Những bài thơ Nôm đầu tiên được coi là của Hồ Xuân Hương, xuất
bản ở Hải Phòng, năm 1913, như một tài liệu không chính thức. Bốn năm sau, năm
1917, Đông Khê Nguyễn Hữu Tiến xuất bản Giai nhân di mặc, toàn những
chuyện hư cấu… trong đó có chuyện Hồ Xuân Hương và thơ Hồ Xuân Hương… dĩ nhiên,
cũng là những thứ “hư cấu”. Ấy thế mà có nhà phê bình lại dựa vào đó mà soạn
ra Thân thế và sự
nghiệp của Hồ Xuân Hương và đánh giá thơ văn của bà, như một tác giả
chính thức và tác giả đó có mặt thực sự trong đời sống xã hội. Thấy bán được,
các nhà xuất bản tiếp theo in thơ Hồ Xuân Hương như một tác giả thực thụ và số
bài mỗi lần in một tăng lên, cuối cùng đến hơn 200 bài thì thôi, bởi không thể
tăng được nữa, trong đó có khoảng 30 bài độc đáo và đặc sắc, thường có mặt
trong các lần in khác nhau.
Xung quanh tiểu sử của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, có một số
điều đã được thời gian bạch hóa. Đến nay thì việc bà là vợ kế (chứ không phải vợ
lẽ) quan tham hiệp trấn Yên Quảng (tỉnh Quảng Ninh ngày nay) đã rõ. Bà đã hai lần
từ Nghi Tàm (Hồ Tây, Thăng Long) về Yên Quảng bằng thuyền, thăm người yêu, là
ông Trần Phúc Hiển, để lại 2 bài thơ tình chữ Nôm viết bên bờ sông Bạch Đằng và
5 bài thơ chữ Hán về vịnh Hạ Long, đã in trong tập Lưu Hương kí, từ
năm 1814, thì cũng đã rõ. Như vậy, bà ở hẳn tại Yên Quảng từ năm 1815 (khi ông
Hiển cưới bà, thường cho bà dự vào việc quan) đến khi chồng bà bị bắt (tháng 5
năm 1818) chịu án tử hình (1819), vì đã nhận hối lộ 700 quan tiền, (dù bố chồng
bà là tướng Trần Phúc Nhân, đã từng giúp vua Gia Long đánh thắng Tây Sơn rồi tử
trận). Việc chồng bà chết ở Yên Quảng năm 1819, cũng đã rõ, vì điều đó còn ghi
trong Thực lục của nhà Nguyễn. Khi vua Minh Mạng rà soát lại các bản
án liên quan đến các quan, ông rất chú ý đến vụ án quan Tham hiệp trấn Yên Quảng
Trần Phúc Hiển, ông phê vào bên cạnh: “Tham nhũng như thế mà không giết,
thì lấy gì mà khuyến liêm”.
Căn cứ vào các tư liệu mới phát hiện và không còn gì phải
tranh cãi này, mà người ta đã xác định được năm sinh của Hồ Xuân Hương là 1772,
đặc biệt năm mất là 1822. Điều đó đã được dòng họ Hồ Quỳnh Đôi Nghệ An, quê
hương bà, cho khắc vào tấm bia đá lớn, thờ ở ngay đầu làng.
Nếu năm mất được xác nhận là 1822, thì nơi mất có
thể có cơ sở, là chùa Giải Oan ở Yên Tử, vì cùng một nguồn tư liệu. Theo
tư liệu trên, sau khi chồng chết, để thể hiện lòng thủy chung đúng đạo nhà Nho
của bà, bà đi tu ở Yên Tử và khi mãn tang chồng thì chết theo chồng ở đây. Bà mất
năm 1822, năm 1823, phủ Tam Đới, nơi ông Hiển từng làm tri phủ khoảng hơn 10
năm trước, mới đổi tên là phủ Vĩnh Tường. Vậy bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường mà
hàng chục năm nay gán bừa cho bà là không phải của bà vậy. Ấy là chưa kể, khi
chồng chết vì án tử hình, liệu có bà vợ nào nỡ khóc chồng:
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng túi càn khôn khép lại rồi
Ta hiểu cán cân kia và miệng túi ấy
là cái gì rồi. Khóc thế không những vô văn hóa mà còn vô cả đạo lý nữa.
Ấy là chưa kể, khi phủ Vĩnh Tường có tên, thì Hồ Xuân Hương cũng đã chết rồi.
Tập thơ duy nhất của Hồ Xuân Hương là Lưu Hương
ký. Chính Hồ Xuân Hương đã tự xác nhận thế, như Tốn Phong đã ghi lại trong
lời Tựa mở đầu tập thơ này. Theo giáo sư Trần Thanh Mại, thì chữ Lưu có
bộ ngọc ở bên, chỉ quê hương Quỳnh Lưu, không phải là lưu biệt hay lưu
truyền, còn Hương là tên bà. Vậy đây là thơ của người Quỳnh Lưu tên
là Xuân Hương, được ghi lại. Giáo sư Trần Thanh Mại khẳng định: “Lưu
Hương ký là một tài liệu chân chính, đáng tin cậy, và trong trường hợp này,
không thể có vấn đề, có kẻ nào đó muốn chơi khăm, làm ra tài liệu giả mạo để
đánh lạc hướng nghiên cứu của chúng ta”. (Lưu Hương ký và lai lịch phát hiện
nó - Trần Thanh Mại, toàn tập, tập III. Nxb Văn học, 2004).
Theo bài Tựa của ông Tốn Phong viết, hiện vẫn
còn in ở đầu sách, thì Hồ Xuân Hương nói rằng: “đây là toàn bộ thơ của cuộc đời
tôi từ trước đến nay”, trong đó không có bất cứ một bài nào trong số tất cả
các bài thơ Nôm truyền tụng thường được gán cho bà. Như vậy, theo ý của chính
bà, các bài thơ ở ngoài Lưu Hương ký đều không phải thơ của bà. Bàn
về thơ bà mà lại cứ đơn phương gạt ý kiến của bà ra thì rõ ràng là rất phi lý (TNM
nhấn mạnh).
Và ngày nay, chúng ta coi thơ truyền tụng kia, không phải là thơ của bà, chính là tôn trọng bà vậy. Trong bài Tựa nói trên, viết tháng 3 năm Giáp Tuất (1814), Tốn Phong nhận xét, thơ Hồ Xuân Hương “xuất phát từ cảm hứng nhưng biết dừng lại ở phạm vi lễ nghĩa. Vui mà không đến nỗi buông tuồng… thơ đúng phép mà văn hoa…”. Đọc Lưu Hương ký mới thấy Tốn Phong nhận xét thơ bà như thế là rất chuẩn xác. Như vậy, thơ thực của bà hoàn toàn xa lạ với thơ được coi là của bà.
Và ngày nay, chúng ta coi thơ truyền tụng kia, không phải là thơ của bà, chính là tôn trọng bà vậy. Trong bài Tựa nói trên, viết tháng 3 năm Giáp Tuất (1814), Tốn Phong nhận xét, thơ Hồ Xuân Hương “xuất phát từ cảm hứng nhưng biết dừng lại ở phạm vi lễ nghĩa. Vui mà không đến nỗi buông tuồng… thơ đúng phép mà văn hoa…”. Đọc Lưu Hương ký mới thấy Tốn Phong nhận xét thơ bà như thế là rất chuẩn xác. Như vậy, thơ thực của bà hoàn toàn xa lạ với thơ được coi là của bà.
Căn cứ vào lời Tựa của Tốn Phong: “Khi hỏi
đến tên họ, mới biết cô ta là em gái ông lớn họ Hồ, đậu Hoàng Giáp, người làng
Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu”, từ đó, các nhà nghiên cứu mới bạch hóa được tiểu
sử của Hồ Xuân Hương. Làng Hoàn Hậu nay là làng Quỳnh Đôi. Bà là con Hồ Sĩ
Danh, chứ không phải con Hồ Phi Diễn, như các sách giáo khoa đã ghi từ mấy chục
năm nay, vì Hồ Phi Diễn không có con đỗ Hoàng Giáp và làm ông lớn. Hồ
Phi Diễn và Hồ Sĩ Danh là anh em con chú con bác, lại rất xa nhau, kể ngược lên
đến đời thứ 10 mới cùng một ông tổ. Bà là em ruột Hồ Sĩ Đống (1738-1785), đậu
Đình nguyên, đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, (tức Hoàng Giáp), làm quan đến
Hành tham tụng, (quyền Tể tướng) tước Quận công, cùng với Bồi tụng Bùi Huy
Bích, đứng đầu chính phủ thời Trịnh Sâm và Trịnh Khải. Hồ Sĩ Danh (1706-1783), chỉ đậu Hương cống (tức Cử nhân), không ra làm quan, nhưng có con làm tể
tướng, được phong tặng chức Hàn lâm thừa chỉ, hàm Thái Bảo. một trong 3 tước
cao nhất của triều đình. Như vậy là đã rõ.
Trong Hồ Xuân Hương - bà chúa thơ Nôm, (Thực ra thì
trước Xuân Diệu đến 30 năm - tính đến 1980 - năm kết thúc công trình nghiên cứu
của Xuân Diệu), từ năm 1950, Lê Tâm đã gọi Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ
Nôm trong tập sách do Nhà xuất bản Cây Thông, Hà Nội ấn hành (nhưng người
ta cứ nghĩ danh hiệu này là do Xuân Diệu đầu tiên nêu ra). Xuân Diệu còn
khẳng định: đặc trưng để bà có lối thơ ám chỉ cái ấy của phụ nữ
và chuyện ấy trong buồng kín, tạo thành đặc sắc, “có một không
hai trong văn học Việt Nam, có lẽ trong văn học thế giới. Đó là một kĩ nữ”, mà
các quyển Từ điển tiếng Việt đều ghi kỹ nữ là gái mại dâm (là
làm đĩ).
Đến đây thì ai cũng biết: nhà thơ Xuân Hương họ Hồ Quỳnh
Đôi, Nghệ An, vợ kế quan Tham hiệp trấn Yên Quảng, từng yêu Cần Chánh điện học
sĩ - Hầu tước Nguyễn Du, chú ruột vợ vua Gia Long, em ruột tể tướng Nguyễn Khản
(Nguyễn Khản là anh con bà cả), con ruột tể tướng triều trước Nguyễn Nghiễm… bản
thân bà cũng có anh con bà cả làm tể tướng, bố chồng hàm Thái Bảo, một trong ba
tước cao nhất của triều đình, như đã nói trên, không phải là gái làm nghề… mại
dâm. Trong nghiên cứu khoa học, cứ liệu nền tảng không vững vàng, ổn định,
thì các luận điểm đưa ra, chắc chắn không vững bền, dù tác giả của những luận
điểm ấy là một người có uy tín rất lớn. Theo tôi, công trình rất nổi tiếng Hồ
Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm này của Xuân Diệu là không có cơ sở khoa học, dứt
khoát sẽ tự sụp đổ, chỉ có sớm hơn hay muộn hơn mà thôi.
Tôi đồng tình với nhận định của giáo sư Hoàng Xuân Hãn
đưa ra tại Paris (Pháp) từ năm 1952 và giáo sư Trần Thanh Mại, đưa ra tại Hà Nội
năm 1964, cho rằng, TOÀN BỘ thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, tất thảy đều
không phải của Hồ Xuân Hương mà là thơ dân gian của các ông đồ,
sáng tác và nhuận sắc cùng thời với truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn.
Xin dẫn nguyên văn hai bài thơ của Hồ Xuân Hương
trong Lưu Hương ký có liên quan đến các ý đã trình bày ở trên. Các bạn
đọc sẽ nhận ra ngay một Hồ Xuân Hương thật.
Bài thứ nhất về mối tình của bà với quan Tham hiệp trấn
Yên Quảng, Trần Phúc Hiển, lúc bà về thăm ông, ở trấn lỵ Yên Quảng, nay là thị
xã Quảng Yên, bên bờ sông Bạch Đằng, khi ông chưa cưới bà làm vợ. Đọc bài thơ
này, các bạn sẽ thấy bà Hồ Xuân Hương yêu ông Trần Phúc Hiển đến mức nào, chỉ
lo ông không giữ lời hứa với mình:
BẠCH ĐẰNG GIANG TẠM BIỆT
Khấp khểnh đường mây bước lại dừng
Là duyên là nợ phải hay chăng
Vun hoa khéo kẻo lay cành gấm
Vục nước mà xem động bóng giăng
Lòng nọ chớ rằng mây nhạt nhạt
Lời kia nay đã núi giăng giăng
Với nhau tình nghĩa sao là trọn
Các sách đều chú thích nước Đằng là một quốc gia nhỏ bé
bên Trung Quốc. Theo tôi, chú thích thế là sai. Nước Đằng chỉ là nước sông Bạch
Đằng khi lưng, khi vơi theo mức lên xuống của thuỷ triều.
Bà Hương nhắc ông Hiển lòng dạ yêu bà chớ có như thế.
Bài thứ hai là nỗi nhớ người cũ, gửi “Hầu Nghi Xuân
Tiên Điền nhân”:
CẢM CỰU KIÊM TRÌNH
CẦN CHÁNH HỌC SĨ NGUYỄN HẦU
(Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân)
Dặm khách muôn ngàn nỗi nhớ mong
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập
Phấn son càng tủi phận long đong
Biết còn mảy chút sương siu mấy
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong
Nguyên tác ghi rõ Hầu người làng Tiên Điền huyện
Nghi Xuân. Như vậy, Nguyễn Hầu ở đây đúng là Nguyễn Du, người làng Tiên Điền,
huyện Nghi Xuân, được phong tước Hầu (Du Đức hầu). Tháng 2 năm Quý Dậu (1813),
vua Gia Long bổ nhiệm ông làm Cần chánh điện học sĩ, rồi cử làm Chánh sứ sang
Trung Quốc.
Xuân Diệu có biết điều này không? Tôi xin thưa ngay là
có và hẳn là có lý do khi ông không viết bài “cãi lại”. Tôi rất nhớ một lần,
tôi đến thăm Xuân Diệu, sau khi có một hội nghị bàn về thơ Hồ Xuân Hương như
trên ở Viện Văn học. Xuân Diệu nói với tôi, giọng rất bực dọc, tôi nhớ vô cùng
chính xác và tôi chịu trách nhiệm về sự chính xác này, khi lần đầu tiên công bố
ra đây: “Có một Hồ Xuân Hương giả mà cả thế giới nó sợ thật,
lại không sướng hay sao. Lại còn tìm ra với tìm vào”.
Như vậy, chính Xuân Diệu, người sau Lê Tâm (1950) đã bỏ ra đến
22 năm (1958-1980) để vinh danh Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ Nôm, cũng
đã biết đâu là thực hư trong vấn về này.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét