Thung lũng trăm năm 1
Chương 1: Hai anh em
Về hướng đông nam của dãy núi Langbiang là những quả đồi
tròn. Những quả đồi nối tiếp nhau như một làn sóng và chỉ bị chận lại bởi một
dãy núi mờ nhạt ở cuối chân trời. Buổi sáng hôm ấy, người ta thấy một thiếu
niên mặc quần áo màu chàm, lưng mang gùi, một loại giỏ có quai đan bằng mây và
tre đang leo lên triền núi. Đó là một cậu bé chừng mười bốn, mười lăm tuổi.
Nước da cậu trắng hồng, khác hẳn người dân bản địa là điều khiến người ta chú
ý. Cậu tiến đến một gốc thông già, mắt cậu lom lom nhìn xuyên qua những tầng lá
màu xanh. Trên cành thông, một con sóc đang dùng đôi chân trước nhỏ xíu bóc một
trái thông của mùa năm trước. Những cánh màu nâu của trái thông rơi lả tả xuống
đất, biết đâu trong đó có một hạt thông còn sót lại, thiên nhiên sẽ có thêm một
sinh vật nữa khi mùa mưa đến? Cậu cho tay vào bọc và lôi ra một mũi phi tiêu. Cậu
vung tay. Con sóc nhỏ đang thanh bình thưởng thức bữa ăn sáng trúng thương rơi
xuống đất. Cậu đến nhặt con vật săn được và khuôn mặt cậu lộ vẻ hân hoan. Có lẽ
cậu thích thú vì tài phóng phi tiêu của mình chăng? Không ai biết cậu nghĩ gì cả
vì cậu đi chỉ có một mình, người ta chỉ thấy cậu đi ngay xuống thung lũng dưới
chân dãy núi và nhóm lên một đống lửa bằng những cành thông khô. Cậu nướng con
sóc, một con gà rừng và bắt đầu đánh chén. Nhìn cách sinh hoạt của cậu, người
ta biết ngay rằng tuy còn nhỏ tuổi nhưng cậu đã quen thuộc với cách sống của
người hay đi ra ngoài hoang dã.
Ăn xong cậu nằm lăn ra bãi cỏ xanh. Trên trời mây trắng bay
bay, đám mây đang là một hình này, lát sau đã trở thành hình khác. Những hình
dáng liên tục thay đổi của đám mây khiến cậu thích thú ngắm không chán mắt. Tiếng
con chim hoạ mi cất lên hoà trong tiếng thông reo khi một cơn gió thổi qua bỗng
trở thành một bản nhạc giao hưởng của đất trời. Thanh bình quá, quả là thiên
nhiên hoang dã dưới chân núi Langbiang mới đẹp làm sao! Trong tiếng nhạc của đất
trời đang giao hoà, cậu bé thiu thiu ngủ lúc nào không hay. Khi cậu thức dậy, mặt
trời đã lên cao đang hào phóng phả những tia nắng xuống mặt đất khiến cậu chói
mắt. Cậu ngồi bật dậy xốc vội chiếc gùi và đi ngay ra khỏi lòng thung lũng. Men
theo một con suối nhỏ hai bên bờ lau sậy mọc ken dày, cậu vừa đi vừa quan sát cảnh
vật chung quanh. Ra khỏi thung lũng trước mặt cậu là một vùng đất khá bằng phẳng
cỏ mọc xanh rì, xen lẫn vào đó là những bụi sim, mua, ngũ sắc và những loài cây
hoang dại khác. Cậu tiến về một bụi dâu rừng, những trái dâu chín đỏ như ra vẻ
khiêu khích cậu. Không riêng gì cậu, lũ kiến rừng cũng bị những trái dâu đỏ
tươi kích thích. Chúng tiến lại trái dâu hai chiếc râu ngộ nghĩnh huơ huơ trong
không khí. Cậu hái một trái dâu cho vào miệng sau khi thổi một hơi dài khiến lũ
kiến rơi lả tả. Khoái trá với vị dâu tươi cậu hái lấy hái để, vừa ăn vừa cho
vào bọc. Một lát sau cây dâu hoang không còn một trái nào.
Hoan hỉ cậu bé đi càng lúc càng xa trảng bằng cậu tiến vào một
cánh rừng thưa sau khi chứng kiến cảnh một đàn nai chừng năm con đang chạy,
chúng tung một đám bụi đỏ sau lưng. Đó là một cánh rừng hỗn giao trong đó có những
loại cây lá rộng xen kẻ với loại lá kim. Điểm xuyết vào đó là những cây dẻ với
hai màu lá, mặt trên là màu xanh thẩm còn mặt dưới là màu trắng bạc. Tiếng róc
rách của một con suối nhỏ chảy ra từ một ngọn đồi trước mặt lọt vào tai cậu. Nước
suối trong leo lẻo soi rõ những con cá lòng tong với chiếc đuôi xinh xắn có một
chấm màu xanh đang bơi lội một cách vô tư. Thỉnh thoảng một con cá tràu đen thủi
xuất hiện đột ngột từ một hóc hẻm nào đó như một kình ngư trong thế lao lên
hung tợn. Càng lên cao con suối càng nhỏ dần và cạn kiệt. Nước đọng thành từng
vũng nhỏ ở chỗ đất tương đối bằng phẳng. Nơi ấy là chỗ trú ngụ của loài tôm và
cua núi. Chúng đen thui thủi với những râu và ria có lẽ dùng để đe doạ kẻ
thù? Tinh nghịch cậu chọc môt cành cây nhỏ vào càn một con cua. Nó vội vã kẹp lại
nhanh như cắt cậu giật lên. Con cua núi nhỏ những giọt nước trong vắt xuống bãi
cỏ xanh nhưng nhất định không chịu buông cành cây ra, điều ấy khiến cậu lấy làm
thích thú. Theo cách ấy cậu bắt được trên chục con cua, cậu dùng một sợi dây cỏ
xâu chúng lại với nhau. Để bắt tôm, cậu làm cách khác. Cậu lôi từ chiếc gùi ra
một cái gói nhỏ làm từ một chiếc lá rừng to bản, trong đó là một ít thức ăn thừa.
Cậu đổ thức ăn xuống nước và chờ đợi. Một, hai, ba rồi bốn con tôm xúm lại rỉa
mồi. Nhanh nhẹn cậu cho tay vào nước từ từ tiến lại và bắt từng con một. Lát
sau cậu đã có một xâu tôm đáng kể. Cậu gom chỗ tôm và cua lại, cho vào gùi rồi
lên đường. Lần này cậu men theo triền đồi tiến đến một hẻm núi là nơi gặp nhau
giữa hai quả đồi dưới chân núi Langbiang. Trong ấy có vô vàn những loài thảo mộc
mọc thành từng đám vì đó là nơi đất ẩm. Mắt cậu sáng lên khi nhìn thấy một bụi
cây có những chiếc lá dài và nhọn chỉa lên trời. Cậu moi đất chung quanh gốc, củ
của bụi cây này mọc thành một chùm. Bên cạnh những củ già có màu nâu đậm là những
củ còn non. Cậu bẻ một củ và ngửi. Một vị hăng hắc bốc ra khiến cánh mũi cậu
chun lại trông thật ngộ nghĩnh. Nét hân hoan trên gương mặt cậu cho người ta biết
cậu đang lấy làm đắc ý. Cậu nhổ vội một số cây cho vào gùi rồi đi xuống chân đồi
sau khi quan sát thật kỹ cánh rừng dưới chân núi Langbiang.
Mặt trời xuống thật nhanh. Mới đó mà cánh rừng đã bắt đầu âm
u, một vẻ âm u huyền bí chỉ xuất hiện khi mặt trời đã bắt đầu nhạt nắng. Cậu ra
khỏi cửa rừng bỏ lại phía sau một cánh rừng đen thẩm. Xa xa một làn khói bốc
lên từ một gốc một cây thông cổ thụ. Cậu hơi ngạc nhiên và đi chậm lại, cố men
theo bóng tối của những lùm cây bụi cỏ để ẩn thân mình. Đó là thói quen của những
người thường tiếp xúc với hiểm nguy, một bản năng có được qua cuộc sống đầy bất
trắc. Trước mặt câu là một người thanh niên khoảng mười tám đôi mươi. Anh ta
đang lui cui nướng một miếng thịt nai khô. Mùi thịt nướng khiến cậu thấy bụng
mình sôi lên sùng sục. Một thoáng cau mặt, hình như cậu quyết định một điều gì
thì phải. Cậu tiến về phía người thanh niên, lần này cậu không ẩn thân nữa mà
đàng hoàng bước đi với vẻ tự tin. Cậu lên tiếng kèm theo một nụ cười khi người
nọ ngước lên:
- Chào anh, anh đang chuẩn bị bữa tối à, anh cho em tham gia
với được không?
Người thanh niên có vẻ không chút ngạc nhiên khi nhìn
thấy cậu, anh điềm tỉnh trả lời:
- Được thôi… mời chú, chúng ta đều là người trong thiên
hạ cả mà?
- Anh chờ em một chút, em nấu nồi cơm, em có cả một xâu
tôm cua nữa nè.
Cậu nhanh nhẹn đặt gùi xuống đất rồi lấy ra một chiếc nồi đồng.
Bên trong chiếc gùi là gạo được đậy cẩn thận bằng những chiếc lá khô to bản và
dai. Cậu lấy ra một ít gạo cho vào nồi và nhanh nhẹn đi ra bờ suối.
Khoảng nửa canh giờ sau một bữa cơm được dọn ra trước đống lửa
đang hừng hực cháy. Trông hai người trai trẻ ăn mà bắt thèm, họ ăn ngon
lành quá. Quả là một bữa cơm ngon đối với cả hai người. Thức ăn của họ là thịt
nai khô nướng chấm muối ớt, canh cua nấu rau rừng, tôm nướng và tráng miệng
là món dâu rừng. Ăn xong người trẻ tuổi nói với người thanh niên:
- Đại ca bữa nay anh cho em ăn ngon quá. Anh chờ một chút, em
nấu ấm trà rồi anh em ta đàm đạo.
Nói xong cậu đi ngay ra suối và mang về một nồi nước. Bình
trà của hai người là một quả bầu khô lên nước bóng loáng. Sau khi nhắp một ngụm
trà người thanh niên hỏi:
- Bây giờ em cho ta biết tên được chưa?
- Em tên Thái họ Trương. Thầy em nói rằng khi đặt tên cho em,
thầy em dùng tên quẻ Thái để mong cuộc đời em lúc nào cũng hanh thông!
- Vậy nhà em ở đâu, vì sao em phải ra ngoài hoang dã làm gì?
- Em ở với thầy, nhà em cách đây độ một ngày đường, em đi tìm
cây thuốc cho thầy trị bệnh cứu người.
- Hóa ra là vậy thầy em là y sư, thảo nào mà ta thấy dược thảo
trong gùi của em.
- Còn anh là ai và lên trên này làm gì? Nhìn anh em biết ngay
không phải là người sống ở vùng này!
Người thanh niên trầm ngâm một hồi rồi thủng thỉnh trả lời:
- Ta tên là Đại Quá nghĩa là gian nan, cũng họ Trương như em,
cũng được thầy đặt tên theo một quẻ trong Kinh Dịch. Này Thái à ta có một ý
nghĩ: ta và em đều là người trong thiên hạ lại cùng họ với nhau, chúng ta không
có bà con nhưng ta muốn cùng em kết nghĩa đệ huynh được chăng?
Trương Thái mừng rỡ:
- Ý anh hay lắm từ nhỏ em đã không có anh em, nay tình cờ gặp
anh được một người như anh nhận làm anh em kết nghĩa thì còn gì bằng. Đại ca em
làm lễ ra mắt đại ca nhé?
Trương Đại Quá vội vàng ngăn lại:
- Anh em ta bèo nước gặp nhau như vậy là có duyên lắm rồi ta
không thích đa lễ làm gì, miễn rằng từ nay về sau em đối đải với ta bằng một tấm
chân tình là được. Ta lớn tuổi hơn tất nhiên làm anh, để ta kể cho đệ nghe gia
thế của ta.
Nói xong Trương Đại Quá bắt đầu kể:
- Cha ta kể rằng dòng họ Trương nhà ta là một dòng họ lâu đời
ở Tây Sơn Thượng Đạo, ông tổ nhà ta là người sáng lập ra môn phái Ngọc Trản thần
công. Cụ tổ nhà ta theo ba anh em nhà Tây Sơn cũng là hàng danh tướng của vua
Quang Trung Nguyễn Huệ. Đến đời cha ta ông không đi theo con đường võ quan mà
chỉ lý thú làm ruộng sống một đời dân dã. Cha ta chỉ có một người con là ta,
nên cũng muốn ta tiếp tục làm ruộng như ông vậy. Ông cho ta học ít chữ nghĩa của
cụ đồ trong làng, hàng đêm cha ta truyền dạy võ công của gia phái. Số trời
không cho cha ta sống thọ, cách đây ba năm ông bị bạo bệnh mà chết. Mẹ ta
buồn rầu vì cái chết của cha ta nên cũng đi theo ông hai năm trước. Vậy là ta
trở nên mồ côi khi vừa mười tám tuổi. Còn vì sao ta lên vùng ngược này à? Ta
nói cho em nghe là ta đi tìm chiếc sừng tê giác, em biết sừng tê chứ?
- Có phải tê giác còn gọi là tê ngưu không, nếu như vậy em đã
nghe thầy em kể lại rồi?
- Thầy em nói sao em kể cho ta nghe được không?
Trương Đại Quá nôn nóng hỏi, Trương Thái trả lời:
- Năm ngoái nhân có người bạn ghé thăm thầy hai người nói
chuyện tận khuya, em là người hầu trà nên có nghe hóng chuyện. Thầy em nói rằng
sừng tê là một vật trân quý từ thời xa xưa, khi người Tàu còn đô hộ nước ta
quan Đô Hộ Phủ đã bắt dân ta lên rừng tìm sừng tê giác để cống nộp về phương Bắc
cho vua Tàu. Như vậy đủ biết sừng tê là một loại quí giá biết bao. Theo truyền
thuyết tê giác sống thành từng đàn khoảng năm sáu con, chúng sinh sống ở những
cánh rừng gai góc, lại là nơi có đầm lầy địa thế hiểm trở. Ngoài ra tê giác tuy
mắt kém, nhưng khứu giác nó linh mẫn vô cùng. Da nó dày lắm khó có tên, giáo mác
nào xuyên thủng. Loài tê giác lại rất to lớn và khi phát hiện ra kẻ thù thì nó
tấn công bằng chính cái sừng rất sắc bén cho nên hung hiểm vô cùng. Em nghe thầy
kể: thầy em đã từng thấy một chiếc sừng tê ở nhà một người bạn thầy là ông
K’Briểu ở cách đây xa lắm. Lúc đó hai người đang uống rượu cần, thì có một người
trong buôn đến nói nhỏ với ông K’Briểu xin mượn chiếc sừng tê để mài ra thoa
cho vú vợ bị bệnh gì đó sau khi đẻ con. Nghe thầy em nói chỉ cần thoa vài lần
như vậy thì bệnh sẽ hết hẳn. Thầy em còn nói rằng sừng tê còn trị nhiều
thứ bệnh khác, đặc biệt nó là vị thuốc không thể thiếu được trong bài thuốc
tăng tuổi thọ của ông Hoa Đà bên Tàu ngày xưa. Em chỉ nghe đến đó thôi rồi đi
ngủ khi thầy em và bác Võ Đại Huynh chuyển qua uống rượu. Bây giờ nghe anh nói
em mới sực nhớ ra chứ người có chiếc sừng tê là ông K’Briểu em cũng không biết ở
đâu và hiện nay có còn chiếc sừng không nữa?
Nghe Trương Thái kể xong Trương Đại Quá trầm ngâm nghĩ ngợi,
không thấy người anh của mình nói gì thêm, Trương Thái hỏi:
- Vậy chớ anh tìm thứ của hiếm đó để làm gì?
Trương Đại Quá trả lời:
- Chuyện này ta kể với em cũng được nhưng ta chỉ ngại em còn
nhỏ tuổi, không hiểu hết tâm sự của mối tình trai gái?
Trương Thái ngạc nhiên cậu chưa bao giờ nghe nói đến tình
yêu, nhưng trong tâm hồn non trẻ của cậu bỗng nảy sinh một tình cảm mà từ trước
đến giờ cậu chưa từng trải qua. Thái lơ mơ nghĩ rằng có lẽ đó là những tình cảm
rất riêng và cũng rất thiêng liêng nên anh Đại Quá mới phải bôn ba gian khổ để
đi tìm sừng tê ngưu để… Thái không tìm ra chữ diễn tả tâm trạng này. Nghĩ như
thế nên Thái giục:
- Đại Quá anh kể đi em nóng ruột muốn biết quá chừng rồi?
Trương Đại Quá chưa chịu kể ngay anh trầm ngâm như đang để
tâm hồn mình dõi tận đâu đâu, hình như anh quên mất thằng em mới kết nghĩa đang
nôn nóng chờ nghe anh kể chuyện. Trương Thái giục tiếp:
- Kể đi anh Đại Quá?
Mắt Trương Đại Quá mơ màng anh kể bằng một giọng trầm buồn:
- Như em biết quê ta ở Tây Sơn. Thôn Trường Định của ta là một
vùng trồng lúa rụông đất cũng thuộc loại phì nhiêu nhất là ruộng rộc. Nhưng đất
đai phần lớn là của chủ đất đó là những người chủ giàu có ở thôn quê. Quê ta có
người họ Trần tên là Trung Thế, nhưng mọi người không bao giờ dám gọi như vậy,
ai cũng gọi là ông Bá hộ. Ông Bá hộ giàu nứt đồ đổ vách người làm công cho ông
hầu hết là dân làng ta. Nhà ta cũng vậy hàng năm đều phải nhận ruộng của ông Bá
làm và nộp tô, vì ngoài mấy sào vườn nhà ta không có một mảnh ruộng nào. Khi
cha mẹ ta chết đi ta cũng phải tiếp tục công việc cha mẹ ta đã làm từ trước đến
nay. Hôm đó ta đang ăn cơm chiều sau khi đi đồng về thì người nhà của ông Bá đến
gọi ta lên nhà ông có việc. Ta ngạc nhiên hết sức bởi vì ta vừa đóng tô cho ông
Bá xong, không thiếu dù chỉ một hạt lúa. Ta không hiểu ông Bá cho kêu ta lên
nhà có việc gì? Không kịp ăn xong bữa cơm chiều ta vội theo tên gia nhân lên
nhà ông Bá. Lúc ấy mặt trời vừa mới lặn ông Bá ăn cơm chiều xong ngồi chễm chệ
trước hàng hiên, ông đang xỉa răng phía sau là hai người hầu gái đang phe phẩy
quạt cho ông Bá. Thấy ta làm lễ ra mắt, ông Bá cười nói:
- Miễn lễ ngươi biết vì sao ta cho gọi ngươi lên đây không?
Ta trả lời là không biết mong ông Bá chỉ dạy. Ông Bá hộ nói:
- Ta nghe nói ngươi là truyền nhân của Ngọc Trản thần công phải
không? Hôm nay ta có nhả hứng kêu ngươi lên trên này biểu diễn môn công đó cho
ta xem được chăng?
Nói xong ông bá lim dim mắt và vuốt râu ra vẻ tự đắc còn ta
đang rất là khó xử. Thái biết không ta đúng là truyền nhân một chi nhánh của Ngọc
Trản thần công, nhưng môn quy của bản phái không cho phép ta phô diễn võ công
ra bên ngòai một cách khinh xuất. Do đó ta mới trả lời không thể biểu diễn võ
công cho ông Bá xem được, ông Bá đùng đùng nổi giận:
- Hay cho tên nhà quê này ngươi dám từ chối yêu cầu của ta
sao? Bay đâu kêu thằng Út Đực ra đây, thử xem hắn có cả gan đứng đó chịu đòn của
thằng Út hay không?
Ta từng nghe danh tên Út. Đó là một người rất to lớn, y là trợ
thủ đắc lực của ông Bá trong việc thu tô, cấn nợ. Y sẳn sàng làm bất cứ việc gì
cho dù việc đó có thất nhơn ác đức đến đâu chăng nữa, miễn là ông Bá hài lòng
hoặc việc làm đó có lợi cho y. Út Đực nổi tiếng với môn Ngũ Hổ đoạn môn đao mà
y theo học được của một ông thầy Tàu trước khi về đầu quân cho ông Bá. Đao pháp
của y rất bá đạo, đuổi tận giết tuyệt là cách mà y ra tay khi lâm sự. Đã có nhiều
người thất bại dưới tay tên Út Đực, nhẹ thì bị thương trở thành người tàn phế,
còn nặng là mất mạng về tay y. Vì vậy nên tên Út Đực rất là kiêu ngạo, dưới mắt
hắn quê ta là chốn không người. Nghe lệnh của ông Bá, Út Đực vênh váo nhảy ngay
ra sân đất nện với ngọn đao có nước thép lạnh buốt trên tay. Nhìn bộ dạng của
Út Đực ta càng thêm căm ghét hắn. Ta thường nghe người ta kể về tên Út với vẻ sợ
sệt trên nét mặt, ta lấy làm tức lắm. Nhưng cha ta thường dạy chớ cậy võ công
cao cường mà đi gây hấn với người, môn quy không cho phép làm điều đó. Hôm nay
tên Út lại ra khiêu chiến với ta theo lệnh của ông Bá chính là điều hợp ý ta:
ta không phạm môn quy mà vẫn được thử võ công của tên ác ôn này!
Sau khi xuống tấn Út Đực lên tiếng:
- Tên kia mi nghe rõ chưa, mi phải thi triển Ngọc Trản công để
mà giữ mạng đao ta không có mắt đâu!
Nói xong Út nhe răng ra cười khả ố với một giọng cười cứ nghe
như là cú kêu ma khóc, ai non gan thế nào cũng chết khiếp với tiếng cười này.
Ta đã nghe cha ta dạy rằng trong thiên hạ có một môn công phu dùng tiếng cười để
làm rối địch thủ trước khi xuất chiêu có lẽ là đây chăng ? Ta biết rằng tên Út
Đực quả là hảo thủ chứ không phải là người không có thực tài. Ta tập trung tinh
thần quan sát đao pháp của y. Nhìn thế thủ của tay đao ta nhận thấy y thủ
rất kín, không để lộ chút sơ hở nào. Về phần ta cũng vậy ta không dám khinh suất….
Nghe đến đây Trương Thái hồi hộp xen vào:
- Rồi ai thắng hả đại ca?
Trương Đại Quá nghiêm giọng:
- Tất nhiên là ta rồi nếu không sao ta có thể gặp em ở chốn
này? Khi Út Đực phát chiêu một làn lãnh khí bao trùm lên ta. Ta sử dụng thân
pháp gia truyền tìm những vị trí sơ hở của Út Đực mà phản công. Phải mất hơn một
canh giờ ta mới khuất phục được tên này bằng cách xông vào khoảng hở của đao
quang và điểm trúng huyệt Khí Hải tên Út Đực. Ông Bá thất thần khi nghe ta nói rằng
tên Út Đực từ nay mất hết võ công và phải nằm tỉnh dưỡng trong vòng một trăm
ngày thì tính mạng mới bảo toàn được. Từ nay Út Đực không còn là mối hiểm hoạ của
người dân lương thiện nữa. Lúc ấy ta đâu biết rằng ông Bá rất căm tức ta đã hủy
một gia nhân đắc lực của ông. Ta còn đang tự mãn vì đã trừ khử được một mối hiểm
họa cho dân lành, ta không để ý thấy nét mặt khác lạ của ông Bá. Lát sau ông Bá
nói:
- Hay lắm ngươi có một thân võ công rất khá, ta muốn ban cho
ngươi một đặc ân: ngươi có muốn làm gia nhân của ta không?
Ta trả lời ngay:
- Thưa ông Bá tôi đã nhận ruộng của ông Bá làm từ ngày cha
tôi còn sống, tôi xin ông Bá cứ cho tôi làm ruộng như cũ là được lắm rồi.
Ông Bá hộ nhìn ta cười nhạt một hồi lâu ông nói:
- Thôi được ngươi không muốn là người hầu cho ta cũng không
sao… nhưng một tên khố rách áo ôm như ngươi ta không thể gả con gái ta cho
ngươi được, trừ phi….
Em Thái có lẽ chưa biết thế nào là tình yêu còn ta đã nếm trải
hương vị của nó từ ngày ta tình cờ gặp cô Ba ra cầu ao làng rửa chân khi
từ đồng về. Cô Ba tên là Trần Thị Huyền là con nuôi của ông Bá hộ. Thực ra ông
Bá danh nghĩa là cha nuôi cô Ba nhưng ông Bá là một trọc phú làng quê nên cô Ba
cũng như bao nhiêu người ăn kẻ ở của ông Bá đều phải làm việc không thua
kém một tá điền nào. Ta và cô Ba thương nhau và đã tự đính ước với nhau sau một
thời gian chúng ta gặp nhau đến giờ ta ngớ người ra khi ông Bá nhắc chuyện
cô Ba, ta không ngờ ông ta cũng biết chuyện này. Thấy ta lúng túng ông Bá đắc
chí nói:
- Ngươi muốn biết điều kiện ta đặt ra với ngươi lắm phải
không? Ta cũng không giấu ngươi làm gì muốn ta gả con gái ta cho ngươi ngươi phải
có một cặp sừng tê giác làm sính lễ, nếu không có thì đừng hòng. Thôi ngươi về
đi ta nghĩ rằng ngươi nên từ bỏ ý định cưới cô Ba đi thôi.
Nói xong ông Bá cười to ra vẻ đắc ý rồi vẫy tay đi vào nhà
trong. Ta đứng trơ ra giữa sân đất nện mà lòng thì ngổn ngang trăm mối. Thái biết
không quê ta ở đồng bằng cả đời ta chưa đi ra khỏi lũy tre làng thì biết ở đâu
có loài tê giác mà tìm lấy sừng? Ngay cả tên một loài vật là tê giác hôm ấy
cũng lần đầu tiên ta nghe, vậy thì biết tìm chúng ở đâu? Thấy ta suy nghĩ những
người nhà ông Bá nhìn ta nhưng họ không giúp cho ta một điều gì cả ngoại trừ một
cái nhìn thông cảm. Ta ra về đêm ấy không sao ngủ được cứ đi ra rồi lại đi vào.
Sáng ra ta không đi đồng như thường lệ, ta ra quán ông già Tư ngoài đầu làng và
kêu một bầu rượu. Quê ta có loại rượu rất ngon tên là rượu Bầu Đá ta cũng có thử
qua nhưng chưa lần nào uống nhiều cả. Hôm nay buồn quá ta thử uống xem có giải
được sầu như người ta thường nói hay không? Uống hết một bầu rượu ta thấy một
làn khí nóng đang công kích thân tâm, bỗng nhiên ta cảm thấy mình cứng rắn hơn,
ta quyết tâm lấy cho được cô Ba làm vợ nhưng chưa biết bằng cách nào. Đúng lúc
ta suy nghĩ như vậy thì ông chủ quán nói với ta:
- Anh hùng khó qua khỏi ải mỹ nhân, chàng trai có muốn ta chỉ
cho đường đi nước bước không?
Nghe ông già Tư hỏi ta như người đang vật lộn với sóng nước bỗng
vớ được phao, ta liền hỏi:
- Bác Tư bác chỉ cho cháu đi, dù có gian khổ ra sao cháu cũng
không từ!
Ông già Tư trả lời:
- Sáng nay cả làng này đều nghe tin cháu trừ khử tên Út Đực.
Việc làm này của cháu đã khiến những người bị y ức hiếp lấy làm hả hê, Út Đực
quả đúng với câu “gieo nhân nào gặt quả đó”. Ta cũng vậy ta khen cháu đó. Nhưng
ta biết cháu đang rầu rĩ trong lòng, có phải vậy không? Ta nghe ông Bá thách cưới
với cháu là hai chiếc sừng tê giác. Cả cái làng và cả tổng này nào ai đã thấy
chiếc sừng tê hả cháu, vậy thì cháu tìm ở đâu ra vật đó? May mà cháu gặp ta….
Nghe đến đây mắt ta sáng lên, ta biết ông già Tư có thể giúp
ta tìm ra chiếc sừng tê giác, ta cầu khẩn ông Tư:
- Bác Tư bác cố giúp cháu, bác và dân làng đều biết cháu và
cô Ba thương nhau. Ông Bá lại ra món thách cưới thắt ngặt quá chừng bác thương
cháu với, bác Tư!
- Ta thương cháu nên mới định kể chuyện bí mật của ta cho
cháu nghe, may ra giúp cháu đôi phần…. mà lại giúp cả ta nữa! Trương Thái em phải
biết rằng người nhà quê đã nói ra là giữ lấy lời, ta cũng vậy ta thề khi tìm được
sừng tê giác trước khi nộp cho ông Bá hộ ta cắt một khúc phía gốc sừng cho ông
Tư. Ông Tư nghe lời thề chắc như đinh đóng cột của ta ông từ tốn nói:
- Không biết câu chuyện ta kể cho cháu sau đây có giúp
ích gì cho cháu không vì không liên quan trực tiếp đến chiếc sừng tê giác nhưng
ta nghĩ chỉ có vật đó mới có thể giết con tê giác và chiếm lấy sừng của nó được.
Cha của ta thuở trai tráng là một người lênh đênh kiếp sống giang hồ rày đây
mai đó với chiếc ghe bầu chạy dọc ven biển. Cha ta là thương nhân đi buôn bán tận
xứ đàng trong sau này khi đã gặp mẹ ta, chán kiếp sống giang hồ cha ta mới dọn
về làng này và sinh ra ta. Vì vậy cháu thấy đó ta cũng nối nghiệp cha ta trong
nghề buôn bán nhưng không như cha, ta chỉ có chiếc quán nghèo này để làm sinh kế.
Thuở còn đi buôn một hôm cha ta có cứu một người, ông này bị trúng phong và nằm
trong bụi rậm ven đường. Lúc ấy cha ta đi ngang qua thấy người gặp nạn ông liền
đem người bị trúng phong về chiếc ghe bầu của mình và cạo gió, cắt lể cho người
nọ. Nếu không gặp cha ta có lẽ người đó đã chết rồi. Để trả ơn cha ta người đàn
ông đó tặng cho cha ta hai vật trân quý. Thứ nhất là một viên ngọc rắn, những
người hay đi vào vùng sơn lam chướng khí chỉ cần ngậm viên ngọc này trong miệng
là không có một tà khí nào có thể thâm nhập cơ thể gây bệnh cả. Vật quý thứ hai
là một tấm họa đồ làm bằng da dê vẽ vùng núi tên là Ngọc Linh sơn ở trên xứ Thượng.
Trong núi này có một người ẩn tu tự xưng là Lão Khùng núi Ngọc Linh, ông ta có
một thanh đao tuy rất cũ nhưng lại sắc bén vô cùng. Lão đã ước hẹn rằng
ai đem tấm hoạ đồ này cho lão, lão sẽ tặng cho người đó thanh đao quý.
Ban đầu cha ta không nhận hai vật kia nhưng người đàn ông nọ không chịu, ông ấy
để hai vật ấy lại và bỏ đi mất. Cha ta cũng không chú ý hai vật này cho lắm,
ông đem cất vào một chỗ và quên đi. Khi đã định cư ở đây một hôm ông lục tìm vật
cũ thì mới sực nhớ ra hai món đồ người đàn ông bỏ lại. Ông kể cho ta nghe và dặn
rằng đến một ngày sẽ có một người cần đến hai món này và dặn ta phải trao
lại cho người đó. Ta hỏi người đó là ai cha ta không trả lời chỉ nói rằng chữ
duyên là vô cùng vô tận, con cứ nghe lời ta là được rồi. Ta cũng như cha ta đem
cất hai món này, ta giấu dưới chiếc lư đồng trên bàn thờ đã nhiều năm rồi. Bỗng
đâu tối qua ta nghe chuyện của cháu ta sực nhớ tới lời cha ta dặn, ta đem hai vật
này để sẳn ở trong bọc thử xem lời cha ta dặn ngày xưa có linh ứng hay không ?
Ngờ đâu mới sáng sớm cháu đã xông đất quán ta và hỏi mua rượu, ta biết rằng
vật trân quý đã gặp chủ nhân nên sớm có ý định tặng cháu hai món này. Cháu phải
biết rằng chỉ có thanh đao của lão nhân này mới có thể giết được tê giác và lấy
sừng của nó. Nhưng lòng ta cũng có chút tham lam nếu cháu có lấy được sừng tê,
ta muốn cháu cho ta một phần chiếc sừng tê trước khi nộp làm sính lễ. Thiên địa
thật bất công người ta đã giầu rồi mà còn được hưởng những sản vật trân quý…
Nhưng mà thôi ta biết mọi sự đã được sắp đặt cả rồi, cha ta lúc cuối đời chuyên
chú nghiên cứu Mai Hoa Dịch số, ông có truyền dạy cho ta. Phẩm chất ta tầm thường
nên không tiếp thu được gì nhiều. Cuốn sách của cha ta để lại ta giao cho cháu
tự học, biết đâu trong muôn một chút kiến thức trong sách này sẽ có ích cho
cháu. Cháu thấy đó cha ta đã biết trước có một ngày hai vật quý sẽ có người cần,
quả Mai Hoa Dịch số thật là linh nghiệm.
Trương Thái nghe Trương Đại Quá kể chuyện lấy làm thích thú.
Từ nhỏ Thái đã rất mê những chuyện cổ tích mà mỗi lần nổi hứng thầy cậu mới kể
cho nghe. Lần này Trương Đại Quá kể cho cậu một chuyện có thật mà cứ y như chuyện
cổ tích, Thái nghĩ biết đâu chuyện cổ tích cũng là chuyện có thật trên đời? Thấy
Trương Đại Quá ngừng kể sốt ruột Trương Thái hỏi:
- Rồi sao nữa hả đại ca, anh có đi tìm sừng tê giác không?
Trương Đại Quá bật cười:
- Nếu ta không đi tìm sừng tê giác thì làm sao gặp em ở chốn
này? Trương Thái, ta rời quê nhà sau mấy tháng trời chuẩn bị và cũng là thời
gian ta học những điều trong sách. Quả là một cuốn kỳ thư. Ta thuộc lòng cuốn
Mai Hoa Dịch số nhưng khi đi vào việc thực hành vẫn còn thấy còn những chỗ mình
vẫn chưa nghiệm ra. Ta tìm hiểu nguyên nhân và nhận ra rằng do kinh nghiệm sống
của ta còn non nớt lắm nên chi trong phán đoán sự vật còn có chỗ chưa thông. Vì
vậy ta quyết tâm lang bạt giang hồ để tìm cho ra chỗ ẩn cư của ông lão Khùng,
không biết giờ này ông ấy còn sống hay không để xin thanh đao quý và tích
lũy kinh nghiệm sống nhằm vận dụng Mai Hoa vào việc đoán định cát, hung, họa,
phúc. Sau đó ta sẽ dò hỏi chỗ có tê giác sinh sống và đi tìm vận may biết đâu
ta sẽ có hai chiếc sừng tê để làm sính lễ và cưới cô Ba? Tính từ ngày lên đường
cũng đã gần một năm trời nhưng ta chưa tìm ra nơi nào có địa thế như
trong bản hoạ đồ. Chiều nay ta tới chân núi này thì gặp em ta định ngày mai sẽ
quan sát ngọn núi thử xem có phải là núi Ngọc Linh không?
Trương Thái cười nói:
- Lần này đại ca lại không may rồi, ngọn núi này có tên
là núi Langbiang. Lang là tên một người con trai, còn Biang là tên một người
con gái, cả hai yêu nhau và chết vì mối thù của hai bộ tộc… em nghe thầy em kể
chuyện như vậy.
Nghe Trương Thái cho biết tên ngọn núi, Trương Đại Quá thở ra
và nói :
- Ta một thân một mình lang thang trên vùng cao này đã nhiều
tháng nhưng vẫn chưa tìm ra ngọn Ngọc Linh sơn. Trương Thái, em có muốn cùng ta
đi tìm núi đó không?
Trương Thái reo lên:
- Em muốn lắm anh cho em theo với, trong vùng này em cũng
thông thuộc chút ít.
Trương Đại Quá mừng rỡ:
- Quả là ông Trời cho ta gặp em để em giúp ta. Trương Thái em
đã biết gia thế nhà ta rồi. Còn em, em có thể kể cho ta biết thêm về em
được chăng?
Trương Thái đang vui nghe câu hỏi của Trương Đại Quá nét mặt
cậu bỗng xịu xuống, cậu nói:
- Em không biết cha mẹ chỉ biết có thầy. Thầy em hẹn khi em đủ
lớn thầy sẽ kể cho em nghe gốc tích của em. Em nhiều lần gặn hỏi nhưng thầy em
cứ lắc đầu hoài. Đại Quá, nhà thầy trò em cũng gần đây thôi nhưng thật không
may, thầy em đã đi rồi nên anh không thể gặp được!
- Tiếc thật nhưng biết làm sao được, thôi bây giờ em ngủ
đi ta canh chừng cho.
Trương Thái nghe lời Đại Quá cậu quay lưng về phía đống lửa,
Trương Thái lấy từ chiếc gùi ra một tấm chăn được dệt bằng những sợi vải rất
thô có nhiều hoa văn lạ mắt, cậu trùm chăn và ngủ. Trương Đại Quá thấy Trương
Thái đã ngủ, anh lẳng lặng ngồi thế bán già và bắt đầu buổi tập khí công trong
ngày. Anh hít một hơi thật dài nén vào bụng chỗ huyệt đan điền, bụng dưới
anh phồng to lên mỗi khi hít vào và thót lại khi anh thở ra. Gương mặt anh thật
trầm tỉnh, bình lặng như mặt nước hồ thu. Trên trời vầng trăng lưỡi liềm chiếu
một thứ ánh sáng bàng bạc xuống cao nguyên, ngoài tiếng dế kêu và tiếng những
con chim ăn đêm người ta không nghe một âm thanh nào khác. Nhưng cuộc sống dưới
chân núi Langbiang huyền bí không bình yên như vẻ bên ngoài, trong ánh trăng yếu
ớt muôn vật vẫn sinh hoạt trong đêm với những nét riêng, đầy bí ẩn. Trăng
khuya sương lạnh, ánh sáng chập chờn của ngọn lửa càng làm tăng thêm vẻ cô tịch
của đêm trường.
Khi Trương Đại Quá hành công xong, thời khắc đã vào khuya, Đại
Quá sau khi nhìn quanh anh định ngủ một chút. Bên kia đống lửa Trương
Thái ngủ ngon lành, không biết trong mơ cậu thấy gì mà cậu mỉm cười một nụ cười
trẻ thơ vô tư vô lự. Nửa đêm Trương Đại Quá thức giấc vì một tiếng
động nhỏ bên kia bờ suối. Anh ngồi bật dậy trong ánh sáng yếu ớt của đống lửa sắp
tàn, Đại Quá thấy một vật đang chuyển động. Đại Quá đứng dậy, trước mắt
anh là một người lùn đang ra sức kéo một con thỏ! Trương Đại Quá sửng sốt, từ
trước đến nay anh chưa bao giờ thấy một người lùn kỳ dị như vậy. Lão lùn cũng
nhìn về phía Trương Đại Quá, y không kéo con thỏ nữa mà quay lưng bỏ chạy
chớp mắt không còn thấy tung tích y đâu nữa. Chậm hơn lão lùn một nửa cái
chớp mắt, Trương Đại Quá phóng mình qua con suối chỗ lão già lùn lúc nãy kéo
con thỏ. Con thỏ vẫn còn đó nó bị trọng thương và đang kiệt sức vì máu ra nhiều.
Nhưng lão già biến mất như có phép thuật, Trương Đại Quá không tìm thấy một
chút dấu vết nào của lão cả. Anh cẩn thận vạch từng bụi cỏ nhưng tuyệt
nhiên không thấy gì cả. Thất vọng Trương mang con thỏ về bên đống lửa lúc
này nó đã chết hẳn. Anh trầm ngâm nghĩ ngợi. Tai mắt những người luyện thần
công Ngọc Trản tinh tiến vô cùng, một tiếng động nhỏ trong đêm không thể qua mắt
những người đã luyện Ngọc Trản âm thuật. Huống chi Trương chỉ mới vừa chợp mắt
một lúc chưa ngủ say. Chạng vạng tối lúc Trương Thái xuất hiện, Trương Đại
Quá đã nhận biết bước chân có vẻ do dự của Thái. Một lúc sau Trương thấy
cũng bước chân ấy nhưng lại đầy vẻ tự tin, anh thầm đánh giá người mới đến là một
người cẩn thận. Mà đã là người cẩn thận thì trong cuộc sống dễ thành công
nhưng trước tiên Trương thấy có thể tin được hạng người này. Vì vậy anh
không ngạc nhiên chút nào khi một chàng thiếu niên đẹp trai xuất hiện trước mắt
anh. Vậy mà giờ đây một ông già lùn lại chạy thoát khỏi tai mắt của anh thật là
một chuyện khó ai tin được.
Đang trầm ngâm suy nghĩ mắt Trương nhìn về phía đông
lúc này chân trời đã rạng màu dưa lê, báo hiệu một ngày đẹp trời trên cao
nguyên xanh. Ngày mai anh sẽ phải tìm cho ra sự thật Trương Đại Quá thầm nghĩ
như vậy. Chính lúc đó Trương Thái thức giấc, cậu lấy làm ngạc nhiên khi thấy
Trương Đại Quá ngồi trầm ngâm bên đống lửa sắp tàn. Thái hỏi:
- Đại ca anh không ngủ sao?
Trương Đại Quá trả lời với một giọng nghiêm trọng:
- Em có biết vừa rồi ta gặp chuyện gì không?
Ngạc nhiên Thái hỏi:
- Chuyện gì hả đại ca?
- Ta gặp một lão già lùn đang kéo con thỏ này!
Trả lời xong Trương kể tỉ mỉ chuyện lão già lùn thoát khỏi cặp
mắt anh chỉ trong nửa cái chớp mắt cho Trương Thái nghe. Anh nói tiếp:
- Ta đã nghe nhiều chuyện lạ kỳ trong thiên hạ nhưng đây là lần
đầu tiên ta tận mắt chứng kiến một chuyện kỳ bí như vậy Thái à, hồi nào tới giờ
em có nghe về những người lùn bao giờ chưa?
Trái với dự đoán của Trương Đại Quá Thái không mấy ngạc nhiên
như anh nghĩ cậu chỉ nghiêm nét mặt một chút thôi, cậu nói:
- Đại ca chuyện những người lùn em có nghe thầy em kể lại. Đại
khái chung quanh ngọn núi Langbiang tuyệt đẹp này có một tộc người lùn, họ là
những người không có chiều cao, cùng lắm là chỉ ngang gối của anh thôi. Rất hiếm
khi những người lùn này để cho chúng ta thấy họ, họ có một môn công phu giống
như con tắc kè: đó là ẩn thân thuật. Cho nên em tin lúc phát hiện ra anh lão
lùn kia chỉ ẩn thân chung quanh chỗ anh trông thấy lão thôi nhưng vì kỹ thuật ẩn
thân của lão cao cường nên anh không thể phân biệt lão già với những lùm, bụi
chung quanh lão. Chưa ai vào được vương quốc của những người lùn nghe đâu trị
vì họ là một thiếu nữ rất đẹp. Đặc biệt người thiếu nữ đó giống y như
chúng ta chứ không phải người lùn. Đại ca những chuyện em biết về người lùn chỉ
có chừng đó thôi.
Trầm ngâm một chút Trương Thái nói tiếp:
- Đại ca bây giờ chúng ta đã là anh em với nhau em phải cho
anh biết chuyện này: thầy em cho em ra ngoài hoang dã ngoài chuyện tìm một số
dược thảo thông thường mọc chung quanh núi Langbiang em còn có một nhiệm vụ đặc
biệt thầy giao là tìm manh mối để vào vương quốc của những người lùn và tìm
cách lấy cho được một loại dược liệu quý giá để về bào chế linh đơn.
Trương Đại Quá gật gù:
- Hoá ra là vậy từ trước đến khi gặp ta em đã tìm ra manh mối
nào chưa?
- Rất tiếc là chưa có một chút manh mối nào đại ca à. Em đã gặp
nhiều người Lạch và dọ hỏi, họ rất ngạc nhiên và không ai biết một chút gì về tộc
người lùn này anh Quá à. Đôi khi em nghĩ rằng người lùn chỉ là truyền thuyết chứ
thật ra họ không có thật như người ta đồn đãi. Bây giờ anh kể lại chuyện tao ngộ
vừa qua, em mới thật sự khẳng định là tộc người lùn có thật. Đại ca anh có giúp
em thực hiện nhiệm vụ của thầy giao cho em không?
Lời mời của Thái rất hợp với những suy nghĩ lúc nãy của
Trương Đại Quá, anh chấp thuận liền:
- Ta sẳn sàng Thái à. Từ ngày rời bỏ quê hương đi tìm Ngọc
Linh sơn, ta mới nhận ra rằng thiên hạ rất là rộng lớn và chứa nhiều bí ẩn dễ
gì một đời người khám phá hết được. Nếu ta cứ mãi quanh quẩn bên bờ ruộng luỹ
tre làng thì làm sao biết được những chuyện kỳ bí trong thiên hạ hả Thái? Sống
như vậy là sống hoài sống phí, ta nhận ra một điều như vậy trong một năm qua.
Bây giờ gặp em ta thấy đời sống của em ung dung tự tại, ta ngẫm nghĩ trong lòng
rằng em sống vô tư với bao nhiêu điều hấp dẫn thực là một cuộc đời đáng sống lắm
thay.
Nghe Trương Đại Quá tâm sự Thái ngẩn người ra. Từ nhỏ cậu sống
như vậy là điều bình thường bây giờ cậu vẫn vậy và mai sau cũng vậy, đó là một
chuyện tất nhiên như đói thì ăn, khát thì uống, Thái không nghĩ sâu sa gì cả.
Thái nói:
- Đại ca em rất mừng khi đại ca nhận lời cùng em đi tìm dược
liệu quý. Chuyện đó anh em mình chắc phải gắng sức nhiều lắm. Bây giờ có một
chuyện em phải làm ngay đại ca có biết chuyện gì không?
Ngạc nhiên Trương Đại Quá hỏi Trương Thái:
- Chuyện gì vậy hả em?
- Đó là chuyện giải quyết món quà mà lão già lùn biếu cho đại
ca. Anh chờ em một chút em sẽ đãi anh món thỏ nướng muối ớt, ngon tuyệt phích!
Nói xong Thái nhanh nhẹn lột da con thỏ. Cậu lấy trong thắt
lưng ra một con dao cậu khoanh vào cổ con thỏ một vòng và nắm da con thỏ và kéo
xuống. Thái bỏ bộ đồ lòng và lấy gói muối ớt trong chiếc gùi và xát vào mình
con thỏ. Một lát sau mùi thơm điếc mũi của thịt nướng toả ra. Trương Đại Quá
nhìn Thái với cặp mắt ngưỡng mộ, anh nói:
- Ta không ngờ em còn nhỏ tuổi như vậy mà đã có tài nấu nướng,
em nấu ăn ngon lắm!
- Đó là do công của thầy dạy em đại ca Quá à. Thầy em kể hồi
trẻ thầy lưu lạc bên Tàu và học được nghề nấu ăn và bây giờ truyền lại cho em.
Nhưng đại ca ơi những món ăn hôm qua và sáng nay không phải là món ăn Tàu đâu,
chỉ là món bình dân của người Việt ta thôi!
Trương Đại Quá không nói nữa, anh im lặng thưởng thức món thỏ
nướng và thầm tính toán trong đầu.
Chương 2: Bái Sư
Buổi sáng trên cao nguyên lạnh lẽo hơn dưới đồng bằng. Mặt trời
mọc giữa giờ mẹo nhưng phải đến gần hết giờ thìn mới lên khỏi đỉnh đồi. Lúc ấy
sương mù vẫn còn dưới những lòng thung, vạn vật mịt mờ trong sương sớm. Ăn sáng
xong hai anh em họ Trương thu xếp hành lý và lên đường. Hành lý của họ thật là
đơn giản chỉ gói gọn trong chiếc gùi, một vật dụng thiết thực của người Lạch là
cư dân bản địa vùng này. Vừa ra khỏi lòng thung trước mặt anh em nhà Trương là
những ngọn đồi lúp súp trên đó loài thông quần tụ thành những cánh rừng nhỏ,
xen lẫn vào đó là những trảng trống mọc đầy lùm, bụi. Trương Đại Quá hỏi Trương
Thái:
- Bây giờ ta ghé qua nhà em được chăng?
Trương Thái trả lời:
- Em tính như vầy bây giờ anh em mình chưa về nhà em vì thầy
em không có nhà, em sẽ đưa anh đến nhà sư bá của em: đó là bác Năm. Bác
Năm là một ông già khó tính nhưng nhất thiết anh phải làm theo lời dặn của em
thì mới có thể dọ hỏi bác Năm về tộc người lùn được. Bác Năm có biệt hiệu là Vạn
Sự Thông, em nghĩ bác biết chuyện người lùn nhưng tính tình bác cổ quái
thích thì nói còn không thích thì không ai có thể cạy miệng bác ra được.
Tháng trước khi nhận lệnh thầy tìm hiểu về tộc người lùn em có đến nhà
bác nhưng chỉ vừa mở miệng bác đã mắng té tát ngay và đuổi em đi một nước.
Em nghĩ kỹ rồi bây giờ em phải lập mưu cố chiều chuộng bác ấy hết mình
nhưng phải có đại ca tham gia nữa mới được, kẻ tung người hứng nhất định
có lúc bác phải cho mình biết thôi, đại ca thấy được không?
Trương Đại Quá khen Trương Thái:
- Em còn nhỏ mà đã cực kỳ thông minh sau này chắc sẽ làm nên
việc lớn. Phải đó ta cứ tới nhà bác của em thử vận may xem sao?
Cả hai nhắm hướng bắc thẳng tiến. Đến trưa hai anh em Trương
nghỉ chân dưới một gốc cây cổ thụ bên cạnh một con suối nước trong veo. Nhìn thấy
suối Trương Thái la lên:
- Có thức ăn tươi rồi đại ca. Anh đặt cho em nồi cơm, em kiếm
ít cá nướng ăn.
Thái quả là một tay sát cá. Nhìn Thái tìm mồi là những
con sùng trong những thân cây và cách móc mồi vào lưỡi câu mà cậu đem sẳn bên
mình người ta biết rằng Thái là một người câu cá chuyên nghiệp. Quả thật chỉ một
lát sau khi nồi cơm Trương Đại Quá chưa kịp chín, Thái đã câu tới chục con cá đủ
cho hai người ăn một bữa ngon lành. Bữa trưa của hai người dưới tài nấu ăn của
Thái cũng là một bữa ăn ngon: cơm trắng ăn với canh ốc núi nấu rau rừng,
muối ớt và cá suối nướng. Trương Đại Quá vừa ăn vừa khen đứa em giỏi giắng khiến
Thái đỏ mặt cứ y như là một thiếu nữ con nhà khuê các. Thái nói:
- Ta lên đường khoảng giờ thân là sẽ đến nhà bác Năm nhưng em
không muốn đến nhà bác vào giờ đó. Đại ca tối nay ta ở lại đây sáng mai đi thật
sớm đến nhà bác Năm khoảng cuối giờ thìn là vừa, đại ca thấy sao?
- Tuỳ em thôi ta thì sao cũng được. Vậy trong chiều
nay em phải chỉ ta cách câu cá còn ta chỉ cho em võ công nhập môn của bản phái,
được chăng?
Trương Thái reo lên:
- Đại ca Quá hay quá nhất định em sẽ chỉ cho anh nhiều kiểu
đánh bắt cá, bây giờ bắt đầu được chưa hả đại ca?
Sáng hôm sau hai anh em nhà họ Trương lên đường thật sớm, họ
vẫn đi theo hướng bắc vượt qua nhiều quả đồi tròn cỏ mọc xanh tươi. Khi mặt trời
vượt qua đỉnh đồi cả hai đi vào một thung lũng. Tận cùng thung lũng là một ngôi
nhà tranh vách đất. Ngôi nhà dựa vào một ngọn núi khá cao, trước mặt nhà
là một cái ao nước trong xanh. Trương Thái cất tiếng gọi:
- Bác Năm ơi bác có nhà không?
Cánh cửa khép hờ được mở ra. Một ông già xuất hiện trước
sân nhà, lão cất tiếng hỏi:
- Ai như thằng cháu Thái… ta đã không cho ngươi trở lại nhà
này trong vòng ba tháng, sao ngươi cãi lời ta hả?
Trương Thái nhìn ông già cậu chắp tay lại và cung kính vái:
- Thưa bác Năm cháu vẫn còn nhớ chứ nhưng cháu với Quá
đại ca đi ngang nhà bác nếu không ghé thăm bác cháu sợ bác bảo cháu không biết
tôn trọng bậc trưởng thượng. Quá đại ca đây là sư bá của em anh ra mắt đi?
Trương Đại Quá chắp tay lại và làm lễ ra mắt ông lão theo
đúng môn quy của Ngọc Trản thần công. Sau khi hành lễ xong Trương Đại Quá nói:
- Cháu tên là Trương Đại Quá quê quán ở Tây Sơn, thôn Trường
Định xin ra mắt lão bá.
Ông lão nheo mắt nhìn Trương Đại Quá thật kỹ ông lầm bầm
trong miệng một điều gì đó, một lát sau ông nói:
- Thôi được thằng nhỏ Thái lần này ta không bắt lỗi
ngươi nữa, chàng thanh niên mời vào tệ xá!
Trương Thái vui mừng ra mặt nó giục Trương Đại Quá:
- Tạ ơn sư bá đi anh!
Trương Đại Quá không nói gì miệng anh tủm tỉm cười, anh đi
theo ông lão vào trong nhà. Tuy là nhà tranh vách đất nhưng rất sạch sẽ,
giữa nhà treo một chữ nhẫn được viết trên giấy màu đỏ. Bên dưới là một bộ
phản làm bằng một loại danh mộc có lẽ đã lâu năm nên lên nước đen bóng. Ông lão
mời Trương Đại Quá ngồi:
- Ta tên là Phan Ngọc Ẩn, thứ năm nên người ta hay gọi là ông
già Năm. Chàng thanh niên cháu cứ gọi ta là bác Năm như thằng cháu nghịch ngợm
của ta gọi là được rồi.
- Thưa bác Năm bác ở đây chỉ có một mình thôi sao?
Trương Đại Quá hỏi ông già. Ông già trầm ngâm nghĩ ngợi hình
như câu hỏi của Đại Quá chạm vào nỗi buồn của ông thì phải. Nghĩ như vậy nên Đại
Quá lấy làm áy náy anh nói tiếp:
- Cháu xin lỗi bác nếu câu hỏi vừa rồi làm cho bác buồn!
Ông già cười gượng:
- Không sao đâu cháu, đời ta sống một mình ở chốn núi đỏ
rừng xanh cũng đã quen rồi. Hôm nay gặp được cháu đây cũng là do duyên tiền định.
Thôi ta không nói tiếp chuyện này nữa, cũng gần trưa có lẽ các cháu đói rồi
cũng nên?
Quay sang Trương Thái đang chắp tay đứng hầu một bên, ông Năm
nói:
- Thái à con ra vườn bắt con gà, xuống ao câu vài con cá rồi
làm vài món nhắm cho ta và anh con uống rượu.
Ông Năm hỏi Trương Đại Quá:
- Cháu kể cho ta nghe cháu và thằng Thái gặp nhau ra sao mà
nó gọi cháu là Quá đại ca?
Trương Đại Quá kể lại chuyện tao ngộ của anh và Trương Thái
vào buổi chiều chập choạng tối cách đây hai ngày và sơ lược về gốc tích của
mình. Nghe xong, ông già Năm hỏi tiếp:
- Ta hỏi khi không phải ở thôn Trường Định cháu có biết
một người trạc tuổi ta, cùng họ với cháu và có tên là Bổn không?
Trương Đại Quá ngạc nhiên nói:
- Thưa bác đó chính là cha cháu!
- Quả nhiên ta đoán không nhầm. Cháu Đại Quá ta và cha
cháu ngày xưa là bạn đồng môn. Mới đó mà gần ba chục năm đã trôi qua, quả đời
người tựa bóng câu qua cửa sổ!
Ông già trầm ngâm nghĩ ngợi như đang hồi tưởng về quá khứ,
ông quên mất Trương Đại Quá đang ngồi trước mặt. Trong lúc này Đại Quá cũng
đang xúc động, anh không ngờ tại chốn xa lạ này lại gặp một người bạn của cha
mình. Trương chờ nghe ông già Năm nói tiếp nhưng hình như những hình ảnh của
quá khứ đang tràn ngập trong lòng ông già nên ông không nói thêm một lời
nào cả. Đợi một lúc lâu không thấy ông Năm nói gì Trương Đại Quá đánh bạo hỏi:
- Thưa bác vì sao bác phải lên tận trên này cư trú, cháu
chưa bao giờ nghe cha kể về bác?
Nghe câu hỏi của Đại Quá ông Năm như người sực tỉnh khỏi cơn
mơ, ông xua tay:
- Thôi thôi… chuyện của ta gác lại sau này nếu có dịp ta sẽ kể
cho cháu nghe. Ta hỏi cháu chuyện này: ai đặt tên cho cháu?
- Thưa bác trong làng cháu có một ông đồ, cha cháu cho
cháu theo thầy học được một ít chữ thánh hiền chính thầy đặt tên cho cháu.
Ông Năm ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:
- Tên của cháu rất có ý nghĩa. Ta nghĩ ông đồ nho đó đã lấy số
Hà Lạc của cháu nên mới đặt tên cho cháu theo quẻ Trạch Phong Đại Quá. Lời tượng
của quẻ này nói rằng: nước đầm làm chết cây là quẻ Đại Quá. Người quân tử coi
quẻ này mà một mình đứng riêng độc lập với thiên hạ cũng không sợ gì, dù phải
trốn đời cũng không phiền muộn. Cho nên cháu phải nhớ rằng người quân tử phải
có đức độ hành vi hơn người cứ việc gì hợp đạo nghĩa và chính đáng thì làm, dù
một mình đứng riêng trái với thiên hạ cũng không sợ. Nếu là việc không hợp đạo
không thèm làm, dù có phải trốn đời cũng không phiền muộn. Được như vậy trên đường
đời cháu sẽ thành công.
Trương Đại Quá cung kính lắng nghe lời ông Năm dạy. Anh nghĩ
rằng tuy chỉ mới gặp nhau nhưng giữa anh và ông Năm hình như có một mối
nhân duyên đang hình thành, ông Năm có vẻ mến anh còn anh rất kính
trọng ông. Ông Năm hỏi:
- Cha mẹ cháu vẫn mạnh khỏe chớ?
Nghe nhắc tới cha mẹ Trương Đại Quá trả lời với một nét mặt
buồn thiu:
- Cha mẹ cháu chết cả rồi!
Ông Năm giật nẫy người và hỏi lại:
- Cháu nói sao cha mẹ cháu đã chết cả rồi à?
- Thưa bác đúng như vậy cha cháu chết cách đây ba năm còn mẹ
cháu chết sau cha cháu vừa đúng một năm.
Nghe Trương Đại Quá nói như vậy ông già Năm lại chìm
trong trầm tư mặc tưởng với vẻ đau khổ hằn rõ trên khuôn mặt già nua. Nhưng chỉ
trong một thoáng ông Năm đã lấy lại vẻ bình tĩnh như thường. Ông nói:
- Ta chia buồn với cháu. Chuyện sinh ly tử biệt là lẽ vô thường
của một kiếp người. Chắc thằng nhỏ Thái đã làm cơm xong bác cháu ta vào dùng
cơm đi thôi.
Nhà bếp là một gian nhà khá rộng. Đó là một gian nhà tranh
vách đất có hẳn một chái nhỏ bên cạnh để chứa củi khô. Bếp là một cái lò đắp bằng
đất và đặt lên một cái bệ hẳn hòi khác hẳn với cái bếp của những người Lạch mà
Trương Đại Quá từng thấy khi lên cao nguyên này. Lúc ấy Trương Thái đang sắp
cơm ra một chiếc bàn được ghép bằng những thân lồ ô to và có bốn chân chôn xuống
đất. Trương Thái mời:
- Cơm canh vừa xong con kính mời bác và Quá đại ca dùng cơm
cho nóng.
Trương Thái vào chái chứa củi mang ra một vò rượu màu da
lương được bịt bằng lá chuối khô. Cậu rót rượu ra hai chiếc chung màu cua đồng:
- Cháu mời bác và Quá đại ca uống rượu.
Cử chỉ rót rượu và mời của Thái rất thành thục hình như
chuyên này cậu làm thường xuyên thì phải. Ông Năm bưng chung rượu lên
nói:
- Chúng ta bèo nước gặp nhau. Cháu Thái hôm nay ta phá
lệ cháu lấy thêm một cái chung và cùng uống với chúng ta.
Trương Thái vui ra mặt lần đầu tiên cậu được đối xử như
người lớn nên cậu thích thú vô cùng. Còn ông già Năm hình như lâu lắm rồi
ông mới có dịp ăn chung với người khác nên ông rất vui vẻ miệng cứ
tủm tỉm cười hoài. Còn về phần Trương Đại Quá trong nhiều tháng qua
Trương ăn uống một cách quấy quá cho xong bữa nên hôm nay được ăn cơm một
cách đàng hoàng Trương Đại Quá lấy làm thích thú. Thêm vào đó tài nấu ăn
của Trương Thái quả là hiếm có, cậu chế biến thức ăn rất ngon nên bữa cơm trưa
diễn ra trong không khí rất là hứng khởi cộng vào đó có mấy chung ngũ gia bì tửu
lâu năm của ông Năm nên ai cũng có vẻ hài lòng ra mặt. Ăn xong ông Năm nói:
- Khá khen cho thằng nhỏ Thái nấu ăn ngon…đã từ lâu ta mới có
một bữa ăn ngon như vậy!
Trương Thái cười cười rồi nói:
- Hay là bác cho tụi con ở lại với bác con và Quá đại ca hàng
ngày phục dịch cơm rượu cho bác?
Ông già trợn mắt:
- Không được, ta hồi giờ không quen sống với người khác. Ta
cho bọn cháu ở lại ba ngày là đã phá lệ rồi!
Nghe ông già Năm nói Trương Thái mặt buồn thiu. Cậu suy
nghĩ một hồi rồi tươi tỉnh trở lại, không hiểu Trương Thái đã nghĩ ra được điều
gì. Trong khi ông già Năm và Trương Đại Quá uống trà, Trương Thái rửa chén bát.
Khi đã úp cái chén cuối cùng vào chạn, Thái nói:
- Bác Năm hồi sáng cháu nghe bọn trẻ con hát một bài có
liên quan đến bác, cháu đọc cho bác nghe nhé?
Ông Năm lấy làm ngạc nhiên hỏi lại:
- Chúng hát những gì mau nói ta nghe?
- Nhưng bác không được la cháu vì cháu chỉ kể lại cho bác
nghe mà thôi?
- Được, ngươi kể đi!
Trương Thái hắng giọng rồi đọc…một bài vè:
- Nghe vẻ nghe ve/ nghe vè núi Cấm/ có ông Ngọc Ẩn/ người thật
tài tình/ mặt mũi lình sình/ mà biết hết ráo/ai cho rằng láo/ cứ tới hỏi thăm/
nhà ông già Năm/ dưới chân núi Cấm.
Nghe xong ông Năm đùng đùng nổi giận:
- Bọn láo toét ta như vầy mà dám nói là mặt mũi lình sình a?
Trương Thái vội nói:
- Bác lại giận rồi con đã nói trước con chỉ nghe trẻ nhỏ
đọc thôi, không phải con bịa ra chọc giận bác đâu. Con chỉ tin có một nửa bài
vè này.
- Ngươi tin điều gì nói ra ta nghe thử?
Trương Thái trả lời:
- Đó là câu: “mà biết hết ráo” trong bài vè đó. Bác ơi
bác có hiệu là Vạn Sự Thông có phải là chuyện gì bác cũng biết hết phải không?
Nãy giờ Trương Đại Quá lắng nghe đến đây thì anh hiểu
rõ ý đồ của Trương Thái, anh phục thầm thằng nhỏ biết dàn dựng và dẫn chuyện để
khai thác ông Năm. Đúng như Trương Đại Quá nghĩ ông Năm đã bớt giận:
- Làm sao ta biết hết tất cả chuyện trong thiên hạ được nhưng
ngươi hỏi như vậy là có ý đồ gì?
Trương Thái nhìn Trương Đại Quá với ánh mắt thầm nhắc lại thỏa
thuận của hai người. Đại Quá mỉm cười một nụ cười đồng loã với Thái, anh nói với
ông Năm:
- Thưa bác chúng cháu không có ý đồ gì đâu chẳng qua
cách đây một đêm, hai đứa cháu, nói chính xác là cháu có gặp một chuyện kỳ
bí anh em cháu đang định đem ra hỏi bác xem bác có biết chuyện lạ này không?
Được sự đồng ý của ông Năm Trương Đại Quá đem chuyện gặp ông
già lùn kì dị ra kể lại và ý định đi tìm bộ tộc người lùn của hai anh em họ
Trương. Nghe xong ông Năm nghiêm nét mặt:
- Ta khuyên hai người bỏ ngay ý định tìm hiểu tộc người lùn
đi nguy hiểm lắm.
- Vì sao lại nguy hiểm hả bác?
- Ta bảo nguy hiểm là nguy hiểm còn nghe lời ta hay không là
tùy hai người, ta không lý đến chuyện của anh em các người đâu.
Ông già Năm miệng nói không quan tâm nhưng thái độ của ông
thì ngược lại. Nét lo lắng hiện rõ trên gương mặt ông già. Thái độ đó khiến anh
em họ Trương chú ý Trương Thái buộc miệng:
- Bác ơi tụi con không sợ nguy hiểm bác chỉ dạy cho tụi con
đi!
- Ta đã bảo rồi không được là không được. Các người hết chuyện
làm rồi sao mà lại muốn dây vào chuyện này hả?
Trương Đại Quá từ tốn nói:
- Thưa bác không phải là chúng cháu hết việc làm nhưng mà
chúng cháu cần phải vào xứ sở của tộc người lùn để tìm một loại dược thảo, chỉ
bọn người lùn mới biết loại thuốc đó mọc nơi nào. Bác thấy đó người xưa nói rằng
“dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người”. Huống chi nếu
thứ thuốc mà sư phụ em Thái chế ra thì có thể giúp cho bao nhiêu người khỏi bệnh?
Ông Năm trợn mắt nói:
- Dẫy na! Thằng cháu Thái sao bay không nói với ta chuyện
này?
- Lần trước con mới hỏi bác về xứ sở người lùn bác đã chửi
con và đuổi con phải đi ngay làm sao con có dịp để trình với bác?
Nghe nói vậy vẻ mặt ông Năm hoà hoãn trở lại, ông nói:
- Thôi được để ta kể một chút kiến thức mà ta biết về tộc
người lùn nhưng nhất thiết các cháu phải thật là cẩn thận khi hành sự chứ xứ sở
của người lùn Langbiang hung hiểm vô cùng.
…Lúc ta mới lên cao nguyên này, trong lòng ta muốn xa lánh tất
cả mọi người. Vì sao ta phải như vậy sau này ta sẽ kể cho các cháu nghe. Thiên
nhiên hùng vĩ và xinh đẹp cộng với khí hậu tuyệt vời khiến ta say mê dong ruỗi
hết ngày này qua đến tháng nọ. Người Lạch giúp ta tất cả: họ cho ta gạo, muối mắm,
quần áo để mặc với một tấm lòng hào phóng không lấy của ta một cái gì. Đến
nay ta đã di chuyển qua nhiều nơi nhưng người dân ở đây vẫn quý và giúp đỡ ta
như ngày trước vậy. Ta nói điều này để các cháu biết rằng: người Thượng có một
tấm lòng thật là chân chất họ không màng lợi lộc, đó chính là đặc điểm của những
người vùng cao. Sự thật thà chất phát của họ có được chính là do sống gần gũi với
thiên nhiên mà thiên nhiên trên này trong sạch vô cùng.
Ta một mình lang thang trên cao nguyên xanh này và lấy làm
thích thú với một cuộc sống cô tịch. Cách nay độ năm năm ta định cư ở một nơi
cách chỗ này khoảng một ngày đi đường. Ta chăn nuôi, trồng trọt làm kế sinh
nhai. Đất đai vùng này rộng bạt ngàn người bản địa thì ít cho nên ta chỉ cần
nói một tiếng với già làng bon Lat là ta có thể sinh sống trên đất đai tổ tiên
họ để lại. Ta chỉ chăn nuôi thỏ, trồng ít rau màu để trao đổi với người Lạch là
đủ sống. Ta một thân một mình nhu cầu không có gì nhiều nên cuộc sống cứ bình lặng
trôi qua. Đàn thỏ của ta phát triển rất tốt. Các cháu phải biết thỏ là giống
sinh sản rất nhanh ban đầu ta chỉ có hai cặp vậy mà một năm sau ta có một đàn
thỏ trên cả trăm con. Ta không bán chỉ để ăn dần và trao đổi với người Lạch. Vậy
mà một hôm ta thấy đàn thỏ nhà ta hao hụt một cách khó hiểu. Ban đầu ta không để
ý cho lắm, ta cứ tưởng rằng con chó nhà ta cắn chết vài con thỏ nhưng đến khi
ta phát hiện ra đàn thỏ chỉ còn lại trên khoảng năm chục con thì ta buộc phải
nghĩ khác đi. Ăn trộm của người khác là một thói xấu và người Lạch không bao giờ
mắc phải thói này. Ta giao du với họ từ lâu nhưng chưa bao giờ biết qua một vụ
ăn trộm hay ăn cắp. Vậy mà lần này ta phải nghĩ người Lạch ăn trộm thỏ của ta bởi
vì chung quanh ta chỉ có người Thượng thì lấy ai ra để mà ăn trộm thỏ? Ta rắp
tâm tìm ra kẻ trộm nhưng hình như một màn bí mật bao trùm lên trang trại của
ta. Thỏ tiếp tục bị mất một cách khó hiểu còn ta thì không cách gì tìm ra thủ
phạm.
Hôm ấy ta buồn bực trong lòng ta có uống hơi quá chén. Khi đã
khá say ta ra vườn. Trăng trên trời sáng quá gió mát thổi xào xạc qua những
ngọn cây. Ta ngồi ngắm cảnh dưới một gốc thông già ven bờ suối và ngủ lúc nào
không biết. Đến khi ta giật mình tỉnh lại trăng đã lặn vào một đám mây, gió
không còn vi vu thổi nữa. Ta nhìn thấy điều gì các cháu biết không? Trước mặt
ta là hai nguời lùn đang ra sức kéo hai con thỏ của ta! Ta vừa tức vừa kinh ngạc.
Từ hồi nào đến giờ ta chưa bao giờ gặp một người lùn kỳ dị như vậy bao giờ. Đó
là hai người già, bộ râu của chúng rất thưa và đốm đỏ đốm vàng. Nhưng bộ quần
áo của chúng mới làm ta tức giận: đó chính là bộ lông thỏ của ta. Ta tỉnh hẳn
rượu và đứng vụt dậy. Thấy ta hai tên lùn bỏ chạy. Trong chớp mắt chúng biến mất
tăm mất tích như có phép tàng hình. Ta hồ nghi quá đổi. Ta nghĩ rằng ta trông
gà hóa cuốc nhưng giải thích thế nào về hai con thỏ đang nằm trước mặt ta? Hai
con thỏ đã chết vì một vết thương trí mạng trúng vào tim lúc ấy máu còn
ra, thân còn âm ấm. Ta nhặt hai con thỏ đi vào nhà vừa đi ta vừa suy nghĩ. Ta cả
quyết rằng ta không nhầm! Ta có uống rượu thật nhưng đâu đến nỗi quá say?
Mấy ngày sau trang trại của ta bình yên thỏ không bị mất cắp
nữa, ta cũng quên đi chuyện dưới đêm trăng. Mùa trăng tháng sau chuyện cũ
lập lại. Ta tức điên người và quyết tâm tìm cho ra kẻ cắp. Ta mai phục chỗ
tháng trước ta bắt gặp hai thằng lùn già từ lúc mặt trời lặn bằng cách ngồi
trên ngọn thông già. Đêm rằm trôi qua trong yên lặng không một động tĩnh gì. Ta
kiên trì mai phục đến đêm mười bảy. Lúc gần nửa đêm ta nghe một tiếng động lạ,
đó là một tiếng rúc của một loại kèn nghe rất nhỏ nhưng rất chói tai. Ta nhìn
xuống con đường mòn nhỏ dưới gốc thông. Dưới ánh trăng mờ ta nhìn thấy
hai tên lùn già hôm trước. Lần này ta nhìn kỹ chúng. Chúng cao cùng lắm chỉ tới
đầu gối ta da nhăn nheo với một bộ râu thưa, chúng mặc một bộ áo liền quần bằng
da thỏ. Thật ra cái quần chúng mặc chỉ là một cái quần đùi lòi ra đôi chân ốm
nhách. Vừa đi chúng vừa thầm thì trao đổi bằng một thứ tiếng nói thoạt nghe giống
tiếng xào xạc của cây cỏ khi có cơn gió thổi qua. Đích đến của chúng đúng là
chuồng thỏ nhà ta. Ta nín thở theo dõi. Quả là những tay ăn trộm cừ khôi, chúng
hành động không gây một tiếng động và chỉ một lát sau chúng lôi ra hai con thỏ
lớn nhất đàn. Ta điên tiết la lên:
- Ăn trộm… đừng hòng chạy thoát khỏi tay ta!
La xong ta nhảy xuống đất và vung tay. Một mũi thấu cốt
đinh của ta trúng một tên còn mũi thứ hai thì hụt. Thằng thoát chết co giò chạy
trốn với một thân pháp nhanh nhẹn không tưởng được. Các cháu phải biết rằng
ta đã có trên hai chục năm luyện môn phóng thấu cốt đinh trăm phát trăm
trúng. Hôm nay để một địch nhân chạy thoát khỏi mũi đin khiến ta ngẩn cả người
ra. Đến lúc này ta mới biết rằng trong thiên hạ còn có những điều vượt lên sự
hiểu biết của mình chớ từ trước đến giờ ta cứ nghĩ rằng thấu cốt đinh của ta một
khi đã phóng ra là không ai thoát được. Ta có tẩm một thứ độc dược nơi mũi của
mỗi cây đinh. Thứ độc dược này khiến cho người trúng thương tê liệt nếu trong
vòng ba tháng mười ngày không có thuốc giải của ta thì người trúng thương phải
chết. Vì đã tin chắc như vậy nên ta không lý gì đến tên trúng đinh của ta, ta cứ
dò tìm mãi tên chạy trốn. Đến khi thất vọng vì tìm không ra ta quay lại chỗ hồi
nãy. Thật bất ngờ tên trúng thương cũng không còn nữa! Đây chính là một một roi
quất trúng tính tự mãn của ta. Ta thất vọng đến đau lòng vì thất bại vừa qua,
quả là trong thiên hạ người này giỏi còn có người khác giỏi hơn, chuyện ta gặp
phải là một ví dụ.
Ta ra sức tìm dấu vết của hai tên ăn trộm. Dưới ánh trăng mờ
một vệt máu đỏ lộ ra. Thì ra tên trúng thấu cốt đinh bị thương, y mang thương
đào tẩu. Ta ngạc nhiên hết sức biệt dược mà ta tẩm vào mũi đinh có gặp hổ cũng
phải chịu nằm yên, vậy mà tên trộm lùn này lại có thể chạy trốn! Ta lần theo dấu
vết và mất rất nhiều thời gian. Hình như bọn người lùn này lượng máu quá ít nên
khi bị trúng thương máu chảy ra ngoài không nhiều lắm hoặc chúng có một phương
thuốc cầm máu chăng? Vừa săm soi ta vừa nghĩ như vậy. Đến gần sáng dấu vết dẫn
ta đến một cái hang sâu hun hút. Lúc này ta đã mệt vì suốt đêm truy tìm kẻ cắp
ta ghi nhớ chỗ ấy rồi ra về .
Ta nghỉ một ngày rồi đến lại cái hang đó. Trước khi đi ta ra
chuồng thỏ kiểm tra. Thật là tức ói máu đêm qua ta lại bị mất trộm thêm bốn
con thỏ nữa. Ta căm tức nghĩ thầm trong bụng lần này ta sẽ đốt tan cái hang của
bọn ăn trộm cho hết dòng giống lũ đạo chích. Đến nơi ta tìm thật nhiều củi chất
trước cửa hang và châm lửa đốt. Khi lửa tàn ta bỏ về trong bụng nghĩ rằng từ
nay ta sẽ ăn ngon ngủ yên, bọn người lùn chắc là chết hết cả rồi. Các cháu biết
không, không ai có thể sống mà thiếu không khí được có lẽ bọn lùn cũng vậy
thôi.
Nhưng sự thật không như ta nghĩ đàn thỏ ta vẫn tiếp tục chết,
cho dù ta canh gác cỡ nào thỏ vẫn chết. Lúc này thì ta biết chắc bọn lùn trả
thù ta vì thỏ bị trúng thương chết tại chuồng nhưng bọn chúng không thèm đem
xác thỏ về như dạo trước. Chúng không để lại một chút manh mối nào khả dĩ có thể
tìm ra thủ phạm. Đến nước này ta đánh liều ta thử vào tận hang ổ của bọn lùn bằng
cách chui vào cái hang hôm trước ta phát hiện ra. Cửa hang rất nhỏ so với thân
hình của ta cho nên ta dùng cuốc moi thêm cho rộng ra. Cũng may càng đi sâu vào
trong lòng hang càng rộng khoảng mười trượng ta không cần moi thêm nữa. Chiếc
hang lúc quành bên tả lúc quay bên hữu, đặc biệt là có một làn lãnh khí cứ chực
hút ta vào phía trong. Ta cũng hơi sợ nhưng do quá tức tối nên ta cố gượng lại
làn lãnh khí đó và đi đến cuối đường. Trước mặt ta là một vòm trời khác biệt
hèn nào bao nhiêu là khói đốt của ta không có một chút tác dụng nào!
Ta say sưa ngắm cảnh xứ sở của bọn lùn. Đó là một thung lũng
cực lớn, từ miệng hang ta nhìn thấy thung lũng được bao bọc bằng những ngọn núi
cao chớn chở, đỉnh núi lẫn vào trong mây trắng. Giữa lòng thung là một con suối
lớn nước chảy theo hướng tây bắc đông nam chia thung lũng ra làm hai phần bằng
nhau. Tò mò qúa sức ta tìm đường để vào thung lũng. Cửa hang ta đang đứng
cách mặt đất khoảng mười trượng vì vậy cảnh vật ta xem nãy giờ là xem từ trên
cao xuống. Ta không hiểu bọn quỷ lùn xuống bằng cách nào với khoảng cách quá
cao như vậy? Còn ta, ta có thể phi thân xuống nhưng cũng hơi lo lo vì ta
không biết điều gì chờ ta phía dưới. Nhưng ta cứ liều, ta quan sát cẩn thận
không thấy mặt đất bên dưới có gì khả nghi ta nhảy xuống. Khi vừa chạm đất ta
hoảng kinh khi nhận ra rằng mình đang rơi vào một hố sâu. Thì ra đây là một bẫy
rập ta vô tình lọt vào. Những tiếng leng keng vang lên, ta hiểu ngay đó là tiếng
kẻng báo động người lạ xâm nhập lãnh địa của bọn chúng. Trong chớp mắt đó ta
giơ tay lên đầu theo linh tính. Chính điều này đã cứu ta. Ta biết rằng chỉ chốc
lát nữa thôi bọn lùn sẽ kéo đến lúc đó ta dù có một thân võ công cao cường cũng
không thể địch lại số đông. Ta cho tay vào bọc rút ngay con dao cùn đen xì của
sư tổ ngươi ra và cứa vào những vòng kim loại đang quấn chặt ta khi ta vừa sa
xuống hố. Đó là những vòng dây bằng sắt to cỡ ngón tay út của ta. Nếu gặp phải
người khác thì không cách gì thoát ra được nhưng với chiếc dao cùn của sư phụ
ta thì dù sợi lòi tói đó có to bằng cườm tay con nít cũng không là một trở ngại.
Chuyện con dao này ta sẽ kể cho các ngươi nghe khi có dịp. Từng vòng dây lòi
tói rơi lả tả chỉ bằng một nhát dao ta được tự do. Ta lấy sức phi thân lên mặt
đất. Lúc này những tên lùn lính canh nghe báo động đã chạy gần đến chiếc
hố ta vừa sa vào nếu chỉ chần chừ một chút là ta khó thoát. Nghĩ như vậy nên ta
vội phi thân trở lên cửa hang. Đúng lúc đó một số tên lùn reo hò kéo đến bẫy rập.
Bọn chúng thấy ta thoát được cạm bẫy, chúng lấy làm tức tối, một số tên lấy
cung tên ra nhắm ta và bắn. Thật là nực cười với những đồ trẻ con, ta cũng
phóng vào chúng mấy mũi thấu cốt đinh trước khi bỏ đi. Tiếng reo hò của bọn lùn
văng vẳng phía sau kèm với những tiếng rú đau đớn của những tên bị trúng thương
nhưng vì chân cẳng bọn chúng nhỏ, bước chân ngắn nên chỉ một lúc là ta đã
bỏ bọn chúng một khoảng cách khá xa. Ta về đến nhà thì gặp một bất ngờ nữa: trang
trại bao nhiêu năm chăm sóc của ta giờ đây chỉ là đống tro tàn! Ta biết đây
chính là kế “điệu hổ ly sơn” của bọn quỷ lùn, ta vì coi thường bọn chúng mà mắc
vào. Ta ngồi phệt xuống đất hai mắt nổ đom đóm vì tức tối.
Chính lúc đó ta thấy người ta thật là khó chịu: một làn
hơi lạnh không biết từ đâu thâm nhập cơ thể ta. Ta lên cao nguyên này đã khá
lâu, những vùng lam sơn chướng khí ta cũng đã gặp nhưng chưa bao giờ bị chướng
khí xâm nhập cơ thể vì ta rất chăm rèn luyện. Vậy mà giờ đây ta đang rét run dưới
ánh nắng ban trưa của mùa hè. Đây là một điều khiến ta thắc mắc. Ta nghĩ có lẽ
ta trúng một loại độc chất nào đó của bọn quỷ lùn mà ta không phát hiện được.
Nhưng nếu ta trúng độc thì trúng ở đâu, bởi vì ta chưa tiến sâu vào lãnh địa của
bọn chúng lắm? Đột nhiên ta nhớ lại chuyện ngày xưa. Lúc đó ta có một chuyện buồn
nên lang thang khắp nẽo để khuây khoả, đồng thời ta muốn bước đường đời của
mình thêm lịch duyệt. Năm ấy ta có đi ngang qua Hồng Lĩnh sơn. Đây là một ngọn
núi cao thuộc châu Hoan, châu Ái của vương quốc Chăm Pa ngày xưa. Buổi chiều
hôm ấy ta đi vào một thung lũng hẹp và dài. Cuối thung lũng ta thấy một cảnh rợn
người: một nhà sư gầy gò bị một con trăn gió đang ra sức quấn chặt. Gương mặt
nhà sư tái mét chỉ còn cặp mắt là nhìn ta cầu cứu. Ta rút ngay một cái thấu cốt
đinh và nhắm đốt xương thứ mười lăm của con trăn và phóng vào. Sau đó ta dùng
con dao đi rừng chặt một khúc đuôi cỡ gang tay của con trăn. Các ngươi phải biết
sức mạnh của con trăn tập trung ở khúc đuôi này nếu bị chặt đi thì con
trăn chỉ còn là một đống thịt không hơn không kém. Ta lôi nhà sư ra khỏi đống
thịt trăn, ông đã bị gẫy một rẻ xương sườn nhưng tánh mạng đã được bảo toàn. Vừa
thoát chết nhà sư vội buông một câu Phật hiệu:
- Nam Mô A Di Đà Phật… tội nghiệt… tội nghiệt… vì ta mà con
trăn phải chết!
Nhà sư đã không cảm ơn cứu mạng của ta thì chớ lại còn ý
trách ta qua câu nói đó. Ta tức giận nói:
- Nếu ta không giết nó thì liệu giờ này sư phụ còn sống hay
không?
Nhà sư trả lời:
- Sống cũng vậy mà chết cũng vậy… tất cả chúng sinh đều trong
vòng sinh tử luân hồi.
Thật là ngang phè hết chỗ nói, ta thôi không muốn dây dưa với
lão thầy tu nên định bỏ đi. Thấy ta dợm bước nhà sư chấp tay lại và nói:
- Thí chủ ta có một điều nói với thí chủ. Hiện tại thí chủ đã
bị một loại chướng khi xâm nhập rất sâu vào nội phủ nếu không chữa trị kịp thời
thì chỉ trong vòng ba năm nữa thí chủ sẽ mạng vong!
Thấy ta có vẻ bán tin bán nghi lão thầy tu nói thêm:
- Có phải mỗi sáng thức dậy thí chủ thấy ớn lạnh khắp người
không? Làn lãnh khí như dao cắt ban đầu chỉ phớt qua nhưng càng ngày thí
chủ bị lạnh càng nhiều? Khoảng ba năm nữa nếu không chữa trị thí chủ sẽ bị xuất
huyết tại thất khiếu và sẽ chết!
Quả thật những ngày trước đó ta thấy một cơn lạnh y như nhà
sư nói, làn lãnh khí ngày càng hành hạ ta nhiều hơn. Nghe lão sư nói vậy
ta đổi thái độ và xin lão sư cứu mạng. Lão đúng là một người càn rỡ lão nói với
ta:
- Ta sẽ truyền cho thí chủ một loại tâm pháp. Hàng ngày thí
chủ theo tâm pháp này mà luyện tập thì sẽ tránh được tai hoạ. Nhưng giữa ta và
thí chủ coi như không ai nợ ai điều gì thí chủ chịu không?
Tất nhiên là ta chịu. Lão sư bày ta cách bắt tâm ấn, cách ngồi
thiền và pháp hô hấp….Trước khi chia tay lão sư nói:
- Thí chủ giữa ta và thí chủ không ai nợ ai điều gì nhưng trước
lúc chia tay ta có vài lời nói thêm thí chủ chịu nghe không?
Đúng là một con người càn rỡ ta nghĩ thầm trong bụng như thế
nhưng miệng vẫn trả lời:
- Xin đại sư cứ dạy!
- Vậy thì thí chủ hãy nghe đây: bệnh từ miệng mà vào, hoạ từ
miệng mà ra, bệnh đã vào rồi thì kiên trì tập luyện để đuổi bệnh đi. Nhưng bệnh
của thí chủ không dễ gì đi khỏi nội phủ thí chủ vì vậy từ nay về sau nhất thiết
thí chủ không để cho thân tâm tức giận. Nếu thí chủ để cho tức giận, sân, si
làm chủ tâm tình của thí chủ lập tức bệnh sẽ kéo về lần này chỉ có Đại La Kim
Tiên mới cứu được thí chủ thôi!
Sau đó ta và lão sư nói chuyện thêm một lúc rồi đường ai nấy
đi.
Trở lại chyện ta thấy một làn hơi lạnh xâm nhập cơ thể, ta
nghĩ ngay đến câu dặn của đại sư. Phát hiện ra điều này ta kinh hãi vô cùng. Quả
trong mấy tháng qua ta rất tức giận những người lùn và quên bén đi lời dặn của
lão sư. Đến khi nhớ lại thì hậu quả đã xảy ra rồi. Lúc này ta bình tĩnh suy
xét. Ta thấy chỉ có con đường duy nhất là phải bỏ tất cả mọi chuyện để chuyên
tâm luyện pháp môn mà lão sư chỉ dạy nhằm cứu lấy thân. Ta tìm đến một hang động
gần nhà và kiên trì toạ thiền dẫn khí đi khắp châu thân để trị bệnh. Chỉ có những
lúc cần kíp ta mới rời hang động để đi xin lương thực của những người bạn Lạch.
Vậy mà phải mất một năm mới có chút thành tựu, làn lãnh khí không liên tục tấn
công ta nữa nó đến cách nhật, rồi năm ngày, rồi một tuần mới “viếng” ta một lần.
Hiện nay hàng tháng ta đều phải đón chào người bạn không mời mà đến!
Khi đã đỡ bệnh ta dời nhà đi. Thật ra nhà ta đã cháy cả rồi
nên ta chỉ gom vài vật dụng lặt vặt và tìm nơi ở mới. Ta còn phải đối phó với
những tên lùn nhiều lần nữa. Chúng theo dõi ta và ra tay giết chết gia
súc mà ta nuôi, ngay cả con chó vàng ta coi như bạn chúng cũng không tha. Sự trả
thù của người lùn thật là tàn bạo và dai dẵng. Phần ta qua chuyện vừa rồi ta thật
không dám tức giận chúng dù chuyện chúng gây cho ta khó chịu đến đâu chăng nữa.
Thấy ta không có một hành động trả đũa nào mãi gần đây bọn chúng mới buông tha
ta, ta đang an vui sống như những ngày trước đó thì cháu Thái đến hỏi ta về bọn
chúng, vậy thử hỏi sao ta không la rầy cháu được?
Trầm ngâm một lát rồi ông Năm nói tiếp:
- Nhưng bây giờ ta biết được mục đích của hai cháu thì ta phải
có cách giúp các cháu thôi. Ta tin tưởng vào tài nghệ của sư phụ cháu Thái, sư
đệ ta đã sai cháu vào chỗ ở của bọn lùn tìm dược thảo tất thứ dược thảo
đó rất là quý hiếm. Sư đệ ta một đời nghiên cứu y dược cứu người chỉ tiếc quá
ham chơi nên thành tựu cũng giảm đi nhiều. Thôi thì thế này: ta cũng vì
tưởng nhớ đến bạn đồng môn mà truyền cho các cháu một ít phương thuật phòng
thân biết đâu trên đường đời có cơ sử dụng, được như vậy ta lấy làm mãn nguyện
lắm rồi.
Trương Thái và Trương Đại Quá nghe ông già Năm nói vậy cả hai
mừng khôn xiết, không hẹn mà hai anh em cung kính quỳ xuống lạy ông Năm một lạy.
Trương Đại Quá nói:
- Thưa thầy được thầy nhận làm đệ tử dạy dỗ chúng con, chúng
con xin một lạy dâng thầy, chúng con xin hứa sẽ tuân theo lời dạy của thầy làm
rạng rỡ môn phái!
Lời nói của Trương Đại Quá xuất phát tự tâm, không ngờ ông
Năm đứng phắt dậy và nói:
- Ta chưa bao giờ nhận anh em các ngươi làm đệ tử, vì vậy miễn
cho ta phải nghe những lời lẽ rườm rà.
Trương Thái và Trương Đại Quá quá đỗi ngạc nhiên, vừa rồi
chính tai hai người nghe ông già Năm nói rằng sẽ truyền cho hai người một ít
phương thuật phòng thân, chẳng lẽ sau khi hai người làm lễ bái sư xong ông Năm
lại nuốt lời? Quả thật là khó hiểu. Ngẫm nghĩ một hồi bỗng nhiên Trương Thái cười
nói:
- Thưa bác tụi con xin tâm lãnh những gì mà bác đã dành
cho tụi con, tuy bác và tụi con không phải là sư đồ nhưng trong lòng tụi con
lúc nào cũng coi bác như một người thầy, nếu bác vừa là thầy vừa là cha thì tụi
con không mong muốn gì hơn nữa.
Nghe Trương Thái nói như vậy Trương Đại Quá mới hiểu thâm ý của
ông Năm, anh thầm phục cách ứng xử của người em kết nghĩa. Quả thật trong mấy
ngày qua, Trương Thái đã hai lần có cách ứng xử rất thông minh khiến ông Năm rất
hài lòng. Vẻ hài lòng của ông Năm hiện rõ trên khuôn mặt già nua, ông mỉm cười
rất hiền khác hẳn thái độ khi mới tiếp xúc với Trương Đại Quá. Ông nói:
- Các con qua thư phòng bên cạnh ta bắt đầu chỉ dạy cho các
con. Ta nói trước rằng những môn ta dạy là những môn học bí truyền tuỳ theo sự
tiếp thu của từng người mà thành tựu có khác nhau. Trong đời không ai là người
ngu dốt cả, người này mạnh về môn này có thể không hợp với môn khác. Do
đó trong học tập các con phải rất cố gắng tìm tòi, nghiên cứu những gì ta chỉ dạy
và tìm ra những môn học thích hợp với mình. Trong tất cả các môn phương thuật
ta biết được đều bắt nguồn từ bộ Kinh Dịch. Trong bộ Kinh Dịch này một vạch liền
gọi là dương, một vạch đứt gọi là âm. Các bậc tiên hiền dạy rằng: “nhất
âm nhất dương chi vị đạo…”.
Từ đó hai người họ Trương tạm gác lại những nhiệm vụ của mình
và ở hẳn nhà ông Phan Ngọc Ẩn. Cả hai người rất chăm chỉ học hành. Ngoài ra hai
anh em còn tổ chức lại cuộc sống của ba người. Với Trương Thái những món
Thái nấu cho cả nhà ăn rất được ông Năm và Trương Đại Quá khen ngợi. Ngược lại
Trương Đại Quá với những kinh nghiệm trong làm nông đã trồng trọt và chăn nuôi
đạt hiệu quả chẳng những đủ ăn trong nhà mà còn dư thừa anh đem đổi lấy những vật
dụng cần thiết khác với người Lạch.
Ba người đàn ông sống rất hạnh phúc dưới chân núi Langbiang.
Chương 3: Chuyện cũ
Một hôm sau buổi học Trương Thái rủ Trương Đại Quá đi thăm mấy
cái bẫy mà Thái đã đặt mấy hôm trước. Họ bắt được một con heo rừng cả hai ra về
rất là vui vẻ. Vừa đi Trương Thái nói với Trương Đại Quá:
- Quá đại ca tối nay em sẽ cho bác Năm và anh ăn món thịt heo
rừng hầm thuốc bắc, đây là một món mà thầy em học được của người Tàu khi phiêu
bạt ở Quảng Đông. Hiềm một nỗi là thuốc bắc mà em có thiếu mất một vị: đó là
nhân sâm nhưng em đã có cách. Em đã thấy một bụi sâm núi mọc trên đường
chúng ta đi thăm bẫy tuy không giống nhân sâm nhưng em nghĩ có thể thay
nhân sâm được ít nhất là ở mùi vị. Món này thật là đại bổ thầy em dặn rằng chỉ
người già là ăn thường xuyên được, còn trẻ như anh và em lâu lâu ăn một lần thì
không sao. Quá đại ca anh không được ăn quá ba bát, anh nhớ chưa?
Trương Đại Quá cười to:
- Em chẳng nói rồi sao món đại bổ này người trẻ lâu lâu ăn một
lần không sao cả, vậy thì chiều nay anh ăn kỳ no mới thôi!
- Anh ăn nhiều có chuyện gì không được đổ thừa cho em đó
nghe. Mà Quá đại ca này lâu nay anh có nhớ chị Ba không?
Trương Thái đột ngột chuyển đề tài khiến Trương Đại Quá bối rối,
anh hỏi lại:
- Em nói sao chị Ba nào hả?
- Còn chị Ba nào nữa, chị Ba Trần Thị Huyền đó mà!
Nói xong Trương Thái bỏ chạy đi mất để Trương Đại Quá một mình
với những kỷ niệm đau đáu trong lòng. Hình ảnh người con gái có mái tóc mượt
mà, đôi môi cắn chỉ và khuôn mặt trái xoan khiến Trương Đại Quá cảm thấy nhớ
nàng da diết. Anh không biết ngày nào mình mới có thể tìm cho ra hai chiếc sừng
tê giác để về Tây Sơn nộp sính lễ cho ông Bá hộ? Đã hơn hai năm trôi qua, đêm
nào trước khi chìm sâu vào giấc ngủ anh cũng nghĩ về nàng. Đã nhiều đêm anh nằm
mơ thấy nàng và khi thức giấc giữa đêm, Trương Đại Quá chợt buồn khi một mình nằm
trên chiếc giường cách xa nàng vạn dặm. Không biết nàng có mạnh giỏi không,
nàng có nhớ anh không? Khi từ giả thôn Trường Định anh đã tự nhủ trong lòng rằng
anh chỉ trở về khi trên tay có hai chiếc sừng tê giác, anh sẽ đem nộp làm sính
lễ sau khi giữ lời hứa với ông Tư. Sau đó anh sẽ đưa nàng đi thật xa để hưởng
trọn hạnh phúc bên nàng. Vậy mà giờ phút này trong tay anh chưa có một chút
gì….
Tối hôm đó bên bếp lửa hồng ông Năm và anh em họ Trương có một
bữa ăn rất ngon đúng như Thái nói. Quả thật Thái đã học được nghề nấu ăn của thầy
nên những món Thái nấu đều được ông Năm và Trương Đại Quá tán thưởng. Cũng nhờ
một bầu Linh Chi kỳ tửu mà ông Năm ngâm từ ba năm trước làm cho bữa ăn càng
ngon hơn. Khi bữa ăn tối đã xong như thường lệ Trương Đại Quá ôn luyện lại võ
công và chỉ vẻ cho Trương Thái những đòn thế mới. Võ công của Trương Thái trong
hơn một năm qua đã tiến bộ rất nhiều. Có thể nói Thái có hai sư phụ, đó là
Trương Đại Quá và ông Năm. Về phần Trương Đại Quá anh rất thắc mắc chuyện ông
Năm là đồng môn với cha anh nhưng trong thời gian qua ông già không nhắc
nhở gì đến chuyện ấy cả. Còn về võ công quả thật những gì ông già Năm chỉ cho
Thái đúng là võ công đích truyền của Ngọc Trản thần công. Trương Đại Quá không
hồ nghi chút nào về chuyện này nhưng anh cũng không dám hỏi ông già Năm về những
chuyện ngày xưa. Tối nay sau khi luyện công xong Trương Đại Quá đem cuốn Hồng
Vũ cấm thư ra xem lại. Những kiểu địa huyệt rắc rối khiến anh khó nhớ nhưng
Trương Đại Quá có lòng kiên trì hơn người, bên ánh lửa hồng của những nhánh củi
ngo dầu (nhựa thông), mặt Trương Đại Quá cau lại khi tập trung suy nghĩ về những
cuộc đất ghi trong cuốn kỳ thư này. Bên cạnh Trương Đại Quá ông Phan Ngọc Ẩn
cũng trầm ngâm nghĩ ngợi. Cuộc sống ông thời gian qua quả là vui hơn rất nhiều
nhờ sự hiện diện của hai người trai trẻ, tối nay ông định nói một điều với anh
em họ Trương. Nhưng khi nhìn Trương Đại Quá tập trung suy nghĩ về môn phong thuỷ
học ông già Năm bất giác nói:
- Quá à những cuộc đất mà ta chỉ dạy cho cháu qua cuốn Hồng
Vũ Cấm Thư này thật là linh diệu. Ta sẽ kể cho các cháu nghe những chuyện liên
quan đến cuốn sách này trước khi các cháu chia tay ta biết đâu cũng làm nhẹ
lòng ta suốt mấy chục năm qua!
Quá bất ngờ với những lời ông Phan Ngọc Ẩn nói, hai anh em họ
Trương đồng thanh nói:
- Sao vậy bác chúng cháu đã học xong đâu?
- Có hợp thì phải có tan đó là quy luật tất yếu của tự nhiên,
các cháu phải thuận theo thời thì mới là người tuấn kiệt. Trong quãng thời gian
hơn một năm qua ta đã truyền dạy những gì ta gom góp cả một đời người cho các
cháu nay đã đến lúc các cháu phải đem ra thực hành trong cuộc sống. Đó cũng là
một cách tự học mà người ta gọi trường đời. Ta cũng thuận theo lẽ tự nhiên
thôi, các cháu hãy lập một quẻ Mai Hoa đi. Lúc ta gặp các cháu là ngày Bính Tý,
giờ Giáp Ngọ, tý thuỷ, ngọ hỏa… ta lập được quẻ Thuỷ Hoả Ký Tế. Ký tế nghĩa là
đã thành rồi, nhẩm tính đến nay đã đến ngày chúng ta phải chia tay. Duyên của
chúng ta đến đây đã hết ta nói ít các cháu tự mình chiêm nghiệm. Thôi bây giờ
ta sẽ kể cho các cháu nghe về những tao ngộ của ta trong thời niên thiếu biết
đâu các cháu sẽ biết thêm những việc tiền nhân đã làm.
…Lần trước ta đã kể cho các cháu nghe chuyện ta đi ngao du
trong thiên hạ và đã gặp một lão thầy tu. Quả thật đó là duyên kỳ ngộ sau này
khi ngẫm nghĩ lại ta mới thấy điều này chứ lúc đó ta cứ cho lão sư là một ngươi
càn rỡ. Sau khi dạy ta tâm pháp để tự chữa bệnh khi đã chia tay đi được một đỗi
đường, lão sư quay lại tìm ta. Lúc đó ta chưa vội đi vì còn ngồi lại sơ chế mớ
thịt trăn để làm thức ăn cho những ngày sắp tới. Ta rất ngạc nhiên khi nhìn thấy
lão ta hỏi liền:
- Đại sư, có chuyện gì chăng mà đại sư quay trở lại?
Lão trả lời:
- Ta đã đi rồi nhưng sực nhớ có một vật ta muốn tặng
cho thí chủ. Đối với ta tất cả chỉ là một chữ không nhưng biết đâu với thí chủ
vật này lại có chỗ dùng?
Nói xong lão cho tay vào bọc vải đeo bên mình lấy ra một cuốn
sách cổ được viết trên giấy dó, một loại giấy rất bền. Lão sư nói:
- Đây là một cuốn sách cổ tên là Hồng Vũ Cấm Thư ta tặng cho
thí chủ, biết đâu thí chủ có thể dùng những kiến thức trong này mà giúp ích cho
thế gian. Thí chủ lần này ta quay mặt là sẽ đi luôn chắc trong cõi hồng trần
này ta và thí chủ không còn có duyên gặp nhau nữa. Vậy thí chủ hãy nghe cho kỹ:
Đen như cứt chó
Của một lão khùng
Nhớ mang bên mình
Tay giơ khỏi trán
Cuộc sống khốn nạn
Ẩn cư một mình
Không nhận môn sinh
Học trò hai đứa
Quay ra gặp lửa
Cúi mặt mà đi
Không được sân si
Suốt đời an phận
Đọc xong lão quay đi liền không nói thêm một điều gì cả dù ta
gọi khan cả cổ lão cũng mặc không hề động tâm. Phút chốc không thấy lão
sư đâu nữa lão sư lẫn vào mây ngàn gió núi mất tăm mất tích. Ta tần ngần cả buổi
trời đầu óc cứ xoay vần những câu trong bài kệ mà lão sư vừa đọc. Ta không hiểu
gì cả nhưng nhập tâm những câu kệ ấy và nhớ mãi cho đến hôm nay ta mới vỡ vạc
ra hai phần bài kệ. Lúc ấy ta cứ ngẩn người ra vì chữ nghĩa có vẻ ngô nghê
nhưng vì thái độ của lão sư quá trịnh trọng nên ta thấy trong những câu kệ kia
có chứa một huyền cơ mà nhất thời ta không hiểu được. Nhưng có một điều ta luôn
tâm niệm là phải làm theo những câu trong bài kệ đó. Vì vậy ta luôn giơ tay khỏi
trán mỗi khi có dịp và trở thành một thói quen của ta. Chính vì vậy mà ta thoát
chết khi lọt vào bẫy rập của bọn lùn như ta đã kể với các cháu. Đến khi bệnh đã
đỡ ta mới có thì giờ nghiệm ra những điều vi diệu trong những câu ngô nghê của
lão sư. Đến khi gặp hai cháu khi hai cháu xin gọi ta là thầy trong lòng ta rất
lấy làm xúc động nhưng như một ánh chớp những câu kệ của lão sư ngày xưa xuất
hiện trong ta: “không nhận môn sinh/ học trò hai đứa” phải chăng là để chỉ hai
cháu? Thật ra trong vùng này ta muốn tìm một người để làm đệ tử cũng cực khó vì
người Kinh rất ít còn người Lạch có một đời sống văn hoá khác xa cho nên ta
không thể tìm ra một người đủ tố chất để có thể tiếp thu sở học của ta. Ta và
các cháu không có danh nghĩa sư đồ là vì lẽ đó!
Chuyện con dao màu đen ta sẽ kể cho các cháu sau còn bây giờ
ta kể tiếp chuyện đời ta. Ta họ Phan các cháu biết rồi. Cha ta và ông nội cháu
Đại Quá là bạn tâm giao cùng quê nhưng khác thôn. Thuở nhỏ ta cũng được học một
ít chữ thánh hiền (chữ nho) nhưng ta là một đứa trẻ hiếu động nên ta xin cha
cho học nghề võ. Cha ta bèn dẫn ta qua nhà bác Trương Thìn. Lễ bái sư của ta là
một cặp gà trống thiến và một thúng gạo nếp tất nhiên không thể thiếu chai rượu
nút lá chuối khô “vô tửu bất thành lễ” mà! Thật ra bác Thìn không thu nhận học
trò, bác chỉ truyền võ công cho con bác trong nhà nhưng vì nể cha ta nên bác mới
nhận ta làm đồ đệ. Trong thôn Trường Định thuở ấy có một thiếu nữ nhà kế
bên bác Trương chỉ cách một mảnh vườn trồng rau đậu. Mỗi đêm khi ta
và cha cháu rèn luyện võ công cô gái ấy đều ra xem. Cho đến một đêm ta và cha
cháu không diễn lại được một thức rất khó trong Ngọc Trản thần công và bị thầy
quở chúng ta xấu hổ trước vẻ giận của thầy thì người con gái đó từ đầu hè bước
ra và nói với chúng ta:
- Anh Bổn, anh Ẩn để em chỉ cho!
Chúng ta chưa kịp trả lời thì nàng đã múa quyền vun vút, thế
thức đúng là Ngọc Trản rồi. Nàng múa đẹp quá biểu diễn ra một lượt, nàng từ từ
diễn lại để chỉ cho chúng ta tập luyện. Khỏi phải nói chúng ta ngạc nhiên thế
nào đến thầy ta cũng không giấu nỗi vẻ sửng sốt:
- Con nhỏ ai dạy cháu múa quyền?
- Bác Hai (thầy ta thứ hai) cháu thấy đêm đêm bác dạy hai anh
cháu nhớ nằm lòng. Đêm nay thấy bác giận mấy ảnh, cháu tội nghiệp mấy ảnh nên
chỉ vẻ lại thôi mà!
Cô gái đó thật là một người thông minh thầy ta rất hài lòng
vì bài quyền mà cô gái múa, tuy cũng còn khiếm khuyết nhưng ẩn chứa bên
trong là một người có năng khiếu võ công. Ngẫm nghĩ một hồi thầy ta nói:
- Cháu có muốn ta thu cháu làm học trò không?
Từ đêm đó ta và cha cháu Đại Quá có thêm một người em gái
cùng luyện tập võ công. Cả ba chúng ta chơi rất thân với nhau. Lúc đó ở tuổi
thiếu niên, ta và Bổn đều nhường nhịn nàng trong lúc học cũng như lúc chơi đùa.
Đến khi ta và Bổn lớn hơn một chút một hôm ta thấy nàng đẹp quá, ta nhớ nàng
quá đỗi khi nàng theo gia đình qua làng bên dự đám cưới đến một tuần. Ta tưởng
chỉ mình ta tưởng nhớ nàng không ngờ sư đệ của ta cũng nhớ nàng không kém ta, Bổn
hỏi ta:
- Hôm Lâm Phụng đi có nói ngày nào về không anh, sao mà lâu
quá?
Ta bất ngờ trước câu hỏi của Trương Bổn, ta cũng thấy sao Lâm
Phụng đi lâu quá chừng. Thực ra nàng đi chỉ mới có mấy ngày, ta thấy những ngày
không có nàng trôi qua thật là vô vị ta trả lời Trương Bổn:
- Lâm Phụng có nói sẽ đi quá ngày rằm, hôm nay là ngày mười
ba em không biết sao?
Trương Bổn lắc đầu, ta thấy trong mắt Bổn một ánh mắt rất lạ
khiến ta hơi chột dạ. Ta cứ thắc mắc hoài với ánh mắt này và ta ân hận vì đã
nói ra câu đó. Thật ra với người khác câu trả lời của ta thật là bình thường
nhưng rất tiếc Trương Bổn không là người bình thường vì Trương cũng là người
yêu nàng tha thiết. Sau này ta mới biết rằng qua câu trả lời hời hợt của ta,
Trương Bổn nghĩ rằng Lâm Phụng coi ta trọng hơn Bổn. Vậy là vì một thiếu nữ ta
và Trương Bổn đã có một khoảng cách trong lòng nhau. Điều ấy khiến ta ray rức
không nguôi ta thấy như có lỗi với cả thầy ta. Nhưng đôi lúc ta nhận thấy rằng
mình không thể sống thiếu nàng, ta đã từng nghĩ ta sẽ rủ Lâm Phụng cùng ta đi xứ
khác sống để hưởng hạnh phúc bên nhau. Nhưng đến khi thấy ánh mắt say đắm của
sư đệ ta lại không chịu được mặc cảm phạm tội trong lòng. Thầy ta dường như biết
tình ý của hai chúng ta đối với Lâm Phụng đôi khi ta thấy sự lo âu hiện ra nét
mặt của thầy, nhất là mỗi khi hai bác nhìn ta với một cặp mắt khác lạ. Quả thật
Lâm Phụng xứng đáng với những lời khen từ làng trên đến xóm dưới. Nàng thật là
thông minh lanh lợi, ăn nói ứng xử rất vừa lòng mọi người. Nói chung Lâm Phụng
tài sắc vẹn toàn!
Trương Đại Quá nín thở theo dõi câu chuyện liên quan đến cha
mẹ anh. Còn Trương Thái là một người rất ham chuyện lạ, cậu thấy ông Năm ngừng
lời hơi lâu thì nóng ruột hỏi:
- Rồi sao hả bác?
- Sao à, cả ba chúng ta không ai nói với ai nhưng cả ba thầm
hiểu tâm sự của nhau. Theo ý của ta hình như Lâm Phụng có vẻ dành tình cảm của
nàng cho ta nhiều hơn sư đệ. Dầu gì ta cũng lớn hơn Bổn hai tuổi lại cao lớn
hơn. Ta tự nhận biết có nhiều điều nhỉnh hơn Bổn. Ta biết làm thơ, ta từng làm
những bài tứ tuyệt tặng nàng. Ta còn nhiều tài vặt khác nữa và biết cách chiều
Lâm Phụng trong tất cả mọi chuyện. Một hôm cả nhà đi vắng cả, ta vào
phòng của sư đệ tìm một sợi dây Bổn mượn của ta. Ta không tìm thấy dây đâu
nhưng trên chiếc gối của Bổn ta thấy một tờ giấy. Ngạc nhiên ta giở ra
xem. Bên trong là một bức thư tuyệt mệnh mực còn đang ướt. Hết hồn ta vụt
chạy ra đầu xóm nơi ấy có một cây gạo cổ thụ, ta linh cảm có một điều không
lành nào đó. Đúng như ta nghĩ khi ta cách cây gạo khoảng chừng chục trượng,
ta thấy Trương Bổn vừa chui đầu vào thòng lọng. Ta cho tay vào túi lấy ra một
ngọn phi đao và xử ngay chiêu Ngọc Trản phi đao quỷ kiến sầu. Một ánh bạc lóe
lên chiếc dây thừng đứt, Trương Bổn té úp mặt với một sợi dây tòn teng trên cổ!
Ta chạy lại đỡ sư đệ dậy và tát liền hai cái. Cháu Đại Quá, ta làm vậy không phải
là hạ nhục cha cháu đâu mà chỉ để cảnh tỉnh cha cháu trước một bến mê.
Ta quát lớn :
- Bổn, sao em lại làm như vậy? Anh hùng trong thiên hạ không
qua khỏi ải mỹ nhân nhưng trên đời đâu chỉ có tình trai gái? Nếu ai cũng như em
liệu môn phái của ta có tồn tại trên đời này?
Ta nói một lèo cứ như rằng ta nhìn thấu ruột gan Trương Bổn.
Trương Bổn nghệt mặt đứng nghe. Khi ta nói đã nư, Trương Bổn mới trả lời
vỏn vẹn có một câu:
- Đại ca nhưng em không thể sống thiếu Lâm Phụng được!
Ta nhìn Trương Bổn một lúc lâu, Trương Bổn cũng nhìn lại ta bằng
một ánh mắt buồn phiền. Ta thấy trong đó sự van vỉ mối tình si và cả những ước
mơ. Ta vụt hiểu kẻ xứng đáng làm chồng Lâm Phụng chính là Trương Bổn chứ không
phải là ta! Bổn yêu Lâm Phụng bằng tất cả tấm chân tình và Bổn sẽ mang lại cho
Phụng một cuộc sống hạnh phúc. Phát hiện ra điều đó ta đau lắm nhưng đó chính
là sự thật. Ta trầm ngâm một hồi lâu rồi nói:
- Sư đệ có thể sau ngày hôm nay ta và sư đệ sẽ khó có dịp gặp
nhau, chốc nữa thôi ta sẽ lên đường chưa biết sẽ đi đâu nhưng ta chỉ cần
em hứa với ta một điều thôi: đó chính là em phải mang lại hạnh phúc cho Lâm Phụng,
suốt đời em không được cãi lại nàng, sư đệ có hứa không?
Ta nói bằng một giọng trầm trọng và nghiêm nghị, ta nhìn thẳng
vào mắt Bổn. Bổn cũng nhìn lại ta không chớp. Sư đệ ta gật đầu và một giọt nước
mắt lăn ra từ đôi mắt. Ta quay đi và không một lần nhìn trở lại, ta bỏ làng quê
nghèo khổ của ta để lang bạt giang hồ chỉ vì một mối tình. Sau này ta cứ bị dằn
vặt hoài vì chuyện này và tự hỏi rằng ta hành động như vậy là đúng hay là
sai?
Ông già Năm trầm ngâm nhấp một ngụm rượu Linh Chi hình như rượu
làm cho ông già hưng phấn và cũng nhờ đó mà ông mới kể cho hai người tuổi trẻ
nghe chuyện của ông. Trương Đại Quá không ngờ cha mẹ mình và ông Năm lại có những
ẩn tình như vậy. Từ trước đến giờ Quá cứ nghĩ rằng cha mẹ mình sống tự nhiên với
nhau như những cặp vợ chồng khác. Anh đâu ngờ cha mẹ mình lại trải qua những
tình huống ly kỳ như vậy. Còn Trương Thái lại cảm thấy khác. Là một thiếu niên
mới lớn đối với chuyện tình cảm giữa trai và gái Thái cũng có chút tò mò nhưng
những chuyện phiêu lưu mới hấp dẫn Thái. Trương Thái nói:
- Bác Năm sau rồi sao nữa hả bác, bác đi giang hồ như vậy một
mình sao?
Ông già Năm thở dài đánh thượt một cái rồi trả lời:
- Số của ta một đời cô độc cho nên trong những ngày lang
thang khắp chốn cũng chỉ một mình ta với con chó vàng là người bạn chia ngọt sẻ
bùi. Vậy mà bọn quỷ lùn lại nhẫn tâm giết nó, ta căm tức lắm nhưng phải nuốt hận
vào trong bụng để chuyên tâm luyện tâm pháp trục tà khí ra ngoài cơ thể. Bây giờ
tuổi đã xế chiều mọi chuyện đối với ta chỉ như một giấc mộng mà thôi. Hai cháu
ta không kể nữa vì chuyện của ta sắp hết rồi nhưng đây mới chính là điều ta muốn
nói với cháu: ta học trong cuốn kỳ thư này một số điều và ta nhận thấy rằng cuộc
đất nhà Trương sư phụ chỉ có độc đinh (một người con trai). Bằng cách sửa lại
hướng nhà và trồng thêm một ít cây cảnh thì có thể phá được thế này. Ta trở về
quê sau bao năm phiêu bạt chưa kịp đến nhà ta đã gặp một người làng. Ông ta cho
ta biết về cha mẹ ta, về nhà thầy Trương Thìn và nhất là Trương Bổn đã cưới Lâm
Phụng và đã có một đứa con. Không hiểu sao lòng ta đau như cắt. Ta quay đi ngay
cứ y như ông thầy tu quay đi khi chia tay ta dưới chân núi Hồng Lĩnh. Đó là lần
duy nhất ta trở về quê sau lần đó ta theo người ta đến Phan Rang, ở đây ta gặp
mấy người Lạch từ trên núi xuống đổi lâm sản lấy muối, sắt và những vật dụng
khác. Ta theo họ lên đây vậy mà ta đã sống ở đây đã mười mấy năm trời. Đại Quá
này nếu ngày đó ta trở lại quê nhà giúp cho nhà cháu thì biết đâu cháu đã có
em? Nhưng thôi ông trời đã định đoạt cả rồi, ta có oán trách cũng không làm gì
được cả!
Ông Năm ngừng lại gương mặt ông giờ đây đã trở lại vẻ bình thản
thường ngày. Hình như qua những lời tâm sự với anh em Đại Quá ông đã giải toả
được những u ẩn trong lòng. Trương Đại Quá cảm thấy ông già Năm thật là tội
nghiệp, chuyện tình cảm của những người lớp trước anh không có quyền có ý kiến
nhưng anh lại chạnh lòng khi nghĩ đến chuyện của mình với cô Ba. Tiếng gà rừng
eo óc gáy như càng làm tăng lên phần tịch mịch của đêm trường. Ông Năm nói:
- Đi ngủ thôi hai cháu ngày mai ta còn có việc phải làm.
Nói xong ông đứng dậy về phòng của mình. Trương Đại Quá mắt
nhìn về dáng già nua đến tội nghiệp của ông Năm, anh nói với Trương Thái:
- Thái à anh em ta cũng đi ngủ thôi.
Sáng hôm sau Trương Đại Quá và Trương Thái thức dậy cả hai
không thấy ông Năm đâu cả. Trương Thái tìm quanh quẩn hết đi ra ngoài vườn rồi
lại vào trong nhà nhưng vẫn không tìm thấy ông Năm. Trương Thái đi vào nhà bếp
nơi Đại Quá đang nấu một ấm nước để pha trà như thường lệ, Thái hớt hải nói:
- Anh Quá à không biết bác Năm đi đâu mà em tìm khắp nơi
không thấy?
Trương Đại Quá ngạc nhiên hết sức. Ông Năm thường không
đi đâu xa mỗi khi có việc cần trao đổi mua bán với người Lạch ông mới rời khỏi
nhà. Từ khi có Đại Quá và Thái ở trong nhà những việc đó ông đều giao cho anh
em Đại Quá làm ông không để tâm đến. Vậy mà sáng nay ông già đi đâu Đại Quá lo
lắng cho ông già Năm:
- Em đã tìm khắp nơi chưa, bác thường không đi đâu cả mà?
- Em tìm rất kỹ rồi không sót chỗ nào, quái lạ không hiểu bác
đi đâu?
Trương Đại Quá đi lên nhà trên nơi ông Năm thường ngồi uống
trà mỗi sáng. Cây chè trồng trên đất này hình như có vị đậm hơn nơi khác. Bên
hông căn nhà nhỏ ông Năm trồng một hàng chè. Đây là giống chè tuyết ông
đem giống từ miền Bắc xa xôi vào trồng, ông Năm thường ngắt đọt sao khô và pha
mỗi sáng một ấm trà. Cái thú này ông không bỏ được ông thường nói với anh em họ
Trương:
- Các con phải nhớ uống trà mỗi sáng giống như ta uống một liều
thuốc ngăn ngừa bệnh tật. Người Tàu họ phát hiện ra điều này cách đây đã trên bốn
ngàn năm!
Vậy mà sáng nay không thấy ông Năm uống trà như thường lệ.
Trương Đại Quá bồn chồn lo lắng trong lòng. Hai anh em nhìn nhau và ngồi xuống
ghế làm bằng những thân cây. Lúc đó Trương Thái thấy chân mình ngứa ngáy hình
như một con bọ chét đốt, Thái cúi xuống gãi chân bỗng nhiên cậu la lên:
- Quá đại ca hình như bác Năm viết thư cho chúng ta?
Trương Thái nhặt từ dưới đất lên một tờ giấy. Thì ra ông Năm
viết thư cho anh em họ Trương và bị gió thổi bay xuống đất. Trương Thái đưa bức
thư cho Trương Đại Quá, bức thư được viết trên loại giấy dó màu xám. Trương Đại
Quá nghiêm mặt đọc thư, trong thư ông Năm dặn hai anh em cứ đi tìm dược thảo
trong xứ người lùn nhưng phải cực kỳ cẩn thận. Những gì là sở học ông Năm đã chỉ
dạy hết cho hai người nhưng khi vận dụng trong thực tế cần phải thật là tinh tế,
không thành kiến thì mới tỏ hết tinh thần của đạo Dịch. Ông dặn sau này khi đã
tìm ra dược thảo hai người nhớ ghé lại thăm ông nếu còn duyên thì sẽ còn
gặp nhau. Phần ông, ông rời nhà đi theo một nhóm người Lạch xuống Phan Rang có
thể ông sẽ trở lại thăm quê sau bao năm xa cách.
Đọc xong bức thư Trương Đại Quá nói với người em:
- Như vậy là bác Năm không muốn bịn rịn chia tay bọn ta,
Trương Thái anh em ta cũng đi thôi. Bác đã chuẩn bị lương thực và những vật dụng
cần thiết cho anh em ta như trong thư bác dặn.
Xuống nhà bếp quả nhiên ông Năm đã sắp sẳn hai cái gùi to
trong đó chứa lương thực và một ít vật dụng như trong thư ông nói. Trương Thái
mang một ít khoai lang mà tối qua cậu luộc ra mời Trương Đại Quá ăn, Thái hỏi
anh:
- Quá đại ca bây giờ anh tính sao?
Trầm ngâm một chút Trương Đại Quá trả lời:
- Thái à người quân tử đã nói ra thì cứ như đinh đóng cột, ta
đã hứa với em đi tìm dược thảo để thầy em luyện thuốc, ta chắc chắn phải làm đến
nơi đến chốn. Nhưng ta cũng từng hứa với ông Tư sẽ tìm cho ra sừng tê giác để về
cưới cô Ba làm vợ. Vậy trong lúc đi tìm nơi ở của người loắc choắc, em giúp ta
tìm ra ngọn núi có tên là Ngọc Linh để tìm ra Lão Khùng có được chăng? Thái à
ta có một số điểm hồ nghi trong lòng đang định sáng nay hỏi bác Năm không
ngờ bác đã đi mất nên ta chưa biết tính sao?
Trương Thái nhìn Trương Đại Quá cười, nụ cười hơi tinh quái
và thần bí:
- Quá đại ca anh định hỏi điều gì?
- Từ lâu ta muốn hỏi bác Năm về lão khùng núi Ngọc Linh nhưng
không dám. Đêm qua bác Năm có hứa sẽ kể cho bọn ta nghe về con dao cùn nhưng cực
kỳ sắc bén ta cứ đinh ninh mình sẽ có duyên tìm được lão nhân Khùng và có
được con dao này để đi tìm sừng tê. Ngờ đâu sáng nay bác Năm đi mất ta ân hận
vì chưa kịp hỏi nhưng chuyện đã rồi chẳng biết tính làm sao?
Trương Thái hỏi Trương Đại Quá vẫn với một nụ cười bí mật:
- Vậy Quá đại ca có muốn biết không?
Trương Đại Quá lộ vẻ ngạc nhiên:
- Em biết thật sao, sao lâu nay em không kể ta nghe?
Trương Thái nói:
- Quá đại ca chuyện này em mong anh thứ lỗi, em định kể với
anh nghe lâu rồi nhưng em muốn chúng ta toàn tâm toàn ý học tập những kỳ môn của
bác Năm. Em ngại nói ra anh sẽ bắt em dẫn đi tìm ngay lão nhân Khùng để mong
tìm sừng tê giác mà bỏ qua cơ hội học tập. Đây chính là lý do em không kể cho đại
ca nghe về sư môn của em. Quá đại ca thiên hạ thật là có nhiều chuyện ngẫu
nhiên, khi mới gặp anh em đã nhận thấy rồi nhưng chưa tiện nói: lão nhân Khùng ở
núi Ngọc Linh chính là sư tổ của em. Núi Ngọc Linh ở cách đây rất xa, sư tổ em
là một người kỳ dị, ông có hai học trò là sư phụ em và bác Năm nhưng cả hai
không ở với ông được vì tính tình thất thường của sư tổ. Chính bác Năm cũng bị ảnh
hưởng tính khí kỳ quái của sư tổ còn sư phụ em lại là một người ham chơi. Không
phải em nói xấu sư phụ đâu nhưng sự thật là thế. Những chuyện của sư tổ
em đều nghe sư phụ kể lại thật ra em cũng chưa từng gặp mặt sư tổ một lần nào!
Trương Đại Quá nghe Trương Thái kể chuyện anh mới nhận
thấy trong lần kể chuyện trước, ông Năm dùng từ “sư tổ ngươi” có hàm ý là hai
người cùng một sư môn nhưng anh không để ý. Bây giờ nghe Thái kể lại anh
mới hoàn toàn hiểu hết.
- Thái à anh cảm ơn em đã có lòng tốt với anh.
Hoá ông lão Khùng núi Ngọc Linh là sư tổ em vậy không hiểu bác Năm nhập môn từ
lúc nào?
- Chuyện này em thật không biết Quá đại ca à. Khi bắt đầu có
trí nhớ em đã biết bác Năm, bác thường qua nhà sư phụ em ở chơi và sư phụ em
chưa bao giờ nhắc chuyện bác Năm nhập môn từ lúc nào. Quá đại ca chuyện của tiền
nhân em không tiện tìm hiểu, sư phụ có cho biết chút nào thì em hay chút nấy
thôi. Bây giờ anh tính sao?
Trương Đại Quá trầm ngâm nghĩ ngợi một hồi rồi nói:
- Ta phải giúp em trước. Theo lời bác Năm dặn, anh em ta phải
lên đường ngay trong ngày hôm nay. Ta tính vầy: anh em ta trở lại chỗ ở
ngày trước của bác Năm thử tìm manh mối bọn người loắc choắc xem sao?
Trương Thái reo lên:
- Anh nói hay quá chúng ta cứ gọi bọn lùn là người loắc choắc
là hợp lắm rồi. Bây giờ ta đi Quá đại ca chỗ ở trước kia của bác Năm chính là
dưới chân núi Bi Đúp, cách chỗ này độ một ngày đường.
Sáng hôm ấy là một sáng mùa hè, mặt trời tỏa những tia nắng
gay gắt xuống muôn vật dù chỉ mới giờ thìn. Trương Đại Quá và Trương Thái lưng
mang gùi nhắm hướng núi Bi Đúp mà đi. Buổi trưa hai người ngồi nghỉ mát dưới một
gốc thông già mọc ven bờ suối. Trong khi chờ Thái nấu cơm trưa, Trương Đại Quá
ngắm nhìn phong cảnh xinh tươi mà lòng cảm khái. Anh nói với Thái:
- Thái à hôm nay anh em ta ngồi nghỉ trưa dưới một gốc thông
già y như cách đây trên một năm chúng ta từng ngồi nghỉ trước khi đến nhà bác
Năm. Ta thật áy náy trong lòng trước khi chia tay chúng ta không gặp được bác,
quả là có lỗi. Trong lòng ta lúc nào cũng coi bác như một người thầy, cho dù
bác không chịu nhận danh nghĩa đó.
- Em cũng thấy như anh vậy Quá đại ca ơi. Trước kia bác Năm
khó gần lắm, em nghĩ cũng nhờ đại ca nên bác mới dễ dàng như vậy. Thôi mời anh
ăn cơm, nghỉ một chút anh em ta lại lên đường.
Buổi chiều anh em nhà họ Trương đi đến một cánh rừng thưa.
Lúc đó mặt trời vẫn chói chang nhưng đi trong cánh rừng này thật là mát mẻ.
Trương Thái vừa đi vừa hát những giai điệu véo von không biết cậu học ở
đâu nhưng Trương Đại Quá nghe rất say sưa. Đang hát bỗng nhiên Trương Thái ngừng
ngang, cậu nói:
- Anh Đại Quá ra khỏi cánh rừng này là ta đã ở dưới
chân núi Bi Đúp rồi. Vùng này quả là quá rộng không biết ngày trước bác Năm ở
chỗ nào?
Trương Đại Quá cũng không biết phải tìm chỗ trú ngụ ngày trước
của ông Năm bắt đầu từ chỗ nào. Hai người cứ loanh quanh dưới chân núi cho đến
khi mặt trời bắt đầu nhạt nắng. Với gương mặt không vui Trương Đại Quá nói:
- Thôi đêm nay chúng nghỉ dưới chân núi này vậy mai lại lùng
sục tiếp, em thấy sao?
- Cũng đành chịu vậy thôi Quá đại ca ơi. Chuyện anh em
chúng ta đi tìm dược thảo thầy em từng nói là không dễ dàng gì. Không biết lâu
nay thầy em ở đâu, em nhớ thầy quá!
Trương Đại Quá gợi chuyện:
- Lâu nay ta nghe em nói đi tìm dược thảo ta cũng chỉ biết vậy
nhưng nay ta hỏi thật em loại dược thảo nào em đi tìm mà quý giá như vậy và tại
sao nó chỉ mọc ở xứ người loắc choắc?
- Đó là một loại sâm. Anh Đại Quá anh có nhớ hôm trước
em đãi anh món giò heo hầm thuốc bắc anh ăn có ngon không?
Trương Đại Quá lấy làm ngạc nhiên, anh đang hỏi Thái về dược
thảo Thái lại trả lời một món ăn nhưng anh cũng đáp:
- Ngon lắm chớ sao không nhưng em hỏi như vậy là có ý gì?
- Trong món ăn đó thay vì nhân sâm em cho củ sâm núi
vào, mùi vị nó thật là giống nhau chỉ những người có học qua dược tính mới mong
phân biệt được. Củ sâm núi đó trên vùng cao nguyên này không phải là thứ hiếm
nhưng chuyện củ sâm núi đại vương ngàn năm lại là chuyện khác! Thầy em nói rằng
củ sâm này cực kỳ quý hiếm, nó là dược liệu chính để chế nên loại thuốc có công
dụng cải tử hoàn sanh. Thầy em đã sưu tầm được chín mươi chín vị rồi chỉ
cần có thêm một củ sâm núi ngàn năm tuổi là có thể luyện được loại thuốc này.
Tương truyền củ sâm có tuổi ngàn năm mọc ở những nơi không ai ngờ tới. Chỉ
những người có phúc phận mới có duyên tìm được loại dược thảo quý hiếm này.
Cách đây năm năm thầy em trong một lần gặp gỡ một người Thượng ông ta cho biết
rằng ở chung quanh núi Langbiang ông ta đã từng trông thấy một cây sâm
núi như thầy em mô tả nhưng nó lại mọc trong vùng của những người lùn cai quản.
Ông ta không nói thêm điều gì cả ngoài thái độ tỏ ra lo sợ khi nhắc lại
chuyện này. Quá đại ca đừng cho là ông già người Thượng đơm đặt chuyện, em sống
ở vùng này em biết rằng người Thượng rất thật không bao giờ nói dối một điều
gì. Thầy trò em cũng đã đi khắp vùng này nhưng chưa phát hiện ra nơi nào có cây
sâm núi và vương quốc của những người lùn. Thầy em giao lại nhiệm vụ này cho em
nhưng cũng như thầy, em không tìm ra một dấu vết nào của củ sâm đại vương cả. Vậy
mà trong đêm đầu tiên quen biết Quá đại ca anh đã trông thấy một người lùn, điều
này khiến em liên tưởng đến nhiệm vụ tìm sâm đại vương. Em nghĩ rằng qua tao ngộ
trong đêm ấy tất anh có “duyên” với những người loắc choắc như anh nói, vậy biết
đâu nhờ phúc khí của anh em hoàn thành nhiệm vụ thầy giao. Quá đại ca tâm sự của
em là như vậy, bây giờ anh rõ rồi anh có còn ý định giúp em nữa không?
- Em đánh giá ta hơi thấp đó Thái à, ta đã hứa giúp em là
giúp đến nơi đến chốn em cứ tin như vậy đi. Nhưng ta cũng chẳng có tài gì hơn người
cho lắm, ta chỉ sợ làm em thất vọng thôi?
- Không đâu Quá đại ca ơi em tin là anh sẽ giúp em tìm được củ
sâm đại vương biết đâu nhờ đó mà chúng ta có thể cứu nhiều người bệnh? Mà thôi
chuyện này dông dài lắm chúng ta chỉ mới bắt đầu những ngày thực thi nhiệm vụ.
Ngủ đi Quá đại ca, em thức canh cho đại ca ngủ.
- Em sao chóng quên quá có đêm nào ta ngủ trước khi hành công
đâu?
Trương Thái cười lỏn lẻn:
- Là vì em thương đại ca thức đêm sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe
chứ em có quên đâu?
Trương Đại Quá nghiêm nét mặt:
- Thái à trong sinh hoạt hàng ngày ta lúc nào cũng phải chiến
thắng bản thân, không vì tận hưởng một chút khoái lạc mà bỏ qua chuyện luyện
công. Có như vậy võ công mới ngày càng tinh tiến, thân thể cường tráng bách bệnh
không thể xâm nhập vào. Đó là tâm pháp nhập môn của phái Ngọc Trản chúng ta!
Sáng hôm sau hai người tiếp tục quần thảo khắp nơi dưới chân
núi Bi Đúp nhưng không tìm ra một chút manh mối nào. Cây chè mà ông già Năm đến
đâu cũng mang giống theo để trồng cũng không tìm thấy. Có lẽ những trận cháy rừng
đã thui rụi mấy cây chè xanh, Trương Thái nghĩ thầm như vậy. Cậu tuy không nghiện
trà như ông Năm nhưng qua những ngày hầu trà sư phụ cậu cũng biết giá trị
của trà trong việc bảo vệ sức khỏe của con người. Vì vậy khi nhớ đến những cây
chè xanh, Trương Thái ước chi giờ này có một ít lá chè hảm một ấm chè xanh thì
quả là sảng khoái. Lúc ấy trời nắng gắt trên trời mây đen bắt đầu hình
thành ở phía đông. Với một cặp mắt của những người hay ra ngoài hoang dã,
Trương Thái biết rằng chỉ chậm lắm là trưa nay khoảng qua giờ ngọ thể nào
cũng có một trận mưa to. Nghĩ như vậy nên cậu nói với Trương Đại Quá:
- Quá đại ca ơi ta tìm ngay một chỗ trú nếu chậm chân sẽ
gặp một trận mưa rừng thì bất lợi vô cùng!
Trương Đại Quá cũng nhìn trời. Anh tỏ vẻ lo lắng và đồng ý với
nhận xét của Thái. Hai người vừa đi vừa quan sát địa hình chung quanh. Dòng suối
dưới chân đồi vẫn hiền hòa uốn lượn quanh những lùm lau sậy. Tiếng róc rách
nghe vui tai hình như thiên nhiên cố làm ra vẻ êm đềm của nhằm đánh lừa
những sinh vật còn non kinh nghiệm. Nhưng thật ra chỉ chút nữa thôi, khi mưa rừng
nặng hạt dòng suối đang hiền hòa sẽ trở thành cuồng bạo, nước sẽ cuốn trôi tất
cả những gì nó gặp trên đường đi. Trương Đại Quá và Trương Thái biết rất rõ điều
này nên hai anh em họ rất khẩn trương tìm một chỗ an toàn. Mây đen ở phương
đông kéo đến mỗi lúc một nhiều, bầu trời trở nên đen kịt. Trời bắt đầu mưa. Những
hạt mưa to bằng hạt đậu rơi lộp bộp xuống cánh rừng, thoáng chốc khung cảnh
chung quanh đều chìm đắm trong trận mưa rừng.
Đúng lúc đó anh em nhà họ Trương nhìn thấy một hang núi. Họ
chui ngay vào hang vừa kịp những hạt mưa đã biến thành một thảm nước rơi xuống
từ trời. Bên trong hang núi tối đen như mực nhưng lại khô ráo vô cùng. Cẩn
thận Trương Đại Quá vơ một nắm lá khô và châm lửa đốt. Ánh sáng bừng lên xóa
tan bóng tối soi rõ lòng hang sâu thăm thẳm. Hai anh em đưa mắt nhìn nhau cả
hai đều có một linh cảm rằng đây có lẽ là cái hang mà ngày xưa bác Năm đã thám
hiểm một lần? Nhưng ngọn lửa không giữ được lâu, nó tắt phụt khiến lòng hang tối
trở lại. Trương Thái nói :
- Để em tìm xem có chút củi khô nào không?
Dưới lòng hang khô ráo, ngoài đống lá khô không có một cành
cây nào có thể dùng làm đuốc được. Trương Thái thất vọng:
- Không có củi rồi Quá đại ca à, ta phải đợi tạnh mưa thôi.
Trương Đại Quá không trả lời, anh cho tay vào chiếc túi mang
trong người và lấy ra một vật. Ánh sáng yếu ớt bừng lên. Trương Thái reo lên:
- Cái gì mà phát ra ánh sáng vậy đại ca?
Trương Đại Quá đưa vật mà anh vừa lấy ra rồi nói với Trương
Thái:
- Em cầm thử xem: đây là viên ngọc rắn mà ta đã có dịp kể cho
em nghe. Ngoài chuyện có thể trừ tà khử độc viên ngọc này có thể phát ra ánh
sáng trong đêm. Tuy không sáng lắm nhưng dầu sao cũng có thể thay được
chút ánh sáng ban ngày. Thái à em cùng ta vào thử trong lòng hang xem
sao?
Hai người lần dò từng bước vào bên trong lòng hang. Phải lom
khom một đoạn độ hai chục trượng Trương Đại Quá và Trương Thái mới có thể đứng
thẳng được. Ánh sáng phát ra từ viên ngọc rắn tuy rất yếu ớt nhưng vẫn đủ cho họ
thấy được chung quanh trong vòng nửa trượng vuông. Cứ như vậy
Trương Đại Quá và Trương Thái đi dần vào trong. Tận cùng lòng hang là một
bức tường bằng đá không có một khe hở nào cho dù họ săm soi rất kỹ. Trương Thái
thất vọng:
- Quá đại ca khi thấy cái hang này ăn sâu vào trong, em cứ ngỡ
đó là cái hang mà bác Năm đã dò ra và xâm nhập vào nước loắc choắc nhưng
xem ra cái hang này không phải cái mình tìm.
Trương Đại Quá trả lời:
- Ta lại không nghĩ như vậy, ta tin đây là con đường mà mấy
năm trước bác Năm đã đi nhưng vì con đường này bị lộ nên bọn lùn đã lấp đi. Em
xem chung quanh chỗ đất còn văng tung tóe như vậy đâu có phải tự nhiên?
Trương Thái gật gật đầu:
- Anh nói có lý hay là ta thử đào xem có thông vào xứ loắc
choắc không?
- Ta lại tính khác, ta không biết bọn chúng lấp một đoạn hang
dài bao nhiêu, cho nên ta không đủ sức đào đâu. Tốt nhất ta nên leo lên đỉnh
núi này thử xem dưới chân nó có phải là chỗ ta cần tìm không?
Hai người ra khỏi hang. Lúc này trời vẫn còn mưa nhưng không
còn nặng hạt như lúc đầu. Hai anh em bàn bạc nhau một hồi, họ nhận thấy rằng
đây là một chỗ trú chân tuyệt vời nên cả hai quyết định ngủ qua đêm trong hang
này. Trương Thái nói:
- Quá đại ca hang núi này là dấu vết đầu tiên mà anh em ta
tìm thấy, em muốn đặt tên cái hang này là Hy Vọng được chăng?
Trương Đại Quá cả cười:
- Hay đó nhưng mà Thái hy vọng điều gì?
- Em hy vọng nhiều lắm. Trước hết hy vọng anh sẽ tìm được sừng
tê để cưới chị Ba làm vợ, sau nữa em hy vọng anh ở lại trên này luôn không về
quê nữa, và cuối cùng là anh sẽ có một bầy con!
Trương Đại Quá ngạc nhiên:
- Vậy chớ em không hy vọng em sẽ đạt được một điều gì sao?
- Em mong cho anh trước còn em không biết ngoài củ sâm
đại vương em hy vọng đạt được điều gì?
- Thái à con người ta sống ở đời phải có nhiều ước mơ, điều
đó tuổi trẻ ai cũng có như vậy cuộc sống mới không tẻ nhạt, mới đáng sống.
Ta trước kia cũng như em vậy. Ta sống cứ tự nhiên như đói thì ăn, khát thì uống,
không nghĩ một điều gì cả nhưng khi đã lang bạt giang hồ ta thấy rằng cuộc đời
này còn nhiều người khổ lắm. Vì vậy khi nào giúp ai được một điều gì, cho
dù mang lại cho họ một niềm vui nho nhỏ cũng là điều nên làm. Khi lên cao
nguyên này ta cứ nghĩ rằng mình chỉ ráng tìm hai chiếc sừng tê giác rồi sẽ trở
về quê sau đó sẽ lập gia đình. Nhưng trải qua một thời gian ta nhận ra một điều
đó là ở trên này ta thật sự tự do. Đất cao nguyên này tiếng là của người Lạch
nhưng rộng mênh mông nếu ta lập nghiệp ở đây thật là hay quá. Trên này không có
những ông bá hộ, không có những ông quan mà ruộng đất đều là của họ còn đa số
dân quê là những tá điền, làm thuê cực khổ suốt đời. Ta chưa biết tương lai ra
sao nhưng qua những hy vọng của em, ta rất cảm kích Thái à. Ta sẽ cố gắng
chừng nào hay chừng nấy!
Trương Thái reo lên:
- Ở lại đi Quá đại ca… không có anh em buồn lắm!
Đêm đó trôi qua trong yên tỉnh, hai người ăn tạm một chút cơm
vắt mà bửa trưa Trương Thái đã nắm sẳn. Sáng hôm sau chờ cho sương mù tan hẳn,
hai anh em nhà họ Trương leo lên đỉnh núi Bi Đúp. Càng lên cao không khí càng
mát lạnh. Vạch những lùm trúc rừng mọc ken dầy trên triền núi, Trương Thái nói
với Trương Đại Quá:
- Quá đại ca anh có nghĩ những người loắc choắc cũng leo lên
ngọn Bi Đúp này như chúng ta không?
- Ta chưa nắm được một điều gì về họ ngoài những điều bác Năm
kể và những huyền thoại trong các bộ tộc người Lạch như em nghe lại cho nên ta
cũng không biết họ có đi bằng đường này không? Thái à chừng nào ta tận mắt chứng
kiến những người loắc choắc trong lãnh địa của họ ta mới biết họ ra sao.
Hơn một canh giờ sau hai người lên tới đỉnh. Nhìn từ trên cao
vùng đất dưới chân núi Bi Đúp là những cánh rừng bất tận. Một màu xanh của
cây, cỏ, đất, trời là màu duy nhất họ thấy được trong vùng đất dưới chân núi
này. Không một dấu hiệu nào chứng tỏ vùng đất này có người ở dù đó là những người
lùn. Hai người hy vọng nhìn thấy một làn khói tỏa nhưng không gian trong
vắt của cao nguyên làm hai người thất vọng. Câu đố về người loắc choắc vẫn
chưa có lời giải đáp!
Chương 4: Cuộc gặp gỡ định mệnh
Hai tuần trăng trôi qua kể từ ngày hai anh em họ Trương leo
lên đỉnh núi Bi Đúp, Trương Đại Quá và Trương Thái đã dò khắp chân núi nhưng vẫn
không tìm ra xứ sở của người loắc choắc. Lương thực cạn kiệt họ săn bắt hái lượm
để sống qua ngày. Cũng may muôn thú dưới chân núi Langbiang và Bi Đúp khá nhiều
với tài thiện xạ của Trương Thái cái ăn không là điều khó kiếm. Người Lạch
lại không ăn thịt nai cho nên con vật này trở thành thức ăn của anh em họ. Tuy
vậy họ không phải là những người lạm sát, Trương Đại Quá thường nói với Trương
Thái:
- Vạn vật sinh ra là để phục vụ con người, con người là chúa
tể của muôn vật nhưng dù sao muôn vật cũng là sinh linh cũng ham sống sợ chết.
Vì vậy chỉ khi thật cần thiết chúng ta mới săn bắn để có cái ăn em không nên lạm
sát. Như vậy mới sống hợp với đạo lý của tự nhiên.
Tuy không hiểu lắm nhưng Trương Thái cũng vâng lời người anh.
Cậu không ham giết chóc nhưng ăn thịt cá hoài cũng xót ruột nên Trương
Thái thường chế biến thêm món rau rừng để thay đổi bữa. Món rau mà Trương Đại
Quá thích nhất là món canh lá bép nấu với tấm và đọt mây rừng. Đây là một món
ăn hàng ngày của người Mạ mà thầy cậu truyền lại cho cậu. Quả thật món rau rừng
này rất ngọt nếu có vài con cá suối nấu thêm vào thì món canh rất đậm đà.
Trương Thái sống trong thiên nhiên hoang dã rất vô tư hình như cậu là một phần
tử của núi rừng, cây cỏ. Một hôm Trương Thái nói với Trương Đại Quá:
- Quá đại ca em thấy mấy hôm nay anh ăn chẳng ngon miệng có lẽ
anh đã thèm cơm rồi phải không? Hay là anh em ta vào một bon của người Lạch xin
đổi chút gạo anh thấy thế nào?
Trương Đại Quá ngạc nhiên:
- Em có gì để đổi, ta lang thang trên cao nguyên này cũng gọi
là lâu ta nghĩ khi túng bấn ta xin gì thì người Lạch cũng giúp thôi nhưng em lại
muốn trao đổi là ý làm sao?
Trương Thái cười bí hiểm:
- Quá đại ca cứ theo em, em không muốn xin gạo của người Lạch
em chỉ muốn trao đổi thôi!
Hai người đi theo một con đường mòn rời khỏi chân núi Bi Đúp,
trên đường đi hai anh em có tâm trạng khác nhau. Với Trương Thái ở đâu
cũng vậy cậu là một phần của núi rừng Langbiang, cậu rất vui khi có thêm
một người anh kết nghĩa cậu mong hai anh em cứ sống với nhau thì cậu mãn nguyện
lắm rồi. Còn Trương Đại Quá trong những tao ngộ anh gặp thời gian qua,
anh thấy rằng mục đích của đời mình rất khó đạt được. Anh là một người trọng chữ
tín như thầy anh thường dạy cho nên khi đã hứa với Trương Thái chừng nào
tìm ra linh dược cho Thái anh mới yên tâm đi tìm sừng tê giác cho mình. Cho đến
lúc này Trương Đại Quá vẫn chưa có một tia sáng nào trong việc tìm chiếc sừng
tê ngoài mẩu chuyện Trương Thái nghe lóm từ sư phụ. Nhưng Đại Quá vẫn hy vọng với
nỗ lực của mình mục đích đời anh sẽ đạt được. Anh sẽ lấy cô Ba làm vợ, anh sẽ
đi tìm một vùng đất khác tỷ như cao nguyên Langbiang để chung sống hạnh phúc
bên cô Ba. Trong sâu thẳm tâm hồn Trương Đại Quá thấy cuộc sống như vậy thì tầm
thường quá nhưng làm gì để có một cuộc sống khác thì Trương không biết.
Với hai tâm trạng khác nhau anh em nhà họ Trương đi xa
chân núi Bi Đúp. Xa xa một làn khói tỏa trong cảnh chiều hôm Trương Thái hớn hở
nói:
- Quá đại ca có lẽ chúng ta sắp đến một bon của người Lạch rồi.
Tối nay chúng ta sẽ ngủ ở đây thôi.
Đúng như Trương Thái nói một lát sau hai anh em trông
thấy một dẫy nhà dài. Từng làn khói tỏa ra trong dẫy nhà đó như vậy là dân làng
đang nấu cơm chiều. Nghĩ đến từ cơm Trương Đại Quá thấy bụng mình sôi lên, quả
là đã từ lâu hai anh em anh chưa có hột cơm nào trong bụng. Là một người tiết dục
Trương Đại Quá không bao giờ để lộ việc thèm khát một thứ gì ra ngoài mặt nhưng
chiều nay một cơn gió thoảng qua mang mùi cơm đang chín tới đến mũi anh khiến
anh nhớ vô cùng những chiều quê mà anh đã xa lâu lắm rồi. Quê hương là một lời
réo gọi đến héo hắt cả ruột gan!
Đang chần chừ trước cửa thì một người đàn ông đứng tuổi xuất
hiện trước chiếc thang được đẽo bằng một thân cây rừng. Thấy ông già Trương Đại
Quá cung kính vòng tay lại và tiến lên một bước, anh chào:
- Chào bác chúng cháu là kẻ lỡ độ đường, chúng cháu xin tá
túc ở bon ta đêm nay được không?
Ông già nhìn hai anh em:
- Chàng trai hai người từ đâu đến, muốn ngủ ở bon ta đêm nay
à. Được thôi mời vào!
Ông già nói tiếng Kinh bằng một âm điệu hơi cứng, Trương Đại
Quá hơi ngạc nhiên khi gặp một người thạo tiếng Kinh ở một bon nhỏ bé và hẻo
lánh này. Hai anh em theo ông già vào nhà bên trong có khoảng hai chục bếp đang
đỏ lửa, mùi cơm từ các bếp bốc ra thơm nức mũi. Ông già mời hai người ngồi xuống
nhà rồi nói:
- Hai chàng trai ta tên là K’Rè là già làng ở bon Cây Ngo đỏ
này, còn hai người là ai sao lại đến bon ta?
Trương Đại Quá trả lời:
- Thưa với già làng cháu tên là Trương Đại Quá còn em cháu
tên là Trương Thái, hai anh em chúng cháu đang đi tìm cây thuốc để sư phụ em
Thái chế thuốc cứu người. Mấy hôm nay hết cả lương thực chúng cháu xin với già
làng cho chúng cháu được tá túc qua đêm nay.
Trương Đại Quá định nói thêm nữa nhưng Trương Thái đã cướp lời:
- Chúng cháu không để già làng thiệt đâu cháu xin đổi vật này
lấy gạo được không?
Nói xong Trương Thái cho tay vào bọc và lấy ra một bụm nhỏ hạt
cườm có màu đỏ và xanh lạ mắt. Những hạt cườm đó chỉ nhỏ bằng một nửa hạt bắp
và có một lỗ nhỏ ở giữa có lẽ dùng để xâu lại với nhau. Trương Đại Quá ngạc
nhiên hết sức anh không biết Trương Thái có những vật này. Còn ông K’Rè tỏ ra
thích thú với món quà của Trương Thái, ông cầm từng hạt lên và ngắm nghía thật
kỹ. Một lúc lâu ông già nói:
- Được lắm ta chịu đổi!
Nói xong ông già quay qua nói với một người thanh niên đang
xì xào vì những hạt màu xanh đỏ vui mắt của Trương Thái. Trương Đại
Quá không biết ông K’Rè nói gì nhưng vẻ hài lòng hiện rõ lên mặt mấy chàng
trai. Ông K’Rè quay qua nhìn anh em họ Trương:
- Đêm nay hai anh em ngủ lại bon ta sáng mai ta sẽ lấy
gạo cho, còn vật này để con Ka Thiếu bắt chồng.
Nói xong ông già ra hiệu cho một người thiếu nữ mang cơm đến
và mời hai anh em ăn. Cơm gạo rẫy thật là ngon tuy thức ăn không có gì chỉ vài
cọng rau rừng nấu lên mà Thái gọi là canh. Muối là một thứ cực hiếm ở đây chỉ
những người bệnh mới được ăn muối, bon Cây Ngo đỏ chưa đi đến xứ sở của những
người Chăm Pa nơi có những ngọn tháp huyền bí để đổi lâm sản lấy muối và
sắt được. Ông già K’ Rè cho anh em Đại Quá biết như vậy. Nghe ông K’Rè kể
Trương Đại Quá cảm thấy thương những người Lạch thiếu thốn những thứ tối cần
thiết cho đời sống thường ngày. Anh hỏi:
- Vậy dân làng ta phải ăn lạt à?
Ông K’Rè chậm rãi nói:
- Không đâu ta đốt cỏ tranh lấy tro ăn thay muối mà!
Thì ra là như vậy người ta có thể dùng tro tranh để ăn thay
muối. Trương Đại Quá lấy làm ngạc nhiên khi khám phá ra điều này. Anh sống một
thời gian cũng gọi là dài trên cao nguyên nhưng hôm nay mới biết chuyện
này, quả là đi một ngày đàng học một sàng khôn như ông bà thường nói. Còn
Trương Thái cậu sống trên cao nguyên này và chưa bao giờ đi xa những cánh rừng
những trái đồi tròn và những con suối suốt ngày đêm cứ róc rách chảy nên cậu
không ngạc nhiên một chút nào. Cậu biết chuyện tro tranh có thể ăn thay muối
cũng như người ta có thể tước một thứ vỏ cây I e để dệt nên quần áo. Thái hỏi
ông K’Rè:
- Vậy chừng nào bon ta đi đổi sản vật lấy muối hả bác?
- Ta cũng tính tới mùa trăng sau khi tuốt lúa xong là sẽ lên
đường thôi.
Bây giờ là giữa mùa mưa, Thái nhẩm tính như vậy có lẽ khoảng
ba tuần trăng nữa là bon Cây Ngo đỏ lên đường đi đổi muối. Thái nói:
- Vậy ta đem theo vật gì để đổi?
Ông K’Rè nhìn vào bếp lửa đang cháy, ánh lửa rọi khuôn mặt khắc
khổ của ông lung linh trên bức vách được đan bằng những tấm liếp tre ông chậm
rãi nói:
- Ta biết có một thứ mà người Kinh rất thích, loại cây đó có
trên xứ sở của chúng ta. Mùi nó rất thơm khi ta đốt lên mà thơm rất lâu. Người
Kinh gọi nó là trầm hương các cháu có biết không?
Đang ngồi Trương Thái nhảy dựng lên:
- Bác có không bác K’Rè, bác đổi cho cháu một ít được
không? Bác muốn đổi thứ gì cũng được cả!
Ông K’Rè thản nhiên trả lời:
- Ta không có!
Trương Thái thất vọng:
- Vậy mà bác định đem trầm hương đi đổi lấy muối mang về!
- Đúng vậy ta định đem đổi trầm hương lấy muối mang về để cho
lũ làng khỏi lạt cái miệng, người già không run cái chân, ngươi trẻ không còn
thắc mắc hỏi ta chừng nào đi đổi cái muối mang về cho bon Cây Ngo đỏ!
Trương Thái hỏi:
- Vậy chứ bác lấy thứ của hiếm đó ở đâu?
Cậu nhìn ông K’ Rè với một cặp mắt chế giểu, một nụ cười tinh
quái lấp lánh trong cặp mắt màu nâu sáng lấp lánh trên gương mặt thông minh
sáng láng. Ông già K’Rè vẫn điềm nhiên như không nhìn thấy thái độ của Thái,
ông trả lời:
- Ở đâu à ta cũng không biết!
Thật là hết chỗ nói Trương Thái nghĩ thầm trong bụng, cậu cho
rằng ông già người Lạch này có lẽ bị điên nên cậu thôi không nghĩ nhiều đến trầm
hương nữa. Nhưng trong đêm rừng vắng lặng Trương Thái không tài ngủ được với những
ý nghĩ rối rắm trong đầu. Cũng vì hai tiếng trầm hương mà ông già Lạch nói hồi
chiều. Thầy cậu thường dạy trầm hương là một dược liệu quý hiếm nó là một vị
thuốc không thể thiếu được trong một số bài thuốc cổ phương. Thầy thường dặn rằng
trong những ngày dong ruỗi đó đây cậu phải chú ý đến loại thuốc này và
tìm cách đem về cho thầy một ít khi có dịp. Cho nên khi nghe ông K’Rè nói đến
trầm hương Trương Thái nhảy dựng lên là vậy.
Tiếng gà rừng eo óc gáy hơi sương xâm nhập vào cánh cửa
khép hờ bếp lửa vẫn còn âm ỉ cháy, một làn khói mỏng manh bốc lên khiến Thái bất
giác thấy lạnh và hơi nhớ nhà. Cậu xa nhà đã từ lâu không biết sư phụ đã
về chưa kể từ buổi sáng hôm ấy lúc cậu bước ra khỏi cánh cửa để tiến về núi
Langbiang thì thầy của Thái cũng đã sớm xa nhà hai mùa trăng trước. Cậu không
biết cha mẹ mình là ai nên luôn coi thầy là người thân duy nhất. Thầy vừa là
cha, vừa là mẹ và đôi khi thầy còn là người bạn lớn tuổi của Thái. Tuy ham chơi
và được thầy chiều chuộng từ thuở nhỏ nhưng không vì vậy mà cậu không ham học hỏi.
Sư phụ là một người chuyên trị bệnh cứu người ông có nhiều bí phương mà ông học
được từ những ngày lang bạt giang hồ. Nhưng tính ông không ở yên một chỗ được
nên hễ ở không một thời gian là ông tìm cớ để ra đi. Thái cũng vậy, Thái nghe
trong thiên hạ có chuyện gì lạ là không thể nào chịu được cậu phải tìm hiểu cho
thật rõ mới thôi. Chiều nay ông K’Rè nói đến trầm hương tuy trong lời nói cậu
có ý chế giễu ông già nhưng bên trong Thái lờ mờ nhận thấy đây là một chuyện
nghiêm túc chứ không phải là một chuyện mua vui. Trầm hương, hai tiếng đó như
thôi thúc Thái tìm cho ra đáp số để thỏa trí tò mò. Không chỉ là tò mò trầm
hương còn là một loại dược liệu quý giá mà thầy thường nhắc nhở và căn dặn phải
đem về cho thầy khi có dịp.
Trong khi Trương Thái đang nhớ nhà, nhớ thầy thì bên kia bếp
lửa Trương Đại Quá cũng như Trương Thái anh trăn trở và không ngủ được.
Lâu nay hai anh em ngủ ngoài hoang sơn nay lại được ngủ bên bếp lửa ấm cúng
trong căn nhà sàn anh lại thao thức nhớ nhà. Nỗi nhờ cứ âm ỉ trong lòng Trương
Đại Quá chỉ chực nửa đêm là vùng dậy, trong đó hình ảnh cô Ba chiếm hết tâm trí
của Trương. Mục tiêu của cuộc đời tuy đã định xong nhưng trong lúc thao thức
như vầy Trương có cảm giác đời mình thiêu thiếu một điều gì đó. Trương Đại Quá
cứ tự chất vấn mình nhưng câu trả lời hầu như còn bỏ ngõ.
Mọi người trong dẫy nhà dài lục tục thức dậy. Hai anh em
Trương Thái cũng dậy với mọi người. Biếng nhác là một thói xấu đối với những
người sống gần gũi với thiên nhiên và lệ thuộc vào thiên nhiên để có cái ăn cái
mặc. Trương Thái biết rất rõ điều này nên Thái bao giờ cũng dậy sớm. Còn Trương
Đại Quá là con nhà võ nên trong sinh hoạt hàng ngày, Trương vẫn giữ được thói
quen đi một bài quyền trong sương sớm. Vừa xong thức cuối cùng ông K’Rè bước đến
bên anh:
- Ta đã lấy cho hai gùi gạo rồi đấy các cháu vào nhà ăn sáng
đã.
Hai túi nhỏ được đan bằng những sợi lát đựng đầy cơm nóng hổi.
Không một chút khách khí Trương Thái ăn ngon lành món cơm điểm tâm sáng. Cậu lấy
chiếc ống tre đựng muối và nhón một hột cho vào miệng. Vị mặn của muối khiến
cho cơm ngon hơn rất nhiều. Ông K’ Rè nhìn anh em Trương ăn cơm ông không nói
gì chỉ trầm ngâm nhìn vào đống lửa giờ chỉ còn là một đống than đỏ đang tàn với
một sợi khó mỏng manh. Đang ăn thấy ông K’Rè như vậy Trương Đại Quá chợt nhớ
chuyện đói muối của bon Cây Ngo đỏ, anh nói:
- Cháu có lỗi với già làng quá mời bác dùng cơm với muối, muối
anh em cháu cũng còn một ít đây!
Ông K’Rè nhìn hai anh em với cặp mắt cảm động:
- Các cháu mời ta thì ta cảm ơn lắm ta xin các cháu một ít muối
nhưng ta chỉ để dành muối này cho những người bệnh thôi mà!
Nói xong ông cẩn thận lấy một chiếc lá khô màu xam xám gói chỗ
muối mà Trương Thái vừa dốc ra khỏi chiếc ống tre và không giấu diếm vẻ thèm
thuồng trên gương mặt nhăn nheo. Thấy vậy Trương Đại Quá nói:
- Bác cứ ăn đi cháu sẽ chia một nửa số muối của anh em cháu
cho bon làng.
- Chàng trai tốt quá ta thay mặt bon Cây Ngo đỏ cảm ơn
chàng trai nhưng ta đã nói: muối này chỉ dành cho người bệnh thôi mà!
Ngừng một chút như để suy nghĩ kỹ ông nói tiếp:
- Ta muốn mời hai cháu đi cùng lũ làng lấy trầm hương các
cháu có đi không?
Trương Thái lại nhảy dựng lên:
- Sao hồi hôm bác nói không biết chỗ có trầm hương mà?
- Ta không biết mà nhưng cha của cha ta thì biết!
Trương Thái la lên:
- Vậy mà bây giờ bác mới nói, tụi cháu sẵn sàng đi tìm trầm
hương với bác. Vậy chừng nào chúng ta đi hả bác?
- Ta nói rồi khoảng ba tuần trăng nữa ta sẽ lên đường đổi trầm
hương lấy muối và sắt của người Kinh. Vậy bây giờ ta đi tìm trầm hương chỗ cha
của cha ta chỉ. Các chàng trai ngày mai lên đường được chăng?
Trương Thái nhẩy cởn lên vui sướng. Cậu bao giờ cũng khát
khao khám phá những chuyện lạ trong thiên hạ. Mà trong thiên hạ chuyện lạ không
bao giờ cạn, cho nên Trương Thái rồi sẽ cả đời lang bạt giang hồ như thầy cậu
thôi.
Đoàn người đi tìm trầm hương của bon Cây Ngo đỏ lên đường.
Ngoài ông già K’Rè còn có hai người thanh niên mạnh khỏe, một người tên là
K’Sa, một người tên là K’Quang. Họ là hai anh em ruột khoảng trên dưới hai mươi
tuổi. K’Sa là anh, anh mang theo một cây ná làm vũ khí phòng thân và cũng là để
săn thú làm thức ăn cho cả đoàn. Còn K’Quang cầm trên tay một cây xà gạc, nước
thép lấp lánh chứng tỏ nó sắc bén phi thường. Quả vậy Trương Thái khi nhìn thấy
cây xà gạc cậu hỏi mượn K’Quang và chặt thử vào một thân cây ven đường, thân
cây cở bắp chân Thái bị tiện ngọt sớt và đổ xuống làm một con chim hốt hoảng
bay lên. Thấy vậy Trương Thái la lên:
- Anh Quang cây xà gạc của anh bén quá, hôm nào anh rèn cho
em một cây nghen?
- Có sắt là được thôi mà!
K’Quang cười nhe hàm răng trắng trên khuôn mặt đen đúa vì nắng
cháy, Trương Thái thấy vậy cũng cười theo khiến không khí trong đoàn trở
nên vui vẻ. Mặt trời vừa mọc, ánh nắng ban mai xua tan sương mù vương vất trên
những cành cây, bụi cỏ. Còn dưới thung sâu sương mù đậm đặc một màu trắng đục
khiến khung cảnh nơi đây trở nên huyền ảo. Đi đầu là ông K’Rè với một chiếc khố
quấn quanh hạ bộ, ông già trông cứ như một bức tượng đồng hun. Chiếc gùi trên
lưng ông đựng lương thực và một ít vật dụng khác không làm cho ông khó chịu.
Hình như nó là một phần cuộc sống của những người Lạch như ông. Với chiếc xà gạc
trên tay, ông già vừa đi vừa phát những bụi cây, lùm cỏ mọc ven đường. Thấy ông
K’Rè cứ cặm cụi đi mải Trương Thái gợi chuyện:
- Già làng ơi ta đi đến chỗ nào hả bác?
- Ta đến dòng sông K’Rông Nô thôi mà.
- Từ chỗ này đến sông K’Rông Nô có xa không hả bác?
- Một ngày đi năm, sáu cái xà gạc khi nào trăng tròn thì tới
thôi!
Trương Thái nhẩm trong đầu. Bây giờ là cuối tháng trăng chỉ
là một lưỡi liềm mỏng, vị chi khoảng 15 ngày sẽ tới nơi. Tính như vậy nên cậu hỏi
tiếp:
- Vậy là khoảng mười lăm ngày sẽ tới sông K’Rông Nô nhưng một
cái xà gạc là sao hả bác?
- Là để cái xà gạc trên vai chừng nào mỏi quá thì đổi qua vai
khác thôi mà!
Trương Thái nhẩm tính và la lên:
- Như vậy là mất một canh giờ rồi. Một ngày ta đi năm, sáu cây
xà gạc vị chi là mất đến năm, sáu canh giờ hết nửa ngày!
Trương Đại Quá góp chuyện:
- Em tính đúng đó Thái à chúng ta phải đi khoảng nửa tháng trời
sẽ đến sông K’Rông Nô, dòng sông này ta đã từng ghé qua rồi.
Vừa đi Trương Thái vừa nói:
- Lâu nay em không bao giờ tính toán về thời gian cả cứ mặc
cho nó trôi thôi. Hết buổi sáng thì sẽ đến buổi trưa, hết trưa sẽ đến chiều…đó
là chuyện của ông Trời!
- Không được em phải tính chớ. Mọi người đều có quỹ thời gian
của riêng mình, em phải sử dụng quỹ này sao cho lợi nhất. Nhưng thôi em còn nhỏ
lắm, ta sẽ chỉ dạy em dần từng bước một.
Hai anh em nói chuyện với nhau còn ba người Lạch thì im lặng
hình như câu chuyện của anh em họ Trương không ăn nhập gì đến họ cả hoặc
giả họ không quan tâm đến những khái niệm như “thời gian”, “đời người”…mà
Trương Đại Quá nói với Trương Thái. Quả đúng như vậy đang đi, K’Sa bỗng dừng
lại và kéo căng dây ná. “Phụt”… mũi tên xé gió lao đi, tiếng một con min (một
giống bò rừng) trúng thương kêu lên thảm thiết làm khuấy động cả không gian
im ắng nãy giờ.
Trương Thái reo lên:
- Anh Sa hay quá vậy là trưa nay ta có món thịt min ăn rồi.
Cậu hăm hở chạy lại chỗ con thú săn được. Nó đã chết, một
dòng máu đỏ đang chảy ra ướt đẫm bãi cỏ xanh. Đó là một con min còn non có lẽ
chỉ trên một tuổi nhưng đã lớn bằng một con bò trưởng thành. Mũi tên xuyên đúng
vào tim con vật nên nó chết ngay khi trúng thương. Trương Thái tỏ ra vui sướng
vì con mồi săn được còn ba người Lạch thì vẫn thản nhiên như không, họ không lộ
vẻ gì là vui mừng một chút nào! Trương Thái nhìn con vật một cách tiếc rẻ:
- Chà con min này to quá làm sao ta mang đi cho hết?
Ông già K’Rè không nói gì, ông dặn K’Sa và K’Quang làm thịt
con vật và hú lên ba hồi dài. Âm thanh của tiếng hú được ngọn núi trước mặt đồng
vọng lại vang mải một hồi lâu mới hết. Khoảng một canh giờ sau khi Trương Thái
đã nướng xong món bò rừng với lá lốt mọc hoang bên bờ suối. Khi nồi cơm của hai
anh em đã chín tới thì tiếng người trò chuyện với nhau đã râm ran trước thung
lũng dẫn vào chỗ năm người đi tìm trầm hương. Đó là một đoàn người toàn là đàn
bà và trẻ con, họ vui vẻ tiến vào chỗ con min giờ này đã được chia thành từng tảng
thịt. Hóa ra những người đi tìm trầm chưa đi xa khỏi cánh rừng mà những người
đàn bà và trẻ con bon Cây Ngo đỏ thường đi hái nấm và rau rừng nên ông K’Rè hú
gọi bọn họ đến mang con thịt về cho lũ làng ăn.
Ông K’Rè trầm ngâm bên tẩu thuốc được làm bằng một loại tre
lên nước vàng óng, ông nhìn đám trẻ con vui vẻ bên tảng thịt tươi roi rói với một
ánh mắt chan chứa yêu thương. Trương Thái mau miệng:
- Chỗ thịt này đủ cho bon Cây Ngo đỏ ăn vài ngày, dân làng
thường làm món gì hả bác?
- Nướng hoặc luộc thôi nhưng mà thiếu cái muối ta phải
chấm với tro tranh!
Mặt trời trên đỉnh đầu nhóm người chia hai sau khi ăn
trưa xong. Nhìn mấy đứa trẻ con đen nhẻm ăn ngon lành món bò nướng lá lốt
với mấy nắm cơm, Trương Đại Quá biết rằng bọn trẻ đã từ lâu chưa được ăn
ngon như vậy, anh nói với ông K’Rè khi nhóm đàn bà và trẻ con bon Cây Ngo đỏ
khuất sau bụi cây rừng:
- Ta phải cố tìm ra trầm hương để đổi muối cho dân làng, nhìn
bọn trẻ đói muối tội quá!
Ông K’Rè không trả lời, hình như ông đang nghĩ một điều gì
đó. Ánh mắt ông trở nên xa xăm, ông tiến lên phía trước với những bước chân vững
chắc.
Buổi chiều đoàn người đi tìm trầm hương vượt qua những quả đồi
tròn. Rừng thông với những chiếc lá nhọn chỉa lên trời, màu xanh của lá ánh lên
trong nắng vàng trong tiếng suối reo quả là một khung cảnh tuyệt mỹ. Vùng đất
này thanh bình quá, Trương Đại Quá vừa đi vừa nghĩ như vậy. Quê anh cũng có rừng,
trong rừng những loài thảo mộc mọc xen với gai góc luôn là những trở ngại cho
những người đi rừng. Còn ở đây anh không hề thấy một loại cây gai nào cả. Ấy vậy
mà hiểm nguy lại đến từ phía khác. Đang đi Trương Thái ngừng lại và nói:
- Hình như có tiếng người đang rên. Quá đại ca, anh có nghe
không?
Trương Đại Quá lắng nghe. Quả thật có tiếng người đang rên rỉ,
Đại Quá xăm xăm tiến về phía dòng suối dưới chân đồi. Một người đàn ông đang nửa
nằm nửa ngồi, đầu dựa vào thân một cây thông. Trương Thái chạy vội đến bên người
lạ, cậu hỏi :
- Sao bác lại nằm đây?
Người đàn ông đang nhắm mắt nghe tiếng nói của Thái, người lạ
nhướng mắt một tia vui mừng lộ ra, ông ta chỉ phều phào:
- Rắn!
Nghe tiếng “rắn” Trương Thái hốt hoảng lùi lại một bước nhưng
cậu vụt hiểu và vén ngay quần của người đàn ông. Nhìn bắp chân sưng vù tím bầm,
Trương Thái lo lắng nói:
- Quá đại ca anh nhìn xem có phải với lỗ răng như vầy
có phải là rắn lục không anh?
Trương Đại Quá ngồi xuống và quan sát. Nhìn vết thương và chỗ
bị cắn Trương Đại Quá đồng ý với nhận định của Trương Thái: đúng là loại rắn lục!
Tuy đây không phải là loại rắn cực độc nhưng nếu không cứu kịp thì cũng rất
nguy hiểm. Chưa biết phải làm gì anh đang tần ngần thì Thái đã săm soi chung
quanh:
- Em tìm chút dược liệu anh coi chăm sóc giúp người ta!
Nói xong cậu chạy vào cánh rừng trước mặt và mất hút vào
trong đó. Nhìn vết thương và nghe tiếng rên của người lạ, Trương Đại Quá sực nhớ
đến viên ngọc của ông già bán quán tặng cho. Tuy ông già chỉ nói rằng viên ngọc
rắn này chỉ trừ tà khí khi đi vào vùng nước độc anh chưa sử dụng lần nào, khi
thấy chân người đàn ông càng lúc càng tím bầm, Trương Đại Quá lấy viên ngọc rắn
ra với một chút hy vọng trong lòng. Anh đặt viên ngọc rắn lên chỗ vết thương rồi
nói:
- Bác ráng nằm im.
Trương Đại Quá hồi hộp nhìn viên ngọc. Màu ngọc vẫn sáng như
bình thường. Người đàn ông bị nạn đang cố nén tiếng rên nhưng vẻ đau đớn
vẫn hiện rõ trên khuôn mặt khắc khổ của ông ta. Trương lo lắng hỏi:
- Bác đau lắm phải không?
Hỏi xong, Trương thấy mình thật là ngớ ngẩn, bị rắn cắn thì
đau lắm chứ còn gì nữa. Anh chỉ hy vọng một lát nữa Thái về sẽ có biện pháp cứu
người này còn anh thì có lẽ đã hết cách rồi. Nghĩ như vậy nên Trương nhìn đăm
đăm vào cánh rừng mà Thái vừa chạy vào. Không biết Trương Thái tìm loại dược liệu
gì mà sao lâu quá không thấy cậu ra? Trương sốt ruột quá đỗi, anh đi tới đi lui
vẻ nôn nóng hiện rõ trên nét mặt. Chưa lần nào Trương Đại Quá nôn nóng như vậy.
Anh thầm trách người em sao không mau mau cứu người, kiểu nay không biết có cứu
kịp người này không nữa?
Nãy giờ Trương Đại Quá quên mất người đàn ông, khi sực nhớ
anh quay lại thì người lạ đang ngủ, vẻ đau đớn biến mất trên gương mặt ông ta!
Trương ngạc nhiên anh vén quần người đàn ông và nhìn vào vết cắn cái chân
tím bầm hồi nãy giờ không còn nữa, thật là kỳ diệu! Trương Đại Quá sung sướng với
kỳ tích vừa xảy ra: viên ngọc rắn đã hút nọc độc ra khỏi vết thương, quả
đây là báu vật mà ông già Tư đã cho anh.
Khi Trương Đại Quá còn đang kể với ba người Thượng về viên ngọc
rắn, Trương Thái trở về với một nắm cây cỏ trên tay. Thấy người đàn ông bị rắn
cắn đang ngủ yên Thái ngạc nhiên hỏi:
- Quá đại ca anh cứu người bằng cách nào mà hay quá vậy?
Trương Đại Quá kể lại chuyện viên ngọc rắn cho Thái nghe,
Thái nói:
- Vậy là anh có bảo vật rồi chỗ thuốc này không cần dùng nữa.
Nói xong cậu vứt ngay nắm cây thuốc trên tay xuống đất
và gọi người bị nạn dậy:
- Bác ơi bác thấy trong người ra sao rồi?
Người đàn ông lấy tay dụi mắt:
- Ơ sao chân ta hết đau rồi, cám ơn các cháu đã cứu ta, các
cháu tài quá!
Nói xong người đàn ông đứng lên một cách bình thường như chưa
hề bị rắn cắn bao giờ, nét mặt ông ta chưa tan hết vẻ ngạc nhiên. Ông ta nhìn
Trương Đại Quá và nói:
- Ta họ Võ tên là Vô Thường hôm nay ta được các cháu
cháu cứu nạn, ta đội ơn các cháu vô cùng, các cháu có thể cho ta biết tên được
không?
Trương Đại Quá chưa kịp trả lời thì Trương Thái nói:
- Bác ơi bốn biển đều là người một nhà, bác nhớ làm gì
chuyện vặt vãnh đó. Đây là anh cháu họ Trương tên Đại Quá, còn cháu
tên Thái. Ba người Lạch này là già làng K’Rè, anh K’Quang và anh K’Sa. Còn bác
vì sao bác đi vào vùng này và bị rắn cắn vậy?
- Ta là người xứ Quảng Nam vào Phan Rang tìm việc làm,
tại đây ta được mộ vào làm bếp phụ nấu ăn cho một ông quan người Tây lên
vùng đất này khảo sát. Đoàn khảo sát của ông quan Tây đóng dưới chân núi xanh
kia. Hôm qua ta theo dấu con nai rừng và lạc mất đoàn, sáng nay ta định đi tìm
về đoàn nhưng tới đây thì bị rắn cắn. May mà mạng ta lớn chứ không thì
chưa biết chừng hồn ta giờ này đã lên đường du địa phủ rồi?
Tay ông Vô Thường chỉ về phía núi Langbiang, nơi mà đoàn người
của Trương Đại Quá vừa rời xa. Thấy vậy Trương Thái nói liền:
- Bọn cháu cũng từ chân núi Langbiang đi ngang qua đây, bác cứ
theo hường bắc là sẽ gặp đoàn của bác. Quái lạ sao chúng cháu không gặp đoàn
người của bác cà?
Thắc mắc của Thái cũng chính là thắc mắc của Trương Đại Quá
còn ba người Thượng chẳng lộ vẻ gì ngoài mặt, hình như những người này coi sự
hiện diện của ông Võ Vô Thường cũng tự nhiên như gặp con nai, con thỏ trong rừng.
Ông Vô Thường chắp hai tay lại xá anh em Đại Quá và ba người
Thượng, ông nói lời cảm ơn một lần nữa và nhắm hướng núi Langbiang mà đi. Chẳng
mấy chốc bóng ông mất hút vào mênh mông cây rừng xanh thẫm.
Đoàn người đi tìm trầm hương cũng tiếp tục lên đường. Hai anh
em nhà họ Trương đã bắt đầu quen với vẻ im lặng của ba người Thượng, họ nói
chuyện với nhau mặc cho ba người Thượng lặng lẽ đi bên cạnh.
Mười mấy ngày sau đoàn người đi tìm trầm hương đến dòng
sông K’Rông Nô. Đó là một dòng sông hẹp, nước chảy khá xiết tạo nên những âm
thanh vang vọng cánh rừng già hai bên bờ.
Chương 5: Lạc mất nhau
Mùa nắng bắt đầu ở cao nguyên cỏ cây xanh một màu bất tận.
Màu xanh và nắng vàng tràn ngập không gian mênh mông những gió. Cơn gió ban mai
mang hơi lạnh đánh thức anh em Trương Đại Quá dậy. Đêm qua anh em nhà họ
Trương thức hơi khuya để nghe ông K’Rè kể chuyện ông nội ông đã nhìn thấy cây
trầm dó như thế nào. Ông K’Rè là một người nói ít nhưng từng lời của ông gần
như cô đọng những ý tưởng của một con người sống gần với thiên nhiên. Cả đêm
ông già ngồi khơi bếp lửa, miệng ngậm tẩu thuốc thỉnh thoảng phà ra một làn
khói khét lẹt của loại thuốc lá tự trồng.
Qua chuyện kể của ông K’Rè anh em nhà họ Trương mới biết rằng
ông nội của ông K’Rè đã tìm thấy một cây dó cổ thụ, có lẽ cây dó này đã sống
ngàn năm tuổi và trong thân cây ẩn chứa một lượng lớn trầm hương. Gốc và rể cây
là nơi kết tụ của kỳ nam, phần tinh túy nhất của cây dó. Ông K’Rẻo, ông nội của
ông K’Rè đã vô tình tìm thấy cây dó cổ thụ này và đã gom hết số trầm
hương và kỳ nam vô giá đó. Ông K’Rẻo không sử dụng ngay số dược liệu này, ông
biết giá trị của nó và cất vào một nơi bí mật để chờ lúc cần thiết thì mang ra
dùng. Đến bây giờ Trương Thái mới biết thêm một tính cách của người Thượng: đó
là tấm lòng họ khoáng đạt vô cùng. Mọi của cải vật chất người Thượng chỉ chú ý
đến công dụng mà thôi, ngoài ra họ không bao giờ có tấm lòng tham lam mưu cầu lợi
ích cá nhân. Chính vì vậy mà trải qua bao nhiêu năm số trầm kỳ
trong cánh rừng đại ngàn bên cạnh dòng K’Rông Nô vẫn còn đó để chờ những người
con của bon Cây Ngo đỏ tìm về và mang đi đổi …muối. Nhưng tìm ra chỗ cất giữ trầm
kỳ sau mấy chục năm trời thông qua lời kể của ông nội ông K’Rè quả là không dễ
dàng gì.
Mặt trời vừa nhô lên đoàn người tìm trầm men theo dòng
sông đi dần về phía hạ lưu, hôm nay họ lên đường rất sớm khi sương mù còn lãng
đãng phủ kín vạn vật. Theo lời ông K’Rè họ cần phải tìm ra một cây thông
có một nhánh lớn bằng thân cây. Đó chính là dấu hiệu để nhận diện: nhánh cây chỉa
về hướng nào hướng đó chính là hướng kho báu nằm dưới một tàng cổ thụ với khoảng
cách…một cái xà gạc. Không biết trải qua bao nhiêu là năm tháng cây thông đó có
còn không? Đây chính là điều anh em nhà họ Trương băn khoăn nhất. Còn những
người Lạch họ vẫn bình thường với nét mặt vô tư. Nếu cây thông không còn vì một
lý do nào đó chuyến đi của những người tìm trầm xem như thất bại. Trương Thái
lo lắng vô cùng vừa đi cậu vừa ngắm cảnh vật dọc hai bên đường, cậu ngóng tìm một
cây thông có một nhánh to bằng thân cây như truyền thuyết ông K’Rè kể. Nhưng
vùng này là loại rừng hỗn giao ngoài loài thông ta còn tìm thấy nơi đây những
loài cây khác. Cây lá rộng với những phiến lá to như cố vươn lên trời xanh bất
tận để đón lấy ánh nắng mặt trời đang hào phóng tỏa xuống thế gian những quầng
sáng vàng màu mật. Trời bắt đầu oi bức những con ruồi vàng bay theo quấy rầy mọi
người khiến Trương Thái cảm thấy khó chịu. Trương Thái không theo đoàn
người tìm trầm nữa, cậu tách ra và đi về phía dòng sông. Thái muốn rửa mặt mũi
để xua đi mệt nhọc. Dòng sông K’Rông Nô vẫn vô tư hát ca khúc của mình bằng những
âm điệu lúc du dương lúc trầm lúc bỗng. Thái vốc một bụm nước vã lên mặt mình.
Mát quá cậu thầm nghĩ như vậy. Dòng sông trong xanh bóng mấy con cá sông thấp
thoáng dưới một gộp đá khiến Thái nhớ ngay đến sợi dây câu. Mắt Thái sáng lên
đã hơn một tuần rồi Thái chưa được ăn một bữa cá nào cả. Đơn giản vì đoàn người
tìm trầm vẫn còn ở đất săn của người Lạch. Muôn thú nhiều vô kể với tài thiện xạ
của K’Quang và K’Sa, cả đoàn không lo thiếu thức ăn. Vì vậy Thái cũng không phải
trỗ tài câu cá và săn thú nữa. Nhưng sáng nay thấy mấy con cá tràu sông đang nhả
từng chuỗi dài bọt nước khiến Thái thèm món canh cá tràu nấu với me rừng quá chừng.
Quả thật món này rất ngon, nhất là trong thời tiết nóng bức như hiện nay mà có
được một bát canh chua cá tràu thì phải biết. Trương Thái thường nấu canh chua
bằng một loại me đất để cho thầy giã rượu nhưng ở trong rừng loại rau này không
có. Trương Thái nhìn quanh mắt cậu sáng lên khi nhìn thấy một bụi lá giang mọc
ven bờ sông. Vậy là được rồi, cậu nghĩ ta chỉ cần câu được cá là có món canh
chua cho mọi người giải nhiệt. Từ món canh chua cá tràu Thái nhớ đến nhiều món
ăn khác mà thầy đã dạy cho Thái cách chế biến. Thật đáng tiếc Thái không còn một
chút nước mắm để có thể chế biến món rắn băm nhuyễn rồi nhồi vào bộ da đã “làm
lông” sạch sẽ sau đó đem hấp và chiên. Chỉ có rắn hổ hành mới cho nhiều thịt để
làm nên món rắn mà thầy rất thích. Thái đã ăn nhiều loại rắn khác nhau nhưng rắn
hổ là ngon nhất. Có lẽ do loài này lớn tướng nên nhiều thịt chăng? Có lần Thái
đã bắt được một con hổ chúa nặng dễ đến trên mười cân. Cậu cho máu rắn và
túi mật vào hủ rượu của thầy. Còn bộ lòng Thái xào lên với một ít hành lá
làm món nhắm cho thầy nhắm rượu. Nhìn gương mặt thầy ra vẻ hài lòng khi nhắm rượu
và xem cậu chế biến thức ăn Thái thấy vui vui. Cậu “làm lông” con hổ chúa thật
sạch và nhồi món thịt rắn đã được băm kỹ và ướp cẩn thận vào bộ da con rắn. Nhất
thiết phải có chút nước mắm thì mới dậy mùi. Thầy cậu nói như vậy. Ngoài ra còn
phải có hạt tiêu, hành hương, xả và một chút rượu trắng. Thứ gì chứ rượu là thứ
mà thầy cậu không thể thiếu được. Hàng năm sau khi thu hoạch xong vụ lúa đồi
bao giờ thầy cậu cũng dành một phần gạo để cất rượu. Thật lạ dòng suối
trước nhà hai thầy trò bao giờ cũng cho ra những mẻ rượu ngon nhất. Thầy cậu đặt
tên là Hoàng hoa tửu. Không biết vì sao mà thầy lại đặt tên như vậy. Thung lũng
hai thầy trò ở vào cuối mùa mưa hoa quỳ nở vàng ối không gian còn ngoài
ra chẳng có một loại hoa vàng nào cả. Không lý lại lấy tên loại hoa quỳ có sắc
vàng kia để đặt tên cho một loại rượu mà thầy ưng ý? Nhưng cái tên hoàng
hoa tửu ăn sâu vào trí nhớ của cậu mỗi khi rót cho thầy một chén rượu sủi tăm.
Cái tăm nhỏ xíu sủi lên từ đáy một vật có thể chứa nước và nhìn thấu suốt bên
trong mà một hôm cậu tình cờ nhặt được trong rừng. Cậu lấy làm lạ với vật thể
này, từ trước đến giớ cậu chỉ thấy toàn là vò, hủ bằng đất nung chứ chưa bao giờ
thấy một vật chứa được nước như vậy. Cậu hăm hở đem vật lạ về khoe thầy. Trái với
sự chờ đợi của Thái, thầy cậu trầm ngâm và gương mặt ông đăm chiêu khi nhìn thấy
vật lạ. Một hồi lâu ông mới nói:
- Con tìm thấy cái này trong rừng à? Đây là cái chai thủy
tinh của người Phú Lãng Sa từ nay đất này không yên được nữa rồi!
Thái không biết chai thủy tinh là gì cả, cậu không dám hỏi nữa
khi thấy thầy không vui nhưng cái chai lạ cậu nhặt được là một nỗi ám ảnh trong
cậu. Cậu phải tìm cho ra tại sao thầy cậu lại đăm chiêu khi nhìn thấy một vật
kì bí và đẹp đẽ mà cậu coi như một báu vật? Quả thật Thái thích cái chai này lắm.
Nó trong veo khi cậu đong đầy rượu, cậu khẻ lắc một cái một chuỗi tăm từ đáy
chai bay lên trông đẹp mắt vô cùng. Chưa bao giờ cậu trông thấy một vật tương tự
như vậy. Cậu mang cái chai vào bếp và dùng đựng rượu cho thầy. Những lúc rảnh rỗi,
Thái thường ngồi bất động bên cái chai và ngắm say sưa. Cái chai có một dòng loằng
ngoằng nỗi cộm lên bên dưới đáy. Đó là gì cậu không biết. Và không có ai trả lời
những thắc mắc cho cậu cả. Còn thầy cậu hình như không mấy thích thú khi nhìn
thấy nó.
Mải nghĩ ngợi sợi dây câu căng ra lúc nào không biết. Thái thắc
thỏm mừng thầm: như vậy trưa nay đoàn người đi tìm trầm hương sẽ có một bữa
cá sông rồi. Từ nhỏ Trương Thái đã là một tay sát cá nên khi câu trên dòng
K’Rông Nô cậu nghĩ rằng mình sẽ bắt được một vài chú cá to. Có như vậy mới đủ
cho cả đoàn năm người ăn chứ vài con cá nhép thì bỏ bèn gì? Thái bậm môi và giật
mạnh chiếc cần. Hình như là một chú cá to Thái nghĩ thầm như vậy.
Quả thật một chú cá lăng dễ trên mười cân đang ra sức vùng vẫy để thoát khỏi lưỡi
câu oan nghiệt. Nhưng dưới bàn tay khéo léo của Thái con cá tuyệt vọng vẫy vùng
và chịu chết để cho cậu bắt lên bờ nửa canh giờ sau. Thái phát ngay ra những
món ngon khi lôi con cá ra khỏi lưỡi câu. Cái đầu và khúc mình cá dứt khoát là
phải nấu canh chua. Còn thân cá muốn cho gọn Thái sẽ ướp muối ớt và nướng trên
lửa than của loại dẻ khô có rất nhiều trong rừng. Loài cây này có tên là
loại dẻ cau bởi nó rất là rắn chắc vì có những mắt gỗ xoắn hình quả cau. Khi
còn tươi loài cây này rất dễ chẻ nhưng khi đã khô rồi nó cứng cứ
như là một loại thiết mộc vậy. Than của loại dẻ này rất đượm chính điều này khiến
cho món cá nướng chín từ từ, nhờ đó hương vị cá càng ngọt ngào hơn.
Trước đây khi cậu làm món cá nướng bao giờ thầy cậu
cũng uống vài chén rượu. Thái không được phép uống rượu nhưng nhìn thầy vừa
nhâm nhi chén rượu vừa nhắm cá nướng và kể cho cậu nghe vô vàn những chuyện
hay, chuyện lạ trong thiên hạ. Nhờ vậy vốn kiến thức của Thái ngày càng được
nâng lên. Tuy sống ở vùng rừng xanh núi đỏ nhưng chuyện thiên hạ Thái cũng am
hiểu ít nhiều qua những bữa rượu của thầy. Chính vì ham học hỏi nên Thái hay
tìm những món ngon vật lạ làm mồi nhắm rượu cho thầy. Thật lạ hình như
Trương Thái có năng khiếu nấu ăn trời cho, cậu sáng chế ra những món ăn mà
không cần ai chỉ vẻ. Nhưng chúng lại rất ngon ít nhất thầy cậu nói như vậy.
Bây giờ câu được con cá to, Thái thích thú khi nghĩ đến những
gương mặt dãn ra của mọi người khi ăn món cậu nấu. Thái hú lên một tràng dài
đúng cách mà K’Quang dạy cho cậu khi cần tìm người ở trong rừng. Âm thanh đồng
vọng từ cánh rừng trước mặt dội lại một hồi lâu nhưng Thái vẫn không nhận được
tín hiệu hồi âm. Thái bắt đầu lo lắng không hiểu điều gì xảy ra cho nhóm người
tìm trầm kỳ? Thái tiếp tục hú thêm một tràng dài nữa nhưng ngoài tiếng đồng vọng
của mình không gian bao la huyền bí của rừng núi cao nguyên vẫn im lìm không một
chút tăm hơi. Sốt ruột Trương Thái quay về lối cũ chỗ lúc nãy cậu tách đoàn vẫn
còn dấu vết. Men theo đó Trương Thái vừa đi vừa quan sát. Một con đường nho nhỏ
mà đoàn người của Trương Đại Quá để lại dẫn Thái đến một gốc thông. Thái
ngước lên bất giác cậu reo lên:
- Đây rồi!
Đúng là cây thông mà đoàn người cần tìm. Một nhánh
thông to đúng bằng thân cây chỉa về hướng tây như một dấu hiệu giúp Thái tìm đến
những người thân. Hăm hở cậu đi men theo một triền đồi và nhắm về phía một cánh
rừng trước mặt. Khi mặt trời gay gắt phả những tia nắng nóng xuống mặt đất,
Trương Thái đến một con suối nhỏ. Bên kia bờ suối là một cây cổ thụ có tàng rộng
phủ kín một quả đồi con. Trương Thái lội suối mắt hướng vào cây cổ thụ.
Không biết có phải là cây cổ thụ chứa đựng một lượng trầm kỳ quý giá mà ông
K’Rè đã nói? Đoàn người tìm trầm kỳ đã đến đây chưa? Biết bao câu hỏi nẩy sinh
trong lòng Thái nhưng chưa có một lời giải đáp!
Đó là một loài cây lạ Trương Thái chưa thấy bao giờ nhưng cậu
không chú ý đến điều đó. Điều mà cậu quan tâm là anh Trương Đại Quá và ba người
Lạch giờ này đang ở đâu, họ có biết là cậu đang rối lòng vì họ chăng?
Trương Thái quan sát mặt đất dưới gốc cây, cậu đi quanh gốc to đến mấy chục người
ôm không hết. Có lẽ đại thụ này có tuổi dễ đến ngàn năm không chừng nó đã chứng
kiến biết bao những cảnh vật đổi sao dời. Đi giáp vòng nhưng không tìm thấy một
chút manh mối nào chứng tỏ có sự hiện diện của con người ở dưới gốc cây, Trương
Thái thất vọng ngồi bệt xuống một chiếc rễ cây nổi trên mặt đất. Trước mặt
Trương Thái một dòng mủ màu trắng đục từ một chiếc rễ khác đang ứa ra. Mắt cậu
sáng lên. Cậu cẩn thận tiến đến bên chiếc rễ cây và quan sát thật kỹ. Đúng rồi,
Thái thầm reo lên đây chính là lưỡi xà gạc của K’ Sa chặt vào chiếc rễ cây này.
Cậu tin chắc rằng chính K’Sa chứ không phải là ai khác vì K’Sa có thói quen ghi
lại dấu vết bằng cách đó. Hơn nữa trong những ngày qua Trương Thái chưa bao giờ
gặp một người lạ mặt nào khác trong vùng này. Có thể nói sau hôm cứu được
ông Võ Vô Thường đoàn người tìm trầm là những người duy nhất trong cánh rừng
nguyên sinh dọc hai bên con sông K’Rông Nô. Nghĩ đến đó Trương Thái như trút được
gánh nặng trong lòng. Như vậy là những người thân của cậu đã đến đây, cậu đã
tìm ra dấu vết của họ nhưng họ đi đâu mà Trương Thái không thấy?
Trương Thái vừa thoát khỏi một mối lo thì một mối lo khác lại
đến. Cậu lo lắng khi nghĩ rằng đoàn người của anh Trương Đại Quá đã gặp chuyện
gì không may chăng? Nghĩ như vậy nên Thái gọi thật to:
- Anh Đại Quá ơi!
Bên kia cánh rừng tiếng vọng lại vang dội một hồi lâu mới hết
nhưng không có một tiếng hú trả lời nào ngoài tiếng chim “bắt cô trói cột”
hốt hoảng vừa bay vừa hót trên bầu trời không một gợn mây. Lo lắng và bực tức
Trương Thái nhìn theo con chim “bắt cô trói cột” như thể chính nó là nguyên
nhân khiến người thân của cậu mất tích dưới gốc cây này. Không thể ngồi yên được
Trương Thái nới rộng vòng tìm kiếm chung quanh gốc. Nếu mọi người đã đến đây
thì họ sẽ để lại dấu vết. Nhất định như vậy vì với bốn người thì không thể
nào không có một chút manh mối? Vạch từng lùm bụi Trương Thái càng lúc càng xa
gốc cây. Gốc cây cổ thụ vẫn là một tâm điểm giúp Thái định hướng trong việc tìm
kiếm của mình.
Mặt trời xuống từ từ cánh rừng bắt đầu tối. Ai từng ở trong rừng
mới biết rằng ban đêm mới chính là thời gian mà những bất trắc có thể xảy ra.
Điều này thì Trương Thái biết rõ hơn ai hết nên cậu ngừng việc tìm người
khi ánh nắng bắt đầu nhạt. Việc đầu tiên cậu làm là tìm cho mình một chỗ trọ
qua đêm. Khi đã ưng ý với một cái hốc kín đáo dưới gốc cây cổ thụ Trương
Thái vơ một đống lá khô làm đệm và vần một viên đá to chận ngang trước cửa
hang. Cậu nấu cơm chiều thật nhanh. Việc này vừa làm cậu vừa để tâm nghe ngóng,
khi màn đêm chính thức đến với núi rừng đống lửa trước cửa hang như là một
dấu hiệu của sự sống duy nhất trong rừng đêm huyền bí. Đầu con cá lăng không có
dịp nấu canh chua cậu để nguyên trong chiếc lá rứng to bản, Trương Thái uể oải
nướng thân cá và nghĩ đến Trương Đại Quá. Trương Đại Quá rất thích món canh
chua cá tràu do Thái nấu. Tuy đây là cá lăng nhưng nếu được ăn nhất định
Trương Đại Quá cũng thích như ăn canh chua cá tràu vậy. Con cá vàng ươm dưới
bàn tay của Thái và tỏa ra một mùi thơm điếc mũi. Thế nào rồi mọi người cũng về
thôi Thái hy vọng vậy nên cậu chỉ ăn một góc cá nhỏ ở phía đuôi. Phần còn lại cậu
để dành cho mọi người biết đâu khuya nay lúc mọi người mệt lữ kéo về dưới gốc
cây cậu sẽ có cái ăn dành cho họ?
Đêm trong rừng thật là yên tĩnh. Thỉnh thoảng tiếng một con tắc
kè núi làm vỡ không gian vốn im bặt nãy giờ. Trương Thái nhìn ra cánh rừng đen
thui trước mặt, cánh rừng như một câu đố huyền bí mà cậu chưa có một lời giải
nào hợp lý. Khi không còn chịu đựng cơn buồn ngủ được nữa cậu chui vào đống lá
khô và ngủ vùi mặc cho đống lửa sắp tàn.
Không biết thời gian trôi qua bao lâu cánh rừng đêm vẫn bí hiểm
như vốn có. Dưới gốc đại thụ ngọn lửa heo hắt thỉnh thoảng bùng lên bởi một
cơn gió thổi qua. Giờ này tàn cây cổ thụ chìm trong sương mù trắng xóa. Điều
này càng khiến cho rừng đêm càng trở nên âm u. Thỉnh thoảng có tiếng một con vật
rú lên và tắt nghẹn trong cổ họng. Có lẽ chúa sơn lâm đã kiếm được bữa ăn ngon?
Quy luật sinh tồn đang vận hành hệt như vốn xảy ra từ ngàn xưa vậy.
Trương Thái ngủ say như chưa bao giờ được ngủ. Cậu trở mình
và vùi người vào tấm chăn mỏng bên ngoài phủ đầy lá khô. Hơi ấm của đống lửa từ
đầu hôm hình như nhạt dần, sương mù tràn xuống gốc cây và len vào cái hốc Thái
đang ngủ. Hơi sương cộng hưởng với hơi đất khiến cậu rùng mình. Cậu muốn ngồi dậy
để nhen lại đống lửa hầu như đã tàn nhưng không hiểu vì sao Thái không thể nào
nhúc nhích được. Cậu ngạc nhiên và cố một lần nữa xem thử có trở mình được
không nhưng vô ích! Không biết có một lực nào đó gìm cậu xuống nền đất lạnh giá
trong lúc đầu óc cậu tỉnh táo như thường?
Thái mở to mắt nhìn ra ngoài cửa hang, lúc ấy sương mù bao phủ
khắp nơi. Bà chúa màu sữa đục hình như hả hê với trò chơi phủ kín vạn vật của
mình, thỉnh thoảng bà lại dạt ra để hở một khoảng trống cho thấy một bụi cỏ, một
cây dẻ gai, thậm chí là một cây thông lớn đang ủ mình trong sương gió. Đó chính
là lúc sương mù đang di chuyển. Đêm cũng sắp qua và chỉ hai canh giờ nữa thôi mặt
đất sẽ được hâm nóng bằng những tia nắng mang lại sự sinh tồn.
Thái không lạ gì với cảnh rừng thiêng trong đêm về sáng. Cậu
nhìn ra bên ngoài và bất lực khi không nhúc nhích được một chút nào. Thốt nhiên
một cơn gió lớn ào qua, làn sương mù đang hả hê đùa giỡn với vạn vật bỗng nhiên
dạt ra và tạo một khoảng trống trước cửa hang. Trong tích tắc ấy Trương Thái lạnh
cả người khi nhìn thấy …K’Sa! Đúng là K’Sa thật rồi, Thái đang định mở miệng gọi
K’Sa nhưng cậu vừa hả miệng chưa kịp phát ra âm thanh thì ngậm lại ngay khi
phát hiện ra phía sau K’Sa là một đoàn rồng rắn những người…lùn. Thái rùng
mình. Một cơn ớn lạnh chạy khắp thân thể cậu. K’Sa bị những tên lùn dong đi
trong tiếng quát nạt nghe rất lạ. Tay K’Sa bị một sợi dây lòi tói trói ra phía
sau. Hình như anh đau đớn lắm thì phải. Trương Thái trợn mắt nhìn ra cửa hang.
Bóng K’Sa vừa khuất dạng đoàn người lùn theo sau cỏ vẻ hả hê và râm ran trò
chuyện bằng một ngôn ngữ Thái chưa từng nghe bao giờ. Đang nói cười ầm ỉ bọn
lùn đang dẫn K’Sa đi bỗng phát hiện ra đống lửa giờ này chỉ còn là những cục
than dẻ cau sắp tàn. Chúng tri trô một hồi một tên có vẻ là chỉ huy lấy ra một
vật và đưa vào miệng. Một tràng âm thanh nhỏ nhưng rất chói tai phát ra. Một
lát sau tên giải K’Sa đi trước quay trở lại. Cả bọn ngồi chung quang ngọn lửa vừa
được một số tên mang củi quẳng vào và thổi bùng lên. Bọn lùn xô K’Sa nằm xuống
mặt đất lởm chởm những rễ của gốc cây cổ thụ. Một tên leo lên ngồi trên đầu
K’Sa, rồi cả bọn hò reo leo trèo lên người K’Sa và tranh giành nhau chỗ ngồi mà
tên đầu tiên phát hiện ra. Chỉ có tên ra vẻ chỉ huy không tham gia vào trò chơi
đó hắn đứng tách riêng ra và ngồi ngay xuống chiếc rễ cây hồi chiều Trương Thái
từng ngồi. Ánh sáng của đống lửa bùng lên soi rõ bọn người lùn. Lúc này
Trương Thái mới có dịp quan sát kỹ những vị khách bất ngờ không mời mà đến. Đó
là những sinh vật lạ kỳ. Chúng rất thấp có lẽ chỉ đứng đến thắt lưng của Trương
Thái là cùng. Quần áo chúng mặc là những tấm lông thú được chế tạo sơ sài, hình
như là lông của loài chồn cáo, đôi chỗ lông đã rụng trơ ra lớp da nhăn nheo
trông thảm hại vô cùng. Khuôn mặt của bọn người lùn thật là kỳ quái. Tên nào
cũng có râu, những sợi râu rất thưa lại có màu vàng nhạt. Chúng hình như lúc
nào cũng cười vì cái miệng của chúng rộng đến…mang tai! Tên nào cũng mang theo
binh khí, cũng những thứ như cung tên, dáo mác, nhưng binh khí của chúng nhỏ
như đồ chơi trẻ nít!
Bọn lùn vô tư nô đùa. Chúng dùng K’Sa làm vật chơi và hết ngồi
lên lại trụt xuống người anh. Có tên lại thò bàn tay nhỏ xíu của chúng vào hạ bộ
của K’Sa rồi lại rụt ra và cười ré bằng một tràng âm thanh nhỏ nhưng rất quái dị.
Đó là Trương Thái đoán chúng cười đùa giỡn không biết có đúng như thế không cậu
không rõ lắm. Không nghe một tiếng phản ứng của K’Sa có lẽ anh quá mệt với bọn
lùn và để mặc cho chúng muốn làm gì thì làm? Thái rùng mình. Không biết anh
Trương Đại Quá và hai người Lạch kia có bị bắt như K’Sa không? Trong đầu cậu có
hàng trăm câu hỏi nhưng không ai có thể trả lời cậu được. Bọn người lùn ở đâu
ra mà tìm bắt được K’Sa còn những người kia đâu? Và bọn chúng bắt K’Sa đi đâu,
làm gì?
Đang ngồi nhìn ngọn lửa cháy, một tên lùn đứng lên và dạo
quanh gốc cây cổ thụ. Thái lo thầm trong bụng nếu chúng tìm thấy Thái, cậu lại
trở thành tù binh của bọn quỷ lùn thối tha này. Nhưng Thái cả lo tên lùn bỏ đồng
bọn, nó đi ra xa và ngồi xuống đằng sau một bụi cây. Thì ra nó đi đại tiện.
Như vậy bọn người lùn cũng là giống người thôi, chúng cũng phải giải quyết những
nhu cầu của con người. Phát hiện ra điều này Thái thấy bớt lo được một chút.
Tên lùn quay trở lại. Nó không ngồi lại chỗ cũ mà ngồi xuống con cá lăng nướng
mà Thái gói lại bằng mấy chiếc lá rừng. Lúc tối Trương Thái quên mang con cá nướng
vào hốc cây, cũng vì cơn buồn ngủ chết tiệt! Tên lùn cúi xuống hắn sờ soạng con
cá, mắt hắn sáng lên khi bóc lớp lá ra. Hắn cười như điên như dại và ôm ngay
con cá vào lòng rồi định chạy đi. Nhưng con cá lăng to lớn mà Trương Thái chỉ
ăn có một chút là một vật nặng quá sức đối với tên lùn tham lam. Tên ra vẻ chỉ
huy thấy con cá và tên lùn đang định ăn mảnh một mình, hắn nổi giận rút ra một
chiếc roi và quất liên hồi kỳ trận vào đồng bọn. Tên lùn tham lam bỏ chạy, lần
này nó chỉ chạy một mình để tránh những ngọn roi của tên chỉ huy. Tên chỉ huy
ra vẻ hài lòng nhìn chiến lợi phẩm tự nhiên mà có, hắn bốc một miếng to cá nướng
cho vào miệng và ra vẻ thích thú với món ăn ngon.
- Huầy!
Tên chỉ huy kêu lên một tiếng sau khi hắn ăn no bụng. Hình
như chỉ chờ có vậy lập tức bọn người lùn lao vào con cá và chẳng mấy chốc
con cá lăng to tướng chỉ còn lại mấy cái xương. Trương Thái đoán già đoán
non rằng tiếng “huầy” của tên chỉ huy có nghĩa là “các người hãy ăn đi!”. Có
đúng như vậy không cậu không biết nhưng nhìn những khuôn mặt hả hê của bọn lùn,
Thái thấy chúng ra vẻ khoan khoái lắm khi được ăn món cá nướng của cậu. Chỉ có
tên lùn tham lam là không được ăn, hắn ở xa xa nhìn đồng bọn dành nhau món cá
nhưng không dám lại gần. Hắn sợ chiếc roi của tên chỉ huy thì phải.
Khi đã ăn xong con cá lăng chín vàng bọn người lùn hình như
còn thòm thèm, chúng tản ra chung quanh có lẽ chúng nghĩ thức ăn còn đâu đây
nên chia nhau đi tìm chung quanh mong có thể tìm ra một món khác nữa chăng?
Chúng kêu lên thích thú khi phát hiện chiếc đầu cá mà Trương Thái gói trong chiếc
lá dầu nhưng chúng vứt ngay khi biết đầu cá chưa được nấu nướng rồi lãng ra tìm
thứ khác. Cũng may chiếc gùi buổi chiều Trương Thái đã mang vào hốc cây
khi tìm ra chỗ tá túc qua đêm, nếu không có lẽ bọn lùn sẽ chén sạch lương thực
mà Trương Thái mang theo cùng với những đồ dùng ít ỏi của cậu. Thái nín thở nằm
im cậu sợ bọn lùn tìm ra cái hốc cây nhưng hình như bọn chúng không để ý đến một
khối đá chắn ngang chỗ ngủ của Thái, chúng ơ hờ không thèm có một tia nhìn vào
trong cái hốc cây ấy!
Ánh nắng chói chan chiếu vào mắt khiến Trương Thái giật mình
tỉnh giấc. Tia nắng xuyên qua kẽ lá chiếu đúng mắt cậu. Trên cây cổ thụ bầy khỉ
bắt đầu kiếm ăn. Những con khỉ con nô đùa chí chóe trong khi những con khỉ già
bắt chí cho nhau. Tiếng kêu khẹc khẹc của bầy khỉ khiến khu rừng rộn vang tiếng
ca muôn thuở của cuộc sống. Trương Thái say sưa ngắm hoạt cảnh của tự nhiên
lòng thấy vui vui. Bỗng nhiên Trương Thái nhớ đến giấc mơ tối hôm qua, cậu đưa
mắt tìm kiếm khúc mình con cá lăng cậu để ngoài hốc cây nhưng tuyệt nhiên không
thấy!
Chương 6: Học viện Langbiang
Học viện Langbiang nằm trên một quả đồi tròn, chung quanh học
viện không có hàng rào như những trường học khác, chỉ có những hàng cây thông đỏ
quanh năm toả bóng mát khắp sân trường. Bây giờ ta chấp nhận dùng chữ “học viện”
cho dễ hiểu nhưng trong thời điểm đó, nơi này là một chốn sâm nghiêm cấm người
lạ mặt vãng lai, học viên được học những môn học mà ngoài đời không ai được học.
Học sinh được tuyển khắp xứ, kể cả những nơi xa xôi hẻo lánh
tít tắp có những ngọn núi cao thấu trời xanh. Thông thường học viện chỉ chọn
100 học sinh cho khoá học 10 năm. Hết 10 năm đó, trường tiếp tục tuyển sinh
khoá mới. Vì vậy độ tuổi của học viên chênh lệch nhau nhiều lắm, có khi một bạn
chừng 5 tuổi ngồi học chung với một chàng thiếu niên lún phún râu tơ cũng là
chuyện thường ở ngôi trường đặc biệt này. Thầy giáo Râu Dài dạy năm lớp Nhập
môn. Hôm nay thầy lên lớp với một vẻ mặt khó đăm đăm. Đêm qua thầy không ngủ được,
thầy hết đi ra rồi lại đi vào căn phòng bé nhỏ của thầy. Nơi đây là chốn riêng
tư, nơi thầy cất giấu những bí mật nhất của mình. Không ngủ được thì con người
ta đâm ra cau có cũng là điều dễ hiểu. Sự cau có của thầy được nâng lên cao độ
khi trong lớp vắng mặt hai anh em nhà K’RaJan Đích và K’RaJan Đa. Đích và Đa là
hai anh em ruột, cả hai vào trường học chỉ chưa tới một năm. Cả hai lại là trường
hợp đặc biệt từ ngày thành lập trường đến nay vì chưa bao giờ trường nhận hai
anh em sinh đôi vào học tại trường.
- Tại sao K’RaJan Đích và K’RaJan Đa vắng mặt?
Không ai trả lời được câu hỏi vì sao của thầy. Sáng sớm, như
thường lệ nhóm học viên của lớp Nhập môn dậy từ lúc con gà rừng gáy lần thứ nhất.
Chúng phải chạy vào chân núi phía sau trường trên những lối mòn chúng tự tìm ra
cho mình và theo chúng đó là con đường ngắn nhất. Chúng phải tìm mọi cách để những
sinh vật trong rừng không thấy chúng; nghĩa là những con chim ăn đêm không hốt
hoảng bay vụt lên khi phát hiện ra chúng hay những con thú săn mồi không phải
giật mình vì một sự biến động của tự nhiên. Chúng đang tự học “Ẩn thân thuật”,
chúng học cho đến khi nào đi không tiếng về không tăm thì mới thành tài. Thầy
Râu Dài có nhiệm vụ truyền cho bọn chúng những kinh nghiệm của thầy, mà kinh
nghiệm của thầy thì vô cùng phong phú, ngoài những mánh khoé trong việc thực hiện
thuật ẩn thân, thầy còn có biết bao những kinh nghiệm khác.
- Sáng nay ai trông thấy anh em nhà K’RaJan sau cùng?
Không ai trông thấy cả, đã học ẩn thân thuật mà để người ta
trông thấy thì chỉ là những lũ nhải ranh lúc mới vào trường! Còn lớp Nhập môn
này những học viên dù sao cũng đã qua mấy mùa trăng, chúng đã thích nghi với
môi trường chung quanh từ hồi nào. Thầy Râu Dài biết rõ điều này nhưng thầy vẫn
quát lên:
- Huệ, mi có trông thấy anh em nhà nó không?
Vương Đình Huệ là một chàng trai lún phún râu tơ, anh đã mười
lăm tuổi rưỡi là người cao tuổi nhất trong lớp Nhập môn này. Anh trả lời thầy:
- Thưa Mat con không thấy!
Ở lớp Nhập môn ai cũng gọi thầy Râu Dài là Mat, chỉ một từ
Mat thôi dù chẳng ai hiểu vì sao thầy lại thích gọi như vậy. Thấy người học trò
lớn nhất lớp trả lời như vậy, thầy Râu Dài lại càng giận dữ:
- Cả một lũ ngu! Tại sao các con không toả ra đi tìm ngay hử?
Đến lúc này cả lớp mới nhớ ra việc phải làm. Dưới sự phân
công của Huệ, lớp học chia làm bốn tổ theo bốn hướng đi tìm anh em nhà
K’RaJan.
Huệ theo hướng chính tây mà đi, sau lưng Huệ là thằng nhỏ kém
Vương Đình Huệ chừng 1 tuổi nhưng nó vạm vỡ vô cùng, ai cũng nghĩ nó phải mười
tám tuổi chứ không thể ít hơn. Nó tên là Tư Đực, một cái tên ngô nghê và buồn
cười nhưng nó không cho đó là một cái tên xấu xí. Vừa đi Huệ vừa nói với Tư:
- Lâu nay tao quên hỏi vì sao mày tên là Tư Đực vậy?
Tư trả lời với một giọng chắc nịch:
- Vì tui thứ tư, tía lấy tên loại tre đực đặt tên cho tui đó
mà!
- À ra vậy. Vậy mày có rắn chắc như cây tre không?
- Anh cứ thử đi thì biết?
- Tốt! Tao với mày chạy thi, ai lên đến đỉnh núi kia trước
thì thắng cuộc.
Tư Đực hỏi:
- Nhưng nếu tui thắng cuộc anh Vương mất tui cái gì?
Vương Đình Huệ trả lời:
- Tao có cục đá thần nếu mày thắng tao sẽ cho mày. Còn nếu
mày thua mày mất cho tao cái gì chứ?
- Tui có một cục…đá lửa, tui sẽ chỉ cho anh cách lấy lửa
nhanh nhất!
- Tốt, nào bắt đầu.
Trên trời mây trắng bay bay, buổi sáng hôm ấy trời cực tốt. Một
đàn chim lông hai màu đen trắng bay vút lên bầu trời theo hình mũi tên, con đầu
đàn dẫn đầu: chúng cũng có hướng bay đến đỉnh núi xa xa như hai người đang chạy
thi.
Dưới đất Tư Đực ra sức chạy. Tư học theo cách ngựa phi, nó sải
từng bước chân dài cứ như vó ngựa. Còn Vương anh không vội vã, Vương biết mình
chạy nhanh nhất trường thì thằng Tư Đực bé con đâu phải là đối thủ của anh? Anh
thong thả vừa đi vừa ngắm phong cảnh chung quanh. Thiên nhiên hoang dã chung
quanh trường thật là hùng vĩ. Thác nước bên phía trái Vương tung bọt trắng xoá ồn
ào suốt cả ngày. Ngược lại con suối phía hạ lưu dòng nước lặng lờ chảy xuyên
qua từng đám lau sậy phát ra những tiếng rì rào. Vương ngơ ngẩn ngắm nhìn không
chán mắt. Này là một bụi hoa dại mọc ven đường mòn, đoá hoa e ấp khoe màu tím
biếc, cánh hoa còn đượm hơi sương. Vương băn khoăn nhìn đoá hoa, bỗng nhiên anh
thấy xao xuyến trong lòng vì màu tím đoá hoa rừng gợi nhớ đến quê nhà.
Cho đến khi Vương sực nhớ đến cuộc chạy thi với Tư Đực mặt trời
đã mọc hơn một con sào. Anh xả hết tốc lực để níu lại thờ gian đã mất bằng đôi
chân cứ như chân con nai đang hốt hoảng bỏ chạy phía bên kia đồi khi phát hiện
ra Vương. Nhưng đã trễ, khi Vương lên đến đỉnh núi anh đã thấy Tư Đực chờ anh với
một nụ cười chiến thắng:
- Anh thua rồi, sao hòn đá thần của anh đâu?
Vương công nhận với chút bối rối khi anh nhớ lại cảm xúc khi
bắt gặp đoá hoa ven đường, nguyên nhân khiến anh thua cuộc:
- Tao để ở nhà, chút về tao đưa nhé?
Anh và Tư Đực nhìn ra chung quanh ngọn núi là điểm cao nhất
vùng nên bọn Vương nhanh chóng phát hiện xa xa về hương tây nam có một đụn
khói. Đụn khói nhắc nhở nhiệm vụ của anh em Vương. Huệ nói:
- Mày thấy đụn khói kia không, tao chắc anh em nhà K’RaJan đốt
chứ ai dám héo lánh đến vùng này?
Quả thật không ai dám đến vùng phụ cận của học viện Langbiang
khi chưa có trong tay một mũi tên khắc dấu hiệu của trường, là tín vật trường
chỉ giao cho những người cung cấp lương thực, vật dụng cho trường. Nhưng đoàn
giao thương cũng mới đến trường tuần trăng vừa rồi, nhanh nhất phải ba tuần
trăng nữa họ mới trở lại. Tư Đực công nhận Vương Đình Huệ nhận xét có lý:
- Hay là anh và tui tới thử xem sao?
- Khoan đã, tao sợ có biến đối với anh em nhà K’RaJan. Như vậy
đi: tao sẽ hoá thân thành con chó sói, còn mày thành con lợn lòi khi đến gần,
mày đồng ý không?
- Anh khôn lắm, tui mà là lợn lòi à… nhưng thôi được, lợn lòi
thì lợn lòi. Nào ta đi thôi.
Nói về anh em nhà K’RaJan. Sáng hôm nay như thường lệ, Đích
và Đa cũng thức giấc lúc con gà rừng cất tiếng hồi thứ nhất. Uống vội một gáo
nước lạnh, anh em K’RaJan cùng lên đường luyện thuật ẩn thân. Khác với các đồng
môn, anh em nó học chung, nghĩa là chúng cùng đi với nhau, cùng trao đổi với
nhau về những mánh lới trong việc ứng dụng địa hình, địa vật để che mắt địch
nhân. Như vậy chúng tiến bộ nhanh lắm. So với Vương Đình Huệ chúng tự cho là
mình hơn hẳn Huệ …một cái đầu; tại học viện Langbiang chúng chỉ thua có mỗi thầy
Râu Dài – tức thua Mat mà thôi.
Sáng hôm nay cũng vậy chúng chạy nhanh vào chân núi phía sau
học viện, trên đường đi chúng làm một con cá phóng nhanh xuống nước khi phát hiện
ra chúng. Đó là loại cá quả rừng. Vào mùa sinh sản buổi sáng tinh mơ chúng thường
lóc lên bờ, da khô nhơn nhớt và nhất là mùi tanh tao từ thân hình chúng phát ra
đánh thức khứu giác của lũ kiến rừng, kiến bu đen bu đỏ quanh thứ quà trời cho
đó. Lũ kiến đâu biết rằng khi lượng giá đã đủ thức ăn cho đám con háu đói, lóc
mẹ vĩ đại sẽ lăn xuống nước và kiến trở thành mồi béo bở cho đám con háu ăn
kia!
K’RaJan Đích cau mày:
- Mày coi chừng, mày để con cá quả rừng thấy mày rồi đó.
K’RaJan Đa cãi:
- Nó đâu có thấy em, nó đang tìm mồi cho con nó mà!
- Mày không để ý, mắt nó ánh lên khi phát hiện ra vật lạ. Mày
phải quan sát kỹ ngay lúc đó phải biến hình thành một đám lá khô!
- Nhưng nó có thấy em đâu?
- Lại cãi nữa, nếu mày gặp không phải là con cá quả rừng, dù
sao cá phải nhảy xuống suối, mà là một con hoẵng non vừa chạy vừa kêu hoảng hốt
làm gãy những cọng cỏ non, chân in guốc xuống đám đất ẩm ướt thì sẽ ra sao nếu
như có người đang săn lùng mày?
Lúc này K’RaJan Đa mới chịu thua:
- Vậy em phải làm sao?
Vừa đi Đích chỉ cho Đa từng chút một bài học và kinh nghiệm của
Mat, K’RaJan Đa phục sát đất người anh có trí nhớ siêu phàm của mình. Đến chân
núi bài học của K’RaJan Đích vừa kết thúc với lời giáo huấn:
- Luôn luôn nhớ: không được để lại một dấu vết nào!
Bỗng nhiên hai anh em trông thấy bóng một người lạ. Ở cấm địa
này không ai được phép bén mãng tới cả, anh em nhà K’RaJan biết rõ điều đó nên
cả hai không hẹn mà cùng chạy thật nhanh về hướng người lạ mặt. Nhưng bên kia đồi,
nơi anh em K’RaJan vừa đến không có một ai! Đa nhăn mặt hỏi anh:
- Rõ ràng em thấy bóng người đứng trên đỉnh đồi này mà?
Không trả lời Đích quan sát kỹ mặt đất. Không có gì lạ cả,
hàng thông vẫn rì rào trong gió, cây cỏ vẫn đẫm hơi sương. Không có một chút dấu
vết nào chứng tỏ có người lạ mặt xuất hiện ở đây. Đích vòng ra xa. Đây rồi, một
vệt mờ mờ trên lối nhỏ mà lũ thú rừng tạo nên. Trên con đường hoang đó vài giọt
sương nhỏ xuống mặt đất để lại những đốm màu đậm khác hẳn với đất chung quanh.
Đang là mùa nắng nên dấu vết này nói lên rất nhiều ý nghĩa.
- Đi theo hướng tây nam.
K’RaJan Đích nói với em bằng một giọng chắc nịch. Hai anh em
vừa đi vừa quan sát cảnh vật chung quanh. Lối nhỏ trong rừng dẫn anh em nhà
K’RaJan đến một thung lũng trống trải và mất hút vào cửa rừng bên kia trảng cỏ.
Cẩn thận từng chút một, không có bất cứ một cọng cỏ nào lay động
dưới chân của Đích và Đa, hai anh em tiến vào cửa rừng. Bên trong là một khu rừng
nguyên sinh cỏ cây mọc xen nhau dầy đặc. Tại đây dấu vết để lộ ra nhiều hơn. Phải
có từ ba người trở lên mới để lại dấu vết nhiều như vậy. Những cành cây oằn xuống
chưa kịp trở lại vị trí tự nhiên ban đầu, những bụi cỏ bị dẫm lên đã nói lên điều
đó. K’RaJan Đích hít một hơi dài. Trong không khí buổi ban mai, ngoài làn thanh
khí của núi rừng Đích nhận ra còn tàng ẩn một chút hơi người. Đây là những người
thường, K’RaJan Đích khẳng định như vậy. Với học viên Langbiang, đi trong rừng
ngoài việc không để lại dấu vết, bắt buộc không để cả mùi người. Với một người
được học tại trường Langbiang, việc này rất dễ dàng, Mat thường căn dặn học trò
của mình:
- Mùi cơ thể người nhanh chóng tố cáo chúng ta với địch nhân,
nếu có. Cả với muôn thú nữa, chúng đánh hơi mùi người nhanh lắm, không ai theo
kịp.
Trong một tuần trăng, ít nhất các học viên phải có tới mười
ngày luyện cho cơ thể không còn mùi nữa. Có rất nhiều phương pháp nhưng anh em
nhà K’RaJan thích dùng phương pháp tẩm lá cây kết hợp với vùi thân mình trong
bùn lỏng. Ngoài ra anh em Đích Đa còn phát hiện ra một phương pháp riêng: đó là
mỗi tối chúng chịu khó phơi sương chừng một canh giờ thì mùi cơ thể chúng không
khác gì những bụi dẽ gai mọc đầy trong rừng hay phảng phất mùi ngải rừng mọc
trong các khe núi ẩm ướt.
K’RaJan Đa cũng đồng ý với anh mình:
- Mùi người, phải bắt chúng về cho Mat thôi!
Hai người tiếp tục đi theo dấu vết, mũi thính, tai thính và
thuật ẩn thân của anh em nhà họ là những vũ khí bí mật và mạnh mẽ. Họ vô cùng
hưng phấn, đây là lần đầu tiên họ thực hành những bài học của Mat để tìm kiếm một
đối thủ có thực, chứ không phải là những điều giả định như những bài học trong
trường. Thân thể lùn thấp của anh em nhà K’RaJan là một lợi khí khi đi lại
trong rừng, họ luồn lách qua những lùm bụi dễ như không. Hình như cánh rừng này
là nhà của họ vậy, nó quen thuộc đến nỗi họ cảm nhận mình là một thành viên
trong rừng nguyên sinh dầy đặc này.
Rồi rừng rậm cũng hết, dấu vết dẫn anh em nhà K’RaJan đến một
cánh rừng thưa. Khi vừa bước ra cửa rừng, K’RaJan Đa không thấy anh mình đâu nữa?
Nó quái lạ tự hỏi nhưng vụt hiểu ra ngay và bỗng chốc nó cũng biến mất.
Bài học đầu tiên là phải hoá thân vào cảnh vật chung quanh, hai anh em nhà
K’RaJan biến hình thành hai tổ mối nhỏ bên cạnh một tổ mối to đùng cạnh bìa rừng.
Họ giống đến nỗi mấy con mối thợ đi săn mồi về ngơ ngác bước lên người họ,
chúng dè dặt đặt từng bước một lên ngôi nhà xa lạ của mình. Nhưng anh em nhà
K’RaJan không hơi đâu mà để ý đến chúng, họ căng mắt – bây giờ là một lỗ thông
hơi của tổ mối phụ - nhìn chăm chăm vào một gốc cây cổ thụ phía xa xa. Cây cổ
thụ quả thật là quá to, có thể nó đã sống trên nhiều ngàn năm, bóng râm của nó
che phủ gần như kín một quả đồi con. Trên những cành cha, cành mẹ, lũ chim đủ
loại tha hồ làm tổ vào những nơi chúng thích. Một bầy khỉ ở đâu kéo đến viếng
thăm cây cổ thụ. Chúng đùa giỡn với nhau phát ra những âm thanh chí choé, những
con lớn và đặc biệt con đầu đàn nghiêm nghị và lười nhác phơi nắng hoặc bắt chí
cho nhau. Vài con khỉ leo tót lên ngọn cây và chúng phát hiện ra những quả trứng
chim, chúng thò những bàn tay đầy lông lá vào tổ và bỏ ngay những quả trứng hồng
hồng vào miệng với tiếng gầm gừ thích thú.
Nhưng anh em nhà K’RaJan không chú ý đến cây cổ thụ và những
trò diễn ra trên ấy như từng diễn ra từ ngàn xưa, đó là một phần tất yếu của cuộc
sống. Họ chú ý đến gốc cây. Dưới ấy có bốn người đang nói với nhau điều gì đó,
mùi cơ thể họ phát ra đậm đặc, khác hẳn với thứ không khí trong lành anh em nhà
K’RaJan thường hít thở. Đích lắng nghe những âm thanh lạ lẫm, không phải tiếng
K’Ho, cũng không phải tiếng Ê Đê, đây là loại ngôn ngữ Đích chưa từng được học.
Vì vậy anh em nhà K’RaJan càng trở nên thận trọng, họ tiến từng bước nhỏ đến
nhóm người lạ đang nghỉ dưới gốc cây. Tất nhiên họ không quên bài học vỡ lòng,
họ biến thân vào những cành cây bụi cỏ chung quanh để che dấu thân mình.
Anh em nhà K’RaJan đã đến đích, bây giờ họ đã là một hòn đá lẫn
vào vô số đá chung quanh gốc cây. Ba người đàn ông vẫn không biết sự hiện diện
của anh em nhà K’RaJan, họ vẫn tranh luận với nhau một điều gì đó và ra vẻ chờ
đợi một người trong bọn. Đó là nhận định của Đích khi đã yên vị và lắng nghe những
âm thanh trầm bỗng của nhóm người xâm phạm lãnh địa của trường. Bỗng nhiên
K’RaJan Đích nghe hai người đàn ông, một người già, một người trẻ nói với nhau
bằng tiếng K’Ho Lạch. Người lớn tuổi nói:
- K’Quang à, sao lâu quá không thấy K’Thái theo kịp à?
Người trẻ tuổi lắng nghe một hồi rồi trả lời:
- Không nghe tiếng con chim báo là K’Thái sắp đến, hay là nó
đi lạc hả bác?
- Không thể, thằng nhỏ đó thuộc rừng như thuộc bàn tay mình
mà!
Rồi thôi, họ im lặng không nói gì nữa. K’RaJan Đích chú ý lắng
nghe để tìm hiểu nhóm người này nhưng Đích thất vọng. Vô số câu hỏi nảy sinh
trong lòng Đích. Họ là ai? Từ đâu tới? Tới với mục đích gì?....Chỉ có bắt được
họ thì những điều ấy mới được thông suốt thôi, Đích biết rõ như vậy.
Đích nói với Đa tất nhiên bằng cách nói của lá rừng như anh
em họ được học:
- Mày đi về phía bên kia đón lỏng, tao sẽ đốt….Đích giơ một
ngón tay lên. Tất nhiên Đa hiểu ngay ý định của anh nó. Đa cũng đồng tình với
anh mình, nó im lặng trườn qua những rễ cây đa cổ thụ và thích thú biết bao khi
bốn người lạ mặt không hề hay biết! Đến bên kia gốc cây, Đa lấy trong túi nhỏ
mà nó luôn mang theo bên mình một chiếc lá khô màu nâu nhạt. Nó cho chiếc lá
vào miệng và nuốt trộng, Đa hồi hộp quá chừng. Đây là lần đầu tiên nó thực hiện
bài học Mat dạy, chiếc lá nâu nhỏ bé sẽ giúp nó không ngất xỉu khi Đích đốt một
loại lá khác, cũng màu nâu nhưng to bản hơn, Đích cũng đang thực hiện một bài học
khác do Mat dạy.
Đám người đang ngồi nghỉ dưới bóng râm cây đa cổ thụ vẫn
không hề hay biết, họ trao đổi với nhau bằng một thứ tiếng lạ lẫm, hình như họ
đang lo lắng một điều gì thì phải, thái độ của họ nói lên điều đó. Người lớn tuổi
nhất đang nói bỗng nhiên im lặng, ông ta ngáp một tiếng rõ to. Tiếng ngáp của
ông hình như là hiệu lệnh bắt đầu cho cơn buồn ngủ, tất cả những người còn lại
thi nhau ngáp. Mắt họ bỗng nhiên nổi lên màu đỏ như thể họ đã mất ngủ nhiều
ngày, và cùng một lúc tất cả lăn quay ra ngủ!
K’RaJan Đích xuất hiện với một nụ cười hãnh diện trên đôi
môi, nó nói:
- Đa đâu rồi, ta đã thành công, mày mau đốt lửa lên báo cho mọi
người biết!
Đa cũng vui mừng không kém anh nó, nó hăng hái đi gom những
cành cây khô vương vãi chung quanh và móc trong túi nhỏ ra hai hòn đá lửa. Nó
nhanh chóng gom một ít cỏ khô, loại cỏ thân mềm và nhỏ như sợi chỉ làm mồi dẫn
lửa. K’RaJan Đa đập hai hòn đá vào nhau, một tia lửa nhỏ xíu xẹt ra nhưng chưa
trúng vào đống cỏ khô. Đa tiếp tục công việc với một thái độ thận trọng, nhìn
nó làm người ta liên tưởng đến công việc của một người thầy cúng. Nghĩa là nó
đang thực hiện bài học của Mat, việc làm ra lửa không chỉ là phục vụ nhu cầu của
con người mà còn là công việc chạm đến thần linh, vì vậy phải thành kính thì mới
được thần lửa chấp thuận. Ánh lửa đem lại cho con người sự ấm áp, niềm vui sướng
khi được ăn những loại thức ăn chín và còn truyền tin tức đi xa tận phía cuối
chân trời.
Tin tức nhanh chóng đến với Vương Đình Huệ, Tư Đực và những
người khác. Trong một canh giờ sau đó tất cả có mặt và ngạc nhiên nhìn ngắm những
khuôn mặt người lạ xâm nhập lãnh thổ của học viện, còn khuôn mặt của anh em họ
K’RaJan thì cứ ngước lên trời với cái miệng cười cười và cặp mắt cứ như muốn
nói “chiến công của anh em tao đó, chúng mày có được như vậy không?”.
Vương Đình Huệ không lý gì đến thái độ của anh em nhà
K’RaJan, Huệ ra lệnh:
- Tư Đực và hai người nữa về báo ngay với Mat, với chừng này
người ta không thể mang bốn tên tù binh này về tới trường được. Tao không muốn
bị xổng một tên nào, chúng ta phải giải từng tên về trường riêng lẻ, không để
chúng đi chung. Còn mày, K’RaJan Đích, mày dùng lá ngủ bao nhiêu?
Kiêu hãnh Đích giơ ra ba ngón tay, Vương Đình Huệ trợn mắt:
- Ba lá à, mày dùng nhiều quá rồi đó, như vậy tụi này chỉ có
thể hoạt động vào ban đêm thôi, để rồi tụi mày coi!
Đám học trò nhập môn ngạc nhiên nhìn Huệ nhưng anh không nói
gì thêm nữa, làm như những lời phát biểu vừa qua là vô tình lộ ra một chút sự
hiểu biết hơn người của mình. Những học sinh nhỏ tuổi là những đứa trẻ hiếu động
- tất nhiên rồi, bởi chúng vẫn chưa hết nét thơ ngây trên khuôn mặt cho dù Mat
cố tình đào tạo chúng trở thành những người bí hiểm, một đức tính mà theo lý luận
của học viện là đức tính đầu tiên phải có của những nhà tiên tri hay ông thầy
cúng ngày mai!
Chúng leo lên rồi trụt xuống người những tên tù binh. Đứa thì
ngồi trên đầu, đứa lại thích nằm giữa hai chân, có đứa lại nghịch ác, thò hẳn
tay vào chiếc khố của người tù binh lớn tuổi nhất và cười rộ lên. Vương Đình Hụê
nhìn thấy tất cả nhưng anh không nói gì, dù sao anh vẫn là người lớn tuổi nhất ở
đây, anh phải là người chỉ huy, cho dù Mat chưa bao giờ giao cho anh trọng
trách này. Là người chỉ huy thì không phải lúc nào cũng vui đùa cùng những đứa
trẻ tinh nghịch, cho dù đôi khi cũng phải hoà đồng với chúng để nhìn thấy những
ý nghĩ sâu xa trong mỗi đứa, có như vậy mới trở thành thủ lãnh đám trẻ lắm tài
nhiều tật này! Vương nhận thức rõ được điều đó nên anh trèo lên cây đa cổ thụ
và cố đứng ở nhánh cao nhất có thể. Mắt anh nhìn ra xa và đảo quanh bốn hướng. Ở
vị trí này ngôi trường Langbiang xa tít tắp ở hướng tây, hướng mặt trời sẽ lặn
mất tăm mất tích và nhường cho bóng đêm làm chủ với biết bao điều bí mật.
Mat tới! Ông thầy Râu Dài tới nhanh như cơn gió. Mat tới khi
Tư Đực vẫn chưa về đến trường như lời dặn của Huệ. Mat gật đầu khi cả đám học
trò chào:
- Ai làm?
Cả đám học trò lớp Nhập môn nhìn về anh em nhà K’RaJan Đích.
Đích và Đa hãnh diện ngước mắt nhìn Mat chờ đợi một lời khen. Chúng ỷ y rằng
trong lớp chưa có đứa nào lập được một chiến công như chúng cả. Bắt được tới bốn
tên tù binh xâm phạm lãnh địa của học viện chứ có phải là trò đùa đâu? Nhưng
Mat chỉ nhìn anh em nhà K’RaJan mà không cười, có nghĩa rằng họ không làm Mat
hài lòng một điều gì đó. Quả nhiên là như vậy, Mat hắng giọng:
- Anh em mi có tới ba điều sai lầm, đã biết tội chưa?
Ngơ ngát như vừa trên trời cao rớt xuống, anh em nhà K’RaJan
thoáng rùng mình. Mỗi khi Mat dùng từ “sai lầm” có nghĩa là người phạm phải sẽ
chịu hình phạt tương xứng. Mà Mat là một ông thầy rất nghiêm, nhiệm vụ của Mat
trong học viện rất rõ: tạo nếp ăn nếp ở cho học trò đủ sức học lớp cao hơn!
- Thưa Mat con không biết?
Giọng K’RaJan Đích hơi có vẻ run run. Mat đanh giọng:
- Thứ nhất anh em mi không phát tín hiệu khi phát hiện ra kẻ
xâm phạm lãnh địa của học viện. Thứ hai, anh em mi đã dùng ba lá ngủ để chỉ bắt
có bốn tên này, mi có biết rằng ta phải tốn bao nhiêu công mới tìm và luyện được
chừng ấy lá và chỉ phát cho mỗi người ba chiếc lá thôi sao? Tại sao mi không nhớ
chỉ cần một chút lá cộng thêm một nắm lá rừng khô là đủ để hạ gục một đàn trâu
rừng trên mười con trâu mộng? Sao mi phí phạm quá thể như vậy? Còn điều thứ ba,
hừ, một chiến công nhỏ nhoi như thế mà trong mắt anh em mi như không còn thấy
ai nữa!
Anh em nhà K’RaJan tái mặt, thì ra Mat đọc được tư tưởng
trong óc người ta. Từ nãy tới giờ anh em nhà K’RaJan chưa có một lời nào ra vẻ
tự cao tự đại nhưng ông thầy vẫn đọc trong mất họ những điều đó, Mat mới ghê gớm
làm sao!
Mat ra lệnh:
- Tất cả về trường!
Nói xong thân hình bé nhỏ của Mat biến mất vào trảng cỏ như
chưa hề xuất hiện dưới gốc cổ thụ này. Đám học trò le lưỡi thán phục ông thầy của
mình, chúng dong bốn tên tù binh về trường như Mat dặn.
Chương 7: Cuộc hỏi cung
Vào buổi tối học viện Langbiang im lặng một cách thần bí. Mới
đây thôi lũ học trò nhỏ còn tranh nhau miếng thịt nướng tẩm gia vị là một thứ
lá có mùi hăng hắc. Những chiếc lá ấy do chính thầy Mat hái tận trong cánh rừng
sâu. Theo như lời Mat, học viên của trường một mùa trăng ít nhất phải ăn một lần
lá gia vị đó để con mắt sáng, cái chân đi không biết mỏi và nhất là thân hình uốn
éo như con rắn bò. Không ai biết lá mọc ra từ loại cây nào trừ Mat và Mat luôn
luôn khó chịu khi ai đó vô tình hỏi về vấn đề này. Mat không muốn trả lời nhưng
lại vui vẻ khi bọn học trò nhỏ của mình mời thầy một miếng sườn heo nướng tẩm
lá gia vị bí mật kia. Đặc biệt khi Vương Đình Huệ mời người thầy nghiêm nghị miếng
sườn heo nướng bao giớ Mat cũng gật đầu khen ngon. Cũng như thầy Huệ có bí quyết
riêng khi nướng miếng sườn heo. Anh chọn miếng sườn vừa phải, không nhiều mỡ lắm
và trước mặt mọi người Huệ luôn xin đúng hai chiếc lá rồi bóp nhỏ và anh trộn với
miếng sườn trong một nồi đất. Chiếc nồi làm bằng đất của người Chăm luôn làm
cho miếng thịt thêm ngon nhưng không ai biết rằng bên trong chiếc nồi màu đỏ có
những vết màu đen kia Huệ đã để sẳn một ít mật ong rừng. Và muối là một thứ gia
vị không thể thiếu! Anh ướp miếng sườn heo trong một khắc, trong khi chờ đợi Huệ
đốt một đống củi dẻ cau. Dẻ cau luôn cho người ta thứ than tuyệt hảo nếu dùng
nướng sườn heo thì không có thứ than nào so sánh được!
Chiều nay cũng vậy Huệ mời Mat miếng sườn heo nướng. Và cũng
như những lần khác, Mat vui vẻ nhận món quà của người học trò. Khi bữa ăn chấm
dứt, Mat cho tất cả học trò đi ngủ trừ Vương Đình Huệ. Trước những cặp mắt ngạc
nhiên của học trò, Mat giải thích:
- Các con còn nhỏ, ta chọn Vương Đình Huệ làm phụ tá cho ta
trong việc hỏi cung tù binh. Đây là một việc làm quan trọng, các con không giúp
gì cho ta được.
Khi tất cả học trò đi về lán trại của mình, mặt trời đã chìm
sâu vào hướng tây, ngôi sao hôm lấp lánh phía chân trời báo hiệu đêm đã bắt đầu.
Chung quanh học viện là một không gian tỉnh mịch, lúc này chưa phải là thời điểm
săn đêm nên thú rừng và chim chóc còn ẩn náu trong hang ổ của chúng. Hai thầy
trò Huệ cũng chìm sâu vào trong im lặng. Huệ hiểu tính Mat, chưa đến lúc nói dù
có hỏi cũng chẳng được trả lời mà còn bị Mat mắng cho nữa. Anh tập trung vào những
gì cần phải làm sau những diễn biến ngày nay. Lúc khiêng tù binh về nhóm Tư Đực
đi chậm nhất. Cũng phải thôi nhóm này gồm những đứa nhỏ con nhưng bù lại chúng
đông hơn các nhóm khác. Theo luật lệ của trường, các nhóm phải hoàn toàn tự lực
trong bất cứ công việc nào. Điều này giúp cho lũ trẻ phát huy những tài năng
riêng biệt đang tiềm ẩn trong mỗi đứa. Nhóm Tư Đực phụ trách chừng mười đứa, lớn
tuổi nhất là Tư Đực, chúng nhận nhiệm vụ do Huệ phân công là giải một tên tù
binh trẻ về trường. Không hiểu chúng làm những gì mà sau khi tất cả các nhóm
hoàn thành nhiệm vụ mãi đến sáng sớm hôm sau chúng mới về tới trường. Theo
thông lệ không ai hỏi chúng vì sao, dù gì thì chúng cũng đã hoàn thành nhiệm vụ.
Nhưng khi nhìn vào mắt của nhóm Tư Đực, Vương Đình Huệ nhận thấy một điều là tất
cả bọn chúng đều rất vui! Điều này gây ngạc nhiên cho Huệ nhưng anh không nói với
ai và âm thầm theo dõi những đứa nhỏ nghịch ngợm cùng lớp Nhập môn với mình.
Khi được lệnh của Mat, chúng hấp háy những đôi mắt vui tươi và hình như chúng
đang truyền tải một thông điệp gì đó mà chỉ có chúng hiểu mà thôi!
Vương Đình Huệ muốn lỉnh đi tìm hiểu điều gì khiến lũ trẻ vui
vẻ đến vậy nhưng Mat chưa nói gì nghĩa là Huệ còn phải ở bên cạnh Mat và có
nghĩa vụ làm tất cả những gì mà Mat muốn. Im lặng hồi lâu, cuối cùng rồi Mat
cũng mở miệng:
- Ta có một ý này, thay vì ta hỏi cung chúng, ta sẽ phỏng vấn.
Đi!
Hai thầy trò đến chỗ nhốt tù binh. Đó là một điểm bí mật, chỉ
có Mat và những người có trách nhiệm của trường mới được biết. Điều này khiến
cho Vương Đình Huệ lấy làm hãnh diện vô cùng, dù gì Huệ cũng là một người quan
trọng! Hai thầy trò vượt qua hai vọng gác hai tên lính hỏi mật khẩu bằng một giọng
thì thào y như tiếng xào xạt của lá:
- Ô quy?
Không chần chừ Mat đáp:
- Cây thông đỏ!
Hai tên lính gác rút ngay về hai chiếc đao dài bằng chiều cao
người chúng và tránh ra một bên nhường đường cho hai người. Cuối cùng họ cũng đến
được chỗ giam giữ tù binh. Đó là một cánh cửa dẫn đến một tầng hầm dưới đất. Tại
chỗ này mật khẩu lại được trao đổi một lần nữa cánh cửa mới được mở ra. Cả
hai thầy trò cúi đầu chui vào cánh cửa nhỏ, ngay lập tức cánh cửa được đóng lại.
Trước mặt Vương Đình Huệ là một màu đen, anh không thấy được cảnh vật chung
quanh. Lập tức Vương Đình Huệ nhớ ngay bài học thầy dạy, những lúc này phải
dùng thuật nhìn trong đêm như con nai con hoẵng vậy. Nghĩ là làm, Huệ bắt đầu vận
dụng phương thuật Rừng sâu. Như một phép màu trước mắt Huệ bừng lên một màu
xanh, thứ ánh sáng xanh ma quái khiến Huệ ngạc nhiên quá chừng. Nhưng anh không
bỏ một chút nhịp thời gian nào, anh bước theo chân Mat ngay lập tức khiến Mat rất
hài lòng. Điều đó thể hiện nơi cái gật đầu của Mat. Hai người lần theo con đường
hầm đến một cánh cửa bằng gỗ màu đen, đó là thứ hắc mộc chỉ có trong một cánh rừng
cách học viện một ngày đường về hướng đông nam. Mat cho chìa khóa vào ổ y như lời
dặn của tên lính canh khi trao chìa khoá cho hai người. Cánh cửa bật ra ngay và
khép lại tức khắc khi cả hai đã vào hẳn phòng giam. Trước mặt hai người là bốn
người đàn ông kẻ nằm người ngồi trong một căn phòng vừa phải. Thấy hai thầy trò
vào tất cả đứng dậy, mắt lộ những tia nhìn kỳ dị. Mat lặng lẽ tiến về phía họ
và bằng một cử chỉ thân thiện khác hẳn ngày thường, Mat nắm tay ngưới cao tuổi
nhất và nói:
- Ngồi xuống đi, ta đến đây với một thiện chí mà!
Tất nhiên Mat nói bằng tiếng Lạch, điều này bọn Vương Đình Huệ
đã tường trình cặn kẽ với thầy. Ngạc nhiên hết sức, người đàn ông cao tuổi đóng
một chiếc khố có hai dải lòng thòng phía trước và phía sau vội ngồi xuống. Ông
ta đã ngồi nhưng đầu ông ta còn cao hơn hai thầy trò Mat đang đứng trước mặt họ.
Mat làm như không để ý đến điều này, ông nói:
- Ông tên là gì? Tại sao phạm vào lãnh địa của học viện
Langbiang?
Dù cố hết sức và ráng làm ra vẻ dõng dạc nhưng giọng nói của
Mat vẫn có âm hưởng xào xạt của ngọn gió rừng, người đàn ông tư lự một chút rồi
hỏi lại:
- Đây là đâu? Tại sao chúng tôi ở đây?
Có lẽ ông thắc mắc về hoàn cảnh của mình và với câu hỏi vừa rồi
người đàn ông hy vọng người đối diện sẽ giải đáp thắc mắc cho mình. Vương Đình
Huệ cố dỏng tai lên và vận dụng thuật Tri tâm đọc tư tưởng của người đàn ông đứng
tuổi. Thuật này đòi hỏi người thực hiện phải tập trung tư tưởng cao độ và nhìn
vào giữa hai hàng lông mày của người đối diện. Theo lời Mat dạy vị trí này là một
cửa sổ mở vào cánh cửa tâm hồn của một người. Từ chút một Huệ nhìn thấy một màu
xám nhợt nhạt hiện ra chung quanh khuôn mặt góc cạnh của người đàn ông. Trong
lúc ấy Mat nhắc lại câu hỏi:
- Ông từ đâu tới?
Trước mặt Huệ màu xám bạc hiện ra lờ mờ một trảng rừng trên một
ngọn núi cao cao, trong đó có một dãy nhà dài mái lợp lá rừng. Dãy nhà được dựng
trên những thân cây cao khoảng đầu người đàn ông và có một cầu thang được đẻo bằng
một thân cây rừng làm lối lên xuống nhà. Hai bên đầu hồi cũng có hai cầu thang
như vậy. Đó là kiểu nhà dài của người Lạch, Vương Đình Huệ lẩm nhẩm trong đầu
và cố nhớ lại những kiến thức về tộc người này Mat đã dạy cách đây mấy tuần
trăng.
Hình như hình ảnh không xuất hiện từ trước mặt của Vương Đình
Huệ, những hình ảnh đó đến từ một phía khác, nhất thời Huệ không xác định được.
Thời gian lúc này đang vào buổi sáng, một đoàn người gồm đàn ông, đàn bà, trẻ
con đang rời ngôi nhà dài, trên vai họ là những cái gùi, tay họ cầm những xà gạc.
Có lẽ họ bắt đầu lên rẫy, Huệ nghĩ trong bụng, nương rẫy của người Lạch, Vương
Đình Huệ “a” lê một tiếng thầm trong đầu. Đúng vậy, đoàn người đang đi làm buổi
sáng, dãy nhà dài là nơi ở của những người lạ mặt, Huệ khẳng định như vậy.
Hình ảnh tiếp tục xuất hiện trong đầu Vương Đình Huệ khi Mat
hỏi một câu khác.
Mat hỏi:
- Các ông tới đây làm gì?
Lập tức một chuỗi hình ảnh khác xuất hiện trước mắt Huệ. Đó
là cảnh hai người trai trẻ trông khác hẳn những người Lạch đến một bon có một
cái nhà dài vào một buổi chiều. Người đàn ông hai thầy trò đang phỏng vấn tiếp
hai người trai trẻ kia cạnh một bếp lửa.
- Phải rồi, Huệ nghĩ trong đầu. Hai người trẻ tuổi này rủ người
đàn ông làm một việc gì đó. Kìa người nhỏ tuổi lấy ra trong cái gùi một nắm những
hạt xanh xanh đỏ đỏ, mắt người đàn ông sáng lên kìa, hình như ông ta thích thú
thứ hạt đó lắm thì phải?
Lần lượt những hoạt cảnh diễn ra trong tâm thức người đàn ông
đứng tuổi tái hiện ra trong tâm trí Huệ. Anh ráng nhớ những chi tiết cho dù nhỏ
nhất để cùng bàn luận với thầy Râu Dài đối sách với bọn người thâm nhập bất hợp
pháp vào khu vực cấm của học viện Langbiang. Câu chuyện được kể bằng hình ảnh rất
chi tiết và sống động, những hình ảnh ấy xuất hiện trong đầu của Huệ một cách tự
nhiên. Đầu tiên Vương Đình Huệ có hơi sững sốt, tâm trí bị dao động, lập tức những
hình ảnh ấy mờ dần. Ý thức được sự cần thiết phải tập trung, Huệ gạt ngay trong
đầu những nghi kỵ mới xuất hiện khi sử dụng thuật Tri tâm. Đây là lần đầu tiên
anh áp dụng phương thuật này và lấy làm đắc ý với kết quả đạt được trong lúc
Mat phỏng vấn nhóm tù binh.
- Đủ rồi, con đã biết hết về người đàn ông này!
Mat hài lòng nhìn người học trò của mình, ông không dặn nhưng
Huệ đã biết vận dụng phương thuật trong lúc ông phỏng vấn người tù binh cao tuổi,
Mat nói:
- Giỏi lắm Huệ, ta rất hài lòng về con!
Quay sang nhóm tù binh, lúc này cả nhóm không còn kẻ đứng người
ngồi như lúc nãy, tất cả đều nằm xuống nền đất ẩm ướt và bất động. Mat thở dài:
- Đã gần sáng, họ không cử động được vào ban ngày đâu, ta về
thôi.
Lúc đó trời đã bắt đầu chiếu những tia nắng yếu ớt xuống mặt
đất nơi toạ lạc của học viện Lang biang.
Chương 8: Tù nhân
Trương Đại Quá đang ngủ. Trông cách anh ngủ người ta biết
ngay rằng anh đang bị một loại cấm chế nào đó, suốt nhiều canh giờ liền anh
không trở mình như giấc ngủ thông thường của nhiều người. Các bạn anh cũng vậy,
ba người đàn ông Lạch cũng không hề trở mình một chút nào. Cả bốn người thở ra
những làn hơi nặng nhọc. Căn phòng giam không rộng và cũng không hẹp quá, tuy mặt
đất ẩm ướt khiến Trương Đại Quá hơi khó chịu nhưng anh biết không thể làm gì
khác được. Anh vừa thức giấc, căn phòng giam lờ mờ một thứ ánh sáng đùng đục.
Có lẽ cả ba người đàn ông kia cũng đã thức giấc, Trương Đại Quá hỏi:
- Bác K’Rè ơi, bác dậy chưa?
- Ta thức lâu rồi nhưng không trở mình được, cậu thế nào?
Trương Đại Quá trả lời:
- Cháu cũng như bác không cử động được nhưng ngoài chuyện đó
ra không có gì trở ngại cả.
Cả hai im lặng một lúc lâu không ai nói với ai một lời nào cả.
Bốn người đang lâm vào một hoàn cảnh mà chưa bao giờ họ gặp trong đời. Hôm mới
bị bắt và bị giam trong căn phòng ẩm ướt này, họ đã trao đổi với nhau những thắc
mắc, những phỏng đoán nhưng không ai biết được một chút gì về hoàn cảnh của
mình cả. Cho đến khi hai tên lùn vào hỏi cung họ, đúng hơn chúng chỉ nói chuyện
với ông K’Rè vỏn vẹn có hai câu, cả nhóm mới tận mắt chứng kiến những người
lùn. Đó là những người có chiều cao khiêm tốn, cùng lắm chúng chỉ đứng đến
ngang hông của những người thường. Chúng nói tiếng Lạch bằng một giọng the thé
nhưng với một giọng hòa hoãn không giống như trong tưởng tượng của Trương Đại
Quá. Thật ra chúng cũng không khó coi lắm: bộ quần áo chúng mặc cũng được dệt bằng
một thứ sợi lanh được nhuộm một màu nâu, những đường may không tinh tế lắm
nhưng bộ áo liền quần cũng làm tôn lên dáng dấp con người của chúng. Khi hai
người lùn mới bước vào, một thứ lãnh khí vô hình xuất hiện trong căn phòng nhỏ.
Trương Đại Quá kinh ngạc quá thể. Là người luyện võ, Trương không lạ gì làn
sinh khí phát ra từ những người có trình độ võ công cao. Đó chính là sự tự tin
kết tinh trong một quá trình khổ luyện của những người làm chủ bản thân mình.
Nhưng ở những người lùn này không phải vậy, nơi người chúng phát ra một thứ
lãnh khí không giống mọi người. Trương Đại Quá linh cảm mình sẽ gặp vô số điều
kinh ngạc, những phiền toái trong tương lai từ hai con người nhỏ bé này!
Một ngày hoạt động của bốn người bọn Trương Đại Quá bắt đầu từ
lúc chiều hôm, lúc ấy những tia nắng cuối cùng vụt tắt, chính là lúc bốn người
của bon Cây Ngo đỏ cử động được tay chân. Mấy hôm nay cứ lấy ngày làm đêm, chẳng
hiểu vì sao ban ngày các anh không động đậy được, vậy không ngủ thì còn làm gì
chứ?
Trương Đại Quá khoan khoái duỗi chân tay sau một ngày nằm vùi
không động đậy, phải một lúc lâu khí huyết mới tuần hoàn khắp thân thể Trương.
Bỗng nhiên Trương Đại Quá nhớ đến môn khí công mình được học. Phải rồi, tay
chân không hoạt động được vì một lý do nào đó chứ khí huyết thì không! Thay vì
ngồi kiết già Trương Đại Quá có thể vận công lúc đang nằm, điều quan trọng là
khi thời khắc cấm chế bắt đầu anh phải nằm thẳng nhìn lên trời, hai tay duỗi
song song với thân mình, hai chân dang ra xa cách nhau khoảng một gang tay. Ở
tư thế đó Trương có thể hít thở và vận công y như tư thế kiết già. Biết đâu nhờ
luyện công mà bọn anh có thể giải được cấm chế của bọn quỷ lùn?
Một cái giỏ đan bằng tre từ trên nóc hầm nhà ngục được thòng
xuống bằng một sợi dây rừng như mấy ngày qua, Trương biết rằng bọn anh được bọn
quỷ lùn cho ăn. Đúng như vậy, bên trong giỏ là bốn chiếc túi được đan bằng sợi
lác và một chiếc bầu chứa nước. Cũng tạm được, bọn quỷ lùn không bỏ đói mình
tuy có điều chúng cho cơm ít quá, có lẽ chúng tưởng bọn anh cũng ăn bằng một lượng
như chúng sao? Anh mời ông K’Rè, K’Quang và K’Sa ăn cơm, chỉ một lát sau bữa ăn
chấm dứt. Chờ cho mọi người uống nước xong, Trương Đại Quá nói:
- Ta ở trong nhà tù này đã mấy ngày rồi không biết bọn lùn
giam ta đến khi nào? Bác K’Rè, anh Quang, anh Sa, trong lúc không phải làm gì
tôi tranh thủ dạy bác và hai anh một môn công giúp cho máu huyết lưu thông
trong khi tay chân ta không cử động được, môn công này giúp ta giữ gìn sức khỏe
rất tốt, bác và hai anh thấy thế nào?
Ông K’Rè trầm ngâm:
- Ta không biết phải làm gì trong lúc này nhưng ta nghĩ bốn
người chúng ta phải có một người đứng đầu thôi.
Quay sang Quang và Sa, ông nói tiếp:
- K’Quang và K’Sa à, ta thấy Trương Đại Quá là một chàng trai
tốt, ta để anh ta làm già làng của bốn người chúng ta, ý hai cháu thế nào?
Ông K’Rè nói bằng tiếng Lạch, Trương Đại Quá nghe nhưng không
rõ ý lắm, Sa và Quang trả lời ông già cũng bằng tiếng Lạch, qua ngữ điệu hình
như hai chàng trai đồng ý với ông già. Ông K’Rè nói với Trương Đại Quá, lần này
bằng tiếng Kinh:
- Quá à, ba chúng ta đồng ý để cháu làm già làng, vậy thì
cháu bảo sao chúng ta nghe vậy.
Đến lúc này Trương Đại Quá mới hiểu ba người Lạch trao đổi
chuyện chọn anh làm thủ lãnh, anh cười nói:
- Phải để bác là người đứng đầu mới được, cháu kinh nghiệm
còn non nớt đâu thể làm già làng hả bác?
Ông già nói:
- Không bàn cãi nữa, ba chúng ta chỉ có một ý này thôi!
Không thể cãi được ông già, Trương Đại Quá thầm nghĩ, trong
hoàn cảnh này phải có người đứng đầu để đối phó với bọn lùn. Thôi thì ngộ biến
phải tùng quyền, ta phải nhận làm thủ lãnh để dễ thống nhất hành động với ba
người Lạch vậy. Nghĩ như vậy nên Trương nói:
- Nếu bác và hai anh đã nói vậy thì cháu nhận lời, nhưng nhất
thiết bác và hai anh phải nghe lời cháu trong mọi chuyện, đồng ý không?
- Người Lạch chúng tôi đã coi ai là già làng thì lúc nào cũng
nghe lời người đó thôi, Quang nói, nhưng tao có ý này, tiếng Lạch của anh dỡ lắm,
tao sẽ dạy anh học tiếng nói của bon Cây Ngo đỏ, được không?
Trương Đại Quá cười to:
- Đã vậy cả ba nghe đây, bắt đầu đêm nay ta học khí công để
giữ gìn sức khỏe, biết đâu một ngày nhờ vậy mà bốn chúng ta có thể giải được cấm
chế này, còn lúc nghỉ giải lao Quang dạy ta tiếng của bà con nhé?
Ba người Lạch tỏ vẻ ngạc nhiên, họ không hiểu từ cấm chế mà
Trương Đại Quá vừa nói. Rụt rè Sang hỏi:
- Anh Quá à cấm chế là gì?
- Cấm chế là phép tắc không cho ta thực hiện một việc gì đó, ở
trong trường hợp này là không cho ta cử động được tay chân vào ban ngày.
- Thì ra là vậy… hèn nào chúng ta không động chân động tay được,
bọn lùn này ác quá! Sang nói.
Trương Đại Quá dạy khí công nằm cho ba người Lạch, bắt đầu bằng
tâm pháp nhập môn của Ngọc Trản thần công. Ba người đàn ông của bon Cây Ngo đỏ
tiếp thu rất nhanh những gì Trương dạy khiến anh ngạc nhiên quá sức. Một lát
sau Trương ngộ ra rằng ba người đàn ông này đầu óc họ đơn giản rất hợp với môn
thần công Ngọc Trản, quả thật là tự nhiên nhi nhiên!
Nhờ học luyện công mà thời gian trôi qua nhanh, tâm pháp môn
phái Ngọc Trản được Trương Đại Quá chỉ dạy làm cho ba người Thượng phấn chấn, từ
trước đến nay họ không biết một chút gì về bản thân mình. “Con người có những
công năng bí mật có thể phát ra sức mạnh vô cùng, con người là một tiểu vũ trụ
trong đại vũ trụ của đại tự nhiên”, Trương Đại Quá kết luận như vậy. Nhưng đó
là kết luận riêng của bản thân anh, còn bọn người Lạch hình như những từ ngữ
này không đến được đầu óc họ!
Nhờ phát hiện cách luyện công nằm, Trương Đại Quá cảm thấy đầu
óc mình sáng suốt không còn bị những u ám và lo lắng chi phối nữa. Khi buổi
sáng vừa đến bọn anh đã nằm sẳn và bắt đầu luyện công nhờ vậy mà họ quên được cảnh
mất tự do. Năm ngày như thế trôi qua không có một biến cố nào xảy ra cho bốn
người tù. Nhưng nếu ai từng một ngày ở tù thì người đó biết rằng thời gian trôi
qua chậm lắm. Nhìn đi nhìn lại cũng chỉ bốn người Trương Đại Quá, ban đêm cử động
được Trương dạy võ công cho ba người Lạch, vì vậy cuộc sống của họ cũng bớt được
phần nào buồn tẻ.
Đêm ấy Trương Đại Quá đang dạy Sa đứng cho đúng tấn trung
bình thì cửa phòng giam vụt mở. Trương quay lại, một thằng lùn xuất hiện trước
mắt Trương, y chính là thằng nhỏ không mở miệng trong cuộc hỏi cung lần trước.
Trương Đại Quá đứng về phía ba người bạn, anh nhìn chăm chăm về phía thằng lùn
xuất hiện, ở đó không có một biểu hiện gì là có một cánh cửa, vậy thằng lùn này
đến từ đâu? Không riêng gì Trương Đại Quá ngạc nhiên, ba người Lạch trố mắt
nhìn vật thể sống nhỏ bé đến độ kinh nghi. Thằng lùn ngoác miệng cười:
- Chào các người ta đến thăm các người đây!
Ba người Thượng im lặng. Tính họ vốn thế, không ồn ào hoa mỹ
nhưng họ rất chân tình. Thấy thằng lùn không ra vẻ gì là nguy hiểm ngoài làn
lãnh khí lạ lùng bốc ra từ thân thể hắn khiến Trương hơi rùng mình, Đại Quá hỏi:
- Mi đến đây làm gì?
Trong lúc hỏi anh vận công lên đôi tay như một phản ứng tự
nhiên, mắt nhìn đối tượng không chớp. Không ngờ thằng lùn phát hiện ra điều đó:
- Các người không phải căng thẳng đâu, ta đến đây là có ý tốt
cho các người thôi!
Ý tốt? Nó muốn gì ở bọn mình, Trương Đại Quá nhủ thầm như vậy,
anh vẫn cảnh giác hỏi lại thằng lùn:
- Ý tốt gì mi nói đi?
Thằng lùn vẫn dòm lom lom vào giữa khoảng trán của Trương Đại
Quá, nó trả lời:
- Ta muốn các người giúp ta một chuyện nhưng trước hết các
người cứ ngồi xuống một cách tự nhiên, chúng ta sẽ trao đổi với nhau như những
người bạn, được chứ?
Những người bạn? Trương Đại Quá thấy những tiếng ấy sao quá mỉa
mai đối với hoàn cảnh của bọn anh. Bạn mà mi giam chúng ta như những người tù?
Mà chúng ta có làm gì sai đâu chứ? Hôm ấy ngồi dưới gốc cây cỗ thụ chờ Trương
Thái, ba người Lạch và anh không hề phạm một gốc cây, một ngọn cỏ nào cả, ngoài
trừ Sa đánh dấu bằng mấy nhát xà gạc vào vài cái rễ cây.
Trương Đại Quá ngạc nhiên quá sức khi thằng lùn nói đúng y
như những ý nghĩ của Trương trong đầu:
- Các người cứ tưởng rằng mình không làm gì sai à? Anh và ba
người này đã phạm quy định của chúng tôi, các người có biết đây là lãnh địa của
học viện Langbiang chăng? Hai mươi bộ tộc với mấy trăm bon làng đã ăn thề không
cho một người nào vào lãnh địa của chúng ta trừ những người tiếp tế lương thực
cho học viện? Mà những người đó phải có tín vật mới dám vào đây. Còn các người,
các người là ai mà dám mạo phạm học viện chúng ta chứ? Các người phải biết rằng
hàng mấy ngàn mùa trăng rồi, ở đây chỉ có chúng ta, những người con của thần
núi, là chủ nhân đích thực của núi rừng ông bà để lại? Các người đến đây làm gì
ta đã biết! Nhưng thôi ta đã nói, chúng ta nói chuyện như những người bạn được
không?
Nhìn thấy thiện ý trong ngữ điệu của nó, Trương Đại Quá thầm
nghĩ “để xem hắn muốn gì, ta không nên vọng động, vả lại với chỉ một chiêu liên
hoàn bát cước hắn sao thoát được tay ta?”. Chẳng ngờ thằng nhỏ lùn nói ngay:
- Cái gì mà có tám cái chân kế tiếp theo nhau, ta chưa nghe
bao giờ vậy? Phải chăng đây là phương thuật của các người?
Nói xong thằng nhỏ lùn nghi ngại lùi lại, bỗng nhiên nó biến
mất như chưa từng xuất hiện trong phòng giam bốn người bon Cây Ngo đỏ. Bốn người
Trương Đại Quá ngạc nhiên nhìn nhau. Ba người Lạch nhìn chăm chăm vào Trương Đại
Quá, dẫu gì anh cũng là già làng của họ. Trương nhìn quanh quất, anh chịu không
biết chuyện gì vừa xảy ra, anh gọi to:
- Nè thằng nhỏ lùn, mi biến đi đâu?
Trương Đại Quá nói nhỏ với ba người bạn:
- Các người dùng tay nút tai lại đi?
Ông K’Rè, Quang và Sa kinh nghi nhìn Trương Đại Quá nhưng họ
cũng nghe lời cho hai ngón trỏ vào lỗ tai. Thấy ba người đã bịt lỗ tai xong,
Trương Đại Quá vận công quát lớn:
- Mi biến đâu, thằng quỷ lùn?
Bỗng nhiên anh nghe tiếng thằng lùn phía sau lưng:
- Mi hét làm gì mà to quá ta có biến đi đâu đâu, ta vẫn ở cạnh
các người mà?
Trương Đại Quá quay lại, trước mặt anh đúng là thằng nhỏ lùn
đang cười ngạo, tức tối Trương quát:
- Mi còn cười được à, nãy giờ mi biến đi đâu?
Thằng lùn nghiêm giọng:
- Ta chẳng biến đi đâu sất, ta đã nói rồi, nãy giờ ta vẫn ở
bên cạnh các người. Nếu muốn hại các người, nãy giờ các người đã chết hết rồi,
nếu ta chỉ cần phóng ra một chút xíu sức mạnh thôi, các người còn la lối được nữa
à?
Nhìn bốn người im lặng lắng nghe, hắn nói tiếp:
- Các người có phương thuật tám cái chân kế tiếp theo nhau, bộ
ta không có phương thuật đối phó à, cái mà các người gọi là ta biến đi đâu,
chính là thuật ẩn thân. Ta biến vào trong kia kìa, chỗ mấy cái dụng cụ của các
người ấy, giờ thì rõ rồi chứ?
Trương Đại Quá ngạc nhiên quá sức. Cái gì mà “tám cái chân kế
tiếp theo nhau?”. Thằng nhỏ lùn nay xạo ta sao? Anh thầm nghĩ trong đầu như vậy.
Nhưng khi nghĩ ra ngữ nghĩa của những từ Hán Việt, anh thầm trách mình, “liên
hoàn” là kế tiếp nhau, còn “bát cước” chẳng phải tám cái chân là gì? Ô hô, liên
hoàn bát cước chính là tám cái chân kế tiếp theo nhau đó sao? Trương giật mình
khi nhớ lại trong lúc anh nghĩ đến “liên hoàn bát cước” những động tác của
chiêu thức ấy diễn ra trong đầu anh một cách sống động là gì?
Thằng lùn nhỏ không chờ Trương Đại Quá trả lời, nó nói tiếp
liền:
- Các người…các người nghĩ gì ta đều biết cả, bây giờ ta chỉ
cần các người trả lời có giúp ta không thôi?
Trương Đại Quá nói:
- Mi nói đi, chúng ta giúp mi được điều gì?
Thằng nhỏ lùn đáp:
- Các người chỉ cần gật đầu thôi, tự khắc ta sẽ cho các người
biết phải làm gì?
Bốn người bon Cây Ngo đỏ nhìn nhau, chẳng ai nhìn ai cả bốn gật
đầu một cái rụp. Thấy vậy trong mắt thằng nhỏ lùn phát ra một thứ ánh sáng lấp
lánh, không biết nó vui hay buồn nữa?
Chương 9: Bạc đầu râu
Học viện Langbiang không chỉ có một lớp học duy nhất, ngoài lớp
Nhập môn của thầy giáo Râu Dài - tức Mat - trường còn có những lớp học khác, một
trong những lớp đó là lớp Khám Phá của thầy Bạc Đầu Râu cũng là người chủ trường
(theo cách ta gọi bây giờ là hiệu trưởng). Hiện giờ Bạc Đầu Râu chưa có học
trò, ông đang chờ thầy Râu Dài chuyển học trò qua lớp ông sau môt cuộc sát hạch,
vì vậy Bạc đang rảnh rỗi.
Không ai biết xuất xứ của thầy giáo Bạc Đầu Râu, đơn giản vì
thầy sống rất kín tiếng. Chẳng trách thầy được, cũng như thầy giáo Râu Dài, Bạc
Đầu Râu nổi danh với những phương thuật khiến cho lũ trẻ lác mắt! Thầy có thể
khiến một vật thể tự bay đến tay thầy mà không cần phải làm một động tác nào cả.
Có khi một học viên đói bụng, thầy thương hại, tức thì trên tay thầy liền xuất
hiện một con gà rừng nướng nóng hổi khiến ai cũng thèm khát nhưng chưa ai từng
hân hạnh thưởng thức món ăn trên tay thầy, ngay cả Bạc Đầu Râu cũng vậy. Nhưng
đó là những trò lẻ, thầy Bạc Đầu Râu còn có những phương thuật nhiếp hồn người.
Một trong những người sùng bái Bạc Đầu Râu là cô Nghỉ. Đó là một người đàn bà tội
nghiệp, cô xuất thân là người bon Kon Ka Kinh, bon Kon Ka Kinh ở dưới chân núi
La Ngư, một ngọn núi cao vời vợi, không người bon Kon Ka Kinh nào có thể thấy
được đỉnh ngọn núi này. Đơn giản vì ngọn núi cao quá, lúc nào đỉnh núi cũng có
một đám mây che phủ. Thầy Bạc Đầu Râu dẫn cô Nghỉ về trường sau một chuyến du
hành phương nam cách nay đã nhiều năm.
Đó là một người đàn bà nhỏ con, dường như ngoài cô Nghỉ không
ai đã trưởng thành lại nhỏ con đến vậy. Nước da cô không đen như những người bản
địa mà trắng hồng cộng với mái tóc đen dầy tạo cho cô một nét ưa nhìn. Quả vậy
cô Nghỉ đều được học viên Langbiang yêu mến, không yêu cô sao được khi mà hàng
ngày cô nấu một bữa ăn trưa cho lũ trẻ hoặc những thanh niên vừa mới lớn đang
háu đói, chúng phải tự nấu vào buổi sáng và buổi chiều theo cách của chúng, tất
nhiên là dỡ so với cô Nghỉ nấu một trời một vực. Món ăn độc đáo mà cô thường nấu
mỗi mùa trăng một lần vào ngày trăng tròn nhất đó là món thịt heo nấu với măng
rừng. Heo là con vật được nuôi trong trại heo của trường, nói cho cùng đó chỉ
là một vạt đất được bao bọc bởi những cây rừng trồng ken nhau thật dầy là nơi
trú ngụ cho những con vật phàm ăn khi đêm về. Ban ngày lũ ủn ỉn kéo nhau ra
phía cánh rừng thưa, nơi ấy tha hồ chúng rúc vào những bờ bụi xen kẽ là những củ
chuối rừng là nguồn thực phẩm vô hạn của chúng. Mỗi một mùa trăng người học
viên trực nhật có trách nhiệm giết ba con heo đến tuổi, vòng cổ khoảng ba cái
gang tay trở lên và giao phần thịt đã thui vàng cho cô Nghỉ. Cô không dám đứng
xem cảnh con heo tội nghiệp bị làm thịt nhưng khi chúng trở thành những miếng
thịt hồng hồng có lớp da cháy sém vàng thì cô thả hồn mình vào những món ăn cô
chế biến. Sườn heo mỗi đứa học trò được dành cho một miếng. Do số sườn có hạn cho
nên chỉ những đứa lập được thành tích đặc biệt hoặc tỏ ra giỏi giang theo nhận
xét của thầy giáo mới được chia. Chúng tuỳ nghi sử dụng món sườn để chế biến
thành thức ăn theo ý thích cũng như cô Nghỉ tuỳ nghi chế biến bộ lòng heo theo
cách riêng của cô và mời thầy hiệu truởng, tức Bạc Đầu Râu hoặc thầy Râu Dài
hay ai đó mà cô nghĩ đến.
Món heo hầm măng rừng hôm nay ngon quá, bọn trẻ say sưa húp
thứ nước vừa đăng đắng vừa ngon ngọt và hăm hở nhai thứ thịt vừa chín tới trong
những chiếc chén đất nung màu đen lẫn đỏ. Cô Nghỉ đứng nhìn lũ học viên háu đói
ăn với tia nhìn của một người mẹ cho dù cô chưa bao giờ làm mẹ. Làm mẹ sao được
khi cô Nghỉ quá nhỏ con có người chồng nào xứng đôi với cô chứ? Bọn học trò đứa
nào cũng cao hơn cô một cái đầu, trong đầu óc chúng, chưa bao giờ chúng nghĩ rằng
một ngày cô Nghỉ đi “bắt chồng”. Cô làm gì có những con dê béo, những con gà
gáy vang vọng một cánh rừng và những con heo hai, ba gang tay để cưới chồng? Cô
Nghỉ cũng vậy, chưa bao giờ cô nghĩ rằng mình sẽ có chồng và sinh ra những đứa
con cô sẽ địu sau lưng như những bà mẹ K’Ho. Thế cho nên cô hứa với lòng sẽ phục
vụ học viện cho đến khi nào không còn làm việc được nữa thì thôi.
Bạc Đầu Râu nghĩ về cô Nghỉ ra sao không ai biết cả, đơn giản
ông thầy này rất kín tiếng và hiếm khi ông biểu lộ tình cảm của mình ra khuôn mặt.
Trưa nay sau khi ăn món sườn heo nướng mật ong, Vương Đình Huệ bất ngờ ghé qua
nhà cô Nghỉ, anh đi rất êm như bản tính anh vẫn thế. Anh nhìn qua cửa nhà cô
Nghỉ, cô Nghỉ đang khóc trông thật thảm thương. Ngồi trên chiếc ghế phòng cô là
thầy giáo Bạc Đầu Râu. Không biết ông ta đã nói hoặc làm một điều gì mà cô Nghỉ
khóc ghê thế? Vương Đình Huệ ngạc nhiên. Linh tính mách bảo Vương dừng lại
không tiến về phía trước và lập tức biến thành một vạt cỏ mọc hoang bên hông
căn nhà. Mat từng nói:
- Bạc Đầu Râu không biết phương thuật này khi gặp sự cố có
liên quan đến ông ấy, các con nhớ phải lập tức sử dụng phương thuật ẩn thân để
né tránh sự phát hiện của ông ta.
Vương Đình Huệ là một học trò xuất sắc của Mat nên anh thuộc
lòng những lời căn dặn của thầy mình. Vừa lúc đó anh nghe cô Nghỉ hỏi:
- Như vậy cha con là ai chứ?
Vương không nghe tiếng trả lời của ông Bạc, chỉ nghe tiếng
khóc nỉ non và tiếng thở dài rất nhẹ của người đàn ông bí hiểm trong phòng cô
Nghỉ.
Một lúc sau Vương Đình Huệ thấy ông giáo Bạc ra về với một
khuôn mặt khó đăm đăm, ông không buồn ngó một chút về phía bụi chuối bên hông
nhà có một đám cỏ xanh xuất hiện một cách khả nghi. Vương chờ ông Bạc đi xa,
anh xuất hiện và làm như mình vừa tới, anh hỏi:
- Cô Nghỉ ơi cô đang làm gì đó?
Với một cặp mắt sủng nước cô Nghỉ cố rặn ra một nụ cười:
- Huệ đấy à cháu tìm cô có chuyện gì không, hôm nay cô không
khoẻ mai cháu đến nhé?
Nói xong cô đóng ngay cánh cửa phòng mặc Vương Đình Huệ ngẩn
ngơ trước nhà. Về thôi, Huệ tự nhủ với lòng như vậy, trong lòng anh ngổn ngang
với câu hỏi chưa có câu trả lời: chuyện gì đã xảy ra cho cô Nghỉ?
Chiều hôm đó Huệ lại đến nhà người đàn bà tội nghiệp, anh gõ
cửa. Không có tiếng trả lời, hình như cô Nghỉ đi ra ngoài. Đúng như vậy khi
Vương Đình Huệ ghé mắt nhìn qua khe cửa, trong nhà không có một ai! Cô Nghỉ đi
đâu chứ?
Vương Đình Huệ đem chuyện cô Nghỉ kể lại với Mat, người đàn
ông từng trải cau mặt, ông nhẩm tính một hồi lâu và không nói gì với Huệ. Sốt
ruột, anh hỏi:
- Con phải làm sao hả Mat?
Một thứ ánh sáng lấp lánh xuất hiện từ đôi mắt của Mat, ông
nhìn người học trò cười nói:
- Không sao đâu con đừng lo, cô Nghỉ đang ngồi dưới gốc cây
thông cách đây một canh giờ đi bộ. Ta thấy cô đang rất buồn, cô khóc. Cứ để cô
thoải mái nhưng ta nghĩ, con nên đi về hướng tây và đừng cho cô biết, nhỡ trên
đường về nhà có sự cố xảy ra cho cô thì con sẽ can thiệp kịp thời.
Ôi…Mat, quả là người thầy đáng kính. Đúng như Mat nói Vương
Đình Huệ tìm thấy cô Nghỉ dưới một gốc thông già, cô không còn khóc nữa nhưng
nom bộ dạng cô buồn hiu hắt. Nhớ lời thầy Vương Đình Huệ không xuất hiện, anh
âm thầm đi sau lưng cô Nghỉ khi cô uể oải đứng dậy quay về. Vương Đình Huệ
thương cô Nghỉ quá, giá gì anh được cô chia sẻ một chút buồn thì cô sẽ thấy nhẹ
lòng thôi. Nghĩ như vậy nên Huệ đi tắt qua một cánh rừng và ra vẻ mừng rỡ khi gặp
cô Nghỉ:
- A cô Nghỉ, cô đi đâu về vậy?
Cô Nghỉ cũng rất ngạc nhiên khi gặp Vương Đình Huệ tại con suối
Quả Bầu Tròn. Cô hỏi:
- Cháu làm gì ở đây vậy?
Huệ trả lời:
- Cháu đang định bắt vài con cá ở suối này tặng cô đây.
- Vậy ư? Ta cảm ơn cháu trước. Nhưng mà nè, làm sao cháu bắt
được cá bằng tay không chứ?
Vương cười:
- Cô xem nhé tại con suối Quả Bầu Tròn này có một loại cá quả
rừng nếu cô nấu canh thì ngon phải biết. Cháu sẽ tặng cô hai con, tí nữa cô nấu
canh mời cháu ăn chứ?
Cô Nghỉ vui vẻ gật đầu. Thấy vậy Vương Đình Huệ cười tươi,
anh cởi nhanh bộ áo liền quần đang mặc, trần xì với chiếc khố màu nâu Vương nhảy
ùm xuống suối. Cô Nghỉ mon men đi lại bờ suối, cô muốn xem thằng nhỏ bơi lội
như thế nào. Cô thất vọng, cô không thấy Vương Đình Huệ đâu cả, chỉ có mấy con
cá lòng tong đang cười nhạo cô bởi những cái vẫy đuôi điệu nghệ. Cô Nghỉ ngồi
xuống bãi cỏ ven suối. Quả đúng như tên gọi con suối Quả Bầu Tròn này là tập hợp
những dòng suối mang dáng quả bầu nối tiếp nhau chạy men theo chân một quả đồi.
Cô Nghỉ nhẩm đếm có đúng 10 quả bầu như vậy, không biết Vương Đình Huệ đang ở
đâu trong số 10 quả bầu nước kia? Lâu nay cô Nghỉ từng qua suối Quả Bầu Tròn
này nhiều lần nhưng đây là lần đầu tiên cô ngồi ngắm suối. Cô cũng không biết
dưới mặt nước êm đềm kia lại có thứ cá quả rừng mà Vương Đình Huệ giới thiệu là
ngon lắm. Cô nhớ lại cách nấu thức ăn với món cá mà cô học được ở bon Kon Ka
Kinh. Món cá theo cô ngon nhất vẫn là cá nướng muối ớt. Vị cay xé lưỡi của món
này hoà quyện bởi vị ngọt của thịt cá, vị béo của mỡ cá và vị mặn của muối tạo
nên một thứ hương vị làm tê đầu lưỡi khiến nước bọt cứ ứa ra!
Vương Đình Huệ xuất hiện từ quả bầu thứ 9, anh cười tươi giơ
hai tay cho cô Nghỉ thấy 2 con cá quả to đùng còn đang dẫy dụa. Cô Nghỉ ngạc
nhiên:
- Ô, cháu bắt được cá thật ư?
- Cô thấy rồi còn gì?
Hai cô cháu ra về lúc xế chiều, vừa đi họ vừa nói chuyện với
nhau. Vương Đình Huệ toàn kể chuyện vui cho cô Nghỉ nghe còn cô Nghỉ vừa nói
chuyện với Huệ, cô lại tính toán trong đầu món canh cá theo yêu cầu của Huệ.
Đến nhà cô Nghỉ nói:
- Cháu giúp cô nhé, đặt hộ cô một nồi cơm, còn cô sẽ làm món
cá nướng và canh cá chiêu đãi cháu, đồng ý không?
Vương Đình Huệ giơ cả hai tay lên trời tỏ vẻ đồng ý và chạy
ngay ra bếp. Bữa cơm của hai cô cháu ngon quá, ngoài hai món cá cô Nghỉ còn dọn
ra một thứ dưa chua muối bằng măng dây mây. Thức ăn này có vị đăng đắng nhưng
hình như nó kích thích người ăn gắp thêm gắp nữa sau khi nuốt gắp dưa đầu tiên
vào bụng. Quả là món dưa ngon quá, lần đầu tiên Vương Đình Huệ được ăn món này,
anh hỏi:
- Cô ơi, làm món dưa này có khó không cô?
- Cũng không khó lắm, cháu thấy có ngon không?
- Quá ngon là đằng khác cô ạ.
Cô Nghỉ cười tươi:
- Cháu có biết cháu vừa ăn một vị thuốc không? Món dưa măng
mây này trị được nhiều thứ bệnh như sốt, đau bụng, viêm nhiễm… và nó còn có
công năng phòng bệnh nữa đó cháu à. Ngoài ra nó sẽ giúp cháu nhiều thứ khác…sau
này cháu sẽ biết!
Giọng cô Nghỉ có vẻ bí mật nhưng Vương không để ý, Vương Đình
Huệ ngạc nhiên quá sức, anh càng ngạc nhiên hơn nữa khi đòi cô Nghỉ bày cho
cách chế biến món dưa măng mây rừng:
- Cháu tưởng dễ có thứ măng này sao? Ta phải đi từ lúc con gà
rừng gáy lần thứ nhất đến chân núi Langbiang và tìm vào một thung lũng duy nhất
có thứ dây mây màu đen pha tím. Dây mây đặc biệt này chỉ mọc ven bờ một con suối
nhỏ. Phải đi vào đầu mùa mưa mới có măng mây. Khi đem măng về ta phải ngâm
trong nước mấy ngày, rồi ủ trong một cái ghè chứa sẳn 24 vị lá rừng trong nửa
tuần trăng, sau đó mới đem muối dưa. Cháu biết không, mùa măng năm nay ta chỉ
tìm có 25 đọt măng mây, cháu vừa ăn hết 24 đọt, còn một đọt cuối này cháu cũng
ăn đi cho đủ bộ!
Vương Đình Huệ mắc cỡ quá, anh đỏ mặt:
- Ôi, cháu không biết cô phải vất vả như vậy mới làm được món
ăn này mà cháu lại tham ăn, cháu ăn hết phần của cô, cháu mắc cỡ quá cô ơi!
Cô Nghỉ cười hiền hậu:
- Cháu không phải mắc cỡ đâu, ta chủ ý dành cho cháu phần thuốc
năm nay đó cháu ạ? Nó sẽ giúp cháu tai qua nạn khỏi!
Chưa hết áy náy, Vương Đình Huệ tự vả vào miệng mình:
- Hư quá, cái miệng này tham ăn quá, đáng đánh đòn quá đi!
- Thôi cháu ăn đi rồi phụ cô dọn bàn.
Lúc đang uống nước, Vương Đình Huệ làm ra vẻ vô tình, anh hỏi:
- Cô ơi hôm nay thầy Bạc đến thăm cô phải không ạ?
Ngạc nhiên cô Nghỉ hỏi lại:
- Sao cháu biết?
- Vì cháu thấy thầy Bạc từ nhà cô đi ra mà?
- Vậy ư? Đúng, sau bữa ăn trưa thầy Bạc đến nhà cô, thầy cho
cô biết một chuyện nhưng mà đau lòng lắm cháu ơi?
- Chuyện gì vậy cô, cô nói đi, cháu có giúp được gì cho cô
không?
Trầm ngâm một lúc hình như cô Nghỉ quyết định kể chuyện của
cô cho Vương Đình Huệ nghe:
- Ta kể cho cháu nghe chuyện này nhưng mà nhất thiết cháu
không được kể cho bất cứ ai nghe, cháu hứa không?
Vương Đình Huệ nghiêm nghị nói:
- Cháu năm nay cũng đã lớn rồi, một người trưởng thành khi
làm bất cứ chuyện gì cũng phải suy nghĩ cả, cô đã dặn cháu sẽ không kể với bất
cứ ai đâu, cô yên tâm đi cô nhé!
Mắt cô Huệ loé lên một tia sáng, cô nhìn vào xa xăm:
- Huệ này, cháu có biết rằng vì sao cô lại nhỏ xíu thế này
không?
Thấy Vương im lặng lắc đầu, cô Nghỉ nói:
- Ta cũng tưởng mình sinh ra trên đời này đã là những người
lùn như thầy Bạc, như cháu hay như anh em nhà K’RaJan nhưng không phải vậy. Thầy
Bạc vừa cho ta biết khi ta lên bốn tuổi ta ăn phải một chiếc lá rừng có tên là
“Quà tặng của Thần Rừng” cho nên ta không bao giờ lớn thêm lên được.
Cô Nghỉ kể cho Vương Đình Huệ nghe câu chuyện cuộc đời cô.
Hoá ra cô không phải người bon Kon Ka Kinh như cô tưởng. Mẹ cô là một người đàn
bà ở tận bên kia nhiều dẫy núi, xa tít tắp về phía tây của vùng này. Thầy Bạc
năm ấy đi tìm lá thuốc, ông gặp người đàn bà bụng mang dạ chửa đang cố chạy trốn
mấy con chó rừng tinh khôn đuổi phía sau. Ông Bạc biết rằng lũ chó này không phải
là chó hoang tuy nó vẫn là chó rừng nhưng chúng có chủ. Người chủ sai bảo bầy
chó lùng sục tìm người đàn bà chửa đang trốn chạy. Khi ông Bạc vào cánh rừng
thưa ở đầu bon Kon Ka Kinh đúng lúc đó người đàn bà kiệt sức, thấy ông Bạc, bà
ta mừng rỡ:
- Ôi, cứu tôi với, lũ chó….
Chỉ nói được có vậy người đàn bà đã ngất xỉu. Nhìn bầy chó sắp
chạy vào cánh rừng, mũi chúng đánh mùi của người đàn bà, ông Bạc cau mày. Ông
cho tay phải vào chiếc gùi vẫn mang trên vai chọn vài lá thuốc, tay trái móc
hòn đá lửa, chân dồn đám lá khô. Ông đánh lửa, một tia lửa mỏng manh bắt lấy
chiếc lá và bốc cháy, ông nhanh tay cho mấy chiếc lá thuốc vào. Lúc ấy một cơn
gió rừng từ phía trong thung lũng thổi ra, làn gió cuốn đám khói từ đống lá về
phía đàn chó. Như một phép lạ đang chạy theo mùi người đàn bà, lũ chó khựng lại
và đồng loạt ngã xuống.
Khi người đàn bà tỉnh lại, bà ngạc nhiên thấy mình nằm trong
một ngôi nhà sàn cạnh một đống lửa ấm. Ông Bạc hỏi:
- Bà đã tỉnh?
Người đàn bà khóc và nói:
- Chắc ông là người cứu tôi, tôi xin đội ơn ông suốt đời.
Ông Bạc gặng hỏi nhiều lần về nguyên nhân đàn chó rừng đánh
đuổi nhưng người đàn bà vẫn lắc đầu không nói một điều gì. Sau đó ông Bạc gởi
người đàn bà ở lại bon Kon Ka Kinh, ông bảo với già làng rằng cô Nghỉ là cháu
ruột ông, một Gru nói ra điều gì chính là điều thần linh muốn. Ông Bạc phải trở
về trường để giải quyết công chuyện. Bốn năm sau ông mới có dịp trở lại nơi này
người đàn bà đã chết bỏ lại đứa con ăn nhầm lá “Quà tặng của Thần Rừng”. Ông Bạc
đặt tên cho cô là Nghỉ - đứa con gái không chịu lớn mà nghỉ giữa chừng trong
quá trình trưởng thành của một đời người!
Câu chuyện buồn của cô Nghỉ là như vậy đó!
- Ông ấy là một Gru, hèn nào!
Vương Đình Huệ lẩm bẩm điều ấy trong miệng khi chia tay người
đàn bà tội nghiệp lúc con trăng vừa le lói đỉnh đồi sau nhà.
Chương 10: Dẫn dược
“Ta đã kể cho các người chuyện của học viện Langbiang, đặc biệt
là chuyện của cô Nghỉ. Ta muốn các người cho học viện một ít kỳ nam mà các người
đang tìm, được chăng?”
Trương Đại Quá nghe thằng lùn nói đến điều bí mật của anh và
ba người Lạch, anh quá ngạc nhiên, anh thở gấp. Bốn người bọ họ chưa bao giờ thổ
lộ mục đích chuyến du hành cho bất cứ người nào vậy mà tại sao thằng lùn này biết?
Phải một lúc sau Trương Đại Quá mới lấy lại hơi thở bình thường. Anh hỏi:
- Trước khi nói tiếp câu chuyện ta hỏi mi có tên không?
Thằng lùn cười phá lên:
- Tên ư? Bộ chỉ các người mới có tên sao, còn chúng ta, chúng
ta là những người lùn lại không có tên à? Buồn cười quá đi mất!
Nó cười thật, đó là một tràng cười dài với âm điệu the thé
nghe chẳng lọt tai cho lắm. Trương Đại Quá gằn giọng:
- Vậy mi tên gì chứ?
Thằng nhỏ thôi cười nghiêm giọng nói:
- Ta tên là Vương Đình Huệ. Còn các người, các người cũng tự
giới thiệu đi chứ?
À thì ra nó cũng không khác thường như ta nghĩ, Trương Đại
Quá giới thiệu tên của bốn người cho thằng Huệ biết rồi hỏi lại:
- Vậy Huệ định nhờ chúng tôi chuyện gì?
Ngữ điệu của Trương Đại Quá đã dịu lại. Thấy vậy thằng
lùn cũng trả lời bằng một ngữ điệu tương tự:
- Anh Quá à, tôi và Mat đã biết các anh đang đi tìm loại dược
liệu ấy trong vùng rừng núi quanh đây, vậy các anh có thể cho tôi một ít được
chăng?
Vương Đình Huệ nhắc lại yêu cầu một lần nữa. Trương Đại Quá
thấy thằng nhỏ dịu giọng, anh ngẩm nghĩ:
- Chuyện đó không khó nhưng em cũng phải cho chúng tôi biết
đây là đâu chứ?
Vương Đình Huệ trố mắt nhìn Trương:
- Ủa, nói chuyện với các anh đã nửa ngày trời rồi mà các anh
cũng không biết đây là đâu sao?
Trương Đại Quá thành thật gật đầu, thấy vậy Vương Đình Huệ cười:
- Đây là học viện Langbiang, nơi đào tạo những người thông
thái. Học viện hiện giờ chỉ có một lớp do nhiều thầy giáo dạy mà đứng đầu là thầy
hiệu trưởng Bạc Đầu Râu. Thầy Bạc Đầu Râu là một Gru, dưới quyền thầy Bạc có đến
10 thầy khác, tôi là học trò của Mat, tức thầy giáo Râu Dài trong 12 con trăng,
đến nay tôi đã học từ Mat được 8 con trăng rồi.
Vương Đình Huệ định nói nữa nhưng nhìn những cặp mắt trố ra tỏ
vẻ ngạc nhiên của 4 người Trương Đại Quá, Vương ngừng lại và hỏi:
- Bộ có điều gì không ổn chăng, anh Quá?
- Không em kể nữa đi, chẳng là chúng tôi không thể tưởng tượng
được mình đang sống trong một vùng đất huyền thoại như thế này!
Đến lượt Huệ ngạc nhiên, Huệ hỏi lại:
- Học viện Langbiang là vùng đất huyền thoại sao?
- Đúng vậy, ta đã nghe nhiều về vùng đất này và cũng đã chứng
kiến những người như em nhưng hôm nay không ngờ mình lại ở nơi đây, lại biết
tên là học viện Langbiang, kỳ lạ, kỳ lạ thật?
Vương Đình Huệ trố mắt ngạc nhiên y như hồi nãy bốn người bọn
Trương Đại Quá trố mắt khi nghe anh kể về học viện, thấy vậy Trương Đại Quá cười:
- Ta đã thấy một người lùn biến mất như lúc nãy em biến mất
trước mắt chúng tôi vậy và ông Năm, người thầy của ta từng bị những người bọn
em hành hạ nhiều năm trời….
Vương Đình Huệ ngạc nhiên hết sức không để Trương nói hết
câu, Huệ đã chặn lời:
- Biến mất tức nhiên sử dụng phương thuật ẩn thân, còn hành hạ
người khác chuyện này không bao giờ có cả!
Thấy Vương tỏ vẻ không tin những điều mình nói, Trương bèn
đem những chuyện tao ngộ của mình và của ông Phan Ngọc Ẩn ra kể cho Vương Đình
Huệ nghe. Nghe xong câu chuyện, Vương Đình Huệ nói:
- Đã có một sự hiểu lầm tai hại, những người mà thầy anh gặp
không phải người của học viện Langbiang đâu. Nhưng đây là một câu chuyện dài
sau này tôi sẽ kể cho anh nghe, anh chỉ nên biết rằng người của học viện
Langbiang không phải là người xấu, đặc biệt là không hại bất cứ ai bao giờ cả!
Ngừng một chút như để cân nhắc Vương Đình Huệ nói tiếp:
- Còn vì sao học viện của chúng tôi cần một ít kỳ nam, đây là
một thứ dược liệu cần thiết để giúp cô Nghỉ trở lại người thường.
Giọng buồn buồn Vương Đình Huệ nói tiếp:
- Thân phận chúng tôi, những người từ lúc sinh ra đã phải chịu
một số kiếp khác người thì đã đành. Còn cô Nghỉ, cô đâu phải bị Thần Rừng nguyền
rủa chẳng qua cô vô tình ăn phải lá “Quà tặng của Thần Rừng” thôi, cô Nghỉ
phải trở thành người bình thường!
Vương Đình Huệ kết luận một câu chắc nịch như vậy.
- Em dùng kỳ nam làm dược liệu à, vì sao em biết chúng tôi
đang đi tìm loại dược liệu ấy?
Trương Đại Quá hỏi nhóng một câu như vậy, anh sực nhớ mấy bài
thuốc mà người em Trương Thái truyền lại có sử dụng kỳ nam làm dẫn dược. Mắt
Vương Đình Huệ sáng lên một cách khó hiểu, Vương nói:
- Xin anh thứ lỗi đây là bí mật của học viện, tôi không thể
nói cho người ngoài nghe được.
- Thì thôi vậy ta chỉ hỏi buâng quơ mà, việc cho em một ít kỳ
trầm ta nghĩ không có gì trở ngại, cho dù người sở hữu loại dược liệu ấy là bon
Cây Ngo đỏ.
Quay qua ông K’Rè Trương Đại Quá hỏi:
- Bác K’Rè à chắc bác đã nghe toàn bộ câu chuyện, bác có thể
cho học viện Langbiang một ít kỳ nam được chăng?
Trong đôi mắt già nua của ông K’Rè xuất hiện một tia nhìn
thành kính xen lẫn một nỗi sợ hãi. Không hiểu ông già nghĩ gì, chỉ nghe ông
K’Rè nói rất nhỏ khác với giọng nói bình thường của ông:
- Trong tất cả các trường hợp già làng là người quyết định.
- Nhưng cháu muốn hỏi ý bác với tư cách là người đứng đầu bon
Cây Ngo đỏ, bác có đồng ý không?
- Cậu là già làng của chúng ta, cậu quyết định thế nào chúng
ta nghe theo hết!
Quay sang Vương Đình Huệ, Quá nói:
- Như vậy ba người Lạch này đồng ý với ý kiến của ta rồi
nhưng còn một chuyện ta muốn trao đổi với em, được chăng?
- Có việc gì xin anh cho biết?
Vương Đình Huệ nhìn Trương Đại Quá như muốn đọc ý nghĩ của
Trương. Quả vậy, Vương Đình Huệ đang vận dụng Tri tâm thuật nhằm kiểm soát những
ý nghĩ giấu sau cái đầu to của Trương Đại Quá. Quá nói:
- Chúng ta phải giải quyết mấy vấn đề. Thứ nhất là chuyện cử
động của chúng ta, chắc em đã biết, chúng ta chỉ hoạt động được vào ban đêm,
ban ngày thì không thể cử động, dù chỉ một ngón tay. Thứ hai, nơi cất giữ số Trầm
hương và Kỳ nam của bon Cây Ngo đỏ chúng ta còn chưa tìm ra. Thứ ba, chúng ta
không có ý xấu khi xâm phạm vào lãnh thổ của học viện, chỉ là vô tình thôi. Vậy
em có thể đối xử với chúng ta như những người bạn mà em từng nói, được chăng?
Vương Đình Huệ mím môi:
- Việc các anh bị cấm chế này là một sơ xuất nhỏ, tôi sẽ hỏi
Mat cách trừ cấm chế nếu các anh thể hiện được lòng thành tâm. Việc chưa tìm ra
nơi cất giữ trầm hương và kỳ nam, có 3 người Lạch đây thì không khó lắm, chắc
chắn ta sẽ tìm ra. Còn việc thứ 3, tôi đã nói rồi, tôi coi các anh như là những
người bạn, tôi hy vọng các anh cũng sẽ trở thành bạn của học viện Langbiang như
là bạn của tôi vậy. Thế nhưng quyết định trở thành bạn của học viện thì….
Vương Đình Huệ bỏ ngang câu nói nửa chừng, hình như anh đang
gặp điều gì khó khăn thì phải. Đúng lúc đó cửa phòng giam vụt mở. Mat bước vào
và nói ngay:
- Con nói đúng việc này do ta quyết định.
Quay sang bốn người bon Cây Ngo đỏ Mat nghiêm nghị:
- Bốn người nghe đây: từ mấy ngàn mùa trăng chưa ai có gan tiến
nhập vào lãnh thổ của học viện chúng tôi, đúng luật tục của Gru Lớn truyền lại,
các người phải ở lại học viện vĩnh viễn, không bao giờ được trở về quê nhà nữa!
Một bản án nghiêm khắc và đầy nhân đạo của học viện
Langbiang, bản án lập tức được thi hành sau khi Mat tuyên!
Sau tiếng vỗ tay của Mat, cánh cửa bí ẩn bật mở, một toán
đông đảo những thằng lùn từ ngoài tiến vào, chúng đứng chật cả phòng giam, một
số đứa chậm chân hơn bị bỏ lại phía ngoài, chúng trao đổi với nhau bằng những
tiếng xào xạc nhưng đây là tiếng xào xạc của một trận gió to thổi qua một cánh
rừng! Lẫn trong tiếng động kỳ bí đó một mùi thơm thoang thoảng ùa vào phòng
không biết phát ra từ thứ gì, chỉ thấy 4 người tù của học viện lần lượt ngã xuống.
Họ hôn mê. Như được phân chia sẳn từng tốp những học viên người lùn khiêng
Trương Đại Quá và những người bạn ra khỏi phòng giam.
Khi ra khỏi đường hầm đoàn người rồng rắn kéo nhau về một
ngôi nhà dài, qua khe hở, những ánh lửa hắt ra bên ngoài khiến ngôi nhà càng trở
nên huyền bí trong đêm.
Mat nói khi bọn học trò đã kéo vào bên trong ngôi nhà:
- Đặt họ xuống, tất cả các con ngồi tản ra chung quanh. Đây
là một bài học rất hữu ích, các con phải mở to mắt ra nhìn, không được hỏi dù
chỉ một câu, nhớ chưa?
Bọn trẻ đồng thanh:
- Thưa Mat nhớ rồi ạ!
- Tốt, nào bắt đầu thôi Huệ!
Trương Đại Quá và những người bạn bị lột hết quần áo, việc
này thực hiện bởi Vương Đình Huệ, Tư Đực và anh em nhà K’RaJan. Ngoài Vương ra,
ba người kia tỏ ra hãnh diện vì được phụ Mat trong việc làm này. Những đứa trẻ
còn lại vừa ghen tị, vừa thích thú nhìn những người tù bị lột trần truồng,
chúng cố nén những tiếng cười nhạo đang được cố ghìm trong họng chúng, tuyệt
nhiên không đứa nào phát ra một tiếng động nhỏ.
Bốn người tù được đặt trên một tấm phản làm bằng những thanh
tre đập dập ghép lại với nhau, họ nằm song song, mắt nhắm nghiền hơi thở nhẹ
như đang mơ màng trong một giấc ngủ sâu.
Mat bắt đầu. “Ớ Giàng”, đôi mắt Mat nhìn lên trần nhà, ở đó
là những mái lá được kết khéo léo với nhau và lợp trên những đòn tay. Bồ hóng
đen bám đầy trần nhà, làn khói xanh đen luẩn quẩn quanh mái lá như tiếp thêm bồ
hóng một cách liên tục không ngừng nghỉ. Nhưng Mat không trông thấy mái lá, Mat
không thấy gì cả, đôi mắt ông nhắm lại miệng liên tục đọc những câu nửa như thần
chú, nửa như bài hát, lại vừa giống lời thì thầm của con người thông thấu trời
xanh.
Bọn trẻ im lặng như tờ, trong không gian kỳ bí của đêm người
ta chỉ nghe tiếng tí tách của bếp lửa đang cháy, củi toả ra một mùi hương lạ
càng tạo thêm nét huyễn hoặc của đêm đen. Một lát sau Mat thôi đọc thần chú,
ông mở mắt và ra hiệu cho Vương Đình Huệ mang đến cho ông một quả bầu đặt bên bếp
lửa. Quả bầu màu đen bóng khi nhấc lên Vương Đình Huệ thấy nặng tay, anh biết
bên trong chứa một thứ nước gì đó. Thầy Mat tiếp lấy chiếc bầu, ông mở nút được
làm bằng một thứ lá chuối rừng khô và cho bốn người đàn ông trần truồng uống thứ
nước chứa bên trong. Xong việc ông ra lệnh:
- Tất cả ra ngoài.
Khi tên học trò cuối cùng vừa khuất, Mat cho tay vào chiếc
gùi ông vẫn mang sau lưng nãy giờ lấy ra một nắm cỏ màu đen, Mat vứt nắm cỏ vào
đống lửa và nhanh chóng rời khỏi ngôi nhà. Mat khép cửa lại, ông khoát tay ra
hiệu cho lũ học trò đứng ngồi lố nhố trong đêm đi về phòng ngủ của mình.
Một làn khói trắng bốc ra từ bếp lửa ngày càng dày đặc, nó có
mùi hăng hắc bao trùm lấy ngôi nhà, nó nuốt trững luôn bốn người đàn ông đang
say sưa ngủ trên chiếc phản cạnh bếp lửa đến nỗi một chốc sau người ta không
trông thấy một vật nào cả, chỉ thấy toàn bộ ngôi nhà một màu sữa đục giống y
như sương mù trong buổi ban mai!
Khi rời nhà, thằng Tư Đực giật tay Vương Đình Huệ:
- Anh Huệ, sao Mat lại bắt chúng ta rời khỏi nhà?
Vương Đình Huệ nghiêm nghị nhìn Tư Đực:
- Bộ mày muốn biến thành kẻ dâng linh hồn cho Thần Núi chăng?
- Nghĩa là sao anh Huệ?
- Là mày mà hít phải thứ khói của cỏ Tương Tư, tâm trí mày sẽ
si dại giống như người bị Thần Núi bắt linh hồn chứ sao?
Thằng Tư Đực le lưỡi, nó hỏi:
- Cỏ Tương Tư là cỏ gì hả anh Huệ?
- Mày có biết huyền thoại chàng Lang và nàng Biang không?
- Tui biết chứ sao không, mà cỏ này có liên quan gì đến chuyện
đó?
Vương Đình Huệ nghiêm mặt:
- Sao lại không? Khi nàng Biang chết, nước mắt nàng biến
thành dòng suối Đạ Nhim, con voi đầu đàn thương tâm chuyện tình của hai người
cũng chết và biến thành núi Voi, còn mày biết tóc nàng Biang biến thành cái gì
không?
Tư Đực nghi ngờ:
- Không lẽ nó biến thành cỏ Tương Tư?
- Đúng vậy, ai hít mùi khói đốt từ loại cỏ này tinh thần sẽ
giống như người si dại vì tình, mày thấy có đáng sợ không?
Tư Đực ngây thơ:
- Mà tình là gì vậy anh Huệ?
Vương Đình Huệ bĩu môi:
- Mày quả là con nít, tình là tình yêu giữa người nam và người
nữ chứ là gì nữa?
Thằng Tư Đực vẫn không hiểu:
- Nhưng sao ai hít phải khói của cỏ Tương Tư thì sẽ bị si dại
hả anh?
- Điều đó chỉ đúng với chúng ta, còn bốn người kia không phải
vậy. Mày nghe đây, thứ nước trong quả bầu mà Mat cho họ uống chính là thuốc
Điên Đảo Thần Hồn, ai uống thứ dược liệu này sẽ không còn nhớ một chút gì về
quá khứ của mình, ngoài mặt thì trông giống như một người bị Thần Núi bắt mất
linh hồn. Còn khói cỏ Tương Tư chỉ là dẫn dược, nghĩa là muốn cho Điên Đảo Thần
Hồn công hiệu ta phải dùng khói loại cỏ này và chỉ có khói cỏ này loại thuốc
quên quá khứ ấy mới phát huy công năng của mình. Nhưng cả hai loại này là vô hại
nếu chỉ ở quanh quẩn trong địa phận của học viện chúng ta bởi vì thứ nước họ uống
hàng ngày lấy từ suối Đen, nước suối Đen có khả năng chống được tất cả loại độc
chất trong thiên hạ.
Thằng Tư Đực le lưỡi, nó nhớ tới dòng suối mà hàng ngày bọn học
trò phải gùi về bằng những ống giang to cho cô Nghỉ nấu ăn. Đúng với tên gọi
con suối có một màu đen kỳ lạ nhưng nó cho một thứ nước trong veo, khi khát bọn
trẻ uống nước suối và bao giờ cũng cảm nhận một vị ngọt ngào hiếm thấy. Ai ngờ
nước suối Đen là vị thuốc thần kỳ, hèn nào những người sống trong học viện
Langbiang không bao giờ đau ốm, dù chỉ là những bệnh thông thường.
Vương Đình Huệ không nói nữa nhưng Tư Đực chưa chịu thôi, lâu
quá nó mới có dịp đi bên cạnh Vương Đình Huệ nó phải tận dụng cơ hội này. Tư hỏi:
- Nè anh Huệ, cục đá thần mà anh cho tui hôm đó sao chẳng có
tác dụng gì hết vậy?
Vương nhướng mắt:
- Sao, mày nói không có tác dụng à?
- Bữa đó tui đi lấy măng rừng cho cô Nghỉ mải chơi tôi về trễ.
Đói bụng quá tui lấy cục đá ra rồi nói: “hãy cho ta một con gà nướng!”. Tui tưởng
cục đá thần sẽ giống như phương thuật của thầy Bạc, sau yêu cầu con gà nướng
thơm lừng sẽ xuất hiện tức thời, anh biết đó, một con gà nướng lúc đói bụng giá
trị nhường nào? Nhưng tui chờ mãi chẳng thấy cái gì hết, một cánh gà cũng
không, tức chết đi được?
Vương Đình Huệ nghe Tư kể, anh cười ngặt nghẽo, còn Tư Đực thấy
Huệ cười nó ngạc nhiên quá, nó lay Huệ:
- Anh cười giống gì vậy?
- Trời ơi là trời, mày không biết cục đá thần chỉ là cục đá
thần khi mày biết câu thần chú sai khiến nó, còn nếu không, nó giống như cục đá
lửa của mày thôi, nhiều khi không giá trị bằng cục đá lửa là đằng khác!
- Vậy anh dạy tôi câu thần chú ấy đi?
- Tao đâu biết mà dạy mày chứ?
Suy nghĩ một chút, Tư vặn:
- Vậy tại sao anh biết đó là cục đá thần?
Vương Đình Huệ nghiệm giọng:
- Tao nhặt được nó trong một hang động. Hôm đó tao vào rừng
tìm lá gia vị gặp trời mưa to, tao phát hiện một hang động dưới chân núi
Langbiang tao chui vào nấp mưa, mày biết tao thấy gì khi vào bên trong không hử?
Tư lắc đầu, Vương trả lời liền:
- Các bức tranh vẽ trên vách đá! Bức tranh đầu tiên vẽ một
người đàn ông tay cầm hòn đá, miệng hình như đang nói điều gì đó, bức thứ hai
cũng là bức tranh đó nhưng thêm một đống lửa. Bức thứ ba giống như bức thứ nhất,
nhưng bức thứ tư lại thêm vào một con nai bị mũi tên đâm chết. Bức thứ năm giống
bức thứ nhất, nhưng bức thứ sáu lại là cảnh ăn thịt nướng của một nhóm người.
Tao ngạc nhiên quá không biết hình vẽ trong tranh muốn nói điều gì? Bất ngờ tao
thấy trong một hốc đá có một hòn đá giống y như hòn đá trong các bức tranh. Tao
suy ra hòn đá đó là hòn đá thần, muốn đốt lửa người cầm nó đọc một câu thần chú
lửa sẽ cháy tức thì, muốn săn thú người cầm đá cũng làm như vậy, một mũi tên sẽ
giết con thú. Muốn báo cho mọi người đến ăn thịt thú vừa săn, người cầm đá cũng
làm như vậy, bây giờ mày hiểu rồi chứ?
Tư Đực đăm chiêu một lúc sau nó nói:
- Chưa đủ cơ sở để kết luận đó là cục đá thần, để tui kiểm chứng
lại coi sao?
- Kệ mày, tao cho mày cục đá này để mày tìm ra câu thần chú
bí mật kia. Tao nghĩ mày sẽ động não để tìm ra bí mật ẩn chứa bên trong, ai ngờ
mày hậu đậu quá chừng. Tao thật sự thất vọng về mày Tư Đực ạ!
Chương 11: Tư Đực
Chia tay Vương Đình Huệ với lời bình luận “hậu đậu” của người
trưởng tràng, Tư Đực tức lắm. Từ ngày vào trường nhập học đến nay nó đã cố hết
sức để không thua chúng bạn. Một luật tục đã có từ ngàn đời trong trường là luật
“tự mình”. Luật tự mình quy định tất cả những gì, từ chuyện sinh hoạt đến việc
tiếp thu những kiến thức do các thầy giáo dạy đều phải tự mình làm lấy. Học
viên không được phép nhờ cậy đồng môn trong tất cả công việc trừ trường hợp là
anh em đồng bọc, nghĩa là sinh đôi như trường hợp của anh em nhà K’RaJan Đích
và K’RaJan Đa. Hai anh em nhà này chỉ được tính là một người thôi cho nên số học
viên trong học viện Langbiang lúc này là 101 người nhưng Bạc Đầu Râu chỉ tính
có 100! Biết làm sao được khi mà học viện phải tuân thủ vô điều kiện luật tục
“những lời dạy của Gru Lớn”. Khi ăn mỗi học viên được phát một phần, anh
em nhà K’RaJan tuy hai người cũng chỉ có một phần! Bọn trẻ thường không để ý đến
điều này, chúng không biết anh em nhà K’RaJan hau háu nhìn thức ăn đang được
chúng thưởng thức, bởi vì anh em nhà họ ăn nhanh lắm, chúng luôn cảm thấy đói
cho dù chỉ mới ăn xong.
Cô Nghỉ là một người đàn bà cô biết chuyện đói lòng của anh
em K’RaJan. Không đói mới là chuyện lạ, hai người chỉ có một phần ăn thôi mà!
Cô thương chúng lắm, nói đúng ra cô thương tất cả bọn học viên đang học tại đây
để trở thành những người thông thái! Chưa biết bao giờ mới có thể trở thành nhà
thông thái, nhà thông thái xuất hiện trong học viện không phải lúc nào cũng có
nhưng đã là người thì ai mà chả cần ăn uống? Cô Nghỉ cảm thương cho anh em nhà
K’RaJan như vậy đó! Có một lần, cô tìm cách thêm cho anh em nhà nó một chút cơm
cháy, cô những tưởng chúng mừng rỡ, trái lại chúng tỏ vẻ kinh tởm khi mở gói lá
chuối rừng ra, K’Jan Đích la lên:
- Cái gì thế này?
Cả lớp ngừng ăn nhìn gói lá chuối cô Nghỉ dúi vào tay anh em
nhà K’RaJan, một tiếng thì thầm phát ra từ đâu đó:
- Một dề cơm cháy!
Bất ngờ thằng Đích hét to mắt nó đỏ lên trông dễ sợ:
- Chúng ta không phải là heo!
Nói xong nó ném thật mạnh dề cơm cháy vàng óng mà cô Nghỉ cẩn
thận cho thêm tí mỡ heo ra thật xa. Dề cơm cháy bay là là rồi đáp xuống mặt đất,
lũ lợn đang tìm thức ăn thừa cạnh nhà bếp, thói quen của chúng vào mỗi giờ ăn,
chạy xô vào nhau dành món quà từ trên trời rơi xuống!
Thằng K’RaJan Đa cũng hét lên “chúng ta không phải là heo!”,
rồi cả hai anh em vừa khóc vừa chạy nhanh ra khỏi nhà ăn đến nỗi mọi người ngừng
ăn há hốc nhìn cảnh tượng chưa bao giờ xảy ra trong giờ ăn của học viện. Cô Nghỉ
đứng chết trân như trời trồng, cô nhìn không chớp mắt về hướng chạy của anh em
nhà K’RaJan, mặt cô tái mét, cô thở hào hễn trông tội nghiệp làm sao! Vương
Đình Huệ đứng dậy anh tiến đến cô Nghỉ, anh nói:
- Cô ngồi nghỉ chút đi!
Dìu cô Nghỉ ngồi xuống chiếc ghế nơi đầu bàn ăn xong, Vương Đình
Huệ chạy đi tìm một cái bầu chứa nước, anh mang lại cho cô Nghỉ thứ nước mát dịu
lấy từ suối Đen, anh nói như vỗ về:
- Thôi cô ạ, cô đừng buồn làm gì bọn chúng chắc là mắc bệnh
tà nên mới làm như vậy?
Cô Nghỉ cảm động nhìn Vương, cô thong thả hớp từng hớp nước
suối Đen quả nhiên một lát sau cô bình tỉnh trở lại như chưa có chuyện gì xảy
ra.
Chiều hôm ấy Tư Đực hỏi Vương Đình Huệ:
- Anh Vương à, tại sao bọn nhà K’RaJan lại tỏ vẻ ghê tởm khi
nhìn thấy dề cơm cháy vậy?
Vương Đình Huệ giải thích:
- Theo phong tục của người Mạ cơm cháy chỉ dành cho heo mà
thôi, cơm cháy còn gọi là cơm heo con người không được ăn cơm này! Mỗi khi nấu
ăn người chủ nhà, là đàn bà trong một hộ của nhà dài, chỉ lấy một nửa trên của
nồi cơm để mọi người ăn, nửa nồi dưới trong đó có cơm cháy để dành cho heo, mày
hiểu rồi chứ?
Tư Đực ngạc nhiên:
- Quê em lại khác cơm cháy là một món ăn khoái khẩu, bọn trẻ
con chúng em mỗi lần được cho một miếng cơm cháy thì khoái lắm!
Vương Đình Huệ tò mò:
- Mày người ở đâu ta?
Đang định trả lời bỗng nhiên Tư Đực trợn mắt:
- Anh quên nội quy rồi sao: không ai được cho người khác biết
chuyện riêng của mình, điều này là luật tục điều thứ sáu. Nếu tui nói với Mat,
chắc chắn anh sẽ bị phạt, còn tui báo với thầy Bạc Đầu Râu, anh biết hậu quả ra
sao rồi chứ?
Vương Đình Huệ cười xí xoá:
- Quả là tao quên, mày bỏ qua cho tao nghe?
Tư Đực cũng cười:
- Thôi được, dù sao anh cũng có lòng tốt hỏi thăm tui mà anh
Huệ, anh em nhà K’RaJan đi đâu hả anh?
- Mat nói chúng chỉ đi ra suối Quả Bầu Tròn tắm thôi, anh em
nhà thằng này kỳ quái lắm, khi giận một ai chúng đều đi tắm và nhanh chóng quên
mất chuyện giận dỗi liền? Mày nhớ hôm bắt được tù binh Mat đã phạt 2 anh em nhà
K’RaJan mười ngày không được nói, sau đó chúng cũng nhảy xuống suối Quả Bầu
Tròn và quên mất chuyện bị phạt, mày thấy có hài hước không cơ chứ?
Tư Đực cười to:
- Hèn nào mà chúng trẻ mãi không chịu già, anh biết tụi nó
bao nhiêu tuổi rồi không, gần mười tám tuổi đó!
Vương Đình Huệ trợn mắt:
- Mày nói sao anh em nhà K’RaJan mà mười tám tuổi à, lớn hơn
cả tao sao?
- Đúng vậy, thầy Bạc nói rằng chúng lớn tuổi nhưng vì vô tâm
nên khuôn mặt chúng như đứa trẻ lên mười!
Hôm nay nghe Vương Đình Huệ chê mình hậu đậu, Tư Đực tức lắm,
nó phải chứng tỏ cho Vương biết rằng mình không như anh ấy nghĩ nhưng biết chứng
tỏ bằng cách nào đây? Nghĩ một hồi không ra cách nào cả, Tư Đực mở cửa đi ra
ngoài. Trời còn tối lắm, trên bầu trời không một ngôi sao bởi những đám mây đen
sì đang từ đằng đông kéo tới. Vài hột mưa to đùng rơi xuống đất. Tư Đực rùng
mình, nó vội đi vào nhà và không quên khép cửa lại. Bỗng nhiên một tiếng sấm gầm
vang lên, mưa như trút hết nước xuống mặt đất đang oằn mình chịu trận lôi đình
của ông trời. Tư cố ngủ lại nhưng trong cơn mưa to, gió giật từng cơn khiến nó
không thể nào chợp mắt. Nó lại nghĩ đến hòn đá thần của anh Huệ cho, nó mang ra
xem tay mân mê hòn đá. Trong ánh lửa bập bùng của ngôi nhà dài hòn đá trong tay
Tư Đực thỉnh thoảng ánh lên một thứ ánh sáng kỳ dị khi có ánh lửa chiếu qua. Tư
Đực ngồi bật dậy, nó thổi bùng bếp lửa và chăm chú nhìn hòn đá. Màu đen của hòn
đá quả nhiên ánh lên một tia sáng khi ngọn lửa được thổi to, vậy là hòn đá này
bắt ánh sáng. Đây là phát hiện đầu tiên kể từ ngày Vương Đình Huệ tặng cho Tư
hòn đá thần. Tư nhìn chăm chú hòn đá. Đó là một hòn đá bình thường, hình tròn dẹt,
gần giống như chiếc đĩa nhưng nhỏ hơn. Màu đen của hòn đá khá đặc biệt, nó
không giống những màu đen của vật khác, bên trong hình như ẩn chứa một màu
khác, màu này chỉ xuất hiện khi có ánh sáng rọi vào. “A! đây chính là phát hiện
thứ hai”. Tư Đực mừng quá, nó không ngờ trong đêm nay nó phát hiện đến hai điều
bí ẩn từ hòn đá thần chả bù cho cả nửa mùa trăng qua, nó không biết một chút
nào về vật bí ẩn mà nó là chủ nhân.
Tư nhắm mắt lại, nó cố ghi nhớ cách mà mình vừa phát hiện. Phải
rồi, từ quan sát hòn đá thần một cách tỉ mỉ nó đã phát hiện ra hai điều bí ẩn
kia. Đây là hướng đi đúng, khác hẳn với cách của Vương Đình Huệ. Anh Huệ nói với
Tư rằng anh tin chắc hòn đá này là hòn đá thần. Chỉ vỏn vẹn vậy thôi, Huệ không
nói với Tư phải làm cách nào mới biết được hòn đá thần này? Mặc kệ anh ấy, Tư
nghĩ, luật tục đã quy định rằng phải “tự mình” mà. Tư chìm vào giấc ngủ muộn với
nụ cười mãn nguyện trên môi.
Sáng hôm sau trong sương mù còn che kín vạn vật, phải một khắc
nữa ông mặt trời mới ló lên đỉnh núi, Tư Đực đã thức dậy và đi về phía ngôi nhà
dài mà tối qua bốn người Trương Đại Quá bị Mat xông cỏ Tương Tư. Ngôi nhà ấy nằm
cạnh bìa rừng cách biệt hẳn với những ngôi nhà khác của học viện Langbiang. Bên
kia là một cánh rừng hỗn giao âm u, cánh rừng này ngăn cách với ngôi nhà khách
bằng một hàng cây thông đỏ và một dòng suối nhỏ. Bọn trẻ học viên thường ít khi
lai vãng đến ngôi nhà khách này, chúng không có nhiệm vụ tiếp khách. Hơn nữa
khách của học viện hàng năm đến đây không quá năm đoàn mà đa phần là đoàn người
tiếp tế lương thực cho học viện Langbiang.
Ngôi nhà dài cô đơn có vẻ hoang vắng, cỏ hoang mọc cạnh lối
lên xuống, không có ai dọn cả. Tư Đực cau mày. Đây là nhiệm vụ của anh em nhà
K’RaJan trong mùa trăng qua, chúng đã lãng tránh công việc nhạt nhẽo này nên
ngôi nhà khách mới có vẻ hoang vu như thế. Mat mà biết được thì…, Tư “hừ” trong
cuống họng, tiếng hừ của mình nghe cũng có vẻ người lớn lắm, Tư tự mãn nghĩ.
Cánh cửa tối hôm qua Mat khép lại giờ đã mở toang, chắc hồi
đêm cơn gió cuồng nhiệt của trận mưa đã làm nên chuyện này. Tư hăng hái bước
lên nhà bằng cầu thang một đầu hồi. Luật tục định rằng, chủ nhà phải đi cầu
thang hai bên đầu hồi, còn khách chỉ được dùng cầu thang chính giữa. Chủ nhà của
những người Lạch là những người đàn bà, còn ở học viện này, Gru Lớn quy định tất
cả thầy giáo và học viên đều là chủ nhà. Bước vào bên trong, Tư Đực nheo mắt vì
hơi tối. Trước mặt nó bốn người đàn ông nằm thẳng cẳng trên chiếc phản tre. Họ
đã mặc quần áo vào, không còn lõa lồ như hồi đêm khi bọn học viên mang họ đến
ngôi nhà này và lột quần áo họ ra để Mat báo với Giàng rằng học viện có thêm bốn
người được xem là những người phục vụ cho học viện.
Tư Đực cẩn thận tiến về phía những người này, nó biết rằng họ
không cử động được vì bây giờ đã là ban ngày nhưng đây là lần đầu tiên nó tiếp
xúc với “tù binh” của học viện Langbiang nên nó cũng có chút nghi ngại. Cả bốn
người đều nhắm hờ mắt, trông cách họ nằm cùng một kiểu, họ nằm ngửa, hai tay mở
ra lòng bàn tay hướng lên trời và để song song với thân người, hai chân hơi
dang ra cách nhau độ một gang tay, Tư nghĩ rằng họ đang làm một việc gì đó. Họ
thở đều và sâu, bụng họ phình ra khi hít vào và thóp lại khi thở ra. Tư Đực im
lặng quan sát những người lạ mặt, bây giờ phải gọi là những người phục vụ, bài
học hồi đêm nó tự khám phá ra đựơc nó áp dụng một cách triệt để. Tư thấy người
mà Vương Đình Huệ nói chuyện mà nó nghe lóm tên là Trương Đại Quá có hơi thở chậm,
sâu và dài hơi hơn ba người còn lại. Như vậy người này có vẻ là người lãnh đạo
của cả nhóm, anh ta có lẽ đang tập một bí pháp nào đó chăng? Nếu đúng, đó là bí
pháp gì? Tư điểm lại trong đầu những phương thuật mà nó được thầy Mat chỉ dạy,
không có một phương thuật nào liên quan đến hơi thở và cách nằm của bốn người
này cả. Thôi vậy, ta biết đây là một bí thuật là một điểm thắng lợi bước đầu rồi,
chuyện còn lại từ từ kiến giải hoặc hỏi anh Huệ, hoặc hỏi Mat hay Bạc Đầu Râu.
Tư Đực đằng hắng một tiếng, Trương Đại Quá mở mắt, anh thấy một
thằng lùn lạ mặt đang nhìn mình cười. Trương hỏi:
- Mi vào đây làm gì?
Thằng lùn trả lời bằng một giọng xào xạc như những thằng lùn
khác mà Trương Đại Quá tiếp xúc thời gian qua:
- Chào anh, tui tới thăm các anh đây.
Trương hỏi tiếp:
- Đây là đâu chứ?
Thằng nhỏ cười:
- Anh không biết à, đây là nhà khách của học viện Langbiang,
các anh không phải là học viên nên Mat cho ở tạm đây. Tui chắc rằng ngày mai hoặc
ngày mốt, Mat sẽ cho bọn trẻ chúng tôi cất cho các anh mấy ngôi nhà để ở, nhà
phục vụ đã hết từ năm trước rồi.
Thằng lùn nói một thôi một hồi, Trương nghĩ, thằng này là một
thằng lắm chuyện ta phải khai thác nó mới được. Lúc này ông K’Rè, K’Quang và
K’Sa đã mở mắt ra. Như thói quen vốn có họ im lặng để mình già làng
Trương Đại Quá đối đáp với thằng nhỏ lùn. Trương Đại Quá hỏi dấn tới:
- Nhà phục vụ là nhà gì?
- Đó là nhà dành cho những người làm những công việc chung của
học viện, những công việc đó có thể là phụ cô Nghỉ nấu ăn, hoặc đi vào rừng lấy
củi, xuống suối bắt con cá làm cá khô xông khói, vào rừng săn con min tẩm bổ
cho lũ học trò…. Nói chung các anh là kẻ ăn người ở trong học viện, nói theo
cách văn hoa là những người phục vụ, còn nói theo cách dân gian, các anh là những
“người ở” của chúng tôi, ai cũng có quyền sai các anh làm việc cả!.
Trương giận dữ:
- Tại sao lại có chuyện bất hợp lý như vậy chứ, các người…các
người không được phép sai bảo chúng ta, chúng ta không thực hiện mệnh lệnh thì
các người làm gì được chúng ta nào?
Tư Đực cười lớn, một lúc sau nó nói:
- Chẳng có ai làm gì các anh cả nhưng nếu anh rời xa học viện
này chỉ độ một ngày đường thôi thì các anh sẽ là những người bị Thần Núi bắt mất
linh hồn!
- Nghĩa là sao?
- Là sao à, khi ấy các anh không có nước suối Đen để uống,
các anh sẽ quên hết quá khứ, hiện tại các anh không biết một chút gì, còn tương
lai là một màn đêm u tối!
- Ta vẫn chưa hiểu?
- Là bị điên, giờ các anh đã hiểu rồi chứ?
Nói xong Tư Đực giải thích cặn kẽ những điều biết cho Trương
Đại Quá và ba người bạn nghe. Nghe xong, Trương trầm ngâm:
- Quả là hoạ vô đơn chí!
Nói xong anh nhắm mắt lại, vờ như không để ý đến thằng lùn lạ
mặt, anh tập trung tập khí công nằm. Tư Đực nhìn nhóm người ở mới thấy họ im lặng,
nó cụt hứng định ra về. Nhưng chưa kịp thực hiện ý định một cơn gió thoảng qua
làm nó giật mình, Mat hiện thân trước mặt Tư Đực, ông thầy Râu Dài nhìn trừng
trừng thằng học trò nhỏ, mắt ông toé lửa, chắc là ông tức tối điều gì đây, Tư
nghĩ trong đầu như vậy. Cười cầu tài, Tư Đực cúi đầu:
- Con chào Mat!
Ông thầy không trả lời, ông im lặng, một sự im lặng đáng sợ
báo hiệu một cơn bão sắp xảy ra. Đúng như vậy, Mat quát to:
- Ai cho mi đến đây?
- Thưa Mat, con không xin ai cả!
- Ha ha… thằng này giỏi, thằng này giỏi!
Tư Đực tái mặt, mỗi khi Mat nói “thằng này giỏi” có nghĩa là
cơn giận của ông thầy Râu Dài đã đến cực điểm, Tư sợ lắm nhưng nó vẫn không hiểu
nó đã phạm lỗi gì? Nó hỏi:
- Thưa Mat con phạm lỗi gì mà Mat giận dữ vậy ạ?
- Lỗi à, mi không phạm lỗi, mi phạm tội biết chưa?
Tư Đực chết điếng, nó không nhận ra mình phạm tội tày đình gì
mà Mat giận dữ như vậy? Mat nghiến răng:
- Ai cho phép mi đến đây để tiếp xúc với những người này, mi
có phải làm nhiệm vụ truyền thông không hử?
Vụt nhớ đến luật tục “ai làm việc nấy” mà Gru Lớn quy định. Một
cơn ớn lạnh chạy qua xương sống Tư Đực, lúc này mặt nó không còn một chút máu!
Mat nghiêm giọng:
- Mi đã biết tội chưa?
- Thưa Mat con biết rồi, con xin chịu hình phạt một tuần
trăng tự giam trong khu rừng ma!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét