Thứ Ba, 22 tháng 2, 2022

Con rồng An Nam - Phần 4

Con rồng An Nam - Phần 4

Giải pháp Mỹ
Thế là từ nay tôi trở thành một thường dân, di cư sang Pháp, y như những người khác. Từ xa, tôi theo dõi cuộc sống của dân tộc tôi, chịu chung nỗi đau thương, vui buồn cùng họ.
Sau khi người lính Pháp cuối cùng cuốn gói ra đi vào tháng 4 năm 1956, ông Diệm có xung quanh những người thân tín là ông Nhu, Cẩn, Đức cha Thục và nhất là người em dâu, bà Nhu, đã ngự trị thành chúa tể ở miền Nam Việt Nam. Thỉnh thoảng, chỉ có sự vãng lai che chở của các cố vấn Mỹ, đem đến cho ông ta một chút mặc cảm về tinh thần quốc gia u ám của mình.
Tuy nhiên, sự chống đối không phải là chấm dứt hẳn. Việc tiêu diệt giáo phái đã giao cho Việt Minh từng vùng rộng lớn và phì nhiêu ở nông thôn, vốn còn có những phần tử Việt Minh đóng tại chỗ, trái lại các điều khoản của hiệp ước Genève.
Bởi vì, nếu ông Diệm có dẹp bỏ được sự lo âu về tổng tuyển cử, thì Việt Minh cũng chẳng thành tín gì, đối với việc tập kết mà chứng còn để lại ở miền Nam, từng bộ phận quân sự của họ.
Thật sự, những điều khoản của Genève chẳng bao giờ được ai tôn trọng cả.
Chẳng bao lâu, đây là sự xuất hiện của bọn du kích Việt Cộng mà những sự khủng bố đã làm mất an ninh ở khắp miền Nam. Trước hiểm họa đó, người Mỹ vội vã xúc tiến việc thành lập quân đội Việt Nam. Nhưng trong lãnh vực này, họ đã không chịu theo kinh nghiệm của người đi trước, lại đi lập các đạo quân chính qui cổ điển với đầy đủ trung đoàn, sư đoàn, bộ tham mưu, và các cơ sở quân sự… Lẽ ra, họ phải giữ lấy nguyên tắc vẫn để các đoàn khinh binh lưu động, như tôi đã từng buộc Pháp phải chấp nhận là đúng. Các đoàn khinh binh này có sự uyển chuyển co dãn, để đối phó với quân du kích địch, do chúng có thể đột xuất nhanh chóng và được áp dụng đúng với chiến tranh du kích cách mạng.
Trong khi đó, ông Diệm và các anh em là Nhu và Đức cha Thục, đã tìm cách chống lại tứ đổ tường hầu thanh sạch hóa miền Nam vốn mang tiếng là thối nát. Các sòng bạc và nhà chứa đều bị đóng cửa, nạn đa thê và mãi dâm bị triệt để cấm hẳn, ngay cả khiêu vũ cũng bị nghiêm cấm. Rượu và thuốc phiện, tất nhiên bị liệt vào hàng tệ nạn xã hội, không thể được dung túng. Nhưng tất cả cái phong trào thanh hóa ấy, cũng chẳng thu được kết quả nào đáng kể. Ngay cả Nhu, dựa vào lý thuyết của Emmanuel Mounier, đã muốn đặt thành quốc sách cái gọi là Cần Lao Nhân Vị cũng chẳng đạt được kết quả mong muốn, vì thuyết đó không thích ứng với tâm hồn của người Việt Nam, từng được tiêm nhiễm về Khổng Mạnh sâu đậm. Vì vậy, các dự định cải cách lớn lao của Ngô Đinh Diệm, nhằm vào cải cách ruộng đất, lập các ấp chiến lược chẳng những đã không đi đến đâu, còn làm dân chúng bất mãn, trở thành yếu tố cho bọn du kích bành trướng.
Vì vậy, ngày 20 tháng chạp năm 1960, đã phát sanh ra cái gọi là Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, và đến ngày 1 tháng 2 năm 1961, Quân Đội Giải Phóng Miền Nam thành hình. Tuy quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã mạnh tới 150.000 người, được trang bị đầy đủ do người Mỹ viện trợ, người ta có cảm tưởng rằng quyền hành đang bị vượt qua.
Cũng do đó, ngày đầu tháng giêng năm 1962, tuy không ai muốn nói đến đoàn quân viễn chinh Mỹ, đã có từng đơn vị quân đội đang bắt đầu đổ bộ Sài Gòn. Nhiệm vụ của họ là thay thế cho các đoàn cố vấn, để họ cùng đi hành quân cùng với quân đội Việt Nam. Hoa Thịnh Đốn càng ngày càng dấn thân thêm nữa, và sự leo thang trong lãnh vực quân sự đã bắt đầu.
Về mặt kinh tế cũng vậy, để trám vào các sự khiếm khuyết của Diệm, các cố vấn Mỹ đã đưa các chuyên viên của họ vào các bộ, và các cơ quan thông tin. Ông Nhu dần dà thay thế anh. Thông minh, can đảm, tàn bạo, Nhu lập ra nhiều tổ chức, mà mục đích là kiểm soát dân chúng, công chức, thanh niên và phụ nữ. Sự đoàn ngũ hóa ấy tăng trưởng mãi lên thành phong trào gọi là đoàn Thanh Niên Cộng Hòa, mà tất cả mọi người đều phải ghi tên kể từ khi lên tám tuổi. Việc tiểu trừ Cộng sản dâng cao tột độ nhưng vì có những sự vụng về, nên người ta bỏ ra bưng theo Cộng sản.
Tất cả đang tiến tới, chính phủ gặp phải sự chống đối của các nhà sư. Ông Diệm và Nhu là người Công giáo. Các nhà sư được Cộng sản giật giây, và mật vụ Mỹ tiếp tay, liền bắt đầu hoạt động. Chính quyền phải đổi phó lại, vô hình chung như mang mặc cảm kỳ thị tôn giáo.
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông Diệm bị lật đổ, với sự đồng ý của Mỹ, và bị giết cùng với ông Nhu. Phe quân nhân đảo chính, do tướng Dương Văn Minh “Cồ” lên cầm quyền.
Ở miền Bắc, sau khi thắng năm 1954, một chính sách độc tài nghẹt thở đè nặng lên nhân dân toàn xứ. Tuy tin tức ít lọt ra ngoài, nhưng người ta cũng biết rằng Hồ Chí Minh và phe nhóm đang sửa soạn chiến tranh. Họ đã bắt đầu chịu gánh nặng viện trợ cho quân du kích miền Nam. Đối với họ, chẳng còn hồ nghi gì nữa, sự thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện, nhưng dưới lá cờ của Đảng Cộng sản. Dù cho vị lãnh tụ già nua có chết đi vào năm 1969, các diễn tiến ấy vẫn không thay đổi.
Ở miền Nam, sau khi ông Diệm bị lật đổ, các tướng lãnh đua nhau lần lượt cầm quyền và người Mỹ ngày càng đi sâu vào vấn đề Việt Nam. Đã được một năm, máy bay Mỹ không ngớt ném bom đều đặn xuống miền Bắc. Nhiều sư đoàn quân Đại Hàn, quân Úc, và quân Tân Tây Lan đều tham gia chống lại Cộng sản.
Diễn biến ngày hôm nay chỉ là hậu quả của diễn biến ngày hôm qua. Làm sao mà tôi không thể nghĩ đến Tổ quốc Việt Nam của tôi, khi tôi đang sống trong đó, và tôi đã từng lãnh đạo lâu năm, và vẫn còn mang nặng trách nhiệm?
Đã có một sự đứt đoạn về thời Diệm, nhưng kể từ ngày ông ta mất đi, sự việc đã hoàn toàn thay đổi. Bắt đầu, tôi lại có liên lạc với dân chúng và chúng tôi đã gặp lại nhau. Chưa hẳn là một cuộc tái hồi, nhưng cũng đã có những môi manh mới.
Tiếc thay, sự chia rẽ ở Nam Việt Nam quả thật trầm trọng. Nhiều đoàn thể quá, chỗ này chỗ khác, đâu cũng là phe phái, chia rẽ. Phe dân sự chống lại phe quân sự, và ngược lại. Người theo đạo Phật chồng lại người Công giáo.
Và trên hết, sự tái sanh các giáo phái nẩy lên như cũ. Cần phải chấm dứt tất cả, vì đó là điều sinh tử của xứ sở. Cần phải có một chính quyền trung ương vững mạnh để tái lập lại sự thống nhất quyền hành.
Trong nhiều cuộc biểu dương ở Sài Gòn, người ta đã đòi bầu cử. Nhưng làm sao mà có được bầu cử trong một nước bị rách nát bởi chiến tranh? Quả là dễ dàng để buộc dân chúng bầu cho ai với khẩu súng dí phía sau lưng. Nếu người ta tổ chức các cuộc bầu cử, ở miền Nam cũng như ở miền Bắc, thì hai bên vẫn cân bằng, nơi nào bầu cho nơi ấy. Như vậy thì đâu phải là hình thức thực hiện thống nhất đất nước ở Việt Nam?
Người ta đã nói đến nhiều về sự các nhà sư tự thiêu, nhưng vấn đề các nhà sư là vấn đề giả tạo. Phần lớn các nhà tu hành, đã trở về chùa của họ. Vậy thì ai đã xúi giục họ gây loạn, ai? Họ ở đâu tới? Làm sao mà biết được nếu họ từ Hà Nội vào hay từ Bắc Kinh tới. Không giống như các nhà tu hành Công giáo, mà người ta ai cũng biết, để hiểu được tự cội nguồn, và tìm ra được lý do.
Tuy nhiên, cũng chẳng có gì là sáng sủa hơn ở Hà Nội. Tôi vẫn có những người liên lạc, từ nơi đó, và tôi biết miền Bắc cũng đang gặp đầy rẫy khó khăn, những lo sợ cấu rứt. Ở đó đang đói khổ, và có những mâu thuẫn dị biệt, hay quan điểm trái ngược. Chẳng hạn như tướng Giáp, ông ta đâu có thân Tầu?
Ở đây, cả thế giới như đang muốn có một giải pháp để chấm dứt chiến tranh. Thì ngay Đại tá Boumedienne hay Tổng thống Nasser cũng đều tự hào là có những giải pháp tốt đẹp có thể áp dụng được. Tất nhiên, trường hợp nào cũng đầy rẫy các cố vấn tài ba cả.
Là một người Việt Nam, và từng là Quốc trưởng, tôi đã suy nghĩ nhiều, nghiền ngẫm nhiều. Vấn đề hết sức phức tạp. Quả nhiên là quan trọng quá độ, để có thể tìm được một giải pháp nhiệm mầu. Tìm cách giải quyết, có hàm ý là phải gặp hàng loạt sự đi đêm, sự thăm dò chính trị và phải trình bày cho các bên liên hệ, những mục tiêu dự định, và phương pháp để thực hiện. Kế hoạch mà tôi muốn đưa ra để đem lại hòa bình cho Việt Nam, vướng mắc vào sự va chạm quốc tế, và quyền lợi riêng tư của dân chứng, mà người ta đã thường không chú trọng đến.
Dù sao, tất cả các quan điểm được trình bày, quan điểm của Tướng De Gaulle chắc chắn là điều rõ ràng hơn cả, và cũng có thể là điều hữu lý hơn cả.
Tuy nhiên, nó chỉ thực sự đáng lưu ý nếu được các nước liên hệ nhất định tôn trọng, và tùy theo tâm trạng của người Việt Nam. Bởi vì chúng ta chẳng nên nhầm giữa cái gọi là trung lập hóa và vị trí trung lập của một nước. Về vị trí trung lập, thì như nước Cam Bốt đã chứng tỏ rồi. Còn vấn đề trung lập hóa, là sự gạt bỏ tất cả mọi sự du nhập ngoại lai, và chỉ có sự tự lực tự cường của quyền lợi quốc gia. Liệu dân chúng Việt Nam đã nắm vững được ý thức ấy, và tất cả các nước ngoài chịu cái giải pháp ấy? Chúng ta có thể ngờ.
Trong hoàn cảnh hiện tại, nếu chiến tranh cứ tiếp diễn, tương lai về nước Việt Nam sẽ là một nước Việt Nam không có người Việt Nam, một vùng đất cháy với toàn xác chết.
Tôi không kết án cũng không phê bình về nền chính trị Mỹ đối với Việt Nam. Người Mỹ đã bị lôi cuốn, đã bị bắt buộc phải vào cuộc chiến này. Ngược lại, có lẽ họ đã muốn, tôi nghĩ không biết có đúng không, họ đã muốn giúp nước chúng tôi theo kiểu khác, hòa bình và đáng quý hơn là không phải những khẩu canon, và bom đạn… Tuy nhiên, họ đã bị vướng mắc, sa vào một lưới nhện, mà họ không thể tìm thấy lối thoát, nên đành chấp nhận chiến tranh.
Chỗ này cần phải quay trở lại quá khứ. Người ta đã dùng Diệm. Chính tôi đã cho tìm ông ta, khi ông ta mải mê theo tu học, và tôi đã đưa ông ta vào quyền hành. Than ôi, rất nhanh chóng, nước Việt Nam bị đặt dưới quyền gia đình trị của ông ta. Toàn gia ấy đã làm hỏng việc của Diệm.
Thế rồi trước nữa, đó là sự chấm dứt của sự có mặt của người Pháp Điện Biên Phủ, rồi Genève… Tuy nhiên, không phải là sự liên hệ hỗ tương giữa hai sự việc. Cái này không phải là kết quả của cái kia. Điện Biên Phủ là một bãi chiến trường, trong đó vẫn còn tôi ở đấy, miễn là nếu tôi được trang bị khả quan hơn, thì tôi vẫn quật ngược được Giáp đến từ phương Bắc. Bộ Tổng Tư lệnh Pháp đã từ chối, với cớ là đang chuẩn bị cuộc hành quân Atlante. Dù sao, hai tuần lễ sau đó, lực lượng đối kháng của địch đã bị thiệt hại nặng nề, và quân địch phải yêu cầu tạm đình chiến để rút các xác chết và thương binh của họ. Lúc ấy, người ta có thể phản công, nhưng các tư lệnh Pháp thì chỉ muốn đánh ngay tại chỗ.
Có lẽ họ đã hồi tưởng đến quan niệm có từ thời Verdun, nên đành chui trong một xó để im lặng khiếp nhược. Với một chiến lược như thế, thì dù binh sĩ có can trường đến mức nào, cũng không tài nào đạt nổi chiến thắng được. Mọi hy sinh đều vô ích. Genève ngược lại là một sáng kiến chính trị. Một năm trước khi có hội nghị, lúc đó ông Georges Bidault làm Ngoại trưởng, ông ta đã nói trước với tôi là số phận Việt Nam đã được định đoạt, và cũng không phải là do hậu quả của một Điện Biên Phủ nào. Số phận Việt Nam được định đoạt, không có tôi trong đó.
Thực tế, Genève chỉ là một giai đoạn của chiến tranh ở Việt Nam, mà luôn trong hai mươi lăm năm người ta không ngớt giết chóc nhau. Xứ sở Việt Nam của chúng tôi thật là xứ sở tuyệt vời, với một dân chúng đặc biệt, và chúng tôi cũng có thể có một sự tiến triển ngang với Nhật Bản, nếu chúng tôi không bị đưa vào lò thử lửa giữa hai khối Đông Tây.
Vào năm 1966, không còn phải Paris là chỗ làm mất Đông Dương, mà là Hoa Thịnh Đốn. Thật sự, người Mỹ đã phải chịu một đòn chiến tranh tâm lý nặng. Phe Bồ câu chủ hòa đã huy động tất cả các phần tử khiếp nhược và đầu hàng, các ký giả săn tin, bọn thanh niên phản chiến, sinh viên và báo chí khuynh tả. Ở khắp nơi, tại Hoa Kỳ đã thành lập các ủy ban phản chiến khuyến khích binh sĩ Mỹ đào ngũ. Tổng thống Johnson không biết và không dám leo thang chiến tranh. Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 26 tháng 7 ra một bản tuyên ngôn: “Hoa Kỳ không muốn xâm lăng miền Bắc Việt Nam, hơn nữa, Hoa Kỳ không muốn mở rộng chiến tranh, và cũng không muốn lật đổ một chế độ nào”.
Vào lúc cần phải áp dụng sáng kiến để thay đổi số phận của chiến tranh, như phong tỏa các miền duyên hải Bắc Việt, đưa chiến tranh du kích vào châu thổ sông Hồng, đánh ra miền Bắc qua vĩ tuyến 17, người Mỹ lại buông lơi dưới áp lực của phe chủ hòa.
Tại Phnom Penh, ngày 1 tháng 9, Tướng De Gaulle đích thân, không đá động gì đến sự can thiệp của Cộng sản vào dưới vĩ tuyến 17, lại kết án dứt khoát sự can thiệp của ngoại quốc từ “bờ bên kia Thái Bình Dương” và kêu gọi Mỹ hãy rút lui khỏi miền Nam Việt Nam.
Nhờ sự giúp đỡ của quân đội Mỹ nên quân lực Việt Nam không đến nỗi đổ sụp ngay, nhưng miền Nam Việt Nam cũng không đạt được tiến bộ vững chắc nào về chính trị, tuy ngoài mặt có hình thức khả quan. Quân đội có tiến triển, nhưng sự bình trị vẫn chẳng đi đến một kết quả tốt đẹp nào.
Nhân dịp sang thăm Paris vào kỳ hè năm 1965, ông Richard Nixon có tìm gặp tôi. Ông nói:
- Thưa Ngài, sự tìm gặp Ngài là do cá nhân của tôi. Tôi chẳng ăn nhằm gì với chính phủ Mỹ, nhưng tôi muốn biết Ngài nghĩ sao về “leo thang” nhất là về sự ném bom ào ạt vào miền Bắc?
Tôi hỏi lại ông ta:
- Leo thang để làm gì? Nếu để phá hoại, thì tôi có thể trả lời Ngài là chúng tôi cũng đã từng làm về thời của chúng tôi… Nhưng xin đừng có đụng chạm đến đê điều miền Bắc. Và nếu lại dùng đến bom nguyên tử nữa, thì đó là một tội ác…
Nixon ra về, có vẻ suy tư.
Tháng 9 năm 1967, Tướng Thiệu được bầu làm Tổng thống chính phủ, Tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ làm phó. Chính phủ mới được thành lập dưới quyền của Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc.
Cuối tháng giêng năm 1968, tiếng sét nổ ra. Đó là cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Quân Việt cộng và bộ đội chính quy miền Bắc mở cuộc xung phong nhiều đợt. Ai cũng ngạc nhiên hoàn toàn. Tất cả các tỉnh lớn ở miền Nam như Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Kontum, Pleiku, Nha Trang đều bị chiếm đóng. Tại Sài Gòn, quân Cộng sản tấn công vào dinh Độc Lập và tòa Đại sứ Mỹ.
Trong một tháng, chiến trận vẫn khốc liệt, có hàng ngàn người chết. Nhưng cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã hoàn toàn thất bại. Quân Bắc Việt trở về vĩ tuyến 17, và du kích Việt cộng lại trở vào bưng. Khi chúng đã quay về, thế giới mới khám phá ra rằng khi Cộng sản mà chiếm được quyền hành, chúng sẽ tàn sát như thế nào. Một điểm nữa đáng chú ý, đó là những dân tìm cách chạy trốn trước quân giải phóng, vốn tự cho mình là đi giải phóng cho mọi người.
Đất nước đông nghẹt hàng đoàn người đi tị nạn. Sau này, người ta đã phải nói rằng, “người Việt Nam đã đi bỏ phiếu bằng chân”.
Vì vậy, lời tuyên bố của Tổng thống Johnson ngày 31 tháng 3, thật đáng tiếc vô cùng. Khi tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, sự mong muốn của Hoa Kỳ chỉ là được mở các cuộc đàm phán hòa bình “bất cứ ở đâu, và bất cứ lúc nào” đồng thời tuyên bố từ chối ra ứng cử Tổng thống nhiệm kỳ tới, để giải giới dư luận Mỹ.
Ngày 13 tháng 5 năm 1968, tại Paris, miền Bắc Việt Nam chịu mở cuộc điều đình. Hòa hội này lâu tới năm năm. Qui chế của hòa hội năm 1954 lại được áp dụng. Ngày 27 tháng 6, để tránh một Điện Biên Phủ mới, người Mỹ rút khỏi căn cứ không quân Khe Sanh.
Tại đường Keber ở Ba Lê, ông Averell Harriman, sau được thay thế bằng ông Cabot Lodge, xúc tiến việc thảo luận với trưởng phái đoàn miền Bắc là Xuân Thủy. Nhưng đằng sau phái đoàn chính thức này, công việc thực sự là ở tay hai nhân vật là Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, vốn là cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ. Bởi vì vào tháng 11 năm 1968, ông Richard Nixon được bầu làm Tổng thống
Ông Nixon trong cuộc hội đàm với Tướng Thiệu ở Guam, đã trình bày quan điểm của mình. Không màu mè gì, ông muốn rút hết trách nhiệm của quân lực Mỹ tại Việt Nam, nhưng không phải vì thế mà để cho Cộng sản có thể làm chủ tình thế được. Vì vậy, ông muốn thay thế quân đội Mỹ bằng quân đội Việt Nam. Tức là Việt Nam hóa chiến tranh. Câu nói đã làm mọi người kinh dị. Bởi vì chẳng mới mẻ gì. Mười tám năm trước, chính Tướng De Lattre đã từng cố gắng thực hiện, mặc dù không nói đến danh từ ấy.
Trong một bài diễn văn đọc ngày 4 tháng 11 năm 1969, Tổng thống Nixon nói với dân chúng Mỹ, đồng bào của ông ta như sau:
“Đừng bao giờ để cho các sử gia của chúng ta có thể bảo được rằng: Mỹ quốc vào thời kỳ cực thịnh của nó vốn là siêu cường mạnh nhất của nhân loại, đã bị các lực lượng độc tài, bắt đưa tay bịt kín niềm hy vọng cuối cùng về hòa bình và tự do, của biết bao nhiêu triệu người nuôi dưỡng…
Trong kỳ vận động bầu cử của tôi, tôi đã cam kết là chấm dứt chiến tranh, để có thể giúp chúng ta tìm thấy hòa bình. Tôi đã thiết lập ra một sáng kiến đề giúp tôi hoạt động hữu hiệu. Dân chúng Mỹ càng giúp đỡ tôi bao nhiêu, tôi càng mau chóng đạt được lời hứa hẹn. Bởi vì chúng ta càng chia rẽ bao nhiêu, thì khó lòng buộc địch chịu hòa đàm bấy nhiêu. Chúng ta cần phải đoàn kết để tiến tới hòa bình, chúng ta càng phải đoàn kết để chống lại mọi thất bại”.
Tại Paris, việc đàm phán dù chính thức hay kín đáo, vẫn kéo dài. Thực hiện chính sách chiếc gậy và củ cà rốt, Nixon quyết định vào đầu năm 1970 đánh vào hành lang của Bắc Việt Nam, nằm trên xứ Chùa Tháp. Cuộc hành quân hỗn hợp của quân đội Mỹ và Nam Việt Nam buộc Thái tử Sihanouk phải chạy sang Bắc Kinh. Sự thay đổi đột ngột đó, lôi cuốn Trung cộng phải tỏ thái độ trong cuộc đàm phán Paris, mặc dù có thể chỉ để dằn mặt Moscou. Ông Nixon khôn ngoan đã muốn khơi to sự rạn nứt giữa hai nước Cộng sản đàn anh. Từ ngày 21 đến 28 tháng 2 năm 1972, ông ta sang thăm Trung quốc, rồi đến tháng 5 cũng sang thăm Moscou. Trước mặt ông ta, việc giải quyết các vấn đề mâu thuẫn ở Việt Nam là khúc đầu trong lịch sử bang giao quốc tế. Hành động khôn khéo đó, rất có lợi cho Việt Nam.
Hà Nội cảm thấy nguy hiểm. Mùa xuân năm 1972, tướng Giáp mở cuộc tiến công mới qua vĩ tuyến 17. Trước mặt, chỉ có vài sư đoàn quân Việt Nam Cộng hòa, còn lính Mỹ thì có hơn 50.000 quân đóng tại chỗ.
Ngày 12 tháng 7 năm 1972, trước hoàn cảnh mới này, tôi gửi dân chúng Việt Nam lời kêu gọi hòa bình dưới đây:
“Giờ đã điểm để chúng ta chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, giúp cho dân tộc chúng ta băng bó vết thương, để trở về với nền hòa bình của sự hòa đồng tương thân tương ái. Mong rằng tất cả mọi người hãy xóa bỏ mọi hận thù và nỗi chua cay, và tất cả hãy đoàn kết lại để xây dựng lại tổ quốc. Đối với nhiệm vụ thiêng liêng ấy, tất cả mọi người đều có bổn phận góp phần cũng như có quyền tham dự. Như tất cả mọi công dân Việt Nam khác, tôi thành thực kêu gọi và ao ước sự hòa giải dân tộc. Hãy cùng nhau giơ tay ra đoàn kết để Việt Nam được tồn tại đời đời”.
Tôi cho ấn hành một thông cáo, giải thích tại sao sau khi vắng mặt luôn 17 năm trường nay tôi lại xuất hiện công khai trong mâu thuẫn hiện tại. Thật vậy, nếu tình hình quân sự có bề khẩn trương, tình hình ấy đang có lợi cho miền Nam Việt Nam Khốn thay, tình hình kinh tế lại đang bị suy thoái đáng ngại. Thế mà chính trị bao giờ cũng lệ thuộc nhiều vào kinh tế. Vậy thì đã đến lúc để lại bắt đầu.
Cuối mùa hè, thì người ta có thể nói dứt khoát là Cộng sản đã thất bại. Quân đội Cộng hòa đã đứng vững. Liệu quốc gia có thể hồi phục được tinh thần?
Tại hội nghị Paris, bọn Cộng sản đề nghị một thỏa hiệp rời rạc và đầy thiếu sót vì nó chỉ quanh quẩn đến vấn đề ngưng bắn tại chỗ. Thiệu với lý do rất xác đáng, đã từ chối cái thỏa hiệp đó. Tình thế lại bế tắc. Thế là ngày 18 tháng 12 năm 1972, Nixon quyết định lại ném bom miền Bắc. Cuộc oanh tạc này thật khủng khiếp, và kéo dài tới 12 ngày.
Trước quyết định đó, ngày 27 tháng giêng năm 1973, miền Bắc Việt Nam ký ở Paris, về cuộc chấm dứt hận thù, và tái lập hòa bình ở Việt Nam. Hoa Kỳ, miền Nam Việt Nam, Mặt trận Giải Phóng Miền Nam và Bắc Việt đồng ký kết.
Thỏa hiệp ấy dựa vào sự tôn trọng vào căn bản của chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam, và quyền tự quyết của từng cá nhân, đồng thời nói lên mối quan tâm đối với nền hòa bình của Á châu và của toàn thế giới.
Trong đó có một chương chứa đựng điều quan trọng:
“Nền thống nhất của Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước một, bằng hình thức hòa bình, trên căn bản thảo luận và hiệp ý giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, không có chuyện sát nhập miền này vào miền kia, giữa hai bên, và cũng không có sự can thiệp ngoại lai. Ngày thống nhất sẽ được quyết đỉnh bởi một thỏa hiệp chung giữa miền Nam và miền Bắc Việt Nam”.
Trong tháng chạp năm 1972, tôi có gặp ở Paris, một số chính khách Nhật, họ mời tôi sang thăm nước họ.
Ngày 6 tháng giêng năm 1973, tôi rờí nước Pháp sang Hong Kong, và lấy làm thích thú được hồi tưởng lại những ngày cũ tôi đã sống tại đây về năm 1946. Không biết bao lần, tôi nhận được cảm tình nồng hậu và lòng trung thành của các kiều bào hải ngoại. Như cộng đồng kiều bào ở Nouméa, đã đánh điện chúc mừng tôi, qua trung gian một vị đại diện của họ, lúc ấy đang làm Giám đốc Đài phát thanh ở Nouméa (Tân Thế Giới).
Tôi đến Tokyo ngày 7 tháng 2. Ngày ấy, lẽ ra Thiên hoàng Hiro Hito bận phải xa kinh đô, Ngài đã cho lui lại chuyến công du 24 giờ, vì sợ hiểu lầm là thất kính đối với tôi.
Ngày hôm sau để chứng tỏ tôi rất cảm động về lòng ưu ái đó, tôi đến đặt vòng hoa anh đào trong đền thờ Vua Minh Trị Thiên hoàng. Vua Minh Trị đã giống như tổ tiên tôi là vua Gia Long, đã đem nền văn minh Âu Tây vào đất Nhật. Cũng chính là vị Vương, ngày đầu thế kỳ này, đã đặt kinh đô ở Tokyo, và đặt ra Hiến pháp, sau khi tuyên bố bỏ chế độ phong kiến, và thể chế quân phiệt ở Nhật.
Trong thời gian lưu lại Tokyo, tôi đã gặp lại Ngài Yokoyama, cựu Sứ thần Nhật ở Huế trong những giờ phút khó khăn năm 1945.
Chính ông ta đã thông đạt cho tôi biết quyết định của chính phủ Nhật là trao trả nền độc lập cho Việt Nam. Ông cụ già này rất cảm động được gặp lại tôi.
Các nhà kinh doanh Nhật đã liên miên mời tôi dự các buổi tiệc tùng chiêu đãi.
Chính tại Tokyo mà tôi được biết về bản văn kiện ký ở Paris 31 tháng 1 năm 1973. Lập tức, tôi nhận thấy có nhiều sơ hở, nhất là về những chỗ nói về sự đảm bảo quốc tế, và nền tự quyết của dân tộc. Qua trung gian hăng AFP địa phương, tôi ra một bản công bố nói rằng: “Dân tộc Việt Nam qua nội dung bức văn kiện, không chịu để bị ràng buộc bởi loại hiệp ước kiểu Yalta trao đổi giữa ông Kissinger và Bắc Việt Nam”.
Nhấn mạnh đến chỗ xây dựng đất nước, tôi lưu ý rằng:
“Mọi viện trợ ngoại quốc, dù to lớn và cần thiết đến đâu, nó cần phải căn cứ vào nền hòa bình xã hội, nền hòa bình này lại phải do toàn thể nhân dân Việt Nam chấp nhận. Nếu không có sự đoàn kết quốc gia, thì viện trợ nào cũng trở thành vô ích, nếu không còn trở thành nguy hiểm cho tương lai xứ sở nữa”.
Điều cảnh cáo của tôi từ Tokyo chẳng phải là vô ích. Áp dụng thỏa hiệp ngày 27 tháng giêng, một hội nghị quốc tế được mở ra ở Paris một tháng sau, để các bên ký kết ngày mùng 3 tháng 3, một văn kiện mới, trong đó nhấn mạnh:
“Trong trường hợp vi phạm vào hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam, hay vi phạm vào quyền tự quyết của dân chúng miền Nam Việt Nam, các bên ký kết hiệp ước này hoặc riêng biệt, hoặc thỏa đồng, phải tham khảo với các phái đoàn khác có ký trên hiệp ước, hầu định đoạt hay tìm phương thức giải quyết thích đáng”.
Sự tái xác nhận những bảo đảm quốc tế đã được đại biểu 12 nước tham dự hội nghị quốc tế về Việt Nam cùng ký là nước Pháp, Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, Hung Gia Lợi, Nam Dương, Ba Lan, Bắc Việt Nam, Anh quốc, miền Nam Việt Nam, Nga Sô, Canada, Trung quốc của Bắc Kinh và Mỹ. Để cho được long trọng, cuộc ký kết được tổ chức với sự chứng kiến của Tổng thư ký Liên hiệp Quốc đặc biệt đến Paris về việc ấy. Chúng ta sẽ thấy sự tín nhiệm mà người ta đặt cho bản văn kiện quan trọng như vậy, nó có giá trị.to lớn và bảo đảm bực nào, cho những chữ ký được đề cao quan trọng như vậy.
Thật vậy, nhưng thỏa hiệp ấy, nếu có đem đến sự thắng lợi cho Hoa Kỳ, đã rút chân ra được một bi kịch như vậy, vẫn còn ghi dấu lại lâu lắm. Còn đối với miền Bắc Việt Nam, nó lại là một sự đồng lõa, hầu tránh một cuộc chiến bất lợi, chỉ đưa đến sự thất bại về cho toàn thể dân chúng Việt Nam chẳng còn hy vọng giữ lấy tự do và độc lập của mình.
Thỏa ước Paris đã chẳng đưa đến hòa bình ở Việt Nam, mà nó chỉ đưa đến sự chấm dứt sự can thiệp của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh này.
Chẳng bao lâu, quả nhiên, chiến tranh lại bùng nổ, chẳng những ở miền Nam Việt Nam, mà thực tế chưa bao giờ chấm dứt, mà nó còn lan rộng sang Cam Bốt và nước Lào.
Hai mươi ba sư đoàn của Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Cộng sản, ở phía nam vĩ tuyến 17 đã chẳng bao giờ chịu rút đi, càng làm áp lực mạnh.
Tuy nhiên, sau khi việc phóng thích 500 tù binh Mỹ được chấm dứt vào ngày 29 tháng 3, Tổng thống Nixon bị dính líu vào vụ Watergate, đó là một biến cố bất hạnh lớn lao cho Nam Việt Nam.
Thế là sự đồng minh của phe Cộng sản Nga Tàu và khác nữa, cộng với sự đồng lõa của bọn người tưởng tìm ra được sáng kiến để quân bình thế giới, cũng như sự im lặng của bọn khác, hầu mong được cảm tình của địch bất chấp ý chí và quyền lợi của các dân tộc, đã thắng, và Tổng thống Nixon rút lui khỏi chính trường kể từ ngày 8 tháng 8 năm 1974.
Thế rồi từng đoàn tàu vận tải của Nga, nối đuôi nhau ở cửa bể Hải Phòng để tháo gỡ quân trang, quân cụ cho Cộng sản Hà Nội, để trang bị từng sư đoàn Cộng sản vào đầu năm 1975, thì Quốc hội Mỹ đã từ chối, không chịu thổi cho chính phủ miền Nam Việt Nam một quả bóng dưỡng khí nào, để có thể giúp cho nó khỏi bị chết ngạt.
Đó là dấu hiệu của sự chia phần. Văn Tiến Dũng tung các sư đoàn tiến công. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Ban Mê Thuột bị hy sinh trước tiên, để rơi vào tay bọn Cộng sản.
Cuộc tiến đánh khá mạnh mẽ và rõ rệt, nhưng chẳng có một quốc gia nào từng ký hòa hội bảo đảm ngày 2 tháng 3 năm 1973, chịu lên tiếng phản đối. Đối với miền Nam Việt Nam, bị tất cả bỏ rơi nên sụp đổ mau chóng.
Mười lăm ngày sau cuộc di tản đẫm máu của dân chúng Phnom Penh, các chiến xa Sô viết do quân đội miền Bắc lái, húc đổ các hàng rào của dinh Độc Lập ở Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Những cảnh tượng thê thảm đã đè nặng lên cuộc di cư đẫm máu của cả một dân tộc chạy trốn Cộng sản Biết bao nghìn người chết trong những ngày ấy, bao nhiêu vụ tự tử, và các gia đình tan tác… Ai có thể, lập được bản đúc kết của các sự bi thảm đó?
Từ đó, đến nay đã được bốn năm. Thành phần của Mặt trận Giải Phóng Miền Nam biệt tăm mất tích. Bọn thống trị miền Bắc đã thực hiện điều thống nhất ký kết ở Paris, không khác gì tờ giấy lộn ném trong sọt rác, điều thống nhất ấy chỉ có nghĩa là các trại tập trung goulag. Bốn năm đã qua đi, nhưng máu vẫn chảy, làm cho đất nước Việt Nam bị thất thoát biết bao con em, làm quang sạch xứ sở, và nếu Hà Nội chỉ khẽ bỏ chiếc gông cùm đè nặng lên đầu lên cổ họ, thì đó là cả một nguồn vô tận nhân mạng, đã băng hóa ra khỏi vết thương mà đất nước Việt Nam mang nặng ở bên mình.
Sự thắng trận của Hà Nội, cũng là sự thất bại của họ.
Sự thất bại ấy đã được in hằn trong sự bỏ chạy của bọn đồng lõa với thực dân Pháp, hay nói với bọn đế quốc Mỹ, mà ngày nay chưa ai có thể qui trách nhiệm riêng cho một bọn nào.
Sự thất trận ấy, đã được in hằn trong sự kháng chiến của cả một dân tộc đã từ chối nếp sống ô nhục ấy, và đặt niềm hy vọng vào sự phụe hưng của một nước Việt Nam hòa bình và tự do.
Ngày nay đây, trong khi đất nước Việt Nam chỉ còn chiến tranh, hận thù, lầm than và chết chóc, từ Đà Nẵng đến Cam Ranh, Nga Sô đang ngự trị làm chủ nhân ông, thì chính phủ Hà Nội chỉ còn thấy một con đường sống là chúi đầu chúi cổ mà tiến lên phía trước.
Sống trong gọng kìm của chiến tranh và đói khổ, nước Việt Nam Cộng sản buộc phải đi sâu mãi vào chiến lược cổ lỗ của giấc mộng bành trướng của Hồ Chí Minh, làm nước Đại Việt Nam bao gồm chẳng những Ai Lao, Cam Bốt, mà còn nhiều tỉnh cũ của Ai Lao, nằm trong lãnh thổ của Thái Lan.
Sau sự thất bại của giải pháp Pháp, đên giải pháp Mỹ, nước Việt Nam sẽ lại gặp sự thất bại của giải pháp Cộng sân, không còn nghi ngờ chi nữa.
Cảm nghĩ
Vậy thì dân chúng Việt Nam đã xứng đáng để được thấy thái bình chưa?
Từ hai mươi lăm năm qua, trên các ngọn đồi ở Huế, lời cam kết nguyện cầu đối với Trời Đất theo như phong tục cổ truyền, đã được ai thắp nén hương thờ cúng, dâng lễ Nam Giao, để được Đất Trời và thần linh phù trợ cho đất nước này chưa?
Được tiếp dẫn linh thiêng bởi hình thể địa dư, và hoàn cảnh lịch sử, lẽ ra Việt Nam phải là đất của gặp gỡ, hòa đồng, bỗng trở thành đất của thù hận và đương đầu đoạn tuyệt hẳn với tinh thần quốc gia cố cựu. Hỏi dân tộc Việt Nam đã được lợi lộc những gì? Đã mất cả tự do, lại bị kết án lựu đầy, đuổi ra khỏi quê hương đất tổ, để cố gắng vớt vát gìn giữ lấy linh hồn.
Cuộc thống nhất bằng vũ lực đã chẳng đưa đến kết quả gì. Nước Việt Nam vẫn còn là miếng mồi của sự tranh giành. Dù các chữ ký ở các hòa hội Paris năm 1973 đã chẳng đưa đến chấm dứt chiến tranh, thì cuộc chiếm đóng bằng quân sự của miền Bắc vào miền Nam Việt Nam cũng chẳng hơn gì, để chấm dứt những giông bão đang làm sôi sục dân tộc rách nát tả tơi này. Máu đã đổ, tang tóc đã đầy, và đau đớn hận thù, trong ba mươi năm càng đào hố thêm sâu sắc.
Chỉ còn mỗi một cách để hàn gắn vết thương ấy, là những người chiến thắng phải có một thái độ đặc biệt. Họ phải tự nén mình xuống, và tuyên bố những điều tương thân tương ái, đồng thời phải tỏ độ lượng khoan hồng. Nhưng miền Bắc đã theo đuổi chính sách sắt máu, ngoan cường không chịu thay đổi. Họ chưa bằng lòng với sự thống trị miền Nam, mà còn muốn bắt nó phải khuất phục, phải chối bỏ bản ngã, để nhồi sọ nó, bắt nó phải coi chỉ riêng họ là nắm vững được chân lý.
Thế là trên bình diện luân lý, triết lý Cộng sản quả là độc hại, bởi nguyên lý của Cộng sản đưa đến sự phá sản về nền móng luân thường và xã hội, mà nước Việt Nam đã dầy công xây dựng trong suốt hai mươi thế kỷ lịch sử. Dân chúng không thể cảm thấy mình là chủ của mình, trên địa hạt quốc gia, để có thể theo định lệ tự nhiên của đại thể mà phục vụ tổ quốc của mình.
Theo dòng lịch sử của hơn hai mươi thế kỷ, tánh thái của đất nước, làm cho nó như cái đáy của mọi biến cố, đường bộ lên phía Bắc khó có thể sang Tàu, đường sang phía Tây hầu như bịt kín. Do thế, nếu có một biến thiên gì bỏ dọc từ trên xuống dưới hay từ dưới lên trên, dân chúng chỉ còn có nước đổ xô ra bể, Họ như bị đẩy vào hỏa lộ Thermopyles (21) ở Đông Nam châu Á. Điều đáng chú ý nhất trong tâm tình của họ, là phải bám sát vào đất đai mà họ sống. Từ hai mươi thế kỷ qua, chưa có một cuộc chiếm đồng nào được dài lâu.
Vậy mà ngày nay, đám dân chúng đó đều trở thành thuyền nhân…
Đã hai mươi lăm năm qua, tôi rời bỏ quê hương của tổ tiên tôi. Hai mươi lăm năm tại Pháp, vùng đất bao dung đã đón nhận tôi, đã ràng buộc tôi với bao kỷ niệm thời niên thiếu. Từ khi Hoàng hậu Nam Phương mất đi, vốn được tôi thương yêu từ lúc thanh xuân, nay đã ra đi, và các con tôi cũng bay xa, tôi thường bơ vơ đơn chiếc. Tôi đã cảm thấy, và đã sống như biết bao đồng bào của tôi, nam cũng như nữ, đang sống hiện nay. Nơi thì cảm tình, bao dung với tình bằng hữu, nơi thì hiểu lầm, đầy ác ý. Nỗi mừng vui khi gặp lại người xưa, hay sự u sầu của cô thân chích ảnh.
Trong thời gian đó, tôi không ngớt đập cùng nhịp tim với các đồng bào khác, đang sống trong lo âu, khắc khoải. Tự đặt mình vào hoàn cảnh của họ, tất cả tư tưởng của tôi đều hướng về họ, nuôi chung một nguyện cầu, hay nguồn hy vọng.
Cuộc sống trong xã hội Việt Nam giống y như cuộc sống tâm linh của vị Hoàng đế, vẫn ấp ủ linh thiêng đến từng thôn dã. Nhưng nếu Người có thánh thiện mọi hành động nào, ra chỉ thị nên theo hay kiểm soát chỉ thị ấy, Người cũng chẳng mang một trách nhiệm nào. Ngược lại nữa, triết lý tuyệt vời của Việt Nam đối với vị Hoàng đế của mình, là bậc minh quân thánh chúa, trị vì mà không cần phải huyên hoa “với hai tay thong thả buông xuôi, và với bộ y phục giản dị, nhẹ nhàng...”. Nhưng hãy bỏ chuyện ấy ra ngoài, như đã từng nói đến về thời năm 1945, hoàn cảnh bây giờ thật vô cùng nghiêm trọng. Nhưng khí thiêng sông núi còn ngự trị tại quê hương tổ quốc, và tư tưởng nổi bật vẫn là tư tưởng của sự phục hồi, có lẽ dưới hình thức mới, sự phục hồi của thuần phong mỹ tục cố hữu của mình.
Thời gian mà chúng tôi đang sống, không phải là thời gian của buông xuôi, tuyệt vọng, mà chỉ là sự tạm ngừng. Với những ai hiện đang nắm quyền hành số phận của tổ quốc, tôi nói: Sửa sai không phải là điều mất mặt… Như Khổng Phu Tử đã từng nói: “Cái gì mà chúng ta có thể vứt bỏ, thì không phải là Đạo. Thời đen tối tiếp diễn thời sáng sủa. Sự đó làm nẩy ra Đạo”.
Nước Việt Nam với một nguồn nhân lực, với tài nguyên nông nghiệp, khoáng sản đầy rẫy, sẽ thành công trong lãnh vực kiến thiết, nếu nó không bị chia rẽ, mà sống trong nền thống nhất thực sự. Nền thống nhất thực sự ấy phải được xây dựng, theo sự an bình của nội tâm, truyền thống tốt đẹp của hiền hòa và cảm thông dễ dàng. Đó là đường đi của hòa bình. Như vậy, dân tộc Việt Nam đoàn kết trong một nước gồm trên bốn mươi triệu dân, tự do, bình đẳng như anh em, một dân tộc cần cù, đầy sáng kiến và kiêu hãnh, họ có thể đổi chỗ đứng xứng đáng trên hoàn cầu, và tự tìm thấy bản chất xứng đáng của mình.
Một bản chất ấy khởi từ cỗi nguồn, đã tìm ra được nguyên lý. Đó là nguyên lý của sự xử thế giữa con người với con người, và gieo rắc tình thân hữu với các quốc gia, đồng thời thể hiện được nền độc lập của mình, coi như một vấn đề tự nhiên, bởi tất nhiên.
Trong tất cả các dân tộc, dân tộc Việt Nam trong suốt ba mươi lăm năm đã dẫn đầu về sự hy sinh. Từ thế kỷ thứ 19, con số Tử vì đạo cho Thiên Chúa đã rạng danh nước Việt Nam là Trưởng nữ của Công giáo ở Viễn Đông.
Nhưng bây giờ, đây là cả một dân tộc, dù họ đã bị hướng dẫn lầm lạc bởi bọn chăn cừu kém cỏi, hay vì họ quá yêu chuộng tự do, vâng, tôi nói cả một dân tộc, đã minh chứng trước mắt thế giới, khả năng hy sinh tột độ của mình. Một sự hy sinh bị ép buộc, chịu sống trong nhẫn nhục và cam phận, với một tư cách khuôn mẫu, với đầy đủ ý nghĩa đó.
Cũng như sự hy sinh của hàng chục ngàn trẻ con, đàn bà cũng như đàn ông, đã sẵn sàng trao phó đời sống của mình trên một chiếc thuyền mỏng manh, để không biết bao nhiêu đã mất tích trong sóng cuồng giông bão.
Sự hy sinh đó có giá trị như một bản thông điệp. Bản thông điệp gửi cho khắp cả các nước trên hoàn cầu. Liệu các nước có hiểu được ý nghĩa bức thông điệp đó? Đã có một thời mà nước Việt Nam, trong sự lo âu, thất vọng chờ mong một cử chỉ của tình thương. Ngày hôm nay, sự lo âu tuyệt vọng đó đã quá độ rồi, tiếng kêu thương của họ không còn là lời kêu gọi suông nữa. Nó phải là sự can thiệp tức khắc.
Paris tháng 7-1979
BẢO ĐẠI
Chú thích:
(21) Thermopyles: Đường hẻm giữa hai khe núi, hẹp và không có lối thoát ở hai bên, tại Thessalie (Hy Lạp). Nơi đây xảy ra cuộc tử chiến giữa Leonidas, với 300 quân, để chống lại với quân Thổ Nhĩ Kỳ và tất cả đều bị tử trận.
Phụ đính I
BẢN DỊCH HIỆP ƯỚC VÀ PHỤ ĐÍNH TIẾNG VIỆT
Hiệp ước Bảo Hộ ký ngày 6 tháng 6 năm 1884 (tức Hiệp ước Patenotre)
Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc và Chính phủ của Đại Nam Hoàng đế, vì muốn tránh vĩnh viễn các khó khăn đỗ từng xảy ra từ trước đến nay, và muốn liên kết trong tình bang giao tốt đẹp, nên đã đồng thanh quyết định, ký một thỏa ước về vấn đề này, và bổ nhiệm các vị đặc mệnh toàn quyền làm việc này, kê rõ:
Thay mặt cho Chính phủ Pháp là ông Jules Patenotre, có Danh dự Bội tinh, và đeo huân chương đệ nhất đẳng, Bắc đẩu Bội tinh, v.v… và v.v… được cử làm đặc mệnh toàn quyền của Chính phủ Pháp ở Bắc Kinh, làm khâm mạng đặc biệt về việc này.
Thay mặt cho Hoàng đế nước An Nam là quý ông:
Nguyễn Văn Tường, đệ nhất phụ chính đại thần, thượng thư bộ Lại.
Phan Thân Duật, thượng thư bộ Hộ.
Và Tôn Thất Phan, quyền thượng thư bộ Công, đặc trách về ngoại giao với nước ngoài.
Những vị đó, sau khi thông báo chức vụ và quyền hạn của họ cho nhau, nhận chân là đúng và hoàn hảo, đã thỏa thuận ký với nhau hiệp ước, theo những điều khoản dưới đây:
Điều Khoản Thứ I.
Nước An Nam, công nhận và chấp nhận nền bảo hộ của nước Pháp.
Nước Pháp sẽ đại diện cho nước An Nam trong sự giao dịch quốc tế.
Người An Nam ở ngoại quốc sẽ được đặt dưới quyền bảo hộ của nước Pháp.
Điều Khoản Thứ II.
Một binh đội của Pháp sẽ chiếm đóng Thuận An trong một hạn định vĩnh viễn. Tất cả các pháo đài và công sự binh bị phòng ngự ở trên bờ sông Hương sẽ bị phá hủy.
Điều Khoản Thứ III.
Những viên chức An Nam đang làm việc từ biên giới xứ Nam kỳ đến biên giới phía bắc tỉnh Ninh Bình, vẫn được lưu dụng, và cai trị như cũ, trong phạm vi giữa hai miền ranh giới ấy, ngoại trở về các địa hạt thương chính, công chính và nói chung về các cơ sở đòi hỏi sự điều khiển duy nhất và riêng biệt hay việc sử dụng các kỹ sư hay cán bộ ngoại quốc,
Điều Khoản Thứ IV.
Trong phạm vi các điều khoản đã nói ở trên, Chính phủ An Nam công bố mở cửa các hải cảng cho việc giao thương với tất cả các nước, ngoại trừ cửa bể Qui Nhơn, Tourane và Xuân Đáy. Mặt khác, các hải cảng khác cũng sẽ được đặt ra sau sự thỏa thuận tương đồng. Chính phủ Pháp sẽ đặt các viên chức cai quản hải cảng ấy theo lệnh viên Khâm sứ ở Huế.
Điều Khoản Thứ V.
Một viên Tổng Khâm sứ, đại diện cho Chính phủ Pháp sẽ chủ tọa về ngoại giao cho vương quốc An Nam và đảm nhiệm chức vụ bảo hộ, nhưng không xen kẽ vào việc nội trị địa phương hàng tỉnh, đã được ghi rõ theo điều khoản III nói trên. Vị Đại diện này sẽ ở trong nội thành Huế với một đoàn vệ binh quân sự.
Viên Tổng Khâm sứ được quyền yết kiến Hoàng đế An Nam với tính cách tư, và cá nhân.
Điều Khoản Thứ VI.
Tại Bắc kỳ, các Công sứ hay Phó Sứ được đặt dưới quyền của Chính phủ Pháp. Họ ở các thị trấn, mà sự có mặt của họ là cần thiết. Họ được lãnh đạo bởi viên Tổng Khâm sứ.
Họ ở trong nội thành, ngay cả trong tự dinh các quan, và được bảo vệ bởi một binh đội Pháp hay bảo an người bản xứ.
Điều Khoản Thứ VII.
Các viên Công sứ sẽ cố tránh không được đụng chạm đến nền cai trị địa phương hàng tỉnh. Các quan lại An Nam vẫn tiếp tục cai trị và làm nhiệm vụ của mình, dưới sự kiểm soát của viên Công sứ. Đồng thời họ có thể bị cách, bãi theo yêu cầu của nhà chức trách Pháp.
Điều Khoản Thứ VIII.
Các viên chức và công nhân người Pháp, bất cứ thuộc loại nào chỉ được giao dịch với nhà chức trách An Nam qua trung gian các viên Công sứ Pháp.
Điều Khoản Thứ IX.
Một đường giây điện thoại sẽ được nối liền Hà Nội với Sài Gòn, do viên chức Pháp điều khiển, và bảo trì.
Một phần tiền thuê kinh phí, sẽ được chia cho Chính phủ An Nam, để trở về tiền thuê đất và đặt đài.
Điều Khoản Thứ X.
Tại miền Trung và Bắc kỳ, những người ngoại quốc bất kể quốc tịch nào, đều do Tòa án Tây xét xử.
Nhà chức trách Pháp sẽ phân loại các vụ kiện, để ấn định việc xử án giữa người ngoại quốc với người bản xứ, hay giữa họ với nhau.
Điều Khoản Thứ XI.
Tại Trung kỳ, các Quan bố sẽ thâu thuế cho Chính phủ An Nam, không trực thuộc viên chức người Pháp.
Tại Bắc kỳ, các viên Công sứ sẽ cùng các viên Quan bố tập trung các khoản thuế đó và sử dụng việc chi tiêu. Một phái đoàn hỗn hợp gồm các viên chức Pháp và An Nam sẽ ấn định các khoản tiền dành cho từng ngành của nền hành chính và các ngành khác công lập. Số tiền thặng dư sẽ được nộp vào quỹ của Triều đình Huế.
Điều Khoản Thứ XII.
Trên toàn quốc, tất cả các khoản tiền thuế thương chính được đặt lại, và trao toàn quyền cho nhà cai trị người Pháp. Tiền thuế ấy chỉ gồm các thuế thương chính do hàng hải và do từ biên giới đến, mà sự cần thiết sẽ cần phải đặt ra. Bất cứ các sự khiếu nại về thương chính vốn do binh sĩ An Nam đặt ra cho đến nay đều không được chấp thuận.
Các luật lệ và điều khoản về thuế gián thâu, thể thức và giá biểu về quan thuế cũng như các điều kiện vệ sinh của xứ Nam kỳ, từ nay được áp dụng trên toàn lãnh thổ của Trung kỳ và Bắc kỳ.
Điều Khoản Thứ XIII.
Tất cả các công dân hay bảo hộ Pháp được quyền đi lại tự do buôn bán, và là sở hữu chủ các động sắn và bất động sản ở trên toàn lãnh thổ Bắc kỳ, hay ở các nhượng địa của các hải cảng ở Trung kỳ, Hoàng đế An Nam xác nhận các đảm bảo vốn được đề cập đến do hiệp ước ngày 15 tháng 3 năm 1874 đối với các giáo dân và các nhà truyền giáo ở những nơi đó.
Điều Khoản Thứ XIV.
Những người muốn đi lại trên nội địa xứ Trung kỳ, chỉ cần được phép của viên Tổng Khâm sứ ở Huế hay viên Toàn quyền Nam kỳ.
Các viên chức cai trị Pháp này sẽ cấp cho họ giấy tờ thống hành, và sẽ do quan lại An Nam kiểm soát.
Điều Khoản Thứ XV.
Nước Pháp từ nay cam kết bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ cá nhân Hoàng đế An Nam, để chống lại bất cứ kẻ địch từ bên ngoài, hay sự nổi loạn ở bên trong lãnh thổ.
Vì vấn đề này, binh lực Pháp sẽ chiếm đóng trên toàn lãnh thổ hai xứ Trung kỳ và Bắc kỳ các địa điểm cần thiết, để thi hành quyền bảo hộ.
Điều Khoản Thử XVI.
Hoàng đế An Nam.vẫn tiếp tục cai trị như cũ, nền hành chánh địa phương, ngoại trừ những điều đã do hiệp ước này đề cập đến.
Điều Khoản Thứ XVII.
Những khoản tiền nợ hiện nay của Vương quốc An Nam đối với nước Pháp, sẽ được thanh bạch do cách trả sẽ được ấn định sau. Hoàng đế An Nam từ nay cũng không được quyền vay mượn của nước ngoài, nếu không được chính phủ Pháp quốc công nhận.
Điều Khoản Thứ XVIII.
Những cuộc đàm phán sau sẽ định rõ số cửa bể được mở ra và các nhượng địa của Pháp trong các cửa bể ấy, sự xây cất các hải đăng trên các xứ Trung kỳ và Bắc kỳ, thể chế và quy ước khai thác các hầm mỏ, quy ước về tiền tệ, sự phân chia tiền thuế thương chánh, thuế trực thâu, thuế bưu chính và mọi thứ khác chưa được nói đến theo điều thứ XI của hiệp ước này.
Bản hiệp ước này sẽ được đệ trình lên chính phủ Pháp quốc và chính phủ Vương quốc An Nam, để duyệt xét và chấp thuận, nếu cần phải thay đổi gì, sau đó sẽ được áp dụng tức khắc. 
Điều Khoản Thứ XIX.
Hiệp ước này sẽ thay thế các bản hiệp định ngày 15 tháng 3, ngày 31 tháng 8 và ngày 23 tháng 11 năm 1874.
Trường hợp có sự phản đối, thì riêng bản tiếng Pháp là đủ.
Để chấp chiếu, các đặc mệnh toàn quyền nói trên đều ký kết vào bản hiệp ước này cùng kiềm ấn riêng của họ để làm bằng.
Làm tại Huế, gồm hai bản, ngày 6 tháng 6 năm 1884.
PATENOTRE HOÀNG ĐẾ AN NAM
Phụ chính Đại thần
Nguyễn Văn Tường ký
 Phan Thân Duật ký
Tôn Thất Phan ký
Phụ đính II
HIỆP ƯỚC SƠ BỘ PHÁP-VIỆT NAM
Ký Ngày 6 Tháng 3 Năm 1946
Giữa các nhân vật cao cấp phía dưới: Về Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc một bên, do, ông Sainteny, đại diện của Thượng sứ Pháp, Đô đốc D’Argenlieu, đặc sứ toàn quyền của Cộng hòa Pháp quốc, và một bên Chính phủ Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại diện của Hội đồng Bộ trưởng Vũ Hồng Khanh, hai bên đã thỏa thuận như sau:
1. Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân sự, và nền tài chính riêng biệt, nằm trong Liên bang Đông Dương và ở trong Liên hiệp Pháp.
Về việc thống nhất ba kỳ, Chính phủ Pháp công nhận sẽ chấp thuận quyết định của toàn dân, sau khi được trưng cầu dân ý.
2. Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp, theo đúng tinh thần quốc tế, khi quần đội này kéo vào tiếp quản quân Tàu.
Một phụ ước sẽ được đính kèm vào bản hiệp định sơ bộ này, sẽ đặt ra các thể thức khi họ bắt đầu vào tiếp quản.
3. Những thể thức rõ ràng nói trên sẽ được tức khắc thi hành. Sau khi hai bên trao đổi chữ ký, phần bên nào dùng biện pháp cần thiết làm tạo hoàn cảnh thích hợp để mở những cuộc đàm phán thân hữu và thẳng thắn.
Nhưng sự đàm phán đó sẽ đề cập đến vấn đề ngoại giao của nước Việt Nam với bên ngoài, qui chế tương lai của Đông Dương và quyền lợi văn hóa và kinh tế của Pháp ở Việt Nam.
Hà Nội, Sài Gòn, hay Paris sẽ có thể được chọn để làm chỗ đàm phán.
PHỤ ƯỚC VỀ HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA PHÁP VÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
Giữa hai bên đã ký hiệp định sơ bộ, nay thỏa thuận như sau:
1. Lực lượng được thay thế sẽ gồm có:
a) 10.000 binh sĩ người Việt với số sĩ quan chỉ huy Việt Nam sẽ thuộc quyền quân đội Việt Nam.

b) 15.000 binh sĩ người Pháp bao gồm cả số binh lính Pháp đang đồn trú tại Việt Nam về phía Bắc vĩ tuyến thứ 16. Những binh sĩ ấy chỉ được gồm các binh lính gốc chính quốc, ngoại trừ số binh sĩ chịu trách nhiệm canh giữ tù binh Nhật. Tất cả các lực lượng quân sự đó sẽ do bộ Tự lệnh tối cao Pháp sử dụng, có đại diện của nhà chức trách Việt Nam chứng kiến. Sự phát triển, đồn trú, và sử dụng các lực lượng đó, sẽ được ấn định do một quy ước của bộ chỉ huy, do đại diện của quân lực Pháp và Việt Nam, sẽ họp bàn ngay sau khi quân Pháp kéo vào miền Bắc.
Các Uỷ ban hỗn hợp sẽ được đặt ra, theo từng cấp tương đồng, trong một tinh thần thân hữu, giữa hai bên quân đội Pháp và Việt.
2. Các đơn vị Pháp của lực lượng thay thế sẽ được chia làm ba loại:
a) Những đơn vị chịu trách nhiệm coi giữ tù binh quân sự Nhật Bản. Những đơn vị đó sẽ được hồi hương ngay sau khi nhiệm vụ của họ được hoàn tất, trong vòng tối đa 10 tháng.
b) Các đơn vị phụ trách hợp tác với quân lực Việt Nam, để giữ an ninh công cộng, trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Những đơn vị này sẽ lần lượt được rút hết, và thay thế bằng quân lực Việt Nam, theo tỉ lệ 1/5 hàng năm. Như vậy, số quân đội Pháp sẽ rút đi hết trong vòng thời gian là năm năm.
c) Những đơn vị chịu trách nhiệm phòng thủ các đồn bót Việt Nam, vẫn đang trấn đóng; những địa phần đồn trú đã được chỉ định rõ ràng.
3. Chính phủ Pháp cam kết sẽ không dùng tù binh Nhật cho mục tiêu quân sự của mình.
Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946.
Ký tên: Sainteny, Salan, Võ Nguyên Giáp.
Phụ đính III
TUYÊN BỐ CHUNG
Ngày mùng 5 tháng 6 năm 1948 tại Vịnh Hạ Long
Giữa ông Emile Bollaert, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, và Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam, trước mặt Hoàng đế Bảo Đại,
Trước mặt Hoàng đế Bảo Đại,
Ông Emile Bollaert, Cố vấn Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, nhân danh Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc một bên, và:
Ông Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam, có sự dự kiến của quý ông Nghiêm Xuân Thiện và Đặng Hữu Chí, Phan Văn Giáo, Nguyễn Khoa Toàn và Đinh Xuân Quảng, Trần Văn Hữu và Lê Văn Hoạch, đại diện lần lượt cho miền Bắc Việt Nam, miền Trung Việt Nam và miền Nam Việt Nam, một bên.
Đã lập bản tuyên bố chung như sau:
Nước Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam được tự do thực hiện nền thống nhất của mình. Về phía Việt Nam, nước Việt Nam tuyên bố sẽ chấp nhận vào Liên hiệp Pháp dưới danh nghĩa một quốc gia liên kết với nước Pháp. Nền độc lập của Việt Nam không có một giới hạn nào khác, ngoài giới hạn mà Liên hiệp Pháp dành cho mình.
2. Nước Việt Nam cam kết tôn trọng mọi quyền hạn và quyền lợi của các tư nhân Pháp, cam kết bảo đảm các căn bản dân chủ, và dành quyền ưu tiên sử dụng các nhà chuyên môn cố vấn Pháp trong mọi nhu cầu tổ chức nội bộ, và khuếch trương kinh tế của mình.
3. Sau khi thành lập chính phủ lâm thời, các đại diện của Việt Nam sẽ thỏa thuận với các đại diện của Cộng hòa Pháp quốc, những thỏa thuận hợp lý về các vấn đề ngoại giao, kinh tế tài chánh và chuyên môn.
Làm thành hai bản chính ở vịnh Hạ Long.
Ngày 5 tháng 6 năm 1948
Ký tên:
Bollaert
Nguyễn Văn Xuân
Nghiêm Xuân Thiện - Đặng Hữu Chí Phan Văn Giáo - Nguyễn Khoa Toàn - Đinh Xuân Quảng - Trần Văn Hữu - Lê Văn Hoạch
Phụ đính IV
Paris, ngày 8 tháng 6 năm 1949
Tổng Thống Cộng hòa Pháp
Tổng Thống Cộng hòa Pháp quốc Chủ tịch Liên hiệp Pháp
Kính gởi Hoàng đế Bảo Đại
Thưa Hoàng thượng,
Hoàng thượng đã có ý muốn cụ thể hóa nền thống nhất và độc lập của Việt Nam, theo nguyên tắc dựa trên bản Tuyên bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1949 tậi vịnh Hạ Long, ký kết giữa ông Emile Bollaert, Thượng sứ Pháp ở Đông Dương và Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Chủ tịch Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam có sự chứng kiến của Hoàng thượng.
Ý muốn đó rất trùng hợp với ý kiến của Chính phủ Pháp, sau khi Hội đồng Bộ trưởng đã họp bàn, đã yêu cầu tôi, nhân danh Chủ tịch Liên hiệp Pháp, được trao đổi văn thư với Hoàng thượng, để đi đến một thỏa ước hầu cụ thể hóa những điều khoản của bản tuyên bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1949.
Nay thuộc phạm vi chính phủ của Hoàng thượng, một mặt để kết thúc với ông Cao ủy Pháp ở Đông Dương những thỏa ước riêng biệt hoặc tạm thời, không ra ngoài lý lẽ của sự trao đổi văn thư này và hoàn cảnh hiện tại mà trật tự và an ninh được vãn hồi giữa Liên hiệp Pháp và Việt Nam, mặt khác, sửa soạn cùng với đại diện của nước Pháp, có sự tham gia của đại diện các Chính phủ Hoàng gia Ai Lao và Cam Bốt, để giải quyết những dị biệt cần thiết đang diễn ra hiện nay.
Trên căn bản ấy, và trong hoàn cảnh ấy, tôi nhân danh Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, xác nhận sự chấp thuận của tôi, theo những định ước dưới đây:
I. Thống Nhất Việt Nam: Không còn dựa vào các hiệp ước từ trước, mà nước Pháp còn có giá trị, nước Pháp long trọng xác nhận quyết định, không phản đối sự trở về của đất Nam kỳ vào lãnh thổ Việt Nam, được kê rõ: bao gồm các đất đai của Bắc kỳ (Bắc Việt Nam) của Trung kỳ (Trung Việt Nam) và Nam kỳ (Nam Việt Nam).
Nhưng sự tái sát nhập đất Nam kỳ vào nước Việt Nam, chỉ được coi như chính thức, sau cuộc trưng cầu dân ý của toàn dân, được tự do lựa chọn hay đại diện của họ lựa chọn. Toàn thể các điều khoản trong thỏa ước này chỉ có giá trị, khi sự sát nhập đầy đủ hiệu năng và chính thức của Nam kỳ vào toàn cõi nước Việt Nam.
Trong hoàn cảnh ấy, Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc cam kết thi hành các thể thức đã được ấn định trong Hiến pháp.
Khi các cách thức trên được hoàn tất, Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc sẽ công bố dứt khoát sự thống nhất của Việt Nam như đã được định nghĩa trên.
Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc từ chối về quy chế đặc biệt do các sắc dụ, đã nói về ba nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Tourane.
Sự cai trị các sắc dân không phải người Việt Nam, mà vị trí địa dư vốn nằm trong lãnh thổ của nước Việt Nam, như vừa định nghĩa trên, và từ xưa vẫn thuộc quyền Hoàng đế An Nam, sẽ được cứu xét bằng quy chế riêng, do Hoàng đế định đoạt. Các quy chế này phải được sự thỏa thuận của Đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, vốn có những trách nhiệm đối với họ. Quy chế này vừa phải bảo đảm cho những quyền hạn chính đáng của Việt Nam, vừa phải bảo đảm sự tiến triển của dân tộc ấy, với sự tôn trọng phong tục tập quán của họ.
II- Vấn đề Ngoại Giao: Nền chính trị đối ngoại của Liên hiệp Pháp, trong đó có đại biểu của Việt Nam trong Hội đồng Tối cao, do chính sách đối ngoại sẽ được định dưới, phải được cứu xét phù hợp, dưới quyền chủ tọa của Đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, hội đồng mà Chính phủ nước Việt Nam được quyền lựa chọn do chính người của mình.
Để thực thi các định kiến của mình, về chính sách đối ngoại, Hoàng đế Việt Nam sẽ phối hợp hoạt động với đường lối chung của Liên hiệp Pháp.
Các trưởng phái đoàn ngoại giao sẽ được đề cử đến Việt Nam do Chủ tịch Liên hiệp Pháp và Hoàng đế Việt Nam chấp nhận.
Các quốc gia được Việt Nam cử phái đoàn ngoại giao, phải được định rõ, có sự tương đồng của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc.
Sự thống nhất của nền chính trị ngoại giao của Liên hiệp Pháp trong những quốc gia ấy, sẽ được đảm trách bằng đường lối chung, Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc sẽ chuyển đạt cho chính phủ Việt Nam, kể cả việc tiếp xúc trực tiếp giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt. Đối với những quốc gia khác, nước Việt Nam sẽ được đại diện bởi các phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, tức phái biểu là đã có đại diện của Chính phủ Việt Nam trong đó.
Nước Việt Nam có quyền điều đình và ký kết những thỏa ước riêng, liên hệ đến quyền lợi của mình, với điều kiện đặc khẩn là trước khi điều đình, phải đưa trình dự án của mình cho Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, để đưa lên hội đồng tối cao nghiên cứu và những thỏa ước này đã được cứu xét bởi các phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc. Sự chấp nhận của hội đồng tối cao là cần thiết thì các thỏa ước này mới được coi là nhất định.
Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc sẵn sàng, thể theo lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam, để mở những lãnh sự quán Việt Nam trong những nước mà Việt Nam nhận thấy liên hệ đến quyền lợi của mình. Các lãnh sự Việt Nam sẽ thực thi quyền hạn ở những nước này mà Việt Nam thấy có liên hệ đến mình. Các lãnh sự Việt Nam sẽ thực thi quyền hạn ở những nước mà Việt Nam có phái đoàn ngoại giao, dưới quyền điều khiển và kiểm soát của trưởng phái đoàn, vốn có liên lạc với trưởng phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc; trong các quốc gia khác, dưới quyền điều khiển và kiểm soát của phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc.
Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, cam kết, thể theo lời yêu cầu của Việt Nam, đưa đơn của Việt Nam vào Liên hiệp quốc, khi Việt Nam đã hội đủ các điều khoản của Liên hiệp quốc.
III- Vấn đề Quân Sự: Nước Việt Nam có quân đội riêng, để giữ trật tự và an ninh công cộng, đồng thời để bảo vệ lãnh thổ của quốc gia. Về trường hợp sau cùng, quân đội này sẽ được sự hỗ trợ của quân lực Liên hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham dự vào sự phòng thủ biên giới của Liên hiệp Pháp đối với bất cứ kẻ thù nào từ bên ngoài.
Quân số của quân đội Việt Nam và quân số của quân đội Liên hiệp Pháp đóng tại Việt Nam sẽ do một thỏa ước riêng biệt ấn định, để toàn thể có đủ khả năng hữu hiệu, bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và lãnh thổ Liên hiệp Pháp, trong trường hợp có chiến tranh.
Quân đội Việt Nam sẽ bao gồm các phần tử quốc gia Việt Nam, do các sĩ quan Việt Nam chỉ huy; các huấn luyện viên và cố vấn kỹ thuật Pháp sẽ đặt dưới quyền sử dụng của quân đội Việt Nam.
Những sĩ quan Việt Nam sẽ do các trường quân sự Việt Nam đào tạo, và tùy trường hợp sẽ do các trường quân sự Pháp đào tạo, không phân biệt một cách rộng rãi. Để dễ dàng hợp tác trong thời kỳ có chiến tranh, tổ chức nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ cố gắng sắp xếp giống tổ chức nội bộ của quân đội Pháp.
Chính phủ Việt Nam chịu trách nhiệm đài thọ ngân sách cho quân đội này.
Mọi yêu sách về quân nhu, sẽ do Chính phủ Việt Nam đề cập với chính phủ Pháp.
Để góp phần bảo vệ hữu hiệu Liên hiệp Pháp, quân đội Liên hiệp Pháp đồn trú tại lãnh thổ Việt Nam, ở những đồn bót, mà danh sách, phạm vi và quy chế sẽ do một thỏa ước riêng ấn định. Bất kể lý do nào, quy chế này sẽ bảo đảm cho quân đội ấy hoàn tất nhiệm vụ, trong khi về nguyên tắc, vẫn giữ được chủ quyền quốc gia Việt Nam. Quân đội ấy có thể tự do đi lại từ những đồn bót của họ, theo phạm vi của thỏa ước. Theo nguyên tắc của sự hợp tác, trong phạm vi của Liên hiệp Pháp, quận đội này sẽ bao gồm cả những phần tử Việt Nam, mà sự tuyển mộ đã được ấn định theo như thỏa ước.
Để có một đường lối duy nhất hữu hiệu, trong thời kỳ có chiến tranh, một Ủy ban quân sự vĩnh viễn sẽ được thành lập, Uỷ ban này gồm nhiều sĩ quan tham mưu của quân đội hai nước được thành lập sẵn ngay trong thời bình, để sửa soạn sự phòng thủ chung, và hợp tác quân sự chung giữa quân đội Quốc gia và quân đội của Liên hiệp Pháp. Uỷ ban này, trong thời bình, có thể đảm nhiệm sự liên lạc giữa hai quân đội. Cách thức cấu tạo và hoạt động trong thời bình, sẽ được ấn định theo thỏa ước riêng biệt, phụ đính vào hiệp ước Pháp Việt này.
Trong thời kỳ có chiến tranh, phần lớn phương pháp chống cự do quân đội Việt Nam điều động, còn quân đội Liên hiệp Pháp sẽ phối hợp và viên chỉ huy trưởng người Pháp lãnh đạo Ủy ban hỗn hợp, và chịu trách nhiệm về môi trường chiến cuộc ở Việt Nam phần lớn, vị chỉ huy khác của Ủy ban phải là người Việt Nam.
IV- Chủ Quyền Nội Bộ: Chính phủ Việt Nam thi hành đầy đủ quyền nội bộ nước mình. Chính phủ ấy, sẽ thỏa thuận với viên Cao ủy Pháp ở Đông Dương, lập những thỏa ước riêng biệt hay tạm thời, tùy từng trường hợp, để trao lại cho Việt Nam những thẩm quyền trước đã nhượng cho người Pháp.
Chính phủ Việt Nam, khi cần đến chuyên viên, hay cố vấn kỹ thuật, phải dành ưu tiên chọ các thuộc dân của Liên hiệp Pháp, nhất là trong các xí nghiệp hay cơ quan liên hệ đến sự phòng thủ của Liên hiệp Pháp.
Ưu tiên dành cho thuộc dân Liên hiệp Pháp này chỉ bị tước bỏ khi Chính phủ Pháp không thể nào thỏa mãn được sự đòi hỏi của Chính phủ Việt Nam. Cách thức sử dụng về vấn đề này sẽ được ấn định rõ ràng bằng một thỏa ước sau.
Không một công dân Pháp nào, hay một thuộc dân Liên hiệp Pháp được quyền tham dự vào nền nội trị của Việt Nam, nếu không được sự thỏa thuận của Liên hiệp Pháp và ngược lại, không một người Việt Nam nào được quyền can thiệp vào việc nội trị của nước Pháp, nếu không được sự thỏa thuận của nước mình.
V. Vấn đề Tư Pháp: Nước Việt Nam được toàn quyền xét xử mọi việc về dân sự, thương mại hay hình sự trên khắp lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, việc thụ lý về dân sự hay thương mại, đối với thuộc dân Liên hiệp Pháp, không phải người Việt Nam, hay với các thuộc dân các quốc gia, mà Pháp đã ký các thỏa ước dành ưu quyền về tư pháp, và sự truy tố đối với họ do phạm lỗi, đối với nước Pháp, sẽ do một tòa án hỗn hợp, trong đó các định lệ sẽ được đặt ra, bằng một thỏa ước phụ đính với bản Hiệp ước này.
Định lệ ấy sẽ phải tôn trọng các nguyên tắc sau này:
1. Các bản án được xét xử sẽ mang tiêu đề như sau:
“Nhân danh Liên hiệp Pháp và quốc gia Việt Nam,
Hoàng đế Việt Nam ban lệnh và quyết nghị”.
Việc thi hành bản án ấy, ở ngoài lãnh thổ nước Việt Nam sẽ do những thỏa ước sau, dự trù việc ủy quyền thi hành.
2. Luật sử dụng, sẽ là luật của nước Pháp, đối với bất cứ công dân Pháp khi phạm pháp.
3. Luật sử dụng, sẽ là luật của Việt Nam, mỗi khi người Pháp nào không phải vướng mắc luật ấy sẽ được thi hành tùy theo trường hợp của sự tranh chấp.
Thiếu sót điều ấy, thì sẽ là luật của Pháp.
Tóm lại, theo như định lệ quốc tế, những sự kiện vốn nằm trong qui chế riêng của quốc gia của họ.
Những việc tranh tụng về hành chánh cũng sẽ được áp dụng những căn bản tương tự, và quyền đối kháng tương đồng.
Thỏa ước tư pháp riêng biệt sẽ được giải quyết như các việc nêu trên phụ đính này.
VI - Vấn đề Văn Hóa: Trong bậc sơ học và trung học, nước Pháp tự do có thể mở các trường công hay tư, ngoại trừ phải theo các luật lệ về địa phương của vấn đề.
Các định lệ và quy chế ấy không mang ẩn ý, trực tiếp hay gián tiếp giữa người Pháp và người Việt Nam.
Những văn bằng chuyên nghiệp, hay tinh thần đòi hỏi để được dạy ở những trường học này, cũng như các điều kiện được hành nghề ờ Pháp.
Tất cả những văn bằng ấy, được áp dụng chung có các trường chuyên nghiệp và kỹ thuật.
Các trường học Pháp sẽ theo một chương trình đang thực thi tại Pháp; một chương trình về sử ký và văn minh Việt Nam bắt buộc phải dạy, không thể thiếu sót.
Những học sinh Việt Nam được tự do theo học ở các trường Pháp, mở tại Việt Nam. Các trường này sẽ mở một lớp học bằng tiếng Việt Nam, để dạy học sinh Việt Nam.
Sinh ngữ giữa tiếng Việt và tiếng ngoại quốc, sẽ được dành cho tiếng Pháp, vốn là sinh ngữ của nền ngoại giao của nước Việt Nam.
Nước Việt Nam chấp nhận sinh ngữ Pháp dạy ở ban trung học, đủ để theo ban cao đẳng vào cuối niên học, sẽ giữ số trường Pháp ở bậc trung học ngày càng nhiều.
Giá trị văn bằng Việt Nam và văn bằng Pháp sẽ được ấn định do một thỏa ước sau, khi hai chương trình Việt và Pháp được đem ra so sánh.
Nước Việt Nam có quyền dự trù theo đuổi ngành cao học Pháp, đồng thời công nhận nước Pháp tiếp tục phát triển ngành cao học ở Việt Nam, ngang hàng với chương trình của Liên hiệp Pháp.
Tuy nhiên vì hoàn cảnh khó khăn hiện tại, nhất là để huấn luyện một số nhân viên Việt Nam thích ứng, một trường Đại học chung được mở ra, theo những điều lệ địa phương. Quy chế của trường Đại học đó, sẽ là đề tài của thỏa ước đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia khác thuộc Liên hiệp Pháp, nếu họ muốn, có thể tham gia vào tổ chức này, và phải cam kết những sự cần thiết với nước Pháp và nước Việt Nam.
Quy chế của trường Đại học này phải theo các nguyên tắc dưới đây:
Trường Đại học chung này, sẽ là một tổ chức tự trị, của các trường Đại học áp dụng trong hầu khắp các nước tiền tiến trên thế giới.
Trường Đại học sẽ do một viên khoa trưởng điều khiển, vị này sẽ được bổ nhiệm bởi chính phủ, sau khi Uỷ ban tư vấn của nhà trường đề cử ba người, để lựa chọn, Vị khoa trưởng này sẽ được các trưởng ban phân khoa giúp đỡ, để điều khiển nhà trường. Và hội đồng đại học sẽ gồm các phân khoa trưởng, các đại diện giáo sư, đại diện sinh viên, và nhiều nhân vật chú trọng đến nền giáo dục, cũng như các trưởng nhiệm sở các cơ quan khoa học, và một vị đại diện cho chính phủ liên hệ.
Chương trình giảng dạy, sẽ bằng sinh ngữ của người sáng lập ra nhà trường, đối với những trường chuyên nghiệp.
Trong chương trình học vấn tổng hợp:
a) Sẽ giảng bằng tiếng Pháp, nói về kỷ luật.
b) Sẽ giảng bằng tiếng Việt Nam, tùy theo cách thức, do hội đồng nhà trường ấn định. Bằng cấp do nhà trường cấp, được coi như chính thức công nhận bởi hai quốc gia, tuy nhiên, các bằng cấp được cấp phát tạm thời vì hoàn cảnh, riêng đối với Việt Nam, không được tự do chấp nhận vào theo chương trình Pháp, và được bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương, trong Liên hiệp Pháp
Để được dễ dàng, nhập vào ngành cao học, các văn bằng được nới rộng rất thấp do những chính phủ liên hệ, gia giảm.
Trường đại học chung, sẽ dành số nhập học cần thiết cho các sinh viên được học bổng của các quốc gia liên hệ.
Số phận các trường khoa học đã có hiện nay ở Việt Nam, đã được các thỏa ước Pháp và Việt Nam giải quyết, hoặc do quốc gia Việt Nam giải quyết với ban Giám đốc nhà trường. Tuy nhiên, một vài nguyên tắc căn bản cần phải chú trọng chặt chẽ:
Sự hoạt động của trường Bác Cơ Viễn Đông, sẽ là di sản chung của ba nước Việt, Cam Bốt và Ai Lao, và nước Pháp. Nó không thể đem nhường lại cho ai được. Hội đồng quản trị sẽ bao gồm các đại diện của ba quốc gia Việt, Cam Bốt và Lào, cùng đại diện của Chính phủ Pháp. Viên quản đốc sẽ được bổ nhiệm, do quyết định chung của bốn chính phủ sau khi viện Khoa học Pháp đưa ra ba đề nghị để lựa chọn.
Hoàn cảnh viện Pasteur nằm trên lãnh thổ Việt Nam cũng sẽ được giải quyết giữa cơ quan của viện ấy với Chính phủ Việt Nam.
Thỏa ước về viện Pasteur phải tôn trọng các điều khoản dưới đây:
Những cơ sở đã có sẵn là di sản của ba nước Việt, Cam Bốt và Ai Lao, cùng nước Pháp, đối với các bất động sản tại Sài Gòn, Đà Lạt và Nha Trang.
Nước Việt Nam là chủ nhân ông các bất động sản và cơ sở thuộc viện Pasteur ở Hà Nội. Nước Việt Nam cam kết chấp nhận một qui chế tương tự đối với các cơ sở khác.
Viện Pasteur nhận giữ các sản phẩm và bất động sản, mà viện đã nhận được, bằng sự tặng dữ, hay đó di nhượng.
Viện Pasteur là sở hữu chủ các dụng cụ khoa học.
Việc áp dụng thỏa ước này sẽ được thi hành cho đến hết nhiệm kỳ, vào cuối tháng chạp năm 1949.
Thư Viện: Mọi chính phủ là sở hữu chủ của quốc khố đồ thư của nước mình. Người quản thủ thư viện và sự bảo tồn quốc khố đồ thư, phải được thực hiện theo những định lệ rõ rệt.
Vấn đề quản thủ thư viện, cơ sở Nông nghiệp, cơ sở Thiên văn, Hải dương học, và Bảo tàng viện sẽ được ấn định do những thỏa ước riêng biệt.
VII- Vấn đề Kinh Tế Và Tài Chánh: Các công dân Việt Nam ở Pháp hay ở trong các nước thuộc Liên hiệp Pháp, cũng như công dân Pháp hay công dân Liên hiệp Pháp đều có quyền tự do lập nghiệp y như người bản xứ trong khuôn khổ các định luật và quy chế địa phương. Họ được hưởng quyền di chuyển tự do, quyền thương mại, và nói chung tất cả các quyền dân chủ trong lãnh vực ấy.
Những động sản và xí nghiệp thuộc về công dân của Liên hiệp Pháp trên lãnh thổ Việt Nam, được hưởng cùng qui chế với người công dân Việt Nam, nhất là về phạm vi thuế khóa và luật lao động. Sự bình đẳng đó sẽ được coi như tương đồng, đối với người Việt Nam trong lãnh thổ của Liên hiệp Pháp.
Luật lệ tài phán giữa các xí nghiệp thuộc về công dân Liên hiệp Pháp trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được ấn định theo một thỏa ước chung giữa Chính phủ Pháp và Chính phủ Việt Nam.
Sẽ được trả lại quyền lợi và quyền tư hữu của công dân Liên hiệp Pháp, theo như hiện trạng, vốn bị mất đi do hoàn cảnh thực tại của Việt Nam kể từ tháng 3 năm 1945.
Một Ủy ban hỗn hợp sẽ được đề cử để ấn định cách thức hoàn trái đó.
Vốn của người Pháp được đầu tư tự do ở Việt Nam, theo những hạn chế sau này:
a) Chính phủ Việt Nam, nếu xét thấy cần thiết, sẽ dự vào các vụ đầu tư đó được sắp xếp vào mục quyền lợi quốc gia.
b) Mở những xí nghiệp, trong mục gọi là về quốc phòng, và phụ thuộc vào sự chấp thuận của chính phủ Việt Nam.
c) Chính phủ Việt Nam có quyền trưng mua lại các xí nghiệp, không hoạt động nữa.
Một Ủy ban hỗn hợp Pháp Việt sẽ ẩn định rõ rệt địa bàn của các lãnh vực ấy cũng như khả năng hoạt động của các xí nghiệp được đặt tại đó.
Những hạn chế nói trên không áp dụng cho vốn đầu tư xí nghiệp hiện tại trên lãnh thổ Việt Nam, cũng không áp dụng cho sự phát triển dự trù của hoạt động của họ.
Chính phủ Việt Nam được toàn quyền sử dụng nền tài chính của mình. Chính phủ ấy sẽ lập và quản lý ngân sách của mình. Chính phủ Việt Nam sẽ được thừa hưởng tất cả mọi ngân khoản về thuế khóa trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ những khoản thu, liên hệ đến công ích chung giữa các nước liên kết, thì phải được Chính phủ Pháp và chính phủ các nước liên kết, chấp thuận.
Chính phủ Việt Nam có thể tăng thuế hay đặt ra các sắc thuế mới. Nếu sự gia tăng này có dính dấp gì đến các nước liên kết, thì sẽ có những sự thảo luận chung giữa các quốc gia liên kết, hầu có sự tương đồng về thuế khóa ở Việt Nam và các nước Đông Dương, để mọi hoạt động kinh tế khỏi bị chênh lệch.
Nước Việt Nam sẽ có sự tương đồng về tiền tệ với ba nước Đông Dương. Tiền đang thông dụng ở ba nước ấy hiện nay là đồng bạc, do cơ quan Đông Dương phát hành.
Cơ quan phát hành có thể đặt ra các dấu hiệu riêng biệt cho Việt Nam, Cam Bốt và Ai Lao.
Đồng bạc Đông Dương nằm trong khuôn khổ ảnh hưởng của đồng quan Pháp. Sự tương đương giữa đồng bạc Đông Dương và đồng quan Pháp không phải là nhất định, mà có thể thay đổi, theo hoàn cảnh kinh tế. Tuy nhiên sự thay đổi này chỉ được ấn định, do các nước liên kết Đông Dương thảo luận.
Vấn đề thay đổi sẽ do cơ quan hối đoái Đông Dương thực hiện.
Nước Việt Nam có chung nền thương chính với các nước Đông Dương liên kết khác. Giữa họ với nhau, không có một hàng rào quan thuế nào. Ở biên giới ba nước ấy, không phải chịu thuế thương chính, cũng như vấn đề xuất nhập trên toàn lãnh thổ của Liên hiệp Pháp.
Hoàng thượng nhận thấy trên địa hạt kinh tế và tài chánh, nước Việt Nam được hưởng cùng nguồn lợi như các quốc vương Cam Bốt và Ai Lao, cũng như với Liên hiệp Pháp, các nguồn lợi này sẽ được phân phối công bình và nhịp nhàng thì sự mở hàng cơ quan hỗn hợp để điều hành là cần thiết.
Do thế sẽ được mở ra ở Sài Gòn, do sự triệu tập của các viên Cao ủy Pháp ở Đông Dương, một hội nghị, để mời các đại diện của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, đại diện của Chính phủ Việt Nam, đại diện của Vương quốc Cam Bốt và Ai Lao, để ấn định về thành phần, và quyền hạn của các cơ quan hỗn hợp này. Tại Hội nghị Đông Dương này, sẽ bàn đến:
- Vấn đề viễn thông,
- Kiểm soát di trú,
- Ngoại thương và thương chính,
- Ngân khố,
- Đồ trang bị.
Cũng phải nói rõ, về vấn đề này, Hội nghị Đông Dương cần chú trọng nhất về đồ trang bị hiện đang được nghiên cứu.
Hội nghị này, khi mở mang, phải đặt ra cách thức và cho kết quả dự trù.
Hội đồng tối cao Liên hiệp Pháp có thể cho ý kiến hay điều giải, nếu cần.
Các văn kiện sẽ được trao đổi tại Sài Gòn, giữa Hoàng thượng và ông Cao ủy Pháp ở Đông Dương, và hiệp ước sẽ bắt đầu có hiệu lực kể từ lúc ấy.
Lời tuyên bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các bản chính thức của Việt Nam sẽ kết hợp vào điều 61 của bản Hiến pháp của Cộng hòa Pháp quốc. Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, và cá nhân tôi sẵn sàng chấp nhận sự thực thi của Hoàng thượng và của vị đại diện nước Pháp, trong tín cẩn hoàn toàn, trong thiện chí, các điều khoản nói trên sẽ tạo điều kiện văn hồi hòa bình ở Việt Nam, liên kết trong bình đẳng, và thân ái với nước Pháp.
Xin Hoàng thượng, nhận nơi đây, lòng tôn kính của tôi.
Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc
Chủ tịch Liên hiệp Pháp: Vincent Auriol
Được ủy nhiệm bởi Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc
Chủ tịch Liên hiệp Pháp
Thủ tướng Hội đồng Bộ trưởng: H. Queuille
ANNEXE I
TRAITE DE PROTECTORAT
6 juin 1884
Le Gouvemement de la République française: et celui de Sa Majesté le Roi d’Annam voulanl empêcher à jamais le renouvellement des difficultés qui se sont produites récemment, et désireux de resserrer leurs relations d’amitie et de bon voisinage, ont résolu de conclure une Convention à cet effet, et ont nommé pour leurs plénipotentiaries, savoir:
Le président de la République Française, M. Jules Patenôtre, envoyé extraordinaire et ministre pléniportentiaire de la République française à Pékin, officier de la Légion d’honneur, Grand-Croix de l’Etoile Polaire, etc., etc., etc, et Sa Majesté le Roi d’Annam,
Nguyen Van Tuong, 1 er Régent, ministre de l’Intérieur,
Pham Than Duat, ministre des Finances,
et Ton That Phan, chargé des relations extérieures, ministre des Travaux publics par intérim.
Lesquels, après s'être communiqué leurs pleins pouvoirs respectifs, trouvés en bonne et due forme, sont couvenus des articles suivants:
Article I
L’Annam reconnaît et accepte le Protectorat de la France.
La France représentera l’Anmam dans toutes ses relations extérieures.
Les Annamites à l’étranger seront placés sous la protection de la France.
Article II
Une force militaire française occupera Thuan-An d’une façon permanente. Tous les forts et ouvrages militaires de la rivière de Hué seront rasés.
Article III
Les fonctionnaires annamites depuis la frontière de la Cochinchine jusqu’à la frontière de la province de Ninh-Binh, continueront à administrer les provinces comprises dans ces limites, sauf en ce qui concerne les douanes, les travaux publics et, en général, les services qui exigent une direction unique ou l’emploi d’ingénieurs ou d’agents européens.
Article IV
Dans les limites ci-dessus indiquées, le Gouvemement annamite déclarers ouverts au commerce de toutes les nations, outre le port de Quin-Nhon, ceux de Tourane et de Xuan-Day. D’autres ports pourron être ultérieurement ouverts apris une entente préalable. Le Gouvernement français y entretiendra des agents placés sous les ordres de son Résident à Hué.
Article V
Un Résident Général, Représentant du Gouvemement Français, présidera aux relations extérieures de l’Annam et assurera l’exercice régulier du Protectorat, sans s’immiscer dans l’administration locale des provinces comprises dans les limites fixées par l’article III. II résidera dans la citadelle de Hué avec une escorte militaire
Le Résident Général aura droit d’audience privée et personnelle auprès de Sa Majesté le Roi d’Annam.
Article VI
Au Tonkin, des Résidents ou Résidents-Adjoints seront placés par le Gouvernement de la République dans les chefs-lieux où leur présence sera jugéc utile. Ils seront sous les ordres du Résident Général.
Ils habiteront dans la citadelle, en tout cas, dans l’enceinte même réservéc au mandarin; il Ieur sera donné, s’il y a lieu, une escorte française ou indigène.
Article VII
Les Réidents éviteront de s’occuper des détails de l’administration intérieure des provinces. Les fonctionnaires indigènes de tout ordre continueront à gouverner et à administre sous leur contrôle; mais ils devront être révoqués sur la demande des Autorités françaises.
Article VIII
Les fonctionnaires et employes français de toute catégorie ne communiqueront avec les Autorités annamites que par l’intermédiaire des Résidents.
Article IX
Une ligne télégraphique sera établie de Saigon à Hanoi et exploitée par des employés français.
Une partie des taxes sera attribuée au Gouvemement Annamite qui concédera en retour, le terrain nécessaire aux stations.
Article X
En Annam et au Tonkin les Etrangers de toute nationalité seront placés sous la juridiction françaice
L’Autorité française statuera sur les contestations, de quelque nature qu’elles soient, qui s’élèveront entre Annamites et Etrangers, de même qu’entre Etrangers.
Article XI
Dans l’Annam propremnt dit, les Quan-bô percevront l’impôt ancien sans le contrôle des fonctionnaires français et pour le compte de la Cour de Hué.
Au Tonkin, les Résident centraliseront, avec le concours des Quan-bô, le service du même impôt dont ils surveilleront la perception et l’emploi. Une Commission composée de fonctionnaires français et annamites déterminera les sommes qui devront être affectées aux diverses branches de l’administration et aux services publics. Le reliquat sera versé dans les caisses de la Cour de Hué.
Article XII
Dans tout le Royaume, les douanes réorganisées seront entièrement confiées à des admimstrateurs français. Il n’y aura que des douanes maritimes et de frontières placées partout où le besoin s’en fera sentir. Aucune reclamation ne sera admise en matière de douanes au sujet des mesures prises jusqu’a ce jour, par les autorités militaires.
Les lois et règlements concenant les contributions indirectes, le régime et le tarif des douanes et le régime sanitaire de la Cochinchine seront applicables aux territoires de l’Annam et du Tonkin.
Article XIII
Les citoyens ou protégés français pourront, dans toute l’étendue du Tonkin et dans les ports ouverts de l’Annam, circuler librement, faire le commerce, acquérir des biens meubles et immeubles et en disposer, S. M. le Roi d’Annam confirme expressément les garanties stipulées par le traité du 15 Mars 1874 en faveur des missionnaires et des chrétiens.
Article XIV
Les personnes qui voudront voyager dans l’intérieur de I’Annam ne pourront en obtenir l'autorisation que par l’intermédiare du Résident Général à Hué ou du Gouvemeur de la Cochinchine.__
Ces autorités leur délivreront des passeports qui seront présentés au Visa du Gouvemement Annamite.
Article XV
La France s’engage à garantir désonnais l’intégrité des Etats de Sa Majestc le Roi d’Annam, à défendre ce souverain contre les agressions du dintégrit contre les rébellions du dedans.
A cet effet, l’autorité française pourra faire occuper militairement sur le temtoire de l’Annam et du Tonkin, les points qu’elle jugera nécessaires pour assurer l’exercice du Protectorat.
Article XVI
S. M le Roi d’Annam continuera, comme par le passé, à dinger l’administration intérieure de ses Etats, sauf les restrictions qui résultent de la présente Convention.
Article XVII
Les dettes actuelles de l’Annam vis-à-vis de la France seront acquittées au moyen de paiements dont le mode sera ultérieurement déterminé. S. M. le Roi d’Annam s’interdit de contracter aucun emprune à l’étranger sans l’autorisation du Gouvernement Français.
Article XVIII
Des conférences ultérieures régleront les limites de port ouverts et des concessions françaises dans chacun de ces ports, l’établissement des pharcs sur les côtes de l’Annam du Tonkin, le régime et l’exploitation des mines, le régime monétaire, la quotité à attribuer au Gouvemcnent Annamite sur le produit des douanes, des régies, des taxes télégraphiques et autres revenus non visés dans I’article XI du présent Traité.
La présente Convention sera soumise à l’approbation du Gouvernement de la République Française et de S. M. le Roi d’Annam et les ratifications en seront échangées aussitôt que possible.
Article  XIX
Le présent Traité remplacera les conventions des 15 mars, 31 aout et 23 novembre 1874.
En cas de contestation le texte français fera seul foi.
En foi de quoi, les pléniporentiaires respectifs ont signé le présent Traité et y ont apposé leur cachet.
Fait à Hué, en double expédition le 6 juin 1884.
Patenôtre
S. M. le Roi d’Annam
1884
ANNEXE II
CONVENTION PRELIMINAIRE FRANCO-VIETNAMIENNE
DU 6 MARS 1946
Entre les hautes parties contractantes ci-après désignées: le Gouvernement de la République française, représenté par M. Sainteny, délégué du Haut- Commissaire de France régulièrement mandate par l’amiral d'Argenlieu, haut- commissairc de France, dépositaire des pouvoirs de la République française, d’une part, et le Gouvernement du Vietnam représenté par son président, M. Ho Chi Minh, et le délégue spécial du Conseil des Ministres, M. Vu Hong Khanh, d’autre part, il est convenu ce qui suit:
1*) Le Gouvemement française reconnait la République du Vietnam comme un État libre ayant son gouvernement, son parlement, son armée et ses finances, faisant partie de la Fédération Indochinoise et de l’Union Française.
En ce qui concrne la réunion des trois Ky, le gouvernement français s’engage à entériner les décisions prises par la population consultée par référendum.
2*) Le Gouvemement du Vietnam se déclare prêt à accueillir amicalement l’armée française lorsque, conformément aux accords internationaux, elle relèvera les troupes chinoises.
Un accord annexe, joint à la présente convention préliminaire fixera les modalités seron lesquelles s’effectueront les opérations de relève.
3*) Les stipulations ci-dessus formulées entreront immédiatetnent en vigueur. Aussitôt après l'échange des signatures, chacune des hautes parties contractantes prendra toutes mesures nécessaires pour faire cesser sur-le-champ les hostilités, maintenir les troupes sur leurs positions respecrives et créer le climat favorable nécessaire à l’ouverture immédiate de négociations amicales et franches.
Ces négociations porteront notamment sur les relations diplomatiques du Vietnam avec les Etats étrangers, le statut futur de l’Indochine, les intérêts économiques et culturels français au Vietnam.
Hanoi, Saigon ou Paris pourront être choisis comme siège de la conférence.
ACCORD ANNEXE
A LA CONVENTION PRELIMINAIRE INTERVENUE ENTRE
LE GOUVERNEMENT DE LA REPUBUQUE FRANCAISE ET LE GOUVERNEMENT DU VIETNAM
Entre les hautes parties contractantes désignées à la Convention préliminaire, il est convenu ce qui suit:
1*) Les forces de relève se composeront:
a) de 10.000 Vietnamiens avec leurs cadres vietnamiens relevant des autorités militaires du Vietnam;
b) de 15.000 Français y compris les forces françaises résidant actuellement dans le territoire du Vietnam, au nord du 16e parallèle. Ledits éléments devront être composés uniquement de Français d’origine métropolitaine à l’exception des troupes chargées de la garde des prisonniers japonais.
L’ensemble de ces forces sera place sous le commandement supérieur français, assisté de délégués vietnamiens. La progression, l’implantation et l’utilisation de ces forces seront définies au court d’une conférence d’état major entre les représentants des commandants français et vietnamiens, laquelle se tiendra dès le débarquement des unités françaises.
Des commissions mixtes seront crées, à tous Ies échelons, pour assurer dans un esprit d’amicale collaboration la liaison entre les troupes françaises et les troupe vietnamiennes.
2*) Les élements français des forces de relève seront répartis en trois catégories:
a) Les unités charges d’assurer la garde des prisonniers de guerre japonais Ces unités seront rapatriées dès que leur mission sera devenue sans objet par suite de l’évacuation de prisonniers japonais, en tout cas dans le délai maximum de dix mois.
b) les unités chargées d’assurer, en collaboration avec l’armée vietnamienne, le maintien de l’ordre public et la sécurité du territoire vietnamien. Ces unités seront relevées chaque année par cinquième par l’armée vietnamienne, cette relève étant donc effectivemeat réalisée dans un délai de cinq ans.
c) les unités  chargées de la défense des bases vietnamiennes tiendront garnison; des zones de cantonnement, nettement délimitées, leurs seront assignées.
3*) le gouvernement français s’engage à ne pas utiliser les prisonniers japonais à des fins militaire.
Fait à Hanoi, le 6 mars 1946.
Signé: Sainteny, Salan, Vo Nguyen Giap.
ANNEXE III
DECLARATION COMMUNE
FAITE LE 5 JUIN 1948 EN BAIE D’ALONG
par M. Emile Bollaert, Haut Commissaire de France pour l’Indochine et M. le général Nguyen Van Xuan, Président du Gouvemement Central Provisoire du Vietnam, en présence de S. M. Bao-Dai.
En présence de S. M. Bao-Dal,
M. Emile Bollaert, Haut-Commissaire de France pour l’Indochine, agissant au nom de la République française,
M. Nguyen Van Xuan, Président du Gouvernement Provisoire du Vietnam assisté de MM. Nghiem Xuan Thien et Dang Huu Chi, Phan Van Giao, Nguyen Khoa Toan et Dinh Xuan Quang, Tran Van Huu et Le Van Hoach, réprésentant respectivement le Nord-Vietnam, le Centre-Vietnam et le Sud Vietnam.
On fait la déclaration suivante:
1) La France reconnait solennellement l’indépendance du Vietnam auquel il appartient de réaliser librement son unité. De son côté le Vietnam proclame son adhésion à l’Union française  en qualité d’Etat  associé à la France. L’indépendance du Vietnam n'a d’autres limites que celle que  lui impose son  appartenance à l’Union française.
2) Le Vietnam s’engage à respecter les droits et les intérêts des nationaux français, à assurer inconditionnellement le respect des principes démocratiques et à faire appel par priorité, aux conseillers et techniciens français pour les besoins de son organisation intérieure et de son économie.
3) Dès la constitution d’un gouvernement provisoire, les représentants du Vietnam passeront avec les représentants de la République française, les divers  arrangements particuliers convenables, d’ordre culturel, diplomatique, militaire, économique, financier et technique.
Fait en double original, en baie d’Along, le cinq juin mil neuf cent quarante huit.
Emile Bollaert
Bao-Dar
Nguyen Van Xuan
Nghiem Xuan Thien, Dang Huu Chi,
Phan Van Giao, Nguyen Khoa Toan, Dinh Xuan Quang
Tran Van Huu, Le Van Hoach. 
ANNEXE IV
Paris, le 8 mars 1949
LE PRÉSIDENT
DE LA
RÉPUBLIQUE
LE PRÉSIDENT DE LA RÉPUBLIQUE FRANCAISE PRÉSIDENT DE L’UNION FRANCAISE
A
SA MAJESTE BAO-DAI
Sire,
Vous avez bien voulu exprimer le désir de voir confirmer et préciser, en ce qui concerne l’unité et l’indépendance du Vietnam, les principes posés par la délaration commune faite le 5 juin 1948 en baie d’Along par  M. Emile Bollaert, Haut-Commissaire de France en Indochine et le Général Nguyen Van Xuan, Président du Gouvernement Central Provisoire du Vietnam, en prénsence de Votre Majesté.
Ce désir rencontre celui du gouvernenment français qui, après en avoir délibéré en Conseil des ministres, m’a prié, en ma qualité de président de I’Union française, de procéder, par échange de lettres avec Votre Majesté, à la condusion d'un accord en vue de préciser, pour application, les principes de la déclaration du 5 juin.
II appartiendra au gouvernement de Votre Majesté, d’une part, de conclure avec le Haut Commissaire de France en Indochine les conventions particulières ou provisoires qui régiront, compte tenu des règles posées par le présent échange de lettres et de l’état de fait existant; jusqu’au rétablissement de l'ordre et de la paix, les rapports de l’Union française et du Vietnam; d’autre part, de préparer, avec le représentant de la France, et en liaison avec les gouvernements royaux du Laos et du Cambodge, les règlements nécessaires tels qu’ils découlent des présentes.
Sur ces bases et dans ces conditions, je confirme au nom du gouvernement de la République française mon accord aux dispositions énoncées ci-dessous.
I. UNITÉ DU VIETNAM. - Nonobstant les traités antérieurs dont elle pourrait se prévaloir, la France réaffirme soIennllement sa décision de n’opposer aucun obstacle de droit ou de fait à l’entrée de la Cochinchine dans le sein du Viemam, défini comme constitué par la réunion des territoires du Tonkin (Nord-Vietnam), de l'Annam (Centre Vietnam) et de la Cochinchine (Sud- Vietnam).
Mais le rattachement de la Cochinchine au reste du Viemam ne pourra être considéré comme légalement acquis qu’après libre consultation des populations intéressées ou de leus représentants.
L'ensemble des dispositions du présent accord ne sera valable qu’en cas de rattachement effectif et légal de la Cochinchine au reste du Vietnam.
A cet effet, le gouvernement de la République française s’engage à mettre en oeuvre les procédures prévues par la Constitution.
Dès achèvement de la procédure prévue ci-dessus, le gouvernement  français reconnaîtra définitivement l’Union du Vietnam, tel qu’il vient d’être défini.
Le gouvernent français renonce à se prévaloir du statut particulier conféré par ordonnances royales aux trois villes de Hanoi, Haiphong et Tourane.
L’administration des populations non vietnamiennes dont l’habitat historique cst situé sur le territoire du Vietnam tel qu’il vient d’être défni et qui ont toujours relevé traditionnellement de la couronne d'Annam, fera l’objet de statuts particuliers, consentis aux représantan de ces populations par S. M. l’Empereur. Ces statuts seront déterminés en accord avec le gouvernement de la République française qui a, sur ce point, des obligations particulières vis- à-vis de ces populations. Ils devront garantir à la fois, les droits éminents du Vietnam et la libre évolution de ces populations dans le respect de leurs traditions et de leurs coutumes. 
II. QUESTION DIPLOMATIQUE. - La politique extérieure de l’Uinion française dans le cadre de laquelle le Vietnam exerce ses droits par ses délégués au haut conseil et par sa diplomatic ci-dessous définie, sera examinée et coordonnée sous la direction et la responsabilité du gouvernement de la République française, en haut conseil de l’Union où le gouvernement du Vietnam sera représenté par des délégués librement choisis par lui.
Pour l’exécution des directives générales ci-dessus, en matière de politique extérieure, S. M. L’Empereur du Vietnam associera l'activité de sa diplomatic celle de l’Union française.
Les chefs des missions diplomatiques etrangères au Vietnam seront accrédités auprès du président de l’Union française et de S. M. L’Empereur du Vietnam.
Les pays auprès desquels le Vietnam sera représenté par une mission diplomatique seront déterminés après accord avec le gouvernment français.
L’unité de la politique internationale de l’Union française dans ces Etats sera assurée à la fois, par les directive générale arrêtée, le haut conseil  de l'Union française entendu, et transmises par le gouvernemement de la République au gouvernememeut du Vietnam, ainsi que par les contacts directs que les diplomates français et vietnamiens assureront entre eux. Dans les autre Etats, le Vietnam sera représente par les missions diplomatiques du gouvernement de la République française qui pourront comprendre dans Ieur sein des représentants du Vietnam.
Le Vietnam est habilite à négocier et à signer des accords relatifs à ses intérêts particuliers,à la condition expresse qu’avant toute négociation, il soumette ses projets au gouvernement de la République pour examen en haul conseil et que ces négociations soient menée en lisison avec les missions diplomatiques de la République. L’avis favorable du haul conseil sera nécessaire pour que les accords ainsi conclus deviennent définitifs.
Le gouvernement de la République française est disposé sur la demande du gouvernement du Vietnam à s’entremettre pour l’ouverture des consulats vietnamiens dans les pays étrangers où Ie Vietnam estimera avoir des intérêts particuliers. Les consuls vietnamiens exerceront leur activité: dans les Etats où le Vietnam a une mission diplomatique, sous la direction et le contrôle du chef de cette mission, en liaison avec le chef de poste diplomtique du gouverement de la République française ;
Le gouvernement de la République française s’engage à présenter et à soutenir la candidature du Vietnam lorsqu’il remplira les conditions générales prévues par la Charte des Nations unies pour l’admission au sein de cet organisms.
III. QUESTIONS SOLITAIRES. - Le Vietnam a son armée nationale chargée du maintien de l’ordre, de la sécurité interne et de la défense de l’Empire. Dans ce dernier cas, elle est éventuellement appuyée par les forces de l’Union Française. L’armée vietnamienne participe également à la défense des frontières de l’ Union française contre tous lesennemis extérieurs.
Les effectifs de l’armée nationale vietnamienne et ceux de l'armée de l’Union française stationnant au Vietnam seront fixés par un accord particulier, de telle manière que l’ensemble de moyens disponible puisse assurer efficacement, en temps de guerre, la défense du territoire du Vietnam et de l’Union  Française.
L’armée vietnamienne est composée de nationaux vietnamiens encadrés par des officiers vietnamiens; des instructeurs et des conseillers technique français seront mis à la disposition du Vietnam.
La cadres vietnamiens seront formes dans la l’écola militaire vietnamienne et, éventuellement, dans les école françaises où ils seront admis sans aucune discrimination. Pour faciliter la coopération en temp de guerre, la composition interne de l’armée vietnamienne sera ausi proche que possible de celle de l'armée de l’Union française.
L’armée vietnamienne sera à la charge des budgets du gouvernement du Vietnam. La commandes de matériel seront faites par le gouvernement du Vietnam au gouvernement français.
En vue de contribuer efficacement à la défense de l’Union française, l'armée de l’Union française stationne sur territoir du Vietnam en des bases et garnisons dont la nomenclature, les limites, et le statue feront l’objet d’une convention particulière. En tout état de cause, ce satut sera tel qu’il permette à ces forces de remplir pleinement leur mission tout en respectant le principe de la souveraineté nationale vietnamienne.  Elles pourront circuler  Iibrement entre la bases et garnisons qui leur sont assignées suivant les modalités qui seront précisées dans la convention militaire précitée. Seron le principe de coopération totale au sein de l’Union Française, elles comprendront des éléments vietnamiens dont les règles de recrutement seront également déterminées par ladite convention.
Pour assurer une action commune immédiatement efficace en temps de guerre, un comité militaire permanent, composé d'officiers d’état major des deux armées, sera constitué des le temps de paix pour préparer un plan de défense commune et de coopération militaire entre l’armée nationale et  l’armée de l’Union française; il pourra éventuellement servir, dans le temps de paix, d’organe de liaison permanent entre ces deux armées. Les modalités de composition et de fonctionnement en temps de paix de ce comité militaire figureront à la convention spéciale annexée au traité franco-vietnamien.
En temps de guerre, la totalité des moyens de défense constitués notamment par l’armée vietnamienne et l’année de l’Union française sera mise en commun, et le comité militaire constituera le noyau d’un état-major mixte dont la direction et le commandement seront assuré par un officier général français chargé du théâtre d’opérations intéressant principalement le Vietnam et dont l’un des chefs d’état-major sera vietnamien.
IV. SOUVERAINETE INTERNE. - Le gouvernement du Vietnam exercera dans leur plénitude les attributions et prérogatives qui découlent de sa souveraineté interne. II passera avec le haut commissaire de France en Indochine les conventions particulières ou provisoires, qui, compte tenu des circonstances, deter mineront les modalités de transfert au Vietnam des compétences précédemment exercées par l’autorité française.
Le gouvernement du Vietnam fera appel, par priorité, aux ressortissants de l’Union française, chaque foii qu’il aura besoin de conseillers, de techniciens ou d’experts dans les services, étitablissements publics ou dans les entreprises à caractère intéressant la défense de l’Union française.
La priorité accordée aux ressorrissants de l’Union française ne cessera de jouer qu’au cas d’impossibilité du gouvernement français de fournir le personnel demandé. Les modalités d’application de cette disposition seront précisées par un texte ultérieur.
Aucun citoyen français, aucun ressortissant de l’Union française ne pourra faire partie d’une administration vietnamienne sans avoir obtenu au préalable I’autorisation ou l’agrément du réprésentant  de l’Union française et réciproquement aucun Viemamien ne pourra appartenir à une administration française ou de l’Union française sans avoir obtenu au préalable l'autorisation ou l’agrément de son gouvernement.
V. QUESTIONS JUDICIAIRES. - Le Vietnam reçoit pleine et entière juridiction pour toutes les instances civiles, commerciales et pénales sur tout le territoire du royaume.
Toutefois, les instances civile et commerciales opposant entre eux ou à des Vietnamiens des ressoitissants de l’Union française autres que Vietnamiens ou des ressortissants des Etats avec lesquels la France a conclu des conventions impliquant un privilège juridictionnel et les poursuites pénales exercées à raison des infractions dans lesquelles seront impliquées ou lésées les même  catégories de personnes ou qui arront été commises au  préjudice de l’Etat français seront soumises à des juridictions mixte  dont la composition et le fonctionnement feront l’objet d’une convention judiciaire annexée au traité franco - vietnamien.
Cette convention respecters cependant le principes ci - après:
1*) Les jugements rendus comporteront la formule exécutoire suivante: « Au nom de l’Union française et de la Nation vietnamienne, S. M. l’Empereur du Vietnam fera l’objet d’accords ultérieus prévoyant une procédure simplifiée d’ exequatur.
2*) La loi applicable sera la loi française toute les fois qu’un Français sera en cause. 
3*) La loi applicable sera la loi vietnamienne toutes les fois qu’un Français n’étant pas en cause, il apparitra que cette loi est applicable à la solution du conflit.
A défaut la loi française sera applicable.
Enfin, il est précisé que confornément aux règles du droit international privé, les matières relevant du statut personnel demeureront régies par la loi national les parties.
 Le contentieux administratif sera réglé suivant les mêmes principes et sur une base de réciprocité totale.
La convention judiciaire particulière réglera également toutes autres questions relatives au présent chapitre.
VI. QUESTIONS CULTURELLE. - Dans la cycle primaires et secondaires, la France peut ouvrir librement au Vietnam des établissements d’enseignement publics et privés sous la seule réserve de I’observation des lois et règlements territoriaux en cette matière.
Ces lois et règlements ne devront faire aucune discrimination, directe ou indirecte, entre Français et Vietnamiens.
Les qualifications professionnelles et morales requises pour enseigner dans ces établissements sont les mêmes que celles en vigueur en France.
Toutes ces dispositions s’appliquent également à  l’Enseignement technique et professionnel.
Les établissements français appliquent la programmes en vigueur en France; un cours d’histoire et de civilisations vietnamiens  y sera cependant obligatoirement professé.
Les élèves vietnamiens ont libre accès aux établissements français installés au Vietnam. Ces établisement ouvriront un cours de langue vietnamienne obligatoire pour les élèves vietnamiens.
Une place privilégiée, intermédiaire entre la langue nationale et les langues étrangères, sera réservée à la langue française, langue diplomatique au Vietnam, dans les établissements vietnamiens.
Le Vietnam accepte que la langue française ait dans son enseignement secondaire une place suffisante pour permettre éventuellement de suivre les cours supérieurs en cette langue à la fin de ce cycle: il I’efforcera d'en assurer l’enseignement dans le plus grand nombre possible d'écoles primaires.
Un système d'équivalence entre les diplômes Vietnamiens et les diplômes officiels français sera établi par l’accord conclu à cet effet, dès que les programmes français et vietnamiens auront pu être confrontés.
Le Vietnam a le droit de pourvoir librement à son enseignement supérieur; de même il reconnaît à la France le droit de continuer, au Vietnam, son enseignement supérieur au titre de l’Union française.
Toutefois, en raison des difficultés pratiques actuelles et notamment pour permettre la formation d’un personnel vietnamien adéquat, une Université commune est crée, dans le respect des lois et règlements territoriaux. Le statut de cette université fera l’objet d’un accord spéccial entre la France et le Vietnam. Les autres Etats associés d’Indochine pourront, s’ils le désirent participer à cet organisme et engager à cette fin les négociations nécessaires avec la France et le Vietnam.
Le statut de cette université devra respecter la principes ci-après:
L’Université commune devra constituer un organisme répondant aussi complétement que possible aux principes d’autonomie de l’enseignement supérieur appliqués dans la plupart des grands Etats modermes.
Elle sera dirigée par un recteur, nommé par décision conjointe des gouvernements intéressés et de la France, après présentation de trois candidats par le comité consultatif de l’Université. Le recteur sera assité de doyens, pour la direction de chaque établissement supérieur, et, pour la direction de l’Université, d’un conseil d’Université comprenant, sous la présidence du recteur, les doyens, les représentants des professeurs, les représentants des étudiants et les personnalités s’intéressant aux questions d’éducation ainsi que les directeurs des grands établissements scientifiques et un représentant de chacun des gouvernements intéressés.
L’enseignement se fera dans la langue choisie par les fondateurs pour les fondations et instituts spéciaux.
Dans l’enseignement classique:
a) toutes les disciplines seront enseignées en français,
b) l’enseignement vietnamien se fera suivant des modalités à déterminer par le conseil de l’ Université.
Les diplômes détivrés par l’Université commune seront considéres comme officiels par les deux Etats; toutefois, les diplômes délivrés dans un éventuel cycle purement vietnamien ne donnerons pas automatiquement accès aux postes d’enseignement français et aux emploirs, donnés sur titre, de l’Union française.
En vue de faciliter au maximum l’expansion de l'enseignement supérieur, les droits universitaires seront maintenus aussi bas que possible et devront recevoir l'accord des gouvernements intéressés.
L’Université commune réservera le nombre de places nécessaire aux boursiers des gouvernements intéressés.
Le sort des établissements scientificnes existant actuellement au Vietnam sera réglé par des conventions particulières à passer soit entre l’Etat français et l’Etat vietnamien, soit entre l’Etat vietnamien et la direction de l’établissement intéressé. Néanmoins, les quelqnes principes ci-après seront obligatoirement respectés.
L’actif de l'ensemble du patrimoine de l’Ecole française d’Extrême - Orient sera la copropriété des trois Etats indochinois et de la France ; il sera frappé d’inaliénabilité. Le conseil d’administration comprendra des représentants des trois Etats indochinois et de la France. Le directeur sera nommé par décision conjointe des quatre gouvernements après présentation de trois candidatures par Ies sections compétentes de l'institut de france.
La situation des instituts Pasteur installés sur le territoire du Vietnam sera réglée par contrats passés entre ces organismes et le gouvernement vietnamien.
Les contrats à passer respecteront cependant les principes ci-après:
Les établissements existants sont le copropriété des trois Etats indochinois et de la France pour les immeubles et terrains attenants de Saigon, Dalat, Nhatrang.
Le Vietnam est propriétaire des immeubles et terrains attenants de I’institut Pasteur de Hanoi; il s'engage, cependant, à passer, pour Hanoi, un contrat identique à celui adopté pour les autre établissements.
L’institut Pasteur garde la propriété des exploitations et terrains qu’il a reçus par dons ou legs.
L’institut Pasteur est propriétaừe do xnatérieỉ sdenttfique.
L’applicatlon du contrat actuel se poursuivra jusqu’a expiration normale, fin décembre 1949.
Archives:
Chaque gouvernement conserve la propriété de ses archives. La conservation et la gestion de ces archive se feront suivant des modalités à déterminer.
Les questions de bibliothèques, de l’Office du riz, du Service météorologique, de l’Institut océanographique et des Musée feront l’objet d’accords particuliers.
VII. – Questions économiques et financières - Les ressortissants vietnamiens en France et dans le autre partie de l’Union française, le ressortissants de L’Union au Vietnam jouiront de la même liberté d’établissement que les nationaux dans le cadre des lois et règlements territoriaux. Ils jouissent des libertés de circulation, de commerce et plus généralement de toutes les liberté démocratiques dans ce domaine.
Le biens et entreprise appartenant à de ressortissants de l’Union française sur le territoire du Vietnam bénéficient du même régime que celui réservé aux biens et entreprises de ressortissants vietnamiens, notamment en ce  qui concerne la fiscalité et la législation du travail. Cette égalité de statut sera reconnue à titre de réciprocité aux biens et entreprise des ressortissant vietnamiens dans le territoire de l’Union française.
Le régime juridique des entreprises et biens appartenant à des ressrtissantssants de l’Union française sur le territoire du Vietnam ne pouna être modifié que d’un commun accord entre le gourvernement de la République française et le gouvernement du Vietnam.
Seront rétablis dans leurs droits et dans leurs biens, dans leur étar actuel, le ressortissants de l’Union française qui en ont été privés par suite des circonstances de fait ayant intéressé le Vietnam depuis le mois de man 1945. Un comité mixte sera désigné pour fixer les modalités de cette restitution.
Le capitaux français pourront s’investir librement au Vietnam, sous le réserve ci-après:
a) le gouvernement du Vietnam participera, s’il l’estime utile, au capital des entreprises classée dans un secteur dit d’intérêt national,
b) l'ouverture de entreprise classées dans un secteur dit de défense nationale et subordonnée à l'autorisation du gouvernement du Vietnam,
c) le gouvernement du Vietnam pourra exercer un droit de préemption sur I’actif des entreprises qui viendraient  à cesser leurs activités.
Une commission mixte franco - vietnamienne définira préalablement l’étendue exacte de ce secteurs ainsi que la portée précise des limitations au principe de libre établissement qui y sont introduite.
Le réserve qui précèdent ne s’appliquent ni aux biens et entreprises actuellement existant au Vietnam ni aux développements devant résulter de leur activité nonnale.
Le gouvernement du Vietnam administrera souverainement se finances. II établira et gérera son budget. Il disposera de toute les recettes perçues sur le territoire du Vietnam, à l’exception de celles affectées, d’accord avec le gouvernment français et le gouvernements des autres Etats associés, au financement des institutions communes ou à tout autre emploi à déterminer. Il pourra augmenter les impôts et taxes et en créer de nouveaux. Quand ceux- ci auront une incidence particulière sur le ressortissants de l’Union française, ils feront l’objet d’une consultation préalable de leurs représentants aux fins de maintenir une certaine harmonie fiscale entre le Vietnam et les autres Etats indochinois ainsi que l’exercice normal des activités économiques.
Le Vietnam sera en union monétaire avec les autres Etats indochinois. La seule monnaie ayant cours sur le territoire de cette union monétaire sera la piastre émise par l’institut d’émission de l’Indochine.
L’Insritut d’émission pourra émettre des vignettes différentes pour le Vietnam, le Cambodge et le Laos.
La piastre indochinoise fera partie de la zone franc. La parité entre la piastre et le franc ne sera pas cependant immuable, et pourra varier suivant les circonstances économiques. Toutefois, cette parité ne pourra être modifée qu’après consultation des Etats associés d’Indochine.
Le mécanisme des changes sera réglé par l’Office indochinois des changes.
Le Vietnam formera une union douanière avec les autre Etats indochinois. Il n’existera entre eux aucune barrière dounière. Aucune taxe ne sera perçue à leurs frotières communes, les mêmes tarif seront appliqués à l’entrée et à la sortie du territoire de cette l’Union.
S. M. l’Empereur du Vietnam, considérant que, dans le domaine économique et financier, il a des intérêts communs avec les souverains du Cambodge et du Laos, d’une part, avec l’Union française, d'autre part, et qu’il serait avantageux pour la Nation vietnamienne que ces intérêts soient harmonisés dans un but de prospérité générale, reconnait l’opportunité de la création d’organismes mixtes qui assurreront l’étude, l’harmonisation et la mise en oeuvre desdits intérêts.
A cet effet, une conférence réunie en Cochinchine à la diligence du haut commissaire, où seront représentés à côté du gouvernement de la République française et du gouvernement de Sa Majesté, les souverains du Cambodge et du Laos, déterminera la composition et l’étendue des pouvoirs de ces organismes mixtes. Il a paru bon de réserver, dans ce but, à la compétence de la Conférence les points suivants:
1) le service des transmissions,
2) le contrôle des transmissions,
3) le commerce extérieur et les douanes,
4) le Trésor,
5) le plan d’iquipement.
II est à préciser à ce propos, que la Conférence indochinoise, ci-dessus définie, sera appelée à donner son avis sur le plan d’équipement actuellement à l’étude.
Cette conférence établira elle - même, à l’ouverture de ses travaux, son réglement et sa procédure.
Le haut conseil de l’Union française pourra éventuellement être saisi pour avis et conciliation, s’il y a lieu.
Les instruments seront échangés à Saigon entre Votre Majesté et le haut - commissaire de France en Indochine et I'accord entrera en vigueur à la date de cet échange.
La déclaration commune du 5 juin 1948 et les présentes, ainsi que les conventions complémentaires qu’elles comportent, seront soumises à l’approbation du Parlement français et des instances vietnamiennes qualifiées pour constituer l’acte prévu à l’article 61 de la Constitution de la République française.
Le gouvernement de la République et moi-même sommes convaincus que la mise en oeuvre rapide par Votre Majesté et le représentant de la France, dans un esprit de mutuelle confiance et de bonne volonté réciproque, des dispositions qui précèdent contribuera efficacement au rétablissement de la paix au Vietnam, librement uni dans l’égalité et l’amitié à la France.
Je prie Votte Majesté de bien vouloir agréer les assurances de la très haut considération
Le Président de la République,
Président de l’Union française
VINCENT AURIOL
Par le Président de la République,
Président de l’Union française
Le Président du Conseil des ministres
HENRI QUEUILLE
Cảm nghĩ của người ngoại quốc về Hoàng Đế Bảo Đại
Sống trong một tủ cấm thành rất cô đơn biệt lập, vị Hoàng đế tương lai này đã trải qua chín năm đầu của cuộc đời mình, bằng một nền học vấn sơ khai, lấy tam cương ngũ thường của Khổng Phu tử, để hun đúc ông trở thành vị Hoàng đế ở Á Đông. Chín năm sau, ông lại được trau dồi bằng giáo lý của phương Tây chúng ta, nghiền ngẫm từ văn chương, chính trị (Đại học đường PO), triết lý, khoa học... từ văn đến võ (Đánh gươm, cưỡi ngựa, lái máy bay, ô tô...), để có thể dung hòa được cả Đông và Tây...
Chưa tới hai mươi tuổi, ông trở về nước mình mà làm Hoàng đế, một thứ con trời, cha mẹ thần dân, để trị vì. Mà thần dân của Đức Vua, là thứ dân ý nhị, tinh anh, khôn ngoan và cần cù chăm chỉ. Họ biết tập hợp lại với nhau chặt chẽ, theo đạo hiếu trung, lấy quân thần, phụ tử làm chính. Đức Vua lấy hiệu là Bảo Đại, có nghĩa là vĩ đại, và huy hoàng... Đức Vua đang cố gắng, để thực hiện cái nghĩa ấy.
Ở vào thế kỷ hai mươi này, cả thế giới đang băn khoăn, để hòa hợp giữa Đông và Tây, hầu tìm lấy một kỷ nguyên mới, thì chính Đức Vua Bảo Đại đã cống hiến cho chúng ta bài học đắt giá đó qua cuộc đời lầm than, đau xót của con dân nước ông, mà Đức Vua vẫn thương yêu như một cha hiền, do cái lầm than, cơ cực của họ cũng chính là nỗi sầu tủi của chính cuộc đời lưu đày của mình. Cuộc thảm sầu này, có thể là cuộc thảm sầu chung, mà chúng ta cần phải biết...
Sau hai mươi lăm năm im lặng và suy gẫm, nay chính là lúc Đức Vua buộc phải nói lên cho cả nhân loại cùng biết... 
BẢN CHẤP HÀNH LƯỠNG VIỆN LẬP PHÁP CALIFORNIA
Do đề nghị của tám vị Nghị viên (Ghi rõ từng tên một)
Xét rằng Hoàng đế Bảo Đại Cựu Quốc vương Việt Nam sẽ thăm viếng Sacramento (thủ phủ của tiểu bang California) từ ngày thứ tư 10 tháng 2 đến ngày thứ sáu 12 tháng 2 năm 1982, và do đó các vị Nghị viên muốn tỏ lòng hoan nghênh nồng nhiệt nhất đối với ông.
Xét rằng, là vì Vua cuối cùng đã tri vì một nước Việt Nam thống nhất, Hoàng đế Bảo Đại hiện được tôn kính bởi một số người Việt Nam ngày càng đông đảo ở đây và được coi như vị lãnh tụ của họ.
Xét rằng, trong thời gian trị vì, ông đã tạo dựng nền độc lập của một nước Việt Nam thống nhất, bằng cách đem ba xứ Nam kỳ, Trung kỳ, và Bắc kỳ hợp lại thành một quốc gia thống nhất.
Xét rằng, ông đã có công phát triển nên ngoại giao với các ngoại cường, về công cuộc canh tân hiện đại hóa, công nông nghiệp.
Xét rằng, tóm lại ông đã có những cố gắng vượt mức để bình định bằng cách tập hợp mọi thành phần quốc gia…
Nay Liên Uỷ ban Chấp hành của Thượng viện và Hạ viện quyết định: Hãy hân hoan chào mừng Hoàng đế Bảo Đại của Việt Nam đến California và ngỏ lời chúc tốt đẹp nhất cho sự thành công cho mọi công việc chứ tương lai của ông, và quyết nghị một bản sao thích đáng của Quyết nghị này phải đạt tới Hoàng đế Bảo Đại của Việt Nam. Bản quyết nghị số 78 này được Liên Uỷ ban Chấp hành Lưỡng viện Lập pháp California chấp thuận.
Úy ban Chấp hành Thượng viện:
Ký tên, Chủ tịch David Roberti,
Chủ tịch Thượng viện, Mike Curtb, Phó Thống đốc, Ủy ban Chấp hành Hạ viện, Chủ tịch Louis J. Papan,
Chủ tịch Hạ viện: While L. Brown Jr.
Paris, tháng 7/1979
Bảo Đại
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...