Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

Cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến 2010 - Phần 3

Cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn 
Việt Nam từ 1986 đến 2010 - Phần 3
4.3. Các biểu tượng hiện sinh 
Biểu tượng nghệ thuật được xem là ký hiệu thẩm mỹ đa nghĩa, là sự mã hóa cảm xúc, ý tưởng của nhà văn. Biểu tượng mang trong mình bản chất ký hiệu nhưng lại khác với các ký hiệu thông thường ở chỗ nó tích đọng trong mình những ý nghĩa sâu sắc, được cộng đồng giai cấp, dân tộc, nhân loại thừa nhận, nó luôn hướng về một nghĩa cố định nào đó, nhưng đồng thời lại tiềm ẩn khả năng mở ra những ý nghĩa khác trong sự cảm nhận của con người. 
Biểu tượng nghệ thuật không hề chết cứng qua thời gian mà luôn có xu hướng tái sinh về mặt ý nghĩa, cho dẫu thời đại phát sinh nó không cùng hiện hữu. Điều này là bởi ngoài môi trường thời đại, biểu tượng nghệ thuật còn tồn tại trong một môi trường không bao giờ mất đi: chỉnh thể tác phẩm. Những nét nghĩa truyền thống là mẫu số chung nhưng không hoàn kết, cũng có nghĩa là biểu tượng nghệ thuật luôn luôn có xu hướng cách tân. 
Trong dòng chảy hiện sinh, văn chương đã kịp cấp thêm nét nghĩa mới cho những biểu tượng cũ đồng thời cũng khởi tạo ra những biểu tượng mới. Những biểu tượng này được sử dụng như một ẩn dụ cho trạng thái tinh thần của con người hiện sinh. Có thể tạm thời quy chúng về hai nhóm cơ bản: Nhóm biểu tượng địa điểm và nhóm biểu tượng tự nhiên và tâm linh. 
4.3.1. Nhóm biểu tượng địa điểm 
Theo các triết gia hiện sinh, “sống trên đời, con người không có một điểm tựa nào cả, hoặc một sự cứu giúp nào cả, con người bị lên án từng giây từng phút là phải sáng tạo ra con người” [53, tr.29]. S.Kierkegaard phát biểu: “Hãy chọn lấy chính mình”. F.Nietzsche tuyên bố hùng hồn: “Hãy luôn luôn trở nên chính mình”. J.P.Sartre xem “con người là dự tính, project của mình và tự mình tạo ra mình” [53, tr. 9]. Những câu nói được các nhà nghiên cứu phương Tây rất tâm đắc này thực chất đều nhấn mạnh và đề cao khả năng tự quyết của mỗi con người. 
Nếu chúng ta thừa nhận rằng con người đích thực phải là một hữu thể không ngừng vươn vượt đến các giá trị hiện sinh thì tâm lý tự quyết và dấn thân/hành trình là một dạng thức tâm lý hiện sinh quan trọng. Dấn thân là thái độ sống tất yếu của hữu thể nhằm vươn lên mãi trong nỗ lực hiện sinh. Hiệu lực kích khởi của thuyết hiện sinh chính là ở đây, khi nó làm sống dậy ở con người ý thức hướng lai rõ nét. Liên quan đến kiểu sống mang ý hướng hành động này là những biểu tượng gắn với hành trình như con đường, cầu thang, bến cảng, sân ga, v.v... Đây là những không gian, địa điểm quen thuộc mà từ đó con người khởi đi cuộc hành trình của mình, cũng là những miền khát vọng đón con người tìm đến. Xuất phát từ hai tầng ý nghĩa này mà các nhà hiện sinh thường có khuynh hướng viết về chúng như viết những cuộc dấn thân miệt mài của đời người. 
Ở góc nhìn thứ nhất, những biểu tượng này mang màu sắc tươi mới của khát vọng, của sự hăm hở kiếm tìm, chẳng hạn như chuyến phà trong Biển ấm (Nguyễn Thị Thu Huệ), con đường trong Lãng du (Tạ Duy Anh), tân cảng, sân bay trong truyện ngắn Tân cảng (Nguyễn Thị Thu Huệ), đường ra biển của Chương trong Con gái thủy thần (Nguyễn Huy Thiệp), v.v... Cô gái - cô bé tuổi hai mươi - đã hăm hở biết bao trên chuyến phà định mệnh của đời mình - chuyến phà đưa cô đến với miền đất và cả tình yêu đầu mới mẻ vĩnh viễn không thể nào quên trong đời (Biển ấm). Chuyến đi ấy bắt đầu từ một bức thư: “Đến với bọn anh đi. Rừng núi và sông nước sẽ đón em. Bé tí ơi, đi một ngày ra khỏi nhà là bé có bao nhiêu thứ để sống có ích. Bọn anh ở đây có hôm quên ngủ vì cuộc sống tuyệt vời quá. Ngủ thấy tiếc lắm…”. Cặp tình nhân trong Lãng du quyết tâm đi đến tận cùng con đường để tìm lại nguồn suối mát đã khắc dấu vào tuổi thơ. Con đường ấy gần như đã khiến họ nản lòng bởi vẻ xấu xí hoang tàn của nó: “Cái thiên đường ngày xưa biến đâu mất hay rút cục chẳng có bất cứ miền đất nào như anh tưởng đến… Những thơ mộng, dịu dàng, mê đắm vẫn hoàn toàn vắng bóng, thay vào đó là sự cằn cỗi, hoang tàn, xấu xí. Xấu xí đến phát điên lên được”. Anh thậm chí đã nghĩ đến chuyện quay lại, nhưng chính câu nói của nàng đã khiến cả hai bình tâm tiếp tục cuộc hành trình: “Em cần đến tận nơi chứ không bỏ cuộc giữa chừng”. Điều quan trọng là ý chí chứ không hẳn là kết quả cuối cùng. Chính nhờ cái bướng bỉnh đó của nàng, những nỗ lực của họ đã được đền đáp ở chặng cuối con đường: cuộc hành trình đã viên mãn trong niềm hạnh phúc dâng đầy khi lại được đắm mình trong miền ký ức tươi đẹp gần như còn hiện hữu nguyên vẹn. Cũng với niềm tin đó, ý chí đó, người phụ nữ cô đơn trong Tân cảng quyết tâm đi tìm cuộc sống mới cho mình - một cuộc sống thực sự sôi động, rộn rã như đã thấy ở tân cảng “suốt ngày đêm tàu ra vào tấp nập” chứ không phải là cuộc sống tĩnh lặng, bất động như lâu nay chị và rất nhiều người khác đang bị chôn vùi trong đó. Nhân vật “tôi” trong Chảy đi sông ơi khao khát kiếm tìm để chứng thực giấc mơ về con trâu đen huyền thoại nên liều bước chân lên đò. Chuyến đò với một bụng nước đầy do đò chìm là chuyến đi nhớ đời của cậu bé nhưng cũng là cái giá xứng đáng phải trả khi người ta đi tìm khát vọng của mình. Cũng thế, Chương (Con gái thủy thần) cương quyết bỏ lại sau lưng mình tất cả những gì giăng mắc để lên đường mà nguyên nhân chính yếu là không muốn mình chết dần chết mòn trong những cảnh sống nhàm chán, đơn điệu: “Tôi không trả lời, tôi vụt ra ngõ như chạy. Tôi biết nếu tôi dừng lại lúc này thì tôi sẽ không bao giờ đi nữa. Tôi sẽ quay lại công việc của mười năm trước; tôi sẽ cứ thế cho đến rốt đời: sáng đi cày, chiều đào đá ong, tối lột giang đan mũ. Tôi kéo mòn kiếp sống của tôi như thế. Như thể bố tôi, như ông Nhiêu, như ông Hai Thìn, như những người dân hiền lành lam lũ ở quê tôi”. 
Những cuộc ra đi này không cho phép con người chần chừ lùi bước, không cho phép họ làm kẻ hèn nhát. Hoàn cảnh để con người vượt thoát dường như luôn sẵn sàng, con đường ở ngay trước mắt, thuyền đã nhổ neo, máy bay chuẩn bị cất cánh… 
“Cảm ơn em! Cưng ạ! Nhưng chị không thể ở lại được nữa. Thuyền đã nhổ neo và cứ phải đi” [106, tr.124]. 
“Vâng, ngày mai tôi sẽ ra đi, tôi sẽ tìm, sẽ làm một việc gì đó từ khả năng mình chứ không thể trông mãi vào lộc trời. Tôi sẽ ra đi, ra đi là để tìm một con đường về” (Lộc trời - Nguyễn Thế Hùng). 
Chính trong loạt biểu tượng này, ý niệm về dấn thân và tự quyết của tư tưởng hiện sinh được thể hiện rõ nét. Các nhà hiện sinh kêu gọi con người tự làm nên giá trị của chính mình, cho dẫu vì thế mà họ phải gánh lấy nỗi đau, phải trả giá, thậm chí cho dẫu biết ở phía trước có thể là vực thẳm. Trong Hiện sinh, một nhân bản thuyết (Thụ Nhân dịch), J. P. Sartre đã dẫn ra 12 luận đề chính của tư tưởng hiện sinh (theo quan điểm của E. Mounier) trong đó có ý niệm về “sự nhảy vọt của con người”, theo đó, con người phải nỗ lực tuyệt đỉnh để tạo nên cuộc đời của mình bằng cách tiến vượt, nhảy vọt, hàng giây, hàng phút, mặc dầu là nhảy vọt vào hư vô. Hiểu theo nghĩa này, “con đường” đôi khi không phải là những lối dọc ngang có thật trên mặt đất này mà chỉ là con đường người hiện sinh tự vạch ra cho chính mình. Con đường ấy tượng hình cho lối sống, lối suy nghĩ khác biệt và độc đáo: “Đừng bao giờ chấp nhận những đề nghị người khác đưa ra mà cứ chủ động quyết định theo ý mình. Đó là kết luận của tôi… Với tôi, tất cả chẳng là gì hết. Ai muốn nói gì là việc của họ, tôi không quan tâm. Điều tôi muốn tôi đã làm được… Đó là cách hay nhất tôi trả lời với lũ đàn ông quen biết vẫn thản nhiên giãy tôi ra sau khi đã tha hồ tận hưởng, là cách mà tôi bước đi trong cuộc đời này, theo kiểu của mình” [127, tr.79]. 
Và cũng có thể nói, “hiện sinh đã đặt toàn thể thân phận con người trong một cảnh khổ tuyệt vọng, rồi đào bới tất cả những khả năng tự tạo của con người đã có, để bắt buộc đem ra thi hành, nhưng bất cứ cuộc ứng dụng nào cũng đem lại kết luận là thảm bại. Tâm thức của con người đang bị những đường roi hiện sinh quất xuống rất mạnh…Ý thức của con người không được an nghỉ nữa. Phải vùng lên để tự thăng hóa…” [57, tr.12]. 
Cũng theo quan điểm hiện sinh, cuộc đời của con người từ lúc cất tiếng khóc chào đời cho đến ngày từ biệt cõi thế là một cuộc hành trình nhọc nhằn thực sự, ở đó, con người thường được ví như người lữ hành oằn vai với những gánh nặng của mình: 
“Bất giác hắn thấy mình là kẻ lữ hành mang trên đôi vai gánh nặng của kẻ khác. Cô độc" (Đi về miền ấm áp - Dương Bình Nguyên). Cũng chính từ đây, bên cạnh ý nghĩa kích khởi, nhóm biểu tượng địa điểm có khi lại thể hiện sự quẩn quanh, cùng khốn của kiếp người, sự bế tắc, bất lực trước số phận như hình ảnh con đường, cầu thang, cánh buồm trong các truyện ngắn Một trăm linh tám cây bằng lăng, Cầu thang và Nước mắt đàn ông của Nguyễn Thị Thu Huệ. Nếu ví cánh buồm như là biểu tượng cho tình yêu, niềm tin và khát vọng của con người thì nhiều khi đó chỉ là cánh buồm đỏ chao đảo giữa mặt hồ dậy sóng: “Mặt hồ nổi sóng. Đất trời bao la hùng vĩ. Vắng ngắt. 
Đơn độc một cánh buồm đỏ của cậu cháu tôi”. Trong thiên diễm tình Tristan và Yseult, Tristan trút hơi thở cuối cùng vì ngỡ rằng sự xuất hiện của cánh buồm đen trên mặt biển cũng có nghĩa là mãi mãi chàng không thể gặp lại người yêu. Cánh buồm trong truyện ngắn của Thu Huệ không phải là cánh buồm đen mang tin dữ như trong tình sử, nhưng cho dẫu là cánh buồm đỏ chăng nữa thì liệu rằng nó có đến được bến bờ trong một buổi chiều giông gió như vậy? Cũng như cô bé bướng bỉnh trong Vườn yêu (Võ Thị Hảo) đã hơn một lần nhìn trời và tự hỏi: Một đám mây trắng viền màu đồng cỏ đang cuộn tròn lại rồi thoắt tãi ra thành hình cánh buồm rách trôi vụt ngang trời. “Sao lại buồm rách nhỉ? Buồm rách có tới bến được không?” [107, tr.167]. 
Trong Cầu thang (Nguyễn Thị Thu Huệ), 7 tầng thang bộ và 68 bậc thang gỗ suy cho cùng chỉ là những nẻo đường khác nhau của đời người để tìm đến với sự nghiệp hay tình yêu nhưng thảy đều khó khăn, đều chán nản và quẩn quanh đầy khiếp hãi như nhau. Nếu không thế, Trân đã không than thở: “Lại những bậc cầu thang. Chỉ lên hay xuống quanh quẩn trong một ngày, một tháng, một năm và một đời người. Leo lên thì khó. Càng cao càng chậm. Mà xuống thì nhanh quá” [110, tr. 312]. Những bậc cầu thang cũng còn mang nét nghĩa biểu trưng cho những thói quen đang ăn mòn tính cách con người. Thói quen vô cùng nguy hiểm bởi nó dẫn ta đến nguy cơ tha hóa. Ngày nào Trân cũng leo 68 bậc cầu thang để đến với người yêu, một công việc chán ngán đến mức độ phi lý bởi chính cô cũng không chắc mình làm tất cả những điều đó để làm gì. 
Con đường đôi khi cũng là biểu tượng nói lên tính chất bi đát, nỗi khắc khoải của đời người. Không phải con đường nào cũng đến đích, không phải con dốc nào cũng dễ dàng vượt qua. Có những con đường quẩn quanh như lối cụt, những con dốc dài không đầu không cuối: 
"Anh nhìn những con đường mình đi, thấy chúng chỉ là những cái rãnh người ta xẻ ra dưới gầm trời này, càng đi càng lún sâu dần" (Thiên di - Dương Bình Nguyên). 
"Gã nhìn lên những con dốc, thấy sức mình có hạn mà dốc sao quá dài" (Đi về miền ấm áp - Dương Bình Nguyên). 
“Chị cay đắng sau lần thứ năm đi dọc phố một trăm linh tám cây bằng lăng để quyết định lên xe về nhà khi nhận ra những điều nhỏ nhoi nhất là nếu có đi thế này mãi cũng chẳng có ai chờ chị ở cuối đường” [110, tr.181]. 
Một cặp biểu tượng sóng đôi vẫn thường gặp là dòng sông/ con thuyền mang nét nghĩa biểu trưng cho dòng đời mênh mông với vô vàn những cuộc ra đi - trở về. Trong Tiếng gọi cuối mùa đông (Nguyễn Quang Thiều), dòng sông là nơi bắt đầu một câu chuyện tình đẹp, nơi con thuyền rước dâu trong tưởng tượng ra đi, xuôi về biển lớn. Nhưng dòng sông cũng là nơi mà từ đó, Thùy quyết định trở về. Đã bao lần Thùy và Đán cùng nhau xuôi thuyền trên sông, mơ đến đám cưới rước dâu bằng một trăm chiếc đò ngang. Đám cưới đẹp ấy mãi mãi là lời hứa bởi sau đó, Đán hy sinh, Thùy một mình sinh con, nuôi con. Nhưng dòng sông kỷ niệm vẫn thao thiết chảy trong tâm trí. Đã có lúc, Thùy muốn được cùng Đán nằm trên cùng một chiếc thuyền ôm nhau ngủ vĩnh viễn, con thuyền sẽ trôi theo sông ra biển. Nhưng rồi, có những đêm, chị nghe như có tiếng gọi âm thầm mà đau khổ - tiếng gọi của dòng sông. Trong không khí mùa xuân đang về, Thùy quyết định đưa con về với mẹ của Đán ở bên kia sông. 
Trong Chảy đi sông ơi (Nguyễn Huy Thiệp), dòng sông gắn liền với kỉ niệm tuổi ấu thơ, với truyền thuyết đậm tính huyễn hoặc về con trâu đen. Từ dòng sông ấy, nhân vật tôi đã ra đi, theo đuổi những điều phù du, để đến khi trở về chợt nhận ra cuộc đời vô nghĩa biết bao. Người tốt không được phù trợ, giấc mơ về con trâu đen có thể mang lại sức mạnh phi thường cũng đã nhạt phai. Dòng sông vẫn thao thiết chảy, tê tái tiếng hát: Chảy đi sông ơi/ Băn khoăn làm gì?/ Rồi sông đãi hết/ Anh hùng còn chi?...
4.3.2. Nhóm biểu tượng tự nhiên và tâm linh 
Một nghịch lý, hay đúng hơn, một bi kịch của đời người chính ở chỗ khoảng thời gian Tạo hóa ân tặng con người dường như lại quá ngắn ngủi, đến độ con người chưa kịp đi trọn kiếp “mang gánh” của mình đã thấy mình ở bên kia con dốc. Các nhà hiện sinh xem đời sống con người là mong manh, vô định, là ngẫu nhiên, tình cờ, là một sự phi lý. Trong những quan điểm của E.Mounier được J.P. Sartre giới thiệu trong công trình Hiện sinh một nhân bản thuyết có mệnh đề Đời người có giới hạn, thần chết lại vội vã, tức sự thật đầy bi đát của cuộc sống đó là sinh ra để rồi chết đi. Và nếu như thế, nếu cuộc sống đã phi lý ngay tự thuở sinh ra thì hóa ra kiếp sống của con người cũng chỉ là sống tạm, sống nhờ để cố gắng thực hiện trọn vẹn những mục đích sống của mình. Con người thực sự đã nhận biết rằng ngày tháng biến vào dĩ vãng như chìm vào một hư vô, rằng lịch sử trôi trên một dòng vô tận, và chính vì thế, con người cũng nhận ra tính chất tạm thời, phù ảo của cuộc đời. Điều này lý giải vì sao văn chương hiện sinh hay mượn đến những hình ảnh mang tính mong manh, vô định, chóng lụi tàn để ám chỉ thân phận con người như kiếp con vờ, kiếp ve sầu, hạt bụi…
Trong Khăn choàng sương (Võ Thị Hảo), ông Tần tự nhận mình là “kiếp ve sầu”, mê mải phiêu lưu với những khúc ca của mình đến quên cả thực tế cuộc đời. Đời không biệt đãi những người như ông: “Đời thật chó! Tôi muốn sinh con với hai người đàn bà kia thì không có mà lại có với cô. Khổ thân con tôi. Tôi là một thằng đàn ông sống kiếp ve sầu, không có mấy ngày tỉnh táo để còn nuôi nó” [108, tr.97]. Cũng vậy, Phượng - người tình của ông Tần chua chát triết lý về cuộc đời của mình: “Em sinh ra để sống kiếp con vờ, biết rằng đời chỉ là một ngày nắng nhạt nên cố công tận hưởng lúc ban trưa mà thôi. 
Dù là kiếp con vờ hay kiếp ve sầu thì điểm chung của họ là nhận thức được đời phi lý và ngắn ngủi nên sống hết mình và cũng cháy hết mình. Bởi cuối cùng cát bụi rồi cũng sẽ lại trở về với cát bụi… Đã trót sinh ra kiếp người hầu như ai cũng đã đoán định về chung cục của mình. Nên sống hay chết họ cũng xem mình là thân cát bụi, đến rồi đi, không lưu luyến, chỉ thấy miên man một nỗi sầu lạc lối giữa trùng điệp cuộc đời. Dương Bình Nguyên, Võ Thị Hảo, Dạ Ngân đều chịu ảnh hưởng của cảm thức này trong một số truyện ngắn của mình khi ví con người như hạt cát, hạt bụi, hạt cải, v.v... Trong số đó, “hạt bụi” được sử dụng khá phổ biến như biểu tượng cho kiếp sống lang thang, mong manh vô định của con người: 
Với đôi thùng gánh nước, cứ thế, “bà Diễm đi trong đời như kẻ mộng du và rồi có lẽ với cung cách mộng du ấy bà sẽ lặng lẽ đi xuống mồ, như một hạt bụi tan biến vào không gian chẳng để lại mảy may dấu vết” [106, tr.88]. 
"Nhưng tôi đã quăng quật cuộc đời mình, để cuối cùng, tôi chỉ còn lại vùng quá khứ mà tôi cố gắng đến tuyệt vọng nhằm chối bỏ và cắt lìa. Khi trắng tay mới hay mình như hạt cải lạc loài, mọc hoang trên cát, mải mê đi cùng cát. Và cát đam mê đã cuốn tôi lẫn nhòa vào với suối sông…" (Cải lạc loài - Dương Bình Nguyên). 
“Thế là không sao lần ra dấu vết của hạt bụi ấy, của hạt bụi đã từng rơi vào mắt tôi cam phận trong bóng tối và thỉnh thoảng làm tôi đau xốn mà không dứt ra được. Một hạt bụi, phải, gió máy và năm tháng, một hạt bụi sứt sẹo như thế thì chống chọi thế nào và đã bị cuốn tận đẩu tận đâu, làm sao biết được lần ra được mà tìm!” [114, tr.56]. Khái niệm “bị lưu đày” là một cách nói khác về thân phận con người mà các nhà văn thường sử dụng. Dạ Ngân viết: “Chúng ta đang tự đày mình” (Khoang tàu chật quá). Tạ Duy Anh thương xót cho kiếp làm người của Khùng, “sinh ra đã bị lưu đày” (Thi tuyển Khùng). Mạc Can ví von: “thời gian sống dài ra như án tù khổ sai” (Hè muộn). 
Trời không đày đọa ai, chỉ là chính con người tự lưu đày mình với những trách nhiệm, nghĩa vụ và những giới hạn. Và cũng chính con người chứ không ai khác, tự sinh tạo nên cái gọi là số phận của chính mình: “Cháu thấy đấy, thế thời không bỏ sót một ai, vì vậy, dưới sức nặng của bánh xe mới sinh ra cái gọi là số phận” [114, tr.19]. 
Một số hiện tượng tự nhiên khác như sao, trăng, mặt trời được sử dụng với tần suất thấp hơn, tuy nhiên, chúng vẫn có những giá trị nhất định trong việc kiến tạo không gian hiện sinh.
Nếu trăng gắn liền với những không gian đơn côi, rợn ngợp thì mặt trời và sao lại thường là biểu tượng của một tương lai tươi sáng, tràn đầy tin tưởng: 
“Có những cái đã qua vẫn phải nhắc lại để hiểu giá trị cuộc sống hôm nay và cũng vì cuộc sống hôm nay phải quên đi nhiều thứ đã qua. Lau nước mắt mà nhìn về phía trời kia, một ngôi sao mới lại xuất hiện nữa kìa” (Đêm sao - Lý Lan) 
“Dì kéo tôi lên ban công, chỉ tay về phía vầng mặt trời đỏ ối, đang từ từ nhô lên, lặng lẽ nhưng tự tin: Cháu hiểu không, ngày bao giờ cũng là của mặt trời” (Ngày của mặt trời - Trần Thanh Hà). 
Trong cuộc hiện sinh không có nơi bấu víu nào khác ngoài chính bản thân mình, trong một thời đại “mất Chúa”, những biểu tượng thánh thần đã trở thành ảo tưởng quá đỗi xa vời. Trong Phúc Lộc Thọ lên trời, Võ Thị Hảo đã mượn những biểu tượng tâm linh gần gũi với người Việt Nam để thể hiện nỗi bơ vơ, hoang mang đến tột cùng của con người, khi Phúc Lộc Thọ rốt cục cũng chỉ là những ảo ảnh xa vời. 
Trong cuộc tồn sinh nhọc nhằn và bơ vơ đó, con người oằn lưng với những gánh nặng không tên của mình - cái gánh nặng không thể vứt bỏ, chỉ có thể cứ lặng lẽ mang lấy, như một nghiệp dĩ, như một sự trừng phạt, lại như một cây thánh giá thiêng liêng mà trĩu nặng. Từ phương Tây, cây thánh giá gắn với hình ảnh Chúa Jesus chịu nạn vì loài người đã đến với phương Đông, mang theo ý nghĩa phái sinh là gánh nặng, là nỗi đau, v.v... 
Trong Góa phụ đen và Khăn choàng sương, Võ Thị Hảo đã nhiều lần mượn hình ảnh cây thánh giá làm biểu tượng cho gánh nặng đời người: 
Nàng chỉ thích nếm lại cảm giác vờn một đấng nam nhi để đến khi anh ta bị thôi miên rồi thì lại ngẩng cao đầu, nhón gót bỏ đi không nhìn lại. Như thế, trái tim tật nguyền của nàng được ve vuốt... Thuận không biết vì sao nàng tự khoác lên vai mình sứ mệnh trả thù. Một cây thánh giá nặng nhọc chẳng ai cần đến [108, tr.47]. 
Bích bước bập bỗng theo chiếc quan tài đưa người chồng đã ly thân từ mười ba năm nay. Chiếc thánh giá chị vác trên vai suốt đời giờ đây đã tự đổ xuống đất. Thế mà lúc này, hơn bao giờ hết, chị ước mong chiếc thánh giá đó đứng dậy, xin lại cứ trĩu nặng trên vai chị, xin cứ làm phiền toái chị, còn hơn là sự trống rỗng này [108, tr.98]. Trong nhiều truyện ngắn của mình, Dạ Ngân cũng sử dụng với tần số khá dày đặc hình ảnh cây thánh giá như lời nhắc nhở về gánh nặng mà cuộc hiện sinh đè trĩu lên vai con người: 
“Như được tiếp thêm sức mạnh và cũng hết sức tự nhiên, chị tôi cùng với người đàn ông xốc nách thằng Hớn đi xuống bến, như đang chia nhau cây thánh giá cuối đời” [114, tr. 48]. 
Thảng hoặc, cũng có lúc cây thánh giá bị lật nghiêng, bị đảo ngược để thể hiện sự tan vỡ, sự sụp đổ của một mẫu hình từng là niềm tin, niềm yêu thiêng liêng cao quý: “…nàng thấy chồng khô xác và cứng đanh như một cây thánh giá đổ…” [114, tr. 76]. 
Cây thánh giá còn có thể được nhìn dưới một dạng thức vật chất rất bình thường là cái cọc mà vô tình hay hữu ý người ta đóng đinh vào số phận của một con người như nỗi niềm của đứa con trai trong Nguyên quán (Phạm Ngọc Tiến): “Bà đóng cọc vào số phận y cái số mệnh nghiệt ngã không biết đến bao giờ y mới cởi bỏ được”. 
Hẳn nhiên, xuất phát từ tầng nghĩa gốc, cây thánh giá cũng là biểu tượng của sự tạ tội, sự tự trừng phạt mình. Trong Gã thọt (Tạ Duy Anh), lão Quán ăn năn vì cái tát của mình đã khiến con trai trọn đời bị bệnh thần kinh nên chọn cái chết mang dáng hình cây thánh giá trước mộ con trai: “Lão Quán chết một cách thê thảm bằng cách tự chôn mình, đất lấp vừa đến ngực. Hình như lão định làm cây thánh giá cho con lão” [100, tr. 122]. 
Trong hầu hết mọi trường hợp, biểu tượng cây thánh giá dường như đều gắn liền với nỗi đau ở những dạng thức khác nhau. Jaspers từng nhắc đến những hoàn cảnh giới hạn của đời người là đau khổ, sự chết và tội lỗi. Con người giãy giụa trong đau khổ như cá bơi trong nước. Chúng ta sợ đau khổ và hết sức tránh đau khổ nhưng thân phận làm người của chúng ta lại không bao giờ cho phép ta thoát đau khổ. Cho nên, triết gia khẳng định đó là những giới hạn ghê sợ chặn đứng con người trong hành trình hiện sinh của mình. Nhìn chung, những biểu tượng mà các nhà văn thường sử dụng ít nhiều đều ẩn chứa trong đó những ý vị hiện sinh. Và dù là ám gợi về cuộc đời phi lý, về kiếp người mong manh hay về chuyến hành hương oằn lưng với gánh nặng nhân sinh thì đó cũng đều là những trăn trở, tìm tòi để đến được sâu hơn bản chất của cuộc tồn tại này. 
Tiểu kết: 
Con người hiện sinh trong không gian và thời gian tương thích. Kiểu không gian hiện sinh phổ biến là không gian dài, rộng, xa ngái (gắn liền với cảm thức cô đơn, thân phận), không gian đồ vật (chật hẹp, gắn liền với cảm thức bị giam hãm, tù đày), không gian ảo (gắn liền với cuộc sống hiện đại). Theo đó, thời gian hiện sinh là thời gian trôi chảy, ám ảnh, thời gian của tâm trạng, thời gian gắn liền với cảm thức phi lý. Hai motif thể hiện cảm thức hiện sinh tiêu biểu là motif hành trình và motif cuộc đời phi lý. Các biểu tượng hiện sinh phần lớn là những biểu tượng quen thuộc được cấp thêm nét nghĩa mới như các biểu tượng không gian (con đường, cầu thang, bến cảng, sân ga, v.v...), các biểu tượng tự nhiên và tâm linh (con ve, hạt bụi, cây thánh giá, v.v...). 
Các kiểu không gian, thời gian nghệ thuật, hệ thống motif và biểu tượng tương hỗ với nhau để thể hiện những giá trị thẩm mĩ mới mẻ. Đó là quá trình khám phá hiện thực cuộc sống thời đổi mới, là sự tiềm nhập vào thế giới nội tâm vi tế của con người, cũng là dấu hiệu đổi mới phương thức trần thuật của văn xuôi nói chung và truyện ngắn đương đại nói riêng.
KẾT LUẬN 
Trong văn học Việt Nam hiện đại, xét từ cả phía người sáng tác và người tiếp nhận thì tư tưởng hiện sinh không phải là “người khách lạ”. Lịch sử đã chứng kiến lần đầu tiên tư tưởng hiện sinh đến Việt Nam, đó là những năm 50 - 60 của thế kỷ XX, khi miền Nam đang trong những tháng ngày nóng bỏng và khốc liệt nhất. Chiến tranh kết thúc, hơn 10 năm mạch hiện sinh đứt gãy khi con người còn bận bịu với nhiều mối quan tâm khác. Nhưng làn gió Đổi mới đến chính lúc cuộc hạnh ngộ lần thứ hai diễn ra, do yêu cầu của lịch sử và hoàn cảnh cụ thể. 
Hai chặng đường của dòng văn học mang cảm thức hiện sinh cách nhau bởi dấu mốc 1975 và cũng cách biệt nhau ở thái độ đón nhận. Trước 1975, do nặng gánh với nhiệm vụ chính trị, do sự khốc liệt của điều kiện chiến tranh, người ta nhìn nhận về chủ nghĩa hiện sinh một cách chủ quan đầy thiên kiến, chỉ nhìn thấy những mặt tiêu cực, lệch lạc mà không nhận ra được những điểm tích cực, mang hiệu lực kích khởi mạnh mẽ của văn học hiện sinh. Sau 1975, thời “mở cửa” tạo điều kiện cho con người cởi mở hơn trong cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề, đặc biệt là đối với những vấn đề có tính nhạy cảm như thuyết hiện sinh và văn học hiện sinh. 
Văn học mang cảm thức hiện sinh trong giai đoạn từ 1986 đến 2010 (qua mảng truyện ngắn) không hẳn là sự kế thừa tư tưởng hiện sinh trong văn học giai đoạn 1954 - 1975 nhưng trong một chừng mực nào đó, nó gạt bỏ những ý niệm hiện sinh tiêu cực, góp phần hoàn thiện và phát triển hạt nhân hiện sinh tích cực của giai đoạn này. Một số phạm trù hiện sinh là sự “dịch chuyển” từ triết học sang văn học, nhưng cũng có những phạm trù hiện sinh là biến thể mới trong bối cảnh xã hội hiện đại. Ngoài ra, hiện sinh của ngày hôm nay cần được xem xét trong mối liên hệ, lồng ghép với các trào lưu tư tưởng hiện đại như lý thuyết phân tâm học, nữ quyền luận, lý thuyết hậu hiện đại… Những lý thuyết này xuyên thấm trong nhau tạo nên thứ cảm thức hiện sinh mới mẻ với các biểu hiện đa dạng, có thể được lý giải từ nhiều hướng khác nhau. 
Sau 1986, dòng văn học mang cảm thức hiện sinh là “diễn trường” tâm trạng của con người hiện đại. Chưa bao giờ con người lại bị đặt trước sự thôi thúc phải truy tầm bản thể như bây giờ. Cũng chưa bao giờ con người phải đối mặt với nhiều bất an, hiểm họa như vậy. Đặt trong bối cảnh xã hội hiện đại chuyển dịch không ngừng, khi khoa học công nghệ lên ngôi, văn học chú tâm hơn vào việc nghiền ngẫm, cắt nghĩa và lý giải nội tâm con người. Thông qua quá trình đó, con người được nhìn nhận như một thực thể cô đơn, đầy âu lo và khát khao phản kháng. Hẳn nhiên, trước khi triết học hiện sinh xuất hiện, con người không phải chưa từng cô đơn, chưa từng âu lo hay chưa từng mơ giấc mơ phản kháng. Nhưng dưới góc nhìn hiện sinh, cô đơn, âu lo, phản kháng đều theo một cách thức khác, với những tính chất khác. Cô đơn chủ yếu trong hành trình khẳng định nhân vị, âu lo trước những hiểm họa tiềm tàng, khi con người nhận thức rõ hơn bao giờ hết cái mỏng manh của phận người, và khát khao phản kháng tựu trung cũng chỉ để khẳng định nhu cầu không ngừng vươn và vượt chính mình.
Xét về phương diện sáng tác cũng như quan niệm nghệ thuật của nhà văn, tư tưởng hiện sinh thực sự có những ảnh hưởng quan trọng. Từ sau 1986, dòng hiện sinh mới trỗi dậy khẳng định bước chuyển trong phương thức sáng tác của văn nghệ sĩ, cho dẫu không phải người cầm bút nào cũng lập ngôn một cách minh xác trước khi bắt tay sáng tác. Có những lúc, ám ảnh hiện sinh dường như đến từ vô thức chứ không hẳn là quá trình tiếp nhận có tính chủ ý. Tuy nhiên, điều hoàn toàn có thể khẳng định là dưới góc nhìn hiện sinh, quan niệm nghệ thuật về con người của văn chương một thời đã thực sự thay đổi. Con người trở về với những gì nó vốn có, tồn tại trong không gian và thời gian tương thích, mang tính số phận, cá nhân. Con người không còn là những tượng đại trong không gian dài rộng và giữa dòng thời gian mang tính lịch sử trọng đại. Để rồi, từ nhịp cầu nối hiện sinh, các tác giả đã tiến xa hơn để đến với các trào lưu tư tưởng cũng như các khuynh hướng sáng tác hiện đại, hậu hiện đại. 
Xét về quá trình tiếp nhận của người đọc, độc giả hôm nay có xu hướng quen dần với kiểu viết mới. Đặc biệt, chính những sắc thái hiện sinh thể hiện trong tác phẩm khiến cho văn bản gần hơn với người đọc. Đơn giản bởi những hạnh phúc, thống khổ, những trăn trở kiếm tìm của nhân vật trong tác phẩm cũng chính là quá trình nghiệm sinh của con người giữa đời thường. 
Trong dòng chảy liên tục của văn học Việt Nam, tư tưởng hiện sinh là một trong những yếu tố góp phần vào sự đổi mới và phát triển của văn học. Theo đúng quy luật, những yếu tố du nhập nhanh chóng bị đào thải một khi không phù hợp với mảnh đất mà nó được gieo mầm. Tuy nhiên, điều đó đã không xảy ra đối với hiện sinh - một trào lưu tư tưởng đến Việt Nam vào những năm 50, 60 của thế kỷ XX. Lịch sử văn học chứng kiến hai lần trào lưu hiện sinh dấy lên mạnh mẽ trước và sau 1975, mở rộng thêm giới hạn của sự khám phá, phản ánh tâm hồn con người. Đặc biệt, sau 1975, tư tưởng hiện sinh có những bước chuyển hòa vào các trào lưu tư tưởng hiện đại, làm phong phú thêm cho văn học. 
Chúng tôi xem cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến 2010 có yếu tố tích cực và có khả năng chuyển tải những trạng thái tâm lý đặc thù của con người trong bối cảnh xã hội hiện đại. Dĩ nhiên, việc khảo sát cảm thức hiện sinh trên một số lượng văn bản tác phẩm hạn chế sẽ có những mặt tồn tại. Luận án chưa có điều kiện để bao quát và đi sâu vào những phạm trù cơ bản khác của hiện sinh, đối tượng khảo sát còn giới hạn ở phạm vi trong nước (chưa có điều kiện tìm hiểu về mảng văn học hiện sinh hải ngoại). Sắc thái hiện sinh đậm/ nhạt ở từng nhà văn cũng chưa thực sự được khẳng định. 
Tuy nhiên, những điểm khuyết thiếu này đồng thời cũng chính là hướng gợi mở cho những công trình nghiên cứu về yếu tố hiện sinh trong văn học về sau. 
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ
1. Trần Nhật Thu (2014), “Bóng dáng con người hiện sinh trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ”, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 803, tr.101-105. 
2. Trần Nhật Thu (2015), “Tâm thức hiện sinh trong tập truyện ngắn Cánh trái của Phan Hồn Nhiên”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Quảng Bình, số 9, ISSN 0866-7683. 
3. Trần Nhật Thu (2016), “Cái chết từ góc nhìn phân tâm học – hiện sinh”, Tạp chí Văn học, số 3, tr.57-64. 
4. Trần Nhật Thu (2016), “Sự hiện diện của cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986”, Kỷ yếu hội thảo quốc gia Thành tựu văn học Việt Nam 30 năm đổi mới (1986-2016), tr.468-477. 
5. Trần Nhật Thu (2016), “Một số biểu tượng mang cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại”, Tạp chí Khoa học Đại học Huế, ISN 1859-1388, tập 122, số 08, tr.5-19. 136 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
A. Tài liệu văn bản 
1. Trần Hoài Anh (2009), “Khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tư tưởng tôn giáo ở đô thị miền Nam 1954-1975”, Tạp chí Văn học, số 11, tr.91-100. 
2. Huỳnh Phan Anh (1966), “Thách thức với thần linh”, Tạp chí Văn học, số 70, Sài Gòn. 
3. Thái Phan Vàng Anh (2012), “Con người hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam mười năm đầu thế kỷ XX, Tạp chí Văn học, số 8, tr.53-61. 
4. Nguyễn Thị Bình, Đoàn Ánh Dương (2013), “Phân tâm học trong tiểu thuyết đô thị miền Nam: Trường hợp Thanh Tâm Tuyền”, Tạp chí Văn học, số 2, tr.54-75. 
5. Mai Thị Bình (2014), Các kiểu dạng nhân vật cô đơn trong văn xuôi Việt Nam đương đại (qua một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Chu Lai và Nguyễn Danh Lam), Luận văn thạc sĩ khoa học văn học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, Hà Nội. 
6. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 những hướng đổi mới cơ bản, NXB Giáo dục, Hà Nội. 
7. Nguyễn Thị Bình (2003), “Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975”, Tạp chí Văn học, số 4. 
8. Thái Thị Liễu Chi (2010), Hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn Y Ban và Nguyễn Ngọc Tư - từ góc nhìn phân tâm học, Luận văn thạc sĩ khoa học Văn học, Đại học Khoa học Huế, Huế. 
9. Lê Đình Cúc (2000), “Sự xuất hiện của các nhà văn “thế hệ bỏ đi” (lost generation) trong văn học Mỹ, Tạp chí Văn học, số 4, tr.58-66, Sài Gòn. 
10. Nguyễn Văn Dân (2002), Văn học phi lý, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội. 
11. Bùi Ngọc Dung (1964), “Jean Paul Sartre từ hiện sinh đến biện chứng”, Tạp chí Văn học, số 20, 21(6, 7/1964). 137 
12. Bùi Ngọc Dung (1965), “Vài nét về tư tưởng triết học Friedrich Nietzsche”, Tạp chí Văn học, số 39, Sài Gòn. 
13. Bùi Ngọc Dung (1963), “Albert Camus với nền văn chương triết học”, Tạp chí Văn học, số 13, Sài Gòn. 
14. Bùi Ngọc Dung (1964), “E.Hemingway và thân phận con người”, Tạp chí Văn học, số 19, Sài Gòn. 
15. Nguyễn Tiến Dũng, Võ Anh Tuấn (2015), “Một số vấn đề cần thống nhất khi nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh”, Thông tin Khoa học xã hội, số 7, Viện thông tin. 
16. Nguyễn Tiến Dũng (2015), “Đừng thoát ly hoàn cảnh lịch sử khi tiếp cận tư tưởng và nhân cách giáo sư Trần Đức Thảo”, Thông tin Khoa học xã hội, số 7, Viện thông tin, Hà Nội. 
17. Nguyễn Tiến Dũng (2005), Chủ nghĩa hiện sinh - lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh. 
18. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2005), Lịch sử triết học phương Tây hiện đại, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. 
19. Trần Thiện Đạo (2008), Từ chủ nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc, NXB Tri thức. 
20. Trần Thiện Đạo (1965), “Jean Paul Sartre thân thế và sự nghiệp”, Tạp chí Văn, số 31, Sài Gòn. 
21. Trần Thái Đỉnh (2005), Triết học hiện sinh, NXB Văn học. 
22. Trần Thái Đỉnh (1964), “Ý nghĩa thức tỉnh của triết lý hiện sinh”, Tạp chí Văn học, số 15, 16, Sài Gòn. 
23. Trần Thái Đỉnh - Nguyễn Văn Trung (1966), “Chủ nghĩa hiện sinh trong văn chương Việt Nam”, Tạp chí Văn học số 60. 
24. Lưu Phóng Đồng (1994), Triết học phương Tây hiện đại, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 
25. Trần Giải (2004), Con người hiện sinh và sự biểu hiện của nó trong văn học đô thị miền Nam trước 1975, Luận văn thạc sĩ triết học, Đại học Khoa học Huế, Huế.
26. Bùi Giáng dịch và biên soạn (2001), Martin Heiddegger và tư tưởng hiện đại, NXB Văn học, Hà Nội. 
27. Trần Thanh Hà (2009), “Từ hiện tượng học đến triết học hiện sinh”, Tạp chí Văn học, số 6, tr.96-110. 
28. Hồ Thế Hà (2014), Tiếp nhận cấu trúc văn chương, NXB Văn học, Hà Nội. 
29. Bùi Bích Hạnh (2015), Thơ trẻ Việt Nam 1965-1975, khuôn mặt cái tôi trữ tình, NXB Văn học, Hà Nội. 
30. Lê Doãn Hệ (2011), Tâm thức hiện sinh trong tác phẩm của Franz Kafka, Luận văn thạc sĩ khoa học Văn học, Đại học Khoa học Huế, Huế 

31. Lê Thị Hiền (2011), Cảm thức hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn thạc sĩ khoa học Văn học, Đại học Khoa học Huế, Huế 
32. Trần Thanh Hiệp (1965), “Jean Paul Sartre tự do hay đau khổ”, Tạp chí Nghiên cứu phát huy văn hóa Phật giáo và dân tộc số 5, SG
33. Đỗ Đức Hiểu (1978), Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, NXB Văn học, Hà Nội. 
34. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội n.văn, Hà Nội. 
35. Nguyễn Thị Như Huế (2007), Quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh, Luận văn thạc sĩ khoa học Triết học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, Hà Nội. 
36. Minh Huy (1962), Những khuynh hướng trong thi ca Việt Nam, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn. 
37. Bùi Công Hùng (1970), “Văn học lãng mạn tiêu cực vùng tạm bị chiếm miền Nam - một dòng văn học đã lỗi thời”, Tạp chí Văn học, số 6, tr.96-103. 
38. Trịnh Đặng Nguyên Hương (2010), “Cảm thức lạc loài trong sáng tác của Thuận”, Tạp chí Văn học, số 8, tr.80-90. 
39. Lê Thị Hường (1994), “Quan niệm con người cô đơn trong truyện ngắn hôm nay”, Tạp chí Văn học, số 2, tr.29-31.  
40. Lưu Văn Hy dịch (2008), Quá trình chuyển biến tư tưởng phương Tây, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội. 
41. Tôn Phương Lan (2001), “Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Văn học, số 9, tr. 43-48. 
42. Phạm Minh Lăng (1984), Mấy trào lưu triết học phương Tây, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp. 
43. Nguyễn Quang Lục (1970), Mổ xẻ nhà văn Jean - Paul Sartre, NXB Hoa muôn phương, Sài Gòn. 
44. Vũ Đình Lưu dịch (1965), “Albert Camus người đánh cuộc với đời”, Tạp chí Văn, số 25, Sài Gòn. 
45. Vũ Đình Lưu (1965), “Nền tảng đạo đức luận của Sartre và Camus”, Tạp chí Văn, số 25, Sài Gòn. 
46. Trường Lưu (1968), “Mấy nét về khuynh hướng đồi trụy trong văn học miền Nam vùng bị tạm chiếm”, Tạp chí Văn học, số 7, tr.72-76, Sài Gòn. 
47. Vũ Đình Lưu (1965), “Thắc mắc siêu hình hay thảm kịch văn hóa?”, Tạp chí Văn học, số 39, Sài Gòn. 
48. Trường Lưu (1970), “Một thứ thơ Tây nguội lạnh”, Tạp chí Văn học số 6, tr.104-111, Sài Gòn. 
49. Phương Lựu (2001), Lý luận và phê bình văn học Phương Tây, NXB Văn học - Trung tâm văn hóa Đông Tây, Hà Nội. 
50. Trần Hạnh Mai - Ngô Thu Hiền (2011), “Cảm thức lạc loài trong văn xuôi đương đại”, Tạp chí Văn học, số 11. 
51. Nguyễn Thị Việt Nga (2012), “Con người cô độc trong tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954-1975”, Tạp chí Văn học, số 3, tr.39-48. 
52. Hà Mậu Nhai (1966), “Những độc tố trong thứ văn học phục vụ chiến tranh tâm lý của Mỹ và tay sai ở miền Nam”, Tạp chí Văn học, số 7, tr.95- 101, Sài Gòn. 
53. Thụ Nhân dịch (1965), Hiện sinh một nhân bản thuyết, NXB Nhị Nùng, Sài Gòn. 
54. Trần Thị Mai Nhi, Văn học hiện đại, văn học Việt Nam giao lưu gặp gỡ, NXB Văn học, Hà Nội. 
55. Nguyễn Hồng Nhung dịch (2014), Một giọt từ sự đọa đày (hai mươi hai tiểu luận triết học), NXB Tri thức, Hà Nội. 
56. Thích Đức Nhuận (1965), “Một cuộc tự vượt trong tư tưởng giới Âu châu”, Tạp chí Vạn Hạnh số 5, Sài Gòn. 
57. Thích Đức Nhuận (1965), “Vào đạo Phật qua lối ngõ J. P. Sartre”, Tạp chí Vạn Hạnh, số 6, Sài Gòn. 
58. Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2013), “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Thuận”, Tạp chí Văn học, số 9, tr.66-75. 
59. Quán Như (1971), “Hiện tình văn hóa miền Nam”, Nguyệt san Nghiên cứu phê bình văn học Văn mới, số 1, Sài Gòn. 
60. Huỳnh Như Phương (2008), “Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954-1975 (trên bình diện lý thuyết), Tạp chí Văn học, số 9, tr.91-103. 
61. Huỳnh Như Phương (2015), “Chiến tranh, xã hội tiêu thụ và thị trường văn học miền Nam 1954-1975”, Tạp chí Văn học, số 4, tr.27-40, Sài Gòn. 
62. Trần Thị Sâm (2015), Tính chất tự thuật trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam - nhìn từ lý thuyết nữ quyền, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Huế, Huế. 
63. Phạm Văn Sĩ (1986), Về tư tưởng và văn học hiện đại phương Tây, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội. 
64. Phạm Văn Sĩ (1969), “Vòng tay học trò - một cuốn truyện cần được phê phán nghiêm khắc”, Tạp chí Văn học, số 11, Sài Gòn. 
65. Tuệ Sỹ (1965), “Từ biện chứng hiện sinh đến biện chứng trung quán”, Tạp chí Vạn Hạnh, số 6, Sài Gòn.  
66. Nguyễn Văn Thành (1972-1973), “Tình yêu trong tác phẩm của Mai Thảo”, Đặc san Văn khoa, Viện Đại học Huế. 
67. Nguyễn Thành Thi (2010), “Ám ảnh hiện sinh trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, Tạp chí Văn học, số 5, tr.26-37. 
68. Trần Thị Thục (2010), Sắc thái hiện sinh Nhật Bản qua hai tác phẩm Người đàn bà trong cồn cát và Khuôn mặt người khác của Abe Kobo, Luận văn thạc sĩ khoa học Văn học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, Hà Nội. 
69. Nguyễn Thị Hồng Thúy (2007), Tư tưởng triết học hiện sinh cơ bản của A.Camus qua một số tác phẩm, Luận văn thạc sĩ khoa học Triết học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, Hà Nội. 
70. Đặng Tiến (1964), “Huyền tượng Sysiphe và huyền tượng Cung phi: gặp gỡ giữa Ôn như hầu và Albert Camus”, Tạp chí Văn, số 2, Sài Gòn. 
71. Nguyễn Mạnh Tiến (2010), Tâm thức hiện sinh với lý luận văn học, Luận văn thạc sĩ khoa học Văn học, Đại học Khoa học Huế, Huế. 
72. Trần Văn Toàn (2000), Vị trí của trào lưu hiện sinh trong lịch sử triết lý, Tạp chí Dòng Việt, Hoa Kỳ. 
73. Bùi Thị Tỉnh (2007), Triết học hiện sinh về giới của Simone de Beauvoir, Luận án tiến sĩ khoa học Triết học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, Hà Nội. 
74. Lê Thành Trị (1974), Hiện tượng luận về hiện sinh, Trung tâm học liệu, Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên. 
75. Hoàng Trinh (1968), “An-be Camuyx và thuyết “phi lý” trong văn học”, Tạp chí Văn học, số 1, Sài Gòn. 
76. Nguyễn Văn Trung (2006), Ca tụng thân xác, NXB Văn nghệ,SG 
77. Nguyễn Văn Trung (1960), “Văn chương hiện sinh”, Tạp chí Thế kỷ hai mươi, số 3, Sài Gòn. 
78. Nguyễn Văn Trung (1964), “Một vài cảm nghĩ về con người phản kháng của Albert Camus”, Tạp chí Văn, số 2, Sài Gòn. 
79. Nguyễn Trọng Văn (1971), “Từ hiện sinh đến tính dục”, Nguyệt san Nghiên cứu phê bình văn học Văn mới, số 2, Sài Gòn 
80. Hồ Khánh Vân (2015), “Ý thức về địa vị “giới thứ hai” trong một số sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1980 đến nay”, Tạp chí Văn học, số 4/2015, tr.78-90. 
81. Hoàng Vũ (1963), “Andre Malraux từ hy vọng đến hư vô”, Tạp chí Văn học, số 12, Sài Gòn. B. Tài liệu mạng 
82. Chí Anh (2013), J. P. Sartre con người phi lý hiện sinh, http://tuhieuminh.blogspot.com/
83. Thái Phan Vàng Anh (2014), Khuynh hướng hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 http://vannghequandoi.com.vn/
84. Trần Hoài Anh (2013), “Người đàn bà qua hai mùa tóc và tâm thức hiện sinh trong thơ Anh Hồng, https://sacmauthoigian.wordpress.com/
85. Trần Hoài Anh (2014), Khuynh hướng hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam thời kì đổi mới, http://www.tapchisonghuong.com.vn/
86. Trần Hoài Anh (2012), Lâm Thị Mỹ Dạ và sự ám ảnh về cái đẹp của tâm thức hiện sinh, http://vanvn.net/
87. Trần Hoàng Hoàng (2013), Những yếu tố hiện sinh trong tiểu thuyết “Và khi tro bụi” của Đoàn Minh Phượng dlib.huc.edu.vn/
88. Nguyễn Thái Hoàng (2012), Sự trở lại của khuynh hướng hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam đương đại, http://www.tapchicuaviet.com.vn/
89. Vy Huyền dịch (2005), Cái chết, Phật giáo và chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn, http://thuvienhoasen.org/
90. Võ Công Liêm (2012), Thuyết hiện sinh, http://chimviet.free.fr/
91. Ôn Thị Mỹ Linh (2009), Trạng thái hiện sinh của con người trong tiểu thuyết “Một nỗi đau riêng”, http://www.inas.gov.vn/
92. Đặng Thị Mây (2014), Đặc điểm thi pháp truyện ngắn Việt Nam sau 1975, http://caodanghaiduong.edu.vn/
93. Bùi Quang Minh (2010), Cuộc tranh luận giữa hai triết gia về hiện sinh, http://www.chungta.com/
94. Nguyễn Bích Phụng (2011), Cảm thức hiện sinh trong tập thơ “Hoa giấu mặt” của Mai Văn Phấn, http://nhavantphcm.com.vn/
95. Đỗ Ngọc Thạch (2011), Vài đặc điểm văn xuôi hiện đại Việt Nam, http://www.bichkhe.org/
96. Nguyễn Lê Thạch, Luyện Thị Hồng Hạnh (2012), Vấn đề tồn tại người trong triết học hiện sinh của Karl Jaspers http://thuquantriethoc.blogspot.com/
97. Phạm Thị Thắm (2015), Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, 144 http://text.123doc.org/
98. Trần Thị Thục (2012), Trào lưu hiện sinh chủ nghĩa trong văn học hiện đại Nhật Bản và Việt Nam dưới góc nhìn so sánh, http://khoavanhocngonngu.edu.vn/
99. Vũ Ngọc Tiến (2006), Trò chuyện với nhà thơ Lão Thực, http://www.chungta.com/
TÁC PHẨM TRÍCH DẪN 
100. Tạ Duy Anh (1990), Bước qua lời nguyền, NXB V.học, Hà Nội. 
101. Tạ Duy Anh (1994), Luân hồi, NXB Văn học, Hà Nội. 
102. Tạ Duy Anh (1997), Ánh sáng nàng, NXB Cand, Hà Nội. 
103. Tạ Duy Anh (2007), Người khác, NXB Hội nhà văn, Hà Nội. 
104. Phan Thị Vàng Anh (2012), Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, NXB Trẻ, TP. HCM 
105. Y Ban (2005), Bức thư gửi Mẹ Âu Cơ, NXB T. niên, Hà Nội. 
106. Võ Thị Hảo (1993), Biển cứu rỗi, NXB Hà Nội, Hà Nội. 
107. Võ Thị Hảo (1994), Chuông vọng cuối chiều, NXB Lđộng, HNội 
108. Võ Thị Hảo (1998), Ngậm cười, NXB Phụ nữ, Hà Nội 
109. Phạm Thị Hoài (1989), Mê lộ, NXB Trẻ, TP.HCM 
110. Nguyễn Thị Thu Huệ (2010), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, NXB Văn học, Hà Nội 
111. Ng Thị Thu Huệ (2012), Thành phố đi vắng, NXB Trẻ, TP. HCM 
112. Phạm Thị Ngọc Liên (2008), Đồi hoang, NXB VN, TP.HCM 
113. Sương Nguyệt Minh (2011), Dị hương, NXB Hội n.văn, Hà Nội 
114. Dạ Ngân (2008), Nước nguồn xuôi mãi, NXB P. nữ, Hà Nội 145 
115. Dương Bình Nguyên (2009), Giày đỏ, NXB Hội n.văn, Hà Nội 
116. Dương Bình Nguyên (2010), Chuyện tình Paris, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
117. Phan Hồn Nhiên (2009), Cánh trái, NXB Văn nghệ, TP. HCM 
118. Hồ Anh Thái (2013), Người bên này trời bên ấy, NXB Trẻ, TP.HCM 
119. Nguyễn Huy Thiệp (2003), Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, NXB Trẻ, TP.HCM 
120. Nguyễn Quang Thiều (2011), Tác phẩm chọn lọc, NXB Phụ nữ, Hà Nội. 
121. Dương Thụy (2011), Bồ câu chung mái vòm, NXB Trẻ, TP.HCM 
122. Phạm Ngọc Tiến (2011), Họ đã trở thành đàn ông, NXB Văn học, Hà Nội 
123. Nguyễn Ngọc Tư (2006), Cánh đồng bất tận, NXB Trẻ, TP.HCXM 
124. Nhiều tác giả (2002), Truyện ngắn bốn cây bút nữ, NXB Văn học, Hà Nội. 
125. Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn chung khảo Báo Văn nghệ 2003-2004, NXB Thanh niên, Hà Nội. 
126. Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn hay 2005, NXB TN, Hà Nội. 
127. Nhiều tác giả (2010), Truyện ngắn 10 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
128. Nhiều tác giả (2003), Truyện ngắn nữ chào thiên niên kỷ, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
PHỤ LỤC 
Danh mục tác giả, tác phẩm đã khảo sát 
HÀ THỊ CẨM ANH 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn chung khảo Báo Văn nghệ 2003-2004, NXB Thanh niên, Hà Nội. 1. Như gốc gội xù xì 
TẠ DUY ANH 
Tạ Duy Anh (1990), Bước qua lời nguyền, NXB Văn học, Hà Nội. 
1. Bước qua lời nguyền 
2. Dịch quỷ sứ 
3. Gã thọt 
4. Lũ vịt trời 
5. Nghịch lý cuộc đời 
6. Sự khắc nghiệt của đá 
7. Vòng trầm luân trần gian 
8. Xưa kia chị đẹp nhất làng Tạ Duy Anh (1994), Luân hồi, NXB Văn học, Hà Nội. 
1. Bí mật của vĩnh cửu 
2. Đắc đạo 
3. Hóa kiếp 
4. Luân hồi 
5. Người thắng trận 
6. Thiên thần và ác quỷ 
7. Tội tổ tông 
8. Truyền thuyết viết lại 
Tạ Duy Anh (1997), Ánh sáng nàng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội. 
1. Ánh sáng nàng 
2. Con ruồi 
3. Dưới đáy vực 
4. Gã và nàng 
5. Ngôi nhà của cha tôi 
6. Ông ta và nàng 
7. Tôi và nàng 
8. Vượt qua bến bờ trắng xóa 
Tạ Duy Anh (2007), Người khác, NXB Hội nhà văn, Hà Nội. 
1. Chiếc giầy pha lê 
2. Chuyện của đời người 
3. Chuyện không có chủ đề 
4. Con vẹt 
5. Gã lộn ngược 
6. Giai điệu đen 
7. Hắn 
8. Lãng du 
9. Một câu chuyện cười 
10. Người khác 
11. Ngũ gia truyện 
12. Những chiếc gáy 
13. Phở gia truyền 
14. Rỗng 
15. Trong bóng tối 
Tạ Duy Anh (2008), Truyện ngắn chọn lọc, NXB Hội nhà văn, Hà Nội. 
1. Bên ngoài thời gian 
2. Lạc loài 
3. Mê hồn trận 
4. Nhân vật lạ 
PHAN THỊ VÀNG ANH 
Phan Thị Vàng Anh (2012), Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, NXB Trẻ, TP. HCM 
1. Bỏ trường 
2. Buổi học thêm ở tu viện 
3.Cha tôi 
4. Chuyện trẻ con 
5. Có con 
6. Con nuôi 
7. Con trộm 
8. Cuộc ngoạn du ngắn ngủi 
9. Đất đỏ 

10. Đi thăm cha 
11. Hoa muộn 
12. Học trò cưng 
13. Hoài cổ 
14. Hồng ngủ 
15. Hội chợ 
16. Kịch câm 
17. Khi người ta trẻ 
18. Một ngày 
19. Mưa rơi 
20. Mười ngày 
21. Ngày bướm hóa ong 
22. Ngày học cuối 
23. Nhật ký 
24. Phục thiện 
25. Quà kỷ niệm 
26. Si tình 
27. Tháng bảy 
28. Tự lập 
29.Thương 
30.Tưởng 
31. Xa nhà 
32. Xe đêm 
33. Yêu 
Y BAN 
Y Ban (2005), Bức thư gửi Mẹ Âu Cơ, NXB Thanh niên, Hà Nội. 
1. Bức thư gửi mẹ Âu Cơ 
2. Cái Tý 
3. Chú Ngoẹo 
4. Con gái mang cuộc đời của mẹ 
5. Con quỷ nhỏ trong tôi 
6. Jô 
7. Người đàn bà có ma lực
8. Người đàn bà sinh ra từ bóng đêm 
9. Người đàn bà và những giấc mơ 
10. Quê nội 
11. Thượng đế bảo rằng: Mỗi người đàn ông chỉ của riêng một người đàn bà 
12. Vùng sáng ký ức 
MẠC CAN 
Nhiều tác giả (2010), Truyện ngắn 10 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
1. Hè muộn 
NGÔ THỊ KIM CÚC 
Nhiều tác giả (2010), Truyện ngắn 10 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Hội nhà văn, Hà Nội. 
1. Vô ngôn 
NGUYỄN CÔNG DINH 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn chung khảo báo Văn nghệ 2003-2004, NXB Thanh niên, Hà Nội 
1. Hồn phách xanh xao 
THÙY DƯƠNG 
Nhiều tác giả (2003), Truyện ngắn nữ chào thiên niên kỷ, NXB Phụ nữ, Hà Nội. 
1. Đường trần 
PHONG ĐIỆP 
Nhiều tác giả (2010), Truyện ngắn 10 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
1. Kẻ dự phần 
NGUYỄN LẬP EM 
Nhiều tác giả (2010), Truyện ngắn 10 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
1. Bến sông xưa 
Nhiều tác giả (2003), Đi một ngày đường, NXB Phụ nữ, Hà Nội. 
1. Đi một ngày đường 
ĐOÀN NGỌC HÀ 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn chung khảo báo Văn nghệ 2003-2004, NXB Thanh niên, Hà Nội 
1. Thầy giáo văn chương 
VÂN HẠ 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn chung khảo báo Văn nghệ 2003-2004, NXB Thanh niên, Hà Nội 
1. Mặt đất vững chãi 
PHAN TRIỀU HẢI 
Nhiều tác giả (2010), Truyện ngắn 10 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
1. Mèo trong gió mùa đông bắc 
VÕ THỊ HẢO 
Võ Thị Hảo (1993), Biển cứu rỗi, NXB Hà Nội, Hà Nội. 
1. Bàn tay lạnh 
2. Biển cứu rỗi 
3. Hành trang của người đàn bà Âu Lạc 
4. Hồn trinh nữ 
5. Làn môi đồng trinh 
6. Máu của lá 
7. Người gánh nước thuê 
8. Người sót lại của Rừng Cười 
9. Tim vỡ 
10. Tình yêu mây trắng 
11. Vầng trăng mồ côi 
12. Vũ điệu địa ngục 
Võ Thị Hảo (1994), Chuông vọng cuối chiều, NXB Lao động, Hà Nội 
1. Bán cốt 
2. Chuông vọng cuối chiều 
3. Con dại của đá 
4. Dây neo trần gian 
5. Gió hoang 
6. Giọt buồn giáng sinh 
7. Người đàn ông duy nhất 
8. Phút chối Chúa 
9. Vườn yêu 
Võ Thị Hảo (1998), Ngậm cười, NXB Phụ nữ, Hà Nội 
1. Dệt cỏ 
2. Đêm bướm ma 
3. Đêm vu lan 
4. Đường về trần 
5. Góa phụ đen 
6. Khăn choàng sương 
7. Khói mang màu nước biển 
8. Mắt miền tây 
9. Miền bọt 
10. Mùi chuột 
11. Ngậm cười 
12. Phúc Lộc Thọ lên trời 
13. Tiếng vạc đêm 
ĐỖ THỊ THU HIÊN 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn chung khảo báo Văn nghệ 2003-2004, NXB Thanh niên, Hà Nội 
1. Mưa dài 
Nhiều tác giả (2003), Truyện ngắn nữ chào thiên niên kỷ, NXB Phụ nữ, Hà Nội. 
1. Cổ tích người lữ hành 
NGUYỄN HIỆP 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn chung khảo báo Văn nghệ 2003-2004, NXB Thanh niên, Hà Nội 
1. Bông cỏ giêng 
PHẠM THỊ HOÀI 
Phạm Thị Hoài (1989), Mê lộ, NXB Trẻ, TP.HCM 
1. Bảy nổi ba chìm 
2. Chín bỏ làm mười 
3. Giấc mơ 
4. Hai mươi năm sau 
5. Hành trình những con số 
6. Hoa sữa 
7. Kẻ giết ý nghĩ 
8. Khách 
9. Mê lộ 
10. Một cái gì 
11. Một chuyện cổ điển 
12. Năm ngày 
13. Người đàn bà với hai con chó nhỏ 
14. Người đoán mộng giỏi nhất thế gian 
15. Kẻ giết ý nghĩ 
16. Người suy tư 
17. Người tốt bụng 
18. Quê ngoại 
19. Tổ khúc bốn mùa 
20. Trong cơn mưa 
21. Vệt son 
NGUYỄN THỊ THU HUỆ 
Nguyễn Thị Thu Huệ (2010), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, NXB Văn học, Hà Nội 
1. Ám ảnh 
2. Biển ấm 
3. Cát đợi 
4. Cầu thang 
5. Còn lại một vầng trăng 
6. Dĩ vãng 
7. Đêm dịu dàng 
8. Giai nhân 
9. Hậu thiên đường 
10. Hoa nở trên trời 
11. Hoàng hôn màu cỏ úa 
12. Huyền thoại 
13. Lời thì thầm của mùa xuân 
14. Minu xinh đẹp 
15. Một chuyến đi 
16. Một nửa cuộc đời 
17. Một trăm linh tám cây bằng lăng 
18. Mùa thu vàng rực rỡ 
19. Người xưa 
20. Người đàn bà ám khói 
21. Người đi tìm giấc mơ 
22. Những đêm thắp sáng 
23. Nước mắt đàn ông 
24. Phù thủy 
25. Rượu cúc 
26. Tân cảng 
27. Tình yêu ơi, ở đâu? 
28. Thành phố không mùa đông 
29. Thiếu phụ chưa chồng 
30. Xin hãy tin em 
Nguyễn Thị Thu Huệ (2012), Thành phố đi vắng, NXB Trẻ, TP. HCM 
1. Câu chuyện đại chiến 
2. Chủ nhật được xem phim hoạt hình 
3. Chúng ta cần suy nghĩ về chuyện này 
4. Coi như không biết 
5. Cú mèo và rượu hoa 
6. Của Cha, của Con những cành vạn niên thanh 
7. Không thể kết thúc 
8. Một đời sống khác 
9. Phòng chiếu phim số 9 
10. Rồi cũng tới nơi thôi 
11. Sống gửi thác về 
12. Thành phố đi vắng 
13. Thu xếp cuối đời 
14. Trong lúc ăn một bát phở gia truyền 
15. Với tay là đến 
16. X-Men có mùi trường đua 
NGUYỄN THẾ HÙNG 
Nhiều tác giả (2010), Truyện ngắn 10 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
1. Lộc trời 
NGUYỄN XUÂN HƯNG 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn hay 2005, NXB Thanh niên, Hà Nội. 
1. Hoa tre 
LÝ LAN 
Nhiều tác giả (2002), Truyện ngắn bốn cây bút nữ, NXB Văn học, Hà Nội. 
1. Bay qua bầu trời thành phố đêm giao thừa 
2. Biển như tôi nhớ 
3. Biển trong mưa 
4. Con mèo tưởng đã đi xa 
5. Cuối tuần 
6. Đêm thảo nguyên 
7. Lắp ghép hạnh phúc 
8. Mẹ và con 
9. Tháng chạp 
10. Vườn hoàng tử nhỏ 
ĐOÀN LÊ 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn chung khảo báo Văn nghệ 2003-2004, NXB Thanh niên, Hà Nội 
1. Trinh tiết xóm Chùa 
PHẠM THỊ NGỌC LIÊN 
Phạm Thị Ngọc Liên (2008), Đồi hoang, NXB Văn nghệ, TP.HCM 
1. Ánh trăng 
2. Bên trong 
3. Bơi một hơi ra tới biển 
4. Chuông kêu leng keng trong giấc mơ 
5. Cõi riêng 
6. Điện thoại nửa đêm 
7. Đồi hoang 
8. Giải phẫu thẩm mỹ
9. Gió ở thiên đường 
10. Người cha 
11. Phố đàn bà không chồng 
12. Sông của mẹ 
13. Tháng và năm 
14. Thời gian 
15. Tranh trừu tượng 
16. Vật lạ trên đầu 
17. Về nhà 
THÙY LINH 
Nhiều tác giả (2010), Truyện ngắn 10 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
1. Gió mưa gửi lại 
NGUYỄN NGỌC LỢI 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn chung khảo báo Văn nghệ 2003-2004, NXB Thanh niên, Hà Nội 
1. Rượu cần đêm mưa 
TRẦN THÙY MAI 
Trần Thùy Mai (2008), Một mình ở Tokyo, NXB Văn nghệ, TP. HCM 
1. Brandy bé bỏng 
2. Chiếc phao cứu sinh 
3. Dịu dàng như cỏ 
4. Hải đường tăng 
5. Lời hứa 
6. Một mình ở Tokyo 
7. Nàng công chúa té giếng 
8. Ngày xưa ở Kim Long 
9. Nơi có những cây tùng xanh biếc 
10. Sao lạ 
11. Thần nữ đi chân không 
12. Vẽ chân trời 
SƯƠNG NGUYỆT MINH 
Sương Nguyệt Minh (2011), Dị hương, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
1. Bên dòng Tonle Sap 
2. Cái nón mê thủng chóp 
3. Cha tôi 
4. Dị hương 
5. Đàn bà 
6. Đêm mùa hạ tuyết rơi 
7. Đêm thánh vô cùng 
8. Đồi con gái 
9. Mùa trâu ăn sương 
DẠ NGÂN 
Dạ Ngân (2008), Nước nguồn xuôi mãi, NXB Phụ nữ, Hà Nội 
1. Bệnh nhân định kỳ 
2. Cái ban công trống 
3. Chỗ ngồi ưa thích 
4. Cùng trời cuối đất 
5. Gặp ở Giáp Nước 
6. Hôm ấy trời đẹp lắm 
7. Khoang tàu chật quá 
8. Nàng ở đâu ra? 
9. Ngọn nến phập phồng 
10. Người duy nhất 
11. Người thương mến 
12. Nhìn từ phía khác 
13. Nước nguồn xuôi mãi 
14. Phòng chờ 
15. Tách cà phê số 8 
16. Thời gian vĩ đại 
17. Thương lấy chị tôi 
18. Tiền của má 
19. Tóc dài mấy lạng 
20. Trăng về 
PHẠM DUY NGHĨA 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn hay 2005, NXB Thanh niên,Hà Nội. 
1. Cơn mưa hoa mận trắng 
DƯƠNG BÌNH NGUYÊN 
Dương Bình Nguyên (2009), Giày đỏ, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
1. Cải lạc loài 
2. Đi về miền ấm áp 
3. Giày đỏ 
4. Thị trấn bốc cháy 
Dương Bình Nguyên (2010), Chuyện tình Paris, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
1. Dấu vết thiên thần 
2. Đôi giày đỏ đã mất 
3. Chuyện tình Paris 
4. Không khóc ở Hà Nội 
5. Mưa phù du 
6. Người con gái không đợi nơi đầu dốc 
7. Tháng ngày xanh biếc 
8. Thung lũng Bách Niên 
9. Trời cao trong vắt 
PHAN HỒN NHIÊN 
Phan Hồn Nhiên (2009), Cánh trái, NXB Văn nghệ, TP. HCM 
1. Africa 
2. Bay về phương Bắc 
3. Bưu thiếp từ Stuttgart 
4. Cánh tay đau 
5. Cánh trái 
6. Cột nước đỏ 
7. Giờ xanh 
8. Hồ cá 
9. Khi tôi 64 
10. Không manh mối 
11. Sa Pa 
12. Người đi săn 
13. Người ăn táo 
14. Người chơi gương 
15. Thành phố trên cốc 
16. Ván cờ
17. Vụ mất tích 
18. Yên tĩnh tuyệt đối 
PHAN QUẾ 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn chung khảo báo Văn nghệ 2003-2004, NXB Thanh niên, Hà Nội 
1. Hóa giải 
TRẦN QUANG QUÝ 
Nhiều tác giả (2010), Truyện ngắn 10 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
1. Dốc Sung 
CAO DUY SƠN 
Nhiều tác giả (2010), Truyện ngắn 10 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
Súc Hỷ 
TRỊNH THANH SƠN 
Thu đi lá rơi xào xạc 
HỒ ANH THÁI 
Hồ Anh Thái (2013), Người bên này trời bên ấy, NXB Trẻ, TP.HCM 
1. Công dân quốc tế 
2. Đời con bọ 
3. Cắt 
4. Gã thổi lửa trong tòa nhà Persepolis 
5. Họ ở lại để chờ nhau 
6. Mộng du ở Copenhagen 
7. Người lái xe ở sứ quán 
8. Sông cạn 
9. Thành phố đêm không có khách sạn 
10. Trắng trước đỏ sau 
11.Trời vẫn nắng suốt đêm 
12.Tựa vào gốc anh đào mà ngủ 
Hồ Anh Thái (2014), Mảnh vỡ của đàn ông, NXB Trẻ, TP. HCM 
1. Cánh võng không người 
2. Chàng trai ở bến đợi xe 
3. Gặp nhau có một lần 
4. Mảnh vỡ của đàn ông 
5. Nằm ngủ trên ghế băng 
6. Những cuộc kiếm tìm 
7. Nói bằng lời của mình 
8. Rót rượu 
9. Tìm 
NGUYỄN HUY THIỆP 
Nguyễn Huy Thiệp (2003), Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, NXB Trẻ, TP.HCM 
1. Chảy đi sông ơi 
2. Chăn trâu cắt cỏ 
3. Chút thoáng Xuân Hương 
4. Con gái thủy thần 
5. Cún 
6. Đời thế mà vui 
7. Đưa sáo sang sông 
8. Giọt máu 
9. Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt 
10. Huyền thoại phố phường 
11. Không có vua 
12. Không khóc ở California 
13. Kiếm sắc 
14. Muối của rừng 
15. Mưa 
16. Mưa Nhã Nam 
17. Nguyễn Thị Lộ 
18. Những bài học nông thôn 
19. Những ngọn gió Hua Tát 
20. Những người muôn năm cũ 
21. Những người thợ xẻ 
22. Phẩm tiết 
23. Sang sông 
24. Sống dễ lắm 
25. Tâm hồn mẹ 
26. Thiên văn 
27. Thổ cẩm 
28. Thương cho cả đời bạc 
29. Thương nhớ đồng quê 
30. Tội ác và trừng phạt 
31. Truyện tình kể trong đêm mưa 
32. Trương Chi 
33. Tướng về hưu 
34. Vàng lửa 
NGUYỄN QUANG THIỀU 
Nguyễn Quang Thiều (2011), Tác phẩm chọn lọc, NXB Phụ nữ, Hà Nội. 
1. Bầu trời của cha 
2. Bầy mòng két trở về 
3. Cái chết của bầy mối 
4. Cha tôi 
5. Chạy trốn khỏi vầng trăng 
6. Chiếc lông chim màu đỏ 
7. Chiều hoa tầm xuân 
8. Con chuột lông vàng 
9. Đêm cá đẻ 
10. Đi chợ Tết 
11. Đứa con của hai dòng họ 
12. Gió dại 
13. Hai người đàn bà xóm Trại 
14. Hương khúc nếp cuối cùng 
15. Khúc hát của dòng sông 
16. Lời hứa của thời gian 
17. Mùa hoa cải bên sông 
18. Mưa ấm 
19. Ngựa trắng 
20. Người đàn bà tóc trắng 
21. Người nhìn thấy mặt trăng 
22. Người ở với hoa tầm xuân 
23. Người thổi kèn lá dứa 
24. Thị trấn những cây bàng cụt 
25. Tiếng đập cánh của chim thần 
26. Tiếng gọi cuối mùa đông 
27. Trái tim rắn 
ĐỖ BÍCH THÚY 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn hay 2005, NXB Thanh niên, Hà Nội. 
1. Cuối mùa bạch yến 
Đỗ Bích Thúy (2011), Mèo đen, NXB Thời đại, Hà Nội 
1. Như một con chim nhỏ 
2. Sải cánh trên cao 
3. Trời sáng đâu đã sáng 
4. Váy ướt quấn vào bắp chân 
Đỗ Bích Thúy (2013), Đàn bà đẹp, NXB Văn học, Hà Nội 
1. Cạnh bếp có cái muôi gỗ 
2. Chiếc hộp khảm trai 
3. Con dê bốn mắt 
4. Đàn bà đẹp 
5. Khách quý 
6. Mẹ kế 
7. Mèo đen 
8. Sương khói mịt mờ 
9. Tráng A Khành 
10. Trong đám đông có một ánh mắt 
11. Trong thung lũng 
DƯƠNG THỤY 
Dương Thụy (2011), Bồ câu chung mái vòm, NXB Trẻ, TP.HCM 
1. Bất chợt ở La Mã 
2. Bồ câu chung mái vòm 
3. Bươm bướm về đâu 
4. Cánh thiệp tháng tư 
5. Con gà nói tiếng Đức 
6. Diên vĩ đồng Provence 
7. Đóa lan nông nổi 
8. Đổ thừa Venise 
9. Đồi nho xanh 
10. Hai người đến từ phương xa 
11. Hành trình của những người trẻ 
12. Hoa tú cầu ở vùng Bretagne 
13. Một mùa thu ở Rennes 
14. Những cô gái trong cao ốc văn phòng 
15. Thiên thần lái xe bus 
TRẦN ĐỨC TIẾN 
Nhiều tác giả (2010), Truyện ngắn 10 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 
1. Chuông chùa Bạch Vân 
PHẠM NGỌC TIẾN 
Phạm Ngọc Tiến (2011), Họ đã trở thành đàn ông, NXB Văn học, Hà Nội 
1. Cuộc đỏ đen số phận 
2. Điếu văn cho người sống 
3. Chạy trốn 
4. Họ đã trở thành đàn ông 
5. Hõm nước cây si 
6. Khoảnh khắc 
7. Nguyên quán 
8. Quả muộn 
9. Vọng thê 
LÃ THANH TÙNG 
Nhiều tác giả (2005), Truyện ngắn chung khảo báo Văn nghệ 2003-2004, NXB Thanh niên, Hà Nội. 
1. Cơn mưa diều sáo 
NGUYỄN NGỌC TƯ 
Nguyễn Ngọc Tư (2006), Cánh đồng bất tận, NXB Trẻ, TP.HCM. 
1. Biển người mênh mông 
2. Cải ơi! 
3. Cái nhìn khắc khoải 
4. Cánh đồng bất tận 
5. Cuối mùa nhan sắc 
6. Dòng nhớ 
7. Duyên phận so le 
8. Huệ lấy chồng 
9. Hiu hiu gió bấc 
10. Mối tình năm cũ 
11. Một trái tim khô 
12. Nhà cổ 
13. Nhớ sông 
14. Thương quá rau răm.
Trần Nhật Thu
Theo http://hueuni.edu.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...