Con cò bay lả bay la; bay từ ngày cũ,
bay qua… 2000 Hay "Một đối
sánh
văn hóa dân gian xưa và nay"
Hai bức tranh
Trước khi đi vào một chủ đề mà tôi đoan chắc sẽ gây cho các bạn
ít nhiều bất ngờ ngoài hình dung, xin mời các bạn thưởng lãm hai bức tranh qua
sự mô tả có phần vụng về của tôi và cho nhận xét, theo những kinh nghiệm các bạn
có thì đâu là văn hóa dân gian.
Bức tranh thứ nhất: Làng Diềm (tên chữ là Viêm Xá), xứ Kinh Bắc,
thế kỷ 19. Nương là một liền chị tuổi đang mươi đang cùng với chị Hai, chị Ba,
chị Tư, chị Năm sửa soạn nhà cửa, trầu cau, mâm cơm để tối nay đón khách là bọn
quan họ nam ở làng Hoài Thị sang chơi và hát canh. Đây là một hoạt động thường
xuyên của các bọn quan họ kết bạn với nhau, được chuẩn bị chu đáo, trang nhã, lịch
thiệp. Canh hát sẽ kéo dài đến gần sáng hai bọn quan họ mới lưu luyến giã bạn
(chia tay) ra về. Trong suốt canh hát, hai bọn nam nữ trao nhau những câu hát
giao duyên đầy chất văn học: “Dù ai cho bạc cho vàng; Chẳng bằng trông thấy
mặt chàng hôm nay”;“Ngày thì luống những âm thầm; Đêm nằm ít cũng tám, chín, mười
lần chiêm bao”. Nương và những liền anh, liền chị khác ở làng Diềm say mê và
yêu Quan họ hết mình, không quản khó nhọc, như đúng tên những bài quan họ cổ:
“Chơi cho nước Hán sang Hồ”, “Chơi cho hòn đá nảy mầm”. Sau giờ làm đồng là
Nương lại tất tả thu xếp việc nhà, sửa soạn để sang nhà cụ Thị, một bà “trùm”,
đứng đầu bọn quan họ, để học hát, học giao tiếp, nói năng.
Bức tranh thứ hai: Sài Gòn, thế kỷ 21. Vân là một sinh viên đại
học vừa trở về từ một chuyến phượt Đà Lạt với nhóm bạn. Tình hình đi chơi Đà Lạt
của Vân mỗi ngày đều được cô chăm chỉ update (cập nhật) lên facebook cá nhân.
Các bức ảnh được cô chụp khi thì rất nghệ thuật, khi thì là ảnh selfie (tự chụp)
cùng nhiều caption (lời chú thích) mà cô cũng phải nghĩ “nát óc” mới ra, khi
thì hài hước, khi thì “deep deep” lấy từ cách trích dẫn trong sách, lời những
người nổi tiếng. Như thế đã xong đâu, rồi còn phải trả lời các bình luận của bạn
bè thật đầy đủ, vui vẻ, hài hước (cũng lại phải suy nghĩ nhiều khi “nát óc”).
Thỉnh thoảng nếu có suy tư gì thì cô sẽ viết note... Cô còn chăm chỉ lướt
newsfeed để like, love, bình luận các post của bạn bè mình, cả thân thiết lẫn
xã giao.
Các bạn thấy điểm chung gì giữa hai bức tranh, hai cuộc chơi
này - “chơi Quan họ” và “chơi facebook”? Rằng “nghề chơi cũng lắm công phu”
đúng không? Và còn một điểm chung nữa không kém phần bất ngờ: Nương và Vân, bằng
những hoạt động của mình đang tham dự vào một nền văn hóa dân gian của thời đại
mình đang sống, nếu chúng ta hiểu văn hóa dân gian (folk culture/ folklore)
theo một định nghĩa rất rộng rãi và cởi mở ngày nay của giới nghiên cứu trên thế
giới: văn hóa truyền thống và phi chính thống; văn hóa được con người học tập bằng
đường truyền miệng hoặc cách quan sát, hơn là từ những tổ chức chính thống như
trường học hay phương tiện truyền thông.
Trong thói quen suy nghĩ của chúng ta, văn hóa dân gian thường
gắn với những gì xưa cũ thuộc thế hệ ông bà, cha mẹ chúng ta: những câu chuyện
cổ tích bà kể, lời hát ru, những ngày hội làng, những phong tục truyền thống
như ca hát Quan họ, hát Trống quân, hát ví dặm... Nếu nghĩ thế thì chúng ta có
một nền văn hóa dân gian lụi tàn chăng, khi ngày nay hiếm ai hát ru những bài à
ơi ví dầu cho trẻ con ngủ, hay trẻ con đô thị cũng ít khi được nghe bà kể “Tấm
Cám”, “Thạch Sanh”. Và các sinh hoạt ca hát như Quan họ cổ truyền, dù được
UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” đi nữa,
thì khả năng chúng ta được dự một buổi Quan họ truyền thống như trong miêu tả
trên là 0%. Những gì chúng ta thấy trên truyền hình thực chất là một dạng thức
quan họ sân khấu có kịch bản, được sắp đặt, có nhạc đệm, khác xa với Quan họ
truyền thống vốn đầy ngẫu hứng, không có kịch bản, không cần nhạc đệm vì tự
thân nó đã là một dàn nhạc tổng hợp.
Tuy nhiên, nếu chúng ta quan niệm văn hóa dân gian như một không
gian văn hóa truyền thống, phi chính thống, linh hoạt và tương thích với từng
thời đại, thì sẽ không có gì là xộc xệch nếu chúng ta xếp mạng xã hội hay môi
trường Internet đương đại vào khung văn hóa dân gian cả. Giới trẻ ngày nay
không ý thức rằng họ đang dự phần vào một môi trường văn hóa dân gian đầy sức sống
như vậy. Chúng ta đã quen thuộc với những câu ca dao truyền thống, trong đó
tính truyền thống thể hiện qua sự rập khuôn theo một motip/ công thức có sẵn và
sự sáng tạo cá nhân thể hiện qua những dị bản hết sức đa dạng: “Thân em
như giếng giữa đàng/ Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân”; “Thân em như miếng
cau khô/ Kẻ thanh tham mỏng người thô tham dày”. Ngày nay, chúng ta dễ dàng bắt
gặp những cách diễn đạt như vậy trong giao tiếp và biểu đạt trên mạng, được cộng
vào đó tính hài hước của một nền văn hóa trẻ trung: “Chỉ có đàn ông mới
mang lại hạnh phúc cho nhau”, “Chỉ có phụ nữ mới mang lại hạnh phúc cho nhau”
hay “Người yêu không có nhưng chó phải có một con”, “Người yêu không có nhưng bạn
thân phải có một đứa”. Chẳng ai biết tác giả những câu nói trên chính xác là ai
(tính vô danh); chỉ thấy người ta nói thì mình nói theo mà thôi (học tập thông
qua quan sát)!
Không có sự giao tiếp mặt đối mặt ư? Không sao, đã có một kho
những biểu tượng cảm xúc (emoticons), những hình động, những từ viết tắt (lol,
kaka, hehe, ahihi, ahuhu) để tăng tính biểu cảm chính xác cho giao tiếp trên mạng.
Sự biểu đạt thời đại kỹ thuật số có sự hỗ trợ đắc lực của ngôn ngữ, hình ảnh và
âm thanh, những phần mềm cắt, ghép, chỉnh sửa ảnh, những app để “sáng tạo” ra một
câu chuyện cho riêng mình như “text-story” (các câu chuyện thông qua tin nhắn
qua lại giữa các nhân vật với nhau) với những công thức quen thuộc. Gây hứng
thú trên mạng còn có các Internet meme (thường gọi là “ảnh dìm”, hình troll), sử
dụng các nhân vật quen thuộc như Doraemon, Bạch Tuyết, Tổng thống Trump, Obama,
“Cô giáo bọ cạp” rồi lắp ghép vào có các câu châm ngôn hài hước theo một công
thức nào đó được biến tấu lại.
Không phải ngẫu nghiên mà người ta gọi thế giới ngày nay là một
“global village” (ngôi làng toàn cầu) với sự phát triển như vũ bão của truyền
thông, Internet, mạng xã hội. Tất cả những hào nhoáng, “kĩ thuật cao” đó cũng
không che giấu được tính chất “village” (làng xã) của nó. Có một đời sống trên mạng
xã hội đang vận động theo những tin đồn, những kinh nghiệm cá nhân, thậm chí những
trò mê tín. Gần đến mùa thi, tôi lại bắt gặp các bạn sinh viên share hình ảnh
những thần thìa, thần muỗng, thần trứng, thần bát, thần ếch, thần bóng rổ (?!)
để mong vượt qua kỳ thi. Ngày xưa nếu gặp chuyện thị phi gì đó thì “bỏ làng/ bỏ
xứ mà đi” ư? Ngày nay nếu lỡ mắc scandal nào đó trên mạng thì cứ cắt hộ khẩu
facebook hay không dùng facebook nữa!
Thế còn ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, áo dài, những làng
nghề truyền thống, Hội Gióng và Giỗ tổ Hùng Vương?
Tất
nhiên, đó vẫn là những di sản tinh thần quan trọng của người Việt Nam, đã kiến
tạo nên tất cả chúng ta ngày hôm nay. Đoạn tuyệt với lịch sử, với truyền thống
sẽ tạo nên những công dân bơ vơ, mất ý thức về bản sắc - điều tạo nên căn cước
của một chúng ta trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa. Tuy nhiên khăng khăng
hiểu truyền thống như những giá trị cố định, tĩnh tại, bảo tồn truyền thống cực
đoan bất chấp những đổi thay về thời đại, không gian văn hóa, thị hiếu thẫm mĩ
chắc chắn sẽ dẫn đến những thất bại nhãn tiền: cồng chiêng Tây Nguyên chơ vơ
ngơ ngác khi không gian rừng thiêng của lễ hội làng - nơi tiếng cồng, tiếng
chiêng là sự giao tiếp giữa con người với thần linh- không còn nữa mà chỉ còn
“diễn” để phục vụ khách du lịch; những liền anh liền chị Quan họ đứng cầm micro
hát trên thuyền ngả nón xin tiền du khách tạo thành một khung cảnh phản cảm và
đau đớn.
Thomas Morus (tác giả cuốn Utopie, 1478-1535) từng viết: “Truyền
thống không có nghĩa gìn giữ đống tro, Mà là chuyển tiếp ngọn lửa”. Rất
nhiều người trẻ Việt Nam đã đón lấy ngọn lửa truyền thống đó và nhen nó lên giữa
thế kỷ 20.
Hãy nhìn cánh cò của ngày xưa “Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống
ao” đã bay vào âm nhạc đương đại qua sáng tác của nhạc sĩ trẻ Lưu Hà An - quán
quân “Bài hát Việt 2007” gây rưng rưng lòng người:
“Kìa có cơn giông ập đến rồi
Sấm đầu mùa rụng vang trời
Đón cơn mưa đầu tiên về
Để ngày mai
Tìm đàn cò trắng ở đầu vượt gió sải rộng cánh bay bay về phía
chân trời
Bầu trời rộng lớn, lòng người rộng lắm
Đàn cò vút lên, bay về phía mặt trời
Để sáng nay khi mặt trời thức giấc lại khát khao bay lên lại
bay lên”
(“Con cò”, nhạc sĩ Lưu Hà An)
Tôi còn biết một nhóm bạn trẻ ở Hà Nội đang thực hiện một dự
án trên mạng xã hội tên là “Thủ phất thanh đài” (Under the Green Moss). Tên gọi
thi vị của dự án này xuất phát từ một câu thơ của Nguyễn Trãi - “Tay phủi rêu
xanh xem bia cổ”, nói lên mục đích của các bạn là mang lịch sử và văn hóa Việt
Nam - vốn đang bị che phủ bởi một lớp rêu của thời gian, trở nên gần gũi với mọi
người thông qua các phim ngắn và sản phẩm sáng tạo. Những MV của nhóm như “Bèo
dạt mây trôi”, “Mười nhớ” với những nét vẽ lãng mạn, hiện đại và cổ điển khiến
những ca khúc dân ca trở nên rất “duyên” và dễ tiếp cận với người trẻ qua cách
phối nhạc đương đại, nền nã. Tình yêu nào với truyền thống thoát thai và mềm dẻo
như thế.
Ở một góc khác lặng thầm hơn mà sức công phá có thể khiến
chúng ta sững sờ là những nhà nghiên cứu trẻ đang làm công việc khám phá, phục
dựng chiều sâu của tâm thức dân gian. Thế kỷ 20, chúng ta đã có một thế hệ những
nhà nghiên cứu văn hóa gạo cội, tài hoa, uyên bác như Đào Duy Anh, Nguyễn Văn
Huyên, Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Đổng Chi… đã bất chấp những điều kiện khó khăn của
chiến tranh để đặt những nền móng đầu tiên của nghiên cứu văn hóa dân gian. Đến
đầu thế kỷ 21, tuy vấp phải những khó khăn của việc đối tượng truyền thống đã
cách khá xa thời đại của mình đang sống, nhưng lại được trang bị những lý thuyết
đương đại của thời đại mới, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian trẻ đã có những
đóng góp thực tiễn trong công cuộc “hiểu về truyền thống”. Tôi muốn kể đến một
trường hợp của nhà nghiên cứu trẻ sinh năm 1983 Nguyễn Mạnh Tiến và tác phẩm
“Những đỉnh núi du ca - Một lối tìm về cá tính H’Mông” đoạt giải Sách hay 2015
của Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục (IRED) và Quỹ Phan Châu Trinh. Những bước
chân thực địa đi về miền núi đá Đồng Văn và những thao tác dân tộc học thận trọng,
khoa học đã giúp tác giả tái khám phá kho tàng văn học truyền thống của người
H’Mông - tiếng hát mồ côi, tiếng hát làm dâu, tiếng hát cưới xin và tình yêu với
những chiều kích và vỉa tầng ý nghĩa rất khác; qua đó dựng nên cấu trúc tâm lý
tộc người H’ Mông, trong một nỗ lực “thấu hiểu tộc người” tuyệt vời. Tôi đã thực
sự ngỡ ngàng với những trang viết tài hoa, triết lý, khoa học của Tiến - những
trang viết đã dắt tôi qua những những lễ hội mùa xuân, những chợ tình, những
phong tục kéo/ bắt/ cướp dâu, “phong tục”… tự vẫn bằng lá ngón, khiến tôi dậy
lên niềm yêu lạ lùng với một tộc người trên dải đất Viết Nam mà trước nay tôi
chưa hình dung đến sự quyết liệt, nổi loạn, tự do và mơ mộng của họ, đã nuôi dưỡng
một nền văn hóa cá tính, độc đáo như thế nào trên những đỉnh núi cao mù sương
kia.
Với những trường hợp như Tiến, ai có thể nói người trẻ không yêu mến văn hóa dân gian? Tình yêu đó được cụ thể hóa bằng những chuyến thực địa dài ngày dù đồng lương nghiên cứu viên còm cõi, bằng công cuộc truy tầm sách vở, bằng những nghĩ ngợi miên man và công cuộc viết-học-viết như Tiến và các nhà nghiên cứu trẻ khác đang làm, có khiến chúng ta bớt bi quan về chủ đề “Người trẻ và văn hóa dân gian” chăng?
Với những trường hợp như Tiến, ai có thể nói người trẻ không yêu mến văn hóa dân gian? Tình yêu đó được cụ thể hóa bằng những chuyến thực địa dài ngày dù đồng lương nghiên cứu viên còm cõi, bằng công cuộc truy tầm sách vở, bằng những nghĩ ngợi miên man và công cuộc viết-học-viết như Tiến và các nhà nghiên cứu trẻ khác đang làm, có khiến chúng ta bớt bi quan về chủ đề “Người trẻ và văn hóa dân gian” chăng?
“Còn trời, còn nước, còn non/ Còn tôi, còn bạn thì
còn…online”
Câu ca dao “chế” trên, vô tình thế nào, trùng hợp với lời
tuyên bố “xanh rờn” của Alan Dundes - nhà nghiên cứu văn hóa dân gian hàng đầu
của Mĩ: “Nơi nào có con người, có sự giao tiếp thì có folklore (văn hóa dân
gian)!”. Nói như thế thì cũng có nghĩa folklore là… “trường sinh bất lão”. “Bất
lão” bởi vì làm sao văn hóa dân gian có thể “già” được khi đặc trưng thì của nó
là sự tếu táo, là hài hước, tự do, thậm chí… nổi loạn. Các đặc trưng đó lại
trùng hợp với những đặc trưng của “giới trẻ” - cái trẻ không nằm ở tuổi tác mà
còn nằm ở … tâm hồn và tinh thần không chịu được sự ngưng đọng, đứng yên. Nên
như một quy luật, giới trẻ sẽ tìm đến văn hóa dân gian, sẽ sáng tạo ra văn hóa
dân gian của thời đại mình, sẽ tự giác “đào xới” những di sản mà họ cảm thấy
thiết thân, “dan díu” đến vận mệnh và thân phận của mình. Nên lo thì cứ lo, mà
mong đợi thì cũng thật là mong đợi vậy!.
Chú thích ảnh: Một Internet Meme theo công thức "X all
the Y" - một hình thức folklore thời đại kỹ thuật số của giới trẻ.
Lê Thị Thanh
Vy
Nguồn: Nhiều tác giả, Người trẻ thời 4.0
Uy quyền lộng
lẫy, NXB Văn hóa - Văn nghệ, 2019, tr.18-25.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét