Thứ Ba, 22 tháng 2, 2022

Con rồng An Nam - Phần 3

Con rồng An Nam - Phần 3

Bản tuyên bố chung ở Vịnh Hạ Long
BẢN TUYÊN BỐ CHUNG KÝ NGÀY 5 THÁNG 6 NĂM 1948 Ở VỊNH HẠ LONG giữa ông Emile Bollaert, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, và ông Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lảm thời Việt Nam, trước mặt Hoắng đế Bảo Đại.
Trước mặt Hoàng đế Bảo Đại,
Ông Emile Bollaert, Cố vấn Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, Cao ủy Pháp ở Đông Dương nhân danh Chính phủ Cộng hòa Phấp quốc, một bên,
và: Ông Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam, có sự dự kiến của quí ông Nghiêm Xuân Thiện và Đặng Hữu Chí, Phan Văn Giáo, Nguyễn Khoa Toàn và Đinh Xuân Quảng, Trần Văn Hữu và Lê Văn Hoạch, đại diện lần lượt cho miền Bắc Việt Nam, miền Trung Việt Nam và miền Nam Việt Nam, một bên.
Đã lập bản tuyên bố chung như sau:
1. Nước Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam, được tự do thực hiện nền thống nhất của mình. Về phía, Việt Nam, nước Việt Nam tuyên bố sự sát nhập vào Liên hiệp Pháp dưới danh nghĩa một quốc gia liên kết với nước Pháp. Nền độc lập của Việt Nam không có một giới hạn nào khác, ngoài giới hạn, mà Liên hiệp Pháp dành cho mình.
2. Nước Việt Nam cam kết tôn trọng mọi quyền hạn và quyền lợi của các tư nhân Pháp, cam kết bảo đảm các căn bản dân chủ, và dành ưu tiên sử dụng các nhà chuyên môn, cố vấn Pháp trong mọi nhu cầu tổ chức nội bộ và khuếch trương kinh tế của mình.
3. Sau khi thành lập chính phủ lâm thời, các đại diện của Việt Nam sẽ thỏa thuận với các đại diện của Cộng hòa Pháp quốc, những sự thỏa thuận hợp lý về các vấn đề ngoại giao, kinh tế, tài chánh và chuyên môn.
Làm thành hai bản chính ở vịnh Hạ Long, ngày Năm tháng Sáu năm Một nghìn chín trăm bốn mươi tám.
BOLLAERT
BẢO ĐẠI & NGUYỄN VĂN XUÂN
Nghiêm Xuân Thiện - Đặng Hữu Chí Phan Văn Giáo - Nguyễn Khoa Toàn - Đinh Xuân Quảng - Trần Văn Hữu - Lê Văn Hoạch
Nay là lúc đọc diễn văn. Đối với bài diễn văn của ông Bollaert và của Tướng Xuân tôi nói rất vắn tắt:
“Thưa ông Cao ủy, vào ngày tốt lành này, và ở giữa một khung cảnh huy hoàng của vịnh Hạ Long, từ nay đã đi vào lịch sử của nước tôi, Ngài vừa được chứng kiến, nhân danh nước Pháp, sự tự do thực hiện nền thống nhất của Việt Nam và nền độc lập quốc gia trong Liên hiệp Pháp. Để cụ thể hóa đường hướng chính trị mới này làm tôn vinh nước Pháp và các vị đại diện cao cấp của quí quốc, Ngài vừa công nhận chính phủ trung ương đầu tiên của Việt Nam, do Tướng Nguyễn Văn Xuân cầm đầu. Thay mặt toàn thể đồng bào tôi, tôi xin chân thành cảm ơn”.
Người ta chụp hình. Bên cạnh ông Bollaert, có Tướng Blaisot, Đô đốc Battet, các Tướng Le Bris và Boyer de Latour, các ông Messmer, Chevanee-Bertin…
Chúng tôi dự tiệc chung với nhau. Đến chiều, Xuân, Hữu và các bộ trưởng của ông ta từ biệt chúng tôi để trở về Sài Gòn. Còn tôi ở trên tàu và buổi chiều, ăn cơm với ông BolIaert.
Viên Cao ủy có vẻ mặt rạng rỡ, làm cho tôi cũng vui lây. Tôi bảo ông ta:
- Thưa ông Cao ủy, tôi mong rằng nước Pháp sẽ hiểu, và có mỹ ý hủy bỏ bốn Thể chế đi, vì chúng tôi không muốn có bản ấy. Ngài biết chắc rằng, nền hòa bình phải trả bằng giá ấy…
Ông ta nhìn tôi, băn khoăn ra mặt, vì thế tôi nói tiếp:
- Tôi sẽ từ giã hẳn Hong Kong. Đó là một thời đã qua rồi. Tôi không có gì phải lưu lại đây nữa. Tôi sang Pháp và chỉ về nước khi mà tất cả các vấn đề đang ứ đọng được giải quyết, khi mà nền hòa bình được thực sự vãn hồi.
Sau lời đó, tôi để mặc ông ta với sự ngỡ ngàng, mà trở về buồng riêng trên tàu dành cho tôi.
Tôi khá hài lòng. Tất nhiên, không phải là hài lòng hoàn toàn, và thực tế chẳng có cái gì là vĩnh viễn. Nhưng tôi đã đạt được cái mà Việt Minh bị từ chối. Những chữ độc lập và thống nhất đã được chính thức ghi nhận… Hơn nữa, chính phủ Nguyễn Văn Xuân đang đặt nền móng thực hiện. Tôi đã loại bỏ được một gánh nặng phải kiện toàn, và giữ được sự tự do hành động, để dành cho tương lai.
Ngày hôm sau, Chủ nhật, vào lúc ăn sáng, tôi lại đối diện với ông Bollaert. Ông ta như chưa muốn cho tôi đi, và làm bộ thân thiện, ông ta muốn biết định kiến thực sự của tôi, đồng thời muốn giữ tôi ở cạnh ông ta. Ông hứa hẹn đủ điều. Nhưng đã biết người, tôi cương quyết giữ vững lập trường.
- Không, thưa ông Cao ủy, hẳn Ngài đã hiểu quá rõ ràng những điều tôi nói hôm qua. Tôi đi ngay và về thẳng Pháp, để trở về với gia đình. Tôi có bổn phận đối với gia đình…
Nói xong, tôi lên chiếc Catalina và ngồi cạnh viên phi công. Tôi chỉ thị cho phi công: “Múi về Nam”.
Đến 10 giờ, chúng tôi bay đến Huế. Tôi bảo phi công hạ thấp đến sát mái nhà. Chúng tôi lượn thành vòng rộng. Đây là hoàng cung, bị phá hủy một phần; đây là sông Hương với hai cây cầu đổ: cầu Clémenceau và cầu xe lửa. Đây là cung An Cựu của Đức bà Từ Cung, mẫu thân tôi. Sau khi lượn trên lăng chúng tôi lại bay vòng lại lần thứ hai. Cánh quạt nổ ròn như lời chào biệt, chúng tôi lên cao để vượt rặng Trường Sơn, rồi chiếu về Bangkok.
Tôi tin chắc mẫu thân tôi, nghe tiếng động cơ, đứng trên thềm điện, đã trông thấy máy bay, và Đức bà hiểu đấy là dấu hiệu của tôi…
Đến Bangkok, tôi đi chuyến máy bay thường lệ, và lại là chuỗi đỗ ở từng chặng: Rangoon, Calcutta, New Delhi, Le Caire, Tripoli, Tunis và tới phi trường Bourget.
Tất nhiên thành quả đạt được ở vịnh Hạ Long chỉ trở thành cụ thể trong trường hợp là một mặt chính phủ Nguyễn Văn Xuân phải tỏ ra hữu hiệu và mặt khác, chính phủ Pháp phải thành thực để hoàn tất nhanh chóng sự bàn giao cho Việt Nam.
Thế mà, điều tôi biết khi trở về đến Paris, thật còn xa mới tới được hai điểm mong ước này, và tôi chỉ còn vui mừng được chút ít là tôi đã đứng được ra ngoài.
Tại Sài Gòn, sự trở về của Tướng Xuân được một chiến dịch do một nhóm lạc hậu của xã hội thực dân đàn chào. Bọn này từ chối tất cả các sự nhượng bộ. Họ chống cả lại Bollaert, kết ông ta vào tội chống lại chính lệnh, vì đã bỏ xứ Nam kỳ là một phần của đất đai nước Pháp.
Tại Paris, bản tuyên bố của Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Paul Coste Floret đọc trước Quốc hội ngày 8 thống 6, gây sóng gió hơn cả. Nhắc lại bản thỏa ước ký ngày 5 tháng 6, ông ta nhấn mạnh:
- Để chắc chắn tránh mọi mâu thuẫn, đã nhiều lần, tôi lưu ý ông Cao ủy là lập trường của chính phủ Cộng hòa Pháp quốc muốn giữ thuần nhất nền ngoại giao và vấn đề quốc phòng cho toàn thể Liên hiệp Pháp. Tôi cũng đã bảo cho ông ta biết là lực lượng võ trang của Việt Nam chỉ được đặt trọng tâm váo lực lượng cảnh bị, để giữ an ninh nội bộ.
Sau hết, về qui chế cho Nam kỳ, đã được nói rõ ràng từ đây của cả, những văn kiện sẽ ký ở vịnh Hạ Long không được dính líu gì vào sự thống nhất ba kỳ, mà được nước Pháp công nhận, nhưng nước Pháp còn đợi chính phủ Xuân hành động, trước khi đặt lập trường chính phủ. Pháp không chấp nhận giờ đây, sự thống nhất ba kỳ. Chính phủ không chống lại sự thống nhất của Việt Nam, nếu đó là điều mong ước của dân chúng được thể hiện một cách dân chủ. Chính phủ Pháp xác nhận rằng, không thể có sự thay đổi gì vế qui chế của Nam kỳ được thực hiện, nếu không có quyết định của Quốc hội của mẫu quốc.
Qui chế ba kỳ nói chung một thứ tiếng Việt Nam, như đã được ẩn định bởi các hiệp ước ký với triều đình Huế như vậy không được thay đổi.
Khi lời tuyên bố ấy bay đến Sài Gòn, đó là một tai họa. Chúng tôi không còn vị trí năm 1945, mà trở về hiệp ước năm 1884… Thật vô lý, không ai hiểu nổi nữa. Việt Minh được lợi: “Thấy chưa, chúng ta không thể tin vào Pháp được”. Bọn thực dân ăn mừng. Nhiều bộ trưởng, trong đó có Trần Văn Hữu vừa được bổ làm Thủ hiến Nam bộ, liền co vòi lại: “Ông Cao ủy không được toàn quyền của chính phủ ở vịnh Hạ Long, người ta đã chơi xỏ chúng tôi”
Tội nghiệp cho Tướng Xuân, ngày 14 tháng 6 vừa ra một quyết định đầu tiên bổ nhiệm ba vị thủ hiến cho ba kỳ Bắc, Trung, Nam và chỉ thị cho họ phải áp dụng cho từng kỳ, quyết định của chính phủ trung ương, nay rơi từ trời xuống đất. Các bộ trưởng miền Nam, dưới áp lực của Hội đồng Nam bộ, bỏ rơi ông ta. Việt Minh kết ông ta tội phản quốc, và lên án tử hình vắng mặt.
Tất cả sự đó chứng minh cho tôi rằng các nhà lãnh đạo Pháp đã hoàn toàn mù tịt về vấn đề Việt Nam, và các khía cạnh tâm lý của nó. Thật ra, điều quan tâm này của họ chỉ là phụ đối với chính nội bộ chính trị nước Pháp, và sự cần thiết, tùy theo trường hợp, để thỏa mãn phần dư luận này hay nọ mà họ cần đến, hầu có thể giữ được quyền hành. Đó là hậu quả bi thảm của một nền dân chủ đã bị suy thoái đến chỗ mất hết ý niệm về quyền bính và lợi ích chung trong việc phục vụ. Dù sao thì tôi càng vững chắc tự tin ở mình, là chỉ có hành động mới đáng kể, và tôi chỉ có thể tự hào là đã không chịu nhân nhượng cụ thể nào đối với Pháp.
Điều làm tôi thất vọng trong vấn đề này, đó là cảm tưởng bi thảm của dân chúng Việt Nam. Thỏa hiệp mùng 5 tháng 6 không đem lại cho họ sự hăng say hứng khởi nào. Họ khôn ngoan gạt bỏ ảo tưởng, để đợi chờ. Đối với họ, độc lập chỉ là một thực thể, ngày mà họ không nhìn thấy lính Pháp trên đất nước. Từ nay đến lúc ấy, chắc chắn còn nhiều nỗi thống khổ cần phải chịu đựng. Thế nhưng, họ lại không vô tình đối với những lời tuyên truyền của Trần Huy Liệu, bộ trưởng bộ Thông tin của chính phủ Hồ Chí Minh. Đài địch, và những lời rỉ tai luôn nhắc lại, và rêu rao là chính phủ Xuân chỉ là một chính phủ “bù nhìn” do Pháp giật giây. Tất nhiên, ai tham gia vào chính phủ ấy, hay đã ủng hộ chính phủ ấy mặc dù không hô đích danh ai đều bị liệt vào tội đồng lõa hoặc có thể bị coi là đã bị Pháp mua chuộc và ru ngủ.
Ông Bollaert cũng thất vọng không kém. Ông ta muốn tiếp xúc với tôi để đánh một ván bài sả láng, là muốn mời tôi trở về Việt Nam, nên cuối tháng sáu đã vội vã đến Paris ngay.
Tôi biết là vị trí của viên Cao ủy này rất bấp bênh. Hơn ai hết, ông ta cũng ý thức được sự bấp bênh này, kể cả sự bấp bênh của chính phủ Pháp nữa. Chung qui, tôi nghĩ rằng, điều làm ông ta phải sang Pháp này, chính là do thủ đoạn mà trước đây đã tường nắm được tôi, nên nay phải cố gắng thu xếp, khổ cho ông ấy là như vậy.
Từ thâm tâm, tôi cảm thấy khoan khoái vô cùng.
Về thời ấy, và cả về sau nữa, người ta thường cho rằng tôi rất yếu, chẳng có tí gì để “làm vốn” và sự đại diện của tôi thật đáng ngờ. Nhận định ấy, có lẽ hợp lý đối với bộ óc Tây phương: chính trị gia, nhà báo, sử gia… Nhưng họ đã quên mất một yếu tố quan trọng: đó là vị trí chính thống của ngôi Thiên tử của tôi (8). Vị trí chính thống này, có lẽ chỉ mình tôi cảm thấy. Nó không thể được ghi vào là một yếu tố cụ thể trong một cuộc đàm phán ngoại giao, và nhất là đối với tôi hơn là đối với bất cứ ai, tôi không thể xuất trình ra được. Tuy nhiên, nó có và với một sự thể hiện vô cùng mạnh mẽ, mạnh hơn cả các dữ kiện chống tôi nữa. Có lẽ không bao giờ tôi có thể thuyết phục được sự hiện hữu ấy, với những ai chỉ công nhận qua nhãn giới bề ngoài, những ai không phải là dân tộc của nước tôi. Hơn thế nữa, kể cả trai hay gái thuộc dân tộc tôi, cũng khó có khả năng giải thích được, sao cho vỡ nghĩa, giá dụ như vấn đề được đưa ra trước một cuộc thảo luận công khai như kiểu trưng cầu dân ý. Đối với những phản ứng của tôi, với hành động của tôi, dân chúng đã giải thích tùy theo trình độ hiểu biết của họ, quan niệm của họ… Vì vậy, đã có cả chuỗi dài huyền thoại nói về con người của tôi, nhiều khi ngây ngô, thú vị làm tôi không nhịn được cười. Tôi không rõ vì bí mật gì thúc đẩy, hay là vì ông ta sanh ra trên đất Á Đông này, mà một nhà báo kia, đã viết và dựng nên một huyền thoại, với sự hiếu biết khá sâu sắc. Thế nhưng, thay vì làm cho độc giả hiểu một cách hữu lý, thì ông ta đã đưa đến một kết quả méo mó, bởi không đạt trong sự diễn tả. Ngược lại, Hồ Chí Minh, thì ý thức rõ rệt được sự chính thống ấy.
Dù bằng lời nói hay cử chỉ, lúc nào ông ta cũng cố gắng muốn khoác cho mình, nhưng chẳng bao giờ đạt được…
Vậy thì, viên Cao ủy giờ đây về Paris là muốn được sự duyệt y của Thỏa hiệp ở vịnh Hạ Long. Để rồi với cái mẩu thành công tí teo này, ông ta cố gắng làm cho tung ra thành một chiến thắng lẫy lừng. Nhưng ông ta lại vấp phải sự phân hóa của nền chính trị Pháp quốc. Không một đảng nào, một phe nhóm nào, sẵn sàng yểm trợ cho ông ta, điều mà ông ta vẫn đợi chờ. Tôi được biết như vậy ngay sau khi đến Paris, khi tiếp xúc với một số chính khách.
Ngay cả đến những người được coi là có thiện chí nhất với giải pháp phù hợp với đường lối hiện tại của Pháp lúc ấy, như phe De Gaulle của Cộng hòa Dân chủ Pháp RPF, cũng không mấy sốt sắng ngay. Họ muốn dành sự ủng hộ này, đúng vào lúc sát kề, mà họ đạt được đa số để cầm quyền. Tướng Benouville đã bảo thẳng với tôi như vậy.
Còn về các nhóm khác, dù là đa số hay bọn đối lập, họ còn lâu mới tới giải pháp trong đó dành độc lập và thống nhất cho Việt Nam, cả với sự bảo đảm của tôi cũng bị bọn Cộng sản từ chối thẳng thừng khi không đàm phán với Hồ Chí Minh. Nhiều đảng viên Xã hội về phe cộng sản, và tất cả đều ở thế dè dặt. Bọn Cộng hòa tả phái như thường lệ, vẫn từ chối không chịu điều đình. Bọn Cộng hòa dân chủ thì coi việc thực hiện thỏa ước mùng 5 tháng 6 như một sự sa hố, e ngại rằng có thể kéo nước Pháp đến chỗ nhượng bộ bất khả chấp thuận. Còn đối với phe đối lập và cực hữu, họ cho là đã đi quá xa và chỉ chấp nhận dùng binh lực để trở về qui chế cũ.
Tôi để cho các thân cận của tôi giải quyết: Nguyễn Mạnh Đôn, Bửu Lộc, Nguyễn Đắc Khê, Nguyễn Quốc Định tiếp xúc với họ, và ngày 11 tháng 7, tôi gởi cho ông Bollaert một giác thư nhấn mạnh là ngày 5 tháng 6, tôi chỉ đóng vai nhân chứng, và các điều khoản ghi trong bản thể chế, không phải là thứ “có thể đưa đến hòa bình và đặt nền tảng thân hữu lâu dài giữa hai dân tộc của chúng ta được”.
Ngày 19 tháng 7, chính phủ Schuman đổ, chứng tỏ sự thận trọng của tôi là đúng. Một tuần sau, ông André Maris lập tân nội các. Ông Paul Coste Floret vẫn giữ bộ Pháp quốc Hải ngoại và ông Robert Schuman thay ông Georges Bidault giữ Bộ Ngoại giao.
Trong phiên họp ngày 15 tháng 8, ở Sài Gòn, Hội đồng Nam bộ ngỏ ý mong muốn Quốc hội Pháp chuẩn y bản thỏa ước ở vịnh Hạ Long.
Trước Nghị viện, tân nội các Pháp ngày 19 tháng 8 trình bày đường lối chính trị về Đông Dương, và đạt kết quả tối đa về tín nhiệm. Sau khi khâm phục hành động của viên Cao ủy Pháp, và ngợi khen ông ta về những điều khoản ghi trên thỏa ưởc mùng 5 tháng 6:
- Chính phủ chấp nhận toàn thể và long trọng các điều khoản ghi trên thỏa hiệp. Mặt khác, trung thành với nhiệm vụ cố hữu của nước Pháp, vốn đã ghi rõ trên bản Hiến pháp, là dẫn dắt các dân tộc mà nước Pháp có trách nhiệm, đưa đến tự do, để tự cai trị lấy mình, và quản trị lấy công việc của nước họ một cách dân chủ, chính phủ Pháp hiểu rằng tham gia vào Liên hiệp Pháp, trong tinh thần hoàn toàn bình đẳng, và độc lập, các quốc gia Đông Dương từ nay có trách nhiệm chung để phát triển nền thịnh vượng tròng hòa đồng và hòa hợp tốt đẹp. Mặt khác nữa, chính phủ Pháp coi thể chế hiện hữu của xứ Nam kỳ không phù hợp với tình trạng hiện tại, và chỉ có dân chúng xứ ấy mới có quyền quyết định tự do về thể chế nhất định của mình, trong khối Liên hiệp Pháp. Chính phủ cũng nhắc lại lời kêu gọi của viên Cao ủy, gửi cho tất cả mọi gia đình trí thức và chính trị gia ở Việt Nam để mời họ tham gia vào sự hợp tác này trên căn bản xây dựng độc lập và hòa bình. Chính phủ mong muốn rằng, khi mà hoàn cảnh thuận tiện, để tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý và tạo lập một chính phủ nhất định, miễn là những cơ cấu dân chủ phải được thực hiện và có kết quả ở khắp lãnh thổ, của một quốc gia tự do.
Tôi cũng ghi nhận rằng lời tuyên bố này không đá động gì đến tôi, hay đến chính phủ của Tướng Xuân, và như vậy, nó chỉ là lời nhắc lại của các điều khoản ghi trên bản thỏa hiệp ở vịnh Hạ Long. Nó không đá động gì đến những vấn đề thiết yếu đang để lửng lơ ở trong bản thỏa hiệp. Cuối cùng, nó không phải là bản chuẩn y do Quốc hội chấp nhận, nhưng chỉ là sự đồng ý mà thôi.
Thế rồi, viên Cao ủy lợi dụng chỗ được tuyên dương, và sự kêu gọi các nhà trí thức và chính trị gia hợp tác, liền xin gặp tôi.
Cuộc tiếp xúc diễn ra ngày 25 tháng 8 năm 1948, ở lầu Henri IV, tại Saint-Germain-en Laye. Lúc nào cũng ra vẻ tự tin và vững vàng, ông ta làm ra bộ đã quên mọi sự không ưa lẫn nhau của tôi, ông ta nói:
- Thưa Ngài, bản thỏa hiệp ở vịnh Hạ Long này đã được xác nhận rồi. Chính phủ Pháp chỉ có thể và chỉ muốn đàm phán với Ngài mà thôi. Nay là lúc mà Ngài nên trở về Việt Nam để điều khiển thực sự công tác. Nếu Hồ Chí Minh chịu hưởng ứng lời kêu gọi của chính phủ Pháp, thì với Ngài mà ông ta phải thảo luận…
- Thưa ông Cao ủy, tôi chưa bao giờ nghe thấy tất cả sự đó. Tôi chưa bao giờ nghe đến cái gì liên can đến tôi, và tôi vẫn chờ nghe những đề nghị của chính phủ quí quốc. Nhưng điều thiện chí chưa đủ để nói hết
Thế là với sự bực mình rõ rệt, ông ta tiếp:
- Thời gian sẽ đến với Ngài. Có lẽ cũng còn lâu lắm thưa Ngài, nhưng mà chính Ngài phải hành động trước. Ngài sẽ nhận thấy…
- Thưa ông Cao ủy, Ngài vừa nói đến thời gian. Nhưng mỗi một chút thời gian qua đi, là máu của nhân dân tôi vẫn chảy, và chính tôi phải chịu trách nhiệm trước họ. Vì thế, tôi không thể trở về Việt Nam với hai bàn tay trắng. Tôi mong rằng nước Pháp bỏ hẳn các điều khoản vô lý ghi trên tờ thế chế, nước Pháp tuyên bố chân thật và dứt khoát rằng ba kỳ chỉ hợp lại thành một và cùng trong một nước. Như vậy, thì Ngài có thể tin ở nơi tôi được.
Nhận thấy rằng lần nữa, thủ đoạn của ông ta bị thất bại, ông Bollaert rút lui, và không quên nói một câu để giữ thể diện:
- Thưa Ngài, tôi hy vọng chúng ta sẽ gặp nhau ngày gần đây.
Để chứng tỏ rằng tôi đang phải đương đầu với ai, tôi quyết định không chùn bước. Tôi trở về Cannes với gia đình tôi.
Giữa lúc ấy, chính phủ André Marie bị bắt buộc phải từ chức. Chính phủ này chỉ đứng được hơn một tháng. Làm sao mà tôi có thể điều đình nghiêm chỉnh trước một sự bấp bênh như vậy được? Bây giờ là ông Henri Queuille, ngày 11 tháng 9 lập tân chính phủ. Và ông Coste Floret, chắc chắn là ngồi dai đến chết, vẫn giữ bộ Pháp quốc Hải ngoại.
Sau đó ít lâu, tôi bị bệnh đau gan, nên phải về Paris chữa bệnh. Giữ kín danh tánh tôi kín đáo cư ngụ tại khách sạn California, phố Bercy, rất gần phòng mạch của bác sĩ điều trị.
Tôi còn đang đau, thì ngày 17 tháng 10, vào buổi trưa, có người kêu điện thoại gọi tôi:
- Thưa Hoàng đế, có người muốn xin được gặp Hoàng đế.
- Xin trả lời là tôi đang đau, và không thể tiếp ai được. Tôi đáp, và tắt máy.
Lại chuông reo lần nữa.
- Thưa Hoàng thượng, vị quí khách năn nỉ xin gặp là ông Haussaire.(9)
- Không, tôi không muốn gặp ai…
Chưa hết câu, thì có tiếng gõ cửa. Bực tức đến tột độ, tôi sẵn sàng nổi sùng với kẻ vô ý thức đó.
- Vào.
Thì đó chính là ông Bollaert đã lao vào như gió. Mặt ông ta biến sắc. Ông ta tháo mục kính ra rồi lại đeo vào mắt, chỉ đủ thời gian để thở. Tôi hơi buồn cười về sự xâm nhập của ông ta. Thế là ông Cao ủy bảo tôi:
- Thưa Hoàng thượng, xin Ngài tha lỗi cho tôi đã bắt buộc phải đột nhập phòng Ngài trái phép, nhưng tôi cần phải gặp ngài ngay.
Tôi im lặng. Ông ta tiếp, gần như cầu khẩn:
- Thưa Hoàng thượng, tại sao Ngài lại không trở về Việt Nam?
- Thưa Ngài Cao ủy, tôi tưởng đã nói với Ngài Cao ủy rồi, là tôi không thể trở về nước tôi với hai bàn tay trắng được. Chẳng hay lần này, Ngài Cao ủy có đem cho tôi tin tức mới lạ nào không?
- Thưa Hoàng thượng, tôi tin rằng Ngài từ chối không chịu vào đấu trường.
- Vâng, có lẽ lắm. Vậy thì tôi muốn biết ai là con bò mộng, và ai là tên đấu bò đây?
- Thưa Hoàng thượng, hẳn Ngài biết rằng hòa bình sẽ trở lại, với điều kiện là Ngài phải trở về Việt Nam.
- Thưa Ngài Cao ủy, xin đừng ép tôi. Ngài đã có Tướng Xuân, xin hãy đàm phán với ông ta!
Lập tức, mặt ông ta tái nhợt, ông ta nói với tất cả sự tuyệt vọng vô cùng:
- Tôi tin rằng, tôi chỉ còn có cuốn gói là hết.
- Đó chính là điều tốt nhất cho Ngài vậy.
Tôi nhìn ông ta đi ra. Đây là người tuyệt vọng đã đi ra.
Chú thích:
(7) Trong cuộc hội nghị bỏ túi này, có những đại diện của các đảng phái quốc gia Việt Nam Quốc dân đảng, v.v… các giáo phái… như quí vị: Đặng Hữu Chí, Trần Quang Vinh, Lê Văn Hoạch, Phạm Công Tắc, Nguyễn Khoa Toàn, Hà Xuân Tố, Phạm Văn Hai, Đỗ Quang Giai, Lương Danh Môn, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Văn Ty, Ngô Quốc Côn, Nguyễn Thúc Loan, Phạm Đình Tuyên, Nguyễn Thức, Ngô Khánh Thực, Trương Vĩnh Tống, Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Văn Dần…
(8) Chân mạng đế vương
(9) Haut Commissaire: Chữ tắt chỉ Cao ủy.
Tiến tới một giải pháp
Hai ngày sau, tôi được biết qua tin các báo là ông Bollaert không xin tái nhiệm nữa. Và ngày 21 tháng 10 năm 1948, chính phủ Pháp cử ông Léon Pignon làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Tôi từng biết danh tiếng của ông ta, từng là cố vấn chính trị của Jean Sainteny, rồi của Đô đốc Thierry D’Argenlieu, trước khi làm Thượng sứ Pháp ở Cam Bốt. Vốn là người thuộc ngành cai trị thuộc địa, ông ta được tiếng là rất thành thạo các vấn đề và hoàn cảnh ở Việt Nam.
Hoàn toàn bình phục, tôi trở về Cannes. Tại đây, vị tân Cao ủy Đông Đương đến xin gặp tôi.
Khác xa vài người tiền nhiệm của ông ta, sự nhã nhặn và lịch sự của ông giúp chúng tôi dễ dàng trong cuộc tiếp xúc đầu tiên. Phải chăng đây là bước đầu cho sự thông cảm lớn hơn xưa? Ông Pignon trình bày một cách giản dị và khiêm tốn nhận định của ông về Việt Nam, tình huống mà ông ta phải đảm đương công tác, còn trách nhiệm lớn lao nằm trong tay viên Bộ trưởng bộ Pháp quốc Hải ngoại là ông Coste Floret.
- Thưa Hoàng thượng, tôi mong rằng sự tín nhiệm được văn hồi giữa Hoàng thượng và chính phủ Pháp, đó là một điều kiện cần thiết, nếu chúng ta muốn tiến mãi lên nữa.
- Hơn ai hết, thưa Ngài Cao ủy, tôi là người mong muốn nhiều nhất về sự tín nhiệm hỗ tương đó, nhưng cho đến nay, tôi chưa được đền đáp xứng đáng, điều mà tôi đã dành cho nước Pháp.
- Thưa Hoàng thượng, điều kiện thứ hai cũng vô cùng quan trọng, đó là sự trở về Việt Nam cửa Hoàng thượng. Đây là chiếc chìa khóa mà chỉ có nó mới mở được của Ngài cho sự tái lập hòa bình mà thôi.
Tự dưng tôi đã cảm thấy không có gì thay đổi. Thừa hành nghiêm chính chính sách của chính phủ, ông Pignon cũng dùng chung một luận điệu của vị tiền nhiệm của ông ta. Ông ta cũng nôn nóng như người cũ vậy. Thế là tôi không nén được một phút bực mình:
- Thưa Ngài Cao ủy, tôi đã nhiều lần xác nhận vị trí của tôi với ông Bollaert rồi. Đó là với chính phủ của Tướng Xuân, mà quí vị có thể theo đuổi cuộc đàm phán…
Thật vậy, vì nước Pháp chẳng chịu thí cho một chút nhượng bộ nào, viên Thủ tướng sẽ không có thực quyền. Thiếu phương tiện tài chánh, không quân đội, không cảnh sát, ông ta sẽ bị lệ thuộc vào nền cai trị của Pháp, lúc ấy vẫn tiếp tục quản trị các công việc của Việt Nam.
Vậy thì chẳng ai còn phải ngạc nhiên, nếu vị trí của Việt Minh có củng cố lại được, dù có bị chúng tôi làm cho lung lay đến tận gốc rễ. Bộ máy tuyên truyền của Việt Minh tha hồ mà rêu rao Xuân là bù nhìn của Pháp. Người ta cũng chẳng còn ngạc nhiên hơn nữa, nếu vì chán nản và tuyệt vọng, mà nhiều đầu óc đã bắt đầu hoài nghi của những ai từng tin vào nước Pháp, dù đã được tôi bảo đảm đến mấy cũng mặc. Sau khi giải thích tất cả những chi tiết ấy cho viên tân Cao ủy, tôi nhấn mạnh:
- Thưa Ngài Cao ủy, hẳn Ngài thừa biết, trước những lý do đó, tôi không thể trở về Việt Nam được. Về cũng chẳng ích gì. Xin hãy ngưng ngay sự bảo hộ trá hình kia, và trả lại cho chúng tôi nền độc lập thực sự. Hãy trả lại cho chúng tôi đất Nam kỳ để cụ thể hóa nền thống nhất của đất nướe Việt Nam chúng tôi. Nước Pháp đã lầm lẫn là giữ tay này lại, mà tưởng là đã cho bằng tay kia. Nước Pháp đã lầm, và, chính là nhân dân nước Việt Nam phải chịu hậu quả của sự lầm lẫn ấy, hay hơn nữa, của sự phạm lỗi ấy.
Ông Pignon không nói gì. Tôi giữ ông ta lại dùng cơm sáng. Sau bữa ăn, tôi cố gắng đặt ông ta vào chỗ chia xẻ nỗi bi thảm của dân tộc tôi và những nguyện vọng của họ. Ông ta chỉ nói về những biến cố mà ông ta đã trải qua từ 1945 đến 1946 ở Hà Nội. Lợi dụng kẽ hở này, tôi bảo ông ta:
- Thưa Ngài Cao ủy, hẳn Ngài chưa quên là tôi vẫn được Việt Minh giả trá, mập mờ, đặt tôi vào vị trí cố vấn tối cao của họ…
Tôi nhắc lại cho ông ta là về thời ấy, tôi đã trao quyền cho Uỷ ban Cách mạng, và đứng vào hàng ngũ của họ, chính là để góp phần kiến tạo nền thống nhất và độc lập của Việt Nam, và để tránh cho dân tộc tôi nội chiến tương tàn. Việt Minh vì lý do làm tay sai cho cộng sản - mà lúc ấy chúng tôi chưa tường - đã phản bội hy vọng của chúng tôi. Nhưng, khi mà tôi từ bỏ chúng, thì nước Pháp lại đi điều đình với chúng. Vậy thì chính nước Pháp đã củng cố vị trí cho Hồ Chí Minh, cho đến ngày mà quí quốc hiểu thấu được những yêu sách của họ. Hơn nữa, nếu chính phủ Pháp có đoạn giao với “bác Hồ,” chính là bởi lý do sự đòi hỏi về độc lập và thống nhất của họ nhiều hơn là vì lý do họ là cộng sản quốc tế. Không còn giải pháp nào khác, nước Pháp đành phải quay sang tôi, hy vọng rằng tôi sẽ dễ dàng thỏa hiệp hơn họ, nhưng nước Pháp lại vấp phải sự đội hỏi của tôi y như của họ vậy.
Quả nhiên, người Pháp đã không hiểu biết tí gì về những sự kiện đã xảy ra ở Viễn Đông trong hai năm gần đây. Tất nhiên là chiến tranh rất tai hại và quá tốn kém cho một nước vừa ốm lại sức, nhất là cũng sợ ảnh hưởng của một viễn ảnh thắng trận rất có thể thành tựu của phe cộng sản ở Tàu, một cuộc thắng có thể gần như chắc chắn. Bởi vậy, tôi hiểu nước Pháp rất nôn nóng đạt kết quả, và ý đồ hòa bình của họ. Nhưng chính là ở người Pháp phải thủ tiêu quyền sở hữu của Việt Minh, và như vậy chỉ có một cách: trao cho tôi cái mà họ không muốn trao cho Việt Minh. Vì thế, tôi kết luận:
- Quí ông hãy nhấc cái mặt nạ cộng sản Việt Nam, giả trá là người quốc gia, mà họ đã thành công trong khi lừa bịp dân chúng và để chứng minh công khai trước dư luận quốc tế. Như vậy, thiếu căn bản ấy, Việt Minh sẽ không còn lý do tiếp tục chiến đấu, họ sẽ chỉ là một đảng phái như mọi đảng phái khác. Vì xin Ngài tin rằng thưa Ngài Cao ủy, chính tôi cũng rất mong muốn hòa bình.
Vài ngày sau, ông Pignon đi Sài Gòn. Tôi đi Paris, và gặp ông Coste Floret và Bác sĩ Henri Queuille, tân Thủ tướng Nội các. Ông này tiếp tôi rất niềm nở, và ông ta gần như hoàn toàn không biết gì về Đông Dương. Đó là hình ảnh gần như toàn diện của người Pháp trung lưu, hơi lè phè bệ vệ ít nhiều, có hàng ria mép tiêu muối. Ông nghe tôi nói với đầy thiện cảm. Trước mặt ông, tôi lại nhắc lại những dữ kiện mà tôi đã đàm thoại với ông Cao ủy.
Khi tôi nói đến sự cần phải loại trừ chủ quyền của Việt Minh, ông có vẻ đồng tình, và bảo tôi:
- Hoàng thượng rất có lý, nhưng cần phải chú trọng đến hiện tình chính trị ở Pháp, và chính chỗ đó mới là điều rắc rối. Chúng tôi sắp mở một hội nghị bàn cãi về Đông Đương ở trước Hội đồng. Tôi không dám chắc là đạt được đa số, vì tôi vừa bị phe cộng sản chống đối, khi không chịu nghe gì nếu không nói đến Hồ Chí Minh, lại vừa bị phe De Gaulle kịch liệt bỏ ngoài tai khi đem sát nhập xứ Nam kỳ vào Việt Nam, bởi họ đã coi như bỏ rơi một phần đất đai của Pháp.
Một ý nghĩ bỗng nảy ra trong óc tôi, tôi liền cắt lời ông ta:
- Thưa Ngài Thủ tưởng, nếu tôi lấy được phiếu của đảng Cộng hòa Dân chủ cho Ngài thì Ngài có đền đáp lại cho tôi sự trở về của Nam kỳ cho nước tôi?
Bác sĩ Henri Queuille hơi thoáng một nét cười láu lỉnh:
- Hoàng thượng vẫn có thể thử xem… Tôi không dám hứa hẹn gì với Ngài, vì sự đó không giải quyết riêng được vấn đề của Hiến pháp… Chúng ta sẽ liệu xem sao…
Tôi lại đến gặp Tướng Guillain de Benouville, nghị sĩ thuộc đảng De Gaulle mà tôi đã từng có dịp gặp gỡ, và trình bày ý kiến với ông ta. Ông ta khuyên tôi nên nói với một nghị sĩ khác, cũng ở đảng De Gaulle, là ông Terrenoire, được coi là tai mắt của De Gaulle.
Lập tức tôi đi Cannes và mời ông Terrenoire. Ông ta liền tới ngay. Hình thức thì ông ta cũng chẳng biết gì về Đông Dương y như vị Thủ tướng này vậy. Ông ta không chối điều đó, nhưng khi tôi nhắc lại những lý lẽ mà tôi vừa nói trên lần nữa thì ông ta nghe, ông ta nhìn tôi, với đôi mắt sáng quắc sau chiếc mục kính dầy cộm và đáp rằng:
- Thưa Hoàng thượng, Ngài nói rất hợp lý, và tôi chịu là đúng, nhưng tôi còn phải gặp Đại tướng, chỉ Đại tướng mới có quyền quyết định.
Và ông đã đi Paris ngay.
Hai hôm sau, tôi cũng lên Paris. Ông Terrenoire về đến Colombey (nơi ở của Tướng De Gaulle). Nhìn vẻ mặt ông ta, tôi biết là sự vận động của ông đã thất bại. Ông ta xác nhận với tôi:
- Đại tướng không chịu. Không thể bỏ một phần đất của lãnh thổ quốc gia Pháp. Xứ Nam kỳ là đất thuộc địa từ 1884, đây là đất Pháp. Đấy chính là điểm quan trọng nhất mà Đại tướng tỏ ra rất cứng rắn, không gì lay chuyển được.
Thật sự, tôi rất băn khoăn mà không muốn tỏ cho người đối thoại biết, nên giả trá làm như câu trả lời này không phải là nhất định, tôi bắt dầu tấn công. Một lần nữa tôi lên án bản Dự thảo về Thể chế, phụ đính vào bản Tuyên bố chung, nhấn mạnh đến chỗ mâu thuẫn giữa hai bản này. Rất bình tĩnh, tôi đặt trách nhiệm vào nước Pháp, trình bày giải pháp của tôi, kêu gọi tái lập hòa bĩnh, và tôi kết luận một cách mạnh mẽ thẳng thừng:
- Bất cứ một nền chính trị nào của Pháp cũng đều là sự điên cuồng, mất hướng. Quí ông tự nhận trước mắt thế giới là một nước Pháp mới, nước Pháp quảng đại của chiến thắng giải phóng. Quí ông không thể nào phạm vào điều điên rồ như thế này được. Quí ông sẽ hốì hận đau khổ, vì rồi đây điều mà quí ông không muốn tặng một cách vui vẻ và thân thiện thì quí ông sẽ bị giật mất trong máu và nước mắt.
Trong một bữa tiệc ở đại lộ Saint Germain, tôi lại gặp lại Tướng Benouville và rất đông đồng chí đảng De Gaulle của ông ta, trong đó có Gaston Palewki, Provost de Lauray…
Nhắc lại cảm tưởng mà tôi từng cảm thấy khi gặp Terrenoire ở Colombey về, họ bảo tôi rằng:
- Xin Hoàng thượng đừng hấp tấp. Hãy kiên nhẫn một chút. Đại tướng De Gaulle lại sắp trở lại chính quyền nay mai. Trong sự hỗn độn hiện nay, đây là cứu tinh độc nhất của nước Pháp. Khi De Gaulle lên, thì tất cả đều thay đổi hết, chúng ta sẽ biết…
Một tuần lễ sau, ông Terrenoire đến gặp tôi. Với giọng nói lạnh lùng, bất cẩn, ông ta bảo tôi:
- Thưa Hoàng thượng, đảng Cộng hòa Nhân dân RPF (của De Gaulle) sẵn sàng bỏ phiếu cho Thủ tướng Queuille. Hoàng thượng có thể xác nhận sự đồng ý của chúng tôi, nhưng chúng tôi ước mong Thủ tướng sẽ tìm được giải pháp tốt đẹp cho Việt Nam…
Tôi kín đáo báo cho ông Queuille biết, rồi không đợi trả lời, tôi đi Cannes ngay. Quốc hội Pháp họp. Nhờ số phiếu của đảng RPF, chính phủ Queuille đạt đa số. Sự kiên trì về chính trị chỉ là một vấn đề thức thời.
Tôi không đợi được lâu hậu quả của các diễn tiến về sau. Và đây một quí khách đến Thorenc tìm tôi. Đó là Bửu Lộc đến đưa cho tôi giấy mời của điện Elysée mời, dự bữa tiệc ở lâu đài Rambouillet. Ông ta đã lợi dụng cơ hội để nghe dư luận ở kinh thành Paris. Đại sứ Mỹ ở Paris, ông Jefferson Caffery, đã báo cho chính phủ Pháp biết là Hoa Thịnh Đốn rất có thiện cảm với chính phủ Pháp, đã tỏ ra cởi mở về chính sách đối với Việt Nam. Tôi chấp nối việc này với điều tôi từng nói chuyện với ông William Bullitt ở khách sạn Richmond ở Genève, hồi tháng chín, lúc ấy tôi đang nghỉ mấy ngày ở Gstaad cùng với Hoàng hậu và các con của chúng tôi. Viên cựu Đại sứ Mỹ này, tôi từng biết ở Hong Kong, đã khuyên tôi nên điều đình với những điều khoản hợp lý, và cam đoan với tôi là Hoa Kỳ sẵn sàng yểm trợ, một khi lên nắm chính quyền. Từng biết ông William Bullitt vốn thuộc đảng Cộng hòa, mà tôi đang ở thế đối nghịch, tôi không mấy chú ý đến sự gợi ý này của ông ta.
Sau khi cùng Hoàng hậu đến thăm xã giao Tổng thống Pháp ở điện Elysée tôi đến điện Rambouillet. Sau bữa ăn, chúng tôi sang phòng khách để gặp Tổng thống Auriol, có Thủ tướng Queuille, các Thủ tướng Andre Marie và Ramadier, ông Coste Floret và chính tôi nữa.
Câu chuyện kéo dài, bỗng bất thần, Tổng thống Auriol quay sang nhìn tôi, và với giọng khô khan, ông nói:
- Thưa Hoàng thượng, Ngài rất cởi mở. Nhiều người vì tham vọng cá nhân, chỉ làm cho rắc rối mà thôi…
- Thưa Ngài Tổng thống, Ngài định nói ai vậy?
- Thưa Hoàng thượng, chức vụ của Tổng thống không cho tôi mấy sáng kiến độc lập lớn lao, ngược lại, nó đem đến cho tôi rất nhiều tin tức chính xác. Vì vậy, trong một bữa tiệc gần đây, Ngài đã tỏ bày cảm tưởng của Ngài với một số thực khách vốn không mấy cảm tình với các thân hữu chính trị của chúng tôi, và do thế, họ đã viết một bài bảo không mấy có lợi cho chính phủ…
Quả thật, trước khi tôi gặp các nghị sĩ thuộc đảng De Gaulle, ông Gaston Palewki đã viết một bài đả kích mạnh mẽ chính sách của Pháp về Việt Nam, và ông ta kết luận rằng, sự đó chỉ có thể đưa tới sự tan vỡ hoàn toàn giữa Pháp và Việt Nam.
Tôi nhìn vị Tổng thống và cân nhắc từng chữ:
- Thưa Ngài Tông thống, tôi không bao giờ cần phải tỏ bày tâm sự với bất cứ ai. Lập trường của tôi, ai cũng biết cả rồi. Tôi đã từng nhắc lại nhiều lần cho các vị đại diện cao cấp của Pháp ở Đông Dương. Hẳn Tổng thông đã biết. Nó vốn gồm có hai chữ: Độc lập và Thống nhất của Việt Nam.
- Xin Hoàng thượng đừng để bọn đảng viên De Gaulle gây ảnh hưởng. Trái với điều họ tưởng, chính phủ bao giờ cũng đủ quyền lực để giữ lời hứa cho nước Pháp. Và trên cả chính phủ, chính tôi là người giữ điều hứa hẹn đó…
- Thưa Tổng thống, xin Tổng thống yên trí. Nước Việt Nam một khi hòa bình được vãn hồi, cùng với độc lập và thống nhất, chỉ còn có một quan tâm, đó là sự hợp tác và liên kết với nước Pháp.
Từ nãy vẫn giữ yên lặng, Thủ tướng Ramadier, giữa hai khói thuốc, liền mở ra một câu chua chát:
- Và như vậy, thì chỉ còn chờ Hoàng thượng trở về Việt Nam để thi hành nhiệm vụ của mình.
Để chấm dứt không khí lạnh nhạt sau câu nói gần như vô duyên đó, tôi đứng lên và lấy một nụ cười rất tươi, tôi thốt mấy lời cáo biệt:
- Hẳn quí Ngài đã thấy không có sự gì thay đổi, vì Ngài Thủ tướng Ramadier mời tôi trở về nhậm chức như ông đã bảo cho một nhân viên không mấy sốt sắng - vẫn cười tươi hơn, tôi nói tiếp - Tôi sẽ trở về Việt Nam khi nào mà tôi cho là đúng lúc nhất, dù sao nữa không bao giờ trước khi nước Pháp đã trả lại nền thống nhất cho nước tôi.
Sự đối phó gay cẩn này chứng tỏ cho tôi biết chính phủ Pháp đang đi vào ngõ cụt. Vị trí của tôi đã khá vững vàng nữa, nhưng tôi cần phải cảnh giác mọi biến chuyển tại chỗ. Nếu thời gian có lợi cho tôi đối phó được với những tranh luận chính trị ở Pháp, thì lại không phải vậy tại Việt Nam. Vì chính phủ Xuân không thể hoạt động gì được, thì tình thế lợi cho Việt Minh càng lớn. Họ cảm thấy thời gian đang tới để có thể dựa vào Tàu, lúc ấy đã rơi trọn vào tay bọn cộng sản rồi, để có thể đương đầu mạnh mẽ.
Mình cần phải vượt trước họ.
Sau vài tuần lễ, khi nhậm chức ở Đông Dương, ông Pignon đến thăm tôi vào một ngày tháng chạp năm 1948. Ông ta biết là tôi không muốn nghe gì, khi vấn đề cụ thể đối với độc lập và thống nhất chưa được giải quyết, nên bảo tôi ngay:
- Thưa Hoàng thượng, tôi xin Ngài hãy coi như tất cả mọi điều xảy ra ở vịnh Hạ Long đều bị vượt qua. Nay cần phải đặt lại căn bản mới để đi thẳng đến sự kiến tạo nước Tân Việt Nam.
- Tôi rất đồng ý với Ngài Cao ủy, để trang bị cho nước Việt Nam một qui chế giúp cho nó có thể tự bảo vệ lấy nền độc lập và thống nhất của mình.
Trong thâm tâm, hẳn ông Pignon cũng ý thức được rõ ràng, cần phải xúc tiến nhanh chóng, nên muốn mong dựa được vào tôi để đẩy mạnh lên. Vì ông cảm thấy rõ rằng sự thay đổi này sẽ được hỗ trợ bằng một yếu tố mới. Ổng ta yêu cầu tôi tiếp xúc lại với Thủ tướng Queuille.
Vì vậy, sau khi ăn tết với gia đình ở Thorenc, tôi đến Paris và gặp Thủ tướng chính phủ. Tôi nhã nhặn nhắc lại lời hứa hẹn của ông và sự giúp đỡ mà tôi đã giúp ông trước kia, để cho ông hiểu rằng nước Pháp chỉ cần xác nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, với sự bảo đảm của Tổng thống Pháp là chúng tôi có thể xúc tiến ngay công việc được. Ông Queuille lúc nào cũng nhã nhặn không tỏ gì là phản đối cả. Chắc chắn là ông Pignon đã sửa soạn trước.
Vào trung tuần tháng giêng năm 1949, cuộc đàm phán bắt đầu. Rất nhanh chóng nó thành hai hình rõ rệt. Sự đe dọa của Cộng sản Tàu càng củng cố thêm cho nó, vì quân đội của Mao Trạch Đông đã tiến vào Bắc Kinh ngày 22 tháng giêng. Một hội đồng hỗn hợp được thành lập ngày 12 tháng 2 để nghiên cứu từng điểm một ghi trong bản thể chế ở vịnh Hạ Long.
Phái đoàn Pháp do ông Herzog làm trưởng phái đoàn, gồm có quí ông Marolles, De Pereya, De Raymond, Risterruci, Thiếu tá Ploix, sau đó thêm năm vị chuyên viên nữa là quí ông Gonon, về vấn đề tài chánh, Anziani, về kinh tế, Torre về kế hoạch, Dannaud về văn hóa, và Đại tá Brebisson về quân sự. Phái đoàn Việt Nam do Hoàng thân Bửu Lộc, luật sư ở Paris là nơi ông từng du học, là trưởng phái đoàn, gồm có ông Nguyễn Đắc Khê, luật sư, Bác sĩ Phan Huy Đán, và quí ông Phạm Văn Bính, Trương Công Cừu, Nguyễn Quốc Định và Đinh Xuân Quảng, Bác sĩ Nguyễn Mạnh Đôn. Thủ tướng Trần Văn Hữu đến Paris ngày 13, theo dõi cuộc đàm phán, đại diện cho Thủ tướng Xuân. Các nhà chuyên môn kết thúc các bản tường trình vào ngày 28 tháng 2, và ngày 8 tháng 3, vào buổi trưa, tất cả chúng tôi đều tập trung đủ mặt ở văn phòng Tổng thống Vincent Auriol ở điện Elysée để cùng ký kết. Trước buổi lễ ngắn ngủi này, về phía Pháp có Thủ tướng Queuille, ông Robert Lecourt, chương ẩn, ông Georges Bidault, bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ông Paul Coste Floret, bộ trưởng bộ Pháp quốc Hải ngoại, Cao ủy Léon Pignon và ông Parodi. Bên cạnh tôi có Hoàng thân Vĩnh Cẩn, Hoàng thân Bửu Lộc, Thủ tướng Trần Văn Hữu và Bác sĩ Nguyễn Mạnh Đôn.
Tổng thống Vincent Auriol đọc một bài diễn văn ngắn nhưng rất cảm động để chúc tụng tất cả các nhà trí thức và chính trị Việt Nam đã đứng xung quanh tôi, đoàn kết, nhất trí. Tôi cũng đáp từ ngắn để tỏ lòng tri ân đối với nước Pháp đã trao trả nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam.
- Từ nay, thỏa ước này sẽ thay thế tất cả các hiệp ước do tổ tiên tôi đã ký kết, và tôi nhấn mạnh, Tôi sẽ đặt chân lên đất nước tôi, sống chung với nhân dân nước tôi, đã có một lãnh thổ và biên giới lịch sử. Và tôi cam đoan đặc biệt bảo đảm cho quyền lợi vật chất và văn hóa Pháp”.
Chúng tôi ký các văn kiện và trao đổi lẫn cho nhau. Thỏa ước thật ra gồm ba bản tất cả.
Bản đầu tiên là bức thư của Tổng thống Cộng hoà Pháp quốc, kiêm Chủ tịch Liên hiệp Pháp gửi Hoàng đế Bảo Đại. Dựa vào thỏa hiệp mùng 5 tháng 6 năm 1948, bản tài liệu này ấn định những điều khoản về nền thống nhất của Việt Nam, vấn đề ngoại giao, các vấn đề quân sự, chủ quyền nội bộ, vấn đề tư pháp, vấn đề văn hóa và giáo dục, vấn đề kinh tế và tài chính. (Xin xem phụ đính IV.)
Bản tài liệu thứ hai là bản xác nhận đối với những điều khoản của bản thứ nhất cho sự thỏa thuận của tôi, để xác nhận đúng y như bản thứ nhất, mà tôi gửi lại cho Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc kiêm Chủ tịch Liên hiệp Pháp.
Bản tài liệu thứ ba, là bức thư của vị này, vẫn gửi cho tôi là Hoàng đế Bảo Đại để bổ túc, theo lờl yêu cầu của tôi, tất cả các điểm liên hệ đến nền thống nhất của Việt Nam, và các vấn đề ngoại giao, nhất là về việe trao đổi sứ thần. Tất nhiên, bản thỏa hiệp cũng chẳng có gì mới lạ. Do thỏa hiệp này, nước Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam, và sẵn sàng công nhận nền thống nhất của nó, nếu tất cả dân chúng đều quyết định. Nhưng nó có cái lợi to lớn là, không phải dựa vào bản tuyên bố chung ký ngày 5 tháng 6 năm 1948, để phải căn cứ vào bản thể chế vốn hạn chế tất cả mọi ảnh hưởng này nọ.
Từ đây, chính phủ Việt Nam được toàn quyền hành động của một nước độc lập. Nó tự đảm trách lấy tiền ngoại giao trong khuôn khổ khối Liên hiệp Pháp, nhưng được làm tròn sứ mệnh riêng tư của nước mình, có quân đội quốc gia, thẩm quyền tư pháp đối với toàn thể dân chúng, mà chỉ riêng có người Pháp mới được hưởng qui chế tư pháp hỗn hợp. Nó tự đảm trách về tài chánh. Không còn có vấn đề Liên bang Đông Dương nữa, chỉ có sự hòa đồng trên bình diện tiền tệ với hai nước Cam Bốt và Lào.
Chỉ còn một hạn chế duy nhất đang tồn tại, đó là ảnh hưởng của Liên hiệp Pháp, hay là ảnh hưởng do chiến tranh đang xảy ra trên đất nước.
Sau lễ ký kết đó, phái đoàn chúng tôi trở về khách sạn Plaza, ở đó tôi giữ lại một số tùy viên.
Từ đây trở đi, tôi đã thu hồi được đất Nam kỳ, tôi coi như nhiệm vụ của tôi về điều đình đã chấm dứt. Giai đoạn mới này, là nhiệm vụ của tôi để tái tạo nước Việt Nam. Thỏa hiệp mùng 8 tháng 3, có một cái lợi lớn lao là vẫn giữ được liên hệ với nước Pháp, nhưng các vấn đề chi tiết đối với tôi không cần biết tới. Nếu tôi chấp nhận vào Liên hiệp Pháp, sự đó không có gì là quan hệ nhiều. Đó chỉ là một nguyên lý xa vời… và của Pháp. Tại sao? Bảo rằng ở trong Liên hiệp Pháp, bởi vì các quốc gia này phải ở mức bình đẳng mới xứng đáng? Hơn nữa, giá dụ bét đi, tôi có thể là chư hầu của Quốc vương Pháp, nhưng chắc chắn không phải là chư hầu của Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc. Sau nữa, thỏa hiệp này trước mắt tôi, chỉ là một giai đoạn để tiến tới độc lập hoàn toàn. Sự thành đạt về đôc lập như thế, đã xảy ra cho các nước lân cận ở Đông Nam Á như Phi Luât Tân, Miến Điện, Ấn Độ… làm tôi càng tin tưởng trong hy vọng. Tôi tin tưởng rằng thỏa ước mùng 8 tháng 3 phải là một yếu tố nhất định đưa đến vãn hồi hòa bình. Hỏi Việt Minh còn có thể đòi hỏi gì nữa khi tôi đã thành công, mà họ thì bị thảm bại ở các hội nghị Fontainebleau và Đà Lạt, vào năm 1946.
Vấn đề duy nhất và tức khắc hiện nay, là cần phải biết bằng cách nào, vấn đề giải quyết sự tái sát nhập của Nam kỳ. Mấy hôm sau, tôi hỏi Thủ tướng Queuille, ông ta đáp:
- Chính chúng tôi cũng chưa rõ. Hiến pháp của Pháp là nhất định: “Không ai có thể phạm vào sự sứt mẻ của lãnh thổ được...”
- Hiến pháp của nước Pháp không phải là vấn đề của nước tôi. Ngài cần phải tìm ngay một giải pháp. Chắc Ngài hiểu rằng, tôi chỉ trở về Việt Nam khi vấn đề này được vĩnh viễn giải quyết.
Để dễ dàng cho mọi sự thảo luận, tôi bổ nhiệm Hoàng thân Bửu Lộc làm Đổng lý Văn phòng. Ông ta thuộc hoàng tộc, trong chi nhánh của người em vua Minh Mạng. Ông ta chọn nhân viên trong số những người đồng quan điểm với tôi ở các chức vụ đổng lý sự vụ, công cán ủy viên… Trong số này, có Luật sư Nguyễn Đắc Khê, Nguyễn Quốc Định, vốn là thạc sĩ Luật, các Bác sĩ Nguyễn Mạnh Đôn, và Đinh Xuân Quảng. Tất cả đều đã dự vào việc thiết lập ra thỏa ước mùng 8 tháng 3.
Ông Pignon cũng không chịu để mất thì giờ. Ông biết chính ông ta cũng cần phải xúc tiến nhanh chóng. Ông ta được Thủ tướng Queuille và ông Coste Floret cho phép toàn quyền dùng mọi thể thức cấp bách để áp dụng bản tài liệu thứ ba của thỏa ước.
Đầu tiên, Quốc hội Pháp bầu một đạo luật đặt ra một Quốc hội địa phương ở Nam Việt Nam. Quốc hội này có nhiệm vụ cho ý kiến về sự thay đổi quy chế cho Nam kỳ, trên nguyên tắc.
Ngày 10 tháng 4, Quốc hội địa phương này được bầu, nhưng vì hoàn cảnh chưa cho phép tổng bầu cử, nên chỉ có khoảng 2000 hào trưởng được gọi ra để bầu lẫn nhau mà thôi.
Quốc hội bầu ra này gồm có 50 đại biểu Pháp và Việt, để chia nhau quyết định thiên Việt trong việc thống nhất, hay thiên Pháp để vẫn giữ y nguyên căn bản Nam kỳ tự trị như trước. Vài hôm sau khi được bầu, Quốc hội này họp và bỏ phiếu đầu tiên. Kết quả vẫn mơ hồ: 25 phiếu sát nhập vào Việt Nam còn 25 phiếu giữ nguyên vị trí tự trị. Tôi đã từng nói rõ nhận định của tôi: Sự bỏ phiếu để tái sát nhập vào Việt Nam phải đủ rõ rệt, để không còn có điểm nghi ngờ nào đối với lòng dân Nam bộ.
Vì vậy, sau khi tôi vừa được tin kết quả của sự bỏ phiếu đầu tiên, tôi liền chỉ thị cho chiếc DC-4 mà chính phủ Pháp đã dành riêng cho tôi để trở về Việt Nam, đang đợi tôi ở phi trường Nice, phải trở lại ngay Paris, đồng thời tôi cũng hủy bỏ tất cả các sự sửa soạn hành trang để trở về.
Hoang mang tột độ, chính phủ cử ông Pignon về gấp Sài Gòn. Ngày 23 tháng 4, Quốc hội địa phường họp lại, thì số phiếu đạt được là 45 phiếu thuận và 5 phiếu chống, đối với việc sát nhập. Hy vọng của tôi tràn trề. Nền thống nhất đất nước đã được phục hồi. Trung thành với lời hứa hẹn của tôi, không cần phải đợi Quốc hội Pháp chuẩn y, vì đang lúc nghỉ hè, ngày 24 tháng 4, tại Cannes, tôi mở một cuộc họp báo. Tôi nhắc lại ba giai đoạn của thủ tục mà chính phủ Pháp đặt ra để thi hành: Lập một Quốc hội địa phương ở miền Nam Việt Nam, bầu cử và hỏi ý kiến Quốc hội ấy, duyệt y ý chí của Quốc hội này, do Quốc hội Pháp quản chế qui chế mới đối với miền Nam Việt Nam, tôi nhấn mạnh đến tính chất hiến định của thủ tục này:
“… Điều thứ nhất đã hoàn toàn thực hiện. Điều đó rất quan hệ, vì nó mở ra một thể thức, và bởi vì nó hiến cho Quốc hội Pháp cơ hội để hiểu rõ hoàn cảnh về vấn đề của Việt Nam.
“Quyết định do Quốc hội Pháp đặt ra một Quốc hội địa phương ở Nam Việt Nam đã được ghi nhận trong nền chính trị của nước Pháp. Ngay vòng thứ nhất, bộ trưởng bộ Pháp quốc Hải ngoại, và nhiều diễn giả của khối đa số, vẫn nhấn mạnh một cách hữu lý đến chỗ liên tục của nền chính trị Pháp quốc ở Việt Nam, đến chỗ thống nhất ba kỳ. Sự liên tục về vị trí cửa các chính phủ Pháp vẫn nhất định, không thay đổi.
“Thật vậy, trong bản tuyên ngôn ngày 6 tháng 3 năm 1946, đã ghi rõ: về việc thống nhất ba kỳ, chính phủ Pháp cam đoan công nhận những quyết định của sự trưng cầu dân ý.
“Bài diễn văn của ông Bollaert ở Hà Đông cũng nhắc lại rằng: Chính phủ Pháp không dính líu gì vào việc thống nhất ba kỳ, vốn là nội bộ của nước Việt Nam. Chỉ có dân chúng địa phương mới liên hệ đến, và sự giải quyết là phần của họ.
“Và cuối cùng bản tuyên ngôn ở vịnh Hạ Long đã nhẩn mạnh rằng: Nước Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam, và sự thống nhất là thuộc toàn quyền của Việt Nam. Lời tuyên bố này đã được Quốc hội Pháp long trọng duyệt y.
“Giai đoạn thứ hai vừa hoàn tất, như quí ông đã được biết, theo quyết định của Quốc hội địa phương Nam Việt Nam, để thống nhất ba kỳ, nghĩa là sự sát nhập của Nam Việt Nam vào các phần đất khác của nước Việt Nam. Theo ý kiến tôi, quyết định này, đã theo một thể thức đã được định trước, là yếu tố quyết định. Phù hợp với nguyện vọng của chính phủ Pháp, và theo các nguyên tắc hoàn toàn dân chủ, để cho dân chúng liên hệ được tự mình đặt trong Liên hiệp Pháp. Dân chúng Nam Việt Nam đã ngỏ ý rồi, sự trở về Việt Nam của tôi đã có thể thực hiện, và tôi thấy không còn cần thiết để nấn ná gì nữa.
“Thật vậy, giai đoạn ba là giai đoạn, theo đúng hiến pháp của nước Pháp, Quốc hội Pháp phải chấp nhận quyết định của Quốc hội địa phương Nam Việt Nam, và không có gì thay đổi về căn bản của vấn đề: Không phải là tôi dám nói thế này để làm giảm giá trị của Quốc hội Pháp, khi ngờ vực rằng đây chỉ là một hình thức chính trị, bởi vì không có người Việt Nam nào, hay một người bạn của Pháp nào, đã dám cho rằng những lời cam kết rõ rệt và long trọng mà tôi vừa nhắc lại đây, của quốc gia cao thượng của quí ông, lại đi ngược lại với truyền thống cũng như với lý tưởng dân chủ, để hủy bỏ lời tuyên bố đã từng cam kết.
“Một quyết định hảo ý của Quốc hội mà tôi tin chắc sẽ đến, y như các thể thức quan trọng đã được thực hiện, nên tôi thấy không cần phải chần chờ, để trở về. Căn bản của tôi đã đạt được ở Pháp rồi, thì từ nay trở về của tôi cũng rất cần thiết. Nhiệm vụ đang đợi tôi rất rộng lớn và phức tạp, và rõ ràng là chỉ ở ngay trong nước tôi, và giữa các đồng bào của tôi, tôi mới có thể hiểu thấu được những nét chính, mà sự thống nhất đất nước tôi, mới giúp tôi được dễ dàng.
“Lý do chính mà tôi vừa nhận được từ chính phủ trung ương lâm thời Việt Nam do bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Khắc Vệ báo cho tôi biết, thì sự trở về của tôi là rất cần thiết.
“Tôi không muốn làm thất vọng, dù trong ít ngày, những nguyện vọng tha thiết của nhân dân tôi, từng đặt tín nhiệm nơi tôi, đang quằn quại trong đau khổ ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần phải nhắc lại rằng sự mau chóng của quyết định sau cùng của Quốc hội Pháp là điều kiện tiên quyết trong nhiệm vụ của tôi vậy. Nó chứng nhận mạnh mẽ sự tín nhiệm hỗ tương đã mở màn ra cuộc đàm phán. Chúng tôi nghĩ rằng, vào khoảng đầu tháng sáu tất cả đều đã được hoàn tất.
“Chính phủ Pháp đã hiểu thấu sự lo âu của tôi phải đem về cho đất nước, sự sung sướng cho nguyện vọng quốc gia đối với nền thống nhất lãnh thể. Một thái độ hiểu biết ấy đã là một sự giúp đỡ rồi. Sự giúp đỡ quí báu tường tự nữa là nước Pháp sẽ chứng tỏ bằng cách cho lần lượt thực hiện các điều khoản của thỏa ước mùng 8 tháng 3, vốn rất phong phú để thành tựu. Tôi rất sung sướng được ca tụng nhãn giới cao rộng và tinh thần dân chủ rất Pháp và rất nhân ái của Ngài Coste Floret, bộ trưởng bộ Pháp quốc Hải ngoại. Tôi cũng nói lên cảm tình nồng nhiệt đối với Ngài Léon Pignon, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, mà dân chúng Việt Nam vô cùng khâm phục những đức tính cao cả. Tôi tin rằng với những nhà đại diện lỗi lạc ấy của nước Pháp, thỏa ước mùng 8 tháng 3 sẽ được thực thi trong một bầu không khí tín nhiệm và thân hữu.
“Đó chính là sự liên tục của một nền chính trị thân hữu, được đặt vào tay những nhà lãnh đạo siêu việt, để đem lại tình hữu nghị giữa hai nước chúng ta, và góp phần vào sự củng cố hòa bình và sự thịnh vượng cho toàn thể Liên hiệp Pháp”.
Tôi rời nước Pháp bằng chiếc DC-4 riêng của Tổng thống mà chính phủ Pháp dành cho tôi. Hoàng hậu và các con chúng tôi vẫn ở lại Cannes, để bọn trẻ tiếp tục học hành. Chì có Bác sĩ Nguyễn Mạnh Đôn và người em họ Vĩnh Cẩn theo tôi trở về.
PHẦN BỐN - LÀM QUỐC TRƯỞNG 1949-1955
Nước Việt Nam cuối cùng thì thống nhất
Tôi quyết định, vì lý do nhã nhặn, chưa nên vội và đến ngay Sài Gòn. Vì vậy, tôi chọn Đà Lạt thuộc Trung phần Việt Nam, để hạ cánh.
Chúng tôi tạm nghỉ ở Chypre, ở đó tôi được viên Thống đốc người Anh tiếp đón, sau tôi qua Beyrouth, Karachi, Bombay, Ceylan, Singapour, và tôi nghỉ ở biệt điện của viên Cao ủy Anh là Ngài Malcolm Mac Donald. Tướng Xuân, thủ tướng chính phủ lâm thời miền Nam đến đây đón tôi. Chúng tôi cùng đi chung trên một chiếc máy bay tư, do tự tôi thuê lấy.
Đây là lần đầu tiên, tôi bay trên lãnh thổ miền Nam và tôi bảo Bác sĩ Đôn:
- Từ gần một thế kỷ nay, Hoàng đế chưa bao giờ được quyền đặt chân đến đất này. Hôm nay, tất cả đất này là của ta… nhưng cẩn thận, có thể còn nhiều bẫy sập!
Khi máy bay hạ cánh xuống Đà Lạt, ông Pignon đã đón tôi ở đây, cùng vài các nhân viên Nội các. Phan Văn Giáo đứng đợi tôi ở chân thang máy bay, ông ta trình tôi một chiếc khay, trên đó có tấm điện tín. Tôi cầm lấy và trao cho Nguyễn Mạnh Đôn và bảo:
- Đây chắc chắn là cái bẫy đầu tiên đó.
Trong buổi nghênh đón nhỏ bé này, tất cả các bộ mặt đều rạng rỡ, nhưng linh cảm của tôi quả đã không lầm.
Vừa tới căn biệt điện cũ của tôi trên đỉnh Liên Khang ở Đà Lạt, tôi biết được nội dung của bức điện tín. Đây là một thỉnh nguyện thư xin được yết kiến của các đại biểu Quốc hội địa phương Nam Việt Nam. Tôi ra lệnh cho Đôn phải triệu tập họ ngay.
Đến đúng hôm được vời, họ đến cả. Đôn vừa giữ vai bí thư vừa là trưởng ban nghi lễ, đưa họ vào trong phòng đợi. Sau đó, Đôn đến mời tôi vào. Khi tôi đến, tôi lấy làm ngạc nhiên, không thấy một đại biểu Pháp nào của Quốc hội có mặt. Một chi tiết khác làm tôi lưu ý, đó là mọi người đều mang một chiếc cặp. Tôi mời họ ngồi và bảo:
- Thưa quí vị trước hết nhân danh dân tộc Việt Nam, tôi xin cám ơn quí vị đã tỏ lòng ái quốc mà quí vị đã làm, và đã giúp cho nước nhà trở lại nền thống nhất, từng bị mất đi sau 85 năm.
Thế là một đại diện liền đứng lên, gãi cổ và thưa:
- Thưa Hoàng thượng, các đại biểu của Quốc hội địa phương chỉ làm nhiệm vụ của mình. Họ lấy làm hãnh diện được tung hô Hoàng đế khi trở về đất tổ, nhưng tâu trình Hoàng thượng, tôi muốn nhân danh các đồng nghiệp tôi, cũng như nhân danh cá nhân tôi, để xin Hoàng thượng chấp nhận cho một khẩn cầu.
Lúc ấy, ông ta mới lôi trong cặp ra một mớ giấy, và bắt đầu đọc:
- Trong 85 năm, người miền Nam nhờ sống dưới chính thể Pháp nên đã biết được một hình thức của nền dân chủ. Vì vậy, ngày hôm nay, họ yêu cầu Hoàng đế vui lòng lưu ý tới chỗ đó, để ban cho họ một qui chế riêng…
Tôi như không tin ở tai minh nữa, Chẳng rõ có đúng như vậy không? Nhưng mà tôi đang ở đâu đây? Ở cạnh các sắc dân miền núi?… Trong khi viên đại biểu này ngưng lại để thở, tôi cắt lời:
- Thưa quí vị, tôi sẽ nghiên cứu tất cả các thỉnh nguyện của quí vị. Trong 15 hôm nữa, tôi sẽ tới Sài Gòn, và lúc ấy chúng ta có đủ thì giờ để xem xét và bàn bạc. Nhưng trước hết, tôi muốn hỏi quí vị, chỉ cần trả lời bằng hai chữ Có hay Không đối với câu hỏi của tôi thôi. Quí vị vừa hỏi tôi rằng, xin dành cho quí vị một qui chế riêng biệt. Như vậy thì tôi phải coi quí vị như thế nào: như là đại diện của một sắc dân thiểu số, hay là như người Việt Nam sống trong một nước Việt Nam thống nhất đây?
Tất cả đều đồng thanh trả lời:
- Nhưng chúng tôi đều là người Việt Nam cả…
- Vậy thì thưa quí vị, không còn vấn đề giữa chúng ta nữa. Chúng ta sẽ gặp lại nhau ở Sài Gòn trong ít lâu nữa, và chúng ta sẽ cùng nhau ăn mừng cuộc thành công lịch sử này.
Tôi đứng lên để tỏ sự tiếp kiến đã chấm dứt, và mời họ sang một phòng khác để uống một ly champagne.
Khi trở về nước, tôi đã đoán là sẽ phải đương đầu với một nhóm dân biểu, nếu không phải là lập pháp thì ít ra cũng là lập hiến, nhưng quả tôi không ngờ lại gặp phải loại động tác này.
Như thế, sao lại không có thể có loại yêu cầu tương tự, về phía nhân dân miền Bắc hay miền Trung? Gần phải đánh tan ngay những hoạt động tương tự, vì làm sao mà cai trị được với những sự chỉ trích, yêu sách liên miên của những nhóm đại biểu như vậy?
Bây giờ, tôi mới hiểu sự vắng mặt của các đại biểu Pháp, và cái thỉnh nguyện thư trình tôi kia - nếu tôi không lầm - chính là một chứng cớ cho thấy bọn đầu não thực dân, vẫn chưa chịu hạ cờ. Có lẽ, họ biết sau khi bọn mật vụ đi nghe ngóng các nơi trở về, báo cho biết là đã có cái gì thay đổi ở Việt Nam rồi. Tôi cũng biết rằng, chẳng phải dễ dàng, một khi bắt tay vào việc. Cuộc chiến đấu mà tôi đã đương đầu được ở bên ngoài, nay lại phải bắt đầu ở đây, với những con người khác, và trong những hình thức khác.
Khi tôi còn ở Hong Kong, tôi đã mời hoạt động cùng với tôi, một số đông nhân vật người Nam như Xuân, Trần Văn Hữu, Lê Văn Hoạch, Phạm Công Tắc, và nhiều người khác nữa. Tôi đã hứa hẹn với họ những vị trí để tùy họ lựa chọn, chỉ cần họ nắm vững được công tác do sự giao dịch với các đồng bào Việt Nam khác, cần phải để họ thích hợp với hoàn cảnh. Là Hoàng đế, miền Nam Việt Nam, từ trước vẫn bị ngăn cách đối với tôi. Nay tôi cần phải thành đạt sự hội nhập này. Như vậy, tôi biết nhiệm vụ của tôi chỉ là chuyển tiếp: thu hồi xứ Nam kỳ, xây dựng một nền hành chánh Việt Nam, kiến tạo một quân đội Việt Nam xứng đáng với danh từ ấy. Tôi hiểu rõ phạm vi sứ mạng của tôi, không thể vượt qua ba mục tiêu ấy.
Quả nhiên, tôi đã đến sớm. Bởi vì từ 1946 đến 1949, đó là sự trống rỗng chính trị toàn diện. Nếu tôi chưa xuất hiện, con người vốn sợ sự trống rỗng, thì nước Việt Nam sẽ đi về đâu? Tôi rất lo âu thấy lấp ló ở biên thùy phía Bắc quân đội của Mao Trạch Đông. Đúng như vậy, khi tôi bắt tay vào việc mới chưa tới bốn năm khi kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến. Nước Pháp kiệt quệ đến rỗng tuếch. Âu châu bị băng hoại. Chỉ còn có Mỹ là có thể giúp đỡ tôi sự cần thiết để khởi đầu, và hy vọng thành công. Nhưng tất cả sự đó cũng chỉ là nhỏ giọt.
Tin chắc về tầm vóc của công tác ấy, tôi cố gắng chiến đấu, được phần nào hay phần ấy cho đất nước tôi.
Trong tinh thần ấy, để có thể thực hiện được ba mục tiêu trên, tôi ra một sắc lệnh tự đảm nhiệm làm Quốc trưởng “cho đến lúc mà hòa bình đã vãn hồi, dân chúng trong sự khôn ngoan sáng suốt, tự quyết định được chế độ mà họ mong muốn”.
Để có thể có tư thế trước bình diện quốc tế, một thông điệp nhán mạnh rằng chức vụ của tôi được gọi là “Hoàng đế, Quốc trưởng”. Vị trí này cũng có giá trị cho đến lúc mà đất nước có được một quốc hội lập hiến.
Sắc lệnh thứ hai lập ra cơ cấu hành chánh do ba tỉnh lớn: Bắc Việt, Trung Việt và Nam Việt.
Hai văn kiện này sẽ là căn bản của tổ chức hành chánh trên toàn quốc. Ngoài ra còn lập ra một khu vực gọi là “Hoàng triều cương thổ” dành cho các sắc dân miền núi. Xưa kia, đất này không được coi là đất của Hoàng triều… Vì vậy, các dân tộc sống lâu đời trên đất ấy, vẫn bị gạt ra ngoài, thì từ nay được sát nhập hẳn vào quyền hạn của Quốc trưởng và được che chở bởi Quốc trưởng. Vị trí này đã do ông Léon Pignon gợi ý cho tôi, trong một cuộc gặp gỡ ở Paris, nhằm để hoàn tất sự thống nhất dân chúng của nước Việt Nam.
Tôi rất chú trọng đến quyết định cuối cùng này, bởi vì tôi đặt niềm tin cho công tác của tôi vào sự trung thành của các sắc dân này, mà tôi từng hài lòng về sự thẳng thắn và niềm tôn kính của họ đối với cá nhân tôi, trong những dịp đi nhàn tản lẻ loi trước khi xảy ra chiến tranh.
Vì vậy, tôi quyết định dành cho họ cuộc thăm viếng chính thức đầu tiên, khi cầm quyền Quốc trưởng. Ngày 30 tháng 5, cùng với Cao ủy Pháp, tôi đến dự lễ tể chức ở Ban Mê Thuột, giữa vùng sơn cước, để nhận tượng trưng đất Hoàng triều cương thổ, và nhận lễ tuyên thệ của các vị tù trưởng các dân tộc vùng cao nguyên miền Nam. Trong dịp kinh lý này, ông Pignon đã cho tôi biết sự khó khăn xảy ra giữa ông ta và Tướng Blaizot, Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương. Thực tế, có hai quan điểm đối nghịch nhau: của ông Cao ủy, thì muốn dành cho nỗ lực quân sự vào các tỉnh miền Nam hầu hoàn tất cuộc bình trị rồi lan dần ra như vết dầu loang cho toàn lãnh thổ quốc gia; của Tướng Blaizot, vì bị ám ảnh bởi sức tiến của quân đội Cộng sản Tàu đến sát ngõ biên giới miền Bắc, sẽ không ngần ngại hỗ trợ mạnh mẽ cho lực lượng Việt Minh, nên mong muốn dốc toàn lực binh bị cho miền Bắc. Sự dị biệt về quan điểm đó đã gây nên những va chạm giữa hai người mỗi ngày mỗi nhiều. Nó trở nên trầm trọng, do từ một nguyên nhân cá biệt mà ra. Số là năm 1945, Tướng Blaizot là Tư lệnh đoàn quân viễn chinh Pháp đang thành hình ở Ceylan. Dưới quyền ông ta có một nhân viên thuộc bộ Pháp quốc Hải ngoại, ông Léon Pignon. Ngày nay, vị trí lại quật ngược. Ông Léon Pignon là Cao ủy Pháp ở Đông Dương trở thành thượng cấp của vị Tổng tư lệnh, Tướng Blaizot.
Để tìm một giải pháp thích nghi cho vấn đề hai mặt đó, chính phủ Pháp liền cử sang công cán tại chỗ, vị Tham mưu trưởng Lục quân, là Tướng Revers. Ông này tới Sài Gòn ngày 16 tháng 5 năm 1949. Ông ta bắt đầu mở cuộc tìm hiểu, xuyên qua khắp nơi ở Đông Dương, và ngỏ ý muốn gặp tôi.
Tôi đã dành những ngày đầu tiên đầu tháng sáu để đi thị sát toàn thể vùng cao nguyên miền Trung và miền Nam, để tỏ lòng ưu ái đối với các sắc dân Mọi, mà tôi vẫn giữ được cảm tình như thời khó khăn cũ.
Chữ Mọi theo danh từ, có nghĩa là còn dã man, mà chúng tôi vẫn dùng để gọi các sắc dân thuộc chủng tộc Mã Lai và hải đảo (Malayo-Polynesien) ở Thái Bình Dương, sống trong các khu rừng núi và cao nguyên của rặng Trường Sơn. Họ là dân tộc đầu tiên chiếm đóng bán đảo Đông Dương, họ đã bị các sắc dân Khờ Me, Chàm, Trung Hoa và cuối cùng là Việt Nam đẩy lui mãi vào sâu trong rừng thẳm. Họ phải trú ẩn vào vùng núi non hiểm trở giữa biển Nam Hải về phía Đông, nước Cam Bốt và nước Lào về phía Tây, ở phía trên xứ Nam kỳ và cuối Bắc kỳ. Đó là xứ sở của rừng rú, của thâm sơn cùng cốc, và các cao nguyên trên đó có nhiều bộ lạc Mọi chia ra thành các nhóm lớn như người Rhade, người Djarai, người Bahna, người Sédang. Sống về nghề du mục và săn bắn từ nguyên thủy, chỉ có thời gần đây mới ở yên một chỗ để cầy cấy, và núi rừng đã ngăn cách họ sống biệt lập với thế giới bên ngoài.
Kẻ thù kinh niên của họ, là người Việt Nam da vàng, đến tự đồng bằng và từ miền bể. Bề ngoài thì khác xa hẳn người Việt Nam, người Mọi vốn cao lớn, khỏe mạnh, bắp thịt cứng rắn, màu da đồng giống như người thổ dân Mã Lai. Về thời ấy, chưa có đến 100 người Việt Nam trên khắp vùng Darlac, rộng quãng gấp ba lần một quận ở Pháp. Chưa bao giờ có sự pha giống giữa Mọi và người Việt Nam, và một vài cuộc nhân duyên nếu có, thì cũng khô cằn, không sanh con đẻ cái.
Riêng tôi, tôi được họ tôn sùng, vì Hoàng đế là vua của các vị thần che chở cho rừng núi và bình nguyên của họ.
Tôi đã từng đi săn nhiều lần ở trong vùng này, chỉ có một người đưa đường. Tôi cũng đã tới vùng biên giới nước Ai Lao. Tôi đi vào quãng một tuần hay 15 ngày. Ban chiều, khi đến một bản nào, tôi trở thành “Thượng đế” và người Mọi đã coi tôi như vị Thần sống vậy.
Vùng đất này đã từng biết có những nhân vật, tự hào về màu da, như kẻ lãng tử này tự xưng là Vua mọi Sedang, với danh hiệu là Marie đệ nhất. Hay như viên quan cai trị Ban Mê Thuột tên gọi Sabathier, đến đây năm 1920 đã chặt cầu khi được tin có viên Khâm sứ tới… Các bô lão đã kể cho tôi nghe những chuyện lạ lùng ấy vào ban tối.
Người Mnong ở Bandon là những người chuyên về săn voi. Sau khi bắt được những con voi họ giao cho người Lào huấn luyện. Chính tại địa phương đó mà tôi lựa chọn các con thú dành cho kho bảo tàng bảo vệ thú rừng Ban Mê Thuột.
Cuộc chuẩn bị đi săn phải sửa soạn trước đó ba ngày trai giới, và cúng lễ thần săn bắn. Trong ba ngày ấy, người đi săn phải kiêng không được ăn đồ ăn kém tinh khiết, và phải trai giới về sinh lý. Nhưng đến hôm trước ngày săn, họ được uống rượu thả cửa đến say khướt thì thôi.
Buổi lễ đặc biệt nhất về tín ngưỡng của sắc dân miền núi này là lễ hiến sinh trâu. Lễ này bắt đầu vào lúc chập tối. Tất cả đàn ông đàn bà đều ngồi xung quanh cây cột buộc con trâu, cột này là cột cây tre lớn cao quãng 20 mét mà trên ngọn vẫn còn lá. Cột được sơn, vẽ và trang điểm thật đẹp, có đặt những vòng hoa, gió đưa hây hẩy. Đây là một hình thức thờ vật tể của bộ lạc này mà họ thờ cúng trong máu lửa. Một con trâu đen to lớn, sừng rất rộng, được trói chặt vào chân cột, đầu cúi xuống, tỏ vẻ bực bội và lấy chân cào đất. Lửa được châm ở bốn bên như đánh dấu tứ phương, rồi cháy rần rần, bốc cao ngọn tới trời xanh. Lửa không thiêu hết mọi vật, mà dâng ngọn đến cao xanh, chứng tỏ con người đang thần phục sẵn sàng tôn sùng Thượng đế.
Những người hành lễ mời tôi ngồi vào vị trí danh dự, ở giữa các bô lão. Đêm đã xuống thấp hoàn toàn. Cuộc nhảy nhót bắt đầu theo tiếng gồng, tiếng trống, tiếng chiêng, và tiếng vỗ tay của đàn bà và trẻ con. Tay cầm dáo nhọn, cánh tay đeo mộc, các người nam nhảy nhót theo điệu lẫm chiến, đâm con vật một cách đầy thù hận. Bởi vì con trâu đen này, một con vật thật hiền từ, chiều hôm đó đã là hiện thân của một ác thần, đã làm họ biết bao đau khổ. Đây là vật hy sinh hữu ích dâng cho Thần cứu trợ để cầu mong thần chiếu cố.
Bị trói chặt giữa bốn đóng lửa ở xung quanh, tượng trưng cho lời cầu nguyện, nó chết vào ban sáng, dưới chân vật tổ tế thần, nhằm cản trở sự xui xẻo đè nặng lên khắp bản, bởi vì tôi, Vua của các vị Thần, tôi đang ngồi ở giữa họ.
Một kẻ hành lễ đem đến dưới chân viên phù thủy một quả bầu rỗng và một con gà trống màu trắng. Ông già quì xuống, cắt tiết gà, mổ lấy tim và hứng lấy tiết vào trong quả bầu.
Viên tù trưởng đưa cho tôi một chiếc cần bằng sậy và mời tôi hít rượu đựng trong hũ, đồng thời tôi ăn cùng với ông ta hai miếng gan heo nướng thành chả bằng một chiếc xiên, mà một đứa trẻ đưa cho ông ta. Thế là các bô lão đứng lên, và lần lượt choàng vào cổ tay trái tôi chiếc vòng đồng, nói lên sự phục tòng, giao hiếu mà mọi người dâng cho tôi, có khắc nhãn hiệu của họ, rồi cúi đầu, tung hô tôi là Thượng đế!
Khi tất cả đã trở về chỗ ngồi bên cạnh tôi, viên phù thủy liền cất cao giọng và hát:
- Hỡi Thần linh! Xin hãy công nhận Cha mà chúng tôi đã lựa chọn. Hãy chấp nhận Ngài và chúng tôi đã kính dâng buổi lễ này, cả hai bằng chiếc hủ rượu này có tiết của con gà trống bạch. Xin Thần của núi rừng che chở cho chúng tôi, xin Thần của sông nước che chở cho chúng tôi, xin Thần Đất dẫn dắt chúng tôi, xin Thần Săn bắn che chở và đứng về phía chúng tôi, xin Thần Gió thanh lọc sự giao kết của chúng tôi, xin Thần Lửa làm sự giao hảo sáng chói như chớp, sự đồng minh mạnh như sấm như bão, xin cho chúng tôi sự trường thọ vô cùng, xin cho tóc của chúng tôi bạc trắng phau trước khi đến với các Ngài. Hỡi Thần linh, Hỡi Thần linh, xin hãy chứng giám cho lời thề vĩ đại giữa hai chúng tôi, hỡi Thần linh, hỡi các bậc linh hồn, xin mời các Ngài hãy dự tiệc trước đã. Xin cho phép chúng tôi được hưởng thụ thịt của vật bị hy sinh này, và hưởng thụ huyết của con trâu này vào sáng ngày mai. Sống lâu, mạnh khỏe, hạnh phúc. Chúng tôi nguyện trung thành giữa chúng tôi cho đến đời con, đời cháu chúng tôi. Bởi đó là lời Thần dạy.
Sau lời khấn vái ấy, tôi cùng các bô lão vào nghỉ trong căn lều của viên phù thủy, mái lợp bằng da đan vào nhau, căn lều hoàn toàn bằng tre, ngoại trừ các cây cột và xà ngang đều bằng gỗ teck. Trong nhà có trang hoàng nhiều hình thù bằng gỗ khắc, các dấu hiệu về mặt trời, mặt trăng, hình bò cạp, cá, và bao giờ cũng là hình to lớn của thần rắn, và hình mặt trời gọi là Svastika. Ở chân cột có treo nhiều giá đựng binh khí, những bộ trống chiêng, những vò, hũ cổ, những chậu đồng. Chúng tôi uống rượu cần xung quanh lò lửa.
Ở giữa bọn người mộc mạc cổ xưa này, tôi cảm thấy an ninh vô cùng. Tình lưu luyến tôn kính của họ đối với cá nhân tôi không bao giờ phai lạt. Họ là người ưa chuộng tự do, rất hãnh diện và kiêu ngạo, lòng trung thành của họ là điều khuôn mẫu. Bị dồn ép vào sâu trong rừng núi, khuất hẳn với thế giới bên ngoài do tấm bình phong dày đặc của rừng, họ được hiểu biết, yêu mến kính trọng và che chở.
Chính vào dịp đàm phán ban đầu, trước khi ký thỏa hiệp mùng 8 tháng 3, tôi đã nêu lên vấn đề đất đai rừng núi và những sắc dân thiểu số, ông Léon Pignon đã gợi ý rằng đất đai này và các sắc dân này phải được đặt trong một qui chế riêng, đặt họ vào đất đai của Hoàng triều cương thổ. (Xin xem phụ đính V.)
Thị sát các kinh đô
Sau kỳ thị sát vùng cao nguyên Darlac, tôi đến Sài Gòn ngày 13 tháng 6. Tại đây, thật lạ một sự tiếp thu thực sự, vì thủ đô miền Nam trước đây vẫn là cấm địa đối với tôi, khi còn là Hoàng đế. Hôm sau, ngày 14 tháng 6, tại điện Norodom, tôi ký với ông Pignon nhiều chi tiết về thể thức, theo như các điều khoản của thỏa ước mùng 8 tháng 3 năm 1949.
Trong dịp này, tôi gửi một thông điệp cho dân chúng:
“Đồng bào miền Nam thân mến,
“Hôm nay đặt chân lên phần đất của miền Nam Việt Nam này tôi không khỏi nén đi bao xúc cảm sâu đậm tràn ngập trong tim, xúc cảm có chứa đựng niềm vui sướng vô biên. Đất cát này, dân tộc Hồng Việt chúng ta đã kiến tạo với bao công lao trong nhiều thế kỷ. Các Hoàng đế Minh Vương và Võ Vương đã liên tiếp xây dựng nên. Cũng từ đất đai này, mà Hoàng đế Gia Long và các bậc anh hùng nghĩa sĩ vùng Đồng Nai, Gia Định đã phất cờ khôi phục lại sơn hà từ Sài Gòn đến Thuận Hóa, rồi từ đó ra đến Hà Nội, tiến tới tận biên giới Trung Hoa.
“Dòng máu anh hùng của tổ tiên chúng ta vẫn còn sôi sục trong huyết quản giòng giống cháu Lạc con Hồng. Trong rừng sâu, cũng như trong các vùng sình lầy, biết bao nghĩa sĩ, anh thư đã đền nợ nước cho một chính nghĩa sáng ngời dân tộc.
“Đất đai của tiền nhân chúng ta đã trở vê với chúng ta ngày hôm nay. Kết quả đó đạt được là nhờ ở tâm hồn dũng cảm của toàn thể nhân dân ta, và ở lòng hy sinh và sự tận tâm của các đồng bào ta ở mọi giới, và ở tình hữu nghị đầy thông cảm của dân tộc Pháp. Mặc dù có cuộc sống khác biệt qua bao năm dài tháng lậm, đồng bào miền Nam đã chứng tỏ là dân chúng Việt Nam không bao giờ quên gốc rễ và giòng giống của mình.
“Trong công cuộc phục hưng đất nước, miền Nam Việt Nam đã đặt viên đá đầu tiên và đã ghi một trang thật lẫy lừng trong lịch sử.
“Công cuộc ấy chỉ có thể vững bền và thịnh đạt, nếu dân tộc chúng ta vẫn tiến lên trong kỷ luật, trật tự và hòa bình. Thế mà, trong bốn năm qua, vì các nguyện vọng quốc gia chưa được thỏa mãn, sự tàn phá của chiến tranh vẫn kéo dài, và làm tan hoang đất nước.
“Không có một cảnh tượng nào đau đớn hơn là trông thấy hai dân tộc Pháp và Việt, vốn cả hai đều tha thiết đến hòa bình, mong mỏi sự tự do, và công lý, buộc lòng phải dùng đến sức mạnh bạo tàn để giải quyết mọi dị biệt. Để chấm dứt tinh trạng đau lòng ấy, tôi không ngần ngại tự đảm đương lấy sứ mạng là tìm một giải pháp hòa bình, để san bằng mọi mâu thuẫn, và để thỏa mãn các nguyện vọng chính đáng và sâu đậm của chúng ta.
“Chỉ cốt có một vị trí quốc tế chính thức, mà buộc lòng tôi phải giữ tạm thời danh vị cũ, nhưng lập trường của tôi vẫn không thay đổi, đối với dân tộc. Dân tộc đã chiến đấu anh dũng cho nền độc lập của Tổ quốc. Vậy thì tất nhiên, nguyên lý về các hoạt động quốc gia, phải từ dân mà ra.
“Tuy nhiên, vì hoàn cảnh quốc tế rất quan trọng, và vì trưởng hợp của đất nước chưa thuận tiện cho các cuộc tổng tuyển cử, tôi phải nhận kể từ hôm nay trách nhiệm lãnh đạo công việc của quốc gia.
“Đồng bào miền Nam thân mến,
“Theo đúng nguyên tắc đã được ký kết trong thỏa ước mùng 8 tháng 3, nền thống nhất của đất nước đã được thực hiện. Ngày mùng 6 tháng 6 vừa qua, Quốc hội Pháp đã long trọng bỏ phiếu chấp nhận sự trở về của đất Nam kỳ vào lãnh thổ nước Việt Nam. Như vậy, qui chế thuộc địa do các hiệp ước năm 1862 và 1873 đã được vĩnh viễn hủy bỏ. Nền độc lập của đất nước được phục hồi, và kể từ ngày hôm nay, nước Việt Nam tự mình sẽ giải quyết công việc nội bộ của nước mình, trên bình diện quốc tế củng như trên bình diện quốc gia.
“Trên lãnh vực quốc tế, nước ta được toàn quyền của một nước độc lập: quyền đại diện ngoại giao, quyền đặt đại sứ ở các nước ngoài, quyền tiếp nhận ngoại giao đoàn, quyền ủy nhiệm sứ thần đến các nước khác, quyền đàm phán và ký kết tất cả mọi hiệp ước quốc tế, và quyền được tham gia vào các tổ chức của Liên hiệp Quốc…
“Trên lãnh vực quốc gia, một thể chế cho đất nước phải phù hợp với lòng dân là một vấn đề vô cùng quan trọng. Danh dự của tổ quốc, buộc chúng ta phải hành động sao cho xứng đáng để nước ngoài trông vào, thấy bộ mặt thực sự của Việt Nam, biết tôn trọng trật tự, và tôn thờ công lý.
Đầu tiên, về mặt hành chánh, các cơ quan lập ra phải phục vụ nhân dân. Một tổ chức làm trái với nguyên tắc ấy, sẽ không bền vững được bao lâu. Như vậy, cần phải ấn định lại qui chế cho các nhân viên trên toàn quốc v.v…
“Một chương trình xã hội cũng phải đặt nền móng để thực hiện. Chúng ta cần phải chống nạn mù chữ, mở mang liên học công lập tổng quát, nâng cao nền công dân giáo dục. Giới cần lao là mục tiêu của sự cải tể canh tân của chúng ta, và mối quan tâm của chúng ta phải nhằm vào việc nâng cao mức sống của toàn thể đồng bào.
“Quyền năng chính trị dù tốt đẹp đến mấy, cũng không có nghĩa lý gì, nếu không đem lại được kết quả nào trên toàn quốc, người dân còn phải ăn đói, và không đủ quần áo che thân.
“Dưới mái nhà tổ quốc đã được độc lập và thống nhất, tôi gửi lời kêu gọi thành thực và nồng nhiệt đến tất cả tầng lớp dân chúng, để chúng ta cùng trở lại trật tự và hòa bình hầu kiến tạo đất nước đang cần phục vụ. Biết bao năm phải hy sinh mà đồng bào đã chấp nhận sẵn sàng, là một điều bảo đảm đầy hứa hẹn. Tin tưởng vào tương lai của dân tộc, chúng ta hãy tập hợp lại tất cả mọi nỗ lực, để bắt đầu ghi một trang vẻ vang vào lịch sử nước Việt Nam mới của chúng ta”.
Đất Nam kỳ bao giờ cũng là đất của thành thật, nơi thánh địa của các giáo phái những loại gần như hội kín, những người sống ra ngoài vòng pháp luật. Ba trong số hội này, đã đóng vai trò quan trọng từ 1945, đó là Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên.
Đây là vào năm 1926, giáo phái Cao Đài trở thành một tôn giáo có thánh thất và Tòa Thánh, với những đền đài, nghi lễ, và hệ thống lãnh đạo, được tổ chức dựa theo đạo Công giáo. Thiết lập từ năm 1902, do một nhân viên Bưu điện ở Sài Gòn, vốn đầy mình tin tưởng vào sự tồn tại của linh hồn, đạo Cao Đài muốn đóng vai trò hòa hợp các tôn giáo và triết học ở Đông phương: đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật, đạo thờ Thần và đạo Thiên Chúa.
Linh hồn Cao Đài dùng hình thức cầu cơ để đọc và nghiền ngẫm những lời tiên tri ban bố xuống. Vì vậy, vào tháng 11 năm 1926, ở Tây Ninh, đạo Cao Đài truyền bá ra một tin rung động: “Ngọc hoàng Thượng đế, chính là Ta. Phật Tổ cũng là Ta. Thích Mâu Ni tôn giả cũng là Ta, Jesus Christ cũng vẫn là Ta. Ta mang danh là Cao Đài để dạy dỗ một đạo mới”.
Nhờ sự độ lượng của chính phủ Pháp, và dưới ảnh hưởng của một nhân viên Hội đồng Thuộc địa là Lê Văn Trung, đạo này đạt được mức tiến bộ khả quan. Vào năm 1940, đạo Cao Đài đã có trên một triệu rưỡi tín đồ, phần nhiều tập trung cả ở miền Tây Nam kỳ.
Đứng đầu là Giáo chủ Phạm Công Tắc, cựu nhân viên thương chính, một người đầy mưu trí và ngoại giao khôn ngoan, muốn biến đạo Cao Đài thành đạo duy nhất ở miền Nam Việt Nam. Có tài lãnh đạo khép léo, ông ta có một số nhà truyền giáo khá đông đảo, và có kỷ luật, và về sau có cả một quân đội.
Sau cuộc thất trận của Pháp năm 1940, ông ta không giấu tinh thần quốc gia của mình, nên bị bắt và đày ra đảo Comores năm 1941. Đạo Cao Đài không phải vì thế mà kém hoạt động, cho đến năm 1945, nhờ người Nhật giúp đỡ, họ trở thành quốc gia cuồng tín. Sau sự hình thành chính phủ Dân chủ Cộng hòa của Hồ Chí Minh, quân đội của Cao Đài đứng vào hàng ngũ của Việt Minh, và vào đầu năm 1946, đã chiến đấu chống lại đoàn quân viễn chinh Pháp. Nhưng các lãnh tụ Cao Đài chẳng bao lâu cũng bất hòa với Xứ ủy Việt Minh Nam bộ, và vào tháng 6 năm 1946, một đoàn đầu tiên ra hợp tác với Pháp. Tuy nhiên, nhiều đoàn khác vẫn hợp tác chặt chẽ với Việt Minh, và cũng có những đoàn khác đứng riêng để chiến đấu cho bản thân họ. Ngày 30 tháng 4 năm 1946, nước Pháp trả tự do cho Phạm Công Tắc. Ông này lập tức lại bắt tay vào điều khiển công việc. Vài tháng sau, ông ta đến gặp tôi ở Hong Kong, cùng đi với một nhân vật thượng thặng của Tòa Thánh, Bác sĩ Lê Văn Hoạch, vốn làm Thủ tướng chính phủ lâm thời Nam kỳ, sau Tướng Xuân.
Hiện nay, không được Pháp chấp thuận cho kiểm soát độc quyền các tỉnh miền Tây, Phạm Công Tắc giữ thái độ trung lập. Nghĩa là ông có cả người theo phe Việt Minh, người khác theo quân đội Pháp và các gián điệp đủ loại ở khắp mọi nơi…
Giáo phái Hòa Hảo được thành lập từ năm 1939 trong tỉnh Châu Đốc bởi một nông dân là Huỳnh Phú Sổ, vốn bị bệnh nan y, ở trong một làng nhỏ ở Hòa Hảo. Vì bệnh tật, Huỳnh Phú Sổ sống cạnh một ông đạo, có tài chữa bệnh. Ông đạo dạy Sổ về các thuật phù thủy, thôi miên cũng như về châm cứu.
Trở về nhà trong một đêm tối trời, ông ta tự dưng khỏi bệnh, bắt đầu truyền giáo đạo Phật canh tân. Ông đạo mới chinh phục nhanh chóng được đám đông, bằng những luận điệu sơ sài, dễ hiểu, và những đường lối dễ theo của đạo mới. Ông ta vẫn căn cứ vào nguyên lý của đạo Phật, mà ông ta chỉ muốn giản dị hóa cách thức tu, mà không thay đổi đạo lý. Ông ta tiên tri tương lai, chữa bệnh cho mọi người bằng khoa châm cứu và làm thuốc bằng các rễ cây và đặt ra các câu sấm để tiên tri. Sự thành công của ông được giới chính trị lợi dụng, và con người được gọi là nhà sư điên, chẳng bao lâu bị chính phủ thuộc địa chú ý, do có tinh thần chống Pháp, xuyên qua các lời tiên tri của ông ta. Họ giam ông vào nhà thương điên Chợ Quán trong mười tháng, và ông ta lại truyền giáo được cho viên y sĩ điều trị, làm ông ta nổi danh hơn. Bị đặt vào tình trạng an trí có kiểm soát ở Bạc Liêu năm 1941, các tông đồ của ông biến nơi an trí thành nơi hành hương.
Đến lượt người Nhật cũng tìm đến nhà sư này để che chở cho ông ta. Tháng 8 năm 1945, Huỳnh Phú Sổ tạo một mặt trận chính trị hợp tác với Việt Minh. Nhưng cũng không hơn gì giáo phái Cao Đài, sự kết hợp cũng chẳng kéo dài được bao lâu. Ít lâu sau, Việt Minh và Hòa Hảo va chạm với nhau mạnh mẽ, và bắt đầu một thời đại thanh trừng và tàn sát, mà người của Việt Minh đã tỏ ra vô cùng man rợ. Tướng chỉ huy quân đội Hòa Hảo là một viên lơ xe, Trần Văn Soái, nổi tiếng với tên là Năm Lửa. Có bộ râu cằm rất uy hùng, Năm Lửa nổi danh vì vậy. Ông ta vừa hợp tác với Việt Minh, coi như đồng minh chính thức, để chống lại quân đội Pháp, nếu không thì để đi ăn cướp, cho quyền lợi riêng của ông ta, và năm 1947, cũng có đến gặp tôi ở Hong Kong. Vào tháng 4 năm ấy, Huỳnh Phú Sổ bị bắt và bị Việt Minh hành quyết, nhưng cái chết của nhà sư này chẳng làm cho phe ấy tan vỡ hay nhụt đi.
Ít lâu sau, Trần Văn Soái liên kết với nhà binh Pháp, họ công nhận Soái là Tổng tư lệnh quân đội Hòa Hảo, và phong cho hàm Thiếu tướng “một sao”. Nhưng sự liên kết của Trần Văn Soái với Pháp không kéo nổi các thủ lãnh Hòa Hảo khác trở về. Riêng có Lâm Thành Nguyên chỉ huy vùng Long Xuyên bằng lòng hòa giải với Soái vào tháng 2 năm 1949. Sự hòa giải này chỉ có hình thức bên ngoài, vì vẫn có những đụng độ, những thủ tiêu ám sát lẫn nhau và các màn ngoạn mục khác nữa. Ba Cụt một thủ lãnh trẻ thuộc phe Hòa Hảo giữ trọn kỷ lục vì ông ta nay đầu mai đánh đến bảy lần, rồi cuối cùng lại vào bưng.
Đảng Bình Xuyên không giống hai giáo phái nói trên. Cách Sài Gòn quãng 20km về phía Nam, có một vùng đất cằn cỗi, không trồng trọt gi được. Có dăm ba cọc cù lao nhô lên giữa sình lầy rộng vài ngàn hécta, nước mặn chát đầy mòng muỗi và rắn độc: đó là Rừng Sát. Nơi đó chứa đủ hạng người sống ngoài vòng pháp luật, bọn tù vượt ngục, và tất cả những ai phải lẩn trốn công an, cảnh sát. Bọn này lập ra thành một bang riêng biệt bầu các viên thủ lãnh, thường tụ hội nhau trong một ngôi làng nhỏ là làng Bình Xuyên, từ đó có tên gọi Bình Xuyên”,
Một thủ lãnh của đảng “Mafia” này bỗng nổi tiếng từ 1945. Tên anh là Lê Văn Viễn, thường nổi tiếng với tên gọi Bảy Viễn. Tù Côn Đảo vượt ngục, anh ta là cựu đảng viên một đảng bí mật, rất được giới Hoa kiều ở Chợ Lớn kính nể và từng bị Tây bắt nhiều phen. Được người Nhật giải thoát. Việt Minh vào tháng 8 ân xá cho anh ta. Đối với vị tướng cướp hiệp sĩ này, trên nguyên tắc chỉ cho đánh cướp nhà giàu, mà không bao giờ đụng đến người nghèo, đây là cơ hội bằng vàng. Vì vậy Bình Xuyên liên kết với Xứ ủy Nam bộ, để tham gia vào các cuộc tấn công quân đội viễn chinh Pháp. Tháng 2 năm 1946 Bảy Viễn được bầu làm Tư lệnh lực lượng Bình Xuyên. Nhưng chẳng bao lâu, anh ta trở thành chống đối với viên Tư lệnh Cộng sản miền Nam khét tiếng là Nguyễn Bình. Đầu năm 1948, sự đụng độ nẩy lửa nổ ra công khai. Trong một cuộc phục kích tận diệt Bình Xuyên, Bảy Viễn nhanh chân chạy thoát, liền liên kết với quân đội Pháp. Được phong làm Đại tá, anh ta đem quân bản bộ giữ an ninh cho vùng Chợ Lớn.
Khi tôi trở về nước, tôi chỉ mới biết có những nhân vật Cao Đài, qua các quí vị Hộ pháp Phạm Công Tắc, Bác sĩ Lê Văn Hoạch, và ông Trần Quang Vinh, vốn phụ trách trông coi Tòa Thánh, trong khi Hộ pháp bị đi đầỵ. Cả ba vị này đều đã đến yết kiến tôi tại Hong Kong, có cả Trần Văn Soái, là viên tướng Hòa Hảo.
Nay tôi vào Sài Gòn vào đầu năm 1949, cả ba hệ phái này, đồng thanh, mở đại tiệc để đón mừng tôi. Trong bữa tiệc, tôi được gặp phụ thân của Huỳnh Phú Sổ, một nhà điền chủ giàu có, và trong bài diễn văn của tôi đọc vào cuối bữa tiệc, tôi ca ngợi những đức tính của “Nhà sư điên” qua ông cụ này, theo như truyền thông của Việt Nam xưa. Cũng trong dip này, tôi đươc gặp Bảy Viễn, lúc ấy đã hợp tác với Thủ tướng Trần Văn Hữu!
Tôi nhận lời mời của ba đảng phái này, vì họ có thực lực, để tạo nên một lực lượng hữu hiệu. Cao Đài đóng quân ở vùng Tây Ninh, ở Thủ Dầu Một, ở phía Bắc Sài Gòn, ở mặt giữa và sườn phía đông thành phố, và ở khắp vùng Cà Mau.
Hòa Hảo đóng ở vùng Châu Đốc, Cần Thơ, Long Xuyên, Chợ Mới, còn Bình Xuyên ở vùng Sài Gòn-Chợ Lớn. Đó là một hệ thống quan trọng mà tôi không thể bỏ qua. Khi đến thăm tôi tại Hong Kong, Hộ pháp Phạm Công Tắc đã thề trung thành với tôi và tự nguyện đặt dưới quyền điều động của tôi. Vì vậy, khi tôi về nước, tôi không ngần ngại kêu gọi đến ông ta, đành rằng cũng có một vài điều thất vọng đối với phần tử vũ trang của giáo phái này, nhưng phần lớn họ có ảnh hưởng tốt đẹp với nhân dân.
Do thế, tôi đến Tây Ninh, vào thăm Tòa Thánh Cao Đài và được Giáo chủ Phạm Công Tắc với đầy đủ chức sắc của Tòa Thảnh đón tiếp tôi. Đến Cần Thơ, kinh đô của Hòa Hảo, Tướng Trần Văn Soái giới thiệu tôi với vợ ông ta là bà Lê Thị Gấm là nữ tướng đã tạo nên một đội nữ binh, rất ghê gớm, mà nhiệm vụ là bảo vệ các kho tàng và chiến lợi phẩm của giáo phái.
Tôi đã can thiệp nhiều lần với Tướng Boyer De La Tour phụ trách miền Nam, để tiếp viện quân sự cho các giáo phái được hùng hậu hơn nữa. Vấn đề viện trợ quân sự này đã gây ra nhiều khó khăn quan trọng. Chính vì vậy, có thể là do sự tiếp tế vũ khí cho quân đội Cao Đài không được chấp nhận, nên Tướng Chanson khi thay Tướng Boyer De La Tour, và Thủ hiến Nam Việt Thái Lập Thành, đã bị ám sát ở Sa Đéc ngày 31 tháng 7 năm 1951, trong một cuộc phục kích do Trình Minh Thế, tướng phụ tá của Phạm Công Tắc điều khiển.
Khi được tin này, tôi nghiêm cấm Hộ pháp phải bị cưỡng bách an trí tại Tòa Thánh trong sáu tháng, cho đến ngày ông ta phải xin yết kiến tôi để thú nhận rằng, đã bị bọn quân nhân dưới trướng làm bừa.
Ngày 20 tháng 6, Tướng Xuân, theo như các điều khoản đã định, đệ đơn xin giải nhiệm toàn thể chính phủ của ông.
Mười ngày sau, ngày 1 tháng 7, tôi lập chính phủ Việt Nam đầu tiên, do tôi làm Quốc trưởng (11), và ấn định rằng, chức vụ của tôi được chính thức kể từ ngày hôm ấy. Một sắc lệnh thứ hai lập ra ba kỳ (ba tỉnh lớn) và tổ chức về ngân sách cho ba kỳ ấy.
Ngày 3 tháng 7, tôi bổ nhiệm ba vị Thủ hiến cho ba kỳ. Nguyễn Hữu Trí ở Bắc Việt, Phan Văn Giáo ở Trung Việt, và Trần Văn Hữu ở Nam Việt. Cả ba đều đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Quốc trưởng.
Ngày 12 tháng 7, tôi trở về Huế là cố đô của Việt Nam mà tôi rời bỏ đã bốn năm qua. Tôi đọc một diễn văn vào ngày 14 tháng 7, trước cửa Ngọ Môn, nơi đó đã tập trung rất đông dân chúng. Lạ lùng sao, đám đông này như thấy một mặc cảm tội lỗi đối với tôi. Vì không phải là sự nồng nhiệt mà tôi thấy họ mừng vui như ở Sài Gòn, và ở Hà Nội. Dân chúng ở kinh thành như có vẻ ngượng ngùng đối với tôi, ngay khi tôi lái xe đi trong thành phố. Hình như họ đã hốì hận, do bốn năm trước đã gây ra sự thoái vị của tôi. Chắc chắn trong tai họ còn văng vẳng lời tuyên ngôn thoái vị của tôi, cũng ở nơi này, vào tháng 8 năm 1945.
Rất cảm động, tôi lại gặp lại mẫu thân tôi, chưa rời bỏ kinh thành Huế, mà suốt trong thời gian vắng mặt của tôi, vẫn cam phận chịu đựng, để làm tròn bổn phận thờ cúng tổ tiên, không bao giờ xao lãng.
Tôi kết thúc cuộc thị sát các thủ đô ở Hà Nội vào ngày 16 tháng 7. Trước Nhà Hát Lớn, tôi đọc một bài diễn văn nhấn mạnh về các vấn đề xã hội và kinh tế “Chính phủ do tôi lãnh đạo, Cố gắng hoàn tất một chương trình canh tân xã hội, nhằm đặt căn bản cho một chế độ quốc gia công bình và nhân ái”.
Tôi kể ra một số các biện pháp nằm trong chương trình ấy: đưa gạo miền Nam ra Bắc, vì miền Nam thừa lúa gạo, xây cất các nhà rẻ tiền để xóa bỏ sự thiếu hụt nhà cửa ở miền Bắc, nhất là ở Hà Nội mà 12 ngàn ngôi nhà đã bị phá hủy trong thời đầu chiến tranh năm 1946, canh tân vấn đề nông nghiệp ở miền Nam theo những phương pháp khoa học, kỹ nghệ hóa cấp tốc miền Bắc, khai thác sâu đậm lâm sản và hải sản ở miền Trung, hoàn hảo các hệ thống giao thông, tổ chức ngành hàng hải thương nghiệp… Tôi nhấn mạnh đến hình thức xã hội của công cuộc tái thiết:
- Luật lao động sẽ được ban bố, quỹ bảo hiểm xã hội được đặt ra, và sự hợp tác chặt chẽ giữa chủ vá thợ, hay giữa vốn đầu tư lao động là càn bản của một xã hội công bình…
Tôi cũng loan báo những biện pháp khác: Canh tân tổ chức thôn quê, phổ biến những ý thức thông dụng về vệ sinh, phát triến công dân giáo dục, giúp đỡ các gia đình nghèo khó, mở rộng giáo dục phổ thông, phát triển nền học vấn chuyên nghiệp, cử người đi du học ngoại quốc đông đảo. Sau khi lưu ý rằng cần phải bảo vệ nền văn hóa cổ truyền, chúng ta vẫn thanh toán các nạn mê tín dị đoan, tôi lên tiếng kêu gọi các thanh niên như sau:
- Trong công cuộc rộng lớn này, thanh niên đóng vai trò quan trọng, và dân chúng là nền tảng của quốc gia, mỗi một hành động của chính phủ đều phải nhằm vào sự nâng cao đời sống chọ nhân dân.
Và tôi kết luận:
- Nếu chúng ta biết đoàn kết, dân chúng sẽ được hưởng kết quả tốt đẹp của sự hy sinh, các anh hùng liệt sĩ của chúng ta sẽ thấy rằng sự hy sinh tính mạng của họ cho Tổ quốc không phải là vô ích.
Lời nói cuối cùng của tôi được tất cả mọi người hoan nghênh và phất cờ nhỏ cầm nơi tay. Cuộc biểu dương này đã tập hợp khoảng 50 ngàn người, và họ đứng riêng từng làng, từng khu phố. Họ diễn hành trước mặt tôi và các nhân viên chính phủ gần một giờ đồng hồ mới hết.
Sự đi thị sát kinh đô đã thành công mỹ mãn, và gây cho Việt Minh một trái đấm nặng nề. Các đồng minh của họ cũng ý thức được rõ ràng như vậy, nên cố gắng phản pháo để phá đám. Vì vậy, đảng Xã hội Pháp trong cuộc đại hội kỳ thứ 41 đã ra lời tuyên bố vào ngày 17 tháng 7 như sau:
“Đảng Xã hội nhận thấy rằng đường lối chính trị ở Việt Nam theo đuổi đến ngày nay, vẫn chẳng đem đến sự ổn định nào cho tình thế bi đát của đất nước này. Vì vậy, sự thận trọng theo dõi hoạt động của chính phủ là đúng. Các khuôn khổ cho hòa bình vẫn còn xa, đồng thời sự hy vọng hợp tác đầy tín nhiệm và lâu dài giữa hai dân tộc Pháp và Việt cũng còn lâu mới đạt. Đảng Xã hội nhắc lại rằng lúc nào chúng ta cũng đòi hỏi sự chấm dứt hận thù bằng phương thức điều đình với tất cả các phe nhóm của dân tộc Việt Nam, không trừ một ai”.
Lời nhắn nhủ ấy, rõ ràng không còn lầm lẫn gì nữa, chính là để hỗ trợ cho Hồ Chí Minh, và như để trả lời với một chút thận trọng từ từ, đối với lời tuyên bố của Tướng De Gaulle trong cuộc họp báo ngày 29 tháng 3, vào đứng hôm sau ngày tôi trở về nước:
“Nước Pháp, tôi xin nhắc lại, chỉ coi bản thân Hoàng đế Bảo Đại là người có căn nguyên chính thống của chủ quyền Việt Nam. Nước Pháp đã ký các hiệp ước với tổ tiên ông ta. Nước Pháp sở dĩ ở Đông Dương là do các hiệp ước ấy vẫn còn hiệu lực. Thế nhưng cần nhất Bảo Đại phải ở ngôi để cầm quyền, và dưới sự lãnh đạo của ông ta, phải thiết lập một chính phủ có đủ khả năng để điều khiển nước Việt Nam”.
Lời tuyên bố của nhân vật cô đơn ở làng Colombey này, nhân danh nước Pháp mà nói ra quả là một lời “tấn phong” vô cùng quí giá…
Tất nhiên sau lời tuyên bố ấy, vốn tiếp nối với lời tuyên bố ngày 28 tháng 2, trong đó vị tướng lãnh này, sau khi nhắc lại rằng: “đối với nước Pháp, Hoàng đế Bảo Đại giữ căn nguyên chính thống về chủ quyền quốc gia...” lại nhẩn mạnh thêm:
“Điều kiện thứ ba về giải pháp Đông Dương là phải kết thúc giữa Pháp và Việt Nam bằng một hiệp ước ấn định rõ ràng sự bang giao để thay thế tất cả các hiệp ước cũ. Hiệp ước này phải đặt nước Việt Nam trong vị trí độc lập, và trong khuôn khổ bất khả phân ly của Liên hiệp Pháp, liên hiệp này chỉ có một đường lối đối ngoại duy nhất và một nền quốc phòng chung, dưới trách nhiệm hoàn toàn của nước Pháp”.
Hiệp ước ấy, tôi đã ký kết ngày 8 tháng 3 năm 1949. Tất nhiên đối với De Gaulle, và người Pháp, đó là điểm kết thúc, nhưng đối với tôi và nước Việt Nam, nó lại chỉ là điểm khởi đầu. Ai có thể trách được chúng tôi, trách được chính tôi? Bởi vì, thẳng thắn mà nói thế nào là độc lập quốc gia khi nó không được quyền tự chủ về ngoại giao và cả sự bảo vệ lãnh thổ?
Thật sự ra, nếu tôi có chút hậu ý gì, tôi cũng chẳng cần phải thắc mắc tí gì. Há tôi chẳng từng được biết, khi tôi còn tạm trú ở Paris, rằng Tướng De Gaulle mà ngày nay cho rằng tôi là người duy nhất giữ chủ quyền chính thống quốc gia của Việt Nam, đã có một quan điểm khác biệt về tôi, vào năm 1945. Ông đã ngỏ ý trong tập hồi ký của ông:
“Về mục đích có thể cần thiết, tôi có một dụng ý kín đáo. Đây là để cho cựu Hoàng đế Duy Tân có phương tiện xuất đầu lộ diện, nếu kẻ kế vị ông ta, cũng là người bà con là Bảo Đại cuối cùng tỏ ra bất lực, và bị thời thế vượt qua. Vua Duy Tân bị Pháp truất phế năm 1916 và trở thành Hoàng thân Vĩnh San, bị đày ở đảo Réunion, trong thế chiến vừa qua đã phục vụ trong quân đội của chúng ta. Ông ta mang cấp bậc Thiếu tá. Đó là một nhân vật cứng cỏi. Vài ba chục năm đi đầy đã xóa đi tâm hồn dân tộc Việt Nam của vị quốc vương này…”
Đây chính là những lời tuyên bố chính trị đã được dạy trong cuốn sách Prince (Quân vương) của Machiavel.
Cuối tháng tám, ông Coste Floret, bộ trưởng bộ Pháp quốc Hải ngoại, bất khả thay thế, đến thăm tôi. Ông ta nói xa xôi cho tôi hiểu là kể từ ngày tôi trở về, thái độ của tôi làm cho Paris lo ngại. Chính phủ có cảm tưởng là tôi đã không quan tâm đến họ nữa, là tôi không hoàn toàn áp dụng các điều khoản đã ký kết. Khi mới tới, ông Coste Floret đưa cho tôi một bức thư của Tổng thống Vincent Auriol, đề ngày 27 tháng 7, phản ảnh sự lo ngại đó.
“Chính phủ của Cộng hòa Pháp quốc đã chính thức nhận được bản thông điệp của Hoàng đế, nói về sự thành lập chính phủ Việt Nam để chịu trách nhiệm thi hành các điều khoản của hiệp định mùng 8 tháng 3, đặt cơ cấu quốc gia, ấn định các biện pháp canh tân cấp tốc, sửa soạn và duy trì hòa bình, và khi hòa bình được phục hồi, tổ chức trưng cầu dân ý cho thế chế chính trị và tìm hình thức nhất định cho chính phủ.
“Chúng tôi tin chắc rằng Hoàng thượng sẽ hoàn tất các công tác ấy một cách mỹ mãn.
“Về phần của chúng tôi, chính phủ của Cộng hòa Pháp quốc đã đem hết các cố gắng cho mục đích ấy, và chúng tôi đã giúp Hoàng thượng một cách đầy đủ và thành thực để thi hành thỏa hiệp giữa Hoàng thượng với chúng tôi.
“Thật sự, chính phủ chúng tôi trong dịp đàm phán trung thực này, đã thỏa mãn tất cả các nguyện vọng quốc gia của dân tộc Việt Nam, như những nguyện vọng mà chính Hoàng thượng từng tuyên bố vào năm 1945 cũng như những lời tuyên bố về thời ấy, của chính phủ thực tế Hồ Chí Minh.
“Nền thống nhất của Việt Nam đã được Quốc hội Pháp bỏ phiếu chấp thuận và luật của nước Pháp ghi nhận sự thay đổi qui chế cho xứ Nam kỳ.
“Nền độc lập của Việt Nam đã được công nhận trong bản thỏa hiệp mùng 8 tháng 3 năm 1949 bởi chính phủ Cộng hòa Pháp quốc.
“Sự bang giao giữa Việt Nam và Pháp, trọng Liên hiệp Pháp đã được giải thích rộng rãi và rõ ràng, theo các điều khoản của Hiến pháp, hầu bảo đảm nền thịnh vượng chung và sự quốc phòng chung là cần thiết hơn bao giờ hết, đối với mọi bất ổn, rối loạn hay sự lo âu của toàn thế giới.
“Như vậy việc tranh chấp bằng vũ khí, dù được bào chữa là để thực hiện những nguyện vọng quốc gia, không còn lý do tồn tại nữa. Nền hòa bình, vẫn từng khát vọng, do dân chúng Việt Nam cũng như nước Pháp, nằm ở trong tay dân chúng Việt Nam, và chỉ ở trong tay họ mà thôi.
“Chắc chắn, thưa Hoàng thượng, một không khí tin cậy, hữu nghị, chân thành và thẳng thắn trong sự hợp tác có lẽ cũng phải được thực hiện trong các quốc gia liên kết trong Liên hiệp Pháp.
“Công cuộc để thực hiện, là do chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, và chính tôi, với tư cách Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc, kiêm Chủ tịch Liên hiệp Pháp, chúng tôi xin bảo đảm về việc thi hành toàn diện, thẳng thắn các hiệp ước đã ký kết.
“Ông Cao ủy đã nhận được chỉ thị để trao cho chính phủ của Hoàng thượng, các cơ sở này từ nay thuộc trách nhiệm của chính phủ Việt Nam quản trị, và đặt dưới quyền điều hành của Hoàng thượng các nhân viên và các chuyên viên, mà Hoàng thượng muốn, và cho đến bất cứ lúc nào, mà Hoàng thượng thấy cần thiết.
“Các tướng lãnh quân đội sẽ giúp đỡ Hoàng thượng sự hợp tác của họ, để đặt nền móng tổ chức và huấn luyện đạo binh Việt Nam, dưới quyền điêu khiển của chính phủ của Hoàng thượng, để cùng hoạt động trong nỗ lực bảo vệ an ninh chung, cùng với quân đội của chúng tôi.
“Tôi cũng xin xác nhận về phần tôi, nhân danh chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, theo điều khoản của bức công hàm ngày 22 tháng 5 năm 1949, theo đó tôi đã tuyên bố là sẵn sàng chấp nhận các đại sứ, các bộ trưởng đặc mệnh toàn quyền và các sứ thần được Hoàng thượng đề cử đi công cán đến các quốc gia đã được nhìn nhận bằng hiệp ước của đôi bên, đồng thời chấp nhận cùng với Ngài những đại sứ, bộ trưởng đặc mệnh toàn quyền, và sứ thần của các nước ngoài cử đến bên Ngài.
“Ông bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Cộng hòa Pháp quốc sẽ hỗ trợ, theo những điểm đã dự trù làm phương tiện ghi trong hiệp ước mùng 8 tháng 3 năm 1949, trước khoáng đại Hội đồng Liên hiệp quốc (ONU) đơn của nước Việt Nam xin được gia nhập vào tổ chức quốc tế quan trọng này, hầu nhờ Liên hiệp Pháp và sự liên kết của toàn thế giới, để bảo đảm cho nền độc lập, sự an ninh và biên giới của quốc gia.
“Sau hết, thật là điều đại hạnh cho chính phủ của Cộng hòa Pháp quốc và niềm hân hoan của chính cá nhân tôi, đã được nghe lời tuyền bố cao thượng của Hoàng thượng, rất đáng khâm phục là Hoàng thượng cam kết long trọng trao vào tay dân chúng Việt Nam, sau khi đất nước thanh bình và được tổ chức chu đáo, sự lựa chọn qui chế theo hiến định, lựa chọn đường hướng chính trị và chính phủ của họ.
“Nếu về tổ chức thống nhất đất đai, và do cuộc trưng cầu dân ý ấy, dân chúng Việt Nam quyết định hợp nhất đề ngừng mọi hận thù, sự đó, chúng tôi xin nhắc lại, chỉ do họ mà thôi, chính phủ Cộng hòa Pháp quốc và cả tôi nữa, chúng tôi rất vui sướng được trông thấy bằng phương pháp hòa bình, sự phục hưng của nước Việt Nam, và sợi giây thân ái phải thắt chặt lại nền thịnh vượng và sự an ninh chung của hai nước chúng ta.
“Nếu không được như vậy, dù có được thỏa mãn thực sự những nguyện vọng đã đạt được lúc ban đầu giữa cuộc tranh chấp này, còn một số người hay một số hành vi chính trị hoạt đầu, cho những mục tiêu trá ngụy, bằng những lý do ngoan cố, đấy chính là họ đã muốn đẩy nước Việt Nam vào sự cô lập để đưa nó vào những số phận mỗi ngày một rõ ràng, mà dân chúng Việt Nam sẽ mở mắt ra, vì đã có một thời bị lợi dụng rồi.
*Chúng tôi muốn tin rằng sự đó sẽ không phải như vậy.
“Dù sao nữa, Hoàng thượng chắc chắn đầy hảo ý với chính phủ của Hoàng thượng vì với các sắc dân bị tan tác, và tàn phá bởi chiến tranh, chính phủ Cộng hòa Pháp quốc không bao giờ bỏ dân chúng Việt Nam cũng như các nước liên kết trong sự cô lập ghê gớm ấy, và trước những sư phiêu lưu đáng sợ, trong đó các dân tộc sẽ bị tước mất nền độc lập, và những tự do mà con người được quyền hưởng dụng. Nước Pháp không bao giờ bỏ họ, và nếu cần, sẽ cùng với chính phủ bảo vệ họ, với sự giúp đỡ của Liên hiệp quốc, đối với mọi áp bức ngoại lai, để bảo vệ nền độc lập và sự an ninh, nếu họ bị đe dọa.
“Chính trong tình thân ấy, mà chính phủ Cộng hòa Pháp quốc và tôi nữa, chúng tôi xin hợp tác theo lời kêu gọi mà Hoàng thượng đã gởi cho các đảng phái chính trị, các nhà trí thức, chính trị và tôn giáo, cũng như cho toàn thể dân chúng thành thị hay thôn quê, đang bị thử thách nặng nê, để thực hiện ý chí chụng là: hòa bình, kiến thiết và thịnh vượng.
“Chúng tôi tin cậy đối với nỗ lực của Hoàng thượng cũng như với nỗ lực của chính phủ của Ngài, hầu đặt các mục tiêu đã được nhắc đến trong bức thư này, và để báo cho toàn thể nhân dân giữa nơi đồng ruộng đến làng mạc du xa xôi, rải rác khắp nơi trong mọi tổ chức tự hạ tầng cơ sở.
“Tôi xin Hoàng thượng hãy nhận nơi đây, cho toàn thể dân chúng Việt Nam, tình hữu nghị thân thiết của dân chúng Pháp đối với họ cũng như đối với Hoàng thượng lời chúc tụng vô cùng nồng hậu”.
Bức thư được Thủ tướng Henri Queuille cùng các Bộ trưởng Robert Schuman, Paul Coste Floret, Paul Ramadier đồng ký dưới.
Câu cảnh cáo đã được nhắc một cách rõ rệt:… Nếu không phải là như vậy…, Chúng tôi muốn tin rằng không phải là như vậy…
Để làm dịu sự lo âu của chính phủ Pháp, ngày 28 tháng 8, tôi cho công bố một thông điệp, trong đó chính phủ Việt Nam tái xác nhận ý chí dẹp Cộng sản, và đảm bảo rằng chính phủ không có sự đồng tình nào với Việt Minh cả. Ngoài ra, sau khi báo trước rằng chính phủ sẽ cử đại sứ đến Hội đồng Tối cao và bên Đại hội đồng Liên hiệp Pháp, chính phủ Việt Nam tái yêu cầu nước Pháp giúp đỡ.
Tuy nhiên, ông Coste Floret, đã chẳng thu thập được gì bên các cộng sự viên của ông ta, khi trở về Pháp, đã đưa hai bức thông điệp cho Hội đồng Bộ trưởng ngày 13 và 23 tháng 9. Ông ta không giấu tình thế tại Đông Dương vẫn đáng quan ngại trước mắt ông ta: Không có sự hồi chánh nào từng được dự trù đã xảy ra, tình hình quân sự vẫn nghiêm trọng, các cuộc bàn cãi để thiết lập các thể thức thực hành vẫn bế tắc. Nói với các nhân viên nội các ông ta phê bình:
- Chính phủ Bảo Đại luôn luôn vẫn đặt giá quá cao, chỉ nói đến tính chất tiến bộ của hiệp ước mùng 8 tháng 3. Ta có thể nghi ngờ thiện chí của Bảo Đại về việc lãnh đạo này…
Cuối tháng tám, Tướng Carpentier thay thế Tướng Blaizot cầm đầu đoàn quân viễn chinh Pháp.
Trong thời gian đó, nơi trú ngụ của tôi ở Đà Lạt đã trang bị xong xuôi. Một vài công tác kiến thiết đã được sửa sang tại căn biệt thự cũ để tôi có thể làm việc với mấy tay thân cận chính: Bửu Lộc làm Chánh văn phòng, Nguyễn Đắc Khê cố vấn kỹ thuật, Vĩnh Cẩn là tùy viên. Nhưng căn biệt thự đó, gần như cô lập giữa một đồi thông, không lấy gì làm lớn lắm, vì vậy các nhân viên văn phòng khác phải làm việc trong các công ốc của viên Khâm sứ Trung kỳ cũ.
Khi tôi đến Đà Lạt, tôi lấy làm ngạc nhiên được gặp lại một khuôn mặt cũ trong con người ông Cousseau, một viên chức ngành cai trị từng đóng vai sứ giả của Cao ủy Bollaert, khi tôi còn ở Hong Kong. Ông ta ở trong một biệt thự của Cao ủy với một viên chức khác, một người lai Pháp có tên là Faugere. Tôi mới rõ sau khi đó, là hai vị này đã được ông Pignon đặt ở đây, để phục vụ tôi, và cũng để kiểm soát tôi nữa…
Sự đó không làm tôi phật ý. Trái lại nữa. Cousseau vẫn giữ nguyên thái độ khi còn ở Hong Kong, và thường sang thăm tôi và để chuyện trò. Vì vậy, qua ông ta, tôi được biết một điều bêu riếu ở Paris, hình như đã làm rung động nền Cộng hòa đến tận gốc rễ. Điều đó cũng có những tiếng vang sâu đậm ở Việt Nam đó là Vụ các tướng lãnh.
Sau khi hoàn tất nhiệm vụ ở Đông Dương, Tướng Revers đã thảo một bản tường trình quan trọng. Đã dùng những biện pháp cực kỳ đặc biệt để bảo vệ tính chất “tối mật,” theo từ ngữ quân sự, của tờ trình đó. Bản tài liệu có chứa đựng, dĩ nhiên nhiều bí mật quân sự, và đề ra những phương thức rõ rệt để chỉ huy các cuộc hành quân, đồng thời phê bình nghiêm khắc đường lốì chính trị của chính phủ ở Đông Dương. Số bản được phân phôi rất hạn chế, và mỗi bản đều được người cầm tay mang đến, có ký nhận phản hồi.
Thế mà, rất nhanh chóng bí mật của tờ trình Revers trở thành bật mí. Cuối tháng tám, toàn thể nội dung tờ trình được một đài phát thanh lậu đặt ở Miến Điện bật tung ra. Đài Tiếng nối Việt Nam, cơ quan tuyên truyền của Việt Minh, mấy ngày sau cho phát thanh lại.
Điều ô nhục nổ ra giữa ban ngày ban mặt, trong một cuộc xô xát bên bãi chờ buýt ở Paris, giữa một người thương binh từ Đông Dương trở về, với một người mang quốc tịch Việt Nam. Trong chiếc cặp của anh này, thật là sự trùng hợp lý thú cảnh sát tìm thấy một bản sao của tờ trình Revers. Ngoài ra còn thấy được một cuốn sổ ghi địa chỉ, và nhiều câu ghi chú về sự trở về nắm quyền của Bảo Đại, cũng như những tham vọng của Tướng Mast, lúc ấy là Giám đốc Viện Nghiên Cứu Đại học Quân sự của bộ Quốc Phòng.
Vụ này cho thấy địch đã khiêu khích ngay trước mũi, và vấn đề được khai thác triệt để. Nhờ cuốn sổ ghi địa chỉ, nhiều cuộc khám bắt đã xảy ra ở Pháp, ở đâu cũng tìm thấy những bản sao của tờ trình. Chỉ riêng có tôi là người độc nhất không bao giờ có nó dưới tay mà thôi. Sự tẩu tán đã được chuyền đi theo ba ngả: ngả cho một chính khách Pháp; ngả cho Việt Minh, nhưng cũng cho luôn một nhóm người Việt có liên lạc với Tướng Xuân. Những nhân vật vừa lạ lùng vừa mờ ám đã lần lượt lọt lưới, và cuộc điều tra còn khám phá ra một hình thức ô nhục khác nữa: Nhiều tấm chi phiếu quan trọng đã được phân phối cho các nhân vật dân sự cũng như quân sự Pháp. Tại sao, và do đâu mà có cái quỹ ấy?
Người ta không bao giờ biết chắc chắn được điều đó, vì công việc đã rơi và thất bại, ngoại trừ đối với hai Tướng Revers và Mast mà công danh sẽ bị bẻ gãy.
Tuy nhiên, một buổi chiều, khi gặp tôi, Cousseau báo cho tôi một tin chưa bao giờ thú vị đến thế:
- Câu chuyện bến xe buýt, cũng như các bản sao của tờ trình, hay ít ra một phần của bản sao, sổ địa chỉ… tất cả sự đó chỉ là một sự ngụy tạo hoàn toàn. Người làm ra kế hoạch này, một viên thiếu tá vô danh, đã chỉ huy ở Paris một cơ sở tình báo thuộc về bộ Pháp quốc Hải ngoại, là phòng chuyên môn liên lạc và phối hợp, gọi tắt là BTLC (Bureau Technique de Liaison et de Coordination).
Và Cousseau với nụ cười láu lỉnh, đã kết luận sự tiết lộ kia:
- Chúng ta đã nắm được họ rồi!
Rồi ông ta giải thích:
- Bản tường trình của Revers có chứa đựng nhiều điều nhận xét sắc bén đặc biệt, vừa dưới khía cạnh quân sự vừa dưới khía cạnh chính trị ở Đông Dương. Nhưng nó kéo chính phủ phải lật ngược lại với chính sách vẫn có từ trước. Thứ nhất đoàn quân viễn chinh không phải đi đánh nhau vì cần thiết. Thứ hai, sự suy thoái về quyền năng đã đưa đến mâu thuẫn giữa văn và võ làm tê liệt sự chỉ huy. Thứ ba, “giải pháp Bảo Đại” do chính phủ nặn nên chỉ là một miếng mồi để đánh lừa. Trước hết bởi vì nó có một tiếng xấu về tham nhũng, và nhất là người ta chỉ có thể chấm dứt chiến tranh bằng cách điều đình với kẻ đã gây ra chiến tranh là Việt Minh. Kết luận: củng cố binh bị và cương quyết chống lại cuộc chiến tranh du kích, tập trung tại chỗ cả hai quyền văn và võ để đặt dưới quyền chỉ huy một người duy nhất, nên hiểu là một nhà binh, bởi mình đang đánh nhau. Trở lại dự định có mầu không tưởng của Tướng Leclerc, kẻ được điều đình là Hồ Chí Minh chứ không phải Bảo Đại. Người được chỉ định hoàn tất nhiệm vụ, chính là Tướng Mast.
Tôi ngắt lời ông ta:
- Nhận định của tôi cũng không xa mấy với một số nhận định mà ông ta đã gán cho là của Tướng Revers. Đồng ý là đánh nhau ở đây không phải là vấn đề cần thiết, và người ta cũng không có thể làm gì để cho chúng tôi một đạo quân quốc gia được. Đồng ý là ở trên hết, cần có một người rất mạnh, vừa có quyền năng chính trị lẫn quyền năng quân sự. Điều mà tôi không thể hiểu, đó là những luận điệu đả kích của Tướng Revers đối với giải pháp hiện tại. Trước hết, không phải là giải pháp Bảo Đại mà phải nói rằng giải pháp của chính phủ Pháp mới đúng. Vì nếu là giải pháp Bảo Đại, thì sự việc lại đi theo chiều hướng khác… Thế rồi, trên căn bản nào mà Tướng Revers có thể nói được rằng “giải pháp” ấy vốn nổi tiếng tham nhũng ghê gớm? Khi ông ta rời Sài Gòn ngày 15 tháng 6, thì tôi mới từ Pháp về Việt Nam chưa được một tháng.
- Dù sao nữa, Cousseau nói tiếp, ông Pignon không thể chấp nhận được luận cứ của Tướng Revers, luận cứ này rất chắc chắn sẽ làm hại cho một chương trình vốn được xây dựng nên một cách khó khăn, và sẽ đưa Đông Dương xuống dốc. Theo ý thức trách nhiệm của ông, ông đã phản ứng theo kiểu của ông.
Đến bây giờ, tôi cũng không rõ sự tiết lộ của Cousseau, có thật sự và hoàn toàn nói lên căn bản của vấn đề hay không. Tôi ngờ rằng, còn có nhiều uẩn khúc lắt léo khác nữa, nhằm thanh toán lẫn nhau, nhưng đó lại là việc của nước Pháp, không phải của tôi.
Dù sao nữa, sau khi được biết trong cuộc điều tra, tôi nhận thấy quả là không phải chỉ Việt Nam mới giữ độc quyền tham nhũng. Nhiều chứng cớ khác nữa đã được trình cho tôi biết, kể từ ngày thiết lập nền đô hộ của Pháp, đã có truyền thống là các đảng phái chính trị Pháp tìm cách vung bón cho quỹ đen của họ ở Đông Dương bằng những chiến dịch, mà nhiều vụ thô bạo nhất, không cần giấu diếm đã bất chấp cả hình thức hợp pháp nữa.
Trong thời gian này, tôi nhận được một bức thư của Đức Cha Lê Hữu Từ, Giám mục ở Phát Diệm, mà tôi đã từng dự lễ tấn phong ông ta vào năm 1945, thay mặt Hồ Chí Minh, khi tôi là cố vấn tối cao chính phủ. Chính ông ta, sau đó cũng được cử làm cố vấn tối cao tôn giáo của Hồ Chí Minh. Với chức vụ đó, ông ta đã lập được trên địa phận của mình, một giáo khu, mà ông ta giữ trọn cả quyền năng tôn giáo lẫn quyền năng cai trị. Nhà tu khổ hạnh, sư huynh Maire Ansehen Thade ngự trị như thủ lãnh tuyệt đối trong đời sống tinh thần lẫn thể xác của mọi giáo dân. Ông ta có quân đội, có tài chánh, tư pháp, và riêng cờ thánh của Vatican phất phới trên khắp các làng thuộc giáo khu. Nhân vật mà Graham Greene mô tả như một “người rất nghiêm nghị, có cái đầu nhỏ như đầu khỉ, với vẻ mặt u sầu và suy tư” đã giữ một điểm chiến lược rất quan trọng, vì đóng trấn ở cửa ngõ bắt buộc đưa các đoàn vận tải tiếp tế từ Thanh Hoá ra cho Việt Minh.
Giám mục Lê Hữu Từ có nhiều mối lo âu, y như đồng nghiệp của ông ta là Giám mục Phạm Ngọc Chi cai quản địa phận Bùi Chu. Đây là một nhân vật rất tháo vát, cũng có những mối ưu tư cho riêng mình và cho các con chiên về đời sống tinh thần của họ. Việt Minh bắt đầu đè nặng lên hai giáo xứ này mỗi ngày một chặt chẽ thêm. Nhiều đám thủ tiêu, ám sát, mặc dù bọn tự vệ đã hoạt động mạnh, nền an ninh cứ mất dần. Thế nhưng cha Lê Hữu Từ lại ghê tởm quân đội Pháp, bởi thế, ông ta cầu cứu đến tôi. Lần tiếp xúc đầu tiên, tôi gửi đến cho ông ta một sĩ quan nhảy dù xuống Phát Diệm đó là Đại úy Nguyễn Văn Vỹ, trá hình làm nông dân. Thỏa hiệp được chấp thuận nhanh chóng.
Vài ngày sau, Nguyễn Văn Vỹ cùng với hai đại đội nhảy xuống Phát Diệm. Để che mắt Việt Minh, Giám mục Lê Hữu Từ cho dàn quân đối địch, ở vệ sông. Khi quân nhảy dù tới, bọn dân quân tự vệ bắn nhiều phát súng chỉ thiên. Người của Nguyễn Văn Vỹ cũng bắn xối xả lên trời, và mở cuộc xung phong. Làm giả bộ đã chống trả mãnh liệt, để bảo vệ giáo khu trung lập, Cha Lê Hữu Từ đành phải chấp nhận đã thua trận, và ký một thỏa hiệp với đại diện của tôi.
Quân đội viễn chinh Pháp của Tướng Alexandre kéo đến, do hai đại đội dù Việt Nam mở đầu đóng vai trò tiền phong, bắt đầu giải quyết vấn đề: Binh sĩ Việt Nam chịu để giáo dân chửi bới là Việt gian, nhưng cha Lê Hữu Từ cứ việc tiếp thu súng đạn, vốn vẫn yêu cầu, để chờ quân Việt Minh trở lại, và tuyên bố vẫn trung thành với cách mạng. Đó là mở đầu một loạt xoay sở, nay Sở mai Tề, khi đầu khi đánh, nhưng các giáo khu miền Bắc dần dà đi sâu mãi vào sự chống lại Việt Minh. Thật vậy, theo gương các giáo phận Phát Diệm và Bùi Chu, các giáo dân khác mà tổng số lên tới một phần năm dân số miền Bắc đều trang bị và phát động phong trào Thánh chiến gọi là Liên tôn diệt Cộng.
Sau khi tin chắc vào các sắc dân thiểu số miền Bắc, miền Trung và miền Nam, nay lại đến các tầng lớp giáo dân Công giáo miền Bắc, vốn bắt buộc phải tỏ lập trường nhưng dù là quốc gia họ vẫn phải giữ thái độ trung lập bề ngoài. Bổn phận tôi trong những tháng tới là phải thu nhận được sự cam kết tương tự ở các giáo phái ở miền Nam Việt Nam.
Ngày 18 tháng 10, tôi trả lời bức thư của Tổng thống Vincent Auriol viết cho tôi về tháng bảy, và tỏ cho ông sự đồng ý của tôi về điểm được gia nhập vào Liên hiệp Quốc, mà ông đã đề nghị cùng tôi khi tôi cần đến. Tôi cũng gửi cho ông Boisdon, chủ tịch Quốc hội của Liên hiệp Pháp, để báo cho ông ta rằng, nước Việt Nam sẽ gửi đại biểu đến tổ chức này.
Cũng trong tháng mười, tôi ra một sắc lệnh cải tổ nền tư pháp và các tòa án Việt Nam. Sự cải tổ này được kèm theo danh sách các vị thẩm phán vào nhiệm sở mới của họ.
Vẫn trong tháng ấy, nước Việt Nam được chấp nhận vào Uỷ ban Kinh tế của Liên hiệp Quốc (ONU) ở Viễn Đông.
Có lẽ do hậu quả “vụ các tướng lãnh” mà Nội các Queuille đổ vào ngày 28 tháng 10. Ông Georges Bidault được đề cử lập nội các mới. Một nhân vật vô danh thay thế ông Coste Floret ở bộ Pháp quốc Hải ngoại là ông Jean Letourneau, một người thuộc đảng MRP (Mặt trận Cộng hòa Dân chủ của De Gaulle).
Vào hạ tuần tháng mười một, tôi tiếp ông Malcolm Macdonald, Cao ủy Anh tại Thái Bình Dương, ông này khi trở về Singapour ngày 24 tháng 11 đã tuyên bố như sau:
- Tất cả các nhà lãnh đạo ở Đông Dương, đều đồng ý quan điểm là kết quả của giải pháp không phải chỉ có vấn đề quân sự. Nó phải là chính trị. Do thế, giá trị đặc biệt dính liền vào các nỗ lực đàm phán vẫn đang tiến hạnh. Yếu tố quan trọng nhất đã đưa quảng đại quần chúng hỗ trợ cho chính phủ Bảo Đại, chính là sự tin tưởng mỗi ngày một lớn của họ đối với Hoàng đế Bảo Đại, do hiệp ước ký được với nước Pháp, để đem lại hòa bình, tự do, chủ quyền quốc gia và sự công nhận quốc tế đối với dân tộc Việt Nam.
Từ mùa thu, quân đội của Mao Trạch Đông tiến gần đến biên giới miền Bắc Việt Nam. Ngày 30 tháng 11, Cộng sản Tàu chiếm đóng Trùng Khánh, cựu kinh đô của Tưởng Giới Thạch. Kéo dài hơn 20 năm, mục đích tối cao của Cộng sản Trung Hoa đã đi đến đích. Đối với thế giới Tây phương, đây là một câu chuyện ra ngoài tưởng tượng. Lúc khởi thủy, đây là cuộc Vạn lý trường chinh, một cuộc bôn tẩu chạy lên miền Bắc. Ngày nay, đó là sự tràn ngập về phương Nam, quân đội của Tưởng chạy trước, quân của Mao đuổi phía sau. Không một phát súng, không một sự bỏ xót nào. Chẳng có gì cản nổi được. Tất nhiên là trừ đường biên giới của Bắc kỳ.
Trong số các tướng lãnh Pháp, chắc chắn ai đã từng biết khá rõ về Á châu - nhưng chưa bao giờ biết đến sự nổi dậy của nước Tân Trung Hoa này - hẳn đã dự đoán rằng, khi quân đội của Cộng sản tới biên giới miền Bắc Việt Nam sẽ là một yếu tố của trật tự. Nhưng dần dà, giới chức ở bộ Tham mưu đâm ra lo ngại. Đại tướng Carpentier nằm trong phòng lạnh, bỗng giật mình khi tưởng tượng đến đạo quân của Lâm Bưu, viên tướng nổi tiếng nhất của Hồng quân Trung quốc, đưa tay ra bắt với đoàn quân của Giáp và yểm trợ cho Giáp. Cuối tháng mười một, Hồ Chí Minh đã trao đổi thông điệp với Mao Trạch Đông.
Nhưng trước khi lo ngại đến quân của Lâm Bưu, thì nay lại là quân của Pai Chung Si, một lãnh chúa quân phiệt cuối cùng chạy đến biên giới. Lúc ấy Tưởng Giới Thạch đã chạy ra Đài Loan rồi. Pai Chung Si vẫn còn chiến đấu đằng sau sông Dương Tử. Nay ba trăm ngàn quân của ông ta tràn ngập các chân núi ở Quảng Tây, trong một sự hỗn độn mạnh không một ai này thoát. Viên lãnh chúa đề nghị với Pháp xin được hợp tác với quân đội viễn chinh Pháp để chiến đấu ở miền Bắc Việt Nam. Nhưng Lâm Bưu cảnh cáo người Pháp ngay, nếu không chịu tước khí giới bọn thổ phỉ của Pai Chung Si, khi đến biên giới, thì chính Lâm Bưu sẽ đến thẳng Việt Nam để tước khí giới bọn quân này.
Ban tham mưu Pháp quên bẵng mất cuộc tấn công của Giáp vào cuối tháng mười, Việt Minh đặt tên là chiến địch Lê Lợi, một vị Hoàng đế Việt Nam về thế kỷ 15, sau nhiều năm chiến đấu du kích trong rừng sâu, đã thành công thâu hồi được đất nước. Nay chỉ còn một vấn đề: Người Tàu, dù là Cộng sản hay Quốc gia, thế thôi.
Sự hoang mang đó chứng thực cho tôi biết, sự bất lực và thiếu cương quyết của người Pháp. Rất có thể họ mong cho quân Cộng sản Tàu giết hết bọn Quốc gia này, trước khi đến được biên giới…
Người Pháp đã không thể hiểu, nên không nghĩ được rằng tới lúc mà Tàu Đỏ để lộ bộ mặt đế quốc của họ. Người Pháp không nhìn thấy lập luận, theo kiểu Mao Trạch Đông phải là Việt Minh tự tay đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt Nam. Không cần biết hậu quả, sau khi đặt xong vững chãi chế độ bằng một cuộc thanh trừng tuyệt đối, không ai có thể tưởng tượng ra được bộ mặt thật và sự tàn nhẫn của họ, mà chỉ riêng tôi là biết được.
Thế nhưng, khẳng định với bạn đồng minh Pháp của mình như thế để làm gì? Họ cũng không thèm cho tôi biết những biện pháp mà họ đối phó nữa? Thế mà đó là việc của Việt Nam, đó là tương lai của Việt Nam, mà tôi lại là Quốc trưởng.
Thật sự, như tôi đã nói với Cousseau, cũng như không ngớt nói với các nhân vật đối thoại với tôi trong những tuần lễ kế tiếp, rằng nước Việt Nam đang sống trong giải pháp cuối cùng của Pháp chứ không phải là bằng giải pháp Bảo Đại.
Thay vì tôi phải nắm lấy vận mệnh của nước tôi, tôi đành phải ký với ông Pignon, ngày 30 tháng chạp, các bản phụ ước cụ thể, nhằm thực thi việc bàn giao giữa các giới chức Pháp với các nhà chức trách Việt Nam, theo như thỏa ước ngày 8 tháng 9 ngoại trừ các cơ sở thuộc ngành công an và cảnh sát.
Ngày cuối năm, tôi gửi một bức thư cho Tổng thống Vincent Auriol, nhân danh cá nhân tôi và dân tộc Việt Nam, để cảm ơn ông về việc ký kết bàn giao cơ sở. Tôi kết luận như sau:
“Phúc đáp bản thông điệp mà Tổng thống có nhã ý gửi cho.tôi trong dịp này, tôi hân hạnh được chia xẻ lòng tin tưởng của Tổng thống đối với tương lai của hai nước chúng ta, đã liên kết chặt chẽ cho công tác hòa bình. Nước Việt Nam rất sung sướng được tham dự vào cuộc thịnh vượng chung của Liên hiệp Pháp và vào sự vinh quang của hai quốc gia”.
Chú thích:
 (11) Thành phần chính phủ Bảo Đại:
- Phó Thủ tướng kiêm bộ trưởng Quốc Phòng, Tướng Nguyễn Văn Xuân
- Bộ trưởng Ngoại giao: Nguyễn Phan Long
- Bộ trưởng Tư pháp: Nguyễn Khắc Vệ
- Bộ trưởng Kinh tế và Tài chánh: Trần Văn Vân
- Bộ trưởng Nội vụ: Vũ Ngọc Tấn
- Bộ trưởng Thương mại và Thủ công nghiệp: Hoàng Cung
- Bộ trưởng Lao động và Xã hội: Phan Khắc Sửu
- Bộ trưởng Giao thông và Công chính: Trần Vãn Của
- Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục: Phan Huy Quát
- Tổng thư ký Tài chính: Dương Tấn Tài
- Tổng thư ký Ngoại giao Lê Thăng
- Tổng thư ký Quốc phòng: Trần Quang Vinh
- Tổng thư ký Thanh niên: Nguyễn Tôn Hoàn
- Tổng thư ký Y tế: Nguyễn Hữu Phiếm
- Tổng thư ký Thông tin: Trần Văn Tuyên
- Bộ trưởng phủ Thủ tướng: Đặng Trinh Kỳ.
Quân đội Quốc gia Việt Nam
Đầu năm 1950, sau tám tháng cầm đầu chính phủ, mặc dù bị rất nhiều chống đối gieo rắc chông gai, tôi có cảm tưởng là chưa đến nỗi bỏ mất thời gian vô ích. Cuộc đặt nền móng hành chánh Việt Nam rất tiến đạt, điều làm tôi quan tâm nhất chính là việc kiến tạo một đạo quân quốc gia. Cuộc thảo luận về quân sự sẽ họp vào ngày 2 tháng giêng tại Vũng Tàu, coi như là bước khởi đầu.
Cho đến năm 1948, tại Việt Nam mới chỉ có một số cơ cấu quân sự địa phương, không được tập trung, loại địa phương quân của các viên tỉnh trưởng. Toàn thể quân số không hơn 20 ngàn người, và giá trị cũng chênh lệch vô cùng. Sau thỏa ước ở vịnh Hạ Long, chính phủ lâm thời đã đặt được sự thỏa thuận để ấn định quân số tương đối, sự hình thành một đạo quân Việt Nam. Nhiệm vụ của đạo quân này là phối hợp với lực lượng quân đội Pháp, tái lập lại an ninh và bảo vệ lãnh thổ.
Chương trình dự định là sẽ có hai loại quân: một loại cố định, đóng tại chỗ tương đương với lính bảo an với quân số khoảng 20 ngàn người, và một loại cơ động khoảng 16 ngàn người, chia ra làm ba lữ đoàn. Từ đó, sẽ lập ra một đạo quân tự trị, và song song với nền hành chánh trung ương để cùng được thành lập.
Vào tháng 6 năm 1949, ít ngày sau cuộc trở về của tôi, quân lực Việt Nam lúc ấy đã có khoảng 23.000 người, trong đó có hai lữ đoàn quân chính quy - mà hai đại đội đã nhảy dù xuống giáo khu Phát Diệm vào mùa thu - thêm vào đấy 18.000 quân trừ bị tạm thời nữa. Thỏa ước mùng 8 tháng 3 đã đặt căn bản cho một quy chế thực sự của đạo quân quốc gia, mà những thỏa hiệp hay những giao kết sau này, chì là sự giải thích hay áp dụng tùy theo trường hợp mà thôi.
Quy chế ấy nói rõ về tính chất của quân lực Quốc gia Việt Nam: Sự hình thành là do người Pháp giúp đỡ, trong thời có chiến tranh, nó phải phụ thuộc vào một viên tướng Pháp, sự cấu tạo một Uỷ ban quân sự hỗn hợp vĩnh viễn, và cuối cùng sự bảo đảm căn cứ và dồn trú cho lực lượng quân đội của Liên hiệp Pháp sau khi hòa bình được vãn hồi.

Thỏa hiệp quân sự được ký ngày 30 tháng chạp năm 1949 với ông Pignon, giải thích các nguyên tắc ấy. Ngoài ra, sự thỏa hiệp cũng nhấn mạnh về phần của Việt Nam trong việc duy trì đạo quân ấy với sự góp phần của nước Pháp: cung cấp dụng cụ và trang bị, cung cấp sĩ quan, hạ sĩ quan Pháp và huấn luyện các cấp chỉ huy Việt Nam.
Trong hoàn cảnh hiện tại, một điều khoản đặc biệt được dành cho bộ Tư lệnh Pháp để sử dụng lực lượng quân sự Việt Nam, và sự kiến tạo một Uỷ ban Tối cao nhằm vào đường lối chung để tái lập trật tự. Vẽ quân số điểm chính là tăng quân số lên thành 50.000 người, trong đó có tám tiểu đoàn đặt dưới quyền sử dụng của chính phủ trung ương.
Hội nghị ngày mùng 2 tháng giêng đặt nguyên tắc tăng cường quân số này cho năm tới là 30 ngàn quân chính qui, gồm 12 tiểu đoàn và 35 ngàn quân trừ bị. Nó cũng dự trù thành lập Hải quân quốc gia Việt Nam, dưới hình thức các giang đỉnh, và dự trù được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ sau này.
Theo dự tính của tôi, một thời hạn tám năm là đủ, để chúng tôi có thể hoàn toàn thay thế được quân đội Pháp bằng quân lực của Việt Nam. Tôi đã dự trù sự thành đạt này vào khoảng năm 1958. Nhưng trong lãnh vực ấy, công việc đối với tôi như đã đi đúng đường hướng, và tôi nghĩ rằng đã đến lúc tôi có thể rời bỏ nhiệm vụ lãnh đạo chính phủ, để dành thời giờ làm nhiệm vụ lãnh đạo quốc gia, một cách dễ dàng hơn. Việc đảm trách cả hai nhiệm vụ này chỉ là sự cần thiết để tái lập quyền hành cho chính phủ. Ngày nay thì công việc đã được hoàn tất. Vì vậy, ngày mùng 5 tháng giêng, tôi ban bố một thông cáo trong đó, tôi nhắc lại nhiệm vụ của tôi là đặt cơ cấu cho quốc gia và cho nền cai trị của quốc gia Việt Nam, rằng nước Pháp qua vị đại diện là ông Pignon đã trao trả Việt Nam tất cả mọi quyền hành, tôi báo tin sự rời bỏ chức vụ lãnh đạo chính phủ của tôi, và do thế bãi bỏ toàn thể nội các ấy.
Ngày hôm sau, với cương vị Quốc trưởng, tôi đề cử ông Nguyễn Phan Long lập tân chính phủ. Nguyễn Phan Long, bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong chính phủ của tôi đã đặc biệt thành công trong công tác của ông ta, vì đã đạt kết quả đưa nước Việt Nam vào Uỷ ban Kinh tế của Liên hiệp quốc ở Á châu và Viễn Đông, để có thể tiến thêm bước nữa mà vào thẳng Liên hiệp Quốc (ONU).
Cũng ngày hôm ấy, tôi cử 12 đại biểu cho Việt Nam vào Quốc hội Liên hiệp Pháp, trong số đó có Phạm Văn Bính coi như là Trưởng phái đoàn.
Tất cả mọi hoạt động đó, nếu không được dư luận Pháp chú trọng đến nhiều thì ngược lại, đã gặt hái được nhiều kết quả trong dư luận quốc tế. Ngày 11 tháng giêng, tờ báo Times viết như sau:
 “Sau khi Hoàng đế Bảo Đại trở về Việt Nam, những nhà ái quốc có lập trường quốc gia vốn e ngại Ngài vẫn chỉ là một thứ bù nhìn trong tay Pháp, nên không mấy sốt sắng để tôn phò Hoàng đế, mặc dù họ rất thù hận đối với chế độ đàn áp của Hồ Chí Minh, và đảng Việt Minh thiên Cộng sản. Thái độ ấy nay thay đổi hẳn. Dân chúng Việt Nam nhận thấy rằng các vị trí then chốn trong chính phủ Bảo Đại đều do các đồng bào mình đảm trách, rằng Vua Bảo Đại thật sự là chủ nhân ông đất nước, và quân đội Việt Nam dù được lực lượng quân sự Pháp yểm trợ, vẫn cầm đầu cuộc chiến chống lại chiến tranh du kích của Hồ Chí Minh.
“Vua Bảo Đại đang từ từ liên kết được mọi người. Ngài đã mở rộng ảnh hưởng đến những vùng trù phú lúa gạo ở Nam kỳ; ngay tại miền Bắc mà Việt Minh mạnh nhất, Ngài bắt đầu tạo được ảnh hưởng của mình. Điều này một phần là do Ngài được Pháp dần dần nhượng bộ nhiêu để thỏa mãn các nguyện vọng quốc gia của toàn thể dân chúng Việt Nam. Chính phủ của Ngài đã có quyền gửi đại diện ngoại giao riêng biệt ra các nước ngoài, và trong nước thì chủ quyền quốc gia được hoàn toàn, ngoại trừ một số đặc ân dành cho quân đội Pháp. Ngay chính Hoàng đế cũng đã từ bỏ nhiệm vụ Thủ tưởng, và bắt đầu làm việc trong một nội các theo kiểu của Pháp...”
Tân nội các được thành lập ngày 19 và 22 tháng giêng, Nguyễn Phan Long trình tôi nội các này để xin được duyệt y. (12)
Ngày hôm sau, tôi đi bằng máy bay ra miền Bắc để thăm các sắc dân thiểu số của vùng Hoàng triều cương thổ. Đầu tiên, đến Lạng Sơn là nơi cửa ngõ của Việt Nam với Trung Hoa. Sau đến vùng thượng du ở Lai Châu. Tôi được viên Quan lang Đèo Văn Long, kiêm nhiệm chức chủ tịch Liên hiệp các sắc dân Thái Mèo đón tiếp. Ông này vốn là truyền nhân của Sơn vương Đèo Văn Trì, về thế kỷ trước, từng làm run sợ dân chúng hiền hòa Lào. Long có ảnh hưởng rộng lớn chẳng những đối với người Thái trắng ở Lai Châu, và còn cả với người Thái đen ở Sơn La. Đây là một khu vực rộng lớn gồm toàn núi và rừng trong đó còn có người Yao và Mèo, chiếm đóng hoàn toàn vùng tây bắc thượng du miền Bắc.
Sự thăm viếng của tôi đối với các sắc dân này, theo truyền thống hiếu khách cổ xưa, tạo nên những ngày hội hè để chào đón, với nhiều thú vui của dân gian. Lai Châu mang hình thái tươi vui của ngày hội. Rượu ủ lâu năm từng vò tuôn ra như nước chảy, và các thiếu nữ Thái diêm dúa trong những chiếc váy bằng lãnh đen, áo sơ-mi cổ viền trắng, có các đồng trang sức bằng bạc. Họ múa xòe và chỉ ngưng lại để nhấm mứt gừng, rồi lại múa nữa liên miên.
Sự đón tiếp vừa long trọng vừa mộc mạc đó, làm cho tôi rất ấm lòng và tin tưởng. Hơn nữa, Đèo Văn Long và người em là Đèo Văn Muôn, hứa với tôi sẽ thành lập nhiều tiểu đoàn Thái để tạo nòng cốt cho đạo quân mới sơ sinh của tôi. Như vậy, vào giờ phút mà những sự xâm nhập qua biên giới miền Bắc là đầu đề chính để chúng tôi lo ngại thì sự trấn đóng của các đạo quân Nùng khét tiếng của Vòng A San ở địa đầu miền Động Bắc, và đạo quân người Thái trung thành ở miền Tây Bắc này, tạo cho tôi những cơ cấu khá yên tâm. Tôi trở về Đà Lạt rất hài lòng.
Tại Paris, đây là lần đầu tiên, đại diện của chúng tôi can thiệp vào Quốc hội của Liên hiệp Pháp, đang thảo luận về dự án đạo luật nhằm duyệt y các hiệp ước ký kết giữa các quốc gia liên kết của Việt Nam, Cam Bốt và Ai Lao cùng nước Pháp. Sự duyệt y này sẽ do Nghị viện Pháp biểu quyết vào ngày 26 tháng giêng năm 1950, trong đó, ông Devinat phát ngôn viên của Hội đồng Lãnh thổ Hải ngoại tuyên bố như sau:
- Những tiến bộ đã không thể chối cãi. Vua Bảo Đại đã có thể di chuyển rất bình an trong những tỉnh lớn của nước ông. Sự trở về với tân chính phủ mỗi ngày mỗi nhiều, trong sáu tháng gần đây, đặc biệt đối với miền Bắc, ở vùng Bạch Mai, Lào Kay, và Lạng Sơn, ở miền Nam trong các tổ chức Cao Đài và Hòa Hảo.
(Cần đặc biệt lưu ý là những diễn biến tháng mười vừa qua đã cho thấy sự qui hồi của 200.000 giáo dân Phát Diệm, ở về phía đông nam Hà Nội. Chính lãnh tụ của họ, Đức Cha Lê Hữu Từ lần này đã phải cầu cứu đến sự che chở của Vua Bảo Đại. Và cũng chính một đơn vị lính dù Việt Nam đã được ủy nhiệm nhảy xuống giải phóng và che chở cho tập thể quan trọng dân chúng này. Sự trở về đó đã tạo cho chính phủ Việt Nam một ảnh hưởng tâm lý rộng lớn. Nó thúc đẩy lớp giảo dân đoạn tuyệt hẳn với Việt Minh)
“… Như thế, những cam kết của Vua Bảo Đại đã được thực hiện. Những nỗi e ngại có thể ngờ từ lúc đầu về sự nhu nhược của nhà Vua đã được giải tỏa. Chính phủ của ông đã được thành lập. Những điều khoản cần thi hành trên các hiệp ưdc đều được ký kết. Quyền hành trước kia ở trong tay Pháp thì nay đã trao trả lại cho nhà Vua. Ông đã có thực lực trong tay, và chứng tỏ đã biết sử dụng thực lực ấy.
“Tân chế độ đã tăng trưởng được uy tín, và bành trướng được quyền hành một ngày một mạnh, để có thể tự mình, với đạo quân quốc gia của mình, đảm trách được nhiệm vụ khó khăn là vãn hồi được trật tự trên đất nước. Thêm vào đấy nữa, đó là cảm tưởng của những quan sát viên quốc tế, mang từ Đông Dương về, vốn từ lâu vẫn nghi ngờ về sự khoe khoang nội lực của chúng ta lẫn của nhà Vua.
Lấy ngay lời lẽ mà Chủ tịch Liên hiệp Pháp, viết trong bức thư đề ngày 27 tháng 7 là Hòa bình nằm trong tay dân chúng Việt Nam, và chỉ nằm trong tay họ, nước tân Việt Nam chỉ còn chờ sự duyệt y của các hiệp định, để mang về cho dân chúng do Hoàng đế Bảo Đại lãnh đạo, chứng tích của sự trưởng thành của đất nước”.
Trong dịp tranh luận ở Nghị viện, tân bộ trưởng bộ Pháp quốc Hải ngoại, ông Jean Letourneau không ngớt can thiệp nhiều lần. Trả lời các nghị sĩ, ông đã chứng tỏ rằng việc lựa chọn Hoàng đế Bảo Đại làm người trung gian đàm phán đã gạt ra ngoài mọi điều đình với Việt Minh. “Quyền năng của Hoàng đế do thiên mạng, và đo uy tín của hoàng triều mà có được. Uy quyền mà ông đảm trách hàng ngày càng vút lên cao trong những tháng gần đây, nền cai trị của ông càng thêm hữu hiệu và hơn nữa, những cam kết của ông, đã tiến đạt đến chỗ, có thể mở được một cuộc trưng cầu dân ý, một khi hòa bình được vãn hồi, để đưa đến một nền dân chủ cho đất nước”.
Một nghị sĩ đã nói đến những khó khăn mà gần đây, nước Việt Nam đã được Trung Hoa công nhận. Ông Letourneau trả lời: Vấn đề ngoại giao giữa Tàu và Việt Nam, chỉ có thể thực hiện được, do sự chấp nhận chung của Việt Nam và Pháp sau cuộc họp bàn của Hội đồng Tối cao Liên hiệp Pháp. Mặt khác, các lãnh sự quán Trung Hoa hiện nay đang có mặt ở Việt Nam tạo những dữ kiện có lợi cho chủ quyền nội bộ Việt Nam, và là yếu tố quan trọng cuối cùng để chính phủ Việt Nam được Mao Trạch Đông công nhận.
Cuối phiên họp, ông Letourneau nhấn mạnh đến sự tương đồng, và những mối quan ngại của các nước Tậy phương, qua nhiều thế kỷ, đã thiết lập bang giao với nhiều nước ở vùng Đông Nam Á:
- Nước Hòa Lan vừa giải thích ở Hội nghị La Haye mối liên lạc mới của họ với các nước Nam Dương. Tại Hội nghị Colombo, các nước thuộc khối Hoàng gia Anh cũng được giải thích về mối bang giao này, như nước Ấn Độ hay Pakistan.., Vậy thì, sự chuẩn y các hiệp định ngoại giao của nước Pháp cũng được dựa theo hình thái của nước Hòa Lan và Anh quốc.
Rồi ông kết luận bản tường trình cửa ông như sau:
- Việc gia nhập cuối cùng mà chúng ta hy vọng ở các nước Đông Đương vào Liên hiệp quốc, sẽ là điểm chót của nền độc lập, để thỏa mãn tất cả mọi nước đều mang một mộng ước dân chủ như nhau. Nước Pháp để cho ba nước Liên kết ở Đông Nam Á tự đảm đương lấy trách nhiệm hoàn toàn của họ. Từ nay nó chỉ còn hiện diện để bảo vệ họ đối với những đe dọa bên ngoài. Nước Pháp chỉ còn ở đó, để giúp đỡ họ, bằng những cố vấn, hay bằng những kỹ thuật gia để giúp đỡ họ qua những điều vật chất và kinh tế, để tái thiết mọi điều đổ nát, để xây dựng một nền hòa bình nội bộ, và để phát triển mọi sự mở mang…
Các nước Liên kết mới của chúng ta này phải dành mọi nỗ lực để tổ chức trên bình diện quốc gia, một lực lượng cao lớn để có thể thoát sự nhờ vả vào chúng ta hầu kiến thiết đất nước. Để chấm dứt một lần vĩnh viễn, đối với những nghi ngờ bất công là chúng ta không có thực ý, hay lấy lại cái mà chúng ta đã cho, sự chuẩn y các hiệp định này có một giá trị không thể so sánh, trên toàn bán đảo Đông Dương cũng như toàn Liên hiệp Pháp ở hải ngoại. Cử chỉ ấy, vẫn được dư luận thế giới, từ nhiều năm qua chú trọng đến. Đã từ lâu, người ta vẫn muốn chấm dứt, nhanh chừng nào hay chừng ấy, là đáp ứng nguyện vọng của dân chúng Đông Dương. Nay cửa đã mở do hiệp định này, địa hạt ngoại giao cũng như vào tổ chức Liên hiệp quốc, để có thể được sự trợ giúp hỗ tương quốc tế.
Nhưng thật sự người ta đã bỏ phí đi mất bốn năm quí báu, và tất nhiên điều gì đã nói ra ở Paris dù thiện chí đến mấy vẫn không phải lúc nào cũng có những tiếng vang trung thực. Vì vậy, mặc dù có lời tuyên bố long trọng của Nghị viện, lẽ ra là một đạo quân hoàn toàn quốc gia Việt Nam, người ta vẫn nói là lai Việt Pháp và cũng không phải đây là điều mâu thuẫn đáng kể nhất, cho lời nói ở Paris khác với việc làm ở Sài Gòn, mà còn nhiều người Pháp, nghĩ rằng, mục đích cần thiết, dù hiệp ước có ký, vẫn là để đặt nước Pháp ở lại Đông Dương.
Dù sao nữa, thì sự việc cũng đã xảy ra, và tôi rất lấy làm hài lòng, khi được Anh quốc công nhận ngày 7 tháng 2 cùng với Hoa Kỳ, rồi ngày 2 tháng 3 do nước Xiêm và ngày 12 tháng 3, do Tòa Thánh Vatican. Về phía Việt Minh, họ được Trung Cộng của Mao Trạch Đông công nhận và sau đó ngày 31 tháng 1 được Nga Sô công nhận. Cộng sản quốc tế trên tất cả các nước, đứng chung vào một khối…
Dù sao nữa, họ cũng có phản ứng ở Pháp. Vài tháng sau, tôi được biết đầu tháng 3, cảnh sát Pháp nghe phong phanh một dự mưu của một nhóm cực tả. Chúng định bắt cóc Hoàng thái tử Bảo Long, và dùng làm con tin để đánh đổi tôi phải rút lui, nhường chỗ cho Hồ Chí Minh. Hoàng tử sau niên học đã ghi danh vào học trường Roches ở Masselac, trong miền cao nguyên Hautes Pyrénées lập tức được Tòa Đô chánh bảo vệ trước, sau được đưa vào một tu viện trong vùng.
Khi tôi được tin Tòa Thánh đã công nhận nền độc lập của Việt Nam, tôi được hai Giám mục Phát Diệm và Bùi Chu báo tin ngay bằng thơ. Rồi sau đó, hai Cha ra Hà Nội gặp tôi ngày 23 tháng 3. Tôi hiểu hoàn cảnh của hai vị lúc ấy. Việc nuôi một đạo quân tự vệ rất tốn kém đối với các ông… Vì vậy, mặc dù bị Nguyễn Hữu Trí, thủ hiến Bắc Việt, không mấy tán thành, do một đạo dụ, tôi cho phép hai ông được rộng quyền ít nhiều trong việc quản trị giáo khu, và thêm một trợ cấp mỗi tháng là 300.000 đồng nữa.
Quyết định này gặp phải phản ứng của nhóm Đại Việt, là nhóm cầm quyền ở Bắc Việt mà Nguyễn Hứu Trí là một lãnh tụ.
Phan Huy Quát, Lê Thăng và Nguyễn Tôn Hoàn đệ đơn từ nhiệm vào ngày 24 tháng 3. Việc trợ cấp cho các giáo khu gây một hậu quả khác nữa. Phạm Công Tắc, khi biết tin, cũng đến gặp tôi để yêu cầu một sự hỗ trợ cho quân đội Cao Đài. Vị Hộ pháp Cao Đài này chỉ xin được trông thấy một nhân vật của ông ta, được đặt vào vị trí bộ trưởng bộ Tài chánh, hay bộ trưởng bộ Quốc phòng. Theo ý kiến của ông ta, sự bổ nhiệm này tương đương với một sự hỗ trợ bằng hiện vật.
Tình hình miền Nam làm tôi rất quan ngại. Người ta nhận thấy một sự gia tăng của khủng bố. Trong tháng tư, viên chánh mật thám Bazin bị ám sát chết. Do một thân nhân của mình đang ở trong kháng chiến, Nguyễn Phan Long đã muốn tìm cách tiếp xúc với Nguyễn Bình là tướng trong chiến khu ớ miền Nam Việt Nam. Thế nhưng, sự mong muốn tiếp xức này, đã chẳng đi đến đâu, mà ngược lại, lại đẩy viên tướng Việt Minh đến chỗ mạnh tay hơn.
Việc thẳng tay khủng bố ở Sài Gòn đã có một ảnh hưởng tai hại; dưới hình thức mù quáng, là một hành động vừa dễ dàng lại vừa đắt giá đối với Việt Minh.
Tôi cương quyết yêu cầu Cao ủy để chính tôi nắm quyền chỉ huy cảnh sát. Sau nhiều buổi thảo luận, hai ông Pignon và Perrier đồng ý chấp nhận lời yêu cầu này. Theo chỉ thị của tôi, Trần Văn Hữu liền bổ nhiệm Nguyễn Văn Tâm làm bộ trưởng An ninh. Ông này được tiếng là “Cọp xám Cai Lậy,” liền hoàn tất nhiệm vụ của mình bằng một công tác khả quan, và hệ thống khủng bố của địch bị tan rã lần lượt hết. Trong công tác ấy, vấn đề tình báo là yếu tố quan trọng bậc nhất.
Tất nhiên, là những tin tức đem đến cho viên chức chỉ huy tình báo Việt Nam vẫn dễ dàng hơn đối với nhân viên Pháp.
Ngày 24 tháng 4, nội các Nguyễn Phan Long bị suy yếu vì bốn bộ trưởng thuộc đảng Đại Việt, phải đệ đơn từ chức.
Tôi liền bổ Trần Văn Hữu, một nhân vật người Nam, phụ tá cũ của Tướng Xuân, lập tân nội các. Ông ta liền trình tôi vào ngày 6 tháng 5 nội các của ông ta (13).
Vào tháng 4, do dụ mang số 6, tôi đặt vào đầu tỉnh các viên tỉnh trưởng người Việt để thay thế các cựu công chức người Pháp. Tôi củng bổ nhiệm vào các vùng Cao nguyên, Hoàng triều cương thổ, những người có trách nhiệm thuộc các sắc dân thiểu số ở nơi đó. Như vậy, đã đặt ở vùng Đồng Nai thượng, vùng Lang Biang, Pleiku, Darlac, Kontum đối với miền Nam và miền Trung Việt Nam. Vùng Phong Thổ, Lạng Sơn, Hagiang, Lao Kay, Backan, Cao Bằng, Hòa Bình, Hải Ninh, Lai Châu và Mongcay ở miền Bắc Việt Nam, để giữ những nét độc đáo của những tỉnh ấy. (Xin xem phụ đính V)
Đối với ba tỉnh miền Cao nguyên miền Nam, tôi bổ nhiệm ba viên chức người Pháp, là ông Riener ở Pleiku, ông Doustin ở Kontum, và ông De Pontiche ở Darlac, Đại tá Didelot đại diện cho tôi bên cạnh họ.
Vào đầu tháng 6, để hoàn tất nội các, tôi bổ Nguyễn Đệ làm Chánh vằn phòng của tôi. Thế là giữa hai chúng tôi, đã có sự trở về để gặp lại nhau. Năm 1932, khi tôi về nước cầm quyền, thì Nguyễn Đệ là một thanh niên trẻ tuổi, tây học mà tôi muốn dùng để canh tân xứ sở. Nhưng người Công giáo rất trung tín này, vốn thân với Ngô Đình Diệm rất bực mình thấy thực dân Pháp quá bủn xỉn, nên đã từ chức cùng với họ Ngô. Từ đó, ông ta rất nổi tiếng trong mọi vấn đề mà ông đã đạt, với tinh thần liêm khiết tuyệt đối. Được người Nhật biết đến, ông ta không chịu hợp tác với Nhật nên vào thời ấy, đã cố gắng lẩn trốn để khỏi bị khủng bố. Cho đến tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh vời ông ta ra làm cố vấn kinh tế.
Từ đó, ông ta bắt tay vào việc. Khi ông từ Âu châu trở về, ông ta được Cao ủy Pignon, nhiệt liệt giới thiệu với tôi, chắc chắn là do ảnh hưởng của Vatican.
Tôi liền bổ nhiệm ông ta làm Chánh văn phòng dự khuyết, thay thế cho Bửu Lộc, giữ văn phòng của tôi ở Paris. Vì ông ta được sự giới thiệu của ông Pignon, tôi đâm cảnh giác: Phải chăng ông ta được đặt cạnh tôi để canh chừng tôi?
Sau đó ít lâu, tôi nhận thấy ông đảm trách công tác rất hoàn hảo, vì vậy, tôi gọi ông ta đến và nói cho biết vị trí rất khó khăn của tôi. Nhiều khi tôi phải dùng đến những biện pháp thật khó chịu, bất đắc dĩ vô cùng. Tuy nhiên, tôi phải là người “không ai được đụng chạm đến”. Như vậy, tôi cần phải có một người đóng vai hộ giá, để hứng chịu thay tôi mọi điều chỉ trích. Tôi liền hỏi ông ta:
- Nếu ông nhận đóng vai trò đáng ghét và bạc bẽo ấy, tôi sẵn sàng giữ ông ở lại chức vụ Chánh văn phòng này… Nếu không, ông có thể rút lui, và tôi đã nói hết lời.
Người Công giáo rất nghiêm chỉnh này, không thể nào chờ đợi lâu la để nghe lời đề nghị ấy. Trong gần cả thế kỷ, tổ tiên ông đã là những thần tử khuôn mẫu của các tiên đế của triều đại. Vậy thì ông phải tỏ cho tôi biết, ông là một cộng sự viên mà lòng trung thành không thể chối cãi được. Bất cứ ở đâu, ông cũng theo tôi như bóng theo hình, làm các nhiệm vụ rất tế nhị và nhiều khi khó khăn với một tinh thần và một tấm lòng xả kỷ, trong bất cứ trường hợp nào, và cũng với đầy đủ tư cách, nhiều khi làm cho ông có khuôn mặt nghiêm trang của kẻ dâng mình mang thập giá. Như vậy, giữa lúc mà chiến tranh đã lan rộng sang Lào và Cao Miên, gieo rắc chia rẽ và hận thù, thì Việt Nam đã bắt đầu phục hồi lại được thống nhất. Tôi đã kêu gọi các nhà trí thức, và một năm sau ngày trở về chấp chính, tôi đã có một cơ cấu thống nhất và dính liền. Từ nay tôi đã có thể chơi đủ ngón đờn dư luận: Với các gia đình Phật tử, tôi có Phạm Công Tắc, giáo chủ Cao Đài. Tôi lại có ba khuynh hướng của đạo Hòa Hảo với Tướng Trình Minh Thế, với Tướng Trần Văn Soái và viên phụ tá của ông là Ba Cụt, với nhóm Bình Xuyên của Bảy Viễn, đối với bên Công giáo, tôi có Đức Cha Lê Hữụ Từ và Nguyễn Đệ, đối với các sắc dân thiểu số tôi dùng các đặc ân của Hoàng triều cương thổ.
Chú thích:
(12) Ngoài chức vụ Thủ tướng, Nguyễn Phan Long còn kiêm nhiệm cả bộ Ngoại giao và bộ Nội vụ
- Nguyễn Khắc Vệ, bộ trưởng bộ Tư pháp
- Phan Huy Quát, bộ trưởng bộ Quốc phòng
- Dương Tấn Tài, bộ trưởng bộ Tài chánh
- Vương Quang Nhường, bộ trưởng bộ Quốc gia Giáo đục
- Lê Quang Huy, bộ trưởng Công chảnh & Giao thông Vận tải.
Nhiêu quốc vụ khanh như:
- Đinh Xuân Quảng, bộ trưởng Phủ Thủ tướng
- Lê Thăng, cạnh bộ Canh nông
- Võ Huy Thường, cạnh bộ Y tế
- Hoàng Cung, cạnh bộ Thương mại
- Lê Văn Hảo, cạnh bộ Xã hội
- Nguyễn Tôn Hoàn, cạnh bộ Thanh niên.
 (13) Nội các Trần Văn Hữu gồm có:
- Trần Văn Hữu, thủ tướng, kiêm bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao
- Nguyễn Khắc Vệ: bộ trưởng bộ Tư pháp
- Dương Tấn Tài: bộ trưởng bộ Tài chánh
- Trần Quang Vinh: bộ trưởng bộ Nội vụ
- Vương Quang Nhường: bộ trưởng bộ Quốc gia Giáo dục
- Lê Quang Huy: bộ trưởng bộ Giao thông Công chính
- Hoàng Cung: bộ trưởng bộ Kinh tế và Kế hoạch
- Đặng Hữu Chí: bộ trưởng bộ Y tế và Xã hội
- Trần Văn Tuyên, tổng thư ký cạnh bộ Ngoại giao
- Đinh Xuân Quảng: tổng thư ký về Công vụ
- Nguyễn Tôn Hoàn, tổng thư ký về Thanh niên và Thể thao.
Hội nghị Paris
Ngày 20 tháng 6 năm 1950, tôi đi Pháp, bởi ở đó có một Hội nghị Paris. Tôi đến phi trường Nice để đi Cannes, thăm gia đình. Tại đây tôi được hai tin nóng hổi: Chiến tranh Triều Tiên, và sự đổ vỡ của chính phủ Georges Bidault. Tin thứ nhất rất quan trọng bởi hậu quả của nó có thể có ảnh hưởng đến khắp cả Viễn Đông. Cốn tin thứ hai, thì chẳng có gì để cho tôi quan tâm, bởi sự bấp bênh của chính phủ Pháp vẫn là thứ thường xuyên kể từ năm 1945, vì lý do tất yếu của sự yếu kém của nước Pháp.
Hội nghị Paris khai mạc từ 29 tháng 6, trong khi Pháp không có chính phủ. Cần phải đợi đến ngày 11 tháng 7, để chính phủ mới Pleven của Pháp được thành lập, hầu tìm thấy qua ông Jean Letourneau, trở thành tân Bộ trưởng các nước Liên kết, một nhân vật chính thức có thẩm quyền về vấn đề này. Thủ tướng Trần Văn Hữu theo tôi sang Pháp giữ vai trò đại diện cho Việt Nam ở Hội nghị.
Ở Paris, Hội nghị liên quốc gia, đã tập trung các đại diện của Việt Nam, của Cam Bốt, của Lào và của Pháp. Hội nghị nhằm giải quyết các vấn đề quan thuế, ngoại thương, các vấn đề trang bị, và du nhập của ba nước Đông Dương, đồng thời vấn đề đi lại trên sông Cửu Long và trong tương lai, cả qui chế về cảng Sài Gòn.
Lúc đầu, dự định tối đa là một tháng, hội nghị kéo dài với rất nhiều rắc rối và kết thúc vào ngày 27 tháng 11, sau năm tháng đấu khẩu và nói chuyện cà kê dê ngỗng.
Cựu Toàn quyền Đông Pháp Albert Sarraut đến với tư cách trưởng phái đoàn Pháp, được bầu làm chủ tịch hội nghị. Đối với tôi, tôi đã cố gắng né tránh để đứng ngoài hội nghị.
Ngày 30 tháng 7, tôi bổ nhiệm Bửu Lộc làm Cao ủy của Việt Nam ở Pháp. Rồi trước khi về Cannes để nghỉ ngơi ít ngày, tôi đến thăm Tổng thống Vincent Auriol. Nhiều tiếng vang, và do nhiều nguồn tin đã báo cho tôi biết, trước đây mặc dù với biết bao cố gắng tại chỗ của tôi, Tổng thống đã nhiều lần tức giận về thái độ của tôi. Tổng thống đã gợi ý với nhiều người là cần phải gạt tôi ra, để thành lập dễ dàng một chính phủ lâm thời dân chủ cộng hòa, hầu có thể nói chuyện với Hồ Chí Minh và đưa ra những đề nghị hòa bình với ông ta.
Tuy nhiên, khi tiếp tôi, Tổng thống Auriol vẫn giữ thái độ niềm nở cố hữu, và không tỏ gì là có sự thay đổi thái độ đối với tôi.
Tổng thống đã nhắc đến một bài báo của ông Maurice Duverger, nói về Đông Dương, viết trên tờ Le Monde vào đầu tháng 7, bài báo mà Tổng thống cho rằng có tính chất đầy tội ác, đã xác nhận là nước Pháp đã quyết định dành một nỗ lực lớn lao, rồi nói cho tôi biết cảm tưởng của ông đối với nước Tàu của Mao Trạch Đông và nhấn mạnh đến yếu tố mới mẻ do chiến tranh Triều Tiên gây nên. Tổng thống kết luận tình bằng hữu và chúc cho hội nghị Paris - tôi luôn tự hỏi lý do nào mà lại đặt hội nghị ở tỉnh này - chóng kết thúc vào đạt kết quả cụ thể.
Ở Cannes, ngày 19 tháng 8, hai ông Letourneau và Pignon đã bất chợt đến gặp tôi. Họ đến để bàn với tôi một vấn đề quân sự. Vấn đề này không được sáng sủa cho lắm, như các bản thông cáo của bộ Tư lệnh Pháp đã tung ra. Trên biên giới nước Tàu, các đạo quân Việt Minh được thành lập, trang bị, và huấn luyện bởi các tay cộng sản Trung Hoa, và bắt đầu hoạt động mạnh. Điều làm cho hai ông này lo ngại nhất, chính là sự bất đồng ý kiến giữa hai viên tư lệnh Pháp, tức vị Tổng chỉ huy là Đại tướng Carpentier và vị Phó của ông ta ở miền Bắc là Tướng Alexandri. Thế mà, gần đây, viên tư lệnh phó này lại được nghỉ ở Cannes, trong một thời gian ngắn. Hai vị quí khách yêu cầu tôi khuyên giùm ông ta nên bớt nóng đi, và bỏ mộng hạ bệ Việt Minh vốn là điều trái nghịch với ý định của viên tướng của ông ta. Cũng phải nói thêm rằng Tướng Alexandri. lợi dụng cơ hội về Pháp để loan rắc trong các giới Paris, những lý luận không đúng với luận cứ mà người ta gán cho là của Sài Gòn. Tôi cho mời Tướng Alexandri và theo như yêu cầu của vị bộ trưởng, tôi gợi ý cho ông ta nên trở lại Sài Gòn càng sớm càng tốt.
Tôi chỉ được biết vài ngày sau đó, do bản thông cáo của ông Pignon, là Tướng Cárpentier, trở lại các dữ kiện đã được đề ra từ 15 tháng trước của Tướng Revers là bỏ hết các đồn binh dọc biên giới Trung Hoa, từ vùng thượng du Bắc kỳ cho đến Lạng Sơn. Tôi không rõ có phải do ảnh hưởng của tôi, mà Tưởng Alexandri lên đường trở về Hà Nội hay không, ở Paris người ta thở ra nhẹ nhõm, nhưng cũng chẳng được bao lâu…
Nhân dịp nghỉ hè cho các niên học, tôi sang Ý cùng với Hoàng hậu và các con. Thật vậy, Đức Giáo hoàng Piô XII vẫn hằng muốn tiếp kiến tôi dưới tính cách tư. Tòa Thánh Vatican đã công nhận nước Việt Nam ngày 12 tháng 3 năm 1950. Ngày 4 tháng 9, Tổng giám mục Montini đón tôi trước cửa tư dinh của Giáo hoàng, để đưa tôi vào gặp Đức Thánh Cha. Trước mặt toàn gia đình và Khâm mạng R.P. Dooley, từ Sài Gòn sang về việc này, Giáo hoàng đã tiếp kiến tôi với tất cả niềm ưu ái. Đức Giáo hoàng cảm tạ tôi đã giúp đỡ cho các giáo dân Việt Nam. Ngài nói rằng, trong công cuộc chiến đấu chống lại vô thần cộng sản, tôi có thể tin ở cộng đồng Công giáo Việt Nam được. Sau sự tiếp kiến này, mặc dù dưới hình thức thân ái, vẫn tỏa ra sức mạnh của Đức Thánh Cha, chúng tôi cùng chụp một bức ảnh của cả gia đình. Sau đó, chúng tôi thăm nhà thờ Saint Pierre vốn vẫn nghiêm cấm đối với dân chúng, do đặc ân của Đức Giáo hoàng. Chúng tôi được chiêm ngưỡng đài, tượng kỷ niệm vốn không bị dân chúng quấy rầy. Dành cho danh dự của riêng tôi, người ta đã cho mở chiếc cửa bằng đồng.
Khi trở về khách sạn, tôi thấy có nhiều đám đông dân chúng tụ họp, do cộng sản Ý tổ chức, để phản đối việc tôi đến Rome. Buổi chiều bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ý đến xin lỗi cho chính phủ của ông, về sự kiện này.
Chúng tôi trở về Pháp qua nhiều chặng nhỏ.
Về đến Cannes, tôi được biết tin đồn Đông Khê, sát biên giới Trung Hoa đã bị mất. Kể từ lúc đó, những tin xấu kế tiếp nhau kéo đến không ngớt. Việc rút ra khỏi Cao Bằng như trước đây, ông Pignon đã báo cho tôi biết, bắt đầu từ mùng 2 tháng 10, đã gặp nhiều tai họa. Những tin đầu tiên đưa đến Paris xác nhận là điều đáng sợ nhất, là quân đội Pháp đã lọt vào các ổ phục kích của Võ Nguyên Giáp trên đường thuộc địa số 4. Những sư đoàn Việt Minh được thành lập bởi Tầu cộng, đã có thật và đang chứng tỏ sự có mặt. Tất cả chiến lược của bộ Tư lệnh Pháp đều sai lầm hết.
Được khuyến cáo cách đây hơn một năm do Tướng Revers, sự triệt thoái dưới áp lực của đối phương, đã hoàn toàn thất bại và tất cả các đồn bốt dọc biên giới đều phải bỏ cả. Ngay tại thị xã Thái Nguyên từng được xem như kinh đô của Việt Minh, do Pháp chiếm lại tháng 9, cũng phải bỏ nốt, và cơn gió hoang mang bắt đầu thổi… giao động hoàn toàn.
Chính phủ Pháp liền cử Tướng Juin đến tận nơi công cán, đi cùng với Bộ trưởng Letourneau. Họ đi từ ngày 18 tháng 10. Trước đó tám hôm, tôi đã cử Trần Văn Hữu về gấp Sài Gòn. Thoạt mới về, ông ta đọc một bài diễn văn không ngớt đả kích hình thức mà nước Pháp cho áp dụng, hiệp ước mùng 8 tháng 3, đồng thời cũng đả kích luôn các viên chức Pháp vẫn còn bấu víu mãi vào các công thức thuộc địa cũ.
Tức giận tột độ bởi Tổng thống Vincent Auriol, e ngại rằng Hoa Kỳ có thể nhắc những lời tuyên bố này, để trách cứ nước Pháp đã không chịu thi hành các lời cam kết, ông chủ tịch hội nghị Paris, Sarraut ngày 14 tháng 10 liền đập các quốc gia liên kết, là nên bớt cãi vã lẫn nhau… Đại diện của chúng tôi Nguyễn Đắc Khê liền lên tiếng trả lời. Những hội nghị vẫn sa lầy, và dù sao nữa, trong thời kỳ khẩn trương, thủ tướng chính phủ phải có mặt ngay tại chỗ.
Tôi cũng vội vã dời Cannes ngày 20 tháng 10. Khi đến Sài Gòn, hai ông Letourneau và Tướng Juin đều nhận thấy tình hình càng sa sút hơn, như các ông tưởng. Dưới sự giao động tột độ, việc triệt thoái ở Lạng Sơn đã bắt đầu. Đó chính là một lầm lẫn lớn đã mở cửa Hà Nội, cho quân đội Việt Minh tràn về Lai Châu, thủ đô của ngưòi Thái mà tôi đã thăm thú mùa xuân vừa qua, cũng bị Pháp bỏ đi vào đầu tháng 11.
Ngày 5, nhân dịp Tướng Juin và ông Letourneau sang thăm Việt Nam, tôi cho khánh thành trường sĩ quan Đà Lạt. Giám đốc là một sĩ quan có tài, Thiếu tá Lefort, và lớp học đầu tiên thu nhận 210 khóa sinh. Trong buổi khai mạc này, đã có bàn đến các vấn đề quân sự. Trần Văn Hữu và Phan Văn Giáo, đều được tôi phong tướng, cũng tham dự. Có nhiều quyết định quan trọng được đề cập đến, như thành lập ra 4 sự đoàn hoàn toàn Việt Nam, và việc đào tạo cấp tốc các khóa quân sự tại chỗ các trường hạ sĩ quan và chuyên môn kể cả một trường quân y.
Ông Letourneau gửi thư cho tôi, từ Pháp báo cho biết sự thay thế Tướng Carpentier và xác nhận chỉ thị của Tướng Juin là cần phải bảo vệ Hà Nội và miền Bắc Việt Nam bằng mọi giá. Ông ta không giấu tôi sự lo ngại của ông, nhưng xác nhận ý chí của Tổng thống Vincent Auriol là muốn thấy hình thành đạo quân Việt Nam hầu có thể đối phó được với Việt Minh ngay trên phần đất của mình, đồng thời chúc cho việc thi hành các khoản của hiệp ước mùng 8 tháng 3, được hoàn thành mỹ mãn.
Do báo chí, tôi được biết sự can thiệp của quân đội Trụng Hoa đối với Triều Tiên.
Tôi đến Ban Mê Thuột ở mấy ngày, và có ý định lập ở đây một biệt điện thứ hai. Quả nhiên, tôi đã rất chú trọng đến vùng cao nguyên giữa dân tộc miền núi này. Tôi muốn chấm dứt tất cả các tiếng xì xào, nói về tôi trong những ngày gần đây. Hình như họ cho rằng, tôi ít chung đụng với quần chúng, tôi đã sống tách rời, trong khi binh sĩ Pháp chết ngoài mặt trận. Tất nhiên, kẻ tung tin này, đã không hiểu gì về vị trí của ngôi Vua theo quan điểm ở Việt Nam. Không phải rằng cứ đóng vai mị dân mà người ta có thể phục vụ được dân chúng của mình. Trò mị dân là trò xảo trá của bọn làm chính trị, không phải việc của tôi. Tôi theo đuổi sứ mạng, mà tôi được trao phó. Thật vậy, ở Ban Mê Thuột, gần ba biên giới, tôi có mặt cho toàn thể vùng Nam Đông Dương.
Chính tại Đà Lạt, tôi tiếp Bảy Viễn, chúa đảng Bình Xuyên. Đảng này tôi ít biết đến, không bằng giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, mà đại diện đã đến Hong Kong để gặp tôi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp Bảy Viễn kể từ khi tôi tới Sài Gòn.
Đây là một nhân vật đặc biệt. Từng bị đi tù biệt xứ, anh ta vượt ngục Côn Đảo trở thành thủ lãnh đao búa, và anh ta tự tạo cho mình một địa hạt ở xung quanh Sài Gòn và vùng Đồng Tháp Mười. Xuất thân từ giới bụi đời, một loại thú hoang, đầy tinh thần chiến đấu, trong ba năm liền, anh ta đã đánh nhau với Pháp vô cùng quyết liệt. Nhưng từ tháng 6 năm 1948, vì mâu thuẫn nẩy lửa với Tướng cộng sản Nguyễn Bình, anh ta bỏ về thành. Chính phủ Xuân bổ anh ta làm Đại tá, từ đó với 900 tay súng võ trang cùng mình, anh đặt bản doanh ở ven sông, nơi cầu Chữ Y, ngay sát Sài Gòn. Chỉ trong sáu tháng, anh đã có thể bỏ túi tất cả các hàng bang Trung Hoa ở Chợ Lớn, và đem lại trật tự và an ninh cho vùng ấy. Vậy thì sao không trao cho anh ta một nhiệm vụ lớn lao hơn? Nhân vật vừa giống Mandrin (tướng cướp Pháp) (14), lại vừa giống Vidocq (15) Việt Nam này quả là tay sáng giá, anh hào.
- Tôi rất lấy làm sĩ diện được tiếp một nhân vật ái quốc như ông, tôi bảo anh ta thế.
Bảy Viễn lấy làm ngạc nhiên, và lấy làm sĩ diện được tôi khen ngợi. Để cho anh ta có vẻ thoải mái, tôi đưa anh ta đi xem biệt thự, và các cộng sự viên của tôi. Rồi tôi lại cho xem các võ khí đi săn của tôi. Anh ta lấy làm thích thú khi thấy khẩu súng săn của Tướng Franco gửi cho tôi, để chứng tỏ tình đồng minh chống Cộng sản. Tất nhiên, nước Tây Ban Nha chưa thể công nhận Việt Nam trong hiện tại, nhưng Thống chế Franco muốn tỏ thiện cảm đối với tôi, bằng cử chỉ này.
Sự gặp gỡ đầu tiên với Bảy Viễn, mới đi tới chỗ ấy, và tôi mời anh ta đi săn, vài ngày hôm sau.
Trong suốt một ngày, chúng tôi đi chung với nhau. Tối đến, chúng tôi đến một ngôi làng mọi. Quanh đống lửa, chúng tôi trò chuyện. Rất nhanh chóng, câu chuyện trở nên thân mật. Bảy Viễn xưa nay vốn ít nói, liền kể cho tôi về đời anh ta, thuở hàn vi cũng như lúc bị án đầu tiên, vào năm 1936 bị kết 12 năm về tội “gian nhân hiệp đảng và tàng trữ võ khí bất hợp pháp”. Bị đưa ra Côn Đảo, anh ta gặp những tay cộng sản đã từng được huấn luyện ở Nga: Bùi Công Trừng, Hạ Bá Cang, Tôn Đức Thắng, một kẻ gây loạn ở Hắc Hải, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng, vốn dậy các lớp về chủ nghĩa Mác ở ngay trong tù, và nhiều người khác nữa… Năm 1940, anh ta vượt ngục và thành công, lập ra ở Chợ Lớn nhóm anh chị thuộc giới xích lô, và trở thành một “Kẻ tháp tùng” đoàn đua xe đạp vòng Đông Dương, tôi cùng Hoàng hậu Nam Phương đã đến để chứng kiến cuộc về đích thứ nhất trong cuộc đua. Chìm giữa đám đông, Bảy Viễn nhận ra tôi, vận chiếc áo vàng ở giữa các quan phẩm phục xanh đỏ, thêu chỉ vàng chỉ bạc. Bây giờ, anh ta hơi ngạc nhiên được đứng cạnh bên Quốc trưởng…
Anh ta kể cho tôi nghe tất cả cuộc đời phiêu lưu của mình. Sau khi từ chối sự che chở của quân đội Nhật, anh ta lại bị cảnh sát Pháp bắt, tán tỉnh với bọn Trotskistes (đệ tứ Cộng sản), nên họ thả ra vào tháng 7 năm 1945, thế rồi với đám đàn em tập hợp lại được, anh ta lăn mình vào công cuộc phục quốc, không cần biết đến ý niệm, chính trị hay tôn giáo nào hết. Anh tự phong cho mình là Tổng Tư Lệnh quân đội Sài Gòn - Chợ Lớn, và lấy tên cũ là Lê Văn Viễn. Bị bắt buộc phải rút vào vùng sình lầy Rừng Sát, chẳng mấy lúc anh ta đã chống lại Nguyễn Bình, mà anh ta từng biết ở Côn Đảo, mà Ủy ban Cách mạng miền Bắc đã cử vào Nam để cầm quyền tư lệnh ở Nam bộ. Anh ta liền tham gia vào sự thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất vừa để chống lại người Pháp, vừa để chống lại Cộng sản. Sau khi Cao Đài và Hòa Hảo bỏ về theo người Pháp, riêng còn anh ta chiến đấu đơn độc một mình. Nhưng mỗi ngày một bị Cộng sản đe dọa, anh đành phải chấp thuận quay về, khi biết tin nước Pháp đã trả lại độc lập cho Việt Nam… Dưới danh nghĩa Bình Xuyên, anh công nhận chính phủ Xuân ngày 17 tháng 6 năm 1948, và khi tôi trở về nước, anh ta liền ra tự đặt dưới quyền điều động của tôi.
- Miền Nam rất quí báu cho Việt Minh - tôi bảo anh ta như vậy - Đó là vựa lúa của nước Việt Nam, và cả cho Đông Nam Á nữa. Ai nắm được lúa gạo là nắm được toàn thể Việt Nam. Đối với Việt Minh, cái lợi lại gấp ba. Thoạt tiên, họ gặt lúa gạo, rồi họ lợi về chuyên chở, và cuối cùng là mãi dịch. Hẳn ông hiểu vì sao, Việt Minh tìm mọi giá để củng cố quyền hành đối với miền Nam. Không phải đây là một yếu tố suông về chính trị, mà chính là điều sinh tử đối với họ.
Bảy Viễn nghe tôi nói với tất cả sự chú ý, sau ngắt lời:
- Vựa lúa, đối với tiểu dân, thật quá rộng lớn. Nhưng các cửa hàng, thưa Hoàng thượng tiểu dân có thể đảm trách được. Mà cửa hàng, thì người Tàu nắm hết, tất cả lúa gạo đều qua tay người Tàu. Mà người Tàu, tức Chợ Lớn rồi, đó chính là địa hạt của tiểu dân vậy. Tuy nhiên, cần một điều kiện: tiểu dân cần có Đại thế giới, bởi vì Đại thế giới vẫn là một nguồn lợi cho Việt Minh vậy.
Bảy Viễn không nói rõ cho tôi gì cả. Tôi hiểu, tôi đang dính vào một chuyện gì. Bởi Đại thế giới là sòng bạc lớn của Á châu, và có thể là cả thế giới nữa. Chúng tôi có thể không cần biết đến sự nổi tiếng này. Được mở ra năm 1946, mặc dù có sự nghiêm cấm của chính phủ Nguyễn Văn Thinh, vốn không ưng để người Việt sát phạt nhau, nhưng người Việt Nam lại rất đam mê, nên chính phủ Thinh phải cho đấu thầu, cứ hai năm một lần cho ai bỏ giá cao. Từ năm 1948, việc giao nhượng được chuyển cho một nhóm người Tàu từ Macao sang. Đến giờ phút này, người Tàu sẵn lòng trả 400.000 đồng một ngày cho chính phủ Việt Nam. Nhưng để được yên trí làm ăn, họ phải nộp cho Việt Minh 500.000 đồng nữa. Không kể các thù lao cho quan thuế, cho cảnh sát và các nơi khác…
Ở Đại thế giới người ta chơi đủ mọi lối, nhưng có hai thứ chính, là đánh ba quan và tài xỉu. Ngoài ra mỗi chiều, còn mở số đề 36 con vật, một thứ như xổ số. Đó là một sự tai hại cho dân chúng vùng Sài Gòn, đã nướng vào đấy hết sạch cả đồng lương nhỏ bé của mình. Để tránh những tai họa, tôi ra lệnh nghiêm cấm các công chức và binh sĩ Việt Nam không được lui tới Đại thế giới.
- Đến kỳ đấu thầu vào tháng chạp tới, ông có thể nộp đơn đấu thầu, tôi bảo Bảy Viễn như vậy.
- Thưa Hoàng thượng, xin tuân lệnh. Tôi sẽ xin nộp mỗi ngày một triệu đồng cho chính phủ Việt Nam, nhưng Việt Minh thì đừng hòng một xu nhỏ. Đồng thời, tôi có thể trả lương và trang bị cho người của tôi khá hơn trước nhiều. Như vậy, liệu hồn cho Nguyễn Bình.
Đến tháng chạp, Bảy Viễn thực hiện được mộng này. Chỉ cần rỉ tai bọn Tàu Macao, có sự hỗ trợ của phe Tàu Chợ Lớn cùng với bọn Corses ở Sài Gòn, sự tin tưởng của chính phủ tước bỏ nguồn lợi vĩnh viễn này của Việt Minh, và trò chơi đã đạt. Bọn Bình Xuyên trở thành Mafia giữ an ninh cho vùng Sài Gòn-Chợ Lớn và Bảy Viễn là Tổng tư lệnh quân đội.
Chú thích:
 (14) Tướng cướp Pháp
(15) Cựu tù nhân sau làm Chánh sở An ninh Pháp. Cả hai đều là những tay chọc trời khuấy nước, non sông một chèo.
De Lattre tới
Trong những ngày đầu tháng chạp 1950, chính phủ Pháp cử Tướng De Lattre nắm quyền Tổng tư lệnh ở Đông Dương. Ông ta cũng đảm nhiệm luôn chức vụ chính trị của Cao ủy nữa. Nghĩa là ông ta thay Tướng Carpentier lại vừa thay Cao ủy Pignon. Đó là một hình thức tốt, bởi vì trong chiến tranh sự chia xẻ quyền hành thường gây ra nhiều trở ngại không mấy tốt đẹp. Ngày 17 tháng chạp, ông ta đến Sài Gòn cùng với toàn thể bộ Tham mưu. Cũng trong thời gian ấy, Việt Minh loan tin Hồ Chí Minh sẽ ăn tết ở thủ đô Hà Nội.
Tướng De Lattre đến với danh tiếng là người rất khó khăn. Tôi nghe trong các cơ cấu đầu não là lại có một luồng gió mới của sự hoang mang thổi đến. Nhiều người tìm cơ hội để trở về Pháp, họ đã sắp sẵn hành trang. Người ta cũng nói đến một số đề nghị. Trước khi rời Paris, Tướng De Lattre đã đi thăm tất cả những ai đã hay đương có liên hệ đến Đông Dương, từ De Gaulle đến Decoux, và ông ta nghe như đã tuyên bố:
- Chủ tịch (Liên hiệp Pháp) Albert Sarraut từng khuyên tôi nên tận tình giúp đỡ Hoàng đế Bảo Đại, vì Ngài là Vua chân truyền của dân tộc, cần phải giúp đỡ Ngài trong việc trị quốc, nhất là giúp Ngài thành lập dần dà một đạo quân hoàn toàn Việt Nam để có thể thay thế chúng ta chiến đấu chống lại Việt Minh.
Sự kiện ấy làm tôi chú ý. Ông tân Cao ủy muốn cùng tôi cùng chung ý kiến. Như vậy, điều mà tôi không bao giờ đạt được cạnh Tướng Carpentier và ông Pignon thì có thể tôi sẽ đạt được với ông chăng: Đó là việc thành lập nổi một đạo quân hoàn toàn Việt Nam. Vậy tôi không nên cứng rắn với ông quá đáng, mặc dù vẫn phải cần tỏ cho ông hiểu chính tôi là Quốc trưởng. Ông ta đến đây với rất nhiều sự hiểu biết sai lầm. Trước hết, do các sĩ quan luôn luôn bị ám ảnh bởi nước Tàu, mà quên mất bọn Việt Minh. Sau đến bọn công chức hành chính Pháp. Ông ta đã đem hai viên chức kỳ cựu của Toàn quyền Decoux là ông Gautier và ông Aurillac. Tôi biết rõ vị thứ hai này, khi ông ta còn ở Huế dưới thời Khâm sứ Graffeuil. Bọn này chẳng hiểu gì về tình hình trong năm năm qua. Có thể họ đã nói xấu tôi cạnh De Lattre, tả tôi như một thứ kỳ đà cản mũi, chỉ biết phá ngang.
Chẳng lâu lắm tôi hiểu hết. Muốn ra Hà Nội vào dịp ngày 19 tháng chạp, kỷ niệm của Việt Minh, De Lattre đã dừng lại vài giờ để lên Đà Lạt chào tôi. Bề ngoài thì thế, nhưng có dụng ý bề sâu nữa.
Đại tướng De Lattre tất nhiên là một người mã thượng. Chúng tôi rất tương đồng. Tôi cảm thấy ngay tự phút đầu có nhiều sự hiểu lầm của ông về tôi đã được giải tỏa. Tuy nhiên ông vẫn còn nhiều kiêu ngạo, như vẫn chẳng được gọi là Vua Jean đấy ư? Sau bữa ăn, câu chuyện hiện ra rõ rệt.
- Thưa Hoàng thượng, tôi đến đây để củng cố nền độc lập cho Ngài, và tôi chẳng phải là một tay thực dân. Ông ta nói với tôi như vậy. Tôi ước mong rằng sẽ được trông thấy một nước Đại Việt Nam, xứng đáng với các bậc tiên đế của Ngài.
- Thưa Đại tướng, người miền Bắc Việt Nam đã hiểu rõ tôi.
Thế là vị Cao ủy cho thấy một dụng ý. Trên chiếc máy bay ra Hà Nội có Trần Văn Hữu mà ông ta đã kéo theo, cùng với đoàn tùy viên của ông ta. Dụng ý đã rõ rệt, theo đúng câu châm ngôn cổ là “chia để trị,” và Tướng De Lattre muốn chơi trò bắt cá hai tay. Người ta lập tức hiểu ngay đã có kẻ lưu ý ông ta Chính phủ Sài gòn và Chính phủ Đà Lạt…
Làm ra bộ cấp tốc, bỗng nhiên ông ta nói với tôi:
- Thưa Hoàng thượng, chiều nay tôi sẽ ở Hà Nội, và tôi sẽ duyệt binh vào ngày kỷ niệm 19 tháng chạp của Việt Minh. Xin Hoàng thượng đi với tôi. Chúng ta sẽ cùng xuất hiện trước dân chúng miền Bắc Việt Nam và Hoàng thượng sẽ cùng duyệt binh với tôi.
Tôi trả lời tức khắc:
- Thưa Đại tướng, chúng tôi hoàn toàn tin tưởng nơi Đại tướng. Tốt lắm, đi theo Đại tướng trong trường hợp này là một sự vụng về mà chúng ta đều hỏng việc cả hai. Tôi thì mang tiếng là tù nhân của Đại tướng, còn Đại tướng thì giảm hết giá trị của mình. Vì vậy, tôi không theo Đại tướng ra Hà Nội.
Ông ta không tỏ vẻ gì là thất vọng, cũng không nói một lời, và rút lui. Chắc hẳn ông ta đã hiểu rằng tôi rất khó bảo như người ta đã nói với ông. Để đánh dấu quyết định này, ngay chiều hôm ấy, tôi đến biệt thự thứ hai của tôi ở Ban Mê Thuột.
Là võ tướng, De Lattre phải tỏ ra xứng đáng đứng đầu quân đội. Đó là sự cần thiết nhất là Cao ủy, ông cần phải có nhiều cuộc tiếp xúc để tăng cường cho uy tín cá nhân. Ông phải đóng đủ các vai trò trên sân khấu, dùng sự lịch sự khả ái để chinh phục, cũng như sự nghiêm khắc, tạo nên những tiếng vang, hầu nuôi dưỡng huyền thoại. Ông bị dính liền vào sân khấu.
Sự đó khác xa với vì Thiên tử. Trong văn hóa cổ truyền ở nước tôi, tính chất thiêng liêng của ngôi vua, không cần phải trình diễn kiểu ấy. Ngược lại, tính chất thiêng liêng này nằm trong sự huyền vi. Khi Hoàng đế đi qua, thì thần dân cúi đầu, nhắm mắt. Quyền năng của vị Thiên tử tỏa ra từ cung cấm cô đơn, sau bức bình phong tịch mịch.
Tướng De Lattre cần phải hiểu sự dị biệt đó. Nhưng chúng tôi mớỉ chớm vào có một chút ban đầu, và tôi không mong muốn một sự đổ vỡ. Ông Cao ủy là một người thuộc chủng tộc khác với các vị tiền nhiệm của ông ta. Ông có thể rất quí báu cho Việt Nam. Mặc dù cố gắng giữ điều cách biệt, tôi cũng không nên chứng tỏ là một kẻ địch mà là một đồng minh, mà ông ta có thể được coi trọng ngang hàng.
Dịp may đã đến vào mấy ngày sau, khi ký thỏa hiệp Paris ở Sài Gòn ngày 23 tháng chạp. Tất nhiên, thỏa hiệp đã được ký kết tại chỗ do đại diện của chúng tôi ký ngày 12 tháng chạp, nhưng chúng tôi còn thiếu một chữ ký nữa. Ngày hôm đó, Tướng De Lattre ở bên phải tôi, Trần Văn Hữu ở bên phải Bộ trưởng Letourneau. Thành ra đã có sự vô tình quí báu, nằm trong ngôn ngữ ý nhị của ngoại giao
Chưa tới một tuần sau, đây là một tiếng sét. Như Hồ Chí Minh đã loan báo trước, các sư đoàn của tướng Giáp đánh vùng đồng bằng. Sau một trận nghi binh đánh cạnh biên giới Trung Hoa ở Tiên Yên, cuộc tấn công được nổ ra ở chân núi Tam Đảo. Trận chiến Vĩnh Yên bắt đầu. Tôi để cho De Lattre trọn quyền quyết định.
Ngày cuối năm, trước khi ra Bắc mà tình hình rất nghiêm trọng, ông ta tìm tôi ở Ban Mê Thuột. Tôi tiếp ông ta ở bên lầu thủy tạ. Ông Cao ủy lại trở lại vấn đề muốn lôi kéo tôi, ông nhất định mời tôi đi cùng với ông ta. Tôi vẫn từ chối. Để chứng tỏ rằng tôi không lầm, trước khi chia tay, tôi hỏi ông ta nghĩ sao về Trần Văn Hữu, nếu ông này cầm đầu chính phủ. Ông ta trả lời một cách lơ là, nhưng tôi cảm thấy là sự nghi ngờ đã đúng. Viên Cạo ủy không muốn ai đoán trước được ý định của mình…
Buổi sáng ngày 17, tướng Giáp ra lệnh rút lui, và dồn quân về phía bắc. Hồ Chí Minh không được ăn tết ở Hà Nội. Chiến thắng ở Vĩnh Yên đã đạt, và đây là chiến thắng đầu tiên của Đại tướng De Lattre ở Đông Dương.
Hai hôm sau, ông ra tìm tôi ở Huế, mà tôi mời ông ta đến dự một buổi lễ dành cho tổ tiên tôi. Ông đã đi cùng với bà De Lattre, mới sang Việt Nam. Tất cả ngoại giao đoàn có mặt ở Việt Nam đều đông đủ, nhất là ông Heath, Đại sứ của Hoa Kỳ. Tôi hành lễ bằng phẩm phục đại trào. Tướng De Lattre theo dõi cuộc hành lễ với tất cả sự chú ý. Các quí khách sau đó được đưa đến cung của Đức Thái hậu để dự yến. Vị quí khách của tôi không biết cầm đũa. Sau một sự cố gắng mà không đạt, ông ta đành lấy đồ ăn để trước mặt mình bằng một chiếc tăm. Đức bà Thái hậu trông thấy sự lúng túng này, nên cho đem lại cho ông một chiếc nĩa và con dao nhỏ.
Sau bữa ăn, ông phải đi ngay Hà Nội, nhưng đã kéo tôi ra một chỗ vắng, ông cố gắng nài nỉ:
- Thưa Hoàng thượng, xin Hoàng thượng theo tôi ra Hà Nội. Cuộc chiến thắng ở Vĩnh Yên tôi xin dâng Hoàng thượng. Chúng ta sẽ đến tại chỗ để ngợi khen binh sĩ và chia xẻ với họ sự chiến thắng này.
Chống lại tất cả sự đợi chờ, tôi vẫn từ chối. Ông Cao ủy đã sửa soạn sẵn cho trường hợp này: Vậy thì Trần Văn Hữu sẽ đi Vĩnh Yên để nghe chính người dự trận trình bày cuộc chiến. Chắc chắn, hai tên nịnh thần Gautier và Aurillac vẫn tiếp tục bầy mưu tính kế cho De Lattre… Chúng thúc đẩy viên tướng này nên dựa vào Trần Văn Hữu để cân bằng ảnh hưởng của tôi. Tôi cần phải chứng tỏ xem ai mới thật sự là chủ ở Việt Nam, và cầm quyền thật sự tại đây.
Nhân dịp ngày Tết, vào ngày 6 tháng 2 tây, tôi gửi cho dân chúng Việt Nam một bức thông điệp.
Sau khi nhắc lại những chặng đường đã qua trong năm, tôi nhấn mạnh đến nền độc lập vừa thu hồi được, giúp cho nước nhà tự đảm trách lấy nền cai trị của mình. Tôi công bố một chương trình chính trị, xã hội, kinh tế mà chúng tôi cần phải thực hiện trong những tháng tới:
“Trên địa hạt chính trị, khẩu hiệu là Bảo tồn. Bảo tồn lý tưởng cổ truyền Việt Nam ở trong nước, bảo tồn đất đai của quốc gia đối với những đe dọa bên ngoài.
“Tôi xin cám ơn tất cả mọi người đã có công, trong hành động, mặc dù gặp nhiều khó khăn to lớn, để gìn giữ và tranh đấu cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam. Tôi cần phải nói thêm rằng, kể từ nay, nước Việt Nam cần phải mở rộng chính phủ trong mọi địa hạt cai trị, từ xã hội, chính trị đến địa hạt chuyên môn. Ban hành pháp trung ương cần phải sáng suốt, đối với nhiệm vụ quốc gia cũng như đối với tinh thần phục vụ công ích.
“Chúng tôi thật sự đang cương quyết bảo tồn nếp sống ngàn xưa của chúng tôi trong đời sống cá nhân và tập thể.
“Trên địa hạt hành chánh, chính phủ cố gắng đem lại mọi nỗ lực vào việc vãn hồi trật tự.
“Quốc gia Việt Nam đã cử đến ba miền ba vị Thủ hiến để thay mặt mình. Như vậy, các sáng kiến địa phương, tại miền Bắc, miền Trung và miền Nam, có thể được trình bày thẳng lên trung ương, để chính phủ có thể giải quyết mọi việc mà bảo tồn được tính chất chính đáng, đặc biệt của địa phương mình…
“Trong những khu vực xã hội, có nhiều công nhân được các hãng, xưởng thu hút, quy chế công nhân khá cao, thường cao hơn ở các nước lân bang, quy chế ấy, cần được bồi bổ và củng cố. Việc áp dụng toàn diện, y như hệt, sẽ được tất cả các nhà kinh doanh tiếp tục thi hành.
“Nhưng mọi tiến bộ xã hội, chỉ thực hiện được qua những trách nhiệm hỗ tương. Một mặt, thợ được tự do ra vào nghiệp đoàn, mặt khác các nghiệp đoàn phải có sự hợp tác liên tục và bắt buộc với nghiệp đoàn của chủ, hầu cố một hoạt động hoàn toàn xã hội.
“Cuối cùng, việc đảm bảo tiền tệ là một điều chính của chương trình. Chính phủ là kẻ thù nhất định của sự phá giá tiền tệ, nó luôn đánh vào giới thợ thuyền, công tư chức bằng cách làm giảm đông lương thực sự của họ.
“Sự tiến bộ xã hội, phải phù hợp với sự phát triển kinh tế.
“Việc trang bị kinh tế tốt đẹp cho Việt Nam do viện trợ của Pháp quốc, đang được phục hồi và phát triển.
“Một nỗ lực tức khắc đang được hình thành để đào tạo những chuyên viên cho Việt Nam trên mọi lãnh vực. Các kỹ thuật gia và vốn đầu tư của Pháp cũng như của ngoại quốc rất được hoan nghênh. Nước Việt Nam không phải là cái lò “đốt các vốn đầu tư ấy…”
“Đó là những nét chính của chương trình của chúng tôi, chương trình mà tôi gọi là đất đai màu mỡ.
“Hỡi đồng bào,
“Tôi mong rằng đồng bào sẽ hiểu tôi, khi nói thẳng với đồng bào như vậy.
“Thay vì nhận những lời mừng tuổi đầu năm cổ truyền, tôi muốn đưa ra một chương trình xây dựng, mà những nét lớn nằm trong sự phú cường của quốc gia, hạnh phúc của đồng bào. Những điều mong ước của tôi, chính là điều mong ước của đồng bào. Chương trình của tôi là của đồng bào. Vì thế, tôi mới yêu cầu đồng bào góp phần vào nỗ lực của tôi…”
Chủ tịch Albert Sarraut, do Cao ủy mời, đã đến thăm Việt Nam mấy hôm, rất tán thành bản thông điệp này, và nhất là đối với chương trình mà tôi nhấn mạnh ở trên. Cụ đến thăm tôi ở Đà Lạt, và bảo tôi như vậy.
Thông điệp ấy cũng gây được nhiều cảm tình đối với các cường quốc, nói về Đông Nam Á. Tôi chỉ còn khuất phục Tướng De Lattre nữa mà thôi.
Từ ngày gặp ở Hà Nội Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí, Tướng De Lattre tưởng đã tìm ra được một thứ ngọc Biên Hòa. Không thể chối cãi, viên lãnh tụ Đại Việt này, có thừa hình thái sang trọng đối với viên Cao ủy, có điệu bộ rất lương thiện và thành tích chống Cộng hăng say. Tôi dùng ông ta để đưa Trần Văn Hữu vào vị trí đúng của mình.
Nhưng hai vị này lại không ưng nhau, việc đặt họ cạnh nhau đang gặp thất bại.
Tôi liền sai viên Chánh văn phòng của tôi là Nguyễn Đệ, gửi cho Trần Văn Hữu một công điện, yêu cầu Hữu từ chức Thủ tướng, và cùng lúc đó, lại trao lại cho ông ta nhiệm vụ lập tân chính phủ. Đó là ngày 21 tháng giêng, công tác đạt đích hoàn toàn. Tất cả mọi sự vận động của Trần Văn Hữu đều thất bại. Trong các vị được vời làm bộ trưởng, chẳng ai còn muốn liên hệ với một người mà Quốc trưởng đã bất tín nhiệm, khi yêu cầu ông từ chức. Cuộc khủng hoảng nội các kéo dài, không một triệu chứng gì tiến tới. Thế là Đại tướng De Lattre liền đề nghị với tôi yêu cầu Trần Văn Hữu lấy Nguyễn Hữu Trí làm Phó thủ tướng kiêm nhiệm bộ trưởng bộ Quốc phòng. Đấy là cái bẫy. Thủ tướng Hữu biết như vậy, liền kêu lên là không thể được. Không ai có thể hợp tác được với bọn Đại Việt, họ đã đặt một cái gông lên toàn thể nước Việt Nam. Về phần Nguyễn Hữu Trí, từ khi tên tuổi mình được Cao ủy biết đến, thì ông ta lại lùi bước. Ông lảng xa, tự nấp sau lưng của đảng ông. Họ chỉ đưa ra các quyết định vào những ngày sau.
Để chứng tỏ thiện chí, tôi cho vời Nguyễn Hữu Trí, và khuyên ông ta nên hòa giải với Trần Văn Hữu. Vô ích. Tôi không có tin tưởng gì nữa. Còn Trí cũng không thiết tha gì. Sự đòi hỏi của Đại Việt không thể chấp nhận được. Theo sự tham gia của họ vào chính phủ, họ muốn đưa chế độ vào một xu hướng độc đảng. Tất cả mọi sự hòa giải của Trí với Hữu coi như bất khả thực hiện.
Trí xác nhận với tôi khi từ Sài Gòn lên Đà Lạt:
- Thưa Hoàng thượng, tôi không thể nào hợp tác được với Thủ tướng Trần Văn Hữu. Trong trường hợp đó, tôi xin trở về Hà Nội, đảm trách chức vụ của tôi.
- Theo như việc vừa xảy ra, tôi bảo ông ta, không thể được nữa rồi. Ông không thể làm Thủ hiến, khi ông đã chống lại với Thủ tướng công khai như vậy.
Bỏ vào chỗ của ông ta, tôi đặt Đặng Hữu Chí làm Thủ hiến Bắc Việt, lúc ấy đang giữ bộ Y tế như trong nội các cũ.
Thế là tưởng rằng sẽ ngồi vào chỗ của Trần Văn Hữu, như các bạn ông đã báo cho biết, Nguyễn Hữu Trí cảm thấy như vừa bị gạt. Sự mất quyền của ông đáp ứng đúng điều tôi muốn. Dụng ý của tôi đã đi đúng đường.
Ngày 15 tháng 2, Cao ủy đến Đà Lạt với bà De Lattre và con trai là Trung úy Bernard và rất đông nhân viên của văn phòng. Khi ông đến, tôi mời ông ăn sáng. Ăn xong, ông nói thẳng với một giọng rất thành thực. Ông bảo tôi:
- Không ổn rồi, thưa Hoàng thượng. Tất cả những gì mà tôi dự định, đều sụp đổ. Tôi đã hiểu lầm Ngài. Tôi đã nhầm, tôi đã nhầm hết… Vậy Ngài có muốn giúp cho Trần Văn Hữu lập xong chính phủ?
- Nhưng thưa Đại tướng, tôi cười trả lời ông ta, Đại tướng đã đi sâu vào nội bộ nước Việt Nam. Đại tưởng đã can thiệp trực tiếp vào nền chính trị của chúng tôi, không phải là điều mà các Ngài đã hứa.
Tướng De Lattre cũng cười và đáp, vẻ ngượng ngùng:
- Tôi muốn chơi trò Á Đông, nhưng đã thất bại. Nếu Hoàng thượng muốn, ta bỏ qua đi xóa hết đi, và bắt đầu làm lại từ đầu.
Tôi lặng im, De Lattre tiếp:
- Để chứng tỏ tôi thực tình. Thưa Hoàng thượng, tôi xin vì Hoàng thượng mà xây dựng một đạo quân hoàn toàn Việt Nam, xứng đáng với Hoàng thượng, xứng đáng với nước Việt Nam, một đạo quân tối tân, chưa từng có ở Viễn Đông, và Ngài sẽ là Tổng tư lệnh đạo quân đó.
Lập tức, tôi tin chắc là ông ta thực hiện đúng lời hửa… thế nhưng cần phải năm năm mới có thể đi tới chỗ đó. Đại tướng liền giãi bày:
- Quân đội Việt Nam cần phải đại diện cho ý chí toàn thể dân chúng muốn thắng Cộng sản. Nó cần phải là đạo quân Quốc gia, nghĩa là các chiến sĩ phải từ các tầng lớp nhân dân mà ra, và họ chiến đấu là vì bổn phận chứ không phải vì lương bổng. Quân đội Pháp sẽ huấn luyện và tình nguyện đóng vai chỉ huy, trong khi chờ đợi các cấp chỉ huy người Việt khi đến lượt mình đế rồi lại huấn luyện cho những lớp mới. Như vậy, cứ tuần tự như vậy tiến rất nhanh chóng. Tôi đòi hỏi mỗi một cấp chỉ huy tiểu đoàn tự lập ra một tiêu đoàn Việt Nam trong một thời gian sáu tháng. Như vậy, người ta lập ra ngành võ cho giới thiếu niên Việt Nam, như tôi đã làm từ 1944 cho Mặt trận FFI (Mặt trận Pháp quốc Tự do) của đệ nhất quân đoàn Pháp…
Sau lần nói chuyện ấy, sự liên lạc giữa chúng tôi theo một chiều hướng mới. Chúng tôi nay trở thành đồng minh. Về phần tôi, tôi cần phải giữ sự trao đổi này. Đại tướng De Lattre sẽ cho tôi một đạo quân, tôi phải cho Đại tướng một chính phủ. Chưa phải là một chính phủ của chiến tranh, như ông từng mong muốn, nhưng tôi cần phải giúp đỡ cho Trần Văn Hữu. Ông này biết rằng không có tôi, thì ông chẳng làm gì được. Thời gian đã đến để ông có thể ra thoát sự bế tắc này. Lập tức, kể từ đó, các khó khăn của ông từng gặp, lần lượt rơi xuống. Ngày 21 tháng 2, chính phủ của ông được thành lập (16).
Đại tướng De Lattre đóng đô ở Đà Lạt, trong dinh Khâm sứ cũ, cùng với toàn thể nhân viên của ông. Hàng ngày chúng tôi vẫn gặp nhau. Sau hôm tấn phong nội các Trần Văn Hữu, tôi mở đại tiệc. Đến lúc uống cà phê, chúng tôi ngồi chung với nhau có Tướng De Lattre, ông Aurillac và Nguyễn Đệ.
Cao ủy trở lại vấn đề tham gia chính phủ của Nguyễn Hữu Trí và cách thức mà tôi loại ông ta ra khỏi vị trí Thủ hiến. Tôi dùng dịp này để nói cho ông ta hiểu tình hình trong xứ. Nó không còn giống như thời của nền hành chánh cũ, như hai ông Gautier và Aurillac đã nghĩ. Tôi là Quốc trưởng, chỉ có tôi là giữ quyền hành, và chỉ có một mình tôi thôi… Trong dịp chuyện trò, tôi cũng được Đại tướng hứa là sẽ che chở cho đất “Hoàng triều cương thổ” tức đất vùng sơn cước. Vì vậy mới thành lập ra quân đoàn thứ tư lính thổ, mà quyền chỉ huy giao cho Thiếu tá Lecoq.
Tại Pháp đang có sự khủng hoảng nội các. Sự về Paris của Đại tướng, để tường trình về ba tháng đầu tiên cầm quyền Tổng tư lệnh ở Đông Dương, và để xin thêm tiếp viện, người và vũ khí, phải hoãn lại. Ngày 2 tháng 3, chúng tôi trở về Sài Gòn. Nhân dịp này có đặt đại tiệc. Chủ tịch Albert Sarraut, nhớ đến kỷ niệm cũ, thấy cả một thế hệ mới, đã tỏ ra rất có cảm tình với tôi. Cao ủy cũng đọc một bài diễn văn, chúng tôi sau đó có sự trao đổi riêng tư.
Ngày hôm sau, ở dinh La Grandière (sau này là dinh Độc Lập), trước mặt một số quan khách ngoại quốc, nhất là Đại sứ Heath của Hoa Kỳ, và Đại sứ Gibbs của Anh quốc, đó là sự tấn phong chính thức của chính phủ Hữu. Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Ông Cao ủy tuyên bố trong bài diễn văn của ông như vậy, và ông kết luận, đó là cái mà chúng tôi gọi là “độc lập theo kiểu Pháp...” Đến buổi chiều, bà De Lattre đặt một tiệc trà lộ thiên mà tất cả các nhân vật Sài Gòn đều có mặt.
Sau một thời gian cố gắng quá độ ở Đông Dương, Tướng De Lattre rất mệt mỏi và cần phải nghỉ ngơi mấy ngày. Tôi liền lợi dụng cơ hội để rủ con trai của ông ta, Trung úy De Lattre đi săn cọp. Bernard De Lattre là một thanh niên khả ái và dù có ít tuổi, anh ta đã tỏ ra là một sĩ quan ưu tú. Anh ta sẵn sàng giữ chức chỉ huy một đại đội Việt Nam đang thành hình. Bởi vậy, sau khi hết phép, anh ta sắp lên đường nhận chức ở miền Bắc, tôi đề nghị anh ta vào võ phòng của tôi, mà tôi đang thiết lập. Đại tướng liền trả lời một cách rất cương quyết:
- Khi người ta đã đeo danh họ De Lattre, người ta ở tiền tuyến chỗ đang đánh nhau.
Tôi không nài nỉ nữa. Việc thành lập một võ phòng là vấn đề quan trọng mà tôi chú ý cực độ. Nhiệm vụ của nó là liên lạc trong suốt thời gian đang thành lập đạo quân Việt Nam. Người đầu tiên giữ chức vụ chánh võ phòng là Nguyễn Văn Hinh, một phi công trẻ của Pháp, đã từng dự chiến ở Âu châu trong thời gian từ 1944 đến 1945. Đó là con trai của Nguyễn Văn Tâm. Hinh xuất thân từ quân đội Pháp. Trong thời gian ở Pháp, anh ta lấy một người vợ Pháp. Do tình phụ tử với Tâm, anh ta giữ mối liên lạc với nước Việt Nam. Tôi liền bổ anh ta làm Đại tá Chánh võ phòng. Với Hinh, tôi tìm thấy một cộng sự viên xuất sắc, tận tâm và trung tín.
Tại Pháp, đã hết khủng hoảng nội các. Bác sĩ Henri Queuille cầm đầu chính phủ mới và ông Letourneau vẫn giữ bộ Quốc gia Hải ngoại.
Trước khi về Pháp, tôi mời Tướng De Lattre đến chơi với tôi hai ngày trên du thuyền sông Hương, trong vịnh Nha Trang. Tôi giải nghĩa cho ông ta rất lâu về địa vị của mỗi người mà chúng tôi phải giữ, tôi nhấn mạnh đến chỗ quân đội quốc gia Việt Nam không phải mở cuộc chiến tranh với nước Tàu, mà chỉ để chống Cộng sản… Tôi kết luận:
- Thưa Đại tướng, thật khác lạ với điều mà Đại tướng nghĩ khi mới bắt đầu cầm quyền tư lệnh ở đây. Người bênh vực độc nhất cho nước Pháp, chính là tôi vậy.
Tối ngày 14 tháng 3, ông ta bay đi Pháp.
Ngày 27 thì ông ta trở lại. Một sự đe dọa mới của Việt Minh đang thành hình ở vùng châu thổ sông Hồng. Các sư đoàn thiện chiến của tướng Giáp là 308, 312, 316 đã được báo xuất hiện ở mạn Đông Triều. Nhưng cuộc tấn công hỏng ở Mạo Khê, hai Đại úy Toàn và Thọ nổi bật trong một trận đương đầu oanh liệt.
Cuộc thăm thú ở Pháp của Cao ủy bị thất bại. Ông ta chỉ được một số viện trợ cỏn con. Vì vậy, ông ta muốn gây một tiếng vang tâm lý, và khai thác trên địa hạt chính trị một điểm thất bại của Việt Minh. Ông ta báo tin tôi biết, mà Tướng Salan phó tư lệnh của ông ta tự tay đem đến Đà Lạt trao cho tôi. Tôi yêu cầu vị này chuyển sự đồng ý hoàn toàn của tôi cho Tướng De Lattre được toàn quyền hành động.
Tất cả chính phủ Việt Nam do Trần Văn Hữu dẫn đầu, đều đến Vĩnh Yên, coi như nơi điển hình của sự thất trận của Hồ Chí Minh. Tại đó, trước mặt các viên chức văn cũng như võ, De Lattre nói với các vị bộ trưởng vào chiều ngày 19 tháng 4:
- Thật là một sự vui mừng lớn cho tôi, được đưa các quí vị tới đây, như tôi đã từng đưa quí vị trước kia, ra mặt trận, mà lực lượng quân đội Việt Pháp đã thắng trận, để tôi có thể kể lại trên đất này, một chiến công của trận đánh, để được trình diện trước quí vị những binh sĩ đã từng thắng trận, và để cho quí vị trông thấy công tác đang thực hiện để bảo vệ đồng bằng. Trên phần đất Việt Nam này, giữa binh sĩ của Liên hiệp Pháp, thưa ông Thủ tướng, thưa các ông Bộ trưởng, quí vị đã hai lần đang ở trên đất nước mình…
Chiến thắng đạt được ấy, là nguồn hy vọng lớn lao của nước Việt Nam. Nó chứng tỏ giá trị và sự hữu hiệu của binh sĩ của xứ sở của quí vị. Trường hợp đau thương của cuộc chiến tranh này, đã làm nổi lên những đức tính cao quí và giá trị của dân tộc quí vị đang tô điểm trang sử vẻ vang của dân tộc, và giúp đỡ họ trong cuộc chiến đấu họ phải đương đầu trong hàng thế kỷ để giữ lấy sự tự do của nước mình. Tất cả các binh sĩ Việt Nam từng nổi bật ở Vĩnh Yên, ở Mạo Khê, ở Bến Tắm, chứng tỏ lời tôi nói, đặt niềm tin vào nước Việt Nam ngày mai, bởi vì thanh niên Việt Nam phục vụ ngày hôm nay dưới sự chỉ huy của sĩ quan Pháp, cũng vẫn là giới trẻ Việt Nam sẽ phục vụ trong quân đội Việt Nam. Nó chứng tỏ trước mắt thế giới, là sự cuồng tín Cộng sản chẳng phải nắm giữ độc quyền về can đảm, và nắm được chìa khóa của mọi thành công… Sự vui mừng của tất cả chúng ta, là được trông thấy những người lính Việt Nam ấy, mỗi ngày mỗi nhiều, từ các tỉnh, các làng, đổ xô vào quân đội Việt Nam, đang hình thành và đặt then chốt vào cán cân chiến đấu cho tổ quốc mình thêm nặng và giá trị. Quân đội của Liên hiệp Pháp của chúng ta, thưa ông Thủ tướng, đã đủ sức đảm trách nhiệm vụ thiêng liêng của sứ mạng, nước Việt Nam là cột trụ chiến lược ở Đông Nam Á châu…
Tôi đến đây là để hoàn tất nền độc lập của quí vị, chứ không phải để hạn chế nền độc lập ấy. Quân đội Pháp chỉ tới đây để bảo vệ nó…
Thế rồi, sau khi nhắc lại trong trường hợp nào, nền độc lập này được thực hiện, Đại tướng De Lattre đã nhắc đến một đoạn tuyên ngôn của tôi đọc trong dịp Tết về chương trình mà tôi muốn thực hiện, ông tiếp:
- Những sự hoan nghênh nồng nhiệt mà thưa ông Thủ tướng, ông Thủ tướng đã nhận được của dân chúng, đến chào mừng ông, chứng minh một cách hùng hồn rằng dân chúng ủng hộ và đặt niềm tin vào Ngài cũng như mọi sự hoạt động của Ngài. Không có lý gì mà tiếng vang của sự hoan nghênh ấy, lại không vượt quá làn ranh này sang phía bên kia. Qua làn ranh giới này, chỉ vài cây số khỏi đây thôi, nhiều người đã đau khổ. Phần đông, họ bị giữ trái với ý muốn của mình, trong gọng kìm của khủng bố. Có một số đã tin vào lời tuyên truyền bịp bợm, và đã chọn một con đường xấu để thực hiện những nguyện vọng sâu xa của dân tộc Việt Nam.
Những nguyện vọng ấy, chính phủ của Ngài, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đức Hoàng đế Bảo Đại, đã đạt được bằng một con đường khác. Nước Việt Nam đã tự do, nước Việt Nam đã độc lập. Nước Việt Nam độc lập, nước Việt Nam là chúa tể của mình. Nước Việt Nam đứng vào khối các quốc gia dân chủ thân hữu, để được giúp đỡ trong tương lai, một khi hòa bình lập lại, là một nước sung sướng và thịnh vượng. Thật không có lý gì mà người Việt Nam lại không ý thức như vậy, và đứng vào hàng ngũ kháng chiến chính đáng, hàng ngũ của tự do chống lại độc tài và đàn áp, dưới sự lãnh đạo của Đức Hoàng đế Bảo Đại và của chính phủ của Ngài.
Được khuyến khích, Trần Văn Hữu hăng hái lao mình. Trong phần đáp từ, ông xác nhận:
- Trong khung cảnh của tấn bi kịch này, tất cả mọi việc, hàng ngày đều làm cho mọi người nghẹt thở. Tôi xin nhắc lại công khai và long trọng rằng chính phủ của tôi, và toàn thể dân chúng Việt Nam đặt niềm tin vào Đại tướng trong công cuộc chống kẻ thù chung này. Tôi nói thật sự rằng đây là kẻ thù, bởi cái họa đang buộc chúng tôi phải đương đầu này, không cho phép chúng ta được trì hoãn đối với những xảo quyệt mà chúng ta phải trả giá đắt bằng máu xương của thanh niên Việt Nam, và cả xương máu của thanh niên Pháp nữa. Liệu họ có thể nói rằng, họ là ái quốc được nữa không, khi mà họ đã tự đặt dưới sự điều khiển của ngoại bang, để tuyên truyền cho một lý tưởng mà hễ mở mồm ra là chối bỏ tổ quốc và dân tộc. Như vậy, thật không còn nghi ngờ gì nữa, Việt Minh là kẻ thù của dân tộc, Việt Minh không thực hiện nguyện vọng của dân chúng, mà nó muốn đặt dưới sự độc tài đô hộ của ngoại bang…
Tiếng vang về ngày hôm ấy thật to lớn, chẳng những ở Việt Nam mà còn ở khắp Ẩ châu, và cả ở Hoa Kỳ nữa. Tất nhiên, tại Pháp tiếng vang ấy rõ ràng hơn cả.
Vị Tổng tư lệnh quân đội của tôi
Luôn luôn tôi phải đương đầu với hai nỗi lo âu này là: sự đe dọa của quân Tàu ở biên giới và sự đe dọa của Cộng sản ở trong nước. Thế mà tôi không thể quên rằng giải pháp Pháp - không phải giải pháp Bảo Đại như người ta thường nói rất nhiều - vốn hạn chế tôi trước kia. Người ta đã làm tôi mất rất nhiều thời gian quí báu, để tổ chức quân đội của tôi. Vì vậy, không phải là không tốt lành gì mà lao đầu hết mình vào công tác, vì tôi cần phải chống đỡ vị trí của tôi cho tương lai. Tôi chỉ còn một giải pháp duy nhất: lợi dụng thời cơ này đến mức tối đa, cho thật nhanh chóng, Đại tướng De Lattre đã giúp tôi một thời hạn mà tôi cần phải sử dựng trên địa hạt chính trị.
Ngày 7 tháng 5 năm 1951, Đại tướng đã ngồi với tôi trong suốt một ngày. Chúng tôi đặt nền móng cho sự phòng thủ vùng sơn cước, đối với các sắc dân thiểu số. Tôi cho rằng đây là điểm rất quan trọng. Hai hôm sau, Cao ủy sang Singapour để dự một hội nghị quân sự tay ba với người Mỹ và người Anh, cho tới ngày 20, để bàn về các vấn đề Đông Nam Á. Khi ông trở về, ông có cảm tưởng là chưa để lỡ mất thời gian. Trong cuộc thảo luận này, ông đã có thể chứng minh sự cần thiết về đoàn kết giữa ba nước, nước Pháp, nước Mỹ và nước Anh, đối với những sự len lỏi của Nga Sô và của Trung Cộng, giúp cho các phong trào Cộng sản địa phương hành động.
Ngay sau khi ông trở về, ông phải đương đầu với một trận tấn công mới của Việt Minh, bắt đầu nổ ra vào cuối tháng trong suốt vùng sông Đáy. Hai sư đoàn 304 và 308, mà tướng Giáp đưa vào trận chiến, sau một cuộc đụng độ nẩy lửa, bị bắt buộc phải tan vỡ và bỏ chạy. Trong trận này, Trung úy Bernard De Lattre bị tử trận ngày 30 tháng 5 trên đỉnh núi ở Ninh Bình.
Tôi vội gửi điện phân ưu cùng với Đại tướng De Lattre. Tôi biết ông đang bị xúc động mạnh, vì Bernard De Lattre là con trai độc nhất của ông. Cũng do sự yêu cầu của con ông một phần, mà ông ta đã nhận lời sang nhận chức ở Đông Dương và bây giờ ông có cảm tưởng, đã không bảo vệ được chính con ông. Tôi liền truy cấp Long Bội tinh cho Trung úy Bernard De Lattre với lời tuyên dương như sau:
“Sĩ quan ưu tú, chết ở sa trường ngày 30 tháng 5 năm 1951, trong trận đánh ở Ninh Bình, để bảo vệ Liên hiệp Pháp, đã làm rạng danh những truyền thống tốt đẹp của nước mình, quân đội mình và gia đình mình. Do sự hy sinh anh dũng, đã mang một minh chứng cao quí và chặt chẽ về mối liên kết bình đẳng giữa hai nước Pháp và Việt. Đã lưu lại một tấm gương sáng láng cho giới thanh niên can đảm của hai quốc gia, và cho các người kiêu hãnh, không còn ngờ vực gì về sự bảo vệ tự do và tổ quốc chính là một hy sinh tối thượng của con Ngài”.
Đại tướng gửi cho tôi vài câu trả lời để cám ơn, trong đó có toát ra mối lo âu của ông, là đẩy tất cả tầng lớp nhân dân trên toàn quốc vào cuộc chiến, điều mà tôi vẫn mong muốn:
“Vâng, Bernard có thể là đại diện ưu việt của giới thanh niên Pháp. Nó là sĩ quan thứ 59 tốt nghiệp khoa học ở Saumur, chết ở chiến trường Việt Nam, và là người con thứ 18 của các tướng lãnh Pháp. Nhưng nó không thể nào đại diện cho giới thanh niên ưu tú Việt Nam được. Bọn này ra ngoại quốc, nhưng không phải là để ra trận. Nếu các sinh viên của quí quốc có ra trận thì đó là trong hàng ngũ của Việt Minh. Họ là con cái của dân chúng, các tiểu điền chủ mới ra trận, và đánh rất hay. Con của chúng tôi không thể nào đại diện cho giới thanh niên ưu việt Việt Nam được”.
Một hôm đau đớn đến tột cùng, ông bảo tôi:
- Thưa Hoàng thượng, con trai Bernard của tôi không phải chết cho nước Pháp. Thế mà trên mộ bia của nó, lại đề là như vậy. Như thế là không đúng. Nó chết ở Ninh Bình, Bernard đã chết cho nước Việt Nam.
Kể từ ngày chết của Bernard, tôi nhận thấy ở Đại tướng có một biệt nhãn đối với tôi. Bởi con ông chết cho nước tôi, tôi thấy ông càng quan tâm đến nhiệm vụ đã dành cho ông. Đối với cá nhân tôi, sự gắn bó ấy như nhiễm tình phụ tử. Bất cứ trường hợp nào, ông cũng đứng về phía tôi, và tìm cách dung hòa mọi dị biệt. Ông đã nhìn tôi như nhìn vua Albert đệ nhất của nước Bỉ, lúc nào cũng cầm quân ra trận. Tôi cũng là một vì vương rong ruổi sa trường, và như các Hoàng đế của Việt Nam cổ xưa, tôi sẽ thân chinh, cầm đầu quân đội. Ông chỉ muốn là vì nguyên súy, được ủy nhiệm mà thôi…
Tình cảm ấy đã do ông bộc lộ ra, qua bài diễn văn dài, đọc ngày 11 tháng 7 năm 1951, trong dịp phát thưởng ở trường Trung học Chasseloup Laubat tại Sài Gòn. Qua các sinh viên đang đứng trước mặt ông, lời nói của ông như để gởi cho tất cả các giới thanh niên toàn quốc.
“Đã có nhiều lúc nghiêm trọng của lịch sử các dân tộc, mà giới thanh niên vốn là tương lai của đất nước vẫn phải nắm lấy hiện tại ngay tự bây giờ. Khi một quốc gia đang ngồi dưới bóng tử thần, thì giới thanh niên như bông hoa hàm tiếu vẫn nở đúng lúc giao thừa trong ngày tết, cũng phải biết nở ra đúng dịp để mang lại kết quả tốt đẹp trước khi lại thầy ánh bình minh ló dạng”.
“Phải chăng đó chính là trường hợp ở đây? Từ mảnh đất cổ xưa của Việt Nam, từng chịu mang bao cuộc xâm lăng, tôi như nghe thấy từ chốn mịt mù đen tối của dã man tàn bạo, lời kêu gọi dành cho giới thanh niên đầy nhiệt huyết… Và tôi đây đã từng biết và từng yêu giới thanh niên ở khắp mọi nơi, tôi nói rằng thanh niên ở đất nước này có thừa khả năng đề tin cậy, và đáp ứng nổi những nhu cầu của lịch sử, Thanh niên mẫn cán và hăng say, khôn khéo và kiêu hãnh, đầy tham vọng và đầy nhiệt huyết, vốn đã từng được chứng minh qua từng thể kỷ, thanh hiên rất nhạy cảm, sẵn sàng nghe tiếng gọi của đại nghĩa; thật sự, thế hệ thanh niên đang trưởng thành này ở Việt Nam, đã có tất cả những đức tính đặc biệt mà hiện tại vô cùng khẩn trương đang đòi hỏi sự có mặt tức khắc…
“… Đó là chiến tranh, hãy tỏ ra xứng đáng là con người. Nghĩa là nếu anh là Cộng sản, hãy bỏ ra theo với Việt Minh. Nơi đó, có rất nhiều kẻ chiến đấu gan dạ cho một ý đồ xấu, nhưng nếu các anh là những người yêu nước, các anh hãy chiến đấu cho Tổ quốc và dân tộc, vì cuộc chiến này là của các anh. Nước Pháp chỉ đến đây để giúp các anh, với điều kiện là các anh phải đi với họ”.
Tiếng nói của Đại tướng còn vang bên tai tôi, với một giọng chứng tỏ đã có sự liên hệ thật chặt trong sự đau thương của tâm hồn ông, với linh hồn của dân tộc tôi.
“Các anh là thanh niên trí thức của Việt Nam. Các anh phải đòi cho được đặc ân ưu tiên ra trận. Thiện chí vô biên của dân tộc Việt Nam đang chờ đợi nơi anh. Nó đòi hỏi sự nhập ngũ và chí hướng của các anh. Các anh không có quyền làm cho nó thất vọng. Hãy nhớ câu này của Khổng Tử: “Trái lòng dân là trái lòng trời”.
“Các anh có thể là hạt muối trên cõi đất này. Khốn nạn thay cho hạt muối ấy, nếu nó nhạt phèo: Khi mà một quốc gia bị phản bội bởi giới trí thức, nó sẽ chết hoặc phải thay bằng lớp trí thức mới khác. Tôi nói với giới thanh niên đang trưởng thành ở Việt Nam: Hãy thuộc nằm lòng câu nói bất hủ đã trở thành châm ngôn của một tay lãng tử từng kêu lên trước Quốc hội Ba Lan: ‘‘Tôi muốn sống trong nền tự do đầy nguy hiểm, còn hơn sống trong thanh bình của nô lệ”. Vào giờ phút long trọng của số phận Á châu này, hành động mà lịch sử chờ đợi ở các anh đã vượt quá tầm vóc quốc gia của nước anh. Nó phải đáp ứng được nguồn hy vọng âm thầm của hàng triệu con người, sẵn sàng phải chịu ách Cộng sản như một định mệnh phũ phàng. Tự tay anh, mà mai đây, có những con người thoát được nạn khủng bố của “Đế quốc Bắc phương”, có thể reo lên ở biên giới Việt Nam, như năm 1789, những người khách phương xa đến biên giới Pháp đã từng reo: Đây bắt đầu đất của tự do.
“Tất cả các anh đây, tất cả, các anh được tự do lựa chọn đường lối của mình, hoặc theo con đường hướng thượng, là con đường của danh dự, của bổn phận và của nỗ lực, hoặc theo đường đi xuống, là con đường của bất động của chạy trốn và từ nhiệm… Nhưng đối với các anh, thanh niên trí thức Việt Nam, mà tôi ưu ái như đối với thanh niên nơi quê cha đất mẹ, thời gian đã điểm để các anh bảo vệ lấy xứ sở của mình… Để đi tới ánh sáng của độc lập, còn phải mất nhiều mồ hôi và xương máu, mới có thể gặt hái được những bông hoa quí ấy.
“Vậy thì chỉ có trung thành với lý tưởng do Đức Hoàng đế Bảo Đại tượng trưng mới tìm ra chân lý ấy… Tôi tin rằng nước Việt Nam sẽ được cứu thoát do chính bởi các anh”.
Lời nói sau cùng này, ông muốn được tôi cụ thể hóa, nên mời tôi ra duyệt binh tại Hà Nội ngày 14 tháng 7. Trong dịp này, có hàng tiểu đoàn binh sĩ của quân lực Quốc gia mới thành lập, nên mang tính chất một ngày hội của quân đội.
Tôi nhận lời ra Hà Nội, và ở biệt điện đường Puginier tức Phủ Toàn quyền cũ, mà nước Pháp đã long trọng trả lại cho Việt Nam.
Bên hồ Hoàn Kiếm đã dựng sẵn một chiếc rạp. Tôi ngồi trên bục ở giữa rạp, bên phải có Đại tướng De Lattre, trước quốc kỳ, có hàng quân danh dự dàn chào.
Các thân cận của Đại tướng muốn trong dịp này, tôi vận binh phục để chứng tỏ tôi đang thực sự cầm đầu quân đội. Tôi từ chối dứt khoát, cho rằng vị Quốc trưởng không thể đóng trò như thế được, nó sẽ làm tôi trở thành một thượng khách của Đại tướng. Thử hỏi Clemenceau, khi đến ủy lạo binh sĩ chiến đấu trong các hầm vào Đệ Nhất Thế Chiến, ông có vận binh phục không? Ngược lại, để minh chứng vị trí dành cho mỗi người, ngay đầu buổi lễ, trước quốc kỳ và quân đội nhân danh Quốc trưởng tôi tặng thưởng Đệ nhất Long Bội tinh cho vị Tổng tư lệnh quân đội. Rồi lên xe Jeep cùng với Đại tướng, và Đại tá Hinh, chúng tôi đi duyệt các hàng quân. Tại đây, có đủ các binh chủng của quân đội trẻ của tôi, đã từng hiển danh trong các chiến trường Vĩnh Yên, Mạo Khê và Sông Đáy. Sau đó là cuộc diễu binh, được dân chứng đứng đông đặc hai bên đường hoan hô cổ vỗ.
Tôi ngợi khen Đại tướng, và cảm ơn nồng hậu, về thành quả của ông đã dành cho quân đội và cho đất nước tôi.
Ông Cao ủy nói cho tôi biết sự ngạc nhiên của ông, được trông thấy sự mau lẹ mà các tân binh đã thu lượm được về các căn bản quân sự, cũng như về sự can đảm của họ khi ra trận. Mặt khác, họ cũng thích ứng rất dễ dàng với mọi mặt của chiến tranh. Mới gần đây thôi, người Việt Nam chưa được ai biết đến là một chiến sĩ thiện nghệ. Vì vậy, trong thế chiến thứ nhất 1914-1918 và thế chiến thứ hai 1939-1945 khi sang Pháp họ chỉ được xung vào các đoàn lính thợ. Người Việt Nam nhỏ con, bỗng là thứ bé hạt tiêu, có thể liệt vào huyền thoại, mà không ai dầm khinh nhờn.
Đại tướng De Lattre biết rõ như vậy, và nhiều khi chính ông đã đòi phải trao trách nhiệm cho các sĩ quan Việt Nam. Vì vậy, khi bắt đầu đặt ra các cấp tiểu đoàn, tôi để mặc ông toàn quyền bổ nhiệm các tiểu đoàn trưởng trong giới sĩ quan mới ra trường. Ông chọn hai người là Dinh và Đồng, để trao cho hai tiểu đoàn số 1 và số 2 BVN (tức tiểu đoàn Việt Nam), trong hàng ngũ đó có Bernard De Lattre đã bị tử trận. Tôi thấy cả hai người đều còn quá trẻ, và thiếu kinh nghiệm cho một trọng trách như vậy. Nhưng Đại tướng bảo nên để họ tự tin, và đã có lý. Về sau, cả hai sĩ quan này đều tử trận cả. Trong tinh thần ấy, cũng như trong sự phấn khởi ấy, Tướng De Lattre lại xúc tiến lập sư đoàn thứ 4 lính thổ, để giữ an ninh cho vùng Cao nguyên.
Quân đội Việt Nam tiến vững. Tôi liền cho nổ thêm một sự hăng say nữa. Ngày 16 tháng 7, tôi ra lệnh động viên ở Việt Nam. Tất nhiên là tôi không chú ý đến sự khó khăn mà quyết định này đưa lại. Có thể là do sự thiếu sót về tổ chức hành chánh chưa được hoàn mỹ. Nhưng tôi chú trọng nhất về điểm tâm lý mà vụ này có thể đưa tới. Vì ngoài việc buộc các thanh niên đến tuổi cầm súng để bảo vệ xứ sở, tôi muốn giúp đỡ họ khỏi thắc mắc về vấn đề chọn nghề hay tự nguyện đầu quân.
Quyết định ấy đối với tôi, có tầm quan trọng lớn lao ở trong nước cũng như ở ngoài nước.
Ít ngày sau, Cao ủy bay về Pháp. Tôi hiểu rõ, ông đã quá mệt mỏi do những nỗ lực tung ra kể từ ngày đến đây. Tôi chỉ gặp lại ông ba tháng sau đó.
Trước hôm ông ra đi, tôi đã đưa cho ông một bức thư qua ông Hữu, để ông có thể trình trước chính phủ Pháp.
“Những cuộc đàm phán về hòa bình ở Triều Tiên, không phải là không làm cho dân chúng Việt Nam xúc động, bởi vì nó có thể đưa đến sự tiến công miền Bắc Việt Nam.
“Hội đồng chính phủ, trong cuộc thảo luận dài ngày mùng 6 tháng 7, đã ước lượng rằng, hòa bình xúc tiến được ở Triều Tiên, không phải là chấm dứt được chiến tranh ở toàn châu Á, nếu nó không được sự bảo đảm về phía Cộng sản đối với Việt Nam. Chỉ nước Pháp là có thẩm quyền, khi nhân danh Liên hiệp Pháp trong các hội nghị ngoại giao quốc tế, chính phủ Việt Nam rất tri ân ông Cao ủy, để xin Cao ủy can thiệp cạnh chính phủ Pháp, đạt được lời cam kết trong cuộc đàm phán về hòa bình ở Triều Tiên, liên hệ đến an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam...”
Tiếc thay, khi Cao ủy về tới Pháp thì lại gặp kỳ khủng hoảng nội các. Chính phủ Queuille đổ ngày 10 tháng 7 và mãi đến ngày 10 tháng 8, ông Pleven mới gỡ được các khủng hoảng này. Ông Letourneau vẫn giữ bộ Quốc gia Liên kết.
Đúng trước hôm Cao ủy trở về Pháp, thì chúng tôi được tiếp ở Sài Gòn, vị Thống đốc tiểu bang New York, ông Thomas Dewey. Như phần đông các đồng hương của ông, ông cũng không biết tí gì về tình hình Việt Nam. Vậy mà khi qua Hong Kong mấy hôm trước ông vẫn cứ tuyên bố những điều bất lợi cho chúng tôi. Đến Sài Gòn, tôi tiếp đón ông cùng với Tướng De Lattre. Ông rất lấy làm ngạc nhiên về tình thân thiết giữa Đại tướng với tôi. Trước khi ông đi, ông đã đọc một bài diễn văn đáng chú ý sau đây:

“Tôi đã thấy một quốc gia đang sửa soạn chiến tranh, trong những trường hợp thật can đảm. Nước đó đang được vị đại diện nước Pháp thúc đẩy và nâng đỡ, vị này chẳng những là bạn thiết của họ, mà họ lại còn được coi như ân nhân, mà gần đây, cái tang mà ông ta chịu được coi như tang chung của dân tộc. Tôi phải nói rằng, qua kinh nghiệm suốt một đời chính trị của tôi, tôi chưa từng thấy một trường hợp nào tương tự. Thật là cảm động, đến độ mà chúng ta, người Mỹ chúng ta không tài nào nghĩ tới…”
Rồi trở lại điểm mà Đại tướng De Lattre nói ở hội nghị Singapour, muốn đặt miền Bắc Việt Nam như tiền đồn chống Cộng ở Đông Nam Á, ông kết luận:
“Vấn đề không phải là chia xẻ các ảnh hưởng giữa các nước lớn, hay sự tranh giành kinh tế đối lập, mà là trọng trách phải được trao phó. Tôi đã thấy cái nguyên lý nhiệm màu rồi. Tôi đã trông thấy điếu kỳ diệu rồi, và tôi sẽ nói ở Mỹ”.
Vậy thì đó là luận cứ mà Đại tướng De Lattre có thể sử dụng, và tôi hoàn toàn đồng ý. Ở Việt Nam chúng tôi đang dẹp nội loạn, nhưng chúng tôi cũng bảo vệ chiến tuyến của tự do, trên một bình diện ngang hàng và liên kết. Tại Triều Tiên, người ta đang bảo vệ chiến tuyến của tự do. Vậy thì đó là cùng một trận chiến. Chỉ có một cuộc chiến ở châu Á, và thật vô lý, nếu đàm phán về hòa bình ở Triều Tiên với Trung Hoa, lại không nói với họ về tất cả các nước khác ở Đông Nam Á, nhất là cuộc viện trợ của Tàu cho Việt Minh để đánh chúng tôi.
Ông Cao ủy đã ngỏ ý cho tôi biết là ý định của ông là muốn sang Mỹ, lập luận này rất có ích cho ông cũng như cho Trần Văn Hữu, khi đi dự Hội nghị ở San Francisco từ mùng 3 đến mùng 8 tháng 9, để ký hiệp ước hòa bình với Nhật. Đây cũng là lần đầu tiên mà Việt Nam can thiệp trên bình diện quổc tế. Sự tham dự của nước tôi trong Hội nghị này là điều thắng lợi to lớn cho dân tộc, vì nó củng cố nền độc lập của nước tôi.
Biết rõ người Mỹ rất tôn thờ tự do dân chủ, tôi lưu ý ông Cao ủy cũng như Thủ tướng Hữu về những câu hỏi, mà họ có thể nêu lên với các ông về cuộc bầu cử tương lai. Không phải là tôi chống lại các cuộc bầu cử này, nhưng tôi không mấy chú trọng đến điều đó trong hiện trạng. Có thể, họ sẽ nêu lên đối với Việt Nam, nếu quyết định sẽ là trưng cầu dân ý ở Triều Tiên, để xem dân chúng Triều Tiên thích chế độ nào. Còn vấn đề bầu cử ở đây, thì quả là khôi hài. Người ta đã thấy trong dịp bầu cử ở Lào, có đến 92% dân chúng không đi bầu. Ở Cam Bốt thì đến 70% không đi. Còn đối với truyền thống của nước tôi, cũng như hoàn cảnh hiện tại, cuộc bầu cử chỉ là một con mồi. Nó chỉ dùng để phục vụ bọn Cộng sản. Nếu thật sự người ta muốn phục vụ nền tự đo dân chủ, thì người ta cần phải mang đến cho chính phủ những nỗ lực để thực hiện, như trong bản thông điệp mà tôi từng đọc trong dịp Tết. Tất cả những cải cách ấy, đã được Hồ Chí Minh tung ra, như chia lại ruộng đất, chính trị về gạo, y tế, xã hội, thuốc men… Hiện nay, các cải cách ấy đang được thực hiện. Việt Minh chỉ còn có nước câm lặng mà thôi.
Ở Pháp, các ông chính khách, vắt tay lên trán suy nghĩ có nên bàn lại, nếu ngày mai Hồ Chí Minh đề nghị với chúng tôi một giải pháp hòa bình. Tôi không phải là người bạo động, nhưng quả thật khó mà chấp nhận được. Bởi vì Hồ Chí Minh không những chỉ là kẻ phiến loạn đối với Tổ quốc Việt Nam, mà còn là tay Cộng sản có đường hướng vượt quá biên thùy của nước tôi. Tại Âu châu, người ta có lẽ có cảm tưởng rằng đặt chiến tranh ra ngoài vòng pháp luật. Tuy nhiên, các lãnh tụ Tây phương không thể ngờ được rằng, chiến lược toàn cầu của Cộng sản, chính là một hệ thống quân bình. Hòa bình ở Âu châu thì chiến tranh ở Á châu. Nếu mai đây mà chiến tranh ngưng ở Á châu, hãy tin rằng không thể có an ninh ở Âu châu…
Đại tướng De Lattre đã có định kiến riêng về vấn đề này. Ông không nói thẳng với tôi, nhưng thái độ của ông đã bộc lộ. Ông thường nhắc lại ở khắp mọi nơi: Nước Pháp không có tí quyền lợi gì ở đây cả… Điều mà ông muốn tìm kiếm, chính là một lối thoát, lối thoát trong danh dự, có hàm ý rằng ông muốn nói đến cái ngõ hẹp, mà ông không tin chắc là sẽ tìm thấy. Ông chẳng từng nói với vài tay thân tín: “Theo tôi, nước Nga, nước Tàu, rồi mai đây là Ấn Độ, mai đây nữa khi tất cả chúng tôi đã ra đi, toàn thể Đông Nam Á, tất cả sẽ vĩnh viễn bị nhuộm đỏ”.
Như vậy, phải chăng tôi đã có lý, khi người ta nói đến giải pháp Bảo Đại đã chữa lại là giải pháp của nước Pháp. Nhưng thế thì Việt Nam sẽ ra sao? Một sự thay thế Pháp bằng Hoa Kỳ? Nó cũng sẽ chỉ ngắn hạn mà thôi. Những ai đã kết tôi là bất động, phải hiểu thái độ dè dặt của tôi. Đối với dân tộc tôi, tôi có bổn phận phải biết nhìn xa hơn. Tôi tin chắc tự thâm tâm rằng ngày nay Tướng De Lattre đã hiểu đang phải đương đầu với những gì. Riêng tính chất mã thượng, theo truyền thống Pháp của ông, đã thận trọng không dám hở ra với tôi, và buộc ông phải giữ một thái độ vô cùng hăng say để thúc đẩy tôi, mà ông càng ưu ái với tôi.
Khi tôi chắp vá lại những tin tức phản ảnh thời đại ấy, tôi rất đau buồn về những sự nhận định thiếu tính chất vô tư của những tác giả nông nổi ấy. Chẳng một ai trông thấy cái hiện tượng kỳ lạ đã đưa Tướng De Lattre vào nền độc lập của Việt Nam. Mang một vết thương đau đớn do cái chết của đứa con trai độc nhất, thêm vào nỗi vất vả nhọc nhằn vô bờ, cộng thêm bệnh hoạn, sự trãi đó của hiện tượng này đã đòi hỏi ở Đại tướng một tâm hồn can đảm siêu phàm.
Hiện nay, Cao ủy đảm trách vai trò đi cầu viện tại Hoa Thịnh Đốn. Một nhiệm vụ không mấy được ông ưa chuộng, nhưng ông vẫn hoàn tất theo sự hăng say thường lệ. Ông phải theo đuổi tận Luân Đôn để trình bày nhãn quan sáng suốt của mình: “Bắc Việt Nam là chìa khóa giữ toàn thể hệ thống phòng thủ Đông Nam Á. Để mất Bắc Việt Nam là mở cửa cho Cộng sản tiến đến cửa ngõ Đại Tây Đương”. Chặng cuối cùng của ông là La Mã, mà người ta cho rằng ông đến để xin Đức Giáo hoàng ban phép Thánh cho đoàn quân thánh chiến của ông.
Trong khi ông còn lênh đênh trên tầu L’Ile de France đưa tới Nữu Ước, tôi gửi cho ông một bức điện, tỏ lòng tín nhiệm và sự hỗ trợ của tôi.
“Thưa Ngài Cao ủy, tôi mong rằng trước khi Ngài đến Hoa Kỳ, Ngài sẽ nhận được bức điện tín này tỏ lòng tín nhiệm và ngùôn hy vọng của toàn thể dân chúng Việt Nam.
Chính là vì họ mà Ngài đảm trách sứ mạng này, để bảo đảm cho nền độc lập mà nước Pháp đã trao trả cho chúng tôi.
“Khi làm luật sư đấu tranh cho sự bảo vệ Việt Nam trước một nước lớn, là nước bạn Hoa Kỳ vĩ đợi, Ngài đã tiếp tục thể hiện nền độc lập ấy, được cụ thể hóa ở Vinh Yên, do một đại quân nhân của nước Đại Pháp, mà các chiến thắng lẫy lừng ở khắp chiến trường Bắc Việt, đã cứu thoát nước Việt Nam qua cơn hiểm nghèo, bằng một giá vô cùng đau đớn. Tôi xin tỏ lòng tri ân của cả một dân tộc và sự quyết tâm của họ cho những trận chiến trong tương lai. Những biện pháp động viên mà tôi ra quyết định, do đề nghị của Thủ tướng Trần Văn Hữu và của Hội đồng Bộ trưởng, đã được toàn thể dân chúng hoan nghênh. Họ rất hãnh diện được đặt dưới quyền chỉ huy của một tướng lãnh như Ngài. Tất cả các thanh niên Việt Nam đều sẵn sàng nghe theo lời kêu gọi của tôi để xả thân cứu quốc. Vậy thì với tất cả sự cuồng nhiệt mà quân đội Việt Nam sẽ chiến đấu sát cánh với quân đội Liên hiệp Pháp, để sẵn sàng thay thế lần lượt, theo như phương tiện mà họ được trao cho.
“Thưa Ngài Cao ủy,
Với tất cả sự cầu chúc Ngài thành công trong sứ mạng, tôi xin nhắc lại. Thưa Ngài Cao ủy, lòng ưu ái, sự tín nhiệm hoàn toàn và tình bạn thắm thiết của tôi đến với Ngài”.
Ông đã trả lời tôi như sau:
“Thưa Hoàng thượng,
“… Bằng chứng của sự tin tưởng của Hoàng thượng, đối với tôi thật quí báu trước khi tôi đến Washington, để nói chuyện. Tôi xin chân thành đa tạ Hoàng thượng, đã tỏ ra tín nhiệm và ưu ái đối với tôi. Đối với một người trong sự cô đơn, chỉ tìm thấy lại được tình thân, là do những cảm tình chân thực, sự tín nhiệm và lòng ưu ái ấy thật vô giá”.
Một mặt khác của công tác của chúng tôi. Đại tướng phải làm việc chống lại thời gian, còn tôi thì phải đi đôi với thời gian. Đối với ông, còn biết bao nhiêu sự việc phải hoàn tất mà thời gian quá ít ỏi. Đối với tôi, thì chỉ có một công tác có thể làm được trong hoàn cảnh này, là đặt nền móng cho một nền hành chánh và một quân đội vững chắc, do thế tôi phải tính từng thời hạn của từng sự việc và giá trị con người. Chúng tôi không thể nào hòa nhịp đúng bước của nhau. Sau khi đã cố gắng đi hia bảy dặm để đối phó với những sự việc mà ông cho là trì trệ, sau rốt Tướng De Lattre cũng quen với sự lủng củng đó.
Vì thế, hiện nay chúng tôi đang chú ý vào miền Bắc Việt Nam. Miền Nam Việt Nam bỗng dưng có sự kiện nổi bật vào thời gian ấy. Đó là Tướng Chanson Tư lệnh quân đội ở Nam phần kiêm Thượng sứ Pháp ở Cộng hòa Việt Nam, trong khi đi thị sát tỉnh Sa Đéc, bị một đoàn quân Cao Đài ly khai ám sát. Thủ hiến Nam Việt Thái Lập Thành cũng bị giết cạnh ông ta.
Tôi rất hâm mộ Tướng Chanson. Cựu sinh viên trường Võ bị Polytechnique, ông ta đã tỏ ra can đảm, có sự hiểu biết sâu rộng và tận tụy, nên đã đặc biệt thành công trong sứ mạng. Nhờ ông ta, mà sự bình trị ở miền Nam đạt rất khả quan. Tôi đã gặp ông ta nhiều lần, và bàn bạc với ông ta về nhân vật chỉ huy Nam bộ của Việt Minh, là Tướng Nguyễn Bình.
Trước khi bị tù Côn Đảo, Nguyễn Bình từng ở lâu năm ở Tàu, rồi ở Nga, trước khi nắm quyền tư lệnh quân du kích miền Nam. Uy tín và cá nhân của y đã dựng y lên đối đầu với tướng Giáp mà y đã làm cho lu mờ. Do Bẩy Viễn, tướng lạnh của Bình Xuyên, tôi biết chỗ ẩn náu, và hoạt động của viên tướng độc nhỡn này, và tôi đã đưa cả cho Tướng Chanson. Nhưng Nguyễn Bình vẫn thoát hiểm trong mọi cuộc bao vây. Thế mà ngày 29 tháng 9, Nguyễn Bình bị giết, chắc do một tên trong đoàn hộ tống y, trong một cuộc đụng độ với quân tuần kiểm Cam Bốt bên sông Srepok. Lúc ấy, Nguyễn Bình bị Hà Nội triệu hồi, để trả lời về những hành động lạc hướng Mác Lê của y, do tướng Giáp tố cáo. Cái chết vẫn bị bao trùm trong bí mật, do một sự tranh quyền, thanh toán lẫn nhau… Đối với tôi, tôi ước mong bắt sống được Nguyễn Bình. Dù sao nữa, anh ta đã chết, và cũng không thọ hơn người mà anh ta từng chạm trán nhiều phen là Tướng Chanson.
Cuối tháng 9, tướng Giáp lại mở một cuộc tấn công mùa thu lên thượng du Bắc Việt. Tướng Salan lức ấy quyền Tổng Tư Lệnh quân đội, đã khôn ngoan cho thả quân nhảy dù trong đó có một tiểu đoàn Việt Nam xuống Nghĩa Lộ, là một thị trấn nhỏ ở phía Nam sông Hồng.
Khi Tướng De Lattre đáp xuống Sài Gòn, tất cả đều đã xong xuôi. Ngay khi ông đến, chúng tôi hội đàm với nhau suốt ba giờ liền. Ông kể cho tôi thật tỉ mỉ, cuộc nói chuyện của ông ở Hoa Kỳ, ở Anh quốc, và ở La Mã, đồng thời cho biết tình hình chính trị mà ông ta thấy tại Pháp.
Biết trước rằng, ông lại sắp đi Pháp, sau đó một ngày, là ngày 21 tháng 10, tôi mở tiệc chiêu đãi ông, có đông đủ các nhân vật trong chính phủ tham dự. Đến cuối bữa ăn, tôi ngỏ lời khen thành quả mà Cao ủy đã đạt, nhất là về công tác cuối cùng này. Trả lời tôi, Tướng De Lattre đọc một bài diễn văn rất đáng chú ý:
“Thưa Hoàng thượng, tôi có bổn phận phải báo cáo với Hoàng đế, là Tổng Tư Lệnh quân đội của quân lực Việt Nam, sau khi thi hành công tác…”
Rồi nhấn mạnh từng chữ, như đang đứng kiểu nghiêm chào ông nói:
- Thưa Hoàng thượng, tôi xin báo cáo lên Ngài công tác đã được trao phó. Công tác này với kết quả cụ thể thuộc lãnh vực quân sự, nhưng căn bản chính của nó lại nằm trong chính trị. Bởi vì không một nước nào lại muốn kéo dài vô tận, nỗ lực binh bị, tài chánh và nhân sự, không một nước nào muốn xúc tiến và tăng cường mọi viện trợ cụ thể cho một nước mà cơ cấu chính trị chưa đủ vững và mạnh mẽ. Binh lực riêng rẽ chỉ là một yếu tố trong đại thể, tạo nên sức mạnh, khả năng đề kháng của một quốc gia, y như một võ khí chỉ giá trị khi ở tay người dũng sĩ, vậy thì lực lượng quân sự tùy thuộc vào nền tảng vững chắc của chính trị, do thế viện trợ quân sự phải dựa vào nên tảng chính trị trước tiên…
“Tôi đã đem quyền lực của tôi, để phục vụ theo lòng tin tưởng của tôi, và tôi đã nói rằng Hoàng đế Bảo Đại là biểu tượng, là cây cột cần thiết cho nền thống nhất của Việt Nam.
“Hoàng gia là mối liên lạc vững chãi của đất nước này, vừa rộng lại vừa phong phú đi từ ải Nam Quan tới mủi Cà Mau. Thêm vào đấy, Hoàng gia là sợi giây liên lạc chặt chẽ để thống nhất được toàn thể các sắc dân thiểu số trên đất nước này. Hoàng đế là sự thống nhất, dẹp tắt được tất cả mọi mâu thuẫn, mọi dị biệt chính trị, và mọi sắc thái phong kiến trên toàn lãnh thổ. Ngài là chủ tể quân đội, mà quân đội vốn là lợi khí cũng như ý nghĩa của nền thống nhất trên toàn quốc.
“Tôi cũng đã nói, Hoàng đế là vị tân quân, thừa kế trẻ và tiến bộ của một triều đại cổ, vốn là tinh hoa duy nhất của ngàn xưa của nền Quân chủ Việt Nam, là gạch nối giữa quá khứ với tương lai, đảm bảo cho sự thống nhất toàn quốc, bởi vì Ngài đã đứng lên trên hết mọi giai tầng xã hội, cũng như trên hết mọi xu hướng chính trị. Hoàng đế là biểu tượng cho toàn quốc, đại diện cho khắp mặt thần dân ở Việt Nam.
“… Việc tấn phong nước Việt Nam trên bình diện quốc tế - do đó, tôi đã được cử đi Washington, đi Luân Đôn, đi La Mã - đòi hỏi những điều kiện tiên quyết và nhất định, là sự thể hiện hai điều kiện sau này, hầu có thể tạo được nền thống nhất và sự hữu hiệu của nước Việt Nam: đó là sự tạo thành tức khắc một quân đội quốc gia, và sự đặt nền móng cho một chương trình canh tân rộng rãi, hầu đạt được sự vững chắc của chế độ và hạnh phúc của nhân dân...”
Hôm sau, chúng tôi tiếp Tướng Collins, Tham mưu trưởng Mỹ đến tại chỗ, để nghiên cứu việc sử dụng các đồ viện trợ cho Quân lực Việt Nam. Tướng De Lattre cũng dành một buổi để tiếp vị này, vì chỉ có ông ta mới đủ khả năng hiểu được. Vị tham mưu trưởng Hoa Kỳ ở lại 48 giờ, và trước khi ra về, có xác nhận lại những lời hứa của chính phủ Mỹ với Tướng De Lattre.
Chiều chủ nhật tuần sau, Thủ tướng Trần Văn Hữu đãi tiệc Tướng De Lattre trước khi ông ra Hà Nội.
Trong thời gian này, tôi được biết Thượng sứ Pháp ở Cam Bốt là ông De Reymond bị ám sát chết.
Ngày 1 tháng 11, Tổng giám mục Đức Cha Dooley được Giáo hoàng cử làm Khâm mạng Tòa Thánh tại Việt Nam. Sự công nhận chính thức này của Tòa Thánh Vatican, rất quan trọng, vì Giáo hội Việt Nam cũng như cộng đồng Công giáo toàn thế giới, đều cam kết trong cuộc chiến đấu chung này.
Tại Minh Giảng, ngày 5 tháng 11, Cao ủy đọc một bài diễn văn trước hơn 10 ngàn nông dân. Ông ta nói với họ về những thành quả chính trị đã đạt được:
- Công tác này đã đánh dấu một chỗ ngoặt, công tác của những kẻ đi xây dựng, bởi vì nền chính trị, trong xã hội đang theo đuổi, ở đây đầu tiên phải là căn bản xây dựng. Nhưng công tác ấy, chỉ có thể thực hiện được, do sự hoạt động của Hoàng đế Bảo Đại, người đã thể hiện được nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam.
Trong khi tôi tiếp Cao ủy Anh, là ông Malcolm Mac Donald ở Đà Lạt, thì Tướng De Lattre đến gặp tôi ngày 9 tháng 11. Sau khi dùng cơm với vị thượng khách xong ông ta nói riêng với tôi:
- Thưa Hoàng thượng, tôi phải trở về Pháp chữa bệnh. Vì sức khỏe suy nhược, tôi phải về để chịu một sự giải phẫu, nhưng trước khi tôi đi, tôi muốn đánh một đòn quyết liệt đối với Việt Minh.
Ông cho tôi biết những lời phê bình ông ở Paris, trên lãnh vực quân sự, người ta đã gán cho ông là “bất động”, sự đó càng chứng tỏ các chính khách Pháp đã không biết một tí gì. Ông đã tỏ ra bất mãn với những luận điệu đả kích ông, liên can đến hành động chính trị của ông, nhất là một loạt bài đăng trên báo Le Monde do một ngưòi tên Danielle Hunebelle viết. Tôi cũng không được chừa ra.
Vị Tổng tư lệnh quyết định hành động. Ông nói cho tôi biết chương trình của ông đã được đặt rồi.
- Tôi sẽ cắt đôi lực lượng của tướng Giáp. Cho đến bây giờ, chúng ta chỉ đóng vai thụ động, tùy theo sáng kiến của họ. Nay đến lượt tôi tung đòn ra để xem chúng đối phó cách nào. Mùa khô sắp tới, trường hợp rất thuận tiện. Chúng ta sẽ mở cuộc tấn công ra quá phạm vi đồng bằng…
Trước tiên ông nhắm vào Hòa Bình, một tỉnh nằm ở khuỷu sông Đáy, và là điểm giao liên bắt buộc thông miền Trung với miền Bắc Việt Nam, và với miền Bắc Lào. Đây là điểm mà các đơn vị Việt Minh tiếp tế vũ khí và quân cụ. Đánh chiếm Hòa Bình là đánh một đòn chí mạng đối với địch thủ. Ông Cao ủy lại trông thấy một ưu điểm nữa: Đó là sự giải phóng cho một sắc dân thiểu số, dân Mường, sống ở nơi này, mà sự giải phóng sẽ tạo nên một yếu tố có lợi cho chính phủ. Vì lý do đặc biệt ấy, Tướng De Lattre muốn xung vào trận chiến, một số tối đa các tiểu đoàn Việt Nam.
Công việc có vẻ hấp dẫn, và không mấy nguy hiểm nhiều. Tôi hơi dè dặt, vì tôi biết Việt Minh rất nặng ở xung quanh chốt này. Hơn nữa, tôi lo sợ một tai hại cho dân chúng, thường dân. Biết bao người nhà quê sẽ bị cảnh đạn lạc tên bay trong vụ này.
Cuộc nói chuyện của chúng tôi đã tãi ra trong một bầu không khí hoàn toàn tin cậy. Chưa bao giờ tôi thấy sự thông cảm cùng với Cao ủy đến mức ấy. Ông này đã nói với tôi bằng một giọng vô cùng ưu ái, y như tình ruột thịt của người cha, mà ông đã lưu luyến với tôi, kể từ ngày chết của con ông. Thật sự, Tướng De Lattre chỉ kém cha tôi là Vua Khải Định có bốn tuổi, mà thôi.
Ngay giờ đây, ông như có ý muốn chia xẻ trách nhiệm làm tướng của mình. Bất thình lình, ông kêu lên:
- Thưa Hoàng thượng, tôi quá yêu Hoàng thượng, bởi vì Ngài bí mật.
Tôi hiểu ông muốn nói gì. Cái bí mật kia, không phải đứng trên phương diện tâm tình, người Á Đông, mà ông muốn nhắc đến, mà là cái bí mật của người lãnh đạo quốc gia. Rồi ông vẫn tiếp tục tâm sự với tôi. Ông rất thất vọng đối với nước Pháp. Ông chẳng được giúp đỡ gì. Trong khi nước Mỹ sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi, thì ở Paris, ông lại gặp những sự thiếu thông cảm. Ông muốn phàn nàn, để ám chỉ bọn thực dân ở Sài Gòn đã được các chính khách ở Paris nâng đỡ.
Ông nhắc lại:
- Tất cả bọn ấy, chúng chẳng hiểu gì hết.
Tôi mới lấy giọng hài hước, hỏi lại ông rằng:
- Vậy thì thưa Đại tướng, sao Ngài còn phải nhận lệnh từ Paris nữa? Gần đây, đã có người lập một nước Pháp tự do ngoài biên giới lãnh thổ. Tại sao Ngài không lập một nước Pháp tự do ở Sài Gòn?
Tướng De Lattre nhìn tôi rất lâu, mắt trông rất mơ màng, nhưng không nói gì. Đến chiều, sau bữa cơm, ông lại bảo tôi:
- Cần phải một năm nữa, mớí hoàn thành xong sứ mạng của tôi ở đây… Cái chiến thắng mà chúng ta sẽ thu lượm được ngày mai này, Tổng tư lệnh của Ngài xin dâng Ngài. Và lúc ấy, chúng ta sẽ cùng đến Hòa Bình để thu nhận quyền chiếm lãnh tỉnh đó.
Đây là lần gặp gỡ cuối cùng của chúng tôi vậy.
Ngày 10, cuộc tiến công bắt đầu. Chợ Bến bị chiếm ngay, và với tốc độ đó, ngày 14, quân lực Liên hiệp Pháp chiếm đóng Hòa Bình. Tướng De Lattre đã chiến thắng. Ngày 19 tháng 11, ông bay ra Hải Phòng để về thẳng Pháp từ 29 tháng 11 đến 16 tháng chạp, ông dự Thượng hội đồng Liên hiệp Pháp. Ngày 12, trong dịp dự tiệc có ông Letourneau, và các nhân vật của chính phủ Việt Nam, Lào và Cam Bốt, ông đánh một bức điện để cám ơn tôi đã đến Hòa Bình, như tôi đã từng ngỏ ý. Bức điện ấy vẫn mang một hình thức mà Tướng De Lattre thường dùng để xưng hô với tôi, trước lúc chia tay: “Tổng tư lệnh quân đội của Ngài”. Ngày 19 tháng chạp, Cao ủy vào bệnh viện.
Trước ngày ông đi, tôi đã có một quyết định có tầm quan trọng rất lớn. ít ngày trước đây, Thủ hiến Bắc Việt Đặng Hữu Chí, lấy cớ là sức khỏe kém, xin được thoái lui. Nguyễn Hữu Trí tìm cách để trở lại quyền hành, và các chân tay của ông ta, cánh Đại Việt, loan tin rằng nếu Nguyễn Hữu Trí không được trở về chức cũ thi lại có cách mạng nữa ở Bắc Việt Nam.
Tại miền Nam, tôi cũng phải đối phó với nhóm Đại Việt. Thực tế, tôi phải thúc đẩy, tài trợ, cho một nhóm trẻ để họ len lỏi vào trong đảng này, mà họ gây khó khăn cho mấy lãnh tụ già nua.
Tại miền Bắc, tôi suy nghĩ cách khác. Để thỏa mãn yêu sách của Đặng Hữu Chí, ngày 19 tháng 11, tôi cho ông ta từ chức, và bổ nhiệm vào chỗ của ông ta, viên bộ trưởng An ninh Nguyễn Văn Tâm, làm Thủ hiến Bắc Việt. Bổ một người miền Nam làm Thủ hiến, cầm đầu miền Bắc, quả là một sự thách thức. Chỉ riêng tôi mới có thể làm được, mà không gây phản ứng tai hại. Quyết định ấy nhằm hai mục tiêu. Trước hết, đó là sự chứng tỏ, tôi đang nắm vững quyền hành. Sau nữa, khi trao cho một người miền Nam, trọng trách về miền Bắc, chứng tỏ đó là sự thống nhất ba kỳ. Thật là một thành công tuyệt vời. Với sự hăng say, như từng hăng say ở miền Nam, trong nhiệm vụ bộ trưởng An ninh, Tâm đã chứng tỏ ở miền Bắc là một vị Thủ hiến rất có quyền uy, và thuộc loại giá trị đáng kể.
Tôi vẫn hy vọng kéo dài được thời gian, để Việt Nam đủ sức phòng vệ lấy mình. Nay thì không thể được nữa.
Sau cái chết của Tướng De Lattre, tôi có cảm tưởng rằng hòa bình chỉ là hy vọng hão huyền.
Thế mà, tôi trở về để đem lại hòa bình cho đất nước. Tôi chỉ thấy chiến tranh mỗi ngày một nặng. Những sự bàn phiếm của bọn chính khách Pháp, và sự sợ hãi quân đội của Mao đến sát biên thùy phía Bắc Việt Nam, làm mất bao thì giờ không thể nào lấy lại được. Ngay giờ đây, khi Nghị viện Pháp biểu quyết cấp ngân khoản cho Bộ trưởng Letourneau thì nước Pháp tìm cách quanh co và chỉ viện trợ nhỏ giọt, không có gì là thiện chí. Tôi cần phải nghĩ đến tương lai, một tương lai, trong đó giải pháp Pháp rất dễ bị thất bại, để kịp thời đối phó.
Mỹ quốc sẵn sàng giúp đỡ chúng ta, Tướng De Lattre bảo tôi như vậy. Nhưng liệu nước Việt Nam có thể trở thành, như Y Pha Nho năm 1936, khi nhận viện trợ quân sự của Đức, bãi chiến trường trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, không lối thoát, để hai bên thi tài, thử sức nhau, do hai khối đối lập đang tranh nhau thống trị hoàn cầu?
Trống rỗng hoàn toàn
Như tôi đã từng e ngại từ cuối tháng giêng, quân đội Liên hiệp Pháp bắt đầu rút khỏi Hòa Bình. Tất nhiên, phải rút để né tránh cái có thể tồi tệ hơn, nhưng còn dân tộc Mường khốn khổ kia sẽ ra sao, khi họ đã đặt hết hy vọng vào quân đội của chúng tôi? Tôi bỗng nhớ lại câu hỏi của viên Tổng ủy khi tôi đến đây lần trước, và nỗi lo âu của ông ta qua câu hỏi ấy. Chắc chắn bọn Việt Minh sẽ thu lợi đối với sự bỏ ngỏ này. Theo tôi nghĩ, không nên tái chiếm Hòa Bình, và cũng không nên tới đây, để rồi hai tháng sau rút lui. Tôi đã nói thế trước đây, nhưng chẳng được ai nghe.
Trong những biến cố đó, lại có khủng hoảng mới của chính phủ Pháp. Nội các Pleven đổ ngày 7 tháng 1 năm 1952, và thay bằng nội các của ông Edgar Fauré, ngày 23 cùng tháng. Ông Letourneau vẫn giữ bộ Quốc gia Liên kết, rồi sau đó, kiêm nhiệm luôn chức Cao ủy Pháp ở Đông Dương, trong khi Tướng Salan trước quyền Tư lệnh tạm thay Tướng De Lattre, nay trở thành Tổng tư lệnh quân đội. Như vậy, chúng tôi lại trở về thế cũ: quyền lực chia hai giữa văn và võ.
Trong dịp Tết, ngày 27 tháng giêng, tôi gởi một thông điệp hàng năm cho dân chúng Việt Nam. Ngay phần mở đầu, tôi nhấn mạnh đến nguồn hy vọng về những đức tính cao quí lẫn sự anh dũng của quân đội trẻ của nước tôi, và tôi tỏ lòng ngưỡng mộ cá nhân của Đại tướng De Lattre:
“Chúng ta không thể nói đến quân đội Việt Nam mà không nhắc đến khuôn mặt cao thượng, đầy vinh quang của Đại tướng De Lattre De Tassigny, mà tư tưởng lẫn hành động đã đề lại cho chúng ta một giá trị vĩnh cửu và tuyệt vời. Vào giờ phút mà nền độc lập mới phối thai của chúng ta đang bị thử thách bởi tập đoàn Cộng sản, người hiệp sĩ Pháp này đã đem đến đất nước ta, sự tôn thờ của tự do, bản tính chiến đấu, lòng can đảm vô biên và tài dụng binh rực rỡ của người. Trước hương hồn ông cũng như đối với các anh hùng tử sĩ khác, từng da ngựa bọc thây trên đất nước tôi, tôi xin tỏ tri ân của toàn thể đất nước Việt Nam. Nguyện cầu cho tất cả những anh linh tử sĩ được vĩnh cửu tôn thờ trên đài chiến sĩ trận vong, và trên hương án các gia đình, nhờ gương anh dũng của họ, mà ra thoát được cảnh đọa đày nô lệ, gương sáng ấy còn làm rạng rỡ đến con cháu chúng ta, làm cho tất cả đàn con dân Việt Nam siết chặt hàng ngũ với nhau, đoàn kết chặt chẽ cho nên phục hưng mà đất nước đòi hỏi”.
Tôi lại giải thích đến nhiệm vụ của Quốc trưởng, phải là một nhân vật biết suy tư và đầy kinh luân thao lược, phải xa các nhiệm vụ hàng ngày của quyền bính, đã trao cho chính phủ, vì Quốc trưởng chỉ còn có nhiệm vụ quốc kế dân sinh, dựa vào thực tế hiện tại, để vạch ra được kế hoạch đáp ứng cho tương lai. Vị đó phải tìm đường hướng thuận lợi ở trong cũng như ngoài nước, và phải biết lý thuyết vĩnh cửu nào sẽ đưa đến sự vinh quang và bền vững cho tổ quốc.
Sau khi nhắc nhở các viên chức ngành cai trị, xã hội, kinh tế, về những mục đích mà tôi đã đọc trong bản thông điệp năm ngoái, tôi nhấn mạnh đến sự cần thiết của đoàn kết, biết tương thân tương ái. Chúng ta phải ý thức lấy trách nhiệm quốc gia để có chính nghĩa bảo vệ xứ sở:
“Có cái gì khác biệt giữa nước Việt Nam với các nước khác? Chúng ta có những điểm gì đặc biệt?
“Ai cũng biết rằng vào giữa lúc trên đất của chúng ta, Đông và Tây đang va chạm vào nhau, xã hội chúng ta đã được xây dựng trên căn bản của đạo Khổng, lấy gia đình làm nền tảng, mà giai tầng xã hội đã được cấu tạo vững chắc tự ngàn đời lấy hiếu trung làm gốc.
“Khi con người lấy ngũ luân làm phương châm xử thế, người ấy đã già dặn biết bảo tồn xã hội, dựa vào tam cương mà thực hiện: Quân thần, Phụ tử, Phu phụ.
“Tất nhiên là chúng ta không thiên hết về đạo Khổng, bởi vì chúng ta còn biết tham bán vào đạo Phật; nhưng các nguyên tắc Khổng Mạnh vẫn là những bí quyết tạo nên sức mạnh, của chúng ta. Dù sao thì nước Tân Việt Nam ngày nay củng chẳng phải là ngoan cố phong kiến, lạc hậu gì. Cách đây một thế kỷ, Tây phương, do các bạn Pháp của chúng ta đã đặc biệt đem đến đây một nền văn hóa mới. Tây phương đã đem lại phương pháp trật tự, bí quyết của tình thần sáng tạo, tình thần tổ chức, tình thằn dân chủ và bình đẳng, bí quyết của sự chinh phục nhân tâm.
“Đó là đặc điểm nhiệm màu, phong phú của dân tộc Việt Nam chúng ta.
“Ngày nay, nếu tất cả thực tế của thời đại làm cho Việt Nam khó có thề đứng riêng rẽ một mình, và tất cả mọi nền chính trị ngoại lai không thể tự nó một mình thực hiện được, thì ngược lại, chúng ta tự thâm tâm, chúng ta đủ lực tự cường, do tinh thần tập thể đưa lại.
“Thế mà, chủ nghĩa Cộng sản định đem đến chúng ta cái gì? Ly dị hẳn những mối liên hệ tương quan với Tây phương, đã lầm chúng ta giàu thịnh về tinh thần, lại canh tân nước ta thành một nước tiền tiến. Sức ép ghê gớm của Tàu, trong hơn 20 thế kỷ đã truyền bá nghệ thuật, văn chương, triết lý, muốn tranh hơn thua với chúng ta sự hấp thụ ấy, đã biến tất cả liên văn minh của Trung Hoa ra thành của ta, bởi vì những tinh hoa ấy, đã nâng cao phẩm giá con người và giá trị của quốc gia.
“Thay vì đem cái tình thần trật tự, chủ thuyết Cộng sản đem đến cho chúng ta một tư tưởng bí hiểm, Mác-xít; thay vì cái tinh thần của tổ chức, họ định đem đến cái hệ thống của Mốt-cu (Moscou); thay vì một liên dân chủ, họ lại đưa đến sự phục tòng mù quáng bọn cán bộ đảng viên… Đó là một phong trào thoái hóa, mà chúng ta ngày nay, chúng ta phải cầm súng chiến đấu. Đó là ý nghĩa của trận chiến này.
“Đó là cuộc thánh chiến quốc gia, để hoàn tất nên cách mạng trong nền độc lập của từng khối óc, và tình cảm của mọi trái tim, mà tôi muốn nói với các anh.
“Sự gặp gỡ giữa Tây phương và Đông phương, như Tagore đã nói, rất cần thiết cho nhân loại, phải mang theo tình, cảm tế nhị, tương thân tương ái, và đấy tinh thần sáng tạo…
“Huynh đệ quốc gia, đó là bí quyết của nước Tân Việt Nam và của xã hội mới Việt Nam.
“Như vậy, thời đại quan liêu, dân chi phụ mẫu, nay đã cáo chung rồi, chỉ còn riêng một uy quyền của vị quân vương đồng loạt cho khắp nhân dân. Ngày nay, người công chức là kẻ dẫn đường thân ái của đồng bào, thực sự dân chủ, tức là trong guồng máy cai trị, đã có những uỷ ban chặt chẽ, sự kiểm soát các quyền hành và nhân sự, quốc gia Việt Nam trở thành một quốc gia rất xã hội, và vì dân mà phục vụ, theo đúng khẩu hiệu: Dân vi quí.
“Như vậy, tất cả con dân nước Việt Nam sẽ cảm thấy một sự ấm lòng của huynh đệ chi tình, và niềm vui phục vụ vô cầu lợi, cảm thấy bình đẳng, và biết thông cảm lẫn nhau hơn. Chúng ta đều là con một gia đình, cùng chung một tổ. Về điểm này, tôi cần phải nói riêng với bên nữ giới. Tình yêu tổ quốc rất mạnh trong đầu óc họ, tinh thần đoàn kết rất bén nhạy trong trái tim họ. Đã có nhiều chị em tỏ sự hăng say khi vào đoàn thể “Hội chữ Thập đỏ Việt Nam”. Đây là ở người đàn bà Việt Nam đã đem đến nguồn sinh lực vào khắp mọi nơi trong xã hội chúng ta, trong tình huynh đệ quốc gia. Và kể từ hôm nay, tôi sẽ đặt một ngày làm quốc lễ cho phụ nữ Việt Nam là ngày kỷ niệm, hàng năm để ghi ơn Hai Bà Trưng.
“Vậy thì trong tình huynh đệ quốc gia, phải hoàn tất nền cải cách xã hội của chúng ta. Không còn nghi ngờ gì nữa, tình huynh đệ đó được hữu hiệu, bởi đã được nghiên cứu khôn ngoan và kỹ lưỡng. Nhưng giờ mà người lại bóc lột người ở nước ta đã cáo chung rồi…”
Tôi nêu lên vài đặc điểm, sau khi cải cách điền địa đã được thực hiện, và tôi kết luận bằng lời kêu gọi như sau:
“Mỗi một người trong chúng ta đều có trách nhiệm đối với quốc gia.
“Hỏi để làm gì, khi mà khai thác đất đai, mở mang trồng trọt, và xây cất những nhà máy, nếu người dân không được lãnh phần chính đáng về công quả của mình đã bỏ ra. Bởi xã hội như thể là xã hội chưa săn sóc đến mối lo âu của dân chúng. Sự lo âu của xã hội, còn thúc đẩy người chủ, phải săn sóc đến thợ nhiều hơn là chỉ biết thu hoạch nhờ kết quả lao động của mọi người.
“Năm ngoái, tôi đã đảm bảo với các xí nghiệp Pháp và ngoại quốc rằng sẽ miễn cho họ nhiều thể lệ, trực tiếp hoặc gián tiếp. Tôi xác nhận lại ngày hôm nay, sự bảo đảm ấy. Khi đến đều tư tại Việt Nam, trong tinh thần tôn trọng luật pháp và sự công bình xã hội, vì lý do sáng tạo sinh lời, các xí nghiệp ấy đã mang công ăn việc làm cho dân chúng, trong một quốc gia còn thiếu nhiều phương tiện hoạt động thì đó là một sự hữu ích đáng quí. Họ đã năng cao mức sống của thợ thuyền và sự tín nhiệm của họ vào người thợ chắc chắn sẽ không bị phản bội.
 “Nước Việt Nam, được tự do liên kết với nước Pháp trong Liên hiệp Pháp, được các nước bạn hỗ trợ; mỗi ngày một củng cố vị tri của mình trước quốc tế. Dinh liền vào cơ thể khổng lồ của Á châu ở khúc giữa quan trọng nhất, và ở ngã ba quyết định của toàn thể Đông Nam Á, nó ý thức được vị trí và nhiệm vụ của mình. Nó đã chọn sự đứng vững và không cho tự mình lui bước, mặc dù bị thách thức trước một cuộc cách mạng đang diễn ra trước mắt. Đây cũng là một cuộc cách mạng, mà nó quyết theo đuổi, chứ không phải sự suy thoái, như Cộng sản đã rêu rao.
 “Chính trong sự canh tân của đầu óc, và sự thanh lọc trái tim, mà tổ quốc thân yêu của chúng ta sẽ tìm thấy một ngày gần đây, tôi chắc vậy, nên hòa bình trong tự do và trong lẽ công bình”.
Sau khi đã giải thích rõ ràng tư tưởng của tôi trong bản thông điệp ấy, đã được phổ biến rộng rãi ngày 27 tháng giêng năm 1952, tôi hy vọng rằng dân chúng cũng như các quốc gia bạn đã được nghe biết, và viện trợ của họ sẽ đem đến để giúp đỡ cho sự cố gắng này. Sau đó ít ngày, quả nhiên tôi được tiếp ông Etienne Denis của công ty Denis Frères. Tôi bảo ông ta:
- Chính phủ Pháp sợ cho các ông. Họ rất lo ngại về công việc của các ông. Vậy các ông muốn tôi bảo đảm gì cho các ông?
- Thưa Hoàng thượng, chúng tôi chỉ mong người Việt Nam mua 50% cổ phần là đủ. Còn chúng tôi, chúng tôi không lo ngại gì hết, chúng tôi chỉ mong làm việc với họ…
Như vậy, tôi chỉ còn có vơ lại nền độc lập, từng mảnh một, và sự đó không phải là dễ.
Về viện trợ ngoại quốc, ông Letourneau đã cho tôi biết điều mà Tướng Juin đi Washington dự hội nghị với các Tham mưu trưởng, là Tướng Bradley của Hoa Ky, và Thống chế Shim của Anh quốc. Họ đã nghiên cứu về sự phát triển Á châu, đã dự trù trong cuộc hội nghị ở Singapour, về tháng 5 vừa qua. Tướng Juin trở về, khá thất vọng về thái độ của Hoa Kỳ. Người Anh thì xin dành Hải quân của họ để di tản người Pháp nếu có gì thất bại. Vị Tham mưu trưởng Pháp có cảm tưởng là tất cả như thất vọng, và muốn rút chân ra khỏi ổ kiến càng này, tức sẽ mất cả Đông Nam Á và Viễn Đông, Người Mỹ thì tìm cách điều đình về vấn đề Triều Tiên. Còn người Anh, dụng ý chỉ nhằm vào Singapour, nếu có sự tràn lan của quân Tàu. Tướng Juin kết luận trong bản tường trình là cần nhất quân đội Việt Nam đủ mạnh, để Pháp có thể “trao lại” trọng trách, càng nhanh càng tốt. Đó là điều rất hợp với tôi.
Tại chỗ, các quân dụng đã đến. Về cuối tháng giêng, chiếc tàu thứ 100 chở đồ viện trợ cho chúng tôi, đến cảng Sài Gòn. Để xúc tiến mọi việc được nhanh nhẹn, ngày 3 tháng 3, tôi bổ nhiệm Nguyễn Văn Hinh làm Thiếu tướng, Tham mưu trưởng quân đội Việt Nam. Cũng trong thời gian ấy, tôi đặt ra bốn quân khu. Về sư đoàn thứ tư quân thổ, phụ trách giữ an ninh cho vùng cao nguyên, đã được thành lập xong, và đặt bản doanh ở Ban Mê Thuột. Điều đó làm giảm bớt gánh nặng cho quân đội Pháp về phần đất này. Sư đoàn đó được đặt dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Lecoq, mà phó là Lê Văn Kim, tiểu đoàn trưởng, vừa tốt nghiệp xong ở trường tham mưu. Các sĩ quan người Thượng đều được huấn luyện ở Ban Mê Thuột, ở trường quân sự Bợ Hồ.
Trong dịp này, tôi tiếp Tướng Salan ở Ban Mê Thuột. Ông ta nhấn mạnh là xin tăng cường nhiều tân binh, nhân dịp có viện trợ Mỹ này, và tôi đồng ý. Mặt khác, Tướng Salan cũng rất hài lòng về công việc của Tướng Hinh. Vị này đã tỏ ra rất đắc lực với nhiệm vụ Tham mưu trưởng của mình, và sự liên lạc của ông ta với nhà binh Pháp rất được khen ngợi.
Tại Paris, Thủ tướng Antoine Pinay đã thay thế Thủ tướng Fauré chỉ đứng có hai tháng. Sự thay đổi chính phủ luôn luôn ở Pháp, làm tê liệt nền chính trị dài hạn cho nước Pháp. May mắn, ông Letourneau vẫn giữ bộ Quốc gia Liên kết.
Ngày 4 tháng 4 năm 1952, tôi đặt ra qui chế cho các sắc dân thiểu số miền núi ở miền Bắc, và do một đạo dụ khác ngày 24 tháng 4, tôi đặt các đất đai của người Thượng miền Bắc và miền Nam vào đất của Hoàng triều cương thổ (Xin xem các phụ đính VI và VII). Tôi cử viên Chánh văn phòng của tôi là Nguyễn Đệ đảm trách chức vụ đó.
Trong tháng 5, miền Nam gặp khá nhiều khó khăn. Tất nhiên, sau cái chết của Nguyễn Bình, tình hình đã yên tĩnh hơn. Nhờ vậy, một phần lớn trách nhiệm, trước kia trao cho quân đội Pháp, thì nay trả lại cho chúng tôi. Đây chính là chỗ mà chúng tôi gặp khó khăn. Nguyên do, có nhiều khu vực được trao cho các quân đội Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, không kể khu vực do Đại tá Jean Leroy, là một người lai ở Bến Tre, đã bình định do lực lượng của ông ta, là lực lượng UMDC (Unites mobiles de défense des chrétientés) tức lực lượng lưu động phòng vệ các giáo khu Thiên Chúa. Nay là lúc phải đặt tất cả mọi người vào hàng ngũ của quân đội quốc gia. Trần Văn Hữu thiếu tế nhị ngoại giao đã đụng độ nẩy lửa với Leroy, và xin đổi Leroy đi ngay nơi khác. Không đổi nổi, vì viên đại tá 31 tuổi này, là con của một người làm ruộng Pháp với một cô gái Nam kỳ đã thắng. Trước đây, năm ngoái đã có một sự kiện đặc biệt xảy ra. Nguyên do Leroy đã đứng đầu để tổ chức một cuộc bầu cử. Ông ta muốn tổ chức nông dân thành một nhóm dân chủ nông dân… Đối với Leroy, Hinh có một giải pháp. Lực lượng UMDC vốn đặt dưới quyền lãnh đạo của nhà binh Pháp, nhưng trong các cuộc lễ chính thức, Leroy thường vận binh phục quân đội Việt Nam, để chứng tỏ trước mắt nhân dân là tỉnh này hoàn toàn đặt dưới quyền lãnh đạo quốc gia. Đối với các phe Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, họ sẵn sàng chấp nhận đặt dưới quyền tôi, với điều kiện là tôi ký với họ những thỏa thuận như trước kia bộ Tư lệnh Pháp đã ký với họ. Tôí từ chối dứt khoát, vì họ là nhân dân của quốc gia.
Chuyện đặt họ vào hàng ngũ quân đội quốc gia này, là vấn đề mà tôi thảo luận với Tướng Salan ngày 10 tháng 5 trên du thuyền của tôi ở Nha Trang. Thoạt đầu đã có điềm không may. Vì một sự vụng về, tướng Tư lệnh rơi xuống biển cùng với tùy viên quân sự của tôi là Đại tá Nguyễn Tuyên. Tôi cho đưa quần áo của tôi để ông thay.
Thật sự, Tướng Salan đang bận nghĩ về vấn đề sát nhập các lực lượng tự trị này vào quân đội quốc gia Việt Nam. Paris muốn giảm quân số và đang là lúc cần đến các chuyên viên đã cho quân đội Việt Nam mượn. Ông ta yêu cầu tôi trưng dụng các thợ chuyên môn, các kỹ thuật gia về cầu cống, về viễn thông và tài xế lái ô tô nữa. Ông khẩn khoản thêm là tôi lại gọi đến sinh viên. Tôi không phải là muốn chống lại sự tham gia của khắp cả các tầng lớp nhân dân Việt Nam vào nỗ lực chiến tranh, nhưng những thỉnh nguyện của ông Tổng tư lệnh có thể làm tê liệt ngành kinh tế mới phôi thai, nên tôi trả lời ông là cần phải hết sức khôn ngoan để khỏi gây xáo trộn đến nếp sống ổn định một cách mong manh ở đất nước.
Đầu tháng 6, tôi để Hoàng thái tử Bảo Long lúc ấy đã 16 tuổi, sang Anh thay tôi, dự lễ đăng quang của Nữ hoàng Elisabeth II. Hoàng thái tử đi cùng với Bửu Lộc, với tính cách là Hoàng thân.
Để chứng tỏ ý chí về sự tăng cường động viên trên toàn quốc, ngày 3 tháng 6, tôi chấm dứt nhiệm kỳ của Trần Văn Hữu, và bổ nhiệm vào chỗ ông, vị Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Văn Tâm. Ông này rất cương quyết, đã tỏ ra thành công trong mọi lãnh vực được trao phó, dù là bộ trưởng An ninh, hay bộ trưởng Nội vụ, hay cuối cùng như Thủ hiến Bắc Việt. Tại đây, ông đã làm tan biến thành kiến đánh vào ông, vì ông gốc ở Nam kỳ. Thay vào chỗ của ông, tôi bổ Phạm Văn Bính làm Thủ hiến Bắc Việt.
Nguyễn Văn Tâm liền đặt một chính phủ quốc gia đoàn kết (17) gồm những nhân vật từng tỏ ra tha thiết với nền độc lập quốc gia. Nội các ấy được thành lập ngày 25 tháng 6 năm 1952, chứng tỏ trong mọi lãnh vực, sự tăng cường nỗ lực chiến tranh trên toàn quốc. Lần đầu tiên, người ta thấy xuất hiện một bộ trưởng coi về cựu chiến binh, để chứng tỏ rằng quốc gia rất chú trọng đến những con dân chiến đấu cho nền độc lập và bị hy sinh vì nước.
Trong tháng 7, Lãnh sự quán của Hoa Kỳ ở Sài Gòn, được đổi thành Tòa Đại sứ. Đối với tân chính phủ, đó là một triệu chứng tốt đẹp. Phần khác, tình hình chiến sự dịu dần trên khắp lãnh thổ, nhờ vậy Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm có thể lợi dụng thời gian này để đặt nền móng cho một chính phủ mạnh, hầu động viên toàn lực quốc gia. Đối với ông ta, đó là sự thi hành các quyết định đã từng thảo luận vào tháng 4 ở Đà Lạt, với ông Letourneau và Tướng Salan. Hậu quả đầu tiên về cuộc họp này là sự xúc tiến việc đào tạo các sĩ quan, nhất là do trường sĩ quan Đà Lạt. Mỗi khi có cuộc lễ ra trường, tôi đều đến dự để nghe lời tuyên thệ, và không quên nhắn nhủ họ, phải tuân theo kỷ luật trung thành và chặt chẽ.
Ngày 7 tháng 8 tôi đi Pháp chữa bệnh ở Evian.
Sau khi chữa xong, ngày 4 tháng 9, tôi đến Muret do lời mời của Tổng thống Vincent Auriol. Ông tiếp tôi tại nhà riêng:
- Thưa Hoàng thượng, không phải chỉ cần một giải pháp quân sự, mà tất cả các người Việt Nam phải thu hồi lấy đất nước. Và Ngài phải hoạt động về mặt trận quân sự. Song phương với vấn đề về quân sự, lại phải có những cải cách chính trị, để đạt tới tự do, dân chủ xã hội. Có như vậy, Ngài mới có thể bình trị được.
- Thưa Tổng thống, chúng tôi vừa đặt nền móng cho một đạo quân quốc gia xong. Với vị Tổng tư lệnh, quả không có vấn đề. Về cấp thấp hơn, thì chưa hẳn tốt đẹp như vậy. Nhưng với các cơ quan dân sự, thì lại khác. Chính phủ Pháp vẫn còn đó, không có gì thay đổi, và hầu ở khắp mọi nơi. Và sự bàn giao thường thường được coi như trò hề. Người ta không để tôi hoàn tất nhiệm vụ, mà trong khi ấy, báo chí Pháp lại không ngớt đả kích tôi, cho là bất động và bôi đen giải pháp.
- Thưa Hoàng thượng, tôi sẵn sàng sang thăm Việt Nam để kêu gọi chính phủ Pháp phải tôn trọng điều hứa hẹn và thi hành một cách nghiêm chỉnh.
- Thưa Tổng thống, chúng tôi xin đợi Tổng thống.
- Xin Hoàng thượng hiểu cho tôi, tôi sẽ sang thăm Việt Nam với tư cách là thượng khách do Quốc trưởng mời, chứ không phải là với địa vị Chủ tịch Liên hiệp Pháp, do Cao ủy tổ chức. Trong khi chờ đợi, xin Hoàng thượng tin rằng, tôi sẽ truyền đạt cho chính phủ Pháp tất cả nhận định của Ngài. Tôi chỉ làm được có thế, tiếc thay, Quốc hội Pháp không cho phép hơn nữa…
Sau vụ này, tôi quyết định đổi chức Cao ủy ở Pháp của Hoàng thân Bửu Lộc ra là Tòa Đại sứ Việt Nam tại Pháp. Để đánh dấu sự liên lạc giữa hai nước, ông Lejean cũng được cử làm Đại sứ Pháp ở Việt Nam.
Mặc dù có quyết định tương đồng giữa hai nước độc lập như nhau Đại Hội đồng Liên hiệp Quốc vẫn từ chối đơn xin gia nhập của Việt Nam, kể cả Lào và Cam Bốt.
Tôi trở về Đà Lạt vào cuối tháng 9, và về đến nơi tôi được biết mùa khô đã tới để Việt Minh mở cuộc tấn công lên đất Thái. Vậy thì đất Hoàng triều cương thổ bị đe dọa trực tiếp. Việt Minh khi đánh sang mặt Lào, muốn tỏ ra rằng muốn rải chiến tranh đến khắp mọi nơi trên cái gọi là Liên bang Đông Dương, đồng thời muốn chứng tỏ trước dư luận dân chúng Việt Nam, nhất là trước các sắc dân thiểu số, chúng tôi không đủ khả năng bảo vệ họ. Việc bắt đầu tỏ ra bất lợi cho chúng tôi. Kể từ tháng 10, chúng tôi đành phải bỏ vị trí quan trọng là Nghĩa Lộ.
Tướng Salan liền có ý kiến là nên lập ở Nà Sản một căn cứ không quân nhằm hai mục đích: nhử cho quân đội Việt Minh đến thử sức, để chống cự lại, đồng thời dùng làm bàn đạp tiến công, chứng tỏ chúng tôi có mặt tại vùng này. Địa thế đã được lựa chọn, ở giữa lòng xứ Thái, trên con đường sang Lào bắt buộc, không có lối khác, vừa phải, không gần Hà Nội, mà cũng không xa lắm. Địa thế đủ để máy bay đáp xuống, và được bao quanh bằng một dẫy đồi, giúp cho sự phòng thủ dễ dàng. Tôi đồng ý và chấp thuận điểm chọn.
Để chứng tỏ sự xác nhận chúng tôi sẽ đóng ở Nà Sản, ngày 28 tháng 11, tôi cùng với viên Tổng Tư lệnh đến địa điểm đang được xây cất rất nhanh chóng. Tôi có một cảm tưởng nhẹ nhõm. Buổi chiều, Tướng Salan mời tôi dự cơm chiều ở Hà Nội. Tôi có ngỏ cho ông biết những khó khăn trên bình diện chính trị, và tôi lấy làm tiếc về sự chậm trễ của nước Pháp trong việc tổ chức quân đội Việt Nam, điều làm cho Việt Minh lợi thế trong sự củng cố quân đội của họ, nhất là điểm tâm lý có lợi cho họ trước mắt dân chúng.
Như vậy, thật là mệt để bắt lại thời gian mất đi này và do thế tôi thấy tương lai quả là bi thảm.
Tuy vậy, tôi bảo ông ta, là tôi rất phấn khởi được trông thấy tại Nà Sản, sự kiến tạo này, và quân đội của tướng Giáp sẽ cắn phải miếng mồi quá hóc, nếu y định đánh vào căn cứ này. Tháng chạp qua đi, trong khi chờ cho cá đớp mồi.
Tướng Salan đồng ý với tôi, và chúng tôi được rảnh tay ở miền Nam. Tôi lên cho chỉ thị Tướng Hinh.
Cuối năm, chỉ có một sự việc đáng kể xảy ra, đó là ông Antoine Pinay từ chức ngày 23 tháng chạp. Nước Pháp trong dịp lễ Noel và lễ Saint Sylvestre, không có chính phủ, sự đó vốn rất thường ở Pháp.
Chú thích:
(17) Thành phần chính phủ do Nguyễn Văn Tâm Thủ tướng, kiêm bộ Nội vụ. Hai Phó thủ tướng: Phan Văn Giáo và Ngô Thúc Địch, giữ các bộ Thông tin và Cựu chiến binh
- Nghiêm Văn Trí, bộ Quốc phòng
- Nguyễn Huy Lại, bộ Tài chinh
- Trương Vĩnh Tổng, Bộ Ngoại giao
- Lê Tấn Nẫm, bộ Tư pháp
- Nguyễn Thành Giung, bộ Quốc gia Giáo dục
- Lê Quang Huy, bộ Giao thông Công chính
- Bác sĩ Lê Văn Hoách, bộ Y tế
- Cung Đình Quỳ, bộ Nông nghiệp
- Hoàng Nam Hùng, bộ Thương mại
- Vũ Hồng Khanh, bộ Thanh niên và Thể dục Thể thao
- Lê Thăng, bộ Xã hội
- Trần Văn Quế, phụ trách về Kế hoạch.
Tình hình suy thoái
Tướng Eisenhower được bầu làm Tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 1952. Khi nhận chức vào Tòa Bạch Ốc, ông đọc một bài diễn văn trong đó có câu: “Người lính Pháp chiến đấu ở Đông Dương, và người lính Mỹ chiến đấu ở Triều Tiên, đều cùng chung một mục đích...” Như vậy, đối với người Mỹ, cuộc chiến ở Đông Dương không phải là chiến tranh giữa thuộc địa với mẫu quốc, mà chiến tranh của phương Tây chống Cộng sản, một cuộc chiến để giành lấy tự do ở Việt Nam.
Một đề tài khác khá hài lòng. Nhờ quân đội và nghĩa dũng quán, tỉnh Hưng Yên ở Bắc Việt hoàn toàn nằm trong tay người Việt, cũng như các tỉnh Tân An, Bến Tre, Gò Công ở Nam Việt.
Trên tất cả đất nước, chương trình bình định đang được Thủ tướng Tâm áp dụng, đều mang lại kết quả tốt đẹp. Sau cuộc hành quân của quân đội, thì hệ thống hành chánh và chính trị được thế ngay vào đó, đầu tiên do một hạt nhân từ trung ương lan dần ra như vết dầu loang, tãi rộng ra mãi. Nhiệm vụ ấy được trao cho một cơ quan gọi là Quân Thú Lưu Động GAMO (Groupement Administration Mobile Opérationnel). Đoàn này hoàn toàn do người Việt Nam đảm nhận, và lần lượt đóng ngay vào vùng vừa được càn quét, để đảm trách các vấn đề hành chính, xã hội, y tế, cảnh bị, học chính và tuyên truyền. Cuộc bình định này đã tỏ ra rất hữu hiệu ở vùng Hải Phòng và Hà Nội.
Nguyễn Văn Tâm dùng một chính sách khôn khéo. Nhân vật này, từng tỏ ra cương quyết và chống Cộng triệt để, thích bắt chước Thủ tướng Clémenceau, nên đã thành công trong việc tập hợp rộng rãi trong chính phủ của mình, mọi giai tầng xã hội trong nước. Nhờ vậy, ông ta đã được nhóm Cao Đài ủng hộ, đưa hai đại diện vào trong chính phủ, thêm hai đại diện phe Việt Nam Quốc dân đảng trong đó có lãnh tụ Vũ Hồng Khanh, từng ở trong chính phủ với Hồ Chí Minh năm 1946, có thêm một đại diện của Đại Việt, vì khi Nguyễn Văn Tâm làm Thủ hiến Bắc Việt, Tâm đã trù ếm phe này khá nặng.
Ngoài ra, những ưu đãi của ông trước quân đội quốc gia, vì có con là Nguyễn Văn Hinh làm Tổng Tham mưu trưởng, càng củng cố vị trí chiến đấu của ông, nên rất lừng danh. Cuộc cải cách điền địạ, sự chuẩn bị một Quốc hội toàn quốc, đã đem lại cho ông một số đông dân chúng, nhất là trong giới bình dân.
Như vậy, chúng tôi không thể bị coi là bất động được. Tuy nhiên, điều đó không đúng như ở Pháp. Dư luận dân chúng vẫn không hiểu gì về tình thế cả. Các đảng phái chính trị tỏ vẻ lo âu, và đảng Xã hội lại có ý định quay về điều đình với Hồ Chí Minh. Vì vậy tình hình chính trị nước Pháp đứng im tại chỗ. Tuy nhiên, chúng tôi được nhiều lợi điểm đối với các nước Tây phương, bây giờ tỏ ra đoàn kết trước cuộc chiến ở Đông Dương. Vì vậy, ngày 17 tháng chạp, Hội đồng Đại Tây Dương họp ở Paris, đã ra một thông cáo nói rằng:
- Cuộc chiến do quân đội Liên hiệp Pháp đang phải đương đầu ở Đông Dương, rất đáng được các chính phủ Đại Tây Dương yểm trợ liên tục. Cho đến nay, chỉ có Hoa Kỳ viện trợ cho Đông Dương, vì gần một nửa các binh phí đều do Mỹ đài thọ. Sự viện trợ đó không phải không đưa lại vài vấn đề giữa Pháp và chúng tôi. Chúng tôi thì mong rằng, viện trợ của Hoa Kỳ được đưa thẳng cho chúng tôi không phải qua trung gian nước Pháp, mà chúng tôi biết nền kinh tế của họ sẽ được hưởng một nguồn lợi quan trọng, riêng về mặt chuyển ngân thôi. Tuy rằng điều mong ước của chúng tôi giống như của Hoa Kỳ, chính phủ Pháp không bao giờ chấp nhận điều thỉnh cầu đó.
Tổng thống Auriol nói:
- Chúng tôi rất mong họ (Hoa Kỳ) giúp đỡ cho Đông Dương, nhưng xin họ đừng có để chân vào.
Nhưng điều chính của tôi vẫn là việc thành lập đạo quân quốc gia. Cuộc nói chuyện của tôi với Tướng Salan vào tháng 11 là đề tài của một chương trình dự trù tỉ mỉ, mà tôi bảo Hinh soạn thảo, khi chính phủ mới được thành lập ở Paris.
Ông René Mayer làm Thủ tướng của chính phủ mới này, được thành lập ngày 8 tháng giêng. Ông Letourneau vẫn còn là thành viên và vẫn giữ bộ Quốc gia Liên kết.
Tướng Hinh được sự đồng ý của Paris về chương trình này, là tạo dựng đợt đầu, 54 tiểu đoàn khinh quân. Các tiểu đoàn này tương đương với lực lượng địa phương của Việt Minh, đủ khả năng đánh lại họ tại chổ, dùng để bình trị khi những đơn vị của quân đội viễn chinh Pháp dành cho các trận di động. Đến năm 1953, quân số của chúng tôi sẽ tăng cường tới 40.000 người. Dự trù này được viên Bộ trưởng Quốc phòng của chính phủ Tâm muốn nói biến ra thành đạo quân qui ước với các sư đoàn nặng, để kể từ tháng 10, sẽ đem ra sử dụng trên trận địa được.
Sự tham gia đó rất cần thiết, khi có cuộc phản công vào trung tuần tháng giêng trên vùng sơn cước ở miền Trung. Tại đó, các đơn vị của sư đoàn 4 lính thổ, đã bị đụng độ nặng nề. Sau cuộc tấn công mùa thu ở vùng sơn cước miền Bắc Việt Nam, quân đội Việt Minh bị chặn đứng ở Nà Sản, nay thì chúng sẽ cố gắng đánh vào miền cao nguyên Trung phần này. Tại Nà Sản, căn cứ không quân đóng vai trò chiến lược. Thì đây sẽ là trái đấm đối với các cuộc đổ bộ vào bờ biển Qui Nhơn mà chúng vẫn sử dụng thường xuyên. Như tại Nà Sản, quân địch có vẻ lảng xa, ít nhất cũng tạm thời. Nhiều cuộc tuần tiễu phát ra từ Qui Nhơn đến An Khê làm giảm bớt dự định của Việt Minh.
Tết năm Quí Tị, ngày 13 tháng giêng, tôi gửi bản thông điệp thứ ba hàng năm cho dân chúng Việt Nam. Bản thông điệp thứ nhất vào năm 1951, tôi vạch ra những nét chính để kiến thiết quốc gia. Trong bản thông điệp năm ngoái, tôi ấn định về nền cải cách văn hóa. Và năm nay, tôi dành để vạch một đường lối quốc tế cho Việt Nam trên thế giới và vào thế kỷ 20:
“… Chúng ta ở cửa ngõ một đế quốc bao la, vĩ đại vì văn hóa, nhưng đối với chúng ta vẫn là một mối đe dọa cụ thể thường xuyên. Hai bên chênh lệch quá nhiều, tôi bảo cho những người lầm đường hay những Việt giãn đã xúi giục họ lầm lạc. Các anh hẳn biết rằng ngày mà thể chất quốc gia của chúng ta đông hóa với đế quốc đó, thì nó sẽ hút hết chúng ta. Chúng ta chỉ có thể tồn tại, khi giữ mình nguyên vẹn, khác xa với họ.
“Hỡi đồng bào,
“Vào ngày tết thiêng liêng của quốc gia này, hãy nhớ rằng hình dáng và nhiệm vụ của Việt Nam làm cho chúng ta có mặt trên quả địa cầu. Chúng ta chỉ dính vào Á châu, phải chăng có một chút ở bên sườn? Thật sự, chúng ta ngoảnh lưng vào châu Á, và nhìn ra bể, nhìn ra các hải đảo và bán đảo, nhìn vào các dân tộc sống trên bể và do bể mà ra. Chúng ta là một cái sườn núi dốc hướng vào Mặt Trời. Thế mà một dân tộc phải có liên chính trị địa dư của nó. Chính là trên ngọn sóng, và ngoài ngọn sóng, mới là bạn, là khách hàng và đồng minh của chúng ta.
“Về phương diện ấy, sự tập hợp của những dân tộc đầy tương lai, ở rải rác khắp năm châu, là Liên hiệp Pháp, đối với chúng ta là chỗ tựa đáng quí. Ngay một lần đầu, nó đã cho chúng ta một địa bàn đầy bè bạn, khách hàng, và người hợp tác...”
Về phần hai của thông điệp, tôi kêu gọi các đồng bào còn rụt rè chưa dám tham gia, và đặc biệt là giới thanh niên học sinh:
“Vì thế mà nhiều người phần đông là các thanh niên trẻ tuổi, chỉ biết cái học sách vở, tự hào là trí thức để hợm hĩnh, đã coi địa bàn chính trị như một sân khấu, chỉ có động tác đóng kịch là đáng kể…”
Rồi tôi kêu gọi tất cả những ai đã chiến đấu chống lại chúng tôi:
“Những con đường quá khích nào cũng đều ngắn ngủi, và sẽ làm cho kẻ sử dụng phải lao đao. Chỉ có con đường trung dung, thanh thản, là dùng được, mà tôi muốn tập hợp tất cả đồng bào lại, kể cả những người đã đi quá trớn, hay những ai còn đang chờ đợi, những ai nhạo báng, hay còn ngờ vực loanh quanh. Còn đối với ai đã đi ngược lại quyền lợi quốc gia, liệu có cần phải nói rằng, cửa ngõ gia đình vẫn luôn luôn bỏ ngỏ?”
Trong tháng 2, nhiều cuộc viếng thăm tới tấp. Đầu tiên là Tướng Lechères đến để xác nhận với Tướng Tổng Tư lệnh mục đích chiến tranh đã được chính phủ ấn định rõ rệt. Rồi đến ông Paul Raynaud, Chủ tịch Uỷ ban Tài chính Quốc hội, đi du lịch qua, từ ngày 10 đến 24 tháng 2. Sau là cuộc viếng thăm của dân biểu phái tả Paul Devinat, đi công cán cho Quốc hội, đến để kiểm soát việc sử dụng các binh phí, tình trạng quân nhu, quân cụ và sự tiến triển của các quân đội quốc gia Việt, Miên, Lào. Cuối cùng, là sự viếng thăm của Thống chế Juin, đi cùng ông Letourneau. Chúng tôi lợi dụng sự có mặt của ông này để triệu tập một hội nghị quân sự ở Đà Lạt ngày 24 tháng 2.
Hội nghị này đặt dưới quyền chủ tọa của tôi. Tham dự ngoài ông Letourneau có Tướng Salan, Tướng Hinh, Thủ tướng Tầm, quyền Bộ trưởng Quốc phòng Lê Quang Huy và Chánh văn phòng của tôi là Nguyễn Đệ.
Nhiều quyết định quan trọng được đề ra. Trước tiên là sự chấp nhận dứt khoát chương trình thành lập đoàn khinh quán, mà binh phí một phần sẽ do ngân quỹ Việt Nam đài thọ, vào khoảng 50 tỉ quan.
Cũng quyết định trên nguyên tắc, rằng tất cả các đơn vị đó sẽ đặt dưới quyền chỉ huy của Việt Nam. Phần khác, vị Tổng Tư lệnh vốn là Quốc trưởng, và vị Tham mưu trưởng Việt Nam phải có những phối hợp với viên Tổng Tư lệnh Pháp liên hệ đến các cuộc hành quân và đặt kế hoạch. Quân đội Việt Nam không còn là một quân đội nằm trong quân đội Pháp, mà là một quân đội đồng minh. Đó là Việt Nam hóa chiến tranh.
Chương trình tổng quát được chấp nhận là sự nâng giá trị của quân đội Việt Nam đến năm 1955 trên căn bản là 8 sư đoàn, bao gồm 175.000 quân chính qui trong đó có 50,000 quân trừ bị. Ngoài ra chương trình ấy còn đặt ra các cơ quan liên hệ, sự hình thành của một đoàn Không quân, gồm có một trường học hai nhóm chiến lược, và một tiểu đoàn, cũng như sự thành lập đoàn giang đĩnh và tuần duyên. Như vậy, điều chúng tôi đòi hỏi cho chương trình này, để hoàn tất vào năm 1953, 54 tiểu đoàn khinh quân, 14 đại đội pháo binh, và 19 đơn vị dân chuyển, đưa tổng số quân đội lên 40.000 người nữa. Sự đánh giá chương trình này được ấn định ở Paris, để vào tháng 6, sẽ đưa cho Washington, hầu được viện trợ tương xứng.
Tôi ghi nhận với tất cả sự hài lòng, vì các quyết định này đã được toàn thể hội nghị chấp nhận trong bầu không khí hoàn toàn thông cảm và nhất trí.
Bốn ngày sau, Thống chế Juin và ông Letourneau đến Nà Sản để khen thưởng binh sĩ đã đạt được mục tiêu, làm cho tướng Giáp phải thu quân bỏ chạy.
Viên thanh tra quân lực Pháp vừa đi thăm Triều Tiên một tuần về. Tôi tiếp ông ta ngày 4 tháng 3, tại biệt điện của tôi ở Ban Mê Thuột. Ông có vẻ bớt lo lắng hơn lần trước khi ông gặp tôi ngày 15 tháng 2. Ông bảo cho tôi biết, ông đã được ông Letourneau đồng ý, sẽ mời Tướng Clark, Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ ở Viễn Đông, đến quan sát tại chỗ, những điều chúng tôi đã làm ở Việt Nam. Rồi ông kể cho tôi nghe dự định Mỹ về Triều Tiên:
- Người Mỹ không biết làm cách nào để rút chân ra khỏi vụ này mà khỏi bị mất mặt. Họ đã dự định những giải pháp rất mâu thuẫn là đưa cả người Tàu ở Đài Loan vào trong vụ lộn xộn này. Nhưng rồi họ lại bỏ cuộc. Dù sao nữa, nếu sự đàm phán hiện nay mà thành, thì Triều Tiên sẽ bị cắt làm hai. Như vậy, họ sẽ tạo ra miền Nam Triều Tiên một đạo quân, theo kiểu Mỹ. Theo tôi, đó là sự nhầm lẫn lớn. Dù sao nữa, không phải đó là điều mà người ta sẽ làm ở đây.
- Thưa Thống chế, hẳn Thống chế đã biết những điều mà chúng tôi đang muốn sử dựng các tiểu đoàn khinh quân đặc biệt?
- Vâng, đây chính là điều cần thiết. Những người thấy cần phải chống lại với đoàn quân du kích Việt Minh, nhưng cần phải đem đến cho họ một nền hành chánh, do các công chức đã thành, để đến ngay vùng đất vừa chiếm được.
- Đó là chúng tôi đang dự định với đoàn GAMO (Quân thư lưu động), nhưng chúng tôi chưa đủ nhân viên. Hẳn Thống chế thấy nước Pháp đã để lại đây cả một đống công chức vô ích, chỉ dùng thì giờ để chọc gậy bánh xe. Những người mà chúng tôi cần, đó là các kỹ thuật gia, các chuyên viên, chứ không phải bọn người trong ngành cai trị thuộc địa…
- Thưa Hoàng thượng, khi tôi qua Triều Tiên, điều tôi đã nhìn thấy ở Việt Nam làm tôi tin tưởng, nhất là ở miền Nam, dân chúng đã bắt đầu ý thức được sự chuyển tiếp chế độ, nền độc lập của đất nước, ở miền Trung và miền Bắc thì chưa nhất định, vì vậy, tôi muốn rằng Ngài sẽ thành lập sớm đạo khinh quân của Ngài. Tôi đã trông thấy viên Tham mưu trưởng trẻ tuổi, Tướng Hinh, mà tôi từng biết, đó là một thanh niên vững chãi, và kết quả mà y đã đạt được đều rất đáng khen. Quân đội của Ngài đánh trận giỏi, nó đã mất nhiều người, bởi vì chưa quen đánh trận lắm.
- Thưa Thống chế, tôi xin đa tạ Thống chế về những điều nhận xét vừa qua, tôi mong rằng Thống chế sẽ nhắc lại ở Paris, mà người ta thường không hiểu lắm về nỗ lực của chúng tôi.
- Thưa Hoàng thượng, tôi sẽ không quên điều đó. Nhưng tôi xin Ngài nên đề phòng. Một mặt, nước Pháp đã phải gánh chịu quá nặng, mà nó còn nhiều điều bắt buộc khác nữa. Mặt khác, dù cho công việc tiến triển ra sao, không thể chỉ lấy quân sự mà giải quyết hết được, còn cần phải có sự điều đình khác nữa, và đó là việc của Ngài…
Ý nghĩ điều đình chính trị chẳng phải mới nhen lên lần đầu. Trước khi chính phủ đổ, ông Pinay với sự thỏa hiệp của Tổng thống Auriol đã có ý định dùng cách đi đêm để nói chuyện với phe đối nghịch. Được ông Letourneau báo động, vì ông này thành thực ác cảm với bọn Việt Minh, tôi phải miễn cưỡng chấp nhận sự đi đêm, trên nguyên tắc.
Giáo sư Bửu Hội, một nhà bác vật (kỹ sư) Việt Nam đã ở Pháp lâu năm, được tôi cử vào sứ mạng này. Thủ tướng René Mayer liền lo liệu việc này. Bửu Hội đến Rangoon, để gặp đại diện của Việt Minh ngày 26 tháng 2. Tôi không bao giờ rõ cái gì đã xảy ra, vì câu chuyện này không có đoạn cuối. Nhưng sự việc ấy đã giúp tôi hiểu được tâm trạng của giới chính trị gia Pháp, Tôi sợ rằng, dưới áp lực của dư luận quần chúng, chính phủ Pháp có thể có một sáng kiến mới loại ấy, đẩy tôi vào chỗ sự đã rồi. Vậy thì cần gì đến bao sự hy sinh, và nỗ lực do dân chúng Việt Nam đã bỏ ra trong mấy năm liền? Giả thuyết ấy thật độc ác đối với chúng tôi, cũng như nước Pháp là kẻ đầu tiên đã nản lòng trước những khó khăn bởi tiên thiện bất túc. Thế thì phản ứng của bọn người đầy nhiệt tâm mà chúng tôi đưa vào cuộc kháng chiến này, mà họ phải riêng mình gánh chịu với vài người lính Pháp tất cả những hậu quả tai hại?
Tôi mong rằng có thể nói nỗi khổ tâm ấy với vị đại diện của chính phủ Pháp, nhưng ông Letourneau đến đây như gió, mỗi khi sự có mặt của ông là cần thiết, rồi trở về Pháp ngay do những hoạt động chính trị khác của ông ở Paris. Sự biến dạng của Đại tướng De Lattre bỗng trở lại với tôi ngày nay như một điều tai hại vô cùng.
Đáp lời mời của Thống chế Juin, Tướng Clark đến Sài Gòn ngày 19 tháng 3. Tôi tưởng rằng cuộc thăm viếng này sẽ có lợi. Dù sao nữa, nó cũng giúp cho viên Tư lệnh quân lực Mỹ để xác nhận công khai là: “tính chất tương đồng giữa cuộc chiến ở Triều Tiên và ở Đông Dương y hệt như nhau”.
Sự thăm viếng đầu tiên của Tướng Clark trùng hợp với những triệu chứng đầu tiên cho thấy sự chuyển quân của Việt Minh muốn tiến về Bắc Lào. Tại đây, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp phải đương đầu. Như ở Nghĩa Lộ năm ngoái, người ta mở đầu trận đánh mùa xuân, để di tản Sầm Nưa, thị trấn của tỉnh cùng mang tên ấy, ở sát biên giới nước tôi.
Chính vào lúc đó, có một sự kiện khá lạ lùng. Năm 1953 lẽ ra phải tổ chức tế Nam Giao. Đức bà Từ Cung Thái hậu vẫn có liên lạc với các nhà chiêm tinh cũ của Triều đình báo cho tôi biết ngày giờ thuận tiện để làm lễ. Lúc ấy tôi đang ở Ban Mê Thuột, nên định rằng sẽ cử hành buổi tế ngay tại chỗ, vì con đâu cha mẹ đấy, theo đúng phong tục Việt Nam.
Nơi đất được chọn là làng Boun Trap, cách xa Ban Mê Thuột khoảng trên 10 cây số, trên đường ra Hồ và ở cửa rừng. Tôi cho đem đoàn voi của tôi đến, độ 20 con to lớn đồ sộ, tập trung thành vòng tròn, để như là dâng buổi tế sống vậy. Vì hiện nay đang có chiến tranh, tôi muốn cho đoàn voi của hoàng gia tham dự, để tỏ lòng tôn kính như xưa kia Đức Vua Gia Long đã thu phục sơn hà, voi đã đóng vai trò khai quốc công thần.
Mỗi một con vật đó, có một tiểu sử ly kỳ. Trong bọn này, đặc biệt có con gọi là Buôn Con, tôi từng cỡi thường nhật, là con voi đực cao tới ba mét. Khi tôi tới Ban đơn viên chủ làng Kim Jo Nop cho tôi mượn con voi này để đi săn. Đó là con vật giá trị nhất của ông ta. Thấy con vật cực kỳ tinh khôn, tôi đề nghị với Kim Jo Nop bán lại cho tôi, ông ta từ chối và kêu lên: “Người ta có thể lấy vợ tôi, lấy con gái tôi, nhưng không lấy được voi của tôi...”
Cuối cùng, với sự hỗ trợ với viên công sứ sở tại, sau khi tổ chức nhiều buổi hội hè, viên tù trưởng mềm lòng và bằng lòng bán lại cho tôi, những quản tượng người Rhadé đã đưa nó đến kho sưu tập thú rừng của tôi ở Quảng Trị. Khi đến gần Cam Lộ, họ liền trao cho các quản tượng Việt Nam, mà con voi kiêu hãnh này tòng phục ngay. Tôi cỡi nó hàng tuần.
Theo gương của các tay săn bắn người Bandon, thà chết đói còn hơn là trồng một cây lúa, Buôn Con cũng từ chối làm việc, kể cả việc đi lấy thức ăn. Tôi phải đưa từ Huế ra một con voi cái, để gom góp đồ ăn lại cho nó. Buôn Con chấp nhận và ăn.
Nhưng voi cái lợi dụng lúc đi tìm thức ăn để lảng ra xa và chạy trốn. Có đến sáu lần như vậy. Cứ mỗi lần bỏ chạy, Buôn Con phải cùng viên quản tượng đi tìm, đưa về đoàn. Đến lần thứ bảy, viên quản tượng lại đi tìm, và khi bắt được con voi cái vô kỷ luật này thì bị nó quật chết tươi.
Buôn Con nghe được đủ thứ tiếng mọi, tiếng Việt Nam và cả tiếng Pháp. Nó rất quen thuộc các động tác của tôi, để mỗi khi đi săn, thì bao giờ cũng ngưng lại cách xa con mồi độ 40 thước, để tôi có thể bắn với độ hữu hiệu nhất.
Một hôm, có con hổ nhẩy lên lưng nó từ phía sau, và cào nó rất sâu. Vết thương bị nhiễm trùng. Cần phải giải phẫu nơi bả vai. Người thú y không có thuốc tê. Trong suốt thời gian giải phẫu, người quản tượng nói với nó, bảo nó rằng cần phải chịu đau một chút, vì điều đó có ích cho nó. Nó nằm im không nhúc nhích. Sau đó nó khỏi.
Gặp biến cố năm 1945, bọn Cộng sản chiếm được Quảng Trị, nó không chịu làm gì với họ. Rồi có thể là do chính biến, nó bỏ chạy và vào rừng trong suốt thời gian tôi vắng mặt. Khi tôi trở về năm 1949, nó lại về khu sưu tập thú rừng. Không phải chỉ có một mình nó, nhiều con khác cũng lục tục trở về, có cả quản tượng. Có lẽ bọn này cũng chẳng muốn hợp tác với bọn Cộng sản.
Buôn Con chỉ có một ngà. Voi một ngà rất dữ tợn, nên khi trông thấy voi một ngà là các loài khác đều sợ hãi.

Vào đêm mùa xuân của tháng 4, quãng 3 giờ sáng, bên cửa rừng đầy đuốc cháy sáng, chúng tôi hành lễ Nam Giao. Trong sự lặng thinh của núi rừng, giữa thiên nhiên tươi tốt, tất cả như thân cận gần nhau, nghi thức buổi lễ đã vô cùng cảm động, hơn cả buổi tế ở đàn tế Nam Giao ở Huế. Buổi lễ đã nhuốm màu vĩ đại mà ít khi tôi được cảm thấy. Tôi báo cáo lên Trời Đất sứ mạng của tôi, và buổi tế đã kéo dài cho tới gần sáng. Một con voi đã tỏ ra nóng ruột. Bất thình lình, nó tấn công con voi kế cận. Tất cả vòng tròn voi, như một lâu đài giấy bồi nghiêng ngửa, trở thành lộn xộn và tan rã. Tất cả những người dự lễ, đều mạnh ai nấy chạy, cố gắng tránh những con vật hung hăng phá đổ mọi vật trên đường. Tôi đứng lại một mình ở giữa chỗ hỗn loạn đó, trong bộ đại trào, nhiều khi bị con voi điên chạm phải.
Tôi liền gọi Buôn Con, bảo nó đến gần tôi, và ra lệnh cho nó dẹp cuộc náo loạn này. Nó liền đi gọi từng con một, lần lượt, có khi chỉ bằng vài tiếng hí, để bắt đứng vào hàng ngũ. Trong vòng mươi phút, trật tự lại trở lại như cũ, tôi chưa hề đổi chỗ lần nào. Một số người từng theo tôi dự lễ này, cho rằng đây là một triệu chứng của nhà Trời.
Cần phải nói rằng, vào mùa xuân năm 1953, nếu tình hình quân sự không có gì nghiêm trọng, thì tình hình chính trị lại gia tăng. Ngay trong lãnh vực này, thời gian không làm việc cho chúng tôi.
Mỗi một ngày, chúng tôi đi sâu vào trách nhiệm, mỗi một ngày chúng tôi phải đối phó với chiến tranh, và cũng mỗi một ngày trên bình diện chính trị, chúng tôi gặt hái được kết quả tốt. Nhưng nước Pháp, do quan niệm liên hiệp của khối quốc gia liên kết, vẫn khư khư giữ lấy vai trò chỉ đạo vốn đã lỗi thời rồi.
Quốc vương Sihanouk hành động đầu tiên, theo kiểu của ông, bằng một thái độ đáng khen. Sau khi nắm vững tất cả mọi quyền hành quốc gia trong tay, ông ta sang Pháp vào tháng 4. Tại đây, ông giải thích cho Tổng thống Vincent Auriol và cho chính phủ là quan điểm hệ thống của Liên hiệp Pháp không phù hợp với thực tế. Ngày nay, nếu người ta muốn chúng tôi giải quyết việc dẹp loạn nội bộ, thì chúng tôi cần phải được hoàn toàn độc lập, với tất cả các mặt ngoại giao, quân sự và kinh tế. Nếu lên những điều của Hiến pháp, cần phải sửa đổi, chính phủ Pháp từ chối mọi yêu sách của ông Hoàng chùa Tháp. Ông này rời bỏ Paris để sang Hoa Kỳ, và khi đến Nữu Ước, đã tuyên bố một lời nẩy lửa:
- Nếu người Pháp không thỏa mãn yêu sách của chúng tôi, chúng tôi sẽ đi theo đường lối chung của Việt Minh.
Phản ứng của René Mayer thật bất ngờ. Ngày 9 tháng 5, không cần sự tham gia ý kiến của Hội đồng, tự ý ông ta hạ giá đồng bạc Đông Dương, đang từ 17 quan xuống còn có 10 quan. Biện pháp ấy có hiệu lực nhằm hủy bỏ mọi khả năng hốì đoái, và gây xáo trộn nặng nề cho nền kinh tế của Đông Dương.
Chính phủ Pháp còn đưa ra một quyết định nữa, mà đến khi thi hành, tôi mới được thông báo: Tướng Salan được thay thế bằng Tướng Navarre, mà ngày 21 tháng 5 đã được ông Letourneau đón tiếp ở Sài Gòn. Ba hôm sau, Tướng Salan đến chào biệt tôi ở Ban Mê Thuột. Tôi không giấu ông ta về sự ngạc nhiên của tôi về thái độ của chính phủ Pháp, và sự mù tịt mà họ để cho tôi trong mọi quyết định, làm tôi rất bực mình.
Hôm sau, gặp ông Letourneau, tôi tỏ cho ông ta biết sự bất bình của tôi và yêu cầu ông ta phải định lại nghĩa về Liên hiệp Pháp, càng sớm càng tốt. Bởi vì căn cứ vào các quyết định của chính phủ Pháp vừa qua, với tính cách hai bên đồng thỏa thuận, thì Pháp đã vi phạm tinh thần của hiệp định Paris, tôi yêu cầu bãi bỏ vấn đề tiền tệ và quan thuế giữa bốn bên, và đòi cho Việt Nam quyền Tổng Tư lệnh quân đội Việt Nam và Pháp.
Thật là phí công, vì ông Letourneau chỉ còn là bộ trưởng phụ trách giải quyết các việc thông thường. Chính phủ René Mayer đổ từ ngày 21 tháng 5. Cuộc khủng hoảng nội các kéo dài tới 35 ngày.
Ông Joseph Laniel, tân Thủ tướng nội các, được tấn phong ngày 26 tháng 6, tuyên bố:
- Chính phủ kiên trì tìm một đoạn chót cho những biến cố ở Đông Dương, dù đang là lúc đàm phán được ký kết sau cuộc đình chiến ở Triều Tiên hay bất cứ cuộc đàm phán nào phù hợp với các chính phủ của quốc gia liên kết.
Từ nay, chính phủ Pháp sẽ không có bộ các quốc gia liên kết nữa, nhưng chỉ còn là một vị quốc vụ khanh, trao cho ông Marc Jacquet. Còn ông Paul Reynaud phó thủ tướng nội các, chịu trách nhiệm về các vấn đề Đông Dương do ủy quyền của Thủ tướng. Thật là giản dị, từ nay không ai biết ai là người chịu trách nhiệm. Hơn nữa, chẳng ai là đồng nhất giữa hội đồng chính phủ. Nếu ông Paul Reynaud như sẵn sàng theo đuổi kỳ cùng mục tiêu độc lập, thì nhiều bộ trưởng khác, tập trung quanh ông Georges Bidault, bộ trưởng Ngoại giao lại muốn giữ tình trạng liên minh của Liên hiệp Pháp.
Lập trường thứ nhất của ông Reynaud thắng và ngày 3 tháng 7, ông Reynaud ra một tuyên ngôn, nhân danh chính phủ, trong đó ông nhấn mạnh:
- Nước Pháp muốn kiện toàn nền độc lập và chủ quyền của các quốc gia liên kết, bằng cách thảo luận trên phương diện bình đẳng, về tính chất các sợỉ liên lạc sẽ đặt ra với từng nước một.
Để chứng tỏ sự thay đổi đường hướng này, chính phủ Laniel ngay ngày hôm ấy cử ông Maurico Dejean đang làm đại sứ ở Nhật, vào chức Tổng ủy viên ở Đông Dương.
Tưởng Navarre đến chào tôi, mấy ngày sau khi ông đến ông cho tôi hay những nét chính về kế hoạch hành quân mà ông sẽ đặt ra. Điểm chính vẫn là để lợi thời gian cho quân đội Việt Nam phát triển, trong khi vẫn theo đuổi chính sách bình trị ở những vùng mà chúng tôi đã thu hồi được.
Về vấn đề quân đội của chúng tôi, tôi cũng cho ông biết thêm những yếu tố mới. Ít ngày sau, ông đi Paris để xin phép chính phủ chấp thuận kế hoạch này. Khi ông trở lại, ông cũng không nói gì cho tôi biết cả…
Trong thời gian này, tôi tiếp một phái đoàn trí thức Việt Nam trong đó có Ngô Đình Nhu, là em của Ngô Đình Diệm. Họ đến để “gợi ý tôi để dân chủ hóa chế độ bằng cách lập ra một Quốc hội”.
- Tôi muốn lắm, tôi bảo họ thế, nhưng các anh lập như thế nào?
- Thưa Hoàng thượng, một người Pháp, một nửa Quốc hội này sẽ do dân bầu, còn nửa kia là dọ Quốc trưởng chỉ định.
Lập tức, tôi ngắt lời:
- Không thể như thế được. Nếu các anh muốn có một Quốc hội, chúng tôi sẽ lập ra Quốc hội đó, nhưng nó phải do toàn thể dân chúng bầu ra. Tôi sẵn sàng làm như vậy, nhưng tôi không cần lưu ý các anh nên cẩn thận, và phải chịu mọi trách nhiệm. Trong đất nước này, chỉ có hai người là có thể đặt ra đươc một Quốc hội như vậy: Hồ Chí Minh và tôi.
Bọn này liền có phản ứng, mà tôi đang chờ đợi:
- Thưa Hoàng thượng, đây chỉ là sự gợi ý của chúng tôi, Quốc hội ấy, tất nhiên là tùy thuộc ở Ngài, để thành lập vào lúc nào Ngài cho là thuận lợi.
Tôi quyết định đi Pháp và đến vào ngày 2 tháng 8. Tôi về Cannes với gia đình vài ngày. Cuộc nghỉ ngơi ngắn ngủi ấy giúp tôi thu lượm được tâm trạng của các nhà chính trị Pháp. Hình như là những quyết định do văn phòng tôi hay do chính phủ của Tấm đều bị dư luận Pháp lên án dữ dội.
Đối với những người không bằng lòng này, phần tôi, tôi cũng có những sự bất mãn, và tôi có đầy đủ hồ sơ.
Một người trong bọn họ thì than phiền về chỗ chính phủ Pháp đã yêu cầu miễn thuế xuất cảnh cho các xí nghiệp khai thác, vẫn chưa được xét đến. Thế mà các thuế xuất cảnh này được đánh là để bù vào chỗ thua thiệt của chúng tôi, do sự phá giá đồng bạc. Hồ sơ thứ hai thì nhằm vào quyết định độc đoán của nước Pháp, là không công nhận giá trị văn bằng do trường Đại học Hà Nội cấp, được bằng với văn bằng do trường Đại học Pháp cấp. Quyết định ấy thật tai hại cho các sinh viên Việt Nam muốn tiếp tục theo học ở Pháp. Cuối cùng, có cả hồ sơ nói về đề nghị ngưng bắn với Việt Minh.
Bởi vì tôi biết sự vận động của Bửu Hội không phải là độc nhất. Một phái đoàn con buôn, thuộc giới áp phe, mới đây đã sang Tàu, và kẻ chủ chốt chẳng ai khác hơn là viên cựu Quận trưởng Aubrac, mà sự giao hảo với Hồ Chí Minh ai cũng đã rõ. Tôi được biết vụ này, do những tin đồn, rỉ tai trong các nhà băng Trung Hoa và Việt Nam, là bọn tài phiệt sẽ tìm cách cứu vãn và che chở cho quyền lợi của họ, nếu có cuộc đình chiến xảy ra với Việt Minh, và sự chia đôi nước Việt Nam, như đã từng xảy ra ở Triều Tiên. Dự định ấy có thể có khá lâu rồi, vì tôi được biết có những chuyên viên phòng nhì Pháp (2è bureau) đang tìm những băng cũ thu tiếng nói của Hồ Chí Minh, để có thể kiểm thính được lời tuyên bố mới nói về đình chiến ở đài Việt Minh.
Tôi sợ rằng người Pháp, quá mệt mỏi về cuộc chiến tranh này, bất cần tôi, sẽ đình chiến với Việt Minh,
Thế mà, những điều kiện về thỏa hiệp ở Đông Dương lại rất bấp bênh hơn ở Triều Tiên nhiều. Những cuộc đàm phán cứ kéo dài, và đưa vào ngõ cụt. Ngược lại, nó có một hậu quả tâm lý tức khắc: đặt dân tộc Việt Nam trực tiếp vào chiến tranh, và làm suy giảm sự phát triển của quân đội quốc gia.
Tôi không muốn người ta đẩy tôi vào chỗ Lý Thừa Vân, phải lãnh đủ ở Triều Tiên.
Trường hợp nước Pháp bỏ mặc chúng tôi phải gánh chịu tất cả sức nặng của chiến tranh, thì theo đúng lẽ công bằng, nó phải trao trả chúng tôi nền độc lập hoàn toàn. Nếu nó có những sự điều đình, điều đình cuối cùng, nó phải chừa ra cái cuối cùng này, như vấn đề hối đoái, vấn đề đặc miễn tài phán và quyền Tổng Tư lệnh quân đội. Chính vì lẽ đó, tôi lại sang Pháp.
Tổng thống Vincent Auriol mời tôi đến gặp ông ở Rambouillet. Chúng tôi thảo luận với nhau suốt 48 giờ đồng hồ là ngày 27 và 28 tháng 8. Có các ông Joseph Laniel, Edgare Faure, Georges Bidault, Marc Jacquet và Paul Reynaud cùng tham dự.
Cuộc nói chuyện bắt đầu trong một không khí khó chịu. Tôi giải thích cho Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc:
- Lời tuyên bố ngày 3 tháng 7 của ông Paul Reynaud đã làm tôi rất bất mãn. Tôi biết rằng đây chỉ là để chiều lòng Quốc vương Sihanouk. Về phần tôi, tôi không hề xin các Ngài một cái gì. Tất nhiên, lời tuyên bố đó không có lý do và cũng không có ích gì hết. Trái lại nữa, hoàn cảnh của tôi tự nó đã không dễ dàng gì, tôi phải đối phó với các giáo phái đang cố gắng chống lại sự hợp nhất quân đội, với các điền chủ đã hiểu sai lạc ý nghĩa của sự cải cách ruộng đất, với các tay bảo thủ không muốn chấp nhận sự cố gắng canh tân, dân chủ, với các nhà ái quốc quốc gia đang nghĩ là Thủ tướng Tâm thân Pháp, với những đảng viên xã hội đang sợ một sự phục hồi nền quân chủ, với các cơ quan của phủ Cao ủy lúc nào cũng muốn hạn chế chức năng của hiệp ước… Tôi phải đưa quân đội trẻ của chúng tôi ra ngay chiến trường, và hơn nữa, để đánh nhau với Việt Minh. Vậy mà ông Paul Reynaud đã muốn bao gồm tất cả những cái táp nham đó, để tập hợp được với nhau, điều mà không bao giờ có thể thực hiện được, nếu không có một hỗ trợ bên ngoài. Nhiều khi, tôi đã nghĩ rằng Paris muốn tôi gánh chịu hết trách nhiệm cho sự thất bại của nó, nhưng thưa Tổng thống, tôi xin nhắc lại, cái thất bại ấy là thất bại của giải pháp Pháp, chứ không phải của Bảo Đại…
Để trở lại lời tuyên bố của ông Paul Reynaud, một chữ trong đó làm chúng tôi bất mãn. Đó là chữ “kiện toàn nền độc lập” do câu ấy đã chưa nói hết, nếu không cho rằng nói sai…
Ngày hôm sau, chúng tôi lại tiếp tục nói chuyện với Tổng thống Auriol. Ông ta nói đến sự thay thế ông ta, vì sẽ rời điện Elysée vào cuối năm, và không có ý định xin tái nhiệm lần nữa.
- Điều tôi muốn xin Tổng thống, tôi nói, đó là nước Pháp đảm bảo vẫn tiếp tục giúp đỡ chúng tôi, chiến đấu chống với Việt Minh.
Ngay chiều hôm ấy, tôi trở về Cannes.
Vài hôm sau, Tướng Catroux vẫn có cảm tình nồng hậu với tôi từ 1949, đến gặp tôi. Ông đến để cho biết là đem một thông điệp của chính phủ:
- Thưa Hoàng thượng, tôi nghĩ rằng Hoàng thượng nên làm một cái gì, có thể hướng chế độ vào một sự dân chủ hóa…
- Thưa Đại tướng, tôi muốn lắm, nhưng Ngài thử cho tôi biết cách nào?
- Chính phủ Pháp muốn rằng Ngài tập hợp ở SàiGòn các nhà chính trị, và trí thức trên toàn quốc.
Thật lạ lùng, ý kiến này rất trùng hợp với điều mà ông Adlai Stevenson vẫn đã nói với tôi ở Ban Mê Thuột, cũng như điều mong muốn của giới trí thức ở SàiGòn đã bảo tôi, trước khi tôi đi Pháp. Tôi trả lời Đại tướng Catroux:
- Thưa vâng. Xin Đại tướng báo với Paris, là tôi sẽ về Sài Gòn để tập hợp một hội nghị gồm đủ mọi xu hướng. Theo nhãn quan của các Ngài, đó sẽ là trung tâm tập hợp tất cả mọi đối lập. Rồi các Ngài sẽ thấy nó sẽ đưa đến đâu…
Tôi liền cho vời ông Tâm lúc ấy ở Paris, và bảo ông ta đừng có dính líu gì vào vụ này. Nên để cho đại diện của Pháp tìm người để lập hội nghị. Người ta chọn Bửu Lộc.
Ngày 14 tháng 10, Hội Nghị Toàn Quốc Việt Nam họp ở Sài Gòn, và lần đầu tiên, bầu ra ban chấp hành. Đó là Trần Trọng Kim được bầu làm Chủ tịch. Trần Trọng Kim là Thủ tướng chính phủ thành lập dưới thời Nhật tặng tôi nền độc lập vào năm 1945. Sự lựa chọn đã có ý nghĩa.
Biết trước cái gì sẽ xảy ra ở SàiGòn, tôi thảo một lời tuyên bố trong đó nói rõ vị trí của tôi. Lời tuyên bố này được đăng trên báo Le Monde, ngày 15 tháng 10 dưới hình thức một bài phỏng vấn.
Ngày 16 tháng 10, 200 đại diện của hội nghị, trong một không khí rất khích động đã trả lời về câu hỏi đặt ra là: Mối giao dịch giữa Việt Nam và Pháp sẽ đặt ra như thế nào? Họ đã đồng nhất trả lời:
“Nhận thấy rằng Liên hiệp Pháp dựng lên bởi ban Tân hiến pháp Pháp năm 1946, đã trái với đường lối chủ quyền quốc gia, Hội nghị toàn quốc quyết định:
- Nước Việt Nam độc lập, không gia nhập vào Liên hiệp Pháp.
- Sau khi chuyển giao các cơ sở và thẩm quyền vẫn còn do Pháp giữ, nước Việt Nam sẽ ký với nước Pháp một hiệp ước đồng minh, trên căn bản bình đẳng, đối với những nhu cầu và tùy trường hợp, cho một hạn định do chính phủ Việt Nam ấn định”.
Khi bản này được phổ biến, cả Paris sôi sục và bất mãn. Tướng Catroux được người ta cử đến tôi ngay tức khắc, đã kêu lên:
- Thật ô nhục, thưa Hoàng thượng. Tổng thống Auriol xin Ngài trở về SàiGòn tức khắc, và phủ nhận Hội nghị này.
- Thưa Đại tướng, nhưng đó là do các Ngài yêu cầu, do nước Pháp yêu cầu. Tôi không yêu cầu gì. Tôi không có tí trách nhiệm gì trong vụ này, và cũng không có lý do nào để phủ nhận những người mà tôi không yêu cầu họ cái gì. Phần khác, tôi đã ấn định ngày tôi rời Pháp là ngày cuối tháng, tôi không thay đổi chương trình.
Đại tướng ra đi, không khỏi thất vọng nặng nề.
Ngày hôm sau, tôi được biết là Hội nghị, đến kỳ họp thứ hai, dưới ảnh hưởng của Bửu Lộc, đã muốn tu chính lại bản này, bằng cách thêm vào câu: “Nước Việt Nam độc lập không gia nhập vào Liên hiệp Pháp” mấy chữ sau đây: “dưới hình thức hiện tại…” Nhưng các đại diện đã lợi dụng cuộc họp này, để đưa tiếng nói của hội nghị thành tiếng nói của một quốc hội lập hiến.
Đấy, như thế là chúng ta biết sự thiếu kinh nghiệm của các nhà chính trị Pháp. Tôi biết rõ, các đại biểu đã bị lôi cuốn vào ngôn ngữ quá độ, là do một nhóm thiểu số người Bắc, và họ phải hiểu trong lo âu, sự phiêu lưu mà họ muốn lăn vào, sẽ đưa họ tới đâu?
Cũng không cần phải nói là lời nói quá sỗ sàng này, quả đã nhiễm chiều vô ơn bạc nghĩa với nước Pháp. Nhưng nó chứng tỏ một hành động độc lập đối với tôi. Giữa lúc mà đất nước, phải cương quyết đương đầu với chiến tranh, mà đường lối chính trị do chính phủ lãnh đạo, phải đạt những kết quả khả quan tôi không thể nào tha thứ được một hành động như thế.
Đầu tháng 11 năm 1953, tôi trở về Việt Nam, nhưng cố tình không vào SàiGòn, mà lên ngay Ban Mê Thuột.
Tại đấy, mấy hôm sau, tôi cho gọi các đại diện Hội nghị đến.
Họ đã tập trung ở phòng khánh tiết, tự hỏi không rõ phản ứng của tôi sẽ ra sao. Rất vắn tắt, tôi bảo họ:
- Thưa các ông, sự việc đã qua rồi, các ông đã gần như nói rõ vị trí của tôi. Người ta hỏi ý kiến của các ông, các ông đã cho ý kiến. Bây giờ điều tôi chờ đợi ở các ông, là xin chấm dứt cái Hội nghị này, và xin các ông hãy trở về nhà.
Tôi có cảm tưởng rằng, sau lời nói đó đa số các đại biểu, đã thở ra một cách nhẹ nhõm. Dù sao nữa, họ cũng trở về nhà họ, và người ta không còn nghe thấy nhắc đến Hội nghị nữa.
Tại Paris, Thủ tướng Laniel trong hai cuộc bàn cãi quan trọng ở Quốc hội trước tiên và ở Hội đồng Chính phủ, đã cố gắng một cách đáng khen, để dập tắt dần câu chuyện. Ông nhấn mạnh trong cả hai lần rằng:
- Nếu một giải pháp danh dự tìm thấy được, dù dưới địa hạt địa phương, hay địa hạt quốc tế, nước Pháp cũng như Hoa Kỳ tại Triều Tiên, sẽ rất sung sướng để chấp nhận một giải pháp ngoại giao về chiến tranh ở Đông Dương.
Câu nói đó không phải là không gây ra một vài lo lắng cho chúng tôi.

Nhất là, khi tôi được biết qua một sự tiết lộ rằng chính phủ Pháp có ý định mời Pandit Nehru để lên tiếng kêu gọi về hòa bình cho Đông Nam Á, nước Pháp sẵn sàng chấp nhận một cuộc đàm phán Pháp-Hoa dưới sự chủ tọa của nhà trung gian Nehru. Để đền đáp về sự can thiệp này, lãnh tụ Ấn Độ sẽ được trả công một cách xứng đáng, đối với năm nhượng địa của Pháp tại Ấn Độ…
Thật lạ lùng, là ngày 29 tháng 11, trong một cuộc phỏng vấn trên báo Thụy Điển Expressen, Hồ Chí Minh nhắc lại, long trọng rằng Việt Minh rất mong được điều đình với Pháp, và ý muốn của ông ta là sẵn sàng tiếp nhận một sứ giả của một nước trung lập.
Tôi không rõ, Hồ Chí Minh cũng được vô tình biết được tin này, do một sự vô ý tiết lộ nào khác không.
Được chính thức báo cho biết, Tướng Navarre đã dứt khoát về chuyện điều đình, giữ gìn quân đội viễn chinh thật chu đáo.
Thế nhưng, tại hội nghị Bemudes, hai ông Laniel và Bidault nêu vấn đề lên trước người Mỹ và người Anh.
Lời tuyên bố của Hồ Chí Minh trong cuộc phỏng vấn phổ biến ở SàiGòn làm cho tình thế thêm gay cấn. Những nhà quốc gia đều bận rộn khẩn trương.
Ngày 11 tháng chạp, Thủ tướng Tâm gởi tôi một bức công điện xin gặp. Để trả lời, tôi yêu cầu ông ta nên từ chức.
Thật vậy, qua radio, tôi được biết Tâm có ý định lợi dụng vụ hội nghị, để lập ra một Nghị viện, nhưng chẳng ai hoan nghênh. Mặt khác, ông Georges Bidault muốn cho tôi hiểu ngầm là có thể có sự điều đình quốc tế về Việt Nam.
Vì những lý do đó, và để ngăn chặn một khủng hoảng mà tôi cảm thấy, ngày 17 tháng chạp, tôi chấm dứt nhiệm vụ của Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, và ủy nhiệm Hoàng thân Bửu Lộc lập chính phủ mới.
Cũng ngày hôm ấy, tại Paris, Nghị viện họp, và sau tám ngày mà cả, ông René Coty được bầu làm Tổng thống Pháp.
Hội nghị Genève
Tôi chọn Bửu Lộc để dự trù trong việc ngoại giao quốc tế, sẽ họp trong năm 1954. Bửu Lộc đã ở cạnh tôi rất lâu mỗi khi tôi về nghỉ ở Pháp, bởi ông ta là Cao ủy và Đại sứ Việt Nam tại Pháp. Như vậy, ông ta thường có dịp học hỏi và quen biết giới chính trị gia Pháp, và các nhân vật ngoại quốc khác.
Chính phủ của ông thành lập ngày 12 tháng giêng (18). Đó không hẳn là một chính phủ đoàn kết quốc gia như tôi mong muốn, nhưng nó bao gồm nhiều nhân vật thông thạo, và tận tâm. Nếu các giáo phái từ chối không chịu tham dự, thì chính phủ này cũng có hai đảng viên Đại Việt tham gia. Tôi ấn định cho Bửu Lộc hai mục tiêu là theo đuổi các công cuộc cải cách đang dở dang, và phải kết thúc với Pháp sự bảo đảm độc lập toàn vẹn trên toàn quốc.
Mục tiêu thứ hai này giúp cho ông ta có uy tín đối với các phe phái quốc gia, và củng cố vị trí trọng tài của tôi.
Hội nghị Berlin mở ra ngày 25 tháng giêng, với sự tham gia của các bộ trưởng Ngoại giao tứ cường, Dulles, Eden, Molotov và Bidault. Tôi cử Nguyễn Văn Tâm đến, với tư cách quan sát viên. Hội nghị này mở màn cho sự quốc tế hóa vấn đề tranh chấp ở Đông Dương. Việt Minh lợi dụng tối đa về tình thế này.
Tại chỗ, vị Tổng Tư lệnh đã mở nhiều cuộc hành quân, mà theo ông nghĩ, một mặt đẩy chúng bỏ chạy khỏi quấy rốì.sự phát triển của quân đội quốc gia, mặt khác để tảo thanh các vùng mà chúng tôi đang kiểm soát.
Vì vậy, ông cho tái chiếm từ nhiều tháng trước Điện Biên Phủ, một thị trấn trên đất Thái, ở sát biên giới Lào, để dử cho Việt Minh tấn công. Mặt khác, ông phải đối phó với một lực lượng Cộng sản tràn lan xuống sông Cửu Long, qua vùng Trung Lào. Cuối cùng, một cuộc hành quân rộng lớn được sử dụng ở cao nguyên miền Trung, để giữ vững vùng này.
Tướng Navarre đã báo cho tôi những cuộc hành quân đó. Ông chú trọng nhất về việc giải tỏa miền Trung Việt Nam. Tôi có đề nghị để các đơn vị Việt Nam cùng giữ Điện Biên Phủ ông ta đáp:
- Dạ không. Đây là một vấn đề hoàn toàn Pháp. Chúng tôi muốn bẻ gãy bọn Việt Minh. Hai tiểu đoàn Thái đã có mặt ở đây là quá đủ.
Trong dịp tết Giáp Ngọ, ngày 3 tháng 2, tôi gửi một thông điệp chúc tết hàng năm cho dân chúng Việt Nam. Sau khi phân tách tình hình hiện tại, tôi giải thích những ưu và khuyết điểm mà có chứa đựng, không thể tránh.
“Ngày hôm nay, chủ quyền của chúng ta đã được thu hồi, và năm nay cũng là năm mà đường lối chính trị của chúng ta đã ra khỏi mẫu đất khó khăn đã cản mũi chúng ta. Nước Pháp, do giòng lịch sử đã để lại trên phần đất này, nhiều dấu vết tốt đẹp thì chẳng bao lâu sẽ chấm hết do hiệp ước trả lại nền độc lập này… Quý hơn hết, quốc gia to lớn này đã không chấp nhận cho đế quốc Sô Viết, được bắt lấy cái chủ quyền vừa được thu hồi ấy, và nó đã chịu nhiều hy sinh nặng nề, để chứng tỏ rằng sự giải phóng cho chúng ta không phải là trò bịp bợm bi thảm… Tôi ước ao rằng dân chúng Pháp sẽ hiểu rằng, chỉ có sự thỏa mãn giá trị tinh thần quốc gia của Việt Nam mới có thể bảo đảm được tình thân hữu, nền văn hóa và quyền lợi đã đẩy hai dân tộc chúng ta chung sống gần một thế kỷ cùng nhau.
“Vấn đề hiện tại là bây giờ chúng tôi phải gạt bỏ mọi dấu vết Cộng sản.
“Năm 1945, toàn thể nhân dân Việt Nam đã đứng lên giành lấy chủ quyền của mình. Chính bọn Cộng sản đã thực hiện tội ác chống lại tổ quốc, và làm tan tác sự nhất trí này...”
Rồi tôi giải thích về những xáo trộn năm 1945, chúng tôi sẵn sàng thiết lập một cơ cấu chính trị dân chủ, theo căn bản dân vi quí, để đưa nước nhà lên đài vinh quang trong tương lai…
“Một sự đồng minh bình đẳng với nước Pháp, sẽ hỗ trợ chúng tôi vào vị trí quốc tế. Cảm tình của 33 nước trong khối tự do, đã chính thức công nhận nước Việt Nam quốc gia này. Trong các nước ấy, sự biết ơn của chúng tôi đặc biệt dành chứ nước Hoa Kỳ đã giúp đở chúng tôi mạnh mẽ, và không vụ lợi…
“Cuộc chiến của chúng tôi là nội chiến, trong khi bọn chống đối trá ngụy mà chúng tôi phải đương đầu, lại do ngoại bang chi phối. Nó là lợi khí địa phương cho một chiến lược quốc tế, mà trung tâm là Moscou. Nếu bọn Cộng sản Việt Nam cho rằng chiến đấu để giải phóng Việt Nam trong tay Pháp, tại sao họ lại không đếm xỉa gì đến nền độc lập đã thu hồi được? Nếu bọn Cộng sản Việt Nam tự nhận chỉ riêng họ là yêu nước, tại sào họ lại đưa chiến tranh, ngay cả bây giờ nữa, sang đến tận Lào, ở ngoài biên giới của chúng tôi?
“Đồng bào thân mến,
Chính chung quanh lý tưởng quốc gia, mà chỉ chung quanh nó, mà tôi mời tất cả đồng bào tập hợp lại, để cương quyết hành động, hầu đập tan các điều thống khổ của chúng ta. Còn nhiều người trong bọn chúng ta, vẫn còn thụ động, tin rằng còn có những người Việt khác cũng như người ngoại quốc, sẽ làm, giảm thiểu, hãm bớt đà tìến công của Cộng sản mà đem lại hòa bình. Họ không thể phạm một lỗi lầm to lớn hơn nữa, và tấm gương của Triều Tiên chứng tỏ cho họ biết, nếu một dân tộc không tự giải phóng được mình, thì nó sẽ bị tan rã, và vẫn phải chịu sống dưới quyền đô hộ của ngoại nhân. Nước Việt Nam cuối cùng sẽ là nước Việt Nam do chính tay người Việt Nam định đoạt…”
Khi nêu gương của nước Triều Tiên, tôi muốn cảnh cáo long trọng dân tộc tôi về hiểm họa mới đang đe dọa sự đoàn kết của họ, và sẽ đẩy tất cả vào công dã tràng xe cát trong bao năm vun vén xây dựng.
Trong suốt tháng 2 năm 1954, đây là cả một đoàn người đến thăm. Đầu tiên là ông Pleven, bộ trưởng Quốc phòng; ông De Chevignée, quốc vụ khanh về chiến tranh; ông Jacquet, quốc vụ khanh các quốc gia liên kết; Tướng Ely, Blanc, và Fay, đến thăm nhiều địa điểm hành quân. Đoàn du lịch cuối cùng đến Điện Biên Phủ mà ai cũng trầm trồ khen ngợi công trình thực hiện được về căn cứ Không quân này. Tôi tiếp ông Pleven hai lần ở Ban Me Thuột, rồi ở Đà Lạt, và tôi nói về quân đội quốc gia Việt Nam. Do sự thành lập sư đoàn thứ 8 của đoàn khinh quân hậu vệ, về đợt thứ hai, quân số của quân đội Việt Nam vào năm 1954, đã lên từ 200.000 đến 285.000 người, được phân chia như sau:
148,000 quân chính qui với 8 sư đoàn Bộ binh, 80.000 người do đoàn khinh quân, 44.000 trừ bị và 13.000 về Thủy quân và Không quân. Chương trình này đã vượt quá 10.000 người đối với chương trình mà tôi vạch cho Tướng Navarre vào tháng 6 năm 1953. Nó gặp khó khăn về sĩ quan và cấp chỉ huy. Chương trình mà chúng tôi có thể cung cấp được sẽ bị thiếu hụt độ 14%, theo bảng cấp số. Cuộc thiếu sót đó sẽ được lấp đầy bằng cách đưa 6.000 sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp, cạnh quân đội quốc gia Việt Nam.
Khi viên Bộ trưởng Quốc phòng trở về Pháp, thì đã có cuộc bàn cãi sôi nổi ở Quốc hội, trong đó Thủ tướng Laniel tuyên bố ngày 5 tháng 3, là ông ta nhất định “giải quyết vấn đề Đông Dương bằng đường lối ngoại giao”.
Một sự xác nhận như thế chẳng giúp đỡ gì cho chúng tôi, nó chỉ làm cho chúng tôi nản lòng, nhất là để động viên tinh thần dân chúng. Nó lại còn một hậu quả tai hại nữa, là cấp thêm luận điệu cho phe quốc gia cực đoan. Tôi quyết định cử Hoàng thân Bửu Lộc đi ngay Paris, để thôi thúc việc trao trả nền độc lập hoàn toàn. Cuối cùng, ngày 29 tháng 3, tôi lập một chính phủ chiến tranh, đặt dưới quyền tôi đã tập hợp các bộ trưởng liên hệ đến sự phòng thủ, viên Tham mưu trưởng Tướng Hinh… Bằng hình thức này, tôi muốn nhấn mạnh đến sự dấn thân của chúng tôi vào chiến tranh chống lại Cộng sản, và muốn chứng tỏ rõ ràng trước dư luận thế giới, ý chí nhất định của chúng tôi trong sự điều đình về hòa bình, để giữ cho được nền thống nhất và độc lập cửa Việt Nam.
Tiếng súng đầu tiên do Việt Minh bắn vào căn cứ Điện Biên Phủ, kể từ ngày 13 tháng 3, đã chứng tỏ sự suy diễn của tôi. Nước Pháp đã bị đặt dưới hoàn cảnh hạ phong đối với Hồ Chí Minh, và phe đảng của ông ta không bỏ phí cơ hội để thu lợi tối đa.
Về phần chúng tôi, nước Việt Nam, sau khi đã hoàn tất, trên bình diện quân sự, vấn đề chính là nói đến điều đình. Tôi quyết định sang Pháp để đặt giữa trung tâm của cuộc bàn cãi.
Tôi tới Cannes ngày 11 tháng 4. Ngày 16, tôi lên Paris, và gặp ông René Coty, Tổng thống Pháp tại lâu đài Vizille.
Khi tôi đến Paris, tôi gặp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Foster Dulles cũng đi qua đấy. Ông tỏ ra không chịu nhượng bộ nước Trung Hoa. Rồi đến ngày 21 tháng 4, tôi gặp Thủ tướng Laniel và ông Georges Bidault. Tôi xác nhận vị trí của tôi:
- Bởi vì đã có một hội nghị, tôi chỉ đến dự khi được mời, do quốc thư của các nước tham dự hội nghị. Nhưng tôi không muốn nhìn Việt Minh. Tôi là chính phủ chính thức, và tôi không chấp nhận ngồi chung với bọn phiến loạn.
Ngày 23 tháng 4, tôi viết cho Tổng thống Coty một bức thư, để xin triệu tập hội đồng Liên hiệp Pháp. Tôi không được thỏa mãn.
Ngày 24 tháng 4, tôi được chính thức thông báo về dự định của chính phủ Pháp đối với Hội nghị sẽ mở ở Genève, do một bản thông báo của ông Georges Bidault gởi cho Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Định. Lập tức tôi giữ gìn thận trọng.
Hôm sau 26 tháng 4, tôi cho Văn phòng của tôi ấn hành bản thông cáo nói rõ:
“Nước Việt Nam không thể chấp nhận những điều khoản về hội nghị dàn xếp, trong đó nước Pháp, đi trái với nguyên tắc của Liên hiệp Pháp, mà nhân danh nó, nước Pháp lại đi điều đình với bọn phiến loạn chống lại nước Việt Nam và với những cường quốc đã chống lại Việt Nam”.
Tôi tố giác những dự định, mà tôi được biết: phân chia đất nước Việt Nam, như kiểu Triều Tiên, hay tập hợp riêng rẽ từng vùng một, và tôi kết luận:
“Cả từ Quốc trưởng lẫn chính phủ Việt Nam đều coi như không liên hệ gì đến những quyết định đi ngược lại với nền độc lập và thống nhất của đất nước”.
Hội nghị Genève mở ra ngày 26, bằng một hình thức mở đầu như ở Triều Tiên. Tôi đi Paris, và về với vợ con tôi ở Cannes. Ở Điện Biên Phủ, tướng Giáp bứt từng mảnh lần lượt những căn cứ chống cự trong lòng chảo…
Tại Cannes, ông Marc Jacquet đến xin gặp tôi với tính cách cá nhân. Ông ta báo cho tôi biết là ông Georges Bidault đã gặp ông Molotov và vị này đã yêu cầu ông ta phải sắp xếp cho sự có mặt của đại diện Việt Minh ngồi cạnh đại diện của các quốc gia liên kết. Ông ta nhắc tôi nên chú ý:
- Thưa Hoàng thượng, Mỹ và Nga đã đồng ý với nhau ở Berlin, tất cả đều đã được sắp đặt sẵn rồi.
Hai hôm sau, đây là ông Đổng lý văn phòng bộ trưởng Ngoại giao, ông Pierre Falaise đến gặp tôi. Cấp trên của ông ta phái ông ta đến đây để xin tôi đề cử nhân vật của phái đoàn Việt Nam đi dự Hội nghị, và cũng để biết vị trí của Việt Nam khi có mặt của phái đoàn Việt Minh. Nhiều nơi giục dã, kể cả người Mỹ, do Đại sứ của họ là ông Heath.
Tôi cảm thấy cái bẫy mỗi ngày một thắt chặt lại. Nhưng tôi muốn bảo vệ nền độc lập đến kỳ cùng. Tôi phải trả lời ông Bidault:
- Chúng tôi chỉ đến Genève để đàm phán về sự có chấp nhận Việt Minh vào hội nghị hay không, và với điều kiện là chúng tôi phải được các cường quốc Tây phương mời: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, để cùng với đại biểu của họ dự phiên họp đầu tiên.
Lời yêu cầu của tôi được chấp nhận, và ngày 3 tháng 5, Nguyễn Quốc Định đến Genève, có các ông Bedell Smith lãnh đạo phái đoàn Mỹ, Antony Eden và Georges Bidault.
Con bài đã ném xuống. Tôi nhớ lại lời của ông Marc Jacquet: “Đây là người Mỹ đã bày ra tất cả: Ngài sẽ thấy viên Đại sứ Mỹ đi đi lại lại, để yêu cầu Ngài chấp thuận, nhưng kỳ tình tất cả đã được định trước giữa họ với các tay tổ Cộng sản rồi”.
Nhưng tôi cũng chẳng để họ khuất phục được. Vì thế, khi nó chưa từng đề cập đến, tôi vẫn từ chối bọn Việt Minh vào trong Hội nghị. Nay tôi cương quyết đặt vấn đề với phái đoàn Pháp để được rõ ràng, và buộc họ phải cam đoan bảo đảm cho nền thống nhất của Việt Nam.
Chắc chắn là sẵn sàng nhận hết, ông Georges Bidault đã được chính phủ cho toàn quyền giải quyết, cốt giữ cho Hội nghị được trơn tru, đã viết cho tôi ngày 6 tháng 5:

“Chính phủ Pháp trong thời gian này, không chỉ là đi tìm một giải pháp chính trị vĩnh viễn. Công việc của tôi, như đã nói rõ trong bản thông cáo ở Berlin, là tìm hòa bình cho Đông Dương.
“Mục đích của chúng tôi như vậy là tìm việc ngưng bắn, trong khuôn khổ một cuộc đình chiến, đem lại bảo đảm cần thiết cho các quốc gia Đông Dương, cho nước Pháp và cho các cường quốc đồng minh mà quyền lợi tổng quát của họ có liên hệ chặt chẽ với quyền lợi của chúng tôi ở khắp Đông Nam Á Cuộc đình chiến đó không phải có định kiến cho một ý đồ nhất định nào, khi các trường hợp về hòa bình và tự do đã có thề mở ra được tổng tuyển cử, khi đã hội đả.
“Ngay tự bây giờ, tôi sẵn sàng xác nhận với Hoàng thượng rằng không có gì trái với ý định của chính phủ Pháp là sửa soạn lập ra hai quốc gia, trên lưng riước Việt Nam thống nhất, để hai quốc gia này mỗi nước có xu hướng quốc tế khác nhau...”
Hai mươi lăm năm nay, tôi đọc lại đoạn cuối của bức thư này. Lời lẽ rất dứt khoát lời hứa hẹn rất long trọng… Nước Pháp không bao giờ chấp nhận sự chia xẻ nước Việt Nam. Ngày mùng 3 tháng 5, tại Sài Gòn, Đại sứ Dejean đã tuyên bố, theo chỉ thị của chính phủ:
- Chính phủ Pháp không có dụng ý tìm giải pháp về cuộc chiến Đông Dương trên căn bản một sự chia cắt nước Việt Nam… Những đảm bảo nhất định đã được Bộ trưởng Ngoại giao Pháp trao cho Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Quốc Định ngày 25 tháng 4 vừa qua, và quyết định ấy được xác nhận ngày 1 tháng 5.
Chúng tôi đang ở vào ngày mùng 6 tháng 5 năm 1954. Hôm sau, Điện Biên Phủ thất thủ, sự hy sinh của biết bao thanh niên như đã lấy máu mình để kiềm ấn vào lời hứa hẹn của Pháp. Từ Paris, tôi gửi cho đồng bào của tôi và cho các bạn Pháp một thông điệp do hãng AFP đánh đi ngày 8 tháng 5:
“Dân tộc Việt Nam và dân tộc Pháp, vào giờ phút này, chia nhau niềm thử thách đau thương, sau kết quả bi thảm của chiến trường anh dũng Điện Biên Phủ, trong đó các chiến sĩ Pháp và Việt Nam đã cho một tấm gương lịch sử về can đảm, về lý tưởng và sự hy sinh cho chính nghĩa tự do.
“Đầu óc của tất cả chúng ta, Việt Nam cũng như Pháp là phải tương đồng trong lúc này, để tỏ lòng tôn kính đối với sự hy sinh của các chiến sĩ đó. Tim chúng ta se sắt, chúng ta nghĩ đến những nỗi đau khổ của những người bị thương, những cái tang của các gia đình, và chúng ta chỉ còn biết cúi mình kính cẩn trước nỗi đau do cuộc chiến này đưa lại.
“Nhưng chúng ta cũng không phải là không có ít nhiều kiêu hãnh, về giá trị của quân lực Pháp và Việt Nam trước một kẻ thù đông đảo và cuồng tín. Nước Pháp nhiều phen từng làm cho thế giới ngạc nhiên về lòng can đảm, khi gặp trường hợp quật ngược, và bởi một tinh thần quốc gia mạnh mẽ, đã bùng lên vào lúc bị thử thách nặng nề. Nước Việt Nam, trong lịch sử từ ngàn xưa, đã trải qua nhiều thời kỳ đen tối. Tuy nhiên, nó không bao giờ nản chí để chiến đấu cho nền tự do, độc lập của mình. Ngày hôm nay, sát cánh cùng nhau chung một mục đích là nền tự do thế giới, chống lại chủ nghĩa Cộng sản, hai nước chúng ta chắc chắn sẽ vượt qua cái thử thách này, đang đánh phá nặng nề, gây nên bao chết chóc đau thương, nhưng cũng không thể nào làm suy yếu tình thần cũng như sinh lực của chúng ta.
“Tôi muốn rằng, ngày hôm nay, nhân danh các đồng bào tôi, nói riêng với các bạn Pháp của chúng tôi. Nay nước Pháp đã công nhận nền độc lập của Việt Nam, không ai còn có thể nghi ngờ về tinh thần mã thượng của nước Pháp, đã chiến đấu cho nước Việt Nam và cho thế giới tự do. Những vinh quang quân sự của nó được tô thắm bằng những điểm son cho tinh thần cao thượng, thể hiện tại Điện Biên Phủ theo dòng lịch sử, mà tên của De Castries bừng bừng lên như tên của La Fayette với nhiều tên của các chiến sĩ chiến đấu cho lý tưởng, khác nữa.
“Người Pháp có thể tin được rằng, nước Việt Nam không bao giờ quên những hy sinh của nước Pháp. Bổn phận tôi là Quốc trưởng nước Việt Nam, buộc tôi phải đấu tranh cho quyền lợi và nền độc lập của đất nước tôi. Nhưng, từ nền độc lập đó, họ cần phải biết rằng, họ không sợ bị bất cứ một hậu quả tai hại nào, bởi nước Việt Nam lúc nào cũng muốn thắt chặt tình giao hảo với nước Pháp, và người Pháp có nhiều mối liên hệ vững chắc và có lẽ rất chặt chẽ hơn khi họ còn đặt dưới hệ thống chính quyền cũ vì sự hợp tác mới này đặt trên căn bản tự do, không bị bắt buộc. Nó được cấu tạo trên một nền móng tâm lý và tình cảm, làm cho vững mạnh hơn, và bên chặt hơn bất cứ một giao kết pháp lý nào.
“Vì vậy, hỡi các bạn Pháp của Việt Nam, binh sĩ cũng như thường dân, khi gửi cho các bạn bản thông điệp tại Đông Nam Á, mà nền văn hóa Pháp được sáng ngời, đồng thời sẽ là một quốc gia luôn dính liền với quý quốc, bằng sợi dây thân hữu vĩnh viễn và sâu đậm”.
Tôi chú trọng, tất nhiên, nói về sự thất thủ ở Điện Biên Phủ chẳng phải là một tai họa chiến lược gì. Trên địa hạt quân số, sự mất mát chỉ vào khoảng 5% đối với quân đội của Liên hiệp Pháp. Trên lãnh vực tinh thần, sự thất thủ một thị trấn xứ Thái quả là nặng nề, nhưng trong nhiều trường hợp khác, cũng chỉ có tầm quan trọng không hơn gì khi bỏ Hòa Bình. Cuối cùng, cuộc hội nghị tại Genève, trong sự giao dịch giữa Việt Nam và Pháp, trong bất cứ trường hợp nào cũng chẳng phải là đoạn kết, mà ngược lại nữa, đây lại chính là khúc mới để bắt đầu.
Về hai đại cường trên thế giới tự do Hoa Kỳ và Anh quốc, tôi biết vị trí của họ khác nhau. Tất nhiên, sự từ chối của Tổng thống Eisenhower không chịu can thiệp vào Điện Biên Phủ, nếu cần, sẽ dùng bom nguyên tử, - điều mà không bao giờ tôi chấp nhận, nếu được hỏi ý kiến - cho thấy Hoa Kỳ không muốn dính dấp vào nữa. Nhưng ông Foster Dulles, Ngoại trưởng đa số dư luận hỗ trợ, lại không chịu chấp nhận vấn đề bỏ rơi Bắc Việt Nam, dễ dàng và giản dị như thế được, bởi sự đó làm cho Hoa Kỳ mất mặt ở Á châu. Tôi không chắc mấy vào ông Bedell Smith đang lãnh đạo phái đoàn Mỹ. Sau rốt, người Anh vẫn còn nhiều vướng mắc ở Đông Nam Á vì sợ bọn Cộng sản đóng sát ở cửa ngõ Thái Lan và Mã Lai.
Còn về người Nga và Tàu, mà sự dị biệt như còn tồn tại sau vụ đàm phán ở Triều Tiên, giữa Molotov và Chu Ân Lai, nên mong rằng họ sẽ có thái độ bớt khắt khe, mà người ta phải e dè.
Tôi quyết định đến gần Genève để theo dõi cho biết những chuyện mặc cả này nọ, và tôi ở trong một biệt thự thuê ở La Vergnaz.
Phái đoàn Việt Minh tới, do Phạm Văn Đồng cầm đầu. Thủ tướng Bidault trình quan điểm của Pháp. Ông ta đề nghi nguyên tắc ngưng ngay mọi sự thù nghịch, và chia ra trường hợp riêng rẽ của Lào và của Cam Bốt. Ông ta không đá động gì về giải pháp chính trị.
Hai ngày sau, Phạm Văn Đồng trả lời ông ta đưa ra quan điểm của họ. Quan điểm này vơ trọn cả Lào và Cam Bốt, và bao gồm sự hồi hương quân đội viễn chinh Pháp, một dự định bầu cử tự do có dính líu chặt chẽ đến vấn đề quân sự và chính trị.
Ngày 12 tháng 5, đến lượt đại biểu của chúng tôi, là Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Định trình bày đề nghị của Việt Nam. Sau khi tố cáo những tội ác của Việt Minh và nói lên giá trị của những kết quả đạt được từ 1949 do chính phủ quốc gia: thống nhất, độc lập, tạo một đạo quân quốc gia, được 35 nước công nhận, đặt nền móng cho một nền hành chánh, ông ta đặt câu hỏi:
- Có cần thiết phải chấm dứt nền đô hộ thuộc địa, bằng cách đem vào trong nước chủ nghĩa Cộng sản là một hình thức rất tinh vi của chủ nghĩa đế quốc? Có cần phải, khi không là một thuộc địa của Pháp, lại trở thành một chư hầu của nước Tàu?
Ông xác nhận sau đó sự chống đối của chúng tôi về việc chia cắt đất nước “dù trực tiếp hay gián tiếp, dù nhất định hay tạm thời, dù thực tế hay pháp lý”.
Nhân danh Hoa Kỳ, Tướng Bedell Smith chấp nhận ý kiến của chúng tôi, và tuyên bố ủng hộ. Than ôi, nước Pháp và nước Anh lại im lặng. Tất nhiên, Trung Hoa công nhận giải pháp của bọn Việt Minh.
Kể từ lúc ấy, hội nghị sa lầy trong những chuyện đầu cua tai heo. Tôi ít gặp các đại biểu của Pháp trong thời gian ấy, còn người Mỹ thì luôn luôn đến cho tôi biết về tiến trình của hội nghị trong thời gian bàn cãi này.
Tại Paris, một cuộc bàn cãi sôi nổi đã xảy ra ở Quốc hội từ 11 đến 14 tháng 5 mà chính phủ Laniel chỉ thắng với số phiếu vừa đủ. Tướng Ely và Salan được cử đi SàiGòn, đem chỉ thị đến cho Tướng Navarre, để sửa soạn thu xếp các quân trang quân dụng. Khi họ đi vào ngày 27 tháng 5, Uỷ ban Quân sự cao cấp họp ở SàiGòn quyết định giao trọn trách nhiệm cho bộ Tổng Tư lệnh quân đội Việt Nam.
Cũng ngày hôm ấy, tại Genève, Phạm Văn Đồng trong một lời tuyên bố, đã cho biết là Việt Minh sẵn sàng chấp nhận trên nguyên tắc sự tham gia và hợp nhất quân đội.
Hai hôm sau, một cuộc họp hạn chế, định rằng hai bộ Tư lệnh Pháp và Việt Minh sẽ họp ở Genève để bàn về vấn đề các vùng tập kết ở Việt Nam, rồi ở Lào, và ở Cam Bốt, hầu đi đến sự chấm dứt nhanh chóng và tức khắc những hận thù, theo điều kiện hòa bình. Bắt đầu từ mùng 2 tháng 6, Hội đồng Quân sự ấy bắt tay vào việc. Tạ Quang Bửu, thứ trưởng bộ Quốc phòng của Việt Minh và Tướng Delteil, đại diện cho Tổng tư lệnh quân đội Pháp, có sự ủy nhiệm của tôi, điều khiển hai phía đối nghịch;
Trong thời gian đó, một việc lạ lùng xảy ra ở Paris, do một bài báo in trên tờ nhật báo Express, đòi loại bỏ ông Marc Jacquet, để thay vào chức Quốc vụ khanh đặc trách các quốc gia liên kết, bằng ông Frédéric Dupont. Ngày 3 tháng 6, Tướng Ely được bổ làm Tổng tư lệnh và Tổng ủy viên ở Đông Dương, và Tướng Salan làm phó cho ông ta.
Hoàng thân Bửu Lộc được ông Paul Reynaud mời sang nay lại đi SàiGòn, duyệt ký với ông Laniel ngày 4 tháng 6, các bản hiệp ước về độc lập và hợp tác, vốn đợi từ lâu. Đây là lần thứ năm “nước Pháp công nhận nước Việt Nam là một nước hoàn toàn độc lập”, nhưng là lần đầu “… và chủ quyền với tất cả những thẩm quyền do luật quốc tế công nhận”.
Sự chấp nhận đó gồm hai bản dưới hình thức các hiệp ước. Bản đầu tiên, cho chúng tôi, thêm một lần nữa, nền độc lập, vì nhắc lại nhiều quá thành ra lố bịch. Bản thứ hai nói về các điều kiện hợp tác giữa Việt Nam và Pháp. Tất nhiên chúng tôi đã nhận được, qua bản này là không được dính líu gì đên những điều khoản riêng của Hiến pháp Pháp liên hệ đến quốc phòng và ngoại giao, nhưng tôi thấy nên nhắc lại: cần phải ngưng lại đây một chút. Tôi xin giải thích: hiệp ước về độc lập và hiệp ước về hợp tác chưa được ký, thì nước Việt Nam không thể dự vào một cuộc đàm phán quốc tế nào. Từ chỗ đó, sự vắng mặt của chúng tôi ở Genève sẽ bịt kín chúng tôi mặc cho sóng vỗ bèo trôi, hay bị chia cắt tan tành.
Tôi rời Evian để trở về Cannes.
Kể từ ngày 1 tháng 6, Nghị viện bàn cãi sôi nổi về hiện tình ở Đông Dương. Ông Mendès France chống lại chính phủ Laniel, dùng luận điệu của ông Molotov nói ở Genève ngày 8 tháng 6, đổ cho ông Georges Bidault là muốn phá hội nghị. Bị đặt trong thiểu số với 13 phiếu, chính phủ Laniel từ chức ngày 12 tháng 6. Tổng thống René Coty liền giao cho ông Pierre Mendès France lập chính phủ mới.
Tôi cho gọi đến Paris Tướng Hinh, và đòi rút phái đoàn về, để giao lại cho Tổng Tư lệnh quân đội. Nhưng tôi bị từ chối. Tôi nhắc lại với đại biểu của Mỹ ở Genève là ông Bedell Smith. Lúc đầu, chúng tôi cử làm trưởng phái đoàn, viên bộ trưởng Ngoại giao vì chúng tôi nghĩ là một hội nghị chính trị, nhưng trong cuộc họp hạn chế, người ta lại bàn về vấn đề quân sự. Vì vậy, tôi ra lệnh cho tất cả nhân viên phái đoàn rút lui.
Chúng tôi không còn tin gì vào người Pháp nữa. Tại Genève, riêng còn người Mỹ là đồng minh của chúng tôi. Trước sự tiến triển về hoàn cảnh, họ định lập lại một hệ thống phòng thủ mới ở Đông Nam Á. Họ có thể giúp đỡ chúng tôi tiếp tục cuộc chiến chống lại Cộng sản.
Tại SàiGòn, Thủ tướng chính phủ gặp phải sự chống đối quyết liệt của các nhà quốc gia trong phong trào Mặt trận Đoàn Kết Cứu Quốc do Ngô Đình Nhu lãnh đạo. Mặt trận này không công nhận trước tất cả các quyết định có thể do Genève đặt ra.
Tôi cho vời đến Cannes các lãnh tụ của tất cả các phong trào chính trị và tôn giáo ở Việt Nam để hỏi ý kiến. Tôi cho họ biết cái gì đã xảy ra, rằng tất cả đều đã được xếp đặt trước, đến chỗ sẽ chia đôi đất nước. Tôi vạch ra cho họ sự cần thiết đặt một đường hướng mới, và gợi ý họ là cho thay thế Hoàng thân Bửu Lộc bằng Ngô Đình Diệm, để cầm đầu chính phủ. Tất cả hoan nghênh ý kiến của tôi.
Biết trước mình khó lòng theo đuổi được con đường đã vạch, Bửu Lộc đệ đơn xin từ nhiệm cho cả chính phủ.
Sau khi thảo luận với ông Foster Dulles, để cho ông ta biết ý định ấy, tôi cho vời Ngô Đình Diệm và bảo ông ta:
- Cứ mỗi khi mà tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi đến ông. Ông thì lúc nào cũng từ chối. Nay tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị chia cắt làm đôi. Ông cần phải lãnh đạo chính phủ.
- Thưa Hoàng thượng, không thể được ạ. Ông ta đáp. Tôi xin trình Ngài là sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đã quyết định. Tôi định đi tu…
- Tôi kính trọng ý định của ông. Nhưng hiện nay, tôi kêu gọi đến lòng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của mình. Sự tồn vong của Việt Nam buộc ông như vậy.
Sau một hồi yên lặng, cuối cùng ông ta đáp:
- Thưa Hoàng thượng, trong trường hợp đó, tôi xin nhận sứ mạng mà Ngài trao phó.
Cầm lấy tay ông ta, tôi kéo sang một phòng bên cạnh, trong đó có cây thánh giá. Trước thánh giá, tôi bảo ông ta:
- Đây Chúa của ông đây. Ông hãy thề trước chân dung Chúa là giữ vững đất nước mà người ta đã trao cho ông. Ông sẽ bảo vệ nó, để chống lại bọn Cộng sản, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp nữa.
Ông ta đứng yên lặng một lúc lâu, rồi nhìn tôi, sau nhìn lên thánh giá, ông nói với giọng nghẹn ngào:
- Tôi xin thề!
Bốn mươi tám giờ sau, sau khi giới thiệu ông với Tướng Ely, từ Washington trở về qua Paris, ông Diệm về Sài Gòn cùng với Hoàng thân Bửư Lộc để bàn giao quyền hành. Trước khi ra đi, tôi trao cho Diệm một đạo dụ ủy cho ông ta mọi quyền, hành chánh cũng như quân sự.
Trước đây đã dùng Diệm, tôi biết ông ta vốn khó tính. Tôi cũng biết ông ta rất cuồng tín, và tin vào đấng Cứu Thế. Nhưng trong tình thế này, không còn có thể chọn ai hơn. Thật vậy, từ nhiều năm qua, người Mỹ đã biết ông, và rất hâm mộ tính cương quyết của ông. Trước mắt họ, ông là nhân vật đủ khả năng đối phó được với tình thế, vì vậy Washington sẵn sàng hỗ trợ ông. Nhờ thành tích cũ, và nhờ sự có mặt của em ông, đang đứng đầu Mặt trận Đoàn kết Cứu quốc, ông được nhiều nhà quốc gia cuồng nhiệt ủng hộ, các vị này từng làm đổ chính phủ Tâm và chính phủ Bửu Lộc. Tóm lại, nhờ cương quyết và cuồng tín, ông là người chống Cộng chắc chắn. Đúng vậy, đó là người của hoàn cảnh.
Hai mươi bốn giờ sau, sự đề cử ông làm Thủ tướng Việt Nam trùng hợp với việc tấn phong chính phủ Pháp của ông Mendès France, do Quốc hội bỏ phiếu ngáy 17 tháng 6, với số phiếu tối đa 419 cho số cử tri 466 người. Trong khi hội nghị Genève đang họp, vị Thủ tướng tân cử này, liền tuyên bố một cách lạ lùng:
- Tôi đã nghiên cứu hồ sơ một cách kỹ lưỡng và trịnh trọng. Tôi đã thăm dò các nhà chuyên môn quân sự và ngoại giao, rất giá trị. Quan điểm của tôi được xác nhận là một sự điều đình ôn hòa có thể thực hiện được.
Vậy thì việc ngưng bắn phải thực hiện tức khắc. Chính phủ do tôi thành lập, định rằng, - và họ định cho các đôi thủ của chúng ta - một thời hạn là bốn tuần lễ phải đạt. Chúng ta ngày hôm nay là ngày 17 tháng 6. Tôi sẽ đến trước các Ngài vào ngày 20 tháng 7, và sẽ báo cáo cùng các Ngài về kết quả đạt được. Nếu không có giải pháp gì thích ứng vào ngày giò đó, các Ngài có thể không cần biết đến chúng tôi nữa, và chính phủ của tôi sẽ được trao trả lại cho Tổng thống…
Như vậy, trong thời gian này - tôi muốn nói kể từ ngày mai - tất cả các biện pháp quân sự phải được sẵn sàng, để đáp ứng với nhu cầu tức khắc, và để các chính phủ kế tiếp chính phủ tôi, có thể tiếp tục chiến đấu, nếu do bất hạnh, lại phải dùng đến.
Quan điểm của tôi như vậy là hòa bình…
Ông Mendès France đang ở nước bài đó. Chỉ cần cụ thể hóa điều ông đang sửa soạn.
Mục đích của tôi vẫn theo đuổi từ năm năm nay, sự thống nhất đất nước, nay như bị phá đám. Miệng tôi đã bị khóa chặt. Tôi đã thi hành sứ mạng trong đó tôi đã chấp nhận thỏa mãn dân tộc của tôi. Tôi đã đạt được thống nhất, rồi độc lập hoàn toàn. Tôi đã xây dựng được một quân đội để có thể bảo đảm cho nền độc lập ấy. Chúng tôi đã bắt đầu từ con số không, nay tất cả công việc của tôi trở thành nước lã ra sông. Giải pháp Pháp, do lỗi ở nước Pháp, đã thất bại.
Công việc không dễ dàng gì cho Ngô Đình Diệm. Việc ông đến Sài Gòn, chẳng được ai hoan nghênh. Người ta cần phải động viên tinh thần mọi người cả nước đã rơi vào tình trạng hoang mang. Ngày 30 tháng 6, ông ta ra Hà Nội, mà những điều ông ta thấy không ai có thể tưởng tượng được. Chống lại Cộng sản, chẳng ai nghĩ đến… Trái lại nữa, người Pháp bắt đầu di tản trước tiên. Hàng trăm ngàn người đau khổ, trong đó có những người Công giáo thuộc các giáo phận miền Bắc, mà ông tin tưởng sẽ đứng bên cạnh ông, thì chỉ nghĩ đến chạy vào Nam. Thật quá chậm trễ để không thể hành động gì được nữa.
Diệm trở về Sài Gòn. Ngày 9 tháng 7, ông lập chính phủ không phải dễ dàng gì (19). Cuối tháng 6, cuộc hành quân bi thảm ở đèo An Khê, cả đoàn quân đã bị tan rã vì sa vào ổ phục kích rộng lớn của Cộng sản, Cuộc hành quân tảo thanh trong vùng cao nguyên miền Trung cho thấy rằng quân đội Việt Minh rất cần trấn đóng ở vùng này.
Ở Genève, hội nghị trên thực tế phải gián đoạn, kể từ ngày 18 tháng 6. Các cuộc gặp gỡ lại tăng trưởng. Ông Mendès France chửi các nhân viên của mình. Ngày 4 tháng 7, ông Dejean, cựu Tổng ủy viên Pháp ở Đông Dương, đến báo cho tôi biết là những liên lạc giữa ông Chauvel, nhân viên của phái đoàn Pháp, đang xúc tiến với Phạm Văn Đồng, viên đại sứ này nói trước là câu chuyện giữa hai người nhằm vào vấn đề chia cắt. Thật sự, người ta đang dự vào một cuộc mặc cả của những tên lái buôn vải vóc, để định cắt đất nước theo chiều cao nào. Nhưng rồi tất cả đã được giải quyết vào phút cuối cùng.
Kể từ ngày 14 tháng 7 là ngày rất quan trọng, Thủ tướng Pháp đến Genève. Ông ta đã được người Mỹ chấp nhận để Tướng Bedell Smith trở lại hội nghị. Được thông báo ngày 12 tháng 7 do ông Heath Đại sứ Mỹ, về tình hình cuối cùng của hội nghị, tôi biết rằng Washington đã bằng lòng nguyên tắc chia cắt. Những giá trị ủng hộ nước Việt Nam của họ chỉ còn là giá trị tinh thần. Kể từ lúc ấy, dưới áp lực của những ai từng là đồng minh mạnh mẽ nhất của chúng tôi, tôi chỉ còn biết hỏi họ xem sự hỗ trợ của họ đối với miền Nam Việt Nam.
Ván bài được kết thúc dứt khoát, vào phiên họp cuối cùng, ngày 20 tháng 7. Người ta phải vặn lại đồng hồ vào nửa đêm của phòng hội nghị, để không thể quá thời hạn của ông Mendès France đã ấn định. Ông này như vậy là đã thắng cuộc.
Thể thức đình chiến đã được ký kết bởi đại diện của hai viên Tổng Tư lệnh. Tướng Dehteil ký cho Tướng Ely, và Tạ Quang Bửu ký cho tướng Giáp, mà trên văn kiện đã trở thành Tổng Tư lệnh Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.
Ngày 21, hội nghị bế mạc bằng một Thông Cáo Chung, chỉ do hai viên Tổng thư ký của hội nghị ký.
Người Mỹ công nhận bản Thông cáo chung, nhưng bất hợp tác. Trần Văn Đỗ, bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Diệm, lên tiếng phản đối:
- Chính phủ nước Việt Nam đòi phải được trao bản cộng nhận lời phản đối long trọng của mình, về cách thức mà cuộc đình chiến đã được thỏa thuận, và bằng những điều kiện của cuộc đình chiến đã không đếm xỉa gì đến nguyện vọng tha thiết của dân chúng Việt Nam, và giành quyền tự do hành động, để bảo vệ quyền lợi thiêng liêng của dân tộc Việt Nam về độc lập và tự do của mình.
Một tác phẩm đầy mâu thuẫn, thỏa ước Genève đã chứa đựng những mầm mống mâu thuẫn xảy ra trong 25 năm sau.
Cuộc triệt thoái quân đội Pháp Việt từ miền Bắc vào miền Nam chia ra từng chặng liên tiếp: Hà Nội 80 ngày, Hải Dương 100 ngày, Hải Phòng 300 ngày, kể từ lúc bắt đầu thi hành hiệp định.
Cuộc triệt thoái của Việt Minh từ miền Nam ra miền Bắc cũng theo thứ tự với thời hạn là 300 ngày.
Vùng tập kết đặt dưới quyền kiểm sát của quân đội Pháp Việt là phía Bắc sông Cửa Tùng, cách khoảng 20 cây số phía Bắc đường số 9, tức ở vĩ tuyến 17.
Bắt đầu bàn cãi, Phạm Văn Đồng đã đòi đường cắt định vào vĩ tuyến 13. Ông Mendès France đã rất tự hào là đã tranh đấu được kết quả ấy. Sự nhượng bộ bề ngoài này chỉ có mục đích cũng cố vị trí cho chính phủ Pháp, mà Việt Minh muốn lưu giữ tại chức. Thật sự, phe Cộng sản lấy làm ngạc nhiên về thái độ khiêm tốn đối với những đòi hỏi của chúng tôi.
Họ sẵn sàng chấp nhận vĩ tuyến 18 hay hơn nữa. Họ không ngờ là Pháp lại chịu đầu hàng dễ dàng như vậy. Nikita Khrouchtchev đã công nhận về sau như thế trong cuốn Hồi Ký của ông ta.
Cuộc thả tù binh, cả hai bên, phải thực hiện trong vòng 30 ngày, kể từ ngày ngưng bắn.
Lời tuyên bố cuối cùng nhấn mạnh rằng, các nền tự do căn bản, phải được bảo đảm ở cả hai miền Nam Bắc, không được báo thù, và một cuộc đình chiến rộng rãi sẽ được công bố. Quyền tự do chọn nơi ở đã được công bố, và tổ chức để tất cả mọi người Việt Nam có thể dễ dàng đến vùng mà họ thích.
Tất cả những chia cắt ấy chỉ có tính cách tạm thời, sự thống nhất đất nước phải được thực hiện nhanh chóng, trong khuôn khổ một cuộc tổng bầu cử, được tổ chức trong thời hạn hai năm, tức vào tháng 7 năm 1956, dưới quyền kiểm soát quốc tế, gồm một Uỷ ban của đại diện các nước Ấn Độ, Canada và Ba Lan.
Trong cuộc bàn cãi ngày 23 tháng 7 trước Quốc hội, điều khoản liên hệ đến vấn đề chính trị, đã gây ra nhiều phản ứng sôi nổi. Nhất là của ông Fréderic Dupont, khi tuyên bố:
- Sự thật là, tôi muốn bị lầm, tôi phải nói cho quốc dân đồng bào biết, cuộc đình chiến này nhằm bỏ rơi, dưới ba giai đoạn, tất cả nước Việt Nam cho Cộng sản.
Ông Frédéric Dupont chỉ lầm về thời gian của các giai đoạn mà thôi.
Hiệp nghị ở Genève đã được Quốc hội chuẩn y với 561 phiếu chống lại 5. Như thế, đây là các đại diện Pháp đã giữ lời hứa long trọng như thế nào như ông Georges Bidault đã nói với tôi 75 ngày trước.
Sau ngày ký hiệp nghị thỏa thuận - nếu ta có thể nói đến cả những bản mà những nước liên hệ không thỏa thuận, và cũng chưa bao giờ được ký - Diệm đọc ở Sài Gòn, có treo cờ rũ, một bài diễn văn, trong đó ông lên tiếng chống lại sự bất công, đã giao cho Cộng sản tất cả miền Bắc đất nước, thêm bốn tỉnh ở miền Trung… Ông nhắc lại, “chúng tôi không thể đặt vào vòng nô lệ hàng triệu đồng bào, trung thành với chủ ngỊiĩa Quốc gia...”
Sau hội nghị Genève, tất cả mọi người đều xa lảng tôi. Người Anh, người Mỹ, người Pháp đều không biết đến tôi nữa. Không ai còn đến gặp tôi.
Riêng có phái đoàn Việt Minh cử một người có tên là Văn Chí, đến xin gặp nói là đại diện của Phạm Văn Đồng. Ông ta là đại diện kín đáo của Việt Minh ở Paris, khi người trước bị bắt.
- Thưa Hoàng thượng, ông ta hỏi tôi, Ngài nghĩ sao về hội nghị Genève?
- Đó là việc giữa các anh và nước Pháp.
- Thưa Hoàng thượng, người ta đã cắt nước Việt Nam thành hai. Vua Gia Long, Đức tiên đế đã từng thống nhất đất nước, và sau này, Ngài đã phục hồi lại được. Tôi nghĩ rằng Ngài khó có thể chấp nhận sự việc đã xảy ra tại Genève.
- Anh định đề nghị cái gì? Tôi hỏi lại ông ta.
- Thượng cấp của tôi đã bảo tôi đến nói với Ngài là họ sẵn sàng quên hiệp ước Genève và các cuộc bầu cử, để định cùng Ngài bắt tay đi đến thống nhất đất nước.
- Nhưng anh định thống nhất như thế nào?
- Thưa Hoàng thượng, thật giản dị. Xin Hoàng thượng trở lại Sài Gòn, và gọi đến chúng tôi. Chúng tôi sẵn sàng làm việc với Ngài, theo lệnh của Ngài.
- Như vậy, chính tôi sẽ đưa chế độ Cộng sản vào Sài Gòn?
- Thưa Hoàng thượng. Không phải chỉ có người Cộng sản ở đây, đối với chúng tôi, Ngài là bậc quốc phụ của khắp thần dân Việt Nam. Hẳn Ngài không thể quên đã có hàng ngàn người chết, đã hy sinh cho tổ quốc.
- Thế thì tại sao mãi đến giờ phút này, các anh mới tìm tôi? Các anh có thể làm như thế trước đây cách ba năm. Như thế các anh đã tránh được bao sự chém giết vô ích. Trong các bản tuyên bố của tôi, không bao giờ tôi đả kích cá nhân ông Hồ Chí Minh… và đến bây giờ, khi tất cả đã được dàn xếp, các anh mới tìm tôi? Và các anh vẫn còn tiếp tục. Các anh ngày nay lại lao đầu vào cuộc chiến mới, làm xáo trộn tất cả đất nước, nhất là về địa hạt kinh tế, mà tôi đã dày công xây dựng từ 1949. Tất cả sự ấy, tại sao? Trong hy vọng lừa bịp để đặt nền móng cho một chủ thuyết không mấy thích hợp với tâm hồn người Việt chúng ta.
- Thưa Hoàng thượng, Ngài rất có lý. Nhưng xin Hoàng thượng đừng quên, Ngài đứng trên tất cả, Ngài là cha của toàn dân chúng tôi và Ngài có nhiều con đã phải hy sinh, và đã chết cho đất nước.
Chính là sau cuộc gặp gỡ này, tôi trao toàn quyền cho Ngô Đình Diệm.
Nhưng mà thời của mâu thuẫn chưa chấm dứt. Vì lời tuyên bố của Tướng Ely ngày 3 tháng 8 ở Sài Gòn: “Vị trí của nước Pháp, tại Đông Dương, vẫn không thay đổi...” Câu nói này làm cho ta có cảm tưởng ông Mendès France đã cho các chỉ thị viên Tổng Tư lệnh Pháp, để ông này thu hồi lại đất Nam kỳ. Trò chơi này đã bị người Mỹ hất cẳng, bởi họ đã đặt chân vào miền Nam Việt Nam, và biết khai thác sự có mặt của Diệm trên võ đài miền Nam.
Chú thích:
 (18) Thành phần chính phủ Bửu Lộc gồm có:
- Hoàng thân Bửu Lộc, Thủ tướng kiêm Nội vụ,
- Nguyễn Trung Vinh, Phó thủ tướng bộ trưởng Canh nông, phụ trách về câi cách điền địa
- Nguyễn Đệ, quốc vụ khanh
- Phan Huy Quát, bộ trưởng Quốc phòng
- Nguyễn Đắc Khê, bộ trưởng phụ trách vấn đề dân chủ hóa
- Nguyễn Quốc Định, Bộ Ngoại giao
- Dương Tấn Tài, bộ Tài chánh
- Nguyễn Văn Tỷ, bộ Kinh tế
- Nguyễn Văn Đàm, bộ Tư pháp
- Lê Thăng, bộ Thông tin
- Lê Quang Huy, bộ Giao thông Công chính
- Tân Hàm Nghiệp, bộ Y tế và Cựu chiến binh
- Phạm Văn Huyến, quốc vụ khanh phụ trách Xã hội
- Đinh Xuân Quảng, quốc vụ khanh phụ trách Nội vụ
- Vũ Quốc Thúc, quốc vụ khanh phụ trách Quốc gia Giáo dục
(19) Thành phần Nội Các gồm có:
- Thủ tướng chính phủ kiêm bộ Nội vụ và Quốc phòng: Ngô Đình Diệm
- Bộ trưởng Ngoại giao: Trần Văn Đỗ
- Bộ trưởng phủ Thủ tướng: Trần Văn Chương
- Bộ trưởng Tài chính và Kinh tế: Trần Văn Của
- Bộ trưởng Canh nông: Phan Khắc Sửu
- Bộ trưởng Lao động và Thanh niên: Nguyễn Tăng Nguyễn
- Bộ trưởng Giao thông Công chánh: Trần Văn Bạch
- Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục: Nguyễn Dương Đôn
- Bộ trưởng Y tế và Xã hội: Phạm Hữu Chương.
Bảy Quốc vụ khanh:
- Trần Chánh Thành, đặc trách phủ Thủ tướng
- Lê Quang Luật, đặc trách Thông tin
- Nguyễn Ngọc Thơ, đặc trách Nội vụ
- Lê Ngọc Chấn, đặc trách Quốc phòng
- Bùi Văn Thinh, đặc trách Tư pháp
- Nguyễn Văn Thoại, đặc trách Kinh tế
- Trần Hữu Phương, đặc trách Tài chánh.
Phạm Duy Khiêm là phát ngôn viên chính phủ.
Ngô Đình Diệm cầm quyền
Tổng thống Mỹ Eisenhower cũng ra một lời tuyên bố, sau khi Hiệp định Genève được ký kết. Lời tuyên bố này tiên đoán những hậu quả đáng ngờ. Ông nói:
- Hoa Kỳ không dính dấp gì về những quyết định của Hội nghị và cũng không bị ràng buộc gì bởi những quyết định đó. Tuy nhiên, chúng tôi mong rằng nó sẽ đưa đến việc xây dựng một nền hòa bình thích ứng với những nhu cầu của các nước liên hệ. Nhưng thỏa hiệp vẫn mang nhiều dự kiện mà chúng tôi không mấy hoan nghênh. Nhiều khoản sẽ tùy thuộc vào những yếu tố này khi được áp dụng.
Trong khi chờ đợi, người Mỹ bắt đầu đặt cơ sở. Tại Sài Gòn, người ta đã thấy một đoàn cố vấn mang danh hiệu là MAAG (Military Aid Advisory Group) tức Cơ quan Viện Trợ Quân sự Mỹ, do Tướng O’Daniel lãnh đạo, nhưng thực tế là ở tay chủ chốt Đại tá Landsdale, nhân viên CIA, vốn là tay tổ chống Cộng sản, khi đặt ra đủ các vại trò, như tân Tổng thống Phi Luật Tân Ramon Masaysay… sau khi đã là cố vấn rất được Hồ Chí Minh tin nghe năm 1945.
Thực tế, ông Diệm rất cần đến nhân vật này, vì vị trí của ông rất bấp bênh. Khi mới lên cầm quyền, đó là một người hoàn toàn đơn độc, chỉ có một người phụ tá đắc lực là em của ông ta, qua phong trào Mặt trận Cứu Quốc Quốc gia. Tự giam mình trong một phòng nhỏ của Dinh Gia Long, ông sửa soạn chương trình của mình. Nhãn quan của ông về Việt Nam là cách mạng, tức phải cải tổ lại guồng máy xã hội. Một nước mạnh, có uy tín cần phải có một đạo quân mạnh và kỷ luật. Việc đầu tiên của ông, là chống lại tất cả cái gì là phân tán, là chia rẽ. Những giáo phái với đạo quân của họ là điều không thể tha thứ được. Quân đội phải đặt dưới quyền của ông ta. Hinh vốn có tiếng ở đây, là quá thừa.
Ngày 10 tháng 9, ông Diệm ra một nghị định cử viên Tổng Tham mưu trưởng sang Pháp để học thêm, và ra lệnh cho Hinh phải cấp tốc đi ngay. Hinh từ chối. Những giáo phái đều biết số phận của mình, nên chống lại ông Diệm.
Để đem lại tin tưởng cho quân đội, ông Diệm bổ Xuân làm Quốc vụ khanh, phụ trách Quốc phòng. Tám ngày sau, ông này từ chức, và chín vị bộ trưởng khác cũng từ chức tập thể.
Bảy Viễn lânh tụ Bình Xuyên đến Cannes để gặp tôi, và xin tôi nhân danh ba giáo phái để chấm dứt sự lộng quyền của ông Diệm. Cũng trong thời gian ấy, tướng Hinh gửi cho tôi một thông điệp, và cho biết sự hợp tác giữa quân đội và chính phủ không thể đi đôi với nhau được.
Ông Diệm dùng hình thức biểu tình với mấy ngàn người di cư Công giáo. Lực lượng cảnh sát Bình Xuyên, lấy cớ là không được thông báo trước, đã giải tán họ rất tàn bạo và có người chết. Quân đội liền can thiệp, để tránh xáo trộn do Cộng sản có thể lợi dụng. Ngày 26 tháng 10, Hinh cho bao vây dinh Gia Long và chiếm đài phát thanh.
Tướng Ely can thiệp đến gần Hinh và bảo “Đừng làm gì. Nếu có sự nổi dậy gì, người Mỹ sẽ cắt mọi viện trợ tài chánh, và mọi đồ tiếp dụng cho quân đội”. về phần họ, người Mỹ làm áp lực cạnh các giáo phái.
Tướng Hinh hỏi tôi nên làm thế nào. Bằng điện tín, tôi nói rõ cho ông ta biết, tôi chống lại tất cả mọi bạo động, chỉ đưa đến sự sứt mẻ của quân đội, và nhiều tai họa khác cho dân tộc.
Hinh đành khuất phục, và rời Sài Gòn đi Paris.
Quân đội đã tòng phục, ông Diệm tự dựng cho mình một đạo quân cận vệ, gồm toàn những người tình nguyện, để phụ trách an ninh cho bản thân, và giữ dinh thự, rồi bắt đầu cải tổ chính phủ (20).
Hai tháng sau các thỏa hiệp Genève, tại Manille được ký kết hiệp ước SEATO. Đây là hiệp ước về an ninh quân sự, bao gồm chính các nước Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Thái Lan, Phi Luật Tân và Pakistan. Nước Việt Nam, Lào và Cam Bốt không ở trong hiệp ước ấy, nhưng được thụ động che chở.
Về cuối kỳ đệ tứ tam cá nguyệt, không tháng nào mà giới hữu trách Pháp và Mỹ không gặp nhau.
Ngày 24 tháng 10, Tổng thống Eisenhower gởi một bức thư cho Ngô Đình Diệm, để hứa hẹn với ông ta sự bảo đảm vô điều kiện của Mỹ.
Sau rốt, ngày 13 tháng chạp, hai Tướng Ely và Collins đã ký với nhau những thỏa hiệp ấn định quyền hạn và trách nhiệm giữa nhà binh Pháp và Mỹ trong việc thành lập quân đội quốc gia Việt Nam.
Mỗi ngày, miền Nam Việt Nam đi sâu vào giải pháp Mỹ. Thật vô ích khi nói rằng tôi tự đặt ra ngoài tất cả những chuyện thay Tề đổi Sở này. Giải pháp Pháp đã chấm dứt, và Washington trở thành người bảo trợ chính thức cho chế độ của ông Diệm.
Tại chỗ, quân đội viễn chinh Pháp tiếp tục cuốn gói, Ngày 9 tháng 10, quân đội Liên hiệp Pháp bắt đầu triệt thoát ra khỏi thủ đô miền Bắc Hà Nội.
Vào tháng 11, tôi tiếp ở Paris Tướng Salan, vừa tự ý dời Đông Dương do một mâu thuẫn với Tướng Ely. Viên cựu Tổng Tư lệnh nói với tôi, về sự bãi bỏ Tướng Hinh, mà ông thấy là đáng tiếc, và về hành động của Thủ tướng Diệm đối với các giáo phái mà ông cho rằng rất độc hại, bởi vì họ còn có thể dùng được ở miền Nam Việt Nam. Thật sự, tôi rút tướng Hinh ra khỏi vị trí quyền hành của ông ta, là để che chở cho ông ta, vì người của ông Diệm muốn sát hại ông ta.
Ngày 30 tháng chạp, tại Paris, các hiệp ước nhất định giữa nước Pháp, Lào, Cam Bốt và Việt Nam được ký kết. Nhưng nước Pháp đang có nhiều vấn đề khác: kể từ ngày 1 tháng 11, người Algeri bắt đầu nổi dậy.
Trong các thung lũng của vùng Hoàng triều cương thổ miền Bắc, nhiều nhóm người dân tộc, vẫn tiếp tục chiến đâu, với sự thất vọng điên cuồng.
Tại Cannes, ngày 24 tháng giêng năm 1955, nhân dịp tết năm Ất Mùi, tôi gửi một thông điệp cho đồng bào của tôi. Bức thông điệp này gồm năm đoạn. Việc chia xẻ đất nước Việt Nam không nên coi là một cớ để thất vọng; chúng ta phải biết đoàn kết với nhau trong thử thách mới này, nước Việt Nam đã được thế giới tự do giúp đỡ thì nền ngoại giao quốc tế sẽ do mình tự chọn. Chúng ta phải đi vào nền cách mạng kỹ nghệ hóa của Âu châu.
Đầu tiên, tôi nhắc lại, kết quả chua cay của hội nghị Genève:
“Việc chia cắt nước Việt Nam ra làm đôi, ám ảnh đầu óc đồng bào. Đồng bào nghĩ đến sự ngoan cường và kiêu hãnh của những người ở miền Bắc đã từ chối tất cả hình thức sống và nghĩ vốn không phải là của họ. Đồng bào lo ngại rằng ngày mai đây họ sẽ đưa tới đến miền Nam này, ý đồ ghê gớm của họ. Sự chán nản làm đồng bào thất vọng, trước nỗi chia cắt đau thương của đất nước. Những kẻ hoài nghi, kẻ vô tích sự, bọn giả đạo đức, đứng vào phe những tên gián điệp để vu cáo rằng miền Nam không đủ lực để chống lại cái thác lủ của miền Bắc kéo vào… Tại sao lại chịu để mất lòng tin tưởng vào tương lai của chúng ta?”
Tôi kể lại mấy điều tỉ dụ trong sự kháng chiến của dân tộc trong lịch sử, rồi tôi mời đồng bào vào nghĩa vụ và đoàn kết. Tôi nhắc cho họ biết những đảm bảo của các đại cường trong khối tự do, trên bình diện quốc tế, và sự cần thiết phải dựa vào Tây phương. Rồi tôi kết luận:
“Nhưng trước khi từ giã đồng bào, tôi chắc rằng, tôi đã làm tròn sứ mạng của người thông ngôn, truyền đạt sự chúc mừng nồng nhiệt của tôi cho các đồng bào ở miền Bắc, kém may mắn hơn đồng bào, đã không thể thoát được một chế độ mà họ không ưa thích. Mong rằng họ sẽ hiểu biết là hàng ngày tư tưởng của chúng ta vẫn hướng lòng về họ, để giúp họ chịu đựng được sức đè nặng đang quàng lên đầu lên cổ họ. Mong rằng sự cầu nguyện của chúng ta sẽ đem đến cho họ nguồn an ủi mà họ đang cần, để chờ ngày mà chúng ta lại cùng nhau xum họp lại”.
Đầu tháng 2 năm 1955, ông Mendès France bị thiểu số, phải đưa đơn từ chức. Ông ta được thay thế bằng ông Edgar Fauré, đã đề cử ông Henri Laforet làm bộ trưởng các Quốc gia Liên kết.
Tại Sài Gòn, do lời yêu cầu của ông Diệm, người Mỹ nhận trách nhiệm huấn luyện quân đội Việt Nam kể từ ngày 12 tháng 2.
Theo sáng kiến của Giáo chủ Cao Đài là Phạm Công Tắc, Mặt trận Quốc gia Thống nhất bao gồm các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên và đảng Dân chủ Xã hội Việt Nam được thành lập.
Tôi cảm thấy một sự thử lửa giữa ông Diệm với các khối võ trang của các giáo phái khó lòng tránh khỏi. Trong đầu tháng 3, một phái đoàn của Mặt trận Thống nhất đã sang Pháp để liên lạc. Nhưng không cần phải đợi sự trở về của đoàn đại biểu này, các lãnh tụ của Mặt trận đã gửi cho Diệm một tôi hậu thư, buộc Diệm trong vòng năm ngày phải lập lại chính phủ bao gồm trong hàng ngũ những đại diện của lực lượng dân chủ đối lập.
Ông Diệm tìm cách trì hoãn để lợi thời gian, để thảo luận với đại diện của Mặt trận nhưng không chịu nhượng bộ về điểm chính. Những giáo phái không chịu bị mất mặt, tập họp lại xung quanh Sài Gòn. Một biến cố thứ nhất đã xảy ra ngày 30 tháng 3, mà quân Bình Xuyên phải chịu thiệt hại. Ông Diệm lợi dụng sự xáo trộn đang xảy ra để chia rẽ phe Cao Đài.
Vì vậy, một người trong giới chỉ huy quân sự của họ, Trình Minh Thế, từ giã Mặt trận để liên kết với chính phủ.
Trong suốt thời gian đó, ông Diệm không ngớt gởi cho tôi các điện tín. Mỗi ngày tôi nhận được nhiều điện tín đại ý: “Tên này nói xấu Hoàng thượng. Tôi đã cho nó vào tù. Tên này đã làm thế này...”
Về phần tôi, tôi gửi cho ông ta ngày 4 và 12 tháng 4 mấy thông điệp khuyên ông tạ nên cẩn thận, và cho ông ta những lời khuyên giải khôn ngoan.
Mặc dù, đã thắng phe Cao Đài, tình thế bắt đầu suy nhược xung quanh ông Diệm, chỉ còn có mấy người trong gia đình. Ngày 28 tháng 4, mười bốn bộ trưởng cùng nhau từ chức nhất loạt. Ông ta vẫn cương quyết, ra lệnh cấm tụ họp trong ngày lễ Lao động 1 tháng 5, và tung ra một cuộc hành quân đánh thẳng vào đại bản doanh của Bình Xuyên.
Tôi gửi cho ông ta bức điện sau đây:
“Có nhiều xáo trộn mới và nặng nề đang đưa đến một tình trạng khó thở, không có lợi cho sự đoàn kết quốc gia, mà ta đang cần đến. Điều chủ đích chính buộc tôi nhận thấy rằng, đối với những cuộc từ chức mới và quan trọng chứng tỏ vị trí không ổn định của chính phủ… Hẳn ông đồng ý với tôi rằng không phải bằng những biện pháp có tầm hoạt động hạn chế, có thể giải quyết được sự việc gấp rút cấp thời. Nó sẽ là nguồn móng của những xáo trộn có hạn định dài hay ngắn, mà sự khủng hoảng hiện nay, rất đáng tiếc đã xảy ra, nhưng có thể giải quyết được… Đồng ý với những giả thuyết ấy, tôi đã quyết định dùng hình thức tham khảo các nhà trí thức, chính trị, tôn giáo. Cùng lúc đó, tôi lại triệu tập các đại biểu của giới nhà nông, rất có uy tín, giới thợ thuyền, mà điều kiện sống vẫn được tôi chú trọng đặt lên hàng đầu, và những người có nhiệm vụ bảo vệ xứ sở bằng súng đạn… Nơi tham khảo ấy nên để tại Pháp, để giúp cho sự trao đổi ý kiến được xảy ra xa vị trí của những tham vọng sôi nổi. Theo vị trí của ông là Thủ tướng chính phủ, và vẫn quí trọng những đức tính cao quí của ông, tôi mời ông tham dự cạnh tôi cuộc hội thảo dự trù này… Cuộc khủng hoảng hiện tại, cần phải giải tỏa không trì hoãn, theo lời tôi hửa hẹn với quốc dân, tôi triệu tập ngày 5 tháng 5 năm 1955 tại Cannes, những nhân vật mà tôi cho rằng có thể là đại diện có lực lượng của dân tộc Việt Nam… Tôi yêu cầu ông sẽ đến bên tôi bằng mọi cách thật sớm trước ngày mùng 3 tháng 5, đề góp chung ý kiến với tôi. Chiếc phi cơ của hoàng gia sẽ đặc biệt dưới quyền sử dụng của ông vào việc ấy...”
Chính phủ Pháp như lại bắt đầu chú ý đến mọi hoạt động của tôi, và ông Edgar Fauré ngày hôm sau, trong một cuộc họp báo, đã tuyên bố rằng “ông theo dõi với tất cả nhiệt tình và với cảm tình đặc biệt, đối với lời kêu gọi hội họp của Quốc trưởng Việt Nam”.
Vừa lúc tôi nhận được một bức điện của Tướng Vỹ xin tôi cho phép ông ta hoàn tất điều mà Tướng Hinh, đã không thể đạt vào tháng 10 trước đây.
Nói rõ hơn, ông ta xin phép tôi lật đổ ông Diệm.
Hiểu biết sự khôn ngoan của Vỹ, tôi đoán rằng, trước khi gửi bức điện cho tôi, ông ta đã được sự chấp thuận, hay ít ra được sự hứa hẹn của các nhân vật có trách nhiệm Pháp và Mỹ. Nhất là tôi càng tin chắc, vào ngày hôm trước, có gặp ông Gibson, đệ nhất bí thư của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Paris, ông này đã khuyến khích tôi hành động gấp, và chính Thủ tướng Edgar Fauré, trong buổi họp báo đã kín hở nói ra là ông ta không chống lại bất cứ một sự thâu đoạt lại quyền hành nào.
Tin vào sự đó, quả là nhầm lẫn lớn nếu không kể đến các sự can thiệp của cơ quan Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Sáng ngày 29, họ đã thúc đẩy Diệm thanh toán cho xong với đám Bình Xuyên. Các cố vấn chính trị và quân sự của cơ quan MAAG, chính tự tay mình đảm nhiệm công tác này, và đến chiều thì những tàn quân của Bảy Viễn bắt buộc phải rút vào vùng sình lầy Rừng Sát. Cuộc chiến thật khốc liệt, đã có đến hơn 500 người chết, nhưng Diệm đã thắng theo như ý muốn.
Lấy cớ đó, ông ta trả lời bức điện của tôi ngày 28 bằng cách không đến được, lý do Hội đồng bộ trưởng đã ngăn cản ông ta đến Cannes, vì không một ai trong hoàn cảnh này, có thể thay thế ông ta được.
Đến ngày 30 tháng 4, tôi lại gửi một bức công điện khác, có tính chất quyết liệt hơn:
“Những lý lẽ của ông viện dẫn trong bức điện tín, chứng tỏ rằng chính phủ của ông thật sự ra đã thật mỏng manh, đã mất đường hướng, vốn chú trọng đến việc thực hiện đoàn kết quốc gia, chứ không phải gom góp hận thù.
“Những cộng sự viên cuối cùng của ông, cũng như chính ông, đã chỉ cho tôi thấy hình như ông chỉ thích hợp với sự đào sâu hố chia rẽ giữa các đồng bào, và theo đuổi một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Ngược lại, ông cố gắng né tránh kỹ càng sự báo cáo trung thực với tôi về mọi tổn thất về nhân mạng. Tuy nhiên, đã có hàng ngàn người chết và bị thương, không kể hàng ngàn người khác bị vong gia thất thổ, mà họ đều là đồng bào ruột thịt của chúng ta. Và danh sách này còn tiếp tục dài lê thê, với chính sách sắt máu mà ông đang theo đuổi.
“Tôi cũng được biết rằng, ông không hề phổ biến những thông điệp của tôi, vốn là những lời kêu gọi đoàn kết, và hòa giải quốc gia. Cũng như, hình như ông không thông báo các chỉ thị của tôi cho các Tướng Nguyễn Văn Vỹ và Lê Văn Tỵ. Làm cho tôi có cảm tưởng rằng, những lệnh ấy rất phù hợp với quân đội, vốn không bao giờ dùng để phục vụ cho ý đồ của một nhóm người muốn tạo phản.
“Những lý do mà ông nêu lên trong bức điện tín như vậy, không đủ hiệu năng, ông chỉ cần thi hành các lệnh của tôi. Tôi nhắc lại lần nữa, và lần cuối cùng, lệnh mà tôi gửi cho ông, là phải sang Cannes ngay tức khắc”.
Chiều hôm ấy, Tướng Vỹ tin tưởng vào đặc quyền của tôi, một mình vào dinh Thủ tướng để đặt các điều kiện, thì bị ông Diệm ra lệnh bắt nhốt tức khắc. Ông này chỉ được trả lại tự do nhờ Đại tá Đỗ Cao Trí can thiệp, vốn là bạn của ông, vừa thắng quân Bình Xuyên trở về hợp tác với chính phủ. Ngay sau khi được thả, Vỹ lên ẩn trên Đà Lạt.
Như vậy, ông Diệm đã loại trừ được hai người trong các phần tử chống lại ông ta. Lập tức, ông thừa thế làm tới, và tất nhiên có các cố vấn Mỹ sau lưng. Ngày 1 tháng 5, ông ta tổ chức một cuộc hội họp gọi là Hội Nghị Các Lực Lượng Nhân Dân, mà người ta đã vội vã mời đến hầu hết các giới quốc gia cực đoan ở Sài Gòn. Hội nghị này quyết định, sẽ vận động mời đến Sài Gòn ngày 5 tháng 5, tất cả “các lực lượng chung” của toàn thể Việt Nam gồm khoảng 1.000 đại biểu cho miền Nam và miền Trung.
Trong bức điện đầu tiên của tôi đề ngày 1 tháng 5, tôi lưu ý Thủ tướng là sự can thiệp của tôi nhằm vào hai mục đích: tránh nội loạn, hay ít ra là ngăn cản sự bành trướng của nó, vì do hàng loạt đơn từ nhiệm, đứa chính phủ đến chỗ chỉ còn lại ba hoặc bốn người, để tìm một giải pháp hết sức rộng rãi, bao gồm tất cả mọi khuynh hướng quần chúng. Chính vì thế mà tôi thấy cần thiết phải tham khảo với ông ta, nên tôi đã nhất định ra lệnh cho ông ta phải đến Cannes ngay tức khắc.
Bức điện tín thứ hai được gửi đi ngày 3 tháng 5, trong khi Thủ tướng chính phủ báo cáo với tôi về sự triệu tập của “những lực lượng quần chúng”. Đây là bản tường trình:
“Tiếp theo bức điện tín của Hoàng thượng hôm nay, tôi xin thành cẩn báo cáo với Ngài rằng, tôi phủ nhận cái Hội nghị đó, mà sự bất hợp pháp không cần phải chứng minh nữa. Trong hoàn cảnh hiện tại, và giữa lúc nội chiến đang bùng nổ, một hội nghị được tổ chức ở Sài Gòn, cầm đầu bởi một số cách mạng, quá khích, không thể nào chứng tỏ được là do ý muốn của nhân dân, và loại hội nghị ấy cũng không quyết định được gi cho số phận đất nước, và những nghị quyết của nó có thể có những hậu quả tai hại cho an ninh xứ sở. Tôi nghĩ rằng vì quyền uy của Hoàng thượng, cũng như vì địa vị của Ngài, không thề để cho họ lợi dụng được, vì nó dìm đắm dân tộc chúng ta vào sự khổ ải mới, và biến Việt Nam thành hỏa ngục ở Đông Nam Á, sẽ đưa quốc gia vào sự bại vong”.
Rất được người Mỹ nâng đỡ, ông Diệm giữ vững vị trí. Ông ta gặp phải hai điều bất mãn. Tướng Trịnh Minh Thế, thuộc phe Cao Đài ly khai, vừa trở về theo chính phủ, vốn là tay phò trợ trung thành của ông ta, ngày 4 tháng 5, bị tử trận trong một cuộc đụng độ với quân đội Bình Xuyên. Thứ nữa, ngày mùng 5 tháng 5, trong hội nghị của “các lực lượng quần chúng” nếu những đại biểu các tỉnh miền Trung nhắm mắt nghe theo ông ta, thì các đại biểu các tỉnh miền Nam, lại bỏ phiếu bất tín nhiệm ông ta, và từ chối tham dự vào các hoạt động của hội nghị.
Dữ kiện thứ hai này là sự thất bại lớn cho ông Diệm, nhưng ông ta biết cách đối phó.
Không trả lời các bức điện của tôi, và cũng không đếm xỉa gì đến cái gọi là dự trù hội nghị, do chính ông ta dựng nên, ông Diệm lập một chính phủ, lấy cớ là kêu gọi đến chuyên viên, một chính phủ chỉ bao gồm những tay chân, thủ hạ của ông ta. Rồi ông ta lần lượt thủ tiêu cái gì còn lại ở các giáo phái.
Chẳng bao lâu, quân đội chỉ còn là vài mảnh tả tơi, các cấp chỉ huy quân sự thuộc các giáo phái tập trung lại xung quanh Tướng Hinh, người của tôi cử về, đóng ở biên giới Cam Bốt. Ở đây có Trần Vàn Soái, Ba Cụt, là thuộc phe Hòa Hảo, Bảy Viễn và Đại tá Leroy của Lực Lượng Dân Chủ Cách Mạng (UDMC). Họ đợi trong tuyệt vọng chiến tầu chở khí giới, mà cơ quan tình báo Pháp hứa hẹn, do Bảy Viễn đã bao thuê trước. Tuyệt vọng, điên cuồng, họ đành chia tay. Hinh sang Pháp ngày 19 tháng 6 năm 1955. Leroy rồi Bảy Viễn tiếp tục theo gót ông ta. Trần Văn Soái, ít lâu sau phải trở về theo Diệm. Riêng có Ba Cụt là tiếp tục chiến đấu, và bị bắt vào tháng 4 năm 1956, và bị chém.
Cố gắng giữ mình, Diệm không dám sang Pháp, phải cử một phái đoàn sang Paris để điều đình sự rút quân của Pháp, và điều đình với những điều khoản mới, sự hợp tác giữa Pháp và Việt Nam. Nhưng cuộc đàm thoại đã diễn ra trong một không khí bực bội. Phái đoàn được Thủ tướng gọi về vào trung tuần tháng 10, không đạt được kết quả gì. Tình giao hảo Pháp Vịệt mỗi ngày một thêm trầm trọng.
Tướng Ely xin được gọi về, đã rời Sài Gòn ngày 2 tháng 6. Ông ta được Tướng Jacquet thay thế, làm Tổng Tư lệnh quân đội Pháp, và ông Hoppenot làm Thượng sứ. Ông này sau mang danh vị là Đại sứ. Đó là sự thanh toán của nước Pháp ở Viễn Đông.
Ngày 19 tháng 7 năm 1956, theo như dự trù của hiệp định Genève, Hà Nội yêu cầu Sài Gòn cử đại diện của miền Nam tham dự Uỷ ban dự thảo về tổng tuyển cử định vào tháng 7 năm 1956. Hà Nội cũng yêu cầu chỉ định một nơi làm chỗ gặp gỡ của Uỷ ban này.
Thay vì trả lời, ông Diệm cho tổ chức ở Sài Gòn những cuộc diễn hành cấp tốc và những cuộc xuống đường chống lại tổng tuyển cử. Vào ngày 5 tháng 8, trong một lời tuyên bố trên đài phát tranh, ông ta loan báo rằng, nước Việt Nam tự coi mình không có ràng buộc gì với hiệp ước Genève, mà ông ta không phải là người ký kết.
Bất cứ cách nào, ông ta giải thích, những điều kiện về tự do của cuộc sống, và tự do về bầu cử, đã không thỏa mãn được ai ở miền Bắc thì sự đó cũng đủ là lý do để từ chối với mọi sự điều đình với miền Bắc.
Ông ta vừa được sự ủng hộ to lớn của Washington, khi ông Foster Dulles cũng tuyên bố về phần Hoa Kỳ:
“Hoa Kỳ rất đồng ý với chính phủ Diệm, để nhận định rằng các điều kiện hiện hữu ở miền Bắc Việt Nam chưa thích ứng được trong hiện tại để bầu cử tự do trên toàn quốc Việt Nam đồng nhất”.
Đó tức là sự từ chối hoãn vô hạn định, bất thành văn, về tổng tuyển cử.
Gạt bỏ được sự chống đối của các giáo phái, hất bỏ cái di sản ám ảnh về tổng tuyển cử sắp đến ngày cận kề, với quân đội trong tay, vào cuối hè năm 1955, Diệm đã là kẻ đắc thắng, và chỉ còn có một trở ngại cần loại trừ để thỏa mãn tham vọng của mình: làm Quốc trưởng…
Trong giới thân cận tôi, người ta liền khuyên tôi, khi tôi hãy còn quyền lực trong tay, là truất phế Thủ tướng, trở về Sài Gòn để tự tay cầm đầu một chính phủ mới. Nhưng tôi không còn tin vào một sự phiêu lưu mới trong tình trạng hiện tại của quốc gia. Sau cuộc thất bại của giải pháp Pháp, một giải pháp Mỹ như đang được thực hiện, chỉ có thể đưa đến một sự thất bại mới, còn to lớn, nặng nề và sâu đậm cho dân tộc Việt Nam hơn nữa. Nước Việt Nam chỉ được tự mình cứu rỗi, có lẽ phải qua đến bước đường cùng, để lấy làm nguồn để bắt đầu
Tại Paris, từng nhóm nhỏ chính khách hoạt động. Ngày 7 tháng 10, có mở cuộc đại hội ở khách sạn Raphael. Chung quanh cựu Thủ tướng Trần Văn Hữu có Tướng Xuân, Tướng Hinh, vốn rất thất vọng về cuộc phiêu lưu vừa qua, Đại tá Leroy, ông William Baze… Cả hình ảnh của xứ Nam kỳ cũ. Người ta nói đến chính phủ lưu vong, đến trung lập hóa, nhưng tất cả những sự bàn phiếm ấy chẳng đi tới đâu.
Về phần tôi, tôi muốn tách rời hẳn với Ngô Đình Diệm, mà tôi không thể đi chung đường được. Nhất là tôi không muốn liên hệ vào với chính sách chống Cộng, thanh trừng ở Việt Nam, nó làm cho nước tôi trở thành một quốc gia cảnh sát trị. Chính ông ta đã cho tôi cơ hội, để đoạn tuyệt với nhau vĩnh viễn.
Thật vậy, ông Diệm loan báo vào ngày 20 tháng 10 cái gọi là trưng cầu dân ý, do ý chí của dân chúng Việt Nam quyết định. Câu hỏi trong cuộc trưng cầu dân ý là:
“Tôi truất phế Bảo Đại và chấp thuận Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Việt Nam, với nhiệm vụ đặt nền móng dân chủ”

“Tôi không truất phế Bảo Đại, và không chấp nhận Ngô Đình Diệm là Quốc trưởng để đặt một nền móng dân chủ”.
Sự trình bày thật khôn khéo, sự lựa chọn của cử tri đã được hướng dẫn rõ ràng.
Dựa vào công tác, chức Thủ tướng không được trao cho nhiệm vụ tổ chức loại thăm dò liên can đến chế độ, ngày 18 tháng 10, tôi chấm dứt nhiệm vụ của Ngô Đình Diệm.
Ngày hôm sau, tôi lệnh cho văn phòng tôi trao cho các chính phủ Pháp, Mỹ, Anh, Ấn Độ và Nga, một công văn, yêu cầu sự giao hảo giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam phải được bình thường hóa, và hướng vào sự hợp tác chân thành, mặc dù mỗi bên không cần phải từ chối vị trí chính trị của mình.
Cũng trong thời gian ấy, tôi gửi cho dân chúng Việt Nam một bức thông điệp.
Trước hết, tôi giải thích lý do nào tôi đã chọn Diệm vào tháng 6 năm 1954; và nhất là tính chất giao hảo của ông ta với người Mỹ. Sau rồi, tôi tỏ ý thất vọng trước những biện pháp độc tài mà mỗi ngày ông ta càng đi sâu vào, biện pháp mà tôi kết án một cách dứt khoát. Cuối cùng, tôi kết luận là cảnh giác dân chúng Việt Nam phải đề phòng con người có thể đưa họ tới một tương lai đen tối của tàn phá, đói khổ và chiến tranh.
Tôi không có ảo tưởng nào, tôi không còn hậu thuẫn ở Sài Gòn nữa. Vả lại bức thông điệp này cũng không được phổ biến ở Việt Nam. Như mọi người từng biết chắc, Ngô Đình Diệm được bầu làm Quốc trưởng.
Ngày 26 tháng 10 năm 1955, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa được tuyên bố thành lập.
Nhưng nó không phải là nước Việt Nam, nước mà tổ tiên tôi và triều đại của tôi đã dầy công xây dựng, bảo vệ và tái thiết. Quân đội mà tôi tạo nên để giữ vứng nền độc lập ấy, đã trở thành một thứ lính bảo chính, nhằm để thực hiện các công tác mật vụ, nếu tối còn là Hoàng đế, tôi lại phải thoái ngôi lần nữa.
Chú thích:
(20) Chính phủ thứ hai của Diệm:
- Thủ tướng kiêm bộ Quốc phòng và Nội vụ: Ngô Đình Diệm
- Bộ trưởng phủ Thủ tướng: Trần Văn Soái và Nguyễn Thành Phương
- Bộ trưởng Ngoại giao: Trần Văn Đỗ
- Bộ trưởng Tư pháp: Bùi Văn Thinh
- Bộ trưởng Thông tin: Phạm Xuân Thái
- Bộ trưởng Tài chánh: Trần Hữu Phương
- Bộ trưởng Kinh tế: Lương Trọng Tường
- Bộ trưởng Canh nông: Nguyễn Công Hầu
- Bộ trưởng Công vụ: Trần Vạn Bách
- Bộ trưởng Kế hoạch: Nguyễn Văn Thoại
- Bộ trưởng Y tế: Huỳnh Kim Hữu
- Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục: Nguyễn Dương Đôn
- Bộ trưởng Xá hội: Nguyễn Mạnh Bảo
- Bộ trướng Lao động và Thanh niên: Nguyễn Tăng Nguyên
- Quốc vụ khanh đặc trách Quốc phòng: Hồ Thông Minh
- Quốc vụ khanh đặc trách Công vụ: Trần Ngọc Liên
- Quốc vụ khanh đặc trách Nội vụ: Huỳnh V Nhiệm và Nguyễn Văn Cát
- Phát ngôn viên chính phủ: Phạm Duy Khiêm và Bùi Kiện Tín.
Paris, tháng 7/1979
Bảo Đại
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...