Ôm đàn tới giữa đời 2
Chương 6
Con đường lờ mờ hiện hình giữa một vùng cỏ dại tràn chiếm. Cỏ
dầy đặc ở phía bên kia hàng rào kẽm gai ngăn chia con đường cụt với một bãi
hoang, ở đó là một rừng cỏ um tùm cao ngang tầm người.
Chiếc xe jeep của Vận vừa ngừng lại trước cái cổng gạch xiêu đổ. Bánh xe lún
sâu vào lòng đất ẩm ướt. Vận để yên cho máy nổ.
- Tôi chờ Ngọc không?
Tôi chưa kịp trả lời Vận. Rừng cỏ bên kia hàng rào kẽm gai, con đường cụt không
một bóng người, cái cổng gạch xiêu đổ đang vây bọc lấy tôi trong một cảnh tượng
hoang vu rùng rợn làm ngừng đứng hơi thở. Tôi có cảm tưởng như chiếc xe vừa ngừng
lại bên cạnh một lòng huyệt, một nghĩa địa, đây chỉ là khúc đường cụt trước chỗ
ở của Dã Thụy. Tôi ngồi lặng. Tâm trạng ngẩn ngơ. Cái nhìn bàng hoàng. Vận đập
vào cánh tay tôi nhắc lại câu hỏi. Tôi giật mình, trả lời:
- Không. Nhưng lát nữa anh trở lại được không?
Vận gật:
- Được. Chừng bao nhiêu lâu?
- Một tiếng hay hơn gì đó. Tôi không muốn về ngay.
- Tôi cũng vừa định nói với Ngọc như thế. Đừng về ngay. Nó đang mong gặp Ngọc
và chắc có nhiều điều muốn dặn dò Ngọc.
Tôi lo lắng:
- Dặn dò?
Vận gật:
- Phải. Dặn dò trước khi đi.
Tôi nhăn mặt:
- Dã Thụy đau nặng đến thế kia ư?
Vận lại gật:
- Và lần này không như các lần trước. Điều duy nhất Dã Thụy làm tôi ngạc nhiên
là điều gì Ngọc biết không?
- Làm sao tôi biết được.
Vận nhún vai:
- Điều mọi người đều biết từ lâu. Là chẳng hiểu tại sao Dã Thụy còn sống đến
bây giờ. Tôi gặp nó ban nãy rồi. Thôi lát nữa tôi quay lại đón.
Tôi xuống xe. Vận xoay hết một vòng lái. Chiếc xe lượn một vòng. Những thân cỏ
bị nghiền nát kêu lạt sạt. Tôi cất bước đi qua cái cổng gạch. Chỗ ở của Dã Thụy
trên lều hết như mấy lần tôi tới đây. Căn vườn bỏ hoang. Cỏ trong vườn um tùm
như cỏ ngoài đường. Mặt đất rêu phong từng quãng. Những cái rãnh bị nước soi
mòn vẽ thành từng vệt ngoằn ngoèo trên lối đi. Đất ở đây cũng chằng chịt những
nếp nhăn phiền muộn. Tim tôi thắt lại khi tôi đứng trước cánh cửa khép hờ của
căn lều gỗ ở cuối vườn. Tôi gõ cửa. Không có tiếng ai trả lời:
- Anh Thụy, Ngọc đến thăm anh đây.
Tôi nói lớn và đẩy cửa bước vào. Túp lều gỗ được ngăn chia làm hai phần bằng một
bức vách mỏng cao tới đầu người. Phần ngoài dùng làm xưởng họa. Thoạt đầu tôi
không nhìn thấy gì. Một thứ bóng tối ngưng đọng đã lâu ngày bao phủ căn phòng
kín mít. Phải nhíu mày, định thần, căn phòng mới lờ mờ hiện ra.
Đó là một căn phòng trống trơn, không có một đồ đạc nào hết ngoài cái giá vẽ và
những bức họa. Cái giá vẽ đổ nghiêng, mặt giá úp vào mặt vách. Những bức họa ngổn
ngang cùng khắp. Trên những bức vách, trong những xó góc, trên nền nhà, một mùi
ẩm mốc lên, thứ ẩm mốc làm bằng những lớp bụi âm thầm không biết tự bao giừ và
cỏ cây rữa nát tràn vào trong nhà qua những bức vách mỏng mảnh.
Tôi lần bước trong bóng tối, tới cánh cửa nhỏ ở cuối phòng. Tôi đẩy cánh cửa bước
vào. Ánh lửa leo lét từ một cây nến phơi bầy trước mắt tôi cảnh tượng thê thảm.
Dã Thụy nằm trên chiếc giường sắt cũ. Một tấm chăn dạ đắp ngang ngực, mép chăn
rớt xuống mặt đất. Căn phòng nhỏ cũng trống trơn gần như căn phòng bên ngoài. Đồ
đạc thu gọn trong một cái tủ đứng và một cái bàn viết. Trên bàn, những hộp mầu
và những ống thuốc. Thêm cái ghế đẩu ở đầu giường. Trên mặt đẩu một cái ly, một
hộp sữa và một cái bình thủy.
Tôi lại gần. Không cần nhìn kỹ người bệnh, tôi cũng biết Vận nói đúng. Bệnh hoạn
chung sống thường trực với Dã Thụy. Nhưng lần đau này không giống với những lầ
n đau trước. Mùa đông này với Dã Thụy là mùa đông cuối cùng.
- Ngọc đấy à.
Tiếng nói Dã Thụy yếu hụt. Chỉ còn như một hơi gió thoảng. Tiếng nói cũng thoi
thóp như cái thân hình Dã Thụy dưới lớp chăn mỏng. Một thân hình gầy đét, mỏng
tanh, dán chặt xuống mặt đệm.
Tôi ngồi ghé xuống thành giường:
- Ngọc đây. Anh thấy trong người thế nào?
- Như thường, như mọi ngày.
Dã Thụy cố trả lời tôi bằng một giọng khôi hài. Tấm chăn động đậy. Người bệnh cố
gắng ngồi lên. Tôi đặt tay lên ngực Dã Thụy, xúc động:
- Anh cứ nằm yên như thế.
Dưới bàn tay tôi, lồng ngực Dã Thụy chợt vơi hẳn đi. Thụy vừa thở ra một hơi thật
dài.
- Ngọc đặt lại cho tôi cái gối.
Tôi luồn tay dưới gáy Thụy, mang cái gối cho cao hơn. Dã Thụy nhìn tôi đăm đăm.
Da mặt Thụy xanh mét. Tròng mắt lờ đờ, sâu trũng. Nhưng từ phút tôi ngồi xuống
thành giường, tròng mắt ấy đã ngời lên một ánh mừng rỡ.
- Ai đưa Ngọc đến?
- Anh Vận.
- Nó đâu rồi?
- Lát nữa Vận sẽ trở lại. Anh cần gì Vận không?
Thụy lắc đầu:
- Hỏi thế thôi. Tôi chỉ cần gặp Ngọc. Cám ơn Ngọc đã tới.
Tôi nghe và tôi chảy nước mắt. Trong đám bạn hữa hằng ngày lui tới quán Nhớ,
trước sau Dã Thụy vẫn là người tôi quý mến nhất. Quý mến nhất và cũng thân thiết
nhất. Nhiều lần, tôi đã tự hỏi. Tại sao giữa Dã Thụy và tôi lại có sự thân thiết
đặc biệt này. Phút này tôi mới tìm được câu trả lời. Tình bạn giữa hai chúng
tôi thắm thiết bởi vì nó ngắn ngủi. Tôi thân nhất với Dã Thụy. Bởi vì một ngày
tôi sẽ khóc Thụy, sẽ đưa bạn đến nơi an nghỉ cuối cùng. Cái ngày ấy đã gần tới.
Đã thấp thoáng.
Tôi khóc không tiếng. Trời Pleiku của những người trẻ tuổi lạc lõng là bọn
chúng tôi đã buồn, tới buổi sáng hôm nay càng buồn thảm hơn. Chúng tôi sống cô
đơn và không ai làm được gì cho ai hết. Thụy nhìn thấy những giọt nước mắt tôi
chảy đều đều xuống hai gò má. Thụy chưa chết, tôi đã khóc. Chưa có đám táng,
tôi đã ở đằng sau một linh cửu tưởng tượng. Thụy nằm trên giường. Tôi ngồi trên
thành giường. Chúng tôi đang trò chuyện với nhau. Nhưng tôi có cảm tưởng như
tôi còn ở lại mà Thụy thì đã đi rồi. Thật xa. Vào cái phía bên kia của một thế
giới khác.
- Tại sao Ngọc khóc?
Tôi gắt lớn:
- Anh còn phải hỏi.
Thụy ôn tồn:
- Hỏi chút. Tại sao Ngọc khóc? Việc phải đến sớm muộn với tôi thì đến lúc nào
cũng thế mà thôi. Hãy nhìn tôi như thế.
- Anh không thể để mặc anh như thế này. Lát nữa Vận đến, chúng tôi sẽ đưa anh
đi bác sĩ.
- Bệnh tôi không chữa được nữa. Tôi cũng không muốn kéo dài thêm nữa tình trạng
này.
- Anh có muốn về Quy Nhơn với gia đình anh không?
Thụy ngẫm nghĩ, cặp mắt nhìn thẳng lên trần nhà. Một phút im lặng. Gió thổi rào
rào trên mái. Đó là thứ gió khô buốt lạnh, từng đợt trùng trùng kéo chạy trong
những khoảng không gian dài rộng. Thứ gió sẽ thổi suốt một mùa đông Pleiku. Thứ
gió làm xác xơ những phố thấp, lồng lộng trên những phố cao. Giọng Dã Thụy đều
đều, rất nhỏ, tôi phải lắng tai mới nghe thấy:
- Tôi đã nghĩ tới chuyện đó. Là về Quy Nhơn. Nhìn biển cũ một lần cuối cùng. Chết
dưới mái gia đình mình. Nhưng tôi không có can đảm chết giữa những người xa lạ.
Căn lều nhỏ thân thiết với tôi hơn mái gia đình tôi. Ngọc và những người bạn
tôi gặp ở đây cũng vậy. Thân thiết hơn là những người thân trong gia đình tôi.
Lại một phút im lặng. Trời Pleiku cuối năm chỉ còn một tiếng động. Đó là tiếng
gió, chung quanh, cùng khắp. Tôi kéo tấm chăn lên sát cằm Thụy. Thụy đẩy tấm
chăn ra.
- Đỡ một tay cho tôi ngồi dậy.
Tôi làm theo. Thụy ngồi tựa vào thành giường, nhắm nghiền mắt lại. Chỉ cái việc
ngồi, Thụy chừng như đã đứt hơi. Tôi không biết làm gì hơn là chờ đợi, Thụy mở
mắt:
- Ngọc tới mở dùm tôi cái ngăn kéo kia.
Tôi đi tới cái bàn nhỏ, mở ngăn kéo, Thụy nhìn theo hỏi:
- Trong đó có một bì thư. Ngọc nhìn thấy không?
Tôi gật:
- Thấy.
- Mang lại đây cho tôi.
Tôi mang phong thư tới. Phong bì đề tên tôi. Lúc bình thường, Thụy có một nét
chữ rất cứng cáp, khỏe mạnh - Là nét chữ thường ở một họa sĩ. Thụy đau, gân tay
không còn nữa, nét chữ trên mặt phong bì run rẩy lệch lạc.
- Trong này là một lá thư tôi viết cho Ngọc. Mới viết đêm qua. Những gì tôi muốn
nhờ Ngọc đã ghi sẵn trong này. Cũng không có gì quan trọng. Nhưng tôi muốn nhờ
Ngọc và không muốn nhờ một người nào khác. Ngọc nhận lời không?
Tôi gật, cố cầm nước mắt. Đón lấy phong thư, tôi hỏi:
- Coi ngay bây giờ được không?
Thụy lắc cười:
- Không được.
- Bao giờ?
Thụy đáp, bình tĩnh:
- Sau khi tôi chết. Chúc thư để lại cho đời, cho người thân của người chết đó.
Tôi cúi đầu, nhìn lá thư nằm trên tay. Tiếng Thụy:
- Nghĩ lại, tôi cũng chẳng ân hận điều gì.
Rồi như chợt nhớ ra:
- Ngoại trừ một điều. Ngọc ra phòng ngoài, lấy cái khung vải đựng ở cạnh giá vẽ
đưa vào đây cho tôi.
Tôi đi ra phòng ngoài và trở vào với khung vải đã tìm thấy. Thụy bảo tôi đưa
cây nến tới gần rồi lật lưng tranh, đặt bức tranh vào thành giường. Là một bức
tranh vẽ dở. Tranh vẽ một người con gái ngồi sau cái quầy cao, trong một căn
phòng thiếu ánh sáng. Căn phòng là quán Nhớ. Người con gái trong tranh là tôi.
Thụy vẽ tôi trong một dáng ngồi thẳng cứng, hai mắt mở lớn nhìn thẳng, với một
mái tóc thật dài xõa trùm hai bờ vai. So với tôi, người con gái trong tranh gầy
hơn, nhiều tuổi hơn, và có một đôi mắt thật buồn. Đã lâu lắm tôi không nhìn thấy
mình. Hay chỉ nhìn thấy qua những hình dáng lung linh mờ nhạt. Tôi chợt thấy lại
tôi. Trong nét vẽ Dã Thụy. Tôi lặng người đi.
- Ngọc đó.
Tôi gật:
- Thấy. Anh vẽ cái quán Nhớ tối thui à.
- Nó sáng láng hơn sao?
Tôi lắc đầu:
- Anh nhìn đúng lắm. Quán Nhớ tối thui trên mọi phương diện. Người của quán Nhớ
cũng vậy. Anh vẽ hồi nào?
- Tuần trước. Tuần trước nữa, không nhớ. Đây là bức tranh cuối cùng của Dã Thụy.
Chỉ tiếc nó là một bức tranh bỏ dở.
Tôi nắm lấy bàn tay gầy guộc của Dã Thụy.
- Cứ coi như anh đã vẽ xong.
Đôi mắt Thụy sáng lên:
- Tôi cũng vừa định nói với Ngọc như thế. Phải, chúng mình cứ coi như bức tranh
đã vẽ xong. Tôi đã vẽ Ngọc một lần rồi, nhớ không?
- Nhớ chứ.
- Lần đó, Ngọc ngồi làm mẫu cho tôi vẽ. Lần này, tôi vẽ bằng trí nhớ, bằng tưởng
tượng. Ngọc có thấy một sự khác biệt nào?
Tôi gật:
- Bức tranh lần trước đẹp hơn. Nhưng bức tranh lần này thật hơn.
- Tôi cũng nghĩ vậy. Tặng Ngọc đó. Lát nữa, Ngọc có thể đem nó về quán Nhớ,
treo ở chỗ Ngọc thích.
- Tấm tranh này sẽ treo ở chỗ anh thường tới ngồi.
Thụy mỉm cười:
- Một ý kiến hay. À, quán Nhớ hồi này ra sao?
- Bình thường vậy, chỉ thiếu anh thôi.
- Chuyện Khoa với Ngọc đi tới đâu rồi.
Tôi thở dài:
- Chưa tới đâu hết.
- Vậy mà có tin sắp cưới đồn ầm lên.
Tôi nhún vai:
- Bao giờ chẳng thế. Lời đồn bao giờ cũng đi trước sự thật.
Thụy bật lên một tiếng cười ngắn, nói tiếp.
- Chắc cũng đã có tin đồn về tôi. Chắc thiên hạ cũng đồn rằng tôi đã chết.
Tôi dịu dàng:
- Anh mong chết lắm sao?
Thụy gật:
- Trường hợp tôi, cái chết là một giải thoát nhẹ nhõm. Cho tôi. Cho tất cả mọi
người.
Thụy chỉ tấm tranh:
- Vẽ cũng là một giải thoát. Nhưng sự giải thoát chỉ có lúc tôi ngồi trước giá
vẽ. Một giải thoát chốc lát, không toàn vẹn.
Chúng tôi cùng im lặng. Cái nhìn của Thụy, thoát đắm lại trong mơ màng. Tôi biết
trong đầu óc lâm chung của Dã Thụy, nhưng hình ảnh nào đang hiện lên, như những
điểm lân tinh sáng lên từ một đáy biển tối thẳm, một lần cuối cùng. Đó là những
ngọn đồi, những thung lũng, những cánh rừng thưa, những bóng cây, những bóng lá
của những buổi trưa Thụy lang thang giữa tạo vật, với cái giá vẽ trên vai gầy
và những hình thể, những màu sắc trong tâm hồn.
Tôi đã có mặt vài lần, những buổi trưa ấy. Cùng với Thụy. Giữa cái nắng đồi
hoang vu. Trong thu núi thiêm thiếp. Chúng tôi yên lặng đi. Trên những con đường
cỏ. Bên cạnh những giòng suối. Hoặc là ngồi nghỉ chân dưới một gốc cây, nhìn xuống
Biển Hồ xanh biếc dưới thấp. Những buổi trưa ấy, tôi biết Dã thụy đã sung sướng.
Đó là những buổi trưa hạnh phúc duy nhất của Thụy. Thụy tỏ tình. Cũng không hề
đề cập tới tình yêu một lần nào. Tình yêu thăm thẳm, cao quý là thứ tình yêu
không bao giờ tỏ lộ. Nhưng chỉ nhìn bức tranh Thụy vẽ tôi, ở đó toát ra một âu
yếm khác thường không thấy ở tất cả những họa phẩm khác của Thụy, tôi biết thứ
tình cảm nào. Thụy yêu tôi. Thầm lặng. Mãnh liệt. Một tình yêu bên trong, không
một lần nói ra. Cho đi và không đòi nhận lại. Như thế, từ đầu. Như thế, mãi
mãi. Tôi không xúc động, không chảy nước mắt sao được.
- Rồi Ngọc sẽ gặp gia đình tôi.
- Anh muốn báo tin cho gia đình ở Quy Nhơn không?
Thụy lắc đầu:
- Ý tôi muốn là Ngọc sẽ về Quy Nhơn. Đó là một trong mấy điều tôi ghi trong
thư. Đó cũng là điều tôi nhờ cậy Ngọc.
Nói nhiều, Thụy đã mệt. Tôi mở nắp bình thủy, đổ nước nóng vào một cái khăn mặt,
lau trán, lau cổ cho Thụy. Thụy đón nhận những cử chỉ săn sóc muộn màng của
tôi, hai mắt nhắm nghiền lại. Tôi ôn tồn:
- Anh nằm xuống kẻo mệt.
Trên nền gối, nét mặt Thụy nhẹ nhõm, thư thái. Thụy đang đợi chờ cái chết tới.
Đối diện với nó, không khiếp đảm, không chạy trốn. Căn phòng đột nhiên lặng như
tờ. Tiếng gió ngớt. Sự yên lặng càng đầy càng lớn. Những cơn gió phút này đang
tạm dừng chân ở những đáy lũng, nhưng lưng đồi. Tạm dừng chân thôi. Gió thổi suốt
một mùa đông Pleiku. Lát nữa gió lại lên đường. Ném cái buốt lạnh vào những cuộc
đời chông chênh bằng những ném tới bão táp. Và như thế cho tới sang năm, cho tới
mùa xuân.
- Ngọc muốn nói chuyện gì với tôi không?
- Anh nên nằm nghỉ.
Thụy nhếch mép cười:
- Đừng lo cho tôi, cái chuyện nằm nghỉ. Chuyện đó sẽ tới. Bây giờ tôi muốn nghe
chuyện Ngọc.
- Chuyện tôi với Khoa các anh biết cả rồi mà.
Thụy lắc đầu:
- Không phải chuyện đó.
Tôi ngạc nhiên:
- Còn chuyện gì khác nữa đâu.
- Có, Ngọc dấu. Tôi biết. Người sắp chết sáng suốt lắm. Nó biết được rất nhiều
điều những người khác không biết được. Tôi biết Ngọc có chuyện riêng. Đời Ngọc
có một người đàn ông khác. Người đó không phải là Khoa.
Tôi tròn mắt:
- Đúng. Nhưng sao anh biết?
Thụy không trả lời thẳng vào câu hỏi của tôi. Chỉ hỏi lại:
- Chuyện buồn lắm phải không?
Tôi gật, nghĩ đến cuộc tình khó hiểu, lạ lùng giữa tôi và Đạo:
- Buồn và không ra làm sao hết.
- Tôi đã gặp người đó lần nào chưa?
- Chưa.
- Sao vậy?
- Y ở xa. Không phải ở đây.
- Tôi cũng đoán thế. Không một người đàn ông nào ở Pleiku có thể làm Ngọc bận
tâm như tôi đang nhìn thấy sự bận tâm đó trên nét mặt Ngọc. Phải là một người ở
xa.
Tôi không muốn tỏ lộ chuyện tôi và Đạo với bất cứ một người nào. Đó là sự bí mật
tuyệt đối của đời tôi, bao nhiêu lần tôi đã nhủ thầm với tôi vậy. Tại sao, phút
này tôi lại muốn tâm sự, muốn tỏ lộ, muốn cái sự bí mật ấy không còn bí mật nữa?
Không hiểu được. Chỉ biết tôi đã kể, kể chuyện riêng của mình, đột nhiên như thế,
cho một người sắp chết nghe. Tôi ngồi thu chân lên giường. Tôi tỳ cằm vào đầu gối,
và bằng một giọng đều đều, tôi kể lại từ đầu.
- Năm ngoái đó anh Thụy. Cũng vào dịp này. Mùa mưa rồi mùa đông. Những trận
đánh khốc liệt diễn ra ở Khôngntum, trên ngọn đồi Chu Pao. Thị xã đầy đặc những
đoàn người chạy loạn. Chuyến máy bay chở tôi và Huyền về Sàigòn. Tôi đã gặp người
đàn ông trong chuyến bay đi lánh nạn ấy. Gặp y trước một quầy hàng khách sạn. Gặp
lại y nữa, trên một hành lang khách sạn. Chuyện tưởng chốc lát thôi, vậy mà đã
hơn một năm rồi, tôi vẫn không quên. Người đàn ông ấy hiện có mặt ở thị xã này.
Tôi muốn lánh mặt y mà không được. Tôi nhủ thầm với tôi là phải chấm dứt, phải
đoạn tuyệt, rồi tôi đã hành động ngược lại. Tôi biết tôi đang lao đầu xuống một
vực thẳm không đáy. Vậy mà tôi cứ lao đầu xuống, không kìm giữ được. .
Tôi ngừng kể. Suốt thời gian tôi nói, Thụy nằm yên lặng nghe, không tỏ một thái
độ nào.
Tiếng máy xe ngừng ngoài cổng. Vận đã trở lại. Vận vào với một gói thuốc. Thấy
Vận là thấy sự ồn ào. Bầu không khí riêng đây, thân mật giữa Dã Thụy và tôi đã
bị phá vỡ. Vận đặt gói thuốc xuống mặt bàn, nói với Thụy.
- Thuốc lấy ở tiệm bào chế của ông Khoa về cho cậu đây. Phải chịu khó uống mới
khỏi bệnh được.
Thụy đưa mắt nhìn gói thuốc như nhìn một thứ đồ vật xa lạ và kỳ quái. Với Dã Thụy
là thế. Chỉ có chứng bệnh kéo dài tới trạng thái trầm trọng, vô phương cứu chữa
chứ không có vấn đề chống bệnh, vấn đề thuốc thang. Thụy đau tim, đau phổi, thật
nặng. Cả Pleiku đều biết. Thụy không chịu uống thuốc, không chịu đi nằm bệnh viện,
điều này mọi người cũng đều rõ. Một vài hộp thuốc gởi tới muộn màng còn dùng để
làm gì? Tuy vậy, tôi vẫn hỏi:
- Anh uống thuốc nhé?
Thụy nhìn tôi gật đầu. Chỉ là chiều ý nhau, một lần cuối cùng. Chờ cho Thụy uống
thuốc xong, Vận hỏi tôi:
- Ngọc thấy thế nào?
Tôi nghiêm trang:
- Thụy không sao hết. Thôi, chúng mình về cho anh ấy nằm nghỉ.
Vận cười:
- Chớ không phải là nó sắp chết?
- Anh tưởng chết dễ dàng lắm sao?
Thụy hiểu ý nghĩa câu nói của tôi. Nhìn tôi Thụy gật:
- Phải. Chết không phải là một chuyện dễ dàng.
Tôi đặt tay lên tay Thụy:
- Chiều tôi sẽ đến thăm anh
Thụy xua tay:
- Để sáng mai đi.
Tôi ngạc nhiên:
- Anh không chịu gặp ai chiều nay?
- Không. Sáng mai. Cám ơn hai người đã tới thăm tôi.
Thụy không nhìn chúng tôi nữa. Mà nằm quay lưng trở lại xây mặt vào tường. Tôi
đưa mắt nhìn Vận. Chúng tôi cùng yên lặng đi ra. Phòng ngoài không sáng được
chút nào. Nó vẫn tối thẳm và ẩm thấp như lúc tôi đến. Cầm bức tranh trong tay,
tôi đi qua những khung vải nằm lăn lóc và lãng quên ở những chân tường. Những bức
tranh của Thụy cũng là hình ảnh con người và cuộc đời Thụy. Chúng thu hình
trong một đời sống riêng, như những vật thể hèn mọn nhưng cực kỳ kiêu hãnh, bởi
không có với chung quanh một điểm đồng nhất nào. Tôi chợt nhớ đến cuộc triễn
lãm năm ngoái của Thụy. Nhớ và vừa muốn bật cười vừa muốn chảy nước mắt. Cuộc
triển lãm ấy có là do tôi và Khoa. Mùa hè năm ngoái Thụy vẽ được thật nhiều
tranh. Sáng nào cũng vác giá lên đồi, vào rừng, tới chiều tối mới về. Thời giờ
và đời sống của Thụy suốt mấy tháng có nắng phần lớn dành cho hội họa, trước một
giá vẽ trồng giữa thiên nhiên mênh mông. Thấy có số tranh Thụy vẽ được đã nhiều,
tôi bàn với KHoa nên thúc đẩy Thụy bầy những bức tranh đó trong một cuộc triễn
lãm. Khoa nói nên lắm và dục Thụy tính tới chuyện đó. Thoạt đầu, Thụy không chịu.
Nói vẽ là vẽ chứ không phải để triển lãm. Nói bạn bè muốn xem tranh cứ việc đến
xưởng họa tự nhiên, bất cứ lúc nào, không cần phải tới một phòng triển lãm để
làm gì. Chúng tôi không chịu như vậy. Lý do thứ nhất tôi muốn người đời nhìn thấy
cái tài năng đặc biệt của Thụy. Để Thụy thấy, qua sự thán phục của người khác,
cuộc đời Thụy là một giá trị đích thực không nên xem thường, không nên hủy hoại.
Lý do thứ hai, thực tế hơn: nhờ cuộc triển lãm, Thụy sẽ bán được một số tranh,
có được một khoản tiền.
Thụy nghe chúng tôi thuyết phục, rồi cười:
- Không xong.
Tôi hỏi:
- Tại sao?
- Tôi lười lắm, chỉ biết vẽ, không làm được gì hêt, cũng không muốn làm gì hết.
Khoa:
- Bọn này làm hết cho cậu.
Thụy cười:
- Họa sĩ chỉ cần mang tranh tới?
- Cũng khỏi luôn. Đã nói là bọn này làm hết cho. Việc làm duy nhất của anh là
thu tiền bán tranh.
Chúng tôi làm hết cho Dã Thụy thật. Tuần lễ trước ngày triển lãm là một tuần lễ
thật bận rộn những cũng thật hào hứng. Số tranh định triển lãm là ba mươi bức.
Thụy phải vẽ thêm ba bức mới cho đủ số. Trong khi Thụy vác giá vẽ vào rừng, lên
đồi, chiếc xe jeep của Vận chạy đi chạy lại như con thoi từ xưởng họa đến một hội
quán mà chúng tôi đã mượn. Chúng tôi gọi thợ mộc tới đóng khung, trang hoàng
văn phòng hội quán, in thiệp mời và gởi thiệp tới tất cả những người giầu có ở
Pleiku, những người mà chúng tôi tin sẽ mua được tranh cho Dã Thụy. Chúng tôi đặt
tên cho từng bức tranh, bằng những tên thật thơ mộng và lãng mạn nhất. Một bức
tranh mang tên quán Nhớ vẽ một góc quán với Thụy thường đến ngồi một mình. Thụy
đòi trưng bày bức tranh vẽ chân dung tôi. Tranh được đặt tên là "Chủ
quán". Gần tới ngày triển lãm, công việc còn bừa bộn. Chúng tôi phải thức
mấy đêm để viết cho xong mấy tấm áp- Phích.
Tuần lễ đó, tôi đã nhìn thấy sự sung sướng của Dã Thụy. Chẳng phải vì tranh Thụy
được triển lãm, mà vì Thụy được sống đắm mình hoàn toàn, trong một bầu không
khí thân mật của bạn bè vây bọc. Rồi ngày triển lãm tới, cùng với những thất vọng
đắng cay não nề. Buổi sáng khai mạc phòng tranh, trời đang nắng ráo đột nhiên
mưa lớn. Trận mưa quái ác kéo dài tới trưa.
Giấy mời gởi đi mấy trăm chiếc nhưng quan khách chỉ tới dăm bảy người. Nhân vật
cao cấp của Pleiku mà chúng tôi mời tới cắt băng khai mạc phòng tranh cũng vắng
mặt. Ông ta cử tới một người phụ tá miễn cưỡng và quê mùa. Người phụ tá bỏ về
năm phút sau, sau khi ông ta đi lướt qua mấy chục bức tranh và tuyên bố là ông
ta không hiểu, không cảm thấy gì hết. Những ngày sau cũng không hơn gì. Phòng
tranh chỉ có bọn chúng tôi thay nhau đến mở cửa, đóng cửa thay cho Dã Thụy.
Khách đến xem tranh là mấy cậu học trò, và đám con nít. Không có ai hỏi mua một
bức tranh nào.
Phòng tranh mở cửa trong bầu không khí hào hứng, đóng cửa trong bầu không khí
não nề cay đắng. Chúng tôi không thấy sự thật, chỉ nhìn thấy ảo tưởng. Hội họa
không có chỗ đứng trong tâm hồn người dân tỉnh nhỏ chỉ biết cần cù làm ăn hay
mơ mộng vẩn vơ. Buổi chiều đóng cửa phòng tranh, chiếc xe jeep của Vận lại được
đem tới. Để thực hịên một chuyên chở buồn bã. Những tấm tranh chan hòa màu sắc
và đầy ắp rung động của Dã Thụy lại được đem trả về cái thế giới quên lãng âm
thầm của chúng là căn lều hoang ở cuối vườn, trong những xó góc tối tăm.
Chúng tôi chung tiền nhau đãi Thụy một bữa. Ai cũng sợ Thụy buồn. Nhưng không.
Trong bọn chúng tôi Thụy lại là người thản nhiên nhất. Chừng như sự cụt hứng của
chúng tôi là một điều hết sức thích thú với Thụy. Bữa ăn thân mật được tổ chức ở
một nhà hàng mới mở. Tiệm có một khoảng sân rộng, với những bàn ăn kê dưới những
bóng lá. Phòng ăn bên trong trang hoàng mỹ thuật. Chủ nhân là một thợ săn danh
tiếng ở Pleiku. Mấy vì tường của phòng ăn treo đầy những tấm hình chụp những cảnh
săn đêm giữa rừng sương mịt mùng và những con thú lớn mà chủ nhân đã hạ được.
Tôi còn nhớ mãi cái cảnh tượng nửa vui, nửa buồn, nửa ồn ào, nửa quạnh hiu, của
bữa ăn đó. Bàn kê thành một hàng dài. Khăn bàn đỏ chói. Chủ nhân đích thân đứng
hầu tiếp. Tôi ngồi giữa cạnh Khoa. Đối diện với tôi là Dã Thụy. Trên bàn là một
vò rượu cần với cái ống hút cong vút. Bữa ăn bắt đầu bằng món chim mía là món
ăn đặc biệt của tiệm. Theo chủ nhân, chim mía là món ăn đặc biệt nhất của
Pleiku. Du khách từ Sàigòn, Quy Nhơn lên, đều trầm trồ tấm tắc khi được thưởng
thức món chim mía, mà những vùng khác không có hoặc có, cũng không thể ngon bằng
chim mía Pleiku - Chủ nhân thuyết trình.
- Các anh chị là người Pleiku nhưng không phải muốn ăn chim mía lúc nào cũng
có. Chim mía nhỏ, nhỏ hơn chim sẻ. Thịt mía thơm, và ngọt hơn thịt chim sẻ.
Chim mía chỉ có vào mùa lúa chín. Khi ở những thung lũng Pleiku, lúa chín vàng
từng giải thì cũng là lúc chim mía xuất hiện từng đàn. Chúng bay bay là là trên
những ngọn lúa mẩy hạt. Người ta chăng lưới để bắt chim mía khi chúng sà xuống,
nhặt những hạt thóc rơi rụng. Chim mía chỉ ăn thóc. Cho nên thịt mía mềm và ngọt
là vì thế. Món chim mía hiếm quý bởi mía chỉ xuất hiện một thời kỳ. Mùa gặt
qua, thung lũng không còn những bông lúa chín, chim mía bay đến những thung lũng,
những vùng trời khác. Bữa ăn hôm nay để thết ai đây?
Tôi trả lời thay cho mọi người:
- Để đánh dấu ngày đóng cửa phòng tranh của anh bạn chúng tôi là họa sĩ Dã Thụy.
Chủ nhân tới bắt tay Dã Thụy.
- Kết quả khả quan không?
Thụy cười, khôi hài:
- Ngoài sự mong ước của mọi người.
Chủ nhân ngẩn người:
- Thế là thế nào?
Nhạc đập bàn, nói lớn:
- Thế là không bán được một bức tranh nào hết. Ông chủ nhà hàng này hỏi lẩm cẩm
quá. Còn thứ rượu nào nặng hơn rượu cần, đưa ra đây. Chúng tôi đang cần say đây.
Chủ nhân không giận mà phá lên cười. Ông ta thật đơn giản, hồn nhiên, sự đơn giản
và hồn nhiên của một người có một đời sống khoan thai và lành mạnh. Ông ta chỉ
vò rượu cần, hỏi Nhạc:
- Rượu cần không đủ say?
Nhạc nhổm người vít cái ống hút, hút một hơi rượu, nhăn mặt:
- Nhạt như nước ốc, say thế quỷ nào được.
Chủ nhân xoa tay:
- Đừng tưởng. Rượu cần uống nhiều cũng say lắm đó. Say lúc nào không biết.
Nhưng được rồi, thưởng thức món chim mía của nhà hàng đi, rồi muốn rượu khác sẽ
có ngay.
Ông ta vỗ vai Dã Thụy:
- Tôi có được nghe nói đến phòng tranh của ông. Rất tiếc vì bận, không tới xem
tranh được. Không có ai mua sao? Muốn triển lãm, ông phải đưa tranh ông xuống
Sàigòn. Để tôi mở hàng một bức.
Chỉ một khoảng trống trên vì tường sau lưng tôi, chủ nhân nói tiếp:
- Tôi sẽ treo bức tranh ông ở chỗ kia.
Rồi cao hứng:
- Bữa ăn hôm nay là nhà hàng mời. Khỏi tính tiền.
Chủ nhân cười bỏ vào nhà trong. Bữa ăn kéo dài tới khuya. Mọi người uống hết vò
rượu cần, uống sang nhiều thứ rựơu khác. Tôi chưa uống rượu bao giờ, cũng uống
một ly, cũng hút một ngụm rượu cần. Bữa ăn càng về khuya càng ồn ào. Thật ít
khi chúng tôi có dịp họp mặt đông đủ, một cách buông thả và ồn ào như thế. Thụy
uống thật nhiều, thật hào hứng. Vui miệng, Thụy kể cho cả bọn nghe về những
ngày đi vẽ của anh. Trên những ngọn đồi, trong những cánh rừng. Những ngày đó,
Thụy thường tìm nghỉ trưa trong một bản nhỏ nơi lưng chừng một ngọn đồi hay cuối
đáy một thung lũng. Ăn cơm nắm. Ngủ trên một nhà sàn. Thức dậy, xuống suối rửa
mặt rồi lại vác giá vẽ vào rừng.
Thụy kể rằng một chiều mưa đột ngột. Thụy không về thị xã được phải ngủ nhờ ở
nhà một tù trưởng người Thượng. Ông tù trưởng già thân hình đen bóng, đêm núi lạnh
buốt mà chỉ đóng một cái khố. Người Thượng rất hiếu khách. Người tù trưởng sai
vợ con giết gà thiết Thụy. Bữa ăn giữa nhà sàn, giữa bập bùng ánh lửa. Đứa con
gái lớn của người tù trưởng rất xinh đẹp, tự nhiên. Hai người không nói chuyện
được với nhau vì ngôn ngữ bất đồng. Nhưng người con gái ngồi cạnh Thụy, luôn
luôn mỉm cười. Đêm đó, Thụy và người tù trưởng uống hết một vò rượu cần. Thụy
say không còn biết trời đất là gì. Ngủ gục ngay ở chỗ uống rượu một giấc tới
sáng.
Thụy kể chuyện thật linh động. Như vẽ cho chúng tôi thấy cái cảnh tượng trước mắt.
Tôi hỏi đùa.
- Đêm đó anh với cô gái Thượng không có chuyện gì sao?
Thụy cười:
- Chắc là không. Hoặc có cũng chẳng nhớ được. Chỉ biết tôi đã ở lại nhà người
tù trưởng tới gần trưa hôm sau.
Tôi hỏi:
- Buổi sáng thức dậy anh thấy những gì?
- Thấy mình vẫn nằm ở chỗ cũ, với một tấm khăn sặc sỡ phủ lên người.
Khoa vỗ tay:
- Cô gái Thượng đắp chăn cho cậu đó.
Thụy gật:
- Chắc thế. Mặt trời lúc đó vừa mọc. Từ trong nhà sàn nhìn ra, rừng ban mai đẹp
huyền ảo. Cây cỏ còn mờ hơi sương. Lửa đã tắt. Vò rượu đã cạn. Người tù trưởng
đã đi làm rẫy từ sớm. Tôi lấy khăn xuống suối rửa mặt. Người con gái Thượng đã
xuống suối trước tôi. Cô ta đang lấy nước và vẫn mỉm cười thật tươi như đêm hôm
trước.
Thập hỏi:
- Hai người nói chuyện với nhau không?
Thụy cười:
- Có. Mình tôi nói thì đúng hơn?
Cả bọn nhao nhao:
- Nói những gì?
- Nói đêm qua tôi say rượu quá, tôi xin lỗi.
- Phản ứng của cô gái Thượng thế nào?
Thụy nhún vai:
- Cô ta chẳng hiểu gì. Chỉ gật đầu. Chỉ cười.
Tôi hỏi Thụy:
- Nói gì khác nữa?
- Nói, tôi xin từ biệt. Nói tôi yêu cái bản nhỏ, con suối, cánh rừng và tôi sẽ
trở lại.
- Anh có trở lại như anh nói không?
Nét mặt Thụy đang vui chợt buồn hẳn lại. Thụy gật đầu, ánh mắt mơ màng:
- Sau đó mùa mưa đã tới thành ra mấy tháng sau tôi mới trở lại. Người tù trưởng
đã đem gia đình đi nơi khác, đến một cánh rừng khác.
- Và anh không bao giờ gặp lại cô gái Thượng?
- Không. không bao giờ nữa.
Thụy ngừng kể. Nét mặt bất chợt xa hút trong một hồi tưởng lưu luyến. Cả bọn
nhao nhao hỏi mấy bức tranh vẽ người con gái Thượng có phải là vẽ người Thụy đã
gặp hay không. Thụy gật. Tôi rất yêu mấy bức tranh ấy. Chính tôi đặt tên cho
chúng. Bức vẽ người con gái Thượng xõa tóc bên bờ suối, tôi đặt tên là Suối
Tóc. Bức vẽ nàng ngồi trên nhà sàn, với ánh lửa bập bùng vờn múa trên khuôn mặt
huyền bí được đặt tên là Đêm Hoang Đường. Thụy tỏ ý thích mấy tên đặt. Nói tôi
có tâm hồn thi sĩ. Tôi nghĩ đáng lẽ Thụy còn phải vẽ thêm nhiều bức tranh khác
về cái bản nhỏ heo hút và người con gái Thượng tươi cười kia. Vẽ cảnh Thụy trở
lại bản. Đứng lặng trước cái nhà sàn bỏ trống, vẽ cảnh suối, cảnh rừng. Nơi Thụy
đã tìm thấy cho Thụy thứ hạnh phúc chốc lát, là cái hình ảnh một ngày nắng đẹp
của Pleiku giữa trăm ngày mưa rơi. Thụy, qua cái nhìn của tôi, cũng là một người
Thượng. Một người Thượng sống cách biệt, xa lánh trong một thung lũng riêng của
mình. Giữa một vùng cỏ cây hoang vu ngút ngàn vây bọc.
Cánh cửa gỗ khép lại sau lưng. Bầu không khí tối tăm tù hãm đã trở lại. Tôi thở
ra một hơi dài. Chúng tôi bước chậm chạp, đầu cúi xuống. Thụy đang chờ chết,
cái chết đến chắc chắn, từ từ. Chúng tôi nhìn thấy nó đến và không làm được gì
cho Thụy hết. Tất cả đều đã muộn. Ra tới cổng, Vận và tôi cùng đứng lại, tần ngần.
Buổi trưa Pleiku xám ngắt. Trần mây thấp. Thêm một ngày Pleiku không có mặt trời.
Gió thổi mạnh. Một mùa đông Pleiku đã thực sự bắt đầu.
Vận quay nhìn lại túp lều gỗ. Căn lều như một nấm mộ, một lòng huyệt. Vận chép
miệng:
- Mong nó qua khỏi được mùa đông này.
Tôi lắc đầu:
- Khó lắm. Mùa đông còn dài. Mùa đông chỉ mới bắt đầu.
- Ngọc nghĩ nó còn sống được bao lâu nữa?
- Một vài ngày. Một vài tuần. Nhưng không hết được mùa đông này đâu.
- Tôi cũng nghĩ vậy.
- Chẳng lẽ cứ để mặc cho anh ấy chết sao?
- Mình phải làm gì?
- Anh gặp các anh ấy xem sao?
Vận gật đầu:
- Cũng là một ý kiến hay. Để tôi phóng xe đi liên lạc. Phải có một cuộc họp.
Ngày mai mọi người gặp nhau ở quán Nhớ được không?
- Được chứ.
- Bây giờ tôi đưa Ngọc về.
Tôi xua tay:
- Anh tìm gặp các anh ấy đi. Tôi về một mình cũng được. Tôi muốn đi bộ một
chút.
Đường từ nhà Thụy về quán Nhớ khá xa. Tôi cài hết hàng khuy nơi chiếc áo len,
bước những bước đều đều bên bờ cỏ. Gió thổi ngược lại từ đầu phố. Đi được một
quãng, tôi chợt nhớ tới lá thư của Thụy. Tôi mở sắc tya, lấy bì thư ra. Chúc
thư của người sắp chết đây. Câu nói của Thụy nửa bi thảm, nửa riễu cợt, lúc
trao lá thư vang lên trong đầu. Tôi vừa đi, vừa chăm chú đọc.
Ngọc thân,
Tới đêm nay, điều tôi biết được, rất chắc chắn cho mình là tôi chẳng còn sống
được bao lâu nữa. Cuộc sống của tôi chỉ còn là một vấn đề ngày giờ. Tôi có thể
chết bất cứ lúc nào. Đêm nay hay sáng mai. Cho nên lá thư chưa định viết cho Ngọc,
đêm nay phải viết. Viết cho NGọc, đó là việc cuối cùng tôi muốn làm trước khi từ
giã cuộc đời này. Chắc Ngọc đang đặt câu hỏi: Tại sao tôi không viết cho một bạn
thân khác. Như Khoa hay Nhạc. Câu trả lời đơn giản là Ngọc thân thiết nhất
trong số những người thân của tôi. Lúc này hình ảnh Ngọc sáng tỏ hơn bao giờ,
trong khi mọi hình ảnh khác đều xa xôi, mờ nhạt. Ngoài tình thân, tôi còn muốn
nghĩ Ngọc là người duy nhất hiểu tôi, mặc dầu vấn đề này hơn một lần được nói đến,
được đặt ra giữa chúng ta.
Ngọc à, thế là cuối cùng tôi đã không trở về Quy Nhơn với gia đình tôi được.
Tôi sẽ chết ở đây, ở Pleiku.
Từ ngày biết tôi đau, đã nhiều lần Ngọc thúc dục tôi trở về với gia đình. Tôi
biết sự trở về đó là phải. Quy Nhơn ấm áp hơn Pleiku nhiều lắm. Không khí nóng
của miền biển thích hợp với tôi hơn là thứ không khí lạnh của núi rừng ở
Pleiku.
Về Quy Nhơn, tôi có nhiều hy vọng khỏi bệnh hay ít nhất căn bệnh cũng không đến
nỗi trầm trọng như ở trên này. Về Quy Nhơn sống, không chừng tôi tìm lại được
cho tôi một nếp sống bình yên. Mà dẫu có về Quy Nhơn để chết, chết ở Quy Nhơn vẫn
hơn. Ít nhất, cái chết của tôi sẽ không làm phiền bạn bè và Ngọc.
Cái hơn, cái thiệt, cái nên và cái không nên ấy, tôi biết. Quy Nhơn cũng chẳng
xa xôi gì. Chỉ cần lấy một cái vé xe, bước lên một chuyến xe đò, xe đổ đèo An
Khê là tôi đã trở lại với vùng trời sinh trưởng. Vậy mà lời khuyên của Ngọc tôi
đã không nghe, chỉ vì trong thâm tâm, ngay tự lúc đầu, tôi đã lựa chọn Pleiku để
chết.
Nhớ năm đó là vào khoảng tháng chín. Thời tiết vào thu, tôi vừa hai mươi tuổi.
Chiều chiều tôi ra bãi biển Quy Nhơn, đi dạo một mình. Tôi nhìn những dấu chân
tôi in trên bãi cát. Nhìn triều lên, nhìn thuyền về. Nghe sóng đập. Cảm thấy
mình ở trong tâm hồn mình, một thay đổi hết sức lớn lao. Tôi không quy định được
rõ rệt sự thay đổi ấy như thế nào, chỉ biết rằng tôi không sống được với Quy
Nhơn nữa. Sự thúc đẩy hàm hồ mà cực kỳ mãnh liệt.
Cho đến một buổi sáng kia, tôi bỏ nhà, bỏ Quy Nhơn lên đường. Chuyến đi không
có một chủ đích nào. Cuộc hành trình lang thang vô định. Tôi có một người bạn dạy
học ở Tuy Hòa. Tôi đến Tuy Hòa trước nhất. Người bạn không còn dạy ở đó, lớp học
của anh ta đóng cửa, người ta cho tôi biết anh ta đã nhập ngũ. Tôi ở lại Tuy
Hòa hai ngày. Lại như ở Quy Nhơn, đi lang thang có một buổi chiều ngoài bãi vắng.
Ban đêm, tôi về một căn phòng khách sạn tồi tàn, nằm thao thức, cố tìm kiếm một
gắn bó tối thiểu với nơi chốn, với sự thể chung quanh. Nhưng tôi không thấy được
gì hết. Tuy Hòa như Quy Nhơn không giữ tôi ở lại. Mà Tuy Hòa như Quy Nhơn, đẩy
tôi lên đường. Mấy ngày sau tôi ở Nha Trang. Ở Phan Rang, ở Phan Thiết. Cuối tuần
tôi vào tới Sàigòn. Tôi đi thật nhiều trong mấy tuần lễ, di chuyển gần như
không ngừng, không nghỉ ấy. Tôi sống, với những chuyến xe đò. Tôi sống với những
căn phòng khách sạn. Với những giòng sông đi qua, với những cây cầu bỏ lại.
Sàigòn giữ tôi ở lại lâu hơn giữa cái biển người và biển tiếng động của nó.
Nhưng lâu hơn cũng chỉ một tuần. Tôi lại đi nữa. Lên những chuyến xe đò khác.
Qua những cây cầu, những giòng sông mới. Chuyến đi đưa tôi về mấy tỉnh miền
tây.
Tôi đã ngồi trên bờ sông Mỹ Tho, một đêm sao sáng rực trời. Đã đến Long Xuyên
giữa một chiều nhạt nắng. Đã đến bắc Vàm Cống giữa một trận mưa rào đột ngột.
Đã ngồi thuyền đi trên giòng Cửu Long, giờ nước triều lên. Miền Tây mênh mông.
Những kinh rạch, những sông ngòi chằng chịt. Những đồng lúa, những thửa vườn
bát ngát. Trời miền Tây cao vút. Nắng miền Tây chan hòa. Tôi đã đặt giá vẽ ở
nhiều nơi. Dưới bóng mát một rừng dừa. Trên trống trải một đầu cồn. Tôi đã vẽ nắng,
vẽ trời, vẽ lúa, vẽ sông, vẽ người miền Tây. Tất cả, trong những bức tranh mang
những mầu sắc của miền Tây là những mầu sắc tươi vui và rực rỡ nhất.
Nhưng điều kỳ lạ, như ở Sàigòn, như ở Quy Nhơn, Phan Thiết, cái lòng mến yêu gắn
bó với một nơi chốn, tôi vẫn chưa tìm kiếm thấy. Nơi chốn nào cũng chỉ là một địa
chỉ đi qua, không là một địa chỉ muốn dừng chân. Hóa nên, tôi lại đi mà không ở
lại. Bấy nhiêu nơi chốn chỉ là bấy nhiêu căn phòng khách sạn, trống lạnh. Rửng
rưng. Ở lại một đêm, một ngày, rồi bỏ đi, thản nhiên, không lưu luyến. Tôi vẽ,
cũng chỉ là gắng gượng vẽ. Để lấp đầy những khoảng trống. Hơn là để thực hịên một
thích thú say đắm.
Sau hơn hai tháng trời lang thang, tôi chán nản trở về Sàigòn. Đã nghĩ là phải
trở lại Quy Nhơn, vì chuyến đi không đem lại được cho mình một đổi thay nào hết.
Buổi tối trước ngày tôi định trở về Quy Nhơn, còn bao nhiêu tiền, tôi đem tiêu
hết trong những quán rượu. Chính là ở một trong những quán rượu này mà tôi gặp
Quân. Khỏi phải nói nhiều đến Quân với Ngọc. Người bạn ấy của chúng mình đã chết.
Tôi quen Quân đêm đó. Hai thằng cùng say lúy túy.
Quân nói Quân ở Pleiku. Tôi hỏi:
- Pleiku như thế nào?
Quân:
- Chưa lên Pleiku bao giờ?
Tôi lắc đầu:
- Pleiku gần quê tôi. Tôi người Quy Nhơn. Điều lạ lùng là tôi chưa từng một lần
vượt đèo An Khê. Thành ra chẳng biết Pleiku của anh tròn méo như thế nào hết.
Quân nói trong cơn say:
- Thì lên cho biết.
Tôi trả lời, cũng trong cơn say:
- Lên thì lên. Nhưng Pleiku có gì đáng biết, anh chưa trả lời tôi.
Quân vung tay:
- Có phố thấp, phố cao. Có những con phố tình thân. Có mưa và sương mù quanh
năm. Có cả những người con gái má đỏ môi hồng.
- Tại sao gái Pleiku má đỏ môi hồng?
- Tại vì họ đẹp nhưng chẳng biết đẹp để làm gì?
Tôi gặng:
- Những người con gái buồn của một thị xã buồn?
- Đúng vậy. Buồn thì Pleiku không thua một nơi nào hết.
Tôi nghe Quân, mở ví kiểm lại số tiền không đủ mua một cái vé máy bay. Quân nói
Quân vừa được bạc, có thể trả cho tôi một cái vé máy bay nếu tôi muốn lên chơi
Pleiku một lần cho biết. Đêm đó, tôi theo Quân về khách sạn Quân ở. Trưa hôm
sau một chiếc DC3 chở tôi lên Pleiku. Và sự mầu nhiệm đã xẩy ra.
Ngọc biết sự mầu nhịêm ấy xẩy ra như thế nào không? Nó xẩy ra ngay từ phút đầu
tiên, khi phi cơ bay vào không phận Pleiku. Nó xẩy ra ngay từ chạm đụng thứ nhất,
khi tôi đặt chân xuống phi trường Cù Hanh. Hôm đó là một buổi sáng mưa phùn. Trời
lạnh. Phi trường trống trải. Con đường vào thành phố ướt loáng. Tôi ngồi trên
xe, bên cạnh Quân và cái ý nghĩ đầu tiên của tôi là nơi chốn tìm kiếm suốt mấy
tháng trời, tôi đã gặp, tôi đã đến Pleiku và tôi sẽ ở lại Pleiku.
Những chuyện xẩy ra về sau, Ngọc đã biết, tôi khỏi phải kể lại ở lá thư này.
Tôi ở một túp lều hoang. Tôi sống điêu đứng thiếu thốn. Khí hậu và thời tiết
Pleiku quá lạnh cho lồng ngực tôi. Bệnh phổi tái phát dữ dội. Trên một ý nghĩa
nào Pleiku đẩy mạnh tôi vào cõi chết. Nhưng trên một ý nghĩa khác, nơi chốn này
là tình nhân một đời. Chắc Ngọc sẽ hỏi tôi, Pleiku có gì gắn bó, thương yêu như
vậy? Thú thật với Ngọc tôi không trả lời được Ngọc một cách rõ rệt. Chỉ biết là
tôi yêu, tôi gắn bó, tôi ở lại, tôi lựa chọn Pleiku để sống phần đời cuối cùng,
tôi ưng thuận Pleiku như nơi chốn đã nhìn thấy tôi đau, sẽ nhìn thấy tôi chết.
Gọi tình yêu này là một cảm thông đặc biệt của một nơi chốn với người. Cũng được.
Gọi đó là một cơ duyên giữa người và nơi chốn. Cũng được. Thế nào cũng được. Sự
phân tích không quan trọng. Tình yêu không giải thích, không tìm hiểu được. Ta
yêu, ta gắn bó, ta sống chết, thế thôi vô điều kiện.
Ngọc thân, bây giờ thì Ngọc đã hiểu, một phần nào tại sao tôi không nghe lời Ngọc,
không trở về Quy Nhơn. Nói đến tình yêu của tôi với cái thị xã khuất lánh này,
nói nghìn trang thư không hết. Tôi yêu từ ngọn cỏ đường yêu đi. Yêu trận mưa
phùn, yêu khúc phố cao, yêu lòng phố thấp. Nói tóm lại ở đây, tôi đã được sống
đời tôi, thế nào cũng không ân hận.
Điều ân hận duy nhất, cái chết của tôi chắc chắn làm phiền mọi người. Và chắc chắn
hơn cả là nó sẽ làm phiền Ngọc. Thôi thì làm cái việc đó cho một người bạn. Hãy
chôn tôi, đơn giản, như một con vật. Dưới chân một ngọn đồi. Trong một bãi cỏ
hoang. Đâu cũng được. Miễn là trên một thuở đất Pleiku, quê hương tình cờ của
tôi.
Về những bức họa, tùy Ngọc xử dụng. Thích bức nào, đem về treo ở quán Nhớ. Còn
thì đốt đi, hay triển lãm. Tùy Ngọc. Nhưng đừng triển lãm. Sẽ như lần trước,
không ai mua tranh Dã Thụy đâu.
Riêng với Ngọc, tôi chỉ ao ước một điều. Đừng quên tôi. Vĩnh biệt.
Dã Thụy"
Lá thư của Thụy không làm tôi ngạc nhiên vì Thụy đã nói. Rằng đó là chúc thư của
người sắp chết. Nhưng những lời lẽ trong thư vẫn làm trái tim tôi nhói buốt. Vì
xúc động. Vì đau đớn. Cùng với những ý tưởng u uất làm tối đen đầu óc, tôi cảm
thấy tay chân rời rã, cơ hồ không bước tiếp được nữa. Nhìn sang bên cạnh, cách
con đường chừng hơn trăm thước là một quả đồi nhỏ.
Tôi đi xuống cái lối đi chìm khuất dưới cỏ cao um tùm. Ngọn đồi mang một hình
dáng quen thuộc, đã nhìn thấy đâu đó. Vừa đi vừa vận dụng trí nhớ, mới chợt nhớ
ra là ngọn đồi tôi đang đi tới đã được Dã Thụy ghi vào một bức tranh. Thụy đã đến
ngọn đồi, đã đi trên lối mòn tôi đang đi. Nhưng trưa nay chỉ còn mình tôi. Tất
cả những nơi chốn cũ. Dã Thụy đều không bao giờ trở lại với chúng được nữa.
Nhìn từ xa, thấy ngọn đồi lùn thấp. Tới gần, mới thấy nó khá cao. Tôi đi qua những
mô đá, những phiến đất đỏ khé, cố gắng leo tới đỉnh đồi. Tới rồi. Tôi dừng bước,
thở dốc một hồi và quay nhìn trở lại.
Pleiku thấp hẳn xuống, phơi bầy toàn vẹn trước mắt tôi. Những mái nhà tôn nằm
dưới những bóng cây. Những con đường lúc mất lúc hiện. Phía kia, một tháp nhà
thờ in hình lên trời. Phía này, những thung lũng và những ngôi nhà cao thấp
không đều như chồng chất lên nhau.
Anh Dã Thụy, Pleiku mà anh yêu mến, Pleiku nơi anh đã dừng gót chân lữ thứ và
chết trong lòng đất của nó, tôi đang nhìn hộ anh đây. Nhìn tất cả hộ anh trong
một lần. Những danh lam thắng cảnh ở xa. Chính nó, thị xã chẳng có một vẻ đẹp
nào hết. Tỉnh nhỏ này tiều tụy hơn là lộng lẫy. Buồn bã hơn là tươi sáng. Xấu
hơn là đẹp. Tại sao anh yêu? Tại sao anh gắn bó? Tôi đặt câu hỏi với anh. cho cả
tôi. Có lẽ chúng ta vẫn chỉ trả lời được rằng, chúng ta yêu, thế thôi, và tình
yêu đích thực là tình yêu không bao giờ giải thích được.
Đứng trên ngọn đồi nhìn Pleiku dưới thấp, nghĩ đến Thụy nằm cô đơn trong túp lều
tối thẳm, tôi chợt nhớ đến Đạo. Đạo với tôi, cũng như Pleiku với Thụy. Yêu. Gắn
bó. Chẳng hiểu sao. Không giải thích được. Thì ra mình và Thụy có điểm giống
nhau, tôi nhủ thầm. Cả hai chúng tôi đều yêu cái bất thường, biết thế là không
nên, nhưng không tài nào làm khác được.
Mấy hôm nay, tôi không nhìn thấy Đạo. Không gặp cũng không đến khách sạn. Quên
được Đạo cũng không đúng. Nhớ cũng không đúng nốt. Tâm trạng mơ hồ không biết
nói thế nào cho phải. Đạo vĩnh viễn là một sự khó hiểu của tôi. Kể cả những lúc
tôi nằm bên cạnh chàng.
Đêm, Đạo không ngủ. Rất thỉnh thoảng chàng có những khoảng khắc rũ rượi vì mệt
nhọc. Những lúc đó chàng ngủ mê mệt bỏ cả bữa ăn không phân định được ngày đêm.
Nhưng thường thì, chàng tỉnh táo, một thứ im lặng trong suốt như thủy tinh. Hai
tuần lễ ở một khách sạn Sàigòn, tôi đã sống với Đạo những giờ phút không thể
thân mật hơn giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhưng đồng thời, cũng
sống với chàng những giờ phút không thể cách biệt hơn giữa một người đàn ông và
một người đàn bà.
Không hiểu bị thúc đẩy bởi sự tò mò, tôi thường đòi chàng nói về chàng, nói về
con người chàng, về cuộc đời chàng.
Đạo cười, trong trường hợp này:
- Em muốn biết về anh như thế nào?
- Con người anh.
- Tầm thường. Thấp kém. Như mọi người, không có gì đáng nói.
- Thì đời sống anh vậy.
- Đầy những cái xấu.
- Chẳng hạn như?
- Chẳng hạn như năm ngoái anh làm bậy, phải ra khỏi Sàigòn sáu tháng.
- Ra khỏi là anh đi đâu?
Đạo thản nhiên:
- Đi tù.
- Anh đừng nói đùa.
- Anh nói thật. Năm ngoái, anh phải ở trong khám Chí Hòa sáu tháng.
Rồi Đạo kể. Về sáu tháng ở tù. Về phiên tòa. Về khoảng thời gian ở Chí Hòa. Người
ta đến bắt Đạo vào khoảng nửa đêm lúc chàng đang ôm một người con gái bán vui
trong tay. Đang ngủ say, tiếng đập cửa mạnh mẽ làm Đạo thức dậy. Đứa con gái
bán vui thức dậy theo. Nó hoảng hốt: "Có chuyện gì thế anh? " Đạo trả
lời: "Anh bị bắt. Em mặc quần áo vào. Sau khi anh đi, em lấy xe về, đừng ở
đây". Đứa con gái bán vui tưởng Đạo nói đùa.
Nó thất sắc, mặt không còn hột máu, khi Đạo mở cửa cho mấy người cảnh sát ùa
vào. Đạo không kháng cự, cũng không chạy trốn. Chàng yêu cầu mấy người cảnh sát
đừng bắt người con gái, đoạn chàng mặc quần áo và lẳng lặng đi ra. Tới quận,
chàng nhận hết tội lỗi và bị tống giam liền sau đó.
Đạo cười:
- Điều làm anh bất ngờ nhất là chỉ bị tù sáu tháng.
- Anh nghĩ anh bị tù bao lâu?
- Ít nhất ba năm.
Tôi vừa buồn cười vừa bực mình:
- Tại sao lại chỉ sáu tháng?
- Khi bị tống giam và bị kết án rồi, anh mới hiểu tại sao. Có một người bạn đã
lo liệu cho anh. Một luật sư. Anh ta tìm đến gia đình bên nguyên, điều đình gia
đình đó không kiện anh, nghĩa là xin miễn tố. Tòa vẫn xử như thường. Nhưng bên
nguyên xin miễn tố, thành ra chỉ bị tù sáu tháng.
Tôi hỏi:
- Anh bị tù về tội gì?
- Lừa đảo.
Tôi nhăn mặt:
- Anh có thấy như thế là xấu không?
Đạo gật:
- Sao không thấy.
Tôi nghiêm mặt:
- Thấy xấu mà anh vẫn làm.
- Đúng vậy. Thấy xấu mà vẫn làm.
Chuyện đi tù, chuyện làm bậy, đối với Đạo chỉ là một khía cạnh trong rất nhiều
khía cạnh thuộc đời sống của chàng. Chàng nhắc lại vụ lừa đảo bằng một giọng
không khoe khoang. Cũng không mảy may ân hận. Thành ra, tôi muốn tìm hiểu Đạo,
lại càng chỉ thấy chàng khó hiểu hơn.
Với Đạo giữa cái xấu và cái tốt không có ranh giới phân định rõ rệt. Với Đạo,
không có những ngõ hẻm tối tăm hay những con đường sáng láng, chỉ có những con
đường. Đêm và ngày ở Đạo trộn lẫn, đỉnh cao và vực thẳm cùng một bình diện. Và
Đạo sống cho Đạo thế nào thì cũng nhìn người khác sống như thế.
Đêm thất thân với Đạo, sau những phút giây buông thả điên cuồng, tôi nằm lịm đi
rồi bật khóc. Đạo thản nhiên châm thuốc lá hút, thản nhiên nằm nhìn tôi khóc.
Tôi đợi chờ một câu an ủi, một lời dỗ ngọt. Nhưng Đạo không nói một lời. Chỉ thả
khói thuốc xanh um lên trần nhà. Cụt hứng, tôi nín khóc. Không được dỗ dành,
tôi tức giận. Tôi hậm hực:
- Em khổ sở, anh không nói được một lời nào hay sao?
Đạo quay sang:
- Anh chỉ đang ngạc nhiên.
- Ngạc nhiên?
Đạo gật, giọng nói tỉnh táo như không?
- Phải. Tại sao em khóc?
Tôi đáp, rất tiểu thuyết và cũng rất thành thực:
- Vì em vừa phá hủy đời em. Bây giờ có hối cũng không kịp nữa.
- Anh không nhìn thấy cho đời em sự phá hủy đó.
Tôi vùng nói lớn:
- Thế nào nữa mới là phá hủy? Em còn mặt mũi nào nhìn thấy người đàn ông sắp cưới.
Anh quyến rũ em, đẩy em tới chuyện tồi bại rồi anh thản nhiên, anh bình tĩnh
như không.
Đạo nghiêm giọng:
- Cả hai điều đều sai. Anh không làm chuyện tồi bại. Đó là điều thứ nhất. Điều
thứ hai, anh không hề quyến rũ em. Chỉ là em muốn.
Tôi nghe mà ngẩn người. Cũng phải công nhận rằng Đạo không quyến rũ. Mà là tôi
muốn thật. Đêm hôm đó, tôi đã vào phòng Đạo Vì muốn nếm mùi đam mê đến giọt mật
cuối cùng. Vì muốn trở thành đàn bà. Đạo chỉ nói một sự thật. Nhưng cái lối nói
ra một sự thật ở Đạo là thế. Lạnh lùng, thản nhiên và tàn nhẫn đến tận cùng.
Đáng lẽ tôi phải đi xa. Xa lánh Đạo như xa lánh một tai họa cực kỳ ghê gớm.
Nhưng tôi đã nằm yên. Cuối cùng tôi bật cười thành tiếng. Cảnh tượng thật ngộ
nghĩnh. Tôi vừa khóc rồi tôi đã bật cười. Đạo cất tiếng cười theo. lúc đó,
chàng mới ôm lấy tôi:
- Thế có hơn không?
Đặt mái tóc vào vai Đạo, tôi hỏi:
- Em không đáng chê trách thật sao?
Đạo hỏi lại:
- Vừa có tội vừa làm bậy. Một tội lỗi tầy đình không thể tha thứ. Một sự tầm bậy
phải trừng phạt đích đáng.
Đạo chỉ khung cửa sổ mở rộng:
- Cửa sổ kia, em chỉ nhẩy xuống dưới đường. Em sẽ chết không kịp kêu một tiếng.
Tội lỗi tầy đình không thể tha thứ sẽ được trừng phạt đích đáng.
Câu nói nào của Đạo cũng như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt. Tôi tức lắm
nhưng đành nằm im. Đêm đó, như một ngoại lệ cho sự ít nói của chàng. Đạo nói
khá nhiều. Chàng bảo tôi rằng tôi đã lớn, đã có một đời sống, cái việc đơn giản
là tôi hãy sống đời tôi, không rụt rè, không ân hận. Cốt nhất là đừng bao giờ
ân hận, Đạo nhấn mạnh và nhắc đi nhắc lại câu nói nhiều lần.
Tôi ngẩn ngơ:
- Tại sao vậy?
Đạo nhún vai:
- Người không thôi ân hận là người chẳng sống được gì hết. Người không thôi ân
hận sẽ tự làm khổ mình suốt đời.
- Nếu em nghe anh, em phải làm gì?
- Trở lại đây với anh nếu em vẫn còn muốn trở lại. Không thích nữa thì thôi. Em
hoàn toàn tự do.
Và tôi, đêm hôm sau, tôi đã trở lại với Đạo. Và tôi, phút này, đứng một mình
trên ngọn đồi, lẻ loi, trơ vơ hơn bao giờ, tôi lại muốn gần Đạo.
Chiếc xe lam thả tôi xuống xế cửa khách sạn. Khúc đường lúc này nhộn nhịp chứ
không trống trải vắng lặng như lần trước. Tôi trả tiền xe nhìn lên, vui mừng thấy
cửa phòng Đạo mở rộng. Không muốn nghĩ ngợi gì thêm, tôi băng mau qua đường. Sự
hồi hộp làm cho trái tim tôi đập mạnh. Phút này, nếu có gặp một ai quen, tôi vẫn
vào khách sạn như thường. Sống là không bao giờ ân hận về những hành động của
mình. Đạo đã nói với tôi như vậy. Tôi đang sống như Đạo đã nói.
Người đàn bà ngồi chắn lối giữa thềm cửa đêm nào không còn ngồi ở chỗ cũ nữa.
Chiếc ghế bành cũng đã được kê vào một góc, trước quầy hàng. Mấy người khách tiếp
tục đi lên đi xuống. Họ là những người lạ mặt. Bên trong quầy hàng, cái ghế ngồi
cũng trống trơn. Yên tâm, tôi đi thẳng lên cầu thang. Tới lưng chừng cầu thang,
một tiếng gọi lớn giữ tôi đứng lại:
- Cô kia, kiếm ai đó?
Tôi đành quay trở xuống. Người đàn ông đã đứng tuổi, nét mặt đứng đắn, cái nhìn
bình tĩnh. Ông ta tự giới thiệu:
- Tôi là quản lý.
Tôi trả lời, như lần trước:
- Tôi đến kiếm một người bạn ở đây.
Người đàn ông gật:
- Tôi biết. Cô là chủ nhân quán Nhớ phải thế không? Lần trước, cô tới đây thằng
nhỏ đã báo cáo cho tôi biết. Bạn cô không còn ở đây nữa.
Đạo đã rời bỏ Pleiku. Đạo đã xa, tôi không còn nhìn thấy Đạo. Sự thất vọng bất
chợt mà đau đớn. Cùng với lời nói của người đàn ông, tôi hẫng đi trong một cảm
giác bàng hoàng. Tôi nghe thấy tiếng mình.
- Bạn tôi đi rồi thật sao?
Người đàn ông gật:
- Tôi nói dối cô làm gì. Ông ta đi rồi. Đi từ sáng sớm hôm qua.
Tôi nghe thấy tiếng mình hỏi:
- Bạn tôi có nói sẽ trở lại?
- Không. Lúc ông ta đi, tôi có mặt ở đây. Ông ta trả tiền phòng, xách va ly đi
ra và không nói, không dặn gì hết.
Đạo đã làm theo ý tôi. Lần tới khách sạn, tôi đã chẳng nói với chàng là tôi
không trở lại, tôi tới chỉ là để yêu cầu chàng rời khỏi Pleiku, tôi tới gặp
chàng lần cuối cùng. Không bao giờ Đạo làm phiền tôi nữa. Chiều ý tôi, chàng đã
để cho tôi được yên thân. Tại sao tôi đau đớn? Ngọc, mày điên, mày điên.
- Ông xem dùm có thư từ gì để lại cho tôi không?
Người đàn ông lắc đầu:
- Nếu có, tôi phải biết. Cô cần gặp ông ta lắm sao?
- Không. Không. Thôi cám ơn ông.
Tôi chào người quản lý, quay trở ra. Tôi rảo bước, đầu cúi xuống, hai gò má
nóng bừng. Đạo còn ở khách sạn chưa chừng lên tới phòng chàng, tôi nghĩ lại, sẽ
quay trở xuống. Đạo bỏ đi, lặng lẽ, không để lại một lá thư, tôi lại thấy hối
tiếc vô chừng đã không lại khách sạn với Đạo sớm hơn. Lần đầu tiên, con người
thứ hai ở tôi đã bị con người thứ nhất đánh bại.
Một ý tưởng liều lĩnh đột ngột xuất hiện: hay là về tìm Đạo ở Sàigòn? Lấy một
cái vé máy bay. Đóng cửa quán Nhớ vài ngày hay giao quán cho Huyền trông nom.
RA phi trường Cù Hanh. Thế là xong. Thế là sống như một cơn lốc, như Đạo nói.
Tưởng tượng đến cái phút gặp Đạo ở Sàigòn, trong hai người chúng tôi, người
kinh ngạc là Đạo, tôi đã thấy náo nức. Tôi sẽ vênh mặt, nói với Đạo: "Hai
chúng ta, ai liều lĩnh hơn ai? " Đạo sẽ phải gật đầu, công nhận: "Em
liều lĩnh hơn".
Tôi không đi thẳng ra hãng máy bay chỉ vì tôi không tin chắc về Sàigòn có gặp
được Đạo hay không? Rất có thể, chàng đang ở một tỉnh khác. Cũng rất có thể,
chàng về Sàigòn thật, nhưng không ở khách sạn cũ, và như thế, tôi không thể nào
kiếm thấy chàng trong cái biển người đông đúc xa lạ. Lòng tôi rối bời. Tâm trạng
hoang mang hơn lúc nào hết. Tôi bước xuống thềm khách sạn như người mất hồn.
Phút này, tôi mới nhận thức được một điều. Rằng nếu tôi có một quá khứ và những
kỷ niệm, là do Đạo mà có. Rằng nếu tôi có một đời sống. Đạo chính là người khai
sinh tôi. Sống với Khoa, với Dã Thụy, với Nhạc chỉ là sống ở cái vòng ngoài. Một
thứ vòng ngoài rất yếu. Sống với Đạo, mới là cái trung tâm, cái gốc nguồn. Thứ
sống một phút, nhớ thành một đời. Thứ sống một giây thành cả nghìn năm. Chỉ có
điều là khi biết, tất cả đã muộn. Cửa phòng chàng vẫn mở. Nhưng một khách trọ
khác đã đến ở đó. Đạo rời khỏi Pleiku rồi. Mọi chuyện coi như là không?
Đi được ba thước, tôi đụng đầu ngay với Thư. Khách sạn còn ở trước mặt. Chắc chắn
Thư đã nhìn thấy tôi từ trong khách sạn đi ra.
Thư làm bộ mừng rỡ:
- Kìa, chị Ngọc.
Tôi đứng lại:
- Chào Thư. Đi đâu vậy?
- Cũng đi lang thang như chị.
Tôi gượng cười:
- Sao biết tôi đi lang thang.
Lần này, đứa em gái của Khoa không giữ gìn ý tứ như lần trước nữa. Nó nhìn thẳng
vào mắt tôi:
- Chị đến khách sạn kia làm gì vậy?
Tôi chịu đựng cái nhìn của Thư không lảng tránh. Đạo đã đi rồi. Tôi đang thất vọng.
Tất cả đều không quan trọng nữa, kể cả Khoa, kể cả tương lai và hạnh phúc một đời.
Nửa đùa nửa thật, tôi trả lời:
- Tôi có phòng riêng ở khách sạn ấy, Thư không biết sao?
- Chị đừng nói đùa.
Tôi bật cười, tiếng cười khô khan quái lạ:
- Ừ, nói đùa. Tôi đến kiếm một người quen, nhưng không gặp.
- Ai thế chị?
Tôi xua tay:
- Một người quen, Thư không biết đâu.
Tôi trả lời thật ung dung. Không muốn khiêu khích cũng đã thành ra khiêu khích.
Tôi biết sự tức giận ở Thư đã lên tới cực điểm. Thư càng tức giận hơn nữa vì
không dám tỏ lộ sự tức giận ấy ra. Mặt Thư tái đi. Nụ cười gắng gượng, thảm hại.
Nhìn thấy tôi từ một khách sạn đi ra. Thư đinh ninh vừa bắt gặp quả tang tôi trong
một hành động xấu xa và tội lỗi. Đáng lẽ tôi phải có với Thư một thái độ khác.
Hoảng hốt và sợ hãi. Tôi đã có một thái độ ngược lại.
- Em tưởng chị không nên đến những chỗ đó.
Tôi ngạc nhiên;
- Sao vậy?
- Đàn bà chúng mình vào khách sạn là bị mang tiếng ngay.
- Thư nói rõ hơn đi.
Thư bĩu môi:
- Chị thừa hiểu. Cần gì nói rõ.
Tôi gật:
- Đồng ý là hiểu. Dễ bị hiểu lầm, phải thế không? Nhưng người quen tôi ở đó.
Tôi muốn gặp thì phải tới đó, làm thế nào khác được.
Thư nhìn tôi:
- Chị nhiều hẹn lắm nhỉ?
- Tôi cũng có bạn như hết thảy mọi người.
- Bạn trai hay bạn gái?
- Cả hai. Nhưng bạn trai nhiều hơn. Khách hàng đến uống cà phê ở quán Nhớ hầu hết
là bạn thân của tôi. Như Khoa vậy.
Thư mím môi:
- Chị không thích có bạn gái?
Tôi gật:
- Đúng vậy. Đàn bà chúng mình nhiều chuyện lắm. Tôi chỉ thích giao dịch với đàn
ông.
Thư bị chạm nọc, lặng người đi. Chúng tôi yên lặng đi bên nhau một quãng đường.
Trời vẫn lạnh. Những bóng người co ro đi dưới những hàng hiên trống trải. Ý
nghĩ của tôi vẫn ở lùi lại một phía sau lưng. Nơi cái quầy hàng, cái cầu thang
đi lên, những bực thềm khách sạn. Nơi một cửa phòng mở ngỏ, nhưng người ở trong
phòng đã bỏ đi, khoôg để lại một dấu vết bé nhỏ nào. Hình ảnh Đạo đuổi theo
tôi. Với đôi mắt chàng, với sự im lặng của chàng và những lời nói tàn nhẫn còn
vang vang trong đầu.
Thư hỏi:
- Chị bận gì không?
- Không. Thư muốn chúng mình đi đâu?
- Mời chị về chơi.
Đề nghị của Thư làm tôi ngạc nhiên. Khoa đã mời tôi đến nhà một vài lần. Lần
nào thấy tôi, Thư cũng khó chịu không dám biểu tỏ ra nét mặt, nhưng nhìn thấy
rõ rệt ở những săn đón thiếu tự nhiên và những nụ cười gượng gạo. Bây giờ, đột
nhiên Thư thay đổi thái độ. Thư muốn đặt vấn đề gì với tôi đây. Đặt vấn đề gì
cũng được. Tôi sẵn sàng trả lời, sẵn sàng đương đầu.
- Đồng ý. Anh Khoa có nhà không?
- Anh Khoa lên Khôngntum từ sáng sớm.
Mấy hôm nay tôi không gặp Khoa. Đêm giữ Khoa ở lại quán Nhớ, tôi đòi Khoa phải
tin tôi, dành cho tôi một niềm tin tưởng vô điều kiện. Khoa đã nghe theo, và
không còn đến quán Nhớ mỗi ngày hai buổi như trước nữa. Tôi đang lừa dối Khoa.
Nghĩ mình thật có lỗi. Nghĩ thêm, là cái tình trạng này không thể kéo dài. Có lẽ
Thư đang đẩy tôi tới một chân tường, cho mọi chuyện sáng tỏ. Thư muốn thế cũng
được. Chỉ buồn cho Khoa thôi.
Đã đi hết con phố có khách sạn. Đã tới con đường có tiệm bào chế của Khoa. Đầu
đường là một tiệm tơ lụa. Tiệm Hồng Hạnh. Tên tiệm cùng là tên người con gái lớn
của gia đình này. Hồng Hạnh ngồi ở quầy hàng sát cửa ra vào. Hồng Hạnh là bạn
thân của Thư. Qua tiệm, Thư nhìn vào. Hồng Hạnh cười, gật đầu với Thư, nhưng lại
ném cho tôi một cái nhìn căm tức. Tôi đã hiểu tại sao. Từ lâu, Hồng Hạnh yêu
Khoa, đinh ninh sẽ là người vợ sau này của Khoa, vì hai gia đình giao du mật
thiết và rất môn đăng hộ đối. Nhà Khoa giầu có. Nhà Hồng Hạnh cũng vậy. Ông
thân sinh ra Hồng Hạnh là một nhân vật tên tuổi của Pleiku. Hồng Hạnh khá xinh
đẹp. Thứ nhan sắc của con gái nhà lành với khuôn mặt tròn trĩnh và hai bàn tay
trắng muốt.
Nghe đâu hai gia đình đã đề cập tới chuyện hôn nhân giữa Khoa và Hồng Hạnh. Cho
đến khi Khoa biết và quyết liệt phản đối bởi cái lẽ giản dị là Khoa đã yêu tôi.
Thế nên tôi trở thành kẻ thù số một của Hồng Hạnh. Ngày trước, mỗi lần tôi đi
qua cửa hàng, chúng tôi vẫn gật đầu chào nhau. Đôi khi tôi còn đứng lại, nói với
Hồng Hạnh dăm ba câu chuyện.
Từ khi biết Khoa yêu tôi, muốn lấy tôi làm vợ. Hồng Hạnh coi tôi như kẻ thù.
Thái độ thù hận này, tôi đã cho Khoa biết.
Khoa cười:
- Mặc cô ta.
Tôi nhớ đã bảo Khoa:
- Anh lấy Hồng Hạnh có hơn không?
Khoa trợn mắt:
- Hơn là thế nào?
- Hồng Hạnh hơn em rất nhiều phương diện. Anh lấy Hồng Hạnh, mọi người đều hài
lòng. Còn nếu chúng mình lấy nhau, mọi người đều không hài lòng.
- Anh hài lòng là đủ.
Tôi thắng Hồng Hạnh, chẳng thấy kiêu hãnh hay sung sướng gì. Khoa theo đuổi tôi
chân thành, trước sau như một. Chân tình đó khiến tôi cảm động. Và đã phải đáp
lại. Nếu Khoa thôi tôi, lấy Hồng Hạnh, tôi cũng buồn, nhưng chỉ trong một thời
gian ngắn mà thôi. Nghĩ mà buồn bã. Nghĩ cũng buồn cười. tình yêu là một trò rượt
đuổi quái ác. Người này đuổi theo người kia. Cái bóng đuổi theo cái hình. Và mọi
người đều khổ sở, chẳng có ai sung sướng hết.
Chúng tôi đi qua cửa tiệm tơ lụa Hồng Hạnh, với cái nhìn căm giận của hồng Hạnh
đuổi theo tôi. Thư hỏi kháy:
- Chị quen Hồng Hạnh không?
Tôi chép miệng:
- Trước quen. Bây giờ hết quen rồi.
Thư làm bộ không hiểu:
- Sao lạ vậy?
- Thư vừa thấy đó thôi. Hạnh cười với Thư nhưng không thèm chào tôi.
- Em không thấy. Bậy quá. Để em bảo nó mới được.
Tôi cười:
- Bảo thế nào?
Thư nghiêm trọng:
- Bảo nó lần sau trông thấy chị, phải chào hỏi lễ phép, không được hỗn láo.
Tôi bật cười thành tiếng. Tưởng chỉ có mình phải đóng kịch. Vì một trường hợp bất
khả kháng. Té ra Thư cũng đang đóng kịch. Tán thành cái thái độ thù hận Hạnh
dành cho tôi. Thư làm bộ phẫn nộ với cái thái độ đó. Tại sao chúng tôi vẫn phải
làm bộ thân mật với nhau? Tại sao chúng tôi đang đi với nhau như một đôi bạn
chí thiết? Pleiku đang xuống dốc. Pleiku không còn là Pleiku nữa. Pleiku cũng tự
biến thành một sân khấu, sống với cái bề ngoài rồi. Anh Dã Thụy, mảnh đất này
không xứng đáng với cái tình yêu vô điều kiện và một đời của anh đâu. Anh đừng
thần thánh hóa nó. Nó cũng tầm thường như bất cứ một nơi chốn nào khác. Sáng
mai đến thăm anh, tôi sẽ thuyết phục anh trở về Quy Nhơn bằng được. Anh tưởng
Pleiku chỉ có những cánh rừng xanh, những ngọn đồi cao, những giòng suối sáng
và Biển Hồ trong vắt tới đáy. Anh lầm. Pleiku còn có những đời sống và những
lòng người. Những đời sống cũng tầm thường. Như ở mọi nơi khác. Những lòng người
cũng chật hẹp. Như ở mọi nơi khác.
Tôi ôn tồn:
- Hạnh không có lỗi gì hết. Cứ coi nhau như xa lạ, lại hay hơn.
Thư chưa chịu vẫn tiếp tục đóng kịch:
- Nhưng Hạnh thù ghét chị vì lý do nào mới được chứ?
- Tôi tưởng Thư hiểu. Đã hiểu từ lâu.
Thư cãi:
- Em không hiểu thật mà.
Tôi cười:
- Hỏi Khoa. Khoa giải thích cho.
Tôi dừng lại trước cửa tiệm bào chế. Nhìn vào cửa tiệm đầy người, vừa là những
người đến mua thuốc, vừa là đám em nhỏ của Khoa, và những người thân thuộc
trong gia đình Khoa. Nhiều cặp mắt ngó ra. Tôi biến thành một cái đích cho mọi
hình thức nhìn ngắm. Phải nói rằng trong gia đình Khoa, chỉ có Khoa là được. Chỉ
có Khoa mà thôi.
Thư kiêu hãnh vô lối, coi người bằng nửa con mắt. Đám em nhỏ của Khoa lấc cấc,
mất dậy. Lần này, cũng như mọi lần trước chúng dương mắt nhìn tôi không chào hỏi.
Mình chưa ở gia đình này. Không chừng, không bao giờ, khỏi thèm chấp chúng nó.
Tôi nghĩ thầm và ung dung theo Thư vào nhà.
Một bà lão già ngồi ở sau quầy. Bà lão gầy đét, cặp mắt sâu hoắm, cái nhìn ác độc.
Thấy tôi, bà lão nhíu mắt nhìn không chớp. Thư đưa tôi đến trước mặt bà lão giới
thiệu:
- Cô Hai tôi.
Tôi lễ phép:
- Lạy cụ ạ !
Bà lão chưa thèm đáp lại. Chỉ hất hàm hỏi Thư:
- Ai vậy?
- Thưa cô, đây là chị Ngọc, ở quán Nhớ.
Bà lão nhìn tôi một lần nữa, dài giọng:
- Té ra cô Ngọc đây. Nghe nhắc đến hoài, bây giờ mới thấy mặt.
Bà lão hỏi Thư:
- Tức là người cậu Khoa nhà này khen nức khen nở đó phải không?
Tôi trêu bà lão:
- Anh Khoa khen cháu làm sao kia ạ ! Cụ làm ơn cho cháu được biết để từ nay
cháu cấm anh Khoa không được khen cháu nữa.
Tôi nhắc lại, thủng thẳng:
- Cháu cấm.
Đứa con gái, ngang ngược, bướng bỉnh ở tôi đã thức dậy. Người đàn bà thứ nhất vừa
nhường chỗ cho người đàn bà thứ hai. Người đàn bà thứ hai này dám sống một mình,
mãi mãi. Dám xem thường hết thẩy, từ xem thường chính mình. Và cũng đã dám đi
theo một người đàn ông lạ mặt vào phòng người đàn ông đó. Ở lại trong căn phòng
ấy tới sáng.
Bà lão nhìn tôi, gật gù:
- Cô này đáo để lắm nhỉ.
- Cháu hiền như đất.
Bà lão mát mẻ:
- Tôi cũng mong như thế cho thằng Khoa nhà tôi.
Biết để tôi đứng lại lâu hơn với bà lão, chắc chắn sẽ có một cuộc trêu chọc, đấu
khẩu do tôi gây ra. Thư kéo vội tôi vào phòng trong. Căn phòng vẫn như lần trước
tôi đến, không có gì thay đổi. Duy chỉ có thêm một bức tranh của Dã Thụy treo
trên một vì tường. Người con gái trong tranh là tôi. Bức tranh vẫn treo ở quán
Nhớ. Khoa ngõ ý muốn lấy. Tôi bằng lòng cho Khoa đem bức tranh ấy về nhà Khoa
tuần lễ trước.
Thư chỉ bức tranh tôi cầm ở tay.
- Anh Thụy lại vẽ chị nữa?
- Phải. Nhưng chưa xong.
- Sao chị không để anh ấy vẽ nốt hãy mang về?
Tôi nghiêm trang:
- Thụy không vẽ được nữa.
- Ban nãy anh Vận đến đây lấy thuốc nói đem về cho anh Thụy. Anh ấy đau sao?
- Phải. Nặng lắm.
Câu chuyện và bức tranh kéo tôi trở lại với Dã Thụy. Suốt buổi sáng, tôi đã gặp
Thụy. Đã nghĩ đến Đạo. Một người nằm chờ chết. Một người đã bỏ đi, không bao giờ
trở lại. Gió thổi mênh mông đầy trời. Tôi quên được chốc lát. Đã nhớ lại. Rằng
một mùa đông Pleiku buốt lạnh và buồn thảm đã bắt đầu.
Thư mời tôi ngồi xuống ghế bành rồi lớn tiếng gọi người đưa nước uống. Một khay
trà được bưng ra. Thư dùng hai ngón tay nhấc tách trà, uống từng ngụm nhỏ. Mọi
điệu dáng ở người con gái đều trịnh trọng, kiểu cách. Đối diện với Thư, tôi tựa
lưng vào thành ghế và tôi lặng lẽ chờ đợi. Mùa đông. Một mùa đông dài đã bắt đầu.
Gió Pleiku đang ào ạt trên phi trường Cù hanh. Đang veo veo trên Biển Hồ. Bốn
phương đều sáng láng, ấm áp. Chỉ Pleiku buồn, xám ngắt và lạnh buốt.
Thư đặt tách trà xuống, đằng hắng:
- Gia đình nhà em hồi này nhiều chuyện lộn xộn quá.
Tôi nín thinh ngồi yên. Không thấy cần phải trả lời. Chuyện lộn xộn ở gia đình
Thư không ăn nhằm gì đến tôi. Gia đình nào cũng có chuyện lộn xộn. Tôi nhìn thẳng
vào mặt THư. Thư quay nhìn đi chỗ khác.
- Anh Khoa em buồn lắm.
Thấy tôi vẫn ngồi yên, Thư hỏi:
- Chị có thấy như thế không?
Tôi lắc:
- Không.
Thư chép miệng:
- Thế là chị không để ý đó thôi. Anh Khoa chưa nói gì với chị?
- Chưa. Tôi đã nói với Thư là mấy hôm nay tôi không gặp Khoa.
- Anh ấy dấu chị đó.
Tôi cười nhạt:
- Thế à? Điều anh Khoa dấu liên quan gì đến tôi không?
- Rất liên quan. Chuyện của chị với anh Khoa, gia đình em chống đối dữ dội lắm.
Tôi gật:
- Sự chống đối ấy không làm tôi ngạc nhiên. Nhưng Thư có thể nói cho gia đình
biết là giữa Khoa và tôi không có chuyện gì hết.
- Anh Khoa lại không nói như chị.
Tôi cười:
- Anh Khoa nói thế nào.
- Nói chị bằng lòng làm đám cưới vào đầu năm tới.
Khoa có đề cập với tôi về chuyện này thật. Rằng Khoa không muốn kéo dài thêm nữa
thời kỳ đính hôn. Rằng Khoa muốn chúng tôi lấy nhau càng sớm chừng nào càng hay
chừng đó. Tôi nhớ tôi đã nín thinh. Không ra bằng lòng cũng chẳng ra không. Phần
Khoa đã coi sự im lặng của tôi như một ưng thuận.
Tôi bảo THư:
- Khoa đi mau quá. Thành ra có sự hiểu lầm. Bây giờ tôi đã nói. Thư đã biết rõ.
Giữa Khoa và tôi chưa có chuyện gì rõ rệt hết.
Thư mím môi, ngập ngừng:
- Chị tính thế nào?
- Tôi không tính không định. Chuyện gì phải xẩy ra sẽ xẩy ra, thế thôi. Còn nếu
gia đình Thư có chuyện xích mích vì tôi, thì điều đó không phải lỗi ở tôi.
- Vâng. Tất nhiên không phải lỗi ở chị. Lỗi ở anh Khoa đúng hơn.
Cái lối nói xa nói gần, vòng vo của Thư bất chợt làm tôi nổi nóng. Thì cứ nói
huỵch toẹt ra là gia đình Khoa chống đối không chịu cho Khoa cưới tôi làm vợ.
Thư ác độc nhưng lại không có cái can đảm nói thẳng. Tôi liền nói thẳng:
- Chẳng phải lỗi tại Khoa. Chỉ là gia đình Thư không bằng lòng tôi, coi tôi
không xứng đáng, phải không? Được tôi sẽ không tới đây nữa. Bây giờ, Thư cho
tôi trở về quán Nhớ. Khách hàng và bạn hữu đang chờ tôi.
Thư hoảng hốt:
- Chị ngồi chơi đã. Em chưa nói hết.
Tôi cười nhạt:
- Thư không cần nói hết tôi cũng hiểu hết rồi. Tôi biết Thư theo dõi tôi mấy
ngày nay. Để bắt gặp quả tang tôi đến tìm một người đàn ông ở khách sạn. Thư đã
thành công. Người đàn ông ở khách sạn là người tình cũ của tôi đó. Chờ Khoa về,
hãy kể cho Khoa biết. Đáng lẽ Thư phải cho Khoa biết rồi mới phải. Còn đợi chờ
gì nữa?
Tôi đứng lên đi ra. Câu chuyện chấm dứt đột ngột. Bà lão già vẫn ngồi ở sau quầy.
Bầy em nhỏ của Khoa thấy tôi đùng đùng từ trong nhà đi ra và đi thẳng ra cửa
nhìn nhau ngơ ngác. Tôi cũng chẳng cần. Đạo đã bỏ đi. Trái tim tôi đang tan vỡ,
đang chảy máu. Khoa còn với tôi hay Khoa sẽ đoạn tuyêt, thế nào cũng được. Tôi
bước mau lên một chiếc xe lam, người phu xe đưa tôi về quán Nhớ.
Lá thư của Thụy không cần phải đợi chờ nhiều ngày, tôi mới biết nó đích thực là
một bản chúc thư. Bản chúc thư của một người đã chết rồi để lại.
Nếu tôi trở lại thăm Thụy ngay buổi chiều, tôi còn được trò chuyện với Thụy
thêm một lần nữa. Lần cuối cùng. Buổi sáng hôm sau, tôi mới trở lại. Và Thụy đã
trút hơi thở cuối cùng từ đêm hôm trước.
Vận lái xe đưa chị em tôi tới. Chiếc xe ngừng lại ở chỗ cũ, nơi con đường cụt,
trước hàng rào giây thép gai, trước cái cổng đổ nát. Trời Pleiku đi thêm một bước
đi âm thầm nữa vào mùa đông mênh mông. Túp lều yên lặng một cách khác thường. Vận
gõ cửa. Thật mạnh. Không có tiếng trả lời.
Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, rồi Vận đẩy cửa và hai chị em tôi theo Vận bước
vào. Chưa nhìn thấy Thụy, nhưng linh cảm đã cho tôi biết là chúng tôi tới trễ rồi.
Thụy không còn nữa, Thụy chết thật rồi. Trong đêm. Một mình. Căn phòng trong tối
thẳm. Vận phải bật diêm và khi ngọn nến đã cháy sáng, chúng tôi mới nhìn thấy
rõ.
Thụy nằm đó, trên chiếc giường sắt nhỏ. Tấm chăn không còn phủ lên cái thân
hình còm cõi của Thụy như hôm trước nữa. Nó rớt xuống mặt đất. Thụy nằm quay mặt
vào tường, ở yên trong cái dáng điệu tôi đã nhìn thấy từ hôm trước khi Vận và
tôi từ biệt Thụy đi ra.
Vận gọi:
- Thụy, Ngọc và Huyền đến thăm cậu.
Tôi đứng lặng người, trong khi Vận từ từ đi lại gần giường. Huyền run bắn, hai
mắt mở lớn, da mặt tái nhợt. Vận cúi xuống, đặt tay lên người Thụy. Một phút
yên lặng, dài lâu như một thế kỷ.
Rồi Vận từ từ đứng thẳng người lên, quay lại nói tôi:
- Thụy chết rồi.
Tôi nhắm mắt lại, đưa hai tay lên bưng lấy mặt. Thụy chết rồi có gì đáng ngạc
nhiên đâu. Chỉ đáng ngạc nhiên là Thụy còn sống mà thôi. Tôi đứng không biết
bao lâu, tai tôi mơ hồ nghe thấy tiếng gió thổi trên một tầng cao, rồi tiếng
khóc nức nở của Huyền, rất gần át cả tiếng gió.
Rồi tiếng Vận:
- Huyền đừng khóc nữa. Tôi đưa hai người về. Chúng mình phải lo chôn cất cho
nó.
Nửa giờ sau, mọi người họp mặt ở quán Nhớ. Khoa ngồi bên cạnh tôi, nắm chặt lấy
tay tôi. Mọi người đều lên tiếng. Mỗi người nói một câu. Ai cũng tỏ ý bàng
hoàng xúc động về cái chết đột ngột của Thụy. Riêng tôi, không nói một lời nào.
Đầu óc tôi tê liệt, trống rỗng. Tôi chỉ còn là một thân xác đờ đẫn, bất động.
Như thế cho đến chiều, khi tôi đi theo xe tang ra nghĩa địa. Đám tang Thụy được
tổ chức gấp rút, đơn giản. Chúng tôi cúi đầu, bước lặng lẽ dưới vòm trời mùa
đông. MỘt con đường đồi lượn sóng đưa chúng tôi ra khỏi thị xã. Huyệt đào nơi
lưng chừng một ngọn đồi. Đất đào lên, đỏ ké. Những cái bóng chúng tôi in hình,
chênh chếch lên nền trời. Khoa nói một vài câu từ biệt. Những hòn đất được ném
xuống lòng huyệt. Rồi mộ Thụy được lấp kín và chúng tôi rời khỏi ngọn đồi, từng
người một.
Xuống dưới chân đồi mọi người tản đi. Nhạc rủ Thập đến một quán rượu. Nói là để
đánh đắm nỗi buồn mất bạn vào một cơn say. Thập nhận lời, nói rằng có ngày Thập
cũng sẽ như Thụy không còn xa lắm. Vận tỏ ý muốn về nhà nằm nghỉ một lát, vì đã
mệt nhoài sau mấy ngày chạy đi chạy lại. Khoa theo tôi và Huyền trở lại xưởng họa
của Thụy. Nghe tin THụy chết, người chủ đất đã tới nhận lại túp lều và thuở vườn.
Bà lão đứng chờ chúng tôi ngoài cổng. Chúng tôi theo bà lão vào nhà. Mấy cánh cửa
được mở ra. Ánh sáng ùa vào, làm hiện rõ mọi cảnh tượng trống trải. Bà lão đã xếp
những bức tranh vào một góc. Chiếc giường sắt của Thụy được khiêng ra một góc
vườn. Lúc sống, dấu vết về sự có mặt của Thụy đã mờ nhạt. Thụy chết, nhưng dấu
vết mờ nhạt ấy tan biến mau chóng. Chúng tôi mang hết tranh Thụy ra xe Khoa,
đưa lũ tranh mất chủ ấy về quán Nhớ, phải ba chuyến xe mới chở hết.
Xong xuôi, Khoa ngồi nói chuyện với tôi ở một góc phòng. Mấy ngày không gặp
nhau, giữa hai chúng tôi có một cái gì ngỡ ngàng và ngượng ngập. Buổi sáng, suốt
thời gian đưa đám Dã Thụy, Khoa luôn luôn ở cạnh tôi, nhưng không nói với tôi một
lời nào. Lúc chở tranh về quán Nhớ cùng tôi. Đôi khi tôi nhìn sang, bắt gặp cái
nhìn của Khoa vội vã nhìn đi chỗ khác. Sự hờn giận đã thấy rõ. Tôi lên tiếng,
phá vỡ một im lặng nặng nề kéo dài.
- Anh uống cà phê?
- Không.
Chưa bao giờ Khoa từ chối một lời mời của tôi. Đây là lần đầu. Tôi nhớ đến câu
chuyện trao đổi gay gắt giữa Thư và tôi. Chắc Thư đã nói lại với Khoa.
- Hôm qua, em gặp Thư.
Khoa gật, đầu vẫn cúi xuống:
- Anh biết.
- Thư gặp em ở phố, mời em về nhà.
- Thư có nói chuyện. Nói gặp em trước một cửa khách sạn.
- Thư nói gì nữa với anh?
Khoa lững lờ:
- Thế thôi.
- Hai đứa có to tiếng với nhau.
- Về chuyện gì vậy?
- Một chuyện thuộc gia đình anh, nhưng liên quan đến em. Theo Thư, em là người
gây ra chuyện đó.
Khoa xua tay, hàng mi nhíu lại:
- Em đừng để ý. Đáng tiếc là anh không có mặt ở nhà lúc đó.
Khoa dặn:
- Lần sau, biết anh không có nhà, Thư có rủ cũng đừng tới. Để anh bảo Thư, là
dù thế nào nó cũng không được chen vào chuyện chúng mình,
Sau đó, Khoa đứng lên cáo từ, nói buổi chiều sẽ trở lại. Chính là lúc Khoa đứng
lên này, mà cái ý định đi xa một vài ngày bất chợt đến với tôi. Những lúc đầu
óc hoang mang, người ta cần tìm một nơi chốn cách biệt. Để suy nghĩ. Để nhìn thấy
mình, thấy người rõ hơn. Đạo bỏ đi. Thụy chết tôi chợt thấy tôi như rơi lạc vào
một biển sương mù. Và cuộc tình duyên giữa tôi và Khoa thì đang trải qua một thử
thách gay cấn. Không có một đổi thay, hay một yếu tố nào mới. Chuyện tốt đẹp
kéo dài bấy lâu sẽ hư hỏng, sẽ tan vỡ. Tôi muốn đi xa ít ngày vì thế. Để nghĩ lại.
Về người. Về tất cả. Nhất là về chính mình. Thoạt đầu, tôi nghĩ đến Sàigòn.
Nhưng nếu tôi về Sàigòn, chắc chắn Khoa không chịu để cho tôi đi. Hoặc Khoa sẽ
ngăn cản quyết liệt. Hoặc Khoa sẽ đòi đi theo. Nhìn đống tranh của Dã Thụy, tôi
chợt nhớ đến Quy Nhơn. Thụy chết, gia đình Thụy chưa hay biết gì về cái chết
này. Trong thư Thụy nói coi tôi là người thân thiết nhất. Tôi sẽ xuống Quy
Nhơn, thăm em gái Thụy và báo tin cho gia đình Thụy là Thụy không còn nữa.
Tôi gật:
- Chiều anh đến đi. Vì mai em đi vắng.
Khoa ngạc nhiên:
- Em đi đâu?
- Xuống Quy Nhơn.
Tôi nói tiếp:
- Mặc dầu Thụy không nhờ, nhưng em thấy có bổn phận phải báo tin dữ cho gia
đình Thụy biết.
Khoa ngẫm nghĩ rồi hỏi:
- Bao giờ em đi?
- Sáng mai.
- Em đã xuống Quy Nhơn lần nào chưa?
Tôi lắc:
- Chưa. Cũng vì thế mà em muốn đi. Cho biết Quy Nhơn của Dã Thụy như thế nào.
- Mai anh sẽ đi cùng với em.
Tôi xua tay:
- Em muốn đi một mình.
Khoa nghĩ lại. Rồi hỏi:
- Huyền có đi với em không?
Tôi cười:
- Em đã nói là em đi một mình. Nếu có thêm Huyền, em đã mời anh cùng đi cho
vui.
Khoa nín thinh, không hỏi gì thêm nữa. Tôi nhờ Khoa lui tới quán Nhớ trong mấy
ngày tôi đi vắng, trong trường hợp Huyền cần giúp đỡ điều gì. Lúc tôi đưa tiễn
Khoa ra cửa, Khoa thình lình nắm chặt lấy tay tôi:
- Anh đã hứa tôn trọng sự tự do của em. Anh sẽ cố gắng giữ lời đó đến cùng. Phần
em, đừng thay đổi gì với anh. Em phải hứa với anh như thế.
Tôi dịu dàng:
- Anh đừng lo. Hôm nào về, em sẽ bảo Huyền đến cho anh biết ngay.
Bến xe ở ngoài thành phố. Một khoảng đất trống trải, phơi dãi, chạy dài giữa một
dãy hàng quán lụp xụp và mấy ngôi nhà xây cất dở dang. Hồi quân Mỹ chưa rút khỏi
Pleiku, vùng ngoại ô thị xã này đã được lựa chọn làm địa điểm tập trung mới cho
các nhà tắm hơi, vũ trường và quán rượu. Những bóng dáng cao lớn của những người
ngoại quốc biến mất khỏi Pleiku, khu giải trí tập trung chỉ còn là mấy căn nhà
xây cất chưa xong nằm trơ trẻn giữa một vùng đất cằn cỗi. Khoa đưa xe tới đón
tôi ra bến. Khoa lấy vé xe cho tôi, đưa tôi vào một quán nước. Chúng tôi cố gắng
nói hết chuyện này sang chuyện khác để lấp đầy một sự chờ đợi kéo dài. Bây giờ
chuyến xe đò đã đủ khách. Tôi đã lên xe. Và Khoa đã trở về sau khi dặn tôi
không được ở Quy Nhơn quá ba ngày.
Tôi nhìn theo xe Khoa chạy trở lại con đường thị xã cùng một lúc với chiếc xe
đò từ từ chuyển bánh. Đây là chuyến xe thứ nhất. Trời còn sớm. Mặt trời chưa
lên. Sương mù còn xanh biếc trên những sườn đồi chung quanh.
Bến xe bỏ lại sau lưlng, đường trường mở rộng trước mặt, chuyến khởi đầu với
tôi bằng một cảm giác cực kỳ sảng khoái. Ban mai cao nguyên là một cảnh tưởng
mênh mông yên lặng khác thường. Những ngọn núi xa cũng yên lặng như những ngọn
đồi gần. Những khúc đường vòng cũng yên lặng như những đoạn đường thẳng. Sương
mù đang tan dần, cũng đang tan dần trong yên lặng. Những tia hồng của mặt trời
hiện dần cũng hiện dần trong một im lặng hoàn toàn. Đám hành khách trong xe ngồi
bất động. Những khuôn mặt khép kín. Những cái nhìn chăm chú nhìn thẳng về trước
mặt. Một nửa hành khách là đồng bào thiểu số. Họ đeo những chiếc vòng đồng nặng
chĩu nơi cổ tay. Họ khoác trên người những mảnh vài đen với những đường chỉ màu
sặc sỡ.
Xe tới một ngã ba. Con đường phía tay trái men theo một con lạch khô. Con đường
phía tay phải đưa lên môt ngọn đồi. Một đám người ngồi chồm hổm bên lề đường.
Bên cạnh họ, ngổn ngang những bao khoai bao sắn, những buồng chuối còn xanh
ngát. Xe ngừng lại, rước đám khách đó lên. Rồi con đường lại mở rộng, hun hút
trước tầm mắt.
Tôi thiếp đi chừng mười lăm phút. Mở choàng mắt, thấy xe chạy chậm giữa một con
phố khá sầm uất. Tôi hỏi người đàn bà ngồi bên cạnh.
- Đây là đâu bà.
- Sắp tới đèo An Khê.
Giấc ngủ ngắn nhưng bù đắp được phần nào cho cả đêm qua thao thức không ngủ.
Tôi ngồi thẳng dậy, tỉnh táo hơn. Bây giờ xe đang chạy qua quận lỵ An khê. Mặt
trời lúc này đã lên cao. Con phố quận lỵ với những mái nhà san sát đối diện
sáng bừng dưới nắng. Một bầy trẻ nhỏ chạy theo hông xe. Chúng bám vào cửa xe,
chào mời tíu tít. Chúng đội lên đầu những rổ băp luộc, những khay hột gà. Xe
tăng dần tốc độ đánh rớt đám trẻ nhỏ bán hàng về phía sau. Con đường trở nên trống
trải. Xe khởi sự leo dốc. Đã tới chân đèo An Khê.
Tôi chợt nhớ tới anh Kiện. Có một thời kỳ đơn vị anh Kiện đã trấn đóng ở đỉnh
đèo lịch sử này. Trong mấy bức thư dài anh Kiện đã tả cho hai chị em thấy về cảnh
tượng An Khê. Một lần về thăm nhà, anh còn kể cho chúng tôi về những trận đánh
khốc liệt đã diễn ra ở vùng địa hình hiểm trở này. Hồi Pháp thuộc, một đoàn
công voa Pháp đã bị phục kích ở lưng đèo. Những chiếc xe vận tải bốc cháy, xác
xe nằm rải rác suốt mấy cây số. Năm ngoái, năm kia, thêm nhiều cuộc đụng độ
khác, thảy đều dữ dội, đẫm máu. Tôi hình dung ra những trận đánh, nhớ lại anh
Kiện, trong khi chiếc xe mệt nhọc leo hết khúc quanh này đến khúc quanh khác.
Rồi xe leo tới đỉnh đèo và đổ đèo.
Và một cảnh thể khác lạ hoàn toàn với Pleiku thình lình hiển hiện. Cao nguyên
không còn nữa. Cao nguyên đã đứng lại phía bên kia An Khê. Từ An Khê phía bên
này, phía xe đang lao xao đổ dốc đã là miền Trung, đã là Quy Nhơn của Thụy.
Cái nắng chói chan hơn. Bầu không khí lạnh thoắt chốc nóng bỏng như một lò lửa.
Gió từ một phía biển chưa nhìn thấy, ào ạt thổi tới. Tôi vừa kịp cởi áo len khỏi
người mái tóc đã bay tung. Bây giờ, chung quanh tôi, trước mặt, sau lưng, chỉ
còn là mịt mùng gió cát. Trời đất chói lòa một màu. Những trận gió veo veo
trùng trùng, ném tới những hơi lửa thốc tháo. Chỉ trong khoảng khắc đầu óc tôi
đã bị những trận gió lửa làm cho ngây ngất, choáng váng.
Tôi phải đeo vội cặp kiếng thuốc lên mắt.
Xe chạy qua nhiều cây cầu, nhiều quận lỵ nữa. Càng tới gần Quy Nhơn, đất càng
trải phẳng ra. Sinh hoạt trù phú ấm áp hơn với những ruộng lúa xanh ngát ôm sát
bờ đường, những thôn xóm xinh xắn trong những khoảng cách đều đặn. Đất của Dã
Thụy đây, tôi nhủ thầm. Ngày nhỏ, Thụy đã đi qua những cây cầu này. Đã ngồi dưới
bóng mát của những hàng cây kia, mái tóc mơ mộng đã tắm đẵm cái nắng, cái gió
đang phơi dãi chan hòa, cùng khắp. Vậy mà Thụy đã không ở được. Đã bỏ đi. Đã
lang thang. Đã phiêu bạt. Đã dừng chân và trút hơi thở cuối cùng trong một túp
lều lạnh buốt. Tâm hồn người khó hiểu thật. Nhất là tâm hồn những người trẻ tuổi
bây giờ.
Chúng tôi là những người trẻ tuổi ấy. Chúng tôi soi gương để không nhìn thấy mặt
mình. Chúng tôi kiếm tìm nhau để chỉ nhìn thấy rõ hơn ở nhau, một thế giới cô
đơn, bằng ấy thế giới cô đơn họp lại thành một cô đơn ghê gớm. Tôi đang thấy
tôi cũng như Dã Thụy. Với đời sống thất lạc, như một cuộc chạy trốn thất lạc về
trước mặt. Với những xao xuyến không đối tượng, những khổ đau không tên gọi. Đầu
óc tôi bất chợt tối đen. Như thế cho tới khi chiếc xe đò phủ đầy bụi bặm đường
trường dừng lại ở bến Quy Nhơn.
Chiếc va ly và mấy bức tranh của Dã Thụy được thả từ trên mui xe xuống. Một người
phu xe lam nhanh nhẹn chạy tới đỡ lấy, xếp thành một đống ngay ngắn trên mặt đất
bến trần trụi. Tôi nhìn đồng hồ tay. Mười một giờ. Gió không thổi nữa. Cái nắng
nung nấu giữa một bầu không khí im sững. Mồ hôi đã toát đầy ở những chân tóc, ướt
đẫm suốt sống lưng. Hai gò má tôi bừng bừng. Nắng bốc hơi, làm cho mọi hình thể
chập chờn, nhẩy múa.
Người phu xe quay lại hỏi:
- Cô vào thị xã?
Tôi gật:
- Còn xa lắm không?
- Dăm bảy cây số.
Tô nói với người phu xe:
- Ông đưa tôi vào thị xã rồi đưa tôi đến một khách sạn yên tĩnh, sạch sẽ. Ông
biết một khách sạn nào như thế không?
Người phu xe cười:
- Biết chứ sao không biết. Bộ cô mới đến Quy Nhơn lần đầu.
Tôi gật:
- Phải. Lần đầu.
Chiếc xe lam rời khỏi bến. Con đường nhựa mở rộng trước mặt, thẳng tắp. Được chừng
hai cây số, con đừơng đã có những ngôi nhà, những cửa tiệm lác đác ở hai bên. Rồi
tôi nhìn thấy Quy Nhơn. Dã Thụy đã một lần tả cho tôi thấy vè thành phố Quy
Nhơn. Về những con phố mệt mỏi buồn bã dưới cái nắng nhễ nhại mệt thiếp. Về sự
trống trải đặc biệt của một thành phố gần biển. Qua Dã Thụy. Quy Nhơn là một
thành phố buồn. Bây giờ nhìn thấy, tôi không thấy Quy Nhơn như Thụy tả. Thành
phố khá lớn. Những cửa tiệm sầm uất. Người đi lại đông đúc. So với Pleiku, Quy
Nhơn vui và đẹp hơn nhiều. Xe chạy một vòng qua mấy con đường chính rồi ngừng lại
trước một khách sạn mới cất.
- Tới rồi đó.
Tôi bước xuống khỏi xe, nhìn lên những cánh cửa đóng kín.
- Ở đây yên tĩnh thật không?
- Thật mà. cô tin tôi đi.
Tầng dưới của khách sạn là một tiệm ăn. Chưa đến bữa ăn. Căn phòng rộng vắng ngắt.
Một người con gái ngồi sau quầy im lặng nhìn ra. Người phu xe xách valy ra hiệu
cho tôi đi theo. Tôi bước vào tiệm ăn, nghĩ đến cái buổi trưa tôi xuống Sàigòn,
lần đầu tiên trong đời đặt chân tới một khách sạn. Chỉ khác, lần này không có
Huyền, cũng không có Đạo.
Tôi tiến lại nói với người con gái ngồi sau quầy:
- Tôi muốn thuê phòng?
Người con gái có gương mặt hiền lành, dễ thương của một nữ sinh. Cô ta đang xem
một cuốn tiểu thuyết.
- Mấy ngày?
Tôi trả lời, nhớ đến lời dặn của Khoa là không được ở Quy Nhơn lâu:
- Hai ngày.
- Có ai nữa không?
Tôi lắc:
- Một mình tôi thôi.
Tôi thấy cần phải nói rõ hơn:
- Tôi ở Pleiku xuống. Tôi xuống thăm một gia đình quen.
Tôi trả tiền phòng. Một người đàn bà đứng tuổi từ một căn phòng phía sau quầy
hàng đi ra. Tôi đoán bà ta là mẹ cô gái vì hai khuôn mặt hao hao giống nhau. Chừng
như bà ta đã nghe thấy tôi nói vừa từ Pleiku xuống. Bà ta niềm nở bắt chuyện:
- Cô làm gì ở Pleiku?
Tôi cười:
- Thưa bà, tôi mở quán bán cà phê.
Hai mẹ con người đàn bà đưa mắt nhìn nhau. Người con gái:
- Ở Pleiku có quán cà phê nào tên là quán Nhớ không?
Tôi gật:
- Có. Quán Nhớ là tôi.
Người đàn bà lộ vẻ vui mừng, tôi cũng chẳng hiểu tại sao. Bà ta mời tôi vào
trong quầy nói chuyện. Thì ra bà có một người con trai. Tên anh là Chấn. Chấn
nhập ngũ hồi đầu năm ngoái. Hiện đang ở Pleiku. Trong những lá thư và qua vài lần
về thăm nhà. Chấn kể cho em gái về những buổi sáng chủ nhật đi dạo phố. Chấn
cùng đám bạn bè kéo nhau đến quán Nhớ uống cà phê. Người đàn bà góa chồng, chỉ
có Chấn là đứa con trai duy nhất. Bà ta muốn lên Pleiku thăm con trai hàng tuần,
nhưng khách sạn không có ai trông nom nên những cuộc đi thăm con không thể luôn
luôn như thế được.
- Con tôi nói đến quán cô luôn. Cô biết nó không?
Tôi cười:
- Các anh ấy đến đông lắm. Nhưng nếu bà tả qua hình dáng, tôi sẽ nhận ra được.
- Tôi có một ít đồ muốn gởi cho cháu. Chừng nào cô về Pleiku, tôi gửi cô cho
cháu đến quán nhận được không?
Tôi nói được, chuyện đó rất dễ dàng.
Người đàn bà nắm lấy tay tôi:
- Trên Pleiku, chúng tôi không có bà con quen thuộc gì hết. Cô với chúng tôi
trước lạ bây giờ là quen. Tôi sẽ viết thư cho con tôi. Cô coi nó như em. Cho nó
lui tới. Nó cần gì nhờ cô giúp đỡ cho.
Thế là tôi trở thành thượng khách của bà chủ khách sạn. Mặc dù tôi nhất định từ
chối, bà ta nhất định bảo con gái trả lại tôi mọt nửa tiền phòng. Bà ta đích
thân đưa tôi lên lầu dành cho tôi căn phòng đẹp nhất. Đó là một căn phòng có
máy lạnh, trước cửa sổ phòng có bóng cây, hành lang phía trước có một dàn hoa
leo mầu tím.
- Cần gì cô cứ nhấn chuông.
Tôi nói:
- Cám ơn bà.
Chỉ mấy bức tranh của Dã Thụy, người đàn bà hỏi:
- Cái gì đó?
- Mấy bức tranh.
Người đàn bà tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Cô biết vẽ sao?
Tôi cười lắc đầu:
- Không, đó là mấy bức tranh của một người bạn. Bạn tôi sinh trưởng ở đây. Anh
ta vừa tạ thế ở Pleiku, mang mấy bức tranh về cho gia đình anh ấy ở đây.
- Ai vậy?
- Anh Dã Thụy.
Bà chủ khách sạn nhíu mày:
- Có phải là cái cậu bỏ nhà đi giang hồ từ mấy năm nay?
- Vâng. Chắc thế. Tên anh bạn tôi là Thụy.
- Cậu Thụy, đúng rồi. Cậu ta mất rồi sao? Tội nghiệp. Bà cụ thân sinh ra cậu ấy
rất quen biết với gia đình chúng tôi. Từ ngày cậu ta bỏ đi, bà cụ khóc hoài.
Đâu có cho người vào Sàigòn tìm kiếm nhưng không thấy.
Bà chủ khách sạn chép miệng:
- Tại sao cậu ấy không trở về, cô có biết không?
Tôi biết tại sao Dã Thụy bỏ đi. Tôi biết tại sao Dã Thụy không trở về Quy Nhơn.
Nhưng tôi không nói cái biết đó với bà chủ khách sạn. Vì Dã Thụy, chỉ những người
như tôi, chỉ những người cùng một lứa tuổi với Dã Thụy, có một đời sống gió bão
như Dã Thụy, mới hiểu được. Chúng tôi là những nhánh cây đứt rễ, những giọt nước
mất nguồn, những con thuyền trôi dạt vì chối từ mọi bến đậu. Tôi ôn tồn nói với
bà chủ khách sạn:
- Anh Thụy đau yếu luôn, nên nhiều lần anh ấy muốn về Quy Nhơn mà không về được.
Thấy tôi có vẻ mệt, không muốn kéo dài câu chuyện người đàn bà đi ra. Tới cửa
phòng, bà ta đứng lại:
- Cô nằm nghỉ. Lát nữa tôi sẽ cho bồi phòng lên mời cô xuống dùng bữa với chúng
tôi.
Cửa phòng đóng lại. Tôi thay quần áo, ném mình xuống mặt nệm. Cảm thấy mệt hơn
bao giờ. Cảm thấy cô đơn hơn bao giờ. Sau một đoạn đường, ở tôi vẫn là cuộc chạy
trốn đó, về trước mặt. Một cuộc chạy trốn thất đảm, vô ích, nhưng vẫn phải tiếp
tục vì không thể dừng lại. Những khuôn mặt xa gần hiện lên. Thụy bây giờ đã yên
thân ở chỗ nằm vĩnh viễn nơi lưng chừng một ngọn đồi. Đạo giờ này chắc đang nằm
với một người đàn bà nào đó. Khoa mà tôi thành thật muốn đáp lại, để chỉ thấy
giữa hai chúng tôi còn là một biển trời xa cách. Tôi muốn đi xa vài ngày. Đổi
thay cho mình một không khí, một cảnh trí. Như thế, để nhìn thấy mình rõ hơn.
Tôi chẳng nhìn thấy được gì hết. Càng nghĩ, đầu óc càng hoang mang rối loạn.
Rồi sự mệt mỏi đè xuống, làm nặng chĩu mí mắt. Tôi thở dài, quay mặt vào tường.
Và ngủ thiếp đi.
Ngôi nhà nằm ở cuối một con đường nhỏ, đối diện với bãi biển. mái ngói đỏ. Những
khung cửa sơn xanh. Những vì tường màu vàng. Bốn giờ chiều. Sau bữa ăn cơm cùng
với mẹ con bà chủ khách sạn, tôi thuê xe đi một vòng trên những con đường chính
của Quy Nhơn, rồi tìm đến nhà Dã Thụy. Đã định đem theo mấy bức tranh, nghĩ thế
nào, tôi lại để chúng lại trên phòng khách sạn. Tôi cần biết phản ứng của gia
đình Thụy đối với cuộc thăm viếng đột ngột của tôi như thế nào đã.
Ngần ngại một phút trước ngôi nhà đóng kín cửa rồi tôi đưa tay lên, ấn mạnh vào
nút chuông trên thành cửa. Tiếng chuông reo, thật sâu, trong căn nhà yên lặng.
Không có ai trả lời.
Tôi chưa biết nên chờ đợi hay nên bỏ đi thì cửa của căn nhà bên cạnh mở ra. Một
cậu nhỏ thò đầu ra. Tôi hỏi:
- Phải đây là nhà ông giáo Cát.
Cậu nhỏ gật:
- Phải.
- Nhà không có ai sao?
- Bà giáo bị đau nặng vào bệnh viện hai hôm nay rồi. Ông giáo cũng vào đó với
cô Hiền từ trưa. Chắc đến chiều tối mới về.
- Lát nữa, tôi quay lại vậy.
Băng qua lòng đường, tôi đi thẳng xuống bãi. Từ thuở nhỏ, tầm mắt tôi chỉ quen
thuộc với thứ địa hình trùng điệp của cao nguyên. Đó là những cánh rừng hòa vào
những cánh rừng thành một vòng xanh đặc, rậm rì, bất tận. Đó là những ngọn đồi
nối tiếp những ngọn đồi, những triền núi xếp thành một bức tường thiên nhiên
cao vút. Tầm mắt vì thế bị án ngữ. Người ta không nhìn thấy chân trời.
Bãi biển Quy Nhơn về chiều đang phơi bầy trước mắt tôi một cảnh tượng trái ngược
hẳn. Tầm mắt được giải phóng. Chân trời là một vệt ngang thẳng tắp. Sự mênh
mông trải phẳng đến không cùng làm cho cái nhìn rợn ngợp. Tôi đặt chân xuống mặt
cát. Mầu cát vàng óng. Những bước chân tôi lún xuống, vừa đi vừa nhìn lại, thấy
những dấu chân mình in rành rành thành một đường thẳng ở sau lưng.
Khúc bãi trước cửa nhà Dã Thụy khá đông đảo. Từ con đường Nguyễn Huệ chạy dọc
theo bãi, từ những con phố bên trong, nhiều toán người đang đi ra, cùng xuống
bãi với tôi. Nhiều toán người khác ra bãi sớm hơn, đã vùng vẫy giữa những cơn
sóng trắng xoá. Hàng rong ngồi thành một hàng tới sát chân nước. Tôi đi lẫn vào
một bầy trẻ nhỏ. Bãi cát, với chúng biến thành một sân cỏ, trên đó một trận cầu
hào hứng đang diễn ra. Những tiếng reo hò của bầy nhỏ át cả tiếng sóng.
Đi được một quãng, tôi quay nhìn trở lại phía nhà Dã Thụy. Nhìn từ xa, mới thấy
khúc phố khá đẹp mắt. Ngôi nhà nằm dưới một tàng cây lớn. Những bông hoa đỏ
chói rực rỡ giữa những chùm lá xanh ngắt. Cảnh tượng vui ấm như thế kia, tại
sao không lưu luyến được lòng người? Quy Nhơn không có vẻ gì là một nơi chốn
lưu đày. Tại sao Dã Thụy bỏ đi, không nghĩ đến một lần trở lại? Tôi không tìm
được câu trả lời.
Nương theo chiều gió đẩy ở sau lưng, tôi lững thững đi tiếp. Bãi thưa vắng dần.
Bây giờ thì tôi không còn nhìn thấy ai ở chung quanh nữa, mà chung quanh tôi chỉ
còn là buổi chiều, bãi cát, tiếng sóng và biển bao la xanh biếc. Tôi chọn một
khoảng cát thật mịn, ngồi xuống. Tỳ cằm lên đầu gối, tôi nhìn ra biển khơi. Nhớ
một lần, Dã Thụy đã nói với tôi về biển: "Nhìn biển, người ta quên hết cuộc
đời ở phía sau lưng". Tôi nhớ lại lời Thụy và thấy mình chưa tìm được sự
quên lãng đó. Tiếng sóng đều đều từ mặt nước ném lên. Ngồi thêm một lát nữa thấy
tiếng sóng tràn đầy tràn đầy.
Bỗng, tôi rùng mình. Một bàn tay vừa đặt nhẹ lên vai tôi. Không nhìn lên, không
quay lại, tôi cũng biết đó là một bàn tay đàn ông. Và người đàn ông không thể
là ai khác, ngoài Đạo. Tôi đang nghĩ đến chàng. Chàng đã tới thật. Rất tình cờ.
Không thể tin. Nhưng đúng vậy, chàng đã tới.
Tiếng Đạo:
- Anh nhìn không lầm. Nhưng sao em lại ở đây.
Tôi đứng lên, từ từ:
- - Em vừa từ Pleiku xuống.
Chúng tôi nhìn nhau. Đạo hơi mỉm cười. Ánh mắt chàng đằm lại trong một thoáng mừng
rỡ trầm lặng. Đạo mặc một cái áo sơ mi ngắn tay bỏ ra ngoài quần. Chàng có vẻ
khỏe mạnh hơn là mấy ngày chàng ở Pleiku. Sự gặp gỡ thật bất ngờ. Nhưng chúng
tôi nhìn nhau, lại có cảm tưởng như đó là một gặp gỡ tự nhiên, như chúng tôi
cùng hẹn nhau ra bãi. Ý nghĩ này khiến tôi khám phá ra một sự thật. Quả thật là
chúng tôi đã đi thật sâu vào đời nhau. Và quả thật là chúng tôi không còn ra khỏi
đời nhau được nữa.
- Em tưởng anh về Sàigòn từ lâu rồi.
Đạo lắc đầu:
- Anh từ Pleiku xuống thẳng đây. Anh nhìn thấy em từ xa.
Chúng tôi nắm lấy tay nhau, đi theo bờ nước. Thêm một lần nữa, cái cảm giác yên
tâm, một yên tâm cũng lớn và đầy như biển lại đến với tôi, lúc này, khi tôi có
Đạo. Tôi không cần nói nhiều. Đạo cũng vậy. Chỉ một vài câu trao đổi ngắn ngủi,
rồi sự im lặng là tiếng nói chung của hai chúng tôi. Mấy buổi trưa, mấy ban đêm
ở Sàigòn, trong phòng Đạo, tôi đã được sống với sự im lặng khác thường này. Đạo
nằm bên tôi. Chàng hút thuốc lá, nhìn đăm đăm lên trần nhà. Tôi nằm cạnh chàng
và hai chúng tôi cùng im lặng hàng giờ không nói. Bây giờ cũng vậy. Nắng chiều
đã xuống, ném hai cái bóng chúng tôi dài thênh trên bãi cát. Biển như sâu hơn.
Tiếng sóng lớn hơn. Tôi phá tan sự im lặng:
- Em đang ngồi, em đang nghĩ tới anh.
Đạo gật, điềm đạm:
- Anh biết.
- Anh đi rồi, em có tới tìm anh ở khách sạn.
Đạo lại gật:
- Anh biết em tới.
Tôi bật cười thành tiếng:
- Em làm gì anh cũng biết sao?
- Gần như thế.
Tôi nhớ lại lúc tới tìm Đạo ở khách sạn. Tới sự thất vọng của tôi khi ở khách sạn
đi ra. Tới phút gặp Thư, theo Thư về nhà. Và sự bực bội của mình cả ngày hôm
đó.
- Anh đi đâu, ít nhất cũng phải cho em biết chứ.
Đạo nhìn tôi, ngạc nhiên:
- Chúng mình có định như thế đâu.
Biết mình vô lý, tôi cũng vẫn nói:
- Ít nhất anh cũng phải để lại cho em một lá thư. Em đến tìm anh ở khách sạn, cả
Pleiku biết rồi đó.
- Có chuyện gì phiền phức xẩy ra cho em không?
- Tất nhiên là có.
- Chính vì thế mà anh thấy không nên ở lại Pleiku lâu hơn nữa.
- Anh bỏ đi cũng chẳng thay đổi được gì hết.
- Anh biết.
Chúng tôi rời bãi, đi vào phía bên trong. Khúc này là con đường Nguyễn Huệ. Dãy
nhà thấp, lác đác. Ở nhiều quãng, cát từ dưới bãi tràn lên mặt đường. Đạo nắm
chặt tay tôi hơn.
- Em giận anh đấy à?
Tự nhiên, tôi chảy nước mắt:
- Nếu em giận được anh, may cho em bao nhiêu.
Tôi không giận được Đạo thật. Không bao giờ. Dù ngày mai khi tôi thức dậy trên
giường ngủ của chàng, chàng đã bỏ đi, không để lại một lá thư, một giòng chữ.
Tôi không thù oán Đạo được. Không bao giờ. Dù chàng đã đem lại thảm kịch cho đời
tôi, và chắc chàng sẽ làm khổ tôi nhiều hơn nữa. Khoa đem lại cho tôi một hạnh
phúc đích thực. Tôi không muốn sống với hạnh phúc đó. Đạo đem lại cho tôi bất hạnh.
Tôi đuổi theo bất hạnh đó. Ôm chặt lấy nó. Sống. Và cảm thấy sung sướng. Thế có
phải là tôi điên hay không?
Chúng tôi đứng lại dưới một bóng cây. Đạo hỏi:
- Em định ở đây mấy ngày?
Đạo đã nhìn thấy tôi khóc. Nhưng chàng không dỗ. Tôi cũng không khóc nữa. Tôi
chỉ thấy tôi yên tâm. Tôi chỉ thấy tôi bàng hoàng, đang sung sướng.
- Ba ngày.
- Em cũng chưa cho anh biết em xuống Quy Nhơn làm gì?
Tôi nói vắn tắt cho Đạo biết về cái chết của Dã Thụy. Về cuộc viếng thăm tôi muốn
thực hiện với gia đình Thụy.
Tôi chỉ tay:
- Nhà Thụy ở đằng kia. Nhưng em chưa gặp ai. Mọi người đi vắng hết.
Đạo rút thuốc lá, châm lửa hút. Thái độ chàng khoan thai bình tĩnh. Trên một hè
đường, trước một quầy rượu, hay trong không khí thân mật buông thả của một phòng
ngủ, Đạo vẫn cách biệt. Như lúc này chàng đang đứng với tôi. Nhưng tôi biết Đạo
đang vui. Vì gặp lại tôi ở một nơi chốn giữa những phút chàng không ngờ tới.
Không biểu lộ, chỉ là chàng muốn che dấu niềm vui đó. Ít người thấy được những
lúc vui mừng hiếm hoi của Đạo. Tôi thấy. Chỉ mình tôi thấy. Qua ánh mắt chàng.
Nhưgn lúc lắng đọng xuống, cái nhìn hiền và êm đềm hơn. Qua giọng nói, chợt có
lửa, chợt đầm ấm. Lúc vui của Đạo cũng là lúc ở chàng có một thỏa thuận. Với kẻ
khác. Với chính chàng. Bây giờ Đạo đang vui. Chàng như trẻ hẳn lại. tôi cũng vậy.
Đạo hỏi:
- Em phải trở lại nhà đó ngay bây giờ không?
Tôi lắc:
- Không cần thiết gì lắm. Tối nay em sẽ tới.
- Em ở nhà ai ở đây?
- Khách sạn.
- Khách sạn nào?
Tôi nói tên khách sạn. Đạo gật:
- Anh biết.
Tôi kêu lớn:
- Anh cũng ở đó?
Đạo cười. Chàng dùng ngón tay trỏ ấn nhẹ vào trán, khiến tôi lùi lại một bước.
- Không. Làm gì mà la hoảng vậy?
Tôi làm bộ mừng rỡ:
- Nếu anh ở đó em phải đổi khách sạn khác.
- Sao vậy?
- Nguy hiểm. Em vừa có một bạn mới. Đó là bà chủ nhà. Khách sạn rất đứng đắn,
không chấp nhận những chuyện bậy bạ.
Đạo ngẩn người:
- Chuyện anh và em là chuyện bậy bạ?
- Nếu không hẳn là bậy thì cũng không thể coi là đứng đắn được.
Đạo chợt buồn. Chàng nín thinh rồi gật đầu:
- Đúng vậy. Không thể coi là chuyện đứng đắn được.
Tôi nắm lấy tay Đạo:
- Nhưng em mừng được gặp anh ở đây. Đó là điều quan trọng nhất.
Tôi mừng thật. Pleiku buồn rầu, đã bỏ lại thật xa, bên kia những triền núi, bên
kia những cánh rừng. Giờ này. Quy Nhơn đang chan hòa nắng dãi. Biển đang xanh
biếc với tiếng sóng hát ca từ bãi cát thênh thang. Giờ này, ở Pleiku, sương chiều
đã thả giọt, những triền núi đã thẩm mầu, hoàng hôn đã dăng lưới. Tôi ra khỏi
được Pleiku rồi. Chẳng phải là tình yêu của tôi với Pleiku đã phai lạt hay tan
vỡ. Pleiku là bến đậu muôn đời của tôi. Nhưng tôi còn trẻ, hãy xin cho tôi được
một vài lần thoát ly. Rồi cuối cùng tôi cũng vẫn trở về với những cánh rừng, những
bóng núi.
Đạo và tôi cùng lìa khỏi con đường Nguyễn Huệ. Thành phố còn hoàn toàn xa lạ
như lúc tôi mới đến. Tôi cảm thấy mình thoải mái và tự do hơn bao giờ. Ở Quy
Nhơn, đi bên cạnh Đạo, chắc chắn tôi không còn phải gìn giữ ý tứ như ở Pleiku nữa.
Tôi sánh vai Đạo, bước giữa lòng đường và lần đầu tiên tôi đối diện đích thực được
với tình yêu vì tôi thấy tôi được tự do. Chúng tôi đi dần vào những khu phố
trong. Biển không nhìn thấy nữa. Chợt mất đi tiếng sóng. Chỉ còn lại chung
quanh hai chúng tôi cái tiếng động đặc biệt của Quy Nhơn là tiếng chuông leng
keng đổ hồi. Khác biệt với tất cả mọi nơi, những chiếc cyclo ở Quy Nhơn vừa lăn
bánh vừa rung chuông inh ỏi.
- Em quên chưa hỏi anh. Anh ở đâu?
- Nhà một người bạn.
- Hơi lạ đó.
- Sao vậy?
- Anh là người của những khách sạn.
- Đúng. Nhưng lần này, xuống Quy Nhơn thì có người ngăn không cho ở khách sạn nữa.
Tôi nhìn sang Đạo:
- Người ngăn anh có phải là người đàn bà em thấy ở Pleiku.
Đạo xua tay:
- Anh đi một mình. Không có chuyện cho người đàn bà ấy đi theo.
- Mặc dầu bà ta đã đòi đi theo?
Đạo gật, không che dấu:
- Mỹ dung đòi đi. Nhưng anh từ chối. Người anh nói đây là một người bạn cũ. Anh
ta ở đây, sống một mình. Trên anh là Luận. Hiện anh đang ở tạm nhà anh Luận.
Lát nữa anh sẽ giới thiệu Luận với em.
Tôi lắc đầu:
- Em không muốn gặp ai hết.
- Nhưng Luận thì em phải gặp. Một mẫu người rất kỳ lạ.
Tôi cười:
- Kỳ lạ đến như anh là cũng chứ gì?
Đạo nghiêm trang;
- Hơn. Em gặp sẽ thấy danh từ kỳ lạ anh dùng đúng không tả được.
Đạo nhìn đồng hồ:
- Em muốn về khách sạn?
- Không. Đưa em đi chơi.
- Lại ra bãi?
Tôi nhìn trời, một bầu trời Quy Nhơn chói lòa với những đám mây lực lưỡng bay
nhanh theo chiều gió.
- Đêm nay có trăng. Để buổi tối ra bãi đẹp hơn.
- Bây giờ em muốn đi đâu?
- Đi khắp tỉnh. Đi như thế này.
Đạo bật cười:
- Giữa đường?
- Giữa đường. Cho mọi người cùng nhìn thấy chúng mình đi với nhau.
- Em muốn thế thì dễ lắm.
Tôi muốn thế thật. Chẳng phải là lúc nào cũng muốn thế. Nhưng lúc này, tôi muốn
tận hưởng sự tự do của mình. Tôi đã ở bên cạnh Đạo nhiều lần. Hai tuần lễ ở
Sàigòn, một buổi tối ở Pleiku. Nhưng những lần đó, sự gần gũi của chúng tôi có
một vẻ gì vẫn đục, vì phải che dấu, vì phải giam nhốt trong một căn phòng đóng
kín. Tôi vẫn buồn bực vì chuyện đó. Chiều nay ở Quy Nhơn, tôi mới được phơi bày
nhưng rung động của trái tim tôi ra ánh mặt trời. Cảnh trí thay đổi khiến cho
tình yêu cũng đổi thay theo. Nó hồn nhiên, tươi sáng hơn. Tôi bằng lòng khao
khát được sống, được yêu như thế. Một cách hồn nhiên và tươi sáng.
Quy Nhơn có rất nhiều con phố rộng thẳng, rất nhiều con đường sầm uất. Nhưng lớn
nhất và đông đúc nhất là đường Lê Lợi. Con đường khá gần với khách sạn tôi ở.
Những cửa tiệm san sát. Tôi nắm tay Đạo đi trên vỉa hè, để mặc cho mọi cặp mắt
tò mò nhìn nghe.
Đi hết đường Lê Lợi, chúng tôi quay gót, đi trở lại con đường này, từ đầu đến
cuối, trên hè phố bên kia. Buổi chiều đã xuống hẳn. Nắng nhạt. Vòm trời cao
vút. Gió từ phía biển thổi vào, là là mặt đường. Tôi sống một cảm giác phơi phới.
Quy Nhơn chiều nay ném trí nhớ tôi thật xa về những buổi chiều Sàigòn năm
ngoái. Tôi cũng đã đi chơi tay đôi với Đạo như thế này. Có điều là chúng tôi
còn rụt rè, chưa dám xuất hịên công khai ở những nơi chốn đông người. Mấy buổi
chiều nắng đẹp, chỉ nhìn thấy chúng tôi trên những con đường, những bãi cỏ ngoại
ô. Ở Sàigòn, tôi đã nằm với Đạo trên cỏ. Nhìn mây bay trên đầu. Nhìn nắng nhạt
quanh mình. Nhìn giòng sông trước mặt. Bâg giờ, tôi đi với Đạo trên một hè phố
đông đúc, thả cho tình yêu ung dung đi tới theo từng bước chân, tôi được sống,
lần đầu tiên, một cảm giác vợ chồng ngây ngất.
Mấy ngày ở Quy Nhơn, tôi sẽ sống tận cùng với chúng. Trong một hưởng thụ tràn đầy.
Hạnh phúc với tôi vẫn chỉ là thứ hạnh phúc chốc lát. Nó không có lối thoát, chẳng
có ngày mai. Rồi Đạo sẽ lại ra khỏi đời sống tôi, chàng đến như mây, chàng sẽ
đi như gió. Tôi có chàng phút nào, biết phút ấy. Cho nên tôi phải tận hưởng, vì
không dám có một ảo tưởng nào.
Một giờ sau, tôi đưa Đạo trở về khách sạn. Bà chủ nhà vẫn ngồi với cô con gái ở
sau quầy.
Tôi bấm nhẹ vào cánh tay Đạo nói nhỏ:
- Anh đừng ngạc nhiên nhé !
Đạo ngạc nhiên:
- Về chuyện gì mới được chứ?
- Về chuyện em giới thiệu anh.
- Cần thiết không?
Tôi cười:
- Bắt buộc.
Miệng nói, tôi kéo Đạo đến trước quầy hàng. Tôi nói với Đạo:
- Ạnh, đây là bà chủ khách sạn.
Bà chủ quán ném cho Đạo một cái nhìn tò mò. Đạo cúi đầu, lễ phép.
- Chào bà.
Tôi chỉ Đạo, nói với người đàn bà.
- Nhà tôi. Nhà tôi vừa từ Pleiku xuống.
Bà chủ khách sạn tròn mắt:
- Ông bà không đi cùng với nhau sao?
Thấy tôi đóng kịch, Đạo phải đóng kịch theo:
- Tôi có việc phải đi chuyến xe sau.
Trông Đạo và tôi có vẻ gì là vợ chồng không? Hình như là không. Cái nhìn tò mò
của người đàn bà chuyển thành một cái nhìn đầy nghi ngờ. Tôi điềm nhiên như
không. Hỏi Đạo:
- Anh thu xếp xong công việc chưa?
Đạo mím môi, cố giữ vẻ nghiêm trang:
- Tạm xong.
- Chiều nay, ông bà có ăn cơm ở khách sạn?
Tôi trả lời thay cho Đạo:
- - Chúng tôi dùng bữa ngoài biển. Mai, chúng tôi sẽ ăn cơm ở đây.
Tôi kéo Đạo đi về phía cầu thang. Tình yêu là một cái gì thật tươi vui, trẻ
trung, nếu người ta vừa được đứng đắn với nó, lại vừa được đùa ngịch với nó.
Tôi đang được như thế. Tôi bước rải trên những bực thang; cười khúc khích. Đạo
đi bên cạnh tôi, nét mặt nghiêm trang hẳn lại. Chừng như danh từ vợ chồng tôi vừa
nói tới làm Đạo bận tâm và suy nghĩ.
Tôi cười lớn:
- Em đùa đó, anh đừng lo.
Đạo nín thinh, không nói gì. Chàng lẳng lặng theo tôi tới trước cửa phòng. Hàng
lang vắng ngắt. Bầu không khí riêng tây cho phép những cử chỉ, những biểu tỏ
thân mật. Tôi vòng tay ôm ngang lưng Đạo, tựa đầu vào vai chàng. Đạo cúi xuống,
hôn nhẹ lên mái tóc tôi. Nét mặt chàng vẫn cực kỳ nghiêm trang.
Cửa phòng mở ra. Tôi kéo Đạo và thuận tay đóng mạnh cánh cửa lại. Đèn phòng bật
sáng. Đạo đưa mắt, nhìn căn phòng, và những đồ đạc lặt vặt tôi còn ném bừa bãi
trên mặt đệm. Tôi chờ Đạo ôm lấy tôi, như mọi lần. Nhưng không, chàng buông
thõng hai tay, nét mặt vẫn nghiêm trang.
Tôi hỏi:
- Anh sao thế?
Đạo thở dài thật nhẹ. Chàng từ từ lắc đầu:
- Không.
- Anh thấy chưa? Thế nào rồi chúng mình cũng gặp lại nhau.
Đạo ngẫm nghĩ rồi kéo tôi lại giường, bắt tôi ngồi xuống:
- Ngồi xuống đây, anh nói chuyện.
Giọng Đạo trầm trọng. Tôi không dám cười cợt nữa.
- Anh muốn nói gì với em.
Đạo nhìn thẳng vào mặt tôi:
- Anh muốn nói với em thế này. Chúng mình đừng đi xa thêm nữa.
- Anh không muốn lên đây? Anh không muốn gặp em?
Đạo xua tay:
- Em đừng hỏi vậy. Em thừa biết là không phải như vậy?
- Anh bận tâm điều gì?
- Trò đùa nguy hiểm đã kéo dài. Đừng kéo dài nó thêm nữa.
Đạo thở dài nói tiếp:
- Anh đang như thế nào, em biết không? Anh đang rất ân hận.
Tôi lắc đầu:
- Em thì không !
- Trong hai chúng mình phải có một người sáng suốt hơn người kia. Anh đã nghĩ lại.
Tất cả. Từ đầu. Từ mấy tuần lễ ở Sàigòn. Từ chuyện anh lên Pleiku. Đến chuyện
chúng mình tình cờ gặp nhau ở đây. Đáng lẽ anh phải thôi, phải để cho em yên.
Anh đã không làm như thế.
- Em không đổ lỗi cho anh.
- Chính vì thế mà anh hối hận.
Nói với Đạo rằng tôi không ân hận, tôi nghĩ tôi rất thành thực. Chẳng phải bây
giờ, tôi mới không ân hận. Mà chẳng ân hận chút nào, đêm tôi theo Đạo vào phòng
chàng ở Sàigòn. Không có gì vĩnh viễn trên trái đất này. Kể cả tình yêu, kể cả
tuổi trẻ. Thêm một ngày sống, tôi lại có thêm không biết bao nhiêu minh chứng
hùng hồn cho cái không lâu dài, cho cái không vĩnh viễn. Cái chết của anh KIện
dưới chân ngọn đồi Chu Pao. Tuổi trẻ của anh nổ tung, tan tành thành muôn mảnh
nhỏ. Cái chết của Dã Thụy trong túp lều hoang, bên cạnh những bức tranh không
bao giờ được người đời biết đến. Tấm bia người chiến sĩ vô danh in lên nền trời
An Khê. Những dấu chân tôi buổi chiều ngoài bãi biển Quy Nhơn. Những dấu chân ấy
đã bị sóng biển bôi kín. Tất cả đều chốc lát. Tôi và Đạo cũng vậy. Tình yêu của
chúng tôi, cũng vậy. Và ngày mai là một chân trời mịt mùng. Anh Đạo, anh không
nhìn thấy em đang chạy trốn đó sao? Cuộc chạy trốn điên cuồng, tuyệt vọng về
trước mặt. Chúng ta đang rủ nhau chạy trốn. Cuộc chạy trốn điên cuồng, tuyệt vọng
về trước mặt.
Tôi ấn mạnh ngón tay vào nút chuông ở đầu giường.
Đạo nhíu mày:
- Em làm gì vậy?
- Gọi bồi phòng lên.
- Em cần gì?
- Hai cái ly. Một chai rượu mạnh.
Sự kinh ngạc của Đạo khiến tôi cười lớn thành tiếng. Làm cho một người như Đạo
phải kinh ngạc là một trò chơi cực kỳ vui thú. Tôi đặt mình nằm xuống mặt đệm.
Thuận đà, tôi kéo Đạo nằm xuống theo. Tiếng cười của tôi vang động trong căn
phòng kín. Tôi vẫn đang cười khi tiếng gõ cửa nổi lên. Tôi nói lớn:
- Cứ vào đi.
Cửa phòng hé mở. Người bồi phòng rụt rè bước vào. Tôi hỏi:
- Dưới tiệm ăn có rượu không?
Người bồi phòng gật:
- Thưa có.
- Anh muốn uống thứ rượu gì? Cô nhắc nhé?
Đạo bật cười. Tôi đùa cợt. Chàng thua rồi. Chàng không nghiêm trang được nữa.
- Em thành thạo về rượu lắm nhỉ?
- Chuyện, chủ quán mà.
Bằng một giọng thật ăn chơi, tôi nói với người bồi phòng.
- Chú xuống nhà đưa lên cho tôi một chai cô nhắc. Một chai nguyên, nghe không.
Hai cái ly và một sô đá nữa.
Người bồi phòng lủi ra. Tôi thay áo dài, tháo mái tóc cho tự do chảy xuống hai
bờ vai, phơi bầy thân thể tự nhiên trước mắt Đạo. Năm phút sau, người bồi phòng
đưa khay rượu lên. Tôi mở nút chai rót rượu vào ly, đưa một ly cho Đạo. Tôi uống
trước, một ngụm lớn. Rựơu đốt cháy cuống họng như mộtgiòng lửa. Chất men đắng,
chát, choáng váng. Tôi cố gắng không nhăn mặt. Và ngửa cổ uống thêm một ngụm nữa.
Đạo cau mày:
- Coi chừng say.
Đạo chép miệng:
- Anh đã điên. Bây giờ anh khám phá thấy nhiều lúc em còn điên hơn anh.
Đạo uống một chút rượu, uống miễn cưỡng. Lấy ly rượu khỏi tay tôi, chàng không
cho tôi uống thêm nữa. Tôi biết lúc này, chàng đang bận tâm về tôi, chàng đang
thương tôi, bằng một xót thương rất bất ngờ nhưng cũng rất vô cùng thành thật.
Chàng biết nếu không cười đùa, không làm ồn, tôi sẽ sầu thảm và tôi sẽ bật
khóc, tiếng khóc, thay cho tiếng cười, cũng sẽ vang động trong căn phòng đóng
kín. Tôi chấp nhận cuộc tình chốc lát của chúng tôi.
Tôi lao đầu vào trò đùa nguy hiểm, không than thở, không oán trách. Thái độ tôi
đã làm Đạo xúc động.
Nhưng rồi tôi cũng không cười đùa được nữa. Hai ngụm rượu làm tôi ngây ngất. Đầu
óc tôi bềnh bồng, váng vất. Đạo ôm chặt lấy tôi. Tôi thu mình thật nhỏ, nằm yên
trong tay chàng. Một phút im lặng.
Đạo gọi:
- Ngọc.
Tôi nói, vùi mặt vào tai chàng:
- Em đây.
- Ngủ một chút đi.
- Em ngủ để anh lại bỏ đi sao?
Đạo dịu dàng:
- Anh không bỏ đi đâu. Đừng sợ.
- Ba ngày nữa, khi em trở về Pleiku, em sẽ bằng lòng cho anh bỏ đi. Nhưng bây
giờ thì anh đừng đi đâu. Ạnh phải ở đây với em.
Đạo gật:
- Anh ở. Ngủ đi một lát.
- Ôm em thật chặt cho em ngủ.
Đạo hôn tóc, hôn miệng tôi. Thân thể chàng cứng cáp. Hơi thở chàng ấm áp. Tôi
rùng mình. Lẫn lộn trong tôi là một yên tâm tận cùng và một hãi hùng không bờ bến.
Nước mắt tôi chảy ra ràn rụa. Một bên ngực áo Đạo đã ướt đẫm nước mắt.
Tiếng Đạo, trong tóc:
- Sao em khóc?
- Em không biết. Em không biết.
Tôi thổn thức nói tiếp:
- Tự nhiên như thế.
Đạo dỗ dành:
- Đừng khóc nữa.
- Em khóc một chút có sao đâu?
- Em không khóc một chút. Em đã khóc là khóc thật nhiều. Em khóc, anh buồn lắm.
Tôi hỏi:
- Tại sao anh buồn?
- Vì anh đã làm em khóc.
- Không phải thế đâu. Không phải thế.
Tôi không khóc nữa. Tôi chỉ có ba ngày. Ba ngày để vui, để sống. Ba ngày đang
trôi qua, ba ngày vẫn còn nhưng cũng là bà ngày sắp hết:
- Chiều chúng mình ra bãi nhé !
Đạo gật:
- Anh sẽ đưa em ra bãi.
- Đêm nay có trăng đó, anh.
Đạo gật:
- Phải rồi. Đêm nay có trăng.
- Chúng mình sẽ ở ngoài bãi tới khuya.
- Em muốn ở đến bao giờ cũng được.
- Đêm nay, anh phải về đây với em. Em không bằng lòng cho anh ở nhà người bạn
anh đâu.
Đạo cười:
- Tuân lệnh.
Tôi cựa mình trong tay Đạo Rồi tôi ngủ thiếp đi.
Chương 7
Tôi không viết nhật ký bao giờ. Cũng sẽ chẳng bao giờ viết nhật
ký nữa, ngoài những điều tôi muốn ghi lại về ba ngày sống với Đạo ở Quy Nhơn.
Cuộc sống rồi hết. Cái chết của Dã Thụy, của anh Kiện bảo cho tôi biết như thế.
Minh bạch. Rõ ràng. Ngày tháng trôi qua và sống là đồng nghĩa với lãng quên.
Nhưng ba ngày sống với Đạo ở thành phố Quy Nhơn trên bãi biển Quy Nhơn, dưới nắng
chói, và trăng sáng Quy Nhơn thì tôi muốn ghi nhớ. Mãi mãi ghi nhớ. Trọn đời
ghi nhớ. Bởi vậy mà có mấy trang nhật ký này. Thư Dã Thụy để lại cho tôi có nói
đến Pleiku như một nơi chốn của định mệnh.
Một nơi chốn ở đó Thụy đã đồng thời tìm thấy đời sống và cái chết. Pleiku là bến
đậu, là quê hương của Thụy.
Quy Nhơn với tôi, khác. Nơi chốn chỉ là một địa điểm tôi đi qua, dừng lại vài
ngày. Như một sân ga cho một con tầu. Nhưng Quy Nhơn là thiên đường của tôi. Và
tôi không muốn lãng quên thiên đường, dù chỉ là một thiên đường chốc lát.
Không ai có được một hạnh phúc một đời. Ai có thứ hạnh phúc đó, tôi nhất định
không chịu tin đâu. Nhưng hạnh phúc chốc lát tôi tin là có, vì tôi đang được sống
với hạnh phúc đó. Ba ngày. Ba ngày ngắn ngủi. Ba ngày. Ba ngày đang qua. Ba
ngày Quy Nhơn. Ba ngày thần tiên. Ba ngày tuyệt vời. Chúng chỉ đến với tôi một
lần trong đời. Và tôi muốn ghi lại. Để nhớ. Để sung sướng. Để khóc.
Ngày đầu. Buổi chiều.
Bàn tay Đạo đặt nhẹ lên vai, thành một lay gọi dịu dàng. Tôi cựa mình và thức
giấc. Mặt đệm dưới lưng êm ái. Căn phòng tối mờ, Đạo ngồi ở thành giường. Chàng
cúi nhìn tôi, bàn tay chàng trên vai.
Tôi nắm lấy bàn tay, và nhìn khuôn mặt Đạo ở gần. Một khuôn mặt tình nhân. Một
khuôn mặt quen thuộc.
- Mấy giờ rồi anh?
Đạo nhìn đồng hồ:
- Bảy giờ kém mười lăm.
Giọng nói của Đạo tỉnh táo. Chàng đã mặc quần áo. Và đang cầm trong tay một điếu
thuốc lá.
Tôi cười, chuyển thế nằm, gối đầu lên đùi Đạo.
- Lạ giường, lạ chiếu, thế mà em cũng ngủ được một giấc.
Đạo gật:
- Một giấc khá dài, khá ngon. Đỡ mệt chưa?
- Em khỏe mạnh hơn bao giờ. Đói bụng nữa.
- Chúng mình đi ăn.
- Anh không ngủ sao?
- Không.
- Trong lúc em ngủ, anh làm gì?
Đạo giơ cao điếu thuốc:
- Hút thuốc nhìn em ngủ.
Tôi ngẫm nghĩ đến cái cảnh tượng tôi ngủ vùi, Đạo ở bên cạnh, hút thuốc nhìn
tôi ngủ.
- Em ngủ thế nào?
- Xấu.
Tôi hoảng hốt:
- Thật sao?
Đạo lắc đầu cười:
- Anh nói đùa. Gái Pleiku ngủ đẹp lắm. Ngắm nhìn không chán mắt.
Thế là Đạo khen tôi xinh đẹp. Có xinh đẹp mới dễ thương ngay cả trong giấc ngủ.
Tôi thấy tôi sung sướng. Vì mình xinh đẹp. Vì được người tình ngắm nhìn. Cả
trong giấc ngủ. Hai tuần ở Sàigòn, tôi đã thức giấc nhiều lần với Đạo ở bên cạnh
như thế này. Nhưng đó là những thức giấc vật vã, lo hoảng. Những buổi chiều
Sàigòn cũng chứa đựng trong chúng tôi một cái gì vất vả, lo hoảng. Chiều Quy
Nhơn khác. Chiều Quy Nhơn giản đơn, êm đềm như những buổi chiều tuổi thơ.
Dưới đường những hồi chuông leng keng liên hồi vọng lên. Tôi nghe bật cười:
- Tại sao cyclo Quy Nhơn rung chuông hoài vậy, anh biết không?
- Họ đùa.
- Vừa đạp cyclo vừa đùa sao?
Đạo gật:
- Vừa đạp xe vừa đùa.
Có lẽ Đạo nói đúng. Phần lớn những người đạp xe ở Quy Nhơn mà tôi nhìn thấy đều
trẻ măng. Mười sáu mười bảy tuổi thôi. Họ rung chuông và họ thích đùa nghịch
như phần lớn những người dân miền biển. Có lẽ lại chỉ là tôi tưởng tượng. Tôi
đang sung sướng. Đang muốn ca hát, muốn đùa nghịch và tưởng ai cũng đang đùa
nghịch như mình. Lúc này, có một cái chuông như mấy chú cyclo, tôi cũng rung
chuông liên hồi, rung chuông vang động.
Đạo đỡ tôi ngồi dậy. Tôi vươn vai, thở ra một hơi dài.
- Cho em xin mười phút.
Đạo cười:
- Có thể thêm.
Tôi lắc:
- Mười phút thôi. Tắm, không trang điểm.
Tôi vào phòng tắm. Nước ào ạt, mát lạnh. Ngắm nhìn khuôn mặt lướt thướt trong
gương, tôi chợt nhớ đến Pleiku. Giờ này quán Nhớ có những ai? Cái chỗ thường ngồi
của Thụy, người nào đã thay thế? Tôi đi vắng, mọi việc Huyền làm hết, chắc nó
đang bực mình ghê gớm. Một mặc cảm hối hận bỗng nhiên tràn ngập. Còn Khoa nữa,
Khoa đang mong tôi về. Mong từng giờ từng phút. Tôi vội vã ra khỏi phòng tắm, vội
vã đuổi dạt mọi ý nghĩ vê Pleiku ra khỏi tâm trí.
Thấy tôi kém vui, Đạo hỏi:
- Sao thế?
Tôi thở dài:
- Em nghĩ đến quán Nhớ. Tự nhiên thấy sốt ruột quá.
Đạo ôn tồn:
- Một năm em có quyền đi chơi xa một vài ngày.
- Em nghĩ vậy. Nên mới đi.
Niềm vui mới khởi sự, mới bắt nguồn, đe dọa tan biến. Tôi chỉ xin có ba ngày
thôi mà. Tôi chỉ xin có ba ngày sung sướng, sống hồn nhiên, không suy nghĩ. Tôi
mặc quần áo vội vàng. Một cái áo sơ mi ngắn tay, kiểu đàn ông. Một cái quần ống
rộng. Tôi dùng một sợi giây thung, buộc chặt mái tóc lại sau gáy.
Đạo hỏi:
- Em có đồ tắm không?
Tôi lắc:
- Không.
- Em không muốn tắm biển?
- Có chứ. Lát nữa, phải đi hỏi mua một bồ độ tắm.
Chúng tôi đi ra. Đèn đã bật ngoài hành lang. Khách hàng thưa thớt ở phòng ăn dưới
nhà. Cô con gái bà chủ, vẫn ngồi ở sau quầy chăm chú với cuốn tiểu thuyết. Tôi
chợt nhớ đến mấy bức tranh còn để trên phòng. Phải đến nhà Thụy trước đã. Làm
cái việc đó cho xong, rồi muốn làm gì thì làm.
- Anh lên lấy dùm em mấy bức tranh.
- Đến nhà anh Thụy?
- Vâng. Rồi chúng mình đi ăn sau.
- Em muốn thế cũng được.
Đạo lên lấy tranh xuống. Ra tới ngoài đường, nắng đã tắt hẳn. Trời nhá nhem. Những
vì sao thứ nhất đã được mọc trên một nền trời nhợt nhạt. Chúng tôi thuê hai chiếc
cyclo, bảo xe đưa trở lại nhà Thụy. Suốt dọc đường, hai chiếc cyclo vừa chạy
đua vừa lắc chuông inh ỏi. Tôi nhìn sang Đạo. Chúng tôi cười với nhau. Ban nãy,
niềm vui ở tôi đe dọa tan biến. Với tiếng chuông vang động đường phố, tôi đã
vui trở lại. Tôi sẽ buồn. Buồn khủng khiếp. Tôi sẽ khóc. Khóc hết nước mắt.
Nhưng sau ba ngày đã. Khi tôi rời Quy Nhơn.
Tám giờ tối
Tôi ở nhà Dã Thụy nửa giờ. Đạo đưa tôi đến trước cửa ngôi nhà có những bông hoa
đỏ chói rồi ra bãi chờ tôi. Ông cụ thân sinh ra Thụy và cô em gái vừa ở nhà
thươngvề. Ông cụ cao gầy, nghiêm khắc, nét mặt lộ đầy vẻ phiền muộn, thứ phiền
muộn u uất, không đáy của một người già không tìm đựơc sự thanh thản cho tâm hồn,
sự an nhiên cho phần đời còn lại.
em gái Thụy hiền, mắt to nụ cười dễ thương. Ông cụ chỉ tiếp tôi chừng năm phút
rồi thở dài lui vào nhà trong. Khi báo tin Thụy đã mất, ông lão ngồi lặng người,
chỉ nói vắn tắt: "Thế là thằng con tôi đã chết". Ông cụ không hỏi
thăm tôi Thụy sống ra sao, chết như thế nào. Cũng không thèm chú ý tới mấy bức
tranh tôi mang tới. Chờ cho người cha lui vào nhà trong rồi, cô em gái mới chảy
nước mắt. Tôi ngồi im, nhìn cô ta khóc, không biết dỗ dành như thế nào. Tên cô
ta là Hiền. Cái tên thật đúng với người.
Hiền nín khóc, lau nước mắt, hỏi tôi:
- Chị với anh Thụy là thế nào?
- Bạn.
- Anh Thụy có sống với một người đàn bà nào không?
Tôi lắc:
- Sống một mình.
- Anh ấy đi. Không một lần viết thư về nhà. Thầy em giận lắm. Mẹ em nhớ con, mỗi
lần nhắc đến anh ấy lại khóc. Sao chị không khuyên anh ấy về thăm nhà?
- Có khuyên. Nhiều lần.
Hiền chỉ tay về phía một cửa phòng đóng kín:
- Đó là phòng anh Thụy. Từ ngày anh ấy bỏ đi, căn phòng vẫn bỏ trống. Em sẽ
treo mấy bức tranh trong căn phòng đó.
Tôi tỏ ý muốn vào thăm căn phòng của Thụy. Hiền đứng lên, đưa tôi vào. Đó là một
căn phòng nhỏ, có cửa sổ nhìn thẳng ra bãi. Đồ đạc sơ sài. Một cái giường, một
cái tủ, một bàn viết. Hiền bật đèn. Một tấm hình lồng kính của Thụy đặt trên mặt
bàn. Cặp mắt trong hình như ngạc nhiên về sự có mặt đột ngột của tôi. Không có
một ai vào phòng, đã nhiều ngày. Một lớp bụi đầy phủ kín lên hết thảy. Hiền mở
cửa sổ, chỉ chiếc ghế gần cửa.
- Những lúc không đi đâu, anh Thụy thường ngồi ở đó, nhìn ra biển hàng giờ.
Tôi hỏi Hiền:
- Tại sao anh Thụy bỏ đi. Hiền biết không?
Hiền ngẫm nghĩ rồi lắc đầu:
- Em vẫn tự hỏi nhiều lần về điều chị vừa hỏi. Có những lúc em tưởng như tìm thấy
nguyên nhân. Nhưng nghĩ lại, chẳng có nguyên nhân nào đúng hẳn. Anh Thụy nói
ít, sống lạ lùng từ hồi nhỏ. Cả nhà không ai hiểu được anh ấy.
Hiền hỏi lại tôi:
- Chị là bạn thân, chị cũng không hiểu sao?
Tôi đáp, không trả lời thẳng vào câu hỏi của Hiền:
- Mỗi người có một đời sống riêng, nhiều khi chính người đó còn không hiểu được.
Hiền nhìn tôi, bâng khuâng;
- Điều chị vừa nói, em cũng không hiểu.
Tôi hỏi:
- Năm nay Hiền bao nhiêu tuổi?
- Mười bảy.
- Thêm vài tuổi nữa rồi Hiền sẽ hiểu.
Thấy mình không còn lý do gì ở lại nhà Thụy lâu hơn, tôi đi ra. Hiền giữ tôi ở
lại thềm cửa.
- Anh Thụy chôn ở đâu?
- Trên một ngọn đồi.
- Ai chôn cất cho anh ấy.
- Tôi và mấy người bạn.
- Anh Thụy có nhiều bạn thân lắm nhỉ?
Tôi gật:
- Nhiều. Và ai cũng quý mến anh ấy.
- Em muốn hỏi chị một điều cuối cùng. Anh Thụy có được sung sướng không?
Tôi trả lời cho Thụy, có cảm tưởng trả lời cho cả chính mình:
- Sự sung sướng hay sự khổ sở rất tương đối. Mỗi người, buồn khổ hay sung sướng
một cách khác nhau. Tôi chỉ có thể nói với Hiền là anh Thụy đã sống theo đúng
như anh ấy muốn.
Hiền nói, nếu có cơ hội sẽ lên Pleiku. Tìm tôi. Nhờ tôi đưa tới viếng mộ Thụy
nơi ngọn đồi ngoài thị xã. Tôi cho Hiền địa chỉ quán Nhớ rồi chúng tôi chia
tay.
Trăng đã lên. Ánh trăng nhạt, lẫn vào ánh điện đường. Chỉ tới khi ra tới bãi, mầu
trăng về đêm trăng mới nhìn thấy rõ. Tôi đã được sống nhiều đêm trăng rừng huyền
ảo, nhiều đêm trăng núi huyền hoặc. Trăng rừng núi xanh và lạnh, phơi dãi trên
một cảnh tượng chập chùng.
Trăng núi lúc nào cũng như có nước mắt. Mầu trăng cũng là mầu sương. Trăng biển
rạng rỡ. Nền trời trong vắt. Mặt biển óng ánh. Con trăng treo lơ lửng giữa trời
là một dĩa ngọc.
Đạo đứng ở giữa bãi, quay lưng lại.
Nghe thấy tiếng chân tôi, chàng quay lại:
- Gặp chưa?
- Rồi.
- Như thế nào?
- Buồn. Không ngờ có một gia đình buồn như thế. Thụy có một người em gái khá
xinh đẹp, cô ta khóc làm em suýt khóc theo.
- Ai rồi cũng phải chết.
- Em cũng nghĩ như vậy, nên em không khóc nữa.
Chúng tôi không vào phố mà đi ngược bãi biển lên phía trên, phía có những tiệm
ăn. Đạo đưa tôi đến tiệm ăn chàng nói là thơ mộng và thoáng mát nhất. Tiệm thơ
mộng. Thoáng mát nhất. Nơi chốn này trước là một hội quán riêng của sĩ quan Mỹ.
Những người Mỹ rời khỏi Quy Nhơn, để lại hội quán cho một người địa phương khai
thác. Bãi cát nằm sát chân hội quán là một nền xi măng mênh mông. Hai ba căn
nhà tiền chế mỏng, nhẹ nằm cách nhau dưới những bóng dừa. Bàn ghế nằm rải rác.
Những chiếc bàn thấp. Những chiếc ghế bành êm ái. Chúng tôi chọn một bàn ăn dưới
một bóng dừa lả ngọn. Ánh đèn, bóng cây, bóng lá lẫn lộn, thấp thoáng. Gió thổi,
miên man, tràn đầy.
Người chủ quán tới với tấm thực đơn. Đạo gọi một đĩa cua rang muối và một đĩa
chim sẻ. Hai đĩa đồ ăn được mang ra mau chóng. Quán hàng vắng khách. Chỉ có hai
chúng tôi và một bàn khác nữa. Tôi ăn một con chim sẻ quay, nhớ đến những con
chim mía trong bữa ăn có Dã Thụy. Giữa hai bữa ăn có bao nhiêu chuyện đã xảy
ra. Giữa hai bữa ăn, đã người còn, kẻ mất. Đã một nấm mồ. Đã những giọt lệ. Hạnh
phúc chốc lát thật. Tôi biết thế rồi và tôi không khóc nữa.
Bữa ăn kéo dài tới mười giờ đêm. Gió thổi mạnh hơn. Đêm lạnh. Để chống với cái
lạnh thổi vào từ biển, tôi lại uống rượu nữa.
Tôi hỏi Đạo:
- Mai làm gì?
- Anh chưa nghĩ tới. Có lẽ chúng mình sẽ đi thăm một vài nơi của Quy Nhơn. Để
anh gặp người bạn đã. Anh ta thành thuộc về Quy Nhơn hơn anh nhiều.
Chúng tôi trở về khách sạn giữa một thành phố Quy Nhơn đã lắng chìm vào yên lặng.
Trăng lên cao. Biển xa xa là một thảm bạc mênh mông. Một vài chiếc cyclo còn
lăn chậm trên những mặt đường rộng thoáng. Nhưng những hồi chuông vui tai trong
nắng chiều đã tắt. Vầng trăng trên đầu đuổi theo hai chúng tôi. Tôi bước những
bước hững hờ, toàn thân tựa hẳn vào cánh tay Đạo ôm chặt.
Lúc sung sướng, người ta được sống tràn đầy, với một ý niệm tư hữu. Tôi đang được
sống với cái ý niệm này. Đạo thuộc về tôi. Chàng ngang tàng một đời. Chàng sống
như gió thổi, như mây bay. Nhưng phút này, chàng thuộc về tôi, là của tôi.
Thành phố Quy Nhơn phút này cũng vậy. Nó là của tôi, ánh trăng đang đuổi theo
con đường dài trước mặt, những ánh đèn, những viên gạch, những bóng lá. Và Đạo
bên cạnh. Đạo không dữ, không ghê gớm. Đạo đã đổi thành một Đạo mới, chàng đang
đi bên tôi, dịu dàng, ngoan ngoãn, như một chàng trai mới lớn.
Mười một giờ đêm. Về tới khách sạn. Chúng tôi đã đi dưới trăng, trên một quãng
đường dài. Hai chân tôi mỏi rời. Nhưng là một mỏi mệt kỳ thú. Tiệm ăn đã đóng cửa.
Căn phòng tối đen. Chúng tôi vào khách sạn bằng lối cửa hông. Mẹ con bà chủ đã
lui vào phòng riêng. Không bảo nhau, cả Đạo và tôi đều nhẹ bước. Những bực
thang lượn vòng dưới ánh đèn xanh biếc. Hành lang vắng ngắt. Rồi phòng ngủ. Rồi
mặt đệm. Gần sáng, tôi ngủ thiếp đi trong tay Đạo.
Ngày thứ hai - Buổi sáng
Tám giờ sáng. Tôi mở mắt, ra khỏi giấc ngủ trong một cảm giác buông thả khoan
khoái. Đạo nằm nghiêng, một tấm chăn mỏng đắp trên người. Chàng còn ngủ say. Những
tiếng chân nổi lên ngoài hành lang, cho biết ở khách sạn này đã có những người
thức giấc từ sớm. Bên ngoài, trời đã nắng qua những tia sáng lọt vào từ những
khe cửa. Tôi nhẹ nhàng rời khỏi giường, vào phòng tắm. Đạo thức, sau đó. Chúng
tôi mặc quần áo, xuống dùng điểm tâm ở dưới nhà.
Bà chủ gặp chúng tôi ở chân cầu thang.
- Đêm qua ông bà có ngủ được ngon giấc không?
Bà ta hỏi và tôi đưa mắt nhìn Đạo. Ông bà. Tôi với Đạo đã trở thành vợ chồng.
Trong ba ngày.
- Cám ơn bà. Không khí ban đêm ở đây rất dễ chịu.
Bữa điểm tâm khá ngon miệng. Rồi Đạo đưa tôi đến gặp người bạn của Đạo. Đúng
như Đạo đã nói trước, người bạn chàng kỳ dị thật. Kỳ dị từ hình thức đến cách sống.
Chỗ ở của Luận - Tên người bạn Đạo - Là một ngôi nhà một tầng, kiểu cổ. Nó được
ngăn cách với mặt đường bằng một hàng rào gỗ và với những nhà láng giềng bằng
hai hàng cây cao. Nếu có một chỗ nào mát mẻ và nhiều bóng cây nhất ở Quy Nhơn
thì là ở đây. Luận đang đọc sách khi chúng tôi tới. Đạo gõ cửa. Từ bên trong một
tiếng người vọng ra.
- Đạo hả? Cửa khép, cứ vào đi.
Đạo nói nhỏ với tôi:
- Đã thấy lạ lùng chưa?
Tôi ngẩn người:
- Em chưa thấy gì hết.
- Rồi đó. ANh vừa gõ cửa anh ta đã biết anh là ai.
Tôi cười:
- Ban anh là một ông thầy bói.
Đạo gật, nghiêm trang:
- Gần như thế. Một đạo sĩ.
- Đạo sĩ là người thế nào?
Đạo nhún vai:
- Một người sống ẩn. Bên ngoài cuộc đời. Và sống khác hẳn mọi người.
Khác thật. Cánh cửa vừa đẩy ra, tôi đã nhìn thấy một xâu chuỗi những cái khác lạ
chưa từng nhìn thấy ở đây hết. Tôi nhìn thấy những gì? Nhìn thấy một căn phòng
cực kỳ ngổn ngang, bừa bãi. Cái ngổn ngang bừa bãi cực kỳ ấy là những cuốn
sách. Nói là một rừng sách thì đúng hơn. Sách hiện hình cùng khắp. Sách che lấp
hết thẩy. Những chồng sách chất đống, đụng tới trần. Những dẫy sách nằm liền liền
phủ kín nền nhà. Và ở giữa một khoảng trống nhỏ là một ông lão già. Ông lão mặc
một bộ quần áo màu vàng, tay áo thật rộng, kiểu áo của những người tu hành. Tóc
ông ta thật dài trùm gáy, tới lưng như tóc đàn bà. Bộ râu cũng vậy, thòng dài tới
ngực. Ông lão đang cầm trên tay một cuốn sách. Thấy chúng tôi ông ta cười, đứng
lên.
tôi nhìn rõ hơn. Và biết mình nhìn lầm. Luận không phải là một lão già. Ánh mắt
tin tưởng, dáng điệu khỏe mạnh. Luận thật ra còn trẻ hơn Đạo nhiều. Chỉ là mái
tóc và bộ râu đã khiến cho tôi nhìn lầm người đàn ông trung niên thành một ông
lão tám mươi. Đạo cố gắng không cười trước nét mặt ngẩn ngơ của tôi. Chàng giới
thiệu:
- Ngọc, anh giới thiệu với em đây là anh Luận.
Luận cầm cuốn sách hai tay buông thõng, nhìn tôi đăm đăm với nụ cười không tắt
trên môi. Tôi mất hẳn tự nhiên trước người đàn ông kỳ dị.
- Mời chị ngồi chơi.
Luận cười lớn, nói tiếp:
- Không có bàn ghế gì hết. Chịu khó ngồi trên những cuốn sách, ngồi xuống.
Đạo chỉ cuốn sách nơi tay Lụân hỏi:
- Đọc gì thế?
- Một cuốn kinh.
- Có gì đặc biệt ở trong đó?
Luận giở giở mấy tờ của cuốn sách chữ Hán.
- Mới đọc. Chưa biết nói thế nào. Nhưng đọc tới đâu, thấy đầu óc nhẹ nhõm khoan
khoái tới đó thì chắc là một cuốn sách hay.
Luận hỏi tôi, giọng giễu cợt vui thú.
- Chắc chị ngạc nhiên lắm.
Tôi gật đầu, thú nhận:
- Thoạt đầu, tôi tưởng anh là một ông lão già.
Luận vuốt bộ râu dài:
- Tôi mới bốn mươi lăm. Nhưng cũng cho là mình già, mình hết đời rồi.
Luận chỉ tay vào cái rừng sách vây quanh:
- Tôi sống một mình như thế này. Với những cuốn sách.
Tôi hỏi:
- Anh thường ra khỏi nhà?
Luận lắc đầu:
- Nói rằng tôi giam mình trong căn phòng này gần như quanh năm suốt tháng thì
đúng hơn. Tôi để râu, nuôi tóc vì thế. Râu tóc với những cuốn sách là bè bạn
duy nhất.
Luận nói một cách đơn giản tự nhiên, thật lập dị mà lại không có vẻ gì của một
người lập dị.
Tôi hỏi:
- Anh ở đây đã lâu.
Gần hai mươi năm. Trước, tôi ở trong Sàigòn.
Luận cười:
- Cũng làm ăn, buôn bán, như mọi người.
Luận cười thành tiếng, chỉ Đạo:
- Cũng chơi bời không thua gì ông Đạo này. Rồi tình cờ, tôi ra Quy Nhơn. Và tôi
vất bỏ hết để ra sống ở đây, như thế này.
Tôi thắc mắc:
- Anh cũng phải làm gì để sống chứ?
- Tất nhiên. Nhưng mà những nhu cầu vật chất của tôi đã thu lại tới mức tối thiểu.
Một ngày hai bữa cơm muối vừng. Một bình trà. Tôi dạy học mấy giờ một tuần ở một
trường tư trong khu phố này.
Luận pha trà trên cái khay trà là một cuốn sách lớn. Tôi dần dần thấy có cảm
tình với người đàn ông kỳ dị. Dần dần thấy yêu mến cái đời sống thoát tục của
Luận Phải, sống như Luận đang sống là rất nên. Ở xa mọi tục lụy. Ở ngoài mọi
ràng buộc.
Qua câu chuyện hai người đàn ông nói với nhau, tôi được biết thêm nhiều điều
khá ngộ nghĩnh về Luận. Như năm ngoái, năm kia, Đạo cầm đầu đoàn người trẻ tuổi
xuống đường, thức hàng chục đêm không ngủ giữa những người trẻ tuổi diễn thuyết
ca hát. Như Luận đã nghiên cứu tướng số rất kỹ lưỡng và coi như người am tường
nhất về khoa tử vi ở Quy Nhơn. Luận đã coi bói, coi tử vi cho rất nhiều người.
Coi chơi. Thường là coi cho bạn bè. Không lấy tiền
Đạo hỏi tôi:
- Nhân tiện, em muốn anh Luận coi cho một quẻ không?
Tôi lắc đầu:
- Không.
Luận ném cho tôi một cái nhìn tò mò:
- Sao vậy?
Tôi nhún vai:
- Tôi không thích, không muốn.
- Chị không tin?
- Cũng không hẳn là như vậy.
Luận cười:
- Biết một chút về cái đã xẩy ra và về cái sắp xẩy ra cho cuộc đời mình cũng
hay lắm chứ.
Tôi nhìn Đạo nửa đùa nửa thật:
- Cả hai phương diện đó tôi đều đã biết.
Đạo nín thinh, như có ý hiểu. Hiểu rằng tôi không có một ảo tưởng gì về cuộc
tình tôi đang sống và hạnh phúc tôi, tôi chỉ giới hạn nó trong ba ngày ở Quy
Nhơn không hơn. Tôi sống ngắn hạn. Với cái đang xẩy ra. Thu nhỏ đời mình trong
những cái đang xẩy ra. Những đường chỉ tay, những lá số tử vi đều vô ích và vô
nghĩa. Đạo đứng lên:
- Đi chơi với chúng tôi được không?
Luận gật:
- Được. Đi đâu?
- Anh là hướng đạo cho chúng tôi. Đi đâu tùy anh.
Luận ngẫm nghĩ:
- Quy Nhơn có nhiều chỗ đáng thấy. Nhưng hơi xa. Để tôi chạy sang hàng xóm hỏi
mượn cái xe hơi đã. Anh lái xe được không?
- Được.
Mười phút sau, chúng tôi rời khỏi cái rừng sách của Luận, trên một chiếc xe
jeep cũ kỹ.
Luận vẫn mặc bộ quần áo vàng đạo sĩ, thêm một cái quạt nan phe phẩy trong tay,
Luận chỉ đường cho Đạo đi dọcbờ biển hướng về một phía núi. Đường bắt đầu xấu.
chiếc xe lắc lư gập ghềnh. Lòng đường hẹp dần, cao dần. Phía trái là những vách
đá dựng thẳng. Phía phải, một thung lũng sâu hút. Cảnh vật phơi dưới nắng khô
khan và cằn cỗi.
Đạo hỏi:
- Đi đâu thế này?
Luận cười:
- Thăm mộ một người chết.
Quay sang tôi Luận hỏi:
- Chị Ngọc đã đọc thơ Hàn Mặc Tử bao giờ chưa?
Tôi chưa đọc thơ Hàn Mặc Tử bao giờ. Cũng chưa đọc thơ của ai hết. Tôi chỉ
thích âm nhạc. Thơ ở ngoài đời sống tôi. Nhưng tôi đã được nghe nói đến nhà thơ
sinh trưởng ở Quy Nhơn và chết vì bệnh cùi thật nhiều. Nhạc và Thập đều yêu thơ
Hàn Mặc Tử. Dã Thụy nữa. Nhiều buổi chiều mưa ở quán Nhớ, họ chụm đầu đọc thơ
Hàn Mặc Tử thành khẩn và say sưa.
Tôi trả lời Luận:
- Chưa, nhưng cái ông thi sĩ ấy thì tôi đã đựơc nghe bè bạn nhắc tới.
Chiếc xe nặng nhọc vượt qua nhiều con dốc nữa. Nó ngừng lại ở một khúc quanh.
Chúng tôi phải xuống, đi bộ một quãng nữa mới tới mộ Hàn mặc Tử. Như mộ Dã Thụy,
nơi yên giấc ngàn đời của nhà thơ Quy Nhơn cũng nằm trên một chỗ cao. Cạnh mộ
thấp hơn một chút, là một đồn binh. Những ụ súng lầm lỳ. Những hàng rào thép
gai. Đá núi trần trụi và cỏ hoang cùng khắp. Thấp hơn nữa, chói lòa dưới nắng
là vùng biển Quy Nhơn. Tôi đi theo Luận và Đạo tới đứng trước ngôi mộ. Một phiến
đá lớn, phẳng. Một mộ chí, trên đó ghi tên tuổi, ngày ra đời và tạ thế của thi
sĩ. Có cả nhà thơ Quách Tấn là người bạn thân đã góp phần vào xây dựng bia mộ
này. Ở Pleiku, Dã Thụy nằm hướng về một phía núi cao ngất. Hàn Mặc Tử nằm trên
một tầng cao nhìn xuống biển Quy Nhơn.
Chúng tôi cùng đứng lặng. Tôi không nghĩ được gì khác, là nghĩ về những cuộc đời
đã hết, tất cả tan biến vào hư vô. Người xúc động nhất lại là Đạo. Chàng nhìn nấm
mộ đăm đăm, chìm đắm trong một suy nghĩ buồn bã. Nắng chan hòa. Những bụi cỏ hầm
hập bốc hơi. Tôi nhìn xuống vùng biển, xuống thành phố QUy Nhơn. Hôm nào, tôi
cũng đã từ trên một ngọn đồi cao nhìn xuống Pleiku dưới thấp. Đứng trên cao, thấy
xa đồi, gần trời. Đứng trên cao, thấy được cái lớn lao, cũng đồng thời nhận thức
được cái tầm thường, cái nhỏ bé, cái hữu hạn.
Luận trao cho toi cây quạt:
- Chị che đầu cho đỡ nắng.
Tôi lại gần Đạo, nói nhỏ:
- Thăm một người thân hay là người quen, bao giờ cũng buồn quá. Đi chỗ khác,
anh.
Đạo bứt một ngọn cỏ, thả cho rớt xuống trong nắng. Chúng tôi trở về chỗ đậu xe.
Luận chỉ tay về hướng núi:
- Bây giờ đi thăm trại cùi Quy Nhơn.
Tôi rùng mình. Tôi đã nghe nói đến trại cùi này, cả đời sống đầy đọa, khuất
lánh của những người cùi. Cũng đã được xem một cuốn phim về những người cùi thời
trung cổ, sống lưu đầy trong một thung lũng đá vôi.
Tôi ngần ngại:
- Nên không?
Luận cười:
- Tại sao lại không nên. Đã tới Quy Nhơn phải đi thăm trại cùi. Chẳng phải ai
cũng vào được đâu. Tôi quen mấy dì phước ở đó. Vào được.
Luận dơ một ngón tay:
- Đừng tưởng chúng ta là những người lành mạnh. Và đừng tưởng những người cùi
đáng ghê tởm.
Tôi cau mày:
- Sao anh lại nói thế?
Luận lên xe.
- Ngọc vào tới nơi sẽ biết tại sao?
Chiếc xe lại trèo tới, mệt nhọc, vất vả trên con đường khấp khểnh. Thung lũng
sâu hơn. Rồi xe đổ dốc, xuống một thung lũng khác.
Một con đường thẳng tắp mở ra. Nhịp xe êm ả hẳn lại. Cảnh vật vẫn hoang vắng, tịch
mịch, nhưng không man rợ nữa, vì đã có bàn tay chăm sóc của người.
Luận nói:
- Chúng ta đã vào tới thế giới người cùi.
Chiếc xe ngừng lại trước một cổng sắt. Hai cánh cổng đóng kín. Nhìn vào lại một
đường nữa, thẳng tắp giữa hai hàng cây. Trên cánh cổng, treo một tấm bảng với
hàng chữ tôi chưa từng đọc thấy ở một tấm bảng nào: "Hãy để cho chúng tôi
được yên lành". Tôi rợn người trong một cảm giác khó tả. Chúng tôi đây là
những người cùi. Họ sống trong một thế giới riêng. Họ xin loài người hãy để cho
họ được yên lành. Cuộc viếng thăm của chúng tôi có nên không? Hay chỉ là một đột
nhập khả ố, một phá rối không thể tha thứ? Tôi nói sự thắc mắc của tôi với Đạo.
Đạo hỏi ý kiến Luận.
Luận cười:
- Không sao? Tuần nào cũng có người đến đây thăm viếng. Tấm bảng chỉ để làm bớt
đi những sự thăm viếng ấy mà thôi. Chúng ta sẽ không ở lâu.
Nghe thấy tiếng xe, một người đàn ông từ sau một lùm cây chạy ra. Ông ta chừng
bốn mươi tuổi, nước da ngăm đen, dáng điệu bình thường, khỏe mạnh. Da thịt người
đàn ông nguyên vẹn, nhẵn nhụi, không có những triệu chứng lở loét của người cùi.
Tôi hỏi nhỏ:
- Người này là thế nào?
Luận:
- Một bệnh nhân.
Tôi ngạc nhiên:
- Bệnh nhân mà cũng được đi lại tự nhiên, thong dong như thế kia sao?
Luận giải thích:
- Đó là những người bệnh nhẹ. Hoặc sắp khỏi hay mới bắt đầu.
Tôi ngẩn người:
- Bệnh cùi cũng chữa được sao?
Luận gật:
- Có chứ. Rất nhiều người đã ra khỏi trại này. Vì được chữa khỏi.
Người đàn ông lẳng lặng mở rộng cánh cửa. Ông ta mỉm cười, đáp lại cái gật đầu
của chúng tôi. Và đứng tránh sang một bên. Xe vào trại. Lúc này tôi mới nhận ra
hai hàng cây xếp hàng trên hai bờ đường là hai dãy phi lao thấp. Biển chưa nhìn
thấy. Nhưng biển đã đâu đó. Trong tiếng gió rì rào làm cho hai hàng phi lao
rung lên. Xe chạy hết con đường, rẽ về phía tay trái. Nhìn những bồn cỏ mịn
màng, những luống hoa tươi tốt, tôi có cảm tưởng đang ở trong một công viên bát
ngát hơn là ở giữa đất sống và đất chết của những người cùi. Xe ngừng lại trước
một toà nhà hai tầng, có thềm cao kiến trúc rất tây phương. Vẫn không một bóng
người, không một tiếng động. Tất cả đều yên nghĩ, thư thái, thiêm thiếp.
Chúng tôi phải đứng chờ ngoài thềm chừng năm phút mới có một dì phước chạy ra.
Luận tới nói chuyện với dì phước. Dì phước gật đầu chào chúng tôi, mời cả bọn
vào phòng khách. Dì nói dì người vùng Quảng Bình. Năm ngoái dì còn ở một chủng
viện trên Khôngntum. Dì tình nguyện xuống phục vụ Ở trại cùi. Dì mới ở Quy Nhơn
từ đầu năm nay.
Phòng khách như mọi nơi trong trại, sạch bóng. Những chiếc ghế bằng mây vây
chung quanh một cái bàn thấp. Trên tường hình Đức Mẹ và Thánh giá. Dì phước trở
lại với một khay nước ngọt. Dì mời chúng tôi uống cho đỡ khát trước khi được hướng
dẫn đi thăm những khu vực chính của bệnh viện.
- Cô cứ uống, không sao. Bệnh cùi cũng lây nhưng không lây dễ dàng như mọi người
tưởng nữa. Lát nữa cô sẽ gặp bà Nhất người Pháp. Bà đã ở đây bốn mươi năm, giữa
những người cùi, bà không sao hết.
Tôi hổ thẹn, đỏ bừng mặt. Đạo ném cho tôi một cái nhìn giễu cợt. Tôi bưng ly nước
uống, không cảm thấy ghê rợn như lúc mới đến trại nữa. Bầu không khí thư thái.
Sự yên tĩnh như một bóng rợp dịu dàng bao phủ. Những bông hoa nở trong yên lặng
ở ngoài vườn. Những hàng phi lao xôn xao. Những thảm cỏ óng mướt. Sự bồn chồn
trong tâm hồn tôi cũng đã lắng dịu theo. Tôi đã hết sợ. Và muốn xem trại. Muốn
thấy. Muốn ở lại.
Chúng tôi nói chuyện nho nhỏ với nhau cho tới khi bà Nhất người Pháp trên lầu
đi xuống.
Trái với dì phước mảnh khảnh, xanh yếu, bà Nhất đẫy đà khỏe mạnh. Nước da bà trắng
hồng. Mái tóc bà đã bạc phơ, khuôn mặt nhiều nếp nhăn. Nhưng cặp mắt xanh biếc
mầu trời thì tinh anh vô chừng và cái nhìn tươi tắn.
Bà bắt tay chúng tôi, tỏ ý bằng lòng khi cả ba chúng tôi đều nói được tiếng
pháp. Bà cười dùng tiếng Việt.
- Như thế tôi có thể nói bằng tiếng Pháp. Tôi ở đây đã trên bốn mươi năm, nhưng
nói tiếng Việt còn kém lắm.
Luận:
- Bà nói không khác gì chúng tôi.
Bà Nhất xua tay:
- Đâu phải. Cái dấu đó. Tôi không nói được rõ dấu. Các người đã thấy rồi chứ.
Chúng tôi cùng cười. Sau đó, bà Nhất, có dì phước theo sau, hướng dẫn chúng tôi
đi thăm bệnh viện. Phòng giải phẫu. Phòng phát thuốc. Phòng thí nghiệm. Đâu đâu
cũng ngăn nắp, sáng láng. Chúng tôi xuống thềm đi sang một căn nhà khác. Khu
này dành cho nữ bệnh nhân. Đám người bệnh cùng ngồi lên khi thấy chúng tôi vào.
Nét mặt họ bình tĩnh. Họ nhìn chúng tôi lặng lẽ. Rời khu đàn bà, chúng tôi sang
khu đàn ông. Giữa hai khu nhà nhiều bệnh nhân ngồi sưởi nắng trên những cái ghế
dài. Tôi nhìn mọi khuôn mặt. Điều tôi nhận thấy là phần lớn những người bệnh đã
an phận, đã nhẫn nhục với chứng bệnh hiểm nghèo của họ. Họ không kêu khóc,
không vật vã. Trên những khuôn mặt bất động, nét lo âu đã biến mất. Chỉ còn một
vẻ buồn bã, lặng lờ không bờ bến.
Chúng tôi đi ra khỏi những khu nhà.
Luận hỏi Đạo:
- Anh thấy thế nào?
Đạo nín thinh, không trả lời.
Quay sang tôi, Luận hỏi:
- Chị thấy gì?
- Sự chờ đợi. Sự chờ đợi cái chết.
- Không hẳn là như thế đâu. Nếu nói đến cái chết thì cái chết đã có từ ngoài cổng
vào. Đây là đời sống, ở một hình thái khác.
Chúng tôi đi thong thả dưới cái nắng Quy Nhơn chan hòa rực rỡ. Im lặng một lát,
Luận nói tiếp:
- Những kiếp người ở đây không còn thuộc về đời sống chúng ta nữa. Họ đã xa, đã
quên chúng ta. Họ đã ở trong một kiếp khác.
Tôi bâng khuâng:
- Anh tin như thế? Tin có kiếp khác?
Luận, giọng quả quyết:
- Những nơi chốn như nơi chốn này cho tôi thấy. Thấy. Chứ không chỉ là tin.
Tôi bàng hoàng, phân vân không biết những điều Luận vừa nói ra có đúng hay
không. Tất cả đều có thể đúng. Tất cả đều có thể sai. Cái chết cũng đúng như đời
sống. Lúc cám ơn bà Nhất ra về, xe tới cổng trại, tôi đọc những hàng chữ trên tấm
bảng một lần nữa. Xin hãy để cho chúng tôi được yên. Đó là ý nguyện cuối cùng
những người cùi gởi cho đời. Giòng chữ ám ảnh thần trí tôi suốt dọc đường. Cho
tới khi về tới thị xã Quy Nhơn.
Ngày thứ hai - Buổi chiều
Luận từ chối lời mời đi ăn cơm trưa. Cười, nói đã quen với gạo lứt muối vừng,
không ăn được cơm tiệm. Tôi nghĩ Luận giữ ý thì đúng hơn, muốn để tôi và Đạo được
tự do với nhau. Chúng tôi đưa trả người đạo sĩ râu tóc về với cái rừng sách.
Hai đứa lại lang thang. Trưa biển, gió thổi mạnh. Veo veo. Trùng trùng. Nắng
gió lồng lộng một trời QUy Nhơn lpham rối bù mái tóc, tung bay tà áo. Đạo đưa
tôi vào một cửa tiệm đường Lê Lợi. Tôi mua một bộ đồ tắm màu xanh lá cây, một
cái khăn tắm lớn rồi hai đứa đi ăn cơm. Tiệm cơm Tầu trống trải vắng khách. Tôi
ngồi xuống ghế, thở ra. Cuộc đi chơi liên miên suốt buổi làm mỏi mệt tay chân
và váng vất đầu óc.
Đạo hỏi:
- Mệt?
Tôi gật:
- Em chưa quen. Trên Pleiku, em ngồi suốt ngày sau quầy, nằm suốt buổi trong
giường. Về Pleiku, chắc em phải ngủ mấy ngày liền.
Pleiku. Con đường trở về. Cuộc phiêu lưu chấm dứt. Hạnh phúc mong manh chốc
lát. Khuôn mặt hạnh phúc lung linh tan rời, đôi khi như nó là môt biến thái
quái ác của bất hạnh chứ không phải là hạnh phúc đích thực. Rồi lại những chiều
mưa, những đêm lạnh. Rồi lại cái bóng mình nhòa trong bóng núi bóng rừng trùng
địêp. Tôi sẽ gặp lại những nét mặt quen thuộc, một không khí quen thuộc. Nhạc,
Khoa, Thập. Chiếc xe Jeep của Vận buổi chiều tới đậu trước cửa quán. Những giọt
cà phê thả xuống trong lòng ly mờ khói. Bài hát buồn về Pleiku " Đi dăm bước
đã về chốn cũ, một buổi chiều mưa lòng bỗng bâng khuâng". Phải, Pleiku sẽ
vẫn như thế lúc tôi trở về. Chỉ có tôi là đã đổi khác. Như thế nào. Làm sao biết
được. Chỉ biết tôi đổi khác. Không thể không còn như trước.
Một phút im lặng, bất chợt. Đạo và tôi cùng không nói ra, nhưng chúng tôi cùng
nhau biết đang nghĩ đến gì. Chúng tôi cố tránh không nghĩ đến điều đó. Nhưng
đang nghĩ, đang nghĩ đến nó.
- Rồi anh sẽ quên em mau chóng.
Lời nói thốt ra, tự nhiên, không giữ được. Đạo cau mày:
- Em đừng xác định một cái gì không thuộc về em.
Tôi bướng bỉnh:
- Nhưng em biết rõ.
- Em không mong điều đó cho cả hai chúng ta sao?
- Anh mong?
Đạo gật:
- Mong.
Hai chúng tôi nhìn nhau đăm đăm. Cuộc tình hệt như một cuộc chơi. Cuộc chơi nào
cũng có những quy luật mà người nhập cuộc phải chấp nhận. Tôi lại nhảm, lại nhi
nữ thường tình rồi. Phải chấp nhận những quy luật. Cho cuộc chơi tồn tại. Trong
ba ngày. Tôi chớp mắt.
- Em xin lỗi.
Đạo thôi nhìn tôi, nhìn đi chỗ khác:
- Đừng bao giờ em nói như thế nữa. Xin lỗi nhau, nghe nó kỳ cục lắm, em không
thấy như thế sao?
- Tại sao?
- Xin lỗi là chẳng có gì nữa hết. Chỉ còn có sự xin lỗi, sự thật không phải là
như thế.
- Em hiểu.
Chúng tôi cố tìm lại bầu không khí vui tươi, bằng cách chụm đầu trên tấm thực
đơn. Tôi mệt, ăn không thấy ngon nữa. Ăn xong về thẳng khách sạn. Đặt mình nằm
xuống giường, hai mí mắt đã sụp xuống. Tôi chỉ nói được với Đạo: "Em ngủ một
lát nhé !" rồi thiếp đi.
Tỉnh dậy, đã năm giờ chiều. Thuê xe, ra thẳng bãi biển. Từ nhỏ, tôi chưa tắm biển
bao giờ. Đây là lần đầu. Cảm thấy quê mùa, lúng túng trong bộ đồ tắm bó sát lấy
thân thể. Cũng may, khúc bãi vắng vẻ. Chỉ có mấy đứa nhỏ nhìn chúng tôi từ xa.
Đạo nói tôi có một thân hình cân đối chẳng thua kém gì thân hình những người
con gái đẹp nhất ở bất cứ một bãi biển mùa hè nào. Chàng đưa tôi xuống nước.
Gió vẫn thổi mạnh. Sóng lớn. Những cơn sóng hung dữ ào tới, làm tối tăm mặt
mũi. Tôi phải nắm chặt lấy tay Đạo. Một lát, bạo dạn dần, thấy tắm biển là một
khám phá kỳ thú.
Nửa giờ sau, lên nằm nghỉ trên bãi cát. Da thịt tôi chưa quen với nắng gió, với
nước mặn, nên rạo rực cùng khắp. Trên chiếc khăn tắm, tôi duỗi dài tay chân,
nhìn bầu trời xanh vô tận trên đầu. Mây trắng từng đám lực lưỡng trôi. Chiều
chói lòa rồi nắng dịu dần.
Ngồi bên cạnh, Đạo kể cho tôi nghe về một thời kỳ phiêu lưu của chàng. Chàng ở
Phú Quốc. Chàng ở Hải Phòng. Những đêm chàng la cà trong những quán rượu trên bến
tàu, những quán rượu mù mịt khói thuốc với những người thủy thủ say rượu la hét
đập phá.
Tôi cười:
- Và anh cũng như những người thủy thủ say rượu ấy?
Đạo cười theo:
- Còn hơn nữa.
Chàng nói tiếp giọng đổi khác, trong một thoáng hồi tưởng đầy lưu luyến.
- Đó là thời kỳ điên cuồng và sung sướng nhất của anh.
- Bây giờ thì sao?
- Bây giờ?
Chừng như Đạo không tìm được câu trả lời. Chàng nhíu mày vẽ những ngón tay lên
mặt cát.
- Em nên nghĩ cho em hơn là tìm hiểu về anh.
- Em nghĩ cho em xong rồi.
- Như thế nào?
- Đóng cửa quán Nhớ. Bỏ Pleiku. Về Sàigòn.
- Nghĩ bậy.
- Đấy rồi anh coi.
Tôi không hề tính đến chuyện về Sàigòn. Trước kia và trước đây một phút, tôi vẫn
chỉ là một người con gái tỉnh nhỏ, và Pleiku là nơi tôi có đi đâu rồi cũng phải
tìm về, nói đóng cửa quán, thoạt đầu chỉ là buột miệng nói đùa. Nhưng nghĩ lại,
tại sao không? Trong mấy ngày tôi xuống Quy Nhơn, chắc đã có không biết bao
nhiêu điều này tiếng kia về tôi, ở Pleiku. Thư nín thinh sao được, Thư đang cố
gắng phá tôi bằng được. Chắc Thư đã thành công và Khoa đã nhìn tôi bằng một cái
nhìn khác. Trong trường hợp ấy, tại sao tôi không bỏ đi. Đến một vùng trời
khác. Sống một cuộc đời khác. Cái dở nhất của tôi là không biết thay đổi. Dù có
Khoa hay không có Khoa. Dù có Đạo hay không còn Đạo.
Thử hình dung ra cái ngày tôi và Huyền rời bỏ Pleiku, rời bỏ vĩnh viễn, xem
sao. Người sung sướng nhất tất nhiên là Thư. Thư nhổ đi được một cái gai nhức
nhối trước mắt. Người vui mừng thứ hai không ai ngoài Hồng Hạnh. Không còn tôi,
Hồng Hạnh sẽ chiếm lại được Khoa. Còn mấy người bạn trai, như Thập, như Nhạc? Tất
nhiên họ buồn phiền vì mất một người bạn và một chỗ lui tới hàng ngày. Tôi
không thể làm vừa lòng tất cả mọi người. Trước ngày lên máy bay, tôi sẽ đi thăm
Pleiku một lần cuối cùng. Tới Biển Hồ, ném một hòn đá xuống mặt hồ xanh biếc,
như một cử chỉ vĩnh biệt. Tới Suối Mơ. Nghe cái âm thanh róc rách thủy tinh của
suối, một lần chót. Đi lại những con đường cao. Đi lại những con phố thấp. Bảo
với phố với đường rằng người con gái Pleiku má đỏ môi hồng ở tôi không còn nữa.
Nó đã chết với Pleiku. Để sống lại, dưới một hình dáng khác, ở Sàigòn. "Những
buổi chiều mưa, lòng bỗng bâng khuâng". Ở xa, tôi sẽ nhớ lại Pleiku. Như một
quãng đời. Như một kỷ niệm. Và Khoa khi đó, thì đã lập gia đình với Hồng Hạnh.
Chàng có con, chàng quên dần tôi cho đến khi quên hẳn.
- Dưới Sàigòn, những mỹ viện nhiều lắm phải không anh?
Đạo bật cười:
- Khi không hỏi thăm mỹ viện làm gì vậy?
- Em nghĩ tới một mỹ viện. Em sẽ tới đó. Cho người ta sửa mắt, sửa mũi, bơm ngực
như những cô gái Sàigòn. Sửa đến anh không nhận ra em được nữa.
- Để làm gì?
- Để bắt đầu cuộc sống mới. Bằng một con người hoàn toàn mới.
- Sửa thế nào thì em cũng vẫn là em. Chẳng có mỹ viện nào sửa được trái tim.
- Trái tim em tự sửa lấy, không cần mỹ viện.
- Khi đó, em sẽ trở thành, một loại đàn bà nào?
- Loại đàn bà ăn chơi, bất cần đời. Loại đàn bà thiêu thân. Loại đàn bà khốc liệt.
Tôi ấn mạnh một ngón tay trên gò má mình:
- Với một nốt ruồi thương phu trích lệ to tướng. Ở chỗ này.
Đạo nhìn tôi đăm đăm rồi ngửa cổ cười lớn. Tiếng cười cũng lớn như tiếng sóng.
Tôi cau mày:
- Sao anh cười? Em nói chuyện đứng đắn mà.
- Em định về Sàigòn thật?
Tôi gật:
- Vâng. Nếu sống ở Pleiku không được nữa.
Nét mặt Đạo trở nên nghiêm trang. Chàng hỏi:
- Người đàn ông yêu em ở Pleiku tên là gì?
- Khoa.
- Em nói chuyện như em và Khoa sẽ thôi nhau.
Lần đầu tiên, chúng tôi nói đến Khoa. Thường thường một người đàn ông và một
người đàn bà tránh nhắc đến một người đàn ông khác. Chúng tôi đã nhắc đến Khoa.
Tự nhiên, không giễu cợt.
Tôi trả lời Đạo:
- Chuyện em với Khoa khó nói lắm. Em cũng chẳng hiểu như thế nào. Không đáp lại,
không phải. Đáp lại, thấy cũng không xong.
Tôi kể cho Đạo nghe về tình yêu Khoa dành cho tôi, từ mấy năm nay. Một tình yêu
chân thành, thắm thiết tràn đầy, không thay đổi.
- Nhưng gia đình Khoa không bằng lòng.
- Sao vậy?
Tôi trả lời bằng kể tiếp cho Đạo hay về Thư. Thư đã bắt gặp tôi lần đến tìm Đạo
ở khách sạn. Tôi cười:
- Con nhỏ đó rất ghê gớm. Nó sẽ phá em bằng được.
- Em sẽ đối phó như thế nào?
- Không đối phó gì hết. Muốn ra sao thì ra. Chính vì thế mà em đã phải bỏ
Pleiku vài ngày, đến sống ở một nơi khác.
Đạo nói nhỏ:
- Đáng tiếc.
- Chuyện anh và em cũng đáng tiếc vậy.
Đạo từ từ lắc đầu:
- Chuyện anh và em khác.
Đạo nằm xuống cạnh tôi. Chúng tôi không nói gì thêm nữa. Mỗi người cũng như
đang theo đuổi một ý nghĩ riêng tư. Rồi nắng tắt. Chiều lan dần. Nhìn ra, biển
như mênh mông hơn, sâu thẳm và huyền bí hơn, chung quanh chỗ chúng tôi nằm,
bóng tối dần dần phủ xuống. Cảnh tượng nhá nhem trong khoảnh khắc, rồi một thứ
ánh sáng khác lan chiếu dần dần. Trăng đã lên. Đêm qua, đêm thứ nhất ở Quy
Nhơn, đã là một đêm trăng đẹp tuyệt vời. Đêm nay, trăng trở lại cũng vằng vặc,
cũng tròn đầy như vầng trăng trước. Ánh trăng thoạt đầu dụt dè, nhợt nhạt, như
không đủ xa, không đủ sáng. Nhưng rồi trăng lên cao tới đâu, ánh trăng mạnh mẽ
và bạo dạn tới đó. Tôi nhìn vầng trăng lên lúc cúi xuống nhìn mình, da thịt tôi
đã nhễ nhại trăng. Đạo cũng vậy. Trăng tắm đẫm chúng tôi trong vùng ánh sáng
bao vây huyền hoặc.
Lúc này, mọi người ở ngoài bãi đã về hết. Chỉ còn tôi và Đạo. Tôi sống một cảm
giác quên đời. Quên cả chung quanh. Quên cả bản thân. Thị xã Quy Nhơn ở phía
sau lưng lấp lánh ánh đèn. Nhưng Quy Nhơn cũng đã tách rời, thuộc vào một tinh
cầu, một thế giới khác. Bãi biển trở thành một hòn đảo. Biển trăng biến thành một
đại dương thứ hai. Hòn đảo trên đó là hai chúng tôi như trôi nổi giữa một cõi
lênh đênh không bến bờ.
Trăng đã đưa chúng tôi đi thật xa. Cảm giác quên đời biến thành một cảm giác rợn
ngập. Tôi rùng mình.
Đạo hỏi:
- Lạnh?
Tôi hỏi, mơ màng:
- Chúng mình đang ở đâu?
- Trên chỗ nằm cũ, từ buổi chiều.
Đạo kéo một nửa tấm chăn phủ lên ngang người tôi. Chàng ôm lấy tôi cho tôi đỡ lạnh.
Chàng nói nên trở về khách sạn vì đêm đã khuya, nước triều đang lên, sắp phủ
kín bãi cát. Tôi đành ngồi lên. Tôi còn muốn ở ngoài bãi. Tới sáng. Con đường
trở về, như một giấc mơ. Lên tới phòng, Đạo đóng mọi cánh cửa lại. Ánh trăng lại
đuổi ra ngoài. Đêm thứ hai của tôi ở Quy Nhơn là một đêm thần tiên. Tôi lại được
quên đời. Quên hẳn. Trong cánh tay ôm chặt của Đạo.
Ngày thứ ba - Buổi sáng.
Giấc ngủ mê mệt về sáng thức dậy, không thấy Đạo nằm bên cạnh. Tôi hoảng hốt,
ngồi vụt lên. Đêm cuối cùng của hai chúng tôi ở Sàigòn, Đạo cũng bỏ đi, trong
lúc tôi ngủ say. Chàng lại bỏ đi, như lần trước rồi sao?
Tôi hoàn hồn khi nhìn thấy một mẩu giấy nhỏ để trên cái bàn thấp, cạnh giừơng.
Đạo viết: "Anh xuống phố một lát. Sáng nay không đi đâu. Cứ ngủ tiếp
đi." Tôi bật cười với sự lo sợ sai lầm của mình. Sự mỏi mệt đẩy tôi nằm xuống
mặt đệm. Tôi thở ra một hơi dài, nhắm nghiền mắt lại. Nhưng giấc ngủ không đến
nữa.
Sau hai ngày sống với Quy Nhơn, biển đã ở trong tôi. Đã ở trong tôi, trời Quy
Nhơn cao xanh, nắng Quy Nhơn chan hòa, mây Quy Nhơn bồng bềnh, trăng Quy Nhơn vắng
vặc.
Căn phòng khách sạn xa lạ cũng đã trở thành một nơi chốn vô cùng quen thuộc.
Tôi vừa ngủ trên chăn gối tôi. Tôi vừa thức dậy, trên giường đệm tôi. Nghĩ đến
ngày mai trở về Pleiku, tôi bỗng thấy lưu luyến, lưu luyến ngay từ những giây
phút này, với nơi chốn tôi sắp phải rời bờ. Nếu không có quán Nhớ, nếu chẳng có
Huyền là những ràng buộc, những trách nhiệm tôi không thể rũ thoát, tôi sẽ ở lại
đây, rồi muốn ra sao thì ra.
Sự suy nghĩ làm tôi bâng khuâng. Nó giúp tôi khám phá được một sự thật trước
kia chưa từng nghĩ tới. Đó là sự tự do của một người. Trước tôi vẫn nghĩ mình tự
do, tự do hoàn toàn. Không phải. Không một ai tự do hoàn toàn. Đạo sống như gió
khơi, như mây trời mà cũng còn vướng bận vào những ràng buộc. Thôi, đừng có một
ảo tưởng nào nữa, hạnh phúc này trước sau là một hạnh phúc chốc lát, mày sẽ phải
trở về, tôi nhủ thầm, và rời khỏi giường.
Mười lăm phút sau, tôi đã mặc quần áo xong xuôi và ngồi chờ Đạo. Tiếng gõ cửa nổi
lên. Tôi nói lớn:
- Cứ vào.
Cửa mở, bà chủ tươi cười bước vào. Bà ta hỏi:
- Bà mạnh chứ? Đêm qua bà ngủ được không?
- Dạ, được.
- Ông nhà đâu?
Ông nhà. Bà chủ muốn nói tới Đạo đó. Tôi đóng một vở kịch và bà chủ nhà đã tin
đó là sự thật. Kể người đời cũng dễ tin thật. Vì vở kịch tôi đóng thật dở. Kẻ
khác nhìn thấy tôi và Đạo như một cặp vợ chồng thật sao? Tôi chỉ biết rằng ngày
mai, chúng tôi sẽ xa nhau, thôi nhau, không bao giờ gặp lại.
- Nhà tôi xuống phố.
Bà chủ ngồi xuống ghế.
- Bà lập gia đình lâu chưa?
Tôi trả lời, nghĩ đến lần từ Pleiku về Sàigòn lánh nạn.
- Hai năm.
Bà chủ khách sạn thở dài.
- Nhà tôi mất đến nay đã được gần mười năm rồi. Chúng tôi di cư từ Hà Nội vào.
Bấy giờ Quy Nhơn đâu có được khang trang và đông đúc như bây giờ. Chúng tôi đã
phải sống những ngày thật vất vả, cực nhọc. Đến lúc khấm khá được một chút thì
nhà tôi đau rồi mất. May mà tôi còn có con cháu. Nhưng tôi không muốn ở Quy
Nhơn nữa.
Tôi hỏi:
- Bà định đi đâu?
- Tôi có một người anh ruột ở Sàigòn. Nếu bán đựơc khách sạn này, tôi sẽ đưa
cháu vào trong đó, sống với gia đình anh tôi. Bà biết ai muốn mở khách sạn không?
Tôi cười:
- Tôi.
Bà chủ nhà vồn vã:
- Thật không?
- Thật. Nhưng mua khách sạn này thì không thể. Vì tôi không có tiền.
Bà chủ nhà ngẫm nghĩ:
- Tôi có thể giao khách sạn cho bà trông coi nếu bà muốn.
Tôi chỉ mới biết bà chủ khách sạn từ hai hôm nay. Đề nghị đầy tin cẩn của bà ta
làm tôi xúc động. Tôi ngập ngừng:
- Tôi mới quen bà...
Bà chủ khách sạn giơ tay:
- Mới hay lâu không thành vấn đề. Bà là một người đàng hoàng tử tế và tôi biết
tôi không nhìn lầm. Bà thử bàn lại với ông nhà xem sao. Thú thật là tôi muốn về
Sàigòn càng sớm chừng nào càng hay chừng đó.
Nói thêm dăm ba câu chuyện nữa rồi bà chủ khách sạn đi ra. Tới thềm cửa, bà ta
đứng lại:
- Bao giờ bà về Pleiku.
- Thưa, sáng mai.
- Bà không ở lại thêm vài ngày nữa được sao?
Tôi lắc đầu:
- Tôi phải về. Tôi sẽ viết thư liên lạc với bà.
- Tốt lắm.... Tôi đã viết thư cho con trai tôi. Có chỗ đi lại ở trên đó chắc
cháu mừng lắm.
Đạo trở về sau đó. Tôi đem câu chuyện vừa trao đổi với bà chủ khách sạn kể lại
cho Đạo nghe. Nghe xong Đạo nhìn tôi gật gù:
- Em được quý trọng quá nhỉ?
Tôi nhìn Đạo:
- Mọi người đều quý trọng em. Chỉ có anh là coi thường em thôi.
Đạo chịu đựng cái nhìn của tôi. Thật lâu. Rồi chàng nói, giọng nghiêm trang:
- Không bao giờ anh coi thường em.
Giọng chàng trầm xuống, buồn bã:
- Anh chỉ coi thường anh thôi.
Một phút im lặng. Tôi không biết nói với Đạo như thế nào nữa. Trong hai tuần lễ
gặp Đạo ở Sàigòn, chàng đã coi thường tôi thật. Chàng chiếm đoạt tôi. Rồi bỏ
rơi, thản nhiên, tàn nhẫn. Tôi đã thù ghét chàng vì thế. Rồi hai đứa gặp lại
nhau ở Pleiku. Tôi hoang mang không còn biết tôi với Đạo là thế nào. Đến lúc
chàng bỏ đi, không thèm để lại một lá thư, một giòng chữ, tôi lại thù ghét
chàng, vì thêm một lần nữa, thái độ tàn nhẫn của người tình lại làm cho tôi đau
đớn. Lần gặp này ở Quy Nhơn, Đạo có với tôi một thái độ khác hẳn hai lần trước.
Chẳng phải vì chàng tỏ tình, hay chàng nói chàng sẽ chung thủy, sẽ gắn bó với
tôi, mãi mãi. Nhưng đổi khác thì quả thực là tôi thấy Đạo đã đổi khác. Tôi đã
trở thành nỗi bận tâm chính yếu của Đạo. Chiều hôm qua, nằm với nhau trên bãi
biển, dưới trăng sáng đầy trời, trưa hôm qua, lúc đi dạo với chàng trên những
hè đường Quy Nhơn lòa nắng, đêm qua, nằm cạnh chàng, lúc nào tôi cũng nhận thấy
ở Đạo sự thay đổi đó. Tuy cuộc tình của chúng tôi cuối cùng rồi vẫn không đi đến
đâu, nhưng Đạo đã hết coi tôi như một trò đùa chốc lát. Tôi đã có một chỗ đứng
nào đó, trong trái tim chàng. Có thể đó chỉ là một chỗ đứng thật nhỏ bé. Nhưng
chỗ đứng đó đã có. Rất thật. Trong trái tim chàng.
Tôi ngậm ngùi:
- Mai em về anh không giữ em lại với anh thêm ít ngày nữa sao?
- Không.
- Đó.
Đạo lại gần. Chàng ôm chặt lấy tôi:
- Ngày cuối cùng, anh không muốn nó là một ngày buồn. Sau này em sẽ hiểu. Chúng
ta sống thêm với nhau ba ngày là đủ. Không nên kéo thêm. Thôi đừng bắt anh trả
lời nữa. Chúng mình đi ăn sáng rồi ra bãi.
Chúng tôi đi ra. Cửa phòng đóng lại, xuống thang, ra đường. Cảnh trí thay đổi
và tôi được sống một tâm trạng khác. Bầu không khí thân mật, lý tưởng nhất cho
một cặp tình nhân tất nhiên là bầu không khí của một căn phòng đóng kín. Giữa
mùng màn buông rũ. Trên tuyền toang chăn gối. Nhưng bầu không khí ấy cũng rất dễ
trở thành ngột ngạt u uất. Bởi vì, trong riêng tây tuyệt đối, những người tình
thường đẩy nhau tới đối diện với những vấn đề. Ra ngoài, cuộc tình được thả vào
đám đông. Ném vào nắng gió. Cho hòa nhập với chung quanh. Khuôn mặt nó mất đi
cái vẻ khốc liệt trầm trọng, để có được cái nhẹ nhõm, cái bay bổng, tôi không
thấy được cho Đạo và tôi khi chúng tôi giam thân trong một căn phòng đóng kín.
Quên đi những câu giận hờn vừa nói, chúng tôi bước những bước khoan thai trên
hè đường. Tôi yêu cánh tay, bàn tay Đạo, nhưng lúc như thế này. Cánh tay chàng
ôm ngang lưng, vừa vặn một vòng ôm. Tôi thấy tôi nhỏ lại, được che chở. Bàn tay
chàng nắm lấy tay tôi, dẫn tôi đi, và tôi sung sướng đi theo.
Mặt trời đã lên cao. Bên trên những hàng cây. Vượt khỏi những mái nhà. Quy Nhơn
mở hết mọi cửa tiệm. Sang tới ngày thứ ba rồi. Quy Nhơn đã là một bến đậu mới.
Tôi bước, bạo dạn, mặt ngửng cao, nghe thấy trái tim mình đập mạnh. Gió biển
không còn làm tôi mệt như ngày hôm trước nữa. Đạo đưa tôi vào một tiệm phở. Người
ngồi đông chật trên mấy dẫy bàn.
Đạo nói:
- Đây là tiệm ăn sáng nổi tiếng nhất Quy Nhơn.
- Về món gì?
- Phở, trước đã. Rồi đến bánh cuốn.
Tôi cười:
- Anh cũng chỉ mới ở mấy ngày như em. Sao anh biết rõ thế?
- Nhờ anh Luận.
- Anh Luận đâu phải người la cà ở những nơi ăn uống.
Đạo gật:
- Đúng vậy. Quanh năm anh ta chỉ gạo lức muối mè. Ấy thế mà cái gì anh ta cũng
biết.
- Sao anh không mời anh Luận đi chơi?
- Tối nay.
- Tối nay đi đâu?
- Đi biển. Ra đảo.
Sáng nay, tôi mặc một cái áo ngắn tay. Dơ cánh tay trần lên cao, tôi thấy da thịt
tôi đã đỏ hồng vì nắng. Dấu vết của Quy Nhơn đó. Dấu vết của cả một buổi phơi
mình ngoài bãi cát, của hai ngày đi chơi thỏa thích ngoài trời. Về Pleiku rồi
cái mầu hồng hồng trên da sẽ biến mất. Về Pleiku rồi tôi lại xanh như lá, lại
buồn như rừng, lại nín thinh như núi.
Phải đứng chờ chừng năm phút giữa lối đi, chúng tôi mới tìm được chỗ ngồi. Đạo
ăn phở. Tôi làm khác Đạo. Tôi kêu một đĩa bánh cuốn. Tiệm ăn xứng đáng với sự
đông khách của nó. Món điểm tâm khá ngon. Bánh cuốn nhân thịt có mùi cà cuống
thơm hắc. Tôi cười nói thoải mái với Đạo.
- Anh thấy gì không?
Đạo ngơ ngác:
- Thấy gì?
- Từ nãy đến giờ chưa gặp người quen.
- Em thích gặp người quen.
- Anh thì sao?
- Không.
- Em cũng vậy. Quy Nhơn đáng yêu nhất ở điểm này. Quy Nhơn để mặc cho chúng
mình tự do.
Hai phin cà phê được đưa tới. Tôi không thể khen cà phê của quán hàng này được.
Nó chua lòm và nhạt phèo. Tôi uống một ngụm, nhăn mặt đẩy cái ly ra xa. Nét mặt
tôi chắc là ngộ nghĩnh tức cười lắm. Đạo ngửa cổ cười lớn.
Tôi nhăn mặt một lần nữa:
- Anh cười gì vậy?
- Em uống cà phê như uống nhầm phải một liều thuốc đắng.
- Còn hơn một liều thuốc. anh uống được không?
- Được.
Chàng uống ly cà phê, ngon lành, đến hết.
Tôi ngẩn người:
- Không ngờ anh dễ tính thật.
- Trên từng phương diện mà thôi.
- Anh khó tính trên những phương diện nào?
- Rượu mạnh và đàn bà.
- Rượu mạnh như thế nào?
- Thật. Và phải uống một cách nào đó, trong một không khí nào đó.
Về sự hiểu biết những thói quen đặc biệt của đàn ông, tôi rất kém cỏi. Khoa
không có một thói quen nào hết. Đời sống của Khoa đơn giản, lành mạnh, chỉ như
đời sống một cậu học trò mới lớn. Thập và Nhạc chỉ uống cà phê, không phải là
những tửu đồ. Đến Đạo, tôi mới nhìn thấy người đàn ông trên một khía cạnh khác
thường và kỳ lạ. chẳng hạn như Đạo thường thức giấc bất chợt về đêm, chàng nằm
yên lặng hàng giờ trong bóng tối đen hoa mắt. Chẳng hạn như mỗi lần mở cửa đóng
cừa, chàng thường đứng lặng trong khoảng khắc, đầu cúi xuống, rồi mới bước vào
hay mới đi ra. Đạo còn nhiều thói quen khác nữa. Hẳn thế. Như tất cả những người
đã sống tới một tuổi nào. Tôi muốn biết thêm về những thói quen khác của Đạo. Hỏi
chàng:
- Anh thích uống rượu như thế nào?
Đạo đáp, gọn lỏn:
- Một mình.
Người đàn bà nào sống được với Đạo mãi mãi? Để cùng chia sẻ với chàng một ánh
trăng, đi cùng với chàng một đoạn đường mãi mãi? Tôi nghĩ qua tôi. Câu trả lời
là không.
- Anh sẽ uống rượu một mình suốt đời.
Đạo gật gù:
- Chắc thế.
Tôi đẩy tới cái ý muốn tìm hiểu.
- Còn về đàn bà?
- Những người khác thường, có thể rất khổ đau nhưng không bao giờ than thở.
- Không có em trong số đàn bà đó.
Đạo ngạc nhiên, một ngạc nhiên thành thật.
- Anh nghĩ đến em khi nói đến những người đàn bà ấy.
- Em thở than một cây.
- Anh chưa thấy bao giờ.
- Hoài hoài à. Ngầm. Một mình. Em thở than một mình như anh uống rượu một mình.
- Em sẽ thở than như thế suốt đời.
- Đúng. Như anh sẽ uống rượu một mình suốt đời.
Suốt đời. Một mình. Một mình. Suốt đời. Chúng tôi cùng nói đến những điều trầm
trọng và cùng bằng một giọng giễu cợt. Chúng tôi đang biến những cái thật thành
những cái đùa, và những cái đùa thành những cái thật. Như thế, thêm một ngày nữa.
Ngày cuối cùng. Trước khi trò đùa chấm dứt.
Ra khỏi tiệm ăn sáng, tôi đòi Đạo đi thêm một quãng đường nữa, trước khi ra
bãi.
Ngày thứ ba - Buổi trưa
Bãi. Bãi thẳng tắp, sáng loáng như một tấm gương lớn. Mặt trời trên đầu. Biển
xanh biếc, cứng, sắc như một tảng kim khí. Da thịt hừng hừng, chín nẫu. Tôi nằm
úp mặt trên cát, nghĩ đến những sân ga, những con tầu. Vừa thấy mình là một sân
ga, một con tầu. Vừa thấy mình đứng lại, vừa thấy mình rời đi. Nắng Quy Nhơn
đang chan hòa và tôi nằm phơi nắng, thì đang nghĩ đến những chiều mưa Pleiku.
Còn một chút gì để nhớ. Còn một chút gì để quên. Lời hát về Pleiku cũng là lời
hát của đời tôi. Tôi sống đang quên quên, nhớ nhớ. Còn một ngày nữa. Đã hai
ngày qua. Còn một ngày nữa. Tôi nhắm mắt lại. Tiếng sóng rõ hơn. Biển trùm lên
tôi.
Chương 8
Đã hai tuần trôi qua, kể từ ngày tôi từ Quy Nhơn trở về. Hai
tuần lễ của những trận mưa liên miên kéo dài không dứt. Những buổi sáng thức dậy,
tôi đều nghe thấy tiếng mưa rơi. Những đêm nằm đợi chờ giấc ngủ, sự đợi chờ nào
của tôi cũng kéo dài trong tiếng mưa đổ. Như đêm tối không có tiếng mưa làm nền,
đêm tối không phải là đêm tối Pleiku.
Tôi đang nằm trên giường, với một tấm chăn dầy phủ lên ngang ngực. Lúc này là
buổi chiều. Dưới chăn, thân thể tôi lạnh buốt. Tôi đã nằm từ sáng, bây giờ vẫn
chưa dậy được. Chỗ nằm, đáng lẽ phải ở một nơi khác. Trong một bệnh viện Tôi đã
không chịu đến một bệnh viện. Nằm nhà, ưng thuận cho cơn bệnh kéo dài, ru hồn
mình buồn phiền và ngổn ngang trăm nỗi bằng tiếng mưa rơi.
Tôi đau ngay từ hôm về tới Pleiku. Chỉ mấy tiếng đồng hồ sau khi chia tay với Đạo,
chàng đưa tôi ra bến xe. Bà chủ khách sạn đứng đón tôi dưới quầy hàng. Bà trao
mấy món đồ, nhờ chuyển cho con trai bà. Phút chia tay với bà chủ khá lưu luyến.
Bà ta nắm lấy tay tôi:
- Bao giờ ông bà trở xuống?
Bao giờ? Tôi nhìn Đạo. Chàng ở lại Quy Nhơn hay chàng trở về Sàigòn, tôi còn chẳng
biết. Chúng tôi mỗi người một ngả, và Quy Nhơn rồi cũng chỉ còn là một kỷ niệm
phai mờ bỏ lại sau lưng.
- Tháng sau, không chừng.
Bà chủ nghiêm trang:
- Câu chuyện tôi nói hôm qua là chuyện đứng đắn. Bà đã mở tiệm cà phê thì trông
coi khách sạn cũng được. Nếu bà xuống trước khi tôi phải vào Sàigòn thì hay lắm.
- Tôi sẽ cố gắng.
Bà chủ khách sạn nhìn tôi, nhìn nước da còn hồng hồng rám nắng của tôi.
- Xem chừng Quy Nhơn hợp với bà lắm rồi đó.
- Sao vậy ạ?
- Chỉ mới vài ngày, bà khỏe mạnh tươi tắn hơn hôm mới tới nhiều. Thế là khí hậu
miền biển thích hợp với bà.
Quay sang Đạo, bà ta nói tiếp:
- Ông khuyên bà một câu đi. Tiếng là khó khăn hơn trước, nhưng ở Quy Nhơn làm
ăn vẫn còn dễ dàng lắm.
Tôi hứa sẽ viết thư trả lời bà chủ rồi hai chúng tôi rời khỏi khách sạn. Phút
chia tay với Đạo mau chóng. Chúng tôi cùng tránh kéo dài nó. Tới bến xe cho đến
lúc xe sắp chuyển bánh chàng không nói với tôi một lời nào. Những cặp tình nhân
lúc chia tay không hẹn ngày gặp lại đều im lặng như thế sao? Tôi có hàng nghìn
lời muốn nói. Đồng thời cũng lại cảm thấy lời nói nào cũng thừa. Thừa và vô ích
lắm.
Tài xế dục mọi người lên xe. Máy nổ Đạo đứng sát cửa xe nhìn lên. Tôi cố giữ
cho khỏi bật ra tiếng khóc, nhưng trái tim thì chảy máu. Chúng tôi chỉ còn nhìn
thấy nhau trong cái thời gian ngắn ngủi của một khoảng khắc.
- Em đi, anh.
- Ừ, em đi.
- Anh còn ở lại đây?
- Anh chưa định.
Tôi gượng cười, thò bàn tay ra ngoài cửa xe cho Đạo nắm lấy. Chúng tôi cùng muốn
tỏ ra cứng rắn. Thật tội nghiệp cho hai đứa.
- Em nhớ giữ gìn sức khỏe.
Tôi gật:
- Còn anh.
Đạo thình lình buông tay tôi ra. Chàng ngắt ngang, gần như tức giận:
- Đừng nói gì nữa. Quên anh đi.
Chiếc xe hàng từ từ chuyển bánh cùng một lúc với Đạo quay lưng, bước nhanh ra
khỏi bến xe. Tôi nhìn theo, xúc động. Vì biết Đạo vội vã quay gót, là vì chàng
đã bất chợt xúc động mãnh liệt. Đạo mất đi mau chóng. Xe lìa bến sau đó. Nắng
gió Quy Nhơn trên đường về, đuổi theo ở sau lưng. Biển xa dần. Những con sóng.
Những ánh trăng xa dần. Chuyến đi náo nức, mới lạ. Cảm tưởng đổi thay hai bên bờ
đường hút lấy tầm mắt. Chuyến về cảnh vật ở ngoài. Chiếm đoạt thần trí tôi chỉ
còn là một giòng suy nghĩ miên man. Ánh mắt tôi nhìn lại Đạo trong tưởng tượng.
Tôi muốn nghĩ chàng cũng buồn như tôi đang đau, chàng cũng hoang mang như tôi
đang tan nát. Từ bến xe, chàng mang thẳng hình ảnh tôi ra bãi biển. Xe đang đưa
tôi trở về cùng núi rừng Pleiku và Đạo thì đang đi một mình trên bãi cát vắng lặng.
Chàng nhìn xuống những dấu chân chàng, những con dã tràng, chàng nhìn ra khơi,
biển xanh lơ và mầu biển với chàng là mầu của một thương nhớ mênh mông.
Mãi nghĩ xe tới đèo An Khê lúc nào không hay. Lại những khúc quanh. Lại những
con dốc. Một vài đồn binh đứng trơ vơ trên những ngọn đồi biệt lập. Hàng rào
thép gai trên những thước đất đã cháy xém. Lô cốt phòng sự in lên nền trời.
Thung lũng sâu hút với những con lạch khô cạn. Mộ người chiến sĩ vô danh trên đỉnh
đèo gặp lại. Anh Kiện thấp thoáng trong đầu óc bồng bềnh choáng váng.
Qua khỏi đèo, bỗng nhiên tôi bị xâm chiếm bởi một mỏi mệt rã rời. Ba ngày ở Quy
nhơn, tôi đã sống bằng ba tháng, ba năm, một đời. Mà nhịp sống quay cuồng,
chóng mặt. Quy Nhơn có tất cả làm tôi vui, tôi quên. Nhưng đồng thời, tất cả của
Quy Nhơn cũng làm tôi mệt lả. Cái gió. Cái nắng chói chang. Cái gió lồng lộng.
Trời Quy Nhơn quá xanh, nhìn mãi, màu xanh trôi cũng làm cho cái nhìn ngây ngất.
Tôi biết tôi đau rồi. Đau từ phút xe qua đèo An Khê.
Những ngọn đồi, những ngọn đồi thấp, thoai thoải, nối tiếp hết ngọn này đến ngọn
khác. Những vách núi và những cánh rừng ở xa, mầu núi và mầu rừng lẫn lộn. Một
nền trời xám ngắt, nặng chĩu hơi nước, vương đầy sương mù. Một vẻ buồn bã vô
hình phủ lên hết thảy. Đó là Pleiku. Pleiku tôi vừa gặp lại. Một Pleiku không
thay đổi, như rừng và núi im sững, không bao giờ đổi thay.
Cơn sốt trong tôi đã dấy. Người tôi gây gây lạnh. Xuống xe, tôi phải lấy trong
va ly ra chiếc áo len và khoác vội nó lên người.
Một chiếc xe lam lăn tới.
- Cô về phố?
Tôi hỏi, mệt nhọc:
- Biết quán Nhớ không?
Người phu xe gật, giọng ăn chắc:
- Quán Nhớ ở đây ai mà không biết.
Đang buồn, đang đau tôi cũng bật cười. Pleiku, thêm một lần nữa, lại hiện rõ
cái tinh thần xóm làng nhỏ chật. Lời bài hát càng nghĩ càng thấy đúng. Những
con phố tình thân. Đi dăm bước đã về chốn cũ. Nhưng Đạo xa rồi, tôi còn gì để
nhớ để quên?
Tôi hỏi:
- Quán Nhớ danh tiếng lẫy lừng đến thế sao?
- Cả tỉnh Pleiku này đều biết mà.
- Tại sao mới đựơc chứ?
- Cà phê đã ngon. Cô chủ quán lại đẹp.
Chẳng biết ai nói đến tai anh phu xe này rằng nữ chủ nhân quán Nhớ là một bông
hoa kiều diễm. Phút này, cái bông hoa ấy chẳng kiều diễm chút nào hết. Tâm thể
của nó héo hon. Dung nhan nó tiều tụy. Sau cuộc phiêu lưu thần tiên, bông hoa
trở về cùng khu vườn cũ chỉ còn là cánh bèo thảm hại trôi dạt. Tôi bước lên xe.
Đường về quán Nhớ bắt buộc phải đi qua cửa tiệm tơ lụa của Hồng Hạnh. Qua cả tiệm
thuốc tây của Khoa nữa. Tôi thầm mong đừng phải đụng đầu với ai. Sự mong ước của
tôi không được thực hiện. Tôi chạm mặt với cả Thư và Hồng Hạnh. Hai vị thiên
kim tiểu thư này đứng nói chuyện với nhau trước nhà Hồng Hạnh. Khi chiếc xe chở
tôi đi qua. Cả hai cùng nhìn thấy tôi và chiếc valy đầy bụi bặm đường trường đặt
dưới chân tôi.
Lần trước gặp Hồng Hạnh đã vênh mặt không thèm chào hỏi. Lần này, thêm Thư. Họ
mở lớn cặp mắt nhìn tôi, cái nhìn tuy ném tới từ xa, nhưng rõ rệt cái ánh lửa
vui mừng đắc thắng.
Tôi không cần phải suy đoán làm gì nữa. Những cái bất lợi đã dồn dập xẩy đến
cho tôi trong mấy ngày xuống Quy Nhơn. Mọi người đã biết tôi đi đâu. Không chừng
họ còn biết tôi gặp Đạo ở Quy Nhơn nữa. Những con phố tình thân thôi chẳng còn
là những con phố tình. Một hố thẳm đã được khơi đào, thật sâu rộng giữa tôi và
mọi người. Phía bên kia là tất cả. Khoa nữa. Khoa cũng đã đứng ở cái phía đối
diện, cái phía thù nghịch.
Xe thả tôi xuống trước cửa quán Nhớ.
Huyền từ trong quán chạy ra. Nó vui mừng:
- Chị đã về.
Tôi mệt nhọc xuống xe.
- Nhà có chuyện gì không?
Huyền xách lấy cái val y. Nó đáp gọn:
- Nhiều.
- Những chuyện gì?
- Toàn là những chuyện không hay cho chị.
Tôi vịn vào vai Huyền, bước vào quán. Sự bực tức đẩy tôi tới một phản ứng đương
đầu, thách thức. Mọi người hãy đứng hết về phía bên kia. Tôi không cần đồng
minh. Cho tôi đứng một mình với tôi ở phía bên này. Tôi không cần ai nữa và tôi
chấp hết.
- Tao không cần.
Quán không có một người khách nào. Những dãy ghế trống trơn. Khách quen, khách
lạ đều vắng mặt.
Tôi ngạc nhiên:
- Sao vắng vẻ thế này?
Huyền sịu mặt:
- Chùa bà đanh từ hai hôm nay.
- Anh Thập, anh Nhạc cũng không tới?
- Các anh ấy nói các anh không tới đây nữa.
- Không tới thì thôi. Chị bị đau ở dọc đường. Kiếm mau cho chị mấy viên thuốc.
Và đóng cửa lại.
Huyền lặng lẽ làm theo lời tôi. Nó di động lủi thủi, như một cái bóng. Quán Nhớ
đóng cửa, nằm bệnh thêm một buổi nữa. Cửa quán đóng chặt, nhạc không trổi lên,
đèn không thắp sáng, quán vừa im lìm vừa tối thui. Huyền buông mùng cho tôi,
cùng với cơn sốt vùng lên, dữ dội. Tôi sốt - Sốt mê man, đến tận hôm sau mới tỉnh.
Ở Quy Nhơn về được hai ngày thì Khoa tới. Chẳng hiểu tại sao, Khoa biết tôi
đau. Khoa tới với một gói thuốc lớn. Khoa nói, tôi phải đến bác sĩ. Tôi trả lời
Khoa rằng tôi khỏi rồi, chẳng cần đến một phòng mạch nào hết.
Câu chuyện trao đổi giữa hai chúng tôi miễn cưỡng và tẻ nhạt. Một lúc nào đó,
Khoa ngập ngừng mãi rồi mới hỏi:
- Em xuống Quy Nhơn có vui không?
- Thường vậy.
- Có gặp gia đình anh Thụy không?
Tôi đáp có gặp.
Lại ngập ngừng một hồi lâu. Tôi nằm trên giường, Khoa kéo ghế ngồi cạnh đầu giường.
Giữa hai chúng tôi là sự có mặt vô hình rõ rệt của người thứ ba, một người thứ
ba đã tan nhòa vào hư vô. Rồi Khoa hỏi giọng buồn thảm.
- Người đàn ông đó là ai?
Tôi đáp, nhìn lên trần nhà:
- Một người anh không quen.
- Y là thế nào với em?
- Thế nào? Em không thể nói được.
Khoa thở dài, không hỏi gì thêm về Đạo nữa. Có những chuyện không cần phải hỏi,
nhưng càng nín thinh, càng né tránh, sự thật càng phơi bầy, ngột ngạt. Chuyện
tôi với Đạo, đối với Pleiku, với Khoa nằm trong trường hợp này. Khoa ngồi thêm
một lát nữa, rồi buồn rầu bỏ về. Trước khi ra khỏi phòng, Khoa hỏi:
- Em muốn nói gì với anh không?
Tôi lắc:
- Em đang mệt. Nếu anh muốn, lúc khác chúng mình nói chuyện.
Ra đến thềm cửa Khoa đứng lại. Tôi nằm im, mắt nhìn thẳng lên trần nhà, nên
không nhìn thấy Khoa nữa. Chỉ nghe thấy tiếng, qua một câu hỏi làm cho cả hai
người cùng đớn đau:
- Tại sao em dấu anh?
- Em không biết tại sao.
Tiếng thở dài:
- Đáng tiếc cho chúng mình.
Tôi nói với Khoa, câu Đạo đã nói với tôi ở bến xe đò Quy Nhơn.
- Anh về đi. Quên em đi.
Tôi tưởng khỏi, lại đau lại. Cơn bệnh lúc thuyên giảm, lúc gia tăng kéo dài gần
mười ngày. Cuối cùng đám bạn bè ở Pleiku hiểu về tôi như thế này. Tôi có một
người tình ở Sàigòn. Tuy ngoài mặt, tôi ưng thuận lấy Khoa, nhưng tôi vẫn không
chịu đoạn tuyệt với người tình cũ.
Người tình của tôi ở Sàigòn. Tôi vẫn thư từ, liên lạc với hắn. Trong một lá
thư, tôi rủ người tình của tôi lên Pleiku. Tôi mướn phòng khách sạn cho y ở,
lui tới khách sạn với y mấy đêm liền. Như thế chưa đủ, tôi còn theo người đàn
ông xuống Quy Nhơn, ngoài mặt nói dối là xuống thăm gia đình Dã Thụy để báo tin
Thụy chết. Như thế, nghĩa là Khoa yêu tôi thành thật; Khoa tin tôi hết lòng,
nhưng tôi đã lừa dối Khoa, lừa dối tàn nhẫn, lừa dối từ đầu đến cuối.
Thảo nào mà bạn bè cũng xa lánh. Thảo nào mà đến những người bạn trai thân nhất
như Thập và Nhạc cũng có thái độ đoạn giao quyết liệt, không thèm lui tới quán
Nhớ nữa.
Chung thủy không đổi thay, chỉ có Vận. Vận là hiện thân của một tình bằng hữu
tràn đầy, vô điều kiện. Hàng ngày Vận vẫn lui tớí quán Nhớ thân mật và thắm thiết
như cũ. Vận rất buồn về sự tan vỡ giữa tôi và Khoa, nhưng cho đó là chuyện
riêng của hai chúng tôi nên né tránh không đả động tới. Mỗi lần tới, Vận ở lại
lâu hơn. Tôi tự tay pha cà phê cho người bạn quý này. Một tối, trời mưa lớn,
quán vắng ngắt, Vận bước vào với đôi giầy bê bết bùn đất đỏ khè. Hai chị em
đang nghe nhạc. Vẫn bản nhạc Huyền thích. Bản nhạc về Pleiku. Những người con
gái má đỏ môi hồng. Những buổi chiều mù sương. Những con phố tình thân. Còn một
chút gì để nhớ, còn một chút gì để quên.
Tôi nhìn đôi giầy Vận:
- Đi đâu về vậy?
- Từ Khôngntum về.
Tôi hỏi đùa:
- Các cô ở Khôngntum vẫn chưa lấy chồng?
Vận nhún vai làm vẻ thê thảm:
- Chưa. Nhưng thương thằng khác rồi. Cho rơi thằng này rồi.
Tôi cười:
- Anh đáng bị bỏ rơi lắm.
- Ô hay, sao nói vậy?
- Anh yêu thật nhiều người một lúc, không chịu sống chết với ai, thì tất cả mọi
người sẽ lần lượt bỏ rơi anh.
- Nghĩa là đáng đời, phải không?
- Đáng. Đáng kiếp.
- Đàn bà bây giờ thay đổi chóng mặt.
- Chúng tôi không muốn thế. Chỉ là cái chung quanh đẩy đàn bà tới những thay đổi
bắt buộc.
Vận ngẫm nghĩ rồi gật gù:
- Cũng đúng.
Thấy Vận là tôi nhớ đến Khoa. Đã ba ngày, Khoa không trở lại. Vì đã quên tôi
hay vì tự ái? Mỗi lần nghĩ đến Khoa, trong tôi lại ngậm ngùi vô tận. Dù sao,
chúng tôi cũng đã có với nhau rất nhìeu kỷ niệm. Những buổi ngồi với nhau trên
bờ Biển Hồ, nhìn xuống làn nước xanh đặc, với một hạnh phúc êm ả lâu bền tưởng
như đã thành hình chung quanh chỗ ngồi. Những đêm Khoa ở lại quán tới giờ đóng
cửa, mọi chuyện tưởng như sẽ xuôi chảy tốt đẹp giữa hai chúng tôi, với cuộc
chung sống dần dần rồi sẽ tới. Khoa bỏ đi, chững chạc như lúc nào Khoa cũng chững
chạc, nghiêm chỉnh. Thái độ ấy càng làm tôi ngậm ngùi hơn. Tôi hỏi Vận:
- Mấy hôm nay anh có gặp Khoa không?
- Có. Nó nín thinh, không nói chuyện gì hết.
Thấy tôi nhắc đến Khoa, Vận mới hỏi:
- Tan vỡ?
Tôi không trả lời thẳng vào câu hỏi:
- Chắc không bao giờ Khoa tới đây nữa. Anh nữa, anh cũng chẳng nên tới đây làm
gì.
- Sao vậy?
- Tôi là sự xa lánh của mọi người. Anh xem đó, đến anh Thập, anh Nhạc..
Vận xua tay ngắt ngang:
- Chúng nó có thái độ với Ngọc vì đứng về phía Khoa. Thằng này đứng giữa.
Vận nhìn tôi:
- Chỉ đáng buồn là Ngọc đang bị nói xấu dữ quá.
Những ai đang mạt sát tôi không tiếc lời, tôi đã đoán được. Cũng cứ hỏi Vận:
- Ai vậy?
- Thư. Thư và con nhỏ Hồng Hạnh.
Tôi cười buồn. Một người con gái tỉnh nhỏ muốn yên lành, không bao giờ được
phép vượt khỏi cái giới hạn của tỉnh nhỏ ở đó nó đã lớn lên và đã sống. Chuyến
đi Quy nHơn, cuộc tình thầm kín với người đàn ông xa lạ, với đứa con gái tỉnh
nhỏ ở tôi là bấy nhiêu tội lỗi lớn lao tầy đình không thể bỏ qua, không thể tha
thứ. Điều không ai biết và hỏi, vì vậy không ai chấp nhận được, là chỉ cần một
chuyến đi, một tình cờ cũng đủ thay đổi cả một giòng đời. Hiện tượng này không
xẩy đến cho ai. Nhưng nó đã xẩy đến cho tôi. Tôi đã thay đổi. Với chính tôi trước
nhất.
Và, bằng những trận mưa đêm rì rào, bằng những trận mưa chiều thả giọt, đã hai
tuần lễ trôi qua. Sáng nay là sáng chủ nhật. Tôi thức dậy để thấy mình tỉnh táo
hơn ngày hôm trước. Quán vẫn phải mở cửa. Tiếng chân Huyền đi lại ở phòng
ngoài. Tôi nằm im, nhớ đến giấc mộng đêm qua. Giấc mộng có cả Khoa và Đạo. Lúc
có Khoa, lúc có Đạo. Qua một số hình ảnh què cụt, lổng chổng, rời đứt vô nghĩa,
mưa đều đều trên mái. Huyền mở nhạc. Tiếng nhạc nhỏ, lẫn trong tiếng mưa.
Huyền vào:
- Có khách tới.
- Ai vậy?
- Anh chàng thiếu úy.
- Mời anh ta ngồi chơi nói chị ra ngay.
Con trai của bà chủ khách sạn ở Quy Nhơn, theo đúng bà mẹ dặn trong thư đã đến
quán Nhớ. Nhận đồ và giới thiệu. Anh ta tên là Chấn. Hiền lành. Dễ thương.
Trong bộ quân phục thẳng nếp. Chấn mỗi lần đến quán, đều mang theo cái vẻ lạc
lõng thừơng thấy ở những người trẻ tuổi bây giờ. Chấn tỏ ý rất vui mừng đã có một
nơi chốn quen thuộc để lui tới. Nói không có bạn thân trong đơn vị. Nói buổi
sáng chủ nhật, ra phố lang thang không biết đi đâu, không biết làm gì. Anh cứ đến
đây, tôi nói với Chấn. Anh cần tiền cứ cho biết tự nhiên, tôi nói thêm, bà nhà
sẽ trả lại tôi sau. Chấn đến lần đầu, tôi giữ anh ta ở lại ăn cơm. Sự thân mật
tới mau chóng. Chấn làm tôi nhớ đến anh Kiện. Ăn cơm xong, tôi bỏ vào trong
nhà, để cho chàng trẻ tuổi được tự do trò chuyện với Huyền. Xem chừng, hai đứa
mới quen đã hợp nhau. Huyền tìm mở cho Chấn nghe những bản nhạc Chấn ưa thích.
Hai đứa nói chuyện tay đôi cho đến giờ Chấn phải vào trại. Một cuộc tình có những
triệu chứng khởi đầu. Tôi thấy ở Chấn và đứa em gái tôi những triệu chứng ấy. Vận
thì không xong rồi. Không chừng, em gái tôi may mắn với Chấn hơn. Tôi thầm cầu
mong Huyền may mắn hơn tôi. Trong lần yêu thứ nhất. Tôi chải qua mái tóc rồi đi
ra. Nhìn vào gương, dung nhan tôi tiều tụy hơn bao giờ. Một thứ dung nhan của
những ngày mưa phùn, những hoàng hôn buồn. Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai?
Câu thơ này của ai thế? Câu thơ và lời nói của tôi, gói tròn cái tâm trạng não
nùng tôi đang sống. Mắt tôi sâu trũng. Vành môi phiền muộn. Cái nhìn chán chường.
Thêm một lần nữa, tôi lại thấy mình đứng ngỡ ngàng giữa một ngã ba đường, với
bước chân hoang mang, phân vân, không biết về đâu.
Chấn đứng lên khi tôi từ nhà trong đi ra. Huyền và Chấn đều hơi mất tự nhiên.
Quán Nhớ không phải là nơi chốn trò chuyện lý tưởng của họ. Sao họ không đưa
nhau tới bên bờ Biển Hồ? Sao họ không đi dạo với nhau ngoài bãi biển Quy Nhơn?
Để có riêng nhau với nhau. Để sống tận cùng thứ hạnh phúc chốc lát là thứ hạnh
phúc duy nhất.
Chấn lễ phép:
- Chị khỏe hẳn chưa?
- Cám ơn. Tôi vẫn còn hơi mệt một chút.
Tôi nhận thấy lần đến này, Chấn chải chuốt hơn lần trước nhiều. Vẫn chỉ là bộ
quân phục. Nhưng cái áo phẳng phiu, cái quần thẳng nếp và đôi giầy đánh bóng.
- Quán vắng quá hả chị?
Tôi nhún vai:
- Đã thế từ mấy tuần nay.
- Sao vậy?
Tôi cười:
- Những khách hàng quen nhất cũng không thèm đến đây nữa. Họ đã đoạn tuyệt với
quán Nhớ.
Tôi nhìn Huyền khiến con nhỏ hơi ngượng. Sáng nay, chủ nhật, biết anh chàng Chấn
sẽ tới, nó đã làm dáng để được đẹp trước mặt người tình. Ngày trước, Huyền đâu
có thế. Những tấm gương trong nhà, chỉ có tôi soi ngắm. Huyền không soi gương,
không chải đầu. Nó mặc thừa của tôi những chiếc áo cũ. Sáng nay mái tóc cô ả
óng mượt. Cô ả mặc chiếc áo dài mới nhất. Không có gì đẹp bằng sự thay đổi khác
thường này. Đó là sự thay đổi đầy đặc những cái vụng về, những cái lúng túng rất
đáng yêu của tình yêu thứ nhất. Chấn và Huyền vừa cùng nhau nhắp vào một ly rượu.
Ly rượu cùng làm cho chàng và cho nàng ngây ngất.
Tôi bảo Chấn ngồi xuống ghế:
- Chiều mới phải vào trại chứ?
- Vâng.
- Trưa nay ở lại đây ăn cơm với chúng tôi. Được nghỉ ngày chủ nhật, sao không về
Quy Nhơn thăm bà?
- Em cũng định thế, tuần sau. Muốn mời chị và Huyền cùng đi cho vui.
Tôi hỏi Huyền:
- Thế nào?
Con nhỏ ấp úng:
- Em chưa biết biển bao giờ.
- Thế thì phải biết. Biển Quy Nhơn khác với núi rừng Pleiku. Tôi vừa xuống đó rồi.
Nhưng nếu Huyền muốn đi chơi, thì cứ đi, không có tôi cũng được.
Chấn mừng rỡ:
- Chị cho phép Huyền?
Tôi nghiêm trang gật đầu:
- Huyền tới tuổi trưởng thành rồi. Cũng nên đi đây đi đó luôn luôn cho biết.
Tôi nói tiếp, như một nhắn nhủ gởi gấm về phía Chấn:
- Người con gái chỉ được quyền tự do một thời kỳ. Khi còn là con gái. Lấy chồng
rồi, không phải là muốn làm gì cũng được, đi đâu cũng được.
Để cho hai trẻ được tự do với nhau, tôi kiếm cớ ra khỏi nhà. Tôi nói tôi đi chợ,
mua đồ ăn về làm bữa ăn trưa đãi Chấn. Trời mưa lất phất. Tôi cài hết hàng khuy
chiếc áo tơi, cổ áo trùm kín gáy. Pleiku của một ngày mưa phùn phơi bầy cái bộ
mặt muôn thuở của một thị trấn miền núi. Xám ngắt. Nhợt nhạt. Rét mướt. Ngôi
đình cổ trống trơn, không còn những tấm áp phích, những hình vẽ lòe loẹt của
gánh hát cải lương tuần trước. Đoàn hát lưu diễn đã bỏ đi, đâu như lên diễn ở
Khôngntum. Vẫn những người dân thiểu số từ những nhà sàn trong núi ra, ngồi thu
lu cạnh những gốc cây, thản nhiên hứng chịu những giọt nước trên cành thả xuống.
Vẫn những bụi cỏ phố lan tràn trên những mặt đường đỏ khé. Vẫn những đám mây nặng
chĩu hơi nước trôi về từ phía phi trường Cù Hanh. Chủ nhật của Pleiku là một chủ
nhật buồn. Nó thiếu những tà áo mầu, những quán nước sáng choang, nhộn nhịp như
ở Sàigòn. Và Pleiku cúi đầu dưới mưa, chỉ có những quán cà phê tối thui như
quán Nhớ. Gần tới chợ, tôi đụng đầu với Nhạc. Nhạc chào tôi ngượng ngập:
- Đi đâu vậy Ngọc.
- Đi chợ.
Nhạc lúng túng:
- Có gì lạ không?
Tôi ung dung:
- Nhiều chuyện lạ lắm. Chẳng hạn như chuyện anh không thèm lui tới quán Nhớ nữa.
Chẳng sao. Quán Nhớ sẽ có những khách hàng mới.
Nhạc giọng trách móc:
- Tôi đã biết khách hàng mới của Ngọc bây giờ là ai !
Tôi lắc đầu, nhìn thẳng vào mắt Nhạc, giọng khiêu khích:
- Làm sao các anh biết được.
Nhạc không trả lời, cũng không kéo dài phút gặp gỡ mà bỏ đi luôn. Sự thay đổi
đã hoàn toàn giữa tôi và đám bạn trai. Những lần trước, gặp tôi ở ngoài đường,
họ mừng rỡ biết bao nhiêu. Bây giờ là sự xa lánh rõ rệt.
Tôi vào chợ. Nền chợ nhớp nhúa. Những người bán hàng co ro trong những mạnh áo
không đủ ấm. Gió thổi lùa trên những hình thể gầy guộc, những mầu sắc nhợt nhạt.
Pleiku thiếu những đường máu đỏ, thừa những đường gân xanh. Thiếu thật nhiều,
thừa cũng thật nhiều. Tôi lại nhớ tới Quy Nhơn, tới cái giải nắng chói lòa và
những trận gió Lào thốc tháo, mù mịt bên kia chân đèo An Khê. Thêm nhiều lượng
nắng gió khỏe mạnh, chắc con người và đời sống Pleiku sẽ đổi khác, đổi khác ghê
gớm.
Nghĩ xa, nghĩ gần, tôi đi lang thang từ đầu chợ đến cuối chợ. Và đụng đầu với Mỹ
Dung. Mỹ Dung đã nhìn thấy tôi từ xa, hẳn thế. Người đàn bà đứng giữa lối đi,
buông thõng hai tay chờ tôi đi tới. Tuy là buổi sáng sớm, và cũng đi chợ mua đồ
ăn như tôi, nhưng Mỹ Dung trang điểm rất lộng lẫy. Tôi chưa tới gần, mùi phấn
sáp từ người Mỹ Dung đã tỏa ra thơm lừng. Một đứa nhỏ đứng sau lưng người đàn
bà, nó xách một cái lẳn mây đầy ắp thực phẩm. Tôi muốn né tránh cũng không đựơc.
Quay trở lại thì thấy mình vừa thua kém vừa vô lý. Nét mặt Mỹ Dung tươi cười,
không thù nghịch. Người đàn bà gật đầu:
- Chào cô Ngọc.
Tôi gật đầu đáp lại. Mấy ngày đau liên miên, quán Nhớ không có ai lui tới, tôi
đã gần như đứt rời hẳn với đời sống chung quanh.
Tôi vẫn tưởng Mỹ Dung không còn ở Pleiku nữa. Người đàn bà gió bão kia làm sao
có thể ở mãi một nơi chốn khuất lánh và hiu hắt như nơi này? Hay nàng cũng như
tôi, đang đứng phân vân giữa một ngã ba đường, không biết về đâu?
- Cô đi chợ?
Tôi đáp, thận trọng:
- Vâng.
Nghe nói cô đau. Khỏi chưa?
Giọng Mỹ Dung thân mật, giọng nói dành cho một người bạn, không phải cho một
tình địch.
- Tôi đã khỏi.
Mỹ Dung cười:
- Tôi định đến quán Nhớ nhiều lần. Nghĩ thế nào lại thôi.
- Sao vậy?
- Sợ cô hiểu lầm.
- Sao bà biết tôi đau?
- Xin gọi tôi bằng tên, bằng chị. Tôi muốn nói chuyện với Ngọc, làm quen, kết bạn.
Bằng lòng không?
Tôi nín thinh không biết trả lời thế nào. Nhớ lại cái đêm đứng dưới đường nhìn
lên cửa sổ phòng ngủ Mỹ Dung, mặt mũi tôi muốn nóng bừng vì hổ thẹn. Đạo xa rồi.
Tôi không còn lý do coi Mỹ Dung là tình địch nữa. Chúng tôi chỉ còn là hai người
đàn bà cùng cô đơn như nhau.
Mỹ Dung tiến tới thân mật nắm lấy tay tôi.
- Xuống Quy Nhơn mấy ngày, vui vẻ không?
Tôi giật mình. Tôi đi Quy Nhơn tưởng không ai biết, tôi về cũng chẳng ai hay. Mỹ
Dung không đến quán Nhớ, làm sao cũng biết. Tôi lại nín thinh. Vì không biết trả
lời như thế nào. Sau đó, Mỹ Dung mời tôi về nhà nàng. Đáng lẽ tôi phải từ chối.
Đi với người đàn bà chơi bời này, dù chỉ một đoạn đường ngắn là chuyện không
nên. Sẽ mang tiếng. Sẽ bị hiểu lầm. Vậy mà chẳng hiểu tại sao, tôi đã đi theo Mỹ
Dung ra cửa chợ. Và mười lăm phút sau, tôi đã ở trong nhà Mỹ Dung. Tầng dưới
ngôi nhà khá rộng, ngăn chia thành nhiều phòng nhỏ. Những căn phòng nhỏ xíu ấy
đối diện nhau, cửa phòng nào cũng có tấm rèm che kín. Một lối đi chạy giữa hai
dãy phòng. Trên lối đi, những cái ghế dài bọc da đỏ thẫm kê cách nhau trong những
khoảng cách đều đặn. Không có một tiếng động nào phát ra từ những căn phòng. Tiệm
tắm hơi của Mỹ Dung đã đóng cửa.
Mỹ Dung chỉ tay vào cái lối đi vắng ngắt.
- Không có ai đâu, cô đừng ngại.
Tôi lắc đầu:
- Tôi không ngại, chỉ hơi ngạc nhiên thôi. Không còn ai đến đây nữa sao?
- Một vài người. Nhưng tôi nói đã dẹp tiệm nên họ không đến nữa.
Mỹ Dung đưa tôi lên lầu, vào phòng ngủ của nàng. Căn phòng thật đẹp thật ấm
cúng, bài trí khá mỹ thuật. Một tấm thảm dầy phủ kín mặt sàn. Giường ngủ thấp
kiểu mới nhất. Tủ áo lồng kính. Phấn sáp, nước hoa và những đồ trang điểm khác
của đàn bà xếp hàng trên mặt cái bàn phấn ở đầu giường. Một mùi thơm nhẹ phảng
phất trong không khí. Căn phòng của Mỹ Dung không chỉ là một nơi chốn để ngủ.
Thứ phòng ngủ diễm lệ vừa đón tôi vào là một nơi chốn để tình tự. Đêm nào, Đạo
đã ở đây. Chàng đã nằm trên mặt đệm kia, với Mỹ Dung trong tay.
Mỹ Dung cởi bỏ chiếc áo mưa, ném cái áo lên thành giường. Chiếc áo dài màu rượu
chát bó sát lấy thân hình nẩy nở của nàng.
Mỹ Dung kéo tôi ngồi xuống mặt đệm, hỏi tự nhiên, đột ngột:
- Đạo đâu?
Tôi không muốn che dấu nữa. Chuyến đi Quy Nhơn của tôi, cả Pleiku đã biết.
- Anh ấy không trở về đây.
- Anh ấy vẫn ở Quy Nhơn?
- Tôi không rõ.
- Ngọc đang là đầu đề cho dư luận bàn tán đấy nhé !
Tôi gật:
- Tôi biết.
- Kể chuyện cho tôi nghe về Đạo được không?
- Tôi không muốn.
Mỹ Dung nhìn tôi:
- Ai gặp Đạo rồi cũng vậy. Muốn quên, không muốn nhắc tới. Nhưng càng muốn
quên, càng nghĩ, càng nhớ tới Đạo. Đạo không ở với một người đàn bà nào. Đàn bà
với anh ta chỉ là một trò đùa. Nhưng lần này...
Ngừng một giây, Mỹ Dung nói tiếp:
- Tôi tưởng lần này không giống với những lần trước. Tôi ngạc nhiên khi thấy Ngọc
trở về Pleiku một mình.
Đến lượt tôi ngạc nhiên:
- Chị tưởng tôi đi hẳn?
Mỹ Dung gật:
- Phải. Đi hẳn với Đạo. Trở về đây làm gì nữa?
- Chị vừa nói Đạo coi đàn bà là một trò đùa mà.
- Nhưng Ngọc khác. Ngọc không phải là một trò đùa. Có một đêm, Đạo đã ở đây, đến
sáng. Đạo có nói chuyện không?
- Không.
Tôi ở lại trong căn phòng ngủ diêm dúa của Mỹ Dung, hai tiếng đồng hồ. Tới gần
mười hai giờ. Quên cả cái việc chưa đi chợ xong phải về, vì Chấn đang đợi ở
nhà. Tôi từ chối không chịu để cho Mỹ Dung nói chuyện với mình về Đạo, nhưng rồi
tôi đã ngồi đó, nghe Mỹ Dung nói về Đạo. Về con người chàng. Về quá khứ chàng.
Về những điều đã khiến tôi thao thức, thắc mắc, nhưng không tìm hiểu được
nguyên nhân. Về những điều tôi chỉ cảm thấy rất mơ hồ vì không có bằng chứng rõ
rệt. Tại sao Đạo tàn nhẫn với đàn bà? Tại sao chàng coi tình yêu, đàn bà như một
trò đùa, khiến từ chàng tôi cũng chỉ thấy được hạnh phúc như một hạnh phúc chốc
lát? Câu trả lời đến từ một buổi sáng chủ nhật, của một quá khứ xa thẳm.
Năm đó, Đạo mới hai mươi bảy tuổi. Điều khó ngờ ở một người như Đạo, là còn trẻ
như vậy, Đạo đã có vợ từ năm năm. Vợ Đạo tên Diễm, là một vũ nữ. Đạo mới chớm
chơi bời, nhưng lấy Diễm, chàng yêu người vũ nữ đằm thắm và đoạn tuyệt ngay với
cuộc sống về đêm. Cặp vợ chồng sống với nhau trong một căn nhà nhỏ, cạnh chỗ ở
của Mỹ Dung, vì thế mà Mỹ Dung biết chuyện. Cuộc chung sống êm đềm được một năm
thì Đạo có con. Đứa con trai giống cha như đúc. Đạo yêu con vô chừng ngày hai
buổi đi làm, ở sở về thẳng nhà, không có một đời sống nào khác ngoài đời sống
gia đình, không biết đến một người đàn bà nào khác ngoài Diễm mà Đạo tin cũng
đã đoạn tuyệt hoàn toàn với đời sống cũ.
Cặp vợ chồng có một xe hơi nhỏ. Buổi sáng chủ nhật, họ thường cùng với đứa con
trai kháu khỉnh lái xe ra khỏi thành phố. Đi xa thì ra Vũng Tàu, chiều về. Đi gần
thì lên Biên Hò, Thủ Dầu Một, ăn cơm trưa ngoài trời, thả cho đứa nhỏ chạy nhảy,
đùa nghịch giữa những thước không khí trong lành và thoáng mát. Đạo chăm sóc thằng
nhỏ cực kỳ cẩn thận. Không cho con chơi với con cái nhà hàng xóm, sợ con hư.
Không cho con ra phố ra đường một mình sợ tai nạn xe cộ.
Chủ nhật hôm đó là một chủ nhật rất đẹp trời. Hai vợ chồng sửa soạn đưa con
trai đi Thủ Đức. Phút chót, sở có công việc khẩn, sai tùy phái đến tìm. Đạo
đành phải để cho Diễm lái xe hơi đưa con đi một mình.
Xe rời nhà khoảng tám giờ sáng. Chín giờ tai nạn thảm thương đã xảy ra. Diễm
đưa đứa nhỏ lên hồ tắm Thủ Đức, sơ ý thế nào để đứa nhỏ xẩy chân rớt xuống hồ tắm.
Giờ đó chưa có một người nào. Đến lúc hay biết. Diễm la thét, cầu cứu, người ta
vớt được thằng nhỏ từ đáy nước lên thì nó đã tắt thở. Xác đứa nhỏ được chở về
nhà. Hàng xóm đến sở báo tin sét đánh. Đạo hoảng hốt chạy về, nhưng tất cả đều
đã muộn. Diễm khóc lóc, nhận lỗi về sự sơ xuất không thể tha thứ của mình. Đạo
nín thinh, không nói với vợ một lời, lẳng lặng đi chôn con ở một nghĩa địa vùng
ngoại ô Chợ Lớn. Cặp vợ chồng tiếp tục sống với nhau như cũ. Nhưng mất đứa con,
ngôi nhà không còn tiếng trẻ thơ bi bô đùa nghịch, không thể còn là cái tổ uyên
ương sáng hồng như trước. Và tình yêu giữa cặp vợ chồng cũng tan vỡ theo cái chết
thảm khốc của đứa nhỏ.
Nghe đến đây, tôi cau mày, ngắt lời Mỹ Dung:
- Không thể như thế.
Mỹ Dung ngừng kể, hỏi:
- Không thể như thế là thế nào?
- Đứa con chết chỉ là một sơ ý.
- Và Diễm phải được tha thứ?
- Chính vậy.
Mỹ Dung kể tiếp, nói thêm cho tôi biết nguyên nhân tại sao Đạo không tha thứ
cho sự sơ ý chốc lát của Diễm. Thực ra, Đạo đã muốn quên, để sống mãi với Diễm.
Ít lâu sau ngày đứa con trai chết. Đạo buồn phiền, lái xe lên Thủ Đức một mình.
Chàng tới hồ tắm, nơi xảy ra tai nạn. Ở đây, Đạo được biết thêm những điều mà
Diễm đã che dấu về cái buổi sáng chủ nhật đẹp trời kia. Tới hồ tắm, Diễm đã gặp
lại một trong những người tình cũ của nàng. Bỏ mặc đứa con tha thẩn một mình
bên hồ tắm vắng vẻ. Diễm đã đi chơi với người tình vào một cánh rừng cao su gần
đó. Nàng ở trong cánh rừng cao su với người tình gặp lại không chỉ mười lăm
phút, mà cả nửa tiếng đồng hồ. Đứa con chết đuối trong khoảng thời gian này.
Sự tha thứ, muốn có, ở Đạo, thế là tan biến. Diễm không chỉ là một người mẹ sơ
suất. Diễm còn là một người vợ không chung thủy. Cái chết của đứa con tố giác
thêm sự phản bội của người đàn bà. Đạo buồn bã và thất vọng. Đạo trở lại với cuộc
sống hoang tàn ngày trước. Chàng đi chơi đêm, uống rượu, bỏ việc, hàng tuần lễ
miệt mài ở những nơi chốn nhầy nhụa không về tới nhà.
Không ai có thể kéo dài với nhau một chung sống đã trở thành địa ngục. Năm
tháng sau ngày đứa con chết, Diễm bỏ đi. Một tháng sau khi rời Đạo, người ta đã
thấy Diễm tươi cười khoát tay những người đàn ông khác. Đạo nhìn đàn bà, cũng bằng
một cái nhìn mới từ đó. Đàn bà chỉ còn là một giải trí, một trò đùa. Đạo ăn nằm
hết người này đến người khác để bỏ rơi họ, tàn nhẫn, không thương tiếc.
Qúa khứ Đạo được Mỹ Dung kể tới đó là hết. Đến chuyện tôi. Mỹ Dung nói tiếp:
- Cho tới khi Đạo gặp cô.
Tôi nhớ lại hai tuần lễ ở Sàigòn. Nhớ lại không thiếu sót một chi tiết nào. Nhớ
lại và rùng mình. Tôi là người đàn bà thứ bao nhiêu đây trong cuộc đời của Đạo?
Tôi cười nhạt:
- Sự gặp gỡ ấy cũng chẳng có gì đáng nói.
- Rất đáng nói là đằng khác. Vì trường hợp cô không phải là trừơng hợp của mọi
người.
Tôi ném cho Mỹ Dung cái nhìn nghi ngờ:
- Làm sao chị biết được.
- Tôi biết. Vì Đạo nói.
Tôi nhíu mày:
- Anh Đạo đã đem chuyện tôi ra nói hết với chị.
- Không hẳn. Anh ấy không nhắc đến tên cô, khiến đêm hôm đó, tôi không đoán được
là ai. Bây giờ, tôi mới biết.
Hình ảnh Đạo đứng sánh vai với Mỹ Dung giữa khung cửa sổ mở rộng trở về trong
trí nhớ tôi. Cánh cửa chỉ mở rộng trong khoảnh khắc rồi được đóng chặt lại. Đêm
hôm đó, tôi đã sống như một con vật bị hất hủi. Mỹ Dung có Đạo trong một căn
phòng ấm cúng. Tôi đứng một mình dưới mặt đường tối đen, với đêm lạnh buốt vây
quanh. Sự uất ức đã làm tôi chảy nước mắt. Rồi lủi thủi trở về, tôi đã hình
dung ra những giờ phút gần gũi thân mật của người đàn ông và người đàn bà. Suốt
đêm hôm đó, tôi không ngủ được, bởi cái cảnh tượng Đạo nằm trên mặt đệm chiếc
giường tôi đang ngồi, với Mỹ Dung trong tay, vẫn rành rành trước mắt.
Bây giờ. Mỹ Dung thuật lại và sự thật lại không phải như vậy:
- Cô đừng hiểu lầm. Không có chuyện gì xảy ra đêm hôm đó đâu. Anh Đạo chỉ uống
rượu, uống liên miên. Chúng tôi nói chuyện đã, ngồi như thế với nhau tới sáng.
Anh nói chuyện gì cô biết không? Chuyện một người con gái anh gặp ở Sàigòn. Anh
bỏ rơi tàn nhẫn, dễ dàng như anh đã có một thái độ tương tự với những người con
gái khác. Nhưng điều lạ lùng là người con gái ấy khi xa rồi, vẫn ám ảnh thần
trí anh bằng một ám ảnh không thôi? Tôi hỏi Đạo: "Vậy thì không phải là một
trò đùa? " Đạo nín thinh, cúi đầu, không nói. Chưa từng bao giờ, tôi thấy
Đạo như thế. Xa vắng. Buồn bã. Chìm đắm trong một bận tâm thầm kín. Suốt đêm, Đạo
ở cạnh tôi, mà cũng là suốt đêm Đạo nghĩ đến người con gái ấy. Rồi Đạo cho biết
anh tình cờ gặp lại người con gái ấy ở đây. Tôi hỏi ai, Đạo lắc đầu không chịu
nói tên. Mấy ngày sau, anh ấy bỏ đi và người thất vọng là tôi.
Tôi hỏi Mỹ Dung:
- Tại sao chị thất vọng?
- Gặp Đạo tôi mừng như bắt được của. Tôi đang sống một mình. Rất buồn. Đang cần
một người tình như Đạo. Tôi muốn giữ Đạo ở lại với tôi. Không có cô, chắc Đạo
đã ở lại.
Mỹ Dung đưa tôi xuống đường. Nàng hỏi tôi, rất nghiêm trang:
- Tại sao cô trở về một mình?
- Không có gì giữa chúng tôi hết.
- Vô lý. Đạo không nói yêu cô sao?
Không. Tôi chưa từng nghe Đạo nói với tôi như vậy, dù chỉ một lần. Ở đây. Cũng
như hai tuần lễ ở Sàigòn. Cũng như ba ngày ở Quy Nhơn. Tôi trả lời Mỹ Dung rằng
Đạo không bao giờ nói chàng yêu tôi.
Mỹ Dung cau mày:
- Không nói cô cũng phải biết.
- Làm sao tôi biết được.
Mỹ Dung chép miệng:
- Tôi còn biết, tại sao cô không biết? Chỉ là cô không muốn biết mà thôi.
Chia tay với Mỹ Dung tôi nghĩ ngợi miên man suốt dọc đường trở về. Bỏ dở buổi
chợ, bữa cơm không có, hai chị em phải mời Chấn đi ăn cơm tiệm. Thấy tôi có vẻ
bằng lòng, Chấn không giữ gìn ý tứ như lần đầu nữa. Huyền cũng bạo dạn, tự
nhiên hơn. Suốt bữa, cặp tình nhân không ăn, chỉ ngồi nhìn nhau. Không ngờ tình
yêu tới với anh chàng trẻ tuổi và đứa em gái trầm lặng của tôi một cách mau
chóng như thế. Chỉ một tuần lễ, tình yêu chớm nụ, mãn khai và thơm hương. Nó
đang đi tới bằng những bước dài bảy dậm. Nghĩ cho cùng, chẳng có gì ngạc nhiên.
Tình yêu đầu mà. Nhịp đập của trái tìm tuổi trẻ mà. Tiếng sét long trời lở đất
mà. Và tại sao lại không như thế. Như thế mới là yêu. Chỉ có tôi là hoang mang
bởi không biết mình muốn gì. Chỉ có tôi đang đứng giữa ngã ba, ở giữa sương mù.
Ăn xong, hai chị em và Chấn lại trở về quán. Tôi kêu mệt, lấy cớ vào nhà trong
nằm nghỉ. Đầu óc váng vất, bồng bềnh, tôi nghe thoáng thấy những tiếng trò chuyện
thì thầm ở phòng ngoài. Tiếng mưa nữa. Tiếng gió. Còn gì giữ tôi ở lại với cái
thị trấn miền núi này không? Tôi không tìm được câu trả lời, và ngủ thiếp đi
lúc nào không hay.
Giấc ngủ kéo dài. Như một lãng quên đời. Thức giấc, trời đã tối. Ánh đèn ngoài
quán hàng đã le lói. Nhạc nổi. Vẫn bài hát cũ. Về một Pleiku vừa gắn bó, vừa đứt
rời, vừa lưu luyến, vừa cách biệt. Tôi mặc áo ấm, đi ra. Vận tới lúc nào. Trái
với mọi lần, Huyền để mặc Vận ngồi một mình. Còn nó, nó ngồi sau quầy, đắm chìm
trong mơ mộng.
Tôi hỏi Huyền:
- Chấn đâu?
- Anh ấy vào trại rồi.
- Sao không gọi chị dậy.
- Anh ấy bảo để yên cho chị ngủ.
Tôi nhìn Huyền, âu yếm:
- Đã nhất định tuần sau xuống Quy Nhơn chưa?
- Tùy chị.
Tôi gật đầu:
- Để tính lại coi sao. Có lẽ quán Nhớ này đã đến lúc phải đóng cửa thật rồi.
Cho nó thành quán quên. Cứ coi là chị em mình sẽ đi Quy nhơn.
Bỏ Huyền với sự mơ mộng tuyệt vời đang tràn chiếm tâm hồn nó, một tâm hồn vừa mở
cửa trước tình yêu đầu, bàng hoàng ngây ngất, tôi đến ngồi nói chuyện với Vận.
Vận nhìn những cái ghế trống, chép miệng:
- Sao vắng thế này?
Tôi cười:
- Còn anh mà !
- Tôi là người khách cuối cùng?
- Một người khách là đủ.
Nói vậy, mà cái giọng muốn làm ra đùa cợt của tôi cũng không thể đùa cợt được nữa.
Một ngày kia, tấm biển hàng trước cửa quán sẽ hạ xuống. Bên trong quán, những
ánh đèn sẽ tắt đi. Bản nhạc về Pleiku sẽ không còn bổng trầm thánh thót trong
căn phòng này. Và quán Nhớ sẽ sống những giờ phút cuối cùng của nó.
Ngày khai trương quán trở lại, thình lình trong trí nhớ tôi. Thấm thoát mà cũng
năm năm. Hôm đó, mọi người có mặt đông đủ. Anh Kiện cũng về, có mặt. Dã Thụy tới,
mừng quán bằng một bức tranh. Bức tranh được treo ngay lên tường. Khoa đến với
một bó hoa lớn, mọi người đều ăn mặc đẹp, những khuôn mặt rạng rỡ. Nhạc kéo
theo mấy người bạn nhạc sĩ của Nhạc nữa. Những cây đàn cồng kềnh. Mọi người bắt
tôi phải nói một vài câu rồi mới chịu vào tiệc.
Tôi đã lên đứng trước micro, trước ban nhạc. Thấy tôi bước lên bục, mọi người vỗ
tay như sấm động. Chiều khai trương, quán Nhớ đèn lửa sáng choang chứ không tối
thui như bây giờ. Có cả hoa và rượu nữa. Tôi mặc chiếc áo màu lộng lẫy nhất.
Tươi cười dưới ánh đèn và trước những cặp mắt nhìn ngắm, tôi đã chào mừng bạn hữu,
nói quán Nhớ muốn đựơc là nơi họp mặt thường xuyên của mọi người, nó sẽ sống
mãi với Pleiku, không bao giờ hạ bảng, không bao giờ đóng cửa.
Nhớ hôm đó, Vận đã nâng ly rựơu hỏi lớn:
- Không bao giờ đóng cửa chứ, chắc không?
Tôi đã gật đầu, dõng dạc:
- Chắc.
- Thế nhỡ cô chủ không ở Pleiku nữa thì sao?
Tôi đưa tay:
- Tôi sống chết với Pleiku, không bao giờ đi nơi khác.
Lại một tràng pháo tay như sấm động, tán thưởng câu nói chung thủy gắn bó với một
nơi chốn không rời đổi. Buổi tối hôm đó thật vui. Bạn hữu đến nhà đông chật.
Không có chỗ đứng, không có chỗ ngồi mà khách hàng vẫn cứ kéo vào ùn ùn. Phải mở
cửa phòng ngủ cho đám bạn thân sang ngồi ở đó. Chúng tôi thức với nhau tới
khuya. Mọi người thi nhau lên dàn nhạc, hát, kể chuyện tiếu lâm, đùa nghịch
trong một không khí buông thả đến tận cùng. Quán Nhớ có mặt trong sinh hoạt
Pleiku từ đó. Với những lúc vui, với những lúc buồn. Qua những chiều mưa, qua
những mùa nắng. Tôi đã có với quán thật nhiều kỷ niệm. Đám bàn ghế đồ đạc lâu dần
rồi cũng như có một linh hồn. Góc kia là chỗ ngồi của Dã Thụy, cái góc mù mịt
khói thuốc. Đầu quầy này là chỗ Vận thường đứng, dưới, chiếc đồng hồ là quà tặng
của Khoa. Buổi sáng, quán mở cửa, sương ban mai ùa vào xanh biếc. Đêm khuya, cửa
quán đóng lại, nhạc tắt, quán rơi chìm êm ái vào một vắng lặng buồn rầu. Bao
nhiêu năm rồi, tôi đã ở đây, ngôi nhà nhỏ có bóng dáng hàng ngày của bạn hữu có
thể gọi được là một mái nhà ấm. Vậy mà tôi sắp bỏ đi? Hạnh phúc nào cũng chỉ là
một hạnh phúc chốc lát? Tôi còn tìm đựơc cho tôi một nơi trú ẩn nào mới? Không
rõ, không biết. Nhìn lên từ một hướng biển, nhìn xuống từ một hướng núi, nhìn từ
đâu cũng chỉ là một tương lai mịt mùng. Và những người đàn ông thì đều đã mất
đã xa. Khoa bây giờ cũng đã đứng ở chỗ đứng của Đạo. Một chỗ đứng tôi không
nhìn thấy nữa.
Chương kết
Con đường xa lạ, thêm một chuyến đi về nữa, đã trở thành một
con đường quen thuộc. Gặp lại những chân đèo, những khúc quanh, những dốc phà.
Gặp lại những dấu chân trên bãi cát, miền biển xanh mênh mông, màu nắng vàng
chói lọi. Thêm nhiều tuần trôi quạ Pleiku trong khoảng thời gian này, có một
vài chuyện lạ. Như Mỹ Dung là một khách hàng mới của quán Nhớ. Nếu quán Nhớ đổi
chủ, Mỹ Dung sẽ là bà chủ mới. Chúng tôi mới đề cập sơ sơ tới vấn đề này. Cũng
chưa đi tới một quyết định, một thỏa thuận nào. "Nếu muốn nhường quán cho
người khác thì đừng nhường cho ai, nhường cho tôi". Mỹ Dung nói. "Rất
có thể. Để tôi coi". Tôi trả lời. Thấy tôi giao thiệp Mỹ Dung, mọi người
càng xa lánh. Tôi cũng mặc. Tất cả, bỗng nhiên không còn gì quan trọng, Tôi hỏi
Mỹ Dung: "Bộ chị muốn ở đây mãi mãi?". Người đàn bà: "Tôi không
còn biết đi tới đâu nữa, già rồi, mệt rồi. Đất này được cái yên tĩnh. Nó hợp với
những người ở tuổi tôi, chứ lại không hợp với Ngọc đâu". Một người sống quẫy
động như Mỹ Dung bỗng muốn tìm kiếm cho đời mình cái phẳng lặng của mặt nước Biển
Hồ. Đó là một chuyện lạ.
Chuyện lạ thứ hai: cuộc hôn nhân giữa Khoa và Hồng Hạnh đã được sửa soạn. Chưa
ai nhìn thấy họ cặp đôi với nhau nhưng tin đồn đã lan rộng. Cuối cùng những người
con gái nhà lành liên kết thành một mặt trận đã đánh thắng đứa con gái tỉnh nhỏ
sống theo sức xô đẩy của tâm hồn. Chắc Hồng Hạnh đang kiêu hãnh lắm, hả hê sung
sướng lắm. Thư cũng vậy. Họ đã đinh ninh mất Khoa về tay tôi. Bây giờ họ mừng rỡ
vì đã cướp lại được Khoa, giữ đựơc Khoa ở lại với cái phía bên này, đẩy tôi
sang cái phía đối diện. Tôi nghe tin, vừa vui vừa buồn. Đời sống Pleiku lại hiện
hình trong mấy lời hát.
Nơi đây, những chân người đi dăm bảy bước lại trở về chốn cũ, nhưng nơi đây
cũng là những phố thấp chạy xuống một thung lũng, những phố cao mở lên một ngọn
đồi, đường với đường thật gần nhưng đường với đường chia lìa không đoàn tụ. Cuối
cùng là những trận mưa buổi chiều và Pleiku là một niềm bâng khuâng phảng phất
trong tâm hồn như một lớp mù sương.
Khoa không đến quán Nhớ nhưng có nhờ Vận chuyển cho tôi một lá thư ngắn. Nói muốn
gặp một lần cuối cùng. Cuối cùng. Tôi ghét nhất cái danh từ này. Cuối cùng. Cuối
cùng. Người ta còn nói được gì với nhau khi sự tan vỡ đã hoàn toàn không thể
hàn gắn. Tôi bằng lòng gặp Khoa. Một buổi trưa. Vận đến chở tôi đến chỗ hẹn. Trời
không mưa. Nhưng bầu trời xám thấp. Bầu trời thấp là hình ảnh một mái tóc rũ,
mái tóc phủ lên khuôn mặt Pleiku đăm đăm cặp mắt buồn phiền. Xe ra khỏi tỉnh. Vận
nói bâng quơ:
- Mọi chuyện vẫn có thể cứu vãn được.
Tôi không nói gì. Nín thinh, nhìn núi, nhìn rừng. Không phải là cái vấn đề cứu
vãn. Chỉ là Pleiku trong một khoảng khắc nào đó, đã trở thành xa lạ với tôi, và
ngược lại, tôi với nơi chốn này cũng chỉ còn là một bóng hình xa lạ. Cuộc chia
lìa không phải là người với người. Mà người với nơi chốn. Không bao giờ tôi
quên được Pleiku, nhưng tôi sẽ bỏ đi. Tâm trạng như thế này, nhưng hành động
thì ngược lại.
Như đoán được ý tôi, Vận hỏi:
- Bao giờ đi?
Tôi nói trong gió tạt, dưới trời thấp, tiếng nói tan biến mau chóng và trống trải
lan rộng.
- Đi đâu?
- Bạn bè không sắp mất Ngọc sao?
- Có thể. Sắp.
Vận cười:
- Phải có tiệc tiễn biệt.
- Nếu tôi đi sẽ là đi âm thầm không ai hay.
Qua một đồn binh chiếc xe rời khỏi con đường lên tỉnh, rẽ xuống một con đường
thấp hơn. Mặt nhựa bị tróc trên nhiều khoảng lớn. Cỏ dại tràn chiếm. Đất đồi
hai bên bờ đường rắn lạnh và đỏ khé. Mặt đất như một dung nhan người đàn bà sắp
về chiều chằng chịt những nếp nhăn là những cái rãnh do nước mưa nhiều mùa soi
mòn. Bốn phía chung quanh Pleiku trống trải hắt hiu chạy dài tới những chân
núi. Những ngọn cỏ, những cánh đồi, những giải mây này rồi sẽ xa lắm, trong một
đám ký ức mịt mùng, tôi bâng khuâng nghĩ thầm. Một chuyến đi nào đó, đã ở trong
tôi.
Vận đang ngồi bên cạnh, rồi Vận cũng sẽ chỉ còn là một bóng núi quá khứ.
Con đường càng khó đi hơn. Chiếc xe hục hặc vật vã. Rồi chiếc xe chao đi, lao
xuống. Con đường thấy hẳn và lượn vòng theo một sườn đồi dựng thành. Đã tới Biển
Hồ. Biển Hồ ở phía bên kia một ngọn đồi. Vận ngừng xe lại giữa khoảng đất trống.
Vận chỉ tay lên ngọn đồi, um tùm:
- Nó ở trên đó.
Tôi nắm tay Vận:
- Lên với tôi chứ.
- Không. Có thêm thằng này vô, hai người nói gì với nhau được.
Cũng đúng. Khoa muốn gặp riêng tôi. Trong một cuộc gặp gỡ không thể có người thứ
ba. Bởi vậy mà Khoa không tới quán Nhớ và đã phải cất công lên chờ tôi ở Biển Hồ.
Trong một khoảng khắc tôi nhận thức được tất cả tầm quan trọng của lần họp mặt
này. Hỏi Vận:
- Anh chờ ở đây sao?
- Tôi trở về chơi với mấy thằng bạn ở đồn binh. Một tiếng đồng hồ có xong
không?
Xong là xong cái gì? Xong cho tôi hay xong cho Khoa? Tôi cười buồn:
- Làm sao tôi biết được?
Vận nhìn đồng hồ tay:
- Thôi, cứ cho là một tiếng đi, rồi tôi sẽ lại đón.
Chiếc xe nổ máy, Vận ôn tồn:
- Khoa không muốn chấm dứt đâu. Ngọc hiểu như thế không?
- Tôi hiểu.
- Tụi này không muốn mất Ngọc.
Tôi chớp mắt, cảm động. Sự cảm động của tôi rất thành thật. Có những người bạn
chung thủy như Vận, cuộc sống buốt lạnh có ấm áp được phần nào. Có những tấm
lòng thắm thiết, không đổi thay như Vận, những mùa mưa Pleiku sẽ đỡ sầu thảm,
những cơn gió Pleiku sẽ đỡ buốt lạnh. Và không chừng vì cái không khí bằng hữu ấm
áp vây bọc, tôi sẽ ở lại với Pleiku, mãi mãi. Thành ra cuối cùng, chỉ có tình bạn
là toàn vẹn, tốt đẹp. Không bao giờ nó khiến ta phải đau đớn. Nó có thể đem lại
sự buồn bã, nhưng một buồn bã dịu dàng không bao giờ là một vết thương đau đớn.
Nếu Khoa cũng chỉ như Vận. Trong giới hạn, trong vị trí một người bạn? Bây giờ
tôi mới cảm thấy ân hận, đã để Khoa đi xa hơn. Và vì đã quá đi xa, Khoa mới ngồi
chờ tôi ở trên kia. Tôi đi lên với Khoa trên một lối đi nhỏ ẩn ẩn hiện hiện giữa
hai bờ cỏ rậm. Một cặp tình nhân từ phía trên đi xuống. Tưởng không gặp ai, họvừa
đi vừa ôm nhau thật chặt. Người con gái úp mặt vào vai anh con trai. Tôi phải đằng
hắng họ mới giật mình buông nhau ra. Anh con trai đeo trên vai một cái máy chụp
hình. Chắc nhiều tấm hình đã được chụp giữa thắng cảnh thơ mộng. Khoa cũng đã
chụp cho tôi rất nhiều hình ở Biển Hồ. Đủ kiểu. Tôi tựa vào gốc cây, nhìn lên
trời cao, nhìn xuống hồ thấp. Tôi đứng dưới chân tượng Phật bà, với những giải
mây của nền trời mùa thu sau lưng. Những tấm hình kỷ niệm. Pleiku cuối cùng chỉ
là một kỷ niệm. Một ngày không xa lắm, những tấm hình tôi do Khoa cất giữ trang
trọng sẽ bị đốt cháy. Vì Khoa đã có những tấm mới, những tấm hình Hồng Hạnh.
Khoa ngồi trên một hòn đá, quay lưng lại. Mặt hồ xanh biếc, phẳng tắp như một tấm
gương. Tôi đến đứng sau lưng Khoa. Chợt nhớ lại phút chia tay với Đạo ở bến xe
Quy Nhơn. Thêm một lần chia tay nữa. Sống chỉ là một chia tay như thế này sao?
Nơi chốn nào là nơi chốn xum họp?
Tôi cất tiếng trước:
- Anh Khoa chờ em lâu chưa?
Khoa giật mình quay lại và vội vã đứng lên.
- Vận đưa em tới?
- Vâng.
- Vận đâu?
- Đi rồi. Hẹn một giờ sau sẽ quay lại.
Hai chúng tôi nhìn nhau. Cả hai cùng thấy nhau tiều tụy. Nhưng tôi vẫn đẹp, vẫn
diễm ảo, vẫn duy nhất trước mắt Khoa. Cái nhìn bàng hoàng của Khoa cho tôi biết
như thế. Những tấm hình có thể sẽ bị đốt, nhưng tôi, trong trí nhớ Khoa, sẽ hơn
những tấm hình. Khoa sẽ cất tôi vào một xó góc nào đó trong tâm hồn chàng.
Thành một nỗi nhớ một niềm đau quen thuộc, dịu dàng, mãi mãi. Tôi cũng như vậy,
dù ở bất cứ nơi nào.
- Chúng mình ngồi xuống đây nhé.
- Vâng.
Phiến đá là chỗ ngồi cũ. Ở đây, chúng tôi nhìn thấy toàn cảnh Biển Hồ. Tầm mắt
ném đi, lướt trên mặt hồ, tới tận bờ hồ bên kia. Biển Hồ nhìn từ cao, lọt thỏm
giữa một vùng mênh mông đậm đặc. Một cái giếng lộ thiên. Do thiên nhiên đào ra.
Những tình yêu đã mang nhau tới đây. Nghiêng mình và tự soi ngắm. Lòng giếng
sâu thẳm như nền trời. Tình yêu không bao giờ hiện rõ khuôn mặt.
- Nghe nói em đau?
Tôi nói cho Khoa khỏi thắc mắc:
- Thường thôi, em đã khỏi. Anh vẫn mạnh?
Câu hỏi, câu trả lời bỗng trở nên kiểu cách. Người ta thường kiểu cách với nhau
như thế, khi sự tan vỡ đã có. Tôi muốn chảy nước mắt.
- Anh muốn gặp em?
Khoa gật, châm thuốc lá. Khoa là của những tiếng cười, cái nhìn tươi sáng, nét
mặt rạng rỡ. Sự buồn bã làm Khoa vụng về, lúng túng. Khoa không còn là Khoa nữa,
dù trên chỗ ngồi cũ và Biển Hồ vẫn bình yên, vẫn xanh biếc trước mặt.
Lúc này là buổi chiều. Lúc đẹp nhất, thơ mộng nhất của Biển hồ. Chiều thả xuống,
chiều dăng lưới, giam nhốt tâm hồn và thần trí vào cái khối sầu mênh mông bát
ngát của chiều. Chiều dâng lên, linh hồn chiều là cái đáy hồ thăm thẳm, chiều
lên gặp trời, sự gặp gỡ vô hình biến thành một ngưng đọng, rưng rưng giữa lưng
chừng không gian. Sự vật vang ngân, không cùng trong thứ tiếng nói huyền dịu của
im lặng. Trong tôi, bỗng nhiên là một lo lắng không đâu. Tạo vật lớn lao khiến
con người giữa nó chỉ còn là một cây kim bé nhỏ. Tôi sống một cảm giác rợn ngập.
Chúng tôi chưa biết hỏi tiếp câu chuyện với nhau như thế nào. Phút chia tay đắm
chìm trong xúc động. Chia tay nào cũng vậy, ở một sân ga, một bóng tầu, hay
trên ngọn đồi nhìn xuống một mặt hồ.
Nhưng trên một cảm thấy nào đó, phút chia tay cũng phơi bầy một vẻ nhạt nhẽo và
gắng gượng không dám thú nhận. Người ta không còn gì để nói với nhau. Trên một
tình yêu đã chết.
- Ông bà chụp một tấm hình.
Tiếng nói của người thợ chụp hình ném tới sau lưng chúng tôi. Khoa cau mày quay
lại. Người thợ chụp hình còn trẻ tuổi, đã đưa cao cái máy lên trước tầm mắt.
Khoa quát lớn:
- Không.
Người thợ chụp hình không chịu bỏ đi. Y nài:
- Hình mầu. Lấy ngay. Bốn trăm một tấm.
Khoa đứng vùng lên:
- Tôi bảo không. Anh có đi ngay không?
Người thợ chụp hình buông máy, nghiêm mặt:
- Đi thì đi. Ông làm gì mà nóng quá thế.
Khoa hậm hực ngồi xuống. Chưa bao giờ tôi thấy Khoa có một thái độ khó chịu như
vậy. Tươi cười bình tĩnh, khả ái với tất cả mọi người, thân hay sơ, đó là Khoa.
Tình yêu làm Khoa đổi khác. Vui hơn, sung sướng hơn, dễ thương hơn. Sự thất vọng
cũng làm khoa đổi khác. Như tôi đang thấy. Trên một chiều hướng ngược lại. Chỉ
mấy ngày không gặp nhau, có như là Khoa đã già đi hơn mười tuổi. Người thợ chụp
hình bỏ đi. Ngoài hai chúng tôi, trên đồi không còn ai. Tôi chợt nhớ lại lần đi
chơi đầu với Khoa mà nơi hẹn hò là Biển Hồ. Cũng một buổi chiều như buổi chiều
này. Anh thợ chụp hình chừng như cũng vẫn là anh thợ chụp hình của buổi chìêu
cũ. Hôm đó lần đầu tiên Khoa dám nắm lấy tay tôi lúc dắt tôi từ chân đồi đi
lên. Sự hồi hộp mới mẻ còn làm Khoa lúng túng trong từng cử chỉ nhỏ nhặt. Chúng
tôi đi quanh quẩn chân tháp, nhìn lên tượng Phật. Khoa mất tự nhiên vì chung
quanh hai đứa còn rất đông người đến thăm viếng danh lam thắng cảnh. Có cả một
bầy nữ sinh nhỏ tuổi nữa. Khoa không nói được gì nhiều. Nhưng tình yêu chân
thành tỏ lộ trong cái nhìn, trong im lặng. Rồi chúng tôi tìm được một phiến đá ở
chỗ khuất lánh nhất. Chúng tôi đã ngồi xuống phiến đá ấy, cùng ngó xuống hồ, dưới
trời chiều mênh mông. Lúc về tới thị xã, Pleiku đã lên đèn. Trời lạnh, mưa phùn
bắt đầu, thả giọt. Những mặt đường ướt át. Khoa đưa tôi về tới quán. Vào nhà.
Huyền hỏi:
- Đi đâu về vậy?
- Biển Hồ.
- Chỉ có hai người?
Tôi trừng mắt với con nhỏ:
- Bộ mày cho ta đi chơi với một mình anh Khoa không đủ sao?
Nó nhún vai.
Thêm một buổi chiều nữa, tự buổi chiều hôm đó. Trận mưa phùn của buổi chiều nào
mở ra một chân trời. Tới chiều nay, cái chân trời ấy đã khép kín. Khoa bứt những
cọng cỏ vò nát chúng trong lòng tay.
- Mấy hôm nay quán ra sao?
Tôi đáp, vắn tắt:
- Vắng.
- Sao vậy?
Khoa đã hiểu tại sao. Nhưng cứ hỏi. Tôi đáp:
- Anh không đến nữa, mọi người cũng bắt chước anh, không đến luôn.
- Mọi người là những ai?
- Tất cả.
Khoa nói, như xin lỗi:
- Mấy hôm nay, anh bận quá.
Tôi nhìn những thân cỏ bị vò nát dưới chân chúng tôi. Nói gì được với nhau nữa.
Những thân cỏ đã bị vò nát. Và lát nữa, về tới thị xã, sẽ lại có trận mưa phùn
buồn rầu thả giọt.
- Anh gặp em có chuyện gì?
- Anh muốn nói với em một vài điều. Trước nhất là dù thế nào, anh cũng không
thay đổi.
Khoa nói vậy, nhưng Khoa đã thay đổi. Tôi biết vậy. Chính Khoa cũng biết rõ
ràng như vậy. Trong một khoảnh khắc, bỗng nhiên tôi muốn có một cố gắng. Đó là
hai chúng tôi cùng cố gắng lãng quên, bỏ qua, tất cả mọi chuỵên đã xảy ra.
Chuyến đi Quy Nhơn, hai lần đến tìm Đạo ở khách sạn, tất cả những chuyện này
chúng tôi đều không nghĩ tới chúng nữa, và chúng tôi sẽ bắt đầu lại với nhau, tất
cả từ đầu. Nhưng tôi biết sự thật sẽ chẳng bao giờ là như thế. Hình ảnh Đạo mãi
mãi rồi sẽ ở giữa chúng tôi, và sự ám ảnh đó mãi mãi rồi sẽ làm cho chúng tôi
đau đớn.
- Em không đựơc như anh đâu.
Khoa bàng hoàng:
- Thế là thế nào?
- Em lúc thế này lúc thế nọ. Em chẳng còn là đứa con gái anh nhìn thấy. Anh đã
nhìn lầm,thấy lầm về em, từ đầu.
- Em chỉ cần hứa với anh. . .
Tôi nắm lấy tay Khoa, không để cho chàng nói tiếp nữa:
- Không phải thế. Một lời hứa chẳng có nghĩa lý gì hết. Anh nên sống khác đi.
Anh đừng nên đến quán Nhớ làm gì nữa. Thời giờ của anh bây giờ là để dành riêng
cho một người. Người đó không thể là em.
Khoa bực bội:
- Không có người nào hết.
- Vậy mà em lại nghe nói anh sắp lấy Hồng Hạnh.
Khoa ngập ngừng:
- Gia đình anh muốn thế. Anh không muốn thế.
Một phút im lặng. Trong tôi, hình ảnh một đám cưới hiện ra, một đám cưới tỉnh
nhỏ với bầu không khí và những màu sắc vừa quê mùa vừa cảm động của nó. Một người
con gái đang bước dần từng bước tới ngày vui lớn nhất của đời mình. Người con
gái đó là Hồng Hạnh. Ngồi trong quầy hàng, với tơ lụa óng ả vây quanh. Hồng Hạnh
đang đếm từng ngày, đang mong từng buổi. Cái nhìn bâng khuâng, trái tim đập mạnh,
nhìn ra con phố thân quen trước mặt, trong một cảnh trí đã có, không đổi thay,
từ những tháng ngày nhỏ dại, Hồng Hạnh chắc đang sống trước, từ bây giờ với cái
ngày nàng bước lên một chiếc xe hoa về nhà chồng. Tất cả đều chưa tới, nhưng tất
cả đã được xếp đặt, trong tưởng tượng. Tiệm hàng được làm đẹp bằng những lớp
vôi mới trên những vì tường. Những tấm thịêp hồng được gởi đi. Bà con thân thuộc
ở các tỉnh xa nhận được tin vui đều lục tục kéo về. Rồi đám cưới với những bữa
tiệc hân hoan kéo dài trong những lời chúc tụng bay bướm. Một đám cưới. Một chiếc
nhẫn. Một tờ hôn thú. Chẳng bao giờ tôi có được cho tôi những cái thứ đó. Những
cái đó đang tới dần, chậm chạp nhưng chắc chắn với Hồng Hạnh. Và tôi là người
con gái tỉnh nhỏ duy nhất đứng trên một bờ đường, nhìn những đám cưới của những
người con gái khác đi qua.
Khoa hỏi, làm bộ thản nhiên:
- Em có gặp Hồng Hạnh?
- Nhìn thấy nhau thôi. Trong mấy lần em đi qua tiệm tơ lụa.
Tôi bật cười, nhớ lại nét mặt thù nghịch của đứa bạn gái cùng trường:
- Ngày xưa ngồi chung một bàn đấy nhé. Bây giờ không chào hỏi nhau nữa.
Tôi cười lớn hơn:
- Tại anh đó.
Khoa thở dài:
- Mọi chuyện đều tại em gây ra thì đúng hơn. Anh vẫn đinh ninh điều anh mong ước
sẽ tới, không thể không tới. Bây giờ anh không còn biết nói với gia đình như thế
nào.
Khoa nhắc lại câu chàng đã nói:
- Nhưng lấy Hồng Hạnh thì không bao giờ có chuyện đó.
- Tại sao?
- Vì em còn ở đây, thế nào rồi chúng mình cũng sẽ gặp nhau.
Chúng tôi vẫn phải gặp nhau thật. Pleiku nhỏ quá, chỉ dăm bảy phố cao, chỉ một
vài phố thấp. Những người không muốn nhìn thấy mặt nhau, bởi càng muốn lãng
quên, mãi mãi rồi vẫn phải đụng đầu nhau trên một vài ngả đường nhất định. Như
thế, nếu cứ sống chung với nhau một bầu trời, một khí hậu Pleiku, người ta còn
có chung với nhau, vĩnh viễn một cảnh tượng hàng ngày. Chung một đám bè bạn.
chung. Những buổi nắng. Những chiều mưa. Chung. Những lời hát kia trong bài hát
ấy. Đi dăm bước đã về chốn cũ, một buổi chiều mưa, lòng bỗng bâng khuâng.
Chung. Ngọn núi phía Khôngntum, nhìn thấy từ xa, in hình lên nền trời.
Chung, những ngọn đồi những thung lũng gần vây bọc, ở đó, người ta bắt buộc phải
nghĩ tới nhau từng buổi sáng thức dậy, và bởi vậy mà chuyện cũ và kỷ niệm sẽ chẳng
bao giờ nhận chìm được hoàn toàn, vào lãng quên. Tôi hiểu được nỗi khổ tâm của
Khoa. Đồng thời cũng nhìn thấy cho hai chúng tôi một cách thức giải quyết duy
nhất.
Nửa giờ sau, tôi đứng lên. Chiều muộn. Trời cao thả xuống Biển Hồ thêm nhiều lượng
bóng tối nữa. Mặt nước im lạnh, thăm thẳm ghê rợn. Khoa lặng lẽ đi theo tôi xuống
bãi đất trống, nơi Vận đã trở lại. Chiếc xe Jeep rời khỏi vùng địa hình diễm lệ
của Biển Hồ cùng một lúc với một trận mưa phùn bắt đầu bay nghiêng trên một
Pleiku hoàng hôn. Rồi là đường về thị xã, với đồn binh ở một đầu khúc quanh, những
hàng rào giây thép gai cắt những sườn đồi thành nhiều khúc và những hạt nước ly
ty làm mờ khung kính. Không ai nói với ai một lời nào. Sự im lặng của Khoa hàm
chứa một ý nghĩa rõ rệt. Khoa không đổi thay. Khoa vẫn chờ đợi. Biển Hồ còn đó
nguyên vẹn, phố thấp là phố láng giềng, phố cao là phố hàng xóm. Khoa còn hy vọng
và Khoa nhẫn nhục chờ đợi. Hồng Hạnh để đó, đám cưới xẩy ra. Khoa tựa lưng vào
đồng minh cuối cùng là thời gian. Cho sóng gió qua đi. Cho dư luận lắng dần. Để
tôi nghĩ lại.
Tôi đã nghĩ. Nhiều buổi chiều. Nhiều đêm dài. Gặp Khoa ở Biển hồ là một ngày đầu
tuần. Cuối tuần, tôi đi cùng với Chấn và Huyền xuống Quy Nhơn. Bà chủ khách sạn
nán lại chờ tôi, chưa vào Sài gòn, khách sạn cũng chưa nhường lại cho người
khác. Chấn giới thiệu Huyền với mẹ. Gặp lại tôi, thấy lại con, bà chủ khách sạn
mừng rỡ, đón hai chị em vào nhà. Hai chị em được mời lên nghỉ trưa ở căn phòng
sang trọng nhất. Tôi nhìn thấy sự sung sướng của Huyền, một sự sung sướng nó muốn
che dấu nhưng tràn đầy trong từng cử chỉ nhỏ nhặt. Buổi chiều, Chấn đưa Huyền
ra bãi biển. Tôi ở lại khách sạn, nói chuyện với bà chủ nhà. Trong khi hai chị
em nghỉ trưa trên lầu, chàng trẻ tuổi chắc đã bày tỏ tình yêu đầu với mẹ. Bà chủ
khách sạn hỏi thăm về gia đình tôi. Tôi trả lời hết mọi câu hỏi của người đàn
bà về gia cảnh mình. Hai chị em mồ côi từ thuở nhỏ, họ hàng thân thích đều thất
lạc ở xa. Bà chủ khách sạn nói như thế thì mọi chuyện đều dễ dàng, cuộc tình của
Chấn và Huyền bà không phản đối, hôn lễ càng tổ chức sớm được ngày nào càng tốt
chừng nấy, bà nói điều quan trọng là hai đứa nó yêu nhau và thành thực muốn trở
thành vợ chồng.
Thế là xong, là yên cho đời Huyền. Nghĩ cũng lạ lùng. Chuyện thật bất ngờ. Ở
quán Nhớ, mỗi buổi sáng còn nằm trên giường, tôi đã nghe thấy cái tiếng chân của
Huyền. Tiếng chân nặng, tất tưởi, vất vả. Cái dáng đi của em gái tôi cũng vậy.
Chẳng khoan thai, không ung dung đài các chút nào. Cái tướng nó như thế. Nghĩ
nó phải khổ hơn tôi mới đúng.
Cuộc sống đã chứng minh ngược lại.
Đời sống tôi muốn nói là tuổi trẻ. Tuổi trẻ tôi muốn nói là thứ tuổi trẻ vững mạnh
sáng láng của những người như Chấn như Huyền. Không phải là thứ tuổi trẻ đau
xanh bệnh của tôi, của Thập, của Nhạc. Những giọt cà phê thả xuống một lòng ly
mờ khói, tiếng nhạc thảm lẫn trong tiếng mưa thầm, những ánh đèn vàng vọt, thoi
thóp của quán Nhớ, suốt bấy lâu đã nhận chìm chúng tôi vào một vũng lầy không
ra thoát. Bây giờ, tôi mừng vì bãi biển Quy Nhơn đang lòa nắng, trời Quy Nhơn
đang xanh biếc, và Huyền đang đi dạo với người yêu của nó, trên một bãi cát
cũng quang đãng, cũng xa rộng như đời sống của chúng nó sau này. Hai chị em sắp
xa nhau rồi đấy. Nhưng mà có những xa cách cần thiết phải chấp nhận. Cho mọi
người cùng sống. Tôi xa Khoa, cũng trên tinh thần này. Rồi Khoa sẽ hiểu. Không
phải bây giờ. Tất nhiên. Nhưng sau này khi tôi đã bỏ đi. Khoa sẽ hiểu.
Vấn đề nhường lại khách sạn không đặt ra nữa. Quán Nhớ đóng cửa, Huyền sẽ về sống
ở Quy Nhơn. Mỗi tuần nó sẽ vượt đèo An Khê lên Pleiku thăm chồng. Cho tới khi
Chấn được đổi về gần nhà hay được giải ngũ. Tôi tưởng phải ở lại Quy Nhơn lâu
hơn. Không ngờ mọi chuyện được giải quyết êm đẹp, mau chóng.
Tôi nói với bà chủ khách sạn:
- Sáng mai, tôi phải về.
Bà chủ khách sạn kêu lớn:
- Ủa, bà chủ không ở lại đây sao?
- Thưa không, tôi phải về.
- Em Chấn được nghỉ phép ba ngày. Thứ tư cháu mới phải về đơn vị.
- Tôi biết. Tôi về một mình.
- Bà để Huyền ở lại đây với chúng tôi. Tôi muốn coi cô ấy như con cái chúng
tôi, kể từ giờ phút này, nếu bà không thấy gì bất tiện.
Tôi để Huyền ở lại. Nó ở đâu cũng vẫn hơn là ở giữa bầu không khí quạnh quẽ và
phiền muộn của quán Nhớ. Buổi chiều. Nắng đã nhạt trước hè đường khách sạn. Huyền
và Chấn còn ở ngoài bãi, chưa về. Tôi ra khỏi nhà hàng. Quy Nhơn không đổi
khác, với những cây lao xao nắng gió và những hồi chuông kéo dài theo những
bánh xe lăn. Một chiếc cyclo chở tôi tới nhà Luận. Người đạo sĩ râu tóc vẫn ngồi
ở chỗ cũ, trong ngôi nhà cổ tịch lặng không một tiếng động, giữa những cuốn
sách xếp chồng. Da mặt Luận rám nắng. Nói mới đi biển về, sau mấy ngày ở đảo.
Luận hơi ngạc nhiên thấy tôi trở lại Quy Nhơn và trở lại một mình. Nhưng giữ ý.
Luận không đá động gì đến Đạo. Luận mời tôi ngồi chơi, vẫn một chồng sách làm
ghế, kể cho tôi về mấy ngày ở đảo. Đêm, theo đám dân chài đi đánh cá, trên một
mặt biển sáng ngời lân tinh. Ngày, ngủ đầy giấc trên một chòi canh, giữa những
bóng dừa lả ngọn. Cuộc sống của Luận thế mà sướng. Một cô độc thoát tục. Ở
ngoài mọi hệ lụy. Ngăn cách với đời bằng một rừng sách trong đó là cuộc viễn du
êm đềm của trí tuệ qua những ngày tháng nhẹ thênh. Tôi nghe, cười
- Nếu tôi được là đàn ông như anh.
Luận cười theo:
- Hận vì mình là đàn bà phải không? Vấn đề không phải là đàn ông hay đàn bà. Chỉ
là mình biết mình muốn gì và sống theo như thế.
Một giờ sau, tôi cáo từ ra về. Luận đưa tiễn tôi ra cổng. Lúc đó, Luận mới hỏi:
- Đạo đâu?
Tôi nhìn đi chỗ khác.
- Tôi không gặp. Từ lần trước gặp anh.
Luận nhìn tôi đăm đăm:
- Đạo ở đây với tôi thêm hai ngày nữa rồi trở về Sàigòn. Lúc đi, chỉ nói thế,
không cho tôi biết địa chỉ. Ngọc biết chứ?
Tôi lắc đầu:
- Không, anh ạ. Đạo không nói, tôi cũng không hỏi.
- Tôi vừa nói với Ngọc vấn đề là mình biết mình muốn gì. Một con đường có trăm
phương nghìn ngả. Nhưng đi mãi, rồi ta vẫn tìm kiếm thấy. Ngọc hiểu tôi muốn
nói gì chứ?
- Vâng. Tôi hiểu.
Luận đứng nhìn theo tôi một quãng xa rồi mới lững thững quay vào. Về tới khách
sạn, Huyền và Chấn cũng vừa từ bãi biển trở về. Bữa cơm ăn ở phòng trong, thân
mật ấm cúng. Thật khuya hai chị em mới lên phòng. Chúng tôi nói chuỵên với nhau
tới khuya. Tôi dỗ Huyền ở lại thêm mấy ngày nữa, nói thế nào tôi cũng xuống
đón. Huyền khóc:
- Chị Ngọc đánh lừa em.
Tôi ôm lấy con nhỏ:
- Chị đánh lừa em hay không cũng chẳng quan trọng gì. Đời sống của em bây giờ
là với Chấn ở đây. Đừng nghĩ đến quán Nhớ của chúng mình nữa. Quán Nhớ không
còn nữa.
Sáng hôm sau, Huyền đưa tôi ra xe. Huyền và Chấn nắm tay nhau nhìn tôi đi. Khi
tới lưng đèo An Khê, tôi đã quyết định xong. Pleiku chỉ còn thấy tôi, thêm một
ngày nữa.
Lá thư viết cho Khoa khá dài. Tôi viết được nó dễ dàng, trong tiếng mưa thả đều
trên mái. Ngồi với Khoa cả tiếng đồng hồ ở Biển hồ, tôi không nói được gì. Vĩnh
biệt đẹp nhất cuối cùng vẫn bằng một lá thư. Lá thư được viết trong đêm. Một
mình dưới ánh đèn. Trong thư tôi nói tôi phải bỏ đi, tôi đã nghĩ kỹ từ sau buổi
chiều chia tay ở Biển hồ, sự bỏ đi nếu không là một giải đáp tốt đẹp cho người
lên đường, ít nhất cũng là một giải quyết êm thắm cho những người ở lại. Êm thắm
cho Khoa, cho Thư, cho Hồng Hạnh. Pleiku phải là Pleiku, mãi mãi. Như những
hình ảnh trong bài hát ấy. Người ta đi trên những con phố tình thân, đi dăm bước
đã trở về chốn cũ. Người ta gặp ở đây những người con gái má đỏ môi hồng, sống
phẳng lặng dưới một vòm trời quen thuộc. Tôi đã ở ngoài. Bước chân đi hoang của
tôi đã đi trên những con đường khác, và khi người ta cảm thấy mình đã thay đổi
thực sự, người ta không còn lý do gì sống nữa với một nơi chốn ngưng đọng không
bao giờ đổi thay.
Tôi không nói với Khoa tôi đi đâu. Chỉ nói KHoa đừng kiếm tìm vô ích. Tôi chúc
Khoa ở lại sung sướng, may mắn. Cuối thư, tôi nhờ Khoa chuyển dùm lời chào từ
biệt đến tất cả những bạn hữu đã từng lui tới quán Nhớ. Tôi nói không chừng một
ngày tôi sẽ trở về thăm Pleiku, nhưng ngày ấy chắc còn xa lắm, và khi đó tôi hy
vọng bạn bè không còn nhìn tôi bằng những cặp mắt lạnh nhạt như bây giờ nữa.
Lá thư viết ban đêm, sau khi đã thu xếp xong một vài chuyện bắt buộc phải thanh
toán trước bất cứ một chuyến đi xa nào.
Ở Quy Nhơn về, tôi đến ngay nhà Mỹ Dung.
Người đàn bà vẫn tiếp tôi trong căn phòng ngủ diễm lệ của nàng. Tôi vào thẳng vấn
đề. Và vấn đề được giải quyết dễ dàng mau chóng.
- Đồng ý là sang lại quán Nhớ cho tôi. Nhưng sao sang gấp thế.
- Hôm nay là ngày cuối cùng của tôi ở Pleiku.
Mỹ Dung cười:
- Bỏ Pleiku đi tới chân trời góc biển nào?
Tôi nói đùa theo:
- Vì là chân trời góc biển nên chưa biết là chân trời góc biển nào.
- Tôi phải trả cho Ngọc bao nhiêu đây?
Quán Nhớ với những bàn ghế để lại đáng giá hơn một triệu. Ít nhất là như thế.
Tôi chỉ đòi tám trăm ngàn.
- Sao rẻ thế? Bộ vừa sang vừa cho sao?
- Quán đang vắng khách. Chị lấy cho là may rồi. Cũng chẳng rẻ lắm đâu.
- Bây giờ thì tôi chưa đủ tiền. Sáng mai tôi đưa tới quán được không?
- Trước giờ tôi ra máy bay là được.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét