Lịch sử âm nhạc Việt Nam
Âm nhạc là gì?
Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật dùng âm thanh để diễn đạt. Các yếu tố chính của nó là cao độ, nhịp điệu (và các khái niệm liên quan của nó: tempo, tốc độ), âm điệu, và những phẩm chất âm thanh của âm sắc và kết cấu bản nhạc.
Điều gì cũng có điểm bắt đầu... Âm nhạc cũng thế, sự khởi đầu và lịch sử âm nhạc là một khối đồ sộ. Từ đây ta sẽ có được:
- Lịch sử âm nhạc Thế Giới
- Lịch sử âm nhạc Việt Nam
LỊCH SỬ ÂM NHẠC VIỆT NAM
Âm nhạc Việt Nam là một phần của lịch sử và văn hóa Việt Nam. Âm nhạc Việt Nam phản ánh đúng những nét đặc trưng của con người, văn hóa, phong tục, địa lý,... của đất nước Việt Nam, trải dài qua suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.
Âm nhạc Việt Nam bắt đầu từ những nền văn minh đầu tiên qua những phát hiện khảo cổ về những nhạc cụ và tranh vẽ trong hang đá. Trải qua những triều đại phong kiến, nền âm nhạc Việt Nam có được những nét phát triển rõ rệt và đặc trưng. Tới thời kỳ đô hộ của Trung Quốc ngoài ra của các nền văn hóa ngoại lai khác như Ấn Độ, Chăm Pa,... Âm nhạc Việt Nam sớm có được những ảnh hưởng và quan điểm mới, dung hòa hoàn hảo những yếu tố ảnh hưởng từ nước ngoài với những nét nổi bật vốn có của âm nhạc truyền thống, từ đó tạo nên những loại hình âm nhạc cổ truyền của từng vùng miền như hát xẩm, hát chèo, ca trù, hò, cải lương, đờn ca tài tử, nhã nhạc cung đình Huế, quan họ,...
Âm nhạc phương Tây xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ 14. Giai đoạn Pháp thuộc vào cuối thế kỷ 19 đặc biệt góp phần giúp âm nhạc Việt Nam được tiếp xúc với những phong cách và quan điểm của văn hóa phương Tây, đồng thời tiếp tục phát triển với những nét đặc trưng riêng. Tân nhạc Việt Nam ra đời vào cuối thập niên 1930 với dòng nhạc tiền chiến rồi tiếp hơi cho những làn điệu mới trong thời gian đất nước chia đôi dưới hai chính thể: Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhạc đỏ ra đời sau năm 1945 ở miền Bắc với sự xuất hiện của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng, sau này trở thành cột trụ của nền âm nhạc Việt Nam hiện đại, trong khi đó nhiều thể loại âm nhạc mới như nhạc vàng, nhạc trẻ, du ca nở rộ ở Miền Nam.
Sau năm 1975, âm nhạc Việt Nam bắt đầu học tập nhiều phong cách từ khắp nơi trên thế giới. Sau khi đất nước mở cửa vào cuối thập niên 1980, đặc biệt là việc những lứa nghệ sĩ chuyên nghiệp đầu tiên được cử đi du học ở nước ngoài, âm nhạc Việt Nam đã theo kịp xu hướng của thế giới, mang theo nhiều phong cách và thể loại chưa từng xuất hiện tới nền văn hóa đại chúng nói chung và nền âm nhạc nói riêng ở Việt Nam. Ngoài ra, một số lượng lớn nghệ sĩ hải ngoại cũng góp phần xây dựng đáng kể vào sự phát triển của nền âm nhạc Việt Nam ngày nay. Âm nhạc hiện đại Việt Nam bao gồm nhiều yếu tố kết hợp của các nền văn hóa châu Á, châu Âu, thậm chí châu Mỹ và châu Phi qua việc gia tăng cộng tác của các nghệ sĩ trong nước với các nghệ sĩ từ khắp nơi trên thế giới. Trên hết, âm nhạc Việt Nam vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng của nền văn hóa truyền thống Việt Nam.
Lịch sử âm nhạc Việt Nam trải qua nhiều thời kỳ dài nên chia làm các giai đoạn chính sau:
1. Thời kỳ vua Hùng và Bắc thuộc
2. Thời phong kiến
3. Thời cận đại
4. Giai đoạn 1975 đến nay
1. Thời kỳ vua Hùng và Bắc thuộc
Thời kỳ vua Hùng
Âm nhạc Việt Nam bắt đầu
từ nền âm nhạc dân tộc rất cổ xưa. Từ đời các Vua Hùng dựng nước và
giữ nước, âm nhạc dân tộc thuộc về văn hóa đồng thau, mà trống đồng Đông Sơn
(Thanh Hóa) là một hiện vật biểu trưng được biết đến cho đến tận ngày nay.
Trống đồng Đông Sơn tại Thanh Hóa
Thời kỳ Bắc thuộc
Đến thời bị Trung Quốc
đô hộ, văn hóa đồng thau của ta dần được thay thế bằng văn hóa tri thức. Đây
là thời kỳ chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa Trung Hoa với
các triều đại phong kiến như Hán, Tùy, Đường,... Sự xuất hiện của các
loại nhạc cụ, nhạc khí mắc dây tơ như đàn tỳ bà, đàn
tranh, đàn nhị; các loại kèn, sáo làm bằng tre - trúc…
Đàn tỳ bà, nhạc cụ dây gẩy của người phương Đông,
qua
một thời gian dài sử dụng đã được bản địa hóa với
những tên gọi khác
nhau theo từng vùng miền hoặc từng quốc gia
Đàn nhị, nhạc cụ thuộc bộ dây có cung vĩ
2. Thời phong kiến
Âm nhạc, với đặc điểm có trước sự xuất hiện của chữ viết, từ
lâu luôn là phương tiện để người dân thể hiện mọi cảm xúc của mình về thế giới
xung quanh, dù là tình yêu đôi lứa, lòng căm thù hay sự buồn giận, chán nản. Âm
nhạc ở Việt Nam còn sớm thể hiện những tư tưởng tôn giáo, đời sống tâm linh và
phong tục tập quán của dân tộc.
Vào thời phong kiến, âm
nhạc Việt Nam là sự giao thoa và tiếp thu giữa các yếu tố âm nhạc lân
cận ở Châu Á. Cộng thêm sự đa dạng về sinh học, nhiều dân tộc cư ngụ trên
lãnh thổ cùng với những phát triển mở đất xuống phía nam đã tạo cho nền âm nhạc
nước ta thời kỳ này mang nhiều sắc thái khác nhau.
Với chiến thắng Ngô Quyền
năm 938 thì đất nước ta bắt đầu bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, phục
hưng văn hóa dân tộc sau hơn 1000 năm bị phương Bắc đô hộ. Trải qua các thời đại
Ngô - Đinh - Tiền Lê - Lý - Trần, nền văn hóa dân tộc của ta dần được phục hồi
và phát triển. Trong đó không thể không kể đến âm nhạc dân gian, vốn được nhà
nước coi trọng, làn điệu dân ca thời kỳ này được chau chuốt hơn với thành phần
âm phong phú, đã tạo nên tính chất trữ tình trong các diễn xướng dân gian và
dân ca nghi lễ. Bên cạnh các loại hình nghệ thuật đã có từ thế hệ trước, cũng
những thể loại ca nhạc dân gian khác với đặc trưng riêng phong phú gồm:
1. Chèo
2. Xẩm
3. Quan
họ
4. Ca
trù (Hát ả đào)
5. Hò
5. Hát
chầu văn
1/ Chèo
Vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông đã không cho phép
biểu diễn chèo trong cung đình, do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng. Chèo trở
về với nông dân, kịch bản lấy từ truyện viết bằng chữ Nôm. Tới thế kỷ
18, hình thức chèo đã được phát triển mạnh ở vùng nông thôn Việt
Nam và tiếp tục phát triển, đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ
19. Những vở nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim
Nham, Trương Viên xuất hiện trong giai đoạn này. Đến thế kỷ 19, chèo ảnh
hưởng của tuồng, khai thác một số tích truyện như Tống Trân, Phạm Tải,
hoặc tích truyện Trung Quốc như Hán Sở tranh hùng. Đầu thế
kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị trở thành chèo văn minh. Có thêm một
số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích, truyện Nôm như Tô Thị,
Nhị Độ Mai.
Vở chèo Tấm Cám - Nam Định
2/ Xẩm
Theo truyền thuyết, đời nhà Trần, vua cha Trần
Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc
Đĩnh. Do tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại,
chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Tỉnh dậy, hai mắt mù loà nên Trần Quốc
Đĩnh chỉ biết than khóc rồi thiếp đi. Trong mơ Bụt hiện ra dạy cho
ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gẩy bằng que nứa. Tỉnh
dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất
hay khiến chim muông sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó, những
người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn
cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của
ông lan đến tận hoàng cung, vua vời ông vào hát và nhận ra con mình. Trở lại đời
sống cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho
người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc
Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian
Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, theo chính sử thì vua Trần Thánh Tông không
có hoàng tử tên Đĩnh hay Toán. Thái tử con vua Thánh Tông tên là Khảm, sau lên
ngôi là vua Nhân Tông; một người con nữa là Tả Thiên vương. Vì vậy nguồn gốc
hát xẩm là dựa trên thánh tích chứ không truy được ra trong chính sử.
Xẩm thập ân - Thanh Ngoan
3/ Quan họ
|
Ý nghĩa từ "Quan họ" thường được tách thành hai từ rồi lý giải nghĩa đen về mặt từ nguyên của "quan" và của "họ". Điều này dẫn đến những kiến giải về Quan họ xuất phát từ "âm nhạc cung đình", hay gắn với sự tích một ông quan khi đi qua vùng Kinh Bắc đã ngây ngất bởi tiếng hát của liền anh liền chị ở đó và đã dừng bước để thưởng thức ("họ"). Tuy nhiên cách lý giải này đã bỏ qua những thành tố của không gian sinh hoạt văn hóa quan họ như hình thức sinh hoạt (nghi thức các phường kết họ khiến anh hai, chị hai suốt đời chỉ là bạn, không thể kết thành duyên vợ chồng), diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối sử dụng từ ngữ đối nhau về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian.
Âm nhạc Việt Nam thời cận đại có thể chia làm các giai đoạn sau:
Ngồi tựa song đào Thúy Hường Bắc Ninh
Bèo dạt mây trôi - Mai Phương Bắc Ninh
4/ Ca trù (Hát ả đào)
Hát ca trù hay hát ả đào là một bộ môn nghệ
thuật truyền thống ở phía Bắc Việt Nam kết
hợp hát cùng một số nhạc cụ dân tộc. Ca trù thịnh hành từ thế
kỷ 15, từng là một loại ca trong cung đình và được giới
quý tộc và học giả yêu thích.
Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại
kỳ họp lần thứ tư của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di
sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 2 tháng 10 năm 2009),
ca trù đã được công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây
là di sản văn hóa thế giới có vùng ảnh hưởng lớn nhất Việt Nam, có phạm
vi tới 16 tỉnh, thành phố phía Bắc. Hồ sơ đề cử Ca trù là di sản văn hóa thế giới
với không gian văn hóa Ca trù trải dài khắp 16 tỉnh phía Bắc gồm: Phú Thọ,
Vĩnh Phúc, Hà Nội, Thái Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng
Yên, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.
Ca trù Hồng Hồng Tuyết Tuyết - Kim Luyến
5/ Hò
Hò là một loại ca hát trình diễn dân gian phổ biến đến đời
sống, là nét văn hóa của miền Trung và miền Nam, khởi nguồn từ tập
quán sinh hoạt vùng chiêm trũng, diễn tả tâm trạng của người lao động. Trong
sinh hoạt những đêm trăng những nhóm con trai đi chơi, thường cất lên những điệu
hò để dò hỏi những cô gái về những công việc. Điệu hò giao duyên giữ hai bên đối
đáp lại nhau, người con gái hay một nhóm sẽ hò đáp trả lại khi đó. Trên sông nước
khi đi đò, người hò thường hò điệu giao duyên giữa hai chiếc đò gần
nhau. Hò và lý tuy có phần giống nhau nhưng hò thường gắn liền với một
động tác khi làm việc còn lý thì không.
Một số bài dân
ca của các quốc gia khác hay các vùng miền khác có nội dung và tiết tấu
tương tự cũng được đặt tên là "hò", tỉ như bài dân ca
Nga "Hò kéo thuyền trên sông Volga".
Các loại hò phổ biến:
Hò Đồng Tháp
Hò kéo lưới
Hò Qua sông hái củi
Hò khoan
Hò mái nhì
Hò Giã gạo
Hò Xay lúa
Hò Kéo gỗ
Hò Đạp lúa
Hò khoan Lệ Thủy - Đối đáp giao duyên
Hò khoan Lệ Thủy, loại hình dân ca của
cư dân sông nước tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Hò đối đáp Nam bộ
Hò Giã gạo
6/ Hát chầu văn
Hát chầu văn là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền
của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc trong nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng
Tứ phủ và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo), một
tín ngưỡng dân gian Việt Nam.Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với
các lời văn chau truốt nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang
ý nghĩa chầu thánh. Hát văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thời kỳ thịnh
vượng nhất của hát văn là cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Vào thời gian này, thường
có các cuộc thi hát để chọn người hát cung văn. Từ năm 1954, hát văn dần dần
mai một vì hầu đồng bị cấm do bị coi là mê tín dị đoan.
Chầu văn sử dụng nhiều
thể thơ khác nhau như thơ thất ngôn, song thất lục bát, lục bát, nhất bát song
thất (có thể gọi là song thất nhất bát gồm có một câu tám và hai câu bảy chữ),
hát nói…
Hát Chầu Văn - Văn Cô bé
Sông hinh với văn ca thánh mẫu
Múa hát văn xá thượng
3. Thời cận đạiÂm nhạc Việt Nam thời cận đại có thể chia làm các giai đoạn sau:
1.
Thời Pháp thuộc
2.
Giai đoạn 1945 - 1954
3.
Giai đoạn 1954 - 1975
1/ Thời Pháp thuộc
Giai đoạn chuẩn bị
Vào những năm đầu thế kỷ
20. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi trong nghệ thuật văn học Việt Nam nói
chung, xuất hiện sau phong trào thơ mới và dòng văn học lãng mạn vài năm. Chủ
nghĩa tư bản của người Pháp cùng với nền văn hóa phương Tây được du nhập vào Việt
Nam gây nên những xáo trộn lớn trong xã hội. Nhiều giá trị tư tưởng bền vững mấy
ngàn năm trước đó lại bị giới trẻ Tây học xem thường, thậm chí trở thành đối tượng
để mỉa mai của nhiều người. Tầng lớp tư sản, tiểu tư sản ở thành thị hình thành.
Giai cấp tư sản và một bộ phận tiểu tư sản lớp trên (trí thức, viên chức cao cấp)
đã có một lối sinh hoạt thành thị mới với nhiều tiện nghị theo văn minh Tây
phương. Họ ở nhà lầu, đi ô tô, dùng quạt điện, đi nghe hòa nhạc. Sinh hoạt của
tư sản và tiểu tư sản thành thị cũng thể hiện ngay cả trong cách ăn mặc của
thanh niên, mốt quần áo thay đổi mỗi năm. Những đổi thay về sinh hoạt cũng đồng
thời với sự thay đổi về ý nghĩ và cảm xúc. Những thay đổi đó cũng do sự tiếp
xúc với văn hóa lãng mạn Pháp.
Âm nhạc của châu Âu
theo chân những người Pháp vào Việt Nam từ rất sớm. Đầu tiên chính là những bài
thánh ca trong các nhà thờ Công giáo. Các linh mục Việt Nam được cũng được dạy
về âm nhạc với mục đích truyền giáo. Tiếp đó người dân được làm quen với
"nhạc nhà binh" qua các đội kèn đồng. Tầng lớp giàu có ở thành thị được
tiếp xúc với nhạc khiêu vũ, nhạc cổ điển phương Tây. Từ đầu thế kỷ 20, các bài
hát châu Âu, Mỹ được phổ biến mạnh mẽ ở Việt Nam với các đĩa hát 78 vòng rồi
qua những bộ phim nói. Những thanh niên yêu âm nhạc thời kỳ đó bắt đầu chơi
mandoline, ghita và cả vĩ cầm, dương cầm.
Giai đoạn trước 1937 được
xem là giai đoạn hình thành Tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Trần Quang Hải
gọi đây là "giai đoạn tượng hình". Còn Phạm Duy cho rằng những năm đầu
thập niên 1930 là "thời kỳ đi tìm nhạc ngữ mới". Giống như những nhà
văn lãng mạn, thi sĩ của phong trào thơ mới chịu ảnh hưởng bởi văn học lãng mạn
Pháp, các nhạc sĩ tiền chiến chịu ảnh hưởng bởi âm nhạc phương Tây.
Thời kỳ này một số nhạc
sĩ cải lương bắt đầu soạn các nhạc phẩm, thường được gọi là "bài tây theo
điệu ta". Người tiêu biểu cho số đó là nghệ sĩ cải lương Tư Chơi, tức Huỳnh
Thủ Trung. Ông đã viết các bài Tiếng nhạn trong sương, Hòa duyên và soạn lời Việt
cho một vài ca khúc châu Âu thịnh hành khi đó để sử dụng trong các vở sân khấu
như: Marinella trong vở Phũ phàng, Pouet Pouet trong Tiếng nói trái tim, Tango
mystérieux trong Đóa hoa rừng, La Madelon trong Giọt lệ chung tình... Nghệ sĩ Bảy
Nhiêu cũng có một nhạc phẩm là Hoài tình rất được ưu chuộng.
Không chỉ các nghệ sĩ,
trong giới thanh niên yêu nhạc cũng có phong trào chuyển ngữ các bài hát của
Tino Rossi, Rina Ketty, Albert Préjean, Georges Milton... mà họ yêu thích. Những
nghệ sĩ sân khấu như Ái Liên, Kim Thoa đã được các hãng đĩa của người Pháp như
Odéon, Béka mới thu âm các bài ta theo điệu tây. Khoảng thời gian từ 1935 tới
1938, rất nhiều các bài hát của Pháp như Marinella, C'est à Capri, Tant qu'il y
aura des étoiles, Un jour loin de toi, Celle que j'aime éperdument, Les gars de
la marine, L'Oncle de Pékin, Guitare d'amour, Créola, Signorina, Sous les ponts
de Paris, Le plus beau tango du monde, Colombella... mà phần lớn là sáng tác của
nhạc sĩ người Pháp Vincent Scotto và của Mỹ như Goodbye Hawaii, South of The
Border... đã được phổ biến mạnh mẽ với lời ca tiếng Việt, soạn bởi một nhà báo
trẻ tên là Mai Lâm và bởi những tác giả vô danh khác. Ca sĩ Tino Rossi đặc biệt
được giới trẻ yêu thích, đã có những hội Ái Tino được thành lập ở Hà Nội, Hải
Phòng.
Năm 1930, trong thời
gian bị tù ở Côn Đảo, nhạc sĩ Đinh Nhu đã viết ca khúc Cùng nhau đi Hồng binh.
Theo Trần Quang Hải thì Cùng nhau đi Hồng binh là ca khúc tân nhạc đầu tiên của
Việt Nam. Từ giữa thập niên 1930, nhiều nhóm thanh niên yêu âm nhạc ở Hà Nội đã
tập trung cùng sáng tác. Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn, ba thành viên của nhóm
Tricéa đã viết nhiều ca khúc như Bẽ bàng (1935), Nghệ sĩ hành khúc (1936) của
Lê Yên; Tiếng sáo chăn trâu (1935), Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm (1937)
của Văn Chung. Tại Huế, Nguyễn Văn Thương viết bản Trên sông Hương năm 1936. Lê
Thương ở Hải Phòng cũng có Xuân năm xưa năm 1936. Giai đoạn từ 1935 tới 1938 được
nhạc sĩ Phạm Duy gọi là "thời kỳ chuẩn bị của Tân nhạc Việt Nam".
Chuyện tình yêu - Ngọc Lan
Bài hát Histoire d'un Amour được
phổ lại lời Việt với tên
Chuyện tình yêu
Cùng nhau đi Hồng binh - Đinh Nhu
Năm 1938 được coi là điểm
mốc đánh dấu sự hình thành của Tân nhạc Việt Nam với những buổi biểu diễn và
thuyết trình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên tại Hà Nội.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn
Tuyên khi đó ở Sài Gòn, là người Việt duy nhất tham gia hội Hiếu nhạc
(Philharmonique). Ông bắt đầu hát nhạc Tây và đoạt được cảm tình của báo chí và
radio. Năm 1937 ông phổ một bài thơ của người bạn và viết thành ca khúc đầu
tiên của mình. Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn, khi đó làm việc cho đài Radio Indochine,
có đưa thơ cho Nguyễn Văn Tuyên và giúp ông soạn lời ca. Nguyễn Văn Cổn còn giới
thiệu ông với Thống đốc Nam Kỳ. Viên Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Pagès[1]
nghe ông hát và mời ông du lịch sang Pháp để tiếp tục học nhạc nhưng Nguyễn Văn
Tuyên từ chối vì lý do gia đình. Ngược lại ông lại đề nghị và được thống đốc
Pagès tài trợ cho đi một vòng Việt Nam ra Huế, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định để
quảng bá những bài nhạc mới này. Chính Nguyễn Văn Cổn là người đặt tên cho loại
nhạc mới là "âm nhạc cải cách" (musique renovée).
Tới Hà Nội vào tháng 3
năm 1938, Nguyễn Văn Tuyên nói chuyện tại hội Trí Tri. Nhưng trong cuộc vận động
cải cách, ông đã gặp một cử tọa đông đảo, ồn ào không trật tự. Một phần thất bại
buổi đó do giọng nói địa phương của ông được ít người hiểu. Hơn nữa, có thể nhiều
thanh niên Hà Nội lúc đó như đã cho việc hô hào của ông là thừa, vì các bài hát
cải cách đã có sẵn ở đây. Tại hội Trí Tri Hải Phòng, Nguyễn Văn Tuyên đã may mắn
hơn. Tuy số khán giả chỉ độ 20 người, nhưng Nguyễn Văn Tuyên đã có người thông
cảm. Trong buổi nói chuyện này, một vài nhạc sĩ của Hải Phòng cũng trình một bản
nhạc mới của miền Bắc. Sau đó nhân kỳ hội của trường Nữ học Hoài Đức, Nguyễn
Văn Tuyên còn trình bày tại rạp chiếu bóng Palace một lần nữa. Lần này cử tọa rất
tán thưởng giọng hát của ông trong bài Bông cúc vàng.
Tiếp đó tháng 9 năm
1938, tờ Ngày Nay của Nhất Linh, một tờ báo uy tín khi ấy, cho đăng những bản
nhạc đầu tiên Bông cúc vàng, Kiếp hoa của Nguyễn Văn Tuyên, Bình minh của Nguyễn
Xuân Khoát, Bản đàn xuân của Lê Thương, Khúc yêu đương của Thẩm Oánh, Đám mây
hàng, Cám dỗ của Phạm Đăng Hinh, Đường trường của Trần Quang Ngọc...
Nhiều ca khúc sáng tác
từ trước được các nhạc sĩ phát hành. Từ đầu 1939, các bản nhạc của được bán tại
các hiệu sách, phần đầu hình thành Tân nhạc Việt Nam.
Một kiếp hoa (Hoa tàn) - Nguyễn Văn Tuyên
được phổ
từ thơ của Nguyễn Văn Cổn
Bản đàn xuân - Lê Thương - Ngọc Quỳnh
2/ Giai đoạn 1945 - 1954
Từ năm 1945, tân nhạc Việt Nam bắt đầu có sự phân tách. Đa số
các nhạc sĩ rời bỏ thủ đô và những thành phố lớn để tham gia kháng chiến. Nhưng
một số vẫn ở lại trong vùng kiểm soát của Pháp hoặc có những nhạc sĩ theo kháng
chiến rồi lại quay trở lại thành phố.
Với đề tài kháng chiến,
ở miền Bắc, Đỗ Nhuận viết Du kích sông Thao, Nhớ chiến khu, Hoàng Vân có Hò kéo
pháo, Văn Chung viết Quê tôi giải phóng, Lê Yên viết Bộ đội về làng... Ở miền
trung có Bình Trị Thiên khói lửa của Nguyễn Văn Thương, Lời người ra đi của Trần
Hoàn, Đoàn vệ quốc quân, Có một đàn chim của Phan Huỳnh Điểu, Du kích Ba Tơ của
Dương Minh Viên... Còn ở miền Nam, một lớp nhạc sĩ trẻ hơn như Hoàng Việt với
Lên ngàn, Nhạc rừng, Nguyễn Hữu Trí với Tiểu đoàn 307, Trần Kiết Tường với Anh
Ba Hưng, Con kênh xanh xanh của Ngô Huỳnh. Một đề tài sáng tác mới nữa của các
nhạc sĩ là ca ngợi Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam. Lưu Hữu Phước đã viết
Chào mừng Đảng lao Động Việt Nam, Lưu Bách Thụ viết Biết ơn Cụ Hồ. Tham gia
kháng chiến, Văn Cao đã sửa lời Bến xuân thành Đàn chim Việt và viết Trường ca
Sông Lô, Ca ngợi Hồ Chủ tịch. Các ca khúc này đánh dấu sự ra đời thực sự của nhạc
kháng chiến, hay "nhạc đỏ". Tuy vậy, ngay trong số những nhạc sĩ
trên, nhiều người vẫn tiếp tục viết các ca khúc lãng mạn và được xếp vào dòng
nhạc tiền chiến như Sơn nữ ca của Trần Hoàn, Dư âm của Nguyễn Văn Tý, Nụ cười
sơn cước của Tô Hải, Tình quê hương của Việt Lang. Tham gia kháng chiến, Phạm
Duy cũng có Chiến sĩ vô danh, Quê nghèo, Bà mẹ Gio Linh. Nhưng ông cũng viết
Bên cầu biên giới và bài hát bị coi là không hợp với hoàn cảnh chiến đấu khi đó
và về sau ông rời bỏ miền Bắc vào Nam. Ở các vùng đô thị thuộc kiểm soát của
Pháp, những nhạc sĩ vẫn sáng tác nhạc lãng mạn như Văn Giảng với Ai về sông
Tương, Lâm Tuyền với Tiếng thời gian, Văn Phụng với Mơ khúc tương phùng... Lê
Thương vào miền Nam viết các bản nhạc hài hước, trào phúng Hòa bình 48, Liên Hiệp
Quốc. Ở Hà Nội, năm 1947 Nguyễn Đình Thi viết ca khúc Người Hà Nội. Trong giai
đoạn này, tại Pháp trong những năm 1949 tới 1951, hãng đĩa Oria đã thu một số
đĩa nhựa 78 vòng tiếng hát của các ca sĩ Hải Minh, Bích Thuận, Hoàng Lan, Văn
Lý những ca khúc Hội nghị Diên Hồng của Lưu Hữu Phước, Chiến sĩ vô danh của Phạm
Duy, Tiếng thùy dương, Hòa bình 48 của Lê Thương, Trách người đi của Đan Trường...
Sau thành công của nhạc
sĩ Nguyễn Văn Tuyên và được sự ủng hộ của báo chí, nhiều nhóm nhạc được thành lập
và các nhạc sĩ phổ biến rộng rãi những tác phẩm của mình. Và ngay từ thời kỳ
này, nhiều nhạc sĩ tài năng đã ghi dấu ấn với các nhạc phẩm trữ tình lãng mạn.
Một số thuật ngữ được dùng để chỉ nền tân nhạc Việt Nam giai đoạn này, phổ biến
nhất là "nhạc tiền chiến". Dòng nhạc tiến chiến còn kéo dài tới năm
1954 và cả sau 1954 ở miền Nam.
Những bài hát cải cách
nhanh chóng được giới trẻ sinh viên, trí thức ái mộ đón nhận, tuy vậy nó cũng
gây nên nhiều ý kiến khác nhau. Các trí thức phong kiến thì chỉ trích còn giới
dân nghèo thì thờ ơ. Với phong cách trữ tình lãng mạn, các ca khúc tiền chiến
có lời ca mang tính văn học cao. Ngoài các ca khúc về tình yêu, chủ đề lịch sử,
yêu nước là những đề tài chính của nhạc tiền chiến.
Hò kéo pháo - Hoàng Vân
Nhạc rừng - Hoàng Việt - Thanh Phương
Trường ca Sông Lô - Văn Cao - Quang Thọ
Sơn nữ ca - Trần Hoàn
3/ Giai đoạn 1954 - 1975
Miền Bắc
Hiệp định Genève năm
1954 tạm chia Việt Nam thành hai vùng tập trung quân sự để chờ tổng tuyển cử
toàn quốc năm 1956. Chính quyền Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa từ chối
thi hành tổng tuyển cử theo hiệp định, hành động này đã chia Việt Nam thành Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam.
Tại miền Bắc, nhạc
kháng chiến tiếp tục và cùng với nhạc dân ca, truyền thống là những thể loại âm
nhạc duy nhất được phát trên đài phát thanh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 ở
miền Bắc. Các ca khúc nhạc đỏ để cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, phục vụ
chiến tranh, truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu lý
tưởng cộng sản, cũng có cả những bài hát trữ tình, thể hiện tình yêu quê hương
đất nước hoặc cổ vũ lao động, xây dựng.
Tại miền Bắc, Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, tân
nhạc cũng như điện ảnh, có nhiệm vụ chính là cổ vũ chiến đấu. Dòng nhạc Cách mạng
chiếm vị trí độc tôn, các nhạc sĩ lãng mạn như Văn Cao, Đoàn Chuẩn hầu
như không còn sáng tác. Song song với lớp nhạc sĩ đầu như Lưu Hữu Phước, Đỗ
Nhuận, Lương Ngọc Trác, sau đó tới Doãn Nho, Tô Hải, Hồ Bắc, Huy
Thục, đã xuất hiện một số nhạc sĩ trẻ hơn Trọng Bằng, Cao Việt
Bách...
Việc một số nhạc sĩ được
gửi đi học ở các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung
Quốc... và nhiều đoàn ca múa chuyên nghiệp của các quốc gia Liên Xô
và Đông Âu tới Hà Nội trình diễn đã tạo nên sự ảnh hưởng tới
tân nhạc Việt Nam. Bốn chủ đề sáng tác chính của các nhạc sĩ miền Bắc thời kỳ
này là:
Hồ Chí Minh
Ca ngợi hình ảnh lãnh tụ được thể hiện qua nhiều bài hát
như Việt Bắc nhớ Bác Hồ của Phạm Tuyên, Hồ Chí Minh đẹp nhất
tên Người của Trần Kiết Tường, Ðôi dép Bác của Văn
An, Nhớ ơn Hồ Chí Minh của Tô Vũ, Lời ca dâng Bác của Trọng
Loan, Trồng cây lại nhớ đến Người của Ðỗ Nhuận, Ca ngợi Hồ
chủ tịch của Văn Cao, Tình Bác sáng đời ta của Lưu Hữu
Phước...
Phong cảnh và tâm hồn Việt Nam
Một số ca khúc như Quảng Bình quê ta ơi của Hoàng
Vân, Vàm Cỏ Ðông của Trương Quang Lục, Tây Nguyên bất khuất của Văn
Ký, Bài ca Hà Nội của Vũ Thanh, Trường Sơn Ðông, Trường Sơn
Tây của Hoàng Hiệp, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh của Nguyễn
Văn Tý, Những cô gái đồng bằng sông Cửu Long của Huỳnh
Thơ, Cô gái Sài Gòn đi tải đạn của Lư Nhất Vũ...
Dân tộc thiểu số
Do hoàn cảnh chiến tranh, một số nhạc sĩ có những tiếp xúc với
các dân tộc thiểu số và đã viết các ca khúc như Tiếng đàn ta lư (Huy
Thục), Cô gái cầm đàn lên đỉnh núi (Văn Ký), Bản Mèo đổi mới (Trịnh
Lai), Em là hoa Pơ Lang (Ðức Minh), Bóng cây kơ nia (Phan
Huỳnh Ðiểu)...
Kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam
Tân nhạc với nhiệm vụ cổ vũ chiến đấu, đây là đề tài chính của
nhiều bài hát: Anh vẫn hành quân (Huy Du), Chào anh giải phóng
quân (Hoàng Vân), Lời anh vọng mãi ngàn năm (Vũ Thành), Bài
ca năm tấn (Nguyễn Văn Tý), Lá thư hậu phương (Phạm
Tuyên), Trai anh hùng, gái đảm đang (Ðỗ Nhuận), Bài ca may
áo (Xuân Hồng), Hành khúc giải phóng (Lưu Nguyễn Long Hưng, tức Lưu
Hữu Phước), Giải phóng miền Nam (Huỳnh Minh Siêng, tức Lưu Hữu Phước)...
trong đó bài Giải phóng miền Nam được dùng làm bài hát chính thức của Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam từ năm 1960 tới
năm 1975.
Kế thừa thực tế Hà Nội
là trung tâm của cả Đông dương thuộc Pháp, kiến thức văn hóa âm nhạc phương Tây
được miền Bắc hấp thụ trước miền Nam, vốn có đờn ca tài tử làm chủ đạo. Trong
những năm 1954-1975, do bị chính quyền giới hạn ở chủ đề sáng tác, các nhạc sĩ
miền Bắc tập trung vào sáng tạo trong lĩnh vực chuyên môn âm nhạc với các kỹ
thuật nhạc thính phòng và phô diễn các khả năng thanh nhạc nhiều hơn nhạc miền
Nam cùng thời, vốn tập trung vào số lượng và sự tự do trong chủ đề sáng tác. Một
số tác phẩm tiêu biểu chứng minh là Trường ca sông Lô, bài hát Người Hà Nội
(Nguyễn Đình Thi), Tổ khúc quê hương với các thay đổi đột ngột trong cả nhịp điệu
và phong cách, đồng thời yêu cầu ca sĩ phải có một kỹ thuật thanh nhạc tốt mới
có thể trình bày các tác phẩm trên.
Ngoài các ca khúc
phổ thông, nhiều thể loại khác cũng được các nhạc sĩ thể nghiệm. Ảnh hưởng bởi
các màn hợp xướng do các đoàn văn nghệ Liên Xô và Đông
Âu trình diễn ở Hà Nội, một số nhạc sĩ Việt Nam đã soạn các ca khúc
cho nhiều bè như năm 1955 có Hò đẵn gỗ của Đỗ Nhuận, Sóng cửa
Tùng của Doãn Nho, Chiến sĩ biên phòng của Huy Thục,
năm 1956 và 1957 có Ta đã lớn, Hò kiến thiết của Nguyễn
Xuân Khoát, Tiếng chim của Lưu Cầu, Tiếng hát người chiến
sĩ biên thùy của Tô Hải năm 1958...
Một số vở thanh xướng kịch
cũng xuất hiện: Vượt sông Cái của Nguyễn Xuân Khoát viết
năm 1955, Nguyễn Văn Trỗi của Đàm Linh theo lời thơ Chu Điền
năm 1965. Một vài thể loại nữa là các ca kịch nhỏ (như Tục lụy của Lưu
Hữu Phước), kịch hát nói (Căn nhà màu hồng ngọc của Hoàng Vân).
Sự xuất hiện các bộ
phim điện ảnh cách mạng cũng dẫn tới nhiều ca khúc cho phim được sáng
tác. Tác giả nhạc phim đầu tiên là Nguyễn Đình Phúc với
phim Chung một dòng sông và Lửa trung tuyến. Tiếp đó tới các nhạc
sĩ khác như Trọng Bằng với Cù Chính Lan, Biển lửa, Hồng
Đăng với Hà Nội mùa chim làm tổ, Hoàng Vân với Con
chim vành khuyên...
Nhớ ơn Hồ Chí Minh - Tô Vũ - Tốp ca nam
Bóng cây kơ nia
Phan Huỳnh Ðiểu - Hồ Thảo Nguyên
Ở miền Nam, với sự tự
do, đa dạng hơn trong sáng tác nghệ thuật, các nhạc sĩ đã viết các ca khúc thuộc
nhiều thể loại. Dòng nhạc tiền chiến được Cung Tiến, Phạm Đình Chương tiếp tục.
Một số nhạc sĩ trẻ như Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Lê Uyên
Phương, Vũ Thành An sáng tác các bản tình ca mới. Dòng nhạc
vàng xuất hiện với các tên tuổi tiêu biểu Hoàng Thi Thơ, Trúc
Phương, Lam Phương. Văn hóa Âu Mỹ tràn ngập miền Nam dẫn đến sự hình thành
dòng nhạc trẻ. Bên cạnh đó là các phong trào Du ca và dòng nhạc
phản chiến. Một nhạc sĩ tiêu biểu cho dòng nhạc phản chiến này và cả tình ca
là Trịnh Công Sơn.
Khác với miền Bắc, ở miền
Nam giai đoạn 1954-1975 các nghệ sĩ về cơ bản được tự do sáng tác các loại nhạc,
trừ nhạc phản chiến, nhạc cách mạng, và các nhạc phẩm thân Cộng hoặc
có xu hướng chống Mỹ nói chung. Cũng như điện ảnh, tân nhạc ở miền Nam thời
kỳ này hình thành một thị trường sôi động. Các dòng nhạc tiến chiến, tình khúc,
nhạc vàng đều có đông đảo người nghe và các nghệ sĩ riêng. Dòng nhạc tiền chiến
được các giọng ca hàng đầu như Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Hà Thanh, Duy Trác
tiếp tục. Nhạc vàng của các nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Trần Thiện Thanh, Lam Phương
được các ca sĩ Duy Khánh, Chế Linh, Thanh Thúy, Thanh Tuyền thể hiện. Các tình
khúc mới của Ngô Thụy Miên, Lê Uyên Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An được giới
trẻ đón nhận nồng nhiệt qua các tiếng hát Khánh Ly, Lê Uyên, Lệ Thu. Một số ca
sĩ, nhạc sĩ, ban nhạc trẻ xuất hiện đánh dấu sự ra đời của dong nhạc trẻ như
Elvis Phương, Nguyễn Trung Cang, Quốc Dũng, Lê Hựu Hà. Các hãng băng nhạc Sơn
Ca, Trường Sơn, Shotguns... được phát hành đều đặn.
Dấu chân địa đàng
Trịnh Công Sơn - Khánh Ly
Giọt lệ sầu - Chế Linh
4. Giai đoạn 1975 đến nay
Sau khi Việt Nam thống nhất, nền âm nhạc Việt Nam có nhiều
thay đổi thăng trầm. Trong nước các dòng nhạc vàng bị cấm hoàn toàn vì
không phù hợp với chủ trương chính trị, các ca sĩ nhạc vàng được khuyến khích
chuyển sang hát nhạc truyền thống cách mạng (nhạc đỏ). Nhiều ca sĩ và nhạc
sĩ Việt Nam phải vượt biên sang định cư tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác, đồng
thời nhiều bài hát tiền chiến và tình ca bị hạn chế lưu hành. Cuộc chiến tranh
biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra.
Đề tài sáng tác chủ yếu
trong giai đoạn này là:
- Ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh: có các bài
hát tiêu biểu như: Viếng lăng Bác, Miền Nam Nhớ mãi ơn người,Lời Bác dặng trước
lúc ra đi...
- Ca ngợi Đảng: Đảng đã cho ta một mùa
xuân...
- Ca ngợi chiến công lẩy lừng của cuộc
kháng chiến như: Dáng đứng Bến Tre, 40 thế kỷ cùng ra trận, Tổ quốc yêu thương,
- Tình yêu quê hương đất nước và tình yêu
lứa đôi: Quê Hương (Nguyễn Văn Tý phổ thơ Đổ Trung Quân), Đất nước lời ru (Văn
Thành Nho), Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh (Xuân Hồng), Huyền Thoại Mẹ (Trịnh
Công Sơn), Bài ca khong quên (Phạm Minh Tuấn), Thuyền và Biển (Phan Huỳnh Điểu),
Gửi em chiếc nón bài thơ (Lê Việt Hòa), Giai điệu Tổ quốc (Trần Tiến)...
- Ca ngợi và phát động các phong trào lao
động tập thể như Thanh Niên Xung Phong: Đêm rừng Đắc Min, Em nông trường anh ra
biên giới, Hồ núi Cốc, Trị An âm vang mùa xuân, Tàu anh qua núi, Đêm thành phố
đầy sao, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ, Mùa xuân từ những giếng dầu...
Các nhạc sĩ tiêu biểu
trong giai đoạn này là: Diệp Minh Tuyền, Trần Long Ẩn, Thế Hiển, Nguyễn Nam,
Nguyễn Văn Hiên, An Thuyên, Phó Đức Phương, Phong Nhã, Trần Tiến...
Nhạc sĩ Phạm Tuyên
Đặc biệt Ca sĩ kiêm nhạc
sĩ Trần Tiến chịu ảnh hưởng của phong trào du ca trước năm 1975 nên đã có nhiều
sáng tác mới lạ thời bấy giờ nên được công chúng yêu nhạc đón nhận với các ca
khúc: Mặt trời bé con, Tùy hứng lý qua cầu, Tạm biệt chim én...
Bài hát Mặt Trời Bé Con
của nhạc sĩ Trần Tiến
Các ca sĩ thành danh
như: Cẩm Vân, Bảo Yến, Nhã Phương, Quang Lý, Tuấn Phong, Cao Minh, Thế Hiển, Trần
Tiến...
Thời kỳ này phong trào văn nghệ quần
chúng phát triển mạnh mẽ, Hội âm nhạc Việt Nam được thành lập và hằng năm đều tổ
chức nhiều chuyến du khảo hội trại sáng tác theo những chủ đề do nhà nước đặt
hàng.
Các trường âm nhạc, văn
hóa nghệ thuật được quan tâm thành lập tuy nhiên chỉ mới dừng lại ở quy mô dạy
dòng nhạc thính phòng cỏ điển và âm nhạc tuyên truyền.
Nhiều văn nghệ sĩ có cơ
hội giao lưu học tập tại Liên Xô (Nga) đã du nhập nhiều bản nhạc Liên Xô được
hát bằng tiếng Nga hoặc dịch ra lời Việt: Một triệu đóa hoa hồng (Cẩm Vân trình
bày), Chiều hải cảng, Đôi bờ, Cây thùy dương.
Bài hát Một triệu đá hoa hồng
do Cẩm Vân trình bày
Sau Đại hội Đảng lần VI
đề ra chủ trương đổi mới, văn hóa nghệ thuật cũng được cởi mở hơn. Đài Truyền
hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) đã tổ chức các cuộc thi tiếng hát truyền hình
tạo cơ hội cho nhiều ca sĩ trẻ thành danh như: Như Quỳnh, Như Hảo, Thanh Thúy,
Tạ Minh Tâm...
Ca sĩ Như Quỳnh
Nhạc sĩ kiêm ca sĩ Tạ Minh Tâm
Tại miền nam nhiều bài
hát từ các nước phương Tây được các ca sĩ trình bày lời ngoại ngữ và lời việt:
Tình cha (Phương Thảo)... Đặc biệt là phong trào hát nhạc Hoa lời Việt với các
ca sĩ: Minh Thuận, Tú Châu, Lam Trường, Đan Trường...
Bài hát Ngây Thơ
do Minh Thuận thể hiện
Nhạc Tình Ca (còn gọi là nhạc
sến do đa số viết theo điệu B'lero và có giai điệu buồn với nội dung chủ yếu là
mô tả tâm trạng thất tình) được tiếp tục phát triển với các nhạc sĩ như: Vinh Sử,
Hàng Châu... với các giọng ca: Đình Văn, Ngọc Sơn, Chế Thanh, Thùy Dương...
Nhiều Trung tâm băng nhạc
được thành lập như: Bến Thành Audio, Sài Gòn Audio, Kim Lợi Studio...
Vào năm 1996 bắt nguồn
từ giải thưởng âm nhạc "Làn sóng Xanh" do đài tiếng nói nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, người đoạt giải là ca sĩ Lam Trường với ca khúc
"Tình thôi xót xa" (nhạc sĩ Bảo Chấn sáng tác) khiến cho trào lưu nhạc
trẻ ra đời với hàng loạt ca khúc thành công sau đó như: Hà Nội mùa vắng những
cơn mưa, Bên em là biển rộng, Giọt sương trên mí mắt, Hôn môi xa, Tình em ngọn
nến... góp phần đưa hàng loạt ca sĩ trẻ nổi danh như: Mỹ Tâm, Đan Trường, Cẩm
Ly, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Thanh Lam, Quang Linh, Quang Dũng, Đức Tuấn, Tuấn
Hưng, Đàm Vĩnh Hưng...
Bài hát bên em là biển rộng
do Lệ Quyên thể hiện
Nhạc sĩ trẻ Hoài
An đoạt giải thưởng từ cuộc thi sinh viên với bài hát "Tình thơ"
với phần hoà âm mới lạ hiện đại lúc bấy giờ đã làm thay đổi quan điểm âm nhạc
Việt Nam: phần nhạc dạo đầu bài hát và phần hoà âm và phối khí được chú trọng
hơn so với trước đây làm cho ca khúc Việt Nam trở nên hiện đại hơn, hay hơn.
Nhạc sĩ Hoài An
Tại Việt Nam cũng xuất
hiện nhiều nhạc sĩ làm nhiệm vụ hoà âm phối khí như: Quốc Trung, Mạnh Trinh, Đức
Trí, Hoài Sa... Nghề mix nhạc (DJ) cũng xuất hiện.
Bên cạnh đó dòng nhạc
dân ca cũng phát triển mạnh mẽ: "Vọng cổ buồn", "Đêm Gành Hào
nghe điệu Hoài Lang", "Quê tôi mùa nước lũ"..
Vài ca sĩ Việt Nam có hoài bão vươn ra thị
trường âm nhạc thế giới và đã đạt được một số thành công ban đầu: Mỹ
Tâm được đài truyền hình ABC xếp hạng 6 trong số các ca sĩ châu Á thành
công nhất, Hồ Quỳnh Hương đoạt giải Liên hoan âm nhạc tại Bình
Nhưỡng.
Ca sĩ Mỹ Tâm
Ca sĩ Hồ Quỳnh Hương
Bài hát Chỉ là anh thôi
do Hồ Quỳnh Hương thể hiện
Cùng với những mặt sáng
mà nền âm nhạc hiện đại đạt được, những mặt tối đã bắt đầu xuất hiện và có xu
hướng ngày càng lan rộng. Nhạc giải trí dần thay thế nhạc truyền thống, ca khúc
quần chúng lấn át giao hưởng thính phòng. Nhạc cổ truyền gần như không có điều
kiện phát triển khi giới trẻ hoàn toàn bị cuốn theo các dòng nhạc ngoại nhập
như K-pop, US-UK,… Những tác động của internet cũng như truyền hình ngày càng
rõ nét với nhiều sân chơi, trò chơi âm nhạc khác nhau như V-pop, Trò chơi âm nhạc,
Việt Nam Idol,…
Tuy nhiên, đó lại là điều
kiện phát triển lý tưởng của ca nhạc đại chúng chạy theo số đông chứ không phải
những giá trị lâu đời của nhạc cổ truyền hay giao hưởng thính phòng. Nói thị hiếu
khán giả quyết định tất cả, là vì thế!.
















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét