. Chỗ kia từng đám sáu, bảy người đứng đánh rút. Họ chia hai tốp cầm kéo hai đầu dây lưới. Vì lưới dài và nặng nên họ hết sức ngả người co mạnh mà vẫn không đi lùi được chút nào tuy hai bàn chân họ luôn luôn dẫm bành bạch như lính tập 'dậm chân tại chỗ'.
Hiền đi thơ thẩn bên những cảnh tượng quá quen mắt vì sáng nào cũng nhìn thấy. Đã ba hôm nay nàng không thấy bóng Vọi đâu nên nàng hơi băn khoăn, nhớ anh đánh cá và những câu chuyện rất ngớ ngẩn của anh ta. Ngẫu nhiên, nàng nhìn ra biển xa để tâm hồn phiêu phiêu lướt theo những cánh buồm nâu nhấp nhô gợn sóng. Và nàng nghĩ thầm:
- “Có lẽ Vọi đi khơi!”.
Phải, những cuộc đi khơi đầy lạc thú. Vọi thường kể cho nàng nghẹ Nàng vẫn mơ ước đi liều một chuyến xem sao... Đi để được nếm những đêm trăng sao ngủ trên chiếc mảng bồng bềnh... Để 'được' ăn những bát cơm hẩm chan canh cà luộc với nước biển... Nhất là để được cùng bạn trai trẻ lực lưỡng vừa hát nghêu ngao vừa kéo lưới.
Xưa nay nàng vẫn hay nghĩ đến những sự khác thường, thích làm những việc mà người ta không làm được hay không dám làm. Chẳng thế, một lần trước mặt Hồng nàng đột nhiên hỏi Vọi:
- Giá tôi lấy anh rồi chúng ta làm nhà ở bãi Lãn này cùng nhau chuyên nghề chài lưới thì anh có bằng lòng không?
Cho là một câu bông đùa để trêu ghẹo anh nhà quê hiền lành, Hồng nằm bò ra cười. Còn Vọi thì xấu hổ bẽn lẽn cúi gầm mặt xuống.
Nhưng câu hỏi của Hiền quả là thành thật..., thành thật trong một thời gian ngắn ngủị Ngồi trước biển rộng bao la sóng gầm đầu mỏm đá thì đối với nghề đánh cá, các nghề khác không còn có nghĩa gì nữa. Rồi trong khối óc ham thể thao, ưa sự sống hoạt động, phiêu lưu vẽ ra những cảnh hùng vĩ của một cuộc đời hợp lý tưởng, cái lý tưởng viễn vông của ít bạn thanh niên hiện thời. Nàng mơ màng được chung sống với một chàng An Tiêm hay Lỗ Bình Sơn (Robinson Crusoe) ở nơi hoang đảo, tự kiếm lấy cái ăn, tự chế tạo lấy cái mặc và các khi giới để chồng cự các loài thú dữ. Đưa mắt nhìn Vọi lẫm liệt uy nghi đứng bên, nàng như thấy lờ mờ hiện ra một tương lai sung sướng, đầy đủ cả hai phương diện tinh thần và vật chất.
Rồi một cảnh trái ngược đồng thời cùng hiện ra một cảnh nhỏ nhen, lụi xụi trưởng giả: chồng già đời mài đũng quần trên ghế các công sở... Nào bị người trên quở mắng... Nào phải tự hạ mình nịnh nọt kẻ nõ kẻ kia... Trong khi ấy thì vợ vênh vang xe nhà, ô tô, ra vẻ bà lớn bà bé với những bộ cánh sặc sỡ lòe loẹt. Cho đến những nghề mà người ta gọi là tự do nào đã lấy gì làm tự do. Người theo nghề buôn, nghề thầy lang, thầy kiện cũng phải chiều khách hàng, chiều người bệnh, phỉnh người sính tụng..., có khi phải xoay xở hết lối đủ vành.
Đến như các người theo nghề văn thơ thì lại càng khổ sở hơn nữạ Ở ngoài cảnh sắc tốt tươi mà tự nhốt mình vào trong phòng để tưởng tượng vẽ ra những cảnh sắc ấỵ..., rồi tưởng tượng mãi, tưởng tượng cho tới khi đôi mắt cận thị phải mòn mỏi... Tấm thân xưa kia nở nang phải khô héo, tâm hồn xưa kia sáng suốt phải mờ tối đi. Họ cắm cúi thêu lời ca tụng cài đẹp, cái tươi của vạn vật muôn năm không già, mà vạn vật thì không bao giờ cần đến họ ca tụng...
Hiền cảm thấy rõ ràng cả một đời nên thơ của kẻ sống trong vạn vật, sống với vạn vật. Mỗi cử chỉ của mình, mỗi câu nói của mình đều liên lạc nhịp nhàng với cỏ cây, với đất nước, với ánh sáng, với không khí bao bọc quanh mình. Một một hành vi của mìnhh có một nghĩa, một triết lý sâu xa. Cái hành vi không giả dối vì nó vừa cần phải có để nuôi sống tấm thân, vừa làm cho tấm thân nở nang khỏe mạnh, đẹp đẽ thêm ra.
Hiền vừa đi vừa nghĩ đến buổi sáng ngồi nói chuyện với Hồng và Vọi ở bãi Lãn. Những ý tưởng quá bạo tuy chỉ nung nấu ngấm ngầm trong tâm trí nàng mà chưa hề dám bày tỏ với bạn hay bất cứ ai, nhưng nàng vẫn suy đi xét lại mà nhận thấy rất hợp lý dù nhận thức có lờ mờ.
- “Ừ, họ cứ nói, cứ bàn suông rằng không nên phân đẳng cấp. Vậy sao ta không thể là vợ anh Vọi đuợc? Anh Vọi và ta đều không thuộc đẳng cấp nào cả vì đã không chia đẳng cấp thì còn làm gì có đẳng cấp. Hay lấy trí thức mà chia đẳng cấp? Nhưng nếu người chồng có trí thức không làm ta sung sướng bằng người chồng kém trí thức?”.
Hiền mơ mộng nhìn ra xa rồi nghĩ tiếp:
- “Khônng thế được! Ta yêu ai thì ta quyết lấy người ấy. Ta quyết xin mẹ ta cho phép lấy bẳng được người ấy, dù người ấy là một anh chàng đánh cá chất phác thơ ngây”.
Rồi nàng mỉm cười kết luận:
- “Nhưng bây giờ thì hình như ta chưa yêu ai, kể cả anh chàng đánh cá chất phác thơ ngây. Vậy hãy xếp câu chuyện triết lý ấy vào một xó.”.
- Chị Hiền!
Hiền nghe có tiếng gọi quay lại. Lưu đầu cải bóng, mặc áo lót hở tay, từ dưới dãy phi lao chạy ra.
- Anhh Lưu dậy sớm nhỉ?
- Ra sau chị mà cònn bảo dậy sớm?
Hiền mỉm cười nhớ lại câu chuyện xảy ra mấy hôm trước. Hôm ấy Hiền cáu kỉnh, thấy Lưu chợt nhả thì sinh ghét tìm cớ để cự tuyệt cho hả lòng tức giận. Nhân Lưu gọi nàng là cô, nàng liền mai mỉa hỏi:
-“Vì lẽ gì tôi gọi anh là anh mà anh gọi tôi là cô? Anh coi tôi như em anh phải không?”.
Thì ra Lưu sợ hãi, vâng lời nàng mà kêu nàng là chị rồị Hiền sung sướng nghĩ thầm:
- “Đối với bọn họ, mình phải quả quyết đòi đứng ngang hàng thì tự nhiên đươc đứng ngang hàng ngay”.
Lưu tiến đến gần:
- Chị không tắm sớm?
- Không!
Hiền nhìn vào phía trong hỏi:
- Hôm nay sao anh đi một mình? Còn anh Miện đâu.
- Miện về Hà Nội rồi.
- Ủa! Về Hà Nội.
- Vâng, về Hà Nội hôm qua. Anh ấy gửi lời chào chị.
- Xin cám ơn. Thương hại anh lẻ loi nhỉ! Tưởng hai người không bao giờ chịu rời nhau ra đấy.
- Anh em bạn trai dù thương nhau đến đâu cũng không quyến luyến nhau bằng bạn gái.
Lưu cười rất 'tình' rồi nói tiếp:
- Nhất là môt người bạn trai và một người bạn gái, phải không chị?
Hiền nghĩ thầm:
- Anh này khác ca anh Vọị Một đàng thì tinh quái bóng bẩy, một đàng thì thật thà ngây thơ.”.
Nghĩ đoạn nàng tìm cáchh trêu ghẹo Lưu:
- Tôi cũng chưa 'thí nghiệm' anh ạ!
Lưu tủm tỉm cười:
- Chả biết bười nào sẽ có diễm phúc được chị thí nghiệm?
- Anh nói văn hoa lắm nhỉ? Chả bù với anh Vọi thật là trái ngược hẳn!
Lưu vờ không hiểu:
- Anh Vọi nào thế?
- Anh Vọi rất đẹp trai tôi chụp ảnh bữa nọ ấy mà!
Mà như chợt nghĩ ra điều gì nên nói tiếp:
- Ừ phải, tôi thí nghiệm rồi đấỵ Anh Vọi đi đâu bặt tin từ ba hôm nay thế mà tôi vẫn không nhớ anh ấy. Đấy anh coi, một người bạn trai và một người bạn gái có thể không quyến luyến nhau được.
Lưu cười ngất, cho đó là một câu bông đùa. Nhưng Hiền nghiêm trang nói tiếp:
- Anh Vọi tốt bụng lắm anh Lưu ạ. Hôm nọ anh ấy dám cho một người đồng nghiệp nghèo ốm những một hào!
Lưu không tin hỏi:
- Ai bảo chị thế?
- Chính mắt tôi trông thấy ở mạn núi gần hòn Trống Mái.
- Trước mặt chị hắn giở ngón đạo đức giả ra đấy!
Hiền cười:
- Anh tưởng ai cũng giả dối được cả saỏ Một anh đánh cá có phải là một trang công tử khéo lòe gái đâu.
Lưu không chịu thua, mạnh bạo cãi:
- Nhưng chính giả dối ấy là sự lễ phép để phân biệt người trí thức với kẻ vô học. Một thằng mọi không bao giờ biết lấy lòng một mỹ nhân bằng một sự giả dối vô hại.
Hai người vừa đi theo làn nước vừa nói chuyện, Bỗng Hiền đăm đăm nhìn một bọn người kéo lưới và bảo Lưu:
- Anh Trông, hình như có anh Vọi ở đàng kia.
Rồi nàng chạy lại kêu:
- Ồ đúng rồị Anh Vọi!
Vọi không ngừng tay kéo lưới vừà giẫm chân theo nhịp với mọi người khác vừa chào:
- Thưa cô đi chơi.
- Mấy hôm nay anh đi đâu biền biệt thế?
- Thưa cô, tôi đi khơi.
Lưu nói kháy, bảo Hiền:
- Kìa, anh Vọi gọi chị bằng cô sao chị để vậy.
Hiền không đáp, thản nhiên hỏi Vọi:
- Đi những ba hôm liền? Chắc là đánh được nhiều cá?
- Vâng, cũng khá. Chúng tôi kéo được một mẻ cá thu, bán được nhiều tiền lắm.
Lưu chêm một câu mai mỉa:
- Để dành tiền mà cưới vợ anh Vọi ạ.
Vọi đỏ mặt vì thấy anh em bạn nghề nhìn mình tủm tỉm cười. Không biết Vọi vẫn có tính nhút nhát bẽn lẽn khi người ta hỏi đến chuyện lấy vợ, Lưu tưởng ngay rằng anh đánh cá có tình ý với Hiền. Trong lòng vừa căm tức vừa khinh bỉ, chàng giục Hiền lêm mỏm đá ngồi chơi. Nhưng nàng không nghe, nhất định giữ Lưu đứng lại xem kéo lưới...
Chương 10
Bà Hậu và Hiền ngồi trên một cái mảng ngắm ánh trăng nhảy lộn với làn sóng biển. Hai người cùng yên lặng theo những ý tưởng riêng của mình. Bỗng bà Hậu bảo con:
- Mai về Hà Nội thôi Hiền ạ.
- Vâng, tùy mẹ.
Bà Hậu còn nhớ hôm mới ra Sầm Sơn, Hiền chỉ nặng nặc đòi về... Nào kêu buồn, nào nóng không ngủ được, ôi thì đủ thứ!... Thế mà từ đó tới nay đã gần một tháng, không một lần Hiền nhắc đến chuyện về nữa. Bà ghĩ thầm:
- “Hay nó...”
Bà thường thấy Lưu đến nhà bà luẩn quẩn quanh con gái bà. Cả một thời niên thiếu của bà hiện lại với những tiến cười đùa ròn rã trong khoái lạc. Muốn dò ý con, bà hỏi:
- Lưu học trường Luật phải không con?
- Vâng.
- Nghe chừng là người hiền lành?
Hiền cười:
- Vâng, hiền lành lắm.
Rồi nàng đứng dậy cúi lom khom ghé nhòm trên mặt cát.
- Mày tìm cái gì thế?
- Thưa mẹ, con cua.
Dứt lời, nàng chạy đuổi. Nhưng vụt một cái, con dã tràng đã lẩn trong lớp sóng đương cô vào bãi cát. Con ấy biến đi, con khác hiện ra tức khắc. Và Hiền vừa đuổi, vừa đi ngược mãi lên phía mỏm đá.
Biết con vật chỉ cắm đầu chạy thẳng xuống nước, Hiền rón rén ra phía biển đứng ngắm rồi săn ngược lên làm nó cuống quít chui vào một cái lỗ để ẩn thân. Cái cảnh tượng hiện ra và biến đi trong chớp mắt của con cua trên khoảng ánh trăng in làn cát khiến nàng ngây người tìm môt sự so sánh. Nhiều khi nàng cảm thấy sự sung sướng chẳng biết từ đâu vụt hiện ra trong tâm hồn nàng rồi chỉ một phút sau đã bị một ý nghĩ buồn tẻ xóa mất ngay không còn để dấu vết chẳng khác nào bóng con cua lướt qua ánh trăng.
Rồi từ hạnh phúc, Hiền nghĩ tới thời thơ ấu. Mới ngày nào nàng còn bé dại mà nay đã 20 tuổi rồi. Ngày tháng trôi mau chóng quá!
Có một nhóm ba người đang dạo mát. Khi đi ngang qua liền dừng lại tò mò nhìn nàng. Một người cười hỏi:
- Chị Hiền tìm gì mà cúi lom khom thế kia.
Nhận được tiếng của Lưu, Hiền đứng thẳng lên đáp:
- À, tôi ngắm những con cua. Chúng nó chạy hay lắm!
Lưu trỏ vào Hiền:
- Kìa, đàng kia có một con.
Rồi chàng đuổi bắt nhưng không cúi xuống nên ánh trăng phản chiếu lên mặt làm cho chàng quáng lòa chẳng biết con vật chạy đàng nào nữa, chỉ biết đứng ngơ ngác tìm. Mọi người cười rộ lên.
Lưu rủ Hiền nhập bọn nhưng nàng từ chối, vịn cớ mỏi chân. Thật ra, nàng hẹn với Vọi đêm nay lên bãi Sầm Sơn đánh rút nên đứng đó để chờ. Đã hơn tuần lễ nay, Vọi không kéo cá ở bãi xóm Sơn. Chiều chiều, Vọi chỉ đem phần lưới của mình đến kéo chung với cậu của chàng.
Đêm nào Hiền cũng ra xem, nhất lại gặp thời kỳ có trăng. Một lần đứng nói chuyện với Vọi, nàng bỗng bật cười vì nghĩ đến cái cảnh hẹn hò của cặp tình nhân. Và nàng nói đùa:
- Sao độ này anh hay đánh cá ở đây thế?
Nàng chắc rằng câu hỏi sẽ làm cho Vọi bẽn lẽn thẹn thùng. Nhưng trái với sự tiên đoán của nàng, Vọi vẫn thản nhiên trả lời:
- Thưa cô, vì ở đây sẵn cá hơn. Với lại, vì tôi nể lời cậu tôi.
Thì ra không phải vì nàng mà Vọi đến bãi Sầm Sơn. Hiền lại bật cười tự nhủ thầm:
- “Vì mình thế nào được? Anh dân chài kia khi nào dám mơ tưởng đến mình! Và anh chàng đã hiểu tình yêu là cái quái gì!”.
Hiền đương nghĩ ngợi liên miên thì bà Hậu lại gần bảo về ngủ.
- Thưa mẹ, hãy còng sớm. Ở đây hóng mát đã!
Bà Hậu vừa gặp Lưu nên ngờ rằng Hiền đứng đó chờ đợi chàng tạ Nhưng giữa lúc ấy, một người đánh cá đi đến. Hiền nhận ngay ra Vọi nên vui mừng hỏi:
- Anh Vọi đi đánh rút đấy phải không?
Vọi lễ phép chào bà Hậu rồi nói cho Hiền biết rằng cậu của chàng cùng hai con và phường bạn đương thả lưới ở mạn dưới.
- Nhưng sao anh lại không ở đây.
- Tôi muốn dao mát một lát.
Câu trả lời của Vọi đang làm cho Hiền nghĩ vẩn vơ đến nhiều chuyện thì Vọi lại nói:
- Thưa bà, thưa cô. Bàn chân đặt lên cát ướt sáng loáng như bạc.
Sự nhận xét của chàng rất đúng và lại rất tình tứ khiến Hiền phải kinh ngạc. Bà Hậu cúi xuống nhìn đáp:
- Ờ nhỉ!
Hiền cười:
- Thưa mẹ, anh Vọi làm thơ đấy.
Bà Hậu nói đùa:
- Vậy mai kéo được cá, 'thi sĩ' đem đến bán cho tôi nhé!
Vọi thật thà đáp:
- Thưa bà, xin vâng.
Chương 11
Đêm hôm ấy khuya lắm Hiền mới ngủ được. Hai cảnh tượng của bãi biển trăng soi còn rõ ràng hiện ra trong trí nhớ nàng: bóng con cua chạy nhanh như bay biến vụt vào cõi mộng và nguyên cái thân thể của Vọi in lên nền trời xanh trong. Một cảnh bé nhỏ và một cảnh hùng tráng. Ngoài kia tiếng thủy triều đang lên như than thở không ngừng...
Tuy không ngủ được mấy, Hiền cũng dậy thật sớm ra biển. Dậy sớm đã thành một thói quen đối với nàng. Thấy Vọi đứng kéo lưới, nàng chạy lại hỏi:
- Anh làm việc luông từ tối hôm qua đến giờ?
Vọi cười:
- Thưa cô, không. Đêm qua thả lưới. Sáng nay dậy kéo lưới.
Đậy từ bao giờ?
- Từ sớm, lúc gà chưa gáy cơ.
Hiền yên lặnng đứng nhìn. Trừ vài bọn chài lưới ra, bãi biển vắng ngắt không còn một ai ra tắm. Rồi Hiền đi đi lại lại, ngắm nghía những tấm thân đầy bắp thịt rắn chắc. Vọi không những cao hơn, nở nang hơn mà còn có vẻ sáng sủa thông minh nhất trong đám.
Vọi vừa làm việc vừa nhìn Hiền mỉm cườị Cô thiếu nữ dễ dãi tử tế Vọi đã quen lắm rồị Gặp nàng, Vọi không bẽn lẽn xấu hổ như buổi đầu nữa.
- Đã sắp có cá chưa anh Vọi.
- Sắp có đấy cô ạ.
Hiền vừa nói vừa quay đi:
- Nếu có cá ngon đem đến bán cho tôi nhé!
Thấy có gió thổi đến, Hiền nhớ đến một trò chơi khi Hồng còn ở Sầm Sơn: chơi đấu xe cỏ kim. Nay chỉ có một mình nàng mà không có ai chơi chung, Hiền ra bẻ hai cành lá cỏ cho chạy thi rồi cũng như mọi lần vừa cười vừa chạy theo saụ Lúc gió thổi mạnh, cỏ lăn thật mau, loáng loáng ánh trăng xiên ngang, trông y hệt như con cua chạy dưới bóng trăng đêm hôm trước, rồi cũng như con cua, bị nước biển tràn lên cuốn lấy trôi đi...
Mất hai lá cỏ, Hiền bẻ hai cái khác tiếp tục chơi... Mãi lúc mặt trời lên cao, nàng mới trở về nhà ăn sáng.
Một lát sau, Vọi đến, tay xách hai con cá chim thật tọ Thoáng thấy bóng chàng, Hiền mừng rỡ ra mở cổng hỏi:
- Anh đem cá bán cho tôi đấy à?
- Kéo lưới được hai con cá chim lớn, tôi đem biếu cô.
Hiền cảm động. Nàng vẫn nhận thấy rằng đa số người vùng Sầm Sơn ham lợi. Có khi nhờ họ việc cỏn con, họ cũng chìa tay xin tiền không chút ngượng ngập. Hiền cũng không trách gì họ, vì biết rằng họ nghèo lắm.
Một anh dân chài đem đến biếu hai con cá là chuyện nàng không thể tưởng tượng được, không bao giờ ngờ đến có sự việc lạ lùng đến như thế!
- Tôi trả tiền anh thôi, chứ anh kiếm ăn vất vả khó nhọc, tôi nhận không của anh làm gì? Như vậy coi sao được!
- Thưa cô, chả là baọ Hôm nọ cô cho mấy viên thuốc sốt, em gái tôi uống khỏi ngay, mẹ tôi với tôi vẫn mong tìm được vật gì quý để tạ ơn. Nay có hai con cá tươi xin cô nhận cho chứ đừng từ chối mà buồn lòng tôi lắm!
Hiền bật cười:
- Ra anh đến ơn tôi đấy! Nhưng thuốc của tôi chỉ có hai xu một viên mà anh cho tôi hai con cá đáng những mấy hàọ Làm ơn thế này thì tôi làm ơn đời...
Rồi nàng xách hai con cá vào trong nhà khoe với bà Hậu:
- Mẹ ạ, anh Vọi biếu mẹ hai con cá chim đây này.
Bà Hậu chau mày bảo con:
- Sao lại để cho anh ấy biếu không vậy con?
- Anh ấy tạ ơn 'thầy lang' đấy chứ!
Bà Hậu chẳng hiểu Hiền nói gì, nhưng vì chiều con nên bà cũng cười cho con bằng lòng. Vọi vui mừng, cúi chào ra về. Hiền nói cảm ơn rồi đưa Vọi ra cổng. Nàng dặn:
- Chiều nay anh lại cho tôi thuê mảng nhé!
- Vâng. Tôi xin đến đây đón cô...
- Rồi anh chở tôi sang bãi Nít hay bãi Sơn cũng được. Ở đây đông người, tắm không thích. Nhân tiện tôi đến thăm 'cái Vòi, em anh.
- Cám ơn cô, em nó khỏi hẳn rồi, đã đi chợ phiên trước.
Dứt lời Vọi đi thẳng, trong lòng sung sướng được bà Hậu và cô Hiền nhận cho hai con cá...
Chương 12
Hiền nằm trên võng mơ màng. Dưới cái vòm màu xanh chen tím, đôi bướm nhỏ cánh lam trong biếc nhịp nhàng bay lượn rất mau chung quanh những cành nna nặng trĩu quả sắc xanh um. Chung quanh, những chùm hoa khế rung rinh lấp lánh trong tia ánh nắng chiếu qua kẽ lá.
Hai con bướm đuổi nhau, gặp nhau rồi lại xa nhau... Lúc hiện ra, lúc biến đi, lúc một con vơ vẩn bay tìm bạn... Hai điểm hoạt động trong một cảnh hầu như hoàn toàn yên lặng, như thu lấy hết cẳ tâm trí của Hiền.
Giữa lúc ấy có tiến Vọi ở cổng. Hiền chạy ra vui vẻ vẫy chàng vào sân và thì thầm dặn chàng nói khẽ để bà Hậu, mẹ nàng ngủ.
- Cô chưa chuẩn bị đi tắm mảng?
- Mới ba giờ, còn nắng lắm, đi sao được!
Thì ra quen làm việc bất cứ vào giờ nào về mùa nào, Vọi không mấy khi tưởng đến rét nên đã đem mảng đến, chờ Hiền từ hai giờ trưạ Hiền trỏ chõng bảo Vọi ngồi rồi đi thay áo tắm. Một lát sau nàng trở ra, khoác trùm cái áo bông dài. Thấy Vọi đang nhìn theo đôi bướm, nàng nói:
- Ở Hà Nội tôi chưa từng thấy có giống bướm đẹp như thế, màu cánh xanh lam như thế.
Vọi yên lặng ngẫm nghĩ, Hiền lại nói tiếp:
- Rõ chúng nó ngốc quá nhỉ? Đuổi bắt nhau hai ba giờ rồi đấy!
Vọi thật thà đáp:
- Thưa cô, đó là một con đực và một con cái.
Hiền cười:
- Đã cố nhiên.
Rồi nàng táo bạo nhìn Vọi khiến chàng xấu hổ chết đi được! Vọi đứng dậy nói lảng:
- Thưa cô, đi thôi chứ!
- Còn sớm đi gì vội. Hãy ngồi chơi đã! Tôi có ăn thit đâu mà anh sợ!
Vọi lại bẽn lẽn ngồi xuống chõng, đăm đăm nhìn ra hàng giậu trồng toàn cây hoa tai lấm tấm đầy bông đủ màu rực rỡ dưới ánh mặt trời chói lọi. Bỗng Hiền khẽ vỗ vai chàng rồi giơ tay trỏ vào bốn cây da hổ thì thầm:
- Kìa anh coi! Con thằn lằn đẹp quá!
Vọi ngơ ngác:
- Cô nói cái gì?
- Con thằn lằn kia kìa.
Vọi trố mắt nhìn rồi cười bảo Hiền:
- À, con mồn mồn.
Hiền cũng cười:
- Anh gọi nó là con mồn mồn?
- Chính nó là con mồn mồn.
- Ừ, cái tên hay nhỉ! Ở Hà Nội thì nó là con thằn lằn. Nhưng giốn thằn lằn này đẹp hơn nhiều.
Quả thật, con thằn lằn rất đẹp, vừa to, vừa cao, vừa óng ánh nhiều sắc. Trông nó như con tắc kè, nhưng da tắc kè xù xì và xám xịt như da cóc, còn loài thằn lằn ở Sầm Sơn da lưng màu nâu tía điểm những chấm xanh, chấm đỏ. Khi nó chống hai chân trước đứng rình mồi, cái đuôi và hai chân sau rất thấp ẩn trong cỏ rậm thì trông nó giống như một con chim sẻ với đôi cánh nâu cà cái bụng trắng. Nhất là lúc nhảy lon ton đuổi bắt bướm, nó lại càng giống hệt lắm.
Hiền rón rén lại gần con vât xinh xắn thì một con nữa nhỏ hơn màu nâu nhạt hơn chẳng biết từ đâu hiện ra lướt theo con kia. Hiền đứng nấp sau thân cây long não quay lại vẫy Vọị Nhưng Voi bước mặnh quá khiến hai con vật thấy động chạy vụt chui vào lỗ. Vọi cười hỏi:
- Lần đầu cô trông thấy mồn mồn hay sao?
Hiền như không để ý đến câu nói của Vọi mà hỏi lại:
- Con nhỏ là con cái phải không?
- Vâng, chính thế! Con cái bao giờ cũng nhỏ, cũng xấu hơn con đực.
Hiền nhìn Vọi:
- Ở Sầm Sơn, giống đực gì cũng đẹp hơn giống cái, kể cả giống người nữa. Con trrai đẹp quá, mà con gái thì coi ít ai ra hồn phải không anh Vọi.
Vọi không đáp, đi thẳng ra cổng. Hiền cũng theo ra...
Chương 13
Quả thật còn sớm quá! Khi hai người tới biển chưa một ai ra tắm. Bãi cát vắng ngắt nằm dài dưới ánh nắng gay gắt của buổi trưa hè.
Vọi kéo mảng xuống biển rồi mời Hiền bước lên. Chàng đi dưới nước, ấn mẳng ngược lên phía mỏm đá. Mỗi lần bị sóng đánh, nước lại bắn tung tóe lên mặt Vọi, Hiền thương hại bảo:
- Ướt hết cả áo anh rồi!
Vọi cười:
- Thưa cô, càng mát.
Hiền ngắm Vọi nghĩ thầm:
- “Thân thể kia mà mặc may ô thì đẹp biết bao!”.
Nhìn Vọi, nàng ân cần hỏi:
- Anh không đội nón thế có nóng không? Hay tôi cho anh mượn cái nón của tôi. Để tôi trùm áo tắm lên đầu cũng được.
Vọi từ chối, nói rằng chịu nắng đã quen không sao. Bỗng chàng đăm đăm ngẫm nghĩ, bảo Hiền:
- Cô muốn ra xa không?
Hiền vui mừng đáp:
- Còn nói gì nữa!
- Vậy để tôi đi lấy buồm nhé!
- Lấy ở đâủ
Vọi vừa chạy vừa quay lại đáp:
- Ở trong lều của cậu tôi.
Một lát sau, Vọi vác đến một cánh buồm nâu cuộn lại và một cây tre. Không thấy Hiền đâu, chàng nhớn nhác nhìn quanh, trong bụng lo lắng. Cái đầu đội mũ cao su nhô lên làn sóng và loang loáng phản chiếu ánh mặt trời khiến Vọi biết rằng Hiền đang bơi. Bấy giờ chàng mới có dịp để ý đến cái nón của Hiền mà bên trong đựng chiếc áo khoác bông. Chàng liền mang các thứ xuống mảng rồi chở ra xa để đón.
Hiền leo lên mảng, lấy áo khoác choàng vào mình, vừa cười vừa thở rồi bảo Vọi chèo mạnh ra khơi.
- Cô có biết chèo không?
Hiền đáp:
- Tôi chưa chèo mảng bao giờ.
- Vậy cô giữ vững lái cho mũi quay ra phía ngoài để tôi dựng cột buồm nhé?
Khi cánh buồm đã giương, mảng lưới như bay là là trên mặt biển. Tiếng sóng vỗ vào những cây bương kêu lép bép. Bọt sóng trắng phau văng vào đằng mũi bắn vọt lên.
Mảng chạy rất mau, để một vạch dài phía sau lái như luống rãnh cày trong ruộng nước. Hiền đang tự phụ rằng mình cũng có chút công ngồi giữ lái thì Vọi bảo nàng:
- Cô cứ việc ngồi chơi. Tôi vừa lái bằng buồm, vừa lái bằng chèo tiện hơn.
Hiền nhận ra rằng khi mái chèo đã ở trong tay Vọi thì mảng đi trái và ngược được chiều gió. Thấy nàng đứng dậy, Vọi kêu lớn:
- Cô ngồi xuống kẻo ngã!
Hiền ngoan ngoãn làm theo vì nàng ngắm Vọi có vẻ hùng tráng, oai phong lẫm liệt như một ông tướng trên một chiến hạm đang truy sát địch quân, mà nàng là một tên thủy quân tầm thường, chỉ biết vâng lời.
- Thưa cô, đi nữa không?
Hiền trỏ tay về phía trước mặt:
- Ra tới cù lao kia có được không?
- Ra sao được? Trông thế mà còn xa lắm đó! Từ đây đến núi Mê...
Hiền ngắt lời:
- Núi ấy là núi Mê?
- Vâng, núi Mê. Từ đây ra đó bằng từ đây ra tới Hà Nội kia!
Hiền mỉm cười vì nàng nghe anh đánh cá nói vu vơ, chẳng biết Hà Nội ở về phía nào và cách Sầm Sơn bao nhiêu dặm đường.
- Vậy đỗ lại đây có được không?
- Thưa cô được chứ! Cô muốn đỗ lại đâỷ
Chàng liền hạn buồm và bỏ neo. Tức thì cái mảng liền đứng im. Hiền toan nhảy xuống nước nhưng lại tỏ vẻ sợ hãi nên hỏi Vọi:
- Ở đây có cá nhám không?
- Không. Cô hỏi làm gì vậy.
- Sợ nó ăn thịt.
Vọi cười phá lên:
- Không, cá nhám không ăn thịt người! Người ăn thịt nó thì có. Loài cá ăn thịt người to hơn, mà chúng tôi gọi là cá quịt, cá mập hay cá nhà táng.
- Vậy biển Sầm Sơn có cá quịt không?
- Không! Không bao giờ có. Nó ở tít mãi đằng xa kia.
Nhưng Hiền vẫn lo sợ, bơi ra một quãng gần rồi lại trở về mảng ngay. Vọi khen:
- Cô bơi giỏi nhỉ!
- Anh có biết bơi không?
Vọi cười:
- Rõ cô hỏi! Con nhà chài lưới lại không biết bơi.
- Vậy sao anh không bơi với tôỉ
Vọi bẽn lẽn đáp:
- Thôi, mời cô tắm.
Mọi khi ra khơi mà cần phải bơi lặn để gỡ lưới thì bao giờ Vọi cũng chỉ đóng sơ sài có một cái khố nâu nếu không cởi truồng. Chàng hiểu lờ mờ rằng ở trước mặt một cô thiếu nữ, chàng không được phép khiếm lễ như thế.
- Anh không tắm? Thật đáng tiếc cho anh! Ở đây sóng yên, bơi thú lắm... Nhưng về thôi! Tôi vẫn nơm nớp sợ cá quịt của anh ăn thịt.
Thức thì hai người xúm nhau kéo neo lên. Rồi Vọi giuơng buồm cho mảng chạy vào bờ. Hiền ngồi ngắm phố Sầm Sơn ẩn lộ trong rừng phi lao trỏ tay bảo Vọi:
- Kìa anh trông! Lũ người tắm biển như đàn kiến lí nhí bò trên bãi cát.
Trong khoảnh khắc, mảng đã vào tới bờ. Vọi hỏi:
- Cô về Sầm Sơn?
- Không, tôi đến khe Thờ.
- Nhưng ở khe Thờ nước trùm kín cả bãi cát rồi! Ở đó chỉ tắm buổi sáng được thôi.
- Vậy đến bãi Sơn.
Chương 14
Khi Vọi theo Hiền rời mảng bước lên bờ thì mặt trời đã ẩn trong làn mây tím sẫm rải ngang trên núi Đường Trèo, sau rặng núi phi laọ Ánh bụi vàng lướt qua cành lá thưa như những tia nhọn xiên tua tủa và chênh chếch xuống bãi cát màu nâu sạm.
Lúc đó là giờ anh em phườngg bạn đi mảng ra khơi thả lưới. Những cánh buồm phất phới gần xa như bươm bướm là là bay lượn từngg đàn trê mặt nước. Vọi chợt nhớ đến công việc của mình liền bảo Hiền:
- Cô lên mảng tôi đưa về để tôi còn đi nghề.
Hiền quay lại mỉm cười đáp:
- Không, hôm nay anh nghỉ đi nghề.
Vọi xua tay kêu lên:
- Thưa cô, không được đâu! Không đi nghề thì lấy gì nuôi mẹ, nuôi em?
Giọng ngây thơ và câu nói văn vẻ như lời ca dao làm Hiền không nhịn được cười. Nàng hỏi:
- Mỗi lần đi nghề anh kiếm được bao nhiêu.
- Thưa cô, cũng tùy! Có khi hai, bao hào; cũng có khi một hai đồng không biết chừng.
- Vậy tôi trả công cho anh một đồng.
Vọi ngớ ngẩn:
- Thưa cô, công gì cơ? Tiền thuê mảng thì mọi hôm cô vẫn trả hai hào! Như thế đã nhiều rồi!
- Nghĩa là tôi trả anh một đồng để anh coi như đi đánh cá và kiếm được số tiền ấy.
Vọi chau mày ngẫm nghĩ, lững thững theo cô thiếu nữ. Qua bãi cát, hai người đi vào một khu ruộng nhỏ rộng độ vài mẫu... Mạ mọc thưa, úa vàng, gầy yếu vì bị cát khô và nước mặn làm cho không tươi tốt lên được.
Ở một góc ruộng, ngay chân núi Đường Trèo, nhà Vọi, một nếp nhà tre rợp lá gồi, ba gian hai chái, và một cái nhà ngang vừa thấp lụp sụp, vừa trống trải không cửa, không phên che đứng rụt rè bên cạnh mấy cây xoan khẳng kheo và những khóm chuối lá to bản màu xanh vàng. Chung quanh nhà và vườn, một cái giậu nứa đan thưa xiêu vẹo ngả nghiêng với sức nặng của dây bìm bìm đầy hoa tím.
Vừa đến cổng, Hiền kinh hãi lùi lại vì một con chó trắng đang nằm trên nền nhà chạy xô ra sủa. Vọi lên tiếng, tức thì con vật lại gần chủ phe phẩy đuôi.
- Không sợ, cô cứ đi.
Trên một cái sào dài bắt đầu từ cổng đến nhà ngang treo rũ những sợi lưới trông như hệt một cái màn thưa Nhật Bản che cửa sổ hay cửa buồng, Vọi lấy tay gạt lưới ra một bên để Hiền qua cổng.
Trong sân, dưới cái giá gác buồm để ngổn ngang nào mỏ neo, nào dây thừng, nào tre nứa dùng làm nẹ và lạt buộc mảng.
Bên cạnh giá, có hai người phụ- nữ đang ngồi thái khoai bằng một cái bào lớn. Thấy có khách lạ vào nhà, họ ngừng tay trông ra cổng. Vọi bước tới gần, lên tiếng:
- Mẹ ạ, cô Hiền đấy!
Vòi vui mừng đúng dậy chắp tay chào:
- Lạy cô ạ.
Còn người mẹ thì chạy đi lấy chiếu mới trải lên giường mời Hiền ngồi.
- Được, để mặc tôi. Bà cứ tự nhiên làm việc.
Trỏ vào Vòi, Hiền hỏi Vọi:
- Cô này là em anh?
Bà Bật, mẹ Vọi nhanh nhẩu đỡ lời:
- Thưa cô vâng, cháu Vòi đấy. Hôm nọ nhờ ơn cô cho mấy viên thuốc, nó uống khỏi bệnh liền. Tôi vẫn định cho cháu đến tạ ơn cô mà cháu nó khó bảo quá! Nay cô lại đến chơi...
Hiền nghĩ thầm:
- “Chắc anh Vọi nói chuyện mình với mẹ và em nhiều lắm nên bà cụ vừa nghe tên mình đã hiểu ngaỵ”.
Quả thật Hiền đã đoán đúng. Bà Bật nói liên tiếp không để cho Hiền có cơ hội lên tiếng.
- Cháu Vọi vẫn khen cô tốt bụng tử tế chứ không như các cô khác khinh rẻ bọn đi nghề nghèo nàn. Thật là quý hóa quá! Thế nào rồi Trời Phật cũng phù hộ cho cô sau này lấy được chồng quan sang, giàu có, con cái đầy dàn.
Hiền phá lên cười, còn Vọi thì chau mày và bẽn lẽn nhìn mẹ như ngụ ý bảo im đị Nhưng bà Bật chỉ để ý đến lời nói của mình mà thôị
- Thuốc của cô hay quá nhỉ! Nếu cô có mang theo thì xin cô cho dăm viên nữa mà để dành.
Vọi cười bảo mẹ:
- Cô Hiền mới đi tắm về, mang thuốc thì đựng vào đâu!
Lúc bấy giờ bà Bật mới để ý ngắm kỹ Hiền:
- Ồ, cái áo bông của cô đẹp quá. Cô mua bao nhiêu tiền thế?
Hiền đáp:
- Tôi cũng không nhớ rõ lắm, nhưng độ hơn chục thôi.
Cặp mắt bà Bật trợn lên, miệng thì há hốc:
- Trời ơi! Hơn chục bạc! Thế còn bộ áo tắm bao nhiêu nữa.
- Bảy đồng.
- Thế thì tất cả dễn thường đến hơn hai chục! Hơn hai chục, cái vốn đi nghề đấy.
Trong bụng bà Bật tấm tắc khen:
- “Giàu! Giàu thật! Một bộ áo tắm bằng cả vốn đi nghề!
Và hai tiếng 'đi nghề' lại khiến bà ta nhớ đến công việc của đứa con trai mình.
- Ô này! Vọi! Sao mày không đi nghề?
Vọi buồn rầu đưa mắt nhìn Hiền. Nàng hiểu ý bèn nói với bà Bật:
- Tôi thuê anh Vọi đi chở mảng cho tôi đấy mà.
Nghe cô thiếu nữ nhà giàu nói tiếng 'thuê', người góa phụ nghĩ ngay đến 'tiền' nhưng còn vờ vĩnh nói:
- Cô muốn đi chơi thì bảo cháu nó chở mảng chứ việc gì phải 'thuê'.
- Ai lại thế! Mất một ngày công của anh ấy chứ phải chơi! Tôi phải trả tiền thuê sòng phẳng mới thấy yên tâm.
Vẻ mặt bà Bật như vẫn có gì lo lắng vì chẳng biết món tiền "cô gái nhà giàu" kia trả cho là bao nhiêu mà con mình phải bỏ phí cả một buổi đi nghề để đưa cô ta đi chơi. Chừng Vọi cũng đoán được ý nghĩ của mẹ nên lại gần ghé ta thì thầm:
- Cô ấy hứa trả con một đồng bạc tiền công.
Bà Bật nghe nói không dằn được kêu lên:
- Một đồng bạc!
Quay sang 'cô khách quý', bà ta ra vẻ săn đón thật 'kỹ lưỡng':
- Rước cô vào ngồi chơi tạm trên giường.
Nhưng Hiền thoáng hiểu và lấy làm khó chịu với 'cái lòng tử tế' của bà Bật, mẹ Vọi.
- Thôi, tôi về thay quần áo không lạnh. Áo khoác của tôi ướt cả rồi!
Quay sang Vọi, nành bảo”
- Anh đưa tôi về thôi.
Trông theo bóng hai người đi ra cổng, Vòi nhìn mẹ láu lỉnh mỉm cười...
Chương 15
Ra đến ngoài ruộng, Hiền bỗng đổi ý, muốn theo đường núi trở về nhà. Vọi tuy khuyên nàng nên đi đường biển cho chóng kẻo về trễ "bà cậu" chờ cơm. Nhưng chàng lấy làm sung sướng vì được ở bên cạnh nàng lâu thêm một chút. Nỗi sung sướng ấy cẳng một lần nào Vọi nghĩ đến và tìm hiểu xem cỗi rễ từ đâu. Chàng chỉ biết rằng hôm nào không gặp cô thiếu nữ 'có lòng tốt' thì chàng buồn rầu chẳng còn thiết làm gì. Ngày ngày chàng đánh rút bên kia làn nước, mắt lơ đễnh, tay chân rời rạc, tâm thần bâng khuâng. Nhưng nếu cô Hiền chỉ đi qua một lượt và nhìn chàng khẽ gật một cái là đủ khiến chàng trở nên vui vẻ làm việc nhanh nhẹn.
Có một buổi trưa Vọi đứng ủ rũ hàng giờ dưới bóng phi lao để chờ đợi. Hễ gặp Hiền ra tắm là chàng mãn nguyện trở về nhà chẳng ao ước gì hơn nữa, và cũng chẳng cần biết rằng Hiền có trông thấy mình không.
Đó có lẽ không phải là ái tình, và Vọi hình như chẳng hiểu ái tình là gì. Vả lại, anh chàng đánh cá nào dám mơ màng đến cô thiếu nữ giàu sang có bộ áo tắm đáng giá bằng cả một cơ nghiệp dân chài! Nhưng đó là cảm tình. Vọi cảm vì tấm lòng tử tế của Hiền. Chàng không bao giờ tưởng tượng một cô con gái cao quý lại dễ dãi, tự hạ mình đoái nghĩ đến đám dân nghèo như thế.
- Anh nghĩ gì thế anh Vọi.
Vọi kinh ngạc giật mình, ngỡ là Hiền đoán biết được tư tưởng của mình.
- Thưa cô, không...
- Cái Vòi, em anh trông mặt lanh lợi lắm nhỉ?
- Thưa cô, nó láu lỉnh lắm kia đấỵ Mẹ tôi thấy cô tốt bụng thương kẻ nghèo nên cứ bảo tôi đưa nó đến hầu bà với cô.
Lúc nãy Hiền thất vọng về cử chỉ của bà Bật khi nghe con nói cho biết rằng nàng sắp trả công cho một đồng bạc. Giờ nghe Vọi nói vậy, nàng cũng thất vọng không kém! Nàng vẫn yên chí rằng người nhà quê yêu cảnh nhà quê, yêu nghề của họ. Ai ngờ họ chỉ ao ước một cảnh khác. Nàng nghĩ thầm:
- “Đang theo một nghề tự do, tuy không giàu nhưng đủ ăn sao lại mong con mình 'được' hầu hạ kẻ khác?”.
Nàng lại nghe Vọi nói tiếp:
- Tôi bảo mẹ tôi rằng tôi còn kiếm đủ tiền nuôi được cả nhà thì can chi phải cho em đi ở? Nhưng mẹ tôi không yêu nó đâu, vì nó cứ ốm luôn nên chỉ muốn tống cổ nó đi thôị Tôi thì thương nó lắm. Cô tính, thầy tôi mất đi, chúng tôi chỉ có hai anh em.
Hiền cảm động, nhìn Vọi khen thầm rồi nói:
- Anh nghĩ thế là phảị Có một nghề trong tay vẫn được tự do sung sướng. Dù giàu hay nghèo cũng vậỵ Đi ở làm gì?
Bấy giờ hai người đã trèo hết con đường dốc bên cái miếu con. Hiền đứng lại nhìn xuống xóm Sơn ẩn khuất trong những bụi tre, khóm chuối. Đàng xa sau rặng phi lao, trăng mười bốn lấp ló trong đám lá thưa chiếu xuống mặt biển lăn tăn gợn sóng.
Hiền nhìn Vọi bằng cặp mắt mơ mộng, nói:
- Anh chọn đúng chỗ. Ở đây phong cảnh đẹp lắm!
Vọi đã bắt đầu mạnh dạn, đã dám 'bàn' với cô thiếu nữ tên Hiền này những vấn đề ngoài chuyện làm ăn.
- Thưa cô, có gì mà cô khen đẹp?
Hiền mỉm cười:
- Anh không thấy đẹp? Có lẽ vì anh nhìn mãi nhàm mắt rồi! Tôi tưởng những đêm trăng tròn khi ăn cơm chiều xong lên ngồi đây nói chuyện thì còn gì thú bằng? Tiếng sóng rạt rào không ngớt làm cho lời mình nói có ý nghĩa thầm kín... Những ngọn phi lao nghiêng theo chiều gió như khúc khích cười cố lắng tai nghe. Đàng xa, làn nước trắng xóa dưới ánh trăng vàng như nụ cười bất tuyệt của một giai nhân...
Hiền bỗng ngừng lại phá lên cườị Quang cảnh êm đềm làm cho nàng thốt ra những lời văn quá lãng mạn ở trước mặt một anh dân chài chất phác. Nàng lại ậm ừ hỏi:
- Anh có hay ngồi đây ngắm trăng lên không?
- Thưa cô, có. Nhưng đó là ngày còn bé thôi chứ bây giờ tôi chả lúc nào rỗi. Đêm có trăng là nhữn đêm phải làm việc nhiều. Kìa cô coi! Mảng đi thả lưới đầy như lá trẹ Đáng lẽ ra phải ngồi trên mảng rồi.
- Vậy ra tôi làm anh mất một buổi đi nghề! Anh có tiếc không?
Vọi không đáp, vơ vẩn nhìn theo những cánh buồm nâu ngoài biển. Thật ra, không những Vọi không tiếc mà còn ao ước thỉnh thoảng được nói chuyện với Hiền ở nơi vắng vẻ như hôm nay. Nghe những lời dịu dàng thanh tú của nàng, Vọi có những cảm giác mới lạ. Đó là sự sung sướng bồng bột trong lòng làm máu nóng đưa lên mặt nóng bừng hai má.
Sự yên lặng có sức huyền bí làm cho Hiền rùng mình:
- Thôi, đi về kẻo trễ anh Vọi ạ.
Nhưng khi đến hòn Trống Mái, Hiền không thể không leo lên được. Nàng đứng thẳn người, hai tay cầm dang hai đầu vạt áo khoác cho gió thổi bay phất phới đập vào tảng đá rêu mờ xanh. Theo cái ngách trống hổng ở giữa hai sườn đá, luồn gió đều và mạnh. Hiền thở khoan khoái và cảm thấy các thớ thịt như đang hô hấp, sinh sôi nảy nở thêm ra.
Thấy Vọi lững thững đi đi lại lại dưới đồi, Hiền vẫy gọi:
- Anh Vọi!
- Chuyện gì, thưa cô?
- Lên đây chứ!
Vọi ngước mắt nhìn Hiền, dáng ngần ngừ:
- Nhưng cô về thôi... kẻo tối.
- Đã có trăng! Thì anh cứ lên đây một tí đã nào.
Vọi cười vơ vẩn:
- Vâng, thì lên.
Mặt trời đã lặn hẳn. Phía tây, đám mây tím mỗi lúc một trở nên xanh đen. Phía đông, trăng mọc đã cao. Bóng hai người song song nnằm dài trên bệ đá. Hiền ngắm nghía hàng lỗ nhỏ ở dưới gầm tảng đá bảo Vọi:
- Nước chảy đá mòn, thật đúng. Anh trông những giọt nước mưa khoét đá trũng xuống thành một hàng lỗ.
Vọi cười:
- Thưa cô, không phải nước mưa khoét đâu, chính tôi đục nó, đục để đánh ô. Cô coi, hai mươi lỗ đều đặn là hai mươi cửa.
- À, ra thế. Ừ mà cũng có lý, nếu nước mưa đục thì sao chỗ khác không có nhỉ?
- Vâng, chính thế. Giá còn sớm thì tôi dạy cô đánh ô. Nhưng tối mất rồi, cô về thôi.
- Anh sợ ma.
Vọi yên lặng, quay nhìn vào vách đá. Thực ra, Vọi chỉ sợ Hiền, sợ đến nỗi không bao giờ dám trái ý nàng.
- Thưa cô, người ta cứ vẽ thế kia để làm gì?
Vừa nói Vọi vừa trỏ tảng đá đầy những tên viết tắt hay viết đủ chữ, hoặc bằng sơn trắng, sơn xanh, hoặc dùng thỏi sắt nhọn đục sâu vào đá. Hiền nhoẻn hàm răng trắng đáp lại:
- Đó là người ta ký tên để giữ kỷ niệm. Một cặp tình nhân chẳng hạn đến đây chơi rồi khắc tên vào đó, ý mong muốn cho ái tình của hai người lâu bền với vạn vật.
Mỗi khi Hiền nói giọng văn hoa quá thì nàng lại không nhịn được cười vì nàng chợt hiểu và nghĩ thầm:
- “Ai lại đi nói những câu ấy với anh Vọi”.
Chương 16
Hiền và Vọi vừa ở hòn Trống Mái bước xuống thì đàng trước mặt có người đi tới, đi rất mau, hầu như chạy. Quen nhìn xa, Vọi trông thấy trước liền bảo Hiền:
- Thưa cô, hình như ông gì... vẫn đi với cô.
- Ông gì?
Hiền dừng lại, mắt lim dim cố nhận xem ai.
- Á! Phải rồi! Anh Lưu!
- Vâng, ông Lưu.
Vọi vẫn nhớ tên 'ông bạn' của Hiền nhưng vì không ưa cái tính kiêu hãnh của Lưu nên không muốn đọc tên ra. Những lần thấy Lưu đi bên cạnh Hiến buông câu bông đùa lơi lả, Vọi không tránh khỏi chau mày. Nhưng vốn ôm sẵn mặc cảm của thân phận 'kém hèn' nên hễ Lưu hỏi chuyện thì bao giờ chàng cũng ôn tồn lễ phép đáp lạị Biết Lưu sinh trưởng ở nơi quyền quý, chàng vẫn không vì Lưu mà ghét lây tất cả những người giàu sang, nhất là trong đám giàu sang ấy lại có 'cô Hiền', người mà chàng cho là đáng quý, đáng trọng hơn bất cứ ai ở trên đời.
Trong khi Vọi suy nghĩ lẩn thẩn thì Lưu đã tiến đến gần. Chẳng kịp chào hỏi Hiền một câu, chàng ta đã cau có, vừa thở vừa gắt như trách mắng:
- Bà đang tìm cô. Cô đi đâu mà gần tối chưa về?
Hiền cười khinh khỉnh:
- Ô hay! Anh làm như là anh ruột tôi không bằng!
Lưu cười gượng:
- Xin lỗi chị. Bà sốt ruột vì đi khắp cả bãi biển không thấy chị đâu nên bảo tôi tìm hộ. Tôi nói có lẽ chị đi chơi mảng thì bà càng sợ hãi. Nhưng về sau, tôi đoán chắc chị lên hòn Trống Mái thì... quả nhiên!
Lưu quay lại, tức tối nhìn Vọi trừng trừng như muốn tặng cho anh chàng đánh cá mấy cái tát. Vọi bẽn lẽn cúi mặt. Cử chỉ ấy càng làm cho Lưu thêm ngờ vực rằng chàng ta thầm yêu Hiền. Lưu cố trầm tĩnh, nhưng cặp mắt ướt và đỏ ngầu của chàng như ném những tia lửa vào Hiền và Vọi:
- Chị táo bạo quá! Liều lĩnh quá!
- Ô hay! Có gì là táo bạo và liều lĩnh? Tắm xong đi dạo mát một lúc mà anh bảo là táo bạo và liều lĩnh thì anh quả thật là lạ lùng!
Hiền không chút bối rối, sung sướng đứng ngắm nghía, so sánh hai ngườị Một người nét mặt rất là vô tư, không có một ý nghĩ xa xôi gì. Còn một người thì nóng nảy, mong đạt được mục đích của mình, tức tối ghen tuông. Nàng mỉm cười nói một mình:
- Sóng biển và bãi cát!
- Chị bảo gì thế?
- Không! Đi về thôi!
Vọi hiểu rằng mình là thừa liền chắp tay chào, miệng nói lí nhí chẳng ra câụ Hiền gọi giật lại:
- Không, anh phải đưa tôi về chứ!
- Thưa đã có ông...
- Ông Lưu à? Ông Lưu khi nào lại thèm đưa tôi. Tôi thuê anh kia mà!
Lưu lãnh đạm, thọc hai tay vào túi quần, bĩu môi khinh bỉ nhìn trờị Rồi chừng muốn 'cho anh dân chài một bài học' hay để dọa nạt anh ta. Lưu thong thả bảo Hiền:
- Hôm qua ở bãi biển xảy ra một chuyện buồn cười lắm, chị có biết không?
Hiền uể oải đáp:
- Không.
- Một anh đánh cá chả biết đùa bỡn gì một người vú em bị bà chủ người Pháp bảo chồng bà choảng cho một trận nên thân.
Hiền hỏi:
- Lúc bấy giờ anh có đấy.
- Có.
- Vậy thì anh chẳng 'hảo hán' một tí nào!
- Chị bảo tôi làm gì được?
- Không làm gì được? Chẳng lẽ anh không biết can ngăn, để họ bức hiếp kẻ yếu hay sao.
Lưu cười:
- Nào người ta có yếủ Với lại cũng đáng kiếp! Ai bảo chơi trèo!
Hiền nhìn Lưu nói bằng một giọng khinh khỉnh:
- Đùa bỡn một cô vú đầm mà anh bảo là chơi trèo. Thật anh chẳng biết tự trọng! Đúng là đầu óc 'nô lệ'!
Lưu hiểu rằng câu chuyện đã đi hơi xa nên vờ cười đánh trống lảng. Vọi một lần nữa lại tỏ ý từ tạ ra về.
- Không! Anh phải đến nnhà tôi để tôi lấy tiền trả anh.
- Mai cô cho cũng được.
- Không! Tôi không ưng thế! Anh phải đưa tôi về đến tận nhà.
Thật ra Hiền sợ phải đi một mình với Lưu trên con đường hẻo lánh. Nàng tuy có tính hay đùa nghịch táo bạo nhưng chẳng khi nào quên việc để cao cảnh giác. Nhưng rồi nàng lại chợt nghĩ:
- “Sao đối với Vọi ta không nghĩ đến chuyện giữ gìn như đối với Lưu hay hạng người như Lưu”.
Lưu yên lặng đi bên cạnh Hiền. Chàng đã định bụng không nói một câu, nhưng thấy Hiền luôn luôn hỏi anh đánh cá những điều mà chỉ hai người hiểu với nhau thì chàng lại mất hết cả bình tĩnh. Lưu bất chợt cố ý hỏi Vọi để phá ngang câu chuyện của hai người:
- À, anh Vọi! Cái người bị tù năm ngoái đã được tha chưa.
- Người nào thế, thưa ông Lưu.
- Một người đánh cá trêu ghẹo... một người đầm.
Lưu tưởng thế là đã làm mất thể diện Vọi ở trước mặt Hiền ai ngờ Hiền lại hồn nhiên phá lên cười:
- Chưa biết ai trêu ghẹo ai! Tôi chẳng tin rằng một anh đánh cá lại có thể đi trêu ghẹo một 'người đàn bà Âu Châu.
Vọi cũng cười vì không hiểu được ý định thâm hiểm độc địa của Lưu...
Chương 17
Hiền vừa thì thầm hát, vừa sửa sang những bông hoa hồng, hoa tử vi trong các bình thủy tinh màu ám khói. Nàng quay lại hỏi mẹ:
- Mẹ ngắm xem có đẹp không?
- Đẹp lắm!
Bà Hậu âu yếm đăm đăm nhìn con mỉm cười như cố tìm hiểu ý nghĩ của một cô thiếu nữ 'đến thì'.
Buổi sáng, Hiền đã ngỏ lời xin phép mời các bạn đến dự tiệc trà vào lúc năm giờ và nghe nàng kéo violon (vĩ cầm). Bà Hậu bằng lòng ngay. Bà cho rằng con gái thời nay cần phải quảng giao để kén chọn lấy người chồng xứng đáng. Thấy con gái đã 20 mà chưa ưng một ai, bà cũng hơi sốt ruột, lo lắng. Vì thế, ở Hà Nội bà thường vẫn thường hay mở tiệc thết bạn bè của con, cả trai lẫn gái. Trong số đến dự tiệc cố nhiên ó đầy đủ sinh viên các trường Luật Khoa, trường Y Khoạ..., những người năng lui tới với mẹ con bà. Những buổi tiệc ấy có khi trở thành những cuộc hội họp nói về văn chương, khoa học trong một phòng khách thính. Ai nấy thi nhau trổ tài để làm rung động những cặp mắt đen và những quả tim vàng.
- Con đã gửi thiệp mời rồi đấy chứ?
- Thưa mẹ, rồi ạ.
- Con mời những ai.
- Thưa mẹ, con mời hết thảy những ngươi thường đến nhà mình. Tất cả độ chừng chín, mười người thôi.
- Có Lưu, Thiện, Thanh chứ?
Hiền mỉm cười tinh ranh:
- Lẽ cố nhiên phải có Lưu, Thiện, Thanh.
Rồi nhận thấy mình có vẻ hơi 'hỗn' xược với mẹ, Hiền bèn nói chữa:
- Thưa mẹ, ở Sầm Sơn này chẳng mời các anh ấy thì còn mời ai. Có bao nhiêu người mời được, con đều mời cả. Thế là hay hơn hết, mẹ nhỉ?
Lúc ấy có tiếng chuông ở cổng. Hiền bèn chạy ra.
- Anh Lưu! Chào anh! Anh vẫn được mạnh?
- Cám ơn chị. Còn chị, 'ngọc thể' vẫn được an khang chứ?
Hiền cười đáp:
- Cám ơn anh. 'Ngọc thể' tôi vẫn được như thường.
Lưu vào phòng khách chào bà Hậu. Bà ta vui vẻ bảo chàng:
- Ông Lưu đến trước nhất, chắc hôm nay may mắn lắm.
Lưu cũng cười:
- Thưa cụ, thánh nhân đã dạy: 'ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau!
Hiền nghe nói lẩm bẩm:
- Nhạt!
Lưu đoán nghe được lời bình phẩm của Hiền, cười bảo nàng:
- Vâng, kể cũng hơi nhạt.
Rồi chàng ngồi yên lặng ngắm bình hoa đặt trên cái bàn thấp phủ khăn ren. Thấy Lưu nét mặt có vẻ hơi giận, bà Hậu khéo léo tìm cách gợi chuyện để có dịp 'tán tụng' chàng; nào hỏi đến việc học, đến các kỳ thi rồi lân la đến nhà cửa, gia đình cha mẹ, anh em chàng. Lưu tập tễnh mừng thầm vì chàng biết rằng khi nào các bà mẹ có con gái kén chồng mà nói với mình những câu chuyện thân mật như thế là tất có ý chọn mình vào chỗ 'đồng sàng'. Vì thế, chàng giở hết tài ngôn luận ra khoe khoang một cách kín đáo nhún nhường:
- Thưa cụ, con học đã có gì. Được đỗ đầu kỳ thi lên lớp cũng là may.
Bà Hậu toan nâng câu khiêm tốn của Lưu lên thì Hiền đã đỡ lời:
- Thưa mẹ, anh Lưu nói thật đấy.
Thấy mẹ lườm có ý thầm trách cái tính ngỗ ngịch vô lễ của mình, Hiền nói chữa:
- Vì so với các luật sư, tiến sĩ, thạc sĩ thì học lực của anh Lưu kể cũng chưa có gì thật. Nhưng người ta sao thì rồi mình cũng thế phải không, thưa anh!
Biết rằng một làn không khí lạnh lẽo đang phảng phất trong phòng, Hiền tươi cười đánh trống lảng vì cũng như các cô thiếu nữ có học, nàng rất tài về khoa nói chuyện.
- Anh Lưu ạ, thạc sĩ nghĩa là cái quái gì nhỉ!
- Vâng, tôi cũng tưởng vậy. Sao không dùng chữ giáo sư chuyên môn có giản dị hơn không?.
Chương 18
Nửa giờ sau khách đến đông đủ. Bà Hậu vịn cớ có người mời đi đánh tổ tôm nên đã ra đi, để lại trong phòng một bọn thanh niên nam nữ. Chẳng qua bà Hậu muốn cho họ được tự do nói chuyện chứ không phải giữ kẻ vì có một phụ huynh lớn tuổi.
Đồng hồ treo điểm 5 giờ 15. Ai nấy đưa mắt nhìn quanh một vòng như để thầm bảo nhau rằng đã đông đủ mà sao chưa có ai bưng nước, bưng bánh ngọt ra. Chừng chủ nhân cũng hiểu ý nghĩ của cái nhìn yên lặng ấy nên tươi cười nói:
- Mong các anh các hị tha cho sự chậm trễ và xin làm ơn 'du dí cho 10 phút nữa vì còn thiếu một anh.
Mọi người lại nhao lên:
- Thiếu ai thế chị?
- Một nhà thi sĩ, một nhà ẩn sĩ.
Một cô bạn của Hiền tên Phụng lên giọng khôi hài:
- Vị chi là 'hai nhà'.
- Không, nghĩa là thi sĩ kiêm ẩn sĩ.
Thanh vẫn có thơ đăng trên các báo, muốn khoe, tỏ cho mọi người biết rằng mình là thi sĩ:
- Thưa cô, không phải thi sĩ nào cũng là ẩn sĩ.
Hiền mỉm một nụ cười 'thông minh':
- Thưa anh, tôi có dám nói anh đâu, vì tôi biết anh là một thi sĩ của các cô thiếu nữ; một nhà thi sĩ của thế tục, một phù hoa thi sĩ; nghĩa là 'un poète mondain'. Còn nhà thi sĩ của tôi tầm thường, bình dị hơn.
Nghe Hiền nói, ai nấy đều phá lên cười:
- Sao mà chị Hiền lắm chữ thế?
Giữa lúc ấy, một người nhà quê đi chân không, đầu chụp cái khăn lượt cũ, mình mặc chiếc áo lương dài rụt rè tiến vào phòng, ngơ ngác sợ hãi nhìn quanh. Hiền đang đứng rót trà nên không trông thấy, chỉ nghe tiếng Thanh nói:
- 'Bác' kia hỏi gì?
Quay lại nhìn thấy Vọi, nàng reo lên:
- Kìa anh Vọi! Sao hôm nay anh nho nhã thế?
Vọi bẽn lẽn cười gượng:
- Thưa cô bảo tôi đến có việc gì thế ạ?
- Chả có việc gì cả. Chỉ là mời anh đến xơi chén nước, nghe âm nhạc và sau hết bàn luận về văn thơ.
Sự lãnh đạm thổi qua tâm hồn làm cho đám thanh niên đang vui vẻ nô đùa bỗng trở nên ủ rũ buồn rầu, ngồi yên lặng trước những chén nước trà mạn khói ngát hương sen.
- Kìa, mời anh Vọi ngồi chơi.
- Thưa cô, tôi không dám.
- Không dám cái gì? Ở đây toàn là anh em, chị em thân đấy mà!
Vừa nói, Hiền vừa đặt hai tay lên vai Vọi ấn chàng ngồi xuống ghế. Tự dưng không ai bảo ai, cử tọa đồng thanh phá lên cười vang phòng. Hình như có luồng điện huyền bí chạy chuyển đạt một ý định từ khối óc nọ sang khối óc kia. Chủ nhân nghiêm trang mời mọi người uống nước, nhưng ai nấy vẫn cười lớn, thành thử chính nàng cũng phải cười theo nốt.
Dịp cười dài có lẽ đã đuổi được sự lãnh đạm. Những câu chuyện vui vẻ đã trở lại trong gian phòng sáng sủa. Nhưng Vọi vẫn bẽn lẽn ngồi cúi mặt nhìn hai bàn chân lấm. Rồi khi thấy mọi người vừa cười vừa nói tiếng Pháp với nhau, chàng cho rằng người ta chế nhạo mình liền đứng xin về.
- Ấy, mời thi sĩ hãy 'ngồi chơi xơi nước' đã.
Vọi trân trân nhìn thẳng vào mặt Lưu không đáp. Hiền biết chàng căm tức lắm liền đến gần thì thầm một câu khiến chàng 'ngoan ngoãn' ngồi xuống. Lưu nói tiếng Pháp bảo mọi người:
- Con 'khỉ đột thuần thục' của cô Hiền.
Hiền cũng dùng tiếng Pháp cãi lại:
- 'Con khỉ đột' của tôi khỏe, đẹp hơn tất cả các anh!
- Nếu bàn về cái đẹp hình thức thì vô tận. Con chó bông của cô Thi còn đẹp hơn các cô thiếu nữ diễm lệ nhiều!
Biết rằng câu chuyện đã đi ra ngoài giới hạn của văn chương nhã nhặn, Hiền nhớ ngay đến địa vị của mình liền tươi cười bảo Lưu:
- Vâng, anh nói đúng. Tìm cái đẹp về hình thức thì biết nói sao cho hết! Nhưng thôi, xin mới các anh các chị nghĩ đến đĩa bánh ngọt nó đang ngáp dài chờ mọi người chiếu cố.
- Xin vâng.
Thanh vừa nhai bánh vừa nói:
- Anh... anh gì?
- Anh Vọị
- Anh Vọi ăn đi chứ! Sao lại ngồi thừ người ra thế?
- Chừng 'thi sĩ' làm thơ.
Tiếng cười lại vang lên. Lần thứ hai Vọi lại đứng dậy xin về. Hiền chau mày đưa mắt ra hiệu bảo ngồi xuống rồi bưng một chén nước đưa cho chàng.
- Anh uống chén nước xong ngồi nghe tôi kéo violon, kéo nhị tây nhé!
Mọi người ai nấy liền reo mừng:
- Phải đấy, chị Hiền kéo nhị tây!
Hiền không để nài đến hai lần, cầm đàn dạo qua mấy tiếnt rồi kéo luôn một bài theo điệu Tango: “Un Jour Loin de Toi”. (#1)
Một tràng vỗ tay trổi lên trong khi Vọi nhớn nhác trố mắt nhìn không hiểụ Lưu 'tán' một câu:
- Tài âm nhạc của chị Hiền đáng vào 'conservatoiré (#2). Nhưng chị vừa đàn vừa hát thì còn thú hơn.
Hiền mỉm cười, 'ngả đầú nói:
- Hân hạnh cho tôi lắm lắm...
Rồi nàng vừa cầm đàn dùng ngón tay cái gảy đoạn điệp điệu vừa ca:
Một ngày em xa anh là một ngày em buồn tênh
Như linh hồn muốn bay bổng trên đám mây mờ...
Một ngày em xa anh là một ngày em buồn tênh,
Ngồi một mình em thổn thức như anh đang chờ.
Này em còn nhớ những khi cùng ngồi
Dưới cây cùng nô, dưới trăng chuyện trò.
Thật một ngày em xa anh là một ngày em buồn tênh,
Tình yêu nhau không còn chi êm ái cho bằng...
Tiếng vỗ tay xen tiếng cười:
- Chị dịch ra quốc âm (#3) à?
- Không, bài dịch của ông Ein Tag Ohne.
- Tên gì mà dữ dội thế?
- Có lẽ một người Tàu.
Vọi lại đứng dậy. Đây là lần thứ ba chàng xin về. Thấy Vọi khổ sở như 'muốn khóc', Hiền không nỡ giữ nữa.
- Vậy anh về nhé. Bây giờ đã nghe đàn rồi thì về được.
Lưu nói đùa:
- Anh nên lấy phần vài cái bánh.
Vọi chào Hiền rồi cắm đầu cắm cổ đi thẳng. Ra tới cổng, chàng còn nghe rõ tiếng cười mai mỉa vang lại. Trong đó có lẫn cả tiếng cười của Hiền. Vọi chau mày, lẩm bẩm nói một mình...
Chú thích:
(1-) Un Jour Loin de Toi: Một Ngày Xa Anh (Em)
(2-) Conservatoire: tương tự như trường quốc gia âm nhạc của chúng ta sau nàỵ
(3-) Quốc âm: ý nói là chữ quốc ngữ, tức là tiếng Việt ngày nay chúng ta dùng.
Chương 19
Vọi lững thững đi ra phía biển, đến ngồi ở một cái mảng nát, tay chống cằm, đăm đăm nhìn phương xa...
Những người tắm về đã gần hết, mà dân chài đều đã chở mảng đi thả lưới. Từng cánh buồm lấm chấm điểm trên nền trời xanh nhạt. Những nét đen động đậy khi ở gần bờ và đứng im tăm tắp khi ra ngoài khơi.
Vọi mơ màng, tưởng mình đang ngồi trên một trong những cái mảng ấy, và đang cùng anh em cùng nghề làm việc...
- Kìa, anh Vọi!
Vọi giật nẩy mình ngẩng đầu lên. Vợ Canh, người em họ Vọi đang mỉm cười đứng nhìn chàng.
- Anh không đi nghề?
- Không!
- Mà anh mặc quần áo chững chạc lắm nghỉ! Ý chừng anh đi ăn cỗ ở đâu về?
- Không!
Câu hỏi làm cho Vọi chau mày, khó chịu vì chàng lại nhớ tới bữa tiệc bánh ở nhà Hiền. Chàng nghĩ thầm:
- “Có lẽ họ đang cười đùa, cô Hiền đang kéo nhị tây. Mà chắc hẳn là họ đang chế diễu mình!”.
Vọi sau đó căm tức làu nhàu nguyền rủa. Người em dâu họ nghe không rõ nhưng cũng hỏi:
- Anh bảo gì cơ?
- Không!
Thấy Vọi có vẻ không được vui, và như chẳng có hứng nói chuyện, người em dâu họ khẽ chào một tiếng rồi đi thẳng.
Vọi ngồi cố lắng hết tinh thần, nghe xem tiếng đàn của Hiền có thoảng được đến tai không. Nhưng chàng chỉ nghe thấy tiếng sóng biển ầm ầm dữ dội. Cái vạt áo lương tuột cúc, bị gió thổi mạnh bay tạt ngang quấn vào cái nạng. Vọi cởi phắt ra khoác ở cánh tay rồi đứng dậy đi về.
Bỗng nhiên có tiếng cười ròn rã ở gần đấy. Lúc bấy giờ trời đã nhá nhem tối nên Vọi không trông rõ là aị Nhưng nghe những câu chuyện ồn ào theo gió bay tới, chàng cũng đoán được rằng đám người kia rất đông.
Vọi chỉ kịp chạy lại ẩn núp ở đàng lái cái mảng đặt gác lên trên chiếc chống cao. Gần mười người lũ lượt đi qua, tranh nhau cười nói huyên thiên. Vọi nhận rõ tiếng Hiền và tiếng Lưu. Chàng nghĩ thầm:
- “Chắc thế nào họ cũng nói chuyện mình!”.
Chàng đã toan gọi Hiền, nhưng lại sợ hãi rụt rè không dám. Rồi chờ đoàn người đi khuất, chàng rẽ đường về nhà...
Chương 20
Hơn một giờ sau, Hiền cùng bạn bè vẫ còn đi chơi ngoài bãi biển. Trời đã tối hẳn vì là một đêm hạ tuần, và mãi đến chín, mười giờ trăng mới mọc. Rặng đèn điện trên đường cao chiếu ánh xuống những đợt sóng thành những hình trạng rất lạ lùng... Có lúc trông giống một cái tầu bằng kim cương chạy ngang một quãng dài theo ven bờ rồi vụt biến vào trong đêm tối, chìm lắng xuống đáy biển... Có lúc trông giống như một đàn quái vật vẩy dát lân tinh. Chúng gầm thét đuổi nhau, nuốt nhau, biến đi hiện ra mãi mãi không cùng.
Hiền lặng lẽ ngắm cái hiện tượng biến cải trong giây lát mà tưởng như đứng trước một cảnh mộng ảo thần tiên. Bên tai nàng, Lưu thì thầm bài “Un Jour Loin de Toi”.
“Một ngày em xa anh là một ngày em buồn tênh...”
Với cái nghĩa lãng mạn của câu ca, bao nhiêu thi vị của cảnh sóng biển ban đêm càng tăng lên. Hiền ngây ngất mê man, sung sướng cất tiếng hát một bài ca Pháp. Giọng nàng cao và trong. Tiếng sóng trầm và đục như tiếng cây hồ lớn gẩy chen nhịp hát. Dứt lời ca, tiếng ngân còn như kéo dài qua những tiếng vỗ tay.
Cặp đèn ô tô (xe hơi) từ trên đường cao chiếu ánh sáng xuống biển làm cho những lớp sóng vụt hiện rõ ra như lúc ban ngày, và trong một giây làm mất hết cái hình ảnh huyền diệu... Hiền cũng vụt tỉnh giấc mộng yêu đương, lắng tai nghe mấy người bạn bình phẩm về bản chất ngây thơ, đần độn của Vọi. Nàng chỉ mỉm cườị..
Bây giờ có lẽ đã gần chín giờ vì đèn khách sạn đã tắt. Mọi người chia tay, ai về nhà nấy. Lưu bảo Hiền:
- Tôi xin đưa cô về.
- Cám ơn anh. Kể thì tôi đi một mình cũng chẳng ai bắt nạt nổi. Nhưng anh đã có lòng tốt muốn hộ vệ, tôi quả không dám từ chối.
Đi được một quãng, Lưu ngập ngừng nói:
- Thưa cô...
Hiền nghe chữ 'cô' đã hơi lạ tai vì lâu nay Lưu chỉ kêu nàng là 'chị'. Nhưng lần này nàng chẳng hiểu sao không những nàng không muốn cự lại mà còn nhận ra rằng tiếng 'cô' dịu dàng êm ái hơn tiếng 'chị'.
- Anh bảo gì?
- Thưa cô...
Lưu định tìm những lời âu yếm kín đáo để gợi tình yêu trong lòng cô thiếu nữ nhưng đột nhiên luống cuống, chẳng biết bắt đầu ra sao.
- Cô ở Sầm Sơn lâu ngày đã thấy chán chưa.
- Thưa anh, chán thì chưa chán. Nhưng cũng sắp phải về Hà Nội thôi!
Lưu có vẻ hốt hoảng:
- Cô sắp về Hà Nội.
- Vâng, tôi sắp về Hà Nội. Nghĩa là mẹ tôi muốn về.
- Để cụ về. Cô ở ngoài này một mình cũng được chứ gì?
Biết rằng mình vừa nói một câu vô lý, Lưu bèn gượng cười nói tiếp luôn:
- Nhưng chắc cụ chẳng cho phép!
Hiền vẫn lặng thinh nhìn những đợt sóng trắng xóa xô nhau trên mặt biển tối đen.
- Cô về thì Sầm Sơn vắng ngắt buồn tênh.
Hiền bật cười hát:
“Một ngày em xa anh là một ngày em buồn tênh...”
Lưu đang hí hửng mừng thầm, đi sát vào người Hiền thì Hiền lại nói:
- Sao mà chữ 'buồn tênh' nghe nó ngớ ngẩn buồn tẻ thế? Nó cũng buồn tẻ như như ý nghĩ của anh. Vâng, sao vắng mặt em Sầm Sơn lại buồn tênh được?
Lưu không để ý đến câu nói của Hiền. Chàng chỉ nhận thấy chữ 'em' lần đầu thốt ra từ miệng người mình yêu, nghe thấm thía đến tận tâm hồn khiến chàng yên lặng một lúc lâu, mơ màng sung sướng...
Bỗng Hiền trỏ tay bảo Lưu:
- Kìa anh trông, đẹp không?
Một đám mây đen viền vàng chói giải ngang trên làn nước, chiếu lên mặt biển một vết dài ánh sáng lăn tăn chạy thẳng từ chân trời.
Hai người dừng bước đứng chờ xem trăng lên. Nhưng Hiền vừa quay lại hỏi Lưu một câu thì một cảm giác là lạ làm cho nàng rùng mình ngoảnh lại trông... Trăng nửa vành đã ló trên đám mây cao hơn mặt biển đến một sảị Ánh sáng hình như chạy lan rộng mãi ra và vẽ một vạch vàng bóng từ đầu nọ đến đầu kia làn nước, ở nơi trời biển gặp nhau...
Hiền liếc mắt nhìn Lưu, cảm thấy Lưu đẹp trai lên bội phần và đang mỉm cười âu yếm nhìn mình.
Sự yên lặng làm cho nàng sợ hãi và vội tìm câu nói để khỏi nghĩ liên miên:
- Anh Lưu ạ, đã nhiều lần tôi chờ xem trăng lên, mà chưa lần nào tôi trông thấy trăng đang lúc mọc. Thấy ánh sáng tỏa ra rồi vụt một cái, chẳng biết từ đâu nhảy vọt lên, trăng đã cách mặt nước đến mấy thước.
Lưu cười, nịnh khéo một câu:
- Văn sĩ tả cảnh trăng mọc đúng lắm. Nhưng văn sĩ chỉ quên một điều là ban đêm ở chân trời thường có mây. Trăng phải vượt qua đám mây, vì thế lúc ta trông thấy thì đã lên caọ Chỉ có thế!
Hiền suy nghĩ giây lâu rồi mới nói:
- Có lẽ thế. Nhưng tôi đâu phải là văn sĩ đâu, anh đừng quờ quạng, dại dột. A anh Lưu, anh có biết vì sao tôi gọi anh Vọi là thi sĩ không?
Nghe Hiền nhắc đến tên Vọi, Lưu sa sầm nét mặt, lạnh lùng đáp:
- Thưa cô, không.
- Bữa nọ cũng cảnh sáng trăng, nhưng trăng tròng kiạ Anh ấy bảo tôi rằng bàn chân đặt trên cát ướt như in xuống đấy những vết dát bạc sáng loáng.
Rồi nàng vừa bước vừa nói:
- Đây này, anh coi có đúng thế không? Thật là: 'gót vàng lững thững'... lững thững gì nữa nhỉ?
Lưu đọc tiếp:
- Bên làn nước... trong.
Hiền cười:
- Trong thì cũng chẳng trong gì!
Thấy Hiền rẽ vào phố, Lưu hỏi:
- Cô về?
- Anh chóng quên nhỉ? Anh hứa đưa tôi về nhà kia mà!
- Nhưng đêm trăng đẹp lắm, về làm gì vội.
- Khuya lắm rồi, phải về chứ.
Hiền rảo bước. Từ nãy Lưu vẫn theo đuổi một ý nghĩ. Chàng muốn biết Hiền có năng đi chơi ngắm trăng với Vọi không, và nàng đi một mình hay đi với mẹ. Khi lên đến đường, chàng đánh bạo hỏi:
- Cụ với cô thích ngắm cảnh trăng lên lắm phải không?
- Cũng chẳng thích lắm.
- Đêm hôm nọ tôi gặp cô đi với anh Vọi.
- Thế à?
- Hình như có cả cụ nữa thì phảị
- Hình như thế.
Đến cổng, Hiền giơ tay bắt tay Lưu:
- Cám ơn anh. Thôi, anh về nhé.
Tiếng bà Hậu ở trong nhà vọng ra:
- Hiền đã về đấy à?
-Thưa mẹ, vâng.
- Sao con đi chơi khuya thế? Ai đưa con về đấy.
- Thưa mẹ, anh Vọi đấy mẹ ạ.
Lưu nghe Hiền nói dối mẹ thì khấp khởi mừng thầm. Vì chàng chắc chắn rằng trong hai người chỉ mình là đáng kể, đáng sợ. Chàng có biết đâu rằng vì bà Hậu ngờ vực chàng ranh quái nên Hiền phải nói dối để mẹ yên lòng mà thôi chứ chẳng có ý gì khác.
Chương 21
Vòi đứng trước cổng nhà bà Hậu, ghé mắt nhìn qua hàng chấn song xem có ai qua lại trong sân để gọi, nhưng chờ mãi chẳng gặp một người nào. Mọi khi mang trứng, mang gà đến bán, Vòi chỉ việc rao: “Bà có mua trứng, mua gà không?” là cô Hiền ra mở cổng ngaỵ Lần này Vòi không bán chác nên do dự sợ hãi.
Hai, ba lần nó lản đi rồi lại quay đến chỗ cũ, vẻ mặt băn khoăn mong đợi. Cũng có lúc nó mỉm cười... Một nụ cười vơ vẩn nhưng rất có duyên, nhất là lúc đưa tay vuốt mái tóc đen hay cúi xuống kéo thẳng cái thắt lưng quan lục.
Năm nay Vòi 15 tuổi. Tuy phải làm việc nhiều quá sớm nên thân thể hơn lùn, nhưng rất đậm đà dễ coi. Đôi mắt sáng và to tròn lại càng làm tôn vẻ thông minh lanh lợi của một cô gái quê mới lớn.
Vòi đương vân vê cái hoa bìm bìm đứng suy nghĩ thì một người vận tây đến cổng kéo chuông. Hiền chạy ra.
- Ồ, anh Lưu! Đến sớm nhỉ?
Lưu cười:
- Tôi đến rủ cô ra biển hóng mát. Trời đẹp lắm.
Rồi chàng quay lại trỏ Vòi:
- Có con bé này hình như muốn hỏi cô điều gì.
Hiền mở cổng nhìn sang bên:
- Kìa, Vòi đấy à? Hỏi gì thế em?
Vòi rụt rè tiến đến gần:
- Thưa cô... cháu đến xin cô mấy viên thuốc.
- Thuốc gì kia, em?
- Cháu cũng chả biết thuốc gì. Anh cháu ốm, hai hôm nay chẳng chịu ăn cơm. Tối hôm qua mẹ cháu dặn cháu lên xin cô vài viên thuốc.
- Anh Vọi ốm?
Thấy Hiền buồn rầu ngẫm nghĩ, Lưu phì cười:
- Mày xin thuốc mà không nói anh mày ốm bệnh gì thì còn biết chữa ra làm sao.
Hiền ôn tồn bảo Vòi:
- Được, em cứ về rồi tôi đem thuốc đến cho.
Vòi ngần ngừ vì không nghe rõ câu Hiền nói. Vả lại, không khi nào nó dám ngờ rằng cô Hiền lại đích thân đến thăm anh nó.
- Thưa cô, cháu về tay không sợ mẹ cháu mắng. Hay cô cứ cho cháu... thứ thuốc hôm trước ấy mà.
Hiền mỉm cười:
- Không được. Em sốt thì mới dùng thuốc ấy, chứ anh Vọi biết có sốt không?
Vòi đáp liều:
- Anh cháu cũng sốt.
- Vậy em đứng đấy chờ nhé.
Hiền chạy vào trong nhà lấy ống thuốc ký ninh đưa cho Vòi và dặn chỉ nên dùng mỗi lần một viên thôi. Vòi đỡ lấy, ngớ ngẩn nói:
- Cô cho anh cháu tất cả?
- Ừ, tất cả. Nhưng nhớ đừng dùng tất cả một lúc nhé. Uống như thế sẽ hóa điên đấy!
Vòi cười láu lỉnh:
- Vâng, cháu xin nhớ kỹ.
Đoạn nó chắp tay chào rồi sung sướng cắm đầu chạy. Hiền ngây người đứng nhìn theo.
Không thấy Hiền lưu ý đến mình, Lưu ngắt một bông hoa dại xé vụn từng cánh, miệng huýt sáo một bài ca Pháp.
- Chết, quên! Xin lỗi anh nhé.
Lưu cố giữ nét mặt thản nhiên, nhưng giọng vẫn nhiễm đầy vẻ tức giận:
- Có gì mà cô phải xin lỗi!
Rồi chàng cười gượng, tiếp luôn một câu nói đùa:
- 'Bà lang' kia đấy! Nhưng chẳng biết có 'băm' không?
Hiền không đáp. Nàng đang mải theo đuổi những ý nghĩ miên man. Đã bốn hôm nay nàng không gặp Vọi. Mà hình như nàng quên bẵng rằng ở Sầm Sơn có một anh đánh cá tên là Vọi. Chiều chiều nàng ra tắm, sáng sáng nàng ra dạo mát trên bãi cát. Những người kéo lưới không hề nhắc nàng nhớ đến hình ảnh anh chàng tráng kiện đẹp traị
Vì bên nàng lúc nào cũng có đám bạn khuê các phong lưụ nhất là có Lưu, người đã làm cho nàng bắt đầu cảm thấy rung động... Trái tim nàng bắt đầu đập mạnh ngay từ hôm cùng nàng nói chuyện trong một cảnh nhuộm toàn màu yêu đương của một buổi tối trăng mờ, biển réo.
- Cô nghĩ gì mà thờ thẫn cả người ra thế?
Không thấy Hiền trả lời, Lưu giận đi thẳng vào trong nhà chào bà Hậu rồi ngồi tiếp chuyện với bà, để mặc Hiền đứng nghĩ vơ vẩn ở ngoài cổng.
Hiền cố nhớ lại những sự việc đã xảy ra và tự trách thầm:
- “Vô tình ta đã phạm một tội ác là mời Vọi đến dự tiệc trà!”.
Hiền cho rằng Vọi ốm chỉ vì bị người ta chế giễụ Sức tưởng tượng của nàng tả Vọi ra một người biết tự trọng như bọn trí thức. Và nàng nhận thấy đám bạn nàng và chính nàng là một lũ 'tàn ác', đem một trái tim ngây thơ thành thật ra làm trò đùạ Vẫn biết mời Vọi đến dự tiệc nàng không có ý muốn trêu ghẹo mà chỉ cốt tỏ cho bạn hữu nàng hiểu rằng nàng không hề phân biệt giai cấp. Nhưng đó chỉ là một sự vụng về, một tính toán sai lầm. Mời Vọi vào trong phòng khách hôm ấy có khác gì nhốt một con chim đang bay nhảy tự do ngoài trời vào trong một chiếc lồng.
Hiền mơ màng như thấy Vọi hiện ra ở trước mặt với tấm thân cân đối nở nang... Nhưng tấm thân ấy không làm rung động được lòng nàng như trước nữạ Nàng nghĩ thầm:
- “Cái đẹp về hình thức khó cảm được trái tim một người có trí thức nếu cái đẹp hình thức ấy không chứa một tâm hồn tương đương.
Nhưng Hiền lại nghĩ:
- “Biết thế nào là tương đương? Tâm hồn không hẳn là trí thức. Có trí thức mà gian trá, lừa dối, tàn ác thì không bằng có một tâm hồn ngây thơ và thành thật tuy thô lỗ.”.
Nàng nhận thấy Vọi đứng riêng ra một xã hội khác hẳn với cái xã hội nàng đang sống. Cái xã hội ấy chỉ nghĩ đến dùng trí thức để che đậy một tâm hồn có khi xấu xa, đê hèn...
- “Ừ, biết đâu rằng anh Lưu cảm về trí thức, về tâm hồn mình, hay chỉ cảm về tài sản của mình? Còn một người như Vọi nếu yêu ai thì chắc chắn là yêu thành thật, không bao giờ biết mơ ước những gì xa xôi”.
Sẵn có một nền học vấn lãng mạn, Hiền bài trí rất mau ra một cuộc đời đầy đủ, êm đềm: Hai vợ chồng cùng đẹp, khỏe mạnh, chỉ biết yêu nhau và làm việc bằng chân tay.
Và nàng cảm thấy rằng không những Vọi biết yêu, mà có lẽ Vọi còn yêu tha thiết hơn những người thường.
- “Ừ, anh ta ốm... Biết đâu không phải vì say mê nhớ tiếc một cô thiếu nữ mà anh ta nhận biết hơi muộn rằng mình không thể yêu được..., mà anh ta coi như đã sắp lọt vào tay một người khác xứng đáng hơn anh ta... Cô thiếu nữ ấy chính là ta!”.
Hiền mỉm cười, nụ cười tự phụ của cô thiếu nữ đã làm cho nhiều anh choáng váng đêm mê vì học vấn trí thức và nhan sắc của mình.
- Anh Lưu!
Nghe Hiền gọi, Lưu vội chạy ra hỏi:
- Cô truyền?
Hiền cười:
- Anh cứ dạy quá lời thế? Ta ra bãi biển hóng mát đị
Lưu vui vẻ đáp:
- Xin vâng.
Bà Hậu gọi Hiền bảo thong thả ăn sáng chờ bà cùng đi chơi với, nhưng nàng mời mẹ cứ ăn trước. Bà mỉm cười âu yếm bảo Lưu:
- Cũng được. Cậu Lưu đưa em nó về ngay nhé!
- Bẩm, vâng.
Bà Hậu biết rằng Lưu thành thật muốn làm rể bà nên bà thôi không nghi kỵ nữạ Hơn nữa, bà ta muốn hai người năng được gần nhau để hiểu nhau, quý trọng nhau... Và để sau này con bà khỏi phải phàn nàn rằng bà ép lấy người chồng mà nàng không thuận...
Chương 22
Thấy Lưu rẽ về bên tay trái, Hiền gọi:
- Phía này, anh Lưu!
- Ra biển kia mà!
- Thì anh cứ đi với tôị
Hiền với vẻ mặt cau có nhưng quả quyết. Lưu hiểu rằng những lúc ấy mà làm trái ý nàng thì không có lợi gì nên lẳng lặng đi theo, không hỏi, không nói một lời. Gần đến con đường rẽ sang nhà bưu điện, Hiền gặp Phụng liền rủ cùng đi chơi. Cô kia nhận lời ngay.
- Nhưng đi đâu thế chị?
Hiền thản nhiên đáp:
- Đến thăm anh Vọi.
Nghe nói đôi mắt Lưu trợn trừng:
- Đến nhà Vọỉ
- Vâng.
Phụng suy nghĩ, cố nhớ lại:
- Anh Vọi. Có phải cái anh đánh cá đến dự tiệc hôm nọ không?
- Phải đấy chị ạ. Anh ấy ốm.
Lưu tìm được một câu ngăn cản:
- Biết anh ta mắc bệnh gì mà cô dám đến thăm? Nhỡ anh ta bị thổ tả, ho lao, hay sốt rét, thương hàn thì có lây chết không?
Hiền lạnh lùng nói:
- Vậy thì anh đừng đi nữa là hơn hết, cả chị Phụng cũng vậỵ Nếu sợ lây thì xin ở lại, tôi đi một mình. Riêng tôi, tôi biết anh Vọi không mắc những bệnh nguy hiểm ấỵ
Rồi nàng biểu lộ lòng độc ác của nàng bằn một câu bí hiểm, đầy những ý nghĩa mờ ám:
- Mà anh ấy mắc bệnh gì có lẽ tôi cũng đoán ra được.
Nàng muốn nói Vọi ốm tương tư vì nàng, nhưng Lưu không hiểu, cho rằng nàng đã một mình lẻn đến thăm anh ta rồị Lưu cười gượng nói:
- Cô nóng quá! Cô còn chẳng sợ lây nữa là tôi đây, thân một nam nhi dũng cảm.
Hiền vẫn còn căm tức, và chẳng hiểu sao nàng cảm thấy ghét Lưu về đủ các phương diện. Nàng nhíu mày nhìn đi nơi khác và bật lên một tiếng cười chua chát, cay cú lạ lùng.
- Đi thì đi, không đi thì thôi! Làm gì mà phải giở những thân danh 'nam nhi dũng cảm' ra như thế! Nó có vẻ...
Nàng toan nói 'có vẻ tuồng', nhưng kềm ngay được vì nàng chợt nhận ra là mình 'tàn nhẫn quá'.
Từ đó ba người yên lặng đi bên cạnh nhau không ai nói với aị Mãi đến lúc leo hết con đường dốc lên núi, Lưu mới dừng lại thở và bảo hai cô thiếu nữ:
- Các cô trèo khỏe quá!
Phụng tự phụ, mỉm cười:
- Chuyện!
Hiền hỏi:
- Thế nàỏ Anh đã mệt rồi saỏ Vậy cái 'dũng cảm nam nhí của anh cất ở đâu, không đem ra dùng?
Lưu bèn ngồi nghỉ một lát để ngắm cảnh, nhưng Hiền nóng ruột muốn biết ngay bệnh trạng của Vọi ra sao nên bảo chàng:
- Chịu khó một tí nữa, sắp tới rồi! Đó cũng là cách tập thể thaọ Anh phải biết, ngày nào chúng tôi cũng tập chạy, tập đi ít ra cả tiếng đồng hồ. Phải không chị Phụng?
Lưu nghĩ mà thêm xấu hổ với hai cô bạn gái nên đứng dậy đi liền. Ngắm họ, chàng nhận thấy có sự liên hệ của tấm thân dịu dàng uyển chuyển với cái sức mạnh của sự tập luyện công phụ Và chàng hiểu rằng thời nay không còn là thời chia hẳn ra bên đàn ông là mạnh mẽ, và bên đàn bà là yếu đuối nữạ Chàng nghĩ thầm:
- “Ta sống ở thế kỷ trọng 'cá nhân chủ nghĩá. Nhưng muốn cho chủ nghĩa này đắc thắng thì không gì bằng làm cho nam nữ bình đẳng về mọi phương diện. Những danh từ 'phái mạnh phái yếu kia vẫn còn thì chưa thể bình đẳng được.”.
Nhìn hai người bạn gái, chàng tự hỏi:
- “Họ với mình, ai thuộc phái mạnh và ai thuộc phái yếu”.
Vấn đề phụ nữ rõ rệt hiện ra trước mắt chàng hiện ra thành thịt thành xương. Cái vấn đề mà trước kia chàng cho rằng chỉ có ở trong lý tưởng, vì chàng mới đọc những lời bàn tán khô khan lờ mờ, kiểu cách đăng trên báo chí chứ không bao giờ chịu nghĩ đến một cách thiết thực như hôm nay...
Chương 23
Hiền đưa Phụng và Lưu đi thẳng vào nhà Vọi như chủ dẫn khách vậỵ Con chó trắng đã quen với cô thiếu nữ thường vuốt ve nó nên lại gần vẫy đuôi mừng quýnh, kêu rít lên. Hiền cất tiếng gọi, tức thì bà Bật đang rửa rau ở sân liền vứt 'phịch' cái rổ xuống đất mà chạy ra.
Cảnh tượng 'quá thân mật' ấy làm cho Lưu tức giận, mặt hơi tái đị Chàng đứng im, trừng trừng nhìn hết chỗ nọ chỗ kia, tỏ vẻ khinh bỉ.
Bà Bật vừa lau tay ướt vào áo, vừa vui mừng nói:
- Trời ơi, quý hóa quá! Xin rước cô... Xin rước thầy và hai cô vào chơi.
Hiền hỏi:
- Anh Vọi ốm ra sao thế bác?
- Vâng, cháu ốm. Sao cô biết cháu ốm mà đến hỏi thăm?
Thì ra Vòi nói dối rằng mẹ sai lên xin thuốc. Nhưng nói dối như thế để làm gì? Hay Vòi láu lỉnh, ranh mãnh định có mục đích quỷ quái chi đâỷ Hiền ngờ vực, nhưng chỉ mỉm cười đáp lại với bà Bật:
- À, tôi gặp cái Vòị Hỏi thăm mới biết. Tôi có gửi nó cầm về cho anh Vọi một ống thuốc sốt. Chẳng hay nó đã đưa cho anh ấy uống chưa.
- Thưa cô, nó chưa về. Chừng nó còn chạy ra chợ.
Hiền và Phụng bước ra thềm. Còn Lưu thì đứng ngoài sân chắp tay sau lưng chúm môi huýt sáo làm bộ mặt ra vẻ thản nhiên lãnh đạm, nhưng bao nhiêu giận dữ căm hờn vẽ rành rành trên nét mặt.
- Mời thầy vào trong nhà ngồi chơi xơi nước.
- Được, mặc tôi.
Bà Bật kéo vội chiếc mới gác trên cái giá gỗ treo ở hiên rồi đem đến phản vừa giải trùm lên chiếu rách vừa mời:
- Xin rước thầy với cô ngồi chơi tạm.
- Được, bác. Đưa chúng tôi vào thăm anh Vọi đã.
Hiền và Phụng lách vào trong gian nhà kín mít tối om. Vọi nghe rõ tiếng Hiền vội đứng xuống đất chắp tay chào:
- Lạy cô ạ. Mẹ ơi! Chống hộ con cái phên nứa cho sáng một tí, chứ chẳng nhìn rõ gì sốt!
Tiếng Hiền đáp:
- Được, anh cứ nằm nghỉ. Anh sao thế?
- Thưa cô, tôi cũng cảm qua loa.
Vọi biết có một cô đi với Hiền, nhưng chưa rõ là aị Mãi đến lúc bà Bật chống cao cái phên lên, chàng mới nhận ra là một cô dự tiệc trà bữa nọ. Chàng sa sầm ngay nét mặt. Cái cảnh trong phòng khách nhà Hiền với tiếng đàn réo rắt hòa tiếng cười nói mỉa mai đã ám ảnh chàng luôn mấy hôm liền nay lại hiện ra.
- Kìa, anh không nằm nghỉ? Sao lại dậy thế?
- Thưa cô, cứ để mặc tôi ạ. Tôi đỡ nhiều rồi.
Câu nói thành thật của anh đánh cá chất phác làm Hiền nghe như có ngụ ý tình tứ, đầy xúc động trong đó. Nàng hiểu câu nói kia của Vọi có nghĩa là:
- “Tôi đỡ nhiều rồi vì cô hạ cố đến thăm tôi”.
Hiền mỉm cười sung sướng ghé tai Phụng thì thầm:
- Chị coi, người nhà quê chẳng biết 'tán' là gì?
Phụng ngơ ngác không hiểu 'tán' ở chỗ nàọ Vọi thì cho là hai cô lại 'giễu mình nên thở dài ngồi xuống phản, hai tay ôm đầụ Hiền tưởng Vọi mệt lắm, lại gần bên, đặt tay lên trán chàng.
- Đầu anh nóng lắm, phải nằm xuống mà nghỉ chứ!
Nhưng Vọi vẫn ngồi. Thấy vậy, Hiền nói tiếp:
- Nằm xuống! Bảo ngoan, không tôi giận!
Bàn tay cô thiếu nữ vừa thơm tho, vừa mát rượi cộng thêm giọng nói dịu dàng êm đềm khiến anh nhà quê choáng váng mê man như mất cả hồn. Thân chàng thong thả, nghiêng mình xuống phản.
Lúc ấy Lưu sốt ruột nên đi vào. Chàng mím môi, trợn mắt đứng nhìn rồi bước thẳng đến gần Hiền khẽ nói:
- Về thôi, không ở nhà cụ mong đợi.
Hiền như chẳng chú ý đến lời của Lưu nói. Nàng dịu dàng bảo Vọi:
- Anh nằm nghỉ, lát nữa Vòi nó đem thuốc về. Anh uống một viên sẽ khỏi ngay.
Bà Bật mời ba người ra phản ngoài hiên xơi nước. Hiền và Phụng nhận lời, bưng cái bát sành mẻ đựng nước chè tươi nóng uống 'xì xụp' có vẻ ngon lành lắm. Còn Lưu thì hai tay thọc túi quần đi đi lại lại ngoài sân và luôn miệng kêu:
- Mùi gì tanh quá!
Bà Bật ở trong nhà chạy ra đáp:
- Thưa thầy, mùi lưới phơi đàng kia đấy! Thưa thầy, con nhà chài lưới thì sạch làm sao được?
Quay qua Hiền và Phụng, bà vừa cười vừa nói:
- Thưa thầy với hai cô, cá tanh thế mới có cơm ăn.
Hiền lấy làm khó chịu về tính nết của Lưu nên nói chọc tức một câu:
- Phải, cũng như sau này anh Lưu ra làm trạng sư (#1), người ta càng hay kiện cáo nhau thì anh càng có nhiều tiền tiêu thôi!
Bà Bật chẳng hiểu gì nhưng cũng đáp liều:
- Vâng, chính thế thưa thầy với hai cô. Thời buổi này khó kiếm ăn lắm! Một đồng bạc cá ngày xưa bây giờ chỉ bán được năm, sáu hào thôi!
Chú thích:
(1-) Trạng sư: ngày nay gọi là 'luật sư'.
Chương 24
Lưu nghe câu nói thản nhiên của người đàn bà lại càng căm giận, nhưng chàng vừa nghĩ ra được một kế vội tươi ngay nét mặt bảo Phụng:
- Để cô Hiền ngồi đây, cô Phụng với tôi ra bãi bể chơi đị
Chàng tưởng nói thế là trêu tức được Hiền, nào ngờ Hiền vui vẻ bảo Phụng:
- Phải đấy! Chị ra đó mà hóng mát. Bãi xóm Sơn đẹp lắm. Tôi đã tắm ở đó mấy lần rồi.
- Thôi, chờ chị cùng đi cả.
- Thì hai người cứ đi trước, tôi sẽ ra sau.
Phụng xưa nay vẫn ghen với Hiền được Lưu luyến ái và coi như người vợ chưa cướị Nàng cho rằng nàng giàu có, xinh đẹp chẳng kém gì Hiền thì sao nàng lại không xứng làm vợ Lưu. Mà có lẽ Lưu sở dĩ không để ý đến nàng chỉ vì chưa có dịp nào được chuyện trò thân mật với nàng mà thôi. Phải biết rõ tâm hồn nhau mới thành thật yêu nhau được. Vì thế, nàng nhận lời, đứng dậy cùng Lưu đi liền.
Nhưng nàng đâu ngờ đó chỉ là một mưu kế của Lưu dùng để gợi lòng ghen tuông của Hiền. Chàng vẫn kiêu căng, tự cho mình là một người chồng mộng tưởng của các cô tân thời. Chẳng thế mà tiệc trà nào, bọn họ cũng phải mời chàng cho bằng được. Cái ý nghĩ âm thầm ở đây, trái tim các cô thiếu nữ kén chồng cùng những bà mẹ kén rể, chàng đều tự hào rằng chàng đọc được vanh vách.
Ra tới bãi biển, thấy Lưu buồn rầu nghĩ ngợi, Phụng khẽ hỏi:
- Thưa cô, quả có thế.
- Ai lại đến thăm một anh đánh cá bao giờ!
Không thấy Lưu trả lời, Phụng bèn nói tiếp:
- Chẳng còn nghĩ đến thể diện, thể diếc gì nũa! Chẳng còn sợ những lời dị nghị của công chúng nữa!
Nghe Phụng nói xấu 'người yếu, Lưu đã có mòi hơi cáu. Chàng gằn giọng hỏi:
- Cô tính, lời dị nghị của công chúng thì phỏng đáng kể vào đâủ
- Vẫn biết thế, nhưng nhỡ ra...
- Nhỡ ra saỏ
Phụng muốn Lưu hiểu ngầm câu nói đầy nọc độc của mình nên mỉm cười vờ chữa:
- Không, chẳng sao cả. Chết chưa! Em quên hẳn chị Hiền là 'vị hôn thê' của anh!
Lưu dằn từng tiếng:
- Thưa cô, thế thì cô lầm tọ Cô Hiền chỉ là một người bạn rất đáng kính của tôi thôi, cũng như cô, cô Thi, cô Lan và hết thảy các cô thiếu nữ khác mà tôi có hân hạnh được quen biết.
Phụng tinh ranh nhìn Lưu:
- Thì ra thế! Tôi cứ tưởng...
Lưu ngắt lời:
- Thưa cô, không bao giờ nên 'tưởng' cả!
Phụng cười nắc nẻ:
- Không thì thôi, làm gì mà 'anh' giận 'em' thế?... Nếu chị Hiền không phải là vị hôn thê của anh thì 'càng haý chứ sao!
Lưu chau mày:
- Thưa cô, sao lại 'càng hay?
- Vì ban nãy tôi lỡ lời nói xấu chị ấy mất câụ
- Vâng, tôi cũng tưởng điều ấy không nên, nhất là khi nguời bạn lại không có mặt ở đây.
Phụng càng cười to:
- Tôi có thể ví anh với anh Alceste trong vở hài kịch của Molière. Ai lại nói chuyện với một thiếu nữ mà cau có gắt gỏng đến thế!
Lư chợt hồi tâm tỉnh ngộ:
- Xin lỗi cô, tôi thường có nết xấu ấy thực, cô tha thứ cho. Nhưng ta về thôi kẻo cô Hiền mong.
Phụng vẫn còn tai ác:
- Biết đâu rằng chỉ Hiền mong?
Khi hai người trở lại nhà Vọi thì Hiền đang đứng bên phản hỏi chuyện anh đánh cá. Gần đó, Vòi tay cầm bát nước với ống thuốc. Thấy Lưu và Phụng, Hiền thản nhiên hỏi:
- Về vội thế?
Phụng đưa mắt liếc Lưu, có ý bảo:
- “Đấy anh coi! Chị Hiền có mong đợi chúng ta đâu!”.
Hiền chỉ hỏi một câu vơ vẩn rồi lại quay về phía Vọi:
- Anh uống rồi.
- Thưa, đã. Cám ơn cô.
- Vậy nằm nghỉ nhé, chúng tôi về thôị Hễ chưa khỏi thì tôi lại đem thuốc đến. Nhưng chắc thế nào cũng khỏi, phải không?
Vọi trở mình quay vào phía trong. Hiền vừa thoáng trông thấy hai giòng lệ lặng lẽ chảy hai bên má chàng. Đó có lẽ là những giọt nước mắt sung sướng trong đời Vọi. Hiền cũng sung sướng mỉm cười...
Chương 25
Kìa anh Vọi!
Vọi đang đứng đánh rút, nghe tiếng gọi quen quen liền ngoảnh đầu lại, thấy Lưu chăm chú nhìn chàng.
- Anh khỏi hẳn rồi.
- Cám ơn thầy, tôi khỏi rồi.
Nụ cười nở trên cặp môi mỏng của Lưu khiến Vọi phải chau mày khó chịu, quay mặt đi.
- Này anh Vọi, cô Hiền ấy mà...
Vọi cho là Lưu nhắc đến tên cô Hiền chỉ để cốt ý trêu ghẹo mình nên lặng thinh không buồn đáp. Lưu vờ như Vọi không hiểu, nói tiếp:
- Cô Hiền, cô gửi thuốc cho anh bữa nọ đó! Anh đã quên rồi sao.
Vọi nói bâng quơ như không phải trả lời Lưu:
- Quên sao được!
Lưu cười phá lên:
- Tình nhỉ!... Vậy cô Hiền gửi lời chào anh đấỵ Cô Hiền về Hà Nội hôm qua.
Vọi hơi tái mặt, lẩn thẩn hỏi:
- Về Hà Nội.
- Phải, về Hà Nội! Nhưng anh sao thế? Mà anh xanh quá nhỉ? Nếu còn ốm thì phải nghỉ hẳn cho khỏi đã chứ! Đi làm vội thế?
Lưu tàn nhẫn đứng thuật cho Vọi nghe những cử chỉ, hành vi ngộ nghĩnh của Hiền. Rồi chàng kết luận:
- Đùa bỡn, hay nghịch ngợm, nhưng rất thương người.
Ngừng một lát, Lưu lại nghiễm nhiên nói tiếp:
- Năm ngoái ở Đồ Sơn, gặp một anh đánh cá ngây thơ, cô ấy trêu chọc anh ta mãị Anh ta phải lạy van, cô ấy mới tha.
Thật ra, Lưu mới quen biết bà Hậu và Hiền được năm, sáu tháng naỵ Nhưng lòng ghen ghét đã xui chàng bịa đặt ra những câu chuyện không đâu để anh chàng đánh cá hiểu rằng cô Hiền không có chút rung động gì về anh ta hết. Trót buông lời, Lưu nghĩ lại tự lấy làm thẹn. Chàng tự thẹn không phải vì đã vừa nói dối, nhưng vì chàng cảm thấy mình hèn nhát! Chàng nghĩ thầm:
- “Ai lại đi ghen với một anh nhà quê cộc cằn, theo nghề chài lưới bao giờ?”.
Rồi Lưu tò mò đứng ngắm Vọi làm việc. Hai chân Vọi giẫm đều xuống cát ướt nghe 'bành bạch', thân ngả hẳn về phía sau, cặp mắt không 'thần' nhìn ra khơị Chàng lẩm bẩm:
- “Khối óc kia làm gì có được một mẩu trí tuệ cỏn con!”.
Bỗng chẳng biết nghĩ gì, Vọi quay đầu lại nhìn Lưu yên lặng và mỉm cườị Trước mặt chàng sinh viên trường luật hiện ra một 'pho tượng cổ Hy Lạp' nét mặt hiền lành, thông minh, hai hàm răng trắng nuột. Lưu giật mình hỏi:
- Anh mới cạo răng?
Vọi bẽn lẽn:
- Thưa thầy, răng tôi vẫn thế.
Quả Vọi vẫn để trắng, trắng một cách tự nhiên như người dân quê không nhuộm. Nhưng từ trước đến giờ, vì chàng không một lần cọ rửa nên đủ các thứ 'không tên' bám đầy lên thành nhiều tầng. Một hôm đến nhà Hiền, Vọi gặp Hiền đang đánh răng liền hỏi:
- Cô làm gì thế?
- Tôi đánh răng.
- Đánh để làm gì?
Hiền nghe hỏi bật cười:
- Để cho nó trắng, nó đẹp.
- Để cho răng trắng đẹp? Thế sao người ta còn nhuộm đen?
Hiền diễn thuyết, giảng giải cho Vọi nghe một bài học sử ký về răng... Những lý do vì sao người ta nhuộm răng... Vì sao ngày nay người ta để răng trắng... Vì sao đàn ông bắt đầu để răng trắng trước đàn bà... Vì sao hàm răng trắng đẹp và tự nhiên hơn hàm răng đen... Vọi suy nghĩ rồi ngần ngừ hỏi Hiền:
- Thưa cô... Nhưng các cô giàu có mới sẵn có tiền mà mua thuốc nhuộm răng chứ?
Hiền mỉm cười:
- Ai lại nhuộm răng trắng?
- Thưa cô, tôi vừa thấy cô bóp thuốc ở ống kia ra bàn chải.
- Thuốc ấy chỉ cọ sạch chất bẩn bám vào răng thôi.
Vọi nhấc cái bàn chải đánh răng hỏi:
- Chắc cái này mua đắt tiền lắm?
- Độ vài hào thôị Nhưng ở nhà quê thì cần gì phải mua bàn chải! Đã có cau tươi hay cau khô cũng được.
Hiền vào tráp trầu của bà Hậu lấy ra một miếng cau, vứt hạt đi, dùng làm bàn chải mà đánh răng để Vọi xem và nói:
- Tán nhỏ than ra dùng thay bột càng hay, càng trắng.
Bài học đánh răng đó Vọi lẩm nhẩm mãi trong trí. Khi vừa khỏi bệnh, chàng đem thực hành ngay, mặc cho Vòi chế giễu hát ví những câu trêu ghẹo:
Hoài tiền mua thuốc nhuộm răng,
Để mà mua mía đánh khăn vào mồm.
Anh ơi! Có thấu cùng chăng?
Lấy chồng em phải đánh răng cho chồng.
Nhưng khi thấy hai hàm răng của anh trắng bóng như ngà, Vòi không thể không ngây người ra đứng ngắm, cảm phục:
- Trông anh đẹp như thầy Lưu!
Sáng hôm sau, Vọi sung sướng vác lưới ra đi, vẫn tưởng sẽ gặp cô Hiền để cho cô ta kinh ngạc. Ai ngờ chàng chỉ gặp Lưu, người bạn sang trọng của Hiền. Còn Hiền thì trời ơi, về Hà Nội mất rồi, và có lẽ sẽ ở Hà Nội mãi mà không bao giờ còn trở lại Sầm Sơn nữa! Chàng ngây thơ nghĩ thầm:
- 'Thật là phí công đánh răng!”.
Những câu khen ngọi của Lưu cũng an ủi Vọi được đôi chút.
- Để răng trắng thế dễ coi hơn, đẹp trai hơn.
Vọi thật thà hỏi lại:
- Thế à, thưa thầy.
- Chứ sao! Giá cô Hiền gặp anh hôm nay thì rất bằng lòng anh lắm.
Hai má Vọi đỏ bừng. Chàng bẽn lẽn cúi gầm mặt xuống. Đám chài lưới phá lên cười vì họ thường thấy anh bạn 'đẹp traí của họ dạo mát, 'đùa ngịch' với cô thiếu nữ tân thờị Lưu nói tiếp:
- Rõ đáng tiếc, cô Hiền về mất rồi.
Vọi toan đánh bạo hỏi xem cô Hiền có ra Sầm Sơn nữa không, nhưng chàng vẫn ngượng ngùng, sợ hãi đứng lặng thinh.
Lưu chưa chịu buông thạ Chàng cố ý làm đau lòng anh đánh cá mà chàng coi như một tình địch, nhất là từ lúc chàng thấy anh nhoẻn miệng miệng cười với hai hàm răng mới rất có duyên làm nổi bật hẳn gương mặt đều đặn và nước da hồng hào.
- Cô Hiền rõ dở hơi quá! Tôi bảo hãy ở lại chơi một tuần lễ nữa, nhưng cô ấy cứ nằng nặc đòi về Hà Nội.
Đó là câu nói dối thứ hai của Lưụ Thật ra, hôm đi thăm Vọi về, Lưu vờ làm thân với Phụng rồi xúi Phụng đem câu chuyện 'lố lăng' của Hiền và Vọi mách bà Hậụ Chàng dụng ý muốn để cho bà Hậu mắng con gái bà một trận. Phụng cũng đáo để. Nàng biết Lưu chỉ vì ghen vô lý nên mới xúi nàng làm một việc càng vô lý hơn. Song nàng cũng nhận lời, và chờ khi có mặt Lưu ở đó, nàng mới thuật cho bà Hậu nghe buổi đến thăm Vọi ốm để bà ngượng với Lưu, chàng 'rể tương lai mà bà muốn kén.
Hôm sau, bà Hậu nhất định đưa con về Hà Nội, nói có việc rất cần. Hiền vốn thông minh, thấy mẹ quả quyết thì hiểu ngay rằng là một 'công trình' hèn nhát của Lưụ Nhưng nàng thản nhiên thu xếp hành lý vào va ly, không đả động một câu xin ở lại và vẫn tươi cười tiếp chuyện khi Lưu đến tiễn chân.
Mãi lúc xe hơi mở máy sắp chạy, Hiền mới dặn Lưu một câu chua chát:
- Này anh Lưu, tôi giao anh Vọi cho anh đấy nhé! Anh làm ơn đến thăm anh ấy luôn và bệnh tình anh ấy thế nào, anh nhớ biên thư về Hà Nội cho tôi biết.
Bà Hậu giục tài xế cho xe đi. Hiền còn thò đầu ra cửa kính 'nói vớí thêm một câu:
- Nhớ bảo anh Vọi rằng tôi gửi lời hỏi thăm và ít bữa nữa tôi lại vào.
Lưu tê tái cả người, cố gượng đáp:
- Vâng, tôi xin nhớ.
Lưu vừa nhìn Vọi nhặt cá bỏ vào thúng vừa nghĩ tới cảnh tiễn biệt hôm trước. Vọi lạnh lùng bới đống cá con trắng sáng như bạc nấu và giận dữ ném mạnh những con ốc, những con bạch tuộc nhỏ xuống cát. Thản nhiên, chàng làm cho xong công việc rồi để mặc người mua buôn mặc cả với hai em con cậu. Chàng lội xuống biển rửa mặt và tay chân.
- Anh Vọi!
- Thầy gọi tôi.
- Chiều nay anh cho tôi thuê mảng nhé? Cái mảng mà anh vẫn cho cô Hiền thuê mọi khi.
Vọi ngẫm nghĩ nhìn ra khơi, cặp mắt liếc nhìn Lưu với một vẻ dữ tợn:
- Vâng.
- Vậy chiều nay vào khoảng bốn giờ lại đón tôi ở đây nhé.
- Vâng.
Lưu nở một nụ cười 'đắc thắng' quay đi...
Chương 26
Buổi chiều y hẹn, Vọi đem mảng lại chờ Lưụ Chàng ngồi xổm trong bóng rặng phi lao, lấy ngón tay vẽ lên cát ướt mịn hình con cá mà chàng thường cất lưới được. Mơ mơ màng màng... chàng tưởng đến Hiền đang đứng bên...
Một hôm, Hiền hỏi chàng về hình dáng các loài cá biển. Không có đủ từ ngữ để diễn tả bằng lời nói cho Hiền hiểu được, Vọi dùng ngón tay vẽ xuống cát rất mau và giống hệt loài cá nọ đến cá kia... Cá thủ thế này... Cá đuối thế này... Cá chim thế này... Cá thu thế này... Cứ như vậy, chàng kéo hơn một giờ, cố moi óc tìm ra nhiều loại cá lạ để được vẽ mãi. Hiền tấm tắc khen chàng khéo taỵ Có khi nàng gợi ra để nhắc Vọi hoặc bảo chàng vẽ cho xem một giống cá mà chàng đã hai lần vạch hình lên cát rồi. Lần thứ ba, thấy Vọi vẽ hệt như hai lần trước không thiếu một nét, không sai một cái vẩy, Hiền phá lên cười sung sướng bảo chàng rằng:
- Giá anh vào trường Mỹ thuật mà học thì thế nào cũng trở nên một nhà "danh họa"...
- Anh Vọi, anh đến sớm nhỉ?
Nghe tiến Lưu, Vọi giật mình tỉnh giấc mộng, lấy tay xóa vội những hình vẽ trên cát.
- Thưa, thầy tắm ngay bây giờ?
- Cái mảng này mọi khi anh vẫn cho cô Hiền thuê đấy chứ?
- Vâng.
Thật ra Vọi đã nói dốị Cái mảng chàng sắp dùng chở Lưu đi xấu hơn, nát hơn nhiều... Cặp mắt chàng đăm đăm không rời nơi chân trời như ngại ngùng áy náy.
- Đi tắm thôi chứ?
Vọi ngơ ngác quay lại nhìn nói:
- Vâng, mời thầy xuống mảng.
Rồi Vọi loay hoay dựng buồm. Lưu định tâm chỉ muốn tắm ở gần bờ thôi, nhưng vì nhớ buổi sáng Vọi khoe Hiền thường dùng mảng ra khơi, và vì sợ anh đánh cá chê mình nhát gan hơn một cô thiếu nữ nên chàng để mặc anh ta muốn đưa mình đi tới đâu tùy ý.
Mảng chạy rất mau, chỉ trong khoảnh khắc đã rời bờ một quãng xạ Hai người ngồi yên lặng, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn nhaụ Thấy anh đánh cá trở nên lạnh lùng dữ tợn khác thường, Lưu hơi chột dạ, trở nên lo lắng vẩn vơ. Bỗng Vọi hỏi:
- Thưa thầy, chắc hẳn thầy cũng sắp về Hà Nội.
Lưu ngẫm nghĩ tìm câu trả lời:
- Phải, có lẽ tôi sắp về... Gần hết mùa tắm rồi còn gì!
Vọi trông càng có vẻ dữ tợn, nhất là chàng lại đứng sững ở bên cánh buồm nâu để tóc rối tung bay lòa xòa xuống trán, xuống tai.
- Anh Vọi!
Vọi nhếch môi, nở một nụ cười bí mật:
- Thầy bảo gì?
- Sao đi xa thế?
Nụ cười bí mật vẫn không rời cặp môi khô của anh dân chài. Hai hàm răng trắng và khít luôn luôn hé rạ
- Thầy muốn dừng lại đây.
- Phải, dừng lại đâỵ
Vọi cười thét lên khiến Lưu sợ đến dựng tóc gáy vì chàng ngắm thấy anh đánh cá mặt đổi hẳn, không còn ngây thơ hiền lành như mọi khi nữa.
Thật vậy, một ý tưởng ghê gớm đan lởn vởn trong óc anh ta. Anh muốn để mặc cái mảng đưa hai người đi biệt tăm biệt tích.
Hai cặp mặt đối nhaụ Vọi bỗng luống cuống. Chàng cố quay đi nơi khác nhưng không làm sao được. Hình như có một sức thiêng liêng huyền ảo ngăn cấm, và rỉ tai bảo chàng không được tưởng nghĩ đến những điều tàn ác, bậy bạ.
Vọi lặn lẽ hạ buồm rồi thả neo cho mảng đứng lại. Lưu mỉm cười nghĩ thầm:
- “Rõ mình ngờ oan cho hắn. Phải! Người nhà quê chất phác khi nào lại có được những tính tình phức tạp!”.
- Thưa, thầy tắm ở đây.
Sự sung sướng như vừa thoát được một 'tai nạn tưởng tượng' làm cho Lưu trở nên 'tốt bụng'. Chàng bảo Vọi:
- Anh cùng tắm với tôi nhé?
Vọi mỉm cười:
- Tôi không dám. Mời thầy tắm.
Lưu nhảy xuống nước bơị Lội được một quãng ngăn ngắn, chàng lại quay về mảng. Thấy Lưu thở hổn hển, Vọi cười nói:
- Cô Hiền bơi xa hơn thầy nhiều mà ít khi mệt như thầy.
Lấy làm thẹn với anh đánh cá, Lưu bèn tìm cách chống chế:
- Vì tôi vừa ốm khỏi, chứ mọi lần tôi bơi khỏe hơn. Cái lối vòng tay qua đầu (#1) tôi học mãi mới được. Nhưng cô Hiền bơi giỏi lắm à?
- Vâng, giỏi lắm! Mà cô ấy biết bơi nhiều lối khác nhau (#2). Cái lối vòng tay qua đầu, tôi học mãi mới được.
Lưu nhìn Vọi trân trân hỏi:
- Cô Hiền dạy anh tập bơi.
Vọi nói với giọng đầy tự phụ:
- Con nhà lưới, thầy tính còn phải nhờ ai dạy bơi nữả Nhưng cái lối 'bơi Tâý ấy tôi cũng muốn tập chơị Mà bơi thế mau thực thầy ạ. Để tôi bơi thử cho thầy coi nhé?
Vọi cởi quần áo, chỉ đóng một cái khố sơ sài, mạnh mẽ nhảy 'ùm' xuống nước. Lưu đứng trên mảng gật đầu khen thầm nhưng không khỏi căm tức vì chàng đinh ninh rằng Vọi đã nhiều lần 'được' bơi chung hay 'bơi thí với cô 'bạn gáí của chàng. Cái thân thể tráng kiện 'rất đẹp' của Vọi càng làm tăng lên lòng ghen tuông của chàng.
- “Trời ơi! Trước mặt cô Hiền nó cũng để thân thể 'lõa lồ' thế kia ư?”
Chàng bỗng cảm thấy như được hiểu thêm rất nhiều những cái lố lăng của đám phụ nữ tân thời mà chàng không thể chấp nhận và yêu thương được.
Lúc ấy, Vọi đã nhanh nhẹn trèo lại lên mảng. Mặc quần áo xong, Vọi hỏi Lưu:
- Thưa thầy, thầy coi có mau không?
- Mau lắm! Nhưng giá anh vận 'may ô' vào thì dễ coi hơn.
- Thưa thầy, 'may ô' có phải là bộ áo tắm thầy đang mặc đó không?
- Phải đấy.
- Bữa nọ cô Hiền đưa cho tôi mượn một bộ nhưng chật quá, không sao mặc vừạ
Lưu tức uất người, chỉ muốn 'tát' cho anh đánh cá mấy cái nhưng cũng cố gượng cười bảo chàng:
- Tôi chưa thấy ai lố lăng và liều lĩnh như cô Hiền!
- Thưa thầy, tôi chỉ thấy cô Hiền tử tế mà thôi.
Câu nói như thùng dầu đổ vào đống củi đương ngùn ngụt cháy. Lưu cau có nói một mình:
- Sao mà phóng đãng kiêu sa, dâm dật vô lý lạ lùng đến thế!
Vọi ngây người nhìn Lưu vì không rõ Lưu nói những gì. Nhưng chàng cũng đoán biết rằng Lưu tức giận lắm. Nhưng tức giận vì điều gì? Vì cô Hiền về Hà Nội trước chăng? Hay vì cô ấy đã tử tế với mình? Thật Vọi không thể hiểu được!
Bỗng Lưu phá lên cười. Cái ý nghĩ đã bao lần an ủi chàng lại vụt hiện ra.
- “Chính mình cũng vô lý nốt! Ai lại đi ghen với một anh đánh cá bao giờ!”
Vọi thấy Lưu cười chế nhạo, nét mặt lại trở nên dữ tợn. Và ý định man rợ lại lởn vởn trong óc chàng...
Lưu đã nhảy xuống nước bơi xa được mười sảị Vọi định bụng dựng buồm cho mảng chạy vào bờ để Lưu chết đuốị Nhưng chàng chợt lo sợ nghĩ thầm:
- “Thấy ta về thì họ bỏ tù ta, thì họ chặt đầu ta còn gì! Như thế ta chẳng sao thấy được mặt cô Hiền...”
Vọi chợt thấy hình ảnh cô thiếu nữ với bộ áo tắm đỏ tươi hiện ra trong đám mây hồng... Chàng nhớ một lần Lưu khoe với chàng rằng sắp xin cưới cô Hiền làm vợ...
Vọi lạnh lùng tháo con dao nhọn vẫn buộc vào cái nạng gác buồm để có khi bất thần phải dùng đến. Chàng toan chặt đứt các mối lạt cho những cây bương trôi phăng mỗi cây đi một ngả...
- “Rồi ta bơi vào bờ. Từ đây vào bờ chỉ nhá nhem tối là ta đến nơị Thế là thầy Lưu chết đuối mà ta không bị tội. Ta sẽ nói dối rằng mảng nát quá, nút lạt lại mục mà thầy Lưu cứ bắt giương buồm ra khơi nên khi gặp sóng lớn mảng bị đánh tan. Còn ai ngờ mình giết thầy Lưu nữa mà sợ!”
Vọi ngước mắt nhìn lại đám mây hồng giống 'hình dáng cô Hiền' như để hỏi thầm ý kiến. Nhưng chàng kinh ngạc. Màu đỏ bỗng biến thành màu nâu tím, màu đồng sẫm, màu thân thể bọn dân chài... Mà cái hình ảnh cô Hiền đã đổi ra hình ảnh một dân nghề to lớn vạm vỡ...
Tự nhiên Vọi nhớ đến cha mình, đến cái chết đáng thương của ông ta giữa biển khơi... Thi thể cha có lẽ đã táng trong bụng cá mập... Trong một giây, biết bao nhiêu cảnh đau thương xót xa hiện ra... Mẹ Vọi than khóc, anh em Vọi bơ vơ...
Vọi vứt mạnh con dao xuống nước, úp hai tay vào mặt ngồi khóc. Lúc đó, Lưu đã bơi vào tới mảng. Thấy Vọi khóc nức nở, chàng dịu giọng hỏi:
- Anh làm sao thế?
Vọi vẫn như không nghe thấy gì. Lưu vỗ vai chàng hỏi lại:
- Anh đau phải không?
Vọi giật mình, lau nước mắt đáp:
- Không?
-Nhưng anh sao thế?
Vọi luống cuống, cố tìm câu trả lời:
- Không... tôi thương cha tôị..
- Ông cụ làm saỏ Ốm nặng à?
- Cha tôi đã mất hơn mười năm nay.
Rồi Vọi bình tĩnh kể câu chuyện cha chết mà đã hai ba lần chàng thuật cho Hiền nghe...
Một lát sau, hai người lại dựng buồm trở vào bờ. Không ai ngờ vì tình... Vì tình, một người suýt bị hại, một người suýt trở thành kẻ sát nhân...
Chú thích:
(1-) Bơi Sải
(2-) Dân chài Việt Nam thời đó giỏi về lặn. Họ bơi đương nhiên cũng rất 'cừ', nhưng chỉ là 'Bơi Chó', hay cùng lắm là 'Bơi Nháí [cũ] thôi cứ hoàn toàn không biết các kiểu bơi như chúng ta thường được xem ở Thế Vận Hội như: Bơi Bướm (Butterfly); Bơi Ngửa (Backstroke); Bơi Sải (Freestyle) hay bơi Nhái [mới] (Breastroke). Kiểu Bơi Nhái [mới] ngày nay sự thật là sự kết hợp giữa hai kiểu Bơi Chó và Bơi Nhái [cũ] của thời xa xưa.
Chương 27
Và rồi Lưu về Hà Nộị Và rồi những người nghỉ mát lần lần rời Sầm Sơn. Mới sang đầu tháng 9, bãi biển đã vắng ngắt...
Năm nay cảnh Sầm Sơn cũng vậy, nào có chi lạ cho Vọi. Nhưng năm nay Vọi mới nhận thức được cái cảnh tiêu điều của một thành phố hầu như không có người ở.
Đã hơn nửa tháng, ngày hai buổi sáng chiều, Vọi vẫn thản nhiên cùng phường bạn ra bãi xóm Sơn, bãi Sầm Sơn đánh rút hay lên mảng đi đánh lõng, đánh khơi. Nhưng cái lòng yêu nghề, cái vui sướng tung lưới ở ngoài biển rộng, cái ham thích phiêu dạt lang thang mấy ngày trời trên làn sóng dữ không còn trong Vọi nữa!
Từ vui vẻ nhanh nhẹn, chàng trở nên buồn tẻ nặng nề. Trước kia chàng hay nói bông đùa với bạn nghề bao nhiêu thì nay chàng bần thần ít lời bấy nhiêu. Ai ai cũng nhận thấy rằng chàng đổi hẳn tính nết.
Một buổi chiều Vọi thoái thác đau bụng trong khi hai em con cậu lên mảng đi thả lưới. Khi mảng đã ra xa, chàng lững thững đi từ đầu nọ đến đầu kia bãi Sầm Sơn.
Trời vùng biển đã xanh trong trông thăm thẳm vòi vọi, không một gợn mây nhỏ làm vẩn đục. Nước biển xanh biếc ở gần bờ, rồi càng xa càng nhạt cho tới khi thành một làn trắng xóa ở nơi chân trời. Trong cái cảnh rực rỡ ánh sáng, Vọi ủ dột như bông hoa tàn héo rũ bên hàng dậu.
Vọi thơ thẩn đi suốt bãi biển không biết bao nhiêu lượt, thỉnh thoảng lại nhìn lên phía đường xem có ai mới ra tắm không. Vì chàng nhớ năm trước cuối tháng 9 vẫn còn lác đác có người ở Hà Nội vào nghỉ mát.
Khoảng hơn bốn giờ, Vọi thấy một đám người từ trên đường rẽ xuống. Chỉ thoáng phớt qua, chàng cũng nhận ra bà cụ với hai cô cháu bà già. Theo sau là vợ chồng một phú thương đứng tuổị Họ vận quần áo thường và ra bãi biển ngồi hóng gió, chứ không mấy khi chịu tắm. Đó là một gia đình mà năm nào cũng năm nào, đến Sầm Sơn muộn nhất. Chừng họ chờ ai nấy mới rủ nhau vào cho được yên tĩnh. Hoặc giả họ đi nghỉ nơi khác về hay có nhà ở Sầm Sơn, họ đợi hết hạn cho thuê mới vào vớt vát lấy cái "mát thừa".
Không bao giờ Vọi có những ý nghĩ ấỵ Chàng chỉ cho là hai gia đình kia hơi lạ, hơi khác mọi người đi tắm biển thường một chút. Hàng năm, cứ đến khi phố Sầm Sơn trở nên vắng, các hàng giải khát đã dọn đi là tự nhiên Vọi tưởng đến 'bà cụ' với vợ chồng 'thầy phán'.
Hai cô cháu gái mỗi năm Vọi thấy một đổi khác, từ năm 13-14 tuổi cho tới nay đã suýt soát 20. Nhưng mọi lần, Vọi chỉ thoáng nhìn qua như nhìn những người tắm biển mà thôi. Lần này, chàng có vẻ tò mò hơn. Có lẽ vì chàng quen ngắm nghía Hiền nên cái ý tưởng so sánh về nhan sắc đã lờ mờ nảy ra trong khối óc 'ngây thơ' của chàng.
Vọi lại gần những người kia, chắp tay chàọ Bà cụ gật đầu đáp lại rồi thản nhiên quay ra tiếp chuyện vợ chồng người phú thương. Còn hai cô thiếu nữ thì không thèm lưu ý đến chàng, chỉ cười nói, giơ tay trỏ ra phía biển.
- Thưa, hai cô mới ra nghỉ mát?
- Phải.
- Hai cô ra muộn quá. Bây giờ là cuối mùa tắm rồi, buồn lắm.
Hai người thiếu nữ lặng thinh, thong thả theo ven làn nước đi ngược lên phía núị Vọi hiểu ngay rằng không phải cô gái nào cũng dễ dãi như cô Hiền nên buồn rầu lảng ra xa.
Mọt lát sau, trên bãi biển chỉ còn Vọi với cái bóng chàng nằm dài trên cát, với những bóng rung động của hàng cây phi lao tha thướt.
Lơ đãng, Vọi dẫm phải cây cỏ kim nên chau mày đứng lại rút chiếc lá nhọn ra, rồi vừa nặn máu, vừa lẩm bẩm rủa thầm. Bỗng Vọi mỉm cười, chàng nghĩ đến thứ đồ chơi của Hiền: cuộc thi xe cỏ kim. Chàng liền ngắt hai chùm lá thả theo chiều gió rồi đứng ngắm cho tới lúc làn sóng nhấp nhô 'lè lưỡi trắng' liếm đi. Có lần chàng thả luôn một lúc sáu, bảy cái. Trên khoảng ánh chiều tà vàng nhạt, chàng thấy những chùm lá lăn chạy giống hệt đàn dã tràng như cô Hiền thường nói.
Vọi giật mình vì vừa tưởng như có tiếng Hiền cười lanh lảnh bên tai... Chàng sung sướng quay lạị Vòi đứng sững nhìn chàng. Vọi cau có nói:
- Mày ra đây làm gì?
Vòi vẫn cười:
- Em đến nhà cậu mượn cái bào khoai... Nhưng... anh không đi nghề ư?
- Không.
- Anh sao vậy.
- Chẳng sao cả. Mày đi đi.
Vòi cười ranh mãnh. Cô bé nhà quê rất tinh quái, thừa biết vì sao độ này anh mình hay buồn rầu gắt gỏng. Nàng vui vẻ bảo Vọi:
- Em thi với anh nào!
- Thi cái gì?
- Thì xem con ngựa của ai chạy nhanh hơn!
- Mày bảo ngựa gì?
- Ngựa cỏ anh vừa thả ấy mà.
Vọi trừng mắt dữ tợn trân trân nhìn em như đoán biết rằng cô em ranh mãnh đang trêu cợt trên sự đau khổ của mình.
- Mày cút đi! Tao không thi gì với mày hết. Tao về đây.
Dứt lời Vọi quay đi và cắm đầu bước thật maụ Vòi đứng nhìn anh lắc đầu thương hạị Nàng coi Vọi không những chỉ là một người anh mà còn như một người bạn rất thân. Ít lâu nay, thấy anh không vui đùa với mình, không chiếu cố đến mình nữa, Vòi đem lòng oán trách 'cô Hiền', biết rằng chỉ vì Hiền mà ra hết cả. Không bao giờ Vòi dám hy vọng anh nàng lấy được cô gái giàu có sang trọng ấỵ Vòi cho là cô ta chỉ thích nghịch ngợm, thấy anh mình thật thà trêu chơi, cũng như nàng thường trêu những anh trai làng hay tán tỉnh.
- “Nhưng anh Vọi có biết tán tỉnh đâu mà cô Hiền lại trêu ghẹo”
Thật tình, Vòi không hiểu nổi cái tính nết lạ lùng của cô gái nhà giàu kia...
Chương 28
Đến núi Trống Mái, Vọi không sao đứng lại. Chàng leo lên tảng đá đứng vơ vẩn nhìn ra biển. Gió lạnh thổi thông qua chỗ hổng giữa hòn Trống và hòn Máị Nhưng Vọi chẳng thấy lạnh. Cả thân thể lẫn đầu óc chàng nóng bừng.
Hai tay Vọi vịn vào thành đá bỗng sờ vào nét sơn của hàng chữ. Vọi nhớ lại những tảng đá... Câu giảng nghĩa của Hiền không bao giờ Vọi quên được một tiếng.
- “Những chữ viết đó là những chữ bắt đầu tên người con trai và người con gáị Ví dụ, Vọi và Hiền chẳng hạn, thì viết chữ V và chữ H.”
Sao Hiền đem 'Vọi với Hiền' ra thí dụ? Thật Vọi không hiểu, hay sợ không dám hiểụ Mà Vọi cũng chẳng biết chữ V và chữ H viết ra sao.
Nắng chiều còn phảng phất quanh vùng cao, kéo dài cái bóng tím hai hòn Trống Mái lên mặt đồị Vọi ghé gần tò mò ngắm những chữ viết trên đá rồi nhặt viên gạch theo từng nét vạch ra bên cạnh một cặp chữ, ước ao rằng đó là hai chữ V và H.
Trong một kẽ đá, Vọi thấy có một mảnh vỏ dừa khô liền 'cởí ra xem. Một cảnh âu yếm êm đềm vụt hiện ra trước mắt Vọi...
Hôm ấy cô Hiền bảo Vọi đưa đi coi dãy núi Đường Trèo. Khi trở về, Hiền kêu khát nước. Vọi chạy tức tốc vào làng mua được một quả dừa đem đến. Không có cốc hay bát, Hiền phải cầm quả dừa dốc ngược vào miệng mà uống. Sau đó nàng cười ngất đưa chỗ còn lại cho Vọi. Trong đời Vọi, thật không một lần nào Vọi được uống một thứ nước dừa ngọt và dịu như thế..., vừa phảng phất mùi thơm của hơi thở lẫn mùi phấn hồng của đôi môi...
Hiền toan cầm quả dừa hết nước ném xuống đồi thì Vọi ngăn lại, lấy dao rựa bổ đôi ra. Hiền chợt hiểu ý, vui sướng cầm một nửa gặm cùi ăn, còn nửa kia đưa cho Vọị Ăn xong, Hiền 'tinh nghịch' dấu mảnh vỏ vào kẽ đá và bảo Vọi:
- Để người nào lúc khát tìm thấy mà thèm nhỏ rãi...
Vọi ngắm nghía mảnh vỏ dừa khô, trong lòng ngao ngán. Trời đã nhá nhem tối, chàng vẫn còn ngồi trên đá như một pho tượng. Rồi chẳng biết nghĩ gì, Vọi bưng mặt khóc rưng rức.
Giọng hát của Vòi ở đàng xa làm cho Vọi giật mình. Chàng lau vội nước mắt, chạy ẩn núp sau tảng đá. Nhưng chậm quá rồi, Vòi đã trông thấy bóng anh và đã cất tiếng gọi:
- Anh Vọi ơi! Anh chưa về nhà ư?
Chẳng đạng đừng, Vọi phải bước xuống đồị Vòi đi với một người con gái, nhưng vì trời tối quá nên chàng không nhận được là ai.
- Anh Vọi ơi, mang hộ chúng em cái bào này với! Nặng lắm, chúng em phải hai người mới khiêng nổi đấỵ
Vọi lim dim cặp mắt, cố nhìn:
- Nhưng ai đi với mày thế?
- Chị Thu!
- Thế à?
- Vì nặng quá nên em nhờ chị Thu khiêng giúp em.
Vọi lẳng lặng đỡ lấy cái bào, nhẹ nhàng vác lên vai bước rảo tiến lên trước.
- Thong thả chờ chúng em với!
Vọi không đáp, cứ thoăn thoắt bước xuống đồi. Thu và Vòi lẽo đẽo theo sau. Thu là người Sầm Sơn, nhà ở liền bên cạnh nhà cậu mợ Vọị Mẹ và cậu mợ chàng thường khen nàng đảm đang, ngoan ngoãn và vẫn có ý hỏi nàng cho Vọi. Nay thấy Vọi buồn và Thu mới lớn lên, có cặp má đỏ hây hây, Vòi muốn se hai người lại với nhau. Trong đám gái quê, Vòi nổi tiếng láu lỉnh và sớm khôn biết.
Về đến nhà, bà Bật kỳ kèo rầy con sao không đi nghề. Vọi chẳng nói chẳng rằng, bỏ ra bãi biển. Vòi ra tìm anh về ăn cơm, nhưng Vọi kêu đau bụng, vào giường đắp chiếu nằm ngủ...
Chương 28
Rồi thu quạ Kế đến là những ngày đông giá lạnh. Những đêm đông dài vang động tiếng sóng gầm dữ dội. Tiếng gió thét rào rào trong rừng phi lao. Anh em dân chài có khi hàng tuần không dám thả mảng đi khơi, sáng chiều chỉ cùng nhau vác thuổng ra bãi cát đào bới dã tràng về làm món tạm bợ.
Vọi bỗng trở nên vui vẻ. Chàng không còn bẽn lẽn như xưa khi 'bị' các cô con gái trêu ghẹo nữa. Hơn nữa, chàng thường bảo em dạy hát đủ các giọng. Rồi những đêm trăng sáng, Vọi lại cùng vài ba anh em kéo nhau ra quán Cầu hát đối. Vọi hầu như đã quên hẳn được câu chuyện tình vô lý kia...
Thấy con hết thở dài buồn bực, gắt gỏng, bà Bật cảm thấy vui sướng. Vòi tự phụ rằng đó là công trình của mình. Thật ra, nàng cũng thông minh và ranh quáị Nàng biết đem kể cho anh nghe những câu chuyện thần tiên mang rất nhiều ý nghĩa mà nàng thuộc lòng ngay từ thuở còn bé. Chuyện bà công chúa khinh rẻ anh học trò nghèo... Chuyện người lấy cóc, rồi cóc biến thành một cô gái đẹp nhất đờị Con cóc ấy, Vọi chẳng cần suy nghĩ cũng biết là những cô gái quê mộc mạc như Thu, người đã hát đối với Vọi nhiều lần.
Những đêm trăng ca hát ấy cũng chính Vòi bày rạ Nàng khôn khéo dạy anh những câu hát đáp lại, thành thử hai người hát đáp chọi nhau chan chát khiến ai đứng nghe cũng phải ngợi khen. Hát xong, Vòi còn láu lỉnh rủ anh đưa Thu về tận nhà của cô nàng rồi mới trở lại xóm Sơn.
Trong mấy tháng qua, Thu sung sướng vì đã chiếm được tình yêu của người con trai đẹp nhất vùng. Còn Vọi, chàng thản nhiên khi nghe thấy mẹ và em bàn đến chuyện hỏi vợ. Và nhiều lần bị các cô cắt cỏ chọc ghẹo, kêu Vọi là 'anh Thú, chàng cũng chỉ mỉm cười bước qua.
Cuộc đời giản dị bình thường của Vọi đã quay về lối xưạ Và nhờ quen biết Hiền, chàng lại 'sáng sủa, dạn dĩ thêm ra, bớt ngây thơ khù khờ, bẽn lẽn, nhút nhát.
Chương 30
Nhưng một buổi trưa... Hôm ấy Vòi mắc bận đi chợ, nhờ anh chăn hộ con bò một lát. Vọi ngồi trên tảng đá trước chùa Sầm Sơn lơ đãng nhìn con vật cúi ngoặm cỏ ở sườn đồi.
Trời giá lạnh. Mỗi khi cơn gió bấc thổi rung mấy chiếc lá lộc vừng và đưa là là bay qua mặt, Vọi lại rùng mình run lập cập tuy chàng ngồi 'sưởí dưới ánh nắng.
Một chiếc lá rơi vào lòng Vọị Chàng cầm vân vê trong tay, tò mò ngắm nghíạ Bỗng Vọi kinh hoảng kêu:
-Trời ơi! Cô Hiền!
Màu chiếc lá rụng đỏ sẫm như là vỏ sò vừa nhắc chàng nhớ tới bộ áo tắm Hiền thường mặc.
Tất cả cái thời tắm biển lại hiện ra rõ rệt với những cô thiếu nữ trắng trẻo xinh tươi mà trong số đó, cô Hiền trắng trẻo xinh tươi nhất.
Rồi lần lượt những cảnh sinh hoạt êm đềm rõ dần ra... Cảnh bơi thi với cô Hiền... Cảnh đẩy mảng cho cô Hiền tắm... Cảnh đứng nói chuyện với cô Hiền ở bãi Lãn, khe Thờ, trên hòn Trống Mái...
- Anh Vọi!
Tiếng Vòi gọi làm Vọi giật mình, để chiếc lá đang cầm ở tay rơi xuống đất.
- Mày đi chợ về?
- Em mua được cặp gà đẹp quá, anh coi!
Vừa nói, Vòi vừa xách ngược hai 'chú gà con' đang giẫy giụa và kêu chiêm chiếp giơ lên.
- Mày mua ngữ gà ấy về chừng để cho quạ nó tha giùm.
- Phỉ phui! Anh chỉ nói dại! Cặp gà này đến Tết thì vừa vặn làm cỗ.
- À, ra mày mua để làm cỗ Tết.
Vòi liếc nhìn ranh mãnh:
- Không đâu! Để 'tết nhà vợ' cho anh đấy.
Vọi nghe nói cau mặt quay đi.
- Nhưng sao anh buồn thế, anh Vọi. Mà mắt anh ướt như người mới khóc.
Vọi cố gượng cười:
- Tại tao rét quá, rét đến chảy cả nước mắt nước mũị
- Ừ, năm nay rét quá nhỉ? Rét thế mà còn có người ra biển nghỉ mát đấy anh ạ!
- Bậy! Ai nghỉ mát bao giờ!
- Thật đấy! Em vừa gặp cái cô ra đây độ nọ. Cái cô đã đến nhà ta ấy mà.
Vọi hoảng hốt đứng dậỵ Rồi không kịp hỏi xem cô ấy là ai, chàng vùng chạy xuống đồi.
- Anh đi đâu mà vội thế?
Vọi vẫn cứ rảo bước, không buồn quay đầu lại...
Chương 31
Ra tới bãi biển, Vọi ngơ ngác nhìn quanh để xem cô Hiền đứng ở đâu, vì chàng đoán chắc rằng người mà Vòi vừa gặp chỉ có thể là cô Hiền.
Xa xa, một thiếu nữ vận áo tơ da, hai giải khăn quàng trắng bay phất phới. Vọi sung sướng đi thật mau hầu như chạy.
Khi đến gần thì hóa ra không phải là Hiền! Vọi chau mày căm tức làu nhàu mắng thầm em gái đã 'lừa dốí mình, định bụng trở về ngay để 'tát cho nó mấy cái. Nhưng cô kia đăm đăm nhìn chàng gọi:
- Anh Vọi! Phải anh Vọi không?
Vọi còn đang nhớn nhác thì cô ta lại vui vẻ nói tiếp:
- Anh coi, tôi nhớ lâu thế đó! Còn anh, anh chóng quên quá. Hôm anh ốm tôi với chị Hiền cùng anh Lưu đến thăm anh...
- À! Tôi nhớ ra rồi! Cô Phụng!
- Ừ, có thế chứ! Tôi tưởng anh quên tôi rồi!
Phụng lại cười, giọng cười đùa bỡn, chế nhạo. Nhưng Vọi chẳng thèm nghĩ gì đến những chuyện đó. Chàng chỉ nghĩ thầm:
- “Cô Phụng là bạn thân của cô Hiền.”
Thấy Phụng toan quay đi, Vọi cuống quít tìm câu hỏi:
- Thưa cô... Rét thế này mà cô cũng ra... cô cũng vào Sầm Sơn?
- Tôi vào chữa nhà. Đáng lẽ cho người nhà vào cũng được, nhưng tôi muốn xem biển mùa rét ra sao.
Vọi trở nên lém lỉnh:
- Thưa cô, lắm hôm trời quang (#1), biển đẹp lắm, đẹp hơn mùa hè nhiềụ Nước xanh trong vắt, khi lội xuống biển trông rõ cả bàn chân.
- Lội xuống biển? Rét thế mà lội xuống nước?
- Thưa cô, đi nghề mà sợ nước thế nào được?
Và Phụng lại quay đi.
- Thưa cô...
Phụng dừng lại yên lặng tò mò nhìn Vọi.
- Thưa cô về...?
- Phải! Chẳng lẽ đứng mãi đây mà hứng gió lạnh?
- Thầy cô... thầy Lưu... lâu nay cô có gặp thầy Lưu không?
Phụng càng tò mò hơn, cố tìm ẩn ý trong câu hỏi lúng túng của anh dân chài.
- “Hỏi thăm Lưu làm gì thế?... À, hiểu rồị..”
Nàng hiểu và nàng nhớ lại những buổi tối họp nhau uống trà, nghe nhạc ở nhà Hiền. Không lần nào Hiền không nói đến Sầm Sơn. Mà hễ nói đến Sầm Sơn là thế nào cũng nhắc đến tên Vọi. Có lẽ Hiền làm thế chỉ cốt để trêu tức, để hạ cái tính kiêu hãnh của mấy chàng 'công tử' và mấy chàng sinh viên. Nàng đem cái đẹp nở nang của thân thể, cái sức mạnh đều đặn của gân cốt để đối địch với cái tinh thần ủy mị, cái trí thức góp nhặt trong sách mà bọn 'thư sinh mặt trắng' không lúc nào quên 'diễn giải khoe khoang'.
Nhưng Phụng tinh ranh, lại nghĩ theo ý khác. Nàng cho rằng tâm trí Hiền chứa đầy hình ảnh của anh chàng đánh cá đẹp trai nên phải cố kiếm dịp nói chuyện cho đỡ nhớ.
Nay gặp Vọi và thấy chàng ngập ngừng hỏi thăm những người ở Hà Thành, Phụng càng tin chắc rằng mình xét đoán tâm lý người đời không saị
- “Hai anh chị chừng đã có thế nào với nhau rồi đây. Trời! Lãng mạn!”
Nàng nhìn Vọi, lại mỉm cười nghĩ tiếp:
- “Thì sao không hỏi thẳng ngay tin tức Hiền? Thế mà cứ bảo người nhà quê thành thật!”
Thấy Phụng cười, Vọi luống cuống chắp tay chào, ấp úng cáo biệt.
- Ô kìa! Anh hỏi tôi, tôi chưa kịp trả lời mà anh đã vội vàng thế? Hình như anh hỏi thăm tin tức anh Lưu phải không? Anh ấy vẫn mạnh khỏe như thường, vẫn đi học như thường, vẫn đến chơi đằng nhà tôi như thường và nhất là đằng chị Hiền.
Dứt lời, nàng cười nhạt nhẽo, mát mẻ:
- Anh chỉ hỏi thăm một mình anh Lưu thôi saỏ Còn những nguời khác? Chẳng hạn như chị Hiền, người đem thuốc đến cho anh, sao anh không hỏi thăm? Anh quên chị Hiền rồi sao. Bây giờ có lẽ chị ấy cũng chẳng nghĩ đến anh đâu! Cùng lắm là cái biển đẹp của anh...
Vọi đứng sững, cặp mắt vờ nhìn thẳng ra xa mà tinh thần lắng hết vào câu chuyện của Phụng. Cô thiếu nữ bỗng cười lớn nói:
- Nhưng này anh Vọi! Tôi hỏi thật, anh có yêu Hiền không?
Vọi cho là một câu mỉa mai nên bẽn lẽn không đáp. Phụng tinh quái nói tiếp:
- Ừ, phải! Anh không yêu gì chị Hiền, tôi cũng biết. Không yêu là phải, vì chỉ một vài tháng nữa chị ấy đã là vợ người ta rồi.
Mặt Vọi tái đi. Người chàng run lẩy bẩy. Phụng thản nhiên hỏi:
- Anh rét lắm phải không? Hôm nay nắng ráo, nhưng lạnh quá!
Vọi cố mỉm một nụ cười gượng buồn thảm, trong khi Phụng vẫn 'thao thao bất tuyệt':
- Rét thì về thôi! Tôi cũng về đâỵ Phải đấy, ta vừa đi vừa nói chuyện. Hôm nọ fiancailles chị Hiền, nghĩa là ăn hỏi ấy mà. Chúng tôi 'đăng xê' (#2) dữ quá.
Vọi chậm chạp lảo đảo đi theo Phụng. Tiếng Phụng nghe như trong giấc chiêm bao.
- Chỉ độ ra giêng là cưới, chị Hiền nhờ tôi đi phù dâu đấy... Anh có hiểu phù dâu là thế nào không? Phù dâu là demoiselle d'honneur ấy mà, nghĩa là những cô thiếu nữ đi kèm cô dâu về nhà chú rể, anh hiểu chưa.
Vọi chỉ muốn biết 'chú rể là ai nhưng chàng không dám hỏi thăm.
- Giá anh ra ăn cưới được thì chắc chị Hiền và anh Lưu sung sướng lắm. Vậy cố mà ra nhé!
- “Thì ra anh chàng rể là 'thầy Lưu! Biết thế...”
Nét mặt Vọi trở nên dữ tợn. Chàng nắm chặt hai bàn tay lại. Lúc đó vừa tới nhà Phụng. Nàng thản nhiên mở cổng đi vào để mặc anh đánh cá với niềm thống khổ trong lòng...
Chiều hôm ấy khi trời mưa phùn âm u giá rét... Tuy gió rít dài trong lá phi lao xơ xác... Tuy biển văng sóng bạc dữ dội lên mỏm đá hà... Người ta vẫn thấy một anh chàng đánh cá đi đi lại lại trên bãi cát. Chàng chắp hai tay sau lưng, ngửa mặt nhìn trời. Quần áo chàng ướt đẫm. Hai má chàng ướt đẫm. Chẳng biết đó là nước mưa hay nước mắt?...
Chú thích:
(1-) Quang: quang đãng, nghĩa là sáng.
(2-) Đăng Xê: phiên âm chữ 'Danser' (tiếng Pháp), có nghĩa là khiêu vũ, nhảy đầm.
Chương 32
Vụ hè năm sau, Hiền cùng mẹ vào Sầm Sơn nghỉ mát rất sớm. Hiền đã quen với sự buồn tẻ, vắng ngắt của những buổi đầu mùa tắm nên không chán nản, bứt rứt khó chịu như năm trước nữa. Cho đến cả những tiếng chào mời nhộn nhịp tới tấp của các cô hàng dừa, hàng trứng, hàng gà, hàng cau cũng chỉ làm cho nàng nhếch một nụ cười thẳng thắn vui sướng.
Rồi dần dần theo vào từng cánh bạn thân, sơ của Hiền. Một thiếu nữ đẹp và giàu đi nghỉ mát thì bao giờ chẳng có bạn bè cả trai lẫn gái đi ủng hộ tháp tùng?
Trong đó tất nhiên phải có Lưu, người vừa chiếm số một trong kỳ thi lên năm thứ ba trường Luật, và có lẽ chiếm luôn cả số một trong những người hy vọng được trái tim của Hiền.
Rồi những tiểu thuyết êm đềm dịu dàng, ầm ĩ, lả lơi bắt đầu... Những tiểu thuyết bất di bất dịch ở ngoài biển từ khi người Việt Nam biết mến chuộng cái 'trò đùa với 'nước mặn'...
Hiền như đã quên hẳn 'anh chàng đánh cá đẹp trai. Trong ký ức của nàng, cái tên 'Vọí đã hầu như không còn hiện hữu ở trên đời.
Một buổi sáng, Hiền, Phụng và Lưu rủ nhau đến chơi hòn Trống Mái để xem lại dấu vết kỷ niệm của mình năm trước.
Tới nơi, khi Hiền còn đang loay hoay sửa soạn máy ảnh để chụp thì Phụng cười ròn rã bảo bạn:
- Chị Hiền ơi! Tên chị đây này!
- Biết rồi, viết bằng sơn trắng chứ gì?
- Không. Đục sâu vào đá kia!
Hiền cũng cười:
- Bậy! Tôi có đục tên tôi vào đá bao giờ đâu. Họa chăng đục vào cát ngoài bãi biển.
- Không mà! Đục vào đá thật! Đâu này, anh Lưu thử xem có phải là tôi nói dối không?
Lưu quan sát ngắm nghía xong gật đầu:
- Phải đấy, nhưng đứng chung với một tên khác. Ngộ lắm!
Phụng lại phá lên cười:
- Còn ngộ hơn nữa kia, anh Lưu coi! Tên ấy khắc nhan nhản khắp mọi nơi.
Hiền chạy vội lên tảng đá hỏi:
- Đâu.
Quả thật, trên thành hai tảng đá Trống và Mái có tới hơn một chục cặp chữ 'V.H.' khắc trong những khung, hoặc tròn, hoặc vuông, hoặc hình chữ nhật hay hình bầu dục. Tác giả những công trình ấy kể đã tỉ mỉ và mất nhiều thời giờ, tuy rằng nét chữ lệch lạc xiêu vẹo như người mới tập viết. Phụng nói đùa:
- Gớm thật! Sao mà anh chị lãng mạn, nồng nàn đến thế? Có lẽ khắc tên lên trên khắp núi Sầm Sơn chăng?
Đễ thực đấy. Kìa chị coi!
Vừa nói, Phụng vừa giơ tay trỏ những tảng đá đứng nằm vây bọc hòn Trống Máị Trên tảng đá nào cũng có ít nhất một cặp chữ 'V.H.'. Phụng lại cười hỏi:
- H. là Hiền. V. là ai. Hay Vọi đấy.
Hiền buồn rầu đứng ngây người suy nghĩ, mắt mơ màng nhìn biển xạ 'Anh chàng đánh cá đẹp traí hiện ra rõ rệt trong ký ức nàng. Đã vào chơi Sầm Sơn được gần nửa tháng mà không một lần nàng nhớ đến người năm trước đã làm cho cuộc nghỉ mát của nàng đỡ buồn tẻ, và hầu như trở nên thiên ái tình thuần khiết. Bỗng nàng phá lên cười rũ rượị.., cười đến chảy nước mắt rồi bảo Lưu:
- May mà tên Lưu bắt đầu bằng chữ L đấy đấy. Chứ tên là Văn, Viên, hay Vằn thì chết, tôi cũng ngờ chính anh là thủ phạm.
- Hay cô cho phép tôi bắt chước kẻ vô danh kia cũng khắc một cặp chữ. Một cặp thôi.
- Cặp chữ gì?
- L.H.
Hiền lạnh lùng nói:
- Tùy ý. Ai cấm anh khắc chữ?
- Hay cho tôi chữa chữ V. ra chữ L. cho tiện?
Hiền hoảng hốt, như muốn ngăn cản:
- Ấy chớ! Kỷ niệm ái tình là một vật rất thiêng liêng. Xin anh đừng đụng chạm tới của người ta.
Phụn lim dim đôi mắt đứng ngẫm nghĩ, nói một mình:
- Chẳng lẽ...
Lưu hỏi:
- Cô bảo gì?
- Tôi bảo chẳng lẽ V. là Vọi.
Lưu cười:
- Cô nghĩ lẩn thẩn quá! Anh ta có biết viết đâu!
- Ừ nhỉ.
Hiền yên lặng bước lại gần, tò mò ngắm từng chữ. Cái cảnh ngồi nói chuyện với 'anh chàng đánh cá đẹp traí dưới bóng hòn Trống Mái lại vụt hiện ra trong trí nhớ.
- Từ hôm nào vào đây tới nay dễ ta chưa gặp anh Vọi lần nào.
Lưu lạnh lùng đáp:
- Có lẽ anh ta đi kiếm ăn ở vùng khác.
- Vô lý!
Phụng tinh quái đùa rằng:
- Hay chị lại đặt một tiệc trà mời anh ấy đến dự?
Hiền vui mừng reo lên:
- Ồ, phải đấy! Vậy ta đến mời anh Vọi đi.
Dứt lời, nàng đi thẳng. Lưu và Phụng đưa mắt nhìn nhau rồi thong thả bước theo sau. Ba người mỗi lúc một thêm kinh ngạc vì trên con đường từ hòn Trống Mái đến xóm Sơn, chốc chốc lại gặp tảng đá có khắc hai chữ V.H. Hiền có vẻ lo lắng buồn rầu. Nàng như linh cảm, đoán biết đã xảy ra một sự việc gì quái lạ...
Tới cổng nhà Vọi, Hiền càng lo lắng vì nàng không thấy con chó trắng chạy ra mừng, mà cũng chẳng nghe thấy tiếng sủa của nó. Trong sân, một cảnh tiêu điều lạnh lùng. Không còn có buồm hay lưới phơi... Những sợi lưới mà năm trước Hiền ví với cái rèm che cửa. Vứt lăn lóc đó đây là mấy mảnh bát sành và mấy mẩu khoai lang. Hàng giậu dong xơ xác, trống trải...
- Anh Vọi! Anh Vọi! Vọi ơi!... Vọi!...
Hiền gọi ba bốn lần mà vẫn không có tiếng trả lời. Thằng bé con bên láng giềng thò đầu ra cổng nhìn sang rồi 'ù té chạy thụt vào trong nhà.
Ba người định quay về thì từ ruộng lúa đi tới một người đàn bà lưng bẻ gập trên cây gậy trúc, miếng vải màn giắt dưới vành khăn nâu che cặp mắt lòa:
- Ông bà nào hỏi cháu. Cháu Vòi ra chợ sắp về đấy.
- Còn anh Vọi. Anh Vọi đâu bác Bật?
Người đàn bà òa lên khóc rồi sụt sịt hỏi:
- Ông bà... là ai... mà... biết... cháu... Cháu... cháu... chết rồi... còn đâu!...
Bà ta lại khóc... khóc thật thảm thiết. Hiền và Phụng kinh hoàng:
- Chết rồi! Chết rồi.
- Vâng... chết rồi!
Hai cô thiếu nữ sợ người đàn bà khốn khổ ngã gục xuống đất vội xốc nách đỡ vào trong hiên, đặt ngồi trên cái phản thấp mặt không chiếu. Ai nấy đều yên lặng đứng ngắm bà Bật ngồi khóc. Một lúc lâu, bà mới lau nước mắt, ngẩng mặt lên hỏi:
- Ông bà sao biết mà đến hỏi thăm?
Hiền buồn rầu đáp:
- Tôi là Hiền, bà quên rồi sao. Năm ngoái anh Vọi ốm, tôi đem thuốc đến cho...
Bà Bật vội kêu lên:
- À, cô Hiền!.. Tôi nhớ ra rồi!
Bà lại khóc kể lể:
- Thưa cô... cháu nói đến cô luôn... Quý hóa quá... Cô tử tế... cô thương người thế! Ối Vọi ơi! Cô Hiền đến thăm mày đó mà mày bỏ... mày đi đâụ..
Hiền đưa khăn lên lau nước mắt. Lưu khó chịu, quay mặt nhìn đi nơi khác để giấu sự xúc động lộ trên nét mặt.
- Thôi đi về, hai cô...
Hiền không trả lời, kéo Phụng ngồi xuống phản. Phụng hầu như mất hết nghị lực, tâm thần bàng hoàng nên Hiền bảo sao làm vậy. Hình như một sự hối hận ghê gớm đang chuyển động trong lòng nàng. Hiền vuốt ve, an ủi bà Bật:
- Thôi bà ạ. Chẳng qua là số phận. Số anh Vọi có thế! Bà cũng không nên quá thương xót mà sinh ra đau ốm...
Giữa lúc ấy, Vòi ở cổng đi vào, thấy mẹ khóc cũng òa lên khóc. Đó là một thói quen ở nhà quê. Có khách lạ đến thăm viếng người nhà mình bao giờ cũng phải đem tiếng khóc ra cám ơn, chứ lòng thương anh của Vòi không sâu đậm bằng lòng thương con của người mẹ khốn khổ kia...
Thật vậy, chỉ một lát sau Vòi đã bình tĩnh, thản nhiên thuật cho mọi người nghe cái chết thảm khốc của anh mình...
Hôm ấy vào cuối canh tư sang đầu canh năm, Vọi cùng một người bạn trong nghề thả mảng ra khơi. Trời đẹp, biển êm. Sáng tinh sương, mảng đã ra xạ Hai người bỏ neo quăng lưới. Bỗng lưới mắc phải vật gì...
Nghe tới đoạn ấy, Hiền nhớ lại câu chuyện Vọi thường kể... câu chuyện thầy của Vọi mất tích ở ngoài khơi. Nàng kêu rú lên:
- Trời ơi! Cá nhà táng!
Vòi trừng mắt nhìn hỏi:
- Cô biết chuyện à?
- Vậy ra anh Vọi bị cá nhà táng ăn thịt?
- Thưa cô, em cũng không biết. Nhưng anh Vọi lặn xuống gỡ lưới rồi không thấy lên nữa.
Bà Bật vẫn hai tay ôm mặt khóc nức nở. Phụng hỏi vẩn vơ:
- Trước khi chết, anh ấy còn buồn rầu không?
Vòi ngẫm nghĩ một lúc rồi mới đáp:
- Thưa cô... có, buồn lắm. Rồi một dạo, anh ấy đã đi hát đối với chúng em. Rồi vào khoảng gần Tết, anh ấy lại buồn. Nhưng mấy hôm trước khi anh ấy chết, anh ấy đã vui vẻ trở lại như xưa, chiều nào cũng rủ em lên núi chơi.
Hiền giật mình hỏi:
- Lên núi Trống Mái.
- Vâng.
- Những chữ đóng khung vuông, tròn do chính anh ấy khắc vào đá phải không?
Lưu chau mày:
- Cô hỏi lẩn thẩn quá, đã bảo anh ấy không biết chữ!
Vòi vội cãi:
- Thưa thầy, những chữ ấy chính anh Vọi, anh ấy khắc thật đấy. Anh em nhờ anh Câu viết mãi, anh em bảo đó là chữ V với chữ H thì em cũng biết vậy. Đây này, thầy với cô coi, cũng chữ anh Vọi viết cả.
Vòi vừa nói vừa trỏ lên vách quét vôi trắng. Ở đấy có từng hàng chữ V.H. viết bằng gạch non. Phụng và Hiền mắt lặng lẽ nhìn nhau.
- Anh Lưu!
Dạ!
- Không dám, anh dạ trời! Anh cho tôi xem cái ví được không?
Lưu vui mừng:
- Sao lại không được?
Vừa nói, chàng vừa rút ví đưa cho Hiền. Hiền nghiễm nhiên mở ra coi.
- Trời ơi! Anh giàu nhỉ? Có nhiều tiền thế này!
Lưu cười:
- Nhiều gì? Tôi có hơn một trăm đó thôi.
- Hơn một trăm mà lại không nhiều.
- Vậy một trăm với bao nhiêu.
- Với mười lăm đồng. Thôi, có một trăm cũng giàu lắm rồi! Tôi vay chỗ lẻ.
Cầm ba tờ giấy năm đồng, Hiền đưa cho bà Bật nói:
- Chúng tôi đãi...
Người đàn bà khổ sở đưa tay đỡ lấy tiền, mếu máo nói:
- Ơn này... tôi biết làm thế nào trả được...
Hiền buồn rầu, đáp lại một câu đầy ẩn ý:
- Tôi là người có tội! Dẫu có làm phúc bao nhiêu cũng không chuộc được tội đâu bà ạ.
Đoạn nàng đứng dậy chào bà Bật rồi cùng Lưu và Phụng ra về. Vòi tiễn mọi người đến cổng. Hiền ghé tai thì thầm bảo cô bé nhà quê láu lỉnh:
- Khi nào em cần chị giúp điều gì thì cứ lại đàng nhà.
Đến hòn Trống Mái, Hiền xúc động quá ngồi xuống, hai tay ôm đầu nghĩ ngợi. Phụng cũng ngồi xuống thở dài ứa nước mắt, lẩm bẩm:
- Chỉ tại mình!
Lưu đứng tựa tảng đá nhìn ra xa Ngoài kia tiếng sóng biển vẫn rầm rộ đổ hồi...
Hồn Bướm Mơ Tiên
Tựa
Quyển HỒN BƯỚM MƠ TIÊN là quyển truyện thứ nhất của Tự Lực Văn Đoàn và là quyển truyện thứ nhất của ông Khái Hưng.
Lối viết truyện này có hai đặc sắc khác những lối viết truyện xưa nay.
Tác giả không tả cảnh rườm rà, chỉ một vài nét chấm phá thanh đạm như những bức thủy họa của Tầu; cảnh tượng truyện nhiễm vẻ nào là tùy theo tâm hồn của người trong truyện; cảnh đối với người có liên lạc nhịp nhàng và linh động.
Tác giả không bàn luận lôi thôi: ông khéo đem một vài nhận xét tinh vi, một vài việc thích đáng để phô diễn tâm lý những nhân vật trong truyện.
Vì hai lẽ đó nên truyện HỒN BƯỚM MƠ TIÊN có vẻ hoạt động, xem ham mê từ đầu tới cuối; độc giả tưởng như được cùng với người trong truyện cùng sống quãng đời diễn trong truyện.
Vì hai lẽ đó.
HỒN BƯỚM MƠ TIÊN là một truyện tình dưới bóng Từ bi, một truyện tình cao thượng và trong sạch của đôi thanh niên yêu nhau "yêu nhau trong linh hồn trong lý tưởng" như lời tác giả nói. Tác giả đặt câu truyện vào trong một cảnh chùa ở miền trung du Bắc Việt và khéo phô diễn những vẻ đẹp thiên nhiên của miền ấy khiến ta đem lòng yêu những cảnh đồi núi nó khác hẳn cái cảnh "bùn lầy nước đọng" miền hạ du phẳng lỳ và buồn tẻ.
Lại thêm được lối văn giản dị, nhanh nhẹn, tuy vui vẻ mà làm cho người ta cản động vô ngần. Cái cảm ấy là một cái cảm nhẹ nhàng, phảng phất vui buồn tựa như nhừng ngày thu nắng nhạt điểm mưa thưa.
NHẤT LINH
Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 1933
I
Trên con đường Bắc Ninh Đông Triều chiếc ô xe ô tô hàng bon bon chạy. Bỗng một người hành khách vận âu phục thò đầu ra cửa ngơ ngác nhìn rồi kêu:
- Cho tôi xuống đây!
Sau một tiếng còi lanh lãnh, xe từ từ đỗ. Người hành khách xuống xe, đi rẽ sang tay phải theo con đường đất gồ ghề, cong queo.
Tuy lúc đó đã vào quãng năm giờ chiều, mà lửa tháng năm hãy còn gay gắt. Mặt trời xiên ánh sáng xuống cái lạch nước phía bên đường, rồi phản chiếu lên, khiến người lữ hành phải đội nghiêng cái mũ dạ về bên trái để che cho khỏi chói mắt.
Hai bên đường, lúa chiêm vàng ối. Từng bọn vừa đàn ông, đàn bà, con gái, cúi khom lưng cầm liềm nhỏ cắt lúa trông dáng vội vàng chăm chỉ lắm, như sợ trời sắp tối không đủ thời giờ mà gặt xong thửa ruộng. Một bọn nữa phần đông lực lượng, người thì lấy sức rít dây lạt bó các lượm lúa lại thành từng bó, người thì cắm đòn sóc xuống đất đứng bắt chéo chân, nhìn vơ vẫn.
Trong một thửa ruộng ngay sát chân đồi, một đám hơn mười người con gái, công việc đã xong, ngồi nghỉ trên những bó lúa xếp thành từng đống ở bên vệ đường để chờ bọn đàn ông trở lại gánh nốt.
Thấy người lữ hành một cô trỏ bạn:
- Chị em ôi, nhà tôi đã về kia kìa...
Mọi người cười rộ. Một cô nữa hát ví:
Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than vài nhời
Đi đâu vội mấy anh ôi?
Công việc đã có chị tôi ở nhà.

Các cô vỗ tay, cười rũ rượi. Lữ khách như đã biết tiếng con gái vùng Bắc đáo để, cắm đầu rảo bước trên đường, không ngảnh cổ lại. Thì cô hát ví lại đứng dậy như muốn chạy đuổi theo và gọi:
- Này anh, anh đưa va li đây em xách cho. Khốn nạn, thương hại! Nhà tôi đi đường mệt nhọc, mồ hôi, mồ kê thế kia kìa...
Lữ khách đi đã xa, còn nghe văng vẳng sau lưng câu hát ghẹo:
Anh về kẻo tối, anh ơi, Kẻo bác mẹ mắng rằng tôi dỗ dành.
Qua cánh đồng lúa, lữ khách đi vào một con đường tối, giữa hai đồi cây cối um tùm. Đường đã gồ ghề lại phải lên dốc, nên lữ khách mệt nhoài, đặt va li xuống, ngồi thở.
Lúc bấy giờ, ở vườn sắn bên đồi một chú tiểu quần nâu áo nâu, chân đi đôi dép quai ngang sơ sài, đầu đội cái thúng đầy sắn, đương lần từng bước leo xuống con đường hẻm. Thốt gặp người lại, chú bẽn lẽn, hai má đỏ bừng. Có lẽ vì chú tu hành ở vùng quê, không trông thấy người vận tây mấy khi, nên chú sợ hãi chăng?
Người kia thấy chú giật lùi lại một bước, thì mỉm cười ngả mũ chào, rồi hỏi:
- Thưa chú, chú làm ơn bảo giùm cho từ đây vào chùa Long Giáng đường còn xa hay gần?
Chú tiểu tò mò nhìn lữ khách, hỏi lại:
- Thưa ông, ông có phải là ông Ngọc không?
- Vâng chính phải tôi là Ngọc, nhưng sao chú biết?
Chú tiểu hai má càng đỏ ửng, cúi đầu trả lời:
- Thưa ông, vì mấy hôm nay cụ thường nhắc đến ông, cụ nói ông sắp lên chơi vãn cảnh chùa.
- Vậy ra chú cũng ở chùa Long Giáng?
- Vâng.
- Thế chú cũng về chùa?
- Vâng.
- Gần đến nơi chưa, chú?
- Đi hết con đường đồi này thì trông thấy chùa.
Ngọc đứng dậy xách va li nói:
- Vậy ta cùng về chùa?
Ngọc đi bên cạnh chú tiểu liếc mắt nhìn trộm, nghĩ thầm:

"Quái lạ! Sao ở vùng nhà quê lại có người đẹp trai đến thế, nước da trắng mát, tiếng nói dịu dàng trong trẻo như tiếng con gái."
Rồi chàng quay lại hỏi chú tiểu:
- Chú tu ở chùa này từ bao lâu?
- Thưa ông, mới hơn hai năm nay.
Chú tiểu chừng muốn đổi sang câu chuyện khác thốt nhiên hỏi Ngọc:
- Thưa ông, ông là cháu cụ Long Giáng tôi?
- Phải.
- Cháu gọi bằng bác.
- Phải.
- Ông học trường Canh Nông?
- Phải, chú biết tường tận lắm nhỉ?
Chú tiểu cười gượng:
- Ấy, cụ tôi vẫn nói chuyện đến ông luôn.
Lúc hai người ở con đường hẻm đi ra, thì mặt trời đã khuất sau đồi. Gió chiều hây hẩy đã mát, mùa lúa chín bốc lên thơm phức, khiến Ngọc ngắm cảnh nơi thôn dã êm đềm, trong lòng xiết bao tình cảm.
- Chú tu ở vùng này thú nhỉ?
- Thưa ông, đã xa nơi trần tục mà mến cảnh chiền am thì không còn lấy gì làm vui thú nữa.z Nghe câu nói có vẻ con nhà có học, Ngọc mỉm cười hỏi chú tiểu:
- Chú biết chữ nào?
- Vâng, nhờ ơn cụ dạy bảo, tôi cũng võ vẽ đọc được kinh kệ.
- Thế thì đi tu sướng lắm, chú ạ. Có cảnh đẹp... Lại có sách kinh phật mà đọc để quên cuộc đời náo nhiệt phiền phức... Hay tôi xin phép cụ ở lại chùa, tu với chú nhé?
Chú tiểu quay mặt nhìn sang phía bên đường rồi giơ tay trỏ bảo Ngọc, như muốn nói lảng:
- Thưa ông, chùa Long Giáng kia rồi.
Hai người đứng lại ngắm chùa. Lưng chừng một trái đồi cao, mái ngói mốc rêu chen lẫn trong đám cây rậm rịt, bốn góc gác chuông vượt lên trên từng lá xanh um.
- Chùa đẹp quá, chú nhỉ?
- Vâng, Long Giáng là một danh lam thắng cảnh ở vùng Bắc. Cụ tôi thường thuật cho tôi nghe rằng chùa này dựng lên đời Lý Nhân Tôn. Trước chỉ là một cái am nhỏ lợp gianh, sau vì có một bà công chúa đơn xin nương nhờ cửa Phật, nên nhà vua mới sửa sang nguy nga như thế. Câu chuyện thụ pháp của công chúa thực tỏ ra rằng phép Phật huyền diệu biết bao.
Chú làm ơn kể lại cho tôi nghe có được không?
- Vâng, tôi xin thuật hầu ông nghe những lời cụ tôi đã kể. Chắc ông cũng biết đức Thái Tổ nhà Lý, khi còn hàn vi, nhờ đạo Phật rất nhiều nên lúc Ngài lên ngôi rồi, Ngài dốc lòng chăm chỉ sửa sang các chùa chiền. Đến đức Nhân Tôn vì bận việc chinh phục Chiêm Thành và chống chọi với nước Tàu nên trễ nãi đạo Phật.
"Ngọc Hoàng Thượng đế muốn giúp nhà vua tỉnh ngộ, liền cho một nàng tiên nga giáng thế đầu thai, tức là Văn Khôi công chúa. Công chúa nhan sắc diễm lệ một thời, nhưng khi lớn lên, chỉ ngày đêm học đạo tu hành. Sau vì nhà vua cố ý kén phò mã, công chúa liền đương đêm lẻn bước trốn đi, nhờ có các thần tiên đưa đường tới nơi này xin thụ pháp đức Cao Huyền hòa thượng.
"Về sau có thám tử báo tin, đức vua mấy phen cho quan quân đến chùa đón công chúa về triều. Công chúa nhất định không nghe. Nhà vua nổi giận, truyền quan quân phóng hỏa đốt chùa. Ngọn lửa vừa nhóm, bổng một con rồng vàng hiện lên phun nước tắt ngay. Vì thế chùa này mới lấy tên Long Giáng từ thuở ấy. Nhà vua nghe tin cả sợ. Từ đó Ngài dốc lòng tin theo phép mầu nhiệm của đức Thích Ca Mâu Ni và lập tức cho sửa sang chùa để công chúa ở lại tu hành. Chùa này vì thế bắt đầu trùng tu từ thời ấy, đã bao phen tu bổ lại, nhưng kiểu chùa vẫn y nguyên như cũ.
Ngọc mỉm cười:
- Chú biết rộng lắm nhỉ?
Chú tiểu cúi mặt nhìn xuống đất, se sẽ đáp:
- Thưa ông, đấy là cụ tôi kể cho nghe, tôi chỉ thuật lại mà thôi.
- Nhưng chú thuật khéo lắm. Lại thêm chú có cái giọng dịu dàng êm ái quá.
Lần này là lần thứ ba, chú tiểu nói lảng:
- Chết chửa, đi mãi. Nay đến phiên tôi thỉnh chuông. Ta đi thôi, không về trễ cụ quở...
- Ở chùa không còn ai?
- Có chú Mộc nhưng nay đến phiên tôi.
- Cụ chưa thấy chú về, chắc cũng bảo chú Mộc đánh chuông thay chứ gì?
Nói dứt thời thì ngẫu nhiên chuông đâu như đáp lại, khoan thai dõng dạc buông tiếng. Ngọc mỉm cười:
- Đấy, chú coi, tôi nói có sai đâu.
Phía tây, sau dãy đồi cỏ biếc, sắc trời đỏ ửng, lấp loáng qua các khe đám lá xanh đen. Mái chùa rêu phong đã lẫn màu cùng đất, cùng cây, cùng cỏ. Khỏanh khắc, mấy bức tường và mấy cái cột gạch quét vôi chỉ còn lờ mờ in hình trong cảnh nhuộm đồng một màu tím thẩm.
Trong làng không khí yên tĩnh, tiếng chuông thong thả ngân nga như đem mùi thiền làm tăng vẻ đẹp cảnh thiên nhiên. Lá cây rung động, ngọi khói thướt tha, bông lúa sột soạt, như cảm tiếng gọi của Mâu Ni muốn theo về nơi hư không tịch mịch.
Ngọc liếc mắt nhìn chú tiểu, thấy chú vừa đi, miệng vừa lâm râm cầu nguyện, nét mặt có vẻ mặt tưởng trầm tư.

Cái buồn rất hay lây. Đi cùng đường với một người, hình dung cho chí tâm hồn phải đều nhuộm một vẻ ủ ê chán ngán, Ngọc cảm thấy trong lòng nảy ra mối sầu vẫn vơ, man mác và đoái nghĩ tới cảnh náo nhiệt phiền phức ở Hà Thành.
Nhưng tuổi thanh niên dễ buồn mà cũng dễ vui. Lúc ấy lên đồi, đường đi khấp khểnh, đá sỏi thì trơn, lại thêm trời nhá nhem sắp tối, nên Ngọc trượt chân suýt ngã, văng cái va li xuống sườn đồi. Chú tiểu vội kêu:
- Chết chửa! Ông có can gì không?
- Không.
Ngọc toan trèo xuống dốc nhặt va li thì chú tiểu đã vội đặt thúng sắn, thoăn thoắt chạy xách lên.
- Cảm ơn chú.
Hai người cười ồ. Chú tiểu nói:
- Ông nên cẩn thận, gần đến chùa rồi có cái giếng cạn ở bên đường khéo mà ngã xuống đấy thì khốn. Để tôi đi trước dẫn đường cho.
- Cảm ơn chú. À quên, tôi chưa hỏi tên chú gì?
- Tôi là Lan.
Rồi chú trỏ tay bảo Ngọc:
- Tam quan đây rồi.
Tam quan chùa Long Giáng cũng như nhiều tam quan các chùa vùng Bắc, cách kiến trúc rất sơ sài. Trông như cái quán, có ba gian hẹp, trên nóc làm dô lên một cái mái nhỏ giống hệt cái miếu con. Vả tam quan không có cánh cửa mà hình như chỉ một cảnh để bài trí cho đẹp mắt chứ không dùng để ra vào. Vì thế tam quan xây ngay trên sườn đồi đứng thẳng như bức tường không ai leo lên được. Còn ra vào đã có cái cổng con.
Chú tiểu Lan đưa Ngọc đi qua một cái vườn sắn, rồi vòng quanh một bức tường hoa. Một người điền tốt, cởi trần, quần nâu ống xoắn lên qua gối ở trong bếp chạy ra. Anh ta chưa kịp trông thấy Ngọc, vội vã gắt với chú tiểu:
- Kìa chú Lan, cụ vừa quở chú đấy.
- Cụ đâu?
- Cụ đương làm lễ ở trên chùa. Sao hôm nay chú về muộn thế?
Chú tiểu vừa nói vừa trỏ Ngọc đứng cách đấy mấy bước:
- Tôi gặp ông Ngọc là cháu cụ đến vãn cảnh chùa nên đi hơi chậm, chú bảo chú Mộc lấy gạo tám thổi cơm nhé, để ông Ngọc xơi cơm.
Ngọc đỡ lời:
Thôi đi, chú cho tự nhiên, tôi ăn cùng một thứ cơm với các chú cũng được mà.
Anh điền tốt cười:
- Thưa ông, chúng tôi ăn cơm hẩm với dưa xơi sao được.
Chú tiểu Lan mỉm cười:
Vâng, ông nói rất phải. Đã đến cảnh chùa thì cũng phải ăn kham khổ. Trước cụ tôi cũng chỉ xơi cơm hẩm. Mấy năm nay, vì cụ tuổi tác, yếu đuối mà xơi mỗi bữa có một chén, nên nhà chùa cấy riêng một mẩu tám để cụ dùng. Nhưng mời ông hãy vào nghỉ trong nhà tổ để đợi cụ xuống.
Ngọc theo chú tiểu đi vào một tòa nhà gỗ thấp lợp ngói, bên trong bày trí rất sơ sài. Ở gian giữa sau cái bệ đất trên giải chiếc chiếu đã cũ là bàn thờ Tổ đặt trong một cái hậu cung xây thùng ra như cái miếu. Ngọc vén bức màn vải tây đỏ lên thấy bày xếp hàng đến hai chục pho tượng, liền hỏi chú tiểu:
- Đây là các vị sư tổ có phải không, chú?
Không nghe tiếng trả lời, Ngọc quay lại thì chú tiểu đã đi từ bao giờ. Ngồi đợi một lúc lâu, Ngọc vẫn không thấy ai ra vào.
Trời dần dần tối. Một lát sau, trông không rõ các thứ bày trong nữa. Lại thêm ngoài sân lờ mờ có bóng trăng, nên ở chỗ tối nhìn ra, thấy như mình ngồi trong một cái hang sâu vậy.
Ngọc vừa mệt, vừa khát đương mong có người nào để xin chén nước thì qua cái giại che hiên thấp thoáng có ánh đèn từ dưới bếp đi lên. Rồi tiếng người nói:
- Này chú Mộc, tôi đã bạch cụ rồi. Cụ sắp xuống đấy. À, trong khi tôi bận làm đèn thì chú đã lấy nước để ông Ngọc rửa mặt chưa?
Tiếng trả lời:
- Chưa, tôi đang bận giã vừng.
- Thế bà Hộ đâu? Nhưng thôi, tôi đem đèn lên rồi tôi lấy cũng được.
Chú Lan bước vào. Cây đèn dầu quả hình búp măng chiếu sáng lên, mặt chú trông càng xinh lắm. Ngọc ngắm chú lại tưởng đến bức tranh người con gái Nhật cầm chiếc đèn xếp của họa sĩ Ung đang mang to. Nụ cười tự nhiên trở trên môi Ngọc khiến chú tiểu ngước mắt trông thấy, ngượng nghịu lúng túng, đặt cây đèn xuống thư rồi vội bước ra ngoài.
- Này chú Lan, chú làm ơn cho tôi xin ấm nước nhé.
Chú tiểu, chân trong chân ngoài quay cổ lại trả lời:
- Vâng, mời ông ngồi chơi, rồi lát nữa xuống nhà trai xơi nước và xơi cơm.
- Thì chú đi đâu vội thế? Hãy vào đây tôi hỏi câu chuyện đã.
Chú Lan ngần ngừ bước vào:
- Thưa ông, đây là nhà tổ; sư Tổ thụ trai, nghĩa là xơi cơm ở buồng bên. Còn khách thập phương thì xơi cơm nước ở nhà trai, cũng như nhà khách của các ông.
- Phải đấy, chú giảng nghĩa cho tôi biết ít nhiều phong tục nhà chùa. Này chú, ở nhà Tổ thì thờ các sư Tổ, nhưng hai gian bên cạnh này thờ ai thế?
- Đấy là các hậu. Nghĩa là những người không có thừa tự, bầu hậu ở chùa thì nhà chùa cúng cho.
Có tiếng guốc lộp cộp ở ngoài hiên. Ngọc nhìn ra: Một vị hòa thượng mình mặt áo vải nâu rộng, chân đi đôi guốc gốc tre già, tay chống cái gậy trúc, ung dung bước vào.

Ngọc đứng dậy chấp tay vái:
- Lạy bác ạ.
- Cháu đấy à? Cháu đã được nghỉ hè rồi?
- Vâng.
- Me cháu được mạnh chứ?
- Cảm ơn bác, me cháu nhờ giời vẫn mạnh.
Chú Lan nghe Ngọc nói, tủm tỉm cười, đi ra. Mấy phút sau chú bưng lên thau nước, Ngọc trông thấy vội vàng đứng ra hiên:
- Cám ơn chú, chú để đấy cho tôi.
Sư cụ nói tiếp:
- Sao không lấy ghế đẩu? Chú không thấy thầy ấy vận quần áo tây à?
Ngọc đỡ lời:
- Được, bác để mặc cháu.
Rồi trỏ vào cái khăn mặt vải ta nhuộm màu nâu còn mới, hỏi chú tiểu:
- Khăn của chú đấy chứ, chú Lan?
- Thưa ông, khăn mới lấy ở hòm ra đấy ạ.
Sư cụ mắng:
- Sao không lấy khăn mặc bông để thầy ấy dùng?
Rồi quay lại hỏi Ngọc:
- Cháu mới đến nhà chùa mà đã biết tên chú ấy là Lan?
- Thưa bác, cháu gặp chú Lan hỏi chuyện nên biết.
Lúc đó Ngọc lại thấy chú tiểu cười. Liền hỏi thầm:
- Sao chú cười tôi?
Lan khẽ đáp:
- Vì thấy ông xưng cụ là bác. Ông nên bạch cụ. Đã xuất gia tu hành thì người nhà dẫu thân đến đâu cũng không nhận được họ.
Ngọc mỉm cười:
- Thế à? Cảm ơn chú, nhé. Xưa nay tôi không hỏi tường tận nên không biết.
Một lát, chú Mộc lên mời Ngọc xuống nhà trai ăn cơm. Ngọc đứng lên xin phép sư cụ rồi theo chú tiểu đi qua sân, tới một nếp nhà ngang dài đến mười gian, nhưng chỉ để ba gian làm nhà tiếp khách thập phương, còn thì ngăn ra từng buồng làm phòng ngủ. Ở đây bài trí có phần lịch sự hơn ở nhà Tổ: gian giữa, giáp cái sạp gỗ mít, kê một cái bàn, và đôi tràng kỷ lim lâu ngày đã đen bóng. Trên xà treo một cái đèn ba giây, có chụp thủy tinh men trắng. Hai bên kê sát từ tường ra tới gưỡng cửa ba bộ ghế ngựa quang dầu ghép liền với nhau.
Ngọc nhác nhìn mâm cơm đặt trên bàn mủm mỉm cười. Buổi tối thấy nhà chùa có vẻ náo nhiệt, nhộn nhịp, kẻ lên người xuống, lách cách bát đĩa, nồi mâm, chàng vẫn tưởng các chú tiểu sửa soạn một bữa tiệc sang để thết khách quý. Ai ngờ trên chiếc mâm gỗ vuông chỉ lỏng chỏng có đĩa dưa, đĩa cà và đĩa muối vừng.
Lúc đó chú Lan bưng lên một bát đậu phụng kho tương, khói bay nghi ngút. Chú hơi cau mặt, hỏi chú Mộc:
- Sao chú không bảo bà Hộ rán đậu?
- Dầu lạc hết rồi, mai mới mua được.
Chú Lan quay lại nói với Ngọc:
- Thưa ông, bữa nay ông hãy xơi tạm. Nếu mai ông muốn dùng cơm mặn, xin bảo bà Hộ làm riêng để ông dùng.
Ngọc tươi cười đáp:
- Cảm ơn chú, nhưng tôi thích ăn cơm chay.
- Ông quen ăn mặn nên dùng vài bữa cho biết mùi, chứ ông ăn mãi cơm chay thế nào được.
- Được chứ. Bên tây cũng có người chỉ ăn rau cùng hoa quả quanh năm mà lại khỏe mạnh hơn là ăn thịt.
- Thế à, thưa ông? Nếu vậy càng hay.
- Không những tôi thích ăn chay, tôi lại muốn xin phép cụ được cùng ăn với hai chú cho vui.
Chú Lan cười:
- Thế không được.
- Sao vậy? Tôi chỉ muốn nếm mọi sự tham khổ của đạo Phật, vì tôi thấy tôi yêu đạo Phật lắm, nhất từ ngày tôi bị....
Nói đến đấy, Ngọc ngừng ngay lại. Suýt nữa chàng đem chuyện riêng của mình ra thổ lộ với chú tiểu. Ngọc không hiểu vì đâu lúc mới gặp chú Lan chàng đã có lòng quyến luyến, và, như người gặp bạn thân, muốn đem hết những sự đau đớn phiền muộn của mình cùng chú chia xẻ.
Ngọc ngồi âm thầm nghĩ ngợi, hình như đương ôn lại một quãng đời dĩ vãng thì chú Lan đã xới bát cơm đặt lên mâm, nói:
- Mời ông xơi cơm.
- Cảm ơn chú. Sao chú bảo tôi không thể ngồi ăn với các chú được?
- Thưa ông, có hai cớ: một là, như thế người ta cười, hai là, chúng ta đã tu hành, thì không phải ăn kham khổ, mà lại không được ngồi cùng mâm với...
- Với người trần tục, phải không?
- Nghĩa là người không tu hành. Như đến mai có dọn cơm ông ngồi xơi hầu cụ cũng phải bưng hai mâm, chứ không được ngồi cùng mâm với cụ.
- Lạ nhỉ? Nhưng nếu như tôi cũng đi tu thì được chứ?

Chú Lan mỉm cười:
- Vâng, nếu ông thụ giới, nhưng khi nào ông lên chức sư cụ thì mới được, nghĩa là ít ra cũng ba mươi năm nữa.
Lúc đó nghe có tiếng mõ. Chú Lan vội vàng chạy lên nhà tổ. Ngọc cũng bắt đầu ăn cơm. Quay ra phía bên thấy chú Mộc đứng khoanh tay, Ngọc liền hỏi:
- Sao chú Lan nghe tiếng mõ lại chạy hấp tấp đi đâu thế?
- Bẩm, sư tổ gọi.
- Cụ gõ mõ gọi à?
- Vâng. Nếu có hiệu lệnh mà không thưa khiến cụ đánh đến tiếng thứ tư thì chúng tôi phải ra ngay sân quì để chịu tội.
- Luật nhà chùa uy nghiêm nhỉ?
- Chả cứ chúng tôi, đến sư bác, sư ông cũng vậy. Năm ngoái sư ông đến đây cũng quỳ đến nửa ngày.
- Thế à? Vậy bây giờ sư ông đâu?
- Bẩm, cụ cho đi trụ trì ở chùa gần đây.
- Vậy ở đây chỉ có chú với chú Lan?
- Vâng.
- Chắc rồi hai chú cũng lên sư bác chứ gì?
- Thưa ông, tôi thì còn lâu lắm. Nhưng chú Lan rất sáng dạ. Mới thụ giới hai năm nay kinh kệ đã thông lắm. Có lẽ ít nữa thế nào cũng được lên sư bác.
- Bẩm nghe đâu chú ấy ở Ninh Bình, cha mẹ mất cả.
- Nhưng kìa, sao chú không đi ăn cơm?
- Thưa ông, ở chùa chỉ ăn có hai bữa, một bữa sáng sớm, một bữa đúng ngọ.
- Thế không đói à?
- Khổ hạnh lâu ngày quen đi chứ. Chính phép nhà chùa, thì chỉ dùng được một bữa cơm trưa mà thôi.
- Nhưng tối chắc đó chỉ là luật pháp nhà chùa, đã dễ ai tuân theo.
- Ấy, những người không tu hành vẫn đều tưởng thế. Có người lại ngờ chúng tôi ăn thịt, ăn cá nữa, nhưng chẳng bao giờ có thế. Nhất là ở đây sư tổ tôi lại nghiêm giới lắm. Sai một tí là cụ phạt ngay.
Ngọc phần thì đói, phần thì cơm chay lạ miệng, nên ăn ngon lắm. Chàng nghĩ bụng: cứ bảo ở chùa kham khổ, nhưng đậu, vừng cùng dưa, cà chẳng kém gì thịt cá. Tự nhiên trong trí Ngọc nẩy sinh ra cái ý tưởng muốn xa lánh chốn phồn hoa.
Ngoài sân ánh trăng chiếu lờ mờ, rặng tường hoa lồng bóng xuống lối đi lát gạch, mấy cây đại không lá ẻo lả, uốn thân trong vườn sân um tươi. Vạn vật có vẻ dịu dàng như muôn màu thiền êm đềm tịch mịch....
II
Sáng hôm sau, Ngọc đương ngủ say, bỗng tiếng chuông chùa inh ỏi đánh thức. Ngọc giật mình, mở choàng mắt, ngơ ngác, không nhớ mình nằm ở đâu. Thấy chú tiểu Mộc bưng đặt thau nước trên chiếc ghế đẩu, Ngọc chợt nhớ ra và hỏi:
- Mấy giờ rồi chú?
- Thưa ông, vào khỏang cuối giờ dần, sang đầu giờ mão.
Ngọc nghe nói, mỉm cười, súng sính bộ quần áo "pijama" ra hiên rửa mặt. Trong vườn trước sân, các lá sắn hình hoa thị còn đọng giọt sương lóng lánh. Dưới chân đồi một dòng nước bạc thấp thoáng lượn trong sương mù.
Mặc xong quần áo, Ngọc vội vàng lên chùa.
Trên chiếc bục gỗ, trải chiếu đậu, sư cụ ngồi tụng kinh, mắt đâm đâm nhìn thẳng vào quyển sách có chữ to đặt trên cái kỷ nhỏ gỗ mộc. Tay phải sư cụ gõ mõ như để chấm câu, cứ đọc bốn chữ lại đánh một tiếng. Tay trái sư cụ đặt trên quyển Kinh, thỉnh thoảng lại rời trang giấy, nhắc chiếc dùi gõ vào thành cái chuông con hình dáng như cái lon sành.
Sư cụ có vẻ tôn nghiêm lắm. Bao nhiêu tâm trí thu cả vào quyển Kinh, không hề thấy cụ liếc mắt ra chỗ khác. Các pho tượng ngồi trên bệ gạch như đương lắng tai nghe, có vẻ trầm tư mặc tưởng.
Tiếng kinh du dương, mùi trầm ngào ngạt, Ngọc tưởng tượng sống trong một thế giới khác, thế giới mộng ảo thần tiên... Bỗng một tiếng chuông. Ngọc giật mình ngỏanh lại. Theo tiếng ngân, chàng lần tới một cái bậc gạch bên tả, rón rén lần từng bước leo lên cái gác chuông con. Tới bận thượng cùng, vừa nhô đầu lên, chàng nghe có tiếng "đà Phật" rồi kế tiếp một tiếng chuông. Ngước mắt nhìn, chàng gặp chú Lan tay cầm chiếc vỗ gỗ.
Thấy Ngọc, Lan hơi đỏ má, mỉm cười ngả đầu chào.
Đôi bạn mới gặp nhau hôm qua nay đã như có chiều thân mật. Song chú tiểu vẫn chăm chú vào phận sự: đọc đứt một câu lại đánh chuông. Những câu niệm Phật ấy dần dần ngắn bớt, và những tiếng chuông kế tiếp một lúc một thêm gần nhau cho tới khi đổ hồi.
Ngọc đứng chờ đến mười lăm phút cho chú tiểu đánh xong hồi chuông cuối cùng, đặt vồ xuống gác.
- Sao chú phải cầu kinh thế mới đánh được chuông?
Lan cười:
- Đánh chuông phải đọc thần chú, chứ.
- Thần chú! Hay nhỉ?
- Nghĩa là mười câu niệm Phật, ba hồi, một trăm hăm ba tiếng.
- Vậy nhớ được cũng khó lắm nhỉ?
- Phải học thuộc lòng chứ.
- Những ba hồi, một trăm hăm ba tiếng! Thảo nào mãi bây giờ mới dứt hồi. Tiếng chuông thứ nhất của chú làm tôi thức giấc. tôi tiếc quá, vì đương giở cái chiêm bao.
Lan dịu dàng hỏi:
- Thưa ông, chiêm bao lành hay dữ?

- Chiêm bao thú lắm. Tôi thấy tôi đi với một người sư trẻ tuổi, chỉ vào trạc tuổi chú mày mà thôi. Chúng tôi đi trên con đường quanh co ngoắt ngoéo, ở giữa hai trái đồi. Cây cối um tùm, ánh trăng chiếu sáng qua những khe lá, bóng in xuống đất như gấm như hoa. Một lát sau chúng tôi đến một cảnh bồng lai. Dưới chân một ngọn núi, dòng nước chảy róc rách như tiếng gõ mõ, tên cành, chim hót véo con, bên mình, ai cười khanh khách. Tôi quay đầu lại, thì lạ quá! Bạn tôi đã biến thành một trang tuyệt thế giai nhân... Ấy chính lúc đó, tiếng chuông của chú làm tôi thức giấc.
Chú Lan bẽn lẽn:
- Mộng mị của ông đầu Ngô, mình Sở đến buồn cười!
- Lạ nhất là người con gái ấy lại là chú.
Chú tiểu hai má ửng đỏ. Chú cười sằn sặc như muốn giấu hổ thẹn rồi đáp lại:
- Nam mô A di đà Phật! Kẻ đã quả quyết xuất gia tu hành thì trai cũng thế mà gái cũng thế, có khác chi. Vậy bây giờ giá đức Thích già có dùng phép mầu nhiệm bắt tiểu này hóa ra làm gái, cũng không có gì thay đổi cả, kia mà. Tôi còn nhớ một hôm sư tổ giảng sự tích Phật, có dạy rằng:
"Phật bình sinh đối với đàn bà, con gái vẫn có bụng nghi ngờ, cho rằng bọn họ không những không đủ tư cách để tu hành được trọn vẹn mà lại thường làm sự ngăn trở sự tu hành của những kẻ thành tâm mộ đạo. Cho nên ngài thường dạy các môn đồ đối đãi với đàn bà con gái rất nên cẩn thận, phải xa lánh họ và ra công ngăn ngừa cho khỏi mắc vào lưới dục tình."
Sư tổ lại theo gương Phật mà dạy chúng tôi rằng: "Đối với đàn bà con gái phải coi họ như mẹ mình, khi họ hơn tuổi, hay bằng tuổi mình, và nếu họ kém tuổi mình thì nên coi em ruột mình, lúc nào cũng phải yên tâm yên trí như thế mới mong tránh được sự cám dỗ."
Tôi đã hết sức luyện tâm trí tôi được như lời sư tổ dạy, nên tôi coi đàn ông hay đàn bà không khác nhau chút nào, và ví phỏng bây giờ tôi hóa ra làm con gái, tôi cũng không biết là trai hay gái, chỉ nhớ rằng mình là người xuất gia tu hành mà thôi."
Ngọc ngờ Lan là gái, nên bịa đặt ra câu chuyện chiêm bao để dò ý tứ. Khi nghe Lan cố lấy giọng tự nhiên, diễn lời Phật dạy, Ngọc lại càng ngờ lắm. Chàng vừa cười vừa bảo chú tiểu:
- Chú cứ dốc lòng cầu nguyện được cãi nam vi nữ đi, đức Thích già sẽ chuẩn y cho sự ước vọng của chú được thành sự thật đấy.
Lan có vẻ ngẫm nghĩ, rồi đột nhiên hỏi Ngọc:
- Đời nay có thể có bậc Quan Âm Thị Kính không nhỉ?
Ngọc ngơ ngác hỏi lại:
- Thị Kính là ai thế, chú?
Lan mỉm cười:
- Vậy ra về đạo Phật ông kém cỏi lắm nhỉ? Thế mà muốn đi tu sao được! Bà Thị Kính tức Quan Âm, là một người Triều Tiên cải dạng nam trang để xuất gia đầu Phật... Chắc nay trong đám phụ nữ chả ai có gan dám cải dạng như thế.
Ngọc ngẩn người ra, nghĩ vơ nghĩ vẫn có ý buồn rầu. Quay lại thì Lan đã bước xuống thang.
- Chú xuống đấy à?
- Vâng, tôi đi thắp hương.
III
Ngọc nấn ná ở chơi chùa Long Giáng đã mười hôm, tình thân mật đối với chú tiểu Lan một ngày một thêm khăng khít, đến nỗi cả chùa sư cụ cho chí ông Thiện, bà Hộ, đều biết rằng hai người là một cặp tri kỷ, ý hợp tâm đầu.
Từ hôm nói chuyện với chú tiểu ở trên gác chuông, mối hoài nghi của Ngọc một ngày một tăng. Trí nghĩ lúc nào cũng nhắc tới câu hỏi:
- Gái hay trai?
Hỏi rồi lại tự trả lời:
- Chả có lẽ là gái, những lời bàn về đạo Phật của chú tiểu có ý khinh bỉ cánh phụ nữ... Nhưng ta cũng ngốc tệ! Phải, nếu hắn là gái thì hắn càng cần phải làm thế để giấu ta chứ... Đích rồi, chính hắn là gái.
Hôm ấy Ngọc hai tay chắp sau lưng, thung thăng đi bách bộ dưới rặng thông già.
- Ta hẹn cho ta mười hôm nữa là cùng, phải tìm ra sự bí mật này.
Lúc ấy có tiếng ai gọi:
- Thầy phán!
Ngọc quay đầu lại. Một bà lão cắp rổ chè tươi rảo bước đi tới.
- Bà cụ gọi tôi?
- Thầy có phải ở chùa Long Giáng không?
- Phải, cụ hỏi điều gì? Hay cụ muốn bán chè?
- Tôi nhờ thầy bảo giùm chú Lan cho rằng đừng chờn vờn đến nhà tôi nữa mà có ngày què cẳng.
- Sao vậy cụ?
Bà lão mặt hầm hầm tức giận:
- Ai lại đã tu hành còn ghẹo gái...
- Cụ lầm đấy? Chẳng khi nào chú Lan lại bậy thế.
- Chả khi nào! Con cháu nhà tôi từ ngày nó gặp chú ấy nó sinh ốm, sinh đau, mất ăn, mất ngủ.
Ngọc cười:
- Thế thì lỗi ở cháu cụ, chứ ở đâu chú Lan! Đừng ngờ cho người ta tội nghiệp, cụ ạ.
- Nếu nhìn nó, chú ấy không cười cợt nhí nhãnh thì đâu nên nỗi.
- Được, cụ để tôi về bảo chú ấy cho.
Bà lão vui vẻ:
- Vâng, thầy giúp cho. Tôi chào thầy ạ.
- Không dám, chào cụ.
Ngọc chau mày, lo lắng tự hỏi:
- Lạ nhỉ, có lẻ hắn là trai thật sự ư?... Mà sao hắn lại không phải là trai? Trí ta tiêm nhiễm tiểu thuyết quá, hóa quẩn mất rồi.
Ngọc loay hoay suy nghĩ vừa đi vừa nhìn xuống đất. Bỗng nghe tiếng sột soạt trong vườn chè bên con đường hẻm. Kiễng chân nhìn qua hàng rào, thấy chú Mộc đương buộc bó cành khô, Ngọc chào:
- Kìa, chú tiểu.
Chú Mộc chưa kịp đáp lại, chàng đã lấy tay rẽ một lối bước vào vườn:
- Chú đã nhặt đủ hai ôm rồi à? Đưa lạt tôi bó giúp cho một bó.
- Thôi, ông để mặt tôi, không bẩn áo.
Ngọc ngắm chú Mộc từ chân đến đầu, mủm mỉm cười. Chú Mộc ngước mặt thấy chàng cười chẳng hiểu chi cũng cười, có biết đâu rằng Ngọc đang so sánh chú với chú Lan, một người quê mùa cục mịch, một người trắng trẻo xinh xắn. Ngọc thốt nhiên hỏi:
- Sao tên chú ấy lại là Lan nhỉ? Như tên con gái ấy.
Mộc giảng nghĩa:
- Lan là tên cụ đặt cho. Tên chú ấy chính là Thận kia.
- Sao cụ lại đổi tên cho chú ấy thế nhỉ? Tên Thận cũng hay chứ.
- Vì ai mới tu hành cũng phải bỏ tên cũ, rồi sư tổ đặt cho một tên mới, chọn trong các giống huê, chẳng hạn huê lan, huê quỳ, huê hồng...
Ngọc nghĩ thầm:
- Ra ta lầm to, ta cứ tưởng Lan là tên con gái, té ra chỉ là một tên sư cụ đặt cho. Khen thay sư cụ cũng khéo tìm được cái tên xứng đáng...
Chú tiểu lại nói:
- Chú đặt cho chú ấy cái tên Lan là vì chú ấy tới chùa vào đầu mùa xuân.
Ngọc muốn gợi chuyện:
- Nghe đâu chú ấy không được đứng đắn thì phải.
- Không, chú ấy đứng đắn lắm, mộ đạo lắm.
Ngọc lẩn thẩn hỏi:
- Chú ngủ cùng buồng với chú Lan chứ?
- Không tôi vẫn ngủ ở nhà trai. Còn chú Lan, cụ tin yêu giao cho giữ buồng kho, nên hôm nào cũng ngủ trong buồng kho, cài then kỹ lưỡng lắm. Nhiều hôm đêm khuya gọi, lay thức gì rất khó khăn.
Một tia ngờ nẩy trong trí Ngọc: làm gì mà cẩn thận quá thế? Thôi, chắc hắn là con gái rồi.
Ngọc ở nương chè về, dáng điệu buồn rầu đứng tựa cột hiên chùa, nhìn vơ vẫn. Dưới chân đồi, thẳng cửa Tam Quan trông ra, con đường đất đỏ ngòng ngoèo đi tít về phía rặng tre xanh biếc, bao bọc mấy xóm xa xa. Bên đường lạch nước vẳng lặng phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh như tấm kính dài.
Cảnh đẹp bỗng gợi lòng thích hội họa của Ngọc.
Xưa nay chàng đi chơi đâu cũng thường đem theo giấy cùng hộp màu thủy họa. Chàng liền xuống nhà trai mở va li lấy các họa cụ lên ngồi vẽ.
Đương hý hoáy trộn pha màu, nghe có tiếng cười khúc khích sau lưng, Ngọc quay lại và kêu: "Chú Lan!" Đương buồn, gặp chú tiểu, chàng lại thấy lòng vui. Chàng cũng chẳng hiểu vì sao cứ vắng chú lâu lâu, là cảm thấy mình nhớ vơ, nhớ vẫn như thiếu cái gì mà không nhận ra. Song ở nơi hẻo lánh không mấy ai biết nói câu chuyện cho ra câu chuyện thì hai người trí thức làm gì mà chẳng chóng thành một cặp tri kỷ. Cái đó có chi lạ!
Chú Lan nghiên đầu ngắm nghía bức tranh rồi bình phẩm:
- Cây đại ông vẽ sao không có ngọn?
- Không cần có ngọn.
- Vẽ thế sái.
Ngọc mỉm cười:
- Nhưng gần quá thì trông sao đủ toàn thân cây được?
- Thêm vào chứ! Mà cảnh của ông không có người.
- Ấy tôi cũng biết thế, chính tôi đương muốn tìm một người làm kiểu mẫu hộ. Hay chú đứng cho tôi vẽ nhé?
- Cứ nghĩ ra mà vẽ không được à?
- Cũng được, nhưng không đẹp, vì không giống hệt dáng bộ... đi, chú làm ơn ra đứng tựa gốc cây đại cho một lát.
- Vâng, thì ra. Nhưng ông vẽ mau lên nhé.
Ngọc đặt cái bìa cứng lên hai đùi, cầm bút chì ngồi nghĩ ngợi:
- Chú nhìn ngang về phía rặng đồi bên tả. Được đấy. Chú đứng yên cho.
Độ mười lăm phút sau, Ngọc hai tay cầm giơ bức tranh. Nhắm một mắt lại ngắm nghía rồi mủm mỉm cười:
- Xong rồi, cảm ơn chú.

Lan vội vàng bước lại gần ngưỡng cửa, chỗ Ngọc ngồi. Thoạt nhìn, chú kinh ngạc:
- Chết! Sao lại vẽ tôi mặc áo tứ thân như con gái thế?
- Không hề chi. Tôi chỉ mượn chú làm mẫu để vẽ một người con gái đẹp thôi mà.
Chú Lan có dáng không bằng lòng, nguây nguẩy quay đi. Ngọc vội giật lại:
- Này chú, chú giận tôi đấy à?
Lạnh lùng, chú tiểu đáp:
- Ông khinh tôi quá. Lần này không biết là lần thứ mấy, ông chế riễu tôi, ông coi tôi như một người con gái.
- Không phải là tôi dám khinh chú. Chỉ vì chú đẹp trai lắm kia. Mọi lần, tôi không nhớ, nhưng lần này thì tôi xin lỗi chú, quả thực tôi không có ý gì chế riễu chú, tôi chỉ muốn vẽ bức tranh cổ tích.
Chú Lan tuy giận mà cũng không nhịn được bật cười:
- Tranh cổ tích thì cần gì có hình tôi?
- Ấy thế mới vẽ chú ra một người con gái... Chính tôi muốn thuật lại bằng nét bút sự tích bà công chúa đời đức Nhân Tôn xuất gia đầu Phật, câu chuyện chú kể cho nghe bữa nọ ấy mà...
- À ra thế.
- Đây chú coi: công chúa vừa tới chùa, đứng tựa gốc đại già, nhìn về phía Thăng Long, nghĩ tới đức vua cha cùng hoàng hậu, rầu rầu giọt lệ rơi trên má...
- Thế thì ông vẽ sai rồi. Công chúa quả quyết đi tu, mới tới chùa là vui đạo Phật ngay...
- Truyện thực tế vẫn thế. Nhưng tôi muốn tả cái tâm tình công chúa lúc bấy giờ đương phân vân nửa muốn quay về nơi đế đô vì sơ cha mẹ nhớ thương, nửa muốn ở lại mà tu thành quả phúc.
Lan mỉm cười, Ngọc thấy Lan cười cũng cười theo, rồi nói luôn:
- Lúc bấy giờ có tiếng chuông chùa ngân nga như để đánh tỉnh cơn mê, như để gột rửa linh hồn trần tục của công chúa...
Lan lại cười:
- Ông vẽ sao được tiếng chuông?
- Vẽ được. Nghĩa là vẽ công chúa, con mắt lờ đờ ngước nhìn trời như đương nghe chuông chùa mà cầu khấn đức Thích già Mâu ni, xin ngài cứu vớt cho thoát được chốn trầm luân.
- Nếu ông vẽ được thế thì khéo lắm. Còn vẽ công chúa mặc áo tứ thân thì chắc ông theo sự tích Phật và Phật tổ khi đã rời bỏ cung điện, liền cởi bộ gấm đổi lấy áo cà sa của một vị hòa thượng...
Ngọc tuy không hiểu sự tích Phật cũng trả lời liều:
- Ấy chính thế.
Một lúc lâu, hai người ngồi im lặng trên thềm hiên chùa, mỗi người như đương theo đuổi một ý tượng riêng.
Về phía đông nam mấy trái đồi phản chiếu ánh chiều tà nhuộm một sắc da cam. Nền trời xanh nhạt, lơ thơ mấy áng mây hồng. In trên cánh đồng lúa chín, màu vàng thẫm, con cò trắng thong thả bay về phía tây, đôi cánh lờ đờ cất lên đập xuống loang loáng ánh mặt trời. Bên cái quán gạch cũ, ẩn núp dưới đám mây đen, trên con đường hẻm, và ba đứa mục đồng cưỡi trâu hát ngêu ngao trở về trong xóm.
Ngọc cất tiếng hỏi Lan:
- Trong cảnh này tôi tưởng tượng như còn thiếu một thứ gì.
- Ấy là ông tưởng tượng đó thôi.
- Phải. Cái cảnh đẹp thế kia, êm đềm thế kia, dịu dàng thế kia, tôi coi vẫn như không có linh hồn. Cũng như lúc nãy chú bình phẩm bức tranh của tôi, chê rằng thiếu vẻ hoạt động vì không có vẽ người...
Lan cười hỏi:
- Vậy thiếu cái gì?
- Thiếu ái tình... vì cảnh yên lặng, diễm lệ này. Tạo hóa chỉ để riêng cho những người biết yêu thưởng thức.
Lãnh đạm Lan trả lời:
- Không phải. Thiếu tiếng chuông, vì đến giờ thỉnh chuông rồi mà tí nữa tôi quên baÜng.
Dứt lời Lan vội vàng cắm đầu chạy. Ngọc gọi: Đợi tôi với!
Rồi cũng chạy theo sau.
Khi lên đến đầu thang gác chuông, bỗng Lan kêu rú lên một tiếng, lùi lại. Ngọc vừa bước tới, thành thử Lan ngã ngay vào lòng chàng. Ngọc ôm bạn lim dim cặp mắt:
- Cái gì thế?
Câu hỏi như đánh thức linh hồn chú tiểu. Chú giật mình ẩy mạnh Ngọc ra rồi chạy tuột xuống chân thang. Ngọc theo xuống:
- Cái gì mà chú sợ hãi quá thế?
Lan thở hồng hộc ngồi xệp xuống bậc thang, nói không ra tiếng:
- Con.... rắn!
Ngọc ngơ ngác:
- Con rắn à? Chú trông thấy ở đâu? To hay bé?
Lan, mặt còn tái như gà cắt tiết, nhưng đã hơi hoàn hồn, mỉm cười gượng, trả lời:
- Bằng cái đũa cả ấy. Nó có đốm hoa.... Giời ơi! Hú vía!
- Chú để nó đấy cho tôi.
Ngọc quay đi tìm khí giới. Mấy phút sau chàng trở lại đem theo một cây đòn sóc. Lan đã hết sợ, ngăn lại:
Thôi, ông đừng đánh người phải tội. Ở nhà chùa không được sát sinh.
- Thế nó cắn mình nó có phải tội không.
Vừa nói chàng vừa xăm xăm chạy lên thang. Khi chàng gần tới nơi, Lan ngửa mặt trông, lo lắng:
- Ông hãy đứng lại nhìn quanh xem nó nằm ở chỗ nào đã, chẳng nhở vô ý dẫm phải nó, nó cắn thì khốn.
Ngọc theo lời, kiễng chân nhìn khắp một lượt rồi cúi xuống gọi:
- Chú Lan! Cứ lên. Nó chạy rồi, không thấy nó đâu nữa.
Chàng rón rén bước lên rồi xem xét lại một lượt khắp các xó gác chuông. Chú Lan cũng đã tới, nhớn nhác nhìn chung quanh chưa hết sợ.
- Bây giờ thì chú cư yên tâm niệm Phật thỉnh chuông. Rắn có trở lại đã có tôi tiếp chiến.
Câu nói khôi hài đã khiến hai người cười ran.
Rồi Lan bắt đầu thỉnh chuông. Còn Ngọc thì chống đòn sóc tựa vào tường, đứng khoanh tay, phưỡn ngực hút thuốc lá, trông ra dáng một tay hào hiệp và có vẻ tự phụ bênh vực được một người yếu đuối đã saÜn lòng ký thác sự bảo hộ cho mình.
Đêm hôm ấy, Ngọc trằn trọc loay hoay trên chiếc giường tre, không sao ngủ được, trong lòng nghĩ vẫn, nghĩ vơ. Vì lúc chú tiểu sợ hãi ôm chầm lấy Ngọc, Ngọc có một cảm giác khác thường. Cảm giác ấy vẫn còn man mác trong lòng. Ngọc tự hỏi: "Sao khi anh em bạn ta đùa ôm ta như thế, ta không thấy tim hồi hộp?... À phải rồi, chỉ vì ta yên trí rằng chú Lan là con gái".
Ngọc bỗng bật cười, cười sằng sặc. Đêm khuya thanh vắng, Ngọc tự nghe tiếng cười của mình khanh khách giữa khỏang im lặng thì rùng mình ghê sợ.
Nằm mãi không ngủ được, Ngọc liền dậy mặc quần áo đi bách bộ ngoài hiên. Hôm ấy vào hạ tuần, trăng vừa mọc, trông như cặp sừng trâu treo ngược trên đỉnh đồi. Cũng là trăng khuyết nhưng đối với trí tưởng tượng của Ngọc thì trăng thượng tuần trông dịu dàng âu yếm mà trăng hạ tuần trông lạnh lẽo buồn tẻ.
Ngọc đi đi lại lại không biết bao nhiêu lượt trên hiên nhà trai. Khi tới phòng chứa là chỗ chú Lan ngủ thì như có sức mạnh thiêng liêng gì giữ chàng lại. Chàng dừng bước đứng lắng tai nghe. Không một tiếng gì lạ, chàng lại đi.
Một lần, Ngọc áp má vào cánh cửa buồng. Bỗng cánh cửa mở tung ra, làm Ngọc suýt té nhào. Thì ra buồng kho không có ai. Ngọc đứng nhìn quanh khắp một lượt, nghĩ thầm:
"Quái! chú này đêm khuya đi đâu thế? Được, ta cứ thung thăng bách bộ, thế nào hắn cũng trở về buồng." Khi đến đầu hiên bên kia, Ngọc trông lên chùa trên, nhác thấy ở chỗ khe cửa tò vò có một vật đen đen vừa đi vụt qua. Liền lần tới, se sẽ ẩy cửa bước vào.
Trong chùa lờ mờ tối. Trên bàn thờ, ngọn đèn dầu lạc leo lét chiếu ánh. Một cái bóng đen với bó hương tỏa khói.
Ngọc trụt giầy rơm, rón rén lại gần, thì thấy chú Lan cắm hương vào bát hương, rồi quỳ trên bục gỗ, chấp tay lâm râm cầu khẩn. Ngọc tuy núp sau cái cột ngay bên cạnh, nhưng vì Lan khấn nhỏ quá, không nghe rõ; chỉ thỉnh thỏang lọt vào tai Ngọc những mẩu câu, đại khái "Phù hộ cho đệ tử... đủ nghị lực... xa chốn trầm luân..." Lạ nhất là luôn luôn Ngọc nghe rõ Lan nhắc đến tên mình đi liền với một tên khác, hình như Thi thì phải.
Ngọc liền ở chỗ ẩn núp đi ra, định đến vỗ vai chú tiểu. Nhưng bấy giờ tâm trí để cả vào sự cầu nguyện, Lan không biết rằng Ngọc lại gần, thành thử chàng đứng ngay sau lưng mà chú vẫn không ngờ. Ngọc bỗng giật mình kinh sợ, vì chàng vừa nghe chú tiểu khấn một câu ghê gớm:
"Đệ tử đã dốc lòng tin mộ đạo, không ngờ nay mới biết lòng trần tục vẫn chưa rũ sạch. Nhưng đệ tử xin thề ở trước mặt đức Từ bi..."
Nghe tới đó, Ngọc rón rén lui về phía cửa, rồi lẳng lặng bước ra.
IV
Sáng hôm sau rong chùa Long Giáng kẻ tới, người lui, có vẻ tấp nập rộn rịp.
Dưới nhà ngang đối diện với nhà trai, ông Hộ và ba, bốn người làng đến giúp việc đứng bên chiếc bàn dài, kẻ lau lá mít kẻ đóng oản, tiếng kêu chí chát. Chốc chốc lại thấy có người đội voi giấy, ngựa giấy và những hình nhân đến.
Ngọc tuy lần đầu được mục kích quang cảnh ấy ở chùa, nhưng cũng chẳng lưu ý tới. Lòng chàng đương băn khoăn về câu chuyện tối hôm qua, nên nhớt nhác chàng đi tìm Lan để dò cho ra bí mật.
Lên trên chùa chàng gặp chú Lan đương cầm phất trần phẩy bụi ở các pho tượng, còn chú Mộc thì lúi húi lau các cây đèn nến và bình hương, ống hoa. Ngọc lại gần hỏi:
- Chùa ta sắp có việc gì mà có vẻ náo nhiệt thế?
Chú Mộc quay lại trả lời:
- Hôm nay bắt đầu làm chay cho vong linh ông Hàn.
- Thảo nào ở nhà tổ thấy nhiều đồ mã thế.
Ngọc chỉ hỏi, chỉ nói cho qua quýt, nhưng bao tinh thần đều chăm chú cả vào Lan, mong cho chú Mộc bỏ đi để được ở lại một mình với Lan. Im một lúc lâu, chàng lại vơ vẫn hỏi Mộc:
- Chú không xuống nhà giúp việc đóng oản?
- Không phải việc của tôi.

Câu trả lời cộc lốc khiến Ngọc khó chịu. May sao, chú Lan như giúp nguyện vọng của chàng, bỗng bảo chú Mộc chạy qua xuống nhà tổ xem sư cụ có truyền điều gì không, vì hai người cắm cúi suốt từ sáng sớm đến giờ ở trên chùa. Ngọc nghĩ thầm: "Hắn vô tình hay hắn muốn ở lại một mình với ta? " Song tuy được như lòng ước mong mà chàng cũng chẳng biết hỏi câu gì? Quái lạ, trước chàng mới ngờ bạn là gái thì đứng trước mặt bạn, cử chỉ ngôn ngữ còn được tự nhiên. Nay đoán chắc bạn là gái rồi thì lại thấy mình bẽn lẽn, ngượng nghịu. Có lẽ đó là tính nhút nhát của con người có giáo dục, có lương tâm. Hay đó chính là ái tình?
Ngọc mủm mỉm cười. Trong lòng sung sướng, chàng đương tìm cách khai mào câu chuyện. Bỗng có tiếng guốc lộp cộp. Ngoảnh lại, thì sư cụ đã đến gần, cười bảo Ngọc:
- Cháu lên đây để nghỉ ngơi, cần được yên tĩnh mà gặp tuần chay thế này chắc phiền cho cháu lắm nhỉ?
- Bạch cụ, cũng không sao ạ. Nhưng cháu ở chùa làm phiền cụ và làm khó nhọc cho các chú tiểu, tới nay đã hơn nửa tháng, nên cháu muốn xin phép cụ mai cháu về Hà Nội.
Ngọc vừa nói vừa nhìn Lan xem Lan có tỏ ra vẻ mặt vui, buồn chăng, nhưng vẫn thấy Lan điềm nhiên đứng cầm phất trần phẩy bụi, không hề lưu ý đến mình.
Sư cụ ngẫm nghĩ một lát, rồi trả lời:
- Nếu cháu sợ chuông trống làm ầm ỹ thì bác chả dám giữ.
- Bạch cụ, không phải thế.
- Hay cháu sợ ngăn trở việc học của cháu. Nếu chỉ có thế thì cháu cứ kê các tên sách cháu cần dùng, vài hôm nữa bác bảo chú Lan về Hà Nội lấy lên cho cháu.
Ngọc ngỏ lời xin về là chỉ để dò ý tứ Lan, nên thấy sư cụ giữ thì đứng im. Sư cụ biết Ngọc thuận ở lại quay ra bảo Lan:
- Xong việc làm chay, chú về Hà Nội...
Ngọc vội đỡ lời:
- Bạch cụ, cháu đã đem đủ các sách rồi.
- Thế thì càng hay. À, này cháu, bác nghe nói Tây người ta cũng dịch kinh Phật, có phải không?
- Bạch cụ, vâng. Nhất là một quyển của người Đức, cháu nghe nói có giá trị lắm, nhưng cháu chưa đọc.
- Cháu biết tiếng Đức à?
- Bạch cụ không, nhưng sách ấy có bản dịch chữ Pháp.
- Vậy thì cháu nên mua mà xem để biết qua đạo Phật.
Ngọc nhìn Lan mỉn cười:
- Bạch cụ, để rồi cháu nhờ chú Lan giảng cho cũng đủ.
- Chú ấy đã biết gì. Nhưng cháu còn bận bao nhiêu thứ. Khi nào thi đỗ đã rồi hãy khảo cứu về đạo Phật cũng được. Cháu chỉ nên biết rằng đạo Phật huyền bí lắm, chứ những điều trông thấy ở trước mắt không phải là điều cốt yếu của đạo Phật đâu. Cho chí những việc lễ bái, đàn chay cũng là phải có để khuyên đàn bà và những kẻ vô học làm điều thiện đó thôi.
Sư cụ đứng nhìn quanh một lượt rồi hỏi chú Lan:
- Chú Mộc đâu?
- Bạch cụ, chú Mộc vừa xuống nhà Tổ.
- Chú ấy chưa đi mời các sư ông chùa Long Vân, Hàm Long đến dự lễ à?
- Bạch cụ, chưa.
- Thôi chú ở lại sửa soạn, quét tước để ta bảo chú Mộc đi ngay kẻo muộn.
Sư cụ vội vàng đi ra.
Ngọc đứng ngắm chú Lan làm việc, cố tìm cách gợi câu chuyện bí mật. Chàng đến gần nói:
- Tôi xin về, cụ chưa cho về, chán quá!
Lan không quay lại, trả lời:
- Ông quen ở nơi đô hội náo nhiệt, lên đây thấy cảnh chùa chiền tịch mịch chắc buồn lắm.
- Không phải thế. Tôi chỉ sợ tôi ở đây lâu làm phiền chú, mà lại phiền cả cho tôi.
- Sao lại phiền đến tôi được, thưa ông? Còn như ở đây có ai làm phiền ông thì ông cứ lên bạch cụ.
Nghe câu trả lời gióng giẳng. Ngọc mủm mỉm cười, rồi bạo dạn nhìn thẳng vào mắt chú Lan và nói:
- Có gì phiền đâu, chỉ vì trước kia tôi yêu một người hình dung, diện mạo như hệt chú...
Chú Lan điềm nhiên nói tiếp:
- Nên nay ông gặp tôi lại nhớ tới, A di đà Phật, người tình nhân của ông, phải không?
- Chính thế! Tình nhân của tôi tên là Thi.
Lan khẽ hỏi:
- Tên là Thi?
Chú mặt ngẫm nghĩ, rồi ngẩng phắt lên mạnh bạo nhắc lại:
- Tên là Thi, thưa ông?
- Phải, tên là Thi, Chú là lạ chăng?
- Cũng hơi lạ.
Lan chỉ mỉm cười không trả lời. Ngọc càng ngờ lắm giả vờ kể lể chuyện riêng:
- Tôi yêu cô Thi, sắp sửa hỏi làm vợ thì bỗng cô ấy đi đâu mất. Dáng chừng chú cũng quen biết cô ta nên cho là một sự lạ chứ gì? Có người bảo tôi rằng cô ấy đi tu, nên tôi cứ lần mò các chùa chiền để đi tìm...
Lan nghe tới đó cười khanh khách nói tiếp theo:
- Vậy ra ông tới chùa Long Giáng chỉ có một mục đích ấy? Nhưng cô Thi tôi quen biết chắc không phải là cô Thi của ông đâu, xin ông đừng vội mừng. Đáng lẽ ở trước cửa từ bi chẳng nên nói tới câu chuyện nhăng nhít, nhưng xin Ngài cũng thấu nỗi khổ tâm của kẻ tu hành này mà tha thứ cho. Ông nghe câu chuyện của tôi sắp kể đây xin giữ bí mật cho, nhé!
- Được, tôi xin giữ bí mật.
- Có gì đâu! Gần đây, một người thiếu nữ hơi có chút nhan sắc, hễ gặp tôi là thả lời chòng ghẹo, tôi van thế nào cũng không được. Tên cô ấy là Thi. Vì thế thường thường đêm khuya tôi vẫn lên Chùa cầu nguyện đức Thích ca phù hộ và giáng phép mầu nhiệm cho cô ta tỉnh ngộ mà buông tha cho kẻ tu hành này ra.
Ngọc nghe câu chuyện, ngẫm nghĩ: "Có lẽ nào lại thế? Hay hắn biết ta đã khám phá được sự bí mật của hắn nên hắn bịa ra câu chuyện ấy? " Đã toan hỏi căn vặn, thì bỗng chú Lan nói một mình:
- Chết chửa! Chưa bảo ông Hộ đi mượn bàn.
Rồi chú hấp tấp chạy xuống nhà.
Lan tưởng làm thế để đánh trống lảng, nhưng ngờ đâu càng khiến Ngọc đoán chắc chú là gái. Vì Ngọc nhận ra rằng hễ khi nào câu chuyện đến chỗ nguy hiểm là Lan tìm cớ nọ cớ kia để xa lánh. Ngọc mừng thầm nói một mình: "Có tài thánh cũng không giấu nổi ta".
Vừa nói rứt câu đã thấy Lan ở dưới chạy lên, nét mặt thản nhiên tươi cười. Ngọc ỡm ờ hỏi:
- Chắc tối hôm nay làm chay có chạy đàn, thì thế nào cô Thi cũng đến xem nhỉ?
Lan vô tình không hiểu:
- Cô Thi nào?
- Cô Thi của chú, chú đã quên rồi.
- Nam vô A di đà Phật! Ông chớ nói đùa, nhỡ đến tay cụ thì còn ra sao?
- Nhưng chuyện có thực đâu mà chú sợ... Chú ạ, cô Thi của chú yêu chú, mà chú không thể yêu được, còn cô Thi của tôi, thì tôi yêu mà cô lại không thể yêu được tôi, hay cô không muốn yêu tôi.
Chú Lan nghiêm sắc mặt trả lời:
- Nếu ông còn muốn tôi nói chuyện với ông thì xin từ nay ông đừng đem những chuyện bậy bạ kể cho tôi nghe nữa.
- Xin vâng. Chỉ vì tôi coi chú là người bạn thân của tôi nên mới dám ngỏ tâm sự với chú. Nhưng chú không muốn nghe thì thôi, can chi mà chú phải giận.
Lan, mặt đỏ bừng, trách Ngọc:
- Xin ông biết cho rằng vì tôi thấy ông là người có lễ độ, có học vấn nên thỉnh thỏang muốn đem đạo Phật ra bàn cùng ông, cho rộng kiến thức. Nhưng nếu chỉ là câu chuyện bất chính, phạm tới tám điều răn thì xin từ nay ông tha cho.
Ngọc cười gượng:
- Thôi, xin lỗi chú.
Luôn hai tối các nhà sư ở những chùa lân cận tiếp được giấy mời của sư cụ Long Giáng về tề tựu đến dự lễ rất đông.
Ngoài sân chùa, ở giữa bày ba tầng án thư chồng lên nhau theo hình bậc thang. Hai bên cũng đều có án thư. Nến thắp linh tinh, ánh sáng phản chiếu vào những mặt kính tròn ở các mũ giấy bày la liệt, trong lấp lánh tựa những ngôi sao.
Đêm nào các nhà sư cũng cắt lượt nhau tụng kinh đến tận hai, ba giờ sáng, hoặc ngồi ở chiếu giữa, hoặc đứng sát các án thư bên. Cứ xong một lần tụng niệm lại có đánh trống lớn, trống con, thanh la, não bạt, nghe rất là inh ỏi.
Đêm thứ ba vào đàn giải kết.
Sư cụ chùa Long Giáng vì già yếu, mà việc đàn chay lại khó nhọc, nên một đồ đệ của cụ là sư ông chùa Long Vân đứng chủ trương. Sư ông ngồi ở chiếu giữa, tụng kinh một lúc lại chạy vòng quanh đàn vài vòng, nhanh hay chậm tùy theo nhịp trống. Sau lưng sư ông gần hai chục người chạy theo, nào tiểu, nào vãi, nào thiện nam, tín nữ cùng là những người nhà sự chủ.
Đứng ngắm một tràng người, tay chấp ngực chạy lượn quanh co, khi tiến, khi lui rất nhẹ nhàng, ăn nhịp, như lăn trên đôi bánh xe nhỏ, Ngọc tưởng tượng đến những người bằng giấy trong chiếc đèn kéo quân đêm hôm rằm tháng tám.
Chạy xong một tuần, sư ông lại vào chiếu giữa múa mênh quyết ấn trông rất dẻo tay, rồi cầm kéo cắt những đồng tiền kết giấy thành hình người và treo lủng lẳng ở ba hàng giây chăng quanh bàn. Mỗi lần cắt bốn, năm đồng kỳ cho hết là tan đàn.

Trong khi ấy thì những người tì tùng hoặc ngồi lễ ở sau lưng sư ông, hoặc đứng sang một bên, lẩn vào chỗ người đi xem.
Ngọc đứng chờ ở một xó, hễ thấy chạy xong một lần lại vẫy gọi chú Lan nhờ giảng nghĩa hộ. Đến lần thứ ba, thứ tư, Ngọc chỉ gật sẽ một cái, Lan đã vội chạy lại.
Ngọc cười, hỏi Lan:
- Này chú, sau lại có cả hai người kia cũng chạy đàn?
- Hai người nào?
- Một người gánh một gánh cỏ và một người buộc con ngựa giấy vào mình trông như cưỡi ngựa vậy, nhất nghe tiếng nhạc kêu càng thấy hệt lắm.
- Đấy là người giữ ngựa và người cắt cỏ cho ngựa ăn, đi theo hầu thầy Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh. Đàn này tức là ôn những sự tích đi lấy kinh.
Bấy giờ có tiếng ai the thé trả lời ở sau lưng:
- Sự tích ấy tôi cũng biết, chép trong chuyện Tây Du chứ gì?
Ngọc quay lại thấy một cô xinh xắn, nước da bánh mật, con mắt ti hí, vận gọn gàng như phần nhiều các cô gái quê vùng Bắc. Chàng nói đùa một câu:
- Cô bảo cô biết sự tích thì cô thử kể lại cho tôi nghe xem nào?
Cô kia cho là Ngọc chế nhạo, cúi đầu không trả lời. Ngọc đoán ngay là cô con gái phải lòng chú, liền lại hỏi:
- Có phải cô Thi của chú đây không?
- Nam mô A di đà Phật!
Ngọc chưa kịp hỏi câu thứ ba, chú Lan đã vội vã trông đàn, vì lúc bấy giờ cắt kết xong, sư ông đã trở ra sân để chạy. Ngọc nhìn theo thấy người con gái ban nảy cũng chạy, liền ngay đằng sau chú Lan, nét mặt hớn hở, khiến chàng không thể nhịn cười được.
Đàn vừa tạm nghỉ, Ngọc lại ngay chỗ hai người, mỉm cười và khen ngợi:
- Chú chạy đẹp quá, nhất có cô... Cô gì, à cô Thi, chạy theo sau càng đẹp lắm.
Người con gái nghe gọi đến tên Thi thì ngơ ngác nhìn Ngọc rồi lại nhìn chú Lan. Ngọc thấy thế nhớ ngay đến câu chuyện khấn khứa đêm hôm nào. Chàng nghĩ thầm: "Thôi đích rồi, hắn bịa ra câu chuyện để chống chế chứ gì." Tuy biết vậy chàng vẫn vờ như không lưu ý đến vẻ mặt ngạc nhiên của cô gái quê. Không những thế, chàng còn cố làm lạc hẳn câu chuyện đi và vẫn vơ hỏi cô kia:
- Cô biết chuyện Tây Du à?
- Vâng, tôi biết! Em tôi vẫn mượn sách của con ông Bá về nhà đọc, tôi được nghe... Truyện vui lắm kia... nhỉ, chú Lan nhỉ?
Lan nghiêm nghị trả lời:
- Tôi không biết mà tôi xin cô đừng nói chuyện với tôi nữa, tôi nghe chuyện cô đâu.
Cô ả cười, ngả nghiêng cái đầu và cất giọng nủng nịu:
- Không nghe tôi cũng cứ nói.
Chú tiểu càng giận:
- Mà tôi bảo cho cô hay, cô không được phép vào trong đàn. Chỉ các sư, các tiểu, các vãi, cùng người nhà sự chủ là được phép chạy đàn mà thôi.
Cô kia vẫn nhoẻn cặp môi đỏ thắm quết trầu:
- Tôi cứ chạy... Tôi sắp xin làm vãi kia.
Ngọc thấy cô ả đỏng đảnh quá cũng phải gượng và đâm cáu:

- Rõ khéo cô này, người ta đã xuất gia tu hành lại còn cứ trêu chọc người ta mãi.
Cô gái quê xấu hổ đứmg im. Lan mỉm cười nhìn Ngọc như để cảm ơn, rồi nói luôn:
- Phải không, ông? Người ta đã xuất gia tu hành thì không nên trêu ghẹo người ta nữa chứ?
- Phải lắm.
Ngọc trả lới ngớ ngẩn như vậy vì trí chàng đương bận tới câu hỏi của Lan. Chàng cho câu hỏi rất đáng ngờ và có một ý nghĩa trực tiếp đối với mình, chứ không liên can gì đến cô kia. Tuy đoán chắc thế, chàng vẫn tảng lờ như không biết gì hết, vì chàng đã nghĩ ra được một kế rất diệu sắp đem thi hành.
Đến đàn thứ năm, chú Lan mỉm cười gật chào Ngọc ở lại để vào chạy đàn. Nhưng Ngọc giữ vẻ mặt lãnh đạm, rồi quay sang phía cô gái quê, ghé mồm vào tận tai, thì thầm:
- Cô ở lại, đừng vào trong đàn nữa, tôi nói cho cô nghe một câu chuyện hay.
Cô ả đỏ bừng mặt không trả lời, nhìn theo Lan. Còn chú tiểu thì có dáng tức giận lắm.
Trong khi chạy đàn, hễ chú Lan đến gần chỗ hai người đứng thì Ngọc lại làm bộ ghé gần vào cô láng giềng chuyện trò thân mật. Ngọc hỏi:
- Tên cô là Thi, phải không?
- Không, tên em có là Thi đâu? Em là Vân kia mà. Ban nãy em thấy ông gọi em là Thi, em buồn cười quá....
- À, ra là cô Vân. Nhưng cô chớ nói với chú Lan rằng tôi biết tên cô là Vân nhé, chú ấy ghen đấy. Vậy, này cô Vân, sao chú Lan tu hành mà cô cứ trêu ghẹo chú ấy thế?
Vân giả vờ không nghe rõ, nhìn đi nơi khác.
Ngọc nói lại:
- Quyến rũ người tu hành, tội chết!
Câu chuyện đến đấy thì chú Lan ở trong đàn đi ra, mặt hầm hầm, đứng gần lại chỗ hai người. Ngọc làm bộ như không trông thấy chú, vẫn cứ nghiễm nhiên thì thầm với Vân.
Lan cười gằn:
- Này cô... kia, khuya rồi đi về chứ, chẳng mai bà cô chửi chết.
Ngọc không để Vân kịp trả lời, nói đỡ ngay:
- Thì việc gì đến chú đấy, để mặc cô ấy xem chứ.
Nhưng Vân nói sẽ với Ngọc:
- Thôi để em về, không chú Lan giận.
Ngọc cũng hỏi sẽ:
- Cô sợ chú Lan giận à?
Rồi chàng nói to cốt để Lan nghe tiếng:
- Chốc nữa, có sợ tối thì tôi đưa về tận nhà.
Lan nguẩy một cái quay đi nơi khác. Vân tưởng chú giận mình đứng nói chuyện với trai, liền từ biệt ra về.
Nàng vừa đi khỏi, Ngọc đã thấy Lan lại gần, ôn tồn bảo bạn:
- Tính ông trai lơ lắm.
- Việc gì đến chú đấy.
- Nhỡ cụ biết, cụ quở chết.
- Ai dám mách mà cụ biết? Vả cụ biết cũng chẳng sao. Cụ đi tu chứ tôi có đi tu đâu. Nhưng chú thì chú vô ơn lắm.
- Thế nào là vô ơn?
- Cô Thi phải lòng chú, tôi có ý giúp việc tu hành của chú thành chánh quả, nên vì chú tôi muốn quyến rủ cô ta để cô ta buông tha chú ra...
Lan đỏ mặt:
- Đứng trước người tu hành mà ông ăn nói tự do quá.
Ngọc lạnh lùng đáp:
- Xin chú đại xá cho.
Nói xong quay lưng đi thẳng. Lan gọi với:
- Ông đi đâu đấy?
Ngọc ngoái cổ lại, cười gằn:
- Tôi đi đâu thì can gì đến chú?
- Lại đi...
Lan như tắc họng không nói được, hai giọt nước mắt long lanh dưới cặp mi đen quầng.
V
Sáng hôm sau cảnh chùa Long Giáng trở lại yên lặng như mọi ngày thường, vì việc đàn chay đã kết liễu.
Mãi hơn bảy giờ, Ngọc mới thức giấc, mắt nhắm mắt mở nhìn qua cửa sổ ra ngoài, thấy ngổn ngang các án thư bỏ lổng chổng ở giữa sân. Gần tường hoa, một đống tro tàn cao ngất, đó là đồ mã đốt tối hôm qua.
Sau mấy buổi huyên náo, sự tĩnh mịch của nơi tam thanh càng thấy rõ rệt hơn trước.
Ngắm cảnh tẻ ngắt, Ngọc có cảm tưởng buồn rầu, như sau mấy ngày tết Nguyên Đán. Chùa Long Giáng ủ rũ chẳng khác một cô con gái thôn quê trong ba hôm tết thắng bộ cánh đẹp, rồi hết tết lại cởi ra mà mặc bộ quần áo nâu sồng.
Ngọc ngồi nghĩ vơ nghĩ vẫn, hồi nhớ đến câu chuyện tối hôm qua. Sau khi rời chỗ đàn chay, chàng ra đường, đi lang thang mãi đến một hai giờ sáng mới trở về chùa. Đi đâu? Chàng cũng chẳng biết đi đâu, và cũng chẳng định đi đâu, chí cốt vắng chùa trong một thời gian khá lâu để chú Lan ngờ vực mà thôi. Vì nay chàng đã yên trí, chàng đã chắc chắn rằng chú là gái cải nam trang.
Ôn lại các việc xảy ra, những sự mắt thấy tai nghe, từ dáng điệu, nước da, lời nói, cho tới những ý tứ giữ gìn, khép nép, Ngọc không còn thể nào cho rằng chú tiểu xinh xắn kia là trai được nữa. Chàng mừng thầm sung sướng, và hi vọng.
Cánh cửa khẽ đẩy, chú Lan rón rén bước vào phòng, nét mặt nghiêm trang. Chú đặt một bao chè tàu xuống bàn, nói:
- Cụ truyền biếu ống bao chè để ông xơi nước. Chè này của bà Hàn cúng cụ hôm qua.
- Chú bạch cụ hộ tôi rằng tôi xin đa tạ cụ nhé. Ý hẳn cụ cũng biết tôi có cái ấm cồn.
- Ông để chúng tôi hầu cũng được, can chi lại phải đun nước lấy.
Ngọc mỉm cười nhìn Lan:
- Ấy vì tôi sợ làm phiền chú, nên tôi viết giấy về nhà xin gửi lên cho đủ thứ.
- À, ra bữa nọ anh người nhà mang lên ở trong bồ đấy?
- Chính phải.
- Tôi thấy có cả quyển Kiều và quyển Phật Giáo Đại Quan nữa.
Ngọc mừng rỡ vội hỏi:

- Chú biết quốc ngữ?
Lan điềm nhiên:
- Vâng. Chữ quốc ngữ học dễ, học chỉ độ mươi hôm là đọc được. Làm gì mà không biết.
- Ồ, thế thì hay quá nhỉ?
Ngọc nghĩ đến việc đương dự định, buột miệng nói ra câu ấy, nhưng Lan lại hiểu theo một cách khác, nên trả lời:
- Đời bây giờ, ai không biết quốc ngữ? Lạ! Sao ông cứ nhìn tôi, ông cười vậy?
- Chú ạ, tôi đương nghĩ đến chú thì thấy chú vào. Tôi cho rằng tư tưởng chúng ta có liên lạc với nhau nên chúng ta mới có thể viễn cảm tới nhau như vậy. Vì thế nên tôi cười, chú đừng vội giận.
- Ông nói những gì, tôi không hiểu.
Lan đứng đưa mắt nhìn quanh phòng, rồi mỉm cười khen:
- Cái buồng này ông mới bài trí lại trông đẹp nhỉ.
- Phải, tôi trang hoàng thế để khi chú có bước chân vào trông đỡ bề bộn, chướng mắt.
Lan, hai má đỏ bừng, cúi mặt trả lời.
- Ông cứ dạy quá lời, tôi chỉ đáng là đầy tớ ông.
Ngọc nói đùa: "A di đà phật!". Rồi cười khanh khách, khiến Lan xấu hổ cắm đầu chạy thẳng.
Rửa mặt xong, Ngọc đem ấm cồn ra đun nước. Ngắm lại phòng một lượt, và nhớ tới câu khen ngợi của Lan, Ngọc lại mỉm mỉm ngồi cười.
- Thực ra cái phòng của ta giống như phòng riêng của một sinh viên trường Đại học.
Mà thực vậy, cái giường mắc màn ren, cái bàn thờ dùng làm án sách, cái án thư trên phủ lá cờ dạ xanh dùng làm bàn viết trông đều sáng sủa, sạch sẽ. Khác hẳn hôm mới tới, trong phòng trơ trọi cái giường buông chiếc màn nâu. Các tranh ảnh cùng những bức thủy họa của chàng treo ở tường càng tôn vẻ nhã nhặn, âu yếm của gian nhà trai con con.
Ngọc tự hỏi: Trang hoàng như thế để làm gì?
Chàng tự hỏi rồi nhách một nụ cười: Thôi, ta yêu mất rồi!
Mà chính thế. Phải tay thần Ái tình mới có cho bày trí một cảnh u ám, buồn rầu nên cảnh dịu dàng ngộ nghĩnh thật, lên ở chùa mới biết yêu, mới biết yêu là có thú vị... Song chẳng lẽ ta cứ yêu cuồng, yêu bóng mãi? Thế thì cũng uổng, thà chả yêu cho xong.
Liên tưởng của ý nghĩa tự nhiên nhắc Ngọc ôn lại một câu Kiều, chàng buột miệng ngâm nga:
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau.
Ừ phải, người ta tu hành. Tội nghiệp!
Muốn cố giữ cho khỏi nghĩ vơ vẫn, Ngọc lấy quyển sách bàn về đạo Phật của David mà chàng vừa mua tuần lễ trước ra coi. Nhưng mới đọc được vài trang đã chán ngắt, chàng lại gấp sách lại. Bỗng chàng giật mình, mấy giọt nước nóng bắn vào tay. Thì ra ấm nước đặt trên bếp cồn sôi từ bao giờ mà chàng vẫn không biết. Đến cả tiếng nước reo, chàng cũng không nghe thấy.
Ngọc xoa tay mỉm cười, lấy ấm ra pha chè. Uống mấy chén liên tâm, chàng thấy tinh thần tỉnh táo, tâm trí hớn hở và ngắm cuộc đời, chàng có rất nhiều tư tưởng lạc quan. Rồi nghĩ chuyện nọ nhảy sang chuyện kia, lẩn mẩn chàng tự đặt mình vào địa vị Từ Thức sống trong cảnh động Phi Lai.
Bấy giờ nhìn qua cửa sổ, ngắm cảnh đồi thoai thoải sau chùa, chàng thấy hiện ra nhiều vẻ xinh đẹp, những vẻ xinh đẹp huyền bí. Chàng tưởng tượng dưới đám lá chè lấp lánh, rung động bởi ngọn gió dịu dàng mơn trớn, một cô tiên yểu điệu đương ngồi mơ màng thầm nhớ tới ai.
Chàng mỉm cười, mỉm cười với cảnh vật, mỉm cười với làn không khí bao bọc người yêu...
Cúi nhìn xuống cái vườn con bên cạnh cửa sổ, bỗng chàng chú ý, và mắt chàng đăm đăm không chớp: Trong hai khỏang tròn đất mới xới, bên cây đại cành khô khan, da mốc thếch, có hai cây ngọc lan nhỏ mềm mại, ai vừa trồng, mỗi cây ngọn nở một bông hoa trắng muốt.
Chàng chú ý đến là vì tâm trí đương bị cái tên Lan đẹp đẽ ám ảnh... Chàng ngây ngất người ngẫm nghĩ:
"Ngọc Lan! Có lẽ thế chăng? Âu yếm mà kín đáo lắm!
Chàng thấy lòng phấn khởi, mạnh bạo, và chàng chép miệng nói một mình: Chà, thì ta cứ thử liều một chuyến xem nào! Không vào hang hổ sao bắt được hổ con?
Câu nói có vẻ "tuồng" khiến chàng cũng phải phì cười. Mà vào hang hổ thì đã lấy gì làm nguy hiểm. Chỉ có việc đem giấy bút ra viết một bức thư.
Bức thư ấy, trước kia, đã ba bốn lần Ngọc viết rồi, nhưng mỗi lần viết xong, chàng lại xé nhỏ vứt đi, vì một là chàng sợ Lan không biết quốc ngữ, hai là chàng sợ bị cự tuyệt. Lần này thì chàng nhất định quả quyết. Liền mở hộp giấy viết thư màu tím lấy một tờ ngồi viết:
Chú Lan mới được hai chữ, Ngọc đã chau mày tắc lưỡi xóa đi.
- Không được. Chẳng chú nữa.
Chàng liền lấy tờ giấy khác viết lại:
Cô Thi
Nam mô A di đà Phật! Tôi bắt đầu bức thư của tôi bằng một câu niệm Phật, để xin Phật độ trì cho kẻ khổ sở này, như Phật đã độ trì cho hết thảy các chúng sinh. Vì tôi chỉ là một người lạc lối trong rừng người, như một hạt cát bị vùi trong bãi cát sông Hằng Hà.
Nhưng cô cũng là một người, cũng chỉ là một người. Dù cô muốn xa lánh cõi tục, rứt bỏ trần duyên, song cái bản tính của con người dễ một lúc mà cô xóa bỏ nổi được. Cái bản tính ấy là Tình, là... A di đà Phật! Là Ái tình.
Ái tình là bản tính của loài người, mà là hạnh phúc của chúng ta. Tôi yêu cô, và nếu tôi đoán không lầm thì cô cũng chẳng ghét tôi, vậy can chi ta lại làm trái hạnh phúc của ta?
Đức Thích Ca Mâu ni xuất thế để đưa linh hồn chúng sinh tới cõi Nát bàn mà hưởng hạnh phúc bất vong bất diệt.
... Nhưng hạnh phúc của chúng ta chỉ ở ái tình. Đó là... A di đà Phật! đó là Nát bàn của chúng ta.
Mấy hôm nay tôi đọc quyển Phật giáo, tôi thấy tôi yêu đạo Phật. Tôi yêu đạo Phật thì tôi lại càng yêu cô, tôi yêu một cách chân thành, tôi yêu trong linh hồn, trong lý tưởng. Cô tha thứ cho tôi, tôi không thể cứ yêu mãi chú Lan, phải cho phép tôi yêu cái linh hồn thực của chú Lan mới được: cái linh hồn ấy, là cô Thi.
Cô xem thư mà xét thấu lòng này, thì tức là cô vâng ý Phật cứu vớt được một linh hồn đương bị đắm đuối ở cõi nhân gian.
NGỌC
Ngọc chải chuốt y phục, rồi gấp thư cho vào phong bì, bỏ túi ra đi. Lên chùa trên, gặp chú Mộc, Ngọc đột nhiên hỏi:
- Chú Lan đâu?
Chú Mộc thấy Ngọc ngơ ngác, tưởng mới xảy ra sự gì:
- Chú Lan ở vườn sắn sau chùa. Có chuyện gì đấy ông?
Ngọc chỉ kịp trả lời một tiếng: "không", rồi lật đật đi thẳng, khiến chú Mộc ngạc nhiên đứng nhìn theo.
Ra tới vườn sắn, vì sắn lá cao mà lại trồng bên sườn đồi, chỗ hiện, chỗ khuất, nên đến năm phút sau, Ngọc lại nghe rõ tiếng sột sạt, mới tìm thấy nơi Lan đứng. Bên cạnh chú ngổn ngang một đống cây sắn nhổ lên còn để nguyên củ, cành và lá.
Ý chừng Lan làm việc nhiều mệt nhọc, đứng thở, một tay để vào ngực. Ngọc rón rén đến sau lưng, ỡm ờ chào:
- Kìa, cô Thi!
Lan thong thả quay mặt lại, điềm nhiên trả lời:
- Không, tôi đây mà. Cô Thi nào dám vào vườn sắn của nhà chùa?
Nói xong chú cười rũ rượi, chảy cả nước mắt, đỏ ửng cả hai má. Rồi lại nói tiếp:
- A di đà Phật! ông muốn gặp cô Thi thời ra nhà cô ấy chứ.
- Không, cô Thi khác, cô Thi của tôi kia.
Lan không để ý đến câu trả lời của Ngọc, nhìn trời, nói:
- Mặt giời đã lên cao, phải mang sắn về mới được, chẳng cụ quở.
Chú liền lấy dây lạt buộc qua quýt lại bó sắn. Còn Ngọc thì thò tay vào túi rút bức thư ra, lại ấn bức thư vào, như thế đến ba bốn lượt.
Lan vác bó sắn lên vai chào:
- Thôi ông ở lại, tôi về chùa.
Ngọc nói lúng túng: Được... này... tôi... à! Sao chú không bẻ lấy sắn đem về, còn cành lá thì bỏ đi có nhẹ việc không?
- Cành để giồng và đun chứ.
Lan vừa trả lời, vừa bước xuống đồi.
Ngọc đi theo như toan níu lại: Thì hãy ở lại, chờ tôi rồi cùng về một thể.
Lan sợ hãi, đặt vội bó sắn xuống đất:
- Vâng, thì ở lại. Nhưng ở lại làm gì mới được chứ?
- Ở lại ngắm cảnh.
- Giời nắng còn ngắm cảnh gì?
- Nắng thì ta ngồi xuống dưới bóng lá sắn. Này cô... Ngọc vừa nói vừa rút bức thư, này chú...
- Ông dạy?
- Hôm nay chắc mát giời...
- Vâng, chắc mát giời...
Hai người lại nhìn vớ vẫn. Ngọc toan đưa bức thư.
- Chú... ạ.
- Dạ.
- Sắn ăn ngon đấy chứ?
- Vâng ngon. Nhưng ông để tôi đội về chẳng cụ kêu.
- Chú để tôi mang đỡ.
Lan không trả lời, đội bó sắn chạy vùn vụt xuống đồi, để trơ Ngọc đứng lại một mình, bâng khuâng.
Ngọc chép miệng thở dài. Rồi quả quyết lấy bức thư ra xé làm tư, vứt xuống đất.
Về đến cổng chùa, Ngọc gặp chú Lan đi ra, có dáng vội vàng, hấp tấp. Chàng buồn rầu, chẳng thèm chào hỏi.
Lan chạy một mạch lên đồi sắn. Đến chỗ ban nãy, chú vui cười, nói:
- Đây rồi!

Thì ra chú bỏ quên con dao nhọn dùng để đào và chặt sắn. Bỗng chú đâm đâm cúi nhìn, nói một mình: "Không biết giấy gì của ông ấy thế này? "
Ngắm kỹ Lan nhận ra cái phong bì bì xé làm bốn mảnh. Trên một mảnh thấy có hai chữ:
Cô Thi thốt nhiên Lan buột ra câu hỏi: "Cô Thi nào? "
Lan ngồi cặm cụi chắp lại các mảnh thư ở trong phong bì.
Bên mình gió thổi xô xát lá sắn, tiếng kêu lạt sạt. Những mảnh giấy tím chỉ chực bay. Lan phải lấy những viên gạch chặn lên trên.
Một lát sau, khi đã đọc xong bức thư, Lan còn thơ thẩn trên đồi.
Gió càng thổi dữ, các tà áo Lan bay phấp phới mà tim Lan đập mạnh như cũng bị sức gió làm xao xuyến.
Lan buồn rầu nghĩ ngợi, hai má có ngấn hai hàng lệ.
Bỗng tiếng mõ tụng kinh ở chùa đưa tới. Một nụ cười kín đáo nở trên môi, Lan thong thả trở về.
Qua dãy phòng nhà trai, Lan liếc mắt thấy Ngọc ngồi ngưỡng cửa tay tì vào má có dáng tư lự. Thoáng thấy Lan, Ngọc khẽ gật chào, nhưng Lan yên lặng, rảo bước đi thẳng lên chùa trên.
Lan khẽ ẩy cửa rón rén đến gần bàn thờ nhìn trước nhìn sau, như người mới phạm một trọng tội mà có kẻ biết sắp đem tố giác.
Ngửi thấy mùi trầm ngào ngạt, nghe thấy tiếng tụng kinh dịu dàng, Lan tươi cười thở dài, như kẻ ngã xuống sông vừa ngoi lên được mặt nước.
Làn không khí êm đềm tịch mịch bao bọc những pho bụt khổng lồ, nét mặt thản nhiên. Trên bụt gỗ, sư cụ khoác áo cà sa ngồi ngay thẳng như một pho tượng, chỉ hơi mấp máy cặp môi, và động đậy cánh tay gõ mõ.
Lan đứng sững hồi lâu, mắt nhắm lim dim hai tay chắp ngực, rồi thong thả, nhẹ nhành như cái bóng, mon men lại sau lưng sư cụ, ngồi xệp xuống đất lâm râm khấnm khứa...
VI
Trưa hôm ấy sư cụ gọi chú Lan bảo:
- Thôi, chú đừng đi hái chè nữa, ta nhờ mang bánh vớt chè sang tạ sư ông bên chùa Long Vân.
Ngọc tiến lên nói:
- Bạch cụ, cho phép cháu cùng đi với chú Lan sang Long Vân. Cháu nghe nói chùa Long Vân có cái giếng thờ, nước uống mát lắm.
Sư cụ ngần ngại: đường nhiều dốc, sợ cháu đi mệt nhọc.
Ngọc cười:
- Bạch cụ, cháu học ở trường Canh nông, cày ruộng còn được nữa là trèo dốc, đã lấy gì làm khó nhọc.
- Cái đó tùy cháu.
Khi xuống nhà trai, Ngọc vui sướng chạy lại hỏi chú Lan:
- Chú có bằng lòng để tôi cùng đi không?
Lan cười gượng:
- Càng hay cho tôi, đi đường xa đỡ buồn chứ sao?
Rồi chú lẳng lặng xếp các thức vào trong chiếc tay nải nâu, thắt miệng lại. Ngọc đứng sát gần khiến Lan né người xích ra. Ngọc nhắc cái tay nải vắt lên vai một cách gọn gàng.
Lan cười nói:
- Ông vác nhẹn, nhỉ!
Ngọc nói đùa: đi làm phu gạo mãi lại chẳng vác nhẹn.
Lan cố giữ nét mặt lãnh đạm, cắn môi, chau mày, ngỏanh nhìn ra ngoài sân. Nhưng lần nào chỉ giữ nghiêm klhắc được một lúc, rồi thấy Ngọc vui vẻ nói bông đùa, chú lại quên baÜng đi mà cùng cười, cũng nói bông đùa với bạn:
- Ông phu gạo này, nghe chừng yếu ớt lắm. Hôm mới đến chùa xách có cái va li còn thở hồng hộc, leo lên dốc khó khăn nặng nhọc là thế, nữa là vai vác bao gạo.
- Chú nhớ lâu nhỉ? Ngọc, nét mặt tươi cười sung sướng, hồi tưởng lại hôm mới tới chùa. Chàng nghĩ thầm: "Hắn không có cảm tình với ta thì sao hắn nhớ kỹ càng cái buổi mới gặp nhau như thế? "
Chàng chợt nhớ đến hai cây ngọc lan, liền quay lại hỏi:
- Hai cây ngọc lan, ở bên cửa sổ buồng tôi, chú giồng đấy, phải không?
Lan luống cuống, không trả lời. Ngọc lại nói:
- Cảm ơn chú nhé! Tên cái cây ấy hay nhỉ, chú nhỉ? Mà có ý nghĩa lắm.
Lan đáp:
- Vâng, rất có ý nghĩa: sắc trắng như Ngọc, hương thơm như Lan.
Ngọc cười:
- Còn ý nghĩa khác nữa kia. Chắc chú cũng biết chuyện Nhị Độ Mai?
Lan quay nhìn ra sân đáp:
- Không.
- Chú ạ, đối với hai cây ngọc lan của chú, tôi sẽ là chàng Mai Sinh trong truyện Nhị Độ Mai, sáng chiều nào cũng xin chăm nom vun tưới, cho chóng nẩ
y nở hoa thơm.
Lan hai má hồng hồng, ngượng nghịu vắt tay nải lên vai giục bạn:
- Thưa ông, ta đi thôi.
Hai người lẳng lặng cùng đi, không ai nói năng chi nữa...
Ở một ngọn đồi xuống phía bên kia, phong cảnh khác hẳn, không còn thấy cánh đồng chân rạ, mà chỉ nhan nhản thấy nương khoai, cùng vườn mía. Hai người không bảo nhau mà cùng đứng lại ngắm cảnh, vì gặp chỗ có bóng mát.
Đi một quãng nữa, bỗng phải dừng lại ở trước một cái suối, dưới có vạch nước chảy róc rách trong veo, giữa lòng cát trắng. Bên bờ suối mấy gốc cây thông già gió chiều hiu hắt, lá thông khô lác đác rơi xuống suối rồi theo giòng nước trong trôi đi.
Lan bảo bạn:
- Thôi nguy rồi. Ta đi nhầm đường rồi.
Ngọc ngơ ngác hỏi:
- Bây giờ làm thế nào?
- Chỉ có một cách là đi vòng lại, chứ qua sao được cái suối này?
Ngọc vừa nói, vừa nhảy sang bờ bên kia, rất nhẹ nhàng. Lan cười:
- Ông nhảy giỏi quá!
Nói chưa dứt lời thì Ngọc lại đã nhảy sang bờ bên này. Ngọc bảo Lan:
- Chú đưa tay nải cho tôi.
- Đưa làm gì?
- Chú cứ đưa đây.
- Thì đây.
Ngọc đỡ tay nải nhảy ngoắt sang bên kia đặt xuống, đứng nhìn Lan, cười. Lan ngạc nhiên hỏi:
- Thế còn tôi?
Ngọc cố nhịn cười:
- Hay chú để tôi cõng.
Lan giẫy nẩy:
- Ấy chết, sao lại thế?
Ngọc nghiễm nhiên:
- Được mà, không hề gì mà.
Lan làm mặt điềm tĩnh:
- Thôi ông đợi đấy, nghỉ chân, để tôi đi vòng sang đồi kia.
Lan miệng nói, chân bước. Ngọc vội nhảy sang, giữ lại:
- Tôi nghĩ ra cách này rồi.
- Cách gì?
- Tôi sang bên kia đưa tay cho chú nắm, để kéo chú sang.
Lan ngẫm nghĩ một lát rồi tắc lưỡi:
- Thôi cũng liều, ngã chết thôi.
- Không hề gì đâu chú đừng sợ.
Ngọc nhảy sang bên kia, nghiêng mình trên dòng nước. Lan ngần ngừ một lúc mới nắm tay chàng. Ngọc nói:
- Chú giữ chặt... Nào,... hấp!...
Lan nhắm mắt nhảy liều. Ngọc kéo mạnh quá khiến chú tiểu mất thăng bằng ôm lấy chàng, Lan bẽn lẽn vội cuối xuống cầm tay nải đặt lên vai đi liền. Ngọc cười mủm mỉm, như nói một mình:
- Tay chú xinh quá, nhỏ và mát như tay con gái.
Lan không trả lời, giơ tay trỏ về phía trái bảo Ngọc:
- Chùa Long Vân kia rồi.
Hai người đi quanh co, vòng hai đồi cỏ nữa và nửa giờ sau trèo tới chùa. Lan thuộc lối đưa Ngọc đi thẳng vào nhà trai, mời chàng ngồi ở trường kỷ, bày các phẩm vật lên bàn, rồi vội vàng xuống nhà tổ. Một lát, Lan theo sư ông đi lên. Sư ông đã gặp Ngọc ở Long Giáng hôm đàn chay nên vui mừng chào hỏi:
- Nam mô A di đà Phật! Quý hóa quá. Xa xôi thế mà quan tham cũng chịu khó sang thăm.
Nói chuyện một lát, sư ông quay lại hỏi Lan:
- Chú xuống nhà xem cơm nước chú Quì chú ấy làm có ăn được không.
Ngọc đỡ lời:
- Thôi, sư cho chúng tôi về kẻo tối.
- Không được. Chả mấy khi quan đến văn cảnh bản am, thế nào cũng phải mời quan xơi bữa cơm chay. Lúc khác thì thực không dám giữ quan ở lại vì cơm nhà chùa muối dưa thanh đạm chả có gì. Nhưng hôm nay vừa có bà Cửu biếu mâm cổ chay, nên mới dám mời quan...
Ngọc nhìn Lan, hỏi:
- Sư ông cho ăn cơm, chú nghĩ sao?
Lan ngượng nghịu mãi mới ấp úng trả lời:
- Thưa quan, sư ông tôi đã có lòng quý mến giữ quan xơi cơm thì quan nên nhận lời, giời hãy còn sớm.
Ngọc thấy Lan gọi mình là quan thì không nhịn cười được, khiến sư ông ngơ ngác nhìn không hiểu. Rồi sư ông cũng cười, cho rằng cánh tây học họ vẫn trẻ con như thế.
Một lúc lâu chú Quì bưng lên một mâm gỗ vuông sơn son, trong có hai cái bát nấu có giò, nem chay, trông rất long trọng.
Ngọc và sư ông ngồi xuống ghế ngựa sắp sửa cầm đũa thì bỗng trời tối sập lại, gió thổi dữ dội, mây đen kéo đến rất mau, cát sỏi bay tứ tung, ầm ầm như phá phách. Sư ông vội vàng đứng dậy cùng hai chú tiểu đóng hết các cửa lại, rồi thắp đèn lên: Nhà trai như đương ở vào trong cảnh ban đêm vậy.

Bên ngoài gió thổi càng mạnh, rồi mưa đổ xuống như trút nước, sấm sét vang động tựa hồ trời long đất lở, làm át hẳn câu chuyện của Ngọc, và sư ông. Chú Lan đứng hầu cơm, ngắm hai người chuyện trò, tưởng tượng họ nói thầm với nhau.
Cơm nước xong, thì trời đã nhá nhem tối. Mưa vẫn không ngớt. Lúc bấy giờ sư ông ở nhà tổ đi vòng hiên, đem lên một cây đèn dầu hỏa, và nói với Ngọc:
- Chả mấy khi quan tham đến chơi trời lại đổ mưa xuống để giữ hộ, thực là may mắn cho bần tăng quá. Thôi, xin mời quan đi nghỉ để mai dậy sớm về Long Giáng cho mát.
Rồi quay lại bảo Lan:
- Chú Lan làm ơn sang phòng khách bên cạnh giải chiếu, buông màn để quan tham đi nghỉ.
Lan vâng lời vào buồng sửa soạn, trong khi Ngọc thở dài, đứng nhìn trời.
Mãi khuya mưa mới tạnh.
Cả chùa đã yên giấc, mà Ngọc và Lan vẫn ngồi thơ thẩn ở hiên trai, buồn rầu nghĩ ngợi.
Da trời như giội lượt nước, trong vắt một màu. Trăng thượng tuần tươi sáng trên đỉnh đồi. Những vũng nước đọng ở sân phản chiếu ánh trăng lấp lánh như những mảnh gương lớn vỡ vứt rải rác.
Thốt nhiên, Ngọc hỏi Lan: Chú có buồn không?
- Thưa ông, không.
- Còn tôi thì tôi buồn lắm, buồn vơ buồn vẫn như nhớ ai. Cũng nhớ vơ nhớ vẫn. Có lẽ vì tôi xa cách chùa của chúng ta chăng?
Dưới ánh trăng, hai người ngồi cạnh nhau... Lan rùng mình. Ngọc lại nói:
- Chú ạ, cái cảnh xa lạ gợi trong tâm trí tới những tư tưởng từ biệt, chia rẽ... khiến tôi nghĩ tới ngày tôi rời chân, phải xa chú.
Lan im lặng, hé cặp môi cười với bóng trăng trong. Một con cóc nhảy vào vũng nước, Lan giật mình đứng dậy bảo Ngọc:
- Thôi, mời ông đi nghỉ.
Ngọc cũng đứng dậy. Nhìn quanh mình cũng không thấy ai, từ nhà trai đến nhà tổ im phắc. Chàng liền như điên cuồng, nắm lấy tay Lan: Ừ, phải đấy. Chúng ta đi ngủ, mai dậy sớm chắc hết buồn.
Lan tuy sợ hãi, nhưng cố làm ra bình tĩnh, thong thả nói:
- Vâng mời ông vào buồng, an nghỉ. Tôi xin ngủ ở ngoài nhà trai này.
- Vẽ! đi có hai người, ở nơi xa lạ, nằm cả một giường nói chuyện cho vui, ngủ ở ngoài muỗi nó tha đi.
- Thưa ông, không tiện, sư ông biết, ngài quở chết.
Lúc ấy hai người tới chỗ có ánh trăng. Liếc nhìn nét mặt Ngọc thấy dữ tợn, Lan kinh hỏang giật tay toan chạy. Chẳng may Ngọc nắm chặt quá, vì thế người lôi đi kẻ lôi lại, áo dài, áo ngắn của Lan đều tuột cúc, trễ vạt ra. Ngọc bỗng kêu rú lên một tiếng, buông tay Lan ra. Chàng thoáng trông thấy ngực Lan quấn vải nâu.
Lan đứng lại thở, cười gượng:
- Gớm quan trẻ con quá. Làm gì mà lôi kéo kẻ tu hành này thế?
Ngọc hối hận cố trấn tĩnh. Chàng vờ như không biết gì, trả lời:
- Chú cũng trẻ con quá. Cứ gọi mãi người ta là quan. Nhưng thôi, đừng đùa nữa, ta đi ngủ chẳng khuya quá rồi.
- Vâng, xin mời ông đi ngủ trước, tôi xuống dưới nhà dặn chú Quì điều này đã.
Miệng nói, chân đi, Lan vùn vụt qua sân.
Ngọc ngồi chờ Lan, băn khoăn mong ngóng. Vào khỏang mười lăm phút sau, vẫn không thấy Lan trở lại, Ngọc liền cũng xuống sân theo lối Lan đi ban nãy, lang thang tới một cái cổng chống. Nghĩ ngợi thế nào, chàng cúi xuống nhìn, thì cái chốt có dây buột rời ra ngoài mà cả cây tre dùng để chống cũng không đặt vào cọc. Ngắm kỹ cánh cổng rào khô thì quả ai vừa lách để ra ngoài.
Ngọc không còn ngờ gì nữa: Lan sợ hãi vừa đi trốn. Lúc bấy giờ chàng hối hận vô cùng, nói một mình: "Đó, cố tìm cho biết hắn là gái, phỏng có ích lợi gì? Để vậy còn thú, chứ thế này thì không biết chừng... Không biết sao lúc ấy mình lại hung tợn đến thế? Thôi mỗi cái ta theo giữ hắn ở lại, thề với hắn rằng giữ bí mật cho hắn rồi mai về Hà Nội, cố quên câu chuyện, câu chuyện cảm động... đau đớn."
Bóng trăng đã xế về tây, chiếu ánh lờ mờ.
Các cây cỏ hãy còn đầm đìa nước mưa ban chiều. Những đồi xa, trông như đàn rùa khổng lồ nằm vọng nguyệt. Nhưng Ngọc chẳng nghĩ gì tới phong cảnh, cứ cắm cổ bước mau như một tên ăn trộm sợ có người đuổi chạy trốn.
Đi một quãng dài, Ngọc nhìn đằng trước mặt ngay trên đỉnh một trái đồi, thấp thoáng có bóng người in lên nền trời. Chàng chắc chắn lắm rồi, cắm đầu chạy một mạch tới nơi. Quả cái bóng ấy là Lan. Nghe có tiếng người chạy thình thịch sau lưng. Lan ngoái cổ lại. Gặp Ngọc chú kêu rú lên một tiếng, rồi ngất nguời ngã gục xuống gốc cây thông bên đường. Ngọc vội quì xuống nâng dậy và ngọt ngào nói:
- Lan không sợ, tôi xin viện lòng từ bi của đức Quan Âm, tôi thề với Lan rằng tôi không phải là hạng gió trăng bậy bạ. Lan tỉnh dậy, tôi nói câu chuyện, rồi mai tôi xin từ biệt Lan, tôi về Hà Nội.
Lan mở bừng mắt nhìn, rơm rớm hai giọt lệ lấp lánh dưới ánh trăng. Ngọc lại nói đùa:
- Thôi, xin ni cô tha cho.
Lan lúc ấy đã tỉnh hẳn, ngồi dậy lau nước mắt nói:
- Vâng, tôi là gái. Tôi biết thế nào chẳng giấu nổi ông. Nhưng còn câu chuyện vì sao tôi phải cải trang, thì tôi chưa thể thổ lộ cùng ông được. Chỉ xin ông buông tha kẻ tu hành này, kẻ tu hành khốn khổ này ra mà thôi.
Ngọc thở dài:
- Thưa ni cô, ni cô không ngại. Tôi xin thú thật với ni cô rằng tôi yêu ni cô, tôi yêu ngay từ lúc còn tưởng ni cô là trai. Ni cô là một người thông minh đĩnh ngộ, xinh đẹp như thế thì ai lại không yêu được... Mà lạy Phật tha tội cho, có lẽ ni cô cũng đôi lần cảm động.
Ngọc vừa nói vừa nhìn Lan. Lan nức nở:
- Tôi chỉ còn... có một cái chết. Nếu tôi có thể thổ lộ can trường cho ông biết vì sao tôi phải cải trang, vì sao tôi phải quy y đầu Phật... Nhưng sự bí mật ấy, tôi nhất định sống để dạ, chết mang theo.
- Ni cô chả nên nghĩ ngợi, ni cô nên coi tôi như một người bạn thành thực có thể vì ni cô hy sinh hết mọi sự, cho đến cả hạnh phúc của tôi, cho đến cả ái tình của tôi, ái tình có lẽ tuyệt vọng của tôi.
- Vâng, nếu ông có lòng quân tử như thế thì còn gì sung sướng cho tôi hơn nữa. Phải biết hy sinh thì đời ta mới có ý nghĩa cao thượng.
- Thưa, ni cô...
- Thưa ông, xin ông cứ gọi tôi là chú như trước, vì tôi đã thưa cùng ông nhiều lần rằng người xuất gia đầu Phật chỉ là một kẻ tu hành, dù là gái hay trai cũng vậy. Vả nếu ông cứ gọi đùa tôi là ni cô như thế, sợ khi trở về Long Giáng ông quen mồm đi... Ông đã hứarằng đối với kẻ tu hành này, ông chỉ là một người bạn từ bi, thì xin ông giữ lời cho, đừng để xảy ra sự không may cho....
Ngọc nói luôn:
- Cho đôi ta.
Lan trau mày, trách:
- Ấy đấy, ông lại cợt nhả rồi, thưa ông bạn từ bi.
- Thưa ni cô, thưa chú... Xin chú tha thứ cho, tôi sung sướng quá, nên tôi lỡ lời. Hạnh phúc của tôi... Nếu mục đích đời người là tìm hạnh phúc thì tôi đã tới mục đích rồi.
- Nhưng đã tới rồi thì nên dừng lại, chờ bước thêm một bước nữa.
- Mà nếu đức Thích Ca xuất thế để tìm hạnh phúc cho nhân loại và đưa linh hồn chúng sinh tới cõi Nát bàn, thì tôi cũng xin dừng chân ở gốc cây thông này, chứ chẳng muốn đi đến Nát bàn làm gì.
Lan đứng phắt dậy, nghiêm trang đáp lại:
- Người quân tử phải giữ lời hứa, nhất khi lời hứa ấy lại là một lời thề.
Ngọc cũng đứng dậy. Hai người nhìn nhau. Bóng trăng khuyết rọi đầu cành, lá không thưa nhặt, cỏ xơ xác mặt đồi lấp lánh giọt sương. Hai người nhìn nhau....
Dưới chân đồi làng mạc ngủ yên. Cây cối lờ mờ đen, giòng sông con thấp thoáng dưới bóng trăng như một vải lụa trắng, rồi ra xa lẩn trong sương mù. Bỗng có tiếng gà gáy nửa đêm dưới xóm. Lan giật mình lẩm bẩm:
- Giá gặp nhau hai năm trước...
- Vậy bây giờ muộn quá rồi hay sao?
- Muộn quá rồi. Vì tôi thề trước Phật tổ thì đến chết tôi cũng phải giữ lới thề. Đời còn chả tiếc, tiếc gì một sự cỏn con... nhỏ nhen.
- Nhỏ nhen, nếu đem lòng ví với lòng bác ái. Vì lòng bác ái mà Phật tổ xa vợ, xa con, xa cha, xa mẹ, lang thang khắp bốn phương giời đã tìm phương giải thoát cho chúng sinh. Vậy xin ông cũng vì bác ái mà xóa bỏ trong lòng những tên chú Lan, cô Thi, như thế, ông sẽ cứu sống một nhân mạng, cứu vớt được một linh hồn. Trên đời chỉ có lòng bác ái là đáng kể.
Ngọc ngẫm nghĩ rồi quả quyết nói:
- Vâng, tôi xin thuận theo những lời vàng ngọc của chú. Vậy bây giờ muốn tránh khỏi sự ngờ vực thì ta trở lại Long Vân. Tôi xin cam đoan rằng ngoài tôi ra không ai biết rõ được sự bí mật của chú.
Hai người yên lặng cùng trở lại chùa. Đêm khuya trăng lặn, gió réo cành thông, vạn vật chìm đắm trong cõi hư vô tịch mịch.
Tiếng côn trùng rì rì dưới cỏ liên miên không dứt càng làm rõ rệt sự yên lặng của một cảnh đồi hoang vắng.
Ngọc bỗng giật mình quay lại. Chàng vừa nghe thấy một tiếng thở dài, mà trong lúc mơ màng, chàng tưởng tượng ra một làn hơi nhẹ ở sườn đồi sương ướt bốc lên. Nhưng sau lưng chàng Lan vẫn dịu dàng đều đều đặt bước, như bộ máy êm lặng nhẹ nhàng.
Về tới chùa, Ngọc rón rén vào buồng, còn Lan thì ngồi tựa án phòng trai, băn khoăn suốt đêm không ngủ, ngổn ngang trăm mối bên lòng...
VII
Trên sườn đồi, nhìn về phía tây, nương chè nằm phơi dưới nắng gay gắt mùa hè. Sau trận mưa hôm qua, các lá sạch hết bụi, như có người lấy khăn lau đi một lượt, lóng lánh phản chiếu ánh thái dương, bóng loáng tựa trăm nghìn chiếc gương bầu dục.
Dựa lưng vào gốc một cây chè cỗi, cành lá rườm rà, bên cạnh cái rổ không, Lan ngồi ngẫm nghĩ đến những sự xảy ra từ tối hôm trước, vẻ lo buồn in trên nét mặt rầu rầu. Lan đâm đâm nhìn trời, lâm râm khấn Phật tổ, xin ngài xuống cứu vớt tấm linh hồn sắp đắm đuối. Bỗng có tiếng động bên mình. Lan giật mình quay lại: Con vành khuyên đương lách tách nhảy trên cành lá rậm. Lan ngắm nghía con chim nhỏ, xinh xắn mượt lông, rồi giơ bàn tay ra vẩy. Con chim sợ hãi bay vụt, tiếng khẽ sột soạt trong lá. Lan thở dài, nói một mình:
- Trốn, thế nào cũng phải trốn.
Sáng hôm ấy ở chùa Long Vân về, hai người cùng nhau chỉ trao đổi một vài câu vơ vẫn. Lan chưa hiểu ý bạn định xử trí ra sao, chẳng biết bạn có về Hà Nội ngay như đã hứa lời không? Ngọc có lòng quân tử, nhưng đứng trước Ái tình, bạn có giữ mãi lòng quân tử ấy không? Hay là bí mật kia sẽ bị khám phá? Cái đó cũng chưa biết chừng. Lòng người, ... Ai hiểu được lòng người!
Lan đưa mắt ngắm phong cảnh quanh mình. Lòng hoài nghi man mác đến cả cỏ, cây, mây, nước. Cúi nhìn giòng bạc lấp lánh dưới chân đồi quanh co uốn khúc, rì rì lướt giữa dọc cát vàng: Trong cảnh êm đềm ấy, biết đâu không ẩn núp những loài rắn độc hại người. Cho chí đám mây dịu dàng theo chiều gió thổi, làn khói lờ đờ bay lẩn lá xanh, biết đâu không trở nên sức mạnh phá phách của con Tạo vô tình...
Vô tình! Luồng gió khẽ thỏang động cành chè như phản thanh của ý nghĩ. Lan buồn rầu nói một mình: Vô tình! Ước gì ta được vô tình như vạn vật vô tri vô giác!
Tư tưởng của Lan lúc đó lại rời bỉ cảnh ngoại vật mà thu vào trong tâm trí. Những lý thuyết "Tứ diệu đế", "Thập nhị nhân duyên" cùng là cái đời cao thượng của Phật tổ lộn xộn trong trí nhớ Lan.
Rồi nghĩ điều nọ nhảy sang điều kia, Lan lại ôn tồn tới cái đời ký vãng. Lan con nhà giòng dõi, bẩm tính thông minh, thủa bé được theo học chữ nho. Ông thầy học lại là một người mộ đạo Phật thường đem Phật giáo ra giảng, khiến Lan yêu mến cái đạo rất dịu dàng êm ái. Rồi cha mẹ Lan mất, Lan ở với chú, chú muốn ép gả Lan vào nơi phú quý. Linh hồn trong sạch đã tiêm nhiễm những tư tưởng cao thượng của Phật giáo nên Lan cho thế là nhỏ nhen. Nhất Lan lại nhớ tới lời thề cùng mẹ trong khi mẹ hấp hối. Lan liền bỏ nhà đi trốn, cải nam trang để thụ giới tại chùa Long Giáng. Lan không khéo để lại nhiều tang vật trên bờ sông, khiến nhà yên trí rằng Lan tự vận.
Nương nấu cửa từ bi hơn hai năm nay, được sư tổ quý mến truyền giáo đạo Phật, Lan dốc lòng ngày đêm dùi mài kinh kệ, đã tưởng dứt bỏ được tần duyên. Ai ngờ...
Lan giật mình ngước mắt ngơ ngác nhìn. Trên cành cây trẩu, con chim gáy đương gật đầu, xù lông cổ, gù ở bên con mái. Lan nhắm mắt rồi đi phía khác, thì kia trên cành xoan khô khan, hai con quạ khoang đương rỉa lông cho nhau. Lan lại nhắm mắt, thở dài cuốn quýt, như bị vây vào trong cảnh chết mà khó tìm được lối ra: "Ước gì ông ấy đi..."
Bỗng có tiếng chú Mộc gọi ở chân đồi:
- Chú Lan!
Lan sợ hãi đứng phắt dậy đáp:
- Cái gì đấy chú?
Chú Mộc vẫn đứng ở chân đồi nói lên:
- Cụ cho tìm chú đấy.
- Tôi về đây, chú cứ về trứơc đi.
Lan vội vàng hái chè đầy rổ, rồi hấp tấp xuống đồi trở về chùa, đi thẳng vào buồng kho đóng cửa ngồi núp một xó, như sợ ai. Sau, vì ở mãi ngoài nắng nên thấy nhức đầu, Lan liền ngả lưng xuống giường, thiu thiu ngủ lúc nào không biết.
Tiếng chuông chiều đánh thức Lan dậy. Mở bừng mắt trông ra sân, Lan thấy trời đã nhá nhem tối. Chợt nhớ đến giờ làm đèn, nghĩ là đèn ở buồng Ngọc, vì ở nhà tổ chỉ thấp có ngọn đèn dầu lạc. Lan lo sợ, run lẩy bẩy bước vào phòng chàng, nhưng may không nghe thấy ai lên tiếng. Lan liền cầm vội cây đèn búp măng đem xuống bếp rót dầu.
Khi mang đèn lên, ánh sáng rọi khắp gian buồng con con. Liếc mắt nhìn không thấy Ngọc đâu, trong lòng sinh bạo dạn, Lan đứng lại ngắm kỹ các vật: Trên bàn trơ trọi cái bếp cồn cùng cái ấm sắt nhẹ. Vứt trên chiếc giường không màn, quyển Phật giáo và hai ba cuốn tiểu thuyết tây. Mà cái va li, Lan không thấy đâu hết.
Lan nhìn quanh ngẫm nghĩ. Bỗng chú hấp tấp chạy xuống nhà ngang hỏi chú Mộc:
- Này chú, ông Ngọc đâu?
- Ông Ngọc về Hà Nội từ sáng kia mà.
Lan hoảng hốt:
- Về lúc nào?
- Lúc chú ở vườn chè. Ông ấy nhắn nhời chào chú đấy. Tôi quên bẵng mất.
Lan vơ vẫn, mắt lờ đờ, ngớ ngẩn hỏi:
- Sao lại về Hà Nội?
- Rõ chú lẩn thẩn lắm. Còn ai biết tại sao ông ấy lại về Hà Nội nữa. Muốn biết thì hỏi ông ấy.
- Sao lại về Hà Nội? Về rồi à?
- À, ông Ngọc cho chú quyển sách để ở trên buồng ấy.
- Được, để tôi lên lấy.
Lan lại có cớ lên buồng Ngọc. Vào buồng, Lan khép cửa rồi mở lấy quyển sách ra xem, vì chắc thế nào Ngọc về Hà Nội cũng có một vài lời từ biệt. Quả Lan đoán không sai: Một tờ giấy viết thư gập trong quyển Phật giáo có mấy hàng vắn tắt.
Giữ lời hứa hôm qua, tôi xin kính chào chú ở lại tu cho thành chánh quả... Chú có còn tưởng nhớ tới tôi, tới người bạn khốn khổ này, tôi xin chú cầu nguyện cho linh hồn tôi chóng lên cõi Nát bàn.
Lan cầm mảnh giấy ghé gần đèn, đọc đi đọc lại ba, bốn lượt, rồi tắc lưỡi cuộn nhỏ lại thò vào trong thông phong châm lửa đốt. Nét mặt rầ
Bỗng Lan ngồi phịch xuống giường lấy tay bưng mặt khóc nức nở không ra tiếng. Nỗi sầu muộn trong lòng như theo hai hàng lệ dần dần tiêu tán. Lan thấy đỡ thổn thức, tim bớt đập mạnh, rồi Lan như người sực tỉnh:
- Thôi, ta điên mất rồi! Chẳng lẽ...
Lan đứng phắt dậy, tắt đèn rồi lau nước mắt, quả quyết lên chùa trên, vừa đi vừa lẩm bẩm: "Quên, phải quên! Lời thề trước linh hồn mẹ, ta hãy còn nhớ đinh ninh trong trí. Đó là cái bùa để trừ bỏ những sự cám dỗ của tình ái nhỏ nhen nơi dương thế."
Nhưng con người ta vẫn thế. Bao nhiêu cũng phải trái với sự thực. Một người hay do dự, luôn luôn nghĩ tới sự quả quyết, hoặc nói mình phải quả quyết. Người nhút nhát đêm đi đường vắng một mình thường hay huýt sáo làm ra bộ mạnh bạo lắm, nhưng kỳ thực trong lòng lo sợ, chân tay run lẩy bẩy. Lan cũng vậy luôn mồm nói phải quên. Nhưng đó là cái triệu chứng của sự nhớ.
Thật ra, cái tình mà Lan cố ra tưởng tượng nhỏ nhen, nó to tát, nó đầy rẫy, nó chứa chan khắp linh hồn Lan: Câu nói, dáng đi, điệu nhìn, giọng cười, ý nghĩ đều là hình ảnh của ái tình.
Lan lẩm bẩm: "Ta rất có tội với đức Phật tổ."
Lúc đó Lan thỏang ngửi thấy mùi trầm. Thì ra lên tới chùa trên từ bao giờ mà Lan không biết, vẫn tưởng còn ngồi ở buồng Ngọc. Ngước nhìn thấy các tượng thấp thoáng trong bóng đèn lù mù dầu lạc: Tuy không trông rõ, Lan cũng tưởng tượng ra các vẻ mặt tươi cười, khoan dung mà lãnh đạm. Từ từ, Lan cúi đầu như người ta vừa bị quở mắng, rồi rón rén tới bục gỗ quỳ xuống, thì thầm khấn khứa....
VIII
Chùa Long Giáng vắng Ngọc như thiếu hẳn vẻ hoạt động. Một tháng Ngọc ở chùa làm biến cải hẳn các sinh hoạt của mấy người tu hành. Sư cụ, trước kia ngoài giờ tụng kinh, niệm Phật, thường chỉ tĩnh tọa để trầm tư mặc tưởng tới những vấn đề giải thoát linh hồn. Chú Mộc ngoài việc chú dọn dẹp, quét trước, rót nước, bưng cơm, chỉ ngồi lì ở nhà ngang trò chuyện cùng ông Thiện và bà Hộ. Còn chú Lan thì ngày đêmchỉ biết chăm nom việc trên chùa, thắp nhang, đốt đèn, thỉnh chuông và học tập kinh kệ. Các công việc nhắc lại hằng ngày đã khiến năm linh hồn kia trở nên năm cái máy, giờ nào làm việc nào, ngày ngày, tháng tháng, năm năm không hề thay đổi.
Từ ngày có Ngọc ở chùa thì năm bộ máy khi mau khi chạy sai lạc đi nhiều. Tuy công việc vẫn có thế, song những giờ tĩnh tọa của sư cụ nhiều khi đã đổi thành những cuộc nói chuyện về đạo Phật, về sự tích Phật tổ. Sư cụ bản tính thâm trầm nghiêm khắc, mà có lần cũng phải cười về những câu hỏi ngớ ngẩn, những ý tưởng ngộ nghĩnh của Ngọc.
Nhất là khi có chú Lan đứng hầu bên cạnh, Ngọc càng thấy phấn khởi tâm hồn, và cuộc đàm luận càng có vẻ náo nhiệt lắm. Những thuyết đề thái tây, những tư tưởng triết lý của Ngọc không thể lọt tai nhà tu hành được, nhất Ngọc lại đem những ý tưởng trong các sách của phái Tiểu thừa mà bàn tới đạo Phật ở nước ta theo về phái Đại thừa, nên hai bên thực không thể nào hợp ý nhau được. Có những cuộc đàm đạo ấy, sư cụ cũng thấy vui vui. Và cụ cũng lo tới ngày cùng Ngọc biệt ly.
Đến cả bà Hộ, ông Thiện, chú Mộc trong khi có Ngọc, cũng bận suốt ngày, nhưng tuy bận bịu, rộn rịp hơn xưa mà vẫn lấy làm vui thích. Nào hai bữa cơm sửa sang cho lịch sự, nào hầu hạ pha nước, lấy thau. Chú Mộc thấy Ngọc tính rất dễ dãi lại càng hay lên gẫu chuyện.
Nay Ngọc về Hà Nội, năm người cùng thấy những công việc hằng ngày buồn tẻ. Mấy cái máy uể ỏai nay càng uể ỏai hơn xưa.
Nhưng người thấy buồn tẻ nhất là chú Lan.
Ba, bốn ngày sau hôm Ngọc đi, chú chẳng biết làm gì, chẳng muốn ăn uống gì. Đến nổi sư cụ và chú Mộc phải lấy làm lạ rằng cái tình bằng hữu của chú đối với Ngọc không ngờ thân mật đến thế.

Chiều hôm ấy, mặt trời đã lặn sau rặng đồi tây, Lan còn thơ thẩn ở vườn sắn sau chùa. Ngồi trên là cành lẫn lá để ngổn ngang chưa buộc, Lan đăm đăm nhìn về phía xa. Linh hồn Lan như đang theo áng mây hồng bay vào nơi hư vô tịch mịch. Lan thở dài, buột miệng thong thả nói: "Nát bàn! Bồng lai!"
Hai ý tưởng "tôn giáo" và "ái tình" hình như đương công kích nhau trong tâm trí.
Bỗng Lan giật mình tỉnh bằng giấc mộng. Tiếng chuông chùa như cất vọng từ bi vỗ về an ủi, dỗ dành. Lan mỉm cười lẩm bẩm: "Thế nào cũng phải lánh xa nơi trần tục!"
Tiếng chuông đổ hồi như vui mừng, cười reo vì đã giải thoát được linh hồn Lan.
Lan cười theo hồi chuông, tiếng cười lanh lảnh trong làn không khí yên lặng dưới ánh lờ mờ thảm đạm buổi chiều tà.
IX
Ánh trăng trong vắt của vầng thái dương tháng chạp, chiếu qua rặng lim um tùm. Mấy cây trầu chung quanh vườn sắn xơ xác cành khô. Luồng gió thoảng qua, lá vàng rơi lác đác...
Lan ngồi sưởi thì thầm đọc kinh, thỉnh thoảng lại đặt quyển sách xuống, ngơ ngác nhìn. Tiếng lá rụng trên vườn sắn như có mãnh lực khiến Lan ôn lại những mẩu đời ký vãng, Lan nhắm mắt, trí lại tưởng tượng ra cái cảnh lá rụng khi sang chùa Long Vân, cái cảnh bên bờ suối mấy gốc thông già gió chiều hiu hắt, lá thông khô, theo dòng suối trôi đi...
Lá rụng!
Từ đó đến nay đã qua sáu tháng. Lan trải bao buồn, nhớ, mừng, lo.
Trong khoảng mười hôm đầu, Lan ủ rủ âu sầu. Rồi dần dần ngày đêm vui đạo Phật, lòng cũng nguôi nguôi.
Tuy những khi chiều tà gió thổi, đêm khuya thức giấc, trăng mọc đầu non, dung nhan người bạn cũng còn phảng phất trong tâm hồn, nhưng đạo từ bi vẫn thắng nổi ái tình. Chỉ ít lâu là ảnh ai đã mờ hẳn trong trí nghĩ. Rồi buồn nhớ đổi ra mừng vui. Lan hớn hở rằng đã qua được một bước khó khăn trên con đường tu hành.
Lá rụng!
Tiếng lá tí tách trên bờ rào khô bỗng gợi tới chuyện cũ đã hầu quên. Lan nghĩ mà lo, lo một ngày kia bí mật của mình sẽ bị khám phá. Biết đâu trong khi vui anh em, chàng chẳng thuật câu chuyện gặp gỡ. Nếu chàng quên, nhưng nào chàng có quên được! Đã có một lần chàng đi xe đạp đến gần chùa, rồi nghỉ ở quán một lúc rồi lại quay xe trở về Bắc. Tuy Lan cho là Vân trông lầm, nhưng tâm trí Lan vẫn thì thầm với Lan rằng đó là chuyện thực.
Mặt trời đã xế về tây. Một luồng gió lạnh.
Lá rụng!
Lan rùng mình ngơ ngác nhìn quanh, như sợ có người đứng nghe trộm được nhưng ý nghĩ bất chính của mình. Lan cố không tư tưởng nữa, muốn theo gương sư cụ ngồi tĩnh tọa để tìm chân lý.
Bỗng có một tiếng sột soạt sau lưng. Lan quay lại. Ngọc đương rón rén đi tới. Lan mừng quýnh thốt nhiên kêu rú lên:
- Ông Ngọc!
Ngọc khẽ gật, không trả lời. Lan sực tỉnh, bẽn lẽn, trách bạn:
- Ông đã hứa với tôi rằng ông quên, sao ông còn lên?
Ngọc mỉm cười, đáp:
- Tôi vẫn cố quên, nhưng nào có quên được!
Rồi Ngọc buồn rầu, kể lể:
- Nếu chú thấu nổi đau đớn, khổ sở của tôi thì chú cũng saÜn lòng tha thứ cho tôi.
- Mời ông hãy vào chùa chào cụ, cụ nhắc đến ông luôn... Cụ nhớ ông lắm.
Ngọc vội gạt:
- Không, không. Tôi không lên thăm cụ. Tôi chỉ lên thăm chú một lát rồi lại về ngay bây giờ.
Lan đỏ bừng mặt, Ngọc tưởng Lan xấu hổ, nhưng chính Lan sung sướng quá.
Ngọc nói tiếp:
- Tôi lên thăm chú, vẫn biết đối với lời hứa, đối vời lời thề, tôi rất có lỗi, mà nhất đối với đời tu hành của chú, tôi rất là người có tội. Nhưng chắc Phật tổ cũng thấu lòng chân thành, rõ nỗi đau đớn của tôi mà xá tội cho tôi.
Lan mắt lờ đờ nhìn phía xa:
- Nhưng gần tối rồi, ông về bằng gì?
- Tôi về bằng xe đạp. Xe tôi để tựa ngoài hàng rào kia.
- Nhưng... Từ đây về Bắc cũng đã xa rồi, lại còn từ Bắc về đến Hà Nội, ông đạp sao nổi?
- Cũng phải nổi. Lần này là lần thứ ba rồi, hai lần trước tôi cũng đã lên, nhưng lại về ngay, sợ hãi, không dám vào thăm chú.
- Giá lần này ông cũng về ngay thì phải.
Ngọc không để ý đến câu trả lời của Lan, lại gần đứng tựa vào cây trầu, ngay chỗ Lan ngồi, nhìn Lan, không nói.
Lá rụng!
Lan giật mình bảo bạn:
- Nhỡ cụ biết...
Ngọc vẫn nhìn Lan, đôi mắt âu yếm, nồng nàn:
- Cụ biết thì ta thú tội với cụ là cùng chứ gì.
Lan cười nhạt, nói:
- Tôi tưởng ông là bậc quân tử đáng kính, đáng tôn. Ai ngờ thắm thoát mới sáu tháng giời, ông đã quên được lời thề.
Ngọc nghiêm sắc mặt trả lời:
- Chỉ vì tôi không quên được lời thề, nên tôi mới khổ. Bản tính con người là quên. Mà muốn đi tới hạnh phúc thì càng phải quên. Nếu tôi quên được hết, quên lời thề, quên cái đêm trăng rọi trên đồi, quên lời ăn tiếng nói của chú, quên sự gặp gỡ của đôi ta, quên chú, quên hết, thì đâu đến nổi... Nhưng trái lại, tôi nhớ, tôi tưởng tượng như mọi sự vừa mới xảy ra hôm qua, nào phải chăng tôi sống trong cảnh mộng?
Lan ngồi nghe, cặp môi hơi hé mỉm cười, mắt lim dim như đương thiu thiu trong giấc mộng.
Ngọc nói, lời rầu rầu, se sẽ, như người ru em.
Mặt trời đã gần lặn sau đồi, mặt trời lạnh lẽo mùa đông. Gió chiều thoảng qua.
Lá rụng!
Lan mở bừng mắt, thở dài:
- Không, không bao giờ thế.
Ngọc vẫn như người mê man, nói luôn:
- Phải, nào phải đâu tôi sống trong cảnh mộng, sáu tháng tôi ở xa chú, tôi coi như sáu năm...
Lan giọng hơi run run:
- Ông điên mất rồi, ông tha lỗi cho tôi, nhưng thực ra ông điên mất rồi, ông nên cưỡi xe đạp trở về ngay không cụ biết thì bí mật đến tiết lộ mất, vì ông điên mất rồi.
Ngọc cười gằng:
- Tôi về ngay đây, nhưng tôi thú thực với chú rằng không bao giờ trí tôi lại sáng suốt như bây giờ. Những lời tôi nói với chú, tôi nguyện có Phật tổ chứng minh, thật ở tận đáy tâm can mà ra. Tôi vẫn biết lòng chân thành của tôi không thể cảm được linh hồn chú, nên hôm nay tôi chỉ lên để từ biệt chú một lần cuối cùng mà thôi. Từ nay kẻ bắc người nam, xin khôn gặp mặt nhau nữa.
Lan hai tay bưng mặt, nước mắt ràn rụa ướt cả vạt áo. Lan cố giữ linh hồn lãnh đạm, nhưng chỉ giữ được đến thế.
- Ngọc vội cúi xuống đỡ tay Lan, kêu van:
- Ngọc xin lỗi Lan. Đấy Lan nghĩ mà xem. Lan có thể không yêu Ngọc được đâu. Cặp linh hồn đôi ta như một điệu âm nhạc, không cảm động nhau sao được?
Dưới chân đồi, mấy đứa trẻ mục đồng cưỡi trâu về chuồng, cười đùa vui vẻ. Trên cây trầu, đàn chim sẻ đuổi nhau tiếng kêu chiếp chiếp.
Lá rụng!
Lan đứng phắt dậy, khẽ ẩy bạn ra:
- Không, không bao giờ như thế được!
Ngọc lắc đầu, thở dài:
- Tôi thương hại chú quá. Tôi cũng đáng thương, nhưng chú còn đáng thương gấp trăm, gấp nghìn lần. Linh hồn chú bị ái tình và tôn giáo, hai bên lôi kéo, mà lạy Trời, lạy Phật, hai cái mãnh lực ấy lại tương đương, nên tâm trí chú càng bị thắt chặt vào hai tròng...
Lan nhíu đôi lông mày lùi lại một bước:
- Thôi, ông đừng nói nữa, mỗi lời nói của ông như đốt xé ruột gan kẻ tu hành này. Ông nên về ngay đi.
Ngọc dịu dàng:
- Vâng thì tôi về. Xin kính chào chú ở lại nhé.
Nói xong, Ngọc quay đi. Lan ngồi xuống bưng mặt khóc. Ngọc rón rén trở lại, yên lặng đứng ngắm Lan.
Mặt trời đã lặn sau dãy đồi tây. Vạn vật nhuộm màu ảm đạm.
Lá rụng!
Lan mở choàng mắt, ngơ ngác nhìn. Rồi mỉm cười:
- Ông vẫn chưa về?
- Lan coi, Lan đuổi Ngọc về, mà Lan vẫn còn mừng Ngọc ở lại. Trí Lan đi một đường, tâm Lan đi một lối. Ngọc thương Lan, Ngọc muốn hy sinh vì Lan, nhưng chẳng biết xử trí ra sao bây giờ.
Lan đăm đăm nhìn về phía chùa, se sẽ nói:
- Quên, phải quên.
- Nhưng nào quên được?
- Nếu thế thì chỉ có một cách bỏ chùa đi trốn.
Lan sợ Ngọc hiểu lầm, nói tiếp luôn:
- Bỏ chùa đi trốn, đến tu một chùa khác, một ngôi chùa trên thượng du.
Ngọc có vẻ sợ hãi, vội gạt:
- Không nên. Nếu Lan đi thì Ngọc sẽ chết khô héo mất. Ngọc chẳng dám mơ màng nọ kia, chỉ ao ước thỉnh thoảng lên chùa nhìn thấy mặt Lan đủ rồi. Vậy xin Lan cứ ở đây tu hành, rồi ngày Ngọc được nghỉ, lại cho phép Ngọc phóng xe đạp lên chùa thăm Lan, Lan có ưng như thế không?
Lan mỉm cười:
- Nếu được mãi như thế?
- Tôi xin thề với Lan rằng tôi giữ được mãi như thế. Tôi xin viện Phật tổ tôi thề với Lan rằng suốt một đời, tôi sẽ chân thành thờ trong tâm trí cái linh hồn dịu dàng của Lan.
- Thế nghĩa là thế nào?

- Nghĩa là suốt đời tôi, tôi không lấy ai, chỉ sống trong cái thế giới mộng ảo của cái tình lý tưởng, của ái tình bất vong bất diệt.
Lan hai giòng nước mắt đầm đìa, dịu dàng bảo bạn:
- Không được. Còn gia đình ông?
Ngọc lạnh lùng:
- Gia đình? Tôi không có gia đình nữa. Đại gia đình của tôi nay là nhân loại, là vũ trụ, mà tiểu gia đình của tôi là... Hai linh hồn đôi ta, ẩn núp dưới bóng từ bi Phật tổ.
Lan tươi cười, ôn tồn bảo bạn:
- Tôi không ngờ Phật giáo đã cảm hóa ông đến như thế! Ngọc vui vẻ:
- Yêu là một luật chung của vạn vật, là bản tính của Phật giáo. Ta yêu nhau, ta yêu nhau trong linh hồn, trong lý tưởng, Phật tổ cũng chẳng cấm đoán đôi ta yêu nhau như thế.
Lan đưa vạt áo lau nước mắt:
- Tôi hiểu ông lắm rồi. Tôi xin ông lại nhà kẻo giời sắp tối.
Ngọc vui vẻ:
- Vậy chào Lan ở lại nhé. Ngày khác sẽ gặp nhau...
Lan nghĩ ngợi nhìn Ngọc, khẽ gật đầu mỉm cười không nói.
Ngọc từ giã Lan, dắt xe đạp xuống đồi.
Bây giờ sắc trời dìu dịu, vạn vật như theo tiếng chuông chiều thong thả rời vào quãng êm đềm, tịch mịch.
Lan đứng chắp tay tụng niệm, mắt lờ đờ nhìn xuống con đường đất quanh co, lượn khúc dưới chân đồi.
Gió chiều hiu hiu...
Lá rụng!
Khái Hưng
Theo http://butsen.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...