Vài nét về giáo dục âm nhạc
trên thế giới ngày nay
Ở Việt Nam chúng ta, giáo dục âm nhạc nói chung và giảng dạy
âm nhạc nói riêng chính thức trở thành môn học bắt buộc trong trường phổ thông
hơn 15 năm nay, mặc dù manh nha công việc này đã được khởi động từ những năm
60, 70 của thế kỷ trước. Vì hoàn cảnh của đất nước, với những nguyên nhân chủ
quan, khách quan khác nhau nên khi đó chưa thành hiện thực. Vậy thì được như hiện
nay cũng là điều đáng mừng vì công việc đáng ra phải làm từ lâu nhưng mãi đến
15 năm gần đây mới thực hiện được, có thể xem đó là một bước tiến quan trọng của
nền giáo dục chúng ta so với chúng ta.
Giáo dục âm nhạc ở các nước khác thì sao?
1. Hãy nhìn ra nước ngoài
Trong thế giới phẳng ngay nay, bất kỳ việc gì nếu chỉ “lầm
lũi, hì hục” làm một mình mà không chịu nhìn rộng ra thì dễ mắc phải căn bệnh bảo
thủ, giậm chân tại chỗ, đi giật lùi, thậm chí đối nghịch với thời đại. Như vậy
là phải luôn cập nhật, tìm hiểu xem xung quanh ta họ làm như thế nào để học tập,
để rút kinh nghiệm mà vận dụng. Xin phép cung cấp tới các nhà quản lý, các nhà
chuyên môn, các nhà sư phạm một số tình hình giáo dục và giảng dạy âm nhạc ở
các nước để chúng ta cùng tham khảo.
Có một lần, tình cờ tìm trong đống sách cũ thanh lý của Viện
Khoa học giáo dục Việt Nam, tôi nhặt được cuốn Những đĩa nhạc hay dẫn giải
dành cho trẻ em (Les beaux disques expliqués aux enfants) của Nhà xuất bản
Paris in năm 1935. Lật xem nội dung sách, tôi kinh ngạc bởi vì họ đã hướng dẫn
cho trẻ em nghe “nhạc không lời” từ những năm đó. Nghĩa là cách đây hơn 80 năm,
trẻ em Pháp đã được tiếp cận với trích dẫn tác phẩm âm nhạc của Chopin,
Debussy, Schumann, Weber, Tchaikovsky, Prokofiev, Stravinsky... Vậy là họ đã đi
trước ta gần một thế kỷ. Vài chục năm gần đây, thế giới còn có một tổ chức gọi
là ISME (International société musical education). Hiệp hội này thuộc UNESCO, cứ
3 hoặc 4 năm họp một lần để bàn về việc giáo dục âm nhạc cho lớp trẻ trên các
lĩnh vực âm nhạc cả chuyên nghiệp và âm nhạc phổ thông.
PGS.TS Nguyễn Thụy Loan, nhà lý luận và nghiên cứu âm
nhạc của Việt Nam đã có lần đi dự hội nghị đó. Sau khi về, bà đã đưa cho chúng
tôi một tập dân ca các nước Đông Nam Á và nhờ một số nhạc sĩ đặt lời Việt, bởi
tổ chức này quan tâm tới nhiều vấn đề như quan điểm, hệ thống, nội dung, phương
pháp giáo dục âm nhạc, trong đó đặc biệt coi trọng dân ca các nước.
Nêu ra ví dụ trên để thấy rằng, khoảng hơn 15 năm nay, việc
giáo dục âm nhạc của chúng ta đang thực hiện ở trường phổ thông đã làm được một
công việc là: hội nhập với thế giới, tuy rằng cũng muộn màng.
Đối với nhiều quốc gia trên thế giới ngày nay, họ đều nhận thức
và hành động một cách bài bản rằng: âm nhạc không thể thiếu trong học đường
và âm nhạc đã được chăm chút không chỉ với ngành giáo dục mà cả các cơ quan lập
pháp như nghị viện, quốc hội cũng đã giành nhiều thời gian để “bỏ phiếu” cho vấn
đề này ví như ở Hungarie, Thụy sĩ, Canada.
Các nước như Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Nga, Hungarie, Ba Lan, Na
Uy, Thụy Sĩ và rất nhiều nước khác, họ có chương trình, sách giáo khoa âm nhạc,
các phương tiện phục vụ cho âm nhạc trong nhà trường rất đầy đủ. Có lần, tôi đã
gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với một giáo sư Nhật Bản, ông cho biết trang thiết
bị giảng dạy âm nhạc ở Nhật còn phong phú hơn cả ở Pháp. Về thời lượng, số giờ
dạy ở mỗi quốc gia có khác nhau với các cấp học khác nhau. Nói chung là 1 tiết/
tuần, riêng ở tiểu học Nhật Bản, Hungarie, Đức, Hàn Quốc, Triều Tiên bố trí 2
tiết/tuần. Âm nhạc với tư cách là môn học chính thức được thực hiện ở trung học
phổ thông như Đức, Pháp, Nga..., hoặc môn học tự chọn ở một số nước khác như:
Canada, Úc... Một số quốc gia lại đưa giáo dục âm nhạc vào cả các trường đại học
(Thụy Sĩ, Na Uy) như để tiếp nối với giáo dục phổ thông và giúp sinh viên nhận
thức thẩm mỹ đúng đắn với nghệ thuật này.
Có một điểm chung mà các quốc gia đều thống nhất: trẻ em đến
trường phải được tiếp cận với âm nhạc, bởi tác dụng to lớn của nó đối với việc
hình thành nhân cách, trí tuệ và cảm xúc, thông qua việc giảng dạy và hoạt động
hết sức đa dạng. Tạp chí quốc tế ISME luôn đăng những bài nghiên cứu, các phát
kiến, thông tin các kết quả nghiên cứu khoa học của các nhà sư phạm âm nhạc,
các nhà tâm lý học, các nhạc sĩ về vấn đề này.(nếu có điều kiện, chúng ta nên
tìm đọc những bài viết hết sức quan trọng có liên quan tới triết học và âm nhạc,
những bài về giáo dục âm nhạc từ thời cổ đại của các triết gia Platon,
Aristote, những bài nói về “chơi đàn làm giảm căng thẳng hơn so với các hoạt động
nghệ thuật khác”. Đó là những thông tin tích cực và bổ ích đối với những người
làm quản lý giáo dục và các nhà chuyên môn.
Xin cụ thể hơn về một số nền giáo dục ở các nước để thấy họ
quan tâm tới giáo dục âm nhạc như thế nào.
* Giáo dục âm nhạc ở Mỹ
Chúng ta đều biết rằng Mỹ là Hợp chủng quốc, một đất nước
giàu mạnh vào loại nhất thế giới, giáo dục ở mỗi bang có thể khác nhau, nhưng cả
48 bang đều tiến hành dạy nhạc cho học sinh phổ thông. Lịch sử giáo dục âm nhạc
của Mỹ được biết có từ thế kỷ XVIII, rồi thế kỷ XIX và đặc biệt ở thế kỷ XX, ở
Mỹ có một Hiệp hội Âm nhạc và phát triển giáo dục mang tên Orff Schulwerk (tên
một nhạc sĩ, nhà phương pháp người Đức có tên gọi đầy đủ là Frank Orff
Schulwerk). Orff Schulwerk là Hiệp hội có tính chất chuyên nghiệp của các nhà
giáo dục dành riêng cho âm nhạc, tiếp cận phong trào rất rộng lớn, với nhiệm vụ
thúc đẩy phát triển, sử dụng, phổ biến rộng rãi phương pháp Orff, truyền cảm hứng
và ủng hộ khích lệ sự sáng tạo của tất cả các thành viên. Hàng vạn hội viên gồm
các nhà nghiên cứu giáo dục âm nhạc, các giáo viên của tất cả các bang trên đất
Mỹ hầu hết đều tham gia. Hiệp hội này thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng
giáo viên dạy nhạc cho các bang để bảo tồn, phát triển phương pháp Orff -
phương pháp dạy nhạc dựa trên sự sáng tạo nhịp điệu và sự ứng tác, để phát huy
khả năng sáng tạo của trẻ trong quá trình tiếp thu, nhận thức âm nhạc... Chủ tịch
danh dự của Hiệp hội này là phu nhân của Orff, bà Frank Liselotte (mất năm
2012) người được ủy thác gìn giữ và phát triển, phổ biến phương pháp giáo dục
âm nhạc của Orff. Ảnh hưởng của phương pháp này lan rộng ở Đức, Áo, Phần Lan và
nhiều nước khác, không kém gì phương pháp Kodaly của Hungarie (sẽ trình bày ở
dưới).
* Giáo dục âm nhạc ở Thụy Sĩ
Quốc gia này về chính trị là một nước trung lập, giàu có, một
xã hội dân chủ, văn minh, niềm mơ ước của nhân loại. Một xã hội mà riêng việc
giáo dục âm nhạc với những tranh luận của những tư tưởng khác nhau về vị trí,
vai trò, tác dụng cuả âm nhạc đã dành được sự quan tâm của nhiều nghị viên khi
tranh cử vào quốc hội. Người thắng cử thường là những nhân vật cớ uy tín đặc biệt
chú trọng đên giáo dục âm nhạc (qua thông tin của báo chí Thụy Sĩ).
Theo quan điểm của Esmile Jaque Dalcrose (1865-1950) nhạc sĩ,
nhà sư phạm, người đề xướng một phương pháp giáo dục âm nhạc được thực thi ở Thụy
Sĩ, cho rằng: “Âm nhạc tồn tại trong toàn bộ cơ thể con người, khai thác triệt
để những yếu tố vốn có đó tạo nên những cách thức phát triển đơn giản và gần
gũi nhất để con người thụ hưởng âm nhạc và sáng tạo”. Phương pháp Dalcrose gồm
ba khái niệm cơ bản: sáng tạo trên cơ sở ngẫu hứng, phối hợp với nhịp điệu -
chuyển động và thông qua tất cả các giác quan. Theo Dalcrose, âm nhạc là ngôn
ngữ cơ bản của bộ não con người, do đó nó kết hợp chặt chẽ với toàn bộ cơ thể.
Ngoài Thụy sĩ, ở Bỉ cũng có một Viện chuyên nghiên cứu, phát triển những quan
điểm và phương pháp giáo dục âm nhạc mang tên Dalcrose. Giảng dạy âm nhạc ở Thụy
sĩ giảng dạy từ nhà trẻ, mẫu giáo cho tới hết phổ thông, được coi như một môn học
bắt buộc, đầy hứng thú, hấp dẫn, bởi họ có một đội ngũ giáo viên trình độ
chuyên môn cao, được đào tạo rất bài bản, cẩn thận.
* Giáo dục âm nhạc ở Hungarie
Gắn bó mật thiết với tên tuổi của Zoltan Kodaly (1885-1967),
một nhạc sĩ lớn, một nhà nghiên cứu, một nhà sư phạm kiệt xuất của Hungarie, mà
thành tựu của ông đã được hàng chục nước, trong đó có Mỹ, Canada, Pháp, Nhật,
Trung quốc, Malaysia, Việt Nam và rất nhiều nước khác đến tìm hiểu, học hỏi tại
Viện sư phạm Zoltan Kodaly ở Keskemet (gần thủ đô Budapest).
Quan niệm của ông hết sức tiến bộ, bởi ông cho rằng: “Âm nhạc
phải là của tất cả mọi người, không phải chỉ dành cho một số nhỏ”. Nhà nước
Hungarie hết sức ủng hộ tư tưởng đó từ những năm 1950 của thế kỷ XX, với sự
khích lệ đặc biệt của Tổng bí thư, người lãnh đạo cao nhất nước Hungarie lúc bấy
giờ ông Ianos Cada. Riêng thủ đô Budapest, cứ mỗi một khu dân cư (tương đương với
quận của nước ta), ngoài việc giảng dạy ở tất cả các cấp học, mỗi khu đều có
trường phổ thông chuyên nhạc, giống như trường sơ cấp âm nhạc, vừa học văn hóa
phổ thông như mọi trường khác, vừa học âm nhạc, với nhiều loại nhạc cụ tự chọn.
Cả nước Hungarie có tới 136 trường như thế. Mỗi trường chuyên ấy có hàng chục
giáo viến âm nhạc với trình độ chuyên môn cao giảng dạy, phát hiện và bồi dưỡng
kịp thời những học sinh có năng khiếu, cung cấp cho các cơ sở đào tạo cao
hơn. Chỉ với hơn 10 triệu dân mà nước Hungarie có tới hàng chục dàn nhạc giao
hưởng, qua đó ta có thể biết dân trí và văn hóa âm nhạc của họ đã đạt tới mức
nào.
Đặc điểm cơ bản của phương pháp Kodaly còn biểu hiện trong
cách dạy đọc nhạc gọi là “Solmization Relative” để phổ cập rộng rãi âm nhạc cho
mọi người. Phương pháp Kodaly thống nhất dùng trong các trường âm nhạc từ phổ
thông cho đến các trường âm nhạc chuyên nghiệp.
Giáo dục âm nhạc được thực hiện từ mẫu giáo cho đến hết phổ
thông 12 năm. Từ năm 1976 đến nay, tôi không có dịp sang Hungarie, nhưng mới
đây, nhạc sĩ Phan Trần Bảng sang thăm Hungarie đã mang về một số cuốn sách giáo
khoa âm nhạc mới của Hung. Chúng tôi thấy sách rất ít thay đổi trong nội dung
và phương pháp so với những năm 70-80 của thế kỷ trước.
* Giáo dục âm nhạc ở Nga
Trong chương trình phổ thông, mỗi tuần có một giờ âm nhạc
xuyên suốt từ lớp 1 cho đến lớp 12. Riêng cấp 3 (THPT) tùy từng vùng, có thể học
âm nhạc trong chính khóa, hoặc đưa vào hoạt động tự chọn, ngoại khóa.
Tư tưởng giáo dục âm nhạc của Kabalevsky, nhạc sĩ lớn có tên
tuổi của Nga (đã từng là Chủ tịch Hiệp hội giáo dục âm nhạc quốc tế ISME) nêu
lên nội dung giáo dục âm nhạc nhất thiết phải có ba trụ cột: hát hành khúc - nhảy
múa - vận động và hát dân ca. Kabalevsky cũng đặc biệt quan tâm tới hình thức
hát hợp xướng, ông coi đó là một thể loại có tác dụng mạnh mẽ, tạo nên sự hài
hòa, tính kỷ luật cao trong cộng đồng. Sách âm nhạc của Nga trước đây được gọi
là môn hát, sau đổi thành môn âm nhạc. Ở một số nước tách ra từ Liên Xô cũ vùng
Ban Tích như các nước cộng hòa Latvi, Litva... cũng dạy âm nhạc xuyên suốt tất
cả các lớp học trong trường phổ thông. Các nước này đặc biệt coi trọng hát hợp
xướng trong trường học, bởi theo truyền thống, họ có hội thi hát hợp xướng hàng
năm, có những dàn hợp xướng tới cả vạn người tham gia.
* Giáo dục âm nhạc ở Nhật Bản
Là một nước có nền kinh tế ở tốp đầu của thế giới, Nhật không
chỉ chú trọng đến phát triển kinh tế mà còn đặc biệt chú trọng đến văn hóa, đến
bản sắc. Trong lĩnh vực giáo dục âm nhạc cũng có thể xem Nhật Bản là cường quốc.
Với quan niệm “học cái của mình cũng quan trọng như học cái của người ngoài” và
“thật là thiếu công bằng khi người dân Nhật Bản không được tìm hiểu văn hóa
riêng của mình, trong đất nước của mình” (ý nói không chỉ học các văn hóa đỉnh
cao của phương tây). Người ta đã đấu tranh để đưa giáo dục âm nhạc dân tộc vào
trong trường học có hiệu quả. Chính vì thế, bắt đầu từ năm 2002, việc dạy nhạc
cụ truyền thống đã được chú trọng đặc biệt ở các trường công. Môn âm nhạc trong
chương trình giáo dục phổ thông thực hiện từ năm 1872. Ở trường tiểu học Nhật Bản,
qui định 2 tiết/tuần cho mỗi lớp, học nhạc được duy trì từ mẫu giáo cho đến hết
cấp học phổ thông.
Phương pháp dạy âm nhạc được gắn với tên tuổi của nhà sư phạm,
nhạc sĩ nổi tiếng Schinichu Suzuki (1898-1998).
Những tư tưởng chủ yếu của phương pháp Suzuki là: trẻ em phải
được tiếp cận với âm nhạc từ khi ra đời (giống như quan điểm của Khổng Tử về
“thai giáo” và của Kodaly). Đồng thời ông hết sức chú trọng cho trẻ em làm quen
với các kiểu tiết tấu qua các nhạc cụ gõ đơn giản. Vốn là một nghệ sĩ chơi đàn
violon, ông đặc biệt khuyên các phụ huynh nếu có điều kiện nên cho trẻ học đàn
violon từ nhỏ ngay ở tuổi mầm non. Có thể vì lẽ đó mà đã có lúc người ta thấy ở
Nhật, trong một cuộc biểu diễn violon có tới 5000 trẻ em tham gia. Phương pháp
Suzuki đã phát triển sang cả Hoa Kỳ trong những năm cuối thế kỷ XX. Triết lý đằng
sau phương pháp Suzuki nảy sinh khi ông sống ở Đức và quan sát trẻ em học tiếng
mẹ đẻ. Trẻ em học được tiếng mẹ đẻ (tiếng Nhật), và học được cả tiếng Đức khi sống
ở Đức một cách dễ dàng, thì âm nhạc cũng có thể phát triển khi có một môi trường
tốt cho nó. Trẻ em có khả năng nói thành thạo tiếng mẹ đẻ thì cũng có thể học một
nhạc cụ. Phẩm chất tạo ra cho nó đó là sự cân bằng, lòng tự tin, việc làm chủ bản
thân và các đức tính khác ngay từ khi còn nhỏ.
* Giáo dục âm nhạc ở Pháp
Nền văn hóa Pháp đã đạt được nhiều thành tựu mà thế giới phải
trân trọng suốt nhiều thế kỷ qua. Riêng về lĩnh vực giáo dục âm nhạc, họ cũng
đã rất chú ý từ lâu đời. Các trường học của họ đều day âm nhạc, từ nhà trẻ, mẫu
giáo đến hết trung học phổ thông và cả các trường đại học. Trong các phân ban ở
cấp THPT, ở Pháp có cả “tú tài toán, tú tài văn chương, và tú tài âm nhạc” ở những
năm 60 của thế kỷ trước. Cho đến nay, giáo dục âm nhạc ở Pháp vẫn là một nước
có sự phát triển đáng kính nể. Ở ba cấp học, âm nhạc đều được dạy. Riêng tiểu học
có 4 tiết/tuần (trong đó 2 tiết giảng dạy và 2 tiết hoạt động). Với quan điểm rất
tiến bộ, giống như ở Hungarie, các nhà giáo dục Pháp cho rằng: “Âm nhạc không
chỉ dành cho mốt số tinh hoa được ưu đãi, mà mọi trẻ em đều cần phải được
giúp đỡ vươn tới cái đẹp”. Ngay các trường đại học cũng rất lưu ý tới giáo dục
nghệ thuật, thông qua các hoạt động đa dạng để tạo một thị hiếu thẩm mỹ tốt cho
mọi sinh viên. Những nhà sư phạm âm nhạc như Robert Planel, Madelein de la
Rose, đặc biệt Maurice Martenot đã có những ảnh hưởng rộng lớn tới giáo dục âm
nhạc tại Pháp. Chương trình và sách giáo khoa âm nhạc được biên soạn cách đây
hàng thế kỷ luôn có những cải tiến cho phù hợp với các giai đoạn lịch sử, nhưng
cốt lõi vẫn gồm ba nội dung chính là: hát, nghe nhạc và bình luận, đọc nhạc đơn
giản. Ý tưởng xuyên suốt là phát triển các khả năng nghe, sáng tạo, phát huy
trí tưởng tượng, cảm thụ và cảm xúc, điều mà chúng ta vẫn gọi là giáo dục văn
hóa âm nhạc cho hàng vạn trẻ em. Bộ giáo dục Pháp có thanh tra âm nhạc cho các
vùng, các địa phương... (cuốn sách mà tôi nói tới ở đầu bài viết này là của các
vị thanh tra các trường học ở vùng Seine, Cộng hòa Pháp).
* Giáo dục âm nhạc ở Đức
Cũng như nhiều nước châu Âu, Đức là một quốc gia hùng mạnh có
nhiều thành tựu vang dội, nhiều tên tuổi các văn nghệ sĩ lớn mà cả thế giới biết
tới và ngưỡng mộ. Về văn học như Goethe, Schiller, Heinrich Heine... Âm nhạc có
J.S Bach, Beethoven... Lĩnh vực giáo dục âm nhạc gắn với tên tuổi nhà sư phạm,
nhạc sĩ Kart Orff, người đề xướng một phương pháp nổi tiếng không những có ảnh
hưởng ở Đức mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng, trong đó có Mỹ. Những nội
dung cơ bản được đề cập trong phương pháp Orff, đó là nghe nhạc kết hợp vận động,
trò chơi âm nhạc, chuyển động theo tiết tấu, kết hợp múa dân gian, sáng tạo
theo nhịp điệu, làm quen với nhạc cụ gõ, âm nhạc hợp xướng sử dụng công nghệ
cao và các chủ đề khác... Một số nước như Phần Lan, Séc, Senegan đã thành lập
Hiệp hội Orff để nghiên cứu và truyền bá phương pháp này.
Dạy âm nhạc trong các trường phổ thông ở Đức là môn học bắt
buộc từ lớp 1 đến lớp 12. Trẻ cũng được tiếp xúc với các nốt nhạc qua các bài tập
đơn giản nhưng tên nốt không gọi là Đô, Rê, Mi mà đọc với tên gọi:
Ja-le-Mi-Ni-Rô-Zu-Wa (tương ứng với Do-Re-Mi- Fa-Sol-La-Si). Đặc biệt giáo viên
âm nhạc của Đức được đào tạo với trình độ âm nhạc cao, chuyên môn giỏi và nắm rất
vững về phương pháp (trường hợp cô Nguyễn Minh Cầm - con gái nhạc sĩ Huy Du và
PGS.TS Nguyễn Thị Nhung, sau khi tốt nghiệp chuyên khoa Piano 16 năm, dự lớp tập
huấn về phương pháp sư phạm mới được nhận làm giáo viên âm nhạc một trường tiểu
học ở Đức).
Không có điều kiện để giới thiệu ở nhiều nước khác mà chúng
tôi đã nghiên cứu, chỉ xin dẫn ra thêm vài trường hợp về những quan niệm
và thành tựu của họ để ta cùng tham khảo:
Ví dụ: tại Quebec (Canada) khẳng định vị trí của âm nhạc
trong cải cách giáo dục năm 2000 với nhận thức rằng: dạy nhạc ở trường tiểu học
là mục đích tự thân như là kết quả trong chính nó, đảm bảo sự sống còn của nhạc
giao hưởng ở Quebec nóí riêng và thế giới nói chung. Tại Montreal, giảng dạy
nghệ thuật được tích hợp với các môn học khác như văn học, toán học, lịch
sử, địa lý, thể dục, mỹ thuật... Và họ cho là: “Trong một thế giới bị phân mảnh,
xô bồ, bị mất cảm giác như hiện nay, giáo dục nghệ thuật có thể giúp cho thanh
thiếu niên khôi phục lại những cảm giác đúng đắn về thế giới...”.
Các nước như Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan,
Malaysia, Singapore, Thái Lan... mỗi nước có một cách đi và cách làm khác nhau
nhưng mọi thành tựu mà giáo dục âm nhạc đã đem lại ở mỗi nước đó đã xác nhận rằng
vai trò của âm nhạc không thể thiếu trong trường học. Một cuộc biểu diễn đàn
violon của học sinh Nhật Bản có tới 5000 học sinh tham gia, một buổi trình diễn
ở Thái Lan có tới 3000 trẻ em chơi kèn melodion, những dàn hợp xướng trẻ em đi
biểu diễn xuyên quốc gia như của Mỹ, Đức, Hungarie, Thụy sĩ, Pháp là niềm mơ ước
trong tương lai kết quả giáo dục âm nhạc ở Việt nam.
2. Nhìn người lại nghĩ đến ta
Chúng tôi vừa điểm qua một loạt các nước, trở lại vấn đề giáo
dục âm nhạc ở Việt Nam thì như thế nào?
Phải xác nhận những gì ta đã làm được, đó là lần đầu tiên
trong lịch sử giáo dục âm nhạc Việt Nam, từ năm 2002 đã có một bộ sách giáo
khoa Âm nhạc, từ cấp tiểu học đến trung học cơ sở, được biên soạn một cách công
phu, có nhiều ưu điểm đáng kể. Phải khẳng định rằng, từ lúc bắt đầu chỉ như một
đốm lửa nhỏ leo lét với dăm ba chục giáo viên dạy âm nhạc trong các trường học,
tới nay chúng ta đã đào tạo được một đội ngũ giáo viên đông đảo tới hàng vạn
người đang giảng dạy tại các trường tiểu học và trung học cơ sở khắp cả nước, đại
đa số có trình độ cao đẳng trở lên. Phải tự hào rằng, từ chỗ trang thiết bị cho
âm nhạc lèo tèo, èo uột, dăm ba nhạc cụ cũ nát, không dây, mối mọt... chúng ta
đã có hàng vạn chiếc đàn phím điện tử cho hầu hết các trường, rồi máy chiếu,
màn hình, sử dụng các phương tiện điện tử hiện đại phục vụ cho giảng dạy, nhiều
nơi còn bố trí phòng học nhạc riêng... Rồi cải tiến giảng dạy liên tục, tập huấn
giáo viên, áp dụng các phương pháp mới, hội diễn học sinh các cấp hàng năm hoặc
hai năm một lần, liên hoan đàn piano kỹ thuật số, hát dân ca, thi giáo viên dạy
giỏi và nhiều hoạt động khác.
Thật đáng phấn khởi, nhưng chẳng lẽ không còn vấn đề gì phải
bàn hay sao? Xin thưa, thực trạng còn đó không ít vấn đề và cả những bức xúc cần
tìm cách tháo gỡ càng sớm càng tốt.
3. Vài ý kiến đóng góp, đề xuẩt
Xin góp ý về hệ thống: hiện nay, giáo dục âm nhạc ở các trường
trung học Hphổ thông chưa được đưa vào chương trình, có thể xem đó là một món nợ
với thế hệ trẻ. Mới đây, được biết chương trình âm nhạc cho trường trung học phổ
thông vừa được biên soạn năm 2018 đã có môn âm nhạc (là môn học tự chjn). Tuy
nhiên việc thực hiện như thế nào còn chờ ở tương lai.
Còn đó, vấn đề đào tạo giáo viên một cách ồ ạt, ít chú ý chất
lượng dẫn đến khả năng âm nhạc của không ít giáo viên còn hạn chế, giảng dạy
qua loa, đại khái, thậm chí bị phụ huynh học sinh kêu ca than phiền bởi sự khô
khan, cứng nhắc trong giờ học âm nhạc, đáng lẽ ra giờ học đó phải mang lại sự
thoải mái, hứng thú cho các em.
Còn đó, vấn đề nặng nề trong chương trình, sách giáo khoa,
cái gì còn trùng lặp, khô cứng cần phải cân nhắc kỹ để tinh giản một cách hợp lý,
khoa học.
Phải chăng, cần tăng cường cho học sinh nghe nhiều tác phẩm
âm nhạc hơn, kể cả nhạc không lời. Kết hợp âm nhạc với vận động một cách sáng tạo,
để cố gắng đạt tới cái đích của trường học phổ thông là giáo dục văn hóa âm nhạc.
Một vấn đề đặc biệt quan trọng là sự nhận thức của các cấp quản
lý đối với việc giáo dục âm nhạc. Đã có một số chuyển biến về nhận thức của họ
khi dự giờ, khi chỉ đạo thực hiên, họ đã thừa nhận những kết quả mà môn âm nhạc
đem lại trong giáo dục toàn diện, nhưng vẫn còn đó những quan niệm hết sức hời
hợt, thô thiển, coi nhẹ, xem thường, nhìn nhận phiến diện ý nghĩa, tác dụng to
lớn của môn học, xem như có cũng được, không có cũng chẳng sao. Thật đáng buồn,
nếu như họ đọc và ngẫm nghĩ lời của Xukhomlinsky, một nhà giáo dục kiệt xuất của
Nga và của thế giới, khi ông nói: “Trẻ em của chúng ta nếu không được tiếp xúc
với âm nhạc và nghe chuyện cổ tích thì chúng chẳng khác gì những bông hoa khô
héo”. Và lời phát biểu một cách hình ảnh của giáo sư Theodore Stathepoulos
(Canada) trong một hội nghị quốc tế: “Âm nhạc trong trường học không chỉ là
cung cấp một thực đơn tráng miệng, mà đó là thành phần trong món ăn chính cần
thiết, nếu không có nó sẽ không đầy đủ”.
Theo tôi, vấn đề giáo dục âm nhạc có được thành công ít hay
nhiều phụ thuộc phần lớn ở các nhà quản lý. Không thể bước lùi mà phải từ những
việc đã làm được mà đi lên, Một quyết định sai lầm của người lãnh đạo có thể đảy
lùi một xã hội, một phong trào, một công cuộc, có khi giống như một thảm họa.
Không đến nỗi như vậy, nhưng nếu như quyết định sai trong một chủ trương
giáo dục (hiện nay có một vấn đề thời sự: âm nhạc là môn học hay là một hoạt động
giáo dục ở trường tiểu học, điều đó chưa có một lời giải đáp thấu đáo), có thể
sẽ có những điều đáng tiếc, hậu quả không nhỏ. Việc này cũng đề nghị cần phải
xem xét kỹ từ rất nhiều góc độ, chứ không thể quyết định một cách vội vã (trong
xã hội ta đã có rất nhiều bài học về những quyết định vội vàng, mà cuối cùng chẳng
ai gánh chịu, thiệt thòi là người dân, trong đó có trẻ em).
Là một người đã có trên 50 năm theo đuổi sự nghiệp này, cho
phép tôi được bày tỏ nhưng điều tâm huyết mà trong quá trình thực hiện công việc
đã tích lũy được. Qua đó, mong đóng góp một tiếng nói cụ thể, thiết thực vào sự
nghiệp đổi mới giáo dục của nước ta.
22/3/2019
Hoàng Lân


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét