Chương
14
Dung đương lúi húi dưới
bếp làm món canh trứng thì người vú già ở nhà ngoài chạy vào bảo:
-Mời cô ra có cô Yến
vào hỏi cô đấy.
- Thế à! Nếu vậy, ra mời
cô ấy ngồi chơi rồi tôi ra ngay đây.
Rồi Dung lầm bầm:
“Quái thật, cô Yến
nào? Quen biết từ bao giờ?”. Tuy nhiên, nàng vẫn ngồi rốn sau một cái thớt, một
tay thìa, một tay đũa, trộn thịt băm vào trứng, rồi thả thìa ấy vào nồi canh
đương sôi... Người bếp liền giục:
- Thôi, cô ra tiếp
khách đi, để đấy tôi...
- Ừ, thế anh hộ tôi vậy.
Nói xong, Dung đứng
lên, ra rửa hai tay bằng xà phòng và rửa cả mặt. Nàng còn đương soi gương vào
cái gương con lấy ở túi áo để sửa sang mấy mảng tóc lòa xòa trên trán thì tiếng
guốc khách đã lộp cộp vào đến bếp mất rồi.
- Chị ơi, chị đương bận
gì đấy?
Dung ngớ ra, cũng mừng
rỡ reo lên:
- Ạ! Chị Yến! Thích
quá!
- Em được tin ông nhà đổi
về đây, em hỏi thăm được nhà là em đến ngay!
- Thế cơ à! Mời chị
quay ra, lên nhà trên, em cũng sắp đi lên...
Hai người quay ra. Yến
là một người bạn thân, có lẽ thân nhất của Dung, khi hai người ở Hà thành còn
là hai nữ sinh bé nhỏ một trường nữ học. Mãi cho đến khi Dung theo cha lên huyện
thì hai cô bạn gái mới cách biệt nhau. Chị em đã lâu không gặp mặt, bây giờ
Dung lại thấy Yến dung
nhan xinh đẹp hơn trước nhiều lắm, nên nàng rất vui sướng. Nàng hỏi:
- Chị làm thế nào mà biết nhà em ở đây?
Yến cười, hỏi lại:
- Đố chị biết em làm thế nào đấy!
Một lát, Yến tiếp:
- Cái nhà này cũng rộng rãi, ngăn nắp đấy! Mỗi tháng bao
nhiêu tiền, hở chị Dung?
- À, cậu em thuê đâu như là mỗi tháng 25 đồng.
- Chị ở phố này là rất phải, chọn chỗ ở khéo quá! Thế bà đâu?
Bà có ở nhà không thì chị cho em vào chào nào...
- Thôi, chị ạ, mẹ em mệt, hiện ngủ, chị để cho đến lần sau...
Dung đứng lên rót nước mời bạn. Nàng thấy Yến khen là khéo chọn
chỗ ở thì rất lấy làm bằng lòng. Ấy là vì chính Dung đã chọn cái nhà này, khi
nàng cùng mẹ về Hà Nội. Xưa kia, cả cái thuở bé của Dung cũng đã qua đi ở Hà
thành, song lại ở vào những phố nhiều mặt trời, và bụi cũng nhiều, suốt ngày
đêm các thứ xe cộ với các hàng quà bánh gây ra một thứ huyên náo khó chịu, nếu
không thỉnh thoảng lại có một tai nạn chết người hoặc què người nó làm cho tri
giác của ta cũng bị thương. Lần này, Dung đã khéo chọn được phố Phạm Phú Thứ. Một
phố toàn là những nhà tây cao hai ba từng đứng lừng lững và đồ sộ trong cái bầu
không khí êm đềm một cách trưởng giả. Xe cộ ít qua lại, trẻ con có thể bình
tĩnh nô đùa hai bên hè, nghĩa là thỉnh thoảng chạy xuống đường. Tối đến, khi những
bóng điện trong các nhà có ánh sáng, khách đi đường chỉ nhìn thấy những tủ
gương, tủ chè khảm, xa lông tây, tàu, giường Hồng Kông v.v...
Đó, đây, những phụ nữ, quần áo trắng, tóc đen thả dài sau
lưng, đứng ở bao lơn hoặc ngồi ghếch chân trên một ghế mây để ở vệ hè. Một phố
trưởng giả, không có lấy một gia đình cùng dân, vì hầu hết là viên chức Nhà nước.
Những đồ đạc đã chở từ huyện về đây và nhà cửa đã dọn xong hai hôm rồi, ông huyện
mới về ở. Ông cho người nhà và đồ đạc đi trước, vì còn phải ở lại bàn giao công
việc cho viên tri huyện đến thay chân ông. Quả như lời đồn của bạn đồng nghiệp
với ông, quả đúng như những tin tức của bạn thân ông, để vỡ đê, ông đã bị một hội
đồng kỷ luật huyền chức tri huyện trong một năm, về làm bàn giấy ở phủ Thống sứ
thật! Và ông tuần phủ tỉnh ông, chỉ vì quãng đê vỡ của ông, cũng bị giáng một
trật và phải đổi đi một tỉnh nhỏ hơn. Thế là, từ một bậc “phụ mẫu chi dân”, phụ
thân của Dung lại quay về với đời cạo giấy thuở trước. Bởi vậy, ông rất thích
cái phố trong đó con ông tìm được nhà.
Mấy ngày đầu, âm nhạc của máy hát hoặc máy vô tuyến điện của
lân bang lại nhắc cho ông cuộc sinh hoạt của kinh đô nó không làm tê liệt trí
thức của con người như cái không khí buồn tẻ của những đêm ở huyện. Thế rồi
thì... mỗi ngày một lượt, sớm vác ô đi tối vác ô về, ông chỉ còn chờ tậu một
cái xe nhà để chịu đựng cái bước rủi của hoạn đồ trong một năm.
- Chị ơi! Bây giờ chị lại ở Hà Nội thế này thì em lại chơi với
chị luôn luôn cũng như chị đến chơi với em luôn luôn.
- À, điều ấy thì việc gì phải dặn nữa!
- Em ở phố Hàng Cót chị ạ. Gần lắm.
- À này chị Yến, thế làm sao chị biết cậu em phải đổi về...?
- Em xem nhật báo, thấy tin, rồi em hỏi thăm bà Cửu Tân.
Nói đến đây, Yến lấy ở một tập năm sáu tờ tuần báo ra một tờ
nhật trình. Dung mở rộng tờ báo... được bạn chỉ cho cái cột có đăng tin bị huyền
chức. Nàng đọc xong, thở dài một cái, y như là buồn rầu, mặc lòng quả thật lúc ấy
Dung không còn buồn rầu tí nào. Không muốn phải nói chuyện đến việc bố bị huyền
chức, Dung làm ra vẻ ham đọc báo, và sốt sắng tìm tòi trên mặt giấy những tin
đáng đọc. Chợt mắt nàng nhìn đến mấy dòng chữ nó khiến nàng thấy hồi hộp trái
tim. Cũng vẫn ở cái cột tin tức về thủy tai, về tin nước lên xuống, và các tin
về cứu tế, hàn khẩu v.v... thấy có những dòng chữ nét đậm như thế này:
Quanh vụ bắt bớ ở huyện T, H.V. Phú đã được tha bổng. Vô
tình, Yến định giằng lấy tờ báo nói:
- Thôi đừng xem báo nữa, để thời giờ nói chuyện chứ chị!
Dung giơ tay ngăn tay bạn mà rằng:
- Hãy để yên cho em xem cái này một lát thôi.
Nàng đọc. Đọc xong, nàng bàng hoàng cả người không biết rằng
mình lúc ấy có đương ngủ mê hay không... Thật là quá sức tưởng tượng! Nhưng
không, quả tờ nhật báo đăng cái tin ấy với luận điệu mới mẻ, khác trước nhiều,
nhiều lắm. Dung đọc lại lần nữa:
- “Hôm vừa rồi..., viên tri huyện T. đã tha bổng cho H. V.
Phú, một thiếu niên bị nghi là đứng cầm đầu cho hai trăm dân phu biểu tình ở
quãng đê v.v. .. mà bản báo đã có đăng tin ngay từ khi việc mới xảy ra. Tại sao
H. V. Phú lại được tha như thế? Nguyên do sau khi mở cuộc điều tra thì ông huyện
T. đã thấy rõ rằng khác với lời trình báo của lính tráng và lý dịch, H. V. Phú
không hề xui phu biểu tình, cũng không hề xui phu đình công. Cũng như phần nhiều
người có chút học thức, chẳng hề chịu nổi những sự tàn nhẫn của bọn cai lục lộ
và tuần tráng, Phú đã bảo những phu phen ấy phải đồng tâm nhau, khi quan huyện
đi thăm đê thì kêu với quan huyện xem lý dịch có bóc lột họ bằng cách trẩm số
tiền công mà Nhà nước đã hứa là trả cho họ. Ấy đầu đuôi chỉ có thế, mà sở dĩ H.
V. Phú bị bắt chỉ là sự phòng xa của nhà chức trách trong việc trị an. Vả lại từ
bên Pháp có Chính phủ Bình dân thì bên này, Chính phủ thuộc địa cũng bắt đầu
quan tâm đến dân lao động. “Vả lại xét ra thì mấy tháng nay, bao nhiêu cuộc
đình công đã xảy ra, vậy mà Chính phủ Bảo hộ cũng như Chính phủ Nam triều, đều
không đem pháp luật ra thẳng tay trừng trị - vì hiện ở nước ta, chưa ai có quyền
đình công mà đình công tức là phạm luật - thì đủ hiểu rằng pháp luật cũng phải
theo cái lịch trình tiến hóa của người dân mà nhượng bộ rồi. Tha bổng cho H. V.
Phú tức là biết kể đến sự tiến hóa của dân, và đồng thời cũng là hành động theo
cái tôn chỉ của Chính phủ Bình dân. Bản báo công nhận cử chỉ của việc tri huyện
T là hợp thời. Quan tân, chế độ tân.
Phải chi bị vào một vị “phụ mẫu” cổ hủ, không thức thời, thì
H. V. Phú đã bị tù tội, và như vậy là phải, vì giữa cái tình thế chưa rõ trắng
đen này thì pháp luật xứ này thế nào cũng là phải cả”. Đọc xong một lần thứ
nhì, Dung gập tờ báo, lặng lẽ trao trả lại Yến. Nàng nghĩ mà mừng thầm cho người
thiếu niên mà nàng đã cứu, mà có lẽ từ nay trở đi thì nàng không quên tên nữa,
là: H. V. Phú. Dung tự hỏi: “H. là Hoàng mà V là Văn, nghĩa là Hoàng Văn Phú
chăng?”. Rồi Dung nghĩ mà oán giận bố mẹ. Ừ, việc ấy là như thế, thì nào Dung
có làm gì nên tội hay không? Ông huyện chẳng phải vì Dung mà bị huyền chức. Vẫn
hay Dung đã làm một việc táo tợn, một việc phạm pháp luật, một việc có thể nguy
hiểm cho bố Dung và cho Dung.
Nhưng việc ấy chẳng hợp nhân đạo là gì? Và nếu thế, lại theo
như ý kiến của bài báo (mà Dung chắc lại do chính tay bố mình thảo ra thì Dung
há chẳng lại cứu chữa một việc vô nhân đạo mà bố nàng vì chức nghiệp, đã phạm
phải đó hay sao? Nàng thấy bố mình có nhiều giọng lưỡi, và lại nhiều giọng lưỡi
cả với con gái thì là sự không nên? Ông huyện đã sỉ vả Dung một bữa kịch liệt.
Bà huyện đã gọi Dung là “đứa con giết bố”. Bà nhắc đi nhắc lại câu nói đó luôn
luôn, bất cứ vào trường hợp nào. Và, cũng từ bữa ấy trở đi, bà luôn luôn mắng mỏ
cô con, tưởng chừng con bà là hỗn, là không còn phương gì cứu chữa nổi nữa,
nghĩa là đồ bỏ đi vậy. Trước bà nuông chiều yêu quý Dung bao nhiêu thì bây giờ
bà hành hạ căm giận nàng bấy nhiêu. Bà làm như chính chỉ tại có một cử chỉ lãng
mạn của Dung mà ông huyện phải bị Nhà nước huyền chức vậy. ít lâu nay Dung đã
là đứa con không hiếu cũng như mẹ Dung là một bà mẹ không từ. Một bầu không khí
khó thở giữa hai người thân yêu với nhau nhất đời mà xử sự như là tử thù của
nhau. Ông huyện thế mà dễ dãi. Vì ông hiểu, ông không là bà huyện, vì ông là
đàn ông, xong việc thì thôi, không biết nói dai. Đáng lẽ buồn rầu vì con hư thì
ông để tâm buồn rầu rằng không đủ tư cách chạy chọt cho khỏi bị huyền chức. Và
buồn rầu về những cái nhơ nhớp của hoạn trường. Đối với đứa con có tội - tội nặng,
rất nặng, Dung biết thế lắm - ông vẫn có lòng thương, mặc lòng ông chẳng còn
nuông quá như xưa. Dung oán giận mẹ, hối hận với bố. Nàng âm thầm đau xót, biết
rằng từ đây mà đi, cái địa vị mình không còn được như xưa. Mẹ nàng chỉ còn nghĩ
cách làm thế nào cho mau cho chóng tống nàng đi lấy chồng. Còn ở nhà ngày nào,
Dung chỉ làm cho mẹ khó chịu ngày ấy. Đứa con giết bố! Rõ thật đau xót!
Thấy Dung có những nét buồn, Yến hỏi:
- Dạo này hẳn chị có điều gì suy nghĩ lung lắm, có phải không?
Dung gượng cười, lắc đầu:
- Không! Có gì đâu!
- À này, chị biết chưa? Hai tuần lễ nữa có chợ phiên... Ngày hội
sinh viên cao đẳng, vui lắm. Chị sửa soạn đi nhé? Sửa soạn đi để làm hoa
khôi... Thế nào hôm ấy em cũng phải đến lôi chị đi dự! Chị ạ, ở Hà thành chợ
phiên không buồn tẻ như chợ phiên các tỉnh đâu? Còn nhớ ngày năm ngoái... úi
chao ôi! Cũng ngày hội sinh viên cao đẳng...
Đến đây, Yến nghiêng đầu nghẹo cổ, lim dim hai con mắt, say
sưa nói một cách văn vẻ bằng những giọng tiểu thuyết:
- Chị ạ, đó là những ngày vui vẻ trẻ trung mà không bao giờ
em quên trong suốt cả một đời em, vì em thấy đời là đầy thú sống, đầy ánh sáng
và hy vọng, và người đời không một ai đau khổ cả. Những ngày như thế chính là
những ngày đầy thi vị nó khiến ta quên chết.
Yến đương nói đến đây bỗng có một giọng lanh lảnh cất cao sau
lưng cô:
- Thế nào, cô xong mâm cơm cho bố chưa thế, hử cô?
Yến giật mình đứng lên quay lại. Đó là bà huyện. Mặt bà hầm hầm,
không phải vì mới ngủ dậy nhưng vì căm giận cô chiêu. Yến chào thì bà đáp gọn một
câu sắc như một lưỡi dao:
- Không dám!
Thấy giọng lạnh lùng, Yến hơi ngạc nhiên về tính nết bà mẹ
Dung mà Yến biết xưa kia không thế. Yến bẽn lẽn xin cáo lui.
Khi tiễn bạn đến bậu cửa, vô tình Dung thở dài. Nàng tìm một
câu để nói dối:
- Đấy, chị xem, có phải mẹ em thay đổi khác trước nhiều lắm
không? Mẹ em chỉ vì đồng bóng mà thế. Buồn lắm chị ạ!
Gay gắt, mặt trời, trước khi lặn, chiếu một thứ ánh sáng vàng
đỏ như thu cả cảnh vật vào trong khu vực một đám cháy dữ dội. Nước phù xa đỏ ngầu
lại chiếu hắt ánh sáng gay gắt ấy lên không gian. Giữa lúc nắng xiên khoai khó
chịu. Phú thấy như trên đầu, dưới chân, sau lưng, chỗ nào cũng có mặt trời. Thật
vậy, mặt trời ở trên, ở tả, ở hữu, ở cả chung quanh mình Phú, ở khắp tứ phía!
Chàng bèn khoanh tay trên đầu gối, kề đầu vào một cành ổi, nhắm mắt lại để thở.
Cụ Cử cũng nói với ra xa:
- Thôi hãy nghĩ tay một lát đã, con ạ. Phú nhắm mắt được một
lúc bỗng lại choàng mở mắt. Chàng lẩm bẩm:
“Chết! Tối đến nơi rồi, mình không cố không xong”.
Rồi chàng nhìn xuống nước. Một vài con niềng niễng bay tung
tăng, đậu vào một vài cái lá ổi rồi lại bay xuống nước, đảo đi đảo lại mấy vòng
rồi chìm lỉm. Những con vẽ bùa - những chấm đen tròn - trên mặt nước, phô ra
cái quang cảnh tưng bừng của một cuộc khiêu vũ cuồng khấu và vô ý thức. Xa xa,
trong làn nước đỏ đục lờ có mấy cái cành cây mục, mấy lá tre khô, một vài con đỉa
lẳng lặng ngoi lên ngóng mồi rồi lại từ tốn nấp dưới một cây tre thả dài có vẻ
như chỉ chờ Phú có việc gì phải thả chân xuống nước là kéo ùa nhau đến, sẵn
lòng. Phú cau mày lại, kinh tởm, nhổ một bãi nước bọt xuống nước, và tình cờ,
đã đuổi đàn vẽ bùa ra một nơi xa.
Chàng bực mình với làn nước đã làm cho bao nhiêu người khổ sở,
để cho những loài vật gớm ghiếc như thế sống sung sướng ở những chỗ chẳng phải
của chúng. Làn nước, làn nước khốc hại đã phá bao nhiêu hoa màu của bao nhiêu
ruộng đất phì nhiêu để cho hàng mấy vạn người đói khổ và một ít người ở chỗ
khác, nhân cơ hội, trở nên sung sướng. Ngẫu nhiên và dĩ nhiên, Phú nghĩ đến cái
quyền thế thiêng liêng an bài ra những cái họa phúc ấy:
Trời. Chàng nghĩ đến số phận hẩm hiu của đồng bào, rồi nghĩ đến
những tai họa kế tiếp dồn dập nhau đến hành hạ người dân quê lầm than: sưu thuế,
mất mùa, hạn hán, lụt, bão, xổ số, bã rượu lậu, bao nhiêu là cái nó làm cho cả
một dân tộc phải chịu triền miên trong sự suy vong, trong sự đốn mạt, và thẳng
tiến đến cái diệt chủng. Phú thấy rằng nếu có Trời thì ông Trời ấy kỳ quặc lắm,
ở chỗ như có thâm thù gì riêng với người Việt Nam. Cái óc không tín ngưỡng của
một thiếu niên vô đạo như Phú bị kích thích mạnh. Chàng lầm bầm như một kẻ hàm
phu và vô học:
“Thôi, tiên sư cả trời!...”
Cách đấy năm bảy bước, cụ Cử bỗng giật nẩy mình. Cụ thấy hình
như bên tai cụ vừa có tiếng vang của một lời càn rỡ. Cụ ngơ ngác nhìn về phía
cây ổi, hỏi:
-Hả? Mày vừa nói gì thế, con?
Phú vội vàng chối cãi:
- Con bực mình vì hỏng mất cái này rồi!
-Hỏng mất cái gì.
Phú đứng lên, mó đến cái áo cánh phơi ở một cành ổi khác từ
lúc giữa trưa mà rằng:
-Rách toạc mất cả một bên vai áo! Cái áo chưa khô hẳn,
Phú khoanh tay xoa lưng, xoa ngực, và hơi vui vui trong lòng
khi thấy rằng hình như ít lâu nay ngực chàng đã nở thêm ra. Bắp thịt ở cánh tay
cũng to và rắn hơn cũ. Phú lại thấy đủ sốt sắng để nối đoạn dây thừng, dòng qua
mấy cành ổi để cuối cùng thì buộc nó vào giữa thân cây. Thế là xong việc, vì
chưa nghĩ ra việc khác. Cả ngày hôm nay, từ sáng sớm, Phú đã làm được mấy việc
cần kíp. Nào là chặt tre, đóng thành gióng, kê giường phản lên trên, cột cả lại
thành một mảng chắc chắn như một cái bè thả lưng chừng nhà. Rồi lấy thừng buộc
bốn cột nhà vào cây cau, cây mít, bụi tre, cây ổi, ở bốn phía, phòng cho gian
nhà mảnh dẻ khỏi bị sóng gió đánh trôi đi. Theo kiểu ông chánh Mận, Phú đã hoàn
thành được chỗ ở kín đáo, vững chãi, cái việc mà mẹ và chị chàng không làm được
từ trước. Phú lại vớt được cả cái giại tre ở dưới đất lên, kê nó vào chỗ mái
gianh hổng để thay làm một cái phên, phòng mưa. Chàng lại mò được cả một mảnh vại
vỡ để cho mẹ có thể dùng nó ngay trên phản làm một thứ bếp, không phải như trước
dùng cái bếp đất thó để trên hai cành tre bên ngoài mái gianh. Đó là “chỗ ở” của
cụ Cử, cô Tuất, và thằng cu Hiền. Biết rằng không thể sống đụng chạm với người
chị còn trẻ tuổi dưới một cái mái gianh mà khi ra vào người ta phải gập gẫy
lưng xuống khó chịu như chui vào tổ tò vò, Phú đã dỡ một bên mái bếp ra, lấy những
tầu lá gồi phủ ngang dọc lên mấy cành ổi. Dưới cái mái giản dị ấy, Phú buộc một
cái võng, mò được ở bếp lên. Cái võng xưa kia mắc ở một bên bếp nên khi dỡ mái
bếp xong, Phú chỉ việc cho hai chân xuống nước, dìm người chìm đến ngực, rồi lấy
ngón chân là đủ kều lên được. Như vậy, Phú cũng có một “chỗ ở” riêng.
Cây ổi ở sau bếp cách gian nhà chừng bốn thước. Hai cây tre
là một “cái cầu” cho Phú đi về. Một cây bắc từ một cành ổi, sát với mặt nước để
giẫm lên mà đi, cho cây nữa thì bắc cao hơn, để vịn tay. Ấy chính vì cái cầu ấy,
vì mực nước có khi tràn lên ngập cầu, mà Phú thấy rằng đỉa là một giống đáng ác
cảm. Làm lụng và xếp đặt như vậy xong, Phú mới ngạc nhiên rằng sao mình lại có
thể làm được những việc như thế. Chàng hiểu câu cách ngôn “Le besoin rend
ingénieux” và câu “Đói thì đầu gối phải bò”. Chàng nghĩ đến chuyện Robinạon đã
đọc mấy năm trước. Tuy vậy, chàng vẫn thấy ngứa cả đầu, không biết thu xếp cho
con mèo và lồng gà mẹ gà con như thế nào cho ổn thỏa.
- Mày xong chưa thế, con?
- Dạ, con xong rồi.
- Thôi thế sang mà ăn cơm.
- Để con nghỉ lát nữa đã, đẻ ạ.
Phú trèo qua một cành cây, bước qua một cành nữa, rồi nằm vào
võng. Chàng nhìn cái mái lá gồi trên mặt, yên tâm, vì ngay lúc ấy, một cơn gió
to thổi ào ào mà những tầu lá vẫn ở nguyên khớp lại chứ không suy chuyển gì.
Chàng thấy tuy vậy mà cảnh đời lụt lội cũng có những cái thi vị của nó. Chàng
khẽ đẩy chân vào một cành cây để đưa võng. Rồi nhìn sang tả, rồi quay về hữu.
Lúc ấy, một đám mây to đã che khuất hẳn mặt trời, làm cho giữa không gian có một
cái “nhài quạt” và trên chỏm đám mây ấy có một cái “lưỡi chai”. nhà cửa, cây cối,
cảnh vật bị nước ngập chôn mất một nửa, thì lại được tấm gương trên mặt nước
nhân lên với con số hai. Và những con ếch nhái cất tiếng chào ban đêm, đã kêu
inh ỏi để phá tan cái im lặng có gió thổi hây hây của buổi chiều. Mải trông cái
cảnh trời nước mênh mông như thế, người ta phải lo lắng nghĩ về ngày hôm sau,
và thấy trong lòng phân vân, ngao ngán hết sức.
-Phú ơi, tao bắc cơm rồi đây.
- Thôi, chật chội thế, đẻ và chị cứ ăn trước đi. Tôi sẽ ăn
sau cùng.
Đáp xong Phú nghển cổ lên, nhìn về phía mẹ. Vừa lúc ấy thấy
cô Tuất thấp thoáng trong cái tối mờ của mái gianh, chàng lại hỏi:
- Cháu nó vẫn ngủ à, chị?
- Nó vẫn ngủ.
- Thôi thế chị ăn mau lên không có nó dậy nó lại quấy.
- Cậu cũng ra ăn đi cho xong có được không? Tối rồi, còn gì!
- Ừnào, thì ăn đi cho xong!
Nói đoạn, Phú bỏ cái võng. Chàng ngồi lên rồi vội quờ tay bám
lấy một cành ổi vì lảo đảo suýt ngã. Phú quên khuấy là võng treo trên mặt nước.
Chàng nghĩ thầm:
“Thế này mà giữa lúc ban đêm choàng dậy, còn ngủ mê mà nhảy
ùm xuống nước thì chí nguy”.
Nhân cái sợ ấy, Phú lại nghĩ đến đàn đỉa. Chàng trông trước
nhìn sau, bẻ một thanh nứa dài, nghiêng mình cúi xuống mặt nước, cầm thanh nứa
khuấy nước bì bõm. Tức thì tất cả những con đỉa nấp dưới “cầu tre” chạy đến chỗ
ấy. Phú đếm nhẩm, thấy ít ra cũng trên một chục con. Chàng rùng mình, vội vàng
leo ra mái bếp xuống cầu, vịn thành, chạy ba bước. Bữa cơm có một nồi cơm thổi
lẫn với khoai sọ. Cái nồi ấy mà đầy thì may ra được chín bát đúng. Nhưng nó lại
không đầy. Cụ Cử vừa xới cơm ra bát vừa mắng con gái:
-Bảo vay một nửa gạo một nửa khoai thì lại đi vay cả rá gạo!
- Người ta không có khoai thì đẻ bảo vay vào đâu?
Phú nói:
- Cứ phải vay mãi ông chánh Mận thì khổ thật.
Câu nói ấy của Phú làm cho mẹ và chị im lặng. Hồi lâu, cô Tuất
nói:
-Biết làm thế nào?
Cụ Cử chép miệng, nói lảng:
- Ấy cơm nước mà được nồi cơm khoai sọ thế này đã là phúc đấy.
Cô Tuất thuật chuyện:
- Ông cụ bô Điềm nhịn đói đến bữa hôm nay đã là ba bữa rồi!
Chợt nghĩ đến ông cụ già tám mươi tuổi ấy, Phú trừng mắt nhìn
Tuất rồi ngậm ngùi hỏi:
- Thế à, sao chị biết?
- Thấy bà đám Hương nói chuyện.
-Rõ tội nghiệp nhỉ? Thế lão trưởng đi đê từ độ ấy vẫn chưa về
à?
- Nào đã về!
Đến đây, Phú thấy nghẹn ngào, miếng khoai sọ như không nuốt
trôi được. Vì ông bô Điềm là một ông già tóc bạc phơ hiền lành, xưa kia lại hết
sức có cảm tình với Phú. Chàng lấy làm lạ sao trước một cái tin thương tâm như
thế, cụ Cử vẫn cứ ăn uống ngon lành như thường... Cả cô Tuất, người báo tin ấy,
cũng vẫn giữ được nét mặt thản nhiên, và xem ý ăn cơm vẫn ngon. Phú kết luận: bị
giam trong cảnh đói khát, tâm thuật người ta phải trở nên bần tiện, thiếu tính
tình tốt đẹp. Muốn khỏi phải giữ cảm giác nặng nề ấy, Phú nhìn đến thằng cháu rồi
hỏi chị:
- Độ này cháu còn hay bú nhiều không?
Cô Tuất vừa lúng búng miếng cơm trong mồm vừa đáp:
- Quấy, đòi bú suốt ngày. Cơm những khoai thế này khó bón cho
nó lắm.
- Thôi thế thì chị cứ ăn rõ no cho nó bú còn hơn, chị ạ!
Phú nói thế xong mới nhớ rằng nhà vừa phải đi vay gạo. Vừa gặp
lúc hết bát cơm thứ nhất chàng bèn để bát xuống cái mâm gỗ.
- Thôi, tôi nhường cho cháu.
Nhưng cụ Cử vội chìa tay ra đòi lấy cái bát mà rằng:
- Đưa đây! ăn bát nữa! Mày đã làm lụng vất vả cả ngày thì phải
ăn cho đủ. Cái nhường là để tao! Tao già cả ngồi một chỗ, sống vô ích, sống báo
hại con cái, cũng chả nên ăn nhiều mà làm gì.
- Thôi, tôi đã bảo tôi không ăn là tôi không ăn nữa.
- Đưa bát đây! Nồi cơm có chừng sáu bát, thì chị mày nó có
con, nó còn phải cho con nó bú, thì để nó ăn ba bát, mày thì ăn hai, còn tao
thì ăn một thôi.
Thấy mẹ nói đến con số những bát cơm là một sự bần tiện, Phú
đứng lên gắt:
- Thì tôi đã nói thế mà! Sao mà bà nói nhiều thế!
Cô Tuất cũng nói để lời gắt của Phú được nhẹ tội:
- Thì đẻ cứ xơi hai bát như mọi khi có được không?
Biết mình có lỗi, Phú nghĩ ra một cách nói lảng. Lần thứ nhì,
chàng lại đem việc thằng cu Hiền bị trói bằng thắt lưng lụa vào cột ra trách chị
mình là nhẫn tâm. Rồi chàng chợt đập tay xuống phản, làm bộ mừng rỡ:
- A, để tôi mò cái chạn bát lên mới được! Liệu có còn không hở
chị? Hay trôi đi mất rồi? Cái chạn bát ấy, ta rút những thanh tre trên nóc ra,
ta để lên phản, rồi đặt cháu nó ngồi vào...
Cô Tuất cũng gật đầu biểu đồng tình:
- Phải đấy, cậu thử mò xem. Nếu còn thì phòng khi đi đâu,
không phải trói cháu vào cột nữa.
Cụ Cử phê bình câu chuyện:
- Rõ thảm hại! Tội nghiệp cho cháu tôi!...
Tuy vậy, cụ vẫn nhớ là không ăn bát thứ hai nữa, vẫn có ý nhường
cho Phú, thấy vậy, Phú biết rằng không còn nên ngồi đấy nữa. Chàng ngửa cổ, rót
nước vối ở một cái ấm đất vào mồm, xong rồi lại qua cái “cầu tre” mà về cái
võng của mình. Cảnh hoàng hôn đã tắt hẳn. Màn đêm đã rủ xuống mặt đất. Một ít
tinh tú đã bắt đầu đâm thủng cái xám xịt của không gian để soi lấp lánh một ít
chấm sáng yếu ớt. Một con cú kêu lên mấy tiếng nghe mà ghê sợ, trên một cây cao
ở đầu làng. Cái vẻ ảo não thê lương của tiếng cú kêu khiến Phú thấy rùng mình một
cách vô căn cứ. Thốt nhiên chàng cũng để trí phán đoán chìm đắm vào dị đoan.
Chàng nghĩ đến câu “Cú kêu cho ma ăn”.
Chàng thấy, đó hình như là một điềm xấu cho ông cụ già đã tám
mươi tuổi mà phải nhịn đói đã ba bữa, cụ bô Điềm. Giá trời chưa tối thì thế nào
Phú cũng mượn đò sang thăm ông lão... Lan man, Phú nghĩ đến nhiều cảnh khổ mà nạn
vỡ đê đã gây ra. Chàng muốn kết án sở lục lộ, những tay thầu khoán vô lương tâm
đắp đê bằng cát, sự săn sóc đê điều của quan trường trong đó người ta đã để cái
lợi về tre về phu lên trên cái lòng lo phận sự và thương xót nông dân... Phú
nghĩ đến mai kia, rá gạo mà hết... Chàng lầm bầm tự hỏi:
“Sống? Làm thế nào để sống? ừ, làm thế nào cho sống nổi bốn
cái miệng?”.
Sau cùng thì chàng thở dài nghĩ đến cái bất trắc của số phận,
lo lắng không biết người ta có để yên cho mình sống khổ sở trên mặt nước tìm
cách nuôi gia đình hay không? Phú vẫn thỉnh thoảng lại giật mình về tội vượt ngục.
Mười giờ sáng hôm ấy, lúc hai trăm chính trị phạm, do một
toán lính khố xanh đi kèm, đáp tàu từ Côn Đảo về Hải Phòng, đáp hỏa xa từ Cảng
về Hà Nội, xuống mấy bực đá thềm nhà ga phố Hàng Cỏ, thì có ba chiếc xe hơi kiểu
cam nhông của sở Liêm phóng đã sẵn sàng đợi họ. Ngót hai chục tay thợ ảnh và
phóng viên các báo xông đến trước mặt họ nhưng phần nhiều bị những viên mật
thám Tây và ta xua đuổi đi ngay. Những chính trị phạm bị người ta vội vàng dồn
lên ba chiếc xe hơi. Trong nháy mắt, hai trăm con người đã bị lèn chặt, gọn
thon lỏn trong ba chiếc xe khổng lồ ghê gớm ấy, đó là chưa kể số lính đi giải họ.
Tiếng động cơ ba chiếc xe hơi nổ ầm ầm, rồi ba chiếc xe cùng thẳng tiến về phố
Hàng Cỏ, để lại cho công chúng đứng nhìn một ít khói xám khét lẹt của ét
xăng...
Trong đám công chúng tề tựu lại trước nhà ga lúc ấy, không phải
chỉ có toàn một hạng người nhà du, tình cờ gặp cái đáng xem thì dừng chân tại
đó. Ngoài số nhà báo và thợ ảnh, lại có cũng ngót hai trăm người, những thân bằng
cố hữu của chính trị phạm định đến đón những người sống sót ấy tại cửa ga. Phần
nhiều đều không hiểu rằng trước khi được trao trả cho tự do, những tay cách mệnh
kia còn phải đến sở Căn cước để nhà chuyên trách có thể xét lại một lần nữa và,
cũng một lần nữa, được yên trí là chẳng thả nhầm tù. Họ đi đón như đón người
thường vậy. Cho nên khi thấy hai trăm người kia lại bị dồn vào xe hơi giữa vòng
vây của lính, cảnh binh, mật thám, thì những người đi đón ấy bàn tán xôn xao,
ngơ ngác nhìn lẫn nhau lấy thế làm lạ lùng. Nhưng một viên cẩm sở Liêm phóng,
trước khi lên một chiếc xe hơi nhỏ, đã nói với họ mấy câu:
“Các người không lo! Những tù nhân này phải giải về sở Căn cước
để xét căn cước xong thì được thả ngay”.
Thế rồi chiếc xe hơi nhỏ ấy cũng mở máy chạy nốt. Như một đám
đông có tổ chức trong đó ai cũng nghe theo một hiệu lệnh, tất cả ngần ấy người
đều cùng nhau kéo về phố Hàng Cỏ, chia nhau ra, tản mát, thành từng tốp nhỏ, họp
ở giữa cái phố nối tòa án với Công an cục. Đó là người bố, người mẹ, người vợ,
người con, người bạn thân, của những chính trị phạm kia. Về hàng bố thì có từ
ông già quắc thước, đôi kính trắng trên cái xe nhà sơn đồi mồi cho đến ông già
áo lương trắng, khăn nhiễu tam giang, chân giẫm đất một cái quạt gài vào thắt
lưng...
Về hàng mẹ thì có từ bà cụ tai và cổ tay nặng chĩu những
vàng, hai tay chắp sau lưng, mồm phì phào mồi thuốc sâu kèn, lông mày nhíu lại,
điềm nhiên, mắt nhìn nghiêng mà nghe người khác nói chuyện, cũng như có những
bà già nhà quê, cử chỉ nhút nhát, cái gì cũng hỏi và bạ ai cũng hỏi, quần áo luộm
thuộm, hay đặt ngửa cái nón xuống đất để ngồi vào... Những người vợ, những người
nhân tình, những bạn hữu, giai và gái của những chính trị phạm kia, hỗn hợp
thành một quang cảnh lạ mắt: những cái mặt không phấn sáp, những cái áo the
thâm nhũn nhặn trong đám những cái môi hình quả tim, những cái mắt có quầng
đen, những cái áo dài lùng thùng màu sặc sỡ; người đàn bà nhí nhảnh vừa đứng
đánh phấn dưới gốc cây vừa cười, đi đón người chồng tù bằng cái vui vẻ chợ
phiên, với người đàn bà trầm ngâm có đứa con ở nách và đứa nữa ở sau lưng; những
ông nho nhã trong quốc phục hủ lậu, đi đón bạn cũ mà vẫn giật mình thon thót vì
sợ có thám tử biên tên vào “sổ đen”, với những tay làm báo hùng hổ, liều lĩnh,
bặng nhặng chạy đi chạy lại và nói to những lời táo tợn như đã định ra đi với
cái chủ tâm khiêu khích... Cả cái đám đông hỗn tạp có đủ các hạng người ấy tỏ
ra rằng số chính trị phạm kia, quốc gia và quốc tế, là người của đủ các giai cấp
bình dân và quý phái, vô sản và phú hào. Nhưng hiện giờ thì họ ăn mặc như nhau,
hoặc gần như nhau. Nghĩa là người nào cũng chân giẫm đất, một cái mũ vô nghĩa
lý như một miếng da nát trên đầu, cái quần và cái áo thì không ra màu nâu,
không ra màu gio, cũng chẳng ra màu đen, thứ y phục đặc biệt của Côn Đảo, với
cái đầu trọc lốc, cái quai hàm tua tủa những râu và ria, những nét mặt hóa ra
ghê tởm, hung bạo, gớm ghiếc. Trông thấy những người mà một chế độ lao tù đáng
khiếp đảm đã làm cho thần thái có cái vẻ của những quân kẻ cướp, sát nhân, người
ta không dám tin rằng đó là những tấm linh hồn đã đau khổ vì tư tưởng quốc gia,
xã hội, và ngay chính những thân nhân của chính trị phạm nữa cũng không biết rằng
có phải đây là những người của ngày xưa hay không!
Từ thềm nhà ga bị dồn lên xe, lại từ xe bị khua vào sân sở
Liêm phóng, những chính trị phạm đã gieo vào đầu óc thân bằng cố hữu của họ một
mối cảm giác không được tốt đẹp cho lắm. Người ta đã bố trí làm cho một bọn
cách mệnh phải có cái vẻ bề ngoài của bọn trộm cắp thường. Bọn phu xe, những
hàng rong, bọn trẻ con, khi trông thấy, đã bảo nhau:
“Ạ! Ạ! Giải tù! Giải tù ở đâu về! Mà lại là khách, chúng mày ạ!”.
Độ một giờ sau, vài ba chục chính trị phạm đã từ sở Căn cước
thong dong đi ra. Từ lúc ấy trở đi, họ mới được tự do thật sự. Ấy thế là trước
vườn hoa cửa tòa án, người ta xúm nhau từng đám một để tay bắt mặt mừng, hỏi
thăm nhau. Sự hồi hộp của bao nhiêu quả tim, cái mừng đến ứa nước mắt, bao
nhiêu tình cảm vẫn phải giữ ép bấy nay trong lòng của những người đã tưởng
không bao giờ gặp mặt nhau nữa, cái cảnh gia đình tan nát được cứu chữa lại, ngần
ấy thứ có thể làm cho những viên thám tử lẫn vào đám ấy để nghe ngóng cũng phải
cảm động, thấy nao nao cõi lòng. Khi số được ra đã trên một trăm rồi, anh em hẹn
nhau rồi dần dần phân tán, người nào về với thân nhân người ấy. Bọn chính trị
phạm vì quốc tế thì cùng với một số nhà báo ta khuyên về họp mặt nhau ở báo
quán Lao Động là một cơ quan ngôn luận mới ra đời được ít lâu, khuynh hướng về
chủ nghĩa xã hội. Vườn hoa tòa án trước tấp nập, từ đây vắng dần. Chỉ còn dăm bảy
người đi đón vẫn đứng ngóng ở sở Liêm phóng ra ý chờ đợi. Người chính trị phạm
được thả ra cuối cùng là giáo Minh. Khi đến sân tòa án, Minh cũng hơi ngạc
nhiên vì không thấy Phú đi đón. Trước khi xuống tàu về nước, chàng đã có gửi về
nhà một lá thư. Dọc đường, anh em đồng chí đều biết tin nước lụt ở Bắc Kỳ, Duy
có chàng vì sốt rét, lúc nào cũng mê man trong chăn nên không biết. Chẳng kịp để
ý đến lời dặn bảo hấp tấp của mấy anh em cũng ra muộn như chàng nên vội vàng
thuê xe về ngay tòa báo Lao động, Minh đứng ngơ ngác dạo quanh mấy bước, sợ rằng
Phú lúc ấy chẳng hiểu có đứng lẫn vào đám người đi xem xử kiện và hầu kiện đó
không... Thì một ông già, một người đàn ông đứng tuổi và một người đàn bà, cả
ba cùng là dân quê, chạy lại cùng hỏi chàng rằng “trong ấy” còn bao nhiêu chính
trị phạm chưa được tha. Minh lắc đầu, đáp chung:
- Tôi ra sau cùng đây! Trong ấy không còn người nào cả!
Cả ba người chớp mắt sợ hãi, nghi ngờ nhìn Minh tựa hồ như đó
là chàng vừa bông đùa, miệng người nào cũng tròn tròn. Họ lại gặng hỏi lần nữa.
Minh đáp như trước. Tức thì ông cụ già dơm dớm nước mắt, hỏi qua cái giọng nghẹn
những uất ức:
- Thưa ông, hay là cháu nó chết mất ngoài ấy rồi?
Người đàn bà quay lại nói với bà lão già ngồi ở một gốc cây,
ra ý phân vua:
- Hết rồi bà ạ. Tôi vừa hỏi ông đây này! Chú ấy có được tha
đâu! Bảo bà thì bà chẳng nghe, bà cứ nhất định bắt đi đón!...
Bà lão nhà quê cũng vội đứng lên, cầm lấy nón, chạy đến chỗ
Minh, phều phào hai hàm răng móm hỏi:
- Thưa thầy, thế ra cháu lại không được tha?
Minh thấy câu đáp của mình là rất hệ trọng. Chàng cau mày một
hồi lâu rồi nghĩ ra một cách hỏi lại cả mấy người ấy:
- Hay là được tha rồi đấy mà không gặp nhau? Những hai trăm
con người lố nhố như thế, lại mấy trăm người cũng lố nhố như thế, không trông
thấy nhau chăng?
Một mối hy vọng bâng quơ chiếu sáng vào mặt cả mấy người...
- Ừ, hay là như thế đấy nhỉ?
- Ànhưng mà bà cụ đón ai? Ông cụ đón ai? Bác này đón ai?
Ông lão nhà quê vội nói:
- Tên cháu là Mạch đấy ạ! Lê Văn Mạch!
Minh nhăn mặt cố nhớ, lầm bầm:
- Lê Văn Mạch... Nhưng quốc sự phạm hay thường phạm?
Ông lão nhìn quanh sợ hãi rồi mới khẽ nói:
- Cháu bị đi đày vì đảng Việt Nam Quốc dân...
- À! Tôi nhớ ra rồi! Có! Chưa chết! Nhưng mà chưa được tha
đâu, cụ ạ! Nhưng mà cụ chớ lo, rồi cũng phải được tha như tôi.
Bà lão len vào giữa hai người, lại phều phào:
- Cháu nó là Vũ Văn Tích ông ạ.
Nghe đến cái tên ấy, Minh thấy như có một miếng nước đá chạm
vào sống lưng. Cả một tấm kịch đổ máu ở Côn Đảo lại hiện ra trước mắt chàng. Một
buổi đi lấy san hô... Ngày hai mươi bốn tháng chạp, trời rét, nước bể như dao cắt
vào da thịt... Tám mươi tội nhân hoàn toàn trần truồng trên hai cái sà lan, dưới
quyền đánh đập của bốn tên lính mã tà và ba người cai Tây. những cái kẽ đá có
ngách, người ta lèn vào bằng bốn chiếc đòn ống. Tám chục người bẩy bốn cái đòn ống
ấy để lấy khối an hô đứng trên những mỏm đá mà sóng bể đập vào ùm ùm. Chợt Vũ
Văn Tích, đứng trên một mỏm đá có rêu, trượt chân... Tích ngã ngửa, đập đầu vào
một tảng đá khác. Một tên mã tà lầu nhầu chửi rủa rồi đến khiêng Tích đặt vào
sà lan. Những người khác cứ phải làm lụng như không có sự gì xảy ra cả, và phải
mặc cho Tích kêu rên với cái sọ ri rỉ chảy máu, trước sự thản nhiên của bọn gác
tù. Ba giờ sau, “kíp” tù ấy lấy được bốn khối san hô lớn và để chết mất một anh
em.
Xong việc thì Tích chết thật ngay đó. Việc ấy xảy ra đã hai
năm nay. Bây giờ, đứng trước một bà lão không biết cái chết thương tâm của con,
ngây ngô nhắc lại tấm thảm kịch ấy. Minh bỗng thấy muốn ứa nước mắt. Chàng nuốt
sự xúc cảm, nắn cổ mình, nói:
- Ờ ờ! Ờ ờ!...
Thấy không cầm được nước mắt, Minh vội vàng cúi xuống gãi
chân, và nói:
- Anh Vũ Văn Tích cũng chưa được tha như anh Lê Văn Mạch...
Chàng chờ cơn xúc động nguôi đi rồi đứng lên, vừa lau nước mắt,
nước mũi vừa nói dối:
- Ấy tôi mắc bệnh sốt rét, thỉnh thoảng nước mắt nước mũi lại
chảy ra ròng ròng như thế này.
Minh ngừng lại, nhìn kỹ mặt người bố, người mẹ già, và người
chị dâu của hai người bạn đồng chí. Nôn nao cả cõi lòng. Minh còn cố nói dối được
bằng mấy câu:
- Thôi hai cụ cứ về nhà, yên tâm. Chẳng chóng thì chầy, không
ba tháng thì nửa năm, quan trên người ta còn xét dần dần chứ ai cũng tha ngay một
lúc thế nào được! Mà bây giờ ở ngoài đã được đối đãi khá hơn trước nhiều lắm.
Bà lão mím mồm lại mà nhìn Minh, cái vẻ móm làm cho hai cặp
môi biến đi đâu mất, cái cằm thì vều ra. Rồi gật gù cái đầu ra ý tin, lại hỏi:
- Thế thì bao giờ cháu được tha hở ông?
- Thưa cụ, cái đích xác thì cháu không biết, nhưng thế nào rồi
cũng được tha về với cụ, cụ cứ yên tâm. Thôi chào hai cụ.
Nói xong Minh vội vàng lôi cái mũ nát nhẽo ở đầu lên và quay
đi, biết mình thế là vô tình nhưng dùng dằng thì sợ sự nói dối lại bại lộ, và sẽ
làm khổ người khác một cách vô ích. Chàng quay đi một cách nhẫn tâm, tảng lờ
như không nghe thấy tiếng gọi “Ông ơi!” của bà lão già, Minh trông đến quang cảnh
quanh tòa án vẫn không chút gì thay đổi mới giật mình vì thời giờ đi nhanh.
Chàng còn nhớ mới ngày nào bị xích tay dẫn vào đây mà hôm nay, hình như mới có
một lát, mà đã bảy năm, không biết nay về Tổ quốc thì xã hội đã thay đổi thế
nào, chứ chàng nghiệm rằng sau ngần ấy năm tù tội, cái gan của chàng hình như vẫn
giữ được Duy nhất. Minh đương đi lang thang với một cái khăn gói trên vai, còn
phân vân không biết nên đến nhà người nào trong họ hàng để biết ngay tin tức về
mẹ thì chợt có tiếng gọi bên cạnh:
- Minh ơi Minh! Anh Minh đấy có phải không?
Trên một chiếc xe nhà, một thiếu niên âu phục bảnh chọe đương
nghển cổ, một tay ra hiệu cho người phu xe đỗ xuống. Minh không nhận được ra
người ấy là ai và đáp:
- Phải Minh đây!
Người ấy chạy đến bắt tay rất sốt sắng, nói rối rít:
- Mới về chuyến tàu sáng chứ gì? Anh không nhớ tôi là ai à?
Giáo Quang đây mà? Quang lớp nhì trường huyện Tiền Hải ngày xưa ấy mà!
Minh vỗ vai người bạn cũ sung sướng nói:
- Gớm, sao mà béo thế? Sung sướng có khác! Nhưng sao bây giờ lại
ở đây thế này? Làm việc tòa án đấy à?
- Phải, đổi ngạch rồi, anh ạ. Đã năm năm nay. Thôi đã gặp anh ở
đây thể nào anh cũng phải về nhà tôi mới được. Về ở một hai hôm nghỉ cho đỡ mệt
rồi hãy về nhà... à thế nào, ở tỉnh nhà nước lụt, có biết không?
Minh trợn mắt sửng sốt:
- Chết! Nước lụt à? Thế bà cụ nhà tôi anh có biết ở đâu
không?
- Phải. Bà cụ thì vẫn ở nhà quê. Tôi không biết tin tức cụ độ
này ra sao vì đã đến hai ba tháng nay tôi không gặp thằng Phú đâu cả.
- Có lẽ vì thế mà nó không đi đón tôi cũng nên. Liệu người
nhà tôi có ai việc gì về nước lụt không, anh?
- Chắc không, vì nếu có sự gì thì tất phải đến tai tôi rồi.
Thôi, anh lên xe đi. Về ăn cơm trưa với tôi một thể rồi làm gì hãy làm, đi đâu
hãy đi...
Minh ngần ngừ rồi nói:
- Có lẽ không được. Ừ, tôi còn phải đến nhà báo Lao động. Anh
có biết tòa báo ấy ở phố nào không?
- Có, nhưng anh đến đấy làm gì?
- Anh em dặn thế.
- Anh sang bên “cộng” rồi đấy à?
- Ai bảo anh thế?
- Thôi thế thì đốt cái việc đến báo Lao động đi! Về chén cái
đã! Mình không nên dính đến những cái ấy mà họ cho là mình thay đổi tư tưởng.
Nói đoạn, người bạn của Minh đun chàng lên cái xe nhà, rồi
cùng lên ngồi. Chiếc xe chạy về phố Phạm Phú Thứ.
Khi Phú sang đến nơi thì ông chánh Mận đương có việc với ông
lý trưởng. Sợ vào ngay không tiện, chàng vẫn đứng trên bè chuối, hai tay vịn
vào cái tường có mảnh chai tua tủa xiên lên. Giữa lúc ấy có một người đàn bà
trong làng mà Phú không biết tên cũng đứng trên bè chuối ra ý chờ đợi, và có lẽ
phải chờ đã lâu lắm. Con chó bông đi đi lại lại trên nóc nhà thỉnh thoảng lại
vươn cổ cắn với ra mấy tiếng như xua đuổi một kẻ đến nhờ vả. Nghe thấy chó cắn,
tuy vẫn ngồi quay lưng ra, ông chánh Mận cũng nói rõ to:
- Ấy tôi đã bảo thế mà nhà chị cứ đứng đấy thì mặc kệ nhà chị.
Chừng như câu nói hắt hủi ấy cũng là quý hóa lắm rồi, người
đàn bà chẳng để lỡ cái dịp được người ta mắng mình thì mình mới được đáp, bèn vội
van lơn bằng một giọng cực kỳ khổ não:
- Bẩm ông, con chỉ xin ông một lần này nữa thôi... Thật thế,
con xin cam đoan là lần cuối cùng. Ông đã làm phúc thì xin ông làm phúc cho
chót...
Người đàn bà còn lải nhải nói nhiều nữa nhưng bị tiếng chó cắn
lấn át mất cả. Đến lúc ấy, ông chánh Mận mới hút xong mồi thuốc lào và đứng lên
quay ra...
- Này tôi bảo thật, nhà chị không đi thì tôi cho chúng nó ra
đuổi chị ngay bây giờ cho mà xem! Léo nhéo mãi, điếc tai lắm.
Mắng xong người đàn bà, ông ta trông thấy Phú, ông đổi ngay
nét mặt, đổi ngay giọng nói, hòa nhã mời.
- Có cầu tre ở trong đấy, cậu cứ trèo qua tường mà vào.
Ông lý trưởng ngẩng nhìn lên, vẻ mặt có ý khó chịu. Con chó
bông cũng sủa vang lên. Phú biết sẽ phiền cho ông lý, song cứ trèo tường vào
ngay vì chàng thấy rằng nếu cứ đứng ngoài với người đàn bà thì sẽ bị coi rẻ như
người ấy mất. Mặc! Cứ biết đã mời thì vào, chàng chẳng cần kể rằng hai người đã
xong chuyện với nhau hay chưa. Phú sang không vì mục đích vay mượn gì, nhưng vì
người nhà của chàng vẫn vay mượn nên Phú cũng ngượng. Chàng chỉ sợ người ta hiểu
nhầm mình, mặc lòng chàng vẫn dặn mình rằng người ta có hiểu nhầm mình thì cũng
không sao. Nghèo mà lại còn quá tự ái thì sinh ra lẩn thẩn thế. Cho nên Phú rất
nóng ruột muốn được nói, trước mặt ông lý trưởng, đến việc Phú bị tra khảo ở
huyện, đến cái muốn nắn bóp, hãm hại ông chánh Mận của viên lục sự già nó khiến
Phú sang đây... Chàng hỏi ngay ông lý trưởng:
- Ông có vội gì không? Ông còn ở chơi đây được lâu chứ?
Ông lý trưởng ngáp dài và đáp:
- Tối mịt đến nơi thế này thì còn bận quái gì? ở lâu đây được.
- Thế mai ông có phải ra đê không?
- Ngày kia mới phải ra. Tôi ở đê vừa về.
- Ngoài ấy có gì lạ không hở ông?
- Có! Ông huyện cũ bị đổi hay bị cách chức gì đó, còn ông huyện
mới thì trẻ tuổi lắm, áng chừng tân học, lại ác hơn ông huyện cũ nữa.
- A thế kia à! Thế ông có biết vì sao mà lão huyện bị cách
không?
- Chắc chỉ vì đê vỡ chớ còn gì nữa.
Tự nhiên Phú thấy trong lòng có điều gì sung sướng lắm; trong
một phút không nghĩ kỹ, chàng tưởng chừng như mình vượt ngục mà viên tri huyện ấy
chịu họa lây. Chàng lại quên khuấy rằng cái tai nạn của viên quan ấy nếu có làm
cho chàng hài lòng thì nó cũng làm cho người thiếu nữ cứu chàng phải khổ sở.
Phú cứ vui vẻ hỏi chuyện:
- Thế phu phen đã được gạo tiền gì chưa hở ông?
- Đã, từ bốn hôm nay, mỗi người được lĩnh mỗi ngày hai bơ gạo.
- À, thế ông trưởng nhà cụ bô Điềm thế nào?
- Vẫn ở ngoài ấy. Lúc nãy tôi đã đem về cho cụ bô hai bơ gạo
ông ta gửi. Hôm nay mà tôi không về làng thì rành là vô số người chết đói!
Nói xong, ông lý vỗ đùi bôm bốp, đắc chí lắm, sung sướng lắm.
Phú quay hỏi ông chánh Mận:
- À, ông chánh nhỉ? Ông có biết đến một ông lục sự nào ở huyện
không?
Ông này nói ngay:
- Có lắm, cái lão lông mày sâu róm, con mắt trắng dã, cái môi
thâm sì ấy chứ gì?
- Phải đấy. Ông quen biết lão ấy chăng?
- Quen thì cũng quen gọi là thôi. Đâu như cách đây dăm năm, có
một người trong họ tôi dắt lão đến vay tiền. Hai bên đi lại được mấy tháng rồi
sau không giả được đúng hẹn, lão vay nữa tôi không ưng. Từ độ ấy mất mặt. Cậu hỏi
đến lão làm gì? Thằng cha bóp nặn khiếp lắm.
Phú bèn đem hết đầu đuôi câu chuyện từ lúc bị bắt cho đến lúc
bị tra khảo ra kể tỉ mỉ cho hai người nghe. Khi Phú nhắc lại câu hỏi vặn của
viên lục sự già để buộc tội cả ông chánh Mận vào với hội kín thì ông này tái mặt
lại vì cái lo về tính mệnh và tài sản. Phú kết luận:
- Ấy tôi nói thế để ông biết và giữ gìn.
Ông lý tắc lưỡi hai ba lần mà rằng:
- Chết chết! Ra lại có những người hiểm độc đến thế. Không
trách cổ nhân đã phải nói: “Một đời làm lái, bại hoại ba đời” là phải lắm. Vậy
thì từ nay trở đi, ông chánh nên cẩn thận. Sợ hằn thù thì có lẽ ta nên...
Ông ngừng lại, đợi hai người kia phải hỏi thì mới nói tiếp:
- Ta nên mua chuộc lấy lòng lão ngay đi. Có lẽ lại cho vay mượn
như xưa thì hơn.
Nhưng ông chánh nói:
- Không được. Cậu Phú được tha về rồi mà mình mới cư xử như thế,
nó biết thóp thì mình chết với nó. Nhưng sao mà cậu lại được tha hở cậu Phú?
- Tôi không có tội gì thì tôi được tha chứ sao?
- Nó tra tấn cậu bằng cách ghê gớm đến như thế mà cậu không
nhận liều thì giỏi thật. Tôi xin phục cậu đấy. Tôi cảm ơn cậu lắm, giá không được
người gan như cậu thì dễ tôi cũng bị xích rồi.
Phú nhìn lên thì thấy ông chánh Mận đã nói những lời ấy trong
lúc cúi mặt. Vậy thì ông cảm động hay ông giả dối? Ông đã tin lời Phú chưa? Hay
ông lại nghi Phú bịa ra chuyện ấy để lấy lòng cho dễ chuyện vay mượn về mai
sau? Tức quá, Phú rất muốn hiểu ngay bụng dạ ông chánh Mận mà không sao được.
Vô tình, ông lý bình phẩm:
- Giỏi thật đấy chứ lỵ! Đốt đèn đun dưới lỗ đít thì tôi tưởng
gan bằng tướng cướp cũng phải nhận những tội mà nó buộc mình!
Vẫn cúi mặt, ông chánh Mận lại nói:
- Gan lắm! Anh hùng lắm! Thật thế! Chỉ có điều hơi lạ là sao
chưa có kết quả gì mà lão huyện đã tha ngay...
Ông lý trưởng kết luận bằng cái óc lý luận riêng:
- Người ta không có tội thì giam mãi để làm gì?
Phú toan kể nốt cả câu chuyện được có người mở cửa lô- cốt
cho mình trốn đi, thì ông chánh Mận ắt là không còn ngờ vực gì chàng nữa, song
le chàng lại thôi, vì lẽ một là chàng chưa tin cậy hẳn được ông lý trưởng, hai
là tại việc ấy nó hầu như là chuyện bịa đặt, giả dụ chàng có nói cũng vị tất đã
ai tin... Mà có khi người ta lại nghi ngờ thêm nữa! Nghĩ đến đấy thì lại chột dạ,
chàng lo lắng không biết liệu có được yên ở làng mà ngồi trên đống nước để sống
khổ sở với mẹ già hay không? Hay nay mai lại chính ông lý ngồi trước mặt mình,
kêu có lệnh quan trên mà sai tuần tráng trói mình giải huyện cũng chưa biết chừng.
Thế là Phú cũng có những nét mặt đăm đăm y như ông chánh Mận. Trong một lúc
lâu, hai người đều im lặng, thành thử ông lý cũng lây cái trầm ngâm, rồi ông lý
nói kín:
- Thôi thế việc kia thì ta nhất định cứ như thế.
Ông chánh Mận gật đầu:
- Phải ta cứ thế!
Đến đây, ông lý đứng lên toan cáo thoái, vì một tên người nhà
đã bưng mâm cơm vào. Nhưng ông chánh Mận dùng lời khéo lưu cả hai người cùng ngồi
lại. Phú nhất định chối từ, song ông chánh Mận lại nói:
- Lụt lội thế này có phải cậu sang chơi đây dễ đâu! Vậy cậu đã
sang, nhân thể gặp bữa, xin đừng từ chối. Vả lại việc có can hệ đến tính mệnh
tôi mà cậu vừa nói tôi nghe thì nào tôi đã được bàn soạn với cậu về cách đề
phòng ra làm sao đâu!
Trước những lời lẽ như thế, Phú thấy rằng chối từ nữa là vô
nghĩa lý. Mâm cơm nước lụt của nhà giầu trông cũng tươm tất lắm. Có thịt gà luộc,
rau chuối, và cua om. Cơm thì gạo tám thơm, trắng tinh, thơm nức. Ông lý quay lại
kêu để mời bà cụ mẹ ông chánh và hai đứa bé cùng ngồi nhân thể thì tên người
nhà đã bưng ra phía bên kia cái bè một mâm nữa rồi. Chủ nhân cắt nghĩa rằng
không có thóc nuôi gà nên phải thịt gà đi, không có chỗ để gạo tám thì phải thổi
cơm đi cho khỏi mốc, chứ giời ra tai, giữa lúc nhiều người không có mà ăn,
không phải ông được ăn như thế mà lấy làm vui... Cua thì bắt được ngoài đồng,
rau chuối thì ngả từng cây xuống mà ăn, không thì úng thủy, cây nó cũng đến chết
mất...
Thì ra vì trong cảnh bất đắc dĩ mà ông chánh Mận bị bó buộc
được có một mâm cơm tươm tất vừa để cho mình, vừa để đãi khách. Ngồi vào ăn miếng
ngon, Phú mới chợt nghĩ đến người đàn bà đi vay. Chàng liền quay đầu lại... Thì
ra người đàn bà ấy vẫn đứng nguyên chỗ! Mãi đến lúc ấy mới biết thất vọng, người
ấy thở dài ngán ngẩm trố hai con mắt nhìn vào mâm cơm, nuốt nước dãi ừng ực, gạt
nước mắt, rồi sau cùng, lặng lẽ quay mũi cái bè chuối. Phú thấy mình cũng dã
man như đời, vội vàng quay vào, không dám nhìn nốt cái cảnh thương tâm. Giữa bữa
cơm, sau những câu chuyện trò đằm thắm trong lúc cao hứng, ông chánh Mận nhắc lại
chuyện hỏi cô Tuất làm vợ kế với Phú, trước mặt ông lý. Ông này vội bênh ngay
người cho mình ăn:
- Tưởng nhận đi là phải, không hiểu tại sao cụ Cử nhà ta lại
còn không bằng lòng! Còn trẻ như bác Tuất mà muốn ở vậy, khó lắm.
Phú chưa biết đỡ lời ra sao thì ông lý đã lại hỏi:
- Còn cậu? ừ thế nào, còn cậu thì cậu có thuận hay là không?
Nếu cậu thuận thì sao cậu không nói vào hộ một câu cho ông chánh tôi đây cũng
xong được chuyện ấy đi. Sớm ngày nào hay ngày ấy.
Chả nhẽ Phú lại đáp rằng xưa nay mình vẫn chỉ đứng trung lập.
Và nhân người ta lại nhắc đến chuyện ấy, Phú nghĩ đến việc ông chánh Mận bị
nghi cũng có chân trong hội kín với chàng. Do thế, chàng phải trả lời trái hẳn
ý nghĩ.
- Tôi thì tôi hoan nghênh việc ấy hết sức đấy chứ... Đẻ tôi
thì cũng cho tùy lòng, còn chị tôi mà chưa nhận lời thì tôi có hiểu vì lẽ gì
đâu! Tôi chắc vì thương con nên chị tôi không biết giải quyết thế nào cả đấy
thôi. Hoặc chị tôi muốn ở vậy thờ chồng nuôi con chăng?
Đáp thế xong, Phú càng thấy mình khôn ngoan. Thật thế, ông
chánh Mận hẳn phải không còn được nghi ngờ cái việc ông ta bị tình nghi. Chàng
đã muốn cho hai người lấy được nhau thì bỗng dưng còn bịa đặt ra chuyện hội kín
hội hở nó có thể khiến cho ông chánh sợ hãi, hai người không lấy được nhau mà
làm gì? Từ đấy trở đi, mặt ông chánh đã thấy vui vẻ hơn trước. Ông nói một câu
lạc đề:
- Chà! Kệ cho chúng nó thù hằn! Sự thực, mình không có gì mà
lo!
Do câu nói ấy, Phú biết rằng lúc trước, đích xác chàng đã bị
ngờ vực là bịa đặt để lấy lòng, hòng sự vay mượn, chàng bỗng hối hận vì đã ngồi
vào ăn. Chim chóc đã bặt tiếng kêu. ở một ngọn tre xa xa, hai con chèo bẻo đã
thôi không ưỡn ngực hóng gió mà chui vào tổ. Trên không gian xám đen, một chữ V
độ chừng ba chục con vạc đi ăn đêm thoáng qua như một cái chớp, với dư âm của
những tiếng kêu lào xào... Ông chánh Mận quát người nhà:
- Hay! Chúng bay đâu? Tối thế này rồi mà không cho đèn ra đây?
Có tiếng đáp ở phía sau một mái nhà:
- Hết dầu từ đêm qua rồi ạ.
- Thế thì đốt cho tao bó đuốc vậy. Cũng sắp xong rồi.
Lúc một anh lực điền đem đuốc ra thì Phú đã xếp đũa trên bát.
Trong ánh sáng đỏ rực của lửa nứa, ông chánh và ông lý cùng và lùa bát cơm cuối
cùng, bà lão già và hai đứa bé thì cơm nước xong, đã sửa soạn để ngủ. Tàn nứa
rơi xuống nước rên lên xèo xèo...
Bầu không khí đương êm ả thì bỗng con chó bông cắn rộ lên một
cách khác thường, ba người hoảng hốt quay nhìn ra. Một người đã trèo qua cái tường
có mảnh chai, đứng trên cầu tre. Mắt người ấy đen sì, tay người ấy có một cái gậy.
Người ấy lên mái nhà, con bông xồ ra, tức thì bị một gậy vào giữa lưng, kêu ăng
ẳng, bị gạt bắn xuống nước. Bên trong, ông chánh và ông lý cùng đứng lên, chỉ vừa
kịp kêu: “Thôi chết!” thì bên ngoài tường, đuốc đã sáng rực, rồi một chục người
nữa, kẻ nào cũng mặt bôi nhọ, tay có dao, gậy, giáo, mác, tay thước, lần lượt
kéo vào... Trong chốc lát, đó là những hình ảnh làm cho ta thất đảm như khi thấy
trong những cơn ác mộng.
- Ai ngồi đâu cứ việc yên đấy cả một lượt! Đừng có kêu la vô
ích; bữa nay các quan đi đông! Các quan không muốn giết hại một mạng nào cả thì
đừng làm gì cho các quan phải nổi giận!
Những lời lẽ hách dịch của người đầu đảng ấy lại nhờ được một
cái giọng “sang sảng tiếng đồng” làm cho oai vệ lắm, nên chi mọi người ai nấy
chỉ còn kịp sợ run lên cầm cập... Mười tên cướp, trong đó có hai tên cầm hai bó
đuốc, đã đùng đùng nhảy lên bờ. Dưới cái ánh sáng đỏ rực nhấp nháy lúc to lúc
nhỏ của đuốc, những cái mặt bôi nhọ trông gớm ghiếc, những bóng giáo, bóng gậy,
mờ mờ tỏ tỏ, đã hứa một cuộc đổ máu lai láng, nếu có tiếng kêu... Phú, ông lý,
ông chánh, im lặng nhìn bọn cướp đứng chung quanh họ thành một vòng tròn. Duy
cái anh chàng lực điền cầm đuốc từ nãy soi mâm cơm, thì lúc ấy lại dại dột múa
vung bó đuốc, khua khua trước mặt ra ý không cho bọn cướp động đến người, và bắt
đầu kêu to: “ối làng nước ơi!...” Nhưng bốp một cái, một cái gậy đã vọt vào bụng
chân anh ta khiến anh ta té sấp, bó đuốc rơi xuống mặt bè nứa. Một tên cướp vội
cúi nhặt bó đuốc ấy lên; một tên khác, nhanh như điện, đã nhét một mớ giẻ vào mồm
anh chàng lực điền, lật sấp anh ta xuống, trói giật cánh khuỷu. Chỉ trông thấy
thế, bọn này cũng đủ hết hồn rồi. Ra oai như vậy, người tướng cướp cho là đủ.
Bèn chỉ tay vào ông chánh Mận, bảo một tên cướp:
- Thằng này to béo hơn cả, chính nó là chủ nhà. Bảo cho nó biết
rằng các quan thu thuế bằng tiền và cả bằng thóc gạo! Ngồi dưới cái con dao trường
của tên cướp, bà cụ mẹ ông chánh vừa khóc vừa kêu:
- Lạy các ông, có gì thì xin các ông cứ lấy cho thế, chứ xin
các ông đừng đánh trói ai cả!
- Được lắm, các quan cũng không muốn đánh trói ai làm gì.
Tuy thế người ta cũng cứ trói hai tay ông chánh về sau lưng.
Bị một lưỡi dao kề ở cổ, ông nổi giận, gắt với bọn cướp:
- Lụt lội như thế, mất mẹ nó cả cơ nghiệp rồi, còn đếch gì mà
cướp! Đấy, đồ đồng với đồ sứ có gì thì ngâm cả dưới nước ấy, lặn xuống mà lấy!
Thóc còn tất cả ba chục thúng, mà là thóc ướt, có khuân thì cứ khuân đi! Thằng
áng đâu, xúc thóc ra đổ vào thuyền cho các quan! Rồi thì cả làng này nhịn, chết
đói vậy!
Thấy ông chánh có vẻ thực thà, bọn cướp không tra khảo gì nữa.
Họ chia nhau ra làm hai tốp, năm tên thì đứng vây giữ người nhà, năm tên khác
hoặc đốc thúc hoặc cùng thằng áng khiêng thóc đổ vào thuyền của họ. Khi trên mấy
nóc nhà, những nong thóc đã trơ nan ra, thì bọn cướp lôi ông chánh Mận, bắt đi
theo. Họ làm việc trong nháy mắt, và vì lẽ không ai chống cự nên họ không để rỏ
một giọt máu. Khi cướp đi đã hơi xa, Phú cởi trói, tìm cách chạy chữa cho anh lực
điền thì ông lý khuyên giải bà lão:
- Cụ chớ lo, chốc nữa ông chánh sẽ về. Đây là lương dân ở nơi
xa đói khát quá mà phải đi ăn cướp chứ không phải bọn chuyên nghiệp.
Độ nửa giờ sau, ông chánh quả nhiên về thật. Quần áo lướt thướt,
ông trèo qua tường vào, nói:
- Chúng nó cởi trói cho tôi rồi đẩy tôi lên cành đa ở ngoài cầu
Tréo. Chúng có một thuyền gỗ, sáu thuyền thúng. Đích thị là dân đói! Rồi ông bảo
ông lý:
- Ấy đấy, đầu đuôi là thế, xin ông thảo tờ trình quan cho
tôi... Thế là nhà này mai cũng nhịn đói nốt!
Hai người xem hội ở hồ Tây về thì đã tối mịt. Cơm nước xong,
cởi bỏ áo ngoài, Quang gọi đầy tớ bảo đem một cái ghế tiêu cơm và một cái ghế
mây ra bao lan. Minh đứng cạnh bàn, trông vào gương nói:
- À, thì ra tôi gầy, anh ạ, mà tôi vẫn không biết là tôi gầy.
Minh nói xong toan cởi áo ra nhưng Quang ngăn lại, kêu:
- Khoan, tôi ngắm đã! Quần áo tôi mà anh mặc vừa vặn quá đi mất!
Dễ thường anh mặc lại đẹp hơn cả tôi.
Quang xoa hai vai, vuốt đường ve ngắm nghía lại nói:
- Ừ. Vừa vặn sát óng quá đi mất! Thôi anh cứ việc giữ mà
dùng...
Minh cảm động đưa tay ra bắt tay bạn mà rằng:
- Cám ơn! Chứ mà chờ đến lúc tôi may được một bộ thì chắc lâu
lắm.
Quang nhấc bộ quần áo vải mà mình mặc từ Côn Đảo về mà rằng:
- Thế thì vứt mẹ nó cái bộ này đi chứ còn để làm gì nữa!
Nhưng Minh vội ngăn:
- Ấy đừng! Để giữ làm kỷ niệm chứ! Có bộ y phục ấy nghĩa là
phải trả đắt!
Rồi chỉ vào bọc vải, chàng nói tiếp:
- Trong gói ấy có vô số kỷ vật. Để rồi tôi cho anh một cái lọ
bằng san hô do tay tôi chạm trổ lấy, anh xem.
Quang vừa chải đầu vừa hỏi bạn:
- À quên, lúc nãy anh vừa nói gì? Anh gầy mà không biết...?
- Chính thế. Bảy năm nay đứng soi gương như thế này là lần đầu...
mới biết rằng mình có đôi má hóp. Còn ở ngoài ấy thì chỉ soi gương vào giếng
hay vào một vũng nước, cúi mặt xuống mà soi, má nó sị ra, thành thử cứ tưởng là
béo!
- Cứ kể trông anh thế mà có vẻ khỏe mạnh hơn trước đây. Tuy
đen nhưng còn hơn trắng như trước, yếu đuối như đàn bà. Bây giờ trông có vẻ lao
động lắm. Thôi ta ra bao lan cho mát đi.
Hai người cùng ra. Quang ngồi ghế mây, nhường cái ghế chao
cho Minh. Ngồi nói chuyện vặt một lúc, Minh để ý đến cái bao lan bên cạnh. Trên
bao lan có một người đàn ông đứng tuổi, cởi trần trùng trục, ngồi trên một cái
ghế mây, hai ống quần sắn lên tận bẹn, cổ để ngửa trên thành ghế, tựa hồ đương
mải ngẫm nghĩ các vì tinh tú trên không gian. Người ấy cứ ngồi nguyên như thế
hàng giờ, nếu không có cái tay thỉnh thoảng phe phẩy cái quạt dưới chân thì
Minh phải cho là ngồi ngủ. Trong nhà thì dưới một bóng điện màu xanh, một ông cụ
già đầu hói ngồi xếp bằng tròn trên sập như một nhà sư ngồi nhập định. Một thiếu
nữ ngồi ghế ở gần sập cầm quạt phẩy vào lưng ông cụ. Thỉnh thoảng, lâu lắm, ông
cụ giơ tay ra hiệu cho thiếu nữ lại bỏ quạt lặng lẽ vê thuốc, đánh diêm, và đưa
ra cái ống điếu thuốc lào... Khi ông cụ kéo xong mồi thuốc lào, thiếu nữ đem ra
cái ống nhổ rồi lại ngoan ngoãn phe phẩy cái quạt. Sau khi nhổ đờm vào ống
phóng, ông cụ lại ngồi yên. Thấy cái không khí nhà ấy có một vẻ đáng lạ, Minh hỏi
thì Quang cắt nghĩa:
- Thằng cha cởi trần là một anh huyện vừa bị gọi về phủ Thống
sứ, nghe đâu như là bị vỡ đê...
- Ồ! Nếu vậy thì là quan phụ mẫu huyện tôi rồi.
- Phải đấy, ông cụ già ngồi trong kia là ông bố nghe đâu như một
ông Tổng đốc hưu trí. Con bé đương ngồi quạt kia là con gái anh huyện. Họ mới đến
thuê chưa được một tuần lễ. Tôi lấy mỗi tháng có hai mươi lăm đồng.
- Sao anh cho thuê rẻ quá thế?
- Thế là phải, là được giá. Anh bị bắt hồi 1930 là hồi chưa
có khủng hoảng kinh tế nên anh tưởng thế là rẻ, chứ trong bảy năm nay, vật gì
cũng giảm giá và trong nước có nhiều sự thay đổi lắm.
Minh nghĩ đến buổi chợ phiên ban chiều, thở dài mà rằng:
- Ừ, quả vậy. Tôi không ngờ cái dân tộc này mà lại có ngày
hóa ra đến thế!
- À, thế cảm tưởng của anh ra làm sao? Tôi ở nhà nên sự thay
đổi của xã hội thì nay một tí, mai một tí, mình cứ dần dần quen mắt quen tai,
thành ra mắt tuy có trông thấy thời cục mà óc không thể có được một mối cảm
giác...
- Không biết tôi có nên nói ý kiến của tôi không? Chà... thật
không ngờ! Gớm, sao mà ăn chơi phóng đãng thế! Sao mà xa hoa đàng điếm thế! Cứ
như những cái tôi trông thấy ngày hôm nay thì thật là một triệu chứng diệt
vong! Hầu hết nam nữ thiếu niên người nào cũng vô lo, vô lự, mặt mũi lại hí ha
hí hửng, dương dương tự đắc, đi chơi, đi nhẩy, mà mặt mày vênh váo làm sao! Thật
là một điều sỉ nhục cho một dân tộc mất nước...
Quang mỉm cười gật đầu rồi bĩu môi mà rằng:
- Ấy thanh niên bây giờ thế cả đó. Nếu không thế thì lại bị
chê cười là bảo thủ, là gàn dở, là hủ lậu. Cái luân lý mới là hưởng cho kỳ hết
những cái khoái lạc vật chất, là sống vì cái lòng vị kỷ khốn kiếp của cái cá nhân
chủ nghĩa không phải đường. Phải trí thức nước nhà đã hô hào như vậy, tất cái bọn
thiển học nhắm mắt mà nghe theo, chứ sao!
Minh đứng lên, đút hai tay vào túi quần, vươn cổ ra, giận dữ
hỏi:
- Ai, trí thức nào? Anh muốn nói đến bọn trí thức nào thế!
- Bọn văn sĩ, bọn viết báo, chứ còn ai nữa! Anh không biết? ừ,
mà anh bị tù tội như thế, còn biết sao được! Hiện giờ, muốn phỉnh nịnh cái khao
khát của xác thịt, muốn ca tụng những thị dục đê hèn của công chúng, một số
đông các nhà “ngôn luận” đương ném ra một nền văn Chương xu thời mục đích là
sùng phụng tụi trưởng giả và cổ động cho âu hóa, lấy cớ rằng tiến bộ, văn
minh...
Minh đứng thẳng người lên thấy tức ngực, giận đến không thở
được. Và trợn mắt thất thanh hỏi:
- Lại có một bọn nhà văn vô lương tâm như thế? Lại có một tụi
viết báo vô liêm sỉ như thế?
- Đời bây giờ, người ta chỉ cần chiều đời để bán báo, bán sách
cho chạy chứ người ta kể gì đến liêm sỉ và lương tâm! Vả lại, cũng không nên
trách họ, vì trong cái số hoạt đầu, tựu trung cũng có một đôi kẻ thành thực,
tin rằng phải hoàn toàn theo mới, phải âu hóa cả trăm phần trăm thì mới là tiến
bộ, văn minh. Cái thành thực của bọn ấy vẫn là đáng khen, tuy cái ngu của chúng
thì chỉ đáng thương hại.
- Nhẩy đầm, đánh cá ngựa, ăn ngon, mặc đẹp, dùng những hàng mỏng
để may những bộ y phục phô ra những đùi với ngực, như thế, chỉ có như thế, mà
đã cho là văn minh, tiến bộ rồi?
- Đối với kẻ ngu thì những cái hình thức thế thôi là đủ rồi chứ
còn gì nữa!
Minh xo vai, thở dài:
- Chết chết! Nếu vậy thì cũng buồn cho “trí thức” và cho
“ngôn luận” thật.
- Tôi thì tôi chẳng buồn gì cả vì tôi cho những điều ấy là
không thể tránh được. Anh muốn gì? Muốn dân tộc vô đạo, vô học, bán khai, không
lý tưởng nào thờ, lại mấy nghìn năm nô lệ như dân mình, tất nhiên... tất nhiên
cái tinh hoa đất nước của dân tộc ấy chỉ có thể đào tạo ra được những bậc trí
thức nô lệ. Thật thế, tinh thần nô lệ là một thứ... quốc bảo cổ truyền, và sẽ
mãi mãi di truyền. Xưa kia nô lệ Tàu, thì theo Tàu là văn minh. Bây giờ nô lệ
Tây thì âu hóa kia mới là văn minh. Tôi tin rằng nếu người da đen ở bãi sa mạc
Sahara mà có đến chiếm nước ta thì cái bọn trí thức ấy tất nhiên cũng sẽ hô hào
đạp đổ tất cả những cái “cũ” để mà theo “mới”, nghĩa là... Phi hóa thì mới lại
là văn minh! Trách gì cái óc nô lệ!
Minh ngồi xuống ghế, nhìn ra xa vơ vẩn, nói như chỉ cho riêng
mình nghe:
- Văn minh! Văn minh mà như thế thì chỉ dâm đãng, chỉ thương
luân bại lý, chỉ gây thêm những mối bất công cho xã hội.
Quang cười rộ mà rằng:
- À, cái ấy thì đã đành! Nhưng mà ta phàn nàn vô ích... Sau hồi
biến động, Sa mạc lớn ở châu Phi. những phần tử sống đã mất đi, chỉ còn lại cái
phần tử chết nó chiếm đại đa số, thì xã hội này nghiễm nhiên trở nên suy đồi y
như các dân tây phương vào hồi chiến hậu! Không có và không dám có một lý tưởng
gì nữa, tất nhiên người ta đâm ra ăn chơi cho sướng cái xác thịt mà thôi. Giữa
lúc đốn mạt ấy, một bọn văn sĩ lại lấy những danh nghĩa văn minh, tiến bộ mà cổ
động cho cả những cái xấu và những cái dâm của Tây phương, mục đích là bán báo
bán sách cho chạy để thủ lợi, tất nhiên chúng ta phải thấy cái quang cảnh khốn
kiếp bây giờ. Này, bây giờ mà anh công kích cái vật chất thì sẽ có một trăm người
chê bai anh là hủ lậu, đáng tự tử đi đấy.
Minh sốt sắng cãi:
- Ta cứ cho rằng cái văn chương xu thời ấy là của một bọn
thành thực đi đã. .. Thì cũng phải biết phán đoán xem mình có nên và có thể âu
hóa được hay không mới được chứ? Chà! Họ tin rằng sống như xã hội phương Tây
bây giờ đã là cực điểm của tiến bộ, hoàn toàn của văn minh? Họ lại không biết rằng
người như Duhamel như Gandhi như Oạcar Wilde đã bình phẩm cái văn minh ấy như
thế nào! Họ không biết rằng xã hội Tây phương cũng chỉ là xã hội mục nát mà những
mối bất công là giường cột, mà kim tiền và vật chất gây ra dâm phong để cho cái
dâm phong cầm cân nẩy mực cho tất cả, và dân tộc mình thì không nên nhắm mắt đi
vào con đường ấy nữa, phải chờ khi nào Tây phương tiến hơn nữa.
Minh còn muốn nói nữa thì Quang đứng lên vỗ vào vai bồm bộp
mà rằng:
- Thôi đi, ông ơi! Để dành những ý kiến ấy cho người có lương
tâm mà thôi. Lúc nãy ông chả bảo bọn tri thức ấy vô lương tâm, vô liêm sỉ là
gì! Do thế, bọn ấy mới cho là mới những cái mà người âu châu đã cho là cũ rích,
và vội vàng rúc đầu xuống liếm những cái gì mà phương Tây đã thừa mứa đến nôn ọe
ra! Nhưng tội gì mà ta bực mình? Ngồi khoanh tay mà cười những quân rởm đời, những
anh chồng mọc sừng, những thiếu nữ chỉ còn tân có một nửa, lại không là hưởng một
cái thú hay sao? Vì rằng cái xã hội này cũng sắp đến cái cực điểm của văn minh
rồi? Anh cứ nghĩ đến buổi chợ phiên hôm nay xem! Cứu đồng bào bị lụt! Muốn cho
chúng nó bỏ ra vài hào thí cho hàng vạn đồng bào đương chết đuối thì phải cho
chúng nó cười đùa thỏa thích, chim chuột no nê, dám đứng, dám đi, trịn vú, áp bụng...
không thế thì lại không vui vẻ, trẻ trung!
Quang nói đến đây, lại cười rộ lên một cách rất chua chát,
Minh thấy nhắc đến đồng bào bị lụt, thì lại chợt nhớ đến gia đình, vội vàng bảo
bạn:
- À anh, mai thì thế nào cũng phải để cho tôi về quê đấy nhé?
- Ừthì mai anh về chứ sao! Tôi bảo anh hãy nghỉ một buổi ở
đây cho khỏi mệt nhọc, nay anh đã khỏe thì anh cứ về.
- Bảo nghỉ có một buổi thế nào mà té ra mất ba buổi!
Quang chép miệng mà rằng:
- Có bất hiếu thì anh cũng bất hiếu chán đi rồi, vắng mặt năm
bảy năm giời còn chả làm gì được mà chậm có một ngày thì thở than mãi, dễ nhà
tôi nó cũng về rồi đây này.
Minh cúi nhìn xuống dưới bao lan. Quả nhiên vợ Quang đã dắt
con về thật. Chàng cảm động về lòng tốt của vợ chồng bạn: hôm ấy, bên nhà vợ
Quang có giỗ, vậy mà Quang đã ở lại nhà cả hai bữa để ăn với Minh, và vợ Quang,
sau khi ở lại làm cơm rất chu tất, về nhà mình lại vui lòng nói dối là chồng ốm
để cáo thoái với bố mẹ cho chồng. Người đàn bà đẹp đẽ, dịu dàng lên gác, vào
cúi đầu chào Minh.
- Lạy bác ạ.
Minh cúi đầu nhanh nhảu:
- Không dám ạ, bác ở nhà quê đã ra. Phúc ơi, có lấy phần cho
bác không?
- Ờ kia, không lạy bác đi à? Mồm đâu? Con nhà rõ đến tệ!
Mới lên bốn, bảnh bao sạch sẽ trong bộ âu phục màu xanh xanh,
thằng Phúc nói:
- Lạy bác ạ. Cháu chỉ lấy phần cho cậu cháu thôi.
Quang cả cười rồi hỏi vợ:
- Thế nào! Có ai nói gì không?
Người vợ của Quang tươi cười mà rằng:
- Thầy bảo tôi phải mời đốc tờ cho cậu không có mà nhỡ ra sốt
thương hàn thì chết. Còn đẻ thì đẻ cho hai chục trứng.
Quang pha trò:
- Bở nhỉ? Thế thì thỉnh thoảng lại phải sốt một trận mới được.
Vợ Quang mắng:
- Chỉ nói dại thôi nào!
Rồi dắt con xuống thang. Mười lăm phút sau thấy thằng nhỏ
bưng một khay có hai cốc rượu bia lên bao lan. Nó tìm một cái kỷ con, đem ra, để
khay rượu lên thì Quang nói:
- Nói của đáng tội, chính nhờ có anh mà tôi được vợ cho uống
bia đấy! Anh tưởng dễ tự nhiên đấy à!
- Gớm chị ấy chu tất quá! Chả biết thế này là lưu khách hay đuổi
khách.
Quang thụi đùa vào ngực Minh mà rằng:
- Ông lại giã cho bây giờ, chứ vừa được ăn lại vừa được nói
thế à? Thôi đùa nhau mà làm gì?
Vợ tao xưa nay vẫn khâm phục những nhà cách mệnh.
- Mày bảo vợ mày cứ để cho tự nhiên thì tao mới dám ở lâu với
mày.
- Ừ, được, cái ấy thì dễ lắm!
Ở bên kia bao lan, ông huyện mặc cái áo ngắn. Con gái ông đứng
bên khép cửa sổ. ở dưới phố, ba cái xe trên có ba cô ả tân thời ngồi vừa kéo
qua. Những cái ấy làm đãng trí hai người bạn, làm câu chuyện phải gián đoạn.
Minh nghĩ lan man đến nhà, đến em gái, em giai. Chàng cho trí nhớ quay trở lại
với cái thời kỳ chàng cùng Quang dạy học ở một nơi thôn quê: hồi ấy Quang còn
trong cảnh thanh bần, nhiều khi về vấn đề tiền nong, Minh còn phải giúp đỡ.
Ngày nay được tha về nhà, tình cờ chàng gặp ngay Quang, như vậy chàng cho là một
sự may. Khi thấy Quang vẫn tử tế như xưa, Minh rất lấy làm mừng.
Khi thấy Quang đã trở nên giàu có, chàng lại mừng hơn nữa.
Nhưng đến lúc thấy Quang thú thật rằng sự giàu có ấy là do lấy được vợ giàu mà
nên thì Minh hãi hùng ngay. Chàng phân vân đến nỗi không muốn ở đây thêm một giờ
nào nữa. Nhưng khi thấy vợ bạn cư xử với mình có đủ cả tôn kính lẫn thân thiết
thì Minh cũng được yên tâm. Chàng không biết rằng muốn cho vợ phải quý bạn,
Quang đã thêu dệt bội phần về sự xưa kia chàng còn hàn vi đã chịu ơn của Minh.
Minh, lúc đầu, vẫn sợ sự chu đáo ấy là giả dối. Minh xét kỹ thì Quang vẫn tốt
như xưa, và cũng vẫn bộc tệch như xưa. Do thế, khi Minh hỏi thăm tin tức nhà
thì Quang kêu là vẫn để ý đến, mặc lòng Quang chẳng biết tin tức gì cả. Cái sơ
xuất ấy, Quang lại đổ tội cho Phú là không chịu thư từ đi lại. Nghe thế, Minh
đã lấy làm bằng lòng cho rằng em mình dè dặt như thế là hơn... Vả chăng chắc
cũng có thể đứng được nên Phú mới không phải lui tới nhà người bạn phú quý của
anh mình. Mình cũng không giận bạn ở chỗ lãnh đạm. Sau khi về nhà Quang ăn một
bữa cơm thì Minh đi tìm nhà một người trong họ, và nhân đó, biết rõ chuyện nước
lụt, Phú đi làm phu phen, bị bắt ra sao, được tha ra sao. Người trong họ ấy đưa
lại cho Minh cả mấy tờ báo nói đến việc Phú. Cho nên khi thấy bạn lại lưu mình
một ngày nữa bằng câu “Anh không phải vội, để tôi hỏi hộ xem có đường nào về
làng không đã. Vả lại nếu cụ nhà hay thằng Phú mà có sự gì thì tôi đã biết rồi”,
thì Minh phải mím môi cho khỏi cười. Chàng chỉ cảm ơn sự săn sóc miệng ấy chứ
không dám nói cho Quang biết là Phú đã bị bắt, đã được tha, sợ bạn ngượng. Tuy
vậy Quang vẫn là người bạn tốt như thường, vì Minh vốn rộng lượng trong khi suy
xét. Trước khi được biết cái hồi hộp trông thấy mẹ và hai em, Minh phân vân
nghĩ đến thân thế, cái cảnh ngộ khắt khe của những đảng viên cách mệnh được tha
hay mãn hạn tù: bị kiềm thúc khổ sở, bị người đời kính nhi viễn chi, không có
thể có được một sinh kế xứng đáng, không thể hạ mình làm những việc mọn, sống dở
chết dở, phải chịu một cuộc đời bần hàn, hại cho thanh thế mình, hại cho thanh
thế cách mệnh, nếu không phải chịu cái khổ tâm nhất, đau đớn nhất, là bị những
người thân yêu nhất đời của mình dằn vặt mình, đay nghiến mình như xẻo từng miếng
thịt một, oán trách mình làm cho gia đình phải khổ sở vì cái việc mà có người
bĩu môi bảo là: dại dột, a dua. Minh đã từng nhận được thư của những đồng chí
được tha gửi ra Côn Đảo cho chàng, than phiền về cái cảnh ngộ đáng sợ ấy. Chàng
sợ nhất là sẽ phải khinh bỉ những người thân yêu, hay là sẽ phải hối hận vì
công việc... Chàng nghĩ thầm “Nếu sự đời lại khốn nạn đến thế thì thà chẳng được
tha về lại hơn!”. Giữa lúc ấy, không biết vì sao Quang lại hỏi bạn:
- Này, anh được tha về thế này, chắc anh sướng lắm đấy nhỉ?
Minh xo vai hoài nghi, đáng lẽ đáp thì chỉ gật gù:
- Ờ, ờ, ờ...
- Đẻ làm sao thế?
- Tao hơi nhọc mệt một chút...
- Đẻ có nhức đầu không?
- Không.
Cụ Cử vừa lắc đầu xong thì đưa tay lên giữa ngực ho sù sù.
Phú lo lắm, lại hỏi:
- Chết chửa! Không khéo mà đẻ lại cảm hay sốt gì thì thật
nguy?
Đến đây, cụ Cử lắc đầu một cách khó chịu vì đã nhọc mệt lắm.
Cụ lại ho khan mấy tiếng nữa, hổn hển khẽ đáp gắt:
- Không! Đừng hỏi nữa, tao không làm sao.
Tuy vậy, Phú cũng thừa biết là mẹ nói dối, vì sợ phiền lòng
mình. Đã bao nhiêu lâu, lần này là lần đầu, Phú mới để ý nhìn kỹ đến mẹ.
Lúc ấy cụ Cử nằm co ro, đầu gối lên một cái hộp sắt tây, mắt
quay vào phía trong mái gianh. Một vành khăn nhiễu tam giang nhỏ xíu giữ một ít
tóc hoa râm lơ thơ trên đầu, cái áo cánh nâu, cái quần thâm đã bạc phủ ngoài một
cái thân thể gầy còm để phô nhọn cả lên những đỉnh núi chỗ bả vai và chỗ xương
hông. Thêm vào những cái ấy lại còn có những nét vẽ bi hài của một chế độ nước
lụt đồi bại nó điểm trên mặt những nét dăn của sự lo âu, nó đào ở hai mắt, ở
hai má, ở hai bên thái dương những cái hố của sự đói khát bên cạnh những gò
xương vêu vao, và nó rắc một thứ bụi lầm than lên trên quần áo. Hốt nhiên, Phú
phải khiếp đảm bởi cái vẻ tiều tụy, tiều tụy đến nỗi gần hóa ra bần tiện nữa, ở
mẹ mình. Chàng lẩm bẩm:
“ấy đó là cái kết quả bao năm đằng đẵng thờ chồng nuôi con!”.
Rồi Phú mím chặt môi, nắm chặt hai bàn tay, khao khát sự đánh
đập, sự chửi rủa, sự phá phách...
Hai hôm nay rồi! Thật thế, đã hai hôm nay rồi, ba người nhớn
đã gần như nhịn đói, bốn củ khoai lang phải để dành cho thằng cu Hiền nó cứ đòi
ăn luôn luôn. Tuy người ta đành ôm bụng chịu vậy, vì trong lúc lụt lội thì nhịn
đói hai ngày chẳng có gì đáng lạ, nhưng mà hai ngày ấy, Phú mới thấy dài làm
sao! bị bó cẳng trên mặt nước, cứ ngồi xuống nhìn nhau vô kế khả thi, bên cạnh
một người mẹ ủ rũ, một người chị hay khóc, một đứa cháu dại quấy khóc suốt
ngày, đã có lúc chàng tưởng chừng phát điên lên được. Thật thế, vì rằng Phú đã
xoay hết cách mà không xong. Ngày hôm sau suýt bị vạ lây vì bọn cướp ở nhà ông
chánh Mận thì Phú đã cùng anh Hai Cò, anh này trốn việc đê, đánh một chiếc thuyền
thúng ra nơi chợ Cồng, cách làng ba cây số, một cái chợ trên mặt nước mà dân
gian cũng cố sức họp để trao đổi cho nhau những thực phẩm nhật dụng, những hóa
vật tối cần. Bữa ấy, anh Hai Cò bán một mớ tôm, cá, ốc, để đổi lấy một ít ngô.
Còn Phú thì có lồng gà (một con mẹ, chín con con) với con mèo tam thể, những
con vật mà chàng không tống khứ được đi thì cũng đến chết đói mất. Đến chợ, mãi
mới đổi được lồng gà lấy hai rá gạo đỏ. còn con mèo thì không ai hỏi đến thành
thử lượt về lúc thuyền qua một vùng gò có cây cối um tùm, chim chóc tụ nhau ríu
rít, Phú liền thả con mèo lên đấy mà rằng:
“Thôi tao đành để cho mày hóa ra làm kiếp cáo thì may ra mày
mới được no”.
Nhưng hai rá gạo bữa ấy đã vơi hẳn vì phải chia cho anh Hai
Cò về cái công cho đi nhờ đò, và trả nợ cũ vì từ hôm bị nước lụt, cô Tuất chỉ
có việc đi vay gạo! Ai cũng nể cụ Cử, tốt vay dầy nợ, lúc mình có gạo, Tuất mới
hiểu ra rằng được tin lắm có khi cũng là không hay. Cho nên hai rá gạo mà gia
đình Phú chỉ được no có một bữa hôm ấy mà thôi, thành thử Phú đi chợ mà chỉ có
cái hại là mất cả gà lẫn mèo, cái hại mà chàng phải cho là lợi, khỏi tốn thóc gạo
nuôi gà và mèo. Xong rồi thì cô Tuất mới tiếc của mà lầm bầm:
“Biết thế thì thịt quách gà đi lại được lợi cái ăn”.
Hôm sau, Phú phải làm một cái cần câu, và cắm chung quanh nhà
đến hàng chục cành tre khô. Chàng mất nửa ngày mới câu được ba con cá rô nhỏ đã
sốt ruột lắm, nhưng may lúc nhổ những cành tre lên thì lại cậy được đến một rổ
con những ốc vặn và ốc nhồi. Sung sướng quá, Phú vội lên bè chuối định đem bán
các thứ ấy quanh trong làng, vì ngoài ông chánh Mận ra, làng cũng còn và ba nhà
đủ bát ăn, và cần có thức ăn thì mới nuốt trôi được miếng cơm. Nhưng việc đi chạy
gạo ấy chỉ hóa ra một cuộc du lịch vô ích với những cảm giác nặng nề của nó.
Thì ra ông chánh Mận đã bỏ làng. Người mà ông giao cho coi nhà mách với Phú là
từ sáng sớm, cả gia đình nhà ông chánh cùng với một ít lợn, bò, gà, vịt, đã
dùng một chiếc bè lớn mà tiến thẳng lên phía đê. Do thế những gia đình vẫn sống
vì nhờ vả, vay mượn ông chánh cũng bỏ làng ra đi cả. Những người khác thì lên
chỗ hạp long xin làm phu để lấy công mỗi ngày một bơ gạo, mặc dầu quan trên đã
chuẩn lời yêu cầu của phòng dân biểu rằng trong việc bắt phu phải để một số đàn
ông họ trông nom vợ con họ ở làng. Chỉ còn đàn bà trẻ con, những người già yếu
là ở lại. Ông lý trưởng thì sau khi cướp vào làng một ngày, đã cùng ông chánh hội
lập tức bắt ngay tên lực điền vẫn hầu hạ ông chánh Mận - bữa ấy, tên ấy đứng
soi đuốc cho mâm cơm mà ông chánh nghi cho làm nội công. Còn tuần tráng thì cố
nhiên đã lâu nay vẫn ở chỗ đê vỡ. Sau khi nghe anh mõ của làng kể những chuyện
buồn ấy, Phú đã bùi ngùi đem cái rổ ốc về. Chàng luộc ốc, luộc cá, chặt nốt một
cây chuối cuối cùng nó cũng gần thối vì úng thủy, làm một bữa canh rau. Sau bữa,
cụ Cử đau bụng âm ỷ mãi. Đến chiều thì Phú đã phải thất vọng trong cuộc tìm kiếm
cái gì nhét cho đầy bụng. Câu thì cá không cắn mồi. Những con ốc trong khu vực
sân của nhà cũng hóa ra hiếm, không còn bâu từng chùm vào những cành tre ngâm nữa.
Trong lúc cùng quẫn, Phú nhớ ra rằng ở sau đình làng có một cây sung. Nhưng khi
chàng ra đến nơi thì không còn quả nào trên cây, và mấy đứa trẻ trần truồng đứng
chửi nhau loạn xạ vì tranh nhau một vài quả xanh còn sót lại. Sau khi hỏi chúng
thì Phú biết thêm rằng ngoài việc cũng câu cá, bắt ốc, mò cua, chúng còn săn
chuột trên cây mà làm thịt ăn, vì khi nước tràn vào thì có một số chuột trèo
lên cây mà lánh nạn, mà sống như chim muông. Nghĩa là cái gì ăn được mà không
chết người thì chúng cũng ăn cả: cái số gạo mà những người đi phu gửi ông lý
đem về làng cho người nhà cố nhiên không bao giờ đủ. Một đứa kể cho Phú biết
chuyện một đứa bé kia bắt một cái tổ ong để định ăn những con ong non trong tổ,
đã bị ong đốt sưng khắp thân thể đau quá, ngã lăn xuống vực sâu. Vì tranh nhau
một con nhái bén, một con trai, một vài ngọn rau, có khi chúng đánh nhau vỡ cả
đầu.
Người lớn ở nhà, những bà già sắp kề miệng lỗ, vì ai cũng chỉ
biết bênh con cháu của mình, nên cũng chửi bới nhau om sòm. Cả một làng! Cái
đói đã làm cho người đi đến cái chỗ cuối cùng của sự đồi bại. Với những cảm tưởng
chua chát ấy, mỗi khi Phú đi kiếm ăn, mà chỉ đem có hai bàn tay trắng về nhà,
thì thấy mình cũng có cái hậm hực tầm thường thô lỗ như người cổ xưa lúc chịu
đói lòng mà về hàng. Trong phút thảm hại ấy, chẳng phải Phú chỉ biết khoanh tay
chịu chết một chỗ. Chàng cũng đã nghĩ đến sự bỏ làng.
Nhớ đến Hà Nội, nơi mà chàng cũng đã sống một thời sung sướng, có những bạn cũ, những họ hàng đã lâu không ra thăm. Phú lại nhớ đến ông tham Quang, người bạn thân của anh Minh, người có thể trông cậy được qua những ngày sóng gió. Khốn nỗi quần áo Phú như quần áo thằng ăn mày! Mà cái thẻ tùy thân của chàng thì vẫn nằm yên trong một ô kéo tại huyện lỵ. Đã không có cách gì thoát khỏi được cảnh lụt lội, chàng lại vẫn phải nơm nớp lo sợ có ngày lính huyện về xích tay lôi đi. Nếu mãi đến bây giờ Phú vẫn được người ta để cho tự do, ấy chính là bởi quan trên đương bận việc đê điều, và ông huyện mới đến thay còn bỡ ngỡ chưa lục đến việc ông huyện cũ để tù vượt ngục. Trong tình thế ấy, với bộ quần áo rách rưới ấy mà có lần mò ra Hà Nội hòng chuyện cầu cứu, thì Phú cũng đến bị người bạn của anh mình khinh rẻ mà thôi. Bè bạn đời này, chả nên hy vọng lắm! Đêm qua ông lý về với những gạo mà người làng gửi cho thân nhân, và một cái tin mừng: trưa hôm sau, quan trên phát chẩn. Chỉ có một cái tin ấy cũng đủ cho những người đói đã lả cũng bỗng trở nên khỏe mạnh, thức cả đêm đi rủ nhau mượn chung thuyền, hoặc hộc tốc đóng những cái bè nhỏ bằng tre ngâm. Tự coi mình là kẻ đã có án, Phú dằn lòng để chị đi lĩnh chẩn. Chàng nói dối mẹ:
Nhớ đến Hà Nội, nơi mà chàng cũng đã sống một thời sung sướng, có những bạn cũ, những họ hàng đã lâu không ra thăm. Phú lại nhớ đến ông tham Quang, người bạn thân của anh Minh, người có thể trông cậy được qua những ngày sóng gió. Khốn nỗi quần áo Phú như quần áo thằng ăn mày! Mà cái thẻ tùy thân của chàng thì vẫn nằm yên trong một ô kéo tại huyện lỵ. Đã không có cách gì thoát khỏi được cảnh lụt lội, chàng lại vẫn phải nơm nớp lo sợ có ngày lính huyện về xích tay lôi đi. Nếu mãi đến bây giờ Phú vẫn được người ta để cho tự do, ấy chính là bởi quan trên đương bận việc đê điều, và ông huyện mới đến thay còn bỡ ngỡ chưa lục đến việc ông huyện cũ để tù vượt ngục. Trong tình thế ấy, với bộ quần áo rách rưới ấy mà có lần mò ra Hà Nội hòng chuyện cầu cứu, thì Phú cũng đến bị người bạn của anh mình khinh rẻ mà thôi. Bè bạn đời này, chả nên hy vọng lắm! Đêm qua ông lý về với những gạo mà người làng gửi cho thân nhân, và một cái tin mừng: trưa hôm sau, quan trên phát chẩn. Chỉ có một cái tin ấy cũng đủ cho những người đói đã lả cũng bỗng trở nên khỏe mạnh, thức cả đêm đi rủ nhau mượn chung thuyền, hoặc hộc tốc đóng những cái bè nhỏ bằng tre ngâm. Tự coi mình là kẻ đã có án, Phú dằn lòng để chị đi lĩnh chẩn. Chàng nói dối mẹ:
“Tôi con giai thế này, ra đấy, nó thấy nó lại bắt đi phu hàn
khẩu thì chết”.
Thế là buổi rạng đông hôm sau, Tuất đã trên một chiếc thuyền
thúng với bác xã Đậu, chị Hai Cò, trông huyện lỵ thẳng tiến. Phú đã đứng trông
mấy chục cái vừa thuyền gỗ, thuyền thúng, bè, mảng, nhất loạt đi về một phía
như một cuộc đua thuyền, với đàn bà con trẻ, rách rưới, đầy những rổ rá, ở
trên...
Chàng thấy trong lòng bỗng vui vẻ về cái chỗ hôm ấy sẽ chỉ phải
nhịn đói có bữa sáng, tuy chàng biết trước cái số gạo phát của Nhà nước sẽ chẳng
thấm gì. Mẹ nó đã đi mấy tiếng đồng hồ thì thằng cu Hiền mới trở dậy. Phú cho
cháu ăn nốt củ khoai. Chàng lại ru cho nó ngủ, và đứa bé cũng lại nằm ngủ, một
cách ngoan ngoãn. Đến đây thì cụ Cử bỗng ho một trận ghê gớm đến bậc tưởng chừng
sắp rách cổ mất. Do thế, thằng cu Hiền giật mình thức giấc khóc òa lên. Đương đứng
ngây ra, đầu hơi cúi, cặp môi mím lại, hai bàn tay nắm chặt, với cái khao khát
muốn đánh đập một người nào hay đập phá một vật gì đó cho hả giận, Phú phải vội
chui vào nhà. Cụ Cử bắt đầu rên và khẽ hỏi bằng thứ giọng của người ốm:
- Thế nào? Đã cho cháu ăn gì chưa? Trông chừng mẹ nó đã sắp về
chưa?
- Lúc nãy đã cho cháu ăn khoai rồi. Chẳng biết bao giờ chị ấy
mới về! Người làng cũng chưa thấy ai về cả.
- Tao rét lắm! Lấy cái giại mà che cho tao đi, sao mà gió quá
thế này!
Phú làm như mẹ bảo. Phải chờ đợi lâu quá, thằng Hiền khóc to
gấp đôi. Đến khi cậu rảnh tay vào bế được cháu lên thì mặt cháu đã đầy những nước
mắt, lưng cháu đã nhễ nhại mồ hôi.
-A! Hiền nó ngoan đáo để! Hiền nó nín ngay bây giờ đây! Nín
đi rồi cậu ẵm đi bắt chim cho mà chơi! Nín ngay đi nào, Hiền ngoan nào! Đây kia
con chim nó bay kia! Bắt nó nhé?
Một con quạ khoang lặng lẽ bay trên mái gianh, buông ra hai
tiếng “quà quà” rất buồn rầu, hình như cũng vì thủy lao mà khổ sở, thằng cu ngẩng
nhìn theo ngón tay của cậu, nín bặt được một lúc, tuy hai môi vẫn còn giữ
nguyên cái đà của sự khóc mếu. Rồi sau cùng, thấy lời dụ dỗ kia là suông tình,
nó lại khóc òa lên. Nó đói, tức thì Phú ẵm cháu bước ra ngoài mái gianh, xốc
cháu lên vai, một tay xoa lưng cháu, miệng thì nói to hơn tiếng khóc để lấp liếm
nó:
- À a a! Đây kia rồi! U mày đem quà về kia rồi!
Do cử chỉ ấy, Phú tình cờ cũng nhìn ra ngoài hàng rào găng.
Thì xa xa, trên mặt nước lững lờ, một chiếc thuyền con đương tiến đến... Lạ! Ai
thế kia nhỉ? Mà lại mặc âu phục ngồi ở mũi thuyền! Một người lái đò chèo ngồi đằng
sau... Bộ quần áo tây trắng nhờ có mặt trời chiếu xuống mà thành ra như một chấm
ánh sáng nổi bật lên trên màu nước đồng hung hung. Chiếc thuyền gần đến... Phú
chỉ tay ra, thằng cu Hiền thành thử cũng nín khóc, ngây ngô nhìn... Cái thuyền
cứ thẳng phía nhà Phú mà tiến vào. Người mặc quần áo tây giơ tay lên vẫy vẫy...
Thì Phú ôm chặt lấy đứa cháu nhẩy nhót trên bè nứa làm cho cả mái nhà tròng
trành mà kêu rít lên.
- Anh Minh! Anh Minh! Đẻ ơi đẻ! Anh Minh đã về!... Đẻ ơi ngồi
dậy đi, mau lên.
Đó là Minh thật. Phú rất ngạc nhiên... ở ngục về sao Minh có
bộ quần áo sang trọng đúng mốt thế? Chàng mừng rỡ lúc thấy Minh trả tiền đò
- Anh có tiền, và hình như vạm vỡ hơn xưa.
Phú lại ngạc nhiên hơn nữa, vì cái sung sướng trong lòng Phú
lúc ấy thật là cùng cực, vậy mà nét mặt của Minh thì lại thản nhiên một cách
đáng phục. Cảm động quá, Phú không nói được mà Minh thì lại vỗ vai Phú nói luôn
hai ba câu:
- Chú Phú! Anh được tha về đây rồi! Đẻ đâu? ở nhà từ dạo ấy đến
giờ không có sự gì đấy chứ? à đây đây, đứa bé này là con cô Tuất phỏng? Đẻ đâu?
Phú quay lại, một tay lôi thốc cái giại lá gồi...
Lúc ấy cụ Cử đã gượng ngồi dậy, hai tay còn chống xuống chiếu.
Khi hai mẹ con trông thấy mặt nhau thì có một phút im lặng hầu như linh thiêng.
Rồi Minh nghẹn ngào nói:
- Đẻ ơi đẻ, con đây! Thằng Minh đây! Con vẫn sống, đẻ...
Minh nhìn mẹ, rồi quay lại nhìn em. Cả ba người đều được cái
sung sướng nó làm cho phải ứa nước mắt. Cụ Cử vẫn mải nhìn người con mà cụ đã
tưởng không bao giờ về nữa, mãi cho đến lúc cụ phải đưa tay áo lên gạt nước mắt.
Cụ thổn thức nấc luôn mấy cái. Tuy nhiên cụ chỉ nói được một câu:
- Con đã về...
Phú hiểu rằng trong ba tiếng giản dị đến nỗi như là vô vị ấy,
có ngụ cái ý nghĩa của sự giải thoát trong bảy năm trời đau khổ, nó bao hàm tất
cả cái sung sướng mà một người con làm giường cột cho gia đình chết đi bẩy năm
trời rồi lại sống lại. Đời lúc ấy tựa như một giấc mộng đẹp. Cái đột ngột của
ngày về làm cho người ta vừa mừng rú vừa hoảng hốt, cái thứ mừng run lập cập của
kẻ nào vừa chết hụt xong. Phú bảo anh:
- Mừng quá! Thật là bất ngờ! Giá anh gửi thư trước thì mất
thú.
Minh nói:
- Có, tôi có gửi thư báo trước đấy. Chắc vì lụt lội, vì chú
đi phu phen, hoặc vì phu trạm lười đi nên thư không tới nơi.
- Sao anh biết tôi phải đi phu?
- Rồi sẽ nói chuyện.
Đáp xong em, Minh quay nói với mẹ:
- Đẻ ạ, bây giờ con được về như thế này, thì con lại tìm cách
nào để đẻ lại được an nhàn như xưa thôi, mẹ con ta còn được trông thấy nhau, thế
này cũng là đáng mừng rồi.
Nhìn đến đứa cháu bé lúc ấy lấm lét nhìn trộm mình, chàng rộ
lên:
- À kìa cháu! Có quà đây! Chú Phú lấy cho cháu ăn đi!
Minh đưa cái gói giấy nhật trình, cái gói mà Phú lúc nãy
không trông thấy vì không để ý. Chàng mở ra thì thấy có một cân giò lụa và mười
chiếc bánh tây. Chàng reo:
- Ờ ờ! Rõ thật được gãi vào chỗ ngứa chửa! Sao anh mua nhiều
thế này? Gớm, rõ hợp thời quá, đẻ và tôi nhịn đã mấy bữa nay...
Minh đáp gọn:
- Đoán ra thì biết chứ có gì lạ. Có mẹ đương giữa cảnh nước lụt
mà không biết mẹ đói thì còn biết gì?
Vì sốt ruột mãi chưa thấy chị về trong khi người làng đã lác
đác có người về. Phú mượn một mảng bè nứa với một con sào, đánh bè ra đi. Trong
lúc hỏi thăm, chàng đã biết qua rằng dân đi lĩnh chẩn đã phải trở về tay không
Chưa hiểu vì lẽ gì! Cho nên chàng lại càng lo lắng về sự chậm
trễ của Tuất. Độ nửa tiếng đồng hồ, khi chiếc bè lênh đênh trên những ngọn sóng
đồng thì Phú mới thấy thuyền của Tuất hiện ra đằng xa. Chàng cắm sào lại, đợi...
Lúc ấy, thằng cu Hiền đã ngồi ngoan ngoãn trong lòng bác Minh của nó với cái
bánh và miếng giò. Minh cũng đã bỏ âu phục ra, ngồi trên chiếu cạnh mẹ. Hai mẹ
con từ đấy trở đi bắt đầu nói tất cả các chuyện. Phú đã phàn nàn:
- Ấy đấy, giả dụ đừng có lụt lội mà được anh về thế này thì
còn vui biết bao nhiêu!
Nhưng Minh vội cãi:
- Thôi, người đời có ai được hoàn toàn sung sướng lúc nào bao
giờ!
Rồi Minh hỏi đến Tuất. Bằng ba câu tóm tắt, Phú thuật những
cái khổ của chị thì Minh ngậm ngùi ôm thằng Hiền lên mà hôn hít một cách thương
xót. Ngay lúc ấy, Phú muốn Tuất về ngay cho mau. Anh Minh về là đáng mừng rồi:
chả lĩnh chẩn thì đừng!... Thế là Phú để Minh một mình đôi hồi với mẹ, mượn bè
của một người làng, đánh ra, đi... Chàng phải đi đón Tuất để báo ngay cái tin mừng
ấy cho Tuất mới được!
Vậy mà, bây giờ trông thấy Tuất, Phú lại đổi ý. Không, chàng
chẳng báo cho chị biết vội, cứ để chị về, rồi đột nhiên trông thấy, bất kỳ như
thế cũng như Phú, thì hơn!... Phải, phải! Báo trước là nghĩa lý quái gì! Nghĩ vậy,
Phú khoanh tay đứng, rồi ngồi xổm xuống những cây nứa, hai tay bó gối. Giữa
cánh đồng trên trời dưới nước, gió thổi ào ào vào mặt Phú, lùa vào hai cánh tay
cụt của cái áo rách ấy mà vào nách. Trong một phút hiếm có mà cái trí não người
ta sáng suốt một cách lạ, Phú thấy mình đã trở nên người dân quê cả trăm phần
trăm. Thật thế, nước lụt đã làm cho Phú không ngại chân lấm tay bùn, biết bơi,
lặn, chở đò, chặt tre, quấn thừng, ăn cơm ngô khoai, làm những việc nặng nhọc
và nhịn đói, những cái mà người xưa kia đã là một “sinh viên” trường Bưởi thì
tưởng không bao giờ kham nổi. Chàng vừa mừng vừa ngạc nhiên cho sự thích hợp
hoàn cảnh của mình. Trông thấy Tuất, Phú bỗng thấy nẩy ra trong óc cái ý tinh
quái, muốn trêu ghẹo người chị lắm nước mắt, chàng nạt nộ:
- Thế nào! Gạo đâu! Tôi đi đón chị đây!
Tuất cau mặt gắt:
- Ỡm ờ gì thế? Mượn bè nhà Vạc ra đây mà lại còn không biết!
Phú làm bộ ngơ ngác rõ nhiều:
- Tôi mượn bè thì họ cho mượn chứ họ có bảo gì tôi đâu.
- Bác Tuất lúc ấy khóc mãi rồi đấy. Quan tỉnh có về, nhưng mà
chả có hột gạo nào! Ai nấy rủ nhau về tay không!
Phú gắt:
- Lại có chuyện lạ thế nữa!
Bà xã Dậu thấy Phú ngạc nhiên thế thì hình như sung sướng lắm.
Mắt bà ta quắc lên, mặt bà ta như có một thứ ánh sáng chiếu đến. Bà nói một
cách vui vẻ vô nghĩa lý:
- Thật thế đấy! Trở về không hàng nghìn người cơ! ấy là chính
bà Thống sứ cũng có về! Tôi trông thấy...
Bà quay lại với Tuất:
- Gớm cái nước da bà ta trắng trắng là, nhẩy!
Đến bây giờ Phú mới bắt đầu biết căm tức... Hàng nghìn người
đi lĩnh chẩn phải về không! Sau khi lội nước mất cả ngày! Sau khi chở đò hai
mươi cây số! Phú nghe như chuyện người ta bịa đặt, tuy sự thật nó đã hiển
nhiên! Chàng chưa muốn tin, tuy lúc nãy chàng đã tin rồi là vì không để ý nên
chẳng kịp có một cảm tưởng gì! Ừ, một việc như thế, sao khi nhà Vạc than thở với
chàng, mà chỉ ậm ừ như nghe một chuyện chỉ đáng để ngoài tai! Chàng nói trống
không:
- Hay là lão lý trưởng nói nhảm, chứ quan không sức.
- Cả huyện bị tẽn lừa chứ riêng gì làng này! Quan bảo đến
mai.
- Vì làm sao lại để đến mai thì quan có nói không?
- Vì gạo chưa chở từ Hà Nội lên kịp. Thôi về chứ?
Phú xua tay nói:
- Chị Tuất hãy sang cái bè này với tôi. Còn bà hai, chị hai,
có vội về thì cứ việc về. Về mà nhịn đói thì làm gì mà vội.
Tuất bỏ thuyền sang bè. Cái thuyền lướt đi, Phú bảo chị:
- Chị ngồi xuống đây tôi hỏi đã. Không có gạo thì về làm gì vội,
buồn chết.
Tuất phát biểu cái căm tức:
- Tiên nhân nhà nó thế! Mất cả một ngày! Cháu có khóc lắm
không, cậu?
-Không, bà đương ẵm nó, nó khóc xoàng thôi.
- Thôi về đi cậu ạ.
- Hãy khoan đã! Về thì làm gì? Đầu đuôi ra sao, chị hãy nói
cho tôi nghe. Quan tỉnh về phát chẩn thì có ai? Chị trông thấy những gì? Vô lý,
phát chẩn mà lại không có gạo!
Tuất kể lể:
- Mới đầu thì có hàng nghìn dân đói ngồi quanh cửa huyện chờ,
các quan Tây thì có bà Thống sứ, ông Công sứ, quan Nam thì có ông Tuần phủ, ông
Huyện. Ngoài ra lại có bốn người quần áo tây, không biết là gì, ai cũng có máy ảnh,
mà cứ thấy chụp ảnh luôn luôn. Các quan ngồi cả dưới gốc muỗm ở cửa huyện.
- Thế ra họ đến đấy là để chụp ảnh à?
- Biết đâu đấy!
- Thế sao nữa?
- Rồi thì... dân đói chờ lâu quá, kêu lên các ông lý dịch. Các
ông này mới kêu lên quan. Thì bà Thống sứ bảo chính bà cũng chờ như mọi người,
hễ gạo đến thì bà phát chẩn, mà chưa đến, thì bà cũng chịu vậy mà thôi...
- Thế rồi sao nữa?
- Dân thì cứ chờ... Các quan cũng ngồi ghế trò chuyện, cũng chờ
gạo. Rồi ông Công sứ và ông Tuần phủ làm nước chanh để các quý quan giải
khát... Rồi lại chụp ảnh. Rồi sau cùng thì các quan bảo dân hãy về đến mai mới
có gạo.
- Thế là ngót nghìn con người vui vẻ về à?
- Lại còn vui vẻ gì? Mà có đến ba trăm người định ở lại huyện
chờ đến mai...
- Ừ có thế chứ! Thế cho nó thấm thía!
Phú reo thế nhưng cô Tuất kết:
- Mãi đến lúc lính ra đánh đập một lượt họ mới chịu giải tán
đi các ngả.
Phú hỏi:
- Thế mai chị có đi nữa không?
Tuất hỏi lại em:
- Cậu bảo có nên đi nữa không? Rồi, không thấy Phú đáp, cô lại
tự đáp:
- Cũng phải đi vậy chứ biết làm thế nào?
- Không đi thì chết đói cầm chắc...
- Mà đi thì khổ nhục quá đi mất! Cậu vừa nói gì? Có đi thì
cũng chỉ được một bữa thôi. Rồi cũng chết.
Phú làm ra vẻ thảm đạm, chỉ xuống nước:
- Tình cảnh thế này tôi hỏi thật nhé:
- Chị có nhảy quách xuống không?
Thế là nước mắt nước mũi Tuất chảy ra ròng ròng. Cô nức nở
đáp trong khi đưa tay áo lên mắt:
- Không vướng thằng Hiền thì... thì... cũng liều đi... cho
xong!
Biết mình đùa quá nhả, Phú vội chữa:
- Thôi nín đi, tôi nói đùa dấy mà! Chứ đời nào đến nỗi thế!
Đây này, tôi báo cho chị một tin mừng đây này!
Cô Tuất sửng sốt nhìn em, hai lông mày đưa lên phía trán, mắt
mở to như để ngỏ sẵn tâm hồn ra chờ cái hy vọng chưa có tên, nhưng Phú tiếp:
- Hôm nay tôi câu được một con cá mè to như thế này này!
Phú đã toan báo tin Minh về mà rồi lại nói thế. Tuất đứng thẳng
lên, dậm chân một hồi dữ dội làm cho cái bè tròng trành, mà rằng:
- Này về thì về ngay, mà chết đây thì chết ngay, cậu nghe ra
chưa?
Đâm ra sợ hãi, Phú vội rút sào lên, lại cắm xuống, đẩy... Từ
đây về đến đầu làng, chàng không nói một lời nào, chàng thỉnh thoảng mỉm cười
khi thấy mặt Tuất cứ gần về đến nhà thì lại nhăn nhó lo sợ thêm. Vì rằng cụ Cử
hay gắt mắng Tuất, mặc dầu cụ thương Tuất hơn ai hết. Cụ mắng cả vào những lúc
cụ biết rõ Tuất không đáng tội chút nào. Thoáng trông thấy một người đàn ông mặc
quần áo trắng là một chấm chói lọi giữa cái màu đất bùn của mái gianh điêu tàn.
Tuất quay đầu lại nhìn em... Một cách tự nhiên nhất đời, Phú nói:
- Anh Minh được ân xá về đấy chứ có gì là lạ!
Tuất bỗng đỏ cả mặt. Cái mừng rỡ của cô lúc ấy có thể lẫn với
cái thẹn. Cô cốc vào đầu Phú mà rằng:
- Rõ phải gió ở đâu ấy! Đã không bảo lại còn cứ trêu người ta.
Rồi khi cái bè vào đến sân, cô cúi đầu lễ phép chào Minh:
- Lạy anh ạ! Anh đã về.
Thấy em ngây ngô, Minh bật cười mà nhạo:
- Không dám ạ. Cô đã về. Gớm, trả con đây này, rãi rớt ướt hết
cả một bên vai áo.
Tuất ẵm con xong thì Minh ái ngại nhìn mẹ, thở dài:
- Ba đứa con thì thằng kiếm được tiền bỗng phải đầy, thằng nữa
vô nghề nghiệp, mà con gái lại góa chồng sớm! Chán thật, đẻ nhỉ?
Tuất ngây ngô hỏi:
- Anh ở ngoài ấy có khổ lắm không?
Minh cười, gật đầu:
- Cũng khá.
- Quần áo anh sao sang trọng thế? Anh có tiền à?
- Có một ít tiền. Quần áo cũng của... à quên kia! Tôi có quà
cho cô đấy!
Minh đưa giò và bánh ra. Rồi đứng lên vươn vai, lại nói:
- Thôi, tôi sang cái võng bên kia để chỗ cho mà ngồi.
Tuất nói như nói với khách:
- Lụt lội, nhà chả ra đâu vào đâu, chỗ đứng chả có, chỗ ngồi
thì không, anh bằng lòng vậy.
Minh lại cười nghĩ thầm:
“Người bộc tuệch như thế mà cũng hồng nhan bạc mệnh thì lạ thật!”
Cụ Cử lại nằm xuống bảo con:
- Ừ, con sang võng mà nằm nghỉ kẻo mệt. Mát rười rượi ra đấy.
Hãy nằm nghỉ một lát đã, rồi sau sẽ hay.
Trong cái đoạn “rồi sau sẽ hay” ấy, cụ để cả hy vọng khỏi nhịn
đói. ý cụ muốn nói đến bữa chiều thì sẽ đi mua gạo bằng tiền của Minh. Chàng
cũng hiểu thế, và lẳng lặng bước qua cầu tre, cùng Phú sang chỗ cái võng trên
cây ổi cạnh mái bếp. Hai anh em trò chuyện như là vào trường hợp ấy người ta phải
trò chuyện nhiều như thế. Minh mừng rỡ rằng sau bảy năm chàng vắng nhà thì Phú
đã trông nom mẹ được chu đáo, và đã có được một bản lĩnh chứ không đến nỗi “Ông
chẳng ra ông, thằng chẳng ra thằng” như Minh vẫn lo. Còn về phần Phú thì chàng
cũng lấy làm tự hào khi có người anh vì quốc gia mà chịu thiệt, nhất là khi người
anh ấy lại đối với chàng một cách có vẻ bạn thân hơn là anh. Chàng để ý đến một
câu hỏi đột ngột của Minh lúc hai anh em bắt đầu dốc bầu tâm sự một khi đã được
ngồi riêng với nhau:
“Trong thời gian anh vắng nhà thì chú không làm sự gì bậy bạ
hại đến danh giá gia đình đấy chứ?”
Nằm dài trong võng Minh từ tốn đặt những câu hỏi mà Phú phải
thấy là bất ngờ. Vắt vẻo ở hai cành ổi, Phú đã thuật cả những việc tỉ mỉ của một
đoạn đời đầy những cái không may và luôn luôn nhận được lời an ủi hoặc khuyến
khích của Minh. Chàng thấy rằng trước mặt chàng đó là một thanh niên vẫn cao
thượng mặc lòng đã chịu một chế độ lao tù đồi bại, và vẫn anh hùng, mặc lòng
trong bảy năm trời đã chịu đủ thứ những ngược hình! Phú sung sướng như người đã
vào lúc tình cờ quen biết được một người bạn mà lại thấy ngay là hiểu nhau, là
có thể thân được với nhau ngay. Thật là quý hóa vô cùng, vì Minh về vào những
lúc trí phán đoán của Phú đã nẩy nở, đã đến cái thời kỳ được nếm cái thú vị của
sự tâm đồng ý hợp. Hơn nữa, Minh lại cam đoan với Phú rằng có đọc báo thấy cái
tin đăng Phú được ông huyện ký giấy tha hẳn hoi. Với lời hứa của Minh rằng sẽ
kiếm cho Phú một việc ở Hà thành, chỉ nay mai thôi, với cái tin có thể thật được
rằng mình đã được tha, Phú hồi hộp trong lòng, thấy cuộc đời mình bắt đầu đến
quãng sáng sủa. Việc anh Vạc phải đến tận nơi đòi bè làm cho trong chốc lát mà
cả làng đã rõ cái tin cậu giáo Minh đã được tha, cả buổi trưa hôm ấy, người lại
hỏi thăm tấp nập. Minh để ý đến câu mà hầu hết mọi người đều nói:
“Thế mà trông cậu lại đẹp đẽ khỏe mạnh hơn ngày xưa!”
Trừ ông lý trưởng là đàn ông, còn thì chỉ là các bà già, bọn
phụ nữ, vì đàn ông thì hoặc bỏ làng, hoặc đứng ở ngoài đê. Thành ra Minh chẳng
gặp được những người mà chàng muốn gặp. Ông lý trưởng thì rất hể hả khi ông ấy
được cam đoan rằng ông không có phận sự quản thúc Minh. Việc ấy không có giấy
tư về. Tuất cũng có khách.
Đó là người cháu bên họ nhà chồng gọi Tuất bằng thím. Người ấy,
theo lời dặn của bố, sang yêu cầu Tuất về lánh nạn ở nhà mình tại tỉnh lỵ cho
qua cơn lụt lội nếu Tuất ưng thuận, hoặc là nếu không thì cho xin thằng cu Hiền,
Minh bảo rằng hãy để Tuất ở nhà một ngày, lấy lẽ được tha vừa về, mà người cháu
kia thì vin cớ nhân tiện một chuyến đò, yêu cầu Tuất đi ngay tức khắc. Về sau
hai bên cùng nhượng bộ nhau bằng sự thỏa thuận ở một bữa cơm, rồi Tuất sẽ ẵm thằng
Hiền cùng đi về với người anh thúc bá của nó. Bữa ấy, Phú đã là một tên bếp rất
vất vả. Chàng sục sạo cả làng bên cạnh mới mua được một con gà gầy còm và vài
lưng gạo hẩm. Chàng thổi lửa đỏ cả hai mắt vì khan củi khô. Cụ Cử rất hả dạ vì
cảnh nước lụt mà thết cơm khách bên thông gia, cụ lại có mấy đĩa thịt gà. Thành
thử cái vấn đề tái giá của Tuất lại có người thân bàn luận. Sau bữa cơm, người
kia lại xin ra đi. Minh bèn gọi Tuất ra một chỗ, dặn bảo... Tuất lại còn nói:
- Thôi, để mai tôi lên tỉnh, vì bảy tám năm nay anh em tôi mới
được họp mặt nhau thì cho tôi đến mai.
Anh về một mình trước vậy. Sợ bên thông gia mất lòng, cụ Cả
thét lên:
- Thôi, chả mấy khi cậu ấy sang đón, mày cứ đi ngay cho tao!
Anh em nhà mày thì lúc nào họp mặt nhau sau này không được?
Cả hai đứng một chỗ xa mọi người. Minh hỏi Tuất:
- Thế nào? Cô định thủ tiết nuôi con đó sao?
- Em chả biết định thế nào cả.
- Này anh bảo thật, cái điều ấy khó lắm đấy. Cô không có một
nghề gì trong tay, không lẽ suốt đời ăn bám mẹ ở nhà, không lẽ báo hại mãi người
nhà chồng... Tôi thấy đẻ nói có lão chánh Mận đã hỏi, cô nhận đi cho yên phận,
cho người ta đành, có hơn không.
- Chỉ thương thằng bé...
- Bác nó nuôi nó thì khác gì bố nó mấy? Mà cô lấy lão chánh Mận
thì rồi cũng sẽ có con nữa chứ sao? Nên nghĩ cho chín kẻo sau này chả đám nào
được thế.
Tuất cúi đầu không nói. Lúc ra đi cô quên chào anh.
Người bếp vừa dọn bàn. Trên khăn giải trắng, mấy chén nước
chè hạt hãy còn đầy nguyên. Ông huyện, bà huyện, ông bạn Khoát mỗi người có ở
tay miếng lê, hoặc táo. Dung đương gọt vỏ nốt mấy thứ hoa quả ở một góc phòng
không một ai nói một lời nào vào cái giờ nặng nề, uể oải của sự tiêu hóa sau bữa
cơm trưa. Một bên chân để gập trên ghế, tay giữ cái tăm ở mồm, ăn đồ nước xong,
bà huyện cứ ngồi đờ ra nghĩ vơ vẩn... Thấy vậy, ông huyện ra hiệu kín cho vợ.
Bà cầm khăn mặt đứng lên đi ra thì ông nháy mắt cho bạn, khẽ nói:
- Đi thôi.
- Nghỉ lát đã, không thì mệt lắm.
Ông huyện lừ mắt, chặc lưỡi mấy cái, gắt:
- Đến đấy không nghỉ được hay sao?
Thế là ông đứng phắt lên, ra chỗ cái mắc, mặc áo, khiến cho bạn
ông cũng phải làm theo như thế. Hai người cùng vội vã hút thuốc lào rõ kêu rồi
lẳng lặng xuống thang. Từ buồng bên, bà huyện chạy ra hỏi: “Đi đâu thế các
ông?” song, ông huyện không nghe thấy hoặc không thèm đáp. Bà hất hàm cho con
gái, nói:
- Mau ra bao lan nghe xem họ thuê xe đi đâu.
Dung chạy ra một lúc rồi quay vào, thưa:
- Con thấy cậu mặc cả đến hàng Buồm.
Bà huyện rút cái tăm ở miệng ra gật gù cái đầu:
- Đích thị lại đi hút thuốc phiện! Cái nhà bác Khoát này tệ lắm?
Bạn hữu đời nay chỉ rủ nhau vào cái chết thôi, chả ích gì cả.
Tức khắc Dung cãi cho người vắng mặt.
- Me đừng đổ oan cho bác Khoát, phải tội! Con ngồi đây, con biết!
Chính cậu giục bác ấy, chứ nào bác ấy có rủ rê gì cậu đâu!
- Biết đâu rằng không vì xưa kia bác ấy đã giục cậu mày cho
nên đến bây giờ cậu mày phải giục bác ấy!
- Me bảo bạn hữu đời này chỉ rủ nhau vào cái chết, vậy mà con
thấy bao nhiêu chuyện can hệ cậu mợ đã bàn luận với bác ấy!
Đến đây, bà mẹ làm lơ. Bà kéo gối nằm xuống sập với cái mặt
buồn rầu. Bà không thể nào không nhớ đến chuyện cũ. Từ khi phải về Hà Nội thì
bà huyện đã sống những ngày vừa buồn tẻ, vừa khó chịu, như một người ở phải một
chỗ thủy thổ bất hợp. Xưa kia ở huyện, bà có bao nhiêu quyền hành! Dù ở nhà, dù
ra phố luôn luôn bà được người ta cứ một lời lại bẩm bà lớn, coi bà là cả một
thế lực vạn năng! Vậy mà bà phải về một nơi phồn hoa đô hội, tại đó những cái
tôn ti hầu như không có nữa, ai cũng cá mè một lứa. Bà đã sống một đoạn đời trống
rỗng như một người không có địa vị gì...
Điều làm cho bà khổ tâm hơn nữa là bắt đầu thấy trong quĩ gia
đình, khoản thu trội hơn khoản chi bao nhiêu. Không kể những số tiền của đút mà
bà gọi là bổng lộc cho nó sang trọng từ đây không có nữa, mà lại cả đến bao chè
tầu, cái thủ lợn, buồng cau, cái chân giò, quả chín, thí dụ cần dùng đến thì bà
cũng đều phải xỉa tiền ra cả. Thật là những sự chẳng vui gì cho một người nền nếp
muốn làm giàu như bà. Mà nào có giàu! Từ độ ông được bổ đi tri huyện cho đến
nay ông bị huyền chức thì lương bổng ông dùng để đóng họ trả nợ cũng chưa xong
đấy thôi! Cái ý nghĩ ấy luôn luôn ám ảnh bà, làm cho bà được thể không bao giờ
phải hối hận về chỗ đã sống trên sự bóp nặn, vì rằng kỳ trung thì chồng bà
chính vì ra làm quan mà thiệt hại. Đã thế, ông huyện lại còn thay đổi tính nết.
Lúc ở huyện ông thật đường đường rõ ra một vị “phụ mẫu chi dân”. Bây giờ, trái
lại. Cái không khí Hà thành làm cho ông trở nên vui vẻ trẻ trung hơn, và do thế,
cũng đâm ra bậy bạ hơn. Xưa kia, giải trí thì tổ tôm là cùng. Bây giờ, thôi thì
đủ thứ! Từ một người căn cơ, hàn gắn như đàn bà, ông huyện đã hóa ra một nhà sư
phá giới, liều lĩnh, chẳng coi đồng tiền vào đâu!
Hát xướng, nhẩy đầm, yến ẩm, hút xách, những cái ấy, ông bắt
đầu thử nếm, mà chẳng nhớ rằng trên đầu ông đã có gần hai thứ tóc. ở chốn thành
thị, sự tiêu pha trở nên tốn kém vì ông huyện mỗi ngày thêm rộng đường giao thiệp
một chút, mà càng hiếu hữu quảng giao, ông càng hay đi đêm. Những bọn con nhà
phá của chỉ đi làm để lấy tiếng, những ông tham tá trẻ, những ông huyện mới các
tỉnh, thường tối đến đánh xe về Hà thành, đến tìm chồng bà, lôi vào quần thảo
nhau suốt đêm ở một tiệm khiêu vũ nào đó, cho mãi đến sáng hôm sau. Đối lại những
việc như thế, bà lẩm bẩm “Cái thời buổi bây giờ nhố nhăng, chứ quan với tư gì lại
như thế!” Trong óc bà bỗng có những hình ảnh thiểu não về cảnh gia đình tan nát
nó sẽ đến mai kia. Bà coi Hà thành là một nơi nguy hiểm cho sự yên ổn gia đình,
một nơi đắc thế của bọn vong gia thất thổ, một nơi mà cái suy đồi phong hóa là
cực điểm, một cái ngục thất nữa, vì bị huyền chức một năm như vậy cũng hại cho
ông huyện như ông phải tù một năm. Hại cả tinh thần lẫn vật chất! Bà nhớ một
cách xót xa thấm thía rằng từ độ về Hà Nội, vì cái chơi bời của chồng, trong
nhà đã xảy ra khẩu thiệt mất năm lần - hơn năm tuần lễ có năm buổi chiều thứ bẩy!
- và bà đã bị người cầm cái họ, vì không thu được tiền, nói những câu rất đau:
“Này, do đồng tiền của đứa nào mà người ấy được vác mặt lên bảnh
chọe làm bà lớn thì chớ quên, mua danh ba vạn chớ bán danh chả được đồng nào
đâu!”
Bao giờ bà lại quên được câu đay nghiến ấy. Mấy hôm nay, bà
thấy áo ông có giây một vài vết bẩn khó hiểu.
- Chết cái áo lụa thế này mà bẩn gì thế này, giặt ra làm sao,
hay đến hỏng cả cái áo thôi?
- Đâu bà đưa con xem... a à, thuốc phiện đây ạ, bà đổ tị rượu
vào mà vò thì sạch.
Người bếp già vừa cắt nghĩa xong thì thấy bà chủ đã nước mắt
chạy quanh. Rồi, từ đấy, bà huyện thêm một mối lo: chỉ trong thời hạn bị huyền
chức là cùng chồng bà khó lòng thoát nghiện. Bà nặng nề trở mình, dằn vặt chân
tay xuống cái sập gụ như gái đẻ lúc nổi cơn ghen. Không trông thấy cái bực dọc
trên mặt mẹ lúc ấy, Dung hớn hở hỏi:
- A, mợ ngủ chứ? Con vặn quạt chạy nhè nhẹ nhé?
Thấy câu này tình cờ có ba tiếng độc vận hay hay, Dung nhắc lại:
- Nhè nhẹ nhé?
- Thôi cô ạ. Phải bắt đầu hà tiện đi mới được. Cô có biết bố
cô độ này phá tán thế nào không? Mẫu mực này, rồi thì ăn mày đến nơi! Lấy quạt
phẩy cho tôi một lúc đây!
Mặt Dung tiu nghỉu. Lúc ấy, nàng đang muốn đứng ở bao lan. Vậy
mà nàng đã dại dột săn sóc đến mẹ để mà ngồi quạt! Trước khi cầm quạt, Dung lại
quay ra bao lan trông ngóng một sự gì. Bà mẹ liền nổi giận, hét:
- Làm gì nữa thế?
- Con đóng cửa lại cho mợ khỏi chói mắt.
Nàng vào. Mặt nàng lại buồn hơn trước. Nhưng may là chỉ trong
chốc lát, bà mẹ đã thấy dễ dịu, cái ngủ kéo đến thiu thiu. Dung làm cái phận sự
ấy được một góc giờ nữa thì đã có thể đứng lên, bỏ đấy mà ra bao lan, mà không
sợ phải mắng. Tòa nhà Dung ở với tòa nhà ông tham Quang là chủ nhà ở bên cạnh,
chỉ cách nhau có một lối đi rộng ba thước bề ngang một con đường đủ cho xe hơi
có thể vào nhà chứa xe. ở tận trong cùng sân trong là một cái vườn gần như của
chung. Hai tòa nhà cùng một kiểu nên tối đến, người ta có thể cứ ngồi ở hai bên
bao lan trò chuyện với nhau mà cũng vẫn thân mật. Cũng do lẽ ấy, nên hai bên mở
cửa sổ cho đều thì cái kín đáo của đồ đạc bị phô ra thông thống, hai nhà mà như
là một nhà. Cái sự bất tiện về cửa ngõ ấy làm cho người ở hai nhà cứ phải rình
mò nhau, phải nhường nhịn nhau, cứ như là chơi trò ú tim - òa của trẻ thơ. Ngay
cả vào những lúc cần lấy gió ở ngoài vào cho thoáng khí mà hai bên cũng vẫn phải
giữ cái lệ là hễ bên kia cửa có đóng thì bên này mới để ngỏ. Còn nếu cả hai sơ
ý thì không kể. Vào lúc trước giờ ăn cơm, hai nhà cũng đã sơ ý, hai bên cửa sổ
cùng để mở toang. Trong khi dọn nhà cơm khách, đã thành cái lệ là chủ nhật nào
cũng mời cơm ông Khoát, lúc để chai rượu vang và mấy cái cốc vào bàn, tình cờ
đưa mắt sang nhà bên kia, Dung thấy thấp thoáng hình như có một thiếu niên giống
Hoàng Văn Phú lắm, tuy mặt mũi Hoàng Văn Phú lần gặp thấy trong một điếm gạch
chỗ phu hộ đê thì nàng chẳng còn nhớ rõ cho lắm.
Trong một phút, nàng đã hồi hộp, như là người ta phải hồi hộp, vào những lúc bất chợt thấy cái gì nó khiến mình nhớ lại một thứ cảm giác mạnh mà mình không bao giờ quên được. Duy có điều người hộ đê bữa trước thì hình như già hơn cái người bây giờ, gọn gàng, sạch sẽ trong một cái áo trắng dài nhũn nhặn nó làm cho vẻ mặt còn cái tinh thần học sinh. Người ta có thể nào trước già mà sau trẻ không? Người học sinh này có phải là người phu hộ đê xưa kia không? Tần ngần tự hỏi mình như thế, Dung cứ đứng ngây ra nhìn sang bên kia, chỉ mong người ấy cũng nhìn sang bên này. Nếu đích đấy là Hoàng Văn Phú thì thế nào chàng cũng phải nhận được ra Dung là ai, hoặc là, nếu không, thì cũng phải lúng túng như Dung là ít. Còn nếu người ấy có trông thấy Dung đứng bên này mà lại thản nhiên như thường, mà mặt mũi lại không để lộ một chút ngơ ngác, một chút phân vân, một chút cảm tưởng gì, thì đích xác là Dung đã trông lầm, hay là trong đời có hai người giống hệt nhau đó thôi. Thật thế, Dung chỉ có cứu người, mà cũng còn nhớ mặt người, thì Phú được người cứu, trong một trường hợp đầy thi vị như một sự thêu dệt khó tin của tiểu thuyết như thế, không, không, không đời nào Phú lại quên được. Dung đương đợi... thì người ấy không những chẳng nhìn sang mà lại còn đáp một câu:
Trong một phút, nàng đã hồi hộp, như là người ta phải hồi hộp, vào những lúc bất chợt thấy cái gì nó khiến mình nhớ lại một thứ cảm giác mạnh mà mình không bao giờ quên được. Duy có điều người hộ đê bữa trước thì hình như già hơn cái người bây giờ, gọn gàng, sạch sẽ trong một cái áo trắng dài nhũn nhặn nó làm cho vẻ mặt còn cái tinh thần học sinh. Người ta có thể nào trước già mà sau trẻ không? Người học sinh này có phải là người phu hộ đê xưa kia không? Tần ngần tự hỏi mình như thế, Dung cứ đứng ngây ra nhìn sang bên kia, chỉ mong người ấy cũng nhìn sang bên này. Nếu đích đấy là Hoàng Văn Phú thì thế nào chàng cũng phải nhận được ra Dung là ai, hoặc là, nếu không, thì cũng phải lúng túng như Dung là ít. Còn nếu người ấy có trông thấy Dung đứng bên này mà lại thản nhiên như thường, mà mặt mũi lại không để lộ một chút ngơ ngác, một chút phân vân, một chút cảm tưởng gì, thì đích xác là Dung đã trông lầm, hay là trong đời có hai người giống hệt nhau đó thôi. Thật thế, Dung chỉ có cứu người, mà cũng còn nhớ mặt người, thì Phú được người cứu, trong một trường hợp đầy thi vị như một sự thêu dệt khó tin của tiểu thuyết như thế, không, không, không đời nào Phú lại quên được. Dung đương đợi... thì người ấy không những chẳng nhìn sang mà lại còn đáp một câu:
“Tôi xuống đây” rồi biến mất.
Lúc ấy, Dung đã gần quên là phải xuống ngay bếp để xem người ở
nó sửa soạn bữa cơm khách ra sao. Nàng còn đứng chờ, và sau khi biết chờ là vô
ích, lại còn ra khép cửa sổ, để hở có một cái khe nhỏ đủ mắt nhìn sang khi nào
cần nhìn, vì sợ thấy bên này để ngỏ thì bên ấy lại khép cửa lại chăng... Bữa
cơm ấy, Dung đã bị bà mẹ mắng là ăn chậm quá. Sự nghĩ ngợi làm cho nàng nhai
lâu. óc nàng chỉ bận phán đoán có việc ấy. Nàng đã tìm hết mọi lý sự để bác đi
rằng đó không là Phú, vì một người con nhà nghèo đến nỗi phải đi đắp đê cách
đây không bao lâu thì chẳng có thể vì lẽ gì mà bây giờ lại có mặt tại một gia
đình trưởng giả như nhà ông tham Quang. Mà có phải có mặt mà thôi không? Không,
ở hẳn, chứ không phải chỉ có trong chốc lát- Cái áo dài để hở khuy cổ, cái đầu
tóc không chải, đã đủ cắt nghĩa rõ. Sau khi lý luận như thế Dung thấy hình như
người ấy chẳng phải Phú, và như vậy là đúng nhưng nếu đúng thế thì buồn lắm,
nàng lại không thích cái lý luận có thể đúng ấy ngay! Dung bèn tìm những lý sự
trái ngược, thí dụ Phú là có họ với ông tham Quang, bây giờ lụt lội phải ra đây
lánh nạn, một sự tình cờ gì đó, v.v...
Tuy nhiên những lý về sau nó thế nào ấy, nó hình như không
còn là lý nữa. Suốt bữa cơm ấy, Dung lẳng lặng như người đàn bà giận chồng mà
phải cùng ngồi một mâm với chồng. Mẹ Dung chừng như đã ngủ hẳn. Nàng khẽ để cái
quạt xuống giường. Nàng đứng lên toan ra chỗ cửa sổ, bỗng lại dừng lại nhìn kỹ
mẹ. Sau khi không còn phải sợ mẹ còn thức, Dung cũng tìm con đường chắc chắn,
nghĩa là không đến đứng ở cửa sổ để nhìn qua khe nữa, vì nhỡ mà bà huyện mở mắt
ra thì trông thấy ngay Dung quả tang. Nàng ra hẳn bao lan, tuy đứng ở bao lan
mà nhìn sang bên ấy thì lệch, cửa sổ bên ấy hẹp hẳn lại mất một nửa. Ra đến bao
lan, Dung còn nhìn xuống đường. Giữa trưa, không một ai ở phố, và giá có ai thì
chắc người ấy cũng chẳng nhìn lên làm gì cho chói mắt. Tuy vậy, nàng cũng nom
trước nom sau như một đứa trẻ đề phòng trước khi làm một điều đáng thẹn...
Trong khung cửa sổ hiện ra một cái đầu thưa tóc của trẻ thơ với cái gáy trắng nõn
trên cái cổ áo sơ mi xanh mà Dung biết ngay là con giai ông tham, thằng Phúc.
Bên cạnh nó thì là một mớ tóc gần dài lồng trong cái trật tự đều đặn của một
chiếc lược bờm màu lam. Con cái nhà ai? Chứ con chủ nhà thì không phải. Hai đứa
trẻ ấy ngồi đây làm gì? Có phải chỉ có hai mà thôi? Sao thấy tiếng cười nói thì
hình như còn có nhiều trẻ? Ông tham Quang chỉ có một con, thế là nghĩa lý gì?
Dung tựa bao lan nhìn xuống đường, tai vẫn lắng nghe...
Chợt thấy có một tiếng nói người lớn dõng dạc:
- Em Thanh ngồi lui về phía sau cho em Hiền có chỗ để sách...
Phúc! Trông vào sách đọc đi, chóng ngoan... Học đi nửa giờ thôi, rồi chú nói với
cậu cho đi chơi Bờ Hồ ăn kem Nhật Bản.
Đến bây giờ, Dung thấy rằng mười phần thì nàng đã cầm chắc đến
chín rồi. Sự thấy ngờ ngợ của nàng đã biến đổi thành ra quả quyết. Cái giọng
nói cương nhu ấy chính là giọng nói của anh phu hộ đê buổi xưa chứ không còn
sai.
- Thế bao giờ ông Cử được tha?
- Bẩm ông tôi chết tại Côn Đảo đã lâu rồi.
- Giáo Minh liệu có được tha không?
- Bẩm chắc có, vì tin tức riêng chúng tôi nhận được cũng đã
đích xác.
- Thế thầy từ nay đừng có lôi thôi sinh sự với họ nữa nhé!
Trong một phút, Dung đã trông thấy lại cảnh cha nàng thoạt đầu
nạt nộ và sau dịu dàng với anh chàng phu phen đặc biệt ấy, cái điếm gạch sứt lở
mà tường đầy những nét vẽ than và vẽ gạch non nguệch ngoạc nên hình những ông
tướng Tam Quốc thô lỗ, ông tham lục lộ mặt sưng sỉa, những thầy tổng lý chạy
nháo nhào trên mặt đê...
- Thưa cô, cô là ai?
- Một nàng tiên xuống cứu người lâm nạn.
- Thưa cô...
- Thôi, không được hỏi gì nữa! Trốn ngay đi cho mau. Nội đêm
nay không khỏi vùng này ắt chết! Đi!
- Tôi xin nhớ ơn cô đến chết...
Dung lại trông thấy rõ người thiếu niên mặt mũi lem luốc vì
giam hãm, với cái lô- cốt mập mờ cao sừng sững trong đêm khuya, mồi thuốc lào của
anh lính cơ, tiếng bõm của chiếc chìa khóa ngục vừa rơi xuống nước giếng, cái
âm u lặng lẽ của huyện đường. Nàng chợt rùng mình, lại vừa cảm thấy cái sung sướng
trong cái sợ. Đích thị đó là người Dung đã cứu thoát tù tội rồi! Nào, nào, hỡi người
kia! Hãy sửa soạn để mà bất kỳ trông thấy mặt ân nhân, nếu người không là kẻ vô
ân! Dung vào chỗ cửa sổ, soi gương bằng miếng kính cửa để nén lại mấy sợi tóc,
xốc lại cái cổ áo. Nàng sẽ cho người ấy thấy cảm giác mạnh bằng cách bất kỳ mở
tung cửa, để người ấy trông thấy nàng như trông thấy sự xuất hiện của một nàng
tiên. Tiếng vấp của hai cánh cửa sổ vào tường làm cho Phú ngẩng đầu lên. Dung
nhìn sang tròng trọc, Phú thì trước còn ngơ ngác và sau thì lúng túng không biết
nên xử trí thế nào...
Dung vẫn nhìn sang bằng cặp mắt của người đã gia ân đàn hạch
kẻ đã chịu ơn của mình. Phú hơi hơi cúi đầu như muốn kính cẩn chào mà lại còn e
sợ. Dung hơi nhếch đôi môi, mỉm cười. Nhưng thấy thầy giáo của chúng đờ đẫn thế,
mấy đứa trẻ vội quay nhìn về phía sau lưng... Dung gật đầu đáp, Phú lại với tay
ra kéo hai cánh cửa. Vừa gặp lúc bà huyện kêu the thé:
- Sao chói mắt người ta thế, hở bà!
- Phú! Đi xem chớp bóng đi!
- Thôi, cám ơn...
- Đi chơi cho vui chứ cảm ơn cảm iếc cái gì?
- Tuần lễ nào cũng đi, thế nhiều quá...
- Ạ! Cái chú này kể cũng ngộ thật nhỉ?
- Thôi để mời ông bà...
Quang xo vai, không bằng lòng lối xưng hô ấy. Chàng cho Phú vừa
trẻ con, lại còn vừa nhà quê. Quang đã cư xử với Phú như với một người em ruột,
đáng lẽ Phú cũng phải gọi Quang như Minh mới phải. Song lẽ cứ mỗi lần Phú gọi
Quang là thưa anh thì chàng lại thấy ngượng mồm lắm. Chỉ vào những lúc riêng có
hai người mà Quang tỏ vẻ thân mật hết sức, Phú mới dám gọi Quang là anh. Nếu có
mặt cả hai vợ chồng thì thế nào chàng cũng kêu “Ông bà”. Đã mười hôm nay, Phú ở
đây với cái địa vị một tay gõ đầu trẻ. Cái chân ấy đáng lẽ là của Minh. Thấy bạn
về, sinh kế không có, Quang đã muốn bạn có một việc tạm bợ. Chàng thu thập được
độ dăm sáu đứa trẻ con, trong số đó, con giai của Quang thì mới học vỡ lòng a b
c, còn những đứa khác thì học lực vào chừng dự bị sơ đẳng chi đó. Dạy những đứa
trẻ ấy, mỗi tháng lấy chừng hai chục đồng. Minh cảm ơn sự thu xếp của bạn, nhận
lời, và chỉ sửa đổi một khoản là đáng lẽ chính chàng cáng đáng công việc thì
chàng để cho em. Quang hiểu ngay là Minh sợ mất giá trị - xưa kia đã là giáo học
hạng năm, và trong làng cách mệnh thì Minh cũng là tay cừ khôi vì học thức khá
- và vội vàng đáp:
“Được rồi! Anh nhận hay Phú nó dạy thì cũng thế cả. Điều cốt
yếu mà tôi để ý là làm cách nào cho mỗi tháng nhà anh có một số tiền mà chi
dùng, thế thôi”. Quang không thể có cách nào giúp bạn sang trọng hơn nữa. Minh
cũng biết thế cho nên về nhà thăm mẹ được một hôm rồi thì chàng bèn đưa Phú ra
giao cho Quang rồi lại về làng. Từ độ ăn ở nhà Quang để dạy học con Quang và những
đứa trẻ ở nơi khác đến (con bạn hữu của Quang), việc gì Phú cũng rất ý tứ, vì
chàng không quên rằng đã nghèo thì mình lại cần tự trọng lắm. Do thế, trong
cách cư xử, vợ chồng Quang muốn gần gụi Phú như một người nhà mà chàng thì cứ mỗi
khi thấy người ta gần mình quá, lại phải nhích ra một tí. Mỗi khi không được bằng
lòng điều gì, Quang lại bảo Phú là nhà quê.
- Đi xem chớp bóng thì tất nhiên mỗi tuần lễ người ta thay một
cuốn phim mình lại phải đi một lần, chứ sao lại bảo nhiều?
Phú tìm được một câu thần diệu để đối phó với sự nài ép:
- Sự thực thì phim nói, tôi xem không được hiểu lắm.
Lúc ấy Phú ngồi trên một chiếc ghế gần cửa ra vào. Quang và đứa
con giai đã quần áo chỉnh tề lắm. Người vợ của Quang thì hãy còn ngồi trước bàn
gương xoa phấn để chồng phải chắp tay sau lưng đi đi lại lại, ra ý sốt ruột lắm.
Sợ chồng gắt mình trang điểm lâu, cũng mời thêm một câu:
- Tưởng hôm nay chủ nhật thì thầy trò cùng đi cả cho vui.
Ngừng một lát, người vợ lại hỏi chồng:
- À thế nào? Cậu thử hỏi hộ xem bác Phú đã đòi tiền nhà bên
chưa?
Phú đáp:
- Tôi đã định sang thu từ sáng sớm nhưng hình như lão huyện
đi chưa về.
Quang cười rộ như một đứa trẻ con mà rằng:
Phú cười thì vợ Quang ngừng kẻ lông mày, quay lại cau mặt hỏi:
- Ấy chết, sao lại thế?
Quang lại cười to hơn nữa và cắt nghĩa:
- Ngày xưa, lão huyện còn cai trị huyện của Phú thì đã bắt
giam Phú một cách trái phép. Cho nên tôi mới nhờ bác Phú sang thu tiền nhà để
có ý gì thì nói tệ cho nó bõ, mợ hiểu chưa?
Vợ chàng mỉm cười ranh mãnh, hời hợt nói:
- Được lắm. Nhưng mà nếu chính cô con gái có khất thì bác đừng
nói tệ, nhé bác nhé?
Nghe thế, Phú thẹn đỏ mặt, tưởng chừng thiên hạ đã đọc rõ cả
những ý kín đáo trong lòng chàng. Nhưng cái phút ấy không dài, vì vừa đến lúc ấy
thì người vợ phấn sáp đã xong. Hai vợ chồng ríu rít dắt con đi làm cho Phú như
trông thấy cả cái hạnh phúc của họ nữa.
- Thôi thế ở nhà trông nhà hộ vậy nhé?
- Được lắm!
- Nào, Phúc! Chắp tay xin phép thầy đi xem!
- Con xin phép thầy cho con đi xi- nê- ma với cậu mợ con ạ.
- Ừ, Phúc đi cho ngoan nhé!
Rồi Phú cúi xuống hôn cậu học trò quý: chàng vốn có tính yêu
trẻ. Chàng ra theo, đứng ở cửa một lúc lâu, nhìn sang bên cạnh rồi lại quay vào.
Sau khi trù trừ một lúc lâu, Phú lấy lược chải đầu, quả quyết sang bên cạnh:
“Không hôm nay thì chả còn dịp nào nữa!”
Thật thế, hôm nay chỉ có một cô con gái ở nhà, ông huyện và vợ
nghe đâu như về quê đến tối mới ra. Chàng đã sai đầy tớ nhà Quang hỏi dò người
bếp nhà ông huyện được cái tin ấy. Mấy lần trông thấy cô con gái ông huyện qua
hai khung cửa sổ nhất là lại được mỹ nhân ra hiệu cho mình, Phú thấy ý chí bối
rối, tâm cảnh bâng khuâng. Chàng thường tự hỏi một cách run sợ
“Tại sao? ừ, tại sao, sau một chuyện dị thường như thế lại đến
cái cuộc gần gụi tình cờ như thế?”.
Rồi chàng đã sống những phút mơ mộng âm thầm như của người
yêu lần đầu tiên. Đã mấy lần Phú tự nhủ rằng có lẽ cứ để thế và hai bên đều
cùng chỉ đến thế thôi, việc gì nửa kín nửa hở vẫn cho ta hưởng nhiều phút có
thi vị. Song chàng lại tự căn vặn:
“Nhưng mập mờ để làm gì? Biết sự thực cho rõ ràng hay là biết
cả cái đau khổ của thất vọng nữa, đó há chẳng là cái can đảm của lòng người
sao?”
Sự cám dỗ bao giờ cũng mạnh hơn hết cả. Bảo đứa đầy tớ khóa cửa
xong, Phú đi ra với một dáng điệu ung dung, khoan thai, và tự nhiên nhất đời.
Không muốn cũng chẳng được, chàng cứ thấy việc chàng định làm là một sự mà
thiên hạ có thể bình phẩm, và cần phải giấu giếm cả đứa đầy tớ.
Sau ba tiếng gõ, người mở cửa chính là Dung, Phú giật mình, đứng
lùi lại, quả tim bỗng dưng đập mạnh như của người chạy thi lúc tới đích. Dung
trông thấy sự cảm động của Phú, bèn dõng dạc hỏi to cho mình khỏi phải ngượng:
- Thưa ông, ông hỏi gì?
Phú ấp úng đáp:
- Thưa cô... tôi hỏi ông... tôi hỏi quan huyện.
- Thưa, cậu tôi không có nhà.
- Dạ... thế thì tôi hỏi bà lớn.
- Mợ tôi cũng lại vắng nhà nốt!
Đến đây cả hai người cùng lúng túng, nhất là Phú. Sau Dung
lùi lại, dang tay trỏ ghế và mời.
- Xin ông cứ vào chơi... Và có việc gì ông cứ bảo tôi cũng được
ạ...
Phú từ từ tiến vào, mắt vẫn đăm đăm nhìn Dung. Chàng nói lúng
búng trong cổ họng:
- Thưa cô, chỉ sợ có điều gì bất tiện...
Dung nhìn Phú một cách rất có tình ý, và lại đáp khẽ hơn nữa:
- Không, nhà vắng cả.
Nàng ngồi trước rồi trỏ tay mời Phú ngồi sau. Thấy phòng
khách hơi tối, Dung lại đứng lên ra mở hé hai cánh cửa sổ. ánh sáng chiếu chan
hòa vào phòng. Trước khi ngồi vào chỗ, nàng lại dừng ở bàn rót một chén nước và
lấy một phong thuốc lá. Khi nàng ngồi xuống ghế thì Phú nói đã có vẻ rắn rỏi:
- Thưa cô, tôi sang đây cũng có một cớ quang minh chính đại lắm.
Nguyên tôi ăn ở nhà ông tham Quang để dạy học đứa con ông ta. Muốn được nói với
cô một lời, vâng, chính thế, muốn được nói với cô một lời, tôi đã nhận lấy cái
việc sang đây thu tiền nhà hộ ông ta. Bẩm, giấy biên lai tôi có đem sang đây...
Nói xong, Phú để ra bàn tấm giấy, Dung cầm lấy xem, mỉm cười
và nói một cách vui vẻ:
- Thế này thì chắc ông phải sang đây lần thứ nhì nữa, vì cậu
mợ tôi về quê chưa ra.
Phú thực thà xoa tay nói ngay:
- Bẩm điều đó không sao ạ, vì không phải mục đích tôi sang để
thu tiền...
Dung xo vai - Nàng cố ý để Phú nom thấy cái xo vai ấy-và quay
nhìn vào phía trong khiến Phú cũng nom theo rồi nói:
- Ông nói to quá!
Thấy Dung có thái độ dễ dãi đáng yêu với mình quá, (ba câu
đáp, lời không những đã ý vị mà lại còn như có trù nhẩm từ trước) Phú hóa ra bạo
dạn. Tức thì chàng nói ngay:
- Vâng, mục đích không phải thu tiền nhà... Thưa cô, từ hôm
tôi được gặp “một nàng tiên” cứu cho thoát khỏi vận hạn thì tôi không ngờ rằng
lại còn có phen được gặp nàng tiên ấy một lần nữa! Bữa nay rõ là một sự tình cờ
quý hóa vô ngần. Cho nên tôi chẳng ngại ngùng gì tìm cách để được... cô tiếp, để
nói vài lời, gọi là tỏ lòng cảm cái ơn xưa.
Phú nói đến đấy thì ngừng lại. Hai má Dung bỗng đỏ bừng. Phú
vừa mừng rỡ vừa ngạc nhiên ở chỗ chàng đã nói những câu mà chàng cho là có văn
vẻ. Cái vui ấy khiến Phú phấn khởi lắm. Thấy mặt Dung hồng hào, sung sướng,
chàng lại nói:
- Ồ ồ! Tỏ lòng cảm ơn... như vậy kể chẳng khó gì! Giá dụ tôi
có cách gì, và có dịp nào báo đáp được cái ơn ấy, cho nó thiết thực hơn nữa,
thì cái đó mới đáng kể, chứ như bây giờ, mấy câu cảm tạ suông! Vậy mà khó lắm
vì chịu ơn thì dễ mà đền ơn thì khó...
- Ông dạy quá lời, chứ có gì đâu!
- Thưa cô, chính thế đấy ạ. Giữa lúc tôi bị giam thì vỡ đê. ở
làng có mẹ già của tôi, và chị tôi, nếu tôi không về ngay thì hai người khó
lòng an toàn tính mệnh.
Phú ngoa ngôn như thế mà vẫn cứ tưởng nói thật. Chàng quên
khuấy đi rằng cái ơn to đã khó lòng đáp đến như thế thì chẳng còn cớ gì cho
chàng lại còn dùng lời lẽ bay bướm để thêu dệt cho nó cứ to tướng mãi lên! Chợt
nhớ đến lúc bị tra khảo trong nhà giam ở huyện, Phú lại sốt sắng và hùng hồn tiếp:
- Nói cho đúng sự thật thì một cử chỉ của cô mà đã cứu được
ba mạng người... Vì rằng chính tôi lúc ấy, tôi đương bị họ tra tấn một cách dã
man ghê gớm không thể nói chuyện với cô được nữa cơ! Khiếp lắm! Bị giam lại một
ngày nữa thì ắt tôi cũng chết vì đòn rồi! Thật thế, lúc tôi nói rằng cô đã cứu
sống được ba mạng người thì không phải tôi nói ngoa.
Dung cười khanh khách mà rằng:
- Ồ! Thế ra tôi mà cũng giỏi nhỉ? Chẳng gì thì trong đời tôi,
hèn ra tôi cũng đã có làm một việc, một việc mà ít ai làm nổi, là cứu sống một
lúc được ba mạng người?
Phú giương to hai mắt, gật đầu như trẻ con:
- Chính thế đấy ạ!
Dung mỉm cười tinh quái nhìn trộm Phú rồi mới nói:
- Thế thì tôi ước rằng trong ba người ấy sẽ có một nhân tài của
xã hội để cho cái công của tôi to hơn nữa.
Phú cúi đầu đỏ mặt. Dung nghiêm giọng nói:
- Âu việc ấy chắc ông cũng biết rõ tin tức thuộc về ông chứ?
Phú ngẫm nghĩ vài phút rồi đáp:
- Vâng... có... Nghe đâu như là sau đó thì ... quan huyện tha
bổng cho tôi. Thật quả tôi rất ngạc nhiên. Tôi cứ lo sẽ bị lùng bắt, thì rồi
cũng đến tù tội và đã phải có lúc rất hối hận về chỗ vượt ngục đấy ạ.
Dung đứng lên ra chỗ tủ chè, mở một ngăn, lấy mấy tờ nhật
trình. Nàng đưa cho Phú mà hỏi:
- Ông đã đọc báo này chưa? ấy sau khi nhận được ông ở bên ấy
thì tôi vẫn muốn trao cho ông mà không biết nghĩ ra cách nào cả.
Phú cầm lấy một cách rất kính cẩn. Tờ báo ấy, khi mới về Hà
thành, chàng đã đi mua ở báo quán, và, sau khi đọc mới được ăn no ngủ yên. Vậy
mà bây giờ chàng lại đọc lần nữa một cách sốt sắng, và trên mặt cũng thấy như
hiện ra những cảm giác rất thành thực nữa.
- Bẩm, làm sao việc lại có thể xoay ra như thế này được ạ?
Trong khi Phú đọc, Dung dò ý tứ trên mặt Phú. Thấy như Phú đọc
lần này là lần đầu, nàng bèn sửa soạn lời cắt nghĩa ngay. Cho nên khi Phú hỏi,
tức thì nàng đáp trôi chảy:
- Tôi làm cho ông đi thoát như thế này thì...Ấy là bao nhiêu
tội đổ cả vào đầu lão lục sự và anh lính cơ. Sở dĩ việc xoay ra như thế vì cậu
tôi thương người. Nếu làm biên bản lên quan trên là ông vượt ngục thì tất hai
người ấy phải tù, lại hai gia đình nheo nhóc... Bất đắc dĩ cậu tôi, muốn gỡ tội
cho họ, phải tuyên ngôn với nhà báo đã tha hẳn ông ra.
- Bẩm thế chính quan huyện cũng không biết rằng cô dính vào?
- Biết thế quái nào được!
Phú ngơ ngác, vừa mừng vừa băn khoăn, một lúc lại hỏi:
- Bẩm thế cũng không có việc vượt ngục của tôi dính dáng tí
nào đến việc huyền chức của quan huyện nhà?
Dung lại đáp một cách tự nhiên:
- Việc gì! Huyền chức chỉ là vì vỡ đê, mà đê vỡ thì là tại sở
lục lộ chứ! Cậu tôi bị oan. Thật ra cậu tôi là một ông quan rất tốt.
- Vâng, quan huyện là người nhân đức, làm bậy chỉ là bọn nha lại
dưới quyền, họ láo lếu khi quan không có ở huyện...
- À, thế nào? Ông anh ông... Ông giáo gì đó, được tha về
chưa?
- Cảm ơn cô, anh giáo Minh tôi được tha hôm nọ rồi.
- Chắc là cô chỉ vì nghe quan huyện hỏi tôi mà nhớ. Cô nhớ
lâu thật.
- Vâng, ấy vì tôi nghe cậu tôi hỏi ông khi ông còn làm phu đắp
đê bị lính bắt vào điếm.
Đến đây hai người không tìm được ra câu gì mà nói nữa. Phú uống
chén nước, sợ mình ngồi quá lâu vội đứng lên:
- Bẩm, xin phép cô cho tôi cáo lui... Tôi đã được nói những điều
cần nói, được tiếp lâu, thế cũng là mãn nguyện lắm rồi... Cái ơn ấy tôi xin ghi
lòng tạc dạ. Và tôi yêu cầu rằng mai hậu có gì cần đến tôi, xin cô cứ dùng cái
quyền của một người ân nhân... Tôi được hội diện lần đầu, quý hóa quá, và tiếc
quá, vì chắc cũng là lần cuối cùng...
Phú nói đến đây thì cúi mặt ra vẻ buồn rầu, chàng chỉ mong
Dung mời đại khái: “Có thời giờ rảnh ông cứ sang chơi”. Nhưng Dung không nói gì
cả. Chàng đến lúc buồn rầu thật, bèn đứng lên:
- Kim Dung! Kim Dung quý nương, cái mỹ danh đáng kính trọng ấy,
tôi đã khắc hẳn vào tấm bia ký ức của tôi rồi. Tôi lại xin lỗi cô về chỗ đã hỏi
và biết rõ tên cô ở miệng một người khác... Thưa cô...
Dung cười vui vẻ:
- Được ạ. Cái đó không hề gì.
Đứng lên đã lâu rồi, Phú cũng chưa chào mà ra cho xong đi,
chàng cúi đầu nhìn mãi mũi giày lại nói:
- Hoài của! Giá dụ cô cũng là một bạn giai thì có phải hạnh
phúc cho tôi không! Thì tôi có được một người bạn quý!
Dung lại cười mà rằng:
- Sao ông ích kỷ thế? Sao không nói giá dụ ông là bạn gái để
cho tôi có thêm một cô bạn thì có phải hơn không?
Phú cũng cười, cãi:
- Nhưng nếu là bạn gái thì ắt chẳng diễn thuyết hiệu triệu
dân quê và xúi giục ai biểu tình, chẳng đến nỗi bị bắt.
- Ấy thế!
- Thôi kính chào cô ạ.
- Không dám, kính chào ông ạ. Ông quên chưa thu về cái giấy
biên lai đây này.
Ba tháng qua. Sau khi nước rút hết ra hoặc bị mặt trời hút
khô đi, thì này đây, hạn hán đã bắt đầu báo trước cái tai hại đáng kinh hoàng của
nó. ở ngoài đồng, ở trong làng, ở sườn đê, ở các gò đồng, ở bờ rào, ở chỗ nào
cũng vậy, chỉ là cái màu trắng xóa của đất phù sa. Cỏ chưa biết bao giờ mới kịp
mọc. Mặt đất phô ra cái quang cảnh trơ trẽn đáng giận như một người đàn bà mà lại
không có tóc dài trên đầu. Sự xúc phạm, sự phá hoại của nước lụt đã là đầy đủ.
Cây cối chết vì úng thủy, giơ thẳng lên không gian những cành khẳng khiu không
lá, như những cánh tay của bọn hành khất, trông rõ tang thương. Những bụi tre
chỉ còn gốc đã ngả ra màu củi khô. Bao nhiêu làng, bị lấy mất lđá tre xanh
trong lúc hộ đê, để phô ra những túp nhà lá điêu tàn, xiêu vẹo mà nước lụt điểm
ngang ở chỗ giữa vách. Người nghèo cố đào ngoáy xoay xỏa trên mặt đất cũng
không kiếm ra cái gì ăn được, ấy là đất tốt mầu vô cùng. Trong suốt một tỉnh,
chỗ nào cũng đầy ra những ăn mày, hoặc là trộm cướp tứ tung. Nhà nước ước chừng
số dân đói tổng cộng là hai vạn bẩy nghìn rưởi người. Trong một tháng trời, đã
có hai lần phát chẩn của ủy ban Cứu tế, mỗi lần một đầu người được hai bát gạo.
Mỗi lần có chẩn tế, bọn cùng dân lại kêu la rằng những đứa to đầu hơn họ - ý
nói bọn lý dịch vậy - đã ăn chặn mất của họ, vậy mà kỳ trung thì cũng chẳng người
nào được một bữa cho no nê!
Chính phủ có bỏ tiền ra cho dân vay để mua mạ cấy tái giá,
nhưng dân vay được chỉ là hạng có tư sản, ruộng ít ra cũng từ một mẫu trở lên.
Kẻ có một vài sào thì Nhà nước không cho vay tiền, - và giá có cho vay thì họ
cũng chẳng có cơm đâu mà chờ được cho đến ngày cày mạ thành cây lúa. Bọn dân
cùng ấy bỏ làng đi tha phương cầu thực, sẵn sàng giơ sống lưng và hai bàn tay
ra xin việc để kiếm mỗi bữa một hai xu, bất cứ việc gì cũng làm. Người ta thấy
trên những bước đường thiên lý hàng đàn hàng lũ những dân vong gia, trai tráng
mà đã gầy còm, hoặc già nua mà vẫn hăng hái, vừa đàn ông vừa đàn bà, kẻ liềm, kẻ
đòn gặt, đi xin việc ở những người không có thừa việc. Là vì trong cả một tỉnh,
đã hơn một tháng nay, trời không đổ xuống một giọt mưa. Cái số người được hưởng
kết quả của mạ cấy tái giá thì thật hiếm lắm. Hạn hán! Thật thế, trong khoảng một
trăm ngày thì, một nửa, cả tỉnh ủng sũng những nước, mà nửa về sau thì đất khô,
cỏ héo, ánh nắng mặt trời gay gắt thiêu đốt cỏ cây, vạn vật, để lộ cái trắng lấp
lánh trên mặt đất phù sa. Có làng chỉ còn một cái ao con, đã cạn đến đáy, chỉ
còn một vũng nước nhỏ, mà ăn đấy, tắm giặt đấy. Có khi ta trông thấy các giống
chim muông sã cánh, há hốc mỏ để cái lưỡi thè lè ở giữa, dáng điệu thất vọng vô
cùng, bay hàng giờ mà không kiếm được một giọt nước nào. Hai vạn tám nghìn người
đã đói trong ngót hai tháng trời trên mặt nước. Bây giờ hai vạn tám nghìn người
lại khát nữa, trên mặt đất khô, hoàn toàn đất khô. Trong bốn mươi ngày rồi! Nắng
tháng năm...
Mà tháng năm là tháng đóng thuế! Nhà nước, như một kẻ mù và
điếc, không trông thấy gì cả, không nghe thấy gì cả, bằng sự mẫn cán của bọn
quan lại, bèn muốn thuế má ổn thỏa trót lọt cũng như mọi năm... Công quỹ đã bỏ
ra ngót vạn bạc cho dân vay mua mạ. Như vậy, phải đóng thuế. Sự mẫn cán của các
quan lại đổ vào đầu bọn lý dịch. Bọn này cầu cứu đến tuần đinh, lính tráng,
lính lệ, lính khố xanh, lính cơ... Chạm đến đục, thế là những cảnh tượng thằng
thúc, dọa nạt, chửi bới, bắt trói, đánh đập, khóc mếu, cầm cố, bán chác, trốn
tránh... Cha bỏ con, vợ mất chồng. Và trộm cướp và án mạng, v.v... Những tấm thảm
kịch lục- cá- nguyệt lại diễn đi diễn lại và, lần này, bi thương thảm đạm hơn nữa!
Trống thúc ban ngày, mõ giục ban đêm. Đóng thuế! Đóng thuế! Nhưng mà dân không
có tiền! Cuộc chiến tranh giữa dân và bọn thu thuế thật là ghê gớm. Kẻ bại trận,
trong hàng lý dịch thì đành đem triện đồng trả quan trên. Nhưng không phải có
bao nhiêu lý dịch từ chức hết cả. Cho nên có rất nhiều kẻ bại trận trong hàng
dân đen. Cái điều dĩ nhiên, cái sự không thể tránh được là một khi dân gian đã
chết đói dở vì không tiền mà còn bắt họ phải chi tiền, tất nhiên họ phải kêu
ca. Người ta không thể làm cách nào khác, nếu không tụ họp nhau, bàn luận cách
đối phó với thuế má mà người ta coi như một cái tai vạ. Từng nhà một, người ta
họp nhau trên đường cái quan. Nhân lúc phong trào đình công và biểu tình đương
lan khắp ba kỳ, bọn dân bị lụt và bị hạn hán cũng làm một cuộc quần chúng vận động.
Giáo Minh đã sống chung những nỗi khổ của bần dân. Chàng đã ở làng với mẹ, giữa
hồi nước lụt, rồi nắng héo cây, gẫy cỏ, để thay cho Phú dạy học ở Hà Nội. Cụ Cử
có chừng năm sào ruộng xưa nay vẫn cho cấy rẽ cũng có đủ hột gạo ăn quanh năm.
Cụ không được Nhà nước cho vay tiền mua mạ cấy tái giá. Tuy vậy, khi nước rút,
Minh cũng có mua mạ. Nhưng trời nắng. Ruộng của mẹ chàng cũng khô nẻ cả, mạ đem
về đành để đun bếp. Thấy dân tình đói khổ quá, chàng bèn nghĩ cách cùng họ chiến
đấu trong vòng pháp luật...
Người ta thấy chàng lên tiếng biện bác hoặc bàn soạn trong
các đình làng. Người ta lại thấy chàng đi đi lại lại kiểm điểm cắt đặt cái lũ
sáu trăm con người đã xếp hàng hai dài trên con đường cái quan. Những người
làng cùng với Minh thì có từ anh Hai Cò, nghèo nhất làng, cho đến ông chánh Mận
giàu nhất làng, nhưng bị nước lụt và hạn hán phá sản. Ông lý trưởng đã đem triện
lên trả quan trên. Ông chánh hội đứng trung lập. Những người khác thì hùa nhau
theo số đông. Minh mừng thầm, thấy dân quê đã giác ngộ, đã khá hơn trước nhiều
lắm. Bữa ấy, còn bốn hôm nữa thì hết hạn đổ thuế. Thế cho nên những kẻ nào
không có gì là vật quý giá đem ra bán nữa, hoặc có mà bán không ai mua, hoặc
không được kết quả tốt trong cái sự cam tâm bán vợ đợ con, những kẻ đã trù trừ
mãi sau những buổi họp kín ở các đình làng, bèn quả quyết rủ nhau lên đường cái
quan...
Sáu trăm người! ấy là không kể những kẻ nhút nhát muốn đòi bú
mà không dám khóc, chỉ đứng xem dưới ruộng đất nứt. Minh, ông chánh Mận, một
viên chánh tổng, và ba viên cánh hội làng nào không biết, ấy đó, bộ tham mưu của
cuộc biểu tình đồng hành. Khi xem chừng không còn người nối đuôi vào cái đám rước
của những kẻ đói khát ấy nữa, bộ tham mưu chia tay nhau ra dặn bảo những khẩu
hiệu mà ai cũng phải hô, những lệnh mà ai cũng phải tuân theo. Được có người biết
phương pháp chỉ bảo cho, dân gian ai nấy vâng lời tăm tắp, nức lòng phấn chấn.
Thẳng tiến! Lệnh đi đã hô rồi. Sáu trăm người bị lụt và bị hạn ấy lên thẳng tỉnh
lỵ, vào dinh ông Công sứ đệ đơn xin khất vụ thuế tháng năm. Cứ hai người một
hàng... Những cái chân không dẫm đất lạch bạch cũng là một thứ nhạc binh hùng
vĩ. Hàng đầu là một ít đàn bà và trẻ con. Rồi đến những kẻ trai tráng, những
ông già. Đây là một bác khán thủ có nhà ngói, cây ít, mà nước lụt đã làm cho
điêu đứng trôi mất con, trôi mất nhà. Kia là ông lý cựu mà hạn hán đã làm cho
tiêu diệt nốt những cái lực mà ông cố gom góp được sau vụ vỡ đê. Nay người đàn
bà quần áo lôi thôi lốc thốc gánh hai đứa con bằng hai cái thúng, vì người chồng,
từ khi đi phu hộ đê, thì không thấy về nữa. Nọ là ông lão chưa được miễn thuế,
người đã có một đứa con chết cho Pháp quốc, và một đứa nữa, chết cho sự hành
hung của một ông tây đoan trong một cuộc khám rượu lậu ở làng... Trong sáu trăm
người ấy, người nào cũng có nhiều sự phẫn uất phải giấu kín và một điều muốn
kêu ca. Trong sáu trăm người ấy thì không mấy ai có một bộ quần áo lành lặn, và
tất cả đều có những nét mặt đau khổ, tê tái. Đạo binh những người thất nghiệp,
vong gia. Đạo binh những kẻ đói khát không sợ vào tù. Một đàn những con cừu biết
kêu to khi thấy người muốn cạo hết cả len, dạ. Giữa buổi trưa, trời nắng chang
chang...
Đạo binh bệ rạc rầm rộ cứ thẳng đường tiến bước. Khi đến đầu
tỉnh thì đã ba giờ chiều. Người hai bên hàng phố đổ ra xem đông. Những chiếc ô
tô hàng phải đỗ lại, bị nghẽn. Trong nháy mắt, cả một nơi tỉnh lỵ hơn ba chục
phố, dân gian xôn xao đón cái tin phi thường: Biểu tình! Hai tiếng ấy làm nao
nao quả tim của kẻ bàng quan. Nhà đương chức tưởng chừng như sắp có phiến loạn.
Một toán lính khố xanh chừng bốn chục người do một viên đại úy chỉ huy, ra đón
đường dân quê. Khi trông thấy lính, bọn này dặn nhau rằng sẽ quả quyết bước lên
trên sự đe dọa và khoanh tay lại để tỏ rõ cái ý muốn để nguyên trật tự. Một
viên đội khố xanh đứng dạng chân giữa đường giơ hai tay ra ngăn, thông ngôn cho
mấy câu gắt của viên quan Tây.
Những người đứng gần hàng đầu nhao nhao đáp:
- Chúng tôi là dân bị lụt đến tòa sứ xin khất thuế.
- Không được! Quay lại, không có quan trên sẽ ra lệnh bắn!
- A- lê Đờ- mi tua!... Hích...!
Dân biểu tình vẫn đứng nguyên chỗ. Ai nấy khoanh tay. Bốn chục
lính khố xanh lắp đạn vào súng lách cách. Bỗng thấy một lời hô to trong hàng
ngũ của dân quê:
- Anh em cứ khoanh tay mạnh bạo mà tiến! Có các tiền họ cũng
không bắn chết được ngần này con người.
Sáu trăm người như một con rết không bò trong một phút, lúc ấy
lại động đậy cái đầu. Viên đại úy hô:
“Phơ!”
Tức thì mấy chục tiếng súng nổ. Ai cũng giật mình nhưng không
ai ngã. Thì ra đó là súng bắn chỉ thiên mà thôi! Đám dân biểu tình, một phen hiểu
ra, lại càng phấn khởi. Người ta trông thẳng tòa sứ mà tiến, để lại bên đường
ông quan binh mặt đỏ gay gắt đương quát tháo bọn lính ngẩn ngơ...
Cổng tỉnh vượt qua, lính tráng cũng vượt qua được, cuộc thắng
thứ nhất ấy như là một cuộc toàn thắng chung kết, lần đầu tiên những cái tay
khoanh khoanh trước ngực mà lại chẳng chịu thua những cái súng trường. Khi dân
quê tụ họp đen nghịt cả cái sân tòa sứ thì lính tráng, và những ông phán hấp ta
hấp tấp, chạy ngược chạy xuôi... Hồi lâu mới thấy ông tổng đốc bước ra thềm đá,
mặt tái xanh lại như chàm đổ. Sáu trăm bàn tay nắm chặt, giơ lên cao. Sáu trăm
cái mồm nhất loạt, đều hô nhịp nhàng:
- Chính phủ Bình dân vạn tuế!
Ông tổng đốc bèn ngẩn mặt ra như người bằng gỗ. Cái lối chào ấy,
khẩu hiệu ấy, ông chỉ thấy trong các nhật báo nói về người Hà Nội, Sài Gòn, ở
những nơi đã văn minh... Bây giờ tỉnh này! Dân quê, thật ông không bao giờ lại
tưởng đến một cuộc cách mệnh như thế.
- Ởđâu kéo đến thế này? Biểu tình à? Đã có luật pháp nào dong
cho các người biểu tình? Có muốn ngồi tù không?
Ông tổng đốc nói hống hách thế xong để ngẩn mặt ra lần nữa,
vì sáu trăm cái mồm đồng thanh:
- Bẩm quan lớn, vâng! Sáu trăm người này đều cũng muốn ngồi
tù!
- Ờ thế các anh kêu xin cái gì?
- Chúng tôi là dân bị lụt và bị hạn hán, tình cảnh khốn khổ
quá đỗi, không thể đóng thuế được chỉ xin quan trên hoãn thuế! Hoãn thuế!
Quan tổng đốc khoanh tay ngẫm nghĩ trên thềm đá. Dân cũng
khoanh tay đứng đợi dưới sân. Hồi lâu quan tuyên bố:
- Được! Đơn xin đâu, đưa cả ra đây, bản chức nhận đơn!
Có chừng sáu bẩy lá đơn đưa lên tận tay. Quan nhìn thì lá nào
cũng đặc những chữ ký.
- Thôi, ta nhận đơn rồi để ta xét cho. Các người giải tán đi!
Ai về nhà người ấy!
Sáu trăm người nhao nhao:
- Bẩm xin quan lớn trả lời cho thì chúng tôi sẽ giải tán.
- À! Các người nhầm! Ta sẽ đưa đơn lên quan công sứ chứ ta
không có quyền. Để ta nói hộ cho.
Cứ giải tán đi.
- Bẩm dân chúng tôi chờ quan công sứ trả lời.
- Quan công sứ đi vắng.
- Bẩm thế chúng tôi xin chờ đây mãi, chờ khi nào quan sứ về.
- Tối hôm nay chưa chắc quan sứ đã về. Chờ vô ích.
Cả cái đám dân ấy lại cùng một câu:
- Thế thì chúng tôi xin ngồi lại trong sân này đến sáng mai.
Nói xong, sáu trăm người lặng lẽ ngồi xổm xuống sân tòa sứ, đều
đặn đến nỗi ta trông như một đoàn học sinh tập vận động, mà ngồi xuống khi nghe
thấy một tiếng còi, mặc lòng lúc ấy dân quê không ai thổi còi. Thấy tình hình
nghiêm trọng, quan tổng đốc cau mày, cắn môi... Rồi quay vào công đường, biến mất
sau một cái trấn phong vải xanh lơ. Mười phút sau quan tổng đốc cùng ra với
quan sứ. Trông thấy quan thủ hiến, sáu trăm người lúc ấy lại đứng lên với những
quả đấm giơ cao. Độ chừng mươi người chào bằng tiếng Pháp:
“Vive le Front Populaire!”
Kế tiếp những câu:
“Chính phủ Bình dân vạn tuế!”
cũng như lớp trước. Quan công sứ giật mình lên, tưởng như
đương ngủ mê... Ngài thấy cả xứ Đông Dương đã nhuộm màu đỏ, và người Pháp tưởng
chừng không ở được nữa! ấy đó, khi nước Pháp có ông Blum có ông Moutet, ông
Godart, thì lợi cho nước Pháp là như thế! Xưa nay ngài quen trông thấy người bản
xứ, nhất là dân quê, chỉ biết chào bằng cách thì thà thì thụp nếu ở trong công
đường, hoặc gập gẫy lưng vái dài, khi ở ngoài đường trông thấy ô tô quan
trên...
Vậy mà bây giờ họ hô khẩu hiệu bình dân, họ chào theo kiểu
cách mệnh! Tuy nhiên ngài cũng cố bình tâm nghe quan tổng đốc thông ngôn cái
nguyện vọng của đám dân biểu tình... Rồi ngài tuyên bố là chính phủ bảo hộ bao
giờ cũng săn sóc đến dân quê. Lời ngài nói uyển chuyển và trơn tru như nước chẩy,
lại có những cử chỉ mềm mỏng điểm xuyết vào nữa... Ngài tuyên ngôn là vì hết
lòng thương xót đến nông dân cho nên mới trích tiền công quỹ cho dân vay mua mạ
cấy tái giá, nay nông dân không thấy mưa thì nên lễ cầu đảo đi, chứ ngài cũng
không biết thế nào... Người dân có bổn phận đóng thuế. Chính phủ đã cho dân vay
tiền lúc vỡ đê nay dân nên biết giữ cho đủ bổn phận, đừng nghe bọn phiến loạn
nhà nghề chúng xúi giục, và không được phép hơi một tí họp nhau biểu tình như
thế. Lần này là lần đầu thì ngài tha cho, nhưng lần sau còn thế nữa, chính phủ
sẽ quyết thẳng tay trừng trị. Còn về nguyện vọng của dân thì ngài chỉ có thể
đáp rằng việc xin hoãn thuế đến vụ tháng mười thì để ngài trình lên quan Thống
sứ chứ ngài không có quyền. Ngài hứa sẽ hết lòng phân bầy mọi lẽ giúp cho. Tuy
nhiên vì việc cấp bách, thì ngài cũng rộng lòng gia hạn cho dân thêm nửa tháng
nữa để cho dân có thời giờ chạy tiền đóng thuế, cái việc đáng lẽ phải xong vài
hôm nữa thôi. Sau khi nghe quan tổng đốc tuyên ngôn rành mạch như thế, dân quê
tuy không được hoàn toàn hài lòng nhưng cũng không đến nỗi thất vọng. Một lần nữa
người ta lại chào theo kiểu bình dân. Trước khi ra lệnh cho sáu trăm con người ấy
giải tán đi, quan công sứ còn ngọt ngào tươi cười mà tuyên ngôn rằng dân biểu
tình nên chọn lấy một số người đại biểu phòng khi ngài có muốn hỏi han điều gì
hoặc là muốn truyền xuống dân gian thì tiện lợi nhanh chóng hơn cách tư giấy mà
theo phương diện cai trị. Tức là đám dân ấy tiến cử ngay bộ tham mưu của họ một
cách ngây thơ nhất đời. Sáu người đại biểu trong số đó có ông chánh Mận và giáo
Minh.
Họ tất cả độ chừng mười sáu, mười bẩy người ngồi quanh một
cái bàn dài và rộng, có la liệt những báo chí để rất hỗn độn. Trên tường thì ảnh
nhà lãnh tụ xã hội Jaurès, ảnh ông tổng trưởng thuộc địa đã ân xá chính trị phạm,
ảnh mấy nhà báo người Pháp đã từng có chứng cớ rằng có tâm địa tốt với dân Việt
Nam. Mấy cái tủ sách, một ít kỷ con, vài cái ghế mây thủng đáy, vài cái ghế gỗ
mà người ta ngồi không khéo thì ngã, và do thế, bỏ không tại một góc, ấy đó là
quang cảnh tòa soạn tờ báo Lao Động, một cơ quan ngôn luận bênh vực dân vô sản.
Ngần ấy người đang sửng sốt về cái tin giáo Minh, một anh em chính trị phạm được
ân xá, vì có dự vào một cuộc biểu tình xin hoãn thuế, mà bị ông công sứ tỉnh ấy
tư giấy mời lên tỉnh rồi cho bắt giam. Họ không ngờ ông công sứ ấy lại còn hủ lậu
như ở ba mươi năm về trước, và đã hành động trái với những lời tuyên bố của ông
thượng thư, của ông toàn quyền. Vừa mới tuần lễ trước, những người này đã vỗ
tay hoan hô và viết bài ngợi khen cuộc biểu tình bình tĩnh rất có trật tự của
sáu trăm Lãnh đạo đảng xã hội Đệ nhị Quốc tế ở Pháp, rất danh tiếng, bị ám sát
lúc nổ ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. dân quê ấy, cho rằng đó là một
dấu hiệu tiến bộ của nông dân trên con đường giác ngộ và chiến đấu... Bây giờ
thấy một người trong bọn bị bắt, họ tiu nghỉu một cách cay đắng như bị có người
chơi xỏ cho một vố đau. Cái ngạc nhiên của họ có điểm phẫn uất cho nên trong
khi bàn luận với nhau tìm cách đối phó họ cũng to tướng như trong một cuộc cãi
vã nhau vậy. Phản đối cho Minh thì bằng cách báo cáo cho những anh em đồng nghiệp
cùng chủ nghĩa, gửi điện tín cho phủ Toàn quyền biết sự phản kháng về những
chính sách hà khắc của quan địa phương v.v...
Quang dắt Phú vào giữa lúc người ta đương om xòm, người nào
cũng rất sốt sắng... trong sự bày tỏ ý kiến quanh một bài báo tổng công kích.
Người cãi rằng dùng chữ này thì mai hậu không sợ búa rìu của pháp luật tư bản,
kẻ muốn dùng một danh từ khác cho nó mạnh bạo hơn. Chỉ có dăm người bắt tay
Phú, còn người nào viết bài cứ việc cắm đầu viết bài, người nào xem báo cứ việc
xem báo, người nào nói cứ việc nói... Người ta kéo ghế mời Phú ngồi một chỗ bên
cạnh Quang. Rồi một người bỏ việc làm ra hỏi Phú về tin Minh bị bắt, về những
cách sinh nhai của gia đình Phú. Giữa đám bạn đồng học và đồng nghiệp cũ của
mình, Quang ngồi nghiêm chỉnh, lễ phép, để tỏ rằng công việc của chàng chỉ là dắt
Phú đến cầu cứu với nhà báo, chứ còn chàng thì chàng thừa rõ rằng cái địa vị
viên chức trung thành của mình, đã buộc mình phải sống trong một thế giới
riêng. Trong khi trò chuyện, Phú đã được dịp ngắm nghía kỹ càng những người mà
xưa kia chàng chỉ biết tên trên mặt báo. Chàng rất ngạc nhiên về chỗ những người
như thế mà lại làm nổi những việc như thế, vì lẽ trong cái số trên chục người ấy,
ai cứ trông bề ngoài thật quả có đủ hạng của tất cả các giai cấp: lao động,
thanh niên trí thức, con quan, con nhà giàu, du học sinh... Phú không hiểu sao
những người mà địa vị xã hội khác nhau lại có thể cùng làm việc cho một lý tưởng.
Bên cạnh một vài cựu chính trị phạm mà nét mặt đã được cái chế độ đồi bại của Côn Đảo, Guyane làm cho hóa ra thêm rắn rỏi, thêm cương quyết, mà quần áo thì hoặc xuềnh xoàng, hoặc lôi thôi lốc thốc, thì đó là những thanh niên tuấn tú có những nét mặt, cử chỉ, và âu phục tựa hồ như của bọn phong lưu công tử, tựa hồ sinh ra ở đời chỉ để biết có ăn và chơi, những tay cách mệnh cả đấy? Có thật thế không? Ấy Phú cứ muốn tự hỏi mình như thế. Chàng rất lấy làm lạ rằng một bọn người mà quần áo như để đi khiêu vũ - cái áo khoác ba chục bạc, cái mũ nhung một chục, những cái đồng hồ vàng chói lọi ở cổ tay - mà cứ hễ mở mồm là gào thét về đấu tranh giai cấp, đình công, vô sản bị áp bức, đả đảo tư sản, hộ vệ thợ thuyền, hay là để chửi rủa: trưởng giả, quan trường, phú hào, vân vân...
Bên cạnh một vài cựu chính trị phạm mà nét mặt đã được cái chế độ đồi bại của Côn Đảo, Guyane làm cho hóa ra thêm rắn rỏi, thêm cương quyết, mà quần áo thì hoặc xuềnh xoàng, hoặc lôi thôi lốc thốc, thì đó là những thanh niên tuấn tú có những nét mặt, cử chỉ, và âu phục tựa hồ như của bọn phong lưu công tử, tựa hồ sinh ra ở đời chỉ để biết có ăn và chơi, những tay cách mệnh cả đấy? Có thật thế không? Ấy Phú cứ muốn tự hỏi mình như thế. Chàng rất lấy làm lạ rằng một bọn người mà quần áo như để đi khiêu vũ - cái áo khoác ba chục bạc, cái mũ nhung một chục, những cái đồng hồ vàng chói lọi ở cổ tay - mà cứ hễ mở mồm là gào thét về đấu tranh giai cấp, đình công, vô sản bị áp bức, đả đảo tư sản, hộ vệ thợ thuyền, hay là để chửi rủa: trưởng giả, quan trường, phú hào, vân vân...
Vì lẽ lúc mới vào không có cuộc giới thiệu, Phú bèn hỏi người
tiếp chuyện mình về tên tuổi những người có mặt ở đây. Thì ra sau khi nghe người
nhà báo đọc tên một lượt, Phú mới nhớ ra rằng đây là bạn X. tú tài triết học,
viết Pháp văn rất có tài, trưởng nam của cụ tổng đốc trí sĩ N..., kia là bạn
M., du học sinh đã từng bị về cái bàn tay sắt của ông Chiappe, cảnh sát trưởng
Pariạ, đó bạn HV... cử nhân văn chương, bị trục xuất khỏi Toulouạe sau những cuộc
biểu tình chống đế quốc, đây nữa, anh T.Q. cựu học sinh trường Hoàng Phố, đã bị
năm năm tù vì xuất dương, vân vân...
Tóm lại một câu, những người ngang tàng, coi nhà tù là một
cái trường đào tạo nên những tay chiến sĩ của cái phần nhân loại bị bóc lột, để
chiến đấu với bọn có ở hai vai của mình những cánh tay lao động của người khác.
Phú hóa ra hổ thẹn về cái nông nổi xét đoán người theo hình thức của mình. Sự
tiếp xúc ấy gợi trong lòng chàng một thứ cảm giác mạnh nó sẽ không bao giờ phai
lạt được. Chàng chỉ còn chưa hiểu rằng vì lẽ gì mà bằng vào những câu tranh luận
của bọn người phức tạp ấy, đó là những Một thuộc địa nhỏ của Pháp ở Nam Mỹ. người
rất thành thực, đến nỗi có khi hóa ra cực đoan vì tín ngưỡng nữa, quốc tế cả
trăm phần trăm rồi chứ không có một tí nào là mập mờ, là nửa mùa, là lởn vởn
như lời buộc tội của phái phản động thực dân họ vẫn kết án cộng sản giả danh, với
quốc gia đội lốt quốc tế. Đến đây Phú lại phân vân tự hỏi mình cũng như nhiều
người mà quan niệm chính trị chưa được rành rọt: Phải chăng cái tư tưởng quốc
gia lại đáng rẻ rúng đi như thế? Sở dĩ có ý nghĩ ấy là Minh bị bắt giữa lúc xứ
này có một ông thủ hiến thuộc đảng Xã hội, liên bang này có một ông toàn quyền
cũng có chân trong đảng Xã hội, và Nam cũng như Pháp, lúc này ai cũng chỉ nói
bình dân với vô sản, giải phóng với tự do. Lâm thời, những tư tưởng quốc gia
trong óc chàng lại bồng bột cái bất bình về nòi giống lại sôi nổi. Chàng không
thể tưởng tượng được cái sự những kẻ sốt sắng đi đón rước những đại biểu của
Chính phủ Bình Dân, những kẻ hành động theo chương trình của Mặt trận Bình Dân
lại cứ theo nhau mà vào tù. Phú bèn đem cái phân vân của mình ra hỏi. Người trợ
bút báo Lao Động khoan thai phân trần:
- Cố nhiên những sự ấy là nguy tai lắm, chướng mắt lắm, nhưng
ta không nên đổ lỗi cho Mặt trận Bình Dân mà phải nhận rằng đó chỉ là sự phản động
của phe tư bản thuộc địa. Thế nghĩa là ta còn yếu lắm, ta còn phải chiến đấu nữa,
chiến đấu mãi mãi, mãi đến khi nào cái lực lượng của ta đủ chống đỡ cho những
nguyện vọng của ta. Trong cảnh ngộ này, có một điều rất khó nói, ấy là vấn đề
cái tín nhiệm giữa hai nòi giống. Họ chỉ sợ ta không thành thực cũng như xưa
nay ta vẫn sợ họ không thành thực. Thành thử chưa đâu ăn thua vào đâu mà chưa
chi hai bên đã phụ nhau rồi. Đã thế, phải làm thế nào cho họ tín nhiệm mình trước
đi đã! Làm thế nào? Có phải chỉ còn có một cách là mình cứ việc thành thực, cứ
bắt đầu nhượng bộ để làm tín nhiệm người ta trước đã, xem sao...?
Làm chính trị mà không thành thực, mà tư tưởng cứ quay như
chong chóng, thì không bao giờ đi đến được một kết quả tốt. Vả lại, cái mệnh lệnh
của Đảng hiện giờ là cứ việc tín nhiệm mà chiến đấu... chứ không được sợ vào
tù.
- Thế còn chủ nghĩa quốc gia?
- Cũng đáng kính trọng lắm nhưng phiền một nỗi là hiện giờ
thì chỉ có hại. Bạo động thì sức phản động ở đây sẽ ghê gớm vô cùng, sẽ có hại
vô cùng mà xã hội này sẽ bị lôi lùi lại như hai mươi năm về trước. Chúng tôi đã
thấy những người đã hiểu rõ chủ nghĩa xã hội lắm, nhưng mà chỉ vì thất bại
trong một cuộc chiến đấu mà quay ngay về cái phạm vi hẹp hòi của tư tưởng quốc
gia! Như vậy là hỏng! Chúng tôi thấy rằng dưới lá cờ của Mặt trận Bình Dân mà
anh em đồng chí cứ bị bắt hoài thì đó cũng chỉ là những sự thất bại của cá nhân
thôi, chứ đại thể vẫn là có thắng. Nếu cứ thế mãi thì từ bên chính quốc rồi
cũng phải có một sức phản ứng lại cái sức phản động phát xít ở đây. Mà lòng người
càng nhốn nháo thì cách mệnh càng có lợi. Vả lại, đủ tin thì cứ làm, chứ kể thắng
hay bại mà làm gì.
Phú cúi đầu ngẫm nghĩ. Sau cùng, nhà trợ bút nói:
- Thôi được, việc anh Minh thì chúng tôi có đủ tài liệu để viết
bài phản đối rồi.
Quang đứng lên, ra hiệu cho Phú làm theo. Phú cảm ơn người trợ
bút, bắt tay các ông kia một lượt. Khi chàng ra đến cửa, người nhà báo còn nói:
- Ta chớ vội phàn nàn! Lịch sử nhân loại chỉ là một tấn tuồng
luân hồi của chiến đấu. Vậy mà đi đến được có trình độ này thôi, loài người
cũng đã phải rỏ mất biết bao nhiêu máu đào rồi! Người khác há sinh đã nhiều mà
ta thì ta chưa há sinh được mấy. Dù sao mặc lòng, những sự há sinh và chiến đấu
của ta cũng vẫn chưa có nghĩa lý gì cả, chưa thấm thía gì cả! Thế thì ta đã đến
lúc có quyền phàn nàn đâu?
Phú ấp úng nói:
- Vâng... Chính thế đấy ạ.
Người ta lại bắt tay nhau một lần nữa. Khi đi khỏi tòa báo
Lao Động, Phú hỏi Quang:
- Ta về thôi chứ, hở anh?
Quang khẽ đáp:
- Phú đi chơi lung tung đi chứ về thẳng nhà ngay bây giờ thì
nguy! Đây kia kìa, có hai anh mật thám đứng rình mò kia kìa.
Phú nhìn sang bên kia hè. Phố xá lúc ấy đã vắng người mà sau
một gốc cây to, dưới một mái hiên tối, một người y phục trá hình ra như một bác
tài xế với một người nữa, y phục như vào hàng bồi bếp, vẫn đứng để nhìn sang
bên tòa báo Lao Động nhưng lại làm ra vẻ như đợi chờ một cuộc hẹn hò, khi biết
hai người này để ý thì hai anh chàng lảng đi. Quang bảo Phú:
- Ta nên đến một chỗ nào rất đông người, họ có theo dõi ta
cũng khó.
Một chốc, Quang lại nói:
- À! Ta đến Khai trí Tiến đức xem! Đêm nay là buổi diễn kịch
và khiêu vũ của tuần lễ Từ thiện!
-Phải đấy.
Hai người đi lên phía hồ Hoàn Kiếm, thỉnh thoảng lại quay
nhìn về sau lưng, nhưng thực thì không bị ai theo dõi cả. Dọc đường, Phú bảo
Quang:
- Thưa anh, tôi xin phép anh mai tôi về làng.
- À, điều ấy tôi cũng đã nghĩ rồi. Mà chắc là chú còn lâu lắm
mới lại ra đây được, vì hiện giờ chú không thể để cụ ở làng một mình được. Cho
nên tôi đã bảo nhà tôi đi thu tiền học trò ngay cho chú để mai thì chú có một số
tiền đem về nhà.
- Cảm ơn anh, anh chu đáo lắm.
Một lúc, Quang lại nói:
- Còn việc anh Minh đấy thì cứ để anh em làm xem sao. Sự đã xảy
ra mất rồi, còn gì! Tôi chắc nặng lắm thì cũng chỉ đến sáu tháng.
- Tôi cũng tưởng thế đấy. Mà chắc là đẻ tôi buồn lắm. Anh
tính, ở tù bảy tám năm mới được về mà rồi lại vào tù ngay!
- Làm thế nào được!
Từ đây hai người không nói gì nữa, ai cũng bận trí về những nỗi
băn khoăn riêng. Chẳng mấy lúc, hội quán Khai trí Tiến đức đã hiện ra trong một
vòng hào quang chói lọi ở trước mặt. Phú bảo Quang:
- Thôi, họ không theo ta thì ta cũng chẳng vào trong ấy làm
gì, thêm tốn tiền.
- Thì ta đứng ngoài ngắm thiên hạ một lúc đã.
Cả hai bước chân lên cái thềm tam giác len vào lẫn với đám
giai thanh gái lịch họ chen vai thích cánh nhau để tranh nhau cái chỗ có ánh
sáng như một đàn thiêu thân. Những chiếc xe hơi kiểu tối tân đỗ một dãy dài ở
ven hồ chứng thực rằng đêm nay, có mặt tại chốn này là cả cái Hà thành trưởng
giả. Trước cửa hội quán, những lá cờ Nam và Pháp, những bóng đèn điện ngũ sắc
và lá gồi, và hoa giấy tưng bừng đón chào sự trụy lạc phong lưu. Máy phóng
thanh hát ra một bài ca của Tino Roạại. Trước khi vào, một đám thanh niên nam nữ
còn dang tay nhau đứng bên ngoài gõ gót giày xuống đất, vui vẻ trẻ trung mà hát
theo. Hết bài, sóng điện để nổ những tiếng ục ục rồi máy phát thanh lại ném ra
một bài ca khác mà một tài tử cất giọng ồ ồ hát cái bài vẻ của Raoul Ponchon
trong cuộc ngưỡng mộ những cái uốn éo khỏa thân của bọn vũ nữ Folies Bergères:
ôi les femmes n'avaient pas de fesạeạ. Qu'est- ce Que nous ferions de nos
mains? Pauvres humains? Quang cười sặc sụa:
- Ấy cái tự do của tiến bộ văn minh là như thế.
Rất ngạc nhiên, Phú cau mày hỏi:
- Đĩa hát mà lại đến thế nữa kia à?
- Chứ gì! Bao giờ cái nghệ thuật của bọn trưởng giả lại không
có tính chất dâm ô một chút?
- Gớm! Hôm nay ở đây làm gì mà họ đến đông thế này?
Quang giơ tay chỉ lên trên cao, Phú nhìn lên thấy những tấm vải
trắng có những Một rạp nhảy múa lõa lồ ở Pháp. Nếu những phụ nữ không có mông,
thì chúng ta sẽ dùng tay để làm gì? Khổ thân những con người!
Những chiếc xe cao su từ bốn phương rầm rộ chạy lại đây hoặc
là từ đây hăm hở kéo đi bốn phương. Trên xe có những thanh niên áo trắng áo đen
trông như những con quạ khoang, có những thiếu nữ mà y phục tối tân có khi nhã
nhặn, có khi nhố nhăng hết sức, lại có khi để hở da thịt như những sự khiêu
khích. Một số thiếu nữ mặc quần ngắn short và dùng băng buộc vú, để hở những chỗ
tròn tròn có thể khiến người đứng đắn nào cũng muốn đem dùng hai bàn tay. Người
ta đội vào đầu những vòng hoa khổng lồ. Con giai cũng đánh phấn, bôi môi. Họ cứ
thế mà đi diện các phố, coi những cái mặt vẽ nhọ bôi hề ấy là một thứ bằng sắc
danh dự. Người ta ném hoa giấy lung tung. Ai cũng chỉ có một mục đích: kiếm ái
tình. Mà cuộc dạ hội chỉ là một cớ cho những vụ ngoại tình, thông dâm, mãi dâm,
của một bọn người đi làm một việc nhân đạo trong một xã hội nhân đạo. Quang bảo
Phú: - Nếu không được chim chuột nhau tự do, không được ôm nhau mà nhẩy, thì
cái bọn người này không bao giờ lại nghĩ đến đồng bào bị lụt. Mỗi khi có một
tai họa gì cho xã hội thì cái bọn đáng thương này lại có một dịp thỏa thích để
ăn, chơi và dâm. Phú buồn rầu nhớ ra rằng mẹ ở nhà đã từng phải ngửa tay nhận
vài hào chỉ của cái thứ tiền làm phúc ấy. Chàng như lại trông thấy quang cảnh
tòa soạn của nhà báo Lao Động trong đó người ta quên cả mọi cách hưởng thụ cuộc
đời, thức suốt đêm để làm những việc sẽ dắt tới nhà tù, hay đến bệnh ho lao. Bất
thình lình, chàng hiểu rõ cái nghĩa lý sâu xa của chữ “trưởng giả” với tất cả
những sự suy đốn của phái người ích kỷ ấy. Hai người rủ nhau rẽ sang phía bên tả
để về bằng lối phố Hàng Trống. Chợt Phú trông thấy một thiếu nữ đứng giữa mấy
thiếu nữ mặc quần đùi và một tụi con giai công tử bột... Quả tim chàng đập mạnh:
đó là Kim Dung. Giữa một chỗ ăn chơi, bọn trẻ tuổi ấy đương mở mồm nói chuyện
“làm việc xã hội”. Kim Dung ăn mặc rất chải chuốt, nói cười rất vui vẻ, cử chỉ
rất tự nhiên. Nàng được mọi người nhìn, ném hoa, nói bông, như một cô gái đẹp ở
giữa một chỗ mà cái gì cũng là tự do hết sức.
Bỗng đâu Phú tỉnh ngộ. Một người như Kim Dung đó không phải
là sinh ra để cho sự mơ mộng hão huyền của chàng. Cái địa vị của hai người lúc ấy
nó rõ rệt quá. Phú đau đớn tự nhủ mình:
- Trừ phi ta có mù lòa thì ta mới không thấy rõ sự bất bình đẳng
ấy.
Khi Phú về làng thì ba phần tư người làng đã bỏ làng đi từ
bao giờ rồi. Chàng buồn bã lắm, thấy thổn thức muốn khóc khi đi qua những túp lều
gianh bị bỏ hoang, về làng mà tưởng chừng như một mình lạc bước trong rừng sâu.
Tuy vậy, chàng cũng được yên tâm khi thấy mẹ không đau đớn vì Minh bị bắt, như
mình đã lo sợ. Bà Cử chỉ buồn rầu qua loa thôi. Phú hơi ngạc nhiên về chỗ ấy,
không hiểu rằng đến lần thứ nhì thấy con lại bị bắt, người mẹ, vì quen đi nên
chẳng còn đủ sức đau đớn như lần thứ nhất nữa. Cô Tuất với đứa con vẫn ở bên họ
nhà chồng. Phú đã sang thăm ông chánh Mận để hỏi tin tức về người anh. Ông này
cũng bị quan trên đòi hỏi song may lại không bị bắt. Chính phủ cho ông chỉ là một
kẻ a dua nghe theo những kẻ phiến loạn nhà nghề. Mà trong số những kẻ phiến loạn
nhà nghề ấy chỉ là một mình giáo Minh, với cái chức nguy hiểm là cựu chính trị
phạm. Ông chánh Mận ra ý vui vẻ được vô can, và nhất là sau này thì không còn sự
kiếm chuyện của viên lại già ở huyện nữa. Ông vẫn nhắc đến việc hỏi cô Tuất.
Minh đã nhận hết mọi tội. Phú đành ở làng. Dân vẫn cứ đói. Họ vẫn phải bỏ làng,
bỏ những túp lều gianh mà nước lụt đã đánh dấu ở lưng chừng các vách, hay là đã
đánh lở vách xuống cho hở xương tre ra. Không đào đâu ra được thứ gì bỏ vào mồm,
họ dỡ nhà xuống chặt thành củi, đem bán rong hoặc đem đến chợ.
Nhưng mà chỗ nào thì cũng có nhiều người bán hơn là người
mua. Họ bán củi và đi ăn mày - một lúc làm cả hai nghề. Vì rằng chỉ có một số rất
ít người nhiều ruộng là được chính phủ cho vay tiền mua mạ cấy tái giá. Cho nên
ngày ngày, cứ từng tốp hàng ba chục năm chục, hàng trăm, dân quê lại vẫn cứ kéo
nhau lũ lượt đi lang thang trên con đường thiên lý, với những cái chiếu rách ôm
cạnh nách, với những cái khăn tay nải ở sau lưng. Nhiều người gánh hai cái
thúng, trong mỗi thúng, có một vài đứa bé, trong mỗi đứa bé có vài ba ngày đói
khát. Mặt trời đã mọc trên một quang cảnh thương tâm như là chưa bao giờ loài
người đã trông thấy như thế. Trong làng mạc cũng như ngoài đồng áng, đâu đâu
cũng có dấu vết của điêu tàn. Sau trận lụt thì vẫn cứ nguyên là hạn hán mãi,
cho nên cỏ chưa kịp mọc. Các bờ ruộng bị san phẳng, các đường lối bị phá phách
vì phù sa hoặc cát già, trong khi theo nước mà lùa vào, đã bồi cao những chỗ thấp,
hạ thấp những nơi cao. Những cây cau bị thối mất rễ, đã nằm xuống một lượt. Những
cây chuối thì bói cũng không thấy nữa. Chỉ những cây đã to hàng ôm, đã sống
hàng thế kỷ như cây gạo, cây đa, cây muỗm, cây ôi là còn sống nổi theo luật
thích giả sinh tồn. Tuy nhiên những rặng tre là ngà, chung quanh các làng, cũng
vẫn sống sót, với những lá úa, những cành khẳng khiu.
Việc gì cũng là vào lúc bắt đầu làm, hay là phải làm lại. Đó
là một cảnh não lòng, khi ta trông thấy một vùng quê mà màu đỏ của đất, màu nâu
của bùn lầy, lại nhiều hơn màu xanh của cỏ, cây. Phú ngừng tay cuốc đất để lau
mấy giọt mồ hôi ở thái dương. Chàng vui mừng khi thấy cái vườn rau của mình đã
có nhiều màu xanh của rau đậu. Rồi chàng ngao ngán mà nhận ra rằng đã phải
trông thấy cái cảnh chết bên ngoài hàng rào, ở chung quanh làng, nghĩa là cái
khổ sở của người khác thì chàng mới thấy được cái sung sướng ích kỷ ấy. Trong
thời kỳ Minh còn ở nhà, Minh đã biến cái vườn hoang ra một miếng đất có hoa lợi.
Minh đã giồng cà- rốt, xu- hào, bắp cải, đậu ván, đậu Hòa lan. Sau cái bể nước
trước kia chỉ có vài cây rau xương xông, thì nay đã là giàn mướp rườm rà, quả
đã to bằng những ngón tay trỏ. Bỏ việc dạy học, về làng với mẹ, Phú đã theo đuổi
các công việc của anh...
Hoa của đậu Hòa lan, mầm của cà rốt đã cao một ngón tay, những
củ xu hào đã nhỉnh bằng những hòn bi ve, với những ngành lá lêu nghêu ở xung
quanh làm cho chàng yên tâm rằng đến vụ rét thì không phải sợ đói nữa. Lúc ấy
bà Cử đương bưng nồi khoai nước ra để ở cửa bếp, cầm đũa gắp khoai khỏi nồi nước,
hơi bốc nghi ngút để bỏ vào một cái rổ. Phú nghĩ đến những bữa ăn đầy cao lương
mỹ vị ở nhà ông tham Quang, chàng lẩm bẩm:
“Về làng là phải lắm, chẳng đáng ân hận”.
Trông thấy mẹ mặt mũi vêu vao vì sáu tháng đói khát, quần áo
rách rưới một cách thảm hại, Phú giật mình nhớ đến những bà lão ăn mày mặt mũi
cũng thế, quần áo cũng thế hằng hà sa số ở các phố của Hà thành và đi đến đâu
cũng bị hắt hủi xua đuổi... Thì ra đi ăn mày là sự không khó gì lắm cho bất cứ
một ai! Bất thình lình Phú cảm thấy một cách sâu xa cái đểu giả của loài người,
sự chó má của xã hội. Chàng bất bình như là đã trông thấy chính mẹ mình phải đi
ăn mày. Một lần nữa cái lòng hiếu lại tìm thấy một tiếng vang ròn rã trong trí
nghĩ người thanh niên đương oán giận cảnh ngộ, đương nhớ tiếc Hà Nội với những
sự cám dỗ ghê gớm, với mọi cái mơ mộng điên rồ, với Kim Dung...
Thật thế, Phú đã buồn bã tưởng chừng như không sống nổi nữa.
Chàng đã từng ghen giận cả đêm với Hà thành, với những cái phồn hoa đô hội nó
đương cướp mất của chàng một thiếu nữ đẹp đẽ mà chàng muốn yêu, mà có thể cũng
được yêu, cái đó cũng không biết đâu. Phú đã toan mượn cớ đi Hà Nội vay tiền
ông tham Quang để tìm cách trông thấy mặt Kim Dung cho khỏi nhớ, để đánh bạo mà
ngỏ cái tâm sự đau khổ. Đã cứu chàng thoát chết, lòng tự ái được phỉnh nịnh hết
sức rồi, Kim Dung biết đâu lại không đem lòng yêu chàng, biết đâu... Phải, biết
đâu! Nhưng mà lần này, hình ảnh tiều tụy của người mẹ đã đau khổ suốt đời, gợi
ra trong trí não của người con một vấn đề lương tâm. Phú hoàn toàn tỉnh ngộ.
Chàng tự nhủ:
“Kim Dung là cháu một ông tổng đốc, con gái yêu của một ông
huyện, một hoa khôi của các cuộc chợ phiên. Còn mình, mình chỉ là một anh dân
quê, phải chân lấm tay bùn thì mới khỏi chết đói. Mình là con một bà Cử, nhưng
mà một bà Cử không có xu, nghĩa là cũng có thể một ngày kia phải đi... ăn mày!”
Chàng ngừng lại một lát, đau đớn rồi lại nghĩ:
“Có thể phải đi ăn mày, thật thế!”.
Đến đây, cụ Cử lom khom bưng cái mâm gỗ có mấy cái bát khoai
nước và một chén muối vừng, từ bếp lên nhà trên. Cụ yếu lắm nên vừa đi vừa thở ỳ
ạch loạng choạng. Phú vội chạy ra đỡ lấy:
- Đẻ đưa con bưng lên cho!
Bà mẹ đưa ngay, hổn hển nói:
- Con cũng liệu nghỉ tay mà ăn cơm thôi. Làm từ sáng đến giờ
thì cũng đói rồi chứ còn gì!
Phú bưng mâm vào nhà, bà mẹ cũng theo vào. Bên ngoài, trời
đương nắng bỗng rợp, rồi bỗng tối sầm lại. Thêm vào cái mát mẻ buổi sáng, gió
heo may dìu dịu đem cái hơi lạnh dễ chịu của ngày hạ tàn. Cụ Cử vừa phủi áo cho
sạch bụi vừa nói:
- Hôm nay lập thu rồi đây.
Bỗng ngoài ngõ có tiếng chân dẫm đất lạch bạch. Phú nhìn ra,
đó là ông chánh Mận. Từ độ lụt lội và hạn hán đến giờ, ông này không còn nổi lấy
đôi giày mà đi như xưa. Từ địa vị tư sản, ông đã rơi vào cái hố vô sản, có khi
lại khổ hơn vô sản nữa. Ông chào cụ Cử, đưa cho Phú một tờ báo. Phú vội giở ra
đọc rồi mừng rỡ mà nói với mẹ:
- Đẻ ạ, anh Minh chỉ bị có năm tháng tù!
Bà mẹ cũng mừng rỡ hỏi lại con:
- May nhỉ! Chỉ có năm tháng thôi à?
- Vâng mà bị bắt hai mươi hôm rồi, thế là chỉ còn có hơn bốn
tháng!
Bà mẹ lại nói:
- Năm nay có tháng tư dư, thế nghĩa là anh Minh mày cũng được
về nhà ăn Tết. Ông chánh Mận nói:
- Thưa cụ, như báo đăng, thì ra bác giáo cháu cũng chẳng buồn
chống án lên tòa trên nữa, mà như vậy có lẽ là phải.
Phú cười mà rằng:
- Thật thế, vì có khi chống án mà lại bị xử nặng thêm lên.
Cụ Cử mời đùa:
- Ông chánh xơi cơm với tôi nhân thể nhé!
- Thưa, xin cảm ơn cụ, cháu vừa ăn xong thì sang ngay đây...
Nói xong, cụ Cử cầm rổ đậy lên trên mâm cơm. Phú rót nước mời
khách. Ông chánh Mận ngồi suy nghĩ một lúc rồi hỏi:
- Thưa cụ, thế việc cháu xin cụ thì cụ đã để ý cho chưa?
Cụ Cử ngồi xuống giường nghiêm trang để đáp lời cho một câu hỏi
hệ trọng:
- Thôi thì nói gần nói xa, chẳng qua nói thật!
Tôi đã thưa với ông rằng việc ấy là tùy cháu. Giời sinh ra thế,
cha mẹ chỉ gả chồng cho con có một lần thôi... Đáng lẽ ra thì cháu nó muốn ở vậy
thờ chồng nuôi con kia đấy... Nhưng mà đến khi anh giáo nó được tha về thì anh
nó mới lại khuyên nó, thì nghe chừng con bé cũng đã nghe ra. Ông cứ việc sửa soạn
đi kiếm lá trầu ra đình đi thì vừa. Còn tôi, việc rổ rá cạp lại, xin thế nào
cũng xong. Nhưng mà tưởng giá chờ đến lúc anh Minh nó được tha nữa thì có lẽ
hơn. Ông chánh Mận sung sướng đỡ lời:
- Bẩm cụ dạy chí phải!
Phú nhìn ra sân, nói:
- Tôi tưởng chả cần phải đợi đến lúc anh Minh được ra. Cứ lo
cho xong chuyện đi có hơn không? Sớm ngày nào hay ngày ấy chứ! Vả lại, đã lấy
chồng đến lần thứ hai thì còn long trọng quái gì nữa mà phải đợi với chờ!
Vốn là người ba phải, ông chánh Mận lại nói:
- Cậu nói cũng chí lý lắm.
Ngoài sân, lá khô bay tung lên. Trời bỗng tối mịt. Một vài hạt
mưa lộp bộp rơi xuống. Mưa! Đã mấy tháng trời, trận mưa này là trận đầu! Ông
chánh Mận không biết chừng vì mưa hay vì hỏi được cô Tuất, mà cũng bắt chước
Phú vừa nhảy vừa reo:
- A! A! Hay quá! Sướng quá!
Cụ Cử phê bình:
- Lịch tầu thế có đúng không!
Thôi lập thu mà thuận ngâu thế này thì là được mùa tháng mười.
Phú nói:
- Chứ không lẽ giời cứ để chết người ta mãi!
Chợt ông chánh xin cáo:
- Thưa cụ, chỉ có thằng bé cháu ở nhà, tôi không về thì mấy
thứ ở sân hỏng hết mất! Thôi, tờ báo cậu cứ đọc, bao giờ tạnh mưa mời cậu sang
chơi. Chào cậu, lạy cụ ạ!
Chào xong, ông chánh lật tà áo dài lên che đầu, vén quần lên,
ra khỏi ngõ thì chạy thẳng một mạch.
Gió thổi ào ào. Trời đen nghịt những nước, loạn xạ những sấm
sét mưa to. Phú bỏ tờ báo, ra đứng tựa cột tre, nhìn ra sân. Trên mấy cái ống
máng làm bằng thân cây cau bổ đôi, nước chảy vào bể như suối. Dưới thềm nhà, chẳng
mấy lúc đã có một rãnh nước lênh láng. Phú sung sướng vì từ hôm nay mỗi sáng sẽ
không phải ra tận vực đầu làng mới lấy được vài gánh nước về tưới rau. Cụ Cử giục
chàng đi ăn cơm nhưng vì trong lòng vui vẻ quá, không thấy đói nữa, Phú mời mẹ
cứ ăn trước. Chàng lại cầm lấy tờ nhật báo. Ngoài tin về giáo Minh bị kết án, tờ
nhật trình có rất nhiều tin quan trọng. Khắp xứ Đông Dương, chỗ nào cũng đình
công, cũng biểu tình. Bên âu châu thì tình hình quốc tế càng ngày càng găng. Việc
Tây Ban Nha nổ bùng ra to, nhiều cường quốc nhảy bổ vào đâm chém. Thế giới chia
ra hai phái của hai tư tưởng rõ rệt cộng sản chiến với tư sản, quốc tế chống với
quốc gia. Chỗ nào cũng nổi lên phong trào bình dân đương đầu với quân phiệt.
Tuy vậy ở Bắc Kỳ, nhà cầm quyền vẫn bắt giam các nhà viết báo đòi mọi cái tự do
dân chủ như thường. Phú liên miên nghĩ đến những người vì nhân đạo mà chịu đựng
đủ tất cả các điều khổ sở. Chàng như lại thấy hiện ra trước mắt cái quang cảnh
tòa báo Lao Động, với những tay thanh niên hăng hái, con quan, con nhà giàu sẵn
lòng vào tù vì cái nghĩa cả đối với tư sản, với bình dân.
Phú lại hổ thẹn vì mình đã bỏ chí phấn đấu vì một cái mộng tưởng
tình ái hão huyền, trong khi những người thừa tư cách mê gái, thừa tư cách đi
nhảy đầm với Kim Dung, lại chỉ vùi đầu vào làm những việc để phụng sự cho cái
giai cấp của Phú. Chàng lại như nhìn thấy rõ Hà Nội với bao nhiêu cái hưởng thụ
ích kỷ của bọn trưởng giả, bao nhiêu cái đồi bại của phong tục nó làm tiêu mòn
mất chí khí của một số đông nam nữ thiếu niên. Trời vẫn mưa to. Bể nước đã đầy.
Nước mưa thừa đã giàn giụa chảy ra ngoài thành bể. Hạn hán như vậy là hết, thật
hết! Mai kia, cỏ sẽ mọc tươi tốt ngoài hàng rào, nụ non sẽ hé miệng trên cành
khô. Nước đã đem hạnh phúc xuống cho đất: ruộng nương, đồng áng xưa kia nứt nẻ,
bây giờ đã chan chứa hy vọng. Chim muông sẽ chẳng phải sã cánh, thè lưỡi khô, để
tìm một giọt nước sau hàng tiếng đồng hồ. Những cảnh vừa vo gạo, vừa giặt quần,
giặt váy, vừa tắm, ở những vũng ao tù còn có một ít nước đen ngòm những bùn, hẳn
không có nữa. Xong bữa, bà mẹ đứng lên nói với con:
- Thôi, khá đấy, con ạ. Thế này là thuận ngâu.
Phú ngẫm nghĩ về tương lai, về mọi sự vật chất của cuộc đời
nó sẽ làm tăng giá trị cho con người. Chàng thấy không phải lo gì nữa, chỉ ít
lâu nữa, anh Minh sẽ mãn hạn tù. Mai đây chị Tuất về với ông chánh Mận, thôi
thì cũng là yên phận. Nghĩ đến đấy, chàng nhớ đến thằng cu Hiền, đứa cháu kháu
khỉnh mà chàng đã từng ẵm bế, hôn, hít suốt ngày. Chưa đầy ba tuổi! Bồ côi! Mẹ
lại sắp cải giá! Vũng nước ở sân hợp vào rãnh nước trước thềm nhà. Bây giờ thì
lại nhiều nước quá. Nhìn những bong bóng phập phồng hết nở lại tan trên mặt nước,
nhớ đến đứa cháu, Phú tựa lưng vào cột tre khẽ ngâm một giọng buồn rầu: Giời
mưa bong bóng phập phồng, Mẹ đi lấy chồng con ở với ai?.
1936
Tựa
Ai đã từng đọc qua sách “Cạm bẫy người” chắc cũng nhận thấy rằng
ngòi bút phóng sự của ông Vũ Trọng Phụng đã nói tới một độ rất cao trong nghệ
thuật. Không những ngòi bút ấy đã ghi được sự thực, lại còn ghi được cả cái thực
trạng của sự thực nữa: ghi được cái trạng thái biến hiện trong chớp mắt, cái trạng
thái phức tạp hỗn độn và bình dị linh hoạt của sự thực hàng ngày xô đẩy quanh
mình. Nếu phải giới thiệu với quốc dân thiên “Kỹ nghệ lấy Tây” về phương diện
phóng sự, thì tài nghệ của tác giả trong những tác phẩm đã nói trên kia đủ làm
đảm bảo chắc chắn rồi. Cuốn sách này, tôi không muốn chỉ coi là một thiên phóng
sự. Tôi muốn đặt nó vào hàng những công trình có ảnh hưởng xa rộng hơn, những
công trình có thể vạch phương hướng cho văn nghệ, những công trình giúp được
tài liệu cho đời sau khảo xét về buổi này. Buổi này là một buổi hy sinh. Đời
chúng ta chỉ là một độ đường phải qua, một số năm, tháng phải phí để đi đến một
tổ chức, một trật tự mới. Vừa ở thế giới cũ bàng hoàng bước sang thế giới mới,
chúng ta tuy vẫn hành động, vẫn tiến thủ, nhưng chỉ là thử đất dò đường, đi hết
thí nghiệm này đến thí nghiệm khác, chưa đặt được căn bản vững cho cuộc sinh tồn.
Cái căn bản ấy, phải xây đắp nên được là công cuộc của thời gian. Trong khi chờ
thời gian ta chỉ gọi là sống một cuộc đời bơ vơ trôi nổi. Cuộc đời “hy sinh”
này gây cho ta nhiều điều bi phẫn, nhưng, đứng vào phương diện một nhà cầm bút,
thì buổi đời lại mở ra được nhiều đất mới để vun trồng tài nghệ. Nước ta hiện
đương sống một cuộc đời biến đổi lạ lùng, không có hai trong lịch sử. Chỉ trong
vòng ngoài năm mươi năm, bao nhiêu lề thói, bao nhiêu tư tưởng, bao nhiêu hình
dạng của bốn nghìn năm phải phá huỷ đi gần hết. Vậy hiện tượng của cuộc biến đổi
ấy như thế nào, sức xung đột của Đông Tây ảnh hưởng vào đời vật chất và tinh thần
của xã hội ra sao, há chẳng là những điều nên mô tả ra cho đời sau được biết ư?
Được cái vinh dự sống trong một thời cục độc nhất của lịch sử, nhà cầm bút há
chẳng nên tiến thẳng vào trung tâm thời cục mà tìm tòi, xem xét, suy nghĩ, ghi
chép những sự trạng người trước chưa ai gặp thấy, những sự trạng người sau
không thấy nữa, những sự trạng chỉ riêng mình được mục kích mà thôi? Ở buổi
giao thời này, nhà cầm bút không nên phí thời giờ đem tài nghệ ra phụng sự cho
những vấn đề đời nào người ta cũng có dịp nghĩ đến, những vấn đề “thiên cổ” làm
thắc mắc tâm óc của nhân loại những tự xưa rồi. Công việc ấy là công việc đời
thái bình. Bây giờ nhà cầm bút đương đứng làm chứng cho cuộc tàn phá xã hội cũ,
và xây đắp xã hội mới, phải nghĩ thuật lại cho đời sau biết một vài trong muôn
nghìn công cuộc hoặc đã gây nên thời cục, hoặc ở trong thời cục mà ra. Tôi
riêng nghĩ về bổn phận người cầm bút bây giờ là thế, chắc ý kiến không khỏi có
chỗ sai nhầm hoặc sơ lậu. Nhưng tôi cũng đánh bạo viết ra đây, vì tôi cho rằng
cuốn “Kỹ nghệ lấy Tây” đã đưa tác giả vào con đường bổn phận theo như tôi hiểu.
Mong rằng cuốn sách này, quốc dân sẽ không hoan nghênh nó như hoan nghênh những
cuốn sách đọc tiêu khiển trong nửa giờ.
Nam Định, 25 Mars 1936 Phùng Tất Đắc
Nhà bà bán hàng nước ấy đã bắt đầu run…
Trước một cơn thịnh nộ vô nghĩa lý của một kẻ sức lực hơn
mình, tôi vội phải đứng ngay lên và lùi mấy bước để giữ thế thủ. Giữ một cách kể
cũng hèn, vì cái thế mình đúng là mình không dám để lộ, mình vẫn cứ phải làm
như chỉ nhượng bộ, và sợ sệt, và khuất phục nữa, vì sợ cái thế thủ của mình
cũng đủ khiêu khích cho bên địch lại càng khởi thế công!
Những lời doạ nạt vẫn không thôi hắt vào mặt tôi như một cơn
mưa nặng hạt:
- Phải! Một trăm thằng thì đều lấy cớ là đến du lịch cả trăm.
Nhưng bọn chúng ta không còn ai lạ gì! Cái đất Thị Cầu này vẫn là chỗ để cho bọn
trẻ tuổi nhàn cư đến ăn trộm ái tình hoặc giở giói những thủ đoạn hèn mạt khác,
bọn người bản xứ khốn nạn ấy thường cũng có những bộ dạng khả nghi y như anh
(1).
Kẻ gây sự như thế với tôi vừa la xong thì hai bàn tay hộ pháp
của va đã nắm tròn. Cái mặt va khiến tôi phải nhớ đến một vài vai trò trong
phim Big House. Mép, cằm và quai hàm của va tua tủa những sợi râu mới đâm ra
vài hôm làm cho va có cái vẻ ngang tàng của Jean Valjean khi mới vượt ngục.
Chừng như nước mật của va chỉ có đến thế, và chỉ còn cách nhổ
xuống đất một cái tỏ ý khinh bỉ và dồn cả sự căm hờn vào đôi mắt đe doạ tôi.
Trước mắt tôi là một con hổ đang muốn gầm. Nhưng trước mắt con hổ lại có sự thản
nhiên bình tĩnh của tôi – lớp rào sắt ngăn nó vậy. Tôi đợi va căm tức tôi chán
chê đi rồi mới đáp:
- Tôi đây không thuộc hạng người mà các ông chồng ghen tuông
phải gặp mặt thì mới xong đâu! Anh đừng vội nhầm.
Sau cùng, va lầu nhầu:
- Tôi rất hy vọng thế đó. Và tôi xin báo trước anh rằng, nếu
tôi sẽ bắt được quả tang anh làm một chuyện bất lịch sự gì thì mặc lòng là thiệt
hại cho tôi hoặc chỉ thiệt hại cho ông bạn đồng ngũ của tôi ở đây, tôi cũng sẵn
lòng “hầu hạ” anh ngay!
Tôi đáp gọn:
- Xin vâng. Và cảm tạ.
Thế xong va mới chịu quay đi, lộp cộp in xuống mặt đường lầy
bùn dấu giày đầy những vết đanh khuy to tướng.
Đó là một dân nước nào bên Tây phương? Người Đức hay người
Nga? Người Ý hay người Bỉ? Hay một người Ba Lan?
Tôi không biết và có lẽ cũng không cần biết rõ đến thế. Điều
tôi cầm chắc là bác lính lê dương ấy, thấy một người trẻ tuổi lạ mặt ở giang
sơn mình mà đã nổi nóng, tất nhiên có phen bị vợ, hạng phụ nữ Việt Nam đi lấy
Tây (2) lừa dối hẳn hoi rồi. Nghĩ kỹ ra người ta cũng có quyền nghi ngờ mình và
sinh sự với mình. Lẽ thứ nhất vì người Âu ở Đông Dương có cái thói quen hễ cứ
thấy một người bản xứ làm báo thì nghi cho là làm hội kín cũng như thấy một người
ăn vận âu phục lại gần nhà mình là chỉ có một nghề đi chim vợ Tây!
Và lẽ thứ hai là vì ở cái… “Kỹ nghệ lấy Tây” nữa.
Những cuộc phối hợp của một số đông phụ nữ nước nhà với những
người Tây phương liệu có đáng là những cuộc nhân duyên hẳn hoi không? Hay đó chỉ
là, chỉ như…, chỉ hao hao giống… chỉ phảng phất… đáng gọi là một thứ “kỹ nghệ”?
Trước khi nêu lên đây những việc có thể đáp lời cho câu hỏi ấy,
tôi hãy xin kể qua mấy cảnh mà, nhờ đó, tôi thấy ra trong cái óc cái câu hỏi kỳ
lạ trên kia.
Trước nhà thờ chính, Hà Nội…
Buổi sáng, tiếng chuông đương khua động cả kinh thành.
Bốn chục chiếc xe hơi từ thềm nhà thờ nối nhau một hàng dài vắt
ra phố Lagisquet như một con rắn bể kỳ quái nằm vươn mình: một đám cưới Tây. Mặt
trời tươi tỉnh rọi ánh sáng để điểm thêm cho những bộ áo của những ngày đại tiệc.
Hàng đám người ta đón chào vồn vã nhau, ồ ạt kéo nhau vào nhà thờ. Tại một góc
thềm nọ, hai nhà, một gia đình Pháp một trăm phần trăm và một gia đình Pháp – Việt
đương tưng bừng trò chuyện với nhau. Cái gia đình Pháp chỉ có hai người: bà vợ
trẻ và rất đẹp, còn ông chồng đã già, tóc đã bạc phơ, tinh thần trông oai
nghiêm sang trọng như một ông công sứ nào vậy. Còn cái gia đình Pháp – Việt thì
có bốn người: ông chồng Pháp, bà vợ Nam, với hai con (tất nhiên là lai) trai và
gái. Cặp vợ chồng quý phái người Pháp trăm phần trăm kia đã bắt tay bà “đầm ta”
một cách kính cẩn không ngờ. Bà này cứ khanh khách cả cười, tiếng Pháp làu làu,
tiếp chuyện đã tự nhiên, mà bệ vệ, mà sang trọng!
Một cảnh như thế khiến ta có cái cảm tưởng dễ chịu khi thấy một
người đàn bà là dân một nước còn “dã man”, lấy chồng người bảo hộ mình hẳn hoi
mà cũng không lép vế. Lấy tây như thế hẳn là không phải làm một kỹ nghệ.
Một cảnh khác nữa…
Một cái nhà tây nhỏ ở vùng châu thành.
Ngoài sân.
Dân quê qua đường thường phải ngạc nhiên mà dừng chậm đà chân
mỗi khi thấy một ông Tây chân đi guốc mộc quai cao su lúi húi cầm bồ cào san một
luống rau giữa lúc vợ ông ngồi chễm chệ trên ghế mây ở dưới hiên, đan một cái
áo len và tặng cho mấy đứa con lai nghịch ngợm những tiếng nói cả Pháp lẫn Nam,
thứ thì để chỉ tên súc vật, với thứ nữa, chuyên chỉ để réo đến năm đời, mười đời.
Đó tưởng cũng là một bức tranh về hạnh phúc gia đình, mặc lòng có những lời
nguyền rủa tục tằn của người đàn bà An-nam. Người chồng vốn là cựu chiến binh,
có lẽ đã quen tai với những tiếng súng đại bác ở Verdun, nên cũng không chấp
chi ngôn ngữ mọi rợ của một mụ đàn bà mọi rợ.
Nếu chỉ thấy toàn những cảnh như thế, tôi đã chẳng dám nghĩ đến
sự viết một thiên phóng sự với cái nhan đề “Kỹ nghệ lấy Tây”.
Nhưng, một buổi sáng kia, một me Tây trước vành móng ngựa toà
trừng trị đã nói một câu khiến cho công chúng quên khuấy ngay mình đang ở chỗ
trang nghiêm, tưởng dè lúc đó đương xem hát bội mà thích chí cười ồ.
Viên thông ngôn vừa dứt tiếng gọi. Một thị khua rộn gót giày
mang cá đỏng đảnh dẫn xác lên. Cử chỉ tuy vô lễ, khả ố, song cái mặt trông lại
khả ái.
- Tên là gì?
- Nguyễn Thị Ba.
- Bao nhiêu tuổi?
- Hăm nhăm.
- Làm nghề gì?
- Trước lấy một ông phó đoan, sau lại lấy một ông…
- Im! Nghề gì chứ ai hỏi chồng!
- Sau lấy một ông cập-ten.
Viên thông ngôn cáu kỉnh làm luôn:
- Không có nghề phải không? Vô nghề nghiệp (quay lên quan
toà). Sans profession.
- Việc gì mà vô nghề nghiệp?
- Thế làm nghề gì?
- Làm nghề gì? Làm nghề… làm nghề lấy Tây!
Công chúng cười ồ. Viên mõ toà đứng lên suỵt suỵt hoài mà ở
cuối toà vẫn có tiếng cười khúc khích. Đáp một câu hỏi của quan biện lý, viên
thông ngôn bực mình cứ việc:
- Elle déclare exercer le métier d’épouser les Européens!
Ông biện lý ngẩn người ra nhìn ông chánh án. Ông chánh án
cũng ngẩn người ra nhìn ông biện lý. Rồi hai ông mỉm cười.
Lời khai nọ cũng đã ngộ nghĩnh, cũng đã táo tợn thay. Nhưng
sao thị kia dám sưng sưng như thế? Hay là có nghề lấy Tây thật? Mà sao hai ông
quan toà lại chỉ mỉm cười? Chỉ tha thứ, hay là hai Ngài đã hiểu lời khai ấy
không sai với sự thực đó chăng?
Tôi muốn hiểu sự mỉm cười tha thứ của hai ông quan toà.
Cho nên buổi sáng mưa phùn gió bấc, tôi đã đội vào đầu một
cái cát-két, ôm dưới nách một cái cặp nhỏ, đáp chuyến xe hơi thứ nhất đi Thị Cầu.
Các me đã chia chồng Tây ra làm ba hạng: xi-vin, cô-lô-nhần
và lê dương.
Tôi muốn đến chỗ có thứ hàng hạ giá nhất đã.
Trước khi thẳng tiến trên con đường vào làng Cổ Mễ nó dắt tôi
qua xóm các me, tôi mới kịp ngồi tránh mưa tại một hàng nước có một bà “nguyên
vợ Tây” ngồi bán, thì thình lình bác lính nọ đến gây sự với tôi.
Một anh làm báo trẻ tuổi và yếu ớt, lại lăn lóc ở chỗ có những
ông chồng cả ghen người Âu châu thì cũng là một sự nguy hiểm đấy.
Khốn nỗi, tôi chỉ muốn hiểu nghĩa lý cái mỉm cười của hai ông
quan toà.
*
* *Bóng người lính lê dương ấy đã khuất sau bức tường của Nhà
Ngựa, bà hàng nước mới hết tái mặt hộ người khác (là tôi) và hỏi:
- Anh chàng cà cái gì thế ông?
- Có gì đâu: họ ghen tôi đấy. Sao bà lại cười?
Bà hàng nước vẫn cười, cười mãi, rồi mới nói:
- Biết mà! Anh chàng ghen là phải. Vừa mới chủ nhật tuần trước,
anh chàng bắt được quả tang vợ đi chơi với giai.
- Thế à!
Bà hàng tiếp:
- Hôm ấy chẳng may hắn lại săng-ty-nền nên không làm gì được
vợ. Về sau chị vợ chối mà bảo đấy là đi với em họ sang có việc nhà. Phúc làm
sao nó chỉ cho mấy cái tát.
Bị mấy cái tát mà còn nói là có phúc! Độc giả nên cố hiểu đi,
chứ người nói thế không hoá dại một tí nào. Nếu mình đi tưởng rằng ấy là câu
pha trò thì lại là không tri kỷ với bà ta.
- Thế ông ở đâu, đến đây làm gì?
- Nguyên tôi làm nghề nhật trình, đi chơi lang thang, có gì
hay thì viết.
- Thôi chết tôi rồi. Còn trách gì bác lính kia?
Bà hàng cứ gật gù cười một cách tinh quái làm sao! Bà ta cũng
nghi tôi nốt!
Vội vàng tôi phải nói một cách rất đứng đắn cho bà ta nghe là
tôi không có nhân tình nhân ngãi với ai ở đây, và hỏi bà ta những điều cần hỏi.
Nhờ cuộc trò chuyện, tôi mới biết đại khái đồn Thị Cầu.
Trời vẫn rả rích mưa to, nhưng vũ vô kiềm toả… Cho nên bà
hàng nước cũng buồn, chẳng còn cách gì khác là kể hết, kể hết cho tôi.
Tuy chỉ có vài ngọn đồi, một nhà ga với vài trại lính, Thị Cầu
cũng đáng gọi là một tỉnh “quốc tế”, cũng như Chùa Thông, Tuyên Quang hay Việt
Trì. Bề ngoài thì nó còn có gì tỏ ra cái tính cách quốc tế được! Nhưng ta thử
ngẫm về cái tinh thần nó xem! Ba trăm lính lê dương đóng đồn tại đó thì biết
bao nhiêu thứ người các nước bên Tây phương? Trong các hàng ngũ người Đức đứng
cạnh một người Nga, một người Lỗ đứng cạnh một người Bồ đào, nhưng ai cũng đều
bập bẹ nói tiếng Pháp cả. Trong 300 người, mỗi khối óc là một thế giới riêng.
Ba trăm cái tiểu sử hoặc lâm ly hoặc bi hùng trộn lẫn nhau tại đó. Muốn tưởng
tượng ra được những cuộc đời của họ, ta cần phải đã có xem chiếu những phim: Le
grand jeu, Je suis un évadé, Le passager v.v… Người này có lẽ đã chọc một mũi
dao nhọn vào cái cổ trắng nõn như ngà của một người đàn bà đã phụ bạc… Kẻ kia
có lẽ bắn súng lục vào ngực một người mẹ đã cho bố mình mọc sừng. Một kẻ khác nữa
có lẽ đã đâm chết vài thằng phản đảng một đảng quá khích.
Rồi họ đăng lính, đến đây để tìm sự sống còn, hay tìm cái
Quên.
Dù xưa kia là (…) một kẻ sát nhân xoàng, một người lê dương
thì ít ra cũng đã là một ông cọp. Họ thường có những lá gan, quả mật to phi thường.
Nếu họ phải lấy một người vợ đất Nam Việt thì đó là hùm thiêng khi đã sa cơ.
Mà 300 lính ít ra cũng phải chế tạo được 350 me Tây và vì bao
giờ cũng phải có một số các me nghỉ việc. Thí dụ cứ cho là 50 me “thất nghiệp”
thôi, ta cũng đã có thể đoán trước được những sự cạnh tranh hèn hạ, phỗng tay
trên nhau, phá giá nhau. Một người chồng không mỗi lúc đã trở mặt hoá ngay ra
được một bạc tình lang, nếu luật cung không quá luật cầu.
Trước, tôi chỉ muốn hỏi: lấy Tây có thể gọi được là một kỹ
nghệ không thì sau khi trò chuyện với bà hàng, tôi thấy rằng kỹ nghệ ấy đã đến
hồi suy đốn nữa!
Vì rằng bà ấy đã nói:
- Tuần lễ trước có cả mấy cô thiếu nữ Hà thành cũng sang đây
để kiếm chồng! Có chồng rồi, vì không biết nên cho được đồng lương cao, thành
ra không đủ tiền mua rượu, thuốc lá, đồ hộp cho chúng nó. Thiếu thốn, bị chồng
vặc, chưa chi đã sợ, ấy thế là bảo nhau tìm đường chuồn. Thành thử lấy chồng lỗ
vốn! Rõ khốn nạn! Tài có, sắc có, chữ nghĩa cũng có mà thế đấy! Bảo via như tôi
thì đã đành. Nghe đâu bây giờ có một cô ả trong bọn ấy sang một tiệm nhảy ở Đáp
Cầu xin vào làm ca-va-li-e.
Nào cô Nguyễn Thị Kiêm đâu?
Đó, một tài liệu cho cô để diễn thuyết về vấn đề chức nghiệp
của phụ nữ!
Tự nhiên bà hàng lại mách:
- Lại còn điều này mới chua chát: bây giờ vô số anh không chịu
lấy vợ, chỉ rượu và quây quần nhau lại một chỗ để bẹp tai.
Sẵn dịp, tôi liền hỏi:
- Bà có biết anh nào hiện không vợ và dễ dãi, thích nói chuyện,
có thể nhận lời mời của tôi không?
Bà ta:
- Có! Tôi quen thì nhiều.
- Không cần nhiều. Chỉ cần một người, nhưng mà dễ dãi.
- À, thế thì có lão cai Đi-mi-tốp.
- Làm cách nào bén chuyện làm quen được?
- Đến chiều, hết giờ la-gát thì thế nào anh chàng cũng đi qua
đây.
- Thì bà mách cho tôi nhé?
- Được. Khó gì điều ấy? Lão ta đã lấy nhiều vợ lắm, mà gặp phải
những đứa không ra gì cả nên lão bây giờ lử đử lù đù như người chán đời, chỉ
thích trò. Ông muốn lão cởi hết ruột gan ra thì cứ việc nói xấu người đàn bà nước
ông cho nó nhiều vào! Nhiều vào! Và mời lão đi cát-cút (3) hay là đi chén rượu
ty với phở tái cũng được cả.
Tôi hẹn giờ quay lại rồi đứng lên cáo từ.
Bà hàng thế mà là người tốt, mặc lòng tôi thường thấy rợn cả
tóc gáy mỗi khi bà ta cười mà để lộ hai hàm răng trắng nhởn ra.
Chú thích:
(1) Nếu độc giả thấy câu văn là ngây ngô thì xin nhớ cho rằng
tôi cố dịch những lời nói tiếng Pháp đúng từng chữ một để khỏi sai lạc tinh thần
những người nói.
(2) Chữ Tây ở đây xin độc giả hiểu cho là Tây phương, lấy Tây
là lấy người Tây phương (Occidentaux) chứ người Tây không chỉ là người Pháp.
(3) Cát-cút theo chữ casse-croutte, nghĩa là bóp vỡ cùi bánh,
nghĩa là ăn bánh với các thức ăn nguội.
Vì rằng ông bạn mới quen nhưng đã tri kỷ của tôi đã có hai
hơi một chai “bố” nên nay ông nói chuyện nhiều nhiều. Rượu làm nóng máu, máu
nóng bắt người ta nghĩ đến ái tình, mà ái tình bao giờ cũng khiến người ta phải
đau thương. Trước mắt tôi, nằm dài tại khay đèn một cách cũng xoàng xĩnh như
tôi là một vị “anh hùng” của chính phủ Kerenski. Ông đã cao tuổi, kêu chỉ ao ước
một chế độ trọng sự tự do cá nhân như chính thể cộng hoà của nước Pháp thôi,
nên ông phải bỏ nước xa nhà. Sang Paris, Đi-mi-tốp đã làm đầu bếp một khách sạn
lớn. Việc bắt mất tích nguyên soái Koutiepoff khiến ông ta rùng mình rồi đăng
vào đội lính lê dương. Ngày nay… than ôi! Ngày nay Đi-mi-tốp chỉ còn là một người
đội lê dương, và rồi có khi đến… bẹp tai nữa.
- Tôi đã sang Bắc Kỳ lần này là hai lần, mỗi lần hai năm sáu
tháng, nghĩa là 5 năm. Trong 5 năm mới gặp ông là phái viên nhà báo, lần này là
lần đầu. Ồ, tôi sẽ nói hết các chuyện cho ông hiểu tại sao một người đàn ông
như tôi mà một đời lấy đến mười bốn người vợ. Mà người đàn bà Bắc Kỳ, trời ơi!
Thật là những “đứa trẻ ốm yếu và mười hai lần nhơ bẩn” theo lời thi sĩ nhà binh
Pháp De Vigny! Xin lỗi ông, ông có giận tôi vì lại nói xấu người đàn bà xứ sở
ông không? Chắc không, vì ông cần biết những sự thực. Còn nếu ông không bằng
lòng thì, tôi xin lỗi ông!
- Không, không! Việc gì ông lại phải xin lỗi?
Tôi “đỡ lời” như vậy mà thấy khoái chí vô cùng. Cái gì nhỉ? Một
người anh hùng muốn nói xấu một người đàn bà mà lại phải xin phép tôi ư? Phái
viên một nhà báo, dễ thường Đi-mi-tốp cũng tưởng tôi oai như ông Pierre Seize
hay một ông Louis Roubaud nào chắc!
Rồi tôi nghĩ đến lúc bà hàng nước huyên thuyên chỉ chờ nói những
câu tiếng Tây khó hiểu để giới thiệu tôi với ông ta. Lại lúc mời ông ta một “chầu”
phở thì sao mà khó vô cùng! Bây giờ mọi sự đã thay đổi hẳn. Cái gian nhà gỗ ở
bên đường sau Nhà Ngựa này đã tình cờ giấu kín dưới mái bao lời tâm sự của một
viên tướng võ mà những sự nghiệp “anh hùng” nay cũng không còn dấu vết ở
Nga-la-tư.
Bên ngoài, trời vẫn mưa. Mưa đã một tuần lễ rồi.
Tiếng cửa kẹt, bác chủ “tiệm” đã mua thuốc về. Chúng tôi chỉ
còn nằm lại để nhường chỗ cho người nằm tiêm.
*
* *Trong sách Tử Vi có câu “Cự Môn thê thiếp, đa bất mãn
hoài”. Dám chắc Đi-mi-tốp có cái số ấy. Ông ta đã khoe lấy đến mười bốn người vợ
tất cả. Nhưng trong số đó chỉ 9 người là đàn bà Bắc Kỳ mà thôi.
- Từ nay trở đi, tôi đã có ý không bao giờ lấy vợ nữa. Tôi đã
tự cầm dao đâm vào quả tim tôi, cái quả tim chịu đau thương, đúng 14 lần! Tất cả
14 đứa đều đã lừa tôi, mỗi đứa một cách, vào một trường hợp…
- Ông cho biết những sự lừa đảo của 9 người đàn bà ở đây.
- Con mụ thứ nhất, béo chứ không đẹp, trước khi lấy tôi đã lấy
biết bao nhiêu là đời chồng. Vì rằng ngoài sự có hai hàm răng trắng kiểu Tây
phương, nó lại có nhiều cử chỉ thạo đời làm cho tôi sung sướng và làm cho tôi
đau khổ. Sung sướng vì được hầu hạ vừa ý, mà đau khổ vì phải nghĩ đến những thằng
đã nằm cùng giường với nó trước tôi.
Đến đây, Đi-mi-tốp ngừng đau khổ để… sung sướng hưởng điếu
thuốc thứ nhất là điếu thuốc “danh dự”. Kéo xong, ông lại ngồi nhỏm lên mà rằng:
- Vậy thì, dù sao đi nữa, tôi cũng không sướng hẳn. Tôi, tôi
là kẻ có can đảm, đeo 60 kilô vào người, để đi mỗi ngày 30 cây số, tôi không có
sức nói với nó lấy một điều ái ân. Ngày nào cũng thường cãi cọ nhau: nó mắng
tôi là khốn nạn vì ghen tuông, tôi mắng nó là khốn nạn vì đĩ thoã. Một buổi,
đáng lẽ dọn rượu vang ra bàn, thì nó đi dọn hai chai rượu bản xứ, đúng cái thứ
ta uống với nhau vừa rồi. Sinh nghi tôi hỏi thì nó bảo rượu vang đắt và không bổ,
rượu bản xứ rẻ tiền mà khoẻ hơn. Thế là… tôi uống cả hai chai. Rồi sau ra sao,
ông có biết không? Ông không biết, tôi cũng không biết! Chỉ biết một vài giờ
sau, bốn tên lính tuần phòng tóm cổ tôi ngoài phố ga, bắt về trại. Hôm sau, tỉnh
rượu, tôi mới biết là tờ biên bản kể rằng tôi đã đập phá nhà một hiệu xe đạp
ngoài ga. Một người đàn bà đã bị tôi đánh cho chảy máu trán. Mười lăm ngày tù.
Mất lương. Hết hạn nhà pha, lại được tha ra, thì vợ tôi đã lấy người khác! Mà
người chồng ấy, sau tôi mới nhớ rõ, chính là một người trong bốn người lính tuần
phòng đã bắt tôi! Hay là chúng nó đã đồng mưu với nhau đổ rượu cho tôi? Tức
quá, tôi muốn thưa vợ. Tôi đi hỏi mấy anh em. Chao ôi! Họ chỉ nhìn tôi mà rũ
người ra cười. Lúc ấy, vì mới sang đây nên tôi chưa hiểu phong tục. Rõ những
phong tục mới đẹp và kỳ làm sao? Ở đây, tình nghĩa vợ chồng phải đi theo đồng
tiền. Tôi bị nhà pha, không có tiền lương đưa cho vợ tôi, thế cũng như là ở
phương Tây, toà đã cho cặp vợ chồng ly dị! Đó không phải là điều luật, đó là một
điều lệ mà thôi! Cái con vợ bỏ tôi, tôi không được phép trách nó! Ông thử nghĩ
xem: loài người với nhau mà thế à? Tiền bạc có thế lực làm suy vong quả tim của
người ta đến thế à?
Đi-mi-tốp vừa nói vừa đập vào ngực mình thình thình sừng sộ
như muốn cà khịa với tôi.
Nhưng ông ta cũng không nên nằm ngay xuống đón dọc tẩu mà người
chủ tiệm đã tiêm thuốc xong nhưng chưa chìa ngay ra.
Phải, Đi-mi-tốp đương đau đớn mà lị!...
*
* *Người thứ hai không có gì lạ – Đi-mi-tốp nói tiếp, cả đến
người thứ ba cũng vậy. Hai người ấy bị tôi bỏ vì không hiểu được tiếng Tây. Hai
nữa, cả hai đều xấu quá. Ông Trời của tôi! Xấu mà lại ngu, thật là những cái kỷ
lục của sự ngu. Khi ông bảo chúng nó đánh cái mũ, nó đi lau ngay cho ông đôi
giày. Khi bảo chúng nó mua thuốc lá chưa quấn thì nó lấy về thuốc 20 điếu! Chẳng
lẽ tôi lại có tiền thuê một người thông ngôn. Mà mặt mũi chúng nó xấu đâu xấu đến
thế! Chúng tôi mỗi tuần lễ chỉ được phép không ngủ trong trại có ba đêm thôi. Thế
mà khi về nhà, nằm xuống giường nhìn đến mặt vợ…
Đi-mi-tốp so vai không nói nữa. Tôi bàn:
- Nhưng mà có vợ xấu thì mình mới yên tâm. Vợ đẹp lắm tôi tưởng
là sự nguy hiểm. Người dân ở đây nghĩ thế cả, không biết dân phương Tây nghĩ thế
nào…
- Nếu ông nói thế thì ra có vợ xấu nghĩa là có hạnh phúc?
- Có lẽ. Mà người ta oẻ hoẹ lắm thì có sướng bao giờ đâu!
- Vẫn hay thế, nhưng mà ông nói ngược đời lắm. Có vợ đẹp mà lại
có thể tin được rằng vợ không bao giờ phản mình, thì sướng đến đâu! Phải, có
khi nằm nhắm mắt bên cạnh một người đàn bà không có nhan sắc, mình có thể lấy
làm tự hào rằng được người đàn bà ấy yêu, không hề nghĩ đến chuyện ngủ với kẻ
khác. Rồi mình sung sướng đi. Rồi mình nhắm mắt khoái chí đi. Nhưng mà nếu lại
mở mắt mà xem, chao ôi! Mình lại có món triết lý khác: Mình sẽ nghĩ rằng… thà rằng…
- Thà rằng…?
- Thà rằng có vợ đẹp vẫn đi ngủ trộm với kẻ khác!
Nói xong, Đi-mi-tốp mím môi cười! Điếu thuốc thứ sáu của ông
ta mà là thứ chín của người nằm tiêm. Trời vẫn mưa lại thêm gió thổi mạnh.
- Đến người thứ tư…
- À, người thứ tư! Chỉ có người ấy là tôi bỏ rồi tôi phải hối
hận. Đành rằng nó không nói một câu tiếng Pháp nhưng tôi cũng yêu. Chúng tôi hợp
nhau. Không phải hợp nhau về tinh thần, đã không cùng một thứ lưỡi thì hiểu
nhau làm sao được…? Nhưng nó hợp tôi về… xác thịt. Bây giờ bỏ rồi, tôi lại tiếc.
Không thể nào lại còn tìm được một người đàn bà thứ hai có cái thân thể bốc lửa
ngùn ngụt đến thế nữa. Dễ nó đi Tông mất rồi.
Thằng cha này hoặc lẩn thẩn, hoặc có khối óc phê phán xuất
chúng.
Hết thuốc, say, Đi-mi-tốp nằm chập chờn. Người tiêm thuốc
sang cái chõng nằm, để chúng tôi được thảnh thơi hơn.
*
* *- Ông đừng hỏi tôi đến người vợ thứ năm nhé?
- Sao vậy?
- Nhắc đến nó, tôi buồn rầu.
- Thế nói những người về sau vậy.
- Tôi còn phải kể chuyện bốn người nữa. Bốn con đàn bà này
cũng chẳng ra gì. Lỗi ở chúng cả – tôi không phải hạng người đổi vợ như thay áo
lót mình như ai. Vả lại đó là bọn đàn bà mà tôi lấy khi đăng sang Bắc Kỳ đây lần
thứ hai, nên xảy ra điều gì, tôi cũng không bực tức nữa. Tôi biết rõ: họ chỉ vì
tiền. Tôi yên trí họ không thể hiểu được chúng tôi. Thành thử sang đây lần thứ
hai là tôi gọi ai tôi cũng coi như thuê gái trong một hạn dài vậy. Không còn
bao giờ tưởng nhầm đến cái nghĩa cả: vợ chồng. Con đàn bà thứ sáu, một đêm bất
kỳ ở trại ra, về nhà không thấy đâu, tức thì tôi bỏ. Con thứ bảy bị tôi bắt được
đi chơi với một người nhân tình An-nam. Con thứ tám bỏ tôi vì không bắt được
tôi trả nhiều tiền. Nó làm ăn hoang toàng vụng về quá, mỗi tháng 18 đồng bạc mà
đến nỗi lỗ vốn. Nó bỏ tôi đi lấy người khác, đó không phải lỗi ở tôi. Còn con
thứ chín. Nó nhà quê mà tinh khôn làm sao! Đẹp đẽ, nó khiến tôi lại muốn coi nó
là vợ. Ở với nhau hai tháng, một hôm về nhà, tôi gặp một người đàn ông nhà quê.
Nó nhận là anh nó… Hôm sau, tự nhiên có giấy gọi tôi ra sở cẩm. Rồi tôi thấy
viên cẩm trỏ ông “anh vợ” tôi ấy mà bảo tôi rằng không nên quyến rũ vợ “người
ta”. Nếu tôi không buông tha, sở cẩm sẽ nhờ quan binh xử hộ!
Một hồi kèn gọi từ trại vang ra.
Đi-mi-tốp ngồi lên, cài khuy, thắt lưng, đi giày. Sau cùng bắt
tay tôi, hẹn hôm sau lại đến. Nhưng, chưa ra khỏi, đã thấy có tiếng đàn bà…
- Đi-mi-tốp! Vén s…
Ông ta rảo cẳng ra.
Tôi đưa mắt hỏi, người có khay đèn lắc đầu chán nản, ra vẻ
không thể hiểu nổi bao nhiêu chuyện tình rắc rối của lính lê dương.
Trời thì tối mà đường thì bẩn, đó là… phong cảnh sau Nhà Ngựa
lúc 10 giờ đêm. Tôi đi như một người phiêu lưu, mạo hiểm, mắt nhiều khi chỉ thấy
tối mịt, giày cứ thỉnh thoảng lại “hụp” xuống một vũng nước đánh bõm một cái,
tai nghe thấy tiếng ngựa hí với đập móng xuống thềm lộp cộp mà thèm thuồng, mà
cảm thấy có cái tư tưởng phi thường là mình cũng được yên nghỉ như một con vật
nào bên trong bức tường ấy thì cuộc đời há lại chẳng tốt đẹp lắm sao! Đây rồi,
một ngọn đèn. Một ngọn đèn điện như vươn cổ soi hộ đường cho mình mà sáng cũng
chẳng được mấy. Mà mắt thấy ánh sáng thì đôi giày vô tội lại sắp chịu một cái
khổ hình khác, quãng đường sáng lại lầy nhầy những bùn mới đọng nước hơn những
quãng tối tăm. Trước mắt tôi, những vết bánh xe đã hiện thành hình những con rắn
bạc nằm ngổn ngang khắp mặt đất. Người ta giàu trí tưởng tượng cũng nguy hiểm
thật, vì tôi rùng mình nghĩ đến con đường nhỏ ở giữa cánh đồng có nhiều bãi tha
ma mộ địa nhờ nó tôi sẽ về nhà bạn ở làng Cổ Mễ. Rõ khổ! Nhớ đến câu: “Đã
khuya, ông cứ nghỉ tạm đây với tôi” của bác “chủ tiệm”, tôi bỗng hối hận vô
cùng. Song không lẽ lại khóc để hòng với ai? Rồi thì… những bức hàng rào với tường
đắp bằng đất đỏ nó là đặc tính của những nhà ở Cổ Mễ, mới ban ngày khiến tôi ca
tụng mãi là có vẻ thần bí như nhà ở Tây Tạng, thì bây giờ đã khiến tôi rùng
mình phát sợ, sợ vì đã hiểu nghĩa chữ thần bí. Chợt thấy từ cách chỗ ấy vài
mươi thước đưa ra những tiếng gào thét và gắt gỏng với nhau. - Toa ba mỏ nhá
cút xê ăng co xê moa! Toi kích tê moi săng bảy dề, a lò phi nì phăm, phi nì ma
ghi! A lò, kích! (Mày không có quyền về ngủ nhà này nữa. Mày bỏ tao đi mà không
trả tiền, thế là hết vợ, hết chồng. Thế thì… đi, đi!). Một vài phút thấy im.
Sau lại có tiếng gắt, mà vẫn tiếng người đàn bà: - No, se phi ni! Vắt tăng.
(Không! Thế là hết! Đi, đi) Tôi định thần nhìn… Hai mươi thước trước mặt tôi,
trong một gian nhà gỗ lợp lá kia, dưới ánh sáng yếu ớt một ngọn đèn dầu, tôi thấy
bóng dáng một người lính hai tay gãi sườn, chân giang rộng, đứng nghênh ngang lấp
cả cái cửa mà nhìn vào để cho một người đàn bà áo trắng quần trắng cũng to lớn
chẳng kém, tóc đã sổ, sừng sộ xỉa xói vào mặt rồi ân ái tặng mình những câu văn
chương kia. Người lính – chồng hay khách hàng? – vẫn cứ đứng im. Hình như hãy sử
dụng cái im xem bên kia có sợ không đã… Người đàn bà nóng tiết, chỉ tay ra đường:
- Va tăng! Ê tút-suýt! (Bước ngay tức khắc!). Bây giờ ông chồng bị đuổi mới hỏi,
mà giọng vẫn bình tĩnh: - Rê pét tơ cơ tuy viêng đờ đia (Mày thử nói lại những
lời vừa nói tao nghe!) Tức thì, rõ rẹo vào mặt chồng, người đàn bà lại: - Moa
ba bơ toa! Sí toa phe két sốt, moi điếc com măng đăng phe toa xếp linh ê toa
pát sê công sây đờ ghe! (Tao không sợ mày. Nếu mày làm gì, tao trình quan tư bỏ
nhà pha mày và lôi mày ra toà án binh). Bốp một cái, cái tát đã vội chấm câu
cho những câu mắng nhiếc với đe doạ “lăng loàn”. Người vợ lùi lại đằng sau hai
bước, hai tay bưng giữ lấy mặt và cúi đầu đứng im. Nhưng, than ôi! Anh chồng
bây giờ lại muốn cho vợ nói nữa, nói nhiều hơn trước, nói tệ hơn trước. Vì rằng
lúc ấy nó mới xông vào, hai bàn tay nắm lại mà tặng vợ những cái “quai hàm”
hình như trên sân đánh bốc nó muốn cho kẻ địch bị một miếng “nốc ao” để mình
chiếm giải vậy! Tức thì tiếng mấy đứa trẻ con oà khóc lên như ri. Nhanh như chớp,
một thằng bé độ 10 tuổi từ trong nhà chạy vụt ra. Nó sang nhà bên cạnh đấm cửa.
Rồi thì, từ hai nhà bên cạnh đều thấy tiếng cửa mở và có hai bác lính lê dương khác, quần áo ngủ, đi guốc ta, vừa chạy sang cái nhà “khổ chủ” ở giữa, vừa lầu nhầu… Sau ba phút, phố Nhà Ngựa hết vắng vẻ, vì đã đầy những đàn bà con trẻ chạy ra xem. Mải nhìn người đổ ra xem, tôi quay lại nhìn đến cặp vợ chồng kia thì không hiểu bởi duyên cớ vì đâu, cuộc chiến tranh đã bày ra một cục diện khác hẳn. Ông hàng xóm đang bị cái “ông chồng bị vợ đuổi” đấm đá cho một trận không tiếc tay. Một phút sau, ông hàng xóm khác nhảy vào đấm đá anh chồng bạo ngược. Sau cùng thì bị một người giữ hai tay, bị một người bóp cổ, bác lê dương khiêu khích trước nhất lả oằn người đi như một sợi tóc hơ trên một ngọn lửa rồi ngã xuống thềm nhà. Bấy giờ tôi đã dám chạy đến tận nơi. Lạ chưa! Phái phụ nữ với bọn trẻ con tò mò nhìn tôi mà những ngài lê dương lúc ấy không ai để ý đến tôi cả. Vậy cứ bảo họ đa nghi thì hiểu sao được! Người vợ lúc này ngồi thở hồng hộc, xoa mặt, xoa lưng rồi nói một cách tự nhiên như chung quanh đấy ai cũng là đầy tớ mình vậy: - Phe vơ nia ba tui! (Đi gọi lính tuần phòng!). Chợt một bác lê dương khác vỗ vai sừng sộ hỏi tôi những câu bất nhã thế này: - Thằng này! Mày đứng làm gì ở đây? Tôi nghiêm mặt nhưng vẫn giữ lễ độ: - Không phải chuyện mày tao! Tôi là một người viết báo đến lấy tin! Tôi là một người viết báo đến lấy tin. Anh ta dịu giọng: - Lấy tin về nỗi gì? Đó chỉ là chuyện vợ chồng người ta đánh nhau! - Thế ngộ đã xảy ra một vụ án mạng? Chợt lại một người thứ hai, mặt mũi sáng sủa, trông có vẻ học thức hơn, mỉm cười hỏi tôi rất nhã nhặn: - Đấy, một việc như thế, ông sẽ bình phẩm người lính lê dương hay người vợ người lính lê dương như thế nào, tôi có thể biết trước không? Nguy rồi. Một anh lễ phép bao giờ cũng đáng sợ hơn một kẻ thô tục. Người thô tục thực thà nên sự nóng nảy ấy không đáng lo. Điều này họ lịch sự tươi cười với mình, nếu họ trị mình là họ trị cho rõ đâu ra đấy. Tôi phải nghĩ rồi mới đáp: - Một chuyện vợ chồng đánh nhau thì ở nước tôi là sự thường, có gì mà bình phẩm? Có lẽ tôi cũng chả viết nổi một cái tin vặt nữa. Tôi chỉ lấy làm kính phục các ông mà thôi. Các ông đã dám gác tình anh em đồng ngũ ra để che chở một người đàn bà. Đã chắc đâu người đàn bà ấy không có lỗi. Thế là người lính lê dương lịch sự ấy được vui lòng. Vi chỉ so vai khẽ nói với tôi: - Chính thế. Chúng tôi dân Tây phương không ai nỡ dùng đến một cành hoa để đánh một người đàn bà. Anh chàng kia đã đánh một người đàn bà, thế là không tốt, là làm một việc tổn danh dự cho chúng tôi. Chúng ta là phái khoẻ thì dù người đàn bà không ra gì nữa chúng ta cũng chỉ nên chịu nhường nhịn. Bốn ông lính lê dương đi tuần đã rầm rộ kéo đến. Mãi đến bấy giờ, hai ông hàng xóm quý hoá mới thôi đè và bóp cổ giúi dưới thềm nhà ông bạn cô thế kia. Người lính bị giải đi rồi thì lân bang cũng kéo về ngủ cả. Tôi ngạc nhiên ở chỗ lân bang coi một chuyện to như vậy chỉ là sự thường. Rồi không bao giờ tôi có thể quên được cái cười gằn, cái cười nhạt, cái cười nghiến rít hai hàm răng lại, của người chồng bị hắt hủi, một cái cười có hứa một cuộc đổ máu, của người chồng tặng lại cho vợ khi bị bốn ông “ba tui” giải đi. Trước khi bước vào gian nhà ấy, vẳng từ xa thấy còn đưa đến tai tôi một câu: - Đã bị “công sây đờ ghe” rồi mà lần này lại thế, bà cho gọi là đi đứt!
Rồi thì, từ hai nhà bên cạnh đều thấy tiếng cửa mở và có hai bác lính lê dương khác, quần áo ngủ, đi guốc ta, vừa chạy sang cái nhà “khổ chủ” ở giữa, vừa lầu nhầu… Sau ba phút, phố Nhà Ngựa hết vắng vẻ, vì đã đầy những đàn bà con trẻ chạy ra xem. Mải nhìn người đổ ra xem, tôi quay lại nhìn đến cặp vợ chồng kia thì không hiểu bởi duyên cớ vì đâu, cuộc chiến tranh đã bày ra một cục diện khác hẳn. Ông hàng xóm đang bị cái “ông chồng bị vợ đuổi” đấm đá cho một trận không tiếc tay. Một phút sau, ông hàng xóm khác nhảy vào đấm đá anh chồng bạo ngược. Sau cùng thì bị một người giữ hai tay, bị một người bóp cổ, bác lê dương khiêu khích trước nhất lả oằn người đi như một sợi tóc hơ trên một ngọn lửa rồi ngã xuống thềm nhà. Bấy giờ tôi đã dám chạy đến tận nơi. Lạ chưa! Phái phụ nữ với bọn trẻ con tò mò nhìn tôi mà những ngài lê dương lúc ấy không ai để ý đến tôi cả. Vậy cứ bảo họ đa nghi thì hiểu sao được! Người vợ lúc này ngồi thở hồng hộc, xoa mặt, xoa lưng rồi nói một cách tự nhiên như chung quanh đấy ai cũng là đầy tớ mình vậy: - Phe vơ nia ba tui! (Đi gọi lính tuần phòng!). Chợt một bác lê dương khác vỗ vai sừng sộ hỏi tôi những câu bất nhã thế này: - Thằng này! Mày đứng làm gì ở đây? Tôi nghiêm mặt nhưng vẫn giữ lễ độ: - Không phải chuyện mày tao! Tôi là một người viết báo đến lấy tin! Tôi là một người viết báo đến lấy tin. Anh ta dịu giọng: - Lấy tin về nỗi gì? Đó chỉ là chuyện vợ chồng người ta đánh nhau! - Thế ngộ đã xảy ra một vụ án mạng? Chợt lại một người thứ hai, mặt mũi sáng sủa, trông có vẻ học thức hơn, mỉm cười hỏi tôi rất nhã nhặn: - Đấy, một việc như thế, ông sẽ bình phẩm người lính lê dương hay người vợ người lính lê dương như thế nào, tôi có thể biết trước không? Nguy rồi. Một anh lễ phép bao giờ cũng đáng sợ hơn một kẻ thô tục. Người thô tục thực thà nên sự nóng nảy ấy không đáng lo. Điều này họ lịch sự tươi cười với mình, nếu họ trị mình là họ trị cho rõ đâu ra đấy. Tôi phải nghĩ rồi mới đáp: - Một chuyện vợ chồng đánh nhau thì ở nước tôi là sự thường, có gì mà bình phẩm? Có lẽ tôi cũng chả viết nổi một cái tin vặt nữa. Tôi chỉ lấy làm kính phục các ông mà thôi. Các ông đã dám gác tình anh em đồng ngũ ra để che chở một người đàn bà. Đã chắc đâu người đàn bà ấy không có lỗi. Thế là người lính lê dương lịch sự ấy được vui lòng. Vi chỉ so vai khẽ nói với tôi: - Chính thế. Chúng tôi dân Tây phương không ai nỡ dùng đến một cành hoa để đánh một người đàn bà. Anh chàng kia đã đánh một người đàn bà, thế là không tốt, là làm một việc tổn danh dự cho chúng tôi. Chúng ta là phái khoẻ thì dù người đàn bà không ra gì nữa chúng ta cũng chỉ nên chịu nhường nhịn. Bốn ông lính lê dương đi tuần đã rầm rộ kéo đến. Mãi đến bấy giờ, hai ông hàng xóm quý hoá mới thôi đè và bóp cổ giúi dưới thềm nhà ông bạn cô thế kia. Người lính bị giải đi rồi thì lân bang cũng kéo về ngủ cả. Tôi ngạc nhiên ở chỗ lân bang coi một chuyện to như vậy chỉ là sự thường. Rồi không bao giờ tôi có thể quên được cái cười gằn, cái cười nhạt, cái cười nghiến rít hai hàm răng lại, của người chồng bị hắt hủi, một cái cười có hứa một cuộc đổ máu, của người chồng tặng lại cho vợ khi bị bốn ông “ba tui” giải đi. Trước khi bước vào gian nhà ấy, vẳng từ xa thấy còn đưa đến tai tôi một câu: - Đã bị “công sây đờ ghe” rồi mà lần này lại thế, bà cho gọi là đi đứt!
* * *
Bà này tên ở khai sinh là gì không rõ: cái xã hội các me ở Thị
Cầu cứ gọi là bà Kiểm lâm thì tôi cũng đành cứ gọi là bà Kiểm lâm. Bà ta đã sẵn
lòng kéo ghế mời tôi, mặc dầu lúc ấy đã quá 11 giờ. Tại sao người làm báo xưa
nay vẫn bị người ta ghê là kẻ đi bới móc để tống tiền, mà khi nghe xong chức
nghiệp với mục đích của tôi, bà Kiểm lâm đã không nghi ngại gì cả? Ngồi ở giường,
hai tay thấm bông vào một bát dấm rồi đập vào cổ, má, trán, mũi, bà cứ kể lể
các chuyện của bà một cách dễ dàng và thực thà khiến tôi cảm động rồi kính phục
một người có can đảm nói những cái cũng chẳng sang trọng gì mà chẳng sợ ai
khinh. - Hạng người chúng tôi là hạng bỏ đi, ông ạ. Dù xã hội không khinh chăng
nữa, chúng tôi cũng đã tự biết phận mình. Bây giờ nghèo hèn, tôi cũng chẳng còn
sợ ai cười, chỉ cố chí làm giầu để sau này có thể ở ác được lại với những kẻ đã
khinh tôi mà thôi. Nhưng mà cứ phú quý giật lùi ông ạ. Xuất thân lấy chồng
xi-vin hẳn hoi. Sau chồng về Tây, phải giang hồ lưu lạc, lâm đến cảnh đi lấy chồng
cô-lô-nhần. Bây giờ thì đến với các anh lính lê dương cũng không xong. Xưa kia,
giữa lúc đương xuân, nào có phải đâu tôi không lấy nổi một tấm chồng ta danh
giá! Hỡi bạn độc giả! Con đường “công danh” của những thợ đàn bà trong kỹ nghệ
lấy Tây này thật là gập ghềnh, khuất khúc lầy lội và quanh co. Phái đàn ông ta,
không ai lại có thể đỗ cử nhân trước, rồi đỗ thành chung sau, rồi đỗ sơ học sau
cùng. Nhưng cái công danh của một người đàn bà đi lấy Tây có thể ví như thế được
đấy. Vì mỗi một người chồng – nói đúng ra, mỗi một đời chồng – cũng có giá trị
như một cái giấy chứng chỉ để tiện việc kiếm chồng, nghĩa là sinh nhai. Bà Kiểm
lâm đã lâu không dám về thăm bố mẹ giàu ở làng. Phải, cứ thế, trước kia làm gì
chẳng lấy được người chồng hẳn hoi. Con gái một nhà quyền thế vì lắm của, lại đẹp,
như thế ai dám bảo ế chồng. Ngay bây giờ, cái mặt phong trần của bà cũng vẫn
còn phảng phất những nét đẹp hồi xuân xưa. Bà ta có thể hưởng một cuộc đời bình
tĩnh. Khốn nỗi sự đau khổ của loài người đã muốn rằng bà ta lại đa tình, đã có
một quả tim đáng quý vì biết thổn thức trước một sự đáng yêu. Trong lúc đương
xuân và còn hưởng mọi sự giàu sang, cô gái trẻ đã yêu một người. Gia cảnh đôi
bên không cân nhau, việc dạm hỏi không thành, người đàn bà đã đau khổ. Thế rồi…
một buổi chiều… Một bức thư tuyệt mệnh! - Không, tôi đã nghĩ: chẳng tội gì mà
quyên sinh! Chỉ cốt để bố mẹ tưởng là mình chết rồi thì thôi, có muốn thương
cũng không thương được nữa. Thế rồi thì là cái đời giang hồ. Bà Kiểm lâm gục đầu
xuống bàn một lúc lâu. Tôi tưởng bà ta khóc. Nhưng khi bà ta ngẩng lên, nét mặt
chỉ thoáng mấy nét bơ thờ…
Một người đáng thương làm sao! Cái quả tim đã già cằn rồi, bây giờ không còn thổn thức được nữa. Cô thiếu nữ đa cảm khi xưa nay đã đến nỗi hoá ra một “con quái vật” trên đời! Vì rằng một người đàn bà hết nước mắt có thể gọi là một con quái vật được. - Thế câu chuyện xảy ra vừa rồi thì nguyên do bởi đâu? - À, tại nó chứ không phải tại tôi chút nào cả. Vẫn hay chúng tôi lấy họ là vì tiền chứ không bao giờ vì tình. Nhưng họ cũng nhiều khi quá lắm. Có khi sẵn tiền, họ tìm đến bọn trẻ hơn mình mà chơi kia. Hết tiền lại đòi quay về, làm thế nào mình có thể ừ được? - Không có lẽ người lính lê dương nào cũng lại thế cả? - Phải, cũng có nhiều anh trung hậu lắm chứ. Nhưng cái số tôi nó thế, chỉ gặp những đồ không ra gì mà thôi. Làm thế nào? Anh chàng vừa rồi là một người Đức đấy. Mà ở nước anh ta, anh ta là quân giết người rồi bỏ xứ sở ra đi. Chao ôi! Ông bảo chúng tôi có gan không? Ngủ với cả những quân đã giết người! Mặt nó đẹp đẽ thế mà linh hồn nó rất xấu. Giọng nói của bà Kiểm lâm khẽ dần… Bà hầu như châu đầu vào tôi. Một đêm kia, bác lính lê dương đã khêu to ngọn đèn cúi xuống nhìn kỹ vợ và hỏi: - Tao đẹp lắm phải không? - Đẹp thật. - Thế mà tao xưa kia đã giết một người! - Đừng nói dối! - Nói dối à? Mày có muốn biết rõ cái độc ác của tao không? Thế là bác lính lê dương nghiến răng, cau mặt lại nhìn vợ trừng trừng. Cái mặt đẹp trai bỗng chốc hoá ra mặt một kẻ đầu trâu mặt ngựa, trông rất ghê gớm. Bà Kiểm lâm đã sợ hãi, rú lên một tiếng rồi quay đi. - Ông có đời nào tin được rằng một người đẹp đẽ, có thể khiến mình say mê mà bỗng chốc làm mình sợ hãi được không? Tôi, tôi đã thấy một cái mặt… một cái mặt… hai cái mặt như thế đấy! Đến đây, bà trỏ ba đứa con ngồi ở giường ngây ra nghe chuyện từ nãy mà rằng: - Từ lần ấy, tôi cứ nơm nớp sợ rằng có một ngày, nổi ghen lên, anh ta sẽ giết chết ba đứa con của ba chồng cũ của tôi. Tội gì bây giờ sẵn có cớ bỏ, tôi lại không cự tuyệt! 12 giờ. Gió thổi mạnh nhưng mà may không mưa. Tôi đứng lên, xin một lần sau sẽ đến. Tiễn tôi ra khỏi cửa, bà Kiểm lâm lại thêm rằng: - Ông chớ tưởng tôi cạn tàu ráo máng với người ta quá. Dẫu rằng để cho mình bị đánh đập, tôi cũng là người khôn. Nếu cứ nhận, có phen họ giết mình. Vì rằng lấy chồng là vì tiền, như thế họ tha thứ mình được. Nếu tôi nhận, họ có thể cho tôi là đĩ, mà vợ đã đĩ thì có thể họ vắng nhà, vợ ngủ với những thằng đẹp hơn. Lúc nãy ấy à? Nếu tôi ừ thì biết đâu họ chẳng giết tôi chứ không phải chỉ có đánh! Mới hay có thể có những kẻ nghĩ sâu xa khác thường!
Một người đáng thương làm sao! Cái quả tim đã già cằn rồi, bây giờ không còn thổn thức được nữa. Cô thiếu nữ đa cảm khi xưa nay đã đến nỗi hoá ra một “con quái vật” trên đời! Vì rằng một người đàn bà hết nước mắt có thể gọi là một con quái vật được. - Thế câu chuyện xảy ra vừa rồi thì nguyên do bởi đâu? - À, tại nó chứ không phải tại tôi chút nào cả. Vẫn hay chúng tôi lấy họ là vì tiền chứ không bao giờ vì tình. Nhưng họ cũng nhiều khi quá lắm. Có khi sẵn tiền, họ tìm đến bọn trẻ hơn mình mà chơi kia. Hết tiền lại đòi quay về, làm thế nào mình có thể ừ được? - Không có lẽ người lính lê dương nào cũng lại thế cả? - Phải, cũng có nhiều anh trung hậu lắm chứ. Nhưng cái số tôi nó thế, chỉ gặp những đồ không ra gì mà thôi. Làm thế nào? Anh chàng vừa rồi là một người Đức đấy. Mà ở nước anh ta, anh ta là quân giết người rồi bỏ xứ sở ra đi. Chao ôi! Ông bảo chúng tôi có gan không? Ngủ với cả những quân đã giết người! Mặt nó đẹp đẽ thế mà linh hồn nó rất xấu. Giọng nói của bà Kiểm lâm khẽ dần… Bà hầu như châu đầu vào tôi. Một đêm kia, bác lính lê dương đã khêu to ngọn đèn cúi xuống nhìn kỹ vợ và hỏi: - Tao đẹp lắm phải không? - Đẹp thật. - Thế mà tao xưa kia đã giết một người! - Đừng nói dối! - Nói dối à? Mày có muốn biết rõ cái độc ác của tao không? Thế là bác lính lê dương nghiến răng, cau mặt lại nhìn vợ trừng trừng. Cái mặt đẹp trai bỗng chốc hoá ra mặt một kẻ đầu trâu mặt ngựa, trông rất ghê gớm. Bà Kiểm lâm đã sợ hãi, rú lên một tiếng rồi quay đi. - Ông có đời nào tin được rằng một người đẹp đẽ, có thể khiến mình say mê mà bỗng chốc làm mình sợ hãi được không? Tôi, tôi đã thấy một cái mặt… một cái mặt… hai cái mặt như thế đấy! Đến đây, bà trỏ ba đứa con ngồi ở giường ngây ra nghe chuyện từ nãy mà rằng: - Từ lần ấy, tôi cứ nơm nớp sợ rằng có một ngày, nổi ghen lên, anh ta sẽ giết chết ba đứa con của ba chồng cũ của tôi. Tội gì bây giờ sẵn có cớ bỏ, tôi lại không cự tuyệt! 12 giờ. Gió thổi mạnh nhưng mà may không mưa. Tôi đứng lên, xin một lần sau sẽ đến. Tiễn tôi ra khỏi cửa, bà Kiểm lâm lại thêm rằng: - Ông chớ tưởng tôi cạn tàu ráo máng với người ta quá. Dẫu rằng để cho mình bị đánh đập, tôi cũng là người khôn. Nếu cứ nhận, có phen họ giết mình. Vì rằng lấy chồng là vì tiền, như thế họ tha thứ mình được. Nếu tôi nhận, họ có thể cho tôi là đĩ, mà vợ đã đĩ thì có thể họ vắng nhà, vợ ngủ với những thằng đẹp hơn. Lúc nãy ấy à? Nếu tôi ừ thì biết đâu họ chẳng giết tôi chứ không phải chỉ có đánh! Mới hay có thể có những kẻ nghĩ sâu xa khác thường!
Sở dĩ gọi được là nhà “bên cạnh” cũng vì gian nhà gỗ ấy ngăn
đôi ra không phải bằng tường không phải bằng vách, cũng không bằng cót hẳn,
nhưng một nửa cái hàng rào thì là bằng cót, còn nửa nữa chỉ là cái mành mành mà
muốn khỏi để thông thống, bà chủ nhà đã treo vào mành mấy bức tranh Hàng Bồ với
hai đôi câu đối... không có chữ, thế là xong.
Cho nên cứ từ bên này để ý tò mò, tôi cũng có thể biết được mọi
sự xảy ra ở gian bên cạnh.
Bà Ách lúc này còn lúi húi dưới bếp làm cà phê cho tôi. Không
hiểu bà Kiểm lâm đã tiến cử tôi bằng những câu khôn khéo thế nào mà bạn bà ta,
tiếp đãi tôi một cách cảm động. Cũng may là hiện nay bà ta nghỉ việc – chết,
quên! nghỉ chồng – mà cái tuổi trẻ của tôi chỉ vào hạng con bà nên bà không sợ
ai nghi. Chứ gì?
Những thị nào dù có ngọn lưỡi rắn độc đến đâu chăng nữa, dễ
đã dám nghi một kẻ như tôi lại đi lôi thôi với một bà già. Nhất là Suzanne, cô
con gái bà, tuy đương độ phơi phới 17 cái xuân, song lúc tôi có đây, may sao lại
đi Hà Nội.
Không phải tự nhiên tôi có cái tính xấu: tò mò. Nếu khi bà
Ách dọn giường cho tôi nghỉ tạm mà chẳng thì thào: “Này, bên cạnh cũng có mấy
đám đang tìm chồng đấy!” thì tôi đã chẳng phải nhịn thở mạnh, vén bức câu đối để
nhòm sang...
Có hai me. Một me nằm đắp chăn uể oải đọc một tờ báo cũ. Còn
me kia ngồi thừ trên ghế, khoanh tay co ro, cái quần trắng cái áo len xanh, đôi
bít tất hoa đào cũng không thể bài trí nổi cho mặt có được lấy một vài nét...
me. Cũng răng trắng cẩn thận đấy, song nó vẫn quê kệch thế nào! Chỉ được cái
bình tĩnh là đáng phục! Ôi! Lã Vọng! Cụ thử sống lại mà xem vẻ mặt một người
đàn bà khi ngồi bó tay chờ... công danh mà thản nhiên đến thế, rồi cụ nghĩ lại
những lúc có cái tâm thần thư thái lúc ngồi câu, xem cụ có phải kính phục cái
“triết học” của me ấy không!
Một tiếng cùi rìa chạm cốc đánh keng một cái khiến tôi quay lại.
Bà Ách đã bày lên bàn mẩu bánh, cốc cà phê sữa và gật đầu gọi
tôi. Tôi ra ngồi bàn. Bà Ách nháy mắt một cái, đoạn khẽ hỏi:
- Bên ấy có mấy người ở nhà?
- Hai.
- Hai thôi á? Thế thì họ đi đâu vắng mất hai đấy. Mới có hai ả
nhảy đầm ở Hà thành sang vài hôm nay.
- Sang đây nhảy đầm hay tìm chồng?
- Chắc là để kiếm chồng đấy chứ nhảy với nhót gì! Thế ông có
thấy bà già nào cũng độ tuổi tôi ngồi đấy không?
Tôi lắc đầu. Bà Năm cau mày một lát rồi:
- Bà ấy là bà Cẩm, nghĩa là hồi ở Chùa Thông đã lấy nhầm ông
cẩm. Con cái chả có, nay trở về già đành phải làm cái nghề bà Nguyệt rồi lấy hoả
hồng để độ thân. Nghĩa là cũng như bà Hai Yểng bên này. Song bị khốn đốn hơn bà
Hai Yểng nhiều, vì không có vốn. Phải lắm, đến bà Hai Yểng là người sống đã
thâm căn cố đế bên này, cửa hàng cát-cút (casse croute) đắt, cửa hàng xe đạp chạy,
mà chỉ bao số chị em bị chạy làng cũng đến lệch nghiệp nữa là trần như bà ta.
Đã ít xu lại cờ bạc thì tất phải chết!
Vừa lúc ấy có tiếng guốc ở ngoài vào. Rồi thấy những câu hỏi,
đáp:
- Thế nào me, được hay thua?
- Được ba hào! Tao đói lắm mà có hàng miến ngon quá cũng
không dám ăn, sợ không có tiền tiêu vặt. Mày xem trong bíp-phê còn gì không? Hình
như còn cái bánh hai đấy. Lấy ra đây, cả hộp bơ nữa, mau! Con Duyên kia, đứng
lên!
Vậy thì ra bà Cẩm của tôi đã là người quen thân mất nết đi rồi!
Vào cái cảnh ngộ ấy, giá biết điều thì bà nên hỏi cơm nắm tay hay cơm nguội với
niêu dừa kho. Song le... thói quen! Bơ với phó mát đã vượt trùng dương qua đây,
đã chinh phục được nhiều kẻ thù ở đủ các giai cấp.
Chợt thấy tiếng bà Cẩm gắt:
Đến cái giọng thản nhiên không run sợ đáp lại:
- Thưa cô, có bánh, nhưng hộp bơ đặc cả kiến rồi...
- Cái gì? Kiến vào bơ à? Tiên nhân mẹ nhà mày nữa! Làm với
ăn! Chỉ được cái bộ ngồi lỳ ra như mẹ người ta ấy, chứ không còn biết trông đến
một cái gì cả!
Một... nàng tên Duyên là đến nỗi bị chửi như thế việc ấy khiến
động lòng... trắc ẩn của tôi. Tôi chỉ muốn can thiệp. Chưa thể can thiệp được
ngay, tôi hãy chạy ra chỗ cái mành mà nhòm. Thế cũng đủ tỏ lòng săn sóc rồi:
tôi đã bỏ cốc cà phê.
Lúc này cô ả nằm đắp chăn cũng bỏ tờ báo cũ, xướng hoạ:
- Chị Duyên cứ lơ đễnh như thế thì không thể lấy thằng nào bền
được. Chị phải biết lo mới được chứ! Đến như tôi cũng còn khốn đốn đây nữa
là...
Rõ thật lửa đã cháy lại có kẻ tưới thêm dầu, Bà Cẩm làm một hồi
nữa:
- Sao không ở làng mà lấy thằng cổ cày vai bừa nào thì lấy có
được không? Thân phận đã thế lại còn chê chồng! Không biết bố mẹ mày ăn uống gì
mà đẻ ra mày như thế chứ? Xào một xanh rau thì bắc lên hai con đỉa! Một tháng
chưa tắm, rận chấy lúc nào cũng như sung! Ngồi ăn cơm, ho một cái bắn vung cơm ở
mồm ra như mưa ấy! Chồng nó đã không chê thì thôi chứ lại còn chê chồng! Tưởng
ta... vàng... ngọc lắm đấy!
Duyên chỉ đứng im cúi đầu. Không cãi là nhận lỗi.
Ấy một người như thế mà người ta nuôi để chỉ chờ đến lúc
là... quăng cho Tây phương.
Tôi đã quay về bàn với cốc cà phê của tôi để nghĩ đến các ông
lính lê dương, những vị hoặc anh hùng, hoặc có khối óc ngang tàng, đã ở một đảng
cướp hay một đảng vô chính phủ, đã nậy đường sắt để làm đổ một chuyến hoả xa
trên có một ông tổng trưởng ngoại giao, hoặc đã ra lệnh cho mấy chục phát súng
lục cùng nổ tại một ngân hàng, đã vượt ngục, đã tránh thoát viên đạn trượt
ngang tai tại một biên thuỳ, để rồi lạc loài đến Thị Cầu này, ôm lấy một người
có giá trị đến như thế mà nỉ non, rền rĩ: “Tôi yêu mình lắm, mỹ nhân ơi!”.
Tôi không được mục kích thấy Duyên chê chồng. Tôi cũng không
được biết lúc Duyên bị ba ông chồng lính lê dương chê.
Nhưng mà... đôi bít tất hoa đào, cái vẻ mặt thản nhiên vì ngu
đần của Duyên. Với những câu kê khai tam đại Duyên của bà Cẩm.
Vậy thì tôi thử cứ phác hoạ cái đoạn đời của Duyên từ khi
Duyên còn là cô gái quê...
Một buổi chiều...
“Hỡi anh đi đường cái quan…
Dừng chân đứng lại em than một lời!”
Đương bó lúa với mấy chị em, Duyên thấy một chàng quần lụa,
áo xa hoa, giày đế kếp, đội nón dứa, tay xách cái va-ly tre, bước thoăn thoắt
trên đường Duyên đã cất giọng oanh hát ghẹo. “Anh đi đường cái quan” đi ba bước
rồi dừng lại, nhìn... Dưới ruộng chiêm, tiếng mấy người đàn bà cười khúc khích.
Chợt khách bộ hành cũng hát:
“Nếu không duyên số thì thôi,
Xin đừng chuốc tiếng là người lẳng lơ!
Dù anh đã có con thơ,
Nếu còn đú đởn anh cũng vơ lên lòng!
Hay em là gái chưa chồng?
Lên đây, anh sẽ cho bồng... cho mang!”
Mấy chị em bạn càng cười già hơn, riêng Duyên chỉ đứng cúi mặt.
Duyên đã có chồng rồi. Người khác, không có ý gì thì mới bông lơn được. Sự im lặng
này đã tố cáo một tội của Duyên: không yêu chồng!
“Anh đi đường cái quan” đáo để ấy mỉm cười đắc chí rồi đi.
Đêm, về nhà, nằm cạnh anh chồng đi ngủ không rửa chân, Duyên
thấy chán. Trời! Con người bần tiện, ngồi ăn thì đầu gối quá tai, chán làm sao,
trời ơi, buồn làm sao! Nói thì giọng nhát gừng, chỉ những ấy với lại nhà mày
ơi, có phải không nhẩy! Đã thế, có việc ra đình lại ngôn bất xuất khẩu, trên
các cụ ghét, dưới bọn đàn em khinh.
Chán ơi là chán!
Một tháng ấy, Duyên đã dùng thời giờ để chê chồng.
Tháng thứ ba, Duyên về ở nhờ chị: hai bên cùng bỏ lửng.
Trốn chúa lộn chồng thì còn ai lấy, Duyên đã ra Hà thành. Một
hôm, tại kinh đô, Duyên may sao đã gặp một người trông y như “anh đi đường cái
quan” vậy. Người ấy đã nói với Duyên những câu ngọt ngào làm sao, bùi tai làm
sao. Người ấy mời Duyên vào nhà kia “trò chuyện” một đêm, Duyên đã gật đầu.
Sáng hôm sau người ấy không biết bảnh mắt đã đi đâu, làm cho Duyên phải tháo
đôi khuyên bạc.
Thế rồi thì... những ngày sống vất vưởng tại kinh thành.
Không chịu nổi nữa, Duyên đã... bò lên Chùa Thông tìm cô là
bà Cẩm.
- Lạy cô cháu đã dại dột, cô thương cho.
Duyên tuy thú tội dại dột, song vẫn không hối hận, phải không
hối hận một tí nào cả! Bà Cẩm chép miệng:
- Rõ đồ voi dày! Tiên nhân mẹ mày nữa! Thôi được! Cứ ở đây hầu
hạ bà rồi tiện dịp thì bà gả cho Tây cho xong!
Hôm sau, bà Cẩm tống con sen đi vì nó hay ngủ gật.
Rồi bà Cẩm dạy cô cháu đánh phấn, bôi môi, kẻ lông mày. Bà
thương cháu bà lắm: cái cóoc-xê lụa cũ còn dùng được mà bà cũng cởi ra cho. Bà
chỉ dặn là lúc thổi cơm, rửa bát thì đừng có mặc đến. Xóm các me ở Chùa Thông mới
ít lâu đã đồn nhau biết cô Duyên là gái quê đi kiếm chồng.
Hôm ấy, me sừ Giăng đến chơi...
- Ki e xen là? (Thị kia là ai?)
- Ma ni-et. Bay dan, dơn, bố cu tốt! Toa vù loà ê-pu-dê?
(Cháu tôi đấy. Nhà quê, trẻ, tốt lắm. Có muốn lấy không?)
- Bay-dan? Vre? Đăng noa? Phét voa! (Nhà quê thật? Răng đen
à? Xem nào).
Bà Cẩm quay lại bảo cháu:
- Mày nhìn nó mà cười tình đi ta xem!
Duyên liếc mắt một cái rồi cười, Me sừ Giăng gật gù:
- Chiêng! Giăng! Phô mơ đồ nê vanh biết cẩm bua boà! Xăng qua
ba lạp ben rơ vơ nia! Hánh? (Này, Jean, phải biếu tôi hai chục bạc hoa hồng. Nếu
không đừng lại nữa. Thế chứ?).
Me sừ Giăng lại gật gù một hồi rồi mới ra đi. Thế là xong.
Bao nhiêu tin đi mối lại của hai bên nhà gái nhà trai, trầu cau, chạm ngõ, sêu
tết, bánh chưng bánh giầy, đại lễ, dẫn cưới, chỉ là mấy câu tiếng tây giả cầy ấy.
Ba hôm sau, Duyên đã thành: Madame Jean. Bà Cẩm có hai chục bạc bỏ hòm... Chả lỗ
vốn...
Tôi tính đến chuyện đi tìm bà hai Yểng, tìm bà Đội Tứ là người
chôn các me, với bà Ách Nhoáng xem độ này còn hùng hổ như hồi ở Việt Trì không.
Tôi đã đứng lên, toan đi:
- Chào ông!
- Không dám, chào cô.
Suzanne đã về. Cô ăn mặc ta. Chao ôi! Đẹp đâu có đẹp! Thế thì
tôi đi làm sao?
Tại sao bà Ách không những cho phép mà lại còn muốn tôi với
Suzanne cùng sóng đôi nhau thăm thú Thị Cầu và Đáp Cầu? Hay đó là một cuộc xếp
cảnh? Hay đó là chứng nhận lòng tin. Không bao giờ tôi biết rõ được và tưởng
cũng chẳng cần biết rõ. Các ngài cứ hiểu cho rằng sau vài tiếng đồng hồ trò
chuyện thì, trước mắt Suzanne, tôi đã tỏ ra là một kẻ biết điều phải trái, đại
lượng, đáng yêu, không khinh người. Cho nên trong khi đi đường, tôi hỏi thật
Suzanne rằng: - Cô đi chơi với tôi thế này mà không ngại điều tiếng gì hay sao?
Thì Suzanne cúi đầu đáp: - Tôi tưởng chính tôi đã coi ông như một người anh thì
ai muốn bảo sao cũng mặc họ chứ? Cứ biết, chính tôi, tôi không nghi tôi, thế là
đủ rồi. Nghe thấy thế tôi vừa vui, vừa buồn. Vui vì được người tin và không vui
vì... chỉ được tin thôi, phải đâu đó là sự đáng cho mình tự đại! Đã quá huyện
Võ Giàng. Trên đường về Bắc Ninh, chúng tôi lộn bước; tiết trời hơi lạnh, lại vừa
lạnh mưa, nên đi chơi Đông chúng tôi cũng có cái cảm tưởng như đi chơi Xuân. Những
me... Những me... Lại những me... Nào hai chúng tôi có thể là một đám rước đâu
mà các me chạy ra xem đông đến thế! Quần trắng lồm lộp, răng cũng trắng với những
cái áo len hoặc áo di-lê, các me khiến tôi muốn hỏi: “Nhàn hạ thế, không họp
nhau đánh chắn đi à?” Dù đẹp, dù xấu các me đều có những nét mặt khó tả cả. Thập
thò bên trong cánh cửa hay sau cái mành mành, các me khiến tôi muốn đổi lại câu
thơ của Ôn Như Hầu: Bóng gương lấp ló trong mành, Cỏ cây cũng... sợ nổi tình
mây mưa! Tôi hỏi Suzanne: - Tại sao phần nhiều các me Tây vẫn già, vẫn xấu, mà
vẫn đắt chồng? - A, cái điều ấy tôi biết rõ lắm. Tây họ có con mắt nhận sự đẹp
khác xa ta. Ông trông thấy một người đàn bà đẫy đà, mặt đầy đặn, hoặc béo núc
béo ních chẳng hạn... Thế thì ông đủ ghê sợ, cho là thô phải không? Ấy đại khái
thế, người Tây họ lại cho là đẹp. Ông có biết mặt bà Bé Tý không? Ấy chính tại
tôi đã được nghe một ông Tây khen bà ta có cái đẹp hoàn toàn: người đàn bà đẹp
nhất nước Nam! Còn khi ông thấy một người yêu kiều, thướt tha như liễu, rồi ông
say mê... Người Tây thì lại cho thế là cái đẹp đáng sợ. Lấy người mảnh dẻ, sinh
đẻ vài chuyến thì nguy to ngay chứ gì? Hai nữa, cái đẹp mảnh dẻ là cái đẹp
không bền, có phải thế không? Tôi cười và hỏi thêm: - Thế thì người Tây phương
ưa mua những đồ có thể giữ được lâu bền? Suzanne khẽ cho tôi một khuỷu tay vào
mạng mỡ: - Ông, thí dụ ông sắm bộ đồ gỗ hay may bộ quần, áo, liệu ông có thích
cho những cái ông sắm chóng cũ chóng nát, chóng hỏng đi không? Những sự đó đã đủ
cắt nghĩa tại sao dân Âu châu ham mê thể thao và đã chế tạo ra vật gì thì vật ấy
phải bền, không những kể đẹp. Chỉ có Đông phương, thí dụ như nước Nhật, là ưa
cái đẹp mảnh dẻ chóng hỏng mà thôi. Song le lời cắt nghĩa của Suzanne chỉ mới
cho tôi rõ hai quan niệm về vẻ đẹp. Tôi còn muốn biết tại sao người xấu như ma
cũng vẫn lấy được chồng. Mà xấu thì bà Ách kể đã là xấu! Vậy thì... ăn làm sao
nói làm sao bây giờ? Tôi bèn xa xôi: - Có lẽ không phải họ chỉ thích đẹp mà
thôi đâu. Chắc cũng có nhiều người trọng nết, muốn vợ là người đức phụ. Phải thế
những người không có nhan sắc mới không đến nỗi ế chồng. Chính tôi, tôi đã
không thật thà, để cho Suzanne tỏ ra là hơn tôi: đã thật thà... Vì rằng Suzanne
nói: - Ông tưởng thế chứ tiếng đức phụ không bao giờ nên để tặng cho một người
đã đi lấy Tây. Tại làm sao xấu họ cũng lấy, già họ cũng lấy? Những người Tây ấy
là những người chán đời. Nuôi đầy tớ sợ nó ăn cắp, thà lấy một người vợ, vừa được
sai bảo vừa được... việc khác nữa. Đã không cùng nói một thứ tiếng, người vợ lại
chỉ coi ông chồng là cái tủ bạc thì người chồng dễ mỗi lúc đã đem tấm thân ái
tình ra tặng vợ hay sao? Vả lại, một người Tây đã sang đây thì ai biết rõ đoạn
đời về trước của người ấy thế nào? Khối óc họ không nhẽ chỉ để làm việc cho ái
tình! Hai người đều có địa vị, cùng chí hướng, cảnh ngộ cần nhau, mà yêu nhau,
đó mới là yêu. Muốn có ái tình thì hai bên không ai có thể khinh được ai. Chứ
còn yêu để mà “một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng” thì đó là yêu vì thương chứ
còn đâu là yêu vì yêu nữa? Thật vậy, Suzanne còn trẻ mà đã hiểu sự đời biết
bao! Nhưng cái đó cũng chẳng hay gì. Người nào hiểu sự đời lắm thì không mấy
khi sướng cả. Sung sướng là cái phần của ai không hiểu biết sự gì mới được hưởng
mà thôi. Mới chuyện có một lúc mà đi đã được khối đường đất rồi. Trái đồi có
nhà thương đã qua, phố ga qua, bây giờ trước mặt chúng tôi là cầu và sông, bên
trái là đường hoả xa, bên phải là ngọn đồi có trại binh pháo thủ. - Hay là
chúng ta lên đồi? Suzanne gật đầu, chúng tôi vòng nhà máy Gạch, qua những dãy
nhà đằng sau chợ Đáp Cầu thủng thỉnh bước lên. Những nhà ở đây có thi vị lạ.
Tôi bỗng có cái cảm tưởng như đi du lịch một nơi xa lạ nào. Những gian nhà nhũn
nhặn đắp bằng đất đỏ chen chúc nhau mái thấp, mái cao hoặc cách biệt nhau bằng
những lối đi quanh co như vết rắn, do những tảng đá xanh và xám nối nhau, bắc bậc
nhau như những cái thanh ở một hòn giả sơn nào. Đẹp quá đi mất! Bây giờ đã đến
lúc để tôi tìm mọi cách khám phá cho ra những ý nghĩ âm thầm của một cô đầm lai
trẻ trung, xinh đẹp, xem cô đã biết phác hoạ lấy một cái chương trình về cuộc đời
hay chưa. Những chuyện tâm sự chỉ có thể dò được giữa một cảnh nên thơ... Ngọn
đồi này... với cái miếu nhỏ chung quanh có mấy cây ổi điểm tô cho, mà dưới chân
là một vùng nhà với trại binh, mà gần sườn là một khúc sông, kể cũng đã nên thơ
lắm.
- Phải, tuy tôi có lang Tây nhưng mà tôi không hi vọng lấy chồng
Tây. Hoặc lấy Tây là bần cùng. Vì rằng từ bé đến nhớn, mà tôi lấy bốn đời chồng
sau khi ba tôi về Pháp, thì cả hai chân tướng cuộc đời ra sao, tôi đã nhiều lần
nom thấy rõ. Cảnh ngộ tôi thật khó nghĩ. Lấy Tây ngộ nhỡ phải theo chồng về
bên... mẫu quốc thì để rồi mẹ già chết đói bên này hay sao? - Lấy một người chồng
An-nam... - Cũng khó lắm. Hạng người dám có gan hỏi tôi chẳng hạn thì không chắc
đã được gia đình công nhận hẳn cho cái việc người ta làm. Nếu còn bị điều nọ tiếng
kia thì khó chịu lắm. Vả lại chỉ say mê cái sắc đẹp một lúc, có khi rồi họ bỏ
mình. Ấy là noi những người gan nhất thì như thế. Còn những người sống theo cuộc
đời nề nếp thì làm gì có can đảm hỏi một người lai? Là một người lai là một cái
khổ. Người Tây đã không hẳn quý trọng mình, mà người Nam cũng không yêu thương
hẳn mình. Ở cái xã hội quý phái Âu Tây, một ít máu An-nam trong huyết quản là một
cái nhục. Ở cái xã hội quý phái người Nam, một ít máu Pháp trong huyết quản
cũng chẳng là sự vinh. Giời ơi! Thì ra tôi không có Tổ quốc! Suzanne cúi đầu, bất
giác nức nở... Tôi chỉ còn kịp kéo tay cô ta về mình, và muốn tỏ sự cảm xúc bằng
một cái hôn. Song le, nghĩ rồi lại thôi. Không nên chơi với lửa. Suzanne lại
nói một cách chua chát: - Oui, je suis sans patrie! Tôi khẽ nói: - Lấy một người
chồng lai... Nén cơn đau, Suzanne lại bình tĩnh thêm rằng: - Ông nói phải lắm.
Tôi đã nghĩ thế. Một người chồng lai, cũng có Pháp tịch, mà không thể nào khinh
được tôi. Nếu chồng phong lưu, tôi sẽ mặc đầm. Nếu chồng nghèo, chỉ là lính
tráng chẳng hạn, thì tôi sẽ chỉ cứ ăn mặc ta. Tôi đã học hành mãi ở trường trẻ
con lai vô thừa nhận. Giá như ai, không nghĩ đến mẹ, tôi đã sang Pháp năm ngoái
rồi. Mà giá muốn lấy chồng xi-vin như ai, tôi cứ ở Hà Nội, tìm một chân bán
hàng mỗi tháng kiếm vài chục bạc may mặc, có lẽ tôi cũng đã có một vị hôn phu rồi.
Nhưng mà thà về với một người mẹ khổ sở, cùng mẹ ăn cơm ngô, cơm khoai. Thế là
Suzanne hết đau đớn. Lòng hiếu đã làm cho cô ta trở nên... anh hùng! Vì rằng
Suzanne kể thêm: - Ừ, mà tội gì lại phải đau xót vì không có tổ quốc nhỉ? Nói
xong cô ta đứng lên quay ra bốn phương, nhìn... Suzanne không muốn lấy chồng
Pháp. Suzanne chẳng đau khổ vì không có tổ quốc mà thờ. Suzanne cũng chẳng muốn
lấy chồng An-nam. Ồ, nếu thế thì còn thú gì nữa! Có thể như thế được chăng? Tôi
làm ra lần thần: - Theo ý tôi, dù sao nữa, lấy một người chồng An-nam vẫn
hơn... Suzanne lườm tôi mỉm cười. Trong cái lườm ấy, trách là trách yêu. - Ấy
má tôi vẫn nghĩ như thế. Vẫn bảo tôi đại khái rằng: tao chỉ muốn có một người
chàng rể An-nam để sau này chôn cất cho tao. Bao giờ cũng thế, má tôi chỉ lo chết
hơn lo sống. May quá! Tôi chẳng để lỡ một cơ hội tốt: - Chứ gì! Bà cụ lo thế là
phải lắm chứ. Suzanne nên lấy chồng ta, xem người nào xoàng xĩnh, quân tử, có
óc mới... không chịu luỵ về những cái thành kiến cổ hủ, chỉ biết có ái tình.
Suzanne nhoẻn cười: - Như ông có phải không? Rõ khéo chỉ được cái giọng kẻ Bưởi!
Tôi cũng cả cười. Nhưng Suzanne đã nghiêm nét mặt: - Không! Không thể được. Bao
giờ lúc đầu người ta cũng mơ màng sự đời là tốt đẹp lắm. Cái khốn nạn nó không
đi ngay với cái tốt đẹp bao giờ. Nó chỉ chùn lại để đi sau mà thôi. Thí dụ như
ông chàng rể bà Đồng Đền ở Phủ Lạng! Chuyện này cũng thuộc về cái đề, “kỹ nghệ
lấy Tây” song... người thợ lại thuộc về giống đực. Anh đàn ông coi cô vợ đầm
lai như cái mỏ vàng. Suzanne thuật chuyện trong ba phút, nhưng tôi phải viết đến
ba mươi dòng mới đủ nghe. Cách đây độ tám năm, một viên giáo học bị cữu, kết
duyên loan phụng với cô đầm lai, con một bà Đồng Đền. Cả tỉnh ồn ào chê anh
chàng tham của. Bà đồng này có tới bạc vạn và đã hết lòng sửa lại cái điện thờ ở
chợ Bắc môn. - Không biết đã làm gì mà giàu? - Hay đã buôn thuốc phiện lậu? -
Không phải, của mấy ông chồng để lại cho đấy! - Nói khoác, xấu như ma lại đòi
làm giàu về nghề lấy Tây! - Cứ gì xấu hay đẹp... ở đời này có số chứ! Đó là những
điều “ngồi lê đôi mách” của các me, mỗi khi muốn ghen với cái lá số của bà Đồng
Đền. Mà cái lịch sử li kì của bà kể cũng đáng làm rỏ dãi các me. Khi còn cái
tên Tư Bạc, nghĩa là giữa lúc “mơn mởn đào tơ” thì bà ta vì cái nhan sắc mẫu dạ
xoa, chỉ thèm làm bạn... dăm năm với một ngài săng đá, một người mà quan niệm về
mĩ thuật chưa phát triển mạnh. Do đó, đẻ được một mụn con gái... Rồi thì, một
hôm bà Tư Bạc ngán ngẩm cuộc đời mà than rằng: “Mặt sông nước chảy lờ đờ, ông về
bên ấy bao giờ ông sang!” Một vài năm qua... Sự túng thiếu... sự khổ nhục. Hết
các kế, bà ta phải lấy bốn chữ “lá gió cành chim” ra làm một nghề. Một đêm, một
quan tư thầy thuốc sai bồi đi gọi bà ta. Tháng sau, bà ta thành vợ quan tư thầy
thuốc! Sự thương hại hay ái tình? Nào ai hiểu nổi sự rộng lượng của người đàn
ông. Cứ cho là tại duyên số. Sau vài năm, ông quan tư ấy về rồi không sang. Năm
sau lại một ông quan tư khác đến kế chân ấy. Rồi được ít lâu, ông cũng về. Ông
nào về cũng để lại cho vợ nào nhà gạch đầy rẫy, nào bạc đầy rương. Giàu có rồi,
bà Tư lần này đành... thủ tiết. Chỉ có một con gái, bà Tư muốn được một quý tế
An-nam mai sau chôn cất cho mình. Viên giáo học ấy đã đến nói với con bà: “Tôi
lấy mình vì tình chứ chẳng vì tiền đâu”. Được dăm năm, chàng rể quý ngày đêm cứ
cầu trời khấn Phật vật chết mẹ vợ! Duy-ly – tên người vợ – đã cau mặt: - Đồ khốn
nạn, mày chỉ vì tiền mà thôi! Thì ông chồng cười gằn: - Mang trên trán cái nhục
là chồng mày, là con rể một kẻ như mẹ mày, mà không nói đến chuyện tiền thì
thiên hạ nó cũng chửi! Những câu ấy chẳng phải không đến tai bà Đồng Đền. Nhưng
mà bà cần gì! Đêm ngày bà ta cứ “tấu lạy Vua mẫu” xin ban ơn cho nhân gian, múa
vung khói nhang mà hé hé hé! - Không! Dù nghèo hay giàu tôi cũng chẳng lấy chồng
An-nam! Suzanne đã thở dài mà nói thế. Tôi, tôi cũng đã thở dài.
- Vâng, tôi cũng phải đi ngay. Bà Kiểm lâm gọi tôi có việc cần.
- Nhưng trước khi về Hà Nội, ông có quay lại đây nữa không? - Không biết thế
nào mà dám nói trước. Xin kính chào bà và cô. Nói xong tôi với lấy mũ ra đi,
Suzanne chạy theo tôi mười bước. - Này ông. - ?... - Thế chuỗi hạt này ngụ những
ý gì? Suzanne hỏi tôi một cách đứng đắn lắm. Chuỗi hạt pha lê ấy, khi từ đồi về
đi qua phố Chính, tôi đã vào một hiệu khách mua nó và chờ về đến nhà mới rón
rén đeo vào cổ Suzanne. Bà Ách nghèo nhưng trong khi tiếp đãi tôi, đã chịu thiệt.
Lúc ấy tôi đã phải nói liều: - Để làm một kỉ vật đau đớn. Những dòng này, tôi
mong sẽ có ngày ở dưới mắt Suzanne.
Bà Kiểm lâm đã giới thiệu cho tôi quen bà cai Bu-Dích nhưng
bà này không mời tôi về nhà mà mời lại chơi nhà người “bạn đồng nghiệp”. Theo
dòng chữ bút chì nguệch ngoạc trên mảnh giấy xé ở sổ thợ giặt ra, tôi cứ việc
thấy cái sân có rào găng ở một ngõ lách thuộc phố Nhà Ngựa là vào. Mới để chân
trước cổng đã thấy một giọng lanh lảnh hát: Bạc đồng me sừ chớ có mà phát xê...
At tăng moa rắc công tê tú sà! (1) Nàng Thơ ở đây, dù sao, cũng đã “dung Âu hợp
Á” thành ra văn minh hơn mình, hơn Nàng Thơ của cái “kêu đường giới” ở những chỗ
tránh xe điện. Đương đứng lắng tai muốn nghe thêm nữa thì đã thấy tiếng guốc từ
nhà ra sân. - Ông cứ vào, chị em tôi đương đợi mãi. Đó là bà Cai. Tôi ngả mũ rồi
vào. Đây là một gian... vừa là phòng khách, phòng ăn, và phòng ngủ. Có thể gọi
là nhà thờ cũng được, vì bên cạnh cái giường tây gỗ, có thấy đóng một cái xích
đông bên trên bày đồ thờ, thờ một cái tranh con hổ. Chẳng biết Sơn quân ngài có
biết xơi bơ không? Ai đã chơi khăm, để ngay ở đây một hộp như muốn cúng ngài thế?
Trên giường có hai me ngồi, ngồi chầu một cỗ tổ tôm. Nếu phân tích kỹ lưỡng ra,
cái giường ấy lý tất nhiên đã là cái sòng, đã chứng kiến cho bao nhiêu tối tân
hôn, và biết đâu lại không là vật tòng phạm của bao nhiêu cuộc ngoại tình nữa!
Cái giường của một me Tây cũng như cái dùi cui của một thầy cảnh sát, cũng như
cái búa của bác thợ rèn, cũng như cái cổ của một ông nghị viện Việt Nam. Trong
cái kỹ nghệ lấy Tây, thợ chỉ làm việc trên giường. Thấy tôi vào, hai bà khép
nép thu bớt những bộ đùi quần trắng lồm lộp lại, ngồi cả vào một chỗ, mời tôi
ngồi ngay bên. Một bà hỏi bà cai Bu-Dích: - Ông ấy đấy à? - Phải. Bà kia lại mỉm
cười: - Thế ông định viết báo nói xấu chị em chúng tôi những gì thế ông? Tôi
đáp: - Không, tôi không muốn nói xấu ai, tôi chỉ muốn rõ sự thực. Bà cai
Bu-Dích cũng đỡ lời một cách quyền hành: - Nỡm lắm! Cứ bông lơn làm gì thế? Người
ta đến đây để nói đùa hay sao? Tôi lại phải lựa lời: - Hai bà nên rõ cho rằng
chúng tôi chỉ muốn rõ những cuộc phối hợp của đàn bà với người Tây phương có
may, có rủi thế nào? Chúng tôi để ý nhất là trẻ con lai. Số này đông lắm nên vấn
đề trẻ con lai sau này tất làm bận lòng các nhà cầm quyền lắm. Xưa nay hình như
ta có cái thành kiến: nếu ai lấy Tây chỉ là vì tiền. Thế thì có bao giờ bà nào
lấy Tây vì ái tình không? Nào ai ngờ mới nói qua loa thế thôi mà hai me kia đã
hầu như nổi trận lôi đình. Cả hai đều xô xô lên rằng: - Chứ không ư? Việc gì mà
lại chẳng vì tiền? Ông tính chúng tôi với họ thì còn có thể nào vị tình vì
nghĩa gì được nữa? Vả lại họ lấy chúng tôi cũng chẳng phải vì tình. Đối với họ,
chúng tôi chỉ là những cái đồ chơi trong một hạn kha khá dài mà thôi. Nói đại
khái thế rồi, cả hai me ra vẻ lấy làm hả lắm. Tôi thật không ngờ. Dễ thường nếu
mình ra ý phỉnh nịnh, đã nói trước rằng họ lấy nhau vì tình chẳng hạn, có lẽ
các bà này coi mình như đã... mai mỉa các bà cũng nên. Song, từ xưa đến nay, mấy
nghìn mấy vạn bà vợ Tây, phải chăng bà nào cũng cùng một quan niệm như thế? Chợt
một bà vội dặn: - Nêu ông có viết vào nhật trình thì cứ viết phăng rằng chúng
tôi lấy họ là vì tiền, thế thôi! Mà hạng đàn bà chúng tôi là hạng bỏ đi, xã hội
không cần kể đến nữa. - Nếu những cuộc nhân duyên của các bà có thể chép vào
thanh sử được thì trong cuốn sử ấy, từ khi người Tây sang đất nước này tưởng
cũng đã có nhiều đoạn oanh liệt và vẻ vang. Thế là bà Cai nói ngay: - Người đàn
bà Bắc Kỳ thứ nhất lấy Tây là bà Đội Chóp. Bà này chính là... chính là tổ sư
nghề lấy Tây. Ông đội chết rồi, bà ta cũng chẳng nghèo, chẳng giàu. Con cái chẳng
có, bà đội về già thì để tâm tư vào một việc, một việc ta cho là từ thiện: cái
việc khóc ma mướn. - Ới ai ơi là ai ơi: Trăm đường nghìn nỗi, ai ơi ... Ai đi
đâu bỏ cửa bỏ nhà, bỏ anh em cha mẹ, họ hàng, ai ơi... Bốn mươi năm trước đây,
người Việt Nam, ngoài sự lo tưới nước luộc lợn vào xác người chết, lại còn muốn
người chết phải cảm động bởi những câu khóc lóc khéo của kẻ sống ở sau cái quan
tài! Nhà nào sợ vì lẽ gì tang gia bối rối mà không đủ lời lẽ thảm thiết thì mời
bà Đội Chóp giúp hộ một miệng. Bà Đội Chóp, một người có lòng từ thiện, đã vui
vẻ mà khóc, tươi cười mà khóc, khóc một cách chu đáo, mà lại không tính tiền,
nghĩa là khóc ga-tuýt vậy. - Ới ai ơi là ai ơi!... Nhưng thôi, chúng ta để bà
cai kể nốt: - Nước ta có số vạn trẻ con lai vô thừa nhận với số vạn nữa, thiếu
niên, thiếu nữ lại có Pháp tịch, được hiển đạt, tội ấy và công ấy ở cả bà Đội
Chóp mà ra. Bà ta đã có can đảm đánh trống ra lệnh cho chị em hậu sinh chúng
tôi không nơm nớp sợ những ông khổng lồ tóc đỏ mắt xanh, nói thì oang oang như
gắt, chân tay hay giơ lên như sự sừng sộ... Phải, mỗi khi người đàn bà bỡ ngỡ
nghĩ đến sự trao xương gửi thịt cho những người xa lạ ấy mà nơm nớp lo sợ, mà
trù trừ đo đắn, thì hầu như có linh hồn của tổ sư hiện lên an ủi rằng: “Không sợ!
người Tây văn minh ra phết, họ không ăn thịt mình, cứ lấy bừa đi!”. Bọn chúng
tôi không ai nhịn được cười. Ấy là bà Cai mấy hôm nay vừa bị ông Cai chạy làng
cho một vố, nghĩa là bị chồng bỏ, nghĩa là bà vừa trải qua một trận phong ba,
mà còn có gan bông lơn như thế. Đủ biết quả tim kia không rung động nữa rồi. Lấy
chồng hay bỏ chồng, bà này chỉ thấy là tậu được một cái chén hoặc nhỡ tay đánh
vỡ mất mà thôi! Lúc này, một lũ trẻ con bà Cai dắt díu nhau lúc nhúc kéo sang.
Đứa nào trông cũng hay hay, tinh khôn nhanh nhẹn lạ. Nhất là đứa bé ba năm
trông y như trẻ quảng cáo của hiệu sữa “con chim” vậy. Tôi buồn rầu vì chợt
nghĩ đến bố mẹ chúng. Bọn trẻ ấy sau này sẽ có tương lai ra sao? - Má ơi, má
trông thằng Gioong nó đeo vào yếm rãi nó cái mỏ neo nó nhặt được đây này! Con
chị rầm rộ chạy vào, giơ thằng em ra khoe. - Bước ngay! Bà đang có khách, đừng
có đến ám quẻ bà nhé! Quát rồi, bà Cai Bu-Dích nhặt cái guốc giơ rõ cao.
Mấy chị em hãi hùng, dắt bíu ẵm bế nhau cút mất! Không, một người đàn bà, dù là quái vật đi nữa, khi đã thành một người mẹ rồi thì khi nào lại nỡ cứ quái vật với cả lũ con mình rứt ruột đẻ ra. Vậy thì sao trước lũ trẻ đang hôn hít nâng niu kia, mẹ chúng lại có cái cử chỉ như của cai ngục đối với tù nhân thế? Tôi đã muốn bất bình... May sao, tôi nghĩ ra ngay. Trong khi người đàn bà chỉ nghĩ đến tiền, người đàn ông chỉ nghĩ đến nhục dục, giữa hai bên hầu như có bức tường ghê gớm mà sự thành thực không thể nhảy qua được, chưa chi người ta đã nghi ngờ rồi. Những lời ân ái tự đáy lòng thốt ra đều đã bị coi là giả dối cả! Khốn nỗi, không phải ai cũng có gan dùng đến cách đề phòng sự sinh dục cả. Từ những cuộc... cẩu hợp đó có những kết quả là bọn trẻ kia. Có con là sự quý báu đối với ai, chứ đối với hạng vợ chồng này, có con là một cái hoạ. Người đàn bà hầu như chửa đẻ để rồi mà hối hận. Anh đàn ông, nếu không hối là đã điên có khi cũng bán tín bán nghi đánh mấy cái dấu hỏi: có phải chính đó là lũ con cùng máu với mình? Sự nghi hoặc đã sinh ra lòng căm hờn, mà bao nhiêu lẽ công phạt của lòng căm hờn đều chỉ trút lên đầu những đứa bé ngây thơ và vô tội! Những đứa trẻ kia rất đáng yêu thương. Song le, hoặc con người, hoặc con ta, bà Cai có cần... “đếch” gì? Bà cũng y như nhà nước! (2) Vì rằng bà lại thản nhiên cho tôi nghe thêm mấy chuyện: - Bà Đội Chóp chỉ được tiếng là tiên phong thôi chứ cũng chẳng vẻ vang gì. Một người đã khóc ma mướn cho qua ngày đoạn tháng thì còn hay hớm gì nữa! Cứ kể cho đúng, trong bọn chúng tôi mà oanh liệt nhất thì có một số rất ít. Xin kể: bà Tây Cú, bà Chánh Tý, bà La Oa, bà Đuy Kiềng. Ngoài ra còn nhiều bà lấy được những ông xi-vin sang trọng, quan cai trị, tây buôn. Thế mà, những bà hiển đạt liệu có vì ái tình không? Chắc ông chẳng dám phán đoán. Thôi, ông cứ yên tâm... Một người lấy Tây, cả họ được nhờ! Đương dở chuyện, có hai me nữa bước vào, Me đi giày đầm và khoác áo tơi nói oang oang: - Gớm! Con mẹ Bôn bây giờ đắt lựa, hợm hĩnh tệ! Me thứ hai vứt ô trên bàn đánh sình một cái: - Bà cho bị chạy làng một vố thì lại hiện nguyên hình! Chị em còn nhớ chuyện me cai Phăng-Xoa không? Thế rồi đến những chuỗi cười rúc rích. Bà Cai bảo một me vẫn ngồi im từ nãy: - Muốn nhờ ông ấy làm đơn cho thì nhờ đi. Tôi xin phép ông nhé? Rồi thì... đám chắn tay tư. Một me không đánh, kéo tôi ra chỗ cái bàn.
Mấy chị em hãi hùng, dắt bíu ẵm bế nhau cút mất! Không, một người đàn bà, dù là quái vật đi nữa, khi đã thành một người mẹ rồi thì khi nào lại nỡ cứ quái vật với cả lũ con mình rứt ruột đẻ ra. Vậy thì sao trước lũ trẻ đang hôn hít nâng niu kia, mẹ chúng lại có cái cử chỉ như của cai ngục đối với tù nhân thế? Tôi đã muốn bất bình... May sao, tôi nghĩ ra ngay. Trong khi người đàn bà chỉ nghĩ đến tiền, người đàn ông chỉ nghĩ đến nhục dục, giữa hai bên hầu như có bức tường ghê gớm mà sự thành thực không thể nhảy qua được, chưa chi người ta đã nghi ngờ rồi. Những lời ân ái tự đáy lòng thốt ra đều đã bị coi là giả dối cả! Khốn nỗi, không phải ai cũng có gan dùng đến cách đề phòng sự sinh dục cả. Từ những cuộc... cẩu hợp đó có những kết quả là bọn trẻ kia. Có con là sự quý báu đối với ai, chứ đối với hạng vợ chồng này, có con là một cái hoạ. Người đàn bà hầu như chửa đẻ để rồi mà hối hận. Anh đàn ông, nếu không hối là đã điên có khi cũng bán tín bán nghi đánh mấy cái dấu hỏi: có phải chính đó là lũ con cùng máu với mình? Sự nghi hoặc đã sinh ra lòng căm hờn, mà bao nhiêu lẽ công phạt của lòng căm hờn đều chỉ trút lên đầu những đứa bé ngây thơ và vô tội! Những đứa trẻ kia rất đáng yêu thương. Song le, hoặc con người, hoặc con ta, bà Cai có cần... “đếch” gì? Bà cũng y như nhà nước! (2) Vì rằng bà lại thản nhiên cho tôi nghe thêm mấy chuyện: - Bà Đội Chóp chỉ được tiếng là tiên phong thôi chứ cũng chẳng vẻ vang gì. Một người đã khóc ma mướn cho qua ngày đoạn tháng thì còn hay hớm gì nữa! Cứ kể cho đúng, trong bọn chúng tôi mà oanh liệt nhất thì có một số rất ít. Xin kể: bà Tây Cú, bà Chánh Tý, bà La Oa, bà Đuy Kiềng. Ngoài ra còn nhiều bà lấy được những ông xi-vin sang trọng, quan cai trị, tây buôn. Thế mà, những bà hiển đạt liệu có vì ái tình không? Chắc ông chẳng dám phán đoán. Thôi, ông cứ yên tâm... Một người lấy Tây, cả họ được nhờ! Đương dở chuyện, có hai me nữa bước vào, Me đi giày đầm và khoác áo tơi nói oang oang: - Gớm! Con mẹ Bôn bây giờ đắt lựa, hợm hĩnh tệ! Me thứ hai vứt ô trên bàn đánh sình một cái: - Bà cho bị chạy làng một vố thì lại hiện nguyên hình! Chị em còn nhớ chuyện me cai Phăng-Xoa không? Thế rồi đến những chuỗi cười rúc rích. Bà Cai bảo một me vẫn ngồi im từ nãy: - Muốn nhờ ông ấy làm đơn cho thì nhờ đi. Tôi xin phép ông nhé? Rồi thì... đám chắn tay tư. Một me không đánh, kéo tôi ra chỗ cái bàn.
* * *
Trong cái hộp Nhật Bản mà tôi tưởng là hộp trầu, có năm cái ảnh
và một đống thư. Trong năm cái ảnh, hai cái là con gái nay mới lên tám của me ấy,
với ba cái của ba ông chồng. Lại có cả quyển sổ tay bìa xanh. - Thưa ông, chỉ
có tôi là dám tự phụ rằng trong bọn chị em làm nghề này, tôi lấy ít chồng nhất.
Bao nhiêu năm trời mà số chống chỉ mới có là ba. Hai nữa, tôi là người kể cũng
nhiều chữ nghĩa cơ đấy. Nhưng đến việc can hệ nhờ ông vẫn hơn. Ba si ba tú quá
sợ quan trên người ta chê cười. Me này, vì muốn “bước thêm một bước” nữa nên định
tống cái cô con gái cho hội trẻ con lai. - Mai sau khi 16 tuổi, thì người ta kiếm
việc cho nó ở đây hoặc mang nó về Pháp. Con gái chả ích gì mà nuôi. Nếu nó có
dân Tây, bảo tôi cũng có lẽ nuôi con mãi. Khốn nỗi lúc tôi đẻ nó tôi nói với cả
hai anh chồng. Trước pháp luật biết để anh nào nhận anh nào không? Thôi chả
chơi dại. Nhỡ ra chúng giết tôi thì làm thế nào? Tôi đã rút cái bút máy để trên
bàn, vui lòng thảo đơn. Nhưng người đàn bà tinh quái này đương lúc cao hứng còn
muốn tôi hãy nghe mấy cái “tuých” dùng để lừa hai bác lê-dương đã lần lượt kế
chân làm chồng mình đã. - Đây, ảnh người chồng thứ nhì, mà đây, người thứ ba.
Anh thứ nhì tuy có hàm râu Trương Phi song bụng rất tốt. Còn anh chàng đẹp trai
này, mặt mũi đầy đặn thế mà là trùm xỏ lá, đại ma lanh! Nhưng mà cũng chưa đọ với
óc tôi đây, tôi có ngu gì... Thì ra biết chữ nghĩa cũng có lợi, ông ạ. Nếu tôi
ngày xưa học quá được lớp ê-lê-măng-te thì bây giờ nhiều anh chết nữa! Nói
xong, me ấy đưa ra tập thư với quyển sổ bìa xanh. - Quyển sổ này là thế nào? Việc
gì phải chép bút chì chữ lại như thư nhà buôn thế? - Việc gì à? Lại còn việc
gì! Ăn gian nói dối như quỷ mà không tìm cách nhớ những lời đã nói, ngộ nhầm mà
râu ông nọ cắm cầm bà kia, để đến nỗi tiền hậu bất nhất thì sao. - Thế hiện giờ,
hai người này không có ở đây? - Lão già hiện giờ đã vào ngạch cô-lô-nhần hiện
hàng ngũ ở Mạc-xây. Ở đây quan thầy thuốc bảo không hợp. Còn anh chàng trai trẻ
này thì phải đổi về nước Tây đen dẹp loạn đã hơn năm nay rồi. Thế mà... Thế mà
cả hai người vẫn gửi tiền về nuôi con tôi! Tôi giở thư của ông chồng già. Trong
một lá, có một đoạn đại ý: “Mình là người tôi yêu quý nhất đời. Tôi thật đau khổ
vì có cái chứng bệnh này khiến tôi phải rời bỏ mình mà về đây. Cái ảnh của
Jeannette đẹp lắm, tôi thích lắm. Bố con xa cách thế này, tôi buồn bã quá. Độ
này tôi uống rượu nhiều, vì chán đời lắm. Nên năng viết tin tức cho tôi. Đây có
kèm ngân phiếu 100 quan. Tôi hôn con một trăm cái, hôn mình một nghìn cái.” Tôi
lại xem đến một lá thư của anh chồng trẻ, từ Phi châu: “Cái xứ này nóng quá,
đàn bà lại xấu quá. Bọn giặc cộng sản là tôi bắn không tiếc tay: Lắm lúc lo nhỡ
bị chúng đâm trộm một nhát thì còn hi vọng gì sang Bắc Kỳ với mình và Jeannette
nữa? Chao ôi! Cái đời tôi không biết sống chết lúc nào. Vậy thì cứ lấy chồng đi
thôi. Nên tìm người nào sẵn lòng nhận khai sinh cho con gái chúng ta đừng phải
là con vô thừa nhận... vân vân...” Thế mà cái thơ “nàng” gửi cho lão già: “Je
suis mort de faim mais je ne pense pas d’epouser un autre mari. Les autres
personnes dangereux. Moi et c’est pas qui! Pas possible quelqu’un honnête comme
vous, mon vieux cher. Alors, Jeannette reste sans papa, mais je mens fout,
n’est ce pas? Envoyer moi de tant en tant d’argents et votre fille serons
heureuse.” (3) Thế mà cái thơ “nàng” viết cho anh chồng trẻ: “Jeannette ne
voudrait suivre son papa. Elle pleure toujours. Je l’ai fait voir photo de
vous. A Tonkin, c’est la crise d’argents. Ces habits sont mauvais état. Je veux
dire vraiement: si vous êtes impossible a m’envoyer beaucoup d’argent, je pense
épouser encore un mari... Votre femme Thị B... très chérie.” (4) Dù sao, tôi
cũng chỉ muốn cười. Điều khả ố là me ta gần nhảy lên mà reo: - Đã biết tay đàn
bà ma bùn chúng tôi chưa, ông? Đừng có tưởng nhầm chúng tôi lấy họ vì tình nữa
nhé! Ô hay! Rõ lạ thật! Làm gì mà phải đe nhau? Tôi đã cầm bút thảo đơn, không
buồn, cũng không thèm cười. Chỉ tiếc không có sẵn cái máy ảnh.Chú thích:(1) Xin
lỗi mình, đừng giận vội Để rồi tôi kể hết cho nghe. (2) Từ khi có nạn kinh tế,
nhà nước cũng không cứu giúp một cách cho đầy đủ một số đông trẻ con lai vô thừa
nhận như trước nữa. (3) Tôi chết đói những không nghĩ đến lấy chồng khác nữa.
Những người khác nguy hiểm. Tôi đây chứ không phải là ai đâu. Không ai lương thiện được như mình đâu ông già của tôi ạ. Thế là Jeannette không có bố nhưng tôi không cần, có phải thế không? Thỉnh thoảng gửi tiền cho tôi đi, thì con gái chúng ta sung sướng. (4) Jeannette nó không muốn theo bố. Nó khóc luôn. Tôi đã cho nó xem ảnh của mình. Ở Bắc Kỳ, kinh tế khủng hoảng. Quần áo nó rách. Tôi nói thật: nếu mình không gửi tiền cho tôi được nữa thì tôi sẽ lấy người chồng khác. Người vợ Thị B... yêu quý của mình.
Những người khác nguy hiểm. Tôi đây chứ không phải là ai đâu. Không ai lương thiện được như mình đâu ông già của tôi ạ. Thế là Jeannette không có bố nhưng tôi không cần, có phải thế không? Thỉnh thoảng gửi tiền cho tôi đi, thì con gái chúng ta sung sướng. (4) Jeannette nó không muốn theo bố. Nó khóc luôn. Tôi đã cho nó xem ảnh của mình. Ở Bắc Kỳ, kinh tế khủng hoảng. Quần áo nó rách. Tôi nói thật: nếu mình không gửi tiền cho tôi được nữa thì tôi sẽ lấy người chồng khác. Người vợ Thị B... yêu quý của mình.
Trước mắt Thế Lữ, con hổ già ở chuồng trong vườn Bách Thảo đã
muốn gầm: “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu!” Tuy đã là hổ – hoặc sư tử – mà
nay về già rồi, bà Đội Tứ của tôi cũng không bao giờ muốn than như vậy. Nếu bà
đã hết oanh liệt thì những cái khác làm nên oanh liệt bà còn có thể đem ra dạy
dỗ bọn đàn em ngây thơ. Các me ở Thị Cầu, mỗi khi nhắc nhỏm đến bà đều ra vẻ
kính cẩn mà rằng: “Chị Đội Tứ của chúng tôi là người đáo để ít ai bì kịp, thằng
chồng nào đầu trâu mặt ngựa đến đâu cũng phải e sợ”. Và ngay cả Đi-mi-tốp nữa,
khi trông thấy bà ta, cũng đã nháy mắt bảo tôi: “Mụ này là mụ đáng sợ nhất trần
đời!” Những lời tiến cử như vậy khiến tôi chẳng dám coi thường một bà già trạc
60 tuổi, tóc mun đã pha màu bạc, một mắt hỏng, cái mũi dọc dừa tô điểm cho bộ mặt
có cái vẻ Tây phương, răng lại nhuộm đen, ngồi thản nhiên nhai trầu bỏm bẻm ngắm
nghía cuộc “hội kiến” của Đi-mi-tốp với Ái và Tích. Cái vẻ thản nhiên của bà Đội
Tứ lúc này thế mà đáng sợ, vì Đi-mi-tốp cứ vừa nói với Ái vừa nhìn trộm bà ta.
Đi-mi-tốp có dáng diều hâu bay cao lăm le nhìn bọn gà con, song cũng nơm nớp sợ
mỏ và cánh của con gà mẹ. Đo đắn chán chê xong lão mới nói thêm thế này. - Bạn
tôi chẳng phải kẻ không ra gì. Chính là một người đứng đắn và tử tế. Khốn nỗi,
cái tính rượu chè quá chén thì người lính nào chả có. Mà bạn tôi đã cam đoan rằng
xin chừa. Nếu cô bằng lòng tha thứ, hắn sẽ phải nghĩ cách chuộc tội. Tôi mong
cô đừng đi vội, nán lại mươi ngày nữa, chờ kỳ lương sau... Ái nhìn bà Đội và hỏi:
- Bà bảo con nên giả lời thế nào? Nó chỉ chi có 18 đồng thôi, con muốn... - Thế
nó có hay ghen không? - Con không biết... Dễ thường không ghen lắm, như người
khác đấy thôi. Nghe xong, bà Đội bảo Đi-mi-tốp: - Alo điếc luý vơ nia đô nê
xanh biệt! La bơ tít đoa bẩy dề pho băng xương ăng co đít dua. Xăng qua en đoa
bờ lắc kê bua Hanoi buýt cơ y a cảm soóc giăng đơ măng đê xa manh. (1) Đi-mi-tốp
cau mày, cắn môi không nói gì cả. Sau cùng ông ta bắt tay một lượt, vẫn không
nói gì cả, chỉ cắm đầu ra. Bà Đội nhìn theo nói thêm: “Cần đến thì phải có tiền.
Bắt đợi mười ngày thì phải mất năm đồng... mà nếu tiếc năm đồng thì cứ việc chạy
đủ cả một tháng! Bao giờ mình lại chịu nước lép!” Thì ra gian nhà ở Suối Hoa
này đã nghiễm nhiên thành một nơi quan trọng để cho một ông dân Nga lấy tư cách
thuyết khách đến nối lại cuộc giao hảo (do một “điều ước trăm năm” ràng buộc,
nhưng lại bị cái vấn đề khô và ẩm làm gián đoạn) giữa nước Nam Việt ký kết với
một nước bên Âu châu! - Tích! Làm sao đến nỗi có mấy ngày mà đã bỏ nhau? Cô
Tích bẽn lẽn mãi không đáp. Cái dáng người còn măng sữa với cái áo the kép, chiếc
khăn nhung, đôi giày nhung ấy tôi phải kinh ngạc, muốn than như quan Thống lĩnh
Doumer lúc bị đạn: “Có thể đến thế được chăng?” Vì rằng Tích chưa đủ dày dạn
phong trần, còn thiếu tư cách... Tôi đã thừa hiểu như vậy, song bà Đội lại còn
cắt nghĩa thêm: - Ông tính có ai lại ngu dại như thế không? Bán nhẫn đi ứng tiền
thuê nhà cho nó, rồi để nó ăn ở với mấy ngày, bây giờ không thành chuyện gì cả!
Mất không cái nhẫn! Tích rụt rè: - Khốn nạn nào con có ngờ đến nỗi thế đâu! -
Thế mày bỏ nó hay nó bỏ mày? - Nó chẳng bỏ con thì con cũng đến bỏ nó. Nào bà
có biết đâu... Bà Đội ngắt lời: - Úi chao ôi! Gái già này lại còn cái gì mà chẳng
biết. Nghĩ đến các cô mà sốt ruột! Ấy là đã đi học, có chữ nghĩa hẳn hoi mà còn
thế! Tiện dịp, tôi vội hỏi đến đoạn đời về trước khi Ái và Tích chưa đến nỗi
trôi dạt sang đây! Rồi từ chuyện nọ đến chuyện kia, lại nhờ cái vẻ ngạo mạn
khinh đời của bà Đội, cái gì cũng không thèm giấu giếm cả, nên trong ít lâu tôi
đã có thể phác hoạ nổi hai cảnh ba đào. Ái và Tích là một cặp bạn thân. Cái
nghèo khổ chung đã khiến hai cô yêu nhau như ruột thịt. Xưa kia không rõ đã đi
học với nhau ở những trường tư nào. Chỉ biết không theo học được nữa thì hai
người vào làm cho một hiệu mũ áo ở Hà Nội do một bà đầm chủ trương. Mỗi ngày
làm 10 giờ, lương tháng có 6 đồng bạc! Cả hai cam còng lưng chịu khổ, song vẫn
lấy thế làm bằng lòng, nếu không có sự xảy ra. Phải, ở đời bao giờ cũng vẫn có
cái “sự gì” nó xảy ra, để người ta đương sướng phải hoá ra khổ, hoặc đã khổ lại
phải khổ hơn nữa. Tích ít chữ nghĩa cứ càng ngày càng bị bà chủ đem tên những
súc vật mà tặng cho. Thông minh, không bị cái nạn ấy, lại đẹp hơn bạn. Ái được
bà chủ yêu, yêu vô cùng. Bà chủ yêu thì ông chủ lại yêu hơn. Tai hoạ ở đấy. Một
hôm, bà chủ đi vắng, ông chủ nắm tay Ái, lôi Ái vào buồng. Hôm sau Ái bị đuổi
ra. Tích cũng theo nốt! - Tấm thân đã như hòn ngọc có vết rồi, không bao giờ
tôi dám nghĩ đến việc lấy một người chồng tử tế nữa. Khi một người đã sa ngã,
hoặc tự mình, hoặc do người khác xô đẩy cũng vậy, đã ngã một lần là rồi cứ ngã
mãi, có phải thế không, ông? Đã như tôi rồi mà lại lấy chồng An-nam, sao nên! Lấy
người tử tế thì nhục cho người ta, mà lấy người không ra gì thì tôi không muốn.
Nghĩ thế rồi hai chị em cùng sang đây. Tôi chưa hiểu hẳn lời tâm sự của Ái. Nếu
Ái đã nghĩ cho Ái như thế, kể cũng đã cao kiến, song còn Tích? Cô này đã đến nỗi
gì mà cũng nhắm mắt huỷ hoại một cuộc đời có thể tốt đẹp của mình đi? Tôi hỏi:
- Thế cô Tích cũng đã lỡ dở về tơ duyên rồi à? Ái đưa mắt ra ý bảo để Tích tự
mình đáp lấy. Tôi cũng phải dùng luồng nhỡn tuyến có ngụ ý cảm thương ra yêu cầu...
Chỉ trù trừ ít lâu, Tích đáp, song đáp tôi một cách gián tiếp mà thôi, vì cô ta
nói với bà Đội: - Bà cứ bảo con dại dột, chính ra không phải đâu... Nhân tiện
bây giờ con cũng thưa chuyện bà rõ không có bà cứ tiếc mãi. Ở bên Hà Nội, đã
hai năm nay, con vẫn có một người nhân tình... - A à! Bà Đội reo rồi nghe Ái đỡ
lời cho Tích: - Hai người yêu nhau lắm, thật là một cái ái tình (!) cao thượng,
ông ạ. Đó là một người cũng làm nhà buôn. Thế nhưng mà bác ta có vợ con rồi!
Trước, tôi vẫn bảo chị tôi không nên vấn vương như thế. Chị ấy đã nghe, đã bẵng
đi một dạo...
Thế mà không hiểu sao rồi lại quấn quýt lấy nhau! Rồi một hôm thấy chị Tích kêu định lấy lẽ bác ta... Ấy trong tình trường, người ta vẫn vô nghĩa lý như thế đó. Rồi mấy hôm sau lại thấy kêu công việc không thành, vì vợ chồng bác ta cãi nhau đánh nhau làm sao ấy! Thế mới biết mắc vào lưới tình là thế !... Giữa hồi ấy, xảy ra việc không may cho tôi. Chị ấy thôi, chúng tôi tìm việc làm mãi, không được mà gánh gia đình cũng nặng, lại nghe lời mấy me Tây già ở phố Cửa Đông thành thử mới sang đây đấy chứ. Chị Tích hơn tôi nhiều, ông ạ. Không bao giờ chị ấy còn phải hối hận! Trước khi bước vào con đường này, chị ấy đã làm theo câu Kiều: Nhị đào thà bẻ cho người tình chung! Tích tuy đỏ bừng mặt nhưng cũng hỏi tôi: - Có phải không ông? Cái gì bằng yêu nhau? Tôi tưởng việc tôi đáng khen nữa. Tôi cũng muốn kiếm lời khen ngợi, song bà Đội nói trước mắt: - Có thế chứ lị... Mỗi khi nghĩ rằng mày để cho nó phá tân mày, rồi nó lại quỵt mày thì bà lại cứ thấy như lộn cả mấy khúc ruột lên. Bà Đội nghiến răng nói pha trò, rồi cầm cái lõi để đập xuống giường đánh thình một cái để chấm câu, thần tình như tiếng trống chầu xinh vậy. Bốn chúng tôi không ai nhịn được cười. Bà Đội lại nói: - Bây giờ thì : màu hồ đã mất đi rồi, thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma, có tiếc cũng chả được nữa, chứ ví thử Tích nó hãy còn tân xem! Còn tân mà lại đến tay tôi dựng vợ gả chồng cho xem! Cái gì chứ vài ba chục bạc tiền hoa hồng thì dễ như bỡn! Một anh lính lê dương mà lấy được vợ còn tân nó sẽ quý hơn vàng. Mà bao giờ vợ chồng ở với nhau cũng dễ lâu bền, trừ phi con vợ giở chứng giở quẻ hay thằng chồng mãn hạn phải đi nơi khác thì không kể. Ai và Tích cùng phàn nàn: - Cái kiếp lấy Tây ngán lắm, bà ạ. Nó cứ hay rượu chè, hay sừng sộ, lắm lúc tưởng có thể mình chỉ bị một cái thụi cũng bỏ đời. Bà bảo liệu có tay nào tàn ác đến giết chết mình không? Bà Đội Tứ đã sắp hoá điên... Phải, ai bảo khêu gợi trong lòng một bà già tính chất một con sư tử khi còn trẻ? Bà quát rầm cả nhà: - Việc gì mà sợ? Có đánh chết cài ba vạn! Bọn họ toàn một tính mềm nắn rắn buông mà thôi. Trừ phi bắt được quả tang ngủ với giai hãy chịu, chứ đường đường chính chính ra, mình phải mà họ trái, thì... chửi thì chửi trả, đánh cũng đánh trả! Các cô có biết gái này thế nào không? Đã có lần bị đấm một cái mà tát lại được ba cái đấy. Giơ dao lên doạ, gái này cũng tốc phăng ngay cái coóc-xê lên! Anh nào cũng phải gờm! Quay lại với tôi, bà dịu giọng: - Vả lại họ được cái khá là ít khi đánh đập đàn bà. Đánh là đánh doạ đấy thôi, chứ người họ như thế, sức vóc như thế, tưởng cứ một cái đấm mình cũng đủ bỏ mạng! Bà ngắt lời một lúc, đoạn mỉm cười và thêm: - Phải khôn mới được, nhất là khi gặp họ đi chơi gái, mình càng nên ra oai. Bắt gặp là không cần cắt nghĩa gì nữa, cứ việc túm lấy tóc mà cấu, mà cắn mà tát! Ông tưởng tôi nói đùa đấy à? Đời nào nó nỡ đánh lại mình mà sợ. Mỗi khi được một trận đòn ghen như thế là anh chồng sung sướng có thể hoá dại được ấy chứ lị... Vị tưởng được vợ yêu, biết chửa? Ấy lắm khi mình cù chúng thôi, có ai hơi đâu ghen tuông mà làm gì! Đi-mi-tốp có lẽ cũng sắp quay lại đây với bạn. Muốn tránh sự nghi ngờ của người chồng của Ái, bà Đội yêu cầu tôi ra đi. Tôi đã được dịp nghe con sư tử cái dạy học trò. Khi ra đi, trong bụng rất phân vân chẳng biết rồi Ái và Tích liệu có thụ nghiệp nổi?Chú thích:(1) Thế thì bảo nó đến đưa năm đồng. Con bé còn phải trả tiền trọ mười ngày chờ đợi nữa. Nếu không nó phải đi Hà Nội vì hiện giờ có một người đội muốn lấy nó.
Thế mà không hiểu sao rồi lại quấn quýt lấy nhau! Rồi một hôm thấy chị Tích kêu định lấy lẽ bác ta... Ấy trong tình trường, người ta vẫn vô nghĩa lý như thế đó. Rồi mấy hôm sau lại thấy kêu công việc không thành, vì vợ chồng bác ta cãi nhau đánh nhau làm sao ấy! Thế mới biết mắc vào lưới tình là thế !... Giữa hồi ấy, xảy ra việc không may cho tôi. Chị ấy thôi, chúng tôi tìm việc làm mãi, không được mà gánh gia đình cũng nặng, lại nghe lời mấy me Tây già ở phố Cửa Đông thành thử mới sang đây đấy chứ. Chị Tích hơn tôi nhiều, ông ạ. Không bao giờ chị ấy còn phải hối hận! Trước khi bước vào con đường này, chị ấy đã làm theo câu Kiều: Nhị đào thà bẻ cho người tình chung! Tích tuy đỏ bừng mặt nhưng cũng hỏi tôi: - Có phải không ông? Cái gì bằng yêu nhau? Tôi tưởng việc tôi đáng khen nữa. Tôi cũng muốn kiếm lời khen ngợi, song bà Đội nói trước mắt: - Có thế chứ lị... Mỗi khi nghĩ rằng mày để cho nó phá tân mày, rồi nó lại quỵt mày thì bà lại cứ thấy như lộn cả mấy khúc ruột lên. Bà Đội nghiến răng nói pha trò, rồi cầm cái lõi để đập xuống giường đánh thình một cái để chấm câu, thần tình như tiếng trống chầu xinh vậy. Bốn chúng tôi không ai nhịn được cười. Bà Đội lại nói: - Bây giờ thì : màu hồ đã mất đi rồi, thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma, có tiếc cũng chả được nữa, chứ ví thử Tích nó hãy còn tân xem! Còn tân mà lại đến tay tôi dựng vợ gả chồng cho xem! Cái gì chứ vài ba chục bạc tiền hoa hồng thì dễ như bỡn! Một anh lính lê dương mà lấy được vợ còn tân nó sẽ quý hơn vàng. Mà bao giờ vợ chồng ở với nhau cũng dễ lâu bền, trừ phi con vợ giở chứng giở quẻ hay thằng chồng mãn hạn phải đi nơi khác thì không kể. Ai và Tích cùng phàn nàn: - Cái kiếp lấy Tây ngán lắm, bà ạ. Nó cứ hay rượu chè, hay sừng sộ, lắm lúc tưởng có thể mình chỉ bị một cái thụi cũng bỏ đời. Bà bảo liệu có tay nào tàn ác đến giết chết mình không? Bà Đội Tứ đã sắp hoá điên... Phải, ai bảo khêu gợi trong lòng một bà già tính chất một con sư tử khi còn trẻ? Bà quát rầm cả nhà: - Việc gì mà sợ? Có đánh chết cài ba vạn! Bọn họ toàn một tính mềm nắn rắn buông mà thôi. Trừ phi bắt được quả tang ngủ với giai hãy chịu, chứ đường đường chính chính ra, mình phải mà họ trái, thì... chửi thì chửi trả, đánh cũng đánh trả! Các cô có biết gái này thế nào không? Đã có lần bị đấm một cái mà tát lại được ba cái đấy. Giơ dao lên doạ, gái này cũng tốc phăng ngay cái coóc-xê lên! Anh nào cũng phải gờm! Quay lại với tôi, bà dịu giọng: - Vả lại họ được cái khá là ít khi đánh đập đàn bà. Đánh là đánh doạ đấy thôi, chứ người họ như thế, sức vóc như thế, tưởng cứ một cái đấm mình cũng đủ bỏ mạng! Bà ngắt lời một lúc, đoạn mỉm cười và thêm: - Phải khôn mới được, nhất là khi gặp họ đi chơi gái, mình càng nên ra oai. Bắt gặp là không cần cắt nghĩa gì nữa, cứ việc túm lấy tóc mà cấu, mà cắn mà tát! Ông tưởng tôi nói đùa đấy à? Đời nào nó nỡ đánh lại mình mà sợ. Mỗi khi được một trận đòn ghen như thế là anh chồng sung sướng có thể hoá dại được ấy chứ lị... Vị tưởng được vợ yêu, biết chửa? Ấy lắm khi mình cù chúng thôi, có ai hơi đâu ghen tuông mà làm gì! Đi-mi-tốp có lẽ cũng sắp quay lại đây với bạn. Muốn tránh sự nghi ngờ của người chồng của Ái, bà Đội yêu cầu tôi ra đi. Tôi đã được dịp nghe con sư tử cái dạy học trò. Khi ra đi, trong bụng rất phân vân chẳng biết rồi Ái và Tích liệu có thụ nghiệp nổi?Chú thích:(1) Thế thì bảo nó đến đưa năm đồng. Con bé còn phải trả tiền trọ mười ngày chờ đợi nữa. Nếu không nó phải đi Hà Nội vì hiện giờ có một người đội muốn lấy nó.
Than ôi! Bà Kiểm lâm nào phải đâu còn là người mà “mê nàng
bao nhiêu người làm thơ!” như Mỵ Nương của ông Nguyễn Nhược Pháp nữa mà Hiếc-Tôn
(xin nhớ: tên ấy cũng nêu lên đây theo hình-thanh) với bạn đồng ngũ, người đồng
thời lại là tình địch của anh ta, nỡ đem danh dự của nhau ra mà bôi nhọ đi, nỡ
đem tên nhau bằng tên những giống chẳng phải là giống người! Ngồi khoanh tay mọt
cách rất lễ phép ở tận một góc phòng, tôi may sao không đến nỗi là cái đinh trước
mắt ngài nào cả. Lẽ đời tất nhiên phải như thế mới được. Hai ngài ấy còn phải
tranh nhau làm sao được là chồng của Mỵ Nương đã chứ chưa cần nghi ngờ rằng tôi
có phải là nhân tình của bà Kiểm lâm không. Vả lại không phải Hiếc-Tôn gặp tôi
bữa nay mới là bữa đầu. Lần thứ nhất, cũng dưới mái gianh này, khi anh ta đem
trái tim vàng đến đặt dưới chân bà Kiểm lâm thì tôi đã được dịp trò chuyện ngay
với anh ta một cách niềm nở. Khi biết tôi là phóng viên một tờ tuần báo bản xứ
rồi, Hiếc-Tôn đã trả lại tôi cái các nhà báo một cách rất đỗi lễ phép và vội
vàng hỏi ngay đến rằng vụ hành thích ông Barthou và vua Alexandre III ở Mạc-xây
vừa rồi đã gây ra những cái phản động lực về phần chính phủ Pháp ra sao. Tôi đã
theo điện tín hãng A.P.I.P, tóm thuật cho anh ta nghe rồi để yên anh ta với người
yêu tâm sự với nhau hàng giờ đồng hồ. Vì rằng sau khi thấy nói đến một cuộc điều
tra về số phận đáng phàn nàn của một số đông trẻ con Tây lai thì anh chàng đã vội
hoan nghênh tôi ngay, và đã hưởng ứng với tôi bằng cách cũng lập luận để kết án
sự vô tình của số đông lính lê dương một cách khá kịch liệt. Nhất là chưa có vợ
con nên lời buộc tội của anh ta lại càng thật thà. Lần đầu tôi đã thoát bị nghi
rồi nên lần này, sự tôi có mặt tại nhà bà Kiểm lâm là không đáng ngại cho tôi
chút nào cả. Nếu còn phải giữ gìn thì tôi chỉ còn cần giữ gìn với tình địch của
Hiếc-Tôn. Nhưng hai bên cứ tự do cãi lộn nhau, cũng không để ý gì đến tôi nữa.
Trong cuộc cãi lộn cả hai bên đều dùng thứ tiếng Pháp sai mẹo. Nghe mãi, tôi phải
ngạc nhiên mà nhận ra rằng cái chức lang quân lại chính là bà Kiểm lâm đã tặng
cho người tình địch của Hiếc-Tôn, một ông lính lê dương đã có tuổi mà Hiếc-Tôn
cứ gọi một cách khinh bỉ là: con lạc đà. Mà con lạc đà thắng trận ấy lại là một
thằng Do Thái bẩn thỉu (sale Juif) nữa. Trước sự tranh giành của Thần Sông và
Thần Núi, Mỵ Nương cứ giữ một vẻ bình tĩnh khó tả, ra đều “măng phú tú”, và chỉ
biết tiền trao cháo múc, y như là vua Hùng Vương. Hiếc Tôn thoạt tiên cũng còn
giữ được lễ độ: - Mày cứ cho phép tao lấy làm lạ rằng tao đến đây trò chuyện với
người đàn bà trước mày đã một tuần lễ. Mà người đàn bà này, phải chính người
đàn bà này, cũng đã hứa với tao. Thế mà bây giờ lại hoá ra thế này! Ông lính lê
dương có tuổi kia nhăn mặt lại để cố gượng cười. Các ngài độc giả hẳn đã đôi
khi trông thấy một bộ mặt như tôi muốn tả: một cái mặt lởm chởm những râu và
riu với lùng bùng những túi thịt dưới hai con mắt, với cặp môi không màu, trắng
bệch, và hai hàm răng sâu, một cái mặt buồn khi người ta vô tư lự và cáu kỉnh
nhăn nhở khi người ta muốn cười vậy. - Không! Không! Cách đây chỉ có năm ngày
thôi, tao đến đây thì chính người đàn bà này cũng đã bảo là bằng lòng lấy tao.
Mà những khi tao đến nói chuyện thì tao chỉ thấy một mình tao thôi, chứ tao chẳng gặp mày lần nào cả! Nói thế cho mày biết rằng mày nên đi đi là hơn. Tao cứ biết rằng người đàn bà này vừa mới nhận của tao một chục đồng bạc. Quay lại bà Kiểm lâm, Hiếc-Tôn cười một cách đau đớn và hỏi: - Thế cô cho lời hứa của cô là những lời gì? Bà Kiểm lâm đáp bằng những câu văn rất khôi hài: - Xê ba ma phôt, nét si bá? Uây, moa bơ rô mét a vu tú đơ, mê luý viêng a văng vu ê a lô xe, mông ma ghi! Vu dết dơnê bố cu gia lu, moa ba ú loà! (1) Nghe xong, Hiếc-Tôn nhổ xuống đất một cái, rất khinh bỉ. Đoạn anh ta lấy một điếu thuốc lá khác ra hút rồi quay lại với kẻ địch: - Nếu mày tranh nó của tao thì mày thật là đồ lạc đà! Nhưng “con lạc đà” khôn ngoan này chỉ gượng cười mà vặn lại: - Bây giờ tao mới gặp mày là lần đầu thì tao có tranh cướp gì của mày bao giờ đâu? Mày còn trẻ người, còn non dạ lắm. Cáu lắm, Hiếc-Tôn lại dùng giọng mỉa mai hơn trước: - Chính thế. Tao còn trẻ con lắm, chưa trải đời được như mày! Nhất là tao lại không được là dân nước Áo, chưa từng được biết phong vị của Kinh đô Ái tình (Ville d’Amour) cho nên lần này là lần đầu mà tao biết ghen. Đến đây thì con lạc đà không còn kiên tâm nổi nữa: - Đồ khốn nạn! Mày tưởng xưa kia tao ở xứ sở thì tao đã là một thằng chồng mọc sừng nên sang đây, gặp người đàn bà nào tao cũng phải bám chặt lấy chắc? Mày nhầm! Tao lấy vợ cũng như nuôi đầy tớ chứ thằng này chẳng phải là người để cho đàn bà làm khổ được đâu. Ấy cái ông lính già đã nói thế mà chẳng sợ mếch lòng bà Kiểm. Không nói gì được nữa, Hiếc-Tôn lấy ví, rút một lá giấy bạc để trên bàn. Anh ta nói cho cả hai: - Thôi được! Mời vợ chồng ông bà ra tính tiền tôi đến đây mấy lần, lần nào cũng được ông bà mời uống cà-phê. Vậy tôi cứ xin trả một đồng bạc. Nói đoạn, anh ta cầm mũ đứng lên, ra... Đi mà không nhớ bắt tay ai... Đã thế, ra đến cổng còn quay đầu nói với lại: - Chúc anh hưởng hạnh phúc nhé! Và tiện dịp tôi xin giới thiệu với anh rằng cái ông trẻ tuổi người An-nam ngồi đấy là một tay làm báo đấy. Thế nào ông ấy cũng viết lên nhật trình ca tụng cái cuộc ái tình tốt đẹp của vợ chồng nhà anh cho mà xem! Tôi đã định tâm cáo từ đã lâu mà rồi phải cứ ngồi lại.
Mà những khi tao đến nói chuyện thì tao chỉ thấy một mình tao thôi, chứ tao chẳng gặp mày lần nào cả! Nói thế cho mày biết rằng mày nên đi đi là hơn. Tao cứ biết rằng người đàn bà này vừa mới nhận của tao một chục đồng bạc. Quay lại bà Kiểm lâm, Hiếc-Tôn cười một cách đau đớn và hỏi: - Thế cô cho lời hứa của cô là những lời gì? Bà Kiểm lâm đáp bằng những câu văn rất khôi hài: - Xê ba ma phôt, nét si bá? Uây, moa bơ rô mét a vu tú đơ, mê luý viêng a văng vu ê a lô xe, mông ma ghi! Vu dết dơnê bố cu gia lu, moa ba ú loà! (1) Nghe xong, Hiếc-Tôn nhổ xuống đất một cái, rất khinh bỉ. Đoạn anh ta lấy một điếu thuốc lá khác ra hút rồi quay lại với kẻ địch: - Nếu mày tranh nó của tao thì mày thật là đồ lạc đà! Nhưng “con lạc đà” khôn ngoan này chỉ gượng cười mà vặn lại: - Bây giờ tao mới gặp mày là lần đầu thì tao có tranh cướp gì của mày bao giờ đâu? Mày còn trẻ người, còn non dạ lắm. Cáu lắm, Hiếc-Tôn lại dùng giọng mỉa mai hơn trước: - Chính thế. Tao còn trẻ con lắm, chưa trải đời được như mày! Nhất là tao lại không được là dân nước Áo, chưa từng được biết phong vị của Kinh đô Ái tình (Ville d’Amour) cho nên lần này là lần đầu mà tao biết ghen. Đến đây thì con lạc đà không còn kiên tâm nổi nữa: - Đồ khốn nạn! Mày tưởng xưa kia tao ở xứ sở thì tao đã là một thằng chồng mọc sừng nên sang đây, gặp người đàn bà nào tao cũng phải bám chặt lấy chắc? Mày nhầm! Tao lấy vợ cũng như nuôi đầy tớ chứ thằng này chẳng phải là người để cho đàn bà làm khổ được đâu. Ấy cái ông lính già đã nói thế mà chẳng sợ mếch lòng bà Kiểm. Không nói gì được nữa, Hiếc-Tôn lấy ví, rút một lá giấy bạc để trên bàn. Anh ta nói cho cả hai: - Thôi được! Mời vợ chồng ông bà ra tính tiền tôi đến đây mấy lần, lần nào cũng được ông bà mời uống cà-phê. Vậy tôi cứ xin trả một đồng bạc. Nói đoạn, anh ta cầm mũ đứng lên, ra... Đi mà không nhớ bắt tay ai... Đã thế, ra đến cổng còn quay đầu nói với lại: - Chúc anh hưởng hạnh phúc nhé! Và tiện dịp tôi xin giới thiệu với anh rằng cái ông trẻ tuổi người An-nam ngồi đấy là một tay làm báo đấy. Thế nào ông ấy cũng viết lên nhật trình ca tụng cái cuộc ái tình tốt đẹp của vợ chồng nhà anh cho mà xem! Tôi đã định tâm cáo từ đã lâu mà rồi phải cứ ngồi lại.
* * *
Ông lính già chả biết có để ý đến nhưng lời đâm bị thóc chọc
bị gạo kia không mà đã xin phép tôi cởi bỏ áo nhà binh khi trò chuyện, thì hãy
“bẻ vài miếng cùi bánh” đã. Câu nói xỏ lá của Hiếc-Tôn bắt tôi phải tức khắc nhận
lời. Nếu lão già này có mượn chén đưa lời thì tôi sẽ tuỳ cơ ứng biến sau. Sai một
đứa con đi mua bánh rồi, bà Kiểm lâm bèn đốt đèn cồn, lấy hộp bơ và mấy quả trứng,
mấy khúc xúc xích để cả trên bàn, sửa soạn thức ăn. Câu chuyện của ba chúng tôi
từ đây mà đi là rất nồng nàn, vì có mùi thơm tho của mấy món ăn và rượu ướp cho
khỏi... vô vị. - Vì đưa tiền trước nên lấy được vợ, ông thấy một cuộc nhân
duyên như thế có giống với sự buôn bán không? Tôi đã uốn lưỡi bảy lần rồi mới
đáp: - Nếu ông nói thế thì ra nước tôi, từ xưa đến nay, cuộc nhân duyên nào
cũng là buôn bán cả. Chắc ông đã biết là ở nước tôi thì cái đại đa số là theo
văn hoá cũ nên không mấy ai được lấy nhau vì ái tình. Ở xã hội tôi không bao giờ
một đôi trẻ, sau khi hỏi nhau rồi, lại được cùng nhau công nhiên trò chuyện để
xét đoán tình tình nhau như ở Tây phương. Vậy nhận lễ vật của người đàn ông như
thế còn khác gì buôn bán? Mười đồng bạc của ông vừa rồi, tôi cứ lấy phương diện
của người xứ tôi mà bình phầm thì đó là lễ vật của bên nhà giai. Có thế thôi,
việc đời giản dị lắm, ông đừng sợ tôi cười. Nếu muốn cười được ông, tôi phải
chê bai cả nước tôi trước đã. Có thế thôi, ông lính già cũng đã đủ khoái chí!
Cái đầu tóc bạc phơ ấy cứ gật gù hoài. Cái cổ một ngài săng đá chẳng ngờ mà lại
được hân hạnh đóng vai cái cổ một ông nghị An-nam. Tôi, lúc ấy, xin thú thật rằng
cũng đã... bịp lắm. Tôi lại nói thêm rằng: - Về sự loài người lấy nhau, tôi đã
có đọc ít nhiều, cảm tưởng rất chua chát nhưng rất đúng sự thực của một nhà triết
học bên Tây phương. Tiếc quá, tên nhà triết học ấy tôi lại không nhớ. (thì bịa
chứ thật đâu mà nhớ!) Ông ta đã viết đại khái thế này: “Bọn làm đĩ, nào có gì
là đáng khinh? Tại sao bất cứ ở xã hội nào, bọn làm đĩ cũng bị kết án?” “Ngẫm
mà xem: Lấy được những thiếu nữ đài các, quý phái, bọn đàn ông chúng ta phải tốn
bạc trăm bạc nghìn. Họ để ta phải chi ra một số bạc lớn rồi thì cố nhiên là họ
phải ăn đời ở kiếp với ta. Muốn tính một cuộc trăm năm ta phải mất một số tiền
nhiều. Còn khi ta chơi đĩ, đĩ chỉ làm vợ một đêm, thì ta chỉ mất một số tiền nhỏ.
Ngẫm cho cùng, làm vợ một đêm hay làm vợ suốt cả một đời thì người đàn bà cũng
chỉ là làm đĩ cả mà thôi. Ấy vậy mà bọn đĩ một đời cứ tự đại rằng mình làm đĩ một
đêm thì còn nghĩa lý gì nữa?” Ông đã thấy đấy chứ? Nếu cả nhân loại đều xấu như
vậy, ở Đông cũng như ở Tây, ở nước văn minh cũng như ở nước dã man, ông cũng
như tôi, tôi cũng như ông, thì việc gì ta còn phải quan tâm đến lời khen chê gì
nữa? Chết! ông lính già này đến hoá điên mất! Ông ta vồ ngay bàn tay của tôi mà
giật lấy giật để, khiến tôi sái cả một bên vai đi. Lúc này, bà vợ đã làm xong
các món ăn. Đứa bé con riêng bà ta cũng đã đem bánh về. Chúng tôi ngồi vào bàn
một cách nghiêm chỉnh lắm. Mà xin quý độc giả đọc những dòng này cũng chớ nên
ngờ vực rằng những lời tôi vừa bịa đặt là để nịnh ăn đâu. Tôi chỉ đã khôn ngoan
ở thuận lẽ trời. Tôi đã không để cho Hiếc-Tôn có thể xỏ được chúng tôi một vố!
Người chồng – tân lang – bây giờ mới lộ sự sung sướng: - Ông ạ, tôi thích nhất
vì vợ tôi đây là người có thể tin cậy được. Trong hai người muốn lấy nó, một
người già yếu với một người trẻ tuổi và đẹp đẽ thì nó đã chọn người già, là
tôi. Một việc ấy đủ tôi vững tâm được vợ trung thành. Câu nói này khiến tôi chợt
nhớ đến lúc bà Kiểm chê Hiếc-Tôn là ghen tuông. Hỏi thì thấy đáp: - Lần đầu mà
nó gặp ông ở nhà này, nó trò chuyện đậm đà ngay với ông, có phải không? Thế mà
lần thứ nhì đến với tôi, nó lại lấy ông ra để căn vặn tôi mãi! Tôi đã phải cắt
nghĩa rất kỹ càng... Tôi đã phải bảo rằng một người như tôi rồi thì chẳng còn
khi nào bắt nhân tình được với một người còn trẻ tuổi như ông... Chính nó, nó
cũng đã nói: “Phải, chắc một người có học thức, ở cái gia cấp thượng lưu cẩn thận
thì chẳng khi nào lại đến một nơi như nơi này, lại tìm hạng phụ nữ bỏ đi như hạng
này...”
Như thế tưởng là nó đã nghe ra. Vậy mà lần sau nó lại bắt tôi phải khai rằng ông còn ở đây hay đã về Hà Nội! Sau cùng, không chịu được nữa, tôi phải nói thẳng với nó rằng: “Này, anh muốn lấy tôi thì anh đến chứ không phải tôi lạy anh để anh hỏi tôi đâu. Anh đừng có chưa chi đã ghen vô lý!” - Làm thế nào mà bà dám nhận lời với cả hai? Bà ta cười rồi hỏi lại tôi một cách ngây thơ: - Thì sao? Việc quái gì? Một sự không ngờ! Trong cái kỹ nghệ lấy Tây này, người ta không buồn nghĩ đến cách phủ lên những sự thật nhơ bẩn một nước sơn bóng nhoáng nữa. Người ta không thèm “cứu vớt” lấy cái bề ngoài nữa. Thật là: Bánh đúc bày sàng. Thuận thiếp, thiếp bán, thuận chàng, chàng mua. Bà ta lại nói thêm: - Những khi nó lại đây để mặc cả thì tôi đã nói nếu không có ai đem tiền lại cho tôi trước thì tôi mới sẽ lấy nó cơ mà! Đến đoạn này, cuộc đời của bà Kiểm lâm đã có thể gọi là tốt đẹp được. Trong khi bà rửa bát đĩa, làm cái chức nội tướng, thì đức lang quân của bà gọi ba đứa con của hai đời chồng trước của bà đến quấn quýt lấy mình rồi nhắc đứa bé nhất lên lòng mà hôn một cách thân yêu. Vậy lúc ấy, bà Kiểm có sung sướng không? Tôi không hiểu được. Cái mặt thản nhiên ấy đến nỗi tôi thấy nó cứ trơ như đá, vững như đồng. Nhất là mặt một người đàn bà vào buổi tối tân hôn, nghĩa là mặt một tân giai nhân mà không thấy biểu lộ một chút cảm tưởng nào, cứ “gan lì tướng quân” như mặt Từ Hải lúc chết đứng thì trông đáng ghét lạ! Tôi chợt thấy trong trí nhớ lại hiện ra cái cảnh tượng bà Kiểm lâm bị anh chồng Đức đánh đập: cái mặt bữa ấy với cái mặt của bà bây giờ cũng thản nhiên như vậy mà thôi. Phía tây, không có gì lạ! Tôi đứng lên bắt tay người chồng rồi tôi nói với người vợ: - Thôi, tôi xin phép bà. Chúc cô dâu chú rể được bách niên giai lão nhé! Bà ta vừa nói vừa cười: - Có thuận hoà được với nhau thì giỏi nhất cũng chỉ được đến ba năm. Hết ba năm, hết hạn mà anh ta phải đổi đi, thì tôi lại sẽ bước thêm một bước nữa!Chú thích:(1) Không phải lỗi ở tôi, có phải không? Phải, tôi đã hứa với cả hai anh, song người ta đến trước anh thì là chồng tôi rồi đấy. Anh trẻ tuổi và hay ghen lắm, tôi không thích.
Như thế tưởng là nó đã nghe ra. Vậy mà lần sau nó lại bắt tôi phải khai rằng ông còn ở đây hay đã về Hà Nội! Sau cùng, không chịu được nữa, tôi phải nói thẳng với nó rằng: “Này, anh muốn lấy tôi thì anh đến chứ không phải tôi lạy anh để anh hỏi tôi đâu. Anh đừng có chưa chi đã ghen vô lý!” - Làm thế nào mà bà dám nhận lời với cả hai? Bà ta cười rồi hỏi lại tôi một cách ngây thơ: - Thì sao? Việc quái gì? Một sự không ngờ! Trong cái kỹ nghệ lấy Tây này, người ta không buồn nghĩ đến cách phủ lên những sự thật nhơ bẩn một nước sơn bóng nhoáng nữa. Người ta không thèm “cứu vớt” lấy cái bề ngoài nữa. Thật là: Bánh đúc bày sàng. Thuận thiếp, thiếp bán, thuận chàng, chàng mua. Bà ta lại nói thêm: - Những khi nó lại đây để mặc cả thì tôi đã nói nếu không có ai đem tiền lại cho tôi trước thì tôi mới sẽ lấy nó cơ mà! Đến đoạn này, cuộc đời của bà Kiểm lâm đã có thể gọi là tốt đẹp được. Trong khi bà rửa bát đĩa, làm cái chức nội tướng, thì đức lang quân của bà gọi ba đứa con của hai đời chồng trước của bà đến quấn quýt lấy mình rồi nhắc đứa bé nhất lên lòng mà hôn một cách thân yêu. Vậy lúc ấy, bà Kiểm có sung sướng không? Tôi không hiểu được. Cái mặt thản nhiên ấy đến nỗi tôi thấy nó cứ trơ như đá, vững như đồng. Nhất là mặt một người đàn bà vào buổi tối tân hôn, nghĩa là mặt một tân giai nhân mà không thấy biểu lộ một chút cảm tưởng nào, cứ “gan lì tướng quân” như mặt Từ Hải lúc chết đứng thì trông đáng ghét lạ! Tôi chợt thấy trong trí nhớ lại hiện ra cái cảnh tượng bà Kiểm lâm bị anh chồng Đức đánh đập: cái mặt bữa ấy với cái mặt của bà bây giờ cũng thản nhiên như vậy mà thôi. Phía tây, không có gì lạ! Tôi đứng lên bắt tay người chồng rồi tôi nói với người vợ: - Thôi, tôi xin phép bà. Chúc cô dâu chú rể được bách niên giai lão nhé! Bà ta vừa nói vừa cười: - Có thuận hoà được với nhau thì giỏi nhất cũng chỉ được đến ba năm. Hết ba năm, hết hạn mà anh ta phải đổi đi, thì tôi lại sẽ bước thêm một bước nữa!Chú thích:(1) Không phải lỗi ở tôi, có phải không? Phải, tôi đã hứa với cả hai anh, song người ta đến trước anh thì là chồng tôi rồi đấy. Anh trẻ tuổi và hay ghen lắm, tôi không thích.
Ngót bốn hôm lang thang ở đây, những tài liệu thu thập kể
cũng gần đủ, nên tôi muốn quay về Hà thành, để rồi đi Chùa Thông. Tôi đã được
trông thấy hẳn hoi một cuộc “ly dị” chồng với một buổi cưới chồng của bà Kiểm
lâm, đã được rõ cái tâm sự phân vân của Suzanne, đã được nghe một đoạn đời lấy
chín người vợ của Đi-mi-tốp. Tôi đã được mục kích bà Đội Tứ, người chôn các me,
con sư tử mất ngôi, dạy dỗ con em ấy cái “tuých” cho khỏi bị chạy làng… Tôi chỉ
còn ao ước được bà Ách Nhoáng tiếp nữa là đã có thể lượm lặt đủ những “mẫu
hàng" trong cái kỹ nghệ lấy Tây. Chẳng may lúc bà hàng nước, người đã cho
tôi được dịp kết bạn với Đi-mi-tốp chỉ cho tôi rõ bà Ách Nhoáng thì bà này
đương có điều gì bực mình với chị hàng rau nên mặt bà hầm hầm y như quan Khâm
sai Lê Hoan muốn triệt hạ cả một làng vì tuần đinh làng ấy không cấm được ếch
nhái kêu ở dưới ao để đến nỗi làm khó chịu hai cái lỗ tai quý hoá của ngài vậy.
Giữa chợ, không tiện lúc, tôi chỉ đành thở dài mà quay về làng Cổ Mễ chào bạn rồi
lại ra ga. Thôi thì dù sao cũng ghi được ít nhiều cảm giác về “bà hoàng hậu mất
ngôi ấy”, xưa kia đã hét ra lửa ở Việt Trì thì nay, theo luật thừa trừ, chỉ còn
là một người đàn bà nghèo kiết, mới bõ những thời oanh liệt thuở xưa… Ấy thế
mà… Có lẽ được “quỷ thần phù hộ” chăng, nên khi đã ra tới trước cửa rạp chớp
bóng A-lăm-ba, đương phân vân không rõ còn chuyến xe ca nào đi Hà Nội không thì
tôi gặp Hiếc-Tôn, nghĩa là Thuỷ Tinh, người lính lê dương mà độc giả hẳn chưa
quên một đoạn đời tình… thảm đạm. Anh ta hớn hở vặn sái tay tôi rồi khoe đã… dạm
hỏi một nơi khác thú vị hơn nữa, vì rằng “vị hôn thê” của anh ta là một người đầm
lai, đẹp hơn cái bà Kiểm lâm rất đáng ghét kia nhiều. Hiếc-Tôn lại nói: Nếu tôi
muốn xem mặt thì cứ việc đi theo anh ta. Cố nhiên, tôi chẳng chối từ. Thế là nhờ
có “quỷ thần phù hộ” cho mà tôi đã phải trông thấy một cảnh ghê gớm vô cùng, một
cảnh tượng khiến cho tôi phải rùng mình hồi hộp lo như đương sống vào một thời
đại nghìn xưa, thời đại mà mạng người ta cũng như mạng một con giun, mà một ông
quan cũng tàn bạo như ông vua Ngoạ Triều! Cảnh tượng ấy, đến bây giờ ngồi trước
đèn, chỉ có việc thuật lại, mà tôi vẫn thấy sự bất bình làm sôi nổi máu trong
tim.
* * *
Khi đến nhà “vị hôn thê” của Hiếc-Tôn thì trời đã tối hẳn, mà
cách dăm bước nữa mới tới cái cánh cửa thì chúng tôi đã thấy hình như trong nhà
có tiếng khóc lóc rền rĩ. Tiếng khóc lóc lại chẳng phải tiếng của trẻ con nên
chúng tôi ngạc nhiên quá chừng. Chen lẫn vào tiếng khóc có tiếng vun vút của một
cái roi mây. Hiếc-Tôn cùng tôi kiễng chân rón rén đến để mũi sát vào khe cửa…
Trên chiếc giường Tây mà lại giải chiếu ngũ sắc, có cái… có cái thân thể đẹp đẽ,
trắng nõn và hoàn toàn trần truồng của một người đàn bà nằm sấp mặt vào gối,
đôi gò bồng đảo quằn quại dưới những “giọt thuỳ châu” của một cái phất trần do
chính bà Ách Nhoáng cầm để thỉnh thoảng giơ cao tay vụt xuống một cái cũng khá
tàn ác nhưng mà thong thả, từ tốn như một viên quan già tờ mờ điểm những tiếng
trống chầu xinh. Thì ra đó là bà Ách Nhoáng giáo huấn cô con gái một của bà! Vì
rằng sau khi thấy cái thân thể ngà ngọc kia quằn quại tới ba lần rồi thì Hiếc-Tôn
giơ chân đạp cửa đánh thình một cái. Anh ta đút hai tay vào túi quần lừ mắt
nhìn vào phía trong… - Giời ơi! Hỏng rồi! Người ta đến! Không biết trong cái
phút ấy, Hiếc-Tôn đau khổ hay chán đời ra làm sao ma anh ta cứ mím môi, đăm đăm
nhìn vào. Còn về phần trong nhà thì… hết tiếng vụt, tiếng khóc, mà có tiếng guốc
khua rộn lên một lúc. Hiếc-Tôn hất hàm ra hiệu cho tôi bước vào. Trước cái ngả
mũ chào của tôi, bà Ách chỉ thản nhiên dặn cô con gái: - Không biết biến báo ra
mà bảo là bà có máu điên, có điều gì thì đừng có bán sới! Nói thế xong, bà ta vứt
cái phất trần vào một góc nhà và ra một cái trõng ngồi, chẳng buồn chào hỏi gì
tới tôi và Hiếc-Tôn. Chỉ ngồi thừ người ra mà nghĩ ngợi. Thế thì ra bà này là một
người khôn-điên hay là một người điên-khôn? Và những cử chỉ ấy khiến riêng tôi
phải nghĩ phân vân: hay sự đánh đập tàn nhẫn kia chẳng qua là một cuộc bày trò.
Biết đâu bà Ách chẳng muốn con gái bà được thương hoặc có một dịp… phô trương
những bộ phận kín đáo rất đáng ngắm trông của cái thân thể ngọc ngà? Đương mải
nghĩ thế thì cô con gái bà Ách từ gian phòng bên cạnh bước ra. Cái “toà thiên
nhiên dày dày sẵn đúc” đã bị những mảnh lượt là phủ kín. Cặp mắt quầng đen cũng
đã ráo hẳn lệ rồi. Khi cô còn ngượng nghịu nhìn tôi, Hiếc-Tôn đã vội nói: -
Đây, một người tôi mới quen, làm nghề viết báo đấy. Tôi dám chắc rằng sự nhẫn
tâm của mẹ cô vừa rồi thì, chẳng cứ là nhà báo, ai cũng phải bảo là dã man! Đoạn,
quay lại với tôi: - Tôi thật không ngờ rằng lại có người đồng chủng với ông còn
độc ác như giống mọi ở Phi Châu được. Nhanh nhẹn, nàng (sao lại không nên gọi
là nàng?) kéo ghế cho tôi và tình quân ngồi và nói: - Thưa ông, xin ông đừng cười.
Nguyên má tôi có máu điên nên mới đánh đập tôi một cách lạ lùng như thế. Nếu
tôi không chịu thì má tôi sẽ đập phá đồ đạc. Ông bảo tiền đâu sẵn có để cứ sắm
rồi chờ lúc nào điên thì lại đập đi? Đoạn nàng dùng tiếng Pháp cắt nghĩa cho “vị
hôn phu” đại khái thế, và nói cũng không đến nỗi quá ngập ngừng. Còn chàng?...
Lòng trắc ẩn của chàng đã rung động, chàng cảm thấy đời chàng chỉ có nghĩa lý nếu
chàng có thể là người bạn suốt đời che chở cho tấm thân bồ liễu bị dưới quyền sự
điên rồ của bà mẹ đáng sợ kia. Và Hiếc-Tôn kéo tay người yêu về lòng âu yếm: -
Ôi! Tôi yêu mình và thương mình bao nhiêu! Sau cùng, Hiếc-Tôn phải cái ngu dại
là ôm hẳn người yêu vào lòng mà cứ công nhiên hôn chùn chụt mãi. Tôi dám bảo
anh ta ngu dại chẳng phải vì không biết giữ lễ độ trước mặt một khách lạ, nhưng
bởi lẽ tôi cũng như Hiếc-Tôn, tôi, tôi đã là khán giả, khi người yêu anh ta
đóng một vai trò khoả thân… Nhất là khi hình ảnh tấu kịch ấy vẫn chưa nhạt
trong óc tôi thì, các độc giả dám bảo sự ân ái, sự vỗ về kia lại không ngang
giá trị với một cái ảnh khiêu dâm à? Nếu, trong một phút, tôi đã có những tư tưởng
bất chính, độc giả chắc cũng thể tất rằng đó chẳng phải lỗi tự tôi… Song le đời
nào tôi dại gì lại để cho thiên hạ công nhiên trao tặng nhau ái tình trước mặt
tôi, giữa khi tôi, không biết đêm nay, tôi sẽ ngủ lại đâu, và ngủ với ai, như
thế… Bà Ách Nhoáng đã lủi đi đâu mất rồi, nhưng con gái bà hẳn là phải biết rõ
tại sao mẹ mình thỉnh thoảng lại phát điên. - Thưa ông, mẹ tôi xấu số lắm. Thuở
trẻ khá giả bao nhiêu, về già lại càng nghèo túng bấy nhiêu. Mẹ tôi điên chính
bởi cái nghèo. Mà mẹ tôi, sở dĩ ác nghiệt với tôi cũng chỉ tại trông thấy một số
đông con lai ăn ở không ra làm sao với mẹ. Họ không ra gì mà đến nỗi tôi bị chết
lây! - Tôi muốn rõ tại sao bà cụ xưa kia hồi còn ở Việt Trì lại có cái tư tưởng
kỳ lạ như giữ độc quyền vậy. Theo lời nhiều người kể lại thì không một me nào ở
nơi khác lên đây mà lại kiếm được chồng. Nàng sốt sắng cắt nghĩa: - Chính đó là
cái ý kiến hay đấy ông ạ. Không phải mẹ tôi hợm mình và rởm đời như họ tưởng
đâu. Nguyên do về cái nghề lấy Tây (than ôi, lại cái nghề) này có lắm điều khả
bỉ lắm. Có một số đông không có nhân cách gì cả, không biết giữ danh giá cho
người đã xuất thân đi lấy Tây. Thế nào họ cũng lấy, cho bao nhiêu tiền họ cũng
không suy bì cao hạ. Rồi chị nọ dèm pha chị kia. Phỗng tay trên nhau, phá giá
nhau. Thí dụ ở một nơi này, một người đang giữ một cái giá cao như thế này, bỗng
tự nhiên có một người lạ không biết từ đâu đến nhảy vào giữa mà treo cái bảng đại
giảm giá chẳng hạn thì ông bảo có tức không? Tôi chỉ mỉm cười. Khoái chí nàng
nói thêm: - Ấy thế mà người đời họ tồi lạ! Hiện bây giờ còn có nhiều kẻ cho mẹ
tôi xưa kia ác nên bây giờ nghèo thì mai mỉa cho bõ đấy. Nghĩ thật chán đời.
Nàng ôi! Nàng đã nói dối tôi nhé! Trong khi phục nàng là có hiếu với mẹ, tôi chẳng
dám quên rằng bà Ách Nhoáng vì muốn “chấn hưng kỹ nghệ” chỉ có một phần nhưng
mà vì muốn “hối lộ” những mười phần kia. Cách đây 8 năm me nào lên Việt Trì kiếm
chồng mà không có chút chè lá cho bà thì đố ở được. Cả đến những me theo chồng
lên đây rồi, không vào chịu lệnh bà thì cũng đố có đậu được lâu. Không ai rõ bà
Ách đã có những cái “tuých” như thế nào… Nhưng mà… còn có luật thừa trừ. Lần ấy,
bà Nhoáng gặp me cai Phăng Xoa theo chồng lên. - Này, là bà cai thôi chứ giá là
bà đội, bà ách, hay bà quản nữa cũng mặc! Lên đến đây là phải biết gái này… Bà
Ách vừa đỏng đảnh xong, me cai Phăng Xoa thưa ngay: - Em vẫn biết tiếng bà chị
lắm đấy chứ. Nghĩa là em mới lên, chưa thuê xong cửa nhà nên chưa lại lạy chào
bà chị được, bà chị cũng đánh chữ đại xá cho. Bà Ách cũng hơi hơi hài lòng.
Nhưng chỉ hơi hơi thôi, vì me cai lại tay không, mà hai tay lại chắp sau đít một
cách vô lễ. Không thấy cái “vi thiền”, bà Ách quát: - Ừ lại lạy chào thì cứ lại,
ai bảo đừng? Nhưng mà cũng biết cái lẽ thường là thế nào chứ? Cũng phải biết
con này là con nào mới được chứ? Muốn ở hay đi? - Này! Bà bảo thật: bà chỉ muốn
đi thôi! Tức thì me cai Phăng Xoa xông vào, giơ cao một cái búa đanh khá lớn…
Ngai vàng, vì nhát búa ấy, đổ sụp. Mà từ đó bà Ách Nhoáng đã hóa ra bà hoàng hậu
mất ngôi. Tôi chợt nhớ tới một bà to lớn, mặt to như cái nắp tráp, ngồi bên một
cái tráp trầu đầy hoa thơm nức, đã ra lệnh cho các me ở Việt Trì. Bây giờ tôi
chỉ còn thấy một bà, giấu cái cây thịt trong chiếc áo cánh bông tàng chỉ còn
hùng hổ ở những lúc lột trần truồng con ra đánh đòn.
- Anh đã sung sướng chưa? Hiếc Tôn ngẩn mặt nhìn tôi hỏi lại:
- Sung sướng nghĩa là thế nào? - Thương được người khác nghĩa là sung sướng. Nhất
là cái thương ấy lại đẻ ra cái yêu. Khi anh yêu ai mà lại được người ấy yêu lại,
thế là sung sướng chứ gì. Hiếc Tôn đứng lên bắt tay tôi rồi nghiêm trang: - Nếu
hạnh phúc là thế thôi thì tôi sung sướng lắm. Tôi lại xin báo anh biết rằng vị
hôn thê tôi bây giờ đã là vợ tôi. Mà đêm nay lại là đêm giăng mật của chúng tôi
nữa. Tôi sửng sốt hỏi: - Chóng thế kia à? Sao lại tài thế? - Vì rằng từ khi thấy
nó có một người mẹ ác như thế thì tôi đem lòng thương nó ngay. Tôi nhất định cưới
nó làm vợ. Tôi đã gần cảm động. Tôi sung sướng hộ người đàn bà khốn khổ có một
mảnh hồn u uất và một trái tim đau thương kia, nay đã có bạn tri âm. Tôi kính
phục một người lính mà có một quả tim biết thồn thức trước một cảnh thương tâm.
Tôi đang mơ màng… Người đàn bà kia không phải vì tiền, mà Hiếc Tôn cũng chẳng
phải chỉ đã bỏ tiền ra hòng mua nhục dục. Vào trường hợp này, trong cuộc điều
tra này, dễ thường chỉ có một cặp này lấy nhau vì hai chữ yêu thương. - Vả lại,
hôm nay là ngày lĩnh lương của tôi Đó là một câu nói cuối cùng của Hiếc Tôn.
Than ôi! Hiếc Tôn đã “đập vỡ” ảo tưởng của tôi. Hiếc Tôn quả thật đã là đồ ngu
dại, một nghìn lần ngu dại!.





























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét