Trịnh Công Sơn (28 tháng
2 năm 1939 - 1 tháng 4 năm 2001) được coi là một
trong những nhạc sĩ lớn nhất của âm nhạc đại chúng, Tân nhạc Việt
Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến. Hiện nay chưa có thống kê chính xác về
số tác phẩm để lại của ông (ước đoán con số không dưới 600 ca khúc). Tuy nhiên
số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhạc
của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả
là Khánh Ly và Hồng Nhung. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà
thơ, một họa sĩ, một ca sĩ và một diễn viên không
chuyên.
Tiểu sử
Thời niên thiếu
Ông quê ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông lớn lên tại Huế. Lúc nhỏ ông theo học các trường Lycée Français và Providence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lycée Jean Jacques RousseauSài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây
Ông quê ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông lớn lên tại Huế. Lúc nhỏ ông theo học các trường Lycée Français và Providence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lycée Jean Jacques RousseauSài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây
Năm 1957, khi 18 tuổi, ông bị một tai nạn, khi đang tập judo với
người em trai, ông bị thương nặng ở ngực, suýt chết và phải nằm liệt giường gần
hai năm tại Huế. Thời gian nằm bệnh, ông đọc nhiều sách về triết học, văn
học, tìm hiểu dân ca. Ông từng thổ lộ: “Khi rời khỏi giường bệnh, trong
tôi đã có một niềm đam mê khác - âm nhạc. Nói như vậy hình như không chính xác,
có thể những điều mơ ước, khát khao đó đã ẩn chứa từ trong phần sâu kín của tiềm
thức bỗng được đánh thức, trỗi dậy“.
Theo ông cho biết, ông sáng tác bài Sương đêm và Sao chiều
vào năm 17 tuổi. Nhưng tác phẩm được công bố đầu tiên của ông là Ướt
mi, do nhà xuất bản An Phú in năm 1959 và qua giọng ca Thanh
Thúy.
Năm 1961 vì muốn tránh thi hành nghĩa vụ quân sự (trốn lính)
nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm
Quy Nhơn. Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại một trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm
Đồng.
Sự nghiệp:
Tên tuổi của Trịnh Công Sơn được nhiều người biết đến hơn, từ
khi ông cùng ca sĩ Khánh Ly hát tại Quán Văn, một quán cà phê đơn sơ dựng
trên bãi đất cỏ sau Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn do nhóm sinh viên
mang tên Khai Hóa trong phong trào phục vụ thanh niên xã hội chủ
trương, từ cuối năm 1966.Trong những năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và
được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly. Ông kể: “Gặp
gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả
Khánh Ly. Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng
nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết
và lúc đó tôi chưa tìm ra ca sĩ nào ngoài Khánh Ly. Tôi đã mời Khánh Ly hát và
rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình. Từ lúc đó
Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa.
Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly“, còn Khánh Ly kể lại giai đoạn cơ cực đói khổ nhưng đầy hạnh phúc những năm 1960 ấy: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn“
Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly“, còn Khánh Ly kể lại giai đoạn cơ cực đói khổ nhưng đầy hạnh phúc những năm 1960 ấy: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn“
Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công
chúng Nhật Bản năm 1970 như “Diễm xưa” (do Khánh Ly biểu diễn
bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt), “Ca dao Mẹ”, “Ngủ
đi con”. Riêng bài Ngủ đi con đã phát hành trên hai triệu đĩa nhựa. Vì
lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền Việt
Nam Cộng hòa đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông. Theo tác giả Ban
Mai, trong cuốn “Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng”, nhiều ca khúc của
ông có thông điệp phản chiến bị cả hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa và Việt Nam Cộng hòa cấm lưu hành Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam cũng không tán thành thái độ phản chiến của ông về
chiến tranh, vốn mang tính “chủ hòa, ủy mị”, làm nản lòng những người đang đấu
tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước. Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn
“Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng”, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì
có những người phê phán ông vì coi ông là “thiếu lập trường chính trị”, có
những người cực đoan đòi sau khi tiến về Sài Gòn sẽ “xử tử” ông.
Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông
lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài “Nối vòng tay lớn” (bài
hát kêu gọi và nói về ước mơ thống nhất dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ
năm 1968 nhưng chưa từng công bố cho tới thời điểm đó, nay được ông công bố để
kỷ niệm sự kiện trọng đại mà ông mong chờ đã lâu). Cũng chính ông là người trưa
ngày 30/4 đã đứng lên phát biểu trực tiếp trên đài phát thanh Sài Gòn sau lời
tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. Trong bài phát biểu, ông
kêu gọi người dân miền Nam ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt
Nam:
“Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta… Ngày mà chúng ta
giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam này… Những điều mơ ước của các bạn bấy
lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta
đã đạt được tất cả kết quả đó… Hôm nay tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền
Nam Việt Nam, các bạn trẻ và Chính phủ Cách mạng lâm thời xem những kẻ ra đi là
những kẻ phản bội đất nước… Chính phủ Cách mạng lâm thời đến đây với thái độ
hòa giải, tốt đẹp. Chúng ta không có lý do gì để sợ hãi mà ra đi cả. Đây là cơ
hội duy nhất và đẹp đẽ nhất để đất nước Việt Nam được thống nhất và độc lập. Thống
nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước suốt mấy chục năm nay. Tôi xin tất
cả các bạn, thân hữu và cũng như những người chưa quen của tôi xin ở lại và kết
hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng lâm thời để góp tiếng nói xây dựng miền Nam
Việt Nam này…“.
Theo BBC, sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình ông di
cư sang Mỹ và ông phải đi học tập cải tạo trong 4 năm.Tuy nhiên, theo
tác giả Bùi Đức Lạc (một người bạn thân của Trịnh Công Sơn) thì ông chỉ đi làm
kinh tế mới vài năm chứ không hề có cải tạo, nguồn khác thì nói ông đi học
tập chính trị 2 năm ở Cồn Tiên. Theo Nguyễn Đắc Xuân, thời gian đầu sau
khi kết thúc chiến tranh năm 1975, “Đối với lãnh đạo thì không có vấn đề gì,
nhưng có nhiều “anh em phong trào” ở Sài Gòn không thích quan điểm lập trường
chung chung của Trịnh Công Sơn trước đây“, ông trở về Huế và “thời gian đó một
số phần tử quá khích theo phong trào “Hồng vệ binh” của Cộng Hòa Nhân dân Trung
Hoa đã kích động sinh viên treo một tấm banderole to tướng mang dòng chữ xanh rờn:
“Hạ bệ Phạm Duy - Hoàng Thi Thơ và Trịnh Công Sơn” trước trường
Đại học Sư phạm Huế” và “tiếp theo là cuộc tọa đàm luận tội “Trịnh Công
Sơn có công hay có tội” tại Hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế. Hôm ấy có cả Trần
Hoàn, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc
Xuân, Trần Viết Ngạc và vài người nữa. Có người lên án, nhưng cũng có người bảo
vệ. “Tội” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là ông đã làm nhạc phản chiến một cách
chung chung, không phân biệt được chiến tranh xâm lược và chiến tranh giải
phóng dân tộc trong bài “Gia tài của mẹ” với câu Hai mươi năm nội chiến từng
ngày. Thậm chí ông còn làm nhạc ca ngợi địch trong bài “Cho một người nằm” xuống
thương tiếc đại tá không quân Sài Gòn Lưu Kim Cương tử trận - người đã từng cưu
mang ông. Nhiều người phát biểu biện hộ cho Trịnh Công Sơn: “Đúng là Trịnh Công
Sơn đã làm nhiều bản nhạc phản chiến, anh được mệnh danh là người làm nhạc phản
chiến số 1 thời ấy giống như Bob Dylan, Joan Baez ở bên Mỹ. Trịnh Công Sơn là một
nhạc sĩ tự do, anh theo đuổi chủ nghĩa nhân bản chung chung khác chúng ta.
Nhưng anh làm nhạc trong vùng tạm chiếm, người nghe nhạc phản chiến của anh là
lính Cộng hòa. Rất nhiều lính của Thiệu đã bỏ ngũ vì nghe bản nhạc Người con
gái da vàng của anh. Chẳng có người lính cách mạng nào bỏ ngũ vì nghe nhạc của
Trịnh Công Sơn cả. Cũng như ngày xưa bên Trung Quốc, Trương Lương thổi sáo đâu
phải để cho quân mình buông kiếm! Đâu phải tự dưng chính quyền Thiệu ra lệnh tịch
thu những bài hát của Sơn”. Và chính xấp tài liệu đăng lệnh của cựu Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu cấm phổ biến nhạc Trịnh Công Sơn, lệnh cấm mang số 33 ngày
8.2.1969, đã có sức thuyết phục lớn đối với những người tham dự tọa đàm.
Sau cuộc tọa đàm, Trịnh Công Sơn phải viết kiểm điểm. Hồi ấy, những bản kiểm điểm nói không đúng vấn đề thường phải viết lại. Trịnh Công Sơn chưa quen lối sinh hoạt này nên rất chán chường…” Trong thời hậu chiến này, cả nước rất khó khăn và như bao người Việt khác, Trịnh Công Sơn cũng được điều đi lao động sản xuất, khi thì trồng khoai lang, lúc cấy lúa trên những cánh đồng đầy bom đạn chưa tháo gỡ.
Sau cuộc tọa đàm, Trịnh Công Sơn phải viết kiểm điểm. Hồi ấy, những bản kiểm điểm nói không đúng vấn đề thường phải viết lại. Trịnh Công Sơn chưa quen lối sinh hoạt này nên rất chán chường…” Trong thời hậu chiến này, cả nước rất khó khăn và như bao người Việt khác, Trịnh Công Sơn cũng được điều đi lao động sản xuất, khi thì trồng khoai lang, lúc cấy lúa trên những cánh đồng đầy bom đạn chưa tháo gỡ.
Một thời gian dài sau 1975, nhiều bài hát của ông bị cấm lưu
hành ở tại Việt Nam hay bị một số người kêu gọi tẩy chay ở hải
ngoại. Tuy nhiên, Khánh Ly và nhiều ca sĩ vẫn tiếp tục hát và phát hành những
băng đĩa với ca khúc của ông tại hải ngoại.
Những năm sau 1975, sau thời gian học tập chính trị, ông làm
việc tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc. Từ
đầu thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại, lúc đầu một số
sáng tác ông gởi qua cho Khánh Ly và chỉ phát hành tại hải ngoại. Khi bắt đầu
được phép lưu hành nhạc trong nước, ông có viết một số bài có nội dung ca ngợi
những chủ trương của chế độ mới như Thành phố mùa xuân, Ngọn lửa
Maxcova, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ… Sau đó nhà
nước Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản
tình ca có giá trị.
Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 ông thủ
vai chính trong phim Đất khổ. Phim hoàn tất năm 1974, nhưng chỉ được
chiếu cho công chúng xem 2 lần rồi bị Việt Nam Cộng hòa cấm không được phép
trình chiếu ở Miền Nam Việt Nam với lý do “có tính phản chiến”. Sau năm
1975, bộ phim không được trình chiếu tại Việt Nam.Cuối cùng, một bản phim đã về
tay nhà thơ Đỗ Trung Quân. Bộ phim được chọn là phim Việt Nam chính
trong Liên hoan phim Á Mỹ năm 1996.
Cuối đời, ông bị bệnh gan, thận và tiểu
đường. Tuy nhiên, ông vẫn cố gắng sáng tác những ca khúc mới trong những năm cuối
đời mình.
Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đường
lúc 12giờ45 ngày 1 tháng 4 năm 2001 (tức ngày 8 tháng 3 năm Tân Tỵ), hàng
ngàn người đã đến viếng tang và “có thể nói, chưa có nhạc sĩ nào mất đi lại được
công chúng thương tiếc như Trịnh Công Sơn”. Ông được an táng tại Nghĩa
trang chùa Quảng Bình (phường Bình Chiểu - quận Thủ Đức). Từ đó hàng năm giới
hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm.
Sự nghiệp sáng tác:
Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng hơn 600 ca khúc, những tác
phẩm có ca từ độc đáo, mang hơi hướng suy niệm. Theo Trung tâm Bảo vệ tác quyền
âm nhạc Việt Nam Chi nhánh phía Nam, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vẫn là tác giả được
trả tác quyền nhiều nhất với hơn 820 triệu đồng trong năm 2015 và luôn trong
top 5 nhạc sĩ có tiền trả tác quyền cao nhất. Tuy nhiên, còn một đánh giá khá
phổ biến cho rằng phần nhạc của Trịnh Công Sơn quá đơn điệu. Đánh giá này trùng
khớp với lời lý giải của ông về sự sáng tác của mình: “Tôi chỉ là một tên hát
rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời
hư ảo…”. Hai mảng đề tài lớn nhất trong âm nhạc Trịnh Công Sơn là tình yêu và
thân phận con người.
Nhạc tình
Tình yêu là đề tài lớn và ảnh hưởng nhất trong các tác
phẩm của Trịnh Công Sơn. Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục nhạc phẩm.
Khả năng viết nhạc tình của Trịnh Công Sơn tưởng chừng không biết mai một theo
năm tháng, theo thời đại: từ 1958 với “Ướt mi” đã nổi tiếng cho đến thập
niên 1990 ông vẫn có những tình ca được nhiều người ưa thích: “Như một lời
chia tay”, “Xin trả nợ người”…
Nhạc tình của ông đa số là nhạc buồn, thường nói lên tâm trạng
buồn bã, cô đơn như trong “Sương đêm”, “Ướt mi”, những ca khúc nhạc tình vẫn
mênh mang nỗi buồn kiếp người như “Diễm xưa”, “Biển nhớ”, “Tình xa”, “Tình sầu”,
“Tình nhớ”, “Em còn nhớ hay em đã quên”, “Hoa vàng mấy độ”, “Cỏ xót xa đưa”, “Gọi
tên bốn mùa”, “Mưa hồng”…
Những bài hát này thường mang giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát,
thường được viết với tiết tấu chậm, thích hợp với điệu Slow, Blues hay Boston.
Phần lời được đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, nhiều chiêm nghiệm nhờ những
biện pháp ẩn dụ, hoán dụ… đôi khi pha lẫn hơi hướng siêu thực, trừu tượng.
Nhạc tình của Trịnh Công Sơn rất phổ biến tại Việt
Nam và hải ngoại. Tuy rằng không được giới chuyên môn đánh giá cao về phần
âm nhạc, nhưng với giai điệu gần gũi và ca từ có màu trừu tượng, ý nghĩa sâu lắng,
nhạc của ông dễ dàng đi vào lòng công chúng.
Nhạc về thân phận con người:
Trịnh Công Sơn từng nói từ khi còn trẻ ông đã luôn ám ảnh bởi
cái chết nên âm nhạc của ông mang trong đó một sự mất mát của những số phận con
người. Ông cũng ảnh hưởng bởi Phật giáo của phương Đông và chủ
nghĩa siêu thực của phương Tây, nhạc Trịnh Công Sơn thấm đượm màu sắc hiện
sinh, buồn bã của các tác giả văn học phương Tây thập niên 60 như Jean
Paul Sartre, Albert Camus,… Tiêu biểu là các ca khúc “Cát bụi”, “Đêm thấy
ta là thác đổ”, “Chiếc lá thu phai”, “Một cõi đi về”, “Phôi pha”,… Bên cạnh
đó, có những bài tuy là nhạc buồn nhưng có gợi nên tư tưởng thiền như
“Một cõi đi về”, “Giọt nước cành sen”.
Nhạc phản chiến:
Khi tên tuổi định hình bằng nhạc tình, thì vai trò xã hội của
Trịnh Công Sơn lại gắn liền với một loại nhạc mang tính chất chống lại chiến
tranh, kêu gọi hòa bình mà người ta thường gọi là nhạc phản chiến, hay còn
gọi là Ca khúc da vàng theo tên các tập nhạc của ông phát hành cuối
thập niên 1960. Những “ca khúc da vàng” thường nói lên thân phận của những người
dân một nước nhỏ bị lôi kéo vào chiến tranh và nằm trong vòng toan tính, giành
giật ảnh hưởng của những nước lớn (thường là khác màu da).
Theo Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác dạng nhạc
này vào khoảng năm 1965-1966, khi chiến tranh trở nên ác liệt.
Năm 1966, ông cho ra đời tập Ca khúc Trịnh Công Sơn, trong đó có manh
nha một xu hướng chính trị yếm thế. Đến năm 1967, nhạc Trịnh Công Sơn lên
đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập Ca khúc da vàng. Năm sau, ông
cho ra tiếp tập Kinh Việt Nam. Từ năm 1970 tới 1972 ông
tự ấn hành được hai tập nhạc phản chiến là Ta phải thấy mặt trời và Phụ
khúc da vàng. Trong các băng nhạc Hát cho Quê hương Việt Nam của
Khánh Ly, những ca khúc phản chiến được bố trí khéo léo đan xen với các ca khúc
trữ tình. Những tập ca khúc vừa kể đều được phát hành hợp pháp tại miền Nam trước
1975. Chính vì thế các ca khúc phản chiến của ông được phổ biến khá rộng rãi,
có ảnh hưởng lớn đến công chúng nhất là giới trí thức, học sinh - sinh viên miền
Nam.
Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn phần lớn viết bằng điệu Blues,
cộng với lời ca đậm chất hiện thực, rất đơn sơ, trần trụi (khác hẳn với dòng nhạc
tình), trở nên những bài hát gây xúc động mạnh mẽ. Những bản nhạc này được ông
cùng Khánh Ly đem đi hát ở nhiều nơi tại miền Nam, được nhiều người nhất
là giới sinh viên nhiệt tình ủng hộ. Đây cũng là loại nhạc làm cho
danh tiếng của Trịnh Công Sơn lan ra thế giới: nhờ nhạc phản chiến ông được một
Đĩa Vàng (giải thưởng âm nhạc) tại Nhật và có tên trong tự điển bách khoa
Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp.
Nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn hay Phạm Duy và các nhạc sĩ
khác được cho là có vai trò trong giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam,
bên cạnh phong trào Hát cho dân tôi nghe của Tôn Thất Lập. Cũng vì loại
nhạc không rõ nghiêng về phe nào này mà ông đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai
phe đối địch. Nhưng về phía Trịnh Công Sơn, không thể phủ nhận rằng ông đã trở
thành một tên tuổi đặc biệt nhờ vào dòng nhạc này.
Cho đến nay, sau hơn 30 năm hòa bình, rất nhiều bài hát “da
vàng” của ông chưa được phép lưu hành chính thức tại Việt Nam hiện nay dù đã từng
rất phổ biến (và được Khánh Ly phát hành băng nhạc) tại miền
Nam trong thời chiến tranh Việt Nam (như bài “Đi tìm quê hương”,
“Chính chúng ta phải nói hòa bình”,”Gia tài của mẹ”, “Cho một người vừa nằm xuống” “Chưa
mất niềm tin”, “Chờ nhìn quê hương sáng chói”, “Hát trên những xác người”, “Ta
đi dựng cờ”, “Ta quyết phải sống”)
Nhạc khác:
Ngoài các bản nhạc tình và nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn
còn để lại những tác phẩm viết về quê hương như “Chiều trên quê hương tôi”, những
tác phẩm thể hiện quan điểm chính trị rõ hơn như “Huế - Sài Gòn - Hà Nội”, “Việt
Nam ơi hãy vùng lên” (1970), “Nối vòng tay lớn”, “Chưa mất niềm tin” (1972)…
trong đó có những bài rời được sáng tác ngay trong những cuộc xuống đường biểu
tình cùng thanh niên, sinh viên, học sinh.
Từ đầu thập niên 1980, khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc
trong nước, ông có viết một số bài nhạc cách mạng như “Em ở nông
trường em ra biên giới”, “Huyền thoại Mẹ”, “Ánh sáng Mạc Tư
Khoa”, “Ra chợ ngày thống nhất”…
Về sau, ông cũng viết nhạc cho thiếu nhi (trong tập nhạc “Cho
Con”, xuất bản năm 1991), nhiều bài rất nổi tiếng như “Em là hoa hồng nhỏ”, “Mẹ
đi vắng”, “Em đến cùng mùa xuân”, “Tiếng ve gọi hè”, “Tuổi đời mênh mông”, “Mùa
hè đến”, “Tết suối hồng”, “Khăn quàng thắp sáng bình minh”, “Như hòn bi xanh”,
“Đời sống không già vì có chúng em”.
Hiện nay, bản quyền các tác phẩm của ông thuộc quyền thừa kế
và sở hữu bởi Trịnh Vĩnh Trinh (em gái ông, sống tại Việt Nam) và Trịnh
Xuân Tịnh (anh trai ông, sống tại Mỹ), mỗi người giữ một nửa quyền sở hữu với
các tác phẩm của Trịnh Công Sơn.
Thơ và vẽ:
Ông làm thơ ít trong những lúc ngẫu hứng, hiện nay còn để lại
một số bài thơ tự sáng tác, và các bản dịch phỏng như trong tập Hán tự hài
cú của Ngô Văn Tao, hay các bài thơ vui, thơ chơi.
Bên cạnh âm nhạc, Trịnh Công Sơn để lại khá nhiều tác phẩm hội
họa, bút tích. Các tác phẩm hội họa của ông đã được triển lãm tại Nhà Hữu Nghị
Tiệp Khắc - Việt Nam, từ 14.1.1989 đến 24.1.1989 cùng với 2 họa sĩ Đinh
Cường và Đỗ Quang Em, triển lãm tại nhà khách Ritz, và Trang viên Con
Nai Vàng, Thủ Đức, từ 15.12.1990 đến 20.01.1991 cùng với 2 họa sĩ Trịnh
Cung và Đỗ Quang Em.
Phát ngôn, bút tích:
Bên cạnh âm nhạc, ông còn để lại khá nhiều phát ngôn về quan
điểm chính trị cũng như những dòng văn suy niệm về thân phận, cuộc sống. Bên cạnh
âm nhạc, ông còn để lại khá nhiều phát ngôn về quan điểm chính trị cũng như những
dòng văn suy niệm về thân phận, cuộc sống:
“Tôi, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, rất vui mừng và cảm động gặp
và nói chuyện với tất cả các anh em văn nghệ sĩ ở miền nam Việt Nam này. Hôm
nay là cái ngày mơ ước của tất cả chúng ta, đó là ngày mà chúng ta giải phóng
hoàn toàn tất cả đất nước Việt Nam này. Cũng như những điều mơ ước của các bạn bấy
lâu là độc lập, tự do và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả những
kết quả đó.
Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền nam Việt Nam hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước!”
Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền nam Việt Nam hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước!”
“Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận
thì hữu hạn. Tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu để
tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời.
”Khi bạn hát một bản tình ca là bạn đang muốn hát về cuộc
tình của mình. Hãy hát đi đừng e ngại. Dù hạnh phúc hay dở dang thì cuộc tình ấy
cũng là một phần máu thịt của bạn rồi”.
“Nếu có người nào đó thách thức tôi một trò chơi nghịch ngợm
thì tôi sẽ mang tình yêu ra mà đánh đố. Tôi e, không ai dám tự xưng mình am tường
hết nội dung phong phú và quá phức tạp của tình yêu. Có người yêu thì hạnh
phúc, có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc thì con người vẫn
muốn yêu. Tình yêu vì thế mà tồn tại. Con người không thể sống mà không yêu”.
“Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha
thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúng tôi biết rằng vinh quang chỉ
là điều dối trá. Tôi không còn gì để chiêm bái ngoài nỗi tuyệt vọng và lòng bao
dung. Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một
bông hoa…”
“Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi một con
người vì sợ mất tình mà giữ mãi một lòng nhớ nhung. Cuối cùng thì lòng yêu
thương cuộc sống cũng không giữ lại đời người. Cuối cùng thì tình yêu không giữ
được người mình yêu...”
Khen thưởng và Vinh danh
Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng (phát hành trên 2 triệu
đĩa) ở Nhật Bản với bài “Ngủ đi con” (trong Ca khúc da
vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly. Năm 1979, hãng đĩa Nippon
Columbia mời Khánh Ly thu băng lần thứ hai các nhạc phẩm của ông, cũng vào
năm này ca khúc “Ngủ đi con” trở thành 1 hit ở Nhật Bản.
Giải thưởng cho Bài hát hay nhất trong phim “Tội lỗi cuối
cùng”
Giải Nhất của cuộc thi “Những bài hát hay nhất sau 10 năm chiến
tranh” với bài “Em ở nông trường, em ra biên giới”.
Giải Nhất cuộc thi “Hai mươi năm sau” với bài “Hai mươi mùa nắng
lạ”.
Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhạc Sĩ cho một chuỗi
bài hát: “Xin trả nợ người”, “Sóng về đâu”, “Em đi bỏ lại con đường”
Năm 2004, Giải thưởng Âm nhạc hòa bình thế giới được trao cho
ông vì “lý tưởng hòa bình mà ông đã đấu tranh không mệt mỏi cho nhân loại”.
Trịnh Công Sơn có tên trong tự điển bách khoa Pháp Les
Million.
Trong cuộc họp chiều 17 tháng 3 năm 2011, Hội
đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế đã chính thức thông qua việc đặt
tên của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho con đường dài 600 mét, rộng 11 mét lát nhựa
mới mở ven sông Hương thuộc phường Phú Cát, thành phố Huế.
Đời tư:
Suốt đời, Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không
chính thức kết hôn với ai, và cũng chưa chính thức công nhận là có
con.
Trịnh Công Sơn không có vợ, nhưng ông có những mối tình đẹp
và lãng mạn với những phụ nữ ở Việt Nam mà ở cả ngoại quốc. Theo
lời của người em gái Hoàng Diệu, lý do lớn nhất ông không kết hôn là: “Anh Sơn
luôn ngại làm phiền người sẽ ở cùng phòng với mình, bởi anh cực kỳ ít ăn và ít
ngủ và có giờ giấc làm việc chẳng giống ai. Anh thường xuyên thức dậy giữa
khuya khi nghĩ ra được ý nào đó và ngồi viết lại hoặc vẽ đến sáng. Bởi vậy mà
khi lần đầu tiên có ý định cưới vợ - một Việt kiều Pháp (sáu tháng ở Pháp, sáu
tháng ở Việt Nam), anh đã có những dự định rất rõ ràng: Anh và chị sẽ có hai
căn phòng nằm cạnh nhau chứ không phải lúc nào cũng ở chung phòng để có thể giữ
được sự riêng tư cần thiết.” Và rồi, vì nhiều lý do, mối duyên ấy không thành.
Mối tình đầu, thực chất chỉ là một tình bạn đẹp của ông là với
ca sĩ Khánh Ly, rồi sau đó với một cô gái Nhật Bản làm luận
án tiến sĩ về âm nhạc Trịnh Công Sơn. Hai người cũng đã tiến xa đến một kế hoạch
đám cưới nhưng rồi cũng không thành vì anh Sơn không chấp nhận một vài nguyên tắc
của gia đình người Nhật đưa ra khi anh về làm rể. Và Dao Ánh (người trong
mộng của ông từ năm 1964 đến năm 1967); em ruột của bà Ngô Vũ Bích Diễm. Đây
chính là “bóng hồng” trong nhạc phẩm “Diễm xưa”. Trước khi yêu Dao Ánh, Trịnh
Công Sơn từng dành tình cảm với cô chị gái Bích Diễm nhưng tình cảm ấy không
thành.
Mối tình thứ tư của ông là với ca sĩ Hồng Nhung, và mối
tình thứ năm của ông là với VA…, khi ông mất VA là một trong số các người thân ở
bên cạnh ông.
Sau 1975, đã có hai lần ông định lập gia đình nhưng đều không
thành. Lần đầu vào năm 1983, với một thiếu phụ tên là C.N.N., sinh năm 1944. Từ quận
18, Paris, bà C.N.N.
Những năm cuối cùng của cuộc đời, niềm say mê lớn nhất, Trịnh
Công Sơn gần như dành hết cho ca sĩ Hồng Nhung mà theo ông là “Một người
quá gần gũi không biết phải gọi là ai!”… Với Hồng Nhung, tâm hồn Trịnh gần như
trẻ lại, khiến bước chân ông trở nên bối rối, ngập ngừng với buổi hẹn ban đầu.
Một người khác cũng từ Hà Nội kể lại tình cảm của cô dành cho
Trịnh Công Sơn và của Trịnh dành cho cô lần đầu gặp mặt: “Lần đầu tiên đứng
trước nhau, cả tôi và anh Sơn đều run. Tôi run vì quá trẻ và Sơn run vì anh
quá… già!” [61]
Hoàng Anh, một người được cho là người yêu của Trịnh Công Sơn
nói về tình yêu đối với ông: “Hiện tôi vẫn để ảnh tưởng nhớ Trịnh Công Sơn
trong phòng ngủ, nhưng chồng tôi không bao giờ thắc mắc, mà luôn tôn trọng thế
giới riêng của tôi”‘.
Tình yêu của Trịnh Công Sơn dành cho nhiều phụ nữ trẻ, đẹp và
nổi tiếng, họ yêu ông say đắm, khi ông mất có người còn xin gia
đình cho được để tang ông, nhưng ông không sống khăng khít với một
phụ nữ nào. Tài năng của ông luôn liên tục thăng hoa, ngoài âm nhạc ông
còn đóng phim, hội họa. Nhưng ông nhìn nhận cuộc đời và dành tình cảm cho
đời một cách rất giản đơn với không hề tham vọng, ông nói một cách thản nhiên về
cuộc đời: Cái chết chẳng qua cũng chỉ là một sự đùa cợt sau cùng của cuộc
sống.
Ca sĩ thể hiện:
Tên tuổi gắn nhiều nhất với những bài hát nhạc Trịnh Công Sơn
là Khánh Ly. Khánh Ly, ban đầu là một ca sĩ ít tên tuổi tại Đà Lạt, bén
duyên với nhạc Trịnh trong một dịp tình cờ, để rồi từ đó về sau đã thể hiện hầu
hết những ca khúc của Trịnh Công Sơn, để rồi được cho là người thành công nhất.
Nhưng Khánh Ly không phải người đầu tiên hát nhạc Trịnh, trước
đó Trịnh Công Sơn đã mời những tên tuổi lẫy lừng bấy giờ là Thanh
Thúy, Hà Thanh, Lệ Thu và cả danh ca Thái Thanh giới
thiệu những sáng tác đầu tay của mình ra công chúng, tuy vậy cuối cùng ông lại
chọn Khánh Ly, người cũng đã vụt lên thành ngôi sao sáng sau khi thể hiện những
bản tình ca buồn bã thâm trầm và dòng nhạc phản chiến mạnh mẽ của Trịnh Công
Sơn bằng chất giọng khàn đục lạ lùng.
Ngoài Khánh Ly, nhiều ca sĩ hát nhạc Trịnh Công Sơn cũng được
đánh giá cao như Lệ Thu, Thái Thanh, Ngọc Lan, Lan Ngọc. Giọng
nam thì có Tuấn Ngọc, và sau này là Quang Dũng. Tuấn Ngọc tuy
không chuyên về nhạc Trịnh nhưng được Trịnh Công Sơn đánh giá cao khi hát nhạc
của ông. Cuối cùng phải kể đến giọng hát của nhà thơ/nhạc sĩ Nguyễn Đình
Toàn khi ông thực hiện album 11 Ca Khúc Trịnh Công Sơn vào năm
1988. Nguyễn Đình Toàn hát nhạc Trịnh bằng giọng nhẹ nhàng, tâm sự và ngón đàn
guitar acoustic thổn thức rất được giới mộ điệu ưa thích.
Ở Việt Nam giai đoạn sau 1975 cũng có những
người hát nhạc Trịnh Công Sơn thành công như Trịnh Vĩnh Trinh (Em gái nhạc
sĩ), Cẩm Vân và đặc biệt phải kể đến Hồng Nhung hát nhạc Trịnh
theo phong cách hoàn toàn mới và được khán giả đón nhận.
Cũng nên kể đến những ca sĩ muốn thử nghiệm nhạc Trịnh Công
Sơn bằng phong cách “mới” và “lạ”, để rồi bị khán giả phản đối nặng nề, tiêu biểu
là Thanh Lam, Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng.
Bản thân nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng tự mình thể hiện và thu
âm một số ca khúc và được khán thính giả yêu thích.
Dù có rất nhiều các nghệ sĩ thể hiện nhạc Trịnh, nhưng thành
công vẫn là Khánh Ly và thế hệ sau là Hồng Nhung thể hiện.
28/6/2018
Nguồn: vi.wikipedia.org
Nguồn: vi.wikipedia.org










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét