Hình tượng hoa sen trong
nghệ thuật kiến trúc Phật giáo
Hoa sen mọc từ đầm nước, từ một cõi trần ô trọc đã vươn lên
trở thành một bông hoa thanh cao, quý trọng, trở thành bông hoa của vũ trụ.
Bông hoa này đã đi vào tâm thức của mọi người, trở thành hình tượng trong nghệ
thuật, trong kiến trúc và điêu khắc.
Đặc biệt hoa sen trở thành biểu tượng trong nghệ thuật Phật
giáo của Phương Đông. Nó tượng trưng cho vẻ đẹp thần bí, huyền ảo, tư tưởng sâu
kín. Trong nghệ thuật Việt Nam, hình tượng hoa sen dày đặc từ các phù điêu, đá
tảng kê chân cột, bệ tượng Phật đến các dáng gốm và họa tiết trang trí. Song cô
đọng và sáng tạo hơn cả là hình tượng hoa sen trong kiến trúc Phật giáo Việt
Nam.
Lịch sử Việt Nam cũng bao huyền thoại về sen, sau thời “Các
vua Hùng đã có công dựng nước” với nền văn hóa Đông Sơn là trung tâm của cả khu
vực Đông Nam á cổ đại. Trong nhiều truyền thuyết được ghi lại ở các làng quê có
thần tích, làng quan họ Xuân ổ - Bắc Ninh: Vào cuối đời Lý, đầu đời Trần, xứ Bắc
có người con gái họ Lý tên là Huệ Nương tuổi 16 xinh tươi nhưng nguyện không lấy
chồng, mộ đạo xuất gia đầu Phật ở Chùa Tràng Liên trên núi Tiên Sơn, nơi xưa
kia Thiền sư Vạn Hạnh trụ trì và Vua Lý Thái Tổ đã được tụ khí hoài thai. Một
đêm nàng nằm mộng thấy một vị Tiên mang cho bông hoa sen và bảo: “Có vị Tiên xuống
trần, sau này nàng sinh gái quý, ta đem đến cho nàng đây. Rồi có ngôi sao sa xuống
miệng nàng. Nàng tỉnh dậy và từ đó có thai và sinh ra một bé gái được đặt tên
là Qúy Minh. Qúy Minh là người xinh đẹp và có sức khỏe phi thường đã hô hào dân
làng luyện tập võ nghệ giúp nước, dẹp xong quân giặc Mông Cổ .”
Mặc dù sinh ra trong bùn lầy nhưng hoa sen không bị ô nhiễm
mà lại có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh sống, vì hoa sen hễ mọc ở nơi nào thì
sẽ làm cho nước đục nơi đó lắng trong. Sen có cả hương lẫn sắc, nhưng hương sen
không quá nồng mà dịu, gợi một tinh thần cao thượng. Sắc sen kín đáo, đằm thắm,
cánh trắng phớt hồng, nhụy vàng. Từ khi nở đến khi tàn không hề bị ong bướm bén
mảng tới. Qua bao ràng buộc bởi đất, nước đến được chỗ khoáng đạt hư không, sen
tiếp tục vươn lên dưới ánh mặt trời, kết lấy hoa khai nở, khoe sắc và xông
hương tràn ngập không gian.
Sự hình thành của sen diễn ra theo quy luật nhân quả luân hồi.
Sen có cả nụ hoa hạt. Hoa nở tượng trưng cho quá khứ, đài sen tượng trưng
cho hiện tại và hạt sen tượng trưng cho tương lai, sự nối tiếp liên tục. Việc
gì hôm nay cũng là nguyên nhân để tạo kết quả ở ngày mai, và quả đó lại là
nguyên nhân mới cho kết quả tiếp theo, cứ thế là sự chuyển động xoáy ốc lên
cao.
Trong Phật giáo, hoa sen biểu trưng cho những giá trị đạo đức,
sự thuần khiết và thánh thiện, sự duy trì và phát triển Phật pháp, trí tuệ dẫn
đến niết bàn. Trên thế giới ít có loài hoa nào có nhiều phẩm chất cao quý như
hoa sen. Nhà Phật ví nó như những đức tính của người tu hành.
Trên một số quả chuông như chuông chùa Liên Phái, Hà Nội, hay
ở kiến trúc chùa và nhất là trong lời cúng của các sư tăng thường có cụm từ
“Mún ma ni bát mê hồng” có nghĩa là cầu được lên tòa sen ngọc báu. Bát mê vốn
có gốc ở âm phạm là padma nghĩa là hoa sen.
Trong kiến trúc Phật giáo, hình tượng hoa sen được lồng vào cấu
trúc nhà, một bộ phận kiến trúc hoặc cả tổng thể công trình với ý nghĩa về sự
giải thoát, giác ngộ Phật pháp. Những công trình kiến trúc tiêu biểu với hình
tượng hoa sen thường xuất hiện trong những giai đoạn hưng thịnh của Phật giáo.
Đó là thời Lý thế kỷ thứ 11 với Chùa Một Cột - Hà Nội; thế kỷ thứ 17 với tháp Cửu
phẩm liên hoa, Chùa Bút Tháp - Bắc Ninh; thế kỷ 18 với Chùa Tây Phương - Hà
Tây, Chùa Kim Liên - Hà Nội.
Sen kiến trúc lại hoà với sen thật, cái hư cái thực cứ quyện
vào nhau để cùng nói lên một tư duy về sự hòa hợp âm dương tạo sự phát triển và
bền vững. Cũng với hình tượng hoa sen, tháp Cửu phẩm liên hoa - Chùa Bút Tháp
là một tổ hợp kết cấu gỗ dạng tháp quay chín tầng chồng lên nhau. Mỗi tầng có một
đài sen rộng chừng 2m, cao 50cm. Cả tháp cao 7,8m, phía ngoài tháp các cánh sen
bằng gỗ sơn đỏ tạo thành tầng tầng lớp lớp so le nhau. Tầng một đến tầng chín
biểu hiện cho những nấc thang của sự tinh tiến trong đạo Phật. Tháp có thể xoay
được bởi nó được ăn chân trụ với một chiếc cối đồng chôn ngang mặt đất và hệ thống
bốn cột cái đặt chung quanh tháp. Cứ mỗi vòng quay của tháp tương ứng với
3.452.400 lời niệm. Số niệm càng nhiều thì sự thành đạt của kiếp tu hành càng
mau có kết quả. Tháp được đặt trong tòa Tích Thiện Am, ngôi nhà ba tầng, bốn
mái tương ứng với ba cấp chứng quả của người tu hành. Tháp quay Cửu phẩm liên
hoa là một tổ hợp cao hơn giá trị đơn lẻ của một biểu tượng bông sen. Hay trong
hệ thống các hàng lan can ở quanh Thượng điện và quanh tháp Báo Nghiêm cũng có
những bức chạm cả hồ sen với cá, chim rất ngoạn mục.
Nếu ở thời Lý và thời Lê Trung Hưng thế kỷ 17, hình tượng hoa
sen trong kiến trúc Phật giáo chỉ có tính chất đơn lẻ trong từng chùa như Chùa
Một Cột hoặc một bộ phận kiến trúc như tháp quay ở Chùa Bút Tháp thì đến thế kỷ
18, hoa sen đã trở thành phong cách kiến trúc của cả một giai đoạn. Nó đánh dấu
sự bừng nở của một phong cách nghệ thuật độc đáo, khởi đầu từ Chùa Kim Liên và
được kế tiếp ở Chùa Tây Phương, một ở trên hồ, một là trên núi vừa hòa nhập vào
thiên nhiên, vừa xác định vị trí, hình khối của mình trong không gian. Nếu kiến
trúc trước đó thường chú trọng tuyến ngang, tức là các lớp nhà kéo dài trên một
trục chạy như hình con rồng. Đến giữa thế kỷ 18, năm 1792 với kiến trúc Chùa
Kim Liên đã xác lập một ý tưởng không kéo kiến trúc chạy dài, mà cô gọn thành một
cụm hình tượng bông sen. Thực chất là kiểu kiến trúc đưa ba gác chuông gộp lại
làm một tạo thành kiến trúc chồng diêm hai tầng tám mái “Trùng thiềm điệp ốc”.
Kiểu kiến trúc này đã có từ thế kỷ thứ 17 với kiểu kiến trúc tháp chuông Chùa
Keo - Thái Bình. Hay ở Chùa Kim Liên, không chỉ có vẻ đẹp về hình khối, về ý tưởng
kiến trúc, Chùa Kim Liên còn giải quyết được ánh sáng, độ thông gió… Kết cấu
theo bốn hàng chân, nhất quán lối kiến trúc chồng rường. Từ kết cấu đến từng
chi tiết kiến trúc của chùa đều gọn gàng, tạo hình khối kiến trúc ổn định, ăn
nhập với các yếu tố phù trợ khác như đầu đao cong vút, ô cửa sổ bán âm bán
dương trên bức tường ốp gạch trần. Tất cả tạo nên một vẻ thanh thoát, cổ kính,
huyền bí. Đứng trên đê nhìn xuống, Chùa Kim Liên thấp thoáng trong lùm cây xanh
um tùm chung quanh là hồ, chẳng khác gì đóa sen nở trên mặt nước.
Cũng với kiểu kiến trúc Chùa Kim Liên, Chùa Tây Phương được
xây dựng tinh xảo hơn. Chùa được xây dựng trên một ngọn núi hình lưỡi câu, gọi
là “Câu lậu sơn”. Đi hơn 250 bậc đá là tới khu chùa chữ tam với ba tòa Thượng -
Trung - Hạ, kết cầu vì kèo chồng rường. Các đầu đao kép uốn hình rồng cong, so
le. Đứng ở góc chéo có thể nhìn thấy ba góc kia, thấy đuợc sự dãn nở của nhiều
lớp mái do việc sử dụng độ cao hợp lý. Mái được nâng cao, đồng thời mở nhiều
ánh sáng trong nội thất làm thay đổi khí sắc tôn giáo của ngôi chùa. Các đầu cột
ở hai ngôi chùa này được làm thành bông hoa sen hoặc làm thành cả hồ sen, thể
hiện sự tài tình, khéo léo của những người thợ xây dựng chùa.
Đặc biệt phong phú là sen trang trí các hình rồng mây, hình
hoa cúc… Chất trang trí đã làm cho đài sen tươi tắn và sinh động hơn. Như hình
chạm cả dàn nhạc công đang tấu nhạc dâng lên đức Phật ở chân cột đá Chùa Phật
Tích. Hình Phật được tượng trưng bằng một vòng sáng nhọn đầu, còn đài sen được
chạm rất kỹ, tỉ mỉ. Từ kiến trúc cổ truyền còn thấy mạch thẩm mỹ và ý thức xưa
lại được phát huy vào Lăng Cụ Hồ nhưng tất cả chuyển thành đường nét thẳng. Như
vậy, nét đẹp giá trị nghệ thuật của kiến trúc Phật giáo nói chung, và kiến trúc
hình tượng hoa sen nói riêng là ở kết cấu kiến trúc thực được tạo ra để thể hiện
những ý niệm triết học trừu tượng của Phật giáo, chỉ bằng một hình tượng đơn giản,
giản dị, đó là bông sen.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét