Hoàng Cầm - Hồn thơ của xứ Kinh Bắc
Hoàng Cầm là một trong những gương mặt lớn của nền thi ca Việt
Nam thế kỷ XX, được mệnh danh là nhà thơ của vùng đất Kinh Bắc.
Có thể nói, vùng quê hương văn hiến trữ tình ấy đã nuôi dưỡng
hồn thơ Hoàng Cầm chứa chan tình mẹ, tình yêu đôi lứa và tình thương con người.
Để từ đó dệt nên những vần thơ trữ tình, mượt mà, đầy sức quyến rũ từ nội tâm
sâu thẳm.
Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22/2/1922, tại
xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, quê gốc ở xã Song Hồ, huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh. Bùi Tằng Việt bước vào thi đàn với một bút danh thật đẹp
và cũng thật độc đáo - Hoàng Cầm xuất phát từ tên của một vị thuốc quý.
Những năm kháng chiến, Hoàng Cầm gia nhập quân đội, chuyên hoạt
động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Ông từng giữ chức Trưởng đoàn văn công
Tổng cục Chính trị. Cuối năm 1955, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm
công tác xuất bản. Tháng 4/1957, ông là một trong số những hội viên tham gia
sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam.
Hoàng Cầm được biết đến trong nhiều lĩnh vực, nhưng nổi tiếng
nhất là thơ ca với những tác phẩm chính gồm: “Trương Chi” (xuất bản năm 1993),
“Bên kia sông Đuống” (thơ, 1948), “Kinh Bắc” (thơ, 1959), “Men đá vàng” (truyện
thơ, 1973), “Mưa Thuận Thành” (thơ, 1959), “Lá Diêu Bông” (thơ, 1993), “Đến từ
hư không” (thơ, 2000)…
Ngay từ những năm 15 tuổi, 18 tuổi ông đã có những bài thơ “Hận
ngày xanh”, “Bông sen trắng” làm ngạc nhiên giới văn bút nước nhà; 20 tuổi, ông
có “Hận Nam Quan” - vở thơ kịch lịch sử và đến năm 26 tuổi, bài thơ “Bên kia
sông Đuống” đã đưa chàng trai Hoàng Cầm lên hàng thi sĩ tiêu biểu nhất trong
kháng chiến chống Pháp. Bài thơ đánh dấu sự bừng thức của Hoàng Cầm về quê
hương. Khi nghe tin quê hương đang từng giờ từng phút bị tàn phá, dày xéo trong
tay giặc, yêu thương và căm giận cuồn cuộn trào dâng, tất cả những ký ức đó chợt
sống dậy mãnh liệt trong ông, giúp ông sau một đêm đã làm nên một “Bên kia sông
Đuống” chấn động tâm can mọi người Việt Nam yêu nước.
“Bên kia sông Đuống” đã làm Hoàng Cầm hiểu ra một điều quan
trọng: quê hương Kinh Bắc chính là điều kỳ diệu nhất tạo hóa ban tặng ông, là
“thiên mệnh” thơ của đời ông. Văn hóa Kinh Bắc như một cánh diều bay trên bầu
trời thổi lên tiếng sáo nhớ nhung mà thi sĩ là người cầm dây. Thơ ông rất đỗi
mơ mộng, đầy chất trí tuệ và thấm đẫm văn hóa phương Đông.
Từ “Bên kia sông Đuống”, dòng thơ về quê hương của Hoàng Cầm
bắt đầu tuôn chảy với “Tiếng hát quan họ”, “Trương Chi”, “Men đá vàng”, “Mưa
Thuận Thành”, “Lá diêu bông” và đặc biệt bài thơ “Về Kinh Bắc” là sự thăng hoa
tuyệt vời, là tập thơ cột sống của đời Hoàng Cầm. Đây là một tập thơ mà tinh
túy của văn hoá Quan họ – Kinh Bắc đã được chưng cất, kết đọng lại. Ông chia tập
thơ thành các “nhịp” với những đêm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ như nén lại để rồi
làm thăng hoa thơ Việt trong một không gian, thời gian thực ảo biến hoá khôn lường.
Đọc thơ ông, ta gặp một con người Việt nguyên khôi qua hơi thở của lục bát, ngũ
ngôn và nhịp tự do tài tình lướt qua khuôn phép. Chính vì thế mà thơ ông không
cũ trong cổ điển, và cũng không quá xa lạ trong hiện đại. Nhiều câu thơ của ông
đầy tài hoa, quyến rũ, khiến người đã “phải lòng” rồi thì không thể nào dứt ra
được nữa.
Còn với “Lá diêu bông”, Hoàng Cầm đã sáng tác ra một thứ lá
không có trên đời, nhưng ngày nay nó đã trở thành biểu tượng của tình yêu. Bài
thơ là triết lý về hành trình, nỗi khát khao tìm kiếm hạnh phúc của đời người
cho dù hạnh phúc đó chỉ là ảo. Luôn mang trong mình cái tình trẻ mãi không già,
“Lá diêu bông” khiến Hoàng Cầm để lại dấu ấn không thể phai mờ trong lòng bạn đọc:
“Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá/ đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọi/ Diêu bông
hời… ới diêu bông…!”.
Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha đánh giá: “Thơ Hoàng Cầm rất nhiều
bài hay. Nhưng bài tôi tâm đắc nhất là bài “Lá diêu bông”. Vì ở đấy nó có phẩm
chất mà tất cả các nhà thơ của nhân loại đều phải có. Vì riêng chuyện ông sáng
tạo ra lá diêu bông đã là một câu chuyện. Hàn Mạc Tử cũng sáng tạo ra cõi phượng
trì… rất mông lung thì đến Hoàng Cầm ông lại nghĩ ra là Lá diêu bông. Bài thơ
“Lá diêu bông” như là tả nhưng nó không tả mà nó nói về một nỗi niềm. Ông ấy
dùng bản năng ở trong mình, chỉ có thơ Hoàng Cầm ta thấy là em yêu chị thôi…”
Ngày 6/5/2010, nhà thơ Hoàng Cầm đã nhẹ bước ra đi sau chặng
đường 89 năm bền bỉ tìm về. Ông tìm về nơi ông sinh ra, nơi trọn đời ông nhớ
thương day dứt: “Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc/ Chiều xưa giẻ quạt voi lồng/
Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc/ Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông…” Ông
tìm về “Bên kia sông Đuống”: “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”
nơi ông đánh giặc và yêu. Tìm về với chính tuổi thơ ông: “Ta con chim cu về gù
rặng tre/ đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng/ đưa mây lành những phương trời lạ/ Về
tụ nóc cây rơm”. Và tìm cả những gì không có, những gì chỉ có trong giấc mơ như
chiếc lá diêu bông kia.
Năm 2007, ông đã vinh dự được trao tặng Giải thưởng Nhà nước
về văn học nghệ thuật.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét