Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

Cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến 2010 - Phần 2

Cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn 
Việt Nam từ 1986 đến 2010 - Phần 2
Vùng trời của cha (Nguyễn Quang Thiều) và Đêm thánh vô cùng (Sương Nguyệt Minh) đều khai thác nỗi cô đơn trong gia đình, giữa những con người cùng trên một con thuyền nhưng mơ về những chân trời khác nhau. Với Nguyễn Quang Thiều, người cha vốn dĩ là một phi công đam mê những vùng trời xa ngái. Nhưng niềm đam mê của ông ngày một héo úa bởi không nhận được sự đồng cảm và sẻ chia của mọi người, nhất là của người bạn đời thừa xinh đẹp và thông minh nhưng lại thiếu sự tinh tế tâm hồn. Ông chỉ còn biết triết lý một cách chua chát, không che giấu cảm giác mình là kẻ dư thừa, lạc lõng kiếm tìm một cái gì không có thật: “Cái mình cần là hơi ấm của con người. Nhưng đời sống càng đầy đủ thì con người càng xa nhau. Cái mà những người đang sống quanh mình tìm kiếm là đồng tiền. Nhưng vì nó mà con người lao vào như rồ dại, cắn xé lẫn nhau, nghi ngờ nhau và căm thù nhau” [120, tr.182]. Còn Sương Nguyệt Minh lại kể chuyện người chồng, người cha bị chính vợ và con gái mình bỏ rơi, “không có chốn dung thân ngay trong nhà của mình”, giữa cái nhịp sống công nghiệp hối hả, gấp gáp, nhiều toan tính mà thiếu vắng sự quan tâm, đồng cảm. Một gia đình mà hai mươi bốn giờ đồng hồ không dành được cho nhau quá ba câu nói và “hôm nào mà nói đến câu thứ tư thì không chết người cũng cháy nhà hoặc động đất núi lửa”. Những mẩu đối thoại ngắn ngủi, lạnh nhạt, không đầu không cuối: “Em làm sao thế? Hay anh có lỗi gì à?/ Không. Em có phàn nàn gì đâu/ Các con này, hay bố có lỗi gì với các con?/ Con gái bảo: “Việc bố làm, con không quan tâm”/ Con trai bảo: Con chẳng để ý gì” [113, tr.78]. Người chồng, người cha không khỏi có cảm giác cứ như thể có một “cái ao tù đọng ngay trong nhà mình”, thèm khát “một cái nhìn đằm thắm của vợ, một cử chỉ suồng sã hay quấn quýt đầm ấm của đứa con”. Lâu dần, nỗi cô đơn - hệ quả của những tháng năm dài ngụp lặn trong lạnh lùng, vô cảm trở thành một thói quen. 
Khảo sát văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung và truyện ngắn nói riêng, chúng tôi nhận thấy còn có một dòng riêng bao gồm những tác phẩm khai thác nỗi cô đơn của người lính thời hậu chiến mà tiêu biểu là các sáng tác của Bảo Ninh, Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Hồ Anh Thái, Chu Lai, Nguyễn Huy Thiệp, v.v... Khi những bộ quân phục đã được trút bỏ, những bằng khen và huân chương đã trở thành cái mà người ta gọi là “kỉ niệm một thời” và vì thế nằm yên một cách kiêu hãnh cô đơn trong những hộp nhung đỏ thì những người lính cũng trở về với cuộc sống đời thường. Nhưng theo một cách thức hòa nhập hoàn toàn khác biệt, hầu như tất cả họ đều chật vật để thích ứng với thứ chân lý thực dụng của thời kinh tế thị trường. Đa phần họ đau khổ thấy lý tưởng của mình tan rã mà không một ai có thể chia sẻ. Nhiều người trong số họ đành chọn cách đi chậm lại, thậm chí đi bên lề của cuộc sống mới với tâm trạng “người thừa”. Lẽ dĩ nhiên, những “người thừa” bao giờ cũng cô đơn. Trong sự cô đơn ấy, họ không phải không có lý, nhưng điều bi đát là cộng đồng không bao giờ muốn thừa nhận chân lý của các cá nhân chống lại cộng đồng. Đơn giản chỉ bởi vì cộng đồng không thể từ bỏ bản thân và không muốn thay đổi khuôn mẫu của họ. Cho nên, bất luận cá nhân đúng hay sai, bản án cô đơn đã đóng dấu lên số phận của họ là bất khả giải, là không thể thay đổi.
3.1.2. Cô đơn - định mệnh 
Không biết tự thuở trước, Chúa có lấy nỗi cô đơn hòa vào đất sét để sinh tạo con người hay không mà cả ức triệu năm trôi qua, loài người vẫn còn đau đáu với thứ cảm giác ấy. Bởi có những nỗi cô đơn không thể lý giải, những nỗi cô đơn không biết từ đâu đến, tồn tại vĩnh viễn và nhức nhối. Một số nhà văn đã triết lý về dạng thức cô đơn này như một mệnh đề của bài toán hiện sinh. 
Nguyễn Huy Thiệp viết: “Ai chẳng sống một mình, từ xửa từ xưa đã thế rồi”. Dương Bình Nguyên nhìn con người oằn mình trong nỗi cô độc, tự thấy thân phận mình như hạt cỏ lạc loài một chiều bay theo gió: "Chúng ta là những cái rễ cây không có đất để víu lại, sống một đời phù du như cát bay…" (Cải lạc loài). Một nhân vật trong truyện ngắn của Phan Hồn Nhiên bình thản nhận xét: “Dầu sao, ai cũng phải chịu cô độc. Rồi tự vùng vẫy mà thoát ra khỏi nó...”. Và Nguyễn Thị Châu Giang trong Một tôi và một đám đông cũng khẳng định điều tương tự: “... Cô đơn đã trở thành bản chất của con người, ăn sâu vào máu thịt”. Trả lời cho câu hỏi: “Hình như bà đang cô đơn?”, một nhân vật nữ trong truyện ngắn Con ruồi (Tạ Duy Anh) đã tự nhận: “Cô đơn là máu của em! [101, tr. 68]. 
Cô đơn là bản chất người, nên con người thường tiên cảm về thân phận mình, thấy mình là “giọt buồn” tự thuở mới sinh ra: “Tôi thấy tôi khi ấy, khi mới chào đời và có một định mệnh treo lơ lửng trước cuống nhau, rằng tôi sẽ là một giọt buồn” [107, tr.8]. Điều bi đát là con người hoàn toàn vẫn có thể cô đơn ngay giữa nhân quần, khi xung quanh họ có vô vàn gương mặt và dáng vẻ. Ngọc trong Những người thợ xẻ (Nguyễn Huy Thiệp) từng khắc khoải khi thấy xung quanh mình chỉ toàn là người dưng: “Người dừng ơi người dưng, một triệu người tôi gặp trong đời có ai là máu của máu tôi? Là thịt của thịt tôi? Có ai không? Có ai sẽ sống vì tôi và sẽ chết vì tôi? Có ai không? Có ai là thượng đế của tôi? Cũng là thần tử của tôi? Ai là tâm phúc với tôi? Là hi vọng của tôi? Cũng là địa ngục của tôi?”. Trong những trường hợp như thế, con số thống kê toán học chẳng nói lên được điều gì, có chăng chỉ càng khiến cho cái mộng ước kết giao kia thêm phần thống khổ: “… Tôi biến thành một vật thể ảm đạm, chuyển động cùng mười một triệu vật thể lạnh nhạt và đơn độc trong cái đô thị sầm uất mênh mông” [117, tr.66]. Hóa ra, hàng nghìn, hàng triệu con người ở bên cạnh nhau nhưng không gắn kết được thì cũng chỉ là những mảnh số phận vương vãi và lạc loài mà thôi. Con người chỉ là một trong cả biển người mênh mông: “Từ đấy, giữa biển người mênh mông, Phi gặp biết bao nhiêu gương mặt, cùng cười đùa với họ, hát cho họ nghe, cùng chạm ly uống đến say… Nhưng không ai nhắc Phi cắt tóc đi, đàn ông đàn ang ai để tóc dài. Biển người thì mênh mông vậy…” [123, tr.111]. 
Lưu Quang Vũ từng viết những vần thơ đầy triết lý về nỗi cô đơn: “Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ/ Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào/Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao”. Hóa ra người ta có thể cảm thấy cô đơn, cô độc ngay giữa đám đông, ngay trong sự sẻ chia. Phan Hồn Nhiên hẳn cũng từng trải nghiệm cảm giác này khi viết về cảm giác của một chàng trai trẻ: “Có một lúc, anh ngỡ như một người nào đó lẳng lặng đi phía sau. Anh ngoảnh nhìn. Đường phố đầy ắp. Nhưng không ai cả” [117, tr.187]. Theo Bùi Bích Hạnh, từ góc nhìn lí thuyết tâm lí học đám đông của Gustave Le Bon, có thể cắt nghĩa cho điều tưởng chừng phi lý này bằng “nhu cầu khước từ cá nhân ra khỏi cơ chế gợi ý, lây nhiễm của đám đông. Lúc đó, cái tôi tham vọng thể nghiệm tận cùng nỗi cô độc nội tại mang màu sắc bản thể hiện sinh” [2, tr177]. 
Không là gì nhưng cảm giác cô đơn lại có thể khiến người ta đau đớn hơn nhiều vết thương thân xác. Nếu không thế, Hoan (Thành phố trên cốc Phan Hồn Nhiên) đã chẳng ứa nước mắt khi nghĩ đến hiện tại và cả tương lai cô độc của mình: “Thật khủng khiếp khi nghĩ rằng mỗi người trên trái đất này sẽ có hàng chục, có thể hàng trăm, hoặc hơn thế nữa, những sáng chủ nhật cô độc như thế này”. Thậm chí, người ta có thể có cái ước muốn ngô nghê đến độ là ăn chung đĩa thức ăn với ai đấy để xóa nhòa đi cảm giác cô đơn như nhân vật tôi trong Ván cờ (Phan Hồn Nhiên). Khi đi ăn tối cùng Megumi, nhân vật tôi đã chỉ gọi một phần mì bạch tuộc lớn mà lý do là bởi “điều gì đó, giống như nỗi cô độc vừa mở mắt, khiến tôi khao khát được ăn chung bát với ai đấy”. Nương 64 trong Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư) “ngồi một mình, chan nước vào chén cơm như chan nỗi trống trải khủng khiếp”. Trong Thị trấn bốc cháy (Dương Bình Nguyên), chàng trai trẻ đã nhìn nhận tình bạn của mình như một sự tìm đến nhau để khỏa lấp nỗi cô đơn: "Tôi và nó. Vì bị cô lập, vì cô độc mà hợp nhau lại như tìm một điểm tựa, một niềm tin trên con đường dài không có bạn bầy". 
Các nhà hiện sinh khẳng định con người tuyệt đối cô đơn trên hành trình kiếm tìm tự do, khẳng định nhân vị. Vì lẽ đó, nhân vật bộc lộ sự cô đơn của mình như một thái độ triết học, như một khát vọng tận cùng và muôn thuở “vươn đến đảm nhiệm cô đơn trong cuộc kiếm tìm tự do” [29, tr.176]. Cô đơn trở thành thuộc tính người: 
- Em cảm thấy mình đơn độc quá (Ám ảnh - Nguyễn Thị Thu Huệ). 
- Và nàng cô đơn quá. Nàng là người lữ hành mang một khối nặng trên vai, lang thang không nơi dừng chân... [128, tr.137]. 
- Bất giác hắn thấy mình là kẻ lữ hành mang trên đôi vai gánh nặng của kẻ khác. Cô độc (Đi về miền ấm áp - Dương Bình Nguyên). 
Và vì cô đơn là định mệnh, là thứ phức cảm tâm lý có sẵn từ trong tiềm thức người nên nó gần như “di truyền” từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tạ Duy Anh đặt tên tác phẩm của mình là Luân hồi hẳn cũng không ngoài ý này. Tác giả viết về mối tình trong cô đơn, lo âu và đầy thống khổ của đôi trai gái hòa trong nỗi cô đơn của một gia đình, của cả một dòng họ: “Tôi sinh ra từ những cơn mưa. Vào một đêm thẳm sâu nào đó, trong nỗi cô đơn khủng khiếp, cha tôi lang thang đi tìm một miền khô ráo… Khi nhặt tôi từ giấc mơ của mẹ tôi, ông biết trước dòng máu hùng mạnh, cô độc chảy đến ông là hết. Ông là tiếng hú hạn màn của một tấn bi kịch không có chuyển cảnh” [103, tr.184]. Bản án cô đơn ấy như một thứ gen di truyền mà thế hệ trước đã truyền lại cho hậu thế, và mỗi người tự nhiên sẽ tiếp nhận sự di truyền như một điều tất yếu, để rồi đi hết cuộc đời mà vẫn không đủ tuổi để sống với nỗi cô đơn. Luân hồi là bánh xe số phận, gắn chặt với những thân phận cô đơn có từ kiếp trước và còn kéo dài triền miên ở kiếp sau, mãi mãi như thế, vĩnh viễn như thế. 
Người mẹ trẻ trong Tâm sự với con (Đặng Thị Thanh Hương) đã thủ thỉ với đứa con nhỏ những lời chắt ra từ cả quãng đời đầy biến động của mình: “Những con thuyền như lũ vịt đang bơi. Hồ Tây sao mà mênh mông thế, mẹ nghĩ, như chân trời không sao đến được… Nhưng thôi, để mẹ gửi con ở nhà trẻ. Ở đấy con sẽ có nhiều chúng bạn. Con không cô độc như mẹ… Mẹ lần hồi và cô độc đi trong những buổi chiều góa bụa, nâng niu chăm sóc con từng tí. Đời đàn bà, nỗi đau khổ và cô đơn thường gắn liền với nhau. Mẹ hiểu điều đó nên càng thương bà và thương con. Một đời cô độc của bà cộng với niềm cô đơn của mẹ hơn hai mươi năm qua để cho con bây giờ”. 
Ý nghĩa của dạng thức cô đơn - định mệnh gắn liền với trạng thái bị ruồng bỏ. Nhân loại đã đi qua tuổi ấu thơ với rất nhiều niềm tin trẻ dại, rằng con người được cưu mang và che chở bởi các lực lượng siêu nhiên huyền bí. Thế nhưng, cái thời ấy đã xa. Con người không còn có thể giữ trọn niềm tin vào những tín điều, những sức mạnh vô hình được gửi đến từ trời cao như trong thần thoại, truyền thuyết. Những khám phá và phát minh khoa học đã mang lại cho con người một phương tiện nhận thức mới về cuộc đời. “Tính chất tự do khai phóng cũng cho phép người ta lên án những giá trị Thiên Chúa giáo mà người ta cho là không còn sinh lực để khai triển nhân sinh quan mới: gần hai ngàn năm Tây phương đã sống yên ổn dưới sự che chở của một đấng Thượng đế tượng trưng cho giá trị tuyệt đối, giải thích được mọi thắc mắc, an ủi được mọi thống khổ và là nguồn gốc mọi cảm hứng nghệ thuật, đạo đức và tình cảm” [47, tr. 35]. Tuy nhiên, cũng “từ khi người ta vì bất mãn trước những thống khổ của trần gian mà truất phế ông Trời, người ta bỗng trở lại thấy mình chơi vơi, lạc lõng giữa đêm dày không gian và thời gian, kiếp sống trên một hành tinh bé nhỏ, lạc lõng giữa vũ trụ bao la…” [47, tr. 35]. Thân phận của họ giờ đây là cả một sự ruồng bỏ. Nỗi cô đơn, sự bơ vơ ấy đã “dịch chuyển” từ một châu Âu điêu linh, trống rỗng trong thời đại “mất Chúa” để đến Việt Nam. Ở mảnh đất nhỏ bé vốn dĩ sống sâu, sống lặng với phần tâm linh này, phức cảm tâm lý ấy nhanh chóng lan rộng, xuyên qua hai cuộc chiến tranh, dai dẳng tồn tại và ngày càng đậm nét hơn trong nhịp sống hiện đại. Không viện cầu đến Chúa, các nhà văn tìm đến những biểu tượng tâm linh Việt hoặc sáng tạo ra những biểu tượng văn hóa - tâm linh riêng cho mình. Trong truyện ngắn Chảy đi sông ơi, Nguyễn Huy Thiệp viết: “Nước chảy rất xiết, nước chảy bao giờ cũng xiết. Có điều phải cố mà bơi cho đến được bờ...”. Con trâu đen không đến cứu chàng trai như giấc mơ thời con trẻ. Mẹ Cả trong Con gái thủy thần cuối cùng cũng chỉ là một huyền thoại, một linh ảnh ấu thơ. Những ảo tưởng đẹp tồn tại khắp nơi trong cuộc đời này, nhưng những ảo tưởng đó cũng yếu ớt và bất lực biết bao. Chúng không đủ quyền năng để nâng đỡ và giúp con người vượt qua những cạm bẫy mà số phận giăng mắc. Bị những người đánh cá đêm đột ngột, vô lý ném xuống dòng sông cuộn xoáy, chàng trai không cầu cứu được ai ngoài chính bản thân mình. Chương trong Con gái thủy thần cũng vậy, chỉ có thể trông cậy vào con dao mang bên mình để tự vệ, bởi con dao ấy là sức mạnh có thực. Điều này cũng có nghĩa là con người hoàn toàn phải tự chống chọi, tự quyết định số phận của mình, cơ hội trông chờ vào những quyền năng tối thượng đã mất. 
Nếu như Nguyễn Huy Thiệp nhắc đến Mẹ Cả với một niềm tin sâu sắc và bền chặt như tin vào một tín điều thì Võ Thị Hảo lại nhắc đến những biểu tượng trong tâm linh Việt là Phúc, Lộc, Thọ. Chỉ có điều, đặt trong dư vang của thời đại “vô thần”, Phúc, Lộc, Thọ cuối cùng cũng chỉ là ảo ảnh. Thanh đã từng chua chát nói với Phin: “...Trông tao đây này. Đời tao vứt cho chó nó cũng chẳng thèm nhá.... Tay tao đã khắc cả ngàn tranh Đức Mẹ, ngàn tranh Phúc Lộc Thọ. Đức Mẹ và Phúc Lộc Thọ thì cứ bay lên trời. Còn tao thì ở lại với kiếp tù mọt gông” [113, tr.116]. 
Mất sự phù trợ từ chín tầng cao, con người quay trở về vin tìm chỗ dựa trần thế để rồi nhận ra, mình không chỉ bị bỏ rơi một lần. Đời sống hiện đại là nơi mà con người dễ dàng bỏ rơi nhau trong tất cả mọi mối quan hệ và vì thế chút gì đó níu họ lại với nhau thật quá mong manh, dù là tình bạn, tình yêu hay thậm chí là tình mẫu tử. Trong truyện ngắn Cải lạc loài (Dương Bình Nguyên), món quà của người mẹ lại càng khiến cho nỗi căm thù trỗi dậy trong lòng đứa con: "Tôi mang những món quà xấu đến dị người và thum thủm mùi nước cống đó buộc vào con bù nhìn coi vườn cải - Bà đi đi, đừng bao giờ mang những thứ thiu thối này về. Đời tôi sẽ không cần bà đâu. Tôi sẽ sống để bà chống mắt lên mà nhìn...". Đã bị bỏ rơi một lần, đứa con chấp nhận sống kiếp bị bỏ rơi vĩnh viễn khi đóng chặt tất cả những nẻo đường quay về của người mẹ. 
Giày đỏ và Thị trấn bốc cháy (Dương Bình Nguyên) đều kể về những con người bị bỏ rơi trong tình yêu. Cả chàng trai và cô gái - nhân vật chính trong hai chuyện tình đều chọn cách đoạn tuyệt với quá khứ và tự xóa mình đi vĩnh viễn (cô gái biến mất, chàng trai đốt cháy căn nhà). 
Không phải con người đã thôi nỗ lực bấu víu để cam chịu cô đơn. Những đứa con cần đến bố mẹ: “Bố ơi, thế là bố lại về rồi. Chúng con thì trẻ dại, mà sống thì khó lắm bố ơi. Chúng con khổ quá”; những người yêu nhau vẫn cần nương dựa vào nhau để cùng đi hết cuộc hành trình. Nhưng kết cuộc, trong những lúc đớn đau nhất, con người vẫn chỉ một, bị bỏ mặc với nỗi đau của chính mình. Tất cả họ đều giống nhau ở chỗ là “những kẻ bị ném trả lại cho chính mình. Không gì bám víu” [117, tr.173], những kẻ “chẳng còn gì để nương tựa ngoài chính bản thân mình” [117, tr.221]. 
Ở một khía cạnh khác, “chủ nghĩa hiện sinh ra đời nhằm phản ứng lại sự duy lý đã đạt tới đỉnh điểm, khi các cá nhân trở thành mảnh vỡ giống nhau trong một ống kính vạn hoa quay tít bằng ánh sáng của các thành tựu khoa học và lối sống sùng bái sức mạnh vật chất bộc lộ mặt trái của nó… Là cảm nhận về sự tha hóa của con người do sự tiến bộ của kỹ thuật thiếu tính nhân văn và sự bất lực của lý tính khi giải mã thế giới nội tâm của cá nhân…”[1, tr.69]. Thế giới hiện đại là nơi mà mọi thứ đều có thể lập trình, đều có thể được tái hiện thông qua những ký hiệu, những mã số. Nhưng oái oăm là càng tiến gần đến hiện đại thì con người hình như càng xa hơn với nhịp đập trái tim mình. Bức tường kỹ nghệ trở thành trở ngại không thể vượt qua giữa những tâm hồn vốn dĩ đã mang chứa quá nhiều nỗi niềm. Điều này lý giải vì sao con người hiện đại càng lúc càng có khuynh hướng “tạo ra ốc đảo riêng cho mình để bảo toàn các giá trị trinh nguyên ban đầu của nó” [1, tr.69]. Byron từng nhắc đến cái gọi là sự cô đơn đô thị hay cô đơn hiện đại. Đây chính là một trong những biến thể thời đại thông tin toàn cầu của cô đơn hiện sinh. “Đặc điểm của cô đơn hiện đại chính là sự xuất hiện nỗi cô đơn hàng loạt - một triệu chứng tổng quát, một hiện tượng xã hội. Chưa bao giờ kẻ cô đơn lại nhiều đến thế như ngày nay trong các thành phố hiện đại. Cô đơn trở thành một trạng thái xã hội” [55, tr. 141]. Con người có nhu cầu một mình nhiều hơn. Đêm thánh vô cùng (Sương Nguyệt Minh) kể chuyện một gia đình mà mỗi thành viên là một ốc đảo riêng biệt: “Nhà này ai cũng một mình”. Thậm chí, ngay cả người bố cũng không có cơ hội thâm nhập vào cái thế giới riêng đó của con trai mình: “Tiếng cánh cửa đóng sầm, và tiếng lách cách gài chốt. Chốt cửa, một thế giới riêng biệt khép lại. Thằng bé “một mình rồi”. Tôi không thể bước vào cõi ấy được nữa. Tôi cảm nhận mình đang bất lực. Và tôi nhận ra mình đang nằm trơ trọi trên giường, cô độc ngay trong nhà của mình” [113, tr.86]. 
Cô đơn hiện đại xuất hiện từ khi con người chính thức đặt những bước chân ngạo nghễ lên ngôi đền của khoa học kỹ thuật, thoạt tiên thống trị các thành phố lớn trước khi lan tỏa mạnh mẽ đến nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên toàn thế giới. Để vượt thoát nỗi cô đơn, con người tìm đến với sách vở, mạng thông tin, ép mình sống bằng những trạng thái cảm xúc ảo. Một cái nhấp chuột mang lại cho con người tất cả những thứ họ cần, kể cả các mối quan hệ. Nhưng một khi từ thế giới ảo ấy quay trở lại với cuộc sống bình thường, con người mới nhận ra rằng công việc họ đang làm thực chất chỉ là xếp chồng nỗi cô đơn ngày sau lên nỗi cô đơn ngày trước.
Chúng ta đang sống trong một xã hội mà những mối quan hệ đang dần đứt lìa, giống như nhân vật Điền trong Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư): “Sợi dây xúc cảm như lối đi lâu lắm không người lui tới, cỏ dại mọc bít mất, đường đứt, cầu gãy…” [123, tr. 163]. Như vậy, cô đơn là một trạng thái tâm lý của con người hiện sinh xuất phát từ mặc cảm bị ruồng rẫy, lìa bỏ, bị đẩy vào tình trạng không mối liên hệ. “Cô đơn hiện sinh thực ra không bao giờ chấm dứt, bởi vì đấy là hậu trường vĩnh cửu của cộng đồng… Cô đơn như một khả năng của sự sống” [55, tr.139-140]. 
3.2. Kiểu con người nổi loạn 
So sánh Đạo Phật với các tư trào hiện đại, nhà nghiên cứu Thích Đức Nhuận cho rằng: “Hiện sinh đã đặt toàn thể thân phận con người trong một cảnh khổ tuyệt vọng, rồi đào bới tất cả những khả năng tự tạo của con người đã có để bắt buộc đem ra thi hành. Nhưng bất cứ cuộc ứng dụng nào cũng đem tới kết luận là thảm bại. Tâm thức con người đang bị những đường roi hiện sinh quất xuống rất mạnh, bắt buộc tâm thức phải tự dao động. Ý thức con người không được quyền an nghỉ nữa. Phải vùng lên để tự thăng hóa. Đó là một thực trạng của thời đại” [57, tr.13]. 
Quả thực, không những không được an nghỉ, con người - hơn thế nữa - phải loay hoay “quy hoạch” chính cuộc đời của mình. Rất dễ nhận thấy rằng các nhà hiện sinh thường dùng tác phẩm để tuyên ngôn cho một lối sống tích cực, một lối sống theo kiểu “cháy hết mình”, bởi cuộc sống không dài và đầy ánh hào quang như người ta hằng tưởng mà này đầy rẫy những điều bất trắc. Thế nên, con người trong tác phẩm của các nhà hiện sinh luôn phải tìm cách bươn chải chỉ để sống cho ra sống. Với họ, sống không phải chỉ là sự hoạt động hít vào - thở ra một cách đơn thuần mà là tranh đấu, là vẫy vùng, là tận hiến cho khát vọng, đam mê của mình. Kiểu con người với sắc thái tính cách này được hầu hết các nhà văn yêu thích và thể hiện, tuy nhiên, cách thức dấn thân để lấp đầy khát vọng ở nhân vật của mỗi nhà văn lại có màu sắc riêng.
Cũng cần phải khẳng định, phản kháng hay nổi loạn của hiện sinh thường không nhắm đến một đích cụ thể như làm cách mạng hay lớn lao hơn là thay đổi một thể chế; nó cũng không phải là kết quả của sự bùng phát “tức nước vỡ bờ” mà là một quá trình âm ỉ kéo dài, thôi thúc mạnh mẽ kể từ khi con người thức nhận được về cuộc hiện sinh cho đến lúc trước mắt họ là cái chết. Nói theo một cách khác, “phản kháng, hay nổi loạn của hiện sinh là kết tội xã hội đã làm mất đi nét riêng tư, cái đặc hữu chỉ có ở riêng tôi làm cho tôi không còn là tôi nữa, bắt tôi phải như người khác.(…) Phản kháng, nổi loạn là biết chối bỏ, nói không với cái đang là, biết nói vươn tới cái sẽ là và trở về cái nguyên ủy tinh khôi dưới ánh sáng soi đường của nhân vị” [15, tr. 25].
Nổi loạn là một khái niệm từng được nhắc đến nhiều trong văn học miền Nam Việt Nam trước 1975. “Cá tính văn hóa miền Nam thời đoạn này được xác lập qua hệ hình nhân vị lây nhiễm tinh thần hôn phối Đông Tây. Mà ở nhánh Tây phương, hiện tượng luận hiện sinh được xem như là mô thức tư tưởng nổi loạn của một lớp người mang trong mình vết thương sâu xoáy của chiến tranh. Sự lây nhiễm cảm thức phi lý đã đưa con người đến với tâm thế phản kháng/ nổi loạn” [29, tr.181]. 
3.2.1. Nổi loạn trong nhận thức 
“Sự phản kháng là một hình thức chống lại một tình trạng hỗn độn phi lý. Và do đó sự phản kháng bao hàm rằng tôi không phải là điều tôi phản kháng, tôi không đồng hóa, bằng lòng tình trạng hỗn độn kia. Sự phản kháng chỉ thị tôi phải là cái gì khác, không phải là cái mà tôi phản kháng mà muốn từ chối cái tôi phản kháng” [78, tr. 67]. Hiển nhiên, phản kháng là một trong những phẩm tính hiện sinh quan trọng: “Người chỉ là người thực sự nếu biết phản kháng. Danh dự, giá trị làm người ở chỗ biết phản kháng, chống lại một thân phận đã bị gán cho một cách phi lí” [78, tr. 69]. 
Một trong những xuất phát điểm đầu tiên chứng tỏ sự lớn lên, sự trưởng thành của phẩm tính hiện sinh ở con người chính là sự thức nhận - trong một khoảnh khắc nào đó - cái tẻ nhạt của cuộc sống thường nhật. Bởi có những khi, con người trở nên vô cảm với chính sự tù đọng của đời người. Họ thực hiện nó một cách nghiêm cẩn, không mảy may xao động, phản kháng: “Hàng ngày em làm việc như một cái đồng hồ. Sáng nghe bính boong chuông lễ, em mở mắt ra, việc đầu tiên là nghĩ đến anh như một thói quen, kế đến là bình an nghĩ đến người hiền. Rồi em rửa mặt, đánh răng, nấu một nồi cơm, nhét chặt cùng rau thịt vào một cái lon guy go mà đến lớp. Ở lớp em lặng lẽ làm đủ số việc được giao, buổi trưa, ở một góc hành lang, em lặng lẽ mở nắp lon cơm đọng đầy nước, ngủ một giấc ngắn ngủi với vài cơn mơ lẫn lộn… Sáu giờ tối em về đến nhà. Ở cửa, em hỏi mẹ: “Có thư không?”, mẹ em sẽ uể oải: “Không!”…” [104, tr.54]. Khát vọng cháy bỏng muốn thoát ra khỏi cái vùng khí quyển nhờ nhờ, không hương sắc đó chính là động cơ mạnh mẽ nhất cho hành trình dấn thân của mỗi con người. Khát vọng đó tượng hình trong câu hỏi xoáy mãi vào tâm can Vi (Cuối mùa bạch yến - Đỗ Bích Thúy): “Đời Vi chẳng lẽ giống cái cối này, cứ đứng mãi một chỗ, làm mãi một việc, ngày một già đi, khô héo đi, chẳng lẽ chỉ như thế thôi sao?” hay My (Thiếu phụ chưa chồng - Nguyễn Thị Thu Huệ): “Chẳng lẽ cái đời tôi chỉ cần có ăn với ngủ là xong thôi à? Sẩm tối là nhà nào biết nhà ấy, cứ thanh bình mà sống nếu như ngày hôm ấy không bị sổng con gà hay mất con chó. Rồi đẻ. Đẻ một lũ mặt mũi ngờ nghệch như ở trong hang, trong hốc” [110, tr.109]. 
Cùng chia sẻ ý tưởng này, nhiều nhà văn gặp gỡ nhau ở những trang viết về cuộc sinh tồn quanh quẩn và tẻ nhạt mà chúng ta có thể bắt gặp hằng hà sa số trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại. Cũng là cái bi kịch sống mòn mà cách đây mấy chục năm, nhân vật của Nam Cao từng trăn trở. Đó là bi kịch của sự thui chột những ước mơ, khát vọng, của lối sống theo “quán tính” đều đều, êm êm, của những cuộc đời từ lúc sinh ra đến lúc chết đi chưa từng một lần ngẩng mặt lên hướng về chân trời. Các nhân vật nổi loạn về nhận thức thường có khuynh hướng sống nhiều, sống sâu với những suy nghĩ của mình. Độc thoại nội tâm được sử dụng xen kẽ với những khúc đoạn miêu tả tâm lý. Và bao giờ cũng vậy, cái không gian hiện lên trong tác phẩm là kiểu không gian hoặc tù túng, bó buộc, trói chặt con người hoặc chán ngán, tẻ nhạt, đều đặn, không có biến động. Đó là thứ không gian vẽ nên bằng những gam mờ, những đường nét quẩn quanh và những hoạt động đã trở thành “nếp” thường nhật: 
“Có những người từ khi tôi biết đến lúc chết vẫn lầm lụi sống bằng cách vắt kiệt sức mình. Quá nửa thời gian họ cặm cụi đào bới ngoài đồng. Đêm về họ ngồi thu chân bên rổ khoai luộc ăn với cà nén, chẳng mấy lúc được thảnh thơi nhìn lên trời để suy ngẫm về những điều huyền diệu của vũ trụ” [101, tr.60]. 
“Bác ngồi ngó mông lung ra dòng sông chảy qua trước cửa nhà, thấy đám lục bình líu ríu trôi miết về xa. Bác bỗng nghĩ về đời sống của đám lục bình kia. Dẫu nó là thân bèo dạt cũng trôi hết xứ này sang xứ khác, theo sông mà biết đến nơi gần, chốn xa. Bác lại ngẫm về mình, một đời chôn chân, mọc rễ trên mảnh đất này: đi chưa quá chợ huyện, chợ xã, vui chơi chưa ra khỏi lũy tre đầu làng, con đường ra ruộng, về vườn, cả xóm làng, cả mái nhà, vợ con..đều quá quen thuộc, quá gần gũi đến mức bác cảm thấy không nghĩ, không nhìn, không sờ mó, đụng đến cũng biết được. Ước muốn được biết về những điều mới lạ, những thứ ngoài mình bỗng chốc xâm chiếm bác” (Đi một ngày đường - Nguyễn Lập Em). 
Nếu như Sartre là người đã miêu tả một cách rất đầy đủ, sinh động nhưng không kém phần chân thực cảnh sống chán ngán, vô vị của con người trong triết học của mình thì các trang viết đã dẫn trên hẳn được viết ra không ngoài mục đích chia sẻ ý tưởng đó. Những đường nét, dáng vẻ được nhấn đi nhấn lại gọi lên cảm giác buồn chán, quẩn quanh, tù túng. Những nhu cầu quá sức bình thường của con người để duy trì sự tồn tại cũng được nhắc đến như một cách để tô đậm thêm cái vô nghĩa lí của đời. Và thậm chí, ngay cả khi đã sung sướng, đã đủ đầy, đời có thể vẫn cứ tẻ nhạt không hơn: “Nàng thấy mình được no nê, được vỗ về, được ru ngủ thật sự trong niềm vui quen thuộc dù lắm lúc nàng cũng thấy hoảng: cuộc đời chỉ có bằng này thôi ư, hạnh phúc không còn bộ mặt nào khác nữa ư, yên ấm thì luôn phải loại trừ sự nghiệp ư? Nàng ngắm mình, trông nàng sởn sang một cách tầm thường, nàng ngắm chồng, trông anh trì trệ và mỏi mệt…”. 
Cuộc sống tẻ nhạt đó cứ lần hồi gặm nhấm những phần khát khao cao cả và đẹp đẽ của con người, khiến họ cứ chỉ cúi mặt mà tồn tại, một cách chăm chỉ, cần mẫn và mò mẫm. Với những tâm hồn tội nghiệp ấy, việc ngẩng đầu lên để suy ngẫm về những điều sâu xa hơn chuyện cơm ăn áo mặc đã là một cái gì đó xa xỉ: 
"Tôi đứng lên đỉnh đồi, nhìn trời, thấy đất này, cây này đẹp thật, mà sao nó lại sinh ra cái thị trấn ảm đạm như một nghĩa địa sống. Người ta sống lầm lụi quá. Đi ngoài đường cũng ít ai ngẩng mặt lên" (Thị trấn bốc cháy - Dương Bình Nguyên). 
“Tôi nhìn ra sông chán ngán.
Phía bên trái, cầu Bình Triệu lô nhô những bóng đèn xa bé xíu. Kinh thật, cuộc sống thì vĩ đại đến thế mà con người li ti như kiến, luẩn quẩn loanh quanh không thể định hướng được cuộc đời của mình. Họ bám đuôi nhau, cắm cúi hòa mình vào những bon chen của cuộc sống. Chúng tôi ngồi đây, vẫn đau đớn nhận ra mình đang bị chìm dần trong dòng lũ đó” (Đèn lồng đỏ treo cao - Nguyễn Thị Châu Giang). Nhận thức về cuộc đời tù đọng gắn liền với khao khát tự do của các nhân vật. Việc bị ràng buộc, bị điều khiển, bị giật dây, bị giằng giữ trong các mối quan hệ, các quan niệm, định kiến là trở lực lớn nhất ngăn cản con người vươn đến tự do - cái đích đến mà mọi hiện sinh thể đều cố truy tầm trong cuộc chạy đua với số phận. Điều này chính bởi vì “hiện sinh không gì khác hơn là hành trình giữ gìn nhân vị của hiện thể. Nhân vị giống như nét vân tay, nhờ có vân tay mà bàn tay này mới khác bàn tay khác” [15, tr.70]. Như vậy, xét đến cùng, việc xem nhân vị là thành tố trung tâm của mọi quan niệm hiện sinh đồng nghĩ với việc chống sự tha hóa con người. Con người cần phải luôn được tự do và được là chính mình. Điều này lý giải vì sao dẫu vẫn biết tình yêu là báu vật, nhưng người ta có thể từ chối báu vật ấy nếu nó mang màu sắc chiếm hữu như lời bộc bạch của cô gái trẻ trong Gió mưa gửi lại (Thùy Linh): “Cháu đã quen với cuộc sống có rất ít sự níu kéo. Cháu không muốn bị chiếm hữu, cháu cần được tự do trần trụi. Mà tình yêu lại không mang lại cho cháu những cái đó” [127, tr.223]. Người ta cũng có thể phải mất rất nhiều thời gian để thoát ra khỏi cái bóng của một ai đó như người con trai trong truyện ngắn Nguyên quán (Dạ Ngân). Y khắc khoải với thân phận “con rối” trong tay mẹ suốt bao nhiêu năm trời. Cả cuộc đời ba mươi lăm năm có lẻ của y chỉ do một tay mẹ sắp đặt, y chỉ có nhiệm vụ gật đầu chấp nhận. Nên với y, việc muốn rũ bỏ thứ trách nhiệm lâu nay bà mẹ tròng lên đầu lên cổ y cũng đã là một kiểu nổi loạn trong tư tưởng: “Bao giờ thì y rũ bỏ được bổn phận với ngôi nhà vô hồn này…”. 
Như vậy, chừng nào con người còn biết đau đớn, biết cảm thấy khổ sở trước cảnh sống phi lý, bị câu thúc này, chừng đó họ vẫn còn cơ hội để tiếp tục thăng tiến trên con đường hối cải của mình. Tuy nhiên, ý nghĩa của quá trình nhận thức mang màu sắc hiện sinh này không phụ thuộc nhiều vào việc nó có dẫn dụ đến những hành động cụ thể không. Bản thân thứ cảm xúc sinh ra từ quá trình tự thức nhận này cũng đã mang những giá trị kích khởi mãnh liệt. Sự đau đớn, tiếc nuối, chua xót có thể âm thầm chuyển hóa thành hành động. Trong Giờ xanh (Phan Hồn Nhiên), lá thư của Junichi viết cho Hoan có đoạn: “Anh cảm thấy đã sống đủ. Không còn gì để tò mò. Anh đi nhiều nơi, gặp nhiều người. Từng nhận ra mọi thứ đều giống hệt nhau. Thế nhưng sự yên tâm đó vỡ vụn vào tối bão chúng ta ở bên nhau. Khi em ngủ, anh thức. Khi em nhìn ra biển, anh thức. Và qua em, anh nghĩ thật đáng sợ nếu 40 năm nữa anh vẫn thấy mình tựa con sứa trôi theo các đợt sóng, trống rỗng, không là gì cả...” [117, tr.60]. Sống là để lấp đầy như cách lựa chọn của Hoan: “Tôi muốn thử một đợt sống thật khác. Nếu không bây giờ, sẽ chẳng bao giờ”. 
Bất luận thế nào, một khi đã nhận ra cảnh ngộ của mình cũng tức là đã tỉnh ngộ. Danh ngôn nói rằng muốn không bị rêu bám thì hòn đá phải lăn. Hẳn nhiên mọi sự so sánh đều là khập khiễng, nhưng nếu có thể so sánh thì nhận thức của mỗi người về cuộc đời tẻ nhạt của mình chính là “cái nhích” đầu tiên để chuẩn bị cho quá trình chuyển động thực sự. 
3.2.2. Nổi loạn qua hành động 
Nhận thức được tất cả những điều trên đã là một bước tiến của con người trên hành trình khẳng định “nhân vị” của mình. Nhưng không dừng lại ở đó, con người còn vùng vẫy, tranh đấu, phản kháng - dù đôi lúc cực đoan, để xác quyết hiện hữu của mình. “Con người bao giờ cũng tranh đấu, tranh đấu là đặc tính giúp con người sinh tồn, tranh đấu với hoàn cảnh và đôi khi, cả với quyền lực thiêng liêng nữa”. Không ai và không một con người nào ham sống lại chấp nhận ngồi đếm từng ngày sống của mình trôi qua một cách tẻ nhạt. Vì thế, hình ảnh “tân cảng” trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Thị Thu Huệ mới trở thành biểu tượng cho những miền đất mới mà con người khao khát kiếm tìm. Không phải ngẫu nhiên mà người mẹ đã phân biệt một cách rành rẽ hai vùng đất - cũng chính là hai khoảng không gian sáng và tối: 
“Mẹ nói khi cả hai cùng nhìn về phía tân cảng: “Con thấy cuộc sống ở đó không? Suốt ngày đêm tàu ra vào tấp nập. Đấy là bến cho các con tàu đến rồi đi” [111, tr.13]. Quay sang phía khác. Lờ mờ trong bóng tối bên kia sông là làng xóm, âm thầm tĩnh lặng. Mẹ lại bảo: “Đấy là các gia đình tối đến quây quần, loanh quanh rồi ngủ, mai dậy sớm đi làm”… Nó hỏi: “Tân cảng là gì ạ?”. “Là cảng mới. Bao giờ cũng cần bến mới cho những con tàu” [111, tr.13]. 
Sự nổi loạn thoạt tiên có thể chỉ bắt đầu từ trong ý nghĩ: “Lần đầu tiên, tôi có cảm giác ghê sợ cái nhớp nháp của tay vịn, đã mười sáu năm nay chưa bao giờ, chưa khi nào có cảm giác ấy. Tôi nhìn, thấy ghê tởm thứ ánh sáng nhập nhòa, ngày không ra ngày, đêm chẳng ra đêm... Có thể tôi phải học thực giỏi hay đại loại kiếm một công việc nào đó nhiều tiền để rời xa ngôi nhà này? Phải rời xa nó thôi vì tôi không thể gia truyền bún ngan như mẹ tôi và cam nhẫn sống với một tình yêu khủng khiếp như vậy...” (Hóa giải - Phan Quế). Sự ghê tởm, sự xa lạ, lạc điệu với môi trường xung quanh là những cảm nhận đầu tiên có tính dự báo cho mầm nổi loạn. 
Ý hướng nổi loạn - tiếp đó - có thể đồng nhất với ý muốn gào thét, đập phá, nghiền nát, xé tan tất cả, nói chung là một sự bùng nổ đến tận cùng đường gân thớ thịt. Vì chỉ có như thế mới xé toang được cái lặng lờ, buồn tẻ của đời sống hiện tồn: 
“Tôi muốn đập phá. Tôi muốn gào thét. Tôi muốn thứ nhạc thật loạn, điệu Ráp hay tiếng vỡ, nghiến, va đập nào đó có thể nghiền vụn, xé tan tất cả các mạch máu của tôi. Tôi khóc. Không! Tôi không thể sa đọa và phản bội thành phố này” (Hóa giải - Phan Quế). 
“Tiếng thét của tôi bay lên chín tầng không trong thiên đường rồi lặn sâu xuống bảy tầng đất cát địa ngục. Tiếng thét như cánh chim đại bàng, bay đi tìm cái kiếp trước ngang tàng và càn rỡ. Mơ mộng và chìm lút. Muốn chinh phạt mà thành kẻ tội đày. Muốn thành đàn ông mà lại ra một cô gái. Chẳng được đi chơi lênh phênh khắp nơi, chẳng được đỏ đen mê muội, chẳng được vênh váo không cần biết ngày mai” (Giấc mơ - Võ Thị Xuân Hà) 
“Tôi chạy đến hồ Than Thở, buồn quá, lại quanh quẩn đồi Cù. Còn buồn hơn, mọi thứ đều lặng lờ, tôi muốn thét lên một tiếng thật to, may ra có cái gì sẽ vỡ, sẽ nổ và biết đâu sẽ vui hơn” [104, tr.94]. “
Tôi không thích tình yêu vô hạn độ 
Mà chỉ thiết tình yêu như rượu mạnh sục sôi 
Trong phút chốc làm nổ tung chai 
Và chảy phí ra ngoài” [105, tr.7] 
Trong một số trường hợp, nổi loạn là cách thức chống lại sự nô dịch, đồng hóa, lệ thuộc về mặt tinh thần, để chống lại những thiên kiến hẹp hòi, để xác lập cái gọi là cá tính riêng, tâm hồn riêng, phẩm cách riêng của mỗi người. Đứa con trai không tuân theo sự sắp đặt của bố vì muốn tự lèo lái cuộc đời mình trong Hoa tre (Nguyễn Xuân Hưng) là một minh chứng. Anh “đã từ chối một bệ phóng để thăng quan tiến chức”, anh là “đứa con hư hỏng trong con mắt của cả ông và bố”. Tuy nhiên, chỉ anh hiểu và biết rằng mình đã lựa chọn đúng khi quyết tâm theo đuổi niềm đam mê và sống đến cùng với nó. Người hiện sinh không hối hận một khi đã lựa chọn cho dẫu người đời nhìn họ như nhìn những kẻ cuồng điên, vì lẽ: “Tôi chỉ hối hận với chính mình khi không dám sống như mình muốn sống, định sống và sẽ sống. Tôi kiên trì lẽ sống của tôi. Không ai ràng buộc được tôi cả, trừ mẹ tôi người đã sinh ra và ném tôi vào cuộc đời này…” (Thu đi lá rơi xào xạc - Trịnh Thanh Sơn). 
Sắc thái nổi loạn hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại đặc biệt phong phú và tươi mới ở khuynh hướng kêu đòi cho quyền được thỏa mãn những khát vọng luyến ái. Ham muốn tính dục là một trong những bản năng gốc đã trỗi dậy mãnh liệt trong bối cảnh của cuộc chiến tranh tàn khốc, cũng chính là một trong những chiều cạnh tâm lý cá nhân được các nhà văn xoáy sâu miêu tả. Điều này lý giải cho sự xuất hiện của đề tài tính dục với những quan niệm về giải phóng tính dục, những sự phân tích và kiến giải về các biến thể và chấn thương tính dục trong văn học Việt Nam từ 1954: “Trong bối cảnh đó, văn học tính dục chiếm thế thượng phong so với văn học hiện sinh, thậm chí phải tìm cảm xúc hiện sinh trong văn học tính dục. Điều hiếm thấy ở phương Tây” [15, tr.72].
Tuy nhiên, chính trong những năm tháng đó, đề tài tính dục có lúc đã bị lạm dụng, khiến cho sắc thái hiện sinh bị lấn át, thậm chí bị hiểu sai. 
Từ 1986, trong tâm thế cởi mở, dân chủ và ở một ngữ cảnh sáng tạo - tiếp nhận mới, vấn đề tính dục nghiễm nhiên là một trong những đề tài mà ở đó, con người thật với chính mình nhất. Tâm thức nổi loạn hiện sinh hòa điệu với phân tâm học khởi tạo ra kiểu nhân vật sống, chết cho tự do luyến ái. Điều thú vị là phụ nữ chiếm tỉ lệ cao ở kiểu dạng nhân vật này. Đó là Thuận (Cơn mưa hoa mận trắng - Phạm Duy Nghĩa), Nhã (Sa Pa góc khuất - Lý Biên Cương), My (Thiếu phụ chưa chồng - Nguyễn Thị Thu Huệ), Phượng (Con gái thủy thần - Nguyễn Huy Thiệp), v.v... 
Với Thuận trong Cơn mưa hoa mận trắng (Phạm Duy Nghĩa), điều tiếc nuối duy nhất là một đời sống riêng tư thiếu sự viên mãn. Xa gia đình, đem mồ hôi của mình tưới tắm cho sự phát triển ngành giáo dục của một huyện miền núi, Thuận chưa từng nuối tiếc tuổi thanh xuân mà chỉ tiếc vì “được làm đàn bà quá ít trong đời. Mà đời người thật là ngắn ngủi”. Thuận đã bao nhiêu đêm không ngủ trọn giấc chỉ vì đau đáu nhớ chồng, nhớ đến kỉ niệm đau xót của lần va chạm đầu tiên với thằng Tốn khi hãy còn là một cô bé. Chị thẳng thắn chất vấn: “Tại sao con người cứ phải giấu giếm che đậy nỗi khát thèm mà tạo hóa trớ trêu buộc ai cũng có? Tại sao phải tự trói mình bằng sợi dây có tên là đạo đức, coi nó là tư dục, tà niệm xấu xa?...” [126, tr.41]. Với chị, làm đàn bà thật giản dị: “Một người đàn bà đã có chồng cần đến thú vui trần thế như cỏ ngải xanh rờn cần mưa, thảo quả cần miếng đất lầy nhầy, ẩm ướt giữa rừng sâu hay những thân vầu, thân nứa tốt tươi cần hít thở sương mù. Đàn bà gần với mặt đất. Đàn bà đồng nghĩa với tự nhiên và dòng đời sinh hoá bình dị, phàm trần” [126, tr.44]. 
Cũng như Thuận, Nhã trong Sa Pa góc khuất (Lý Biên Cương) là người có quan niệm khá cởi mở về tình yêu và tình dục. Đến miền đất xa xôi Ố Quý Hồi để gây giống cá hồi, cũng là để “gây chính mình” như cách nói của Nhã, điều khiến Nhã khổ tâm nhất không phải là những khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống thường nhật mà chính là lối sống có phần hoang dã nhưng đáng thèm muốn của vợ Seo Phù. Nhã ngấm ngầm ghen tị theo kiểu rất đàn bà: “Ông Trời thật khắc nghiệt, sao lại sinh đàn bà, sao lại sinh hai con người, hai hoàn cảnh thật sự khác nhau? Vợ Seo Phù thản nhiên sống, thản nhiên hưởng thụ, coi mọi thứ tạo hóa ban cho cứ việc hưởng, khỏi lo phiền phức đến người khác. Nỗi vui thú thật sự hoang dã, thật sự chấp chới. Còn Nhã, cùng kiếp đàn bà, có ăn học tử tế, có nhan sắc như ai, mọi cái đều phải nén chặt, đều phải nhìn trước ngó sau. Bởi chi, hay bởi cái gọi là văn minh nhân loại thời mới?”. Mạnh mẽ hơn Thuận, dứt khoát hơn Thuận, Nhã cất một tiếng chửi mà kỳ thực là sự phản kháng quyết liệt: “Vứt mẹ nó cái văn minh này đi, nó che đậy bao điều vô lý, bao thứ đạo đức giả, bao nỗi trớ trêu trái phải trên đời”. 
Phượng trong Con gái thủy thần (Nguyễn Huy Thiệp) nhân danh “nữ quyền”, châm biếm, chế nhạo trật tự “phụ quyền”, xem đó là thứ trật tự “phản dân chủ”, không phù hợp với xã hội hiện tại. Từ đó, Phượng công khai bênh vực quyền hưởng thụ, nhất là quyền thỏa mãn nhu cầu tình dục của bản thân mình và của cả giới nữ. Người vợ của ông Xung trong truyện ngắn Đêm trăng (Nguyễn Thị Thu Huệ) “suốt đời đam mê cái gì đó chính nàng không hiểu”, “khao khát một cuộc sống mà tình yêu phải là ngọn lửa thiêu đốt”, cho dù có thể vì thế mà “đau đớn, bị quật ngã”. Người phụ nữ ấy trốn bình yên đi tìm giông tố nên không thể bằng lòng với những đêm trăng thật là trăng trong vườn hồng tĩnh lặng. Đó là lý do nàng ra đi hòng bù đắp cho những năm tháng tuổi trẻ không có chồng bên cạnh. Cũng vậy, cô gái trong truyện ngắn Người xưa (Nguyễn Thị Thu Huệ) “luôn muốn một cái gì như gió bão chứ không đủ sức chịu đựng và chờ đợi sự thấm lâu của mưa ngâu”. 
Khi viết về những nhân vật nữ nổi loạn, các nhà văn có khuynh hướng lồng ghép góc nhìn hiện sinh với những tư tưởng của nữ quyền luận để tạo hình nhiều cá tính góc cạnh, độc đáo. Không chỉ đòi quyền tự do luyến ái, họ còn công khai đòi được khẳng định quyền tự chủ trong đời sống cá nhân, sự ngang bằng về nghĩa vụ và quyền lợi trong tương quan với nam giới. Họ - giờ đây - không còn là những “công dân hạng hai” chỉ biết câm lặng và chịu đựng. Chân trời ở trước mắt và rất nhiều người trong số họ đã không ngần ngại tự quyết định số phận của mình: “Không, mụ không thể chịu hèn đớn mãi. Mụ quyết định rồi, ở đời này đàn ông làm được điều gì thì đàn bà cũng phải gần được như thế... Không, mụ phải giành lấy phần của mụ trước khi quá muộn. Bao nhiêu cái hĩm Thị Nở còn biết khuynh thiên đảo địa, chứ mụ thì kém gì? Thần Phật trên chùa đã trừng phạt mụ ư? Thần Phật là cái thá gì? Bọn họ làm khổ mụ thì có, mụ quyết không chịu” [125, tr.401]. Đã đến lúc người phụ nữ nghĩ về mình, sống cho mình nhiều hơn. My (Thiếu phụ chưa chồng - Nguyễn Thị Thu Huệ) thẳng thừng khẳng định quan điểm sống của mình: “Tôi cóc cần sống vì ai. Tôi phải vì tôi bởi cũng có ai nghĩ đến tôi đâu” [110, tr.108]. 
Huệ trong truyện ngắn Minu xinh đẹp (Nguyễn Thị Thu Huệ) hùng hồn biện luận cho sự lựa chọn của mình: “Đời là cái cóc khô gì? Danh dự là cái cóc khô gì? Anh giữ mọi thứ để làm gì? Chết đi, anh cũng một nắm đất như ai. Sống như anh cả đời không biết đến điếu thuốc ngon, một buổi chiều yên ả, một bãi biển để nghỉ thì sống làm gì?... Phải làm sao cho sướng chứ. Còn vài năm ta phải sống cho ta” [110, tr.367]. Cũng vì sống theo tiếng gọi trái tim mà người vợ trong Tân cảng (Nguyễn Thị Thu Huệ) dứt áo ra đi tìm bến đỗ mới cho riêng mình. Mái ấm hạnh phúc của anh chị đã hoang lạnh từ lâu, chỉ mình anh vô tâm không hiểu. Cũng như đã bao lần anh không nhìn thấy bình hoa ngát hương ở góc phòng hay chiếc váy ngủ mát lạnh được chị chăm chút đến từng nếp gấp để mặc đợi anh về.
Có một điều khá thú vị là nhiều nhân vật nữ của Nguyễn Thị Thu Huệ có chung lối phản ứng khá cực đoan với vấn đề gia đình và những đứa con. Trong khi tranh đấu đòi quyền sống, quyền bình đẳng cho mình, họ mặc nhiên xem đó không phải là thiên tính, thiên chức mà ngược lại, là gánh nặng, là sự cản trở. Lan trong Một nửa cuộc đời, My (Thiếu phụ chưa chồng) và Sao (Giai nhân) là những mẫu phụ nữ tiêu biểu cho kiểu nhân vật này. Trong Một nửa cuộc đời, Lan van nài Thắng - người tình của cô: ”Em sợ cuộc sống buồn tẻ. Nó giết chết tuổi trẻ và những ham muốn. Cuộc sống tuyệt vời thế này vậy mà hàng ngày em cứ lọ mọ như một mụ già xẩm sờ xó bếp. Cơm nước, con cái và ngu si dần đi… Chúng mình hãy rũ bỏ tất cả. Đến với nhau đi anh. Sắp già và chết đến nơi rồi”. Đây cũng là tâm trạng của My trong Thiếu phụ chưa chồng: “Buổi sáng làm việc nhà. Chiều cơm nước gà qué, tưới ruộng rau, ăn và ngủ. Cuộc sống cứ thế trôi đi, ảm đạm và buồn tẻ… Đời người là cả một cái vòng khổ ải. Tất cả, tất cả đều quay cuồng suốt từ khi sinh ra đến lúc chết đi để kiếm miếng ăn như thể bị đói từ kiếp trước” [110, tr. 105]. My bị ám ảnh bởi cái cuộc sống vô nghĩa mà cô đang bị lấp vùi trong đó. Những suy nghĩ của My ít nhiều cũng chính là một cách thức phản ứng, một sự vùng vẫy để tự giải thoát mình - cho dù cực đoan. Trong Giai nhân, cách suy nghĩ này một lần nữa xuất hiện ở Sao khi cô tuyên bố với người yêu về quyết định phá bỏ đứa con trong bụng mình: “Tôi không muốn giết tuổi trẻ của mình bằng con đường tự biến mình thành con ở. Tôi còn quá trẻ để ngồi ôm con cửa sổ ngóng chồng đi làm về mỗi sáng, mỗi chiều. Tôi còn phải học, phải phấn đấu để có một cái tên trong cuộc đời này. Thành bà nọ bà kia mới khó, chứ thành vú em khó gì… Con ư, con là cái gì? Nó đem lại cho đời tôi cái gì ngoài sự sồ sề, nhếch nhác và ngu si. Con để làm gì khi trước mắt tôi là bao nhiêu con đường. Lấy anh. Rồi cứ một năm tôi sản xuất cho anh một đứa vì dòng họ anh vắng người, lại đẻ như gà ấy mà” [110, tr. 416]. 

Nổi loạn - theo cách này hay cách khác - có giá riêng của nó. Sự trả giá là điều mặc nhiên một khi con người đã lựa chọn. Đôi khi, nó có thể chính là cái chết. Đó là câu chuyện của cô gái đẹp mang tên Sải trong Con dại của đá (Võ Thị Hảo). Sải có những khát khao kỳ lạ mang đường nét mơ hồ của miền đất mới - nơi chưa một ai trong vùng từng đặt chân đến: “Con ngựa tía là con dại của đá. Nó không biết làm lành với đá và luôn lồng lên khi thoáng nhận ra mùi lạ và cứ vùng vằng xông tới đó bằng được. Thế nhưng nàng thích cưỡi nó, vì nó cũng giống nàng, cứ khao khát mãi một miền ngái lạ”. Đó là lý do nàng rời Hùng De để đi với Cáo Tờ Quẩy: “Hùng De không mang vị mặn của biển. Chàng chưa bao giờ tới biển. Trong mái tóc mịn của chàng chỉ có mùi ngọt lợ của sương mù quanh năm quẩn trên đỉnh núi. Mắt Cáo Tờ Quẩy vằn những tia đỏ của rượu, của thuốc phiện và những ham hố. Nhưng nàng lượng thấy trong mắt hắn những miền xa vời vợi mà nàng chưa hề biết tới. Quẩy hứa sẽ đưa nàng đi chơi biển.
Nếu được xuống biển, nàng sẽ sung sướng hơn cả mẹ nàng và bà nàng ngày xưa. Đàn bà con gái trong bản này chưa ai xuống biển” [107, tr.65]. Sải chết mà chưa kịp biết biển là gì, chết trong nỗi đau và niềm phẫn hận vì bị lừa gạt, nhưng trong niềm bi phẫn đó, nếu lựa chọn một lần nữa, hẳn Sải sẽ vẫn chỉ là “đứa con dại của đá”, vẫn thêm một lần nữa trốn chạy, bằng lòng đổi tình yêu, hạnh phúc hiện tại của mình để lấy những ước mơ.
“Sự nổi loạn là một phản kháng bằng sức mạnh không giới hạn và mục đích ôn hòa là giảm bớt đau khổ của thân phận con người” [13, tr.40]. Theo cách diễn giải này, quan điểm của A. Camus là xem nổi loạn như một lực đẩy tích cực giúp con người tự trấn an mình, đồng thời dấn thêm một bước trên con đường hiện sinh. 
3.3. Kiểu con người lo âu 
Theo quan điểm của các nhà hiện sinh, ưu tư và âu lo là những hình thức khác của tâm lí phản tỉnh. Ưu tư, âu lo và phản tỉnh là để hướng đến hiện sinh. Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội hiện đại, chúng tôi nhận thấy nỗi ưu tư, âu lo ấy đã chuyển dịch sang một dạng thức mới, đó là sự hoang mang, âu lo trước hiện thực cuộc sống và trước định mệnh chết. 
Châu Âu thế kỷ 20 đã “chấp nhận một hình ảnh thế giới không cần đến Thượng đế, không cần đến những giá trị chính xác do nền tảng của khoa học từ thế kỷ 19 di truyền lại” [13, tr. 35]. Con người tự do sáng tạo ra tương lai của chính mình. Nhưng rồi cũng chính con người - sau cuộc “tự vượt” ấy - nhận ra rằng mình đang “chìm vào” một dòng cảm xúc mới mạnh mẽ không thể cưỡng lại: nỗi lo âu. 
Nhà nghiên cứu Minh Huy trong công trình của mình đã nhận định: “Thế kỷ 20 là một thời đại mà con người sống nhiều lo âu hơn bao giờ hết: lo âu về chiến tranh nguyên tử, về chiến tranh giới hạn, lo âu về cuộc sống, lo âu đi tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời, lo âu đi khám phá những huyền bí của vạn vật xung quanh” [36, tr. 217]. 
Tại Stockhom, khi nhận giải Nobel, W.Faulkner cho rằng con người đang phải sống trong một thế giới tiềm ẩn quá nhiều hiểm họa. Loài người giờ đây dường như không có việc gì khác ngoài việc chờ đợi khi nào mình “bị nổ tung”. Thảm họa hạt nhân treo lơ lửng trên đầu nhân loại khiến cho những lo âu của cuộc hiện sinh càng rõ nét hơn bao giờ hết. Con người “rơi tõm” vào trạng thái lo lắng thường trực và nhạy cảm hơn bao giờ hết trước những mối đe dọa đến theo những cách khác nhau. Cảm nhận về thế giới có thể gom lại trong chỉ mấy từ: “Chẳng có gì rõ ràng. Tất cả đều chập chờn. Một thế giới không thể kiểm soát. Các lập trình đầy biến cố không ngờ… không hề an toàn” [117, tr.91]. 
3.3.1. Lo âu về cuộc sống 
Lo âu của hiện sinh là thứ lo âu không có hình hài cụ thể, nó được mô tả như một khoảng không gian, một bầu khí quyển mà ở đó con người trôi lơ lửng từ đầu này đến đầu kia, không nơi bám víu. Hẳn nhiên, có những lúc, nỗi âu lo thoạt tiên đến từ những nguyên nhân rất rõ ràng: mất đi người thân, mất đi điểm tựa, mất đi ký ức…, chẳng hạn trong truyện Khi tôi 64 (Phan Hồn Nhiên), Hưng suy sụp trước cái chết của người vợ: “Chúng tôi có rất nhiều thứ. Thế mà đột nhiên với cái chết của cô ấy, tất cả mất sạch. Cuộc sống này có gì là an toàn đâu” hay Vinh có “cảm giác thất lạc sâu xa”, như thể đang “rơi vào khoảng không tối đen” trước cái chết của người bạn thân thuở thiếu thời (Người ăn táo - Phan Hồn Nhiên). Trong những trường hợp này, lo âu là hệ quả của việc thình lình bị bỏ rơi hoặc chỉ còn lại một mình. Một đứa trẻ mới 6 tuổi bị bỏ rơi đến hai lần (Đời thế mà vui - Nguyễn Huy Thiệp) cũng có những khoảnh khắc trải nghiệm nỗi âu lo (thậm chí sợ hãi) như người lớn: “… lạnh toát cả người, mồ hôi rịn ở chân tóc, tim đau thắt lại…”.
Trong xã hội hiện đại, khi hiểm họa tiềm ẩn sau những dáng vẻ bình thường, thân thuộc thì cảm giác âu lo thậm chí có thể đến từ những điều rất nhỏ nhặt, rất bình thường: một gói quà từ người quen cũ, việc lắp đặt hệ thống cứu hỏa, một chương trình máy tính, một chuyến bay đêm, v.v... Vĩnh (Yên tĩnh tuyệt đối - Phan Hồn Nhiên) nhận ra “mọi thứ anh thấy lâu nay không đúng như anh tưởng…Chẳng có gì rõ ràng. Tất cả đều chập chờn. Một thế giới không thể kiểm soát. Các lập trình đầy biến cố không ngờ. Và vì thế anh không hề an toàn” [117, tr. 91]. 
Có một điều khá thú vị là cảm giác lo âu thường gắn liền với những chuyến đi, khi mà con người cảm thấy mình chỉ là “những sinh thể yếu ớt đang hoang mang phóng đi trên một khối thép ồn ào, man dại” (Đoạn kết ở thị trấn Rừng - Nguyễn Vĩnh Nguyên). Trong Đêm thánh vô cùng (Sương Nguyệt Minh), chặng đường trở nên thăm thẳm và tất cả chìm trong hoảng loạn khi chiếc máy bay rung lắc mạnh do thời tiết xấu. Nhưng rồi tất cả qua nhanh như một giấc mơ, duy nhất nỗi sợ hãi còn lại: “Nhưng cái chết vẫn theo đuổi ám ảnh tôi”. 
Thậm chí, có lúc nhân vật còn tự tưởng tượng ra những hoàn cảnh đặc biệt, từ đó đẩy mình vào nỗi lo âu theo một cách thức khác. Tuyền trong Có con (Phan Thị Vàng Anh) tưởng tượng mình sẽ có một đứa con với người yêu và sẽ phải một mình nuôi đứa trẻ. Bao nhiêu suy nghĩ, tính toán, cân đong đo đếm khiến Tuyền mệt mỏi. Cô phát hiện ra rằng nuôi một đứa trẻ không phải là điều dễ dàng, rằng chính cô đôi khi cũng đang mơ hồ về cuộc đời mình: “Tuyền nhớ đến đứa bé, nếu có nó, mình còn tự quyết được cuộc đời mình không? Hay là mình phải sống theo nó ngay cả khi đời mình không vui…Tuyền bỗng thấy sự tự do của mình bị đe dọa. Tuyền chỉ sợ nó không cho Tuyền quyết định khi nào chấm dứt cuộc đời Tuyền. Tuyền sẽ phải sống ngay cả khi không muốn sống nữa chỉ vì nó…” [104, tr.268]. Cô gái dạt vào hoang đảo trong truyện Không dấu vết (Phan Thị Vàng Anh) mơ mộng về một đứa con thành hình sau đêm tình đẹp như cổ tích giữa mây núi biển trời, đồng thời cũng lại nghĩ đến những hệ lụy khi sinh đứa con đó ra. Kết cục, “không có đứa con đẹp đẽ, khỏe mạnh, thông minh… không phải băn khoăn khi có khả năng lấy chồng, không phải giám định ADN”. Hóa ra, con người lo âu nhiều hơn họ nghĩ, lo âu cho cả những điều chỉ có một phần nghìn khả năng trở thành hiện thực. 
Ở một số truyện ngắn khác, sự lo âu đến từ cảm giác lạc lối, mất phương hướng. Việc không nhận biết được mình đang ở đâu, đang làm gì, đang bị cái gì chi phối… nhiều khi đẩy con người vào tình trạng bấn loạn. Hưng (Khi tôi 64 - Phan Hồn Nhiên) cay đắng nhận ra bản chất quẩn quanh của hành trình đời người: Chúng ta không đi đến đâu cả. Chúng ta cũng chẳng biết đang tìm kiếm điều gì. Hệt như chúng ta không ngừng chạy trên đại lộ trống trải, bất tận. Chẳng hề có cột mốc nào” [117, tr. 219]. 
Khái niệm “thất lạc”, “lạc” hay “lạc lối” thường được sử dụng cho hầu hết những tình huống mà các nhân vật dự phần vào, cho dù đó là những hoạt động rất đời thường đối với họ. Đó là hình ảnh những hành khách “trùm kín ngực, ngồi co ro, mắt thẫn thờ căng to, tựa các bóng ma bị ném lên trời, lạc vào khoang hành khách này” trong Cánh tay đau (Phan Hồn Nhiên) hay cảm giác sợ hãi của San, “nỗi kinh hoàng khi ở bên trong một vật thể đơn độc, lao giữa bóng đêm vô tận” [117, tr.116]. 
Trong truyện ngắn Thành phố đêm không có khách sạn (Hồ Anh Thái), nhân vật “anh” đi tìm khách sạn theo lời hướng dẫn của cô gái, nhưng điều ngạc nhiên là “anh” lại lạc lối ở chính nơi cần tìm đến: “Họ bảo nó ở giữa quán cà phê Ban Mai và hiệu cầm đồ Một Hai Ba anh ạ. Thấy rồi, quán cà phê và hiệu cầm đồ kia rồi. Nhưng giữa cái hiệu và cái quán làm mốc, ở nơi phải là khách sạn thì chỉ có một khoảng trống. Không nhà không tường. Trống. Đúng theo nghĩa trống, thế thôi” [118, tr. 22]. Thậm chí, ngay cả khi rõ ràng đã nhìn thấy cô đứng ngay trước khách sạn, đang gọi cho anh và giục anh bước vào, anh vẫn ngơ ngác: “Vừa mới đấy mà cô biến đi đâu? A lô em đâu rồi? Em đây, em nhìn thấy anh đang đứng trước khách sạn đây, anh vào đi. Nhưng vào đâu bây giờ?” [118, tr. 23]. Họ đã lạc nhau theo một cách thức kỳ lạ như thế. Lạc nhau ngay cả khi người này nhìn thấy người kia, thậm chí biết người kia đang đứng ngay trước mắt mình. Phải chăng con người hiện đại đã đóng hết những nẻo đường liên thông với tha nhân? Hay khoa học kỹ thuật và nếp sống đô thị đã khóa chặt con người trong vòng cương tỏa của nó? Những sự phi lý khó có thể diễn giải, những biến cố không ngờ gia tăng thêm trường độ của nỗi lo âu hiện sinh. Hơn bao giờ hết, trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại, người đọc dễ dàng tìm thấy những mẩu ngôn ngữ ngắn ngủi chứa đầy nỗi sợ hãi và cả tuyệt vọng: 
- Tự dưng em thấy sợ. 
- Đừng nghĩ gì bất an nữa 
- Nhưng em đã cảm thấy bất an. 
- Anh không thể làm gì cả. [117, tr.151]. 
“Đời người qua nhanh quá. Thoáng một cái năm mươi năm… Vậy mà sao nỗi sợ vẫn nguyên đó… 
Đừng sợ nữa, có em đây mà
Anh luôn cảm thấy mình nhỏ bé, yếu hèn, thua cuộc” [127, tr.77]. 
Bất an của hiện sinh nằm ngoài khả năng kiểm soát của con người.
Con người chỉ có thể cảm thấy nó, trải nghiệm nó mà không thể làm gì khác, đúng như lời Lâm đã nói với Hân - vợ chưa cưới của mình - rằng “anh không thể làm gì cả”. Bất an không phải chỉ là một thứ cảm giác đơn thuần, nó còn là một thứ mùi vị mà con người có thể cảm nhận bằng trực giác thính nhạy. Trong truyện Khi tôi (Phan Hồn Nhiên), khi đang lái xe chở vợ và đứa con mới sinh từ bệnh viện về nhà, Hưng nhận ra “không khí trong xe phảng phất một mùi gì đó gợi sự bất an”; cũng như thế, Lâm bất chợt cảm nhận được “mùi vị của sự bất trắc lẩn quất” ngay khi Hân xuất hiện đúng lúc anh đang hoang mang với gói 87 quà lạ (Cột nước đỏ - Phan Hồn Nhiên). Vượt lên những cảm nhận thông thường có thể lý giải, cảm giác bất an đôi lúc đến qua giác quan thứ sáu. Trong Đoạn kết ở thị trấn Rừng (Nguyễn Vĩnh Nguyên), Tuyết đã bồn chồn nói với người bạn đường: “Em không hiểu điều gì chờ đợi chúng ta ở thị trấn Rừng… Em linh cảm sự bất an”. 
Rất nhanh chóng, cái thứ cảm giác bồn chồn, âu lo mà người ta gọi là “bất an” đó chuyển ngay thành nỗi sợ hãi thực sự. Nhiều nhân vật trong truyện ngắn của Phan Hồn Nhiên đã phải thốt lên, kêu lên, thậm chí gào lên về nỗi sợ hãi của mình. Các truyện ngắn Không manh mối, Hồ cá, Cánh trái tập trung khai thác khía cạnh này. Đó là những lúc mà nhân vật cảm nhận “tiếng đập cuồng loạn trong lồng ngực. Chưa bao giờ anh thấy sợ hãi ghê khiếp đến thế”; “băng qua vườn như một thợ săn mệt lả và sợ hãi con mồi của chính mình”; “ngập chìm trong sợ hãi khi tỉnh dậy sau giấc ngủ dài”... 
Luôn luôn, con người ở trong trạng thái bị dồn đuổi, bị bủa vây và có cơ không thể chạy thoát. Như thể con thú luôn phải tìm cách trốn chạy khỏi kẻ săn mồi. Thảng hoặc có lúc ngỡ như chạy thoát nhưng kỳ thực lại rơi vào một cảnh ngộ bi thảm hơn, giống như cảm giác của Vĩnh trong Bưu thiếp từ Stuttgart (Phan Hồn Nhiên). Vĩnh rời xa Minh để phiêu lưu cùng Hoan, làm một cuộc “chạy thoát khỏi cơn động đất” để rồi “bất chợt nhìn thấy trước mặt vực thẳm sững sờ”. Điều oái oăm là con người dù không muốn vẫn bị buộc phải dự phần vào cảm giác âu lo, bất an này. Phong Điệp trong truyện Kẻ dự phần đã mượn nỗi sợ hãi có thực để ám gợi đến nỗi âu lo từng giây từng phút treo lơ lửng trên đầu con người. Hai vợ chồng sống cạnh lò giết mổ lợn và bất cứ lúc nào người vợ cũng có cảm giác “bị buộc phải dự phần vào cuộc sát sinh lợn”. Không chỉ thế, thậm chí có lúc cô còn có cảm giác “mình giống như kẻ vừa thoát ra khỏi cuộc hành hình, chỉ trong gang tấc”. Nỗi sợ hãi, cảm giác bị săn đuổi khiến cô chỉ có thể mang bầu trong những giấc mơ, để rồi khi tỉnh lại, cô một mình với cái tử cung trống rỗng và cảm giác bất lực tràn trề. 
Từ chỗ chỉ là một trạng thái cảm xúc, sự âu lo, bất an, bồn chồn đã nghiễm nhiên trở thành nỗi đau thầm kín của con người. Nỗi đau ấy là vết thương không có mùi máu nhưng lại ám ảnh không nguôi, như “mũi dao nhọn được cất giấu trong một ngăn kéo vô hình”. 
3.3.2. Lo âu về cái chết 
Trong một công trình của mình, Andre Malraux từng viết: “Tinh thần châu Âu đã tiêu hủy Thượng đế và sau khi làm xong công trình đó tinh thần châu Âu cũng đồng thời tiêu hủy luôn tất cả những gì có thể chống lại với con người; sau khi cố gắng cùng mực, con người giống như anh chàng Rance đứng trước xác người yêu, chỉ còn thấy có sự chết…” [79, tr.26]. 
Quả vậy, từ góc nhìn của một vài triết gia hiện sinh, đích cuối cùng của đời người chính là cái chết. Và phàm là con người, ai không từng một lần ngẫm ngợi về cái khoảnh khắc cuối của cuộc đời, cái thời điểm mà mình không thể, không có cơ hội sống thêm một lần nữa. Dẫu cho con người hiện sinh là một sinh thể luôn không ngừng vươn tới, tiến về phía trước nhưng suy cho cùng, nó vẫn là con người hữu hạn bị sự chết giới hạn một cách tàn nhẫn. Nhà nghiên cứu Thích Đức Nhuận trong bài viết “Vào đạo Phật qua lối ngõ J.P.Sartre” nêu định nghĩa của Heidegger: “Con người là một hữu thể hướng về cái chết. Chết là hành vi tối hậu của con người và là hành vi tối quan trọng của cuộc đời” [57, tr.7]. Cũng trong bài viết này, tác giả nhận định: “Bức tường chết đã được Heidegger dựng lên cắt ngang những hoài vọng của Kierkegaard và Nietzsche. Chính sự kiện này đã là một dấu chấm câu xuống hàng của dòng tư tưởng hiện sinh” [57, tr. 7]. 
Từ xưa, dân gian đã nói đến cái chết một cách hoàn toàn tự nhiên: sống gửi, thác về, lá rụng về cội… Điều này xuất phát từ nhận thức mộc mạc của họ về lẽ sinh tử ở đời. Sống, chết cũng như thăng, trầm của đời người - đều là định mệnh. Mà phàm đã là định mệnh thì vấn đề chỉ là thời gian, nghĩa là sớm hay muộn mà thôi. Trước cái chết ở phía cuối con đường, có vẻ như mọi nỗ lực của con người đều trở nên vô nghĩa. Anh bạn Ng. trong truyện ngắn Đi thăm cha (Hồ Anh Thái) đưa ra hình ảnh so sánh khá thú vị: “Ng. chỉ một căn nhà trước mặt - một căn nhà xây theo kiểu cổ, quét vôi vàng và dưới vòm mái ngói, ở những khúc tường quan, rêu bám xanh. “V.A. nhìn kìa, cái nhà ấy cũng như cái chết, chúng mình ai cũng phải đi đến đấy. Trên đường đi, làm đủ việc: yêu, ghét, bon chen, kinh thật! Trước sau cũng phải chết”. 
Con người hiện sinh ý thức sâu sắc về định mệnh bi đát của mình, luôn cảm thấy mình đang “sống trong quyền lực trì hoãn thời gian, chờ chết” hay “sống trong độ dư của cái chết” [29, tr.182]. Nên điều dễ lý giải là con người có khuynh hướng tìm về xung năng nguồn cội của mình, dù là đứa trẻ mới sinh ra hay kẻ đã qua bên kia chân dốc của cuộc đời. Trong truyện ngắn Đêm dịu dàng, Nguyễn Thị Thu Huệ viết về một cô gái với nỗi ám ảnh chết: “Tôi luôn ám ảnh về cái chết. Bởi tôi là kẻ yếu đuối, lại bất hạnh…. Cái gì tôi cũng trải qua. Hạnh phúc, Khổ đau, Cô đơn. Hờn giận. Có tất. Mỗi chết là chưa biết thôi”. Thậm chí, cô không che giấu ước muốn được chết: “Bỗng nhiên. Chiều nay tôi muốn chết một cách kỳ lạ. Tôi không muốn là tôi nữa”. 
Là “hữu thể hướng về cái chết” nên con người nghĩ đến, liên tưởng đến cái chết mọi lúc, mọi nơi. Nguyễn Quang Thiều trong truyện ngắn Cái chết của bầy mối viết về tâm trạng giằng xé của người phụ nữ giữa tình cảm với chồng và chút xao lòng với một người đàn ông ngỡ như là yêu. Nhưng dù là ở bên chồng hay ở bên người đàn ông đó, chị đều bị ám ảnh bởi cảnh từng đàn mối “xòe đôi cánh mỏng như màng nước từ ổ đất dưới gốc cây cuồng nhiệt bay lên” để rồi cũng chính chúng “bị nước mưa dập nát đôi cánh, bò lết trên mặt xi măng xâm xấp nước và phô ra những cái bụng căng tròn trắng bợt có những đường ngấn nhỏ”. Những con mối hân hoan, cuồng nhiệt, bay lên để rồi khóc lóc nỉ non và chết “cả đời mối chỉ biết bay lên có một lẩn rồi chết. Và đến mưa đầu hạ sau bay lên và chết”. Cái chết của đàn mối ám ảnh chị trong từng giấc ngủ, đến nỗi chị ngỡ như chiếc áo ngủ màu tím của mình cũng tan ra như từng cánh mối trong suốt. Cuộc tình kết thúc trong điệp khúc hoảng loạn của chị “chết hết cả rồi. Bầy mối, chẳng còn gì nữa. Chết”. 
Con người thực sự đã chờ đợi định mệnh của mình với tràn đầy hoang mang, bất an, sợ hãi, lo lắng. Dẫu nhận biết quy luật khắc nghiệt của tự nhiên là sự sống và cái chết luân chuyển để sinh tạo ra thế gian này, nhưng trong tâm trí con người, cái chết vẫn luôn được tượng hình như một nỗi sợ hãi kinh khiếp nhất. Rồi chính nó, khiến con người nhận ra rằng toàn thể cuộc đời mình thực chất chỉ là một dòng hiện sinh cô độc, thống khổ và trái ngang giữa vũ trụ bao la này. Con người nửa như trông đợi, nửa như muốn trốn chạy cái thời khắc cuối cùng ấy: “Mẹ y đứng im lìm, mắt đăm đăm nhìn vào thinh không hư ảo. Khoảnh khắc nối tiếp ngày và đêm có thể khơi bùng lên trong bà nỗi ám ảnh sợ hãi về quy luật sinh tử. Có thể và không có thể. Rất nhiều hoàng hôn rồi mẹ y vẫn đứng như thế. Hay là bà đang đón đợi hoàng hôn của mình” (Nguyên quán - Phạm Ngọc Tiến). 
Nhưng con người vĩnh viễn không thể trốn chạy định mệnh, theo cách nói của Nguyễn Huy Thiệp: “Con người ở đâu cũng phải giáp mặt với cái chết” (Không khóc ở California). Họ chỉ có thể chầm chậm tiến về phía nó mà thôi: “Quả thật là khủng khiếp, chị và má đã phải cùng nhau vần từng ngày một như vậy để chầm chậm tiến đến cái nơi có lão thần chết đang chờ” (Tiền của má - Dạ Ngân).
Andre Malraux cho rằng con người sinh ra trên đời như một sự ngẫu nhiên, nghĩa là con người không đòi hỏi ra đời nhưng “một khi đã bị sinh ra ở đời thì tự nhiên cảm thấy phải làm, phải hoạt động bằng đủ mọi cách để duy trì sự sống được cho không ấy và chống đối lại sự chết là bước sau chót của tất cả mọi cuộc đời” [81, tr.27]. Suy cho cùng, con người hiện sinh - cái sinh thể luôn không ngừng vươn tới, tiến về phía trước ấy - rút cuộc vẫn chỉ là “con người hữu hạn bị sự chết giới hạn một cách tàn nhẫn” [57, tr.7]. 
Tuy nhiên, cái giới hạn nghiệt ngã ấy không phải không có giá trị kích khởi riêng của nó. Không thể phủ nhận sự chết đích thực là hình ảnh hãi hùng nhất trong đời sống của mỗi người, là sự thật tuyệt đối nhất của đời sống, nhưng chết cũng đồng thời là một sự thật cần thiết để dạy cho con người những bài học quý giá, trong đó có bài học về sự chống chọi đến cùng để sinh tồn. Người phụ nữ trong Đồi hoang (Phạm Thị Ngọc Liên) hẳn là một minh chứng sống động cho điều này. Một mình ở trong khu rừng hoang vắng nơi đất khách quê người, khi người chồng hờ đã chết và biến thành một dòng sông lúc nhúc giòi bọ, có những lúc cô ngỡ mình sắp sửa trở thành bữa tiệc cho lũ chuột với những hàm răng sắc lẻm và đôi mắt tinh ranh. Nhưng không, cô “vừa lết, vừa trườn” ra khỏi bàn tay đen ngòm của tử thần đang rình rập. Cô cố gắng bò ra khỏi nhà, ra khỏi bức tường của nấm mồ lạnh lẽo đang chôn giữ thân xác chồng, gắng hướng về sự sống mong manh. Mắt đã mờ lắm và người gần như không còn sức lực nhưng cô vẫn còn kịp nhìn thấy “đốm đen nhỏ như con kiến đã rõ dần. Chiếc xe của người anh trai chồng cô, thấp thoáng giữa những hàng cây… 
Nghĩa là, giới hạn chết đã khơi dậy ở con người lòng ham sống, ý chí và khát vọng được sống - thứ xung năng đối lập với xung năng chết. Ngay trong những hoàn cảnh tuyệt vọng nhất, con người vẫn không từ bỏ. Nhân vật chính trong một truyện ngắn của Tạ Duy Anh đã trải qua những phút giây dài như thế kỷ ở dưới đáy của một cái vực đá âm u ngỡ như là nơi tận cùng của trái đất (Dưới đáy vực), tưởng tượng ra bao nhiêu tình huống cần phải đối phó, sợ hãi và tuyệt vọng đến điên cuồng nhưng không lúc nào hắn quên rên rỉ “Trời ơi, nếu tôi phải chết thì vô lý quá”. 
Các nhà văn đã cố công chứng minh rằng sự sống là thứ quý giá mà chúng ta không thể vứt bỏ, rằng dẫu con người không đòi hỏi được sinh ra nhưng “một khi đã bị sinh ra ở đời thì tự nhiên cảm thấy phải làm, phải hoạt động bằng đủ mọi cách để duy trì sự sống được cho không ấy và chống đối lại sự chết là bước sau chót của tất cả mọi cuộc đời”. 
Ý nghĩa hiện sinh hiện lên từ ý thức tranh đấu để trì hoãn cái chết, để có thêm một ngày được sống, đúng như câu trả lời cho câu hỏi “Cô sẽ làm gì nếu mai cô chết?” của cô gái trong truyện Một cuộc đua của Quế Hương: “Tôi sẽ đấu tranh đến cùng để mai tôi vẫn sống. Một ngày là một cuộc chiến”. Và ngay cả đường đến cái chết cũng không phải là con đường mà tất cả mọi người đều thành công khi đặt chân lên, bởi “làm gì có cái chết dịu dàng. Để tới cái chết phải băng qua đau đớn”. 
Không đơn thuần chỉ là cảm giác lo âu, cái chết trở thành nỗi sợ hãi có thật. Bởi sự chết là dấu chấm xuống dòng sau cùng cho tất cả những kiếm tìm, trăn trở, vươn lên của kiếp người: “Trời ơi, tôi nghĩ, người ta không thể “chết là hết” được. Từ khi cha mất, ý nghĩ “chết là hết” này theo đuổi tôi. Tôi sợ lắm, rồi cũng có lúc mình phải nằm im dưới đất, mưa nắng chầy chầy trong các nghĩa trang hoặc tồn tại dưới hình thức một nắm tro, một nắm xương hay sao?” (Đi thăm cha - Hồ Anh Thái). 
Trong Dưới đáy vực, Tạ Duy Anh miêu tả giây phút khủng khiếp khi con người đối mặt với cái chết: “Tôi ngửi thấy mùi hương còn phảng nhẹ và càng thấy đơn lạnh khủng khiếp. Những người chết ngay còn được tế độ, siêu sinh tịnh thổ. Còn tôi, tôi sẽ chết dần chết mòn, chết nhục nhã, chết trong nỗi sợ bị ruồng bỏ và linh hồn không biết về đâu. Mà chắc gì đã được chết yên ổn với bầy muỗi và thú rừng. Tôi có cảm giác cái vực đá âm u này là nơi tận cùng của trái đất…”; “Nỗi ám ảnh về một cái chết đang đến dần không buông tha tôi. Trời ơi, nếu tôi phải chết thì vô lý quá” [101, tr. 125]. 
Từ góc nhìn của tôn giáo và dân gian, cái chết còn mang những nét nghĩa khác. Phật giáo xem cõi đời là cõi tạm phù du, con người thân cát bụi sẽ trở về với cát bụi; Thiên chúa giáo xem cái chết là sự trở về bên Chúa; dân gian nói rằng: “sống gửi, thác về”. Như vậy, cái chết được xem như sự trở về của đời sống an toàn và vô thức của bản nguyên, là sự trở về thân phận bình yên và bất động của mọi vật. Và vì là sự trở về, nên nó mang ý nghĩa thanh lọc, giải thoát cho con người. Hiểu được điều này, con người bình tâm soạn sửa tâm hồn mình, đón nhận cái chết một cách bình thản: “Tự nhiên tôi không thấy sợ bầy thú dữ nữa. Đằng nào tôi chả chết… Ở giây phút gần kề cái chết, tôi bỗng thấu suốt mọi cái, rõ ràng tới mức không thể giải thích bằng lý trí thông thường. Hóa ra người ta sống phần nhiều rất vô nghĩa lý, chỉ có điều ta không biết mà thôi” [101, tr.134]. Freud hẳn đã có lý khi xem chết là một trong những xung năng, thậm chí là bản năng của con người. Bản năng lôi kéo con người hướng về nó một cách mạnh mẽ: “Bà mệt lắm cháu ạ, chẳng muốn sống nữa đâu. Bà ước ao giời cứ cho khỏe mạnh rồi đến ngày đến giờ giời bắt đi. Thế là sung sướng lắm” (Vùng sáng kí ức - Y Ban). Bản năng khiến con người tò mò và băn khoăn hơn là sợ hãi: “Từ thời bé lắm chị đã hay nghĩ về cái chết. Đầu tiên đó là một cái gì đó quá hãi hùng. Sau đó là sự linh thiêng. Và từ khi có hai đứa con nhỏ thì cái chết đối với chị là sự xót thương vô bờ. Bây giờ xem ra cũng không phải như chị nghĩ. Có cái gì đó đơn giản hơn nhiều, không sợ hãi, không linh thiêng, không xót thương mà có lẽ như ngày ngày chị gánh hàng đi bán thôi. Một ông lão hay ngồi đó. Giờ ông lão biến đi, thế thôi. Cuộc sống có gì khác nhau đâu” (Ước mơ của cô gánh hàng rong - Y Ban). 
Trong Ngựa trắng, Nguyễn Quang Thiều cũng viết về một tâm trạng tương tự: “Anh biết, chỉ một ngày nào đó rất gần thôi, anh sẽ từ giã cõi đời. Những hạt hồng cầu ngấm chất độc da cam bắt đầu phản bội trái tim anh. Các bác sĩ không nói hết sự thật bệnh tình của anh nhưng anh tự hiểu được. Anh đợi chờ cái chết với một nỗi buồn xa xăm chứ không hề có một chút hoảng sợ”. 
Nhiều khi con người có khuynh hướng “trôi” về cái chết một cách không có ý thức: “Hay thời gian trôi ngược trở lại. Hay nàng đã chết rồi và đang ở trên thiên đường. Nàng nghiêng về sự chết hơn, nhưng chắc gì nàng đã được ở trên thiên đường. Rõ ràng nàng đã gần với cái chết... Mười phút sau thuốc ngấm dần, nàng bắt đầu mơ màng vào giấc ngủ. Chính lúc đó nàng cảm thấy mình đang đi vào cái chết (Người đàn bà có ma lực - Y Ban). 
Thậm chí, chết còn có sức cám dỗ riêng của nó như lời bộc bạch của cô bé trong Con quỷ nhỏ trong tôi (Y Ban): “Khi mẹ cháu chưa nói, cháu không cảm thấy chỗ điện hở ấy nó ra sao cả. Mẹ nói rồi, chỗ điện hở ấy cứ như hút tay cháu vào. Cháu muốn sờ vào nhưng cũng sợ chứ - chết kia mà. Nhưng chưa biết chết nó thế nào cả. Điều đó cứ làm cháu ấm ức hoài”. 
Con người tưởng tượng về cái thế giới mình sẽ đến sau khi chết: “Tôi thường tưởng tượng ra một ngày nào đó mình sẽ ở trên thiên đường và tự hỏi: Nếu chết, linh hồn mình sẽ đi đâu khỏi cái xác thối rữa?” (Người đi tìm giấc mơ - Nguyễn Thị Thu Huệ), thậm chí, cảm thấy hạnh phúc khi xem cái chết chỉ là giấc ngủ dài: Đối với ông Miêng, giấc ngủ không còn quan trọng nữa… Ông tin, một ngày nào đó ông sẽ ngủ mãi mãi trên thảm lá thông này. Ý nghĩ ấy làm ông hạnh phúc (Lời hứa của thời gian - Nguyễn Quang Thiều). 
Nghĩa là, khoảnh khắc chết sẽ đến cùng với sự “ngộ” ra những chân lý ở đời, rằng “hóa ra con người ta cần phải vứt bỏ dần đi để tiến đến cái chết” (Gió mưa gửi lại - Thùy Linh). Khoảnh khắc chết là lúc mọi hận thù được cởi bỏ, mọi mưu toan, tội lỗi được xóa mờ và những giá trị tốt đẹp đã mất đi được khôi phục. Cô gái trẻ trong truyện ngắn Vũ điệu địa ngục của Võ Thị Hảo đã chọn cái chết để minh chứng cho sự trong sạch của mình. Nàng chọn lối tự hủy kiểu La Mã cổ đại - cắt động mạch ở khuỷu tay và cho máu mình hòa vào nước trong bồn tắm cho đến cạn kiệt. Cái chết của nàng nhuốm một vẻ đẹp lạnh người trong mắt nhìn của nhân vật tôi: “Và ánh tà hắt nghiêng qua cửa sổ có cửa kính xanh trong thoáng chốc khiến cho bể máu mang màu ngọc thạch. Tôi thấy như lúc đó nàng thoáng rùng mình và trông giống hệt một con sứa trong xanh kiều diễm”. Nàng tự tử bởi sức chịu đựng đã bị đẩy đến “ngưỡng”, bởi không còn lối thoát nào khác.
Và, thi thoảng, vượt lên mọi sợ hãi, dè dặt, mưu toan, cái chết hiện lên đẹp lạ lùng, tưởng như được bao bọc trong làn ánh sáng tinh khiết và nhẹ nhõm: “Tôi nằm thanh thản trong ánh trăng tràn ngập không gian như chú bống nhỏ nằm trong dòng suối đầu nguồn trong vắt. Tôi sẽ quờ đôi tay như hai vây cá mỏng.
Tôi nhận thấy da thịt tôi đang tan đi từng lớp. Tôi sẽ nằm lại đây mãi mãi. Xương cốt tôi sẽ xếp trên đất như trò chơi xếp que của trẻ nhỏ. Và đêm đêm trăng sẽ thong thả rót thứ ánh sáng kỳ diệu ấy vào từng ống xương tôi, như người ta rót rượu đỏ vào từng chiếc sừng trâu trong những ngày lễ hội… Tôi thầm kêu lên khe khẽ. Hình như tôi gọi vầng trăng… Hơi thở cuối cùng mỏng như một đôi cánh bay ra khỏi ngực tôi. Nó tan vào trong tiếng trăng lung linh dào dạt: ‘Mang... mang... mang..” (Chạy trốn khỏi vầng trăng - Nguyễn Quang Thiều). 
Có thể nói, con người luôn có khuynh hướng bị ám ảnh bởi cái chết theo những cách khác nhau cũng như có những cách ứng xử khác nhau trước cái giới hạn cuối cùng nghiệt ngã này. Giới hạn ấy là không thể phủ nhận, lại càng không thể giấu giếm. Tuy nhiên, chính trong cuộc chạy đua đời người đó, những giá trị hiện sinh được thăng hoa khi con người nỗ lực truy tầm ý nghĩa sống đích thực cho riêng mình, vì một lẽ đơn giản: “Đời người chỉ sống có một lần” (Thép đã tôi thế đấy) hay như quan điểm của Camus “cái chết và những đau khổ vô nghĩa càng làm tăng thêm giá trị cho sự sống, làm cho con người ham sống, sống mãnh liệt hơn lên” [13, tr.38].  
Tiểu kết: 
Triết học hiện sinh là triết học duy nhất của thế kỷ XX đã đưa con người quay trở lại với con người, quay trở lại với diễn trường tâm lý khắc khoải của cõi nhân sinh. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, tất cả mọi thứ đều có thể được lập trình, thậm chí cả tâm hồn con người. “Kỹ nghệ càng cao thì quy đồng mẫu số càng đơn điệu, tử số ngày càng teo đi trong khi mẫu số ngày càng phình ra” [15, tr.71]. Đây chính là hoàn cảnh đẩy con người vào hố thẳm cô đơn. Trong cô đơn, con người hướng về tương lai vô định và ám ảnh về cái chết với một nỗi bất an thường trực. Để vượt qua được những bi kịch tinh thần này, con người chỉ có thể sống và chấp thuận nhận lấy thái độ phản kháng. Chính trong quá trình phản kháng, những phẩm tính hiện sinh được thể hiện rõ, cũng tức là danh dự và giá trị làm người. Tiếp biến hợp lý tinh thần của triết thuyết hiện sinh phương Tây, truyện ngắn Việt Nam 25 năm đổi mới diễn giải nhiều về những dạng thức tâm lý hiện sinh tiêu biểu như cô đơn, lo âu, phản kháng thông qua các kiểu nhân vật tương ứng. Từ đây, trạng huống tinh thần của con người trong lòng xã hội Việt Nam đương đại được lột tả một cách khá đầy đủ và chân xác, đặc biệt là trong sáng tác của các nhà văn trẻ thập niên đầu thế kỷ 20.
Chương 4 KHÔNG GIAN, THỜI GIAN, CÁC MOTIF VÀ BIỂU TƯỢNG MANG CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2010 
Trong truyện ngắn Bán cốt, thông qua nhân vật của mình, Võ Thị Hảo đã trầm tư về thân phận, dáng dấp của con người trước tự nhiên, trước cuộc đời: “Và trên cái nền trời biển đó, Con Người sẽ hiện lên. Bóng của Con người cao lồng lộng, in trên nền trời vàng rực. Dáng Con người cô đơn và suy tư. Con người nghĩ gì trước sự cao cả của biển của trời? Thiên nhiên huy hoàng và buồn thảm, nhân từ và hung hãn. Con người vừa nhỏ bé vừa lớn lao và cô đơn”. Để tô đậm thêm dáng vẻ ấy của con người trong hành trình hướng đến hiện sinh đích thực, các nhà văn sử dụng nhiều thủ pháp khác nhau, trong đó đáng chú ý nhất là cách thức xử lý không gian - thời gian nghệ thuật, kết cấu truyện theo motif và hệ thống biểu tượng nghệ thuật. 
4.1. Không gian và thời gian nghệ thuật mang cảm thức hiện sinh 
4.1.1. Không gian nghệ thuật - môi trường nghiệm sinh của con người 
Không gian nghệ thuật chính là bầu khí quyển mà ở đó nhân vật trải nghiệm cuộc đời mình với những cung bậc cảm xúc khác nhau. Có những không gian chỉ đơn thuần là không gian hiện hữu, nhưng cũng có kiểu không gian đặc thù, là nơi để các nhân vật trải nghiệm hiện sinh. Ở đó, con người nhìn thấy chính mình qua nhiều trạng thái của cuộc hiện sinh: cô đơn, bơ vơ, trôi dạt, vật lộn, lựa chọn… Với đa tầng phức cảm tâm lý, con người hiện sinh tồn tại gắn liền với những kiểu không gian đặc trưng. Có kiểu không gian đầy biến động, bất trắc - thứ không gian mà mỗi cành cây, ngọn cỏ đều mang hơi hướng âu lo, lạc lõng, bơ vơ…, có kiểu không gian đồ vật chật hẹp làm gợn lên cảm giác phi lý của kiếp người, có kiểu không gian thăm thẳm, hun hút gợi cảm thức về những chuyến hành trình dấn thân miên mải, có kiểu không gian dữ dội cuồng điên gắn liền với những số phận không cam chịu ngủ yên... 
Kiểu không gian rộng, dài, xa ngái là một trong những kiểu không gian phổ biến thường gặp trong nhiều truyện ngắn hiện đại. Các nhà văn có khuynh hướng đặt con người vào những không gian trập trùng cao, vời vợi xa để tô đậm thêm nỗi khắc khoải thân phận mà loài người tự thuở khai thiên mở cõi chưa từng nguôi quên. Đó là núi, là biển, là trời, là rừng rậm thâm u bí hiểm: “Những dãy núi đá vôi trập trùng cao ngất. Chúng tôi đi men ở dưới chân núi, vừa bé nhỏ, vừa cô đơn, lại liều lĩnh mà bất lực, thậm chí vô nghĩa” (Những người thợ xẻ - Nguyễn Huy Thiệp). 
Chiều kích thực của không gian được phóng đại gấp nhiều lần nhờ những hình ảnh được sử dụng như thủ pháp đòn bẩy: mưa, gió, sấm, chớp, bão bùng… Bao giờ cũng thế, những quyền năng của tự nhiên luôn khiến cho con người thấy mình bé lại, yếu ớt và bất lực: “Ngoài trời đen thui, mưa đã nặng hạt và nhì nhằng ánh chớp. Bất chợt có tiếng sét đầu mùa nở òa giữa thinh không. Giữa đêm đen rừng núi, tiếng sét kinh hoàng làm cho ba con người trong ngôi nhà xiêu vẹo trở nên nhỏ bé và thảm hại đến kinh khủng” (Rượu cần đêm mưa - Nguyễn Ngọc Lợi). 
“Mặt hồ nổi sóng. Đất trời bao la hùng vĩ. Vắng ngắt. Đơn độc một cánh buồm đỏ của cậu cháu tôi” (Nước mắt đàn ông - Nguyễn Thị Thu Huệ) 
“Thiên nhiên muôn đời là thế: vô tình, vô cảm, thản nhiên, lạnh lùng, tàn nhẫn. Tất cả đều đẩy con người về nơi tận cùng ý thức cá nhân chính nó. Con người tự co lại như con sâu, cái kiến, thúc thủ trong phần sinh linh vừa bé mọn, vừa cô đơn, vừa bất lực; nó chớp đôi mắt phấp phỏng lo âu trong tâm hồn nó và tự hỏi mình: là ai? đi đâu? thế nào? làm gì? tiến đến đâu? bao giờ thành tựu? bao giờ kết thúc?” (Mưa Nhã Nam - Nguyễn Huy Thiệp). 
“Địa điểm mà họ tìm đến là một thung lũng lọt trong bốn bức tường đá cao chất ngất. Có cảm giác từ thuở khai thiên lập địa chưa có bàn chân con người đặt đến vùng này. Tiếng suối chảy ào ào nhưng không sao lần ra dòng nước… Ban đêm cả thung lũng bị nén chặt bằng hơi nước. Ngay ở trên đầu từng cuộn mây mầu sữa nén chặt xuống mãi. Không khí u tịch khiến con người cũng có cảm giác đang tan dần như tảng nước đá. Nỗi buồn, mặc cảm về sự bất lực khiến ba sinh vật trở nên hoàn toàn mất khả năng tự vệ, bé tí tẹo” (Nghịch lý cuộc đời - Tạ Duy Anh). 
Lọt thỏm giữa những chiều kích không gian ngờm ngợp đó, con người là một sinh linh bé nhỏ, tuyệt nhiên không có điểm tựa. 
Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Ngọc Tư viết nhiều về những con sông. Những dòng sông, đúng hơn là những dòng chảy trong văn chị dường như đã ngưng đọng lại từ sự trải nghiệm và cũng từ niềm tin tâm linh tự ngàn đời: rằng sông là cội nguồn của sự sống, là cội nguồn sinh tạo ra đất đai màu mỡ, cây cối tốt tươi, trù phú thịnh vượng. Nhưng dòng sông cũng còn có thể được xem là dòng đời với biết mấy lênh đênh nổi chìm, dòng sông mang theo nỗi niềm thân phận của con người. Dòng sông cũng là dòng thời gian miên viễn, mãi xa ta không sao níu lại được. Dòng sông hiền hòa lặng sóng nhưng cũng chính nó góp mình đổ về biển lớn cuồng nộ và dữ dội. Trong truyện ngắn Thương quá rau răm, cái tên cù lao Mút Cà Tha gắn liền với con sông Dài sao mà giàu sức gợi: “Mút Cà Tha nằm hiu hắt, lâu lâu mới thấy bóng dáng một con tàu lớ ngớ chạy vào rồi lại tẽn tò quay ra vì lầm đường, vì không biết đằng sau cù lao là sông cụt. Ngó sông vắng vẻ quá trời buồn, nhìn cảnh cù lao còn buồn hơn. Buồn từ mùi ổi chín phảng phất trong vườn, từ giọng người ới lên một tiếng rồi bặt, dư âm còn thâm u trên các ngọn cây, tiếng cạo cơm cháy xa vắng trong nắng chiều”. Dòng sông thường gọi lên những nỗi buồn không rõ nguyên cớ và cả sự cô quạnh, hiu hắt: “Ba tôi là người của sông. Không phải ông nhớ vườn xưa mà chống gậy về, ông nhớ sông, một ngày ba bốn lượt lủi thủi chống gậy ra bến, đôi mắt như đang nhìn da diết, mà không biết nhìn ai, chỉ thấy mông mênh vậy thôi. Chơ vơ, cô độc. Tựa như ông đang ở đây nhưng tâm hồn ông, trái tim ông, tấm lòng ông chảy tan vào dòng nước tự lâu rồi” (Dòng nhớ - Nguyễn Ngọc Tư). 
Với Nguyễn Quang Thiều trong Mùa hoa cải bên sông, dòng sông là nơi chôn vùi thân xác người mẹ và cũng chôn vùi cả cuộc đời của Chinh. Còn đôi bờ lại là không gian của khát vọng, của ước mơ, của niềm mong mỏi được có một cuộc sống lứa đôi hạnh phúc. Chinh “thèm khát đôi bờ… Cô thèm khát được đặt chân lên dải đất mịn màng phù sa.
Cô muốn được nằm trên thảm cỏ xanh ven đê làng. Có nhiều đêm cô bơi sát bờ và khi nghe thấy tiếng lá ngô khua xào xạc, khi ngửi thấy mùi râu ngô non dịu ngọt và mùi cỏ đêm hăng hắc, người cô lại thấy nôn nao, nhịp tim cô đập dồn dập”. Bất chấp nỗi sợ hãi có thực trước người bố độc đoán và tàn nhẫn, Chinh thả mình trôi theo những cảm giác mơ hồ không có thực hướng về phía bờ. 
Dĩ nhiên không phải mọi cơn bão chỉ đến từ phía đám mây đen và những cơn lốc xoáy, cũng như không phải con người chỉ nhỏ nhoi giữa không gian rộng, dài. Bởi cũng có khi, không là sông, là biển, là trời, chỉ một ngôi nhà cũng trở thành khoảng mênh mông nhốt con người trong nỗi cô đơn cùng tận: “Anh xây một cung điện cho bốn người bao năm sống trong môi trường công cộng... Ba năm sau ngày họ có căn nhà này. Họ còn lại một ngày” (Tân cảng - Nguyễn Thị Thu Huệ). Trong mắt người chồng, ngôi nhà mà anh xây nên bằng những viên gạch mang từ Hy Lạp xa xôi về thực sự là một không gian để hưởng thụ, và anh ngỡ rằng nó ấm áp, nhưng với vợ và những đứa con anh, đó lại là khoảng không gian lạnh lẽo thiếu vắng tình cảm. Anh chẳng thể ngờ rằng cái không gian công cộng năm xưa đã gắn kết họ lại với nhau, để giờ đây, khi đã sở hữu một “cung điện” nguy nga tráng lệ, họ lại lạc mất nhau chính trong cái “cung điện” ấy. Và trong hoàn cảnh ấy, cơn bão đã đến chính từ nơi ngỡ như bình yên nhất. Kiểu không gian tương tự cũng xuất hiện trong Đêm thánh vô cùng (Sương Nguyệt Minh): “Căn biệt thự nhiều phòng rộng, vắng vẻ. Quạnh hiu”. Người chồng, người cha “bơ vơ, cô độc như con sói lạc đàn”, thốt nhiên có những ý tưởng điên cuồng: “Tôi muốn đập phá quá. Bom bay hoặc tên lửa tomahawk của Mĩ phóng đến cái nơi ở u uất này cũng được; nó sẽ vỡ tung ra, biến mất”. 
Trong Gió mưa gửi lại, Thủy Linh cũng chia sẻ cảm giác bị đông cứng, bị giam hãm trong chính nơi thân thuộc nhất của mình: “Căn nhà tối om chìm trong khu vườn um tùm cây cối đen đặc như một khối thạch lớn…”. 
Trong Người đàn bà tóc trắng, Nguyễn Quang Thiều đã chủ ý xây dựng một không gian lạnh lẽo để nhấn sâu thêm nỗi cô đơn của bà Nhim - chủ nhân ngôi nhà. Một không gian lạnh từ tiếng gió thổi, nước giếng, khu vườn đến bốn bức tường: “Ngôi nhà lúc nào cũng thâm u như chùa. Sân gạch rộng thênh thang lác đác lá ổi, lá mít, lá bưởi rụng. Chiếc giếng khơi không biết đào từ thuở nào, nước bốn mùa trong như mắt mèo và lạnh nhức tay”. Ngay cả đôi mắt của bà Nhim cũng thế “trong và lạnh như nước giếng khơi trong vườn”. Điều oái oăm là ngay cả trong không gian nhỏ bé, ngỡ như chật hẹp, con người lại cứ vẫn cô đơn, thậm chí trở nên “đồng dạng” với đồ vật. Đó là kiểu không gian đặc trưng cho không gian hộp của xã hội hiện đại. Nhà văn cố tình thu hẹp không gian sinh hoạt của con người, đặt con người vào không gian đồ vật, biến con người thành một dạng “đồ vật tự ý thức” nhằm làm nổi rõ hơn cảm nhận về sự phi lý của cuộc sống thời hiện đại: 
“Bốn mét nhân bốn mét rưỡi nhân hai mét tám màu xanh lơ” (Man nương - Phạm Thị Hoài). 
“Dĩ nhiên là tôi chẳng có mảnh đất cắm dùi. Bốn mươi nhăm tuổi đời vẫn lơ lửng trong một cái hũ sáu phẩy ba nhăm mét vuông. Tôi là thằng chân không đến đất cật không đến giời” (Tiếng vạc đêm - Võ Thị Hảo). 
Không gian văn phòng, công sở, không gian công việc của xã hội hiện đại hiện lên như một sự cầm tù, bưng bít, giam hãm con người: “Cả tuần ngồi trong căn phòng chín mét vuông, chung với ba đồng nghiệp dưới ánh sáng của bốn bóng đèn nê ông, cửa sổ luôn đóng để chống bụi, chống ồn. Cô luôn ngộp thở” (Trong lúc ăn một bát phở gia truyền - Nguyễn Thị Thu Huệ). 
Một kiểu không gian mới được sinh tạo trong bối cảnh xã hội hiện đại chính là không gian ảo. Công nghệ hiện đại cho phép con người làm được nhiều thứ chỉ với một cử động nhẹ của ngón tay (nhấp chuột trên màn hình máy tính) nhưng cũng đồng thời dẫn con người đến hiểm họa tự đóng lại tất cả các kênh giao tiếp thực của mình để bước vào thế giới ảo. Trong truyện ngắn Gió ở thiên đường, Phạm Thị Ngọc Liên viết về câu chuyện tình qua máy tính của người con gái bệnh tật. Người em gái thương chị mang bệnh, lại sợ chị cô đơn khi không có mình bên cạnh nên đã tạo ra một thế giới ảo cho riêng chị, ở đó, chị không phải là chị nữa mà là chiechoxanh (chiếc hồ xanh), và người chị thầm yêu trộm nhớ là cachepvang (cá chép vàng). Không gian ảo bù đắp cho con người những điều mà họ còn khuyết thiếu trong đời sống thực, nhưng chỉ là một sự bù đắp ảo. Bởi một khi bước ra khỏi thế giới đó để quay về với cuộc sống thực, con người hẳn sẽ nhận ra nỗi đau, nỗi cô đơn, nỗi buồn càng ngút ngàn đến vô cùng vô tận. 
Nhưng con người không phải chỉ mãi là hạt bụi vô danh giữa thiên nhiên đất trời. Khi con người lấy mình làm tâm điểm của vũ trụ, xác lập được tính độc đáo, tự chủ của nhân vị hiện sinh thì nhiều khi, cái dữ dội của đất trời kia lại chính là phông nền hùng vĩ để con người thể hiện tư thế của mình: “Cuối trời. Mây xám vần vũ. Mặt hồ sóng sôi sùng sục. Gió đuổi sóng trên hồ, tất cả tạo thành một không gian hoang dại như ngựa phi trên đồng cỏ. 
Có lẽ phải về thôi, sắp bão rồi. 
Chưa đâu. Bây giờ mới là lúc sướng. Tớ cho thuyền ra xa đón gió” (Nước mắt đàn ông - Nguyễn Thị Thu Huệ). 
Không gian còn có thể là điềm báo trước cho cái dữ dội, bạo liệt của số phận con người. Trong truyện ngắn Con dại của đá, Võ Thị Hảo chú tâm miêu tả hai hình ảnh (cũng là hai biểu tượng) gió và đá. Nhưng không phải là thứ đá trơn tru, nhẵn nhụi, cũng không phải là những cơn gió hiền lành dìu dịu. Gió dữ dội và đá cũng dữ dội, như thể đá ấy, gió ấy đã hun đúc nên tính cách của Sải - nhân vật chính của truyện: “Còn lại gió. Gió mài xiết trên những mỏm đồi đá, gẩy lốc cốc những mảnh trúc vỡ và xua đuổi những đám mây hình rặng lợn lởn vởn trên không trung, để lộ một vầng mặt trời bầm dập màu thiếc. 
Mọi chuyện của người Mông đều bắt đầu từ gió hoang hoài và kết thúc trên mặt đá hoang hoài”. 
Kiểu không gian dữ dội gắn liền với ý chí mạnh mẽ của con người như thế gợi người đọc nhớ đến triết gia F. Nietzsche khi ông cho rằng yêu đời sống là yêu những dự định lớn lao và những quyết định nguy hiểm, sống của người hùng là sống mãnh liệt và dào dạt. Điều này cũng có nghĩa rằng F. Nietzsche chủ trương theo đuổi dòng hiện sinh phong phú đến đam mê. Sống đam mê không phải là sống an hưởng, càng không phải là sống trong khuôn khổ mà là sống một cách anh hùng, ngang tàng và nguy hiểm. Tương đồng với kiểu sống này là thứ không gian gợi nên những ham muốn sống tận hiến như đêm trăng trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ: “Ngoài kia. Trăng sáng. Tiếng trống ếch lúc ẩn lúc hiện. Tiếng nhạc dìu dặt và những lứa đôi đứng dưới gốc cây. Tất cả. Tất cả còn đó. Tất cả đều sống hết mình, sống theo những ham muốn, mơ ước của mình” (Còn lại một vầng trăng); không gian của đam mê và khát vọng về một cuộc sống đẹp đẽ, nhiều màu sắc trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều: “Người cha say mê vùng trời bao la sau mỗi chuyến bay và nhận thấy đó mới là không gian sống của mình. Vùng trời “có những ngôi sao bé bỏng, ướt át và đầy bí ẩn… tiếng thì thầm của những ngôi sao và những vầng mây bạc trong những đêm sáng trăng… tiếng bầy kiến gọi nhau trên những song cửa sổ trong cuộc hành trình muôn đời không ngủ của bầy kiến…” (Vùng trời của cha). 
Võ Thị Hảo xem cuộc sống là một “miền bọt”, có phải bởi cuộc sống ấy thực mà ảo, va chạm, đau đớn mà phù du. Dẫu thế, đó vẫn là không gian để nhân vật hiển lộ diện mạo tâm hồn của mình. 
4.1.2. Thời gian nghệ thuật - bi kịch về sự hữu hạn sinh tồn 
Aristote hẳn đã có lý khi cho rằng “chỉ có thời gian trong linh hồn ta”. Và Bergson nhận định rằng “chiếc kim đồng hồ mỗi lúc chỉ ở một vị trí, cho nên nếu không có trí nhớ của ta để nhớ rằng trước khi ở số sáu, chiếc kim đã ở số ba, thì không có sự chuyển động của chiếc kim và tất nhiên là không có thời giờ” [21, tr. 361]. Điều này có nghĩa là thời gian chỉ mang những nét nghĩa phóng chiếu từ bản thân con người. Con người sống ở hiện tại mà đã ném mình về tương lai và cả về phía sau lưng nó nữa. Điều này có nghĩa là con người hiện diện với cái hiện nay nhưng con người cũng hiện diện với cái đã qua và cái chưa tới. Hiện tại không phải là hiện tại nếu nó không là tương quan giữa quá khứ và tương lai, và quá khứ sẽ không là quá khứ nếu nó không gắn liền với hiện tại, tương lai cũng thế, nó chỉ là tương lai vì gắn liền với hiện tại và quá khứ. Cả ba thể thời gian này theo Heidegger chỉ là ba hình thái của cùng một bản thể duy nhất và bản thể này chỉ có thể là con người. Vì vậy, việc xem thời gian như nỗi ám ảnh, như định mệnh, như bản chất của con người là điều hiển nhiên. 
Có lẽ từ thuở mới sinh ra, con người đã có khuynh hướng âu lo, trăn trở về thời gian.
Bởi thời gian luân chuyển nhanh đến không ngờ và dòng thời gian vô thủy vô chung, không có mở đầu mà cũng chẳng có kết thúc ấy lại rất vô tình với con người hữu ý. Thành ra, con người cứ vì thế mà không thể nguôi yên. Nhất là khi con người đã thức nhận về tâm thế hiện sinh của mình thì thời gian lại càng trở thành nỗi ám ảnh. Bởi đời người là cuộc chạy đua, chạy đua với thời gian, chạy đua với số phận: 
“Thoắt buổi sáng, đã trưa, đã chiều. Thoắt mùa xuân, đã thu, đã đông. Chỉ có nỗi buồn là vĩnh cửu” (Con gái thủy thần - Nguyễn Huy Thiệp). 
“Sống. Biến đổi. Như dòng nước. Như mây bay. Như máu chảy” (Chăn trâu cắt cỏ - Nguyễn Huy Thiệp). 
“Thời gian nước chảy mây trôi. Tất cả các dòng sông đều chảy và cùng đổ về biển cả” (Bến sông xưa - Nguyễn Lập Em). 
“Đời người qua nhanh quá. Thoáng một cái năm mươi năm…” (Vô ngôn - Ngô Thị Kim Cúc). 
Thời gian trong truyện ngắn Việt Nam đương đại gắn liền với những phức cảm tâm lý có phần phức tạp của con người hiện sinh. Đó có thể là nỗi cô đơn, là khát vọng tuyệt đích, là ý chí chinh phục cuồng điên hoặc đôi khi có thể là sự chán nản trước cái tù đọng phi lý của cuộc đời. Vốn dĩ mông lung, không hình hài nên thời gian thường được hình dung qua những hình ảnh so sánh cụ thể: 
“Mình già từ khi nào nhỉ? Đời người qua nhanh như mùa cốm tháng 10…” (Súc Hỷ - Cao Duy Sơn).
“Thời gian ở nông thôn như nia bánh đúc quá hàn the, bẹt, phẳng lì, cứ thế trôi…” (Dốc Sung - Trần Quang Quý). 
Có những khoảng thời gian gần như được mặc định là thời gian của tâm trạng, thường là khi đêm về, đặc biệt là những đêm có trăng. Đó là khoảnh khắc mà con người đối diện với chính mình, cũng là lúc mà tâm hồn lặng nhất, tĩnh nhất và cũng trống trải nhất. Đêm được xem là hình ảnh của cái vô thức, trong giấc ngủ đêm, vô thức được giải phóng. Đêm là “dung môi” làm cựa quậy những ám ảnh, là khoảnh khắc con người thấu rõ lòng mình, nhận rõ độ xào xạc bên trong. Nói một cách khác, đêm khuya là diễn trường cho phức cảm cô đơn, dù là cô đơn vì bị bỏ rơi, cô đơn vì lạc loài hay cô đơn không có nguyên cớ. Được ánh trăng hậu thuẫn, nỗi cô đơn ấy dường như càng mênh mông, rợn ngợp hơn. Hồ như ánh trăng đã chuốt đậm thêm cái lạnh lẽo, hoang vắng trong những tâm hồn đơn lẻ. Đó là những đêm trăng lạnh buốt của Hạnh trong Tiếng vạc đêm (Võ Thị Hảo): 
“Vầng trăng rỡ ràng trinh bạch tỏa ánh sáng lạnh buốt từ trên cao. Từ hai phía bờ đầm vẳng lại tiếng vạc sũng nước. Đó là tiếng kêu khắc khoải như xoắn lên từ ruột của loài chim lầm lụi kiếm ăn vào ban đêm. Trên con đường mò cua bắt ốc, chúng thường đơn độc, song con trống vẫn gọi con mái để khỏi lạc đường. Những tiếng kêu như phải mất rất nhiều sức lực, như tắc nghẹn, cứ thảng thốt trong đêm… Hạnh nếm trải cảm giác của một con chim xa xứ, dù mùa đông chưa tới song hơi lạnh đã nhấm nhẳn da thịt...”. 
Đó là khoảnh khắc đầy ân hận của đứa con gái dại dột vì ham chơi không nhìn được mặt bố trong những giờ phút sau cùng: 
“Ngoài kia. Trăng sáng. Tiếng trống ếch lúc ẩn lúc hiện. Tiếng nhạc dìu dặt và những lứa đôi đứng dưới gốc cây. Tất cả. Tất cả còn đó. Tất cả đều sống hết mình, sống theo những ham muốn, mơ ước của mình” (Dĩ vãng - Nguyễn Thị Thu Huệ). 
Đó cũng có thể là một khối tâm sự đớn đau khắc khoải của người đàn bà cả đời đi tìm một thứ tình yêu có thể thiêu đốt chính mình trong Còn lại một vầng trăng (Nguyễn Thị Thu Huệ): “Có những đêm trăng, những đêm trăng thật là trăng. Cô ấy trần truồng ra vườn khóc nức nở như người điên. Cô ấy là người đàn bà suốt đời đam mê cái gì đó chính cô ấy không hiểu… Cô ấy cứ lồng lộn đau khổ như bị ai lấy cắp cái gì. Cô ấy tiếc đời. Tiếc tuổi trẻ đã qua. Những năm tháng không có chú bên cạnh”. 
Thời gian hiện sinh là khoảng thời gian có lúc tính bằng đời người, mà cũng có khi chỉ tính bằng khoảnh khắc. Và một khuynh hướng chung mà nhiều nhà văn thường sử dụng là giản lược thời gian để khắc nổi lên sự trôi qua một cách hoài phí cuộc đời và khát vọng con người. Giản lược thời gian có nghĩa là nhà văn thâu tóm cuộc đời 100 năm của một con người chỉ trong vài ba câu văn ngắn ngủi nhưng lại tràn đầy ý vị tiếc nuối, xót xa, thậm chí đau buồn phẫn nộ: “Khoảnh khắc là cái mà thời gian cứ nối nhau trôi qua, từng giây và từng phút. Rồi bỗng dưng, hạn đến và đời tàn. Mỗi phút ta đứng, ngồi, ăn, ngủ là khoảnh khắc đang trôi. Con người luôn nhìn thấy ở quá khứ là hay, nuối tiếc trong khi cuộc đời thì vùn vụt chạy và ta đang mất. Thời gian trôi như chó chạy qua đường, nhanh lắm cô bé ạ” (Thiếu phụ chưa chồng - Nguyễn Thị Thu Huệ). 
Ý niệm hiện sinh hằn lên rõ rệt khi con người nhận ra rằng cùng với nhịp trôi chảy của thời gian, mình cũng đang mất một cái gì. Nên xao xuyến, hoang mang và rồi tiếc nuối, nhất là khi khoảng thời gian ấy được lấp đầy bằng chuỗi hành động đều đều, vô nghĩa lý: 
“Dần dà. Tuổi trẻ của tôi qua đi lúc nào tôi không biết nữa. Cũng phấn đấu, cũng học, cũng yêu, cũng đi làm và đẻ con” (Hoàng hôn màu cỏ úa - Nguyễn Thị Thu Huệ). 
Con người không thể không tiếc nuối thời gian, nhất là khi thời gian có quyền năng in những vết hằn không thể xóa bỏ trên cơ thể cũng như trong tâm hồn con người: “Người đi ngược đường cũ bằng chân, ngược về thời trẻ chỉ bằng ý nghĩ. Tiếc lắm thay, già mất rồi” (Súc Hỷ - Cao Duy Sơn). 
Điều này lý giải vì sao các nhà văn thường tìm cách trì hoãn mạch trôi chảy của thời gian, ngõ hầu lột tả cái dùng dằng, trì trệ, thậm chí tù đọng của dòng sông đời người. Ngược lại, nhiều khi thời gian trôi nhanh đến độ con người thậm chí còn không kịp hoài cảm. Những lúc đó, họ chọn cách sống nhanh, sống cháy hết mình, sống chạy đua với tháng năm, thể hiện nhân vị độc đáo trong dòng thời gian miên viễn. Tự trong sâu thẳm, con người nhận thức được thời gian không chờ đợi và cuộc đời cũng không dài như ai đó ảo tưởng: “Anh hẹn sang năm. Đời người đâu có dài gì mà mỗi lần hẹn xa quá” (Huyền thoại - Nguyễn Thị Thu Huệ). 
Con người hiện sinh sống nhiều ở thời hiện tại nhưng không khỏi lo lắng về tương lai, cái tương lai mịt mờ vô định và chưa hoàn kết: “Mẹ bốn mươi sắp sang bốn mốt. Hơn có một tuổi nhưng lại ngoặt sang một chặng khác đầy bất trắc và mù mờ, không thể định trước ngày mai ngày kia ra sao” (Rượu cúc - Nguyễn Thị Thu Huệ). 
“Bấy lâu nay tuy không ý niệm nhưng Hoán vẫn mang máng rằng Hoán và con vật khốn khổ chung một kiếp sống. Một kiếp sống mong manh mơ hồ, mọi thứ xảy ra trong tiềm thức sâu thẳm, không định hướng là gì nữa… Hoán đã từng nhiều năm ở chiến trường oanh liệt. Hoán đã từng được sống đẹp đẽ. Vậy mà mất hết? Vì cái gì?” (Chạy trốn - Phạm Ngọc Tiến). 
Con người hiện sinh trong không gian và thời gian, nhưng chính thời gian mới là bi kịch lớn của con người, bởi có thể nào ảo tưởng “đi tìm thời gian đã mất” (W.Faulkner)? 
4.2. Các motif nghệ thuật thể hiện cảm thức hiện sinh 
4.2.1. Motif hành trình 
Con người có cơ cấu là dự phóng, nói đúng hơn, bản chất của con người là luôn luôn bị ném về phía trước. Điều này cũng có nghĩa là con người không bao giờ yên, nó luôn luôn xao xuyến, luôn luôn dự tính: bản thể con người không ở trong con người nhưng ở trước mặt nó. Trong suốt cuộc đời, con người không thể không có những dự định hoặc gần, hoặc xa, hoặc quan trọng hoặc tầm thường bởi vì chính những dự định này là hình ảnh hiển hiện của dự phóng. Cứ thế, dự phóng luôn luôn thể hiện rồi lại luôn luôn dự phóng mãi thêm. Chính những điều này quy định tính chất động của cuộc hiện sinh và được chuyển hóa thành motif những cuộc hành trình, những chuyến đi trong văn học hiện sinh. Những chuyến đi miên mải, không biết ngày nào, tháng nào, năm nào sẽ kết thúc nhưng không phải vì thế mà vô nghĩa: 
“Tôi cứ đi đi mãi. Tôi băng qua cánh đồng, qua dòng sông. Mặt trời bao giờ cũng ở phía trước mặt tôi...” (Những bài học nông thôn - Nguyễn Huy Thiệp). 
Con người bị quyến rũ bởi những cái mới lạ, dù chông gai vẫn cố đạt cho bằng được: “Tôi thích mọi thứ không phải nhà mình, ăn cơm nhà khác, ngủ ở nhà khác, trèo lên một cây ổi nhà khác vặt quả… đều thích hơn làm tại nhà mình, thích hơn, bởi vì nó lạ, và tôi chỉ cần lạ” (Mười ngày - Phan Thị Vàng Anh). Sải - đứa con của núi (Con dại của đá -Võ Thị Hảo) chấp nhận đánh đổi hạnh phúc đời mình, từ bỏ cuộc hôn nhân đẹp như giấc mộng để đi theo Cáo Tờ Quẩy vì niềm đam mê dành cho miền đất xa ngái mà phụ nữ nơi này chưa bao giờ đặt chân đến. Miền xa đó là biển, có những rặng san hô đủ màu sắc, có những vỏ ốc lấp lánh lân tinh... Nó lạ, lạ từ hương vị cho đến đường nét, màu sắc. Nó trở thành nỗi ám ảnh thôi thúc Sải lên đường.
Cũng thế, trong truyện ngắn Mặt đất vững chãi (Vân Hạ), cô bé mang tên Hận từ chối đi tu theo lời khuyên của cậu bạn Chân Quả bởi “đời người sống có một lần, nay còn chưa biết mai, nói gì đến kiếp sau” và nếu “không biết tình yêu là gì, không biết du lịch là gì, không biết chinh phục đỉnh cao là gì. Không xem kịch, không nghe nhạc, không biết thế nào là buồn vui sướng khổ. Vậy thì sống còn có ý nghĩa gì nữa?”. Đến chú Chân Quả hình như cũng nhận ra được cái điều mà bao nhiêu năm ở chùa chú chưa từng nghĩ đến: Con biết chúng ta vẫn thường thích sự sung sướng, sợ đau khổ nhưng lại cứ lao vào vòng khổ đau để tìm sung sướng. Nếu bảo chúng ta hãy dừng lại, dứt hết mọi thú vui đam mê đi để được an ổn thi chẳng khác nào bắt chúng ta phải từ bỏ hết đắng cay. Con thấy khổ đau cũng giống như đắng cay, như chất độc, nó có sức quyến rũ của ma quỷ”. Sống là nếm trải, nên con người không thể vì ngần ngại mà trốn chạy hoặc chỉ đi đến nửa đường. Họ phải đi cho đến cùng, dù “Cuộc tình giống như thuốc độc. Nó tàn phá tôi dần dần. Thật tệ hại khi tôi biết mình đi vào ngõ cụt mà vẫn cứ đi. Tôi không phủ nhận tình yêu của anh. Nó nồng nàn quá, say đắm quá. Nó như khối cầu lửa, thiêu đốt tôi đến tận cùng cảm giác. Để đến khi nhìn đống tàn tro của chính mình, tôi cũng không hối hận” (Cõi riêng - Phạm Thị Ngọc Liên). Nhiều khi, con người thấm thía rằng mình rồi sẽ bị hủy hoại nhưng vẫn can đảm: “Chị như đóa hoa nở bừng sau cơn giông. Sau nở là lụi tàn mà vẫn cứ nở. Cơn giông sẽ tới cuốn theo nó cả sự lụi tàn” (Giấc mơ -Võ Thị Xuân Hà). Một trong những phẩm tính đầu tiên quan trọng của hiện sinh thể là dám vượt, vượt qua hoàn cảnh và vượt qua chính mình. Với ý chí này, con người hiện sinh luôn sẵn sàng bước vào vạch xuất phát: “Tôi muốn đi thật xa. Từ ngày nào tôi đã muốn như vậy rồi. Nhất định tôi phải đi. Tôi giục tôi dữ dội, nóng bỏng…” (Thung lam - Hồ Thị Ngọc Hoài). Điều quan trọng ở đây là ý thức dám đi, dám vượt chứ không phải là định dạng đích đến của mỗi chuyến đi: “Cứ đi ra biển rồi sẽ thấy cái cô muốn tìm. Nhưng nhớ là chỉ đi một mình thôi đấy” (Gió mưa gửi lại - Thùy Linh)
Hầu hết các cuộc hành trình mang tính chất chạy trốn, vượt thoát, ra đi để kiếm tìm, thể nghiệm và khẳng định. Tân cảng (Nguyễn Thị Thu Huệ) có thể xem là một tác phẩm tiêu biểu cho motif này. Nhân vật nữ chính quyết định từ bỏ ngôi vị nữ chúa trong cái “cung điện” lạnh lẽo không hơi ấm suốt bao năm để bắt đầu lại từ đầu. Bão tố nổi lên trong chị ngay từ khi quyết định ấy thành hình và càng ngày càng dữ dội hơn. Nhưng không vì thế mà chị chùn bước: “Không có một điều gì làm chị xúc động hơn chính bản thân bão tố trong lòng chị lúc này. Chiến tranh đã nổ ra. Bom đã rơi vào chính chị. Và chị cũng phải chạy đi. Đến một cảng mới để làm lại từ đầu” (Tân cảng). Với cô gái tật nguyền trong Như gốc gội xù xì (Hà Thị Cẩm Anh), cuộc hành trình khó khăn nhất là chặng đường đi tìm hạnh phúc. Mặc cảm tật nguyền đã từng một thời gian dài chôn vùi cô trong nỗi cô đơn, nhưng nó không chôn vùi được khát vọng sống mãnh liệt: “Chẳng lẽ, tôi lại cứ để cho mặc cảm tật nguyền hủy hoại những phần tốt đẹp nhất còn lại của mình? Hạnh phúc không tìm đến với tôi thì tôi phải đi tìm kiếm nó...”. Mạnh dạn bước ra khỏi bóng tối, cô gái tìm được hạnh phúc mà cô mong ước, đó là cuộc sống gia đình, là sự hòa nhập cộng đồng, là sự chiến thắng chính bản thân mình. Truyện ngắn Con gà nói tiếng Đức của Dương Thụy kể về Huy - chàng thanh niên Việt Nam sống và làm việc tại Đức. Huy đã từng là một hướng dẫn viên du lịch thành công, nhưng công việc đó không thỏa mãn anh. Những ngày đầu sống ở Đức, Huy va vấp khá nhiều. Nhưng đến lúc ngẫm lại, anh mới thấm hiểu cuộc sống xứ người đã dạy anh bao điều quý giá: “Nhiều lúc anh tự hỏi hay là mình “lầm đường lạc lối”? Nhưng không! Anh có được bao nhiêu kinh nghiệm sống quý giá. Chỉ có ở trong hoàn cảnh phải đấu tranh từng ngày để giữ vững tinh thần như anh mới hiểu giá trị của sự thành đạt và hạnh phúc thật sự của cuộc đời, điều mà hồi còn trẻ ở Việt Nam anh lầm tưởng là mình đã đạt được dễ dàng rồi”. Có thể thấy, sự ra đi, từ bỏ những thói quen, những giá trị “ảo” đã giúp Huy tự khẳng định chính mình. 
Trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, các nhân vật ra đi để chứng minh cho lý tưởng sống, để lý giải những niềm tin ngỡ như mơ hồ, huyễn ảo, để hiểu đến tận cùng đáy sâu tâm hồn mình… Trong Chảy đi sông ơi, thao thiết cùng dòng chảy là giấc mơ về con trâu đen huyền thoại, về chuyện “một con người” ở xứ Giêruxalem… của nhân vật tôi. Trong Con gái thủy thần, Nguyễn Huy Thiệp đẩy nhân vật vào những cuộc thử thách, lựa chọn luân chuyển không ngừng. Trạng thái dịch chuyển, vận động được duy trì từ đầu đến cuối tác phẩm: “tôi đi, tôi cứ đi, đi mãi, tôi đi, tôi đang đi, tôi vùng bỏ đi như chạy…”. Điều dễ thấy là trong hầu hết các truyện ngắn thể hiện motif hành trình, những động từ mô phỏng hành động liên quan đến chuyến đi như đi, chạy, ra đi, bỏ đi… được sử dụng lặp lại với tần suất cao. 
Con người ra đi cũng là để thay đổi chính vận mệnh của mình, để chứng minh mình không sinh ra với thân phận định sẵn, với một tương lai chép sẵn mà người ta gọi là số phận. Trong Cơn mơ diều sáo (Lã Thanh Tùng), nhân vật “mụ” từ lâu đã âm thầm khao khát một chuyến đi: “Mụ âm thầm chuẩn bị cho một chuyến đi hằng mơ… Cái Mướt khóc mắt đỏ hoe, nhưng mụ đã quyết rồi, sông dài biển rộng tất cả đâu phải chỉ toàn nước lã...”. Trước quang cảnh xô bồ, bát nháo của bể đời trùng điệp, có lúc mụ đã hoảng sợ, nhưng rồi lại vẫn tiếp tục dấn bước: “Đã có lúc mụ phát hoảng, định quay về mảnh vườn bãi sông, nhưng hình như số phận vẫn trốn nấp đâu đó, âm thầm giục mụ dấn bước… Không, mụ không thể chịu hèn đớn mãi. Mụ quyết định rồi, ở đời này đàn ông làm được điều gì thì đàn bà cũng phải gần được như thế, chứ lại lép mãi ư?”.
Motif này cũng được Tạ Duy Anh sử dụng nhiều trong truyện ngắn của mình. Đó là hành trình ra đi của Tư trong Bước qua lời nguyền - một phiên bản hiện đại của chuyện tình Romeo và Juliet. Tư ra đi vì bất lực không thể bảo vệ tình yêu của mình trước định kiến hẹp hòi của gia đình và dòng họ. Nhưng anh ra đi cũng là để khẳng định sự nhất quyết không thỏa hiệp, không từ bỏ của mình đối với Quý Anh, với mối tình vượt lên trên cả thù hận. Trong Lãng du, đó là hành trình tìm lại nguồn nước đã thấm mát tâm hồn nhân vật tôi qua bao nhiêu năm tháng của cuộc đời - cũng tức là hành trình đi tìm cái đẹp, cái cứu cánh cho cuộc tồn sinh tồi tàn, nhem nhuốc này. 
Trong Sông cạn (Hồ Anh Thái), cặp vợ chồng trẻ Manju và Ravi dường như luôn khao khát một cuộc kiếm tìm: “Họ lao ra khỏi thành hướng về phía sa mạc. Cát vàng đến tận chân trời. Một dòng sông thiêng cổ đại đã lạc lối vào sa mạc này rồi hoàn toàn biến mất… Hai người hi vọng tìm ra dấu tích của dòng sông ngu ngơ lạc lối vào sa mạc. Sông đã thành sông cạn. Sông cạn đã hoàn toàn mất tích. Hàng nghìn năm rồi còn gì”. Cuộc kiếm tìm không thỏa mãn giấc mơ đẹp về dòng sông huyền thoại nhưng lại trả công họ bằng một báu vật khác: “Họ đã nằm xuống bên cạnh đám xương rồng từ lúc nào. Lúc này thì cả một dòng sông ào ạt trào dâng”. Sự cố duy nhất là vết rách trên tấm áo choàng dũng sĩ của Ravi, “cơn cuồng hoan bên đám xương rồng đã gây ra vết rách”. Cái vết rách mang ý nghĩa triết mĩ sâu sắc, là minh chứng cho cuộc hành trình đi tìm dòng sông đã mất, là biểu tượng tròn đầy cho khát vọng của Manju và Ravi. 
Trong Thung lũng Bách Niên (Dương Bình Nguyên), người cha khao khát những chuyến đi rồi gửi niềm khao khát ấy vào những đứa con của mình: “Ông dựng cả một thung lũng phì nhiêu và nuôi những đứa con lớn lên. Rồi ông ao ước một ngày kia những đứa con sẽ ra đi. Xuôi những con suối. Để đi tìm những thung lũng của chính mình”. Cứ như thể niềm hi vọng đã nối dài đến vô tận cuộc đời của một con người. Nhưng rồi cũng chính ông đã tự biến cuộc đời mình thành “một cuộc đời oi khói”, “mãi mãi không còn là chàng trai tuấn tú đi ngược những dòng sông”. 
Con người ra đi còn bởi hiểu rằng không thể trông đợi vào bất cứ một thế lực nào khác ngoài chính bản thân mình: “Vâng, ngày mai tôi sẽ ra đi, tôi sẽ tìm, tôi sẽ làm một việc gì đó từ khả năng mình chứ không thể trông mãi vào lộc trời. Tôi sẽ ra đi, ra đi là để tìm một con đường về” (Lộc trời - Nguyễn Thế Hùng). 
Và cũng đôi khi, con người ra đi chỉ bởi không còn ai chờ đợi họ: “Rồi sẽ qua một mùa đông. Và rồi sẽ đến Tết. Tôi thấy mình thực sự là một đữa bạc bẽo. Nhưng sao tôi chỉ muốn ra đi và không muốn về. Thị trấn chỉ có mỗi cây thông già đứng trân mình như mái nhà rông. Còn người con gái ấy đã đi rồi, không còn ai đợi tôi nơi đầu dốc…” (Người con gái không đợi nơi đầu dốc - Dương Bình Nguyên). 
Những cuộc hành trình, những chuyến ra đi luôn là sự hướng về tương lai. Mà tương lại thì là điều huyền nhiệm con người vĩnh viễn không thể tường tận, chỉ có thể đến được bằng cách đốt cháy mình hôm qua và hôm nay như lời của cô gái trong Góc trường thân yêu (Hồng Duệ): Tôi nghĩ rằng quãng đời mà chúng ta sẽ có, sẽ sống cho nó, sống hết vì nó, quãng đời ấy đang ở phía trước. Mỗi chúng ta phải tự chuẩn bị cho mình nhiều thứ lắm anh Hiên ạ, mới có thể sống xứng với nó được… Sống là một chuỗi vỡ ra.Vỡ ra rồi trưởng thành. Và cứ mỗi lần như thế lại muốn sống cho thật có ích”. 
Con người vẫn sẽ luôn luôn hướng về phía trước, “như con tàu to lớn vất vả tin vào ngọn hải đăng, nó có thể chao đảo nhưng tự biết sẽ sống sót một khi nó trông thấy đốm sáng nhỏ báo hiệu bờ” (Người lạ vừa đến - Phan Hồn Nhiên). Đúng như quan điểm của F. Nietzsche, mặc ai phản đối hay thậm chí lên án, con người hiện sinh (mà triết gia gọi là siêu nhân) cứ đi con đường của mình, cứ sáng tạo, cứ dám nghĩ như chưa từng ai nghĩ. Mặc cho ai khuyến khích những giá trị viển vông, mặc cho ai sống để chờ chết, con người hiện sinh luôn phải vượt qua, vượt qua và vượt lên mãi để làm cho cuộc hiện sinh có một ý nghĩa.
Motif hành trình, ra đi thể hiện sắc thái hiện sinh đậm nét: vừa là vẻ nổng nhiệt, lại vừa là tính chất bi đát bởi hầu như chẳng mấy ai định trước được đích đến cụ thể của mỗi cuộc hành trình. Điều quan trọng là cứ phải lên đường…
4.2.2. Motif cuộc đời phi lý 
Các nhà hiện sinh khẳng định bản thân tồn tại người đã là một điều phi lý. Phi lý trở thành điểm xuất phát và cũng là điểm đến của tất cả mọi sự trên thế giới này: “Tất cả mọi hiện tượng đều bắt nguồn từ phi lý và trở thành phi lý. Nghĩa là chẳng bắt nguồn từ đâu và chẳng đi tới đâu cả…” [57, tr.8]. “Đời sống là một sự vô nghĩa đã hiện ra không có lí do và chẳng để làm gì cả trong đó con người đã bị ném vào một cách tình cờ như tất cả mọi vật khác, thêm vào một điều đặc biệt khiến cho con người khác với các thể khác: ý thức về sự phi lí” [32, tr.113]. Ý thức rõ điều này nên con người đôi lúc thậm chí không cần đến cả một cái tên. Bởi cần gì cái tên để định danh cho một điều phi lý: “Em hỏi anh tên người ấy. Anh bảo: Tên gì mà chẳng được? Tên người cũng chỉ là một thứ kí hiệu thôi. Anh gọi cô ta là N”. Em bảo” Thế người ngồi cạnh là M à?. Anh bảo: Phải” (Mưa - Nguyễn Huy Thiệp). Cũng theo một lối tư duy như thế, thế giới nhân vật của Phạm Thị Hoài là tập hợp những con người đã bị tẩy trắng, không tên, không tuổi, không lai lịch, không ngoại hình, những anh, chị, cô, hắn, y..., hoặc giả như có đặt tên thì đó là những cái tên viết tắt hay những ý niệm như nhà văn Ng. (Người đàn bà với hai con chó nhỏ), bác sĩ nội khoa B (Mê lộ), kẻ giết ý nghĩ và người suy tư trong hai truyện ngắn cùng tên, v.v... 
Khái niệm phi lý của hiện sinh được nhắc đến lần đầu tiên trong tác phẩm của Camus (absurde). Theo đó, ý thức về phi lý cũng phát sinh chính từ một nguồn như Sartre từng nhắc đến: vẻ trơ trơ, vô vị, nhạt nhẽo của cuộc đời. Cả hai nhà hiện sinh gặp gỡ nhau ở cùng một điểm là nhịp độ sống vô vị đến phát chán mà Sartre gọi là “Ăn, ngủ. Ăn, ngủ. Sống từ từ, êm êm…” còn Camus thì miêu tả “thức dậy, ngồi xe điện, bốn giờ ngồi bàn giấy hoặc ở xưởng, cơm trưa, rồi lại ngồi xe điện, bốn giờ ngồi bàn giấy, cơm tối, đi ngủ”. 
Như vậy, cấp độ phi lý hiện sinh đầu tiên là cái phi lý đến từ kiểu sống đều đều, nhàn nhạt, không có điểm nhấn, không có mùi vị, không có khác biệt. Dạng phi lý này đến từ những tình huống thường nhật, đặc biệt là trong đời sốn hiện đại, khi mà máy móc kỹ nghệ lên ngôi và tâm hồn con người có nguy cơ bị “số hóa” như chính đôi tay và trí óc của họ. Đó là người vợ “suốt đời cúi mình bên những chiếc áo cánh hàng chợ, lúc cổ lá sen, lúc cổ tàu rồi lại cổ tàu, cổ lá sen” (Người đàn bà với hai con chó nhỏ) khiến người chồng nhàm chán; một viên chức mẫu mực “luôn có mặt ở bàn giấy năm phút trước giờ làm việc và rời khỏi bàn giấy năm phút sau giờ làm việc. Đúng 11 giờ 30, anh mở tờ Nhân dân, bắt đầu trang nhất, mất vào đó 15 phút, rồi đến lượt tờ Quân đội nhân dân mười phút và chiếu cố năm phút còn lại trước khi còi tầm hú cho tờ Hà Nội mới, dẫu sao cũng là tiếng nói của Thủ Đô. Anh ăn cơm hết 15 phút, rửa cặp lồng 10 phút và nghiêm túc dùng nốt 5 phút giờ nghĩ trưa để xỉa răng” (Vệt son); một người đàn ông luôn có ý thức quy đồng tất cả mọi sự vật hiện tượng về những con số: nhìn vào căn phòng đối diện rộng 12m2 , anh nghĩ ngay đến 3m2 vượt quá tiêu chuẩn; nhặt chiếc điếu cày, anh lập tức hình thành trong đầu một nhận xét “dài gấp ba điếu của người lương thiện”; thậm chí khi cô hàng xóm gục đầu lên đùi anh ngủ, anh còn kịp ghi nhận mớ tóc loăn xoăn của cô đã mắc vào khuy áo anh từ khuy thứ một đến khuy thứ năm; cả trong chuyện hò hẹn anh cũng đều đặn: mỗi tuần hai chiều hẹn, mỗi tuần hai lần thay hoa... (Hành trình của những con số); một cô gái “tối tối ngồi đan những cuộn len đủ màu dỡ từ những chiếc áo đủ màu và chẳng băn khoăn gì hết” (Chín bỏ làm mười). Có thể thấy, tính cách nhân vật đã bị mài mòn đến mức phẳng lỳ. Nhân vật mất khả năng thể hiện những cung bậc cảm xúc đa dạng mà chỉ còn có thể trung thành với một dạng cảm xúc, một lối bộc lộ cảm xúc duy nhất, tự cầm tù mình trong chính những giới hạn cảm xúc mà mình đặt ra. 
Một thế giới vô nghĩa, lặng lẽ, buồn tẻ khiến cho tất cả mọi mối quan hệ cũng thốt nhiên trở nên vô nghĩa và phi lý một cách kỳ lạ. Dễ nhận thấy tính chất phi lý thường gắn liền với những gì nhàm chán, đơn điệu, tẻ nhạt, bởi lẽ cuộc hiện sinh mà con người mơ ước và đeo đuổi luôn là một nếp sống “hùng hổ, mãnh liệt, hết mình” chứ không thể và không phải là một vệt mòn nhàm chán như cảm nhận của nhân vật “hắn” trong Chuông chùa Bạch Vân (Trần Đức Tiến): “Tối nay về đâu cũng thế thôi. Làm gì cũng chẳng để làm gì. Mấy mươi năm là viên chức nhà nước dường như đã đủ nhàm chán cho cả cuộc đời hắn. Còn bao nhiêu năm nữa thì cũng cứ cái vệt đó mà lăn cho đến chết”. 
Trong bất cứ lĩnh vực nào của đời sống, sự đơn sắc dường như cũng là một tín hiệu của phi lý, cho nên, con người mới gắng công chống lại sự đơn điệu, đều đều. Thói quen là kẻ thù nguy hiểm nhất của con người bởi nó ăn mòn nhân cách. Đó là lý do khiến cho cô gái trong truyện ngắn Một cái gì (Phạm Thị Hoài) bùng nổ: 
“ - Em đi làm nhé. 
Bao giờ anh cũng nói câu ấy, không thay đổi tốc độ đạp xe, đến mức, cô gái đã phải hét lên: 
- Thế nào cũng được, nhưng đừng mềm mại, đừng dịu dàng, đừng bao dung, đừng cam chịu, đừng giả trá thế... - Hét lên đi anh, thế đỡ hơn. Em cũng đang muốn hét lên, muốn nổ tung, muốn nổ tung, muốn nổ...”. 
Cái phi lý ấy bị đẩy lên đến ngưỡng khi con người mặc nhiên chấp nhận bị mài mòn, dẫu đau đớn. Trong truyện ngắn Bài hát chim nhồng xanh (Ngô Thị Kim Cúc), người chồng biết được sự thật về công việc của vợ, rằng người vợ đang âm thầm bán đi thân xác và phẩm giá của mình để kiếm những đồng tiền nhàu nhĩ trang trải cho đời sống gia đình. Nhưng việc quen với sự sung sướng đến từ những đồng tiền đó cộng với cảm giác bất lực khi không làm tròn vai trò của người đàn ông - trụ cột gia đình đã khiến người chồng im lặng không phản kháng: “Bởi từ trong thâm tâm, anh tự hiểu mình là người thua cuộc. Anh đã bị mài mòn đến mức có thể chấp nhận mọi thứ trên đời”. Chàng Trương Chi trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Huy Thiệp cũng chấp nhận thỏa hiệp: “Chàng sống giữa bầy. Chàng cười nói. Chàng chịu đựng. Chàng mua bán. Chàng chấp nhận mọi ước lệ của thói đời lướt qua chàng không dấu vết”. Đến một lúc nào đó, con người xa lạ ngay với chính bản thân mình. Trong xã hội hiện đại, cấp độ thứ hai của phi lý xuất hiện khi con người ở bên cạnh nhau mà kỳ thực không hiểu nhau, thậm chí như không nhìn thấy nhau. Trong truyện ngắn Thành phố đêm không có khách sạn (Hồ Anh Thái), tính chất phi lý lên đến đỉnh điểm khi nhân vật “anh” nhìn thấy cô gái đang đứng ngay trước khách sạn, gọi điện thoại cho anh và giục anh vào. Nhưng “anh” lại không có chỗ nào để vào cả. Khách sạn đã biến mất cứ như thể bốc hơi ngay trước mắt anh, để lại cho anh câu hỏi lơ lửng như sợi dây thòng lọng vô hình mà thít chặt: “Nhưng vào đâu bây giờ?”. Rõ ràng, những cột mốc để tìm ra khách sạn được cô gái chỉ dẫn rất rõ ràng: “Ở giữa quán cà phê Ban Mai và hiệu cầm đồ Một Hai Ba”. Nhưng rõ ràng, trước mắt anh, giữa hai cái mốc rành rành là một khoảng trống, trống theo nghĩa đúng và đầy đủ nhất của nó. Hồ Anh Thái không sử dụng motif mê cung nhưng người đọc cứ ngỡ như mình cũng đang lạc lối. Mê cung là một motif quen thuộc của văn học phi lý. Các nhà văn thường đi vào mô tả những dãy hành lang vô hình, những con đường dài lê thê ngoắt ngoéo giống như cái vòng tròn rối rắm luẩn quẩn không có lối thoát của cuộc đời và tăm tối như chính mê cung số phận của con người. Trong tập truyện ngắn Mê lộ, Phạm Thị Hoài từng vay mượn chủ đề mê cung để gợi lên ám ảnh về xã hội phi lý. Đó là một thế giới không nối liền mà là những mẩu, mảnh rời rạc, nơi con người tuyệt nhiên là những ốc đảo riêng biệt, không liên hệ. Ngay cả ngôn ngữ - công cụ giao tiếp cơ bản của con người từ hàng nghìn năm nay cũng bất lực không xóa được bức tường ngăn cách: “Miệng kẻ đối thoại mở ra đóng vào rồi mở ra đóng vào và mỗi lần như vậy lại có một cái gì đó tuôn ra xói vào ý nghĩ người kia khiến chúng rồi loạn lên, cào cấu nhau, chỉ còn biết đoán mò” (Mê lộ). Con người thậm chí phải tập luyện cách cười, cách phát ra tiếng nói để không rơi vào tình trạng mất liên lạc hoàn toàn với thế giới xung quanh, nói đúng hơn là tình trạng phi giao tiếp: “tôi bắt đầu thử các cơ bắp ở vùng quanh miệng. Hóa ra người ta có thể điều khiển chúng, cười, nói, ung dung, cay cú, cả cau có nữa, chỉ cần tập luyện chút ít” (Năm ngày).
Bi kịch có thật, đầy phi lý của con người hiện đại là bị bỏ rơi, lạc lõng ngay giữa gia đình mình, ngay chính giữa những người ngỡ như gần gũi nhất, thân yêu nhất. Người ta yêu nhau mà thực chất chỉ là ở trọ trong tâm hồn nhau: “cái hôn chung ý nghĩa với việc mua gạo, mua dầu và chẻ củi, vòng tay ôm ấp chẳng khác gì cử chỉ đưa hết cho vợ tiền lương hàng tháng, đằng nào cũng là việc không tránh đi đâu được.
Xong việc, chồng tôi cố thủ trong tư thế không làm phiền ai, hai tay khoanh trước ngực, đến hơi thở cũng cố ý khiêm nhường. Dường như anh ấy chỉ sống tạm bên tôi, rất ngẫu nhiên, trả đủ lệ phí cho quán trọ bất đắc dĩ này và thâm tâm chỉ mong trả cho xong để đi tiếp về phía trước, vì cái vẫy gọi còn nằm đâu đó, không rõ, nhưng dứt khoát không phải ở đây” (Hoa sữa - Phạm Thị Hoài). Trong Đêm thánh vô cùng (Sương Nguyệt Minh), người bố chua chát cảm nhận cảnh “vợ chồng, bố con, chị em đang ở rất gần, đang ngồi cùng mâm cơm mà mỗi người một mảnh. Chúng tôi đang ở bên nhau mà chẳng nghĩ gì đến nhau, cùng một gia đình mà cứ rời xa”. Thậm chí, cả trong giờ phút yêu đương của vợ chồng, người vợ vẫn cứ là kẻ xa lạ “tha nhân ngay cả lúc tôi đang quằn quại trên bụng nàng”. Trong Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), ông Thuấn là kẻ lạc loài giữa những đứa con của mình. Gia đình - nhiều lúc - chỉ như một cái nhà trọ, không hơn: “Ba mẹ vẫn tiếp tục sống bên lề của hai đứa con… ngôi nhà trở thành nhà trọ cho chính mỗi chủ nhân của nó. Một cái nhà trọ khi mọi mối quan hệ gần với nhau lỏng lẻo” (Nhà trọ - Nguyễn Thị Châu Giang). Trong Chúng ta cần suy nghĩ về chuyện này (Nguyễn Thị Thu Huệ), Hân bỏ đi không một lời nhắn gửi sau 8 năm chung sống như vợ chồng với “anh”. Lời giải thích tình cờ đến trong một lần họ gặp lại nhau ba năm sau đó: “Em không bỏ anh. Em đi vì có còn anh nữa đâu”. Họ đã cùng sống, cùng ăn, cùng ở, vậy mà vẫn không có nhau theo nghĩa đầy đủ nhất. Điều kỳ lạ có thật trong xã hội hiện đại vốn có quá nhiều điều khiến con người không còn chú tâm vào những điều gần gũi xung quanh mình. Chuyện như đùa nhưng thật đến chua xót, ấy là người chồng thậm chí không thể nhớ nổi tuổi của vợ: “Mẹ tôi mất đột ngột sau một trận ốm ngắn. Cha tôi như bừng tỉnh, giật mình bảo: Chết thật! Bà ấy đã tám mươi ba tuổi. Vậy thì bố chả già lắm rồi ư?” [101, tr.181]. 
Trong Luân hồi (Tạ Duy Anh), bốn con người ngồi lại với nhau dưới một mái nhà vẫn không lấp đầy được cái khoảng trắng vô hình, mỗi người vẫn trọn vẹn là một thế giới riêng biệt, lạnh lùng: “Ròng rã ba tháng trời, bà nội tôi, cha tôi, mẹ tôi và tôi trở thành những vai diễn nhàm tẻ trong một màn kịch câm khủng khiếp… Tóm lại, toàn bộ cuộc đối thoại của chúng tôi qua nhiều ngày cộng lại chỉ gồm: Bà tôi: đu đưa chân phải khi chân trái co lên; bố tôi: vặn vẹo từ phần vai trở xuống; mẹ tôi: đùa với bọ chó và nhìn mưa thở dài; tôi: mơ một thiếu nữ” [101, 182]. 
Một cấp độ phi lý khác là việc con người bị ném vào giữa thế giới mênh mông rộng lớn, bị đẩy vào những cảnh sống vô vị, chán nản, và dù có nỗ lực đến bao nhiêu chăng nữa thì mỗi ngày qua cũng chỉ là “sống trong độ dư của cái chết” [29, tr.175]. Bởi cái chết là định mệnh chờ đợi con người. Mâu thuẫn muôn đời không thể điều hòa giữa một bên là tồn tại người bị bó hẹp trong cái vòng 100 năm sinh tử với một bên là những khát vọng trường cửu vĩnh viễn không mất đi, không phai nhạt. Thể xác con người có thể nhuốm màu thời gian nhưng tâm hồn và những ước mơ của họ thì lại trẻ mãi, không giới hạn, không điểm dừng. Vì lẽ đó, con người lúc nào cũng cố gắng níu kéo dẫu biết không thể: “Sự sống là vô hạn, còn chúng ta là hữu hạn. Cái của ngày hôm nay, mai đã mất rồi. Vô lý quá!” (Hoa vông vang - Hồ Thị Hải Âu). 
Cuộc hiện sinh - trong một chừng mực nào đó - cũng là cuộc chiến loại bỏ cái phi lý để truy tầm ý nghĩa đích thực của tồn tại người. Điều nghịch lý lớn nhất chính lại nằm ở đây, vì lẽ phi lý là tính chất đương nhiên của cuộc sống, của phận người và khó có thể loại trừ, nhất là trong bối cảnh xã hội hiện đại, khi máy móc và kỹ nghệ đang dần thay thế tiếng nói, nét chữ, dáng vẻ và thậm chí cả tâm hồn con người.  
Trần Nhật Thu
Theo http://hueuni.edu.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...