Nhân vật “Mộng dưới hoa” và sự tài hoa
của Đinh Hùng - Phạm Đình Chương
của Đinh Hùng - Phạm Đình Chương

Mộng Dưới Hoa - Ý Lan - YouTube
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương xuất thân từ một gia đình có thể nói là gia đình hoàng tộc của tân nhạc Việt Nam. Thân phụ của ông là cụ Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cụ sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ là một công chức, thỉnh thoảng lên sân khấu để đóng kịch tài tử cho vui. Nhưng vợ của ông là một nữ kịch sĩ tài hoa chuyên nghiệp, đó là bà Kiều Hạnh. Bà còn nổi tiếng qua một thành tựu khác của bà là nhóm Tuổi Xanh, từng đào tạo nhiều ca sĩ thiếu nhi thành những ca sĩ chuyên nghiệp cho miền Nam. Con gái của ông bà là ca sĩ Mai Hương. Phạm Đình Viêm chính là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long, một ban nhạc khởi sự hoạt động từ thời kháng chiến chống Pháp ở Liên Khu 4 ngoài Bắc.
Tháng 6 năm 1951, ban hợp ca Thăng Long đến với “Nắng Đẹp Miền Nam”. Và kể từ đó, họ làm mưa làm gió trên sân khấu văn nghệ miền Nam qua lối trình diễn có một không hai của mình. Hoài Trung có tài bắt chước tiếng cầm thú. Khi nghe ban hợp ca Thăng Long trình bày những bài hát như “Ngựa Phi Đường Xa” của Lê Yên, “Sáng Rừng” của Phạm Đình Chương, nếu thỉnh thoảng bạn nghe tiếng ngựa hí, chim kêu thì đó là “tiếng kêu” bắt chước cầm thú của Hoài Trung.
Phạm Đình Chương là ca sĩ Hoài Bắc, linh hồn của ban hợp ca Thăng Long. Những thành viên khác của ban hợp ca như Thái Hằng, Thái Thanh, Hoài Trung, Khánh Ngọc (vợ Phạm Đình Chương) có thể vắng mặt hẳn hoặc thay thế, nhưng ca sĩ Hoài Bắc thì không thể thay thế được.
Dòng vợ sau của cụ Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy, người con gái út là Phạm thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh, một thời là vợ nam tài tử điện ảnh Lê Quỳnh (cha của ca sĩ Ý Lan, Quỳnh Hương). Còn người con trai giữa chính là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, ông sinh năm 1929 (có tài liệu ghi năm 1930). Ông được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn vẫn là tự học.
Ngoài tài ca hát, Phạm Ðình Chương còn được xem là một nhạc sĩ tài ba đồng thế hệ với Phạm Duy, Hoàng Trọng, Hoàng Thi Thơ, Văn Phụng, Ngọc Bích, Nguyễn Hiền v.v… Như bao nhiêu chàng trai yêu nước khác, ông theo kháng chiến chống Pháp ngay từ lúc ban đầu. Bốn anh em Phạm Đình Viêm, Phạm thị Quang Thái, Phạm Đình Chương và Phạm thị Băng Thanh đều gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu 4.
Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác trong thời gian theo kháng chiến. Lúc ấy ông chỉ mới 18 tuổi. Những bài ca ra đời trong giai đoạn này là loại nhạc hùng tráng như Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, Hò Leo Núi. Về thành rồi theo anh em vào Nam giữa năm 1951. Những sáng tác của ông trong giai đoạn này là những bài mang âm hưởng dân ca miền Bắc ca tụng cái đẹp của thôn quê như “Khúc Giao Duyên”, “Thằng Cuội”, “Được Mùa”, “Tiếng Dân Chài” như muốn nói lên tâm trạng hoài cố quận của mình. Cuối thập niên 50, qua ban hợp ca Thăng Long, giới yêu nhạc miền Nam được biết và yêu thích những sáng tác của ông như ”Xóm Đêm”, “Đợi Chờ”, “Ly Rượu Mừng”, “Đón Xuân”, v.v…
Sau khi cuộc hôn nhân với ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, ông bắt đầu sáng tác tình ca. Ông đem tâm trạng đau thương vào những bài nhạc tình da diết, đau nhức, buốt giá tâm can như “Thuở Ban Đầu”, “Đêm Cuối Cùng”.
Phải nói là ông có biệt tài phổ thơ thành nhạc. Ngoài bài “Mộng Dưới Hoa” nói trên, ông đã đưa nét nhạc bi thiết vào những bài thơ như “Màu Kỷ Niệm” (thơ Nguyên Sa), “Nửa Hồn Thương Đau” (thơ Thanh Tâm Tuyền), “Người Đi Qua Đời Tôi” (thơ Trần Dạ Từ), “Đôi Mắt Người Sơn Tây” (thơ Quang Dũng), “Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội” (thơ Hoàng Anh Tuấn), “Đêm Màu Hồng” (thơ Thanh Tâm Tuyền), để trở thành những tình khúc bất tử.
Có lẽ đóng góp lớn nhất của ông cho nền tân nhạc Việt Nam là trường ca “Hội Trùng Dương” sáng tác trong thập niên 60 gồm ba ca khúc “Tiếng Sông Hồng”, “Tiếng Sông Hương” và “Tiếng Sông Cửu Long”. Chúng Ta có thể kể hàng trăm bài hát ngợi ca tình yêu quê hương, thương mến đất nước trong gia tài nhạc Việt, nhưng không gì hùng vĩ và ý nghĩa bằng trường ca “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương, “Con Đường Cái Quan” của Phạm Duy và “Hội Trùng Dương” của Phạm Đình Chương.
Nhìn lại quá trình sáng tác của nhạc sĩ Phạm Ðình Chương từ ngày ông được sinh ra, tới ngày từ trần vào ngày 22 tháng 8 năm 1991, tại miền Nam California, Hoa Kỳ, với khoảng trên sáu mươi ca khúc, đủ loại, như những viên kim cương âm nhạc, hầu hết đã được thời gian thực chứng cho người ngạc sĩ tài danh này. Sự ra đi của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là một mất mát lớn cho nền âm nhạc Việt Nam. Con tằm đã nhả tơ cho đến sợi tơ cuối cùng. Và, những sợi tơ ấy giờ vẫn còn sáng ngời, lấp lánh và rực rỡ.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương xuất thân từ một gia đình có thể nói là gia đình hoàng tộc của tân nhạc Việt Nam. Thân phụ của ông là cụ Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cụ sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ là một công chức, thỉnh thoảng lên sân khấu để đóng kịch tài tử cho vui. Nhưng vợ của ông là một nữ kịch sĩ tài hoa chuyên nghiệp, đó là bà Kiều Hạnh. Bà còn nổi tiếng qua một thành tựu khác của bà là nhóm Tuổi Xanh, từng đào tạo nhiều ca sĩ thiếu nhi thành những ca sĩ chuyên nghiệp cho miền Nam. Con gái của ông bà là ca sĩ Mai Hương. Phạm Đình Viêm chính là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long, một ban nhạc khởi sự hoạt động từ thời kháng chiến chống Pháp ở Liên Khu 4 ngoài Bắc.
Tháng 6 năm 1951, ban hợp ca Thăng Long đến với “Nắng Đẹp Miền Nam”. Và kể từ đó, họ làm mưa làm gió trên sân khấu văn nghệ miền Nam qua lối trình diễn có một không hai của mình. Hoài Trung có tài bắt chước tiếng cầm thú. Khi nghe ban hợp ca Thăng Long trình bày những bài hát như “Ngựa Phi Đường Xa” của Lê Yên, “Sáng Rừng” của Phạm Đình Chương, nếu thỉnh thoảng bạn nghe tiếng ngựa hí, chim kêu thì đó là “tiếng kêu” bắt chước cầm thú của Hoài Trung.
Phạm Đình Chương là ca sĩ Hoài Bắc, linh hồn của ban hợp ca Thăng Long. Những thành viên khác của ban hợp ca như Thái Hằng, Thái Thanh, Hoài Trung, Khánh Ngọc (vợ Phạm Đình Chương) có thể vắng mặt hẳn hoặc thay thế, nhưng ca sĩ Hoài Bắc thì không thể thay thế được.
Dòng vợ sau của cụ Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy, người con gái út là Phạm thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh, một thời là vợ nam tài tử điện ảnh Lê Quỳnh (cha của ca sĩ Ý Lan, Quỳnh Hương). Còn người con trai giữa chính là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, ông sinh năm 1929 (có tài liệu ghi năm 1930). Ông được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn vẫn là tự học.
Ngoài tài ca hát, Phạm Ðình Chương còn được xem là một nhạc sĩ tài ba đồng thế hệ với Phạm Duy, Hoàng Trọng, Hoàng Thi Thơ, Văn Phụng, Ngọc Bích, Nguyễn Hiền v.v… Như bao nhiêu chàng trai yêu nước khác, ông theo kháng chiến chống Pháp ngay từ lúc ban đầu. Bốn anh em Phạm Đình Viêm, Phạm thị Quang Thái, Phạm Đình Chương và Phạm thị Băng Thanh đều gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu 4.
Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác trong thời gian theo kháng chiến. Lúc ấy ông chỉ mới 18 tuổi. Những bài ca ra đời trong giai đoạn này là loại nhạc hùng tráng như Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, Hò Leo Núi. Về thành rồi theo anh em vào Nam giữa năm 1951. Những sáng tác của ông trong giai đoạn này là những bài mang âm hưởng dân ca miền Bắc ca tụng cái đẹp của thôn quê như “Khúc Giao Duyên”, “Thằng Cuội”, “Được Mùa”, “Tiếng Dân Chài” như muốn nói lên tâm trạng hoài cố quận của mình. Cuối thập niên 50, qua ban hợp ca Thăng Long, giới yêu nhạc miền Nam được biết và yêu thích những sáng tác của ông như ”Xóm Đêm”, “Đợi Chờ”, “Ly Rượu Mừng”, “Đón Xuân”, v.v…
Sau khi cuộc hôn nhân với ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, ông bắt đầu sáng tác tình ca. Ông đem tâm trạng đau thương vào những bài nhạc tình da diết, đau nhức, buốt giá tâm can như “Thuở Ban Đầu”, “Đêm Cuối Cùng”.
Phải nói là ông có biệt tài phổ thơ thành nhạc. Ngoài bài “Mộng Dưới Hoa” nói trên, ông đã đưa nét nhạc bi thiết vào những bài thơ như “Màu Kỷ Niệm” (thơ Nguyên Sa), “Nửa Hồn Thương Đau” (thơ Thanh Tâm Tuyền), “Người Đi Qua Đời Tôi” (thơ Trần Dạ Từ), “Đôi Mắt Người Sơn Tây” (thơ Quang Dũng), “Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội” (thơ Hoàng Anh Tuấn), “Đêm Màu Hồng” (thơ Thanh Tâm Tuyền), để trở thành những tình khúc bất tử.
Có lẽ đóng góp lớn nhất của ông cho nền tân nhạc Việt Nam là trường ca “Hội Trùng Dương” sáng tác trong thập niên 60 gồm ba ca khúc “Tiếng Sông Hồng”, “Tiếng Sông Hương” và “Tiếng Sông Cửu Long”. Chúng Ta có thể kể hàng trăm bài hát ngợi ca tình yêu quê hương, thương mến đất nước trong gia tài nhạc Việt, nhưng không gì hùng vĩ và ý nghĩa bằng trường ca “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương, “Con Đường Cái Quan” của Phạm Duy và “Hội Trùng Dương” của Phạm Đình Chương.
Nhìn lại quá trình sáng tác của nhạc sĩ Phạm Ðình Chương từ ngày ông được sinh ra, tới ngày từ trần vào ngày 22 tháng 8 năm 1991, tại miền Nam California, Hoa Kỳ, với khoảng trên sáu mươi ca khúc, đủ loại, như những viên kim cương âm nhạc, hầu hết đã được thời gian thực chứng cho người ngạc sĩ tài danh này. Sự ra đi của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là một mất mát lớn cho nền âm nhạc Việt Nam. Con tằm đã nhả tơ cho đến sợi tơ cuối cùng. Và, những sợi tơ ấy giờ vẫn còn sáng ngời, lấp lánh và rực rỡ.
Thúy Vi
Nhân vật “Mộng dưới hoa” và sự tài hoa của Đinh Hùng - Phạm Đình Chương
Khi ở tuổi thanh xuân, tôi đoán chắc rằng, những thanh niên nam nữ trạc tuổi tôi đều ít ra một vài lần đã lẩm nhẩm mấy câu thơ trong bài thơ Mộng dưới hoa của thi sĩ Đinh Hùng và khi bài thơ này được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc lại càng thuộc lòng, không chỉ lẩm nhẩm như đọc “rap” mà là hát, hát một cách tình tứ khi yêu nhau, bên cạnh nhau và cả khi đã xa cách.
Vương Hồng Sển - những ngày “mộng dưới hoa”
Không chỉ thế, mãi đến bây giờ hơn nửa đời người tôi vẫn thường lẩm nhẩm những câu thơ này và cất tiếng hát bất chợt những câu hát này mỗi khi hoài niệm, ngập tràn cảm xúc về hình bóng của “ai đó” đã đi qua đời mình, đi một cách lặng lẽ, hay thật sự ồn ào gây ra những vết thương sâu, để nhớ mãi.
Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại
Ấu yếm nhìn tôi không nói năng...
Đời sống trải ra dưới chân đi không phải chỉ có con đường gai góc. Đời sống cùng một lúc cũng mở cho người những cánh cửa mơ mộng khác hơn. Ở đó giấc mộng đẹp đầu tiên khi người niên thiếu bao giờ cũng là một đối tượng hiện thân cho tình yêu. Người con gái ấy với đầy đủ quyền năng sẽ đưa người ta đi trên cây chổi thép, tới những bến bờ hư ảo nhất hiện tại.
Gọi tình tình yêu ấy là tình đầu đời và người yêu sẽ cùng chung một giấc mộng. Đường bay của cây chổi thép sẽ không có ga nào gọi là ga cuối cùng. Đời sống trong một giấc mộng là đời sống trôi hoài không nghỉ ngơi.
Có nghĩa, trí tưởng tượng còn là một vùng thênh thang mây trắng và cái “chưa gặp” ấy được hiểu như một định mệnh còn chờ để ban phân phát cho một người nào.
Cái tuyệt vời nhất nói theo nghĩa của hạnh phúc bao giờ cũng là cái “chưa” hơn là cái “đã có”. Chưa có nên vẫn nghĩ và những cánh cửa như thế cứ mở hoài với những đôi mắt trong tim, muôn nơi và muôn thuở.
Hồi còn niên thiếu, một cậu học sinh lớp đệ tam nhiều mơ mộng và nhiều nghi ngờ, tôi yêu thơ Đinh Hùng như chính những mơ mộng và những nghi ngờ đó.
Tôi đã thuộc vanh vách bài thơ Mộng dưới hoa, chép không biết bao nhiêu lần vào giấy vở để tặng học trò con gái, những tà áo “tiểu thư” đó làm cuống quýt mắt tôi như những sợi chỉ mộng đã rối ngây thơ trong lòng. Nhưng tôi quả thật cũng chưa hiểu được cái đẹp tuyệt vời và sâu kín nhất của bài thơ mà bắt đầu là câu:
“Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng”
Sao lại “vẫn” mà không phải “đã”? Bình thường nếu ở một người khác chứ không phải Đinh Hùng câu này chắc chắn phải dùng chữ ”đã” thay vì chữ “vẫn”. Chưa gặp em tôi (đã) nghĩ rằng, có nghĩa là chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng có nàng thiếu nữ đẹp như trăng, như hoa, hay đẹp như bất cứ hình dung từ nào khác.
Điều này còn nằm trong dự đoán, mà dự đoán có thể đúng mà cũng có thể sai. Bởi vì nàng thiếu nữ khi chưa gặp, tôi đã nghĩ đẹp như trăng nhưng khi tôi gặp rồi thì nàng thiếu nữ có thể sẽ đẹp một cách khác. Đó là điều hoàn toàn dành cho sự bất ngờ.
Ở đây, Đinh Hùng đã dùng chữ “vẫn”, tức là tôi đã xác định rõ ràng rồi dù chưa gặp, người thiếu nữ ấy cũng vẫn đẹp như trăng. Chữ “vẫn” quá tuyệt vời và điều này càng chứng tỏ rằng không phải chỉ là một thi sĩ làm thơ hay, mà còn là một thi sĩ tài hoa.
Dĩ nhiên không phải căn cứ vào một bài Mộng dưới hoa do Phạm Đình Chương phổ nhạc mà thôi. Thơ của Đinh Hùng nhiều lắm, đó là Đường vào tình sử hành trang của những người niên thiếu đi vào tình yêu lần đầu.
Sống với tình yêu thứ nhất là sống với người trong mộng, cõi mộng đầy tràn ánh trăng của độ mười sáu, mười bảy. Và Phạm Đình Chương cũng không chỉ phổ nhạc duy nhất một bài Mộng dưới hoa, những Nửa hồn thương đau, Dạ tâm khúc, Buồn đêm mưa, Người đi qua đời tôi. Đó cũng toàn là thơ phổ nhạc.
Nhưng với Mộng dưới hoa Đinh Hùng và Phạm Đình Chương như hiểu nhau hơn ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, che những nốt nhạc ấy lại, nó là một bài thơ trọn vẹn của một thi sĩ.
Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ.
Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn tôi không nói năng...
Đó là bốn câu đầu của bài thơ (và nhạc). Đó cũng là sự nghi ngờ, lạnh bạc của một giấc mộng. Em đã hiện đến, vẫn đẹp như tôi nghĩ. Tóc xanh là bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng. Không sai vào đâu được nỗi ngỡ ngàng đó của một khoảnh khắc thời gian dừng lại với hai người gặp nhau trong giấc mộng. Hò hẹn bao giờ qua những cái nhìn âu yếm ấy?
Câu hỏi hoàn toàn không được trả lời vì đó là câu hỏi của một hạnh phúc tràn đầy như những sợi máu vừa căng lên làm nóng hổi trái tim ta.
Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em dựa sát lòng anh
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối...
Yêu nhau là nương tựa vào nhau những khi đổ nát, tan vỡ. Tôi vẫn nghĩ như thế nhưng tình đầu không bao giờ là một hạnh phúc đến với ta rồi ở mãi. Thế nên tôi vẫn chưa, hay không còn dịp nào để nghe những bước chân mệt mỏi của em ghé sát vào tôi và chúng ta đưa nhau vào tận rừng xanh vớt cánh rong vàng bên suối. Khi người yêu đã xa cách nghìn trùng tôi mới bàng hoàng với bốn câu (thơ hay nhạc) đó?
“Cánh rong vàng” đã tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh. Có cặp tình nhân nào vớt được “cánh rong vàng” bên suối ấy chưa? Chưa, nó hoàn toàn là một giấc mộng.
Bước khẽ cho lòng nói nhỏ
Bao nhiêu mộng ước phù du
Ta xây thành mộng nghìn thu
Núi biếc sông dài ghi nhớ
Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề
Mây hồng giăng tám ngả sơn khê
Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng
Và mộng em cười như giấc mê.
Tôi đã đánh mất tình yêu đầu tiên từ lúc nào. Thế nên khoảng thời gian yêu nhau hãy còn bàng hoàng lắm, và cơn mộng của Đinh Hùng - Phạm Đình Chương chụp xuống thành một bản trường ca, hát hoài qua những năm tháng, ngày tháng lênh đênh. Làm gì còn được một câu “Bước khẽ cho lòng nói nhỏ” để nói với nhau?
Chính điều đó đã làm cho tôi hiểu hơn lúc nào, bao giờ tình yêu cũng chỉ là một bóng hoa ngã xuống bàn tay mộng, và mộng em cười như giấc mê.
Quả thật, sống bây giờ là sống cho những cơn mộng đã xế mất ngang đầu, hụt hẫng bể dâu và có lẽ, cũng đã tan tành để mãi mãi đau xót, hối tiếc lại khoảng ngày nào,“chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng”.
Thi sĩ Đinh Hùng nổi tiếng rất sớm trong làng văn, làng báo Hà Nội, ông là em rể của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thi sĩ Đinh Hùng nổi tiếng về thơ nhưng tác phẩm đầu tay của ông lại là tập văn xuôi Đám ma tôi được NXB Tân Việt in năm 1943 (ông sinh ngày 3-7-1920).
Trước đó Đinh Hùng đã có thơ đăng trên các báo: Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, Giai phẩm đời nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Khi bài thơ Kỳ nữ ra đời và sau đó được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng Linh đã đưa tên tuổi Đinh Hùng lên đỉnh cao và khẳng định ông là một thi sĩ tài hoa với thi ngôn và thi tứ đầy ma lực. Điều này thể hiện rõ nhất trong thi phẩm Mê hồn ca (1954).
Tháng 8-1954, khi vào Nam, Đinh Hùng cộng tác với nhật báo Tự do của ông Phạm Việt Tuyền, cùng thời với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong... Khi nhật báo Tự do đình bản, Đinh Hùng cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn, phụ trách ban thi ca Tao Đàn, một chương trình ngâm thơ nổi tiếng lúc bấy giờ và từng tạo nên những giọng đọc thơ nức tiếng như: Hồ Điệp, Quách Đàm, Tô Kiều Ngân, Hồng Vân, Hoàng Oanh...
Trong thời kỳ làm báo ở miền Nam, thi sĩ Đinh Hùng còn ký nhiều bút danh khác như Thần Đăng khi làm thơ trào phúng, Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết, đặc biệt là tiểu thuyết dã sử như Cô gái gò Ôn khâu, Đao phủ thành Đại La. Năm 1961 Đinh Hùng cho ra đời tập thơ Đường vào tình sử đoạt giải “Văn chương và thi ca” năm 1962.
Năm 1967 Đinh Hùng cho ra mắt tuần báo Tao Đàn thi nhân nhưng báo chỉ ra được 2 số thì ông mất vì bệnh ung thư gan lúc đang nằm điều trị tại Bệnh viện Bình Dân (5h sáng ngày 24-8-1967) khi chỉ mới 48 tuổi.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương (sinh năm 1929) tại Bạch Mai, Hà Nội, cũng là một nhạc sĩ tài hoa, nổi tiếng rất sớm, không chỉ là một nhạc sĩ mà ông còn là ca sĩ với tên Hoài Bắc, chủ trương thành lập ra ban hợp ca Thăng Long (1951) nổi tiếng ở Hà Nội với các thành viên đều là người trong gia đình gồm: Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), Thái Hằng (Phạm Thị Quang Thái), Thái Thanh (Phạm Thị Băng Thanh).
Vương Hồng Sển - những ngày “mộng dưới hoa”
Không chỉ thế, mãi đến bây giờ hơn nửa đời người tôi vẫn thường lẩm nhẩm những câu thơ này và cất tiếng hát bất chợt những câu hát này mỗi khi hoài niệm, ngập tràn cảm xúc về hình bóng của “ai đó” đã đi qua đời mình, đi một cách lặng lẽ, hay thật sự ồn ào gây ra những vết thương sâu, để nhớ mãi.
Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại
Ấu yếm nhìn tôi không nói năng...
Đời sống trải ra dưới chân đi không phải chỉ có con đường gai góc. Đời sống cùng một lúc cũng mở cho người những cánh cửa mơ mộng khác hơn. Ở đó giấc mộng đẹp đầu tiên khi người niên thiếu bao giờ cũng là một đối tượng hiện thân cho tình yêu. Người con gái ấy với đầy đủ quyền năng sẽ đưa người ta đi trên cây chổi thép, tới những bến bờ hư ảo nhất hiện tại.
Gọi tình tình yêu ấy là tình đầu đời và người yêu sẽ cùng chung một giấc mộng. Đường bay của cây chổi thép sẽ không có ga nào gọi là ga cuối cùng. Đời sống trong một giấc mộng là đời sống trôi hoài không nghỉ ngơi.
Có nghĩa, trí tưởng tượng còn là một vùng thênh thang mây trắng và cái “chưa gặp” ấy được hiểu như một định mệnh còn chờ để ban phân phát cho một người nào.
Cái tuyệt vời nhất nói theo nghĩa của hạnh phúc bao giờ cũng là cái “chưa” hơn là cái “đã có”. Chưa có nên vẫn nghĩ và những cánh cửa như thế cứ mở hoài với những đôi mắt trong tim, muôn nơi và muôn thuở.
Hồi còn niên thiếu, một cậu học sinh lớp đệ tam nhiều mơ mộng và nhiều nghi ngờ, tôi yêu thơ Đinh Hùng như chính những mơ mộng và những nghi ngờ đó.
Tôi đã thuộc vanh vách bài thơ Mộng dưới hoa, chép không biết bao nhiêu lần vào giấy vở để tặng học trò con gái, những tà áo “tiểu thư” đó làm cuống quýt mắt tôi như những sợi chỉ mộng đã rối ngây thơ trong lòng. Nhưng tôi quả thật cũng chưa hiểu được cái đẹp tuyệt vời và sâu kín nhất của bài thơ mà bắt đầu là câu:
“Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng”
Sao lại “vẫn” mà không phải “đã”? Bình thường nếu ở một người khác chứ không phải Đinh Hùng câu này chắc chắn phải dùng chữ ”đã” thay vì chữ “vẫn”. Chưa gặp em tôi (đã) nghĩ rằng, có nghĩa là chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng có nàng thiếu nữ đẹp như trăng, như hoa, hay đẹp như bất cứ hình dung từ nào khác.
Điều này còn nằm trong dự đoán, mà dự đoán có thể đúng mà cũng có thể sai. Bởi vì nàng thiếu nữ khi chưa gặp, tôi đã nghĩ đẹp như trăng nhưng khi tôi gặp rồi thì nàng thiếu nữ có thể sẽ đẹp một cách khác. Đó là điều hoàn toàn dành cho sự bất ngờ.
Ở đây, Đinh Hùng đã dùng chữ “vẫn”, tức là tôi đã xác định rõ ràng rồi dù chưa gặp, người thiếu nữ ấy cũng vẫn đẹp như trăng. Chữ “vẫn” quá tuyệt vời và điều này càng chứng tỏ rằng không phải chỉ là một thi sĩ làm thơ hay, mà còn là một thi sĩ tài hoa.
Dĩ nhiên không phải căn cứ vào một bài Mộng dưới hoa do Phạm Đình Chương phổ nhạc mà thôi. Thơ của Đinh Hùng nhiều lắm, đó là Đường vào tình sử hành trang của những người niên thiếu đi vào tình yêu lần đầu.
Sống với tình yêu thứ nhất là sống với người trong mộng, cõi mộng đầy tràn ánh trăng của độ mười sáu, mười bảy. Và Phạm Đình Chương cũng không chỉ phổ nhạc duy nhất một bài Mộng dưới hoa, những Nửa hồn thương đau, Dạ tâm khúc, Buồn đêm mưa, Người đi qua đời tôi. Đó cũng toàn là thơ phổ nhạc.
Nhưng với Mộng dưới hoa Đinh Hùng và Phạm Đình Chương như hiểu nhau hơn ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, che những nốt nhạc ấy lại, nó là một bài thơ trọn vẹn của một thi sĩ.
Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ.
Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn tôi không nói năng...
Đó là bốn câu đầu của bài thơ (và nhạc). Đó cũng là sự nghi ngờ, lạnh bạc của một giấc mộng. Em đã hiện đến, vẫn đẹp như tôi nghĩ. Tóc xanh là bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng. Không sai vào đâu được nỗi ngỡ ngàng đó của một khoảnh khắc thời gian dừng lại với hai người gặp nhau trong giấc mộng. Hò hẹn bao giờ qua những cái nhìn âu yếm ấy?
Câu hỏi hoàn toàn không được trả lời vì đó là câu hỏi của một hạnh phúc tràn đầy như những sợi máu vừa căng lên làm nóng hổi trái tim ta.
Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em dựa sát lòng anh
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối...
Yêu nhau là nương tựa vào nhau những khi đổ nát, tan vỡ. Tôi vẫn nghĩ như thế nhưng tình đầu không bao giờ là một hạnh phúc đến với ta rồi ở mãi. Thế nên tôi vẫn chưa, hay không còn dịp nào để nghe những bước chân mệt mỏi của em ghé sát vào tôi và chúng ta đưa nhau vào tận rừng xanh vớt cánh rong vàng bên suối. Khi người yêu đã xa cách nghìn trùng tôi mới bàng hoàng với bốn câu (thơ hay nhạc) đó?
“Cánh rong vàng” đã tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh. Có cặp tình nhân nào vớt được “cánh rong vàng” bên suối ấy chưa? Chưa, nó hoàn toàn là một giấc mộng.
Bước khẽ cho lòng nói nhỏ
Bao nhiêu mộng ước phù du
Ta xây thành mộng nghìn thu
Núi biếc sông dài ghi nhớ
Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề
Mây hồng giăng tám ngả sơn khê
Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng
Và mộng em cười như giấc mê.
Tôi đã đánh mất tình yêu đầu tiên từ lúc nào. Thế nên khoảng thời gian yêu nhau hãy còn bàng hoàng lắm, và cơn mộng của Đinh Hùng - Phạm Đình Chương chụp xuống thành một bản trường ca, hát hoài qua những năm tháng, ngày tháng lênh đênh. Làm gì còn được một câu “Bước khẽ cho lòng nói nhỏ” để nói với nhau?
Chính điều đó đã làm cho tôi hiểu hơn lúc nào, bao giờ tình yêu cũng chỉ là một bóng hoa ngã xuống bàn tay mộng, và mộng em cười như giấc mê.
Quả thật, sống bây giờ là sống cho những cơn mộng đã xế mất ngang đầu, hụt hẫng bể dâu và có lẽ, cũng đã tan tành để mãi mãi đau xót, hối tiếc lại khoảng ngày nào,“chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng”.
Thi sĩ Đinh Hùng nổi tiếng rất sớm trong làng văn, làng báo Hà Nội, ông là em rể của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thi sĩ Đinh Hùng nổi tiếng về thơ nhưng tác phẩm đầu tay của ông lại là tập văn xuôi Đám ma tôi được NXB Tân Việt in năm 1943 (ông sinh ngày 3-7-1920).
Trước đó Đinh Hùng đã có thơ đăng trên các báo: Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, Giai phẩm đời nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Khi bài thơ Kỳ nữ ra đời và sau đó được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng Linh đã đưa tên tuổi Đinh Hùng lên đỉnh cao và khẳng định ông là một thi sĩ tài hoa với thi ngôn và thi tứ đầy ma lực. Điều này thể hiện rõ nhất trong thi phẩm Mê hồn ca (1954).
Tháng 8-1954, khi vào Nam, Đinh Hùng cộng tác với nhật báo Tự do của ông Phạm Việt Tuyền, cùng thời với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong... Khi nhật báo Tự do đình bản, Đinh Hùng cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn, phụ trách ban thi ca Tao Đàn, một chương trình ngâm thơ nổi tiếng lúc bấy giờ và từng tạo nên những giọng đọc thơ nức tiếng như: Hồ Điệp, Quách Đàm, Tô Kiều Ngân, Hồng Vân, Hoàng Oanh...
Trong thời kỳ làm báo ở miền Nam, thi sĩ Đinh Hùng còn ký nhiều bút danh khác như Thần Đăng khi làm thơ trào phúng, Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết, đặc biệt là tiểu thuyết dã sử như Cô gái gò Ôn khâu, Đao phủ thành Đại La. Năm 1961 Đinh Hùng cho ra đời tập thơ Đường vào tình sử đoạt giải “Văn chương và thi ca” năm 1962.
Năm 1967 Đinh Hùng cho ra mắt tuần báo Tao Đàn thi nhân nhưng báo chỉ ra được 2 số thì ông mất vì bệnh ung thư gan lúc đang nằm điều trị tại Bệnh viện Bình Dân (5h sáng ngày 24-8-1967) khi chỉ mới 48 tuổi.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương (sinh năm 1929) tại Bạch Mai, Hà Nội, cũng là một nhạc sĩ tài hoa, nổi tiếng rất sớm, không chỉ là một nhạc sĩ mà ông còn là ca sĩ với tên Hoài Bắc, chủ trương thành lập ra ban hợp ca Thăng Long (1951) nổi tiếng ở Hà Nội với các thành viên đều là người trong gia đình gồm: Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), Thái Hằng (Phạm Thị Quang Thái), Thái Thanh (Phạm Thị Băng Thanh).
Trước đó, những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng với các anh em trong gia đình như vừa nêu đã gia nhập Ban Văn nghệ quân đội ở Liên khu IV và đi ca hát phục vụ chiến trường.
Thời kỳ này Phạm Đình Chương đã sáng tác những bản nhạc có giai điệu hùng tráng, tươi trẻ đầy hào khí như: Ra đi khi trời vừa sáng, Thanh niên tiến lên, Bài ca tuổi trẻ, Mười thương, Sáng rừng, Hò leo núi, Hội trùng dương...
Năm 1953 nhạc sĩ Phạm Đình Chương kết hôn với ca sĩ Khánh Ngọc rồi cùng gia đình vào Nam năm 1954. Sau khi vào Nam, gia đình nhạc sĩ Phạm Đình Chương đều tiếp tục làm nghệ thuật, Ban hợp ca Thăng Long biểu diễn ở các phòng trà, vũ trường.
Nhạc của Phạm Đình Chương cũng chuyển hướng sang phong cách trữ tình, lãng mạn, sâu lắng và đầy tâm trạng như: Xuân tha hương, Buồn đêm mưa, Màu kỷ niệm, Xóm đêm, Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội... Và một ca khúc không thể không nhắc đến mỗi dịp xuân về của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là Ly rượu mừng.
Khi cuộc hôn nhân với ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã có những ca khúc đau xót, da diết như: Nửa hồn thương đau (phổ thơ Thanh Tâm Tuyền), Người đi qua đời tôi (phổ thơ Trần Dạ Từ)...
Riêng với việc phổ thơ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương được đánh giá là một trong số rất ít nhạc sĩ phổ thơ tài hoa đã chuyển hóa thơ thành đôi cánh bay cao, giúp thơ hay hơn, nhiều màu sắc hơn, nâng hồn vía thơ bay bổng hơn để được nhiều người nhớ và thuộc hơn qua nhạc. Tài hoa phổ thơ của Phạm Đình Chương xếp ngang hàng với nhạc sĩ Phạm Duy.
Quả vậy, một số bài thơ khác của các nhà thơ được ông phổ nhạc đã khẳng định điều này như: Lệ đá xanh (phổ thơ Thanh Tâm Tuyền), Đôi mắt người Sơn Tây (phổ thơ Quang Dũng), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (phổ thơ Du Tử Lê)... Và bài Mộng dưới hoa(phổ thơ Đinh Hùng) là một ví dụ.
Sau năm 1975 nhạc sĩ Phạm Đình Chương định cư tại Mỹ, ông mất ngày 22-8-1991.
Từ Kế Tường
Thời kỳ này Phạm Đình Chương đã sáng tác những bản nhạc có giai điệu hùng tráng, tươi trẻ đầy hào khí như: Ra đi khi trời vừa sáng, Thanh niên tiến lên, Bài ca tuổi trẻ, Mười thương, Sáng rừng, Hò leo núi, Hội trùng dương...
Năm 1953 nhạc sĩ Phạm Đình Chương kết hôn với ca sĩ Khánh Ngọc rồi cùng gia đình vào Nam năm 1954. Sau khi vào Nam, gia đình nhạc sĩ Phạm Đình Chương đều tiếp tục làm nghệ thuật, Ban hợp ca Thăng Long biểu diễn ở các phòng trà, vũ trường.
Nhạc của Phạm Đình Chương cũng chuyển hướng sang phong cách trữ tình, lãng mạn, sâu lắng và đầy tâm trạng như: Xuân tha hương, Buồn đêm mưa, Màu kỷ niệm, Xóm đêm, Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội... Và một ca khúc không thể không nhắc đến mỗi dịp xuân về của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là Ly rượu mừng.
Khi cuộc hôn nhân với ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã có những ca khúc đau xót, da diết như: Nửa hồn thương đau (phổ thơ Thanh Tâm Tuyền), Người đi qua đời tôi (phổ thơ Trần Dạ Từ)...
Riêng với việc phổ thơ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương được đánh giá là một trong số rất ít nhạc sĩ phổ thơ tài hoa đã chuyển hóa thơ thành đôi cánh bay cao, giúp thơ hay hơn, nhiều màu sắc hơn, nâng hồn vía thơ bay bổng hơn để được nhiều người nhớ và thuộc hơn qua nhạc. Tài hoa phổ thơ của Phạm Đình Chương xếp ngang hàng với nhạc sĩ Phạm Duy.
Quả vậy, một số bài thơ khác của các nhà thơ được ông phổ nhạc đã khẳng định điều này như: Lệ đá xanh (phổ thơ Thanh Tâm Tuyền), Đôi mắt người Sơn Tây (phổ thơ Quang Dũng), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (phổ thơ Du Tử Lê)... Và bài Mộng dưới hoa(phổ thơ Đinh Hùng) là một ví dụ.
Sau năm 1975 nhạc sĩ Phạm Đình Chương định cư tại Mỹ, ông mất ngày 22-8-1991.
Từ Kế Tường
Nhạc sĩ Vũ Thành viết về tác giả ca khúc Mộng dưới hoa:
Tác phẩm thành công nhất của Phạm Đình Chương, theo tôi, là Mộng dưới hoa, thơ Đinh Hùng phổ nhạc. Nét đặc thù của tác phẩm này là hơi nhạc tuy rất Việt Nam, mà lại được viết theo âm giai tây phương, chứ không cần đến ngũ cung như hầu hết các sáng tác có âm hưởng thuần túy Việt Nam khác. Ngoài ra, Mộng dưới hoa còn đặc biệt ở điểm rất cân đối và được cấu tạo như cung cách một bản nhạc “mẫu” trong các sách giáo khoa về sáng tác.
Câu nhạc đầu gồm 16 trường canh (mesures), chia làm hai bán cú. Bán cú thứ nhất được kết bằng một bán kết (cadence à la dominante) ở trường canh thứ tám (“… nhìn em không nói năng”…), nghĩa là gồm tám trường canh, được coi như một [dấu] chấm phẩỵ Bán cú thứ hai gồm tám trường canh được chấm dứt bằng một toàn kết (cadence parfaite), coi như một dấu chấm câu.
Câu đầu như vậy là khai đề, câu giữa gồm tám trường canh với [lối] chuyển cung rất khéo léo làm thành những dị kết (cadences rompues) là một phá đề. Và câu kết lấy lại ý nhạc của khai đề để đi đến chung cục (cadence finale) coi như một chấm hết. Đó đúng là hình thức đúng đắn nhất của một sáng tác nhạc và luôn luôn được đem ra làm mẫu mực trong các sách giáo khoa về sáng tác (composition musicale
Ngoài ra, Mộng dưới hoa còn đáng được coi là một kỳ công vì phổ nhạc vào thơ Việt Nam là một việc cực khó. Người phổ nhạc chẳng những phải lệ thuộc vào số chữ mà còn phải lựa cung bậc cho đúng luật bằng trắc của bài thơ, không như trường hợp phổ nhạc thơ Pháp hay thơ Anh, chỉ cần theo đúng số chữ mà thôi. Vì vậy, thường thường các bài thơ Việt Nam được phổ nhạc đều viết theo thể tự do, không gò bó, thì mới theo sát được [âm] bằng trắc của từng chữ.
Làm theo thể mẫu hết sức cân đối mà vẫn giữ đúng được bằng trắc của từng chữ, ta phải ngả nón trước Phạm Đình Chương.
Trích Hoàng Cương lưu bút
“Chỉ trong vòng mấy năm tuổi thanh niên đa cảm của Đinh Hùng đã phải trải qua nhiều tháng năm buồn vì những mất mát còn nhiều uẩn khúc của người thân trong gia đình. Đến khi mối tình ông mê đắm nhất cũng ra đi vội vàng ở tuổi đôi mươi vì trọng bệnh thì bao nhiêu ước nguyện sâu kín nhất trong tim ông tưởng chừng ăn năn vì không kịp giải bày đã tuôn trào thành thơ… bất tận, ảo mộng, cuồng dại, mê say như ông từng mê say Beaudelaire, Edgar Allan Poe, Rimbaud làm nên thơ Đinh Hùng như người đời biết đến rồi tiếc thương khi ông vừa 47 vào năm 1967.
Khi sáng tác Phạm Đình Chương đặt tên Mộng Dưới Hoa cho nhạc phẩm. Lời một của bài hát được lấy ra từ hai bài thơ “Tự Tình Dưới Hoa” và “Suôi Dòng Mộng Ảo” trong Thi Tập “Đường Vào Tình Sử” của Đinh Hùng. Còn lời hai cũng mượt mà, mộng mơ, lãng mạn, nghe ra còn hay hơn lời một thì đã không mượn từ bất cứ Thi Tập nào của Đinh Hùng. Vậy ai là tác giả của lời hai này? Chính lòng cảm phục tài năng Phạm Đình Chương đã giúp mình nói với tình yêu bằng những giai điệu quá hay mà Đinh Hùng sau khi nghe đã cảm tác nên lời hai cho tình khúc này. Chẳng khác nào kẻ lãng du thất tình mất lối, đi trước về sau.
Hạnh ngộ ấy giữa Thi và Nhạc đã dành cho Mộng Dưới Hoa một vị trí vừa thân tình vừa trân trọng trong lòng giới thưởng thức. Cho đến hôm nay chắc không ai biết mà không muốn hát nó khi có dịp”.
Tác phẩm thành công nhất của Phạm Đình Chương, theo tôi, là Mộng dưới hoa, thơ Đinh Hùng phổ nhạc. Nét đặc thù của tác phẩm này là hơi nhạc tuy rất Việt Nam, mà lại được viết theo âm giai tây phương, chứ không cần đến ngũ cung như hầu hết các sáng tác có âm hưởng thuần túy Việt Nam khác. Ngoài ra, Mộng dưới hoa còn đặc biệt ở điểm rất cân đối và được cấu tạo như cung cách một bản nhạc “mẫu” trong các sách giáo khoa về sáng tác.
Câu nhạc đầu gồm 16 trường canh (mesures), chia làm hai bán cú. Bán cú thứ nhất được kết bằng một bán kết (cadence à la dominante) ở trường canh thứ tám (“… nhìn em không nói năng”…), nghĩa là gồm tám trường canh, được coi như một [dấu] chấm phẩỵ Bán cú thứ hai gồm tám trường canh được chấm dứt bằng một toàn kết (cadence parfaite), coi như một dấu chấm câu.
Câu đầu như vậy là khai đề, câu giữa gồm tám trường canh với [lối] chuyển cung rất khéo léo làm thành những dị kết (cadences rompues) là một phá đề. Và câu kết lấy lại ý nhạc của khai đề để đi đến chung cục (cadence finale) coi như một chấm hết. Đó đúng là hình thức đúng đắn nhất của một sáng tác nhạc và luôn luôn được đem ra làm mẫu mực trong các sách giáo khoa về sáng tác (composition musicale
Ngoài ra, Mộng dưới hoa còn đáng được coi là một kỳ công vì phổ nhạc vào thơ Việt Nam là một việc cực khó. Người phổ nhạc chẳng những phải lệ thuộc vào số chữ mà còn phải lựa cung bậc cho đúng luật bằng trắc của bài thơ, không như trường hợp phổ nhạc thơ Pháp hay thơ Anh, chỉ cần theo đúng số chữ mà thôi. Vì vậy, thường thường các bài thơ Việt Nam được phổ nhạc đều viết theo thể tự do, không gò bó, thì mới theo sát được [âm] bằng trắc của từng chữ.
Làm theo thể mẫu hết sức cân đối mà vẫn giữ đúng được bằng trắc của từng chữ, ta phải ngả nón trước Phạm Đình Chương.
Trích Hoàng Cương lưu bút
“Chỉ trong vòng mấy năm tuổi thanh niên đa cảm của Đinh Hùng đã phải trải qua nhiều tháng năm buồn vì những mất mát còn nhiều uẩn khúc của người thân trong gia đình. Đến khi mối tình ông mê đắm nhất cũng ra đi vội vàng ở tuổi đôi mươi vì trọng bệnh thì bao nhiêu ước nguyện sâu kín nhất trong tim ông tưởng chừng ăn năn vì không kịp giải bày đã tuôn trào thành thơ… bất tận, ảo mộng, cuồng dại, mê say như ông từng mê say Beaudelaire, Edgar Allan Poe, Rimbaud làm nên thơ Đinh Hùng như người đời biết đến rồi tiếc thương khi ông vừa 47 vào năm 1967.
Khi sáng tác Phạm Đình Chương đặt tên Mộng Dưới Hoa cho nhạc phẩm. Lời một của bài hát được lấy ra từ hai bài thơ “Tự Tình Dưới Hoa” và “Suôi Dòng Mộng Ảo” trong Thi Tập “Đường Vào Tình Sử” của Đinh Hùng. Còn lời hai cũng mượt mà, mộng mơ, lãng mạn, nghe ra còn hay hơn lời một thì đã không mượn từ bất cứ Thi Tập nào của Đinh Hùng. Vậy ai là tác giả của lời hai này? Chính lòng cảm phục tài năng Phạm Đình Chương đã giúp mình nói với tình yêu bằng những giai điệu quá hay mà Đinh Hùng sau khi nghe đã cảm tác nên lời hai cho tình khúc này. Chẳng khác nào kẻ lãng du thất tình mất lối, đi trước về sau.
Hạnh ngộ ấy giữa Thi và Nhạc đã dành cho Mộng Dưới Hoa một vị trí vừa thân tình vừa trân trọng trong lòng giới thưởng thức. Cho đến hôm nay chắc không ai biết mà không muốn hát nó khi có dịp”.
Từ Kế Tường









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét