Thứ Hai, 5 tháng 8, 2019

Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán

Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán
HOA ĐÀO NĂM NGOÁI
Chúng ta hãy đi trở lại mười lăm năm trước:
Nỗi nàng tai nạn đã đầy,
Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.
Từ ngày muôn dặm phù tang,
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.

Mười lăm năm là một đường hầm dài rất tối. Chúng ta đã từng thử làm người bạn đồng hành của Thúy Kiều, đi ngang qua con đường hầm tối mười năm đó. Kiều đã tìm thấy ánh sáng. Bây giờ anh chàng mới bắt đầu. Tội nghiệp!
Kim Trọng đi hộ tang cho ông chú ở Liêu Dương, sáu tháng trở về:
Vội sang vườn Thúy dò la,
Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa.
Đầy vườn cỏ mọc lau thưa,
Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rờ.
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

Cứ tưởng tượng về thì cảnh sẽ như xưa mà người cũng như xưa. Nhưng mọi sự đã hoàn toàn đổi khác. 
Trong tâm mình chứa chất một hình ảnh. Mình nghĩ rằng hình ảnh đó sẽ mãi còn như vậy. Nhưng sự thật của cuộc đời là vô thường. Chỉ cần mấy ngày thôi mà tình trạng đã hoàn toàn đảo ngược.
Sau tai nạn, gia đình Thúy Kiều phải bán nhà. Từ một gia đình giàu có, họ phải đi may thê, viết mướn, làm công cho người ta và cư trú trong một túp nhà rất lụp xụp. Kim Trọng trở về thấy ngôi nhà cũ hoàn toàn cô liêu. ‘Đầy vườn cỏ mọc lau thưa, Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời.’ Hình ảnh trong lòng chàng trai đem so với hình ảnh hiện tại thì hoàn toàn khác nhau. Sự ngạc nhiên của Kim Trọng bắt đầu từ sự so sánh hai hình ảnh đó.
Trước sau nào thấy bóng người’ nhưng: ‘Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.’ Cây hoa đào năm ngoái chỗ hai người trao cành kim thoa vẫn nở hoa rực rỡ, cười với gió mùa xuân (gió đông). Câu này lấy tứ từ bài thơ của thi sĩ Thôi Hộ đời Đường:
Tích niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiểu đông phong.

(Năm xưa, cũng ngày này, tại cổng nhà này, (nàng đứng dưới cây hoa đào) gương mặt phản chiếu màu hồng của hoa đào, người ấy không biết bây giờ đã đi đâu rồi, trong khi hoa đào vẫn cười với gió mùa xuân y hệt như năm ngoái). 
Cây hoa đào năm ngoái đã che chở cho Thúy Kiều. Bây giờ không còn Thúy Kiều nữa nhưng đến mùa, hoa đào vẫn nở, vẫn đẹp, vẫn tự do, hạnh phúc. Con người không có hạnh phúc và tự do vì con người có sự mê đắm. ‘Đào hoa y cựu tiếu đông phong’: hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Chỉ có chàng Kim là méo miệng, không cười được. Nhiều khi người ta ước ao làm một cây đào hay một cây thông cho khỏe. Trong con người mình có những tình tự tham đắm, khổ đau, lo lắng và mình thấy hạnh phúc của mình không bằng hạnh phúc của một cây đào hay một cây thông. Nguyễn Công Trứ ngày xưa cũng đã có tâm tình đó cho nên một hôm thi sĩ nói: ‘Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.’ 
Khi có những hồi hộp, khổ đau, lo lắng thì nhìn một cây thông ta cũng thấy nó hạnh phúc, vững mạnh hơn ta quá nhiều.
Thiền ôm cây (tree hugging meditation) rất lợi ích. Mỗi khi ở trong tình trạng như vậy ta có thể tới ôm cây để tiếp nhận được sự vững chãi và tươi mát của cây. 
Trúc Lâm Đại Sĩ, tức vua Trần Nhân Tông khi đã đi tu, một lần trả lời câu hỏi của một thiền sinh về chuyện tu học, đã nói:
Vườn nhà vắng mặt người chăm sóc
Lý trắng đào hồng tự nở hoa.

Khỏi phải lao tác mệt nhọc, khỏi phải tranh đấu. Trong con người mình có sẵn giác tánh, cho giác tánh đó có cơ hội thì tự nhiên nó sẽ nở hoa. ‘Vườn nhà vắng mặt người chăm sóc, Lý trắng đào hồng tự nở hoa.’ Ở đây ta thấy hình ảnh một cây đào. Ngày xưa bên Tàu có một thiền sư tên Linh Vân đi chơi tháy hoa đào nở thì giác ngộ. Khỏi tu gì hết! Nhưng chắc chắn trước đó ông cũng đã đi thiền hành, đã tập hơi thở rồi cho nên đến lúc thấy hoa đào ông mới giác ngộ chứ! Có biết bao nhiêu người thấy hoa đào nhưng có giác ngộ gì đâu! Nhất là anh chàng Kim Trọng. Thấy hoa đào, càng thấy càng rầu, không giác gì cả!
Trước mặt chúng ta là hai hình ảnh trái ngược. Một là hình ảnh cây đào rất giải thoát. Có nàng Kiều hay không có nàng Kiều đứng một bên thì cây cũng tỉnh bơ, vân cười với gió mùa xuân. Một anh chàng khác, không tên ‘đào’ mà tên Kim, không thể tiếp xúc được với hoa đào; bởi vì thiếu một người thì cây hoa đào không có nghĩa gì nữa.
Trên đời không còn gì có nghĩa nữa nếu nàng (hay chàng) không có mặt. Un seul être vous manque et tout est dépeuplé.’: chỉ thiếu một người thôi là cả thế gian này trở nên trống rỗng, lạnh tanh. Đó là một câu thơ của Lamartine.
Do tâm mình ra hết. Khi mình đã vướng vào một cái và cho đó là thế giới của mình rồi thì mình bỏ hết tất cả những gì còn lại trong thế giới kia. Nếu nàng không có mặt đó thì không có cái gì có mặt đó hết. Gió càng không mát, trăng cũng không trong, đào cũng không hồng, không có cái gì ra cái gì hết. đó là một sự bất công rất lớn. Có phải vậy không?

Tại sao vũ trụ, thiên nhiên, sự sống mầu nhiệm như vậy mà mình cho là zero hết khi mình chỉ thiếu có một cái thôi? Mà cái đó chưa chắc mình đã thật sự thiếu. Có thể nó có đó mà mình không thấy.
Những người đã từng đau khổ vì mất mát một người thân (cha, mẹ, con, cháu, người yêu, hay thầy, trò của mình) có thể hiểu được tâm trạng của Kim Trọng lúc này. Trong những lúc thiếu thốn như vậy, tốt hơn là trở về với thiên nhiên.
Tiếp xúc với thiên nhiên ta sẽ được an ủi rất nhiều và sẽ có thể thấy trở lại, tiếp xúc trở lại với người ta đã mất. Có một lần tôi đi thiền hành ở Xóm Thượng với một người cha trẻ mất con. Tôi chỉ cho người đó tiếp xúc với những bông hoa, đọt lá, giúp người cha đó tìm lại và tiếp xúc với đứa con vừa mới mất. Nếu mình mất cha, mẹ, người yêu hay con cái mình cũng phải làm như vậy. Phải trở về với thiên nhiên. Thiên nhiên có thể an ủi được mình, chỉ cho mình cách tiếp xúc lại được với người mình thương. 
Cũng thi sĩ Lamartine nói: Mais la nature elle là qui t’invite qui t’aime. Plonge-toi dans son sein qu’elle t’ouvre toujours. Et tandis que tout change pour toi, la nature est la même. Et la même soleil se lève sur tes jours.
[b
] (Nhưng này bạn, dù bạn có khổ đau thì thiên nhiên vẫn còn đó. Thiên nhiên vẫn yêu bạn. Bạn nên lặn hụp vào trong lòng của thiên nhiên vì thiên nhiên đang mở hai cánh tay để đón bạn. Trong khi đối với bạn tất cả đều thay đổi, thì thiên nhiên vãn là thiên nhiên cũ. Không phản bội bạn, sẵn sàng mở hai cánh tay đón nhận bạn.[/b] Mặt trời hôm nay, mọc lên, chiếu xuống cuộc đời bạn vẫn là mặt trời cũ. Bạn đừng quên). Đó là lời khuyên của thi sĩ. Bạn đừng nói rằng ‘Un seul être vous manque et tout est dépeuplé’: Chỉ thiếu một người là không còn gì nữa hết! Nói như vậy là bất công. Trở về, tiếp xúc với thiên nhiên là con đường thoát cho những người đột nhiên mất một người thân. Cây đào đang nở hoa là một sứ giả của Bụt, của chân như mầu nhiệm. Cây đào nói: ‘Bạn ơi, đừng đau khổ nữa! Có tôi đây!’ Nhưng Kim Trọng đâu đã nghe được, đâu đã tiếp xúc được. Sự đam mê đã lớn quá rồi, trong lòng chỉ còn có một hình ảnh. Không có cái phản chiếu hình ảnh đó thì coi như cuộc đời không còn gì nữa cả. “Nếu đời không có em thì đời không có giá trị gì hết!’ Đó là lời tuyên bố của những người đang kẹt vào sự đam mê. 
Xập xèo én liệng lầu không.
Có lan mặt đất rêu phong dấu giày.
Cuối tường gai góc mọc đầy,
Đi về này những lối này năm xưa. 

Tất cả những hình ảnh của quá khứ hiện ra. Khi đã bị hình ảnh của quá khứ trấn ngự trong tâm rồi, đem ra so với hình ảnh hiện tại thì thấy bây giờ mình đã mất hết. Trong khi đó thế giới vẫn còn là thế giới. Người ta tự tử là vì tưởng rằng mình đã mất hết rồi. Kỳ thực người ta không mất gì cả. ‘Chúng ta đã được gì hôm qua và sẽ mất gì sáng nay’ là một câu thơ tôi viết trong bài Hoa Mặt Trời.
TÌNH KIA HIẾU NỌ
Kiệu hoa giục giã tức thì,
Vương ông dạy rước nàng về một nơi. 

Mười lăm năm bây giờ mới gặp lại con gái, đâu có thể để cho con gái ở lại đây được! Thế nào cũng phải đưa nó về. Đó là cái thường tình. Sư chị đã biết trước chuyện đó. Nhưng sư em không muốn về. Sư em rất thương sư chị và muốn tu chứ không muốn trở về cuộc đời bụi bặm ở ngoài nữa. Đây là lời của sư em:
Nàng rằng: ‘Chút phận hoa rơi,
‘Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay.
‘Tính rằng mặt nước chân mây,
‘Lòng nào còn tưởng có rày nữa không?
‘Được rày tái thế tương phùng,
‘Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay.
‘Đã đem mình bỏ am mây,
‘Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừa. 

- ‘Niềm ao ước sâu sắc cảu con bây giờ đã đạt được. Được gặp lại cha mẹ và các em là con thỏa nguyện lắm rồi! Con đã lớn tuổi rồi, và rất hâm mộ việc tu hành. Đứng về phương diện thể chất cũng như tâm hồn con đã chín muồi để có thể sống an lạc, hạnh phúc với đời sống xuất gia.’
‘Mùi thiền đã bén muối dưa,
‘Màu thiền ăn mặc đã sưa nâu sồng. 

- ‘Con đã có hạnh phúc trong cuộc sống này rồi, con không muốn trở về cuộc sống thế gian nữa.’
Sự đời đã tắt lửa lòng,
‘Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi! 

- ‘Những phiền não, dục vọng, tham, sân, si, danh lợi… không còn trong lòng con nữa thì con trở về chốn bụi bặm làm chi?’ Lửa lòng ở đây là phiền não (afflicion). Không có lửa dục, lửa tham, lửa sân nữa thì gọi là tắt lửa lòng. Nhưng đã có một thứ lửa khác nhem nhúm, đó là lửa tam muội, lửa từ bi. Đây là một sức sống mới. ‘Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi?’ Sự thực là như vậy. Nếu muốn lấy chồng thì có người chồng nào xứng đáng bằng Từ Hải không? Nếu muốn danh vọng thì có thứ danh vọng nào lớn hơn danh vọng của một vị đại phu nhân không? Thúy Kiều đã nếm hết tất cả những cái đó rồi và đã thấy những cái đó không đang để cho mình phải bận tâm. Vậy thì còn gì trong cuộc đời Kiều mong muốn nữa? Đây là những câu nói rất thật.
‘Dở dang nào có hay gì,
‘Đã tu tu trót qua thì thì thôi!
 

Chúng ta nên biết rằng thời gian truyện Phong Tình Lục được viết chưa có đạo Phật hiện đại hóa, chưa có đạo Phật đi vào cuộc đời. Người ta vẫn nghĩ rằng giữa hai nếp sống xuất gia và tại gia không có gạch nối liên hệ. Đi tu là hoàn toàn khác, không dính líu gì với cuộc đời. Chúng ta bây giờ có cái nhìn khác. Vì cuộc đời cần nên chúng ta mới đi tu. Nếu tu đàng hoàng và thành công thì chúng ta có thể giúp được đời, trước hết là giúp gia đình chúng ta.

‘Trùng sinh ân nặng bể trời,
‘Lòng nào nở dứt nghĩa người ra đi?’ 

Lý do thứ nhất là: Con muốn tu, con đã có hạnh phúc trong đời sống tu học.
Lý do thứ hai là: ‘Con thương sư chị con. Cha mẹ đã sinh con lần thứ nhất. Sư chị đã sinh ra đời sống tâm linh và giải thoát của con. Cái nghĩa đó con muốn báo đền. con muốn ở với sư chị.’
Rất dễ thương. Giải thoát cũng có mà tình nghĩa cũng có. Đủ hết. Tóm lại, những lý luận của Thúy Kiều không phải chỉ là lý luận. Nó là sự thật trong lòng Kiều.
Người cha lúc đó mới dùng lý luận ngoài đời để phản công lại:
‘Con còn có bổn phận với gia đình, và với người yêu. Con đã hứa với người ta bây giờ con đâu có thể làm ngơ dễ dàng như vậy được!’ Những người trong gia đình thuộc về phe đa số. Phải cứng cáp lắm và phải có tăng thân họa may mình mới địch lại nổi!
Ông rằng: ‘Bỉ thứ nhất thì,
‘Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền. 

Thử là cái này, bỉ là cái kia. Nhất thì là có khi. Cái này có liên hệ tới cái kia. Khi thì phải thế này, khi thì phải thế kia. ‘Tu hành thì tu chứ ai cấm? Nhưng mình phải biết linh động (tòng quyền)!’ Chữ quyền đi với chữ kinh (kinh quyền.) Kinh là con đường thẳng, có những nguyên tắc, cứ theo đúng như vậy mà làm là được. Quyền là linh động trong những trường hợp đặc biệt.
‘Phải điều cầu Phật cầu Tiên,
‘Tình kia hiếu nọ ai đền cho đây?
‘Độ sinh nhờ đức cao dày,
‘Lập am rồi sẽ rước thầy ở chung.’ 

- ‘Tu để thành Phật thành Tiên, chuyện đó tốt lắm! Cha cũng đồng ý. Nhưng vấn đề hiếu và tình là bổn phận của con người, con cũng phải giải quyết những vấn đề ấy chứ! Đối với gia đình con phải có bổn phận. Đối với người mà con đã thề nguyện con phải giải quyết. Cha đâu có cấm con tu nhưng mà con phải làm xong những chuyện đó rồi thì con mới tu được.
Nếu con nghĩ rằng con có ân nghĩa vói sư chị thì sau này mình sẽ làm một ngôi chùa cho đàng hoàng rồi mời sư chị tới tu chung có phải vui hơn không?’ 
Không biết ông có nghĩ thiệt như vậy không hay chỉ cố để an ủi để Kiều chấp nhận về nhà. Chúng ta nên biết ở Trung Hoa và Việt Nam quan niệm Hiếu và Tình rất quan trọng. Rất nhiều nhà Nho công kích đạo Phật là những người xuất gia không biết tình, không biết hiếu, bỏ bê bổn phận đối với gia đình, xã hội, quốc gia. Bên đạo Phật người ta phải tìm cách trả lời: Chúng tôi đi tu không phải là không đáp ứng những bổn phận đó. Ở đây cùng một vấn đề, khi được đặt trước một hoàn cảnh như vậy chúng ta không thể nào giải quyết được.
Nói: ‘Thôi, ba má và hai em đi về đi! Con nhất định ở đây thôi! Thì không được. Đứng vào trường hợp này chúng ta thấy cũng khó lắm. Có lẽ trong Kiều có một ý định về thì về, giải quyết xong thì trở lại cuộc sống tu hành. Lúc bấy giờ Kiều không có ai hết, rất đơn côi. 
Sư chị thì không nói; sư chị tuy thương lắm nhưng chỉ đứng đó thôi. Sư chị là người có thương yêu, có hiểu biết. Sư chị không có ý niệm muốn tranh đoạt để giữ Kiều riêng cho mình.
Trạc Tuyền biết rất rõ sư chị đang đứng đó và đã chứng kiến tất cả những gì đang xảy ra. Tôi chắc lúc nãy Trạc Tuyền đã ngước đầu lên nhìn sư chị để cầu cứu, hay ít nhất là để hỏi. Tôi thấy rất rõ sư chị đang gật đầu nói: ‘Em đi đi. Em phải về. Chị có đức tin ở em.’ Vì vậy Trạc Tuyền đã đồng ý đi về với gia đình để lo giải quyết vấn đề. Bên kia, sau mười lăm năm mới tìm được Thúy Kiều, không có lý gì được thăm hỏi chút xíu rồi phải về. Phải kéo Kiều về chứ!
Nghe lời nàng phải chiều lòng,
Giã sư giã cảnh đều cùng bước ra. 

Tôi nghĩ cùng đi tới am, ngoài gia đình của Thúy Kiều còn có một vài gia nhân hầu hạ của hai ông quan mới Kim Trọng và Vương Quan. Thế nào những người này cũng đã được phái đi đem võng lọng tới rước. Bây giờ, có phương tiện chuyển vận, họ đi đường đàng hoàng chứ không phải đi tắt trong rừng lau nữa.
TRỜI CÒN ĐỂ CÓ HÔM NAY
Một nhà về đến quan nha,
Đoàn viên vội mở tiệc hoa vui vầy.
Tàng tàng chén cúc dở say,
Đứng lên Vân mới giãi bày một hai:
Rằng: ‘Trong tác hợp cơ trời,
‘Hai bên gặp gỡ một lời kết giao.
‘Gặp cơn binh địa ba đào, 218
‘Vậy đem duyên chị cột vào duyên em.
‘Cũng là phận cải duyên kim, 219
‘Cũng là máu chảy ruột mềm 220 chứ sao?
‘Những là rày ước mai ao,
‘Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình!
‘Bây giờ gương vỡ lại lành, 221
Khuông thiêng lừa lọc đã dành có nơi. 222
‘Còn duyên may mới còn người,
‘Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa.
Quả mai ba bảy đương vừa, 223
‘Đào non sớm vội xe tơ kịp thì!’ 

Cô này cũng văn chương dữ! Trong việc đoàn viên, Thúy Vân đứng lên đề nghị làm đám cưới cho hai người. Chuyện này không phải do ông bố, bà mẹ, Vương Quan hay Kim Trọng khơi ra. Chính Thúy Vân đứng dậy khơi ra. Bởi vì Thúy Vân đứng ở địa vị thuận lợi hơn những người khác để làm việc này. Thúy Vân đang là ‘chủ nhân’ của Kim Trọng và đây là một xã hội đa thê.

Thúy Kiều nghe xong thì nói: ‘Thôi đi cô!’
Dứt lời nàng vội gạt đi:
‘Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ?
‘Một lời tuy có ước xưa,
‘Xét mình dãi gió dầu mưa đã nhiều.
‘Nói càng hổ thẹn trăm chiều,
‘Thà cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi!’ 

Anh chàng lúc đó mới tấn công, can thiệp vào:
Chàng rằng: ‘Nói cũng lạ đời,
‘Dẫu lòng kia vậy còn lời ấy sao?
‘Một lời trót đã thâm giao,
‘Dưới dày có đất trên cao có trời.
‘Dẫu rằng vật đổi sao dời,
‘Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh!
‘Duyên kia có phụ chi tình,
‘Mà toan chia gánh chung tình làm hai?’ 

- ‘Mỗi lời mình nói ra đều có sự chứng kiến của trời cao đất dày. Lời hứa của mình là lời hứa sống chết. Dù sự vật có thay đổi, dù sao trên trời có dời đi chỗ khác mình vẫn giữ lấy lời của mình như thường. Anh đã làm lỗi gì để bây giờ em lại nói như vậy?’
Đây là lý luận của Kiều:
Nàng rằng: ‘Gia thất duyên hài,
‘Chút lòng ân ái ai ai cũng lòng. 

Không ai là không nghĩ tới và mơ ước chuyện lứa đôi. Nhưng: 
‘Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng,
‘Hoa thơm phong nhị trăng vòng tròn gương.
‘Chữ trinh đáng giá ngàn vàng.
‘Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa.
‘Thiếp từ ngộ biến đến giờ,
‘Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa.
‘Bấy chầy gió táp mưa sa,
‘Mấy trăng đã khuyết mấy hoa cũng tàn.
‘Còn chi là cái hồng nhan,
‘Đã xong thân thế cò toan nỗi nào? 

- ‘Trong đạo vợ chồng, sự trong sáng, nguyên vẹn của người vợ rất là quan trọng. Nếu không có trinh tiết thì làm sao mà không khỏi thẹn thùng? Những đau khổ em đã đi qua dày xéo tất cả. Trong hoàn cảnh của em, không có bông hoa nào mà không tàn, không có mặt trăng nào mà không khuyết.’
‘Nghĩ mình chẳng hổ mình sao,
‘Dám đem trần cấu dự vào bố kinh! 224
‘Đã hay chàng nặng vì tình,
‘Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru!

- ‘Cố nhiên là chàng nặng chữ tình trong lòng. Nhưng nhìn vào hoa đèn em phải thấy thẹn chứ! Đây không còn là trường hợp ngày xưa nữa bởi vì em đã đi ngang qua biết bao nhiêu sóng gió và bão táp rồi!’
‘Từ rày khép cửa phòng thu,
‘Chẳng tu thì cũng như tu mới là!
‘Chàng dù nghĩ đến tình xa,
‘Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ. 225
‘Nói ra chi kết tóc xe tơ,
‘Đã buồn cả ruột mà dơ cả đời!’ 

Kiều vẫn còn tiếc muốn tiếp tục tu. Tốt nhất là được tu với sư chị, nếu bắt buộc phải ở lại trả hiếu cho cha mẹ thì vẫn phải tu ở nhà giống như người xuất gia vậy. Trong lòng Kiều đã có quyết định rồi, bởi vì Kiều không còn những phiền não và ước muốn chen chân vào chốn bụi hồng nữa. Kiều khuyên Kim Trọng đem tình yêu đổi ra tình bạn. Điều này có nghĩa là Thúy Kiều đã lớn, đã khai mở. Thúy Kiều không còn biết thứ tình gọi là tình đam mê nữa. Thứ tình đam mê mười lăm năm trước bây giờ đối với Thúy Kiều đã lạnh như tro tàn. Kiều đã học đường tình thương trong đạo Bụt, thứ tình giải thoát từ bi. Thấy rằng thứ tình này khỏe quá, đẹp quá và bổ dưỡng quá! Nó không đem lại những ray rứt. Tình cầm sắt sẽ gây sóng gió nhưng tình bạn thì chỉ đem lại an lạc và hạnh phúc thôi.

Anh chàng lại cãi:
Chàng rằng: ‘Khéo nói lên lời,
‘Mà trong lẽ phải có người có ta! 

- ‘Em định nghĩa chữ trinh như thế nào? Có lúc thì phải đi đường thẳng (kinh) nhưng có khi phải linh động (quyền). Lúc bình thường (khi thường) thì theo phương pháp kinh; gặp giai đoạn đặc biệt (khi biến) thì phải theo phương pháp quyền.’ Lý luận này giống hệt như lý luận của ông bố vợ. Anh chàng này chắc đi học trường luật.
Như nàng lấy hiếu làm trinh,
‘Bụi nào cho đục được mình ấy vay?; 

- ‘Cái trinh của em là cái trinh làm bằng chất liệu hiếu. Vì hiếu nên em phải bán mình, đi vào con đường kia. Cho nên đối với anh, em vẫn còn hoàn toàn trong trắng.’ Nói cũng khéo lắm! Anh này rất có tài năng của một trạng sư!
‘Trời còn để có hôm nay,
Tan sưong đầu ngõ vén mây giữa trời.

Hai câu này rất hay! Thuộc về số những câu hay nhất trong truyện Kiều.
Trời ở đây không phải là Thượng Đế, Ngọc Hoàng hay tạo hóa. Trời ở đây là tình trạng, hoàn cảnh.
Ngày hôm nay chúng ta được gặp nhau, nhìn nhau, nắm tay nhau; tôi còn sống, anh còn sống, em còn sống để co thể ngồi uống trà với nhau, đi thiền hành, nhìn trăng với nhau…
Ngày hôm 
nay quý vô cùng! Trời còn để có hôm nay.
Chúng ta có được ngày hôm nay để sống, thở, nhìn thấy nhau là một phép lạ lớn. Nếu không biết sống, không tỉnh thức, an lạc và hạnh phúc thì chúng ta quá tệ! Đây là những tiếng chuông chánh niệm lớn. Nếu dịch ‘Trời’ là ‘God’ thì nói: ‘God has allowed today to be.’ 
Trời còn để có hôm nay. Đó là một giác ngộ rất lớn, một phép tỉnh thức. Chúng ta còn có được ngày hôm nay.
Mỗi ngày là một tặng phẩm của đất trời. Không biết ngày mai như thế nào nhưng hôm nay mình có hôm nay đây. Ta phải làm thế nào để tỏ sự trân quý của mình đối với ngày hôm nay.
‘Trời còn để có hôm nay’ tức là mình còn may mắn lắm! Mình rất có hạnh phúc; được ngồi nhìn nhau, đưa tay ra thì chạm được người mình thương.

Đọc câu này tôi cảm động rất sâu sắc. Cái thấy được diễn tả bằng sáu bảy chữ này là chánh niệm. Tất cả chúng ta đều có may mắn. Cố nhiên, chúng ta có thể có những rủi ro, đã đi qua những cơn cùng cực, khổ đau, thao thức, ba đào. Nhưng trời vẫn còn cho chúng ta có ngày hôm nay, vẫn để cho chúng ta sống tới ngày hôm nay để có thể tiếp xúc được với nhau, ngồi bên nhau. Trời còn để có hôm nay. Sáu chữ được làm bằng chánh niệm, tỉnh thức. Chánh niệm là gì? Là thứ năng lượng làm tan đi hết tất cả những u mê, thất niệm.
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời.’
Câu thứ hai rày cũng rất mầu nhiệm. Cái ngõ mình đi ra đi vào buổi sáng có thể có sương mù, không cho mình thấy được đường. Nhưng bây giờ sương đã tan rồi.
Mình thấy gì khi tan sương đầu ngõ?
Mình thấy những bông hoa.
Khi mây vén ra ở giữa trời thì mình thấy gì?

Thấy trăng.
Những đau khổ mình đã đi qua, cái đường hầm đen tối kéo dài mười lăm năm, mình nói rằng hoa đào mà không khuyết, trăng nào mà không tàn:
‘Ấy vậy mà:
‘Trời còn để có hôm nay.’ 

Khi mình thức tỉnh ra được, thấy được điều này thì;
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời.’
Lại thấy hoa và trăng trở lại.
Hay như vậy đó!
Sự thật là chúng ta còn có ngày hôm nay.
Nếu chúng ta tiếp xúc được với cái hôm nay mầu nhiệm thì cũng có nghĩa là những u mê, thất niệm, những trở lực thuộc tham, sân, si kia đều được vén ra.
Tưởng là hoa tàn, ai dè hoa còn tươi hơn bất cứ lúc nào hết! ‘Trời còn để có hôm nay.’ Tiếp xúc được điều đó thì:
‘Hoa tàn mà lại thêm tươi,
‘Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa. 

Mình đã chuyển hóa được khổ đau. Những khổ đau trong quá khứ mười lăm năm đã trở thành có ích lợi. Rác đã trở thành hoa. Và dù mình có pảhi khổ trong mười lăm, hai mươi hay ba mươi năm đi nữa nếu mình giác ngộ được rằng: ‘Trời còn để có hôm nay’ thì mình đã không có gì mất hết. Trái lại, hoa còn tươi, trăng còn sáng hơn xưa.
Có điều chi nữa mà ngờ,
‘Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu! 220
Nghe chàng đã nói hết điều,
Hai thân thì cũng quyết theo một bài. 

Anh chàng là trạng sư mà! Cả nhà về phe Kim một trăm phần trăm, bắt Kiều phải làm đám cưới với anh chàng cho được. Sư chị ở đâu mà không tới giúp em? 
Mới biết tăng thân là cần lắm!.
Hết lời khôn lẽ chối lời,
Cúi đầu nàng những ngắn dài thở than. 

Trong nguyên lục, sau khi chấp nhận làm lễ, Kiều nói:
‘Em làm lễ như vậy để mọi người vui thôi, nhưng em cương quyết không sống đời vợ chồng như thế thường. Em chỉ muốn sống với gia đình và với người yêu cũ thì em sẽ sống như bạn thôi chứ sẽ không có chuyện chăn gối. Thà rằng chết chứ em không làm chuyện đó nữa. Em đã thoát nó rồi!’
Phải làm tròn bổn phận của một người con, một người chị và của một người đã thề nguyền. Mình còn sống trong cuộc đời này nhưng lòng của mình đã là lòng của một người tu. Phật giáo nhập thế! Kiều bây giờ có bản lĩnh lắm! Chúng ta sẽ chứng kiến việc Kiều dạy cho Kim Trọng tu. 
Nhờ đọc nguyên lục tôi khám phá ra những chi tiết không có trong truyện Kiều bằng chữ Nôm.
Gia đình Kiều chưa hiểu Kiều. Chưa biết Kiều đã đi rất xa trên đường tu tập. Kỳ này sư chị đã dạy sư em rất đàng hoàng. Bao nhiêu những đam mê, danh vọng, phiền não của Kiều đã tiêu tan. Kiều không thể nào trở về cuộc sống bụi bặm, trần tục như xưa nữa. Kiều có thể sống trong cuộc đời mà không bị cuộc đời làm ô nhiễm.
Kiều nói thật, rất rõ trong nguyên lục:
‘Con chiều cha mẹ. Em chiều anh. Làm lễ thì làm để cho trọn, đẹp về phương diện hình thức. Nhưng em rất ham tu. Không ép em được. Một là em chết, hai là để em sống cuộc đời của người tu trong lòng gia đình này. Nếu bắt con phải làm như người khác thì con sẽ chết. Con không thấy hạnh phúc trong nếp sống đó nữa.’
‘Ôi! Con gái nói bề ngoài như vậy thôi! Đến lúc đó thì nó sẽ làm khác!’ Ai cũng nghĩ như vậy. Nhưng sự thực, Kiều đã làm đúng như Kiều nói.
GƯƠNG TRONG CHẲNG CHÚT BỤI TRẦN
Nhà vừa mở tiệc đoàn viên,
Hoa soi ngọn đuốc hồng chen bức là. 227
Cùng nhau giao bái một nhà,
Lễ đà đủ lễ đôi là xứng đôi.
Động phòng dìu dặt chén mồi,
Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa.
Những từ sen ngó đào tơ,
Mười lăm năm mới bây giờ là đây! 

Từ sen ngó đào tơ là từ hồi còn trẻ, mười lăm năm về trước; bây giờ lời thề mới được thực hiện. Đối với Kim Trọng và những người trong gia đình, đây là một đám cưới thật sự. Nhưng đối với Kiều, đây là chiều thế gian cho người ta có một hình thức mà thôi. Kiều nhất quyết đi trên con đường thoát tục, không đi theo cuộc đời thế gian nữa.
Tình duyên ấy hợp tan này,
Bi hoan mấy nỗi đêm chầy trăng cao.

Tối hôm đó sau khi ăn tiệc, cả nhà chúc hai người có hạnh phúc rồi rút lui. Tất cả họ nghĩ rằng họ sẽ ăn nằm với nhau. Nhưng hai người đã ngồi nói chuyện đến khuya.
Canh khuya bức gấm rủ thao,
Dưới đèn tỏ dạng má đào thêm xuân. 

Kim Trọng nhìn lại thấy Thúy Kiều còn đẹp quá dưới ánh đèn.
Tình nhân lại gặp tình nhân,
Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình. 

Ngày xưa Thúy Kiều đẹp mê hồn, bây giờ Kiều vẫn rất đẹp. Thúy Kiều là bông hoa ngày xưa, Kim Trọng là con ong cũ. Con ong lại muốn đi thăm bông hoa. Kim Trọng là người chưa giải thoát, vẫn muốn có liên hệ nam nữ với Thúy Kiều trong đêm đó. Nghĩ rằng sau khi đã uống rượu thề bồi, chứng tỏ mình có nhiều thương yêu và tình nghĩa rồi thì thế nào rồi Kiều cũng chịu. Nhưng Kiều cự tuyệt. Ở đây, cụ Nguyễn Du rất kín đáo tế nhị, không nói ra những điều đó.
Nàng rằng: ‘Phận thiếp đã đành,
‘Có làm chi nữa cái mình bỏ đi!
‘Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi,
‘Chiều lòng gọi có xướng tùy 228 mảy may.
‘Riêng lòng đã thẹn lắm thay,
‘Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi!
‘Những như âu yếm vành ngoài,
‘Còn toan mở mặt với người cho qua.
‘Lại như những thói người ta,
‘Vớt hương dưới đất bẽ hoa cuối mùa.
‘Cũng là giở nhuốc bày trò,
‘Còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi!
‘Người yêu ta xấu với người,
‘Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau!

Kiều nói rằng chấp nhận cái đám cưới này, dù chỉ là đám cưới hình thức, Kiều cũng cảm thấy xấu hổ lắm rồi. Còn nếu phải làm chuyện đó thì thà Kiều chết đi mà còn đẹp hơn. Lý do của Kiều là hai người không còn xứng đôi nữa. Nếu Kiều chấp nhận làm việc đó với Kim Trọng tức là Kiều không đối xử đẹp với Kim Trọng. Cái tình của hai người sẽ mất đẹp đi và chỉ còn lại sự bẽ bàng, thù nghịch. Một lý do khác là Kiều đã tu, đã nếm được mùi tịnh lạc và thấy hạnh phúc chân thật là như thế nào rồi thì không thể trở về chuyện đó được. Cũng như ăn chay đã từ lâu ngày mà cho mình một tô canh cá hay canh cua thì ăn làm sao được nữa!
‘Cửa nhà dầu tính về sau,
‘Thì con em nó lọ cầu chị đây. 

- ‘Nếu cần phải có con nối dõi thì đã có Thúy Vân rồi, đâu có cần phải em.’
Chữ trinh còn một chút này,
‘Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan!
‘Còn nhiều ân ái chan chan,
‘Hay gì vầy cái hoa tàn mà chơi?’ 

- ‘Cái đẹp duy nhất còn lại của em là tấm lòng và cuộc sống tu hành. Xin anh hãy giữ gìn cho em.’
Trong lòng Kim Trọng phát sinh một niềm kính ngưỡng chưa bao giờ có đối với Kiều. Kim Trọng nói:
Chàng rằng: ‘Gắn bó một lời,
‘Bỗng không cá nước chim trời lỡ nhau
‘Xót người lưu lạc bấy lâu,
‘Tưởng thề thốt nặng cũng đau đớn nhiều.
‘Thương nhau sinh tử đã liều,
‘Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình. 

- Chúng ta đã thề thốt với nhau và đã phải xa nhau! Vì thương mà liều sống chết để tìm nhau. Gặp nhau là cũng chỉ mong được thấy nhau bình yên thôi!’
‘Chừng xuân tỏ liễu còn xanh,
‘Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân.
‘Gương trong chẳng chút bụi trần,
‘Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm!

- ‘Anh tưởng em còn trẻ thì em cũng như những người con gái khác. Nhưng anh nhận ra rằng tâm hồn em rất trong sáng, không vướng một hạt bụi nào cả. Càng nghe em nói anh càng kính phục em thêm!’
‘Bấy lâu đáy bể mò kim
‘Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa?

- ‘Lâu nay anh đi tìm em là vì lời thề vàng đá chứ đâu phải là để tìm chuyện chăn gối!’ Nói rất hay! Có lẽ cũng có sự thật trong lời nói của Kim, nhưng chỉ được mấy chục phần trăm thôi. Trước đó anh ta đã ép nhưng đã bị Kiều cự tuyệt. Bây giờ phần hoa nổi lên, phần rác đi xuống.
‘Ai ngờ lại hợp một nhà,
‘Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm!’ 

- ‘Đâu cần phải chăn gối với nhau mới là vợ chồng chân thật!’ Anh chàng nói triết lý! Anh chàng chấp nhận điều đó. Nếu Kim Trọng là một người vũ phu thì chàng đâu đã nghe được những điều Thúy Kiều nói. Ép thì hư hết! Kim Trọng là người có khả năng nghe và chấp nhận, chuyển hóa. Chúng ta cũng thấy trong Thúy Kiều có khả năng của đức Quán Thế Âm đã đi vào cuộc đời để dìu dắt người ta đi về hướng giải thoát.

Nghe lời sửa áo cài trâm,
Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng:
‘Thân tàn gạn đục khơi trong,
‘Là nhờ quân tử khác lòng người ta. 

- ‘Chàng là người rất đặc biệt, không phải tầm thường!’ Thật ra quân tử ban đầu không khác lòng người ta lắm, cũng đòi hỏi như người ta vậy. Nhưng nhờ có giáo dục chàng mới được như vậy. Cái lạy này làm cho Kim Trọng kẹt cứng.
Cái lạy nặng nghìn cân!
Gạn đục khơi trong có nghĩa là tu tỉnh và chuyển hóa lại. Những gì xấu mình làm cho tốt, những gì đục mình làm cho trong, những gì héo mình làm cho tươi. Đó là công phu tu học. Gạn đục khơi trong là như vậy. Trong chúng ta luôn luôn có rác và hoa. Chúng ta tu học để chuyển rác thành hoa. Gạn đục khơi trong là do công phu tu hành mà có. Thúy Kiều nói: Thân tàn gạn đục khơi trong, Là nhờ quân tử khác lòng người ta.’ Thật ra không phải nhờ Kim Trọng mà nhờ bản thân Thúy Kiều đã tu học, đã chuyển hóa. Bây giờ Thúy Kiều hồi tưởng công đức cho Kim Trọng, nhưng Kim Trọng chỉ là một trong những điều kiện để giúp Kiều có thể tiếp tục được con đường tu học đó thôi. Ở đây, Kiều sử dụng ái ngữ: ‘Sở dĩ em được như vậy là nhờ anh.’ Đây là một phương tiện quyền xảo của người tu. Anh chàng chỉ mới hứa thôi. Nói như vậy để anh ta giữ vững lời hứa của mình. Không quên ‘Thận chung như thận thủy’, sau cũng giữ được như trước. Cố nhiên, ‘khác lòng người ta’ tức là Kim Trọng hiểu được chí hướng của Kiều và tôn trọng chí hướng đó. Đây là một điều đáng khen về phía Kim Trọng. Nhưng yếu tố căn bản để làm cho ‘gạn đục khơi trong’ là cái thấy, là sự tu học của Thúy Kiều. Cái hiểu và lời hứa của Kim Trọng là một trong những điều kiện yểm trợ cho sự hành trì đó thôi.
‘Mấy lời tâm phúc ruột rà,
‘Tương tri dường ấy mới là tương tri! 

- ‘Những lời anh vừa nói là thật từ trong tâm, trong ruột đi ra. Không phải là lời nói ngoại giao. Hiểu nhau như vậy mới thật là hiểu nhau. Anh đã hiểu được em rồi thì anh là người đích thật thương em.’ Sư chị không biết bây giờ ở đâu nhưng nếu thấy được sư em hành xử như vậy chắc chắn sư chị mừng lắm! Công phu dạy dỗ của sư chị rất thành công.
Khi hai người bạn hiểu nhau thì gọi là bạn tương tri. Trong đạo Bụt chúng ta đã học rằng có hiểu thì mới thương được. Chưa hiểu nhau thì chưa thương nhau. Chưa hiểu nhau sâu sắc thì chưa thương nhau sâu sắc. ‘Tương tri dường ấy mới là tương tri.’ Câu nói của Kiều rất phù hợp với chánh pháp. Kiều nói sự thật, không phải nói dối. Ngôn ngữ của Kiều làm cho mạnh hơn ý chí của người con trai. Kiều biết rằng người con trai đó thông mịnh nhưng có thể yếu đuối. Kim Trọng đã có nghe Kiều nói rằng làm lễ chẳng qua là để cho đẹp về hình thức thôi chứ. Kiều không muốn sống đời vợ chồng dung thường. Mọi người, trong đó có Kim Trọng, nghĩ rằng những cô gái sắp về nhà chồng là ưa nói như vậy, kỳ thực đến lúc đó là mình tiến tới một bước thì các cô sẽ chấp thuận. Trong trường hợp này sự tình đã không xảy ra như vậy. Vì đứng về phương diện tâm linh và kinh nghiệm sống mà xét thì Thúy Kiều đã đứng vào vị trí một người thầy về mặt tu học và tâm linh. Kim Trọng tìm ra sự thật rằng người con gái này không còn là người con gái mình yêu ngày xưa nữa. Người con gái ngày xưa cũng đã giữ giới: ‘Anh đừng làm như vậy. Làm như vậy sẽ hỏng hết!’ Bây giờ chuyện lập lại lần thứ hai, Thúy Kiều lại gạt ra một lần nữa. Nhưng kỳ này không phải là Thúy Kiều giữ giới. Thúy Kiều không cần giữ giới nữa. Thúy Kiều đã có kinh nghiệm trực tiếp về sự sống, về giá trị của vật dục, dục lạc. Vì vậy Kiều đã tới trình độ không cần giữ giới nữa mà giới vẫn được giữ như thường. Thúy Kiều đã ớn chuyện đó tới xương tới tủy cho nên không cần giữ giới mà giới vẫn được giữ. Khác nhau ở chỗ đó. Ngày xưa chàng sinh viên tiến tới thì cô Kiều giữ giới. Bây giờ cũng chàng sinh viên đó, già hơn và làm quan rồi, đứng về phương diện hình thức thì đã là chồng của Kiều rồi, chàng sinh viên tiến tới thì Thúy Kiều không cần giữ giới mà chàng sinh viên đó cũng không phạm giới. Giữ giới là khi nào mình còn yếu. Khi mình giải thoát rồi thì không cần giữ Giới mà Giới vẫn được giữ. Vua Trần Thái Tông ngày xưa, trong sách Khóa Hư, cũng có viết như vậy. Nói rằng khi mới tu học thì chúng ta cần phải niệm Bụt, tụng Kinh và giữ Giới nhưng khi chúng ta đã giải thoát rồi thì: ‘đâu còn Bụt để mà niệm, Kinh nào để mà tụng, Giới nào để mà trì!. Ở đây chúng ta phải hiểu như vậy. Ngày xưa Kiều đã giữ giới như một cô thiếu nữ. Bây giờ Kiều đã vượt ra khỏi, đã giải thoát rồi, Kiều không giữ Giới mà Giới vẫn được tôn trọng. Kiều trở thành người dạy cho Kim Trọng. Người đàn bà Đông phương rất hay, họ dạy mà không có vẻ là dạy. Vẫn có vẻ như tuân phục người đàn ông nhưng kỳ thực trong đó họ hướng dẫn người đàn ông đi theo.
‘Thân tàn gạn đục khơi trong,
‘Là nhờ quân tử khác lòng người ta.
‘Mấy lời tâm phúc ruột rà,
‘Tương tri dường ấy mới là tương tri!’ 

Rất khéo. Càng nói thì càng buộc người con trai vào lời hứa. Chúng ta thấy Kiều rất giỏi về tâm lý.
‘Chở che đùm bọc thiếu gì,
‘Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay!’ 
- ‘Từ đây trở về sau anh sẽ là người hộ pháp, che chở, đùm bọc em.’ Chở che đùm bọc là một lời khen lớn chứ không phải là thường. Trong văn chương người ta nói ơn ‘trời che đất chở’ (thiên phú địa tải). Trái đất chở mình và bầu trời che mình. Coi người kia như trời đất, cho người kia trở thành rất quan trọng. Người kia khi đã lãnh một sứ mạng như vậy thì không còn có thể đi lui được nữa. Ơn che chở, lượng đùm bọc. Đùm bọc là nói về lượng. Biển có thể bao hàm được nhiều và mùa xuân có thể nuôi được nhiều. ‘Xuân dục hải hàm chi lượng’ tức là lượng như lượng của biển cả và của mùa xuân. Trong bản tiếng Nôm, cụ Nguyễn Du nói: ‘Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng.’ Trên hình thức như thế thì như lạy tạ một ngưòi, người đó là người hiểu thương mình, nhưng kỳ thực là lạy tạ cả Trời, Đất, mùa Xuân và Biển cả. Muốn rằng người kia đại diện cho Trời, Đất, mùa Xuân và Biển cả che chở và đùm bọc cho mình. Chúng ta thấy trí tuệ cũng như sự khôn khéo của Kiều rất lớn. Và chúng ta biết Kiều đã lớn lên, trưởng thành và chín chắn trong con đường tu học. ‘Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay!’ Đêm nay là cái đêm mà chàng phát nguyện tu học và tôn trọng nếp sống tâm linh của nàng.
Trong nguyên lục, sau khi Kiều đã nói cho Kim Trọng nghe ý chí của mình thì Kim Trọng giật mình nói: ‘Tình của em là một thứ tình rất trinh liệt. Vậy anh đâu còn dám mơ tưởng đến thứ tình tầm thường như trước nữa.’ Cũng trong nguyên lục, Kiều làm mười bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt (năm chữ bốn câu) để hướng dẫn cho Kim Trọng thấy được chí hướng của mình và tỏ ý khuyên Kim Trọng cũng nên bắt đầu tu học. Thúy Kiều dạy Kim Trọng rất tế nhị. Kiều khuyên Kim Trọng đem hết thông mình tài trí và đức hạnh ra để làm quan. Kiều chia sẻ cái hay nhất của mình trong đời sống tu hành và khuyên Kim Trọng cũng nên thực tập để vượt thoát những vướng víu, buồn lo, khao khát trong lòng. Đây là bài thơ thứ mười của Kiều, chép trong nguyên lục:
Kim nhật trùng kiến lang Bất phục tri hữu tử
Nguyện quân tảo định tình
Thận chung như thận thủy.

Tôi dịch:
Hôm nay gặp lại chàng
Tử sinh em đã vượt
Xin chàng sớm định tâm
Giữ gìn sau như trước. 

Đưa ra mười bài thơ, Kiều nói thêm: ‘Mười bài thơ nói lên cái tình của em.’ ‘Thử thiếp tình giả: đây là tình của em; một thứ tình rất trong sạch, nhẹ nhàng, giải thoát. ‘Nguyện di quân tình dĩ tựu ngã’: xin anh dời tình của anh tới để gặp tình của em. Tình em là tình đã vượt, đã tới. Tình anh đang còn vướng mắc. Anh hãy định tâm lại, hãy chuyển, dời tình anh tới để gặp em. Vì em không thể nào lui được. Một con gà con sau khi đã san ra không thể nào lại chui vào trong vỏ trứng được nữa. Đó là ý của Kiều. Đọc nguyên lục có cái lợi là ta có thể thấy được những chi tiết không có trong tác phẩm của cụ Nguyễn Du.
Đây là một người đàn bà đã khổ đau, đã tu học, đã đạt tới giác ngộ và có khả năng giúp người đàn ông. Kim Trọng là người rất thông minh, giật mình thấy được rằng người đang ngồi với mình tối hôm nay là một con người hoàn toàn khác, không phải là người con gái năm xưa nữa. Mười lăm năm đã biến nàng thành một người chín chắn, một người mà mình không thể coi thường được. Một người có thể dạy mình và soi sáng cho mình.
CUỐN DÂY TỪ ĐẤY VỀ SAU CŨNG CHỪA 
Thoát thôi tay lại cầm tay,
Càng yêu vì nết càng say vì tình.
Thêm nến giá nối hương bình,
Cùng nhau lại chúc chén quỳnh giao hoan. 

Hai bên lại uống rượu. Chúng ta biết Trạc Tuyền đã giữ giới rồi, chắc chỉ uống trà thôi chứ đâu có uống rượu được. Nếu uống say thì làm sao dạy được người ta!
Tình xưa lai láng khôn hàn,
Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa. 

Đây là Kim Trọng, nhớ lại những kỷ niệm ngày xưa, muốn Kiều đàn cho mình nghe một lần nữa. ‘Tình xưa lai láng khôn hàn’ là tâm trạng của Kim Trọng. Tình ngày xưa còn lai láng. Anh chàng đã hứa rồi nhưng chưa hứa đủ, phải thực tập nữa. Kiều biết rất rõ điều đó cho nên cô mới buộc anh phải tu để có thể giữ được trọn lời hứa. Tình xưa lai láng nghĩa là quá khứ vẫn còn mạnh. Khôn hàn là không thể nào ngăn chặn lại được.
Nàng rằng: ‘Vì mấy đường tơ,
‘Lầm người cho đến bây giờ mới thôi!

- ‘Anh biết không, chính vì bản đàn đó mà em đã khổ suốt đời!’
Thi ca, âm nhạc, hội họa… có thể ảnh hưởng trên đời mình rất nhiều.
Nếu không cẩn thận, không chánh niệm khi thưởng thức những bản nhạc, bài thơ… mình sẽ đi sâu vào sầu khổ.
Lầm người là đẩy con người đi tới chỗ lầm lạc. Lầm ở đây là wrong view, cái thấy sai lầm về cuộc đời.
Câu nói của Kiều có nghĩa là mình phải cẩn trọng trong khi tiêu thụ những sản phẩm của âm nhạc hay văn học, vô tuyến truyền hình, âm nhạc… đóng một vai trò rất lớn trong cuộc đời mình.
Nếu tiêu thụ những sản phẩm đó mà không có chánh niệm thì mình sẽ khổ suốt đời. Điều này rất rõ trong thế giới của chúng ta. Nếu chúng ta cho trẻ em tha hồ tiêu thụ những sản phẩm văn hóa như vô tuyến truyền hình, âm nhạc, trò chơi điện tử thì các em sẽ khổ suốt đời vì các sản phẩm ấy có thể có rất nhiều độc tố.
Bản đàn Thúy Kiều sáng tác hồi nhỏ là kết quả của những hạt giống sầu khổ, đen tối, chán đời. Có thể những hạt giống đó đã được trao truyền lại, Thúy Kiều đã không biết để chuyển hóa mà vẫn để nền âm nhạc đau thương đó trấn ngự đời mình và dẫn mình đi về những nẻo đường không sáng sủa.

Nàng rằng: ‘Vì mấy đường tơ,
Lầm người cho đến bây giờ mới thôi!’ 

Những bài mình hát hàng ngày vận vào mình và đưa mình đi theo ngả của nó.
Ở Sài Gòn, vào khoảng năm 1950, bọn con nít hát nghêu ngao ngoài đường:
‘Ôi ta buồn ta đi lang thang, bởi vì đâu?’
Con nít mới có sáu bảy tuổi mà hát những câu như vậy thì đời của chúng đi về đâu?
Chúng ta thấy ngay ở trong giới Phật tử cũng có những bài hát rất sầu đau:
‘Ngài ra đi, từ ly, vợ hiền con yêu dấu…’
Nhạc rất sầu đau, không có gì phản ảnh tính cách giải thoát của đạo Bụt hết. Những bài thơ cũng vậy. Chúng ta thấy rất nhiều bài thơ và nhiều bài nhạc được sáng tác gần đây cho thiếu nhi mang nặng rất nhiều tính chất khổ đau. Và như vậy, không có Phật chất.
Chúng ta có những bài hát như: ‘Boong Boong, Tôi là chuông đại hồng…’ hát lên thấy sảng khoái, mạnh mẽ.
Còn những bài như Trái Tim Bồ Tát, tuy rằng để ca ngợi đức Hòa thượng Quảng Đức nhưng giọng rất sầu khổ; hát lên thì tát cả sẽ giống như những cây liễu rũ.
Chúng ta thử nghe một vài bài rồi mới biết những bài hát đó tưới những hạt giống sầu đau trong chúng ta.
‘Ăn năn thì sự đã rồi!
Nể lòng người cũ vâng lời một phen.’ 

- ‘Nhưng nể anh là một người bạn thân thiết nhất đời nên em sẽ vâng lời đàn một lần nữa.’ Nhưng Kiều đã biết trước rằng lần này mình đàn thì bản đàn sẽ khác vì tâm linh đã giải thoát rồi. Khi tâm mình đã giải thoát rồi thì chạm đến cái gì là cái đó chuyển hóa. Kiều ó một đức tin rất lớn ở nơi mình.
Bản nhạc Kiều sáng tác có tên là Bạc mệnh (số phận mỏng manh).
Mới có mười sáu, mười bảy tuổi mà đã làm ra một bản nhạc tên là ‘số phận mỏng manh’!
Chúng ta thấy lối giáo dục đó, lối thưởng thức văn nghệ đó, không lành mạnh.
Cho nên khi thấy có một người học trò làm ra một bản nhạc buồn thì tôi nói liền:
‘Bài này buồn con ơi! Nên làm một bài khác vui hơn.’
Chê là chỉ chê cái đó thôi chứ không chê kỹ thuật.
Ở bên Mỹ có một thầy ngâm thơ rất hay nhưng có nhiều lúc thầy ngâm những bài thơ buồn quá, thầy khóc nức nở trong khi ngâm.
Tôi nói: ‘Không được! Mình là người tu, mình không có quyền như vậy!’
Không được đầu độc mình và đầu độc những người xung quanh.

Những bài thơ mình ngâm phải là những bài hùng tráng, có tính cách giải thoát. Khi mình đã làm cây lệ liễu rồi thì mình sẽ làm cho người xung quanh mình khóc hết. Lúc đó mình đang ‘phản tuyền truyền’ giáo lý của mình, giáo lý của giải thoát.
Trong truyện Kiều có một số đoạn thi sĩ Nguyễn Du tả Kiều đàn. Lần đầu tiên là đàn cho Kim Trọng nghe khi hai người mới gặp nhau. Kim Trọng yêu cầu: ‘Nghe đồn em đàn rất hay. Em đàn cho anh nghe đi! Thúy Kiều đem bản nhạc hay nhất của mình, Bạc mệnh ra đàn:
So vần dây vũ dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng!
Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân.
Quá quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia.
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
Ngọn đèn như tỏ như mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.
Khi tựa gối khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc khi chau đôi mày. 

Anh chàng ngồi không yên được vì bản đàn đau buồn quá đi! ‘Khi tựa gối khi cúi đầu, Khi vò chín khúc (tức là đau ruột) khi chau đôi mày.’ Buồn quá!
Rằng: ‘Hay thì thật là hay,
‘Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào.
‘Lựa chi những bậc tiêu tao,
‘Dột lòng mình cũng nao nao lòng người?’ 

Kim Trọng trách Thúy Kiều tại sao lại đàn một bài buồn quá như vậy. Thúy Kiều đáp”
Rằng: ‘Quen mất nết đi rồi,
‘Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao!

Trời trao cho mình chất đó thì mình chịu thôi!’ Mà Trời nào? Đó là hạt giống của ông bà cha mẹ trao lại hoặc do từ giáo dục và thói quen mang tới. 

Một lần khác, Kiều bị bắt buộc phải đánh đàn cho Thúc Sinh nghe; người buộc Kiều là vợ cả của Thúc Sinh, Hoạn Thư:
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu đã bày trò chơi.
Rằng; ‘Hoa nô đủ mọi tài,
‘Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe!’ 

Kiều phải đàn với tư cách của một người đầy tớ chứ không phải với tư cách của người yêu như cũ:

Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn:
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!
Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương.

Thúc sinh ngồi trên bàn tiệc khóc nức, không thể dừng lại được. Tiếng đàn Kiều ai oán quá! Hoạn Thư rầy: ‘Mầy đàn cái bài gì mà dữ dội quá vậy, ác ôn quá vậy! Mày làm cho chàng khóc! Đó là tội của mày! ‘Nhưng Thúy Kiều đâu thể đàn một bài vui được! Chất nghệ thuật của nàng là chất sầu cảm.
Một lúc khác Kiều phải đàn cho một cuộc liên hoa, tổ chức bởi quan lớn Hồ Tôn Hiến để ăn mừng thắng trận. Hồ Tôn Hiến vừa lừa và giết được Từ Hải, chồng của Kiều.
Trong quân mở tiệc hạ công,
Xôn xao tơ trúc hội đồng quân quan.
Bắt nàng thị yến dưới màn,
Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu.
Một cung gió thảm mưa sầu,
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay.
Ve ngâm vượn hót nào tày,
Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu.

Cũng bài đó. Một cung đàn mà làm cho gió phải tủi, mưa phải sầu. Tiếng đàn lâm ly ai oán như có máu chày trên ngón tay người đàn. Con ve mùa hè than khóc cũng không buồn như vậy. Con vượn trong rừng sâu kêu thương khi con chết cũng không đau khổ đến thế. Ai ngồi trong tiệc cũng phải khóc, kể cả người anh hùng chiến thắng là Hồ Tôn Hiến. Tâm trạng của Kiều luc sđó là tâm trạng đua khổ cùng cực.
Hỏi rằng: ‘Này khúc ở đâu?
‘Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay!’
Thưa rằng: ‘Bạc mệnh khúc này,
‘Phổ vào tay ấy những ngày còn thơ.
‘Cung cầm lựa những ngày xưa,
‘Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây!’

- ‘Ngày xưa đã chọn loại âm nhạc đó. Bây giờ kết quả là đây. Quan lớn nhìn vào thì thấy!’ Nhưng đau khổ chỉ cho Thúy Kiều biết là mình đã đi lầm đường trong sự thưởng thức âm nhạc, nghệ thuật. Vì vậy bây giờ Thúy Kiều nói một cách rất rõ ràng với Kim Trọng:
Nàng rằng: ‘Vì mấy đường tơ,
Lầm người cho đến bây giờ mới thôi!
‘Ăn năn thì sự đã rồi!
‘Nể lòng người cũng vâng lời một phen.’ 

Và bây giờ cụ Nguyễn Du tả Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe sau mười lăm năm gặp lại. Lần này, tiếng đàn của Thúy Kiều không còn như ngày xưa vì tâm Kiều đã giải thoát:
Phím đàn dìu dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa.
Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
Ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh? 229
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên. 230
Trong sao châu nhỏ duyền quyên, 231
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông. 232

Khúc nhạc nghe đầm ấm, khoan hòa như ánh dương. Nhàn nhã, xuất thế như Trang Sinh hóa bướm.Trong như hạt ngọc trai phản chiếu ánh trăng soi trên vùng bể. Ấm như một hạt ngọc ở Lam Điền vừa mới đông lại. Đây là những hình ảnh tả sự ấm áp, trong trẻo, tươi xuân của bản đàn. 
Không có chất liệu đau khổ ngày xưa nữa vì tâm của người đánh đàn đã được chuyển hóa. 
Lọt tai nghe suốt năm cung,
Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao.
Kim Trọng nghe bản nhạc rất ngạc nhiên:
Chàng rằng: ‘Phổ ấy tay nào,
‘Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy?
‘Tẻ vui hỏi tại lòng này,
‘Hay là khổ tận tới ngày cam lai?’ 

Vui khổ là tại nhận thức của mình hay là vì mình hết cái đắng (khổ) thì tự nhiên cái ngọt (cam), cái vui đến? Đó là câu nói triết lý của chàng Kim Trọng. Anh chàng bắt đầu thấm giáo lý Duy Tâm. Buồn hay vui đều là do tâm.
Câu trả lời của Thúy Kiều càng làm rõ hơn điều Kiều đã tuyên bố trước đó về vấn đề thưởng thức văn nghệ.
Nàng rằng: ‘Vì chút nghề chơi,
‘Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu!
‘Một phen tri kỷ cùng nhau,
‘Cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa.’

Vì ham chơi nhạc sầu khổ mà tiếng nhạc đoạn trường (đứt ruột) đã hại mình biết bao nhiêu năm tháng. Cứ ngồi mà ủ rũ hát những bài Nam Ai, Nam Bình, Tiếng Xưa, Đêm tàn bến Ngự… và sáu câu vọng cổ thì dân tộc có thể vươn lên được hay không? Tuy rằng trong đó có chút ít quốc hồn quốc túy thật nhưng đó chỉ là những đau thương của dân tộc được ghi chép lại. Nếu chúng ta cứ tiếp tục hát mỗi ngày những bài hát sầu đau thúi ruột như vậy thì chắc có lẽ ai cũng thành Thúy Kiều hết! 
Bây giờ chúng ta dã hiểu nhau, đã thấy được sự thật rồi thì xin vĩnh biệt cái loại âm nhạc đứt ruột từ đây. Vì nếu chúng ta cứ tiếp tục thì con cháu chúng ta sẽ bị ảnh hưởng. ‘Cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa.’ Đây là quyết đinh của Thúy Kiều. Thúy Kiều đã cảm thấy được sự thật của giới thứ năm và muốn con cháu mình sau này sẽ không vướng vào đó nữa.

Nhất Hạnh
Theo http://diendan.thapchilientam.vn/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...