Hồi ức về Nguyễn Văn Huyên 1
Thay lời nói đầu
Thư của Giáo sư Nguyên Văn Huyên từ Hội nghị Fontainebleau
(Pháp) gửi về cho vợ: bà Vi Kim Ngọc và các con: Nguyễn Kim Hạnh, Nguyễn Kim
Bích Hà, Nguyễn Kim Nữ Hiếu và Nguyễn Văn Huy.
Fontainebleau 18 Julilet 1946.
(Bây giờ hội nghị ở đây cách Paris 60 cây)
Em Ngọc,
Chị Hạnh, các chú Bích Hà, Nữ Hiếu, Huy,
Hôm trước Huyên nhận được thư của Ngọc lại càng nhớ nhà thêm.
Thấy chú Huy cứ đau bụng là Huyên lo ngại, lại ân hận trong lòng là để Ngọc ở
nhà phải một mình sớm hôm áy náy vì con. Nghĩ tới lệ càng thêm tràn mắt. Huyên
ra đi cũng thừa thấy là làm thiệt thòi cho vợ và các con nhiều. Song như Ngọc
nói đây là dịp để Huyên thay mặt cho nhà mà đền nợ nước. Huyên cũng như bao
nhiêu anh em sinh trưởng ở một nước nô lệ từ ngày hiểu biết tới nay ngoài hai
chục năm thở vắn than dài, cố sức sửa mình để thoát khỏi vòng áp chế. Ngọc cũng
cảm thấy là trong 10 năm, hai ta sống với nhau hoàn toàn trong cảnh lạm bợ mà
thôi. Ngọc thấy Huyên không thiết gì ngoài cái tình thân mật trong gia đình,
còn danh lợi thì dửng dưng không ham muốn; có thì dùng không bao giờ tự đi kiếm.
Mà Ngọc là người sinh trưởng trong một gia đình hào phú cũng
có trí cao thượng không bo bo giữ cái lợi tức thời nên cũng trợ giúp Huyên tìm
đường thoát ly khỏi cái vòng nô lệ.
Trong mấy năm tuy chúng ta lủi thủi cùng nhau như một đàn
chim lạc nhưng trong lòng lúc nào cũng hy vọng có ngày lần tới được một cảnh rộng
mà vẫy vùng. Ngọc ạ, lúc này mà chúng ta không tự hy sinh một chút lợi riêng
thì còn lúc nào nữa nhỉ? Ngọc hiểu biết lắm nên Huyên mới nhảy vào vòng mà gỡ mối
tơ vương. Tương lai là ở chúng ta cả, chúng ta phải cố. Xưa cổ nhân có tin là
năm trăm năm rồng mới mở miệng một lần, tương lai của Tổ quốc chúng la không biết
bao giờ mới lại có dịp như ngày nay nữa nhỉ. Hai mươi năm lăn lộn sách đèn, một
chục năm phiêu lưu chân giời góc bể mới có dịp giơ thẳng cánh tay. Chúng ta dắt
tay nhau mà cố lên vậy.
Vả chúng ta đã thường bàn với nhau là những năm này là những
năm tuyệt vời tốt đẹp trong đời chúng ta. Chúng ta nếu muốn làm giầu thì không
có gì là khó. Nhưng chúng ta dùng nó mà gây cái hạnh phúc chung, cho tất cả các
con em thì tốt đẹp biết chừng nào. Ngọc cũng thường nghĩ thế với Huyên từ khi
chúng ta mới đắp cái tổ chim con ở gần Ga Hàng Cỏ.
Nữ Hạnh sinh ra ở đó, trong một bầu không khí mịt mù. Khi chú
Bích Hà ra đời thì chúng ta đã thấy một chút tia sáng ló lên ở phương Đông. Vì
thế mà Hà mới có tên là Bích Hà, Bích Hà là một vùng ánh sáng đỏ khi mặt giời mới
hé trong cảnh bình minh. Đó là lúc bên Tây phương sao đã đổi ngôi rồi vậy! Và Hạnh
sinh ra lúc thế giới đảo điên cần phải trau dồi lấy tính nết, sửa mình để chờ
thời tranh thủ. Hạnh là chị lớn gây lấy cái rễ cái để đưa đường cho các em.
Bích Hà sinh rồi thì chúng ta thấy ở ngoài trận thế vẫn không thuận lợi cho ta,
ở trong thì cả nhà ốm yếu cảm như lòng trời không tựa lòng ta. Nên khi sinh được
Nữ Hiếu chúng ta lại nghĩ hay quay lại gia đình, sửa cái bụng Hiếu đã cảm giời
đó. Hiếu là nghĩ đến trước ta mà cũng nghĩ đến sau ta nữa đó. Khi xảy ra việc
Nhật đuổi Pháp ở nước ta thì chúng ta mới thấy cảnh bình minh năm xưa mới mất hẳn.
Chúng ta xoa tay nhảy vào vòng mà hy vọng. Chú Huy ra đời trong một buổi tuy
cái nguy đầy rẫy nhưng ánh sáng huy hoàng đã bắt đầu bao phủ cả một góc trời
Nam. Nhưng chúng ta muốn ánh sáng ấy đầy hạnh phúc và hoà bình trong thế hệ
tương lai này nên chú Huy mới gọi là Văn Huy. Bố là Văn Huyên một ánh sáng nhẹ
nhàng, mẹ là Kim Ngọc một vật quý không vết, con Văn Huy phải tiến một bước dài
trong các nguồn hạnh phúc của các chị lớn.
Đó là những sự mong mỏi của chúng ta. Cùng nhau ngậm hờn nuốt
tủi trong bấy nhiêu năm, ngồi ăn những bữa cơm mà khách là kẻ cừu, chuyện trò với
những kẻ tự cho những cái học danh của mình là danh thiên cổ. Nhưng Huyên thấy
Ngọc cũng như Huyên chỉ nhún vai mỉm cười mà ở lòng Huyên trong bao năm chí
hăng hái của tuổi trẻ không hề phai nhạt. Huyên cách biệt Ngọc và các con đến
hôm nay đã ngoài 40 ngày rồi? Khi Ngọc nhận được thư này không biết công việc ở
đây đã xong chưa. Nhưng chúng ta cũng can đảm mà tin ở tương lai. Việc rất khó,
nhưng hy vọng vẫn còn chứa chan. Làm suốt ngày thâu tối, không hôm nào được đặt
mình trước 12 giờ khuya. Lúc nào cũng cảm thấy mình trên bãi chiến trường,
nhưng tính Huyên điềm tĩnh nên nhờ đấy mà khó đến đâu cũng không hề rối loạn.
Ngọc ở nhà nên nghỉ ngơi tĩnh dưỡng để nuôi các con. Ngày tái
hợp không bao xa nữa, Ngọc ạ. Các con phải ngoan ngoãn. Hôm qua cậu đã mua một
cái radio cho các con rồi. Chắc là Bà cũng nhớ cậu lắm, Ngọc và các con cứ nói
là Huyên mạnh khoẻ và sắp về. Mẹ nuôi con 10 năm cho đi học nên người, nay con
đi sứ mệnh phương xa, trong lúc tuổi cao mắt kém, tưởng không cảnh nào tết đẹp
hơn và thương tâm hơn vậy. Ngọc ạ, đời chúng ta sẽ tốt đẹp. Ngọc viết thư lên bẩm
Thầy là Huyên lúc nào cũng nhớ Thầy lắm, phen này Huyên về sẽ dàn xếp xong các
việc cũ, Thầy nên tĩnh dưỡng, Huyên hiểu Thầy hơn tất cả mọi người, tuy tất cả
anh em trong nhà ai ai cũng yêu Thầy như nhau. Ngọc bảo Hưởng đánh cho Huyên
cái dây thép nói số kính của Đẻ và số găng tay của Ngọc. Chuyện thì còn nhiều.
Thôi hãy tạm biệt Ngọc hôm nay.
Nguyễn Văn Huyên
Hồi ức về Nguyễn Văn Huyên
Tác giả: Nguyễn Kim Hạnh (con gái ông Nguyễn Văn Huyên)
Nhà xuất bản Giáo dục
Phần 1: Kỷ niệm xưa
Ước mơ về tổ ấm của mẹ
Cha mẹ tôi sống với nhau trọn đời hạnh phúc được 39 năm kể từ
ngày 12 tháng 4 năm 1936 đến ngày 19 tháng 10 năm 1975. Ngày 11 tháng 11 năm
1975, mẹ tôi nhớ lại ngày đầu quen biết:…
Bác Vi Văn Lê (anh trai thứ hai của mẹ tôi) - mất 22-8 Nhâm
Thân (22-9-1932), sinh 21-10 Giáp Thìn (27-11-1904) - sang Pháp học từ năm
1922. Theo hồi ký của bác Vi Kim Yến (chị gái liền mẹ tôi) thì bác Lê khi học ở
Pháp có tham gia hoạt động chính trị vào những năm 1924-1925. Bác Lê học xong cử
nhân luật không chịu về nước, ông ngoại rất buồn. Về sau bác ra 3 điều kiện để
về nước: 1. Không theo đường làm quan. 2. Về chỉ làm luật sư. 3. Không lấy vợ.
Ông ngoại tôi chấp nhận cả ba điều kiện. Tháng 8 năm 1929, bác Lê về Thái Bình.
Đúng năm bác Lê về nước thì cha tôi đỗ bằng cử nhân Văn chương tại Pháp
(7-1929). Tất nhiên là hai người còn chưa biết nhau. Thời ấy có sự kiện Kỳ Đồng
qua đời ở Tahiti. Kỳ Đồng là người Thái Bình nên bấy giờ ai cũng biết. Vì tư chất
thông minh khác thường nên ông được lực lượng yêu nước dùng danh tiếng làm ngọn
cờ. Sau này bị thực dân Pháp đưa sang Angiêri. Tại đây ông đã liên hệ với vua
Hàm Nghi đang bị đi đầy. Trở về nước Kỳ Đồng đã lập ấp phối hợp với Đề Thám ở
Yên Thế… Vì bại lộ nên ông bị đi đày ở Tahiti. Tháng 7 năm 1929 thì qua đời. Mẹ
tôi kể rằng lúc ở Pháp từ năm 1922 đến năm 1929, bác Lê đã tham gia hoạt động
yêu nước và bị theo dõi.
Bác Yến kể rằng ông ngoại tôi đã hướng cho các con trai mình
mỗi người học một nghề để tự sinh sống: bác cả Diệm - anh cả của mẹ tôi (sinh
1-11 Kỷ Hợi tức 3-2-1899, mất 29- 12) học canh nông, bác Lê học luật sư, chú Kỳ
học kiến trúc ở Pháp, chú Dư học thương mại, chú Huyền học ngành mỏ. Còn đối với
các con gái, ngoài việc học “cầm, kỳ, thi, hoạ”, đều được đến trường học. Ngoài
ra, tất cả con trai cũng như con gái trong nhà đều được học võ tàu, cưỡi ngựa.
Sau khi về nước, do nguyện vọng mở văn phòng luật sư không
thành vì phải mở dưới quyền một luật sư người Pháp, bác Lê đã bỏ nhà đi khắp đất
nước cả Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Sau bác Lê quay về thẳng Bản Chu với bác cả Diệm.
Bác cả Diệm học xong cũng không chịu ra làm quan. Sau khi lấy
vợ, bà ngoại giao toàn bộ cơ nghiệp họ Vi trên Lộc Bình - Bản Chu để bác quản
lý gồm những đồn điền, sơn trại đã được phong cấp từ thời xa xưa. Chú Dư sau
khi học xong đã mở cửa hàng ở Lộc Bình, chú Huyền làm việc ở mỏ. Mẹ tôi kể rằng,
năm 1933, khi bác Lê cưỡi ngựa qua sông Kỳ Cùng ở Bản Táu vào tháng 8 đang mùa
nước lũ “không biết bác nghĩ thế nào mà thả cả người ngựa vượt qua sông”. Bà
ngoại tôi thương sót không nguôi. Theo bác Kim Yến kể: “Khi bác Lê mất, báo
Đông Pháp đã đăng tin bác Lê là Đảng viên Cộng sản từ năm 1926-1927 tại Paris”.
Còn Chu Quang đã nhắc lại kỷ niệm năm giải phóng Biên Giới (1950): khi theo đơn
vị bộ đội vào Bản Chu, Chu Quang không còn tìm lại được trong “Phòng đỏ” những
cuốn sách bác đã sưu tầm từ hồi đi học bên Pháp. Ở đấy ngày xưa bác Lê vẫn cất
giấu cuốn Tư bản luận và những cuốn sách về chủ nghĩa Mác bằng tiếng Pháp.
Đối với mẹ tôi thì bà ngoại và bác Lê là hai người thân yêu
tâm đắc nhất. Một người làm cho mẹ tôi hiểu thấu nỗi bất công của xã hội phong
kiến đối với phụ nữ. Một người làm cho mẹ tôi lóe lên niềm tin ngọn gió tự do
bình đẳng bác ái Phương Tây thổi tới sẽ làm thay đổi sự ngột ngạt của cuộc đời
mẹ đang sống…
Cho đến nay trên đầu giường của mẹ tôi vẫn còn treo ảnh bà
ngoại, bên cạnh gài tấm ảnh bác Lê. Năm 2001, các con trai (Vi Văn Lân), con
gái (Vi Nguyệt Kính) của bác cả Diệm từ Pháp trở về thăm Bản Chu. Các con cháu
chúng tôi cũng theo đoàn lên tận mộ Tổ họ Vi. Cháu Hoài Chi có kể lại rằng:
“Người ta lập miếu thờ ông Lê ngay bên bờ sông Kỳ Cùng, nơi vót được ông. Dân
làng thường nói rằng mộ Tổ họ Vi và Miếu thờ ông Lê rất thiêng”. Mẹ tôi nhớ lại:
“… Em lại đi chơi cùng cha mẹ vào Huế, đi khắp miền Trung Kỳ, vào Sài
Gòn lên cả Lục Tỉnh. Rồi sang Cao Miên biết cả Hoàng Gia. Rồi sang Thái… Nhớ những
buổi chiêu đãi quốc tế họ trầm trồ khen em là giai nhân. Ngồi xe lửa có chàng
trai người Thái cũng xin em cho chụp tấm hình. Tấm hình đó khi về em đã tặng
anh! Anh còn nhớ không? Bức hình em, anh vẫn giữ mãi đến ngày chống Pháp, khi tản
cư phải dể lại Hà Nội. Sau này em cứ tiếc mãi bức ảnh ấy vì anh bảo: em có đôi
mắt làm anh yêu say đắm… Đôi ta gặp nhau ở Huế, hội lễ Nam Giao. Em lại quên
không từ biệt anh. Khi lên xe, cha đưa thư anh Toại (bác Phan Kế Toại là chồng
bác Mão, chị của cha tôi) cho em xem. Thư cầu hôn giĩra anh và em…”.
Sau chuyến đi du lịch dài ngày trở về Thái Bình, ông bà ngoại
tôi mấy lần nhận được điện từ Hà Nội gửi tới xin cầu hôn. Mẹ tôi kể rằng mãi đến
khi mẹ tôi nhận được thư cha tôi trực tiếp viết cho ông ngoại và “gửi lời thăm
em, người đáng yêu nhất” thì mẹ tôi mới bằng lòng để bên nhà trai xuống Thái
Bình cầu hôn.
Mẹ tôi rất tự hào về sự tiến bộ của ông bà ngoại và ý chí
vùng lên của chính mình để trai gái được phép tìm hiểu trước khi thành hôn.
Trong bốn chị em gái, bác Kim Thành (Vi Kim Thành sinh 21-1 -1901, mất 6-1 Đinh
Mão, 1987) lấy chồng là người họ Bế ở tỉnh Cao Bằng, chồng bác mất sớm nên ông
ngoại đã xin về, sau gả cho bác Dương Thiệu Chinh, cháu nội cụ Dương Khuê, Khâm
sai triều Nguyễn. Về bác Kim Yến, ông tôi lại gả cho gia đình cụ án Nghệ (án
sát tỉnh Nghệ An). Cụ án thì đã mất, nhà chỉ còn bà chồng (tức là cụ án bà), mẹ
chồng (tức là bà Huyện) và chồng là bác Phan Hữu Cương (là con trai một). Về
làm dâu trong cảnh nhà như vậy, bác Kim Yến đã phải vất vả không những về thân
phận làm dâu mà còn vất vả cả về đường kiếm kế sinh nhai. Chỉ còn lại mẹ tôi và
cô Kim Phú (sinh 12-12-1918, mất 1987 (tức 24-11 Đinh Mão) ở với bà ngoại. Theo
lệ gia đình chị đi lấy chồng thì em gái liền sau đó cùng mẹ học cai quản việc nội
trợ gia đình. Mẹ tôi bắt đầu cùng bà ngoại tập lo toan tề gia nội trợ kể từ năm
1930. Mẹ tôi thường nhắc nhiều về sự “tự lựa chọn người chồng lý tưởng”, vì thế
mẹ tôi hoàn toàn tôn trọng sự lựa chọn bạn đời của các con. Mẹ tôi kể rằng, hồi
13 tuổi, ông tôi đã nhận gả mẹ tôi cho một người họ Dương Thiệu. Năm 16 tuổi
thì mẹ tôi biết chuyện, mẹ tôi nhất định đòi ông tôi phải sêu trả ba năm. Tục lệ
xưa khi đã nhận lời, hằng năm nhà trai biếu tết chờ con gái đến tuổi gả chồng.
Nếu phá bỏ phải trả lễ. Lễ đó gọi là sêu trả.
Sở dĩ mẹ tôi có lòng quyết tâm giành quyền quyết định hạnh
phúc cuộc đời mình, không chấp nhận “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” là do thấy cảnh
bà ngoại chịu cảnh năm thê bảy thiếp thật là đau khổ!…
Ngày 28-1-1976 (Bính Thìn) Cô Vinh, một người bạn thân của mẹ
tôi, sau mấy chục năm xa cách, đã viết thư cho mẹ tôi nhắc lại kỷ niệm xưa
“Vinh ở Đà Lạt có gặp Dương Thiện Tước và vợ là Minh Trang. Hai anh chị lên hát
đờn ở Đà Lạt, Hôm đó có người quen giói thiệu. Vinh hơi… ngỡ ngàng rồi nhớ lại
lúc ở Hưng Yên, Vinh phá đám, đã tưởng anh Tước không nhớ. Nhưng ngay tối đó,
anh Tước nói với bạn Vinh là: tưởng bà Vinh là ai lạ! Nhìn ra là cô Vinh, chỉ
nói thế thôi Vinh hơi ngượng… nhưng sau đó chị Minh Trang qua lại chơi với
Vinh, mỗi lần Vinh xuống Sài Gòn cũng đến thăm gia đình anh Tước. Anh Tước bỏ
bà vợ cả, sông, cưới Minh Trang đã “mấy chục lăm nay”.
Khi tôi chưa đầy 2 tuổi thì bà ngoại mất (1939). Cả nhà đều
quy lỗi cho ông ngoại vì ông mê một bà thiếp quá lộng quyền, nên bà ngoại đã bỏ
Hà Đông về thăm bác Kim Thành. Trên đường về quê Lạng Sơn bà đi ngựa bị ngã chấn
thương sọ não, mất vào ngày 24 tháng 11 năm Mậu Dần (1939). Mẹ tôi thường kể về
bà ngoại là người cần cù chịu khó, quanh năm ngồi may áo, khâu giầy cho tất cả
mọi người trong nhà. “Bà chỉ muốn mọi người đều sung sướng… mẹ nhớ từng trang
sách bà dạy cho mẹ đọc là những bài học luân lý, đạo làm người… Thế mà bà lại
phải chịu bao nỗi khổ của cảnh bấy công!…”.
Bác Kim Yến nhớ về bà ngoại tôi: “Mẹ tôi thì đặc biệt là
thương, yêu, quý con. Cụ rất bình đẳng và từ bi quảng đại, được mọi ngườì kính
trọng”. Mẹ tôi luôn da diết nhớ về bà ngoại, năm 1949 trong Nhật ký Kháng chiến
mẹ tôi viết: “Ngày 15 tháng 7 Mậu Tý. Ngày sinh nhật Mẹ Hiền kính yêu muôn vàn
của con gái Mẹ”.
Bác Kim Yến và mẹ tôi đều thương bà là người nhiều tâm tư đau
buồn nhất. Mang tiếng là một nhất phẩm phu nhân mà đau buồn vì ông ngoại có
“năm thê bảy thiếp”. Bà ngoại thường nói: “Thà lấy một thằng cày ruộng còn hơn
là lấy một ông quan”. Lời tâm sự ấy như đã khắc sâu vào lòng mẹ tôi. Trong tập
lưu niệm mẹ còn giữ được những phong thư bác cả Diệm gửi cho các em gái hồi bác
ở Bản Chu: “Thầy có đâu biết cảnh… mẹ chúng mình muôi con khổ sở vất vả như thế
nào! Đẻ xong là vứt cho mẹ con chúng nó. Mai lại vui với gái”.
Lại một thư khác của bác Cả: “Các cô còn nhớ hồi ở Phúc Yên
không? Chắc còn ít tuổi… Lúc sắp lấy cô Bắc thì hết sức ngọt ngào với mẹ khi lấy
được thì đâu lại hoàn đấy… Còn bây giờ mẹ mất rồi, tôi tưởng ngày mẹ chúng mình
mất thì thầy tu tỉnh, ăn ở với chúng mình hết bổn phận thầy thì vui biệt
bao!…”.
Mẹ tôi thường tâm sự nhiều lần với tôi và ngay trong những
trang nhật ký: “Mẹ ghét cay ghét đắng ruột đống quan lại xu nịnh, tham nhũng và
năm thê bảy thiếp của chế độ phong kiến”. Nhân ngày 19 tháng 5 năm 1981, mẹ tôi
đã viết: “… Bác Hồ đã mang lại hạnh phúc thực sự cho phụ nữ. Nghĩ lại nghìn năm
qua phụ nữ khi có chồng cũng không bao giờ yin người chồng vĩnh viễn là của
riêng mình. Cho nên phụ nữ rất biết ơn Bác Hồ kính yêu!”.
Cũng trên trang nhật ký mẹ tôi tâm sự với các con, khuyên các
con phải sống xứng đáng là con người của thời đại Hồ Chí Minh vì “Hồ Chí Minh
là người có đạo đức vĩ đại nhất, người đã đưa giới phụ nữ Việt Nam ra khỏi áp bức,
khỏi xiềng xích của chế độ phong kiếnểc phong tục cổ hủ hà khắc xưa. Các con
hãy dang tay mà đón nhận, và giữ lấy cái quyền thiêng liêng ấy…”.
Thỉnh thoảng mẹ tôi kể cho tôi về những kỷ niệm xưa. Mẹ tôi
khá nhớ về các cô bạn thân của mẹ như cô Nga, cô Thái con cụ Thượng Quỳ, cô
Vinh, cô Hiển con cụ Hội Quang, cô Nghĩa nay là “bà Sơ trên Đà Lạt. Tôi nhớ đã
theo mẹ đến nhà cô Nghĩa để tiễn cô đi tu. Trong thư ngày 13-5-76, cô Vinh nhắc
lại kỷ niệm: “Ngọc còn nhớ hôm chúng mình đứng núp ở cửa nhà Nghĩa, xem Nghĩa
và ông Nhu… tâm tình không? Bị nó lườm tụi mình quá. Vinh gặp Nghĩa vẫn nhắc lại,
Nghĩa cười khì”. Việc đi tu của cô Nghĩa cũng là vì mối tình với Ngô Đình Nhu
không thành. Tôi đọc thơ cô Nghĩa viết cho mẹ, thư nào cũng nhắc đến cháu Hạnh
và hỏi thăm tôi đã có mấy con. Qua cô Vinh tôi được biết “Nghĩa đi tu đã mấy chục
năm nhưng vẫn rất là cỡi mở, vui vẻ mình nói một, Nghĩa nói hai chứ không
“nghiêm chỉnh đâu!”.
Thế là tôi cũng mừng cho cô tìm được niềm vui trọn vẹn. Còn
nhớ khi mẹ tôi đã có chúng tôi thì các cô Nga, Thái, Vinh vẫn chưa đi lấy chồng.
Các cô thành lập gia đình rất muộn. Các cô đều có những ước nguyện như mẹ. Ngày
22 tháng 12 năm 1977 sau khi cha đã đi xa được hai năm thì mẹ lại mãn nguyện
ghi rằng: “Ước mơ của em khi đôi tám xuân xanh quyết chọn được người tài đức mới
trao gửi thân. Nếu không gặp được một nam nhi hào hùng đó thì thà ở một mình suốt
đời! Thế mà em đã được toại nguyện!”.
Chiếc xe Rơ-nô *mầu xám
Anh Chính (Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội) cháu đích tôn của ông
nội tôi kể lại. “Chú mới từ Pháp về có mua một chiếc Renault màu xám nhạt. Ôtô
có hai chỗ ngồi phía trước và ba chỗ ngồi phía sau. Anh nhớ là được chú cho ngồi
ngay bên cạnh rồi chú lái thử. Bắt đầu từ Hàng Áo (phố Thuốc Bắc bây giờ) lái rẽ
phải ra Hàng Phèn. Chú vừa lái vừa mắng ầm lên, chắc là vì vướng mắt lúc rẽ. Đền
đúng chỗ rẽ Hàng Áo - Hàng Phèn thì chú Huyên cho luôn bánh xe sau bên phải leo
lên bờ hè vài mét rồi mới xuống lòng đường và tiếp tục chạy!”. Anh kể về “tài
lái xe” của cha tôi. Thế mà cha tôi đã thường xuyên hẹn bác Nguyễn Mạnh Tường:
“Này, tôi hẹn cậu nhé, cứ chiều thứ bảy cậu không được đi đâu cả, cứ phải đi
theo tôi”. Rồi bác Tường lại nói: “Thế là cứ thứ bảy dạy học xong, ông ấy lôi
mình lên ôtô chạy một mạch xuống Thái Bình. Thỉnh thoảng có cuộc khiêu vũ các
ông huyện, ông phủ kéo đến, hai ông tiến sĩ cũng nhảy nhót ở đấy”.
Khi cha tôi rủ lên Lạng Sơn thì bác Tường nói: “Lên Lộc Bình,
Lạng Sơn thì thôi, tôi chỉ đi Thái Bình, lần nào ông ấy cũng xách cổ mình đi là
mình phải đi thôi”.
Mẹ tôi ghi nhật ký. “Theo cha mẹ lên Hà Nội, em lại gặp anh.
Anh còn nhớ không? Em đến Vân Loan (cô Vân Loan là con gái của cụ Nguyễn Văn
Vĩnh, người dịch thơ “La Phông-ten” rất nổi tiếng) cạnh trường Bưởí để gặp anh.
Anh làm em bất ngờ. Đang ngồi trên ôtô cùng bạn Nguyễn Mạnh Tường bỗng bạn xuống
xe và đi ngay. Thế là anh và em đôi ta phóng xe khắp chốn khắp nơi để kéo dài
cuộc gặp đi đôi lần đầu tiên!
Về đến 95 Gambetta (Trần Hưng Đạo) đã là trưa, là cả nhà đi
cơm.
Đám cưới của cha mẹ tôi được tổ chức vào ngày 12 tháng 4 năm
1936. Ảnh chụp ngày cưới cha mẹ tôi thật trang trọng. Bác Kim Yến nói rằng chỉ
có cô Di và sau đến mẹ tôi mới có đám cưới cô dâu mặc áo thụng gấm và đội khăn
vành dây như vậy. Trước đây cô dâu thường mặc nhiễu điều. Hai bên họ nội ngoại
của tôi gần như có mặt đầy đủ. Bên cạnh cha tôi là cụ Huyện Khôi hay còn gọi là
cụ Huyện Nam Đồng, anh ruột của bà nội tôi. Bên cạnh mẹ tôi là em gái ông ngoại
tôi là vợ cụ Nghiêm Xuân Hoàng. Ngoài ra còn có gia đình bạn của ông như ông bà
Hội Quang và các cô Vinh, Hiển là phù dâu, ông bà Nguyễn Đình Quỳ có cô Nga,
Thái là phù dâu. Sau đó chúng ta đã có con gái đầu lòng. Ta nâng niu, ta yêu
quý”.
Ngày 20 tháng 3 năm 1937, mẹ tôi sinh tôi ở nhà thương Đặng
Vũ Lạc ngay trước cửa 95 Gambetta. Lật mở những trang nhật ký mà mẹ tôi đã chắt
chiu từng việc rất nhỏ để vun đắp cho hạnh phúc lớn lao. Mẹ tôi viết cho các
con nhớ: “… Khi mẹ có thai lần đầu, cha mẹ vừa mừng vừa lo. Cha chăm sóc mẹ từng
ly từng lý,… mẹ ốm nghén liền 4 tháng, gầy sút từ 48kg - 49kg chỉ còn 41 kg. Bà
ngoại của các con thương xót mẹ quá… Mẹ chỉ còn ăn quả hạnh đào hộp là dễ chịu
hơn. Nhưng ăn xong lại nôn. Bà ngoại mang cho mẹ hàng chục hộp ăn hết bà lại
cho. Đến tháng thứ năm mẹ mới khỏe dần… Cha mẹ mong con từng ngày!… Sau 10
ngày, hai mẹ con đã được cha chuẩn bị chu đáo ở nhà. Trên phòng ngủ đã có chiếc
giường xinh xắn mắc màn tuyn mầu hồng. Chiếc giường đó là quà của bác Tú Cương
và cô Di tặng cô cháu gái yêu ra đời… Suốt thời gian hai mẹ con ở trong viện
cha con đã mua một cái xe đẩy rất mốt ở Gô-đa, một cửa hiệu to nhất Hà Nội. Sở
dĩ mẹ nhắc đến Gô-đa, bói lẽ năm sinh con là năm đón đặc sứ Gô- đa có cuộc vận
động đòi dân sinh, dân chủ, và là năm mà Đảng Cộng sản ra công khai, đại biểu Đảng
đã thắng trong bầu cử. Cha đã mua sắm đầy đủ tiện nghi cho cô con gái rượu… những
bữa ăn trong viện, cha tự tay làm cho mẹ. Cha yêu mẹ, yêu con vô cùng!
Từ đó tiếng yêu đương của cha mẹ đã có những lời líu lo, bập
bẹ dần dần lớn lên…”.
Mẹ tôi còn giữ bức thư của bà ngoại gửi cho mẹ:
“Thái Bình, năm 1936.
Hôm qua Thầy đã về đến nhà, thấy Thầy nói con độ này nôn mửa
nhiều. Me thấy Thầy nói con cũng mệt. Như dạo trước thôi con ạ. Ai nghén cũng
nhiều khó chịu trong mình, vài tháng thì sẽ khỏi. Con chịu khó ít bữa nữa thì hết.
Thầy đi Sài Gòn thứ hai. Đến thứ hai hay là thứ ba me sẽ lên thăm con, me gửi
lên cho con 10 hộp sữa, 2 hộp quả, một phốt cao. Thầy nói cháu Ái sốt, đã khỏi
chưa?… Đến mai lại làm cơm mời quan Sứ và Phủ Huyện, me cũng bận. À em Phú đã
đi Huế chưa? Từ ngày Thầy xuống Hà Nội dưới này cũng chưa có sự gì lạ. Me chắc
hai vợ chồng được mạnh. Me”.
Trong thư viết từ Hội nghị Fontainebleau (1946) gửi về cho mấy
mẹ con cha tôi có viết về ý nghĩa của việc đặt tên cho từng con. Trên núi rừng
Việt Bắc, thỉnh thoảng mẹ tôi lại mở những phong thư này ra đọc cho chúng tôi
nghe. Tôi đã tâm niệm về vai trò và nghĩa vụ của mình qua những dòng ngắn ngủi
đầy ý nghĩa đó. Mẹ tôi còn nhắc tôi nhớ tên tôi có vần của cha và của mẹ: N-H.
Sau này tôi nhìn thấy cha mẹ có bộ cốc bằng bạc có khắc chữ N-H rất đẹp. Tôi cảm
nhận được mối tình đằm thắm của cha mẹ nên càng cố gắng góp phần giữ gìn hạnh
phúc.
Mẹ tôi sinh em Bích Hà vào ngày 19 tháng 7 năm 1940. Khi tôi
chừng ba bốn tuổi, tối nào tôi cũng được cha ru ngủ trên cánh võng ngoài hiên
nhà. Lúc này gia đình tôi không ở 95 Trần Hưng Đạo mà đã về ở 59 Trần Bình Trọng,
trước chùa Thiền Quang. Chủ nhật nào cha tôi cũng cho mấy mẹ con đi chơi thăm
chùa chiền danh lam thắng cảnh và về thăm bà nội ở Trại Minh Tâm phố Hàng Bột
hay ở 30 phố Hàng Áo (nay là phố 30 Thuốc Bắc). Lúc này tôi đã 5 tuổi, em Bích
Hà đã 2 tuổi, mẹ tôi gặp lúc cả hai con đều bị ốm nặng. Nhật ký mẹ tôi viết:
“Bích Hà sinh ra lúc đó đang Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Mọi việc có nhiều
thay đổi. Con đã biết thiếu thốn rồi. Chị Hạnh và Cha con bị đau thương hàn.
Ôi, ba tháng trời bao lo âu vất vả của Mẹ, con lại đau bụng, ho gà người chỉ
còn da bọc xương. Bao bác sĩ Tây, ta giỏi đều chữa mà vô hiệu. Sau đành mời ông
Lang ta chữa cho một tháng thì bệnh con lui. Mẹ Cha mới đỡ lo. Chữa chị Hạnh mấy
tháng trời ở nhà không khỏi. Phải vào Bệnh viện “Đồn Thuỷ”, đưa cả hai bố con
vào điều trị. Thế là Mẹ vừa trông nom hai Cha con ở Bệnh viện, lại chăm sóc con
ở nhà. Sau vất vả quá mẹ phải mời bà dì là em gái của bà ngoại xuống trông nom
cho Mẹ. Những lúc hai Cha con ở nhà, một buồng là hai Cha con chị Hạnh, một buồng
Bích Hà. Mỗi lần sang với Bích Hà, mẹ cho bú Mẹ lại thay áo khác sang với con.
Bao nhiêu cái khó khăn, con có biết nổi không?”.
Hồi ấy mẹ tôi phải nhờ bác Tú Cương mua một con dê chuyên vắt
sữa cho Bích Hà uống. Riêng tôi thì ngày nào mẹ tôi cũng phải lấy nhiệt độ mấy
lần. Tôi phải tiêm rất nhiều thuốc. Mẹ tôi nói: “Bác sĩ Chương “Lùn” tiêm nát cả
tay con mà bệnh chẳng khỏi”. Trẻ 5 tuổi như tôi tiêm mà không khóc, lúc nào
cũng nghe lời mẹ sẵn sàng đưa tay cho bác sĩ tiêm. Có lẽ tôi thấy mẹ quá tất bật
từ phòng này sang phòng kia mà thương mẹ nên không quấy. Thỉnh thoảng nhớ lại
ngày xưa, mẹ tôi khen tôi ngoan và nói: “Năm ấy tưởng Hạnh không sống nổi”. Cha
tôi thương tôi. Ngày ngày đi làm về lại vặn “kèn hát” cho nghe. Có hôm tôi nhỡ
đè tay làm vỡ tan một chiếc đĩa hát nhưng cha tôi không mắng. Bệnh thương hàn
là bệnh đường ruột. Mẹ tôi bảo: “Không ăn được đồ cứng, nếu ăn sẽ thủng ruột”,
vì thế thức ăn của tôi toàn nước. Hằng ngày mẹ tôi nấu ăn ngay bên phòng tắm, rồi
ăn ngay cạnh giường tôi nằm. Tôi nhìn cha mẹ ăn, tự nói với mẹ: “Con không thèm
đâu, cha mẹ cứ ăn đi, ăn ở cạnh con cho con nhìn thôi!”.
Về sau cha tôi cũng bị lây bệnh, phải nằm ngay trên giường
đơn cùng phòng tôi. Thế là mẹ tôi vất vả chăm sóc cả ba người bệnh. Cuối cùng mẹ
tôi phải đưa hai cha con tôi vào bệnh viện. Lúc này tôi đã ăn được khoai nghiền.
Còn cha tôi nằm cùng phòng với tôi thì phải tiêm ống thuốc gì to lắm, treo trên
đình màn rồi dòng dây xuống tay. Ngày nay thì tôi đã hiểu đây là truyền huyết
thanh. Khỏi bệnh tôi không đi được. ông Phạm Đình Ái, bạn của bố tôi, quen nhau
từ hồi ở Pháp, ở Huế ra có cho hai mẹ con tôi đôi hài đỏ rất xinh, thêu cườm
óng ánh các màu. Tôi muốn đi, xỏ chân vào đứng lên không được. Cha một bên, mẹ
một bên hai người dìu tôi đi từng bước… Mẹ chăm sóc ba người bệnh mà mẹ lại
không bị ốm. Thật là phi thường!
Mẹ tôi sinh em Nữ Hiếu vào ngày 6 tháng 12 năm 1942. Trong
Kháng chiến, nhớ về những ngày sinh và nuôi Nữ Hiếu mẹ tôi viết: “Đến ngày sinh
Hiếu ở thời Nhật. Phải chạy bom Mỹ ném xuống Hà Nội. Mẹ con ta lại phải rời Hà
Nội vào Hà Đông mua chiếc nhà để chúng ta ở. Từ bé con đã yếu, nhỏ nhắn không
bao giờ bụ sữa. Con nghịch lắm và khóc dai. Có lần con sốt mẹ và con xông lá cảm.
Con bị ngất đi mẹ lo quá. Từ lúc đó mẹ cũng không thích xông lá chông cảm nữa”.
Cha tôi được cả họ ca ngợi về lòng hiếu thảo với bà nội. Ba
chị em tôi đều sống tại 59 Trần Bình Trọng cho đến năm 1943 - 1944. Gia đình
chúng tôi phải dọn vào Hà Đông chạy bom Nhật. Lúc này cả nhà đã ở trên mảnh đất
cha mẹ mới mua. Ngày rời Hà Nội, tôi thấy có người đến lái chiếc xe tô Renault
đi mất. Đó là ngày cha tôi đã bán xe. Hẳn là để góp tiền mua nhà ở Hà Đông. Tôi
còn nhớ từ ngày ấy cha tôi đã lọc cọc trên chiếc xe đạp hoặc đi tầu điện ra Hà
Nội làm việc, chiều tối mới có mặt ở nhà. Em Huy sinh ra tại nơi đây ngày 3
tháng 8 năm 1945. Mẹ không đi bệnh viện sinh em như sinh Bích Hà, Nữ Hiếu. Ngày
sinh Nữ Hiếu cha tôi còn dắt tôi vào Sanh Pôn thăm mẹ và đón em bé. Bác sĩ Mậu ở
bệnh viện Hà Đông cùng bà đỡ của Nhà Hộ sinh của anh chị Chính đón em Huy ra đời…
Bấy giờ chị em chúng tôi phải sang nhà bác Kim Yến ở ngay sát vách. Chiều về đã
thấy em bé khóc rồi. Cô Kim Quý (em mẹ tôi) đã kể cho tôi hay là bà nội tôi vào
nằm dài trên giường dang tay ra để cô tôi bế em Huy đặt lên cánh tay bà. Bà đón
cháu đích tôn yêu quý của bà tại Hà Đông. Bà đã cho em một chiếc kiềng và đồng
chinh bằng vàng vừa to vừa dày, có con rồng uốn quanh lỗ vuông. Nơi chôn rau cắt
rốn em Huy chính tại ngôi nhà cha mẹ đã mua (trước cổng chợ Hà Đông, nay là nhà
của một vị lãnh đạo Tỉnh) và tôi còn nhớ cả nơi chôn rau của em Huy ngay gần cổng
sau.
Nhật ký mẹ tôi viết: “Những ngày tháng đó khí thế cách mạng hừng
hực chống quân thù, chông Nhật, chống Pháp. Khẩu hiệu, truyền đơn nhất là sau
ngày đảo chính Nhật 9 tháng 3. Khí thế ngày càng cao. Ngày nào Mẹ cũng xem truyền
đơn. Cha con thì bận hơn trước nhiều, nhưng vẫn hằng ngày xong giờ làm ở Hà Nội
lại vào với mẹ con ta buổí tối. Hôm nào về chậm thì Mẹ lo hết hơi, vì hồi ấy
nam đi làm mà về chậm dễ mất lắm, bị Nhật bắt hoặc giết… Sợ lắm, sống trong hồi
hộp. Giá Mẹ không bụng mang dạ chửa chắc Mẹ cũng lao vào tham gia Cách mạng.
Nhìn lại đàn con nhỏ, lại sắp sinh nĩa nên bỏ ý nghĩ đó. Mẹ nhớ mãi đêm mùng 9
tháng 3, Cậu Mẹ nhìn nhau thầm hiểu rằng cuộc đời sẽ thay đổi, nắm chặt tay
nhau như ước lệ. Ước mong của Cha Mẹ là Tổ quốc ta sẽ thoát vòng nô lệ. Bằng
cách nào đó chưa biết nhưng biết chắc chắn sẽ có những sự việc thay đổi lớn. Cả
nhà có thằng bé giai, mừng ơi là mừng, lúc sinh có cô Thái đỡ Huy trong tay bà
đỡ…”.
Em Huy đã chào đời trong sự hân hoan vui mừng khôn xiết khi cả
dân tộc thoát khỏi xiềng gông trở thành đất nước độc lập, tự do hạnh phúc.
Nhưng lúc em tôi ra đời cũng là lúc để giữ lấy nền độc lập non trẻ, đất nước phải
bước vào cuộc đấu tranh gian khó muôn trùng. Bởi lẽ đó mẹ đã nâng niu em tôi bằng
những dòng sữa của mình trên chiến khu Việt Bắc cho đến lúc em được 3 tuổi mới
cai sữa. Mỗi năm kỷ niệm Quốc Khánh lớp tuổi của Huy cùng đoàn người diễu qua lễ
đài Ba Đình lịch sử của năm 15, 20, 25… đều có mặt em tôi trong lớp thanh thiếu
niên sinh vào tháng 8 năm 1945. Sau nhiều năm công tác, em tôi đã trở thành Phó
Viện trưởng Viện Dân tộc học (1983-1995), rồi Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam nằm trên đường Nguyễn Văn Huyên.
Ngày 5 tháng 6 năm 2000 tại Trung tâm Rockefeller, New York,
Mỹ, Hội đồng Văn hoá châu Á đã tổ chức trao giải thưởng John D. Rockefeller III
(1999-2000) cho em tôi vì những đóng góp cho việc xây dựng và phát triển Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam và sự giao lưu giữa các nhà khoa học Việt Nam với các
nước trong việc bảo tồn văn hoá dân tộc… Ngày 4 tháng 2 năm 2003 tại New York
(Mỹ), Tổ chức hỗ trợ những người thợ thủ công (ATA) của Hoa Kỳ đã trao giải thưởg
“Công hiến vì những người thợ thủ công” cho Nguyễn Văn Huy. Đây là sự ghi nhận
những thành công tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và những cống hiến của Huy
cho sự đa dạng, sự hiểu biết sâu sắc của các nền văn hoá Việt Nam, nâng cao nhận
thức, truyền thống, kỹ năng của những người thợ thủ công và qua đó tạo ra những
cơ hội kinh tế, xã hội và nghệ thuật của những người thợ thủ công Việt Nam (Báo
Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 6-2-2003).
Chúng tôi đã không phụ lòng mong mỏi của cha mẹ. Sau nhiều
năm học tập vất vả xa nhà, em Hà đã là người đầu tiên trong số 4 chị em tôi được
nhận bằng Phó Tiến sĩ Hoá học tại Liên Xô năm 1972. Sau Bích Hà là em Huy đã nhận
bằng Phó Tiến sĩ Dân tộc học năm 1988. Còn em Hiếu nhận bằng Tiến sĩ Y học năm
1995. Cả ba em tôi đều là Phó giáo sư. Chỉ riêng tôi là kỹ sư Thông tin hữu tuyến
đường sắt từ năm 1963 cho đến khi nghỉ hưu. Giữ gìn truyền thống.
Họ Nguyễn làng Lai ông nội tôi tên là Nguyễn Văn Vượng, hiệu
là Minh Tâm. Sinh năm Ât Mão (1875), mất ngày 18 tháng 9 (1915). Thường gọi là
cụ Bảy vì ông là con trai thứ bảy của cụ Nguyễn Văn Khoa. Cụ Khoa dân làng thường
gọi là cụ Điều. Cụ Điều ở làng Lai Xá, tổng Kim Thừa, huyện Đan Phượng, phủ Quốc
Oai, tỉnh Sơn Tây nay thuộc địa phận Hà Đông, xã Kim Chung.
Theo di chúc cụ Điều sinh năm 1828 (Quý Tỵ), mất năm 1904, thọ
72 tuổi, là cụ tổ đời thứ tám. Di chúc có ghi: “Cụ tằng tổ làm giám sinh Đôn
Luân đường, triều Lê. Đỗ cử nhân xuất thân, thì càng sinh vẻ vang tổ tiên lưu truyền
hậu thế. Một họ tộc văn chương nổi tiếng tiếng hơn trọng vọng…”.
Cho đến đời Cụ tổ Điều làm nghề chữa bệnh cứu người sau được
phong cửu phẩm y sinh (do làm thầy lang chữa bệnh cho lính). Lật mở những trang
gia phả thì vào đời thứ sáu có ghi rằng: “Cụ tổ khảo Lê Triều quan viên tử,
kiêm tư vấn hội Nguyễn Quý công, tự Khắc Nhượng, liệu Pháp Nhân tiên sinh, nhờ
công đức của đời trước mà được một bà trong họ làm giáo học nổi tiếng đất nước
là nữ quốc sư Huyện Thanh Quan”.
Điều này tôi chưa có dịp nào tìm hiểu cho sáng rõ mối liên
quan. Có lẽ phải có người tra cứu nhiều tư liệu lịch sử mới sáng tỏ được. Song,
có một điều tôi rất tâm đắc chú ý là di chúc dời sau luôn nhắc nhở: “Lấy nghiệp
giáo để giúp người” hoặc “lấy việc cứu sống người làm đức, lấy tuổi thọ tâm
nguyện và siêng năng cần kiệm xây dựng gia nghiệp”.
Lần tìm tư liệu để hiểu thêm về cội nguồn, anh bạn tôi - Vũ
Thế Khôi - nhà giáo ưu tú đã cho tôi một bài anh viết về “Danh Hương Hoa Đường
xưa qua tư liệu Hán Nôm”. Theo gia phả họ Nguyễn thì gia tiên cụ tổ bên ngoại
có hai địa danh ở xã Đan Loan và phường Nghi Tàm. Nghi Tàm là địa danh có quan
hệ tới Bà Huyện Thanh Quan. Cụ tổ bà thứ sáu lại là người có công nuôi cụ Điều
tức ông nội của cha tôi. Có đoạn gia phả viết: “Quê tổ ngoại ở phường Nghi Tàm.
Cụ goá chồng lúc 27 tuổi. Cụ đã từ bi niệm Phật tại gia”. Cụ rất quý trọng kẻ
sĩ, thường muốn các danh nho đi lại, trú ngụ tại nhà mình để cho các con được
noi theo học tập. Địa danh Đan Loan là quê ngoại của bà nội cha tôi (bà chính
thất Phạm Từ Cần). Trong bài viết của anh Vũ Thế Khôi thì “Có lẽ sách “Vũ trung
tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ (1768 -1830) là thư tịch cũ đầu tiên nói đến nguồn gốc
Hoa Đường. Danh sĩ làng Đan Loan viên: còn nhi(làng Hoa Đường, nguyên tróc là
thôn Bông thuộc xã Ngọc Cục, sau Lê Trung hưng mới phân ra làm xã riêng. Xem
trong “Đăng Khoa lục” ghi chép quán chỉ các đấng tiên hiền thì rõ”.
Trong di chúc qua phần chia gia sản đã thấy ý thức đề cao việc
học hành cho hậu thế: “Ta thường tâm niệm Tổ tông gây dựng, hậu thế tất hưng.
Con cháu chớ nghĩ rằng khó khăn mà phải ra sức gắng chí… để lại 4 mẫu ruộng tại
xã ngoài đầu cổng, con cháu luân lưu cày cấy. Hằng năm từ 1200 bát thóc lấy ra
300 bát thóc bán lấy tiền nộp thuế hai vụ chiêm mùa. Còn đư 900 bát thì hoặc
cúng cho thầy hoặc để ăn học. Nếu ai muốn làm cái nghề tạp lấy số tiền đó để ăn
thì không được. Nhất thiết phải tuân theo muôn đời và không được hoán cải, đổi
chác, bán đi… Đặt một mẫu ruộng biểu, con cháu nào theo học, tựu trường, đi thi
đỗ đạt thì sử dụng biểu dương. Nếu có con cháu đồng thời trúng cách thì lấy tiến
sĩ trên hết, cử nhân tú tài là thứ…”.
Về cụ Điều thì trong họ thường kể lại câu chuyện như sau: “Bố
mẹ chết sớm, cụ Điều ở với bà nội thất học nhưng là con nhà nho, vả lại cụ rất
thông minh nên cũng biệt được ít chữ, rồi tự học đọc sách để chĩra bệnh. Thành
lập gia đình cũng là nhờ bà nội, tức là cụ tổ bà thứ bảy. Nhà nghèo cụ cùng bà
cả gánh thốc ra chợ bán thuốc sống, thuốc chín lấy ở kinh đô. Có nhà ông bà ở
Phố Phúc Kiến vẫn thường bán thuốc cho cụ, thấy cụ chịu khó mới ngỏ lời gả cô
út. Khi lấy cô út, cụ còn xoà tóc thề mai sau mà phụ bạc thì sẽ chết như mớ tóc
này” rồi cụ đặt tóc trên bậc cửa mà chặt. Về sau cô út sinh được 9 người con,
trong đó có ông nội tôi. Từ khi thành hai gia đình, cụ Điều lấy thuốc về cho cụ
bà, một mình đem ra chợ bán. Còn cụ thì ở rể, ngày ngày mang thuốc ra hàng hiên
trước cửa một nhà cũng ở phố Phúc Kiến nhưng đóng cửa không buôn bán, rồi cụ
bày các ô thuốc chẩn bệnh, bán thuốc tại vỉa hè. Một hôm có anh lính hỏi thăm tới
mời cụ vào thành chữa bệnh cho quan. Chữa khỏi bệnh, cụ Điền được phong chức và
theo chữa bệnh cho các cánh quân ra Quảng Ninh đánh giặc. Đến năm sau, Tự Đức
thứ 19 được phong cửu phẩm y sinh. Vua phê: “Giỏi thì bổ, không hề gì”.
Trong di chúc Cụ còn dặn con cháu: “Bậc thánh hiền dạy rằng:
Thế bật khả ỷ tận, lộc bất khả hưởng tận, cùng bất khả khi… nghĩa là có thế lộc
có quyền chớ nên ra sức ỷ vào đó, có lợi lộc chứ nên tận hưởng tất cả, thấy người
cùng khổ chớ nên khinh thường. Điều đó đáng răn. Làm phận tôi con phải có hiếu
với cha mẹ, có đức với anh em, có lòng nhân từ lúc trẻ nhỏ. Điều đó đáng thi
hành…”.
Ngoài ra, trong di chúc còn cấm hút thuốc phiện, cấm đánh bạc.
Nhờ Cụ tổ Điều mà con cháu các chi trong họ đều được lên kinh đô học hành và
sinh cơ lập nghiệp ngoài Hà Nội. Vào đầu thế kỷ 20 Hà Nội đang có nhiều đổi mới
như xây dựng Nhà máy xe điện, cầu Doumer (Long Biên), lập điện thoại Hà Nội, bắt
đầu xây dựng Nhà máy xe điện, Trường Hậu bổ được thành lập. Do vậy mà ông nội
tôi thời gian này đã vào làm thư ký kho bạc và dẫn dắt các con sau này đều đi học
và có nghề nghiệp nuôi thân.
Mẹ tôi kể rằng hiện nay ở phố Hàng Áo cũ, tức là phố Thuốc Bắc
bây giờ, còn 3 nhà thờ họ. Dãy phố này trước đây con cháu của cụ Điều ở và làm
ăn, nên ngày xưa người ta còn gọi là phố cụ Điều. Theo tôi được biết hiện còn số
nhà 29 phố Thuốc Bắc là nhà thờ họ, nay con cháu chi Sáu đang sinh sống. Số nhà
30 phố Thuốc Bắc là nhà đứng tên cha tôi. Ngày nay các cháu của cô Tư Đường (em
liền cha tôi) vẫn đang sinh sống.
Bà nội của tôi tên là Phạm Thị Tý, sinh năm 1876, mất ngày 9
tháng 10 Mậu Tý.
Trong Bản tự thuật lý lịch cha tôi đã viết: “Bố là Nguyễn Văn
Vượng, làm công chức nhỏ ở Sở kho bạc Hà Nội. Mẹ là Phạm Thị Tý, con một gia
đình làm nghề thầy thuốc ở Hà Nội, có anh cả đỗ cử nhân cổ, làm tri huyện; Mẹ lấy
chồng kế, làm nghề cắt quấn áo bán. Mẹ goá chồng sớm, cần cù khuya sớm làm ăn,
dành dụm cho con đi học. Bản thân Mẹ hiếu học ghét mê tín và luôn cầu tiến; ít
nói, không cãi cọ với ai bao giờ, nếp sinh hoạt phong kiến thờ chồng dạy con,
chăm sóc mẹ già thay anh. Chị tôi sớm đi dạy học cũng góp phần cho chúng tôi đi
học mấy năm, cho đến khi tôi vừa làm vừa học được. Gương cần cù ấy ảnh hưởng
tôi nhiều. Sau này cảm mối tình mẹ cặm cụi từ thiếu thời tới khi mắt mờ tay
không vắt khâu được nữa, chiều ý mẹ tôi dằn lòng đứng khai đời sống gương mẫul
nếp xưa của mẹ để được tặng “Tiết lạnh khả phong”. Mẹ tôi rất vui mừng; đến khi
Kháng chiến bùng nổ cũng hăng hái cùng lên Việt Bắc không chít băn khoăn.
Mẹ tôi có một ngôi nhà nhỏ ở Hà Nội, làm ăn ở đó và các con đều
sinh trưởng ở đó. Sau có một khoảnh đất ở gần Giám trồng cây, chúng tôi có góp
tiền để dựng một ngôi nhà làm nhà thờ chung. Khi Kháng chiến cả hai đều bị sập
đổ cả; mọi người đều ra ngoài Kháng chiến… Hiện nay chỗ Giám thì bỏ, nơi nhà cũ
mẹ cho tôi làm kỷ niệm, em gái tôi goá chồng ở với con gái độc nhất cho đến khi
chết”.
Quê bà nội tôi ở Lương Ngọc, Hải Dương. Trước đây làng Lương
Ngọc có tên là Hoa Đường, một thời lừng là danh hương: đầu thế kỷ này trong dân
gian còn truyền tụng câu “nam Hành Thiện, đông Hoa Đường” để chỉ hai làng khoa
bảng nổi tiếng đã tiếp nối được truyền thống đỗ đạt của “tiến sĩ sào” Mộ Trạch.
Riêng Hoa Đường có 12 tiến sĩ cả văn lẫn võ. Trong hai thế kỷ (18 -19) trung
bình cứ 5-6 năm, Hoa Đường lại có một đám khao vọng và vinh quy bái tổ.
Năm Kỷ Hợi 1779, một lúc phát cả văn (Tiến sĩ Phạm Quý Thích)
lẫn võ (Đạo sĩ Vũ Tá Cảnh) (Trích “Lịch sử làng Hoa Đường” của Vũ Thế Khôi). Một
số người họ Phạm di lên Thanh Trì cách Hà Nội 4-5 cây số, gần lò bát sứ của ông
Tạ Hiển. Đình làng Lương Ngọc được đưa về phố Hàng Gai và đền làng đưa về phố
Hàng Trống. Chuyện này chắc chỉ có các nhà nghiên cứu lịch sử đình chùa của Hà
Nội mới biết rõ. Hiện nay ở Hà Nội có nhiều kiến trúc cổ của cộng đồng làng xã
do dân “tứ chiếng” đưa về giống như làng Lương Ngọc.
Vào năm 1999, Nữ Hiếu mang về cho tôi một cuốn Gia phả họ Phạm
Hữu. Gốc làng Lương Ngọc nay thuộc xã Thúc Kháng, Bình Giang, Hải Dương. Tổ
tiên họ Phạm Hữu là cụ tổ Phạm Hữu Dự, cách niên đại thấp nhất 8 đời. Cụ tổ
sinh ra và trưởng thành cách năm 1999 khoảng 200 năm (1780 - 1800). Trong gia
phả này, bà nội tôi có tên trong chi cụ Phạm Hữu Hanh. Tên chính của bà nội tôi
là Phạm Thị Huệ.
Bà nội tôi sinh trưởng trong một gia đình nhà nho yêu nước. Cụ
Huyện Khôi (anh của bà nội) là người khẳng khái, không chịu khuất phục Tây. Có
lần đi kiểm tra lục lộ với Tây, vì thái độ hống hách của thằng Tây mà cụ đẩy nó
xuống sông. Cụ không chịu quị luỵ, đã bỏ về không làm quan nữa. Bà nội tôi đã
tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa thục. Bà nội tôi thuộc nhiều bài thơ yêu nước
của thời đó. “Bà là người yêu nước nên giáo dục các con là người có tinh thần
yêu nước”- chú Hưởng (Nguyễn Văn Hưởng, em của cha tôi) nói vậy rồi tiếp: “Khi
lấy chồng, thầy tướng còn bảo bà sẽ sinh con quý tử”. Nói rồi chú cười hỏi tôi:
“Hạnh bảo thầy tướng nói có đúng không?”. Qua những mẩu chuyện chú Hưởng kể về
bà nội đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc về niềm tự hào và lòng biết ơn
của chú đối với Mẹ. Vào đầu thế kỷ 20, bà nội tôi nuôi dưỡng cha và các bác,
cô, chú của tôi trong sự ảnh hưởng của các phong trào yêu nước. Bà tôi đã quyết
định chuyển cha tôi đang học chữ Hán Nôm sang học chữ Quốc ngữ và học tiếng
Pháp, rồi cho các con đi “du học”. Tôi trích ghi lại đây 3 bài thơ “Mẹ khuyên
con”, “Khuyên học chữ quốc ngữ” và “Khuyên người đi học xa” để minh chứng cho
tinh thần cách tân đó.
Khi lấy ông nội tôi thì ông đã có hai con trai là bác Cả Hiểu
và bác Hai Vịnh. Sau này bà sinh thêm được hai bác gái là bác Sửu (Phúc) và bác
Mão (Thiện vợ bác Phan Kế Toại), tiếp đó là cha tôi (là con thứ ba), cô Tư Đường
rồi đến ba chú: Hưởng, Phú, Quý. Ông nội tôi đặt tên cho các con: Phúc, Thiện,
Huyên, Đường, Hưởng, Phú, Quý có nghĩa là Phúc Thiện về nhà mẹ thì được hưởng
phú quý. Sở dĩ ông bà nội đặt tên như vậy là do bà nội quê ở làng Hành Thiện,
huyện Hoa Đường. Chú Quý tôi ra đời được 18 ngày thì ông tôi mất. Bấy giờ cha
tôi mới 7 - 8 tuổi. Bà đã tần tảo nuôi cả thảy 15 con và cháu chồng. Trong lần
ôn chuyện cũ, thím Hưởng tôi có nhắc: “Khi kiếm được tiền, bà lo liệu tậu nhà
cho bác cả Hiểu, bác hai Vịnh là con chổng trước, rồi sau này mới tậu nhà 30 phố
Thuốc Bắc cho Ba cháu”. Rồi thím nói: “Bà nội rất tốt, bao giờ ăn ở cũng rất có
đức, có nhân. Không ai chê trách được. Khi bác cả Hiểu mất để lại anh Chính, chị
Thu, chị Trang còn nhỏ, bà đã cáng đáng cả phần nuôi cháu. Khi ông Thông (chi
thứ Sáu) mất bà đã nuôi bác cả Đắc thay chi thứ Sáu. Tiếp dó bà lại nuôi các
con bác cả Đắc: chị Viên chị Thìn, anh Chi, hướng dẫn các anh chị buôn bán học
hành để sau này nuôi thân”. Chú Hưởng nhớ lại: “Phố hàng Áo cũ mà Tây nó gọi là
phố Thuốc Bắc còn là những mái nhà lụp xụp. Hồi đó bà nội còn ở nhà số 23 (nay
vẫn còn biểu tượng tên hiệu ông nội “Minh Tâm”). Chú còn nhớ trước nhà có cây
bàng toả bóng mát. Phố xưa còn lầy lội chưa thành đường đi và cống rãnh sạch sẽ
như bây giờ đâu. Thời đó bà nội ngàỵ nggày khoác trên vai tay nải quần áo cũ ra
chợ bán. Mãi sau bà mới tậu được cửa hàng. Từ khi kiếm được thì mới dành dụm
cho các con ăn học”. Bác Toại gái kể về bà tôi: “Bà nội nhanh nhẹn, tháo vát và
thông minh nữa. Quần áo bà may luôn thay đổi theo thị hiếu người dùng và thời
trang ra đúng lúc nên bà bán được đắt hàng. Bà cho bác đi học rất sớm. Tuy là
con gái mà vẫn gửi vào học trường Pháp. Còn ba cháu, mới đầu bà nội cho đi học
chữ nho để nối nghiệp thuố. Nhưng rồi thấy nho học tàn tạ, bà đã chuyển ngay
cho ba cháu sang học trường Pháp cùng chú Hưởng. Việc theo học vào trường Tây
là cũng phải nhờ cụ Phán Trân là người đỡ đầu, chứ nhà mình không thể xin được.
Bác Toại gái kể rằng: “Cha cháu học giỏi, năm nào cũng được thưởng, có giấy mời
phụ huynh đến Nhà Hát Lớn dự lễ trao thưởng, bà nội không đến được, khi về cha
cháu bê cả chồng sách thưởng trao lại cho bà nội. Bà nội rất là sung sướng. Bà
luôn nhắc nhở con cháu nhớ về lòng hiếu học của cha cháu. Cha cháu học xong lớp
bốn ở trường “Lít- sê, rồi xong tú tài phần I thì bà cho cả hai anh em Huyên,
Hưởng đi Pháp học. Vào thời điểm đó mới chỉ có bằng Tú tài Đông Dương và dành
cho con cái thực dân Pháp sống ở Đông Dương. Các bác, cô, chú tôi được bà nội
tôi dạy dỗ cho nên ai cũng “học được nghề tài mới hay”. Vào thời kỳ các cô chú
tôi đang ở độ tuổi đi học, ở Hà Nội đã có thêm những cơ hội, như mới mở trường
Trường Thú Y, Trường Hậu bổ, Trường Đại học Y Khoa, Trường Sư phạm, Trường Thực
hành Nông Lâm…
Bác Nguyễn Văn Hiểu (1894-1920) học ở Bưởi, đỗ thành chung,
làm thư ký Sở Bưu điện ở Phả Lại, sau đổi đi Huế và mất lại đó.
Anh Nguyễn Văn Chính (1910-2001), cháu đích tôn, đỗ bác sĩ y
khoa cùng thời với ông Trần Duy Hưng. Anh mở nhà thương ở 14 Hàng Đẫy nay là 14
Nguyễn Thái Học. Anh tham gia Kháng chiến, sau về Hà Nội. Sau Hoà bình, anh phụ
trách Trạm Da liễu phố Sinh Từ, nay là Nguyễn Khuyến, nguyên Phó Giám đốc Sở Y
tế Hà Nội, nhà ở 63 Hàm Long, Hà Nội.
Bác Nguyễn Văn Vịnh (1896-1956), đỗ thành chung, đã từng làm
Thư ký Phủ Thống sứ cho đến khi về hưu. Bác tôi là người giao du rộng, lịch thiệp,
thạo đời, đối với họ hàng rất tốt. Trước Cách mạng hằng tuần mỗi khi cha tôi
đưa mẹ con tôi về thăm bà thì lần nào cũng vòng thăm qua nhà anh Chính và bác
hai Vịnh.
Bác Nguyễn Thị Sửu (tự Phúc) (1901-1928) buôn bán thuốc bắc.
Bác trai là Nguyễn Văn Bổng học nghề Canh nông.
Bác Nguyễn Thị Mão (tự Thiện) (1903- 1992), người con gái Hà
Nội thế hệ đầu tiên tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm và trở thành một trong
những nữ giáo sư đầu tiên vào đầu thế kỷ 20. Bác Mão tham gia tích cực các hoạt
động xã hội, do bác biết tiếng Anh, Pháp, Nga (học sau Hoà bình lập lại) nên
thường tiếp các đại biểu quốc tế trong Uỷ ban hoà bình. Cô Tư Đường đã theo bà
nội tôi làm nghề buôn bán, sau khi lấy chồng vẫn tiếp tục thay anh chị em chăm
sóc bà nội tôi.
Chú Nguyễn Văn Hưởng (1909-2001), đỗ cử nhân luật tại Paris.
Chú Nguyễn Văn Phú (1912- 1947) theo học nghề làm ảnh của
làng Lai. Chú đã mở cửa hiệu ảnh ở Cửa Nam Hà Nội, có một thời tham gia làm
phim trước Cách mạng Tháng 8-1945.
Chú Nguyễn Văn Quý (1915-2001), trước Cách mạng Tháng 8 làm
viên chức trong ngành hoả xa. Có thời kỳ được bổ nhiệm làm thư ký hoả xa ở Lạng
Sơn và lấy con gái ông chủ hiệu thuốc. Thím tôi là học trò của bác Mão tại Hà Nội.
Sau Cách mạng chú Quý học Trường Y Chiêm Hoá, làm bác sĩ ở Hà Nội, miền Nam rồi
sống ở Paris.
Cô Canh lớn, năm 1975, chú Cầu nhân chuyến đi công tác vào
Sài gòn đã gặp chú Bảo, con trai cô Canh. Vợ chồng Bảo, Trinh vẫn nhớ những kỷ
niệm lần đầu tiên gặp người bà con sau bao năm xa Hà Nội. Cháu Quỳnh, con gái của
cô chú Bảo, Trinh sau này đã làm việc với Nữ Hiếu.
Dâu hiền họ Nguyễn
Đối với phụ nữ thời bấy giờ việc ở vậy tần tảo nuôi con mà có
sự chỉ đạo dẫn dắt hướng đi tuỳ theo từng người con đã chứng tỏ sự thông minh
hiểu biết của bà nội tôi. Bà rõ ràng là một phụ nữ tân tiến. Chị Minh vợ anh
Chính, kể rằng: “Cụ chiều các nàng dâu của cụ lắm và thông cảm với hai thím
cháu (mẹ tôi và chị Chính). Rủ nhau đi hội chợ lo việc trang điểm phấn son cụ
chỉ nhìn và cười”. Sau này thím Quý về làm dâu, ở ngay trên gác nhà của bà nội ở
trại Minh Tâm, tôi thấy thím sống rất vui vẻ, trẻ trung và hết sức thoải mái.
Điều còn để lại trong tôi là ấn tượng chú thím Quý sống rất hạnh phúc. Trái lại,
bà nội tôi thường hay nghiêm khắc với con và cháu gái như cô Nghiêm, chị Chung,
chị Thu… tuy các chị ấy đều chăm chỉ. Chị Chính kể rằng: sáng dậy sớm giặt quần
áo cho cả nhà, rồi quét nhà mà bà vẫn không cho bật đèn, cụ sợ tốn điện. Có khi
cụ còn thử vứt bã trầu vào xó nhà xem có soi móc ra không?” Rồi chị nói: “Bà lo
huấn luyện các con cháu mồ côi nên người, nội trợ giỏi. Về sau các cô ấy làm việc
gì cũng tháo vát. Chỉ tiếc một nỗi là cụ Bảy không cho được tất cả (con gái,
cháu gái đi học đến nơi đến chốn. Chủ yếu chỉ dành tiền cho con trai và cháu
trai đi học thôi”.
Một sự kiện rất đặc biệt, đó là anh Chính lấy chị Minh lại
theo Đạo Thiên Chúa. Bà nội tôi thì lại sùng Đạo Phật, nhưng bà không vì thế mà
cản đôi lứa. Hai anh chị Minh, Chính đã sống bên nhau rất hạnh phúc. Cả họ đều
yêu quý hai anh chị. Tuy làm dâu không dự việc lễ bái nhưng bao giờ chị cũng
tham gia cỗ bàn cùng các chị Thu, Chung, Viên, Thìn, Nga con bác hai Vịnh dưới
sự chỉ đạo của cô Tư Đường. Trước 1945, mỗi lần thăm bà nội quay trở về bao giờ
cha mẹ tôi cũng tạt vào thăm anh chị Chính tại nhà 16 phố Cửa Nam. Đây là Nhà hộ
sinh do chị mở. Lúc nào tôi cũng thấy chị êm dịu trong nói năng, ân cần trong cử
chỉ với tất cả mọi người. Sau 1954 chị nghỉ hẳn việc. Chị Chính nói với chúng
tôi là chị có ấn tượng đẹp về cha tôi: “Chị nhớ nhất một đặc điểm của chú Huyên
là rất hiếu thảo. Một việc làm của chú mà chị không tìm thấy ở ai nữa, đó là mỗi
buổi sáng trước khi đi làm đều đến thăm bà nội. Chỉ mấy phút thôi…”.
Năm 1944, gia đình tôi chạy “bom Mỹ thời Nhật” vào ở Hà Đông.
Ngày ngày cha tôi đạp xe từ Hà Đông ra Hà Nội hoặc đi tầu điện vẫn giữ thói
quen sáng đến Trại Minh Tâm thăm bà. Có lần tôi bị đau răng cha phải đưa ra Hà
Nội chữa, lần đó hai cha con đi tầu điện, thế mà cha tôi vẫn dẫn tôi đến thăm
bà ở Trại, rồi sau mới đưa tôi cùng đến Viễn Đông Bác cổ. Trong những ngày xa Tổ
quốc tham dự Hội nghị Fontainebleau ngày 7-7 âm lịch (1946) thư viết về cho mẹ
tôi có đoạn: “Lúc ở nhà sáng dậy sớm xuống thăm mẹ, ngày đi làm rồi vội vàng về
nhà với vợ con…”. Hoặc thư ngày 18-7-1946 có đoạn viết: “Mẹ nuôi con mười năm
cho đi học lên người, nay con đi sứ mệnh phương xa, trong lúc tuổi cao mắt kém,
tưởng không cảnh nào tốt đẹp hơn và thương tâm vậy…”.
Cha tôi thực sự đã sống đúng như người xưa dạy:
Thờ cha mẹ ở hết lòng,
Ấy là chữ hiếu ở trong luân thường.
Về sau này khi đọc lại những công trình nghiên cứu của cha,
tôi thường thấy cha tôi nhắc nhiều đến chữ “hiếu”. Như “hiếu” trong việc Chử Đồng
Tử nhường chiếc khố cuối cùng để chôn cất cha. Như chữ “hiếu” trong việc Tiên
Dung không chống lại quân lính nhà vua nên đã được nhà Trời ban cho phép lạ:
lâu đài biến mất và Tiên Dung cùng Chử Đồng Tử đều thành tiên. Như chữ “hiếu”
khi ông viết về “Lễ hội Phù Đổng - Một trận đánh thần kỳ trong truyền thuyết Việt
Nam”, có đoạn kết biết bao hàm ý: “Đây thực sự là một lễ hội của Hoà bình và An
lạc. Sau lễ hội thật tràn đầy biểu tượng đó là Trung-Hiếu, Thuuận, Nghịch”.
Trong đó cha tôi đã miêu lả biểu tượng hiếu như sau: “Cúi mình trước Đền thờ Mẹ
trước khi ra trận là đốt pháo mừng lúv khải hoàn, Thánh Gióng là có “Chí Hiếu”.
Phải có cách nhìn sâu sắc của người Việt Nam mới có thể miêu
tả những hình tượng đó một cách thấu tình đạt lý. Hoặc trong “Văn minh Việt
Nam” (1944) cha tôi nhắc về chữ “hiếu”: “Gia đình là cơ sở của xã hội Việt Nam.
Sức mạnh của gia đình là ở chữ “Hiếu”. Bất hiếu được coi là một trong số tội nặng
ghê gớm… Chữ “Hiếu” là một chất gắn kết ràng buộc chặt chẽ mọi người trong họ…”.
Hàm ý đó cũng là cách sống của cha tôi trong suốt cả cuộc đời và từng ngày diễn
ra trước mắt tôi…
Mẹ tôi không phải về ở nhà chồng, bà nội tôi cho phép như vậy.
Tôi đọc nhật ký mẹ tôi viết về vấn đề này như sau: “Nay về Thanh Thuỷ ở nơi đại
gia đình nhà chồng. Anh Huyên kết duyên đã 12 năm, chưa cùng sống cùng họ nội
lâu. Lần này về Thanh Thuỷ có mẹ chồng, anh, chị, em, cháu… cả đại gia đình ở
đó. Tôi là một phụ nữ trong một gia đình nền nếp ảnh hưởng cả Đông Tây nên biết
cách đối xử. Tôi sẽ ăn ở hết bổn phận làm dâu con, làm em, làm chị. Tôi mong niềm
vui hạnh plníc đó đẹp đẽ như tôi hằng mong ước. Nếu không như ý đó chắc chắn
không phải tại tôi. Đối với mẹ chồng, tôi yêu chồng tất nhiên kính yêu mẹ. Anh
Huyên có hiểu không? Em yêu anh, mẹ của anh em kính yêu… Cũng như mẹ em, anh rất
yêu quý mẹ em, mẹ em yêu em nên anh là người con rất yêu của mẹ đó. Em rất hiểu
anh nên em vô cùng cảm động trước tình cảm đẹp đó. Em nhớ những buổi mẹ con âu
yếm chuyện trò trong phòng ngủ của đôi ta. Mẹ đã hết lòng yêu anh. Lần này
chung sống, nỗi băn khoăn và lo về cô em chồng, vì nhiều lúc gặp gỡ em đã hiểu
vì hai người hai lối sống, khó cư xử quá. Nghĩ thế thôi, tất cả là tâm lòng
chân thực, ai ra sao sẽ có người hiểu ta lo trước làm chi cho mệt. Tôi có một mối
tình chân thực, yêu quý chồng thì cả đại gia đình cũng nằm trong tình cảm tôi đẹp
của tôi”. Đó là đoạn nhật ký mẹ tôi viết tại Chiêm Hoá trước ngày lên thuyền
xuôi dòng Lô về Phú Thọ (2-9-1948 rời thôn Ải vào giữa trưa). Qua những ngày ở
Thanh Thuý tôi biết là mẹ tôi đã sống với bà con họ nội rất thắm thiết. Những
dòng nhật ký lo lắng bác Vịnh gái lại bị ốm, lo chú thím Hưởng lại phải về Vĩnh
Yên… rồi 2-3-1949 rời Thanh Thuý: “Tạm biệt Thanh Thuý thân thương. Tạm biệt Mẹ
già, họ hàng thân thích. Thật là buồn, giặc gần tới nơi rồi, dùng dằng mãi
sao?!”. Tôi có thể tự hào mà viết rằng mẹ tôi sống với họ nội cũng như họ ngoại
đều hết sức trọn vẹn. Rất nhiều thư, bài thơ của các anh chị tặng mợ, tặng thím
đều là những dòng rất chân tình chan chứa yêu thương quý mến. Kể từ ngày tôi lớn
lên lúc nào tôi cũng thấy mẹ tôi chăm chút cho chúng tôi thân quen gần gũi với
các cô bác, anh chị trong họ - những năm tháng chị Thịnh, anh Sơn, anh Hải con
bác hai Vịnh lên học và làm việc trên Chiêm Hoá mẹ tôi hết sức ân cần chăm sóc
như các anh chị bên ngoại ở với mẹ tại Hà Nội. Mẹ tôi luôn chăm lo thắt chặt mối
dây giữa chúng tôi với các anh chị em họ nội cũng như họ ngoại của tôi. Qua thư
mẹ tôi thường thông báo: “Ngày 22 tháng 1 năm 1957. Thím Hưởng đi công tác tích
cực lắm, bận đi làm cũng ít khi gặp nhau. Hôm chủ nhật vừa rồi đi dự đám cưới
trong họ có gặp thím, thím cho biết tin Vinh đang tìm hiểu một cô, do hai gia
đình quen biệt. Có tin sau mẹ sẽ cho biết thêm, thình thoảng anh Lộc cũng lại
chơi. Anh Lộc ngoan lắm Hạnh ạ, còn anh Phúc mẹ ít gặp lắm, con có hay nhận được
thư Lê không? Bác giai kỳ này mệt, không khoẻ lắm. Lộc cũng công tác ngay tại
trường Đại học… Ngày 30-8-57… vừa thi xong, các thí sinh đều nóng lòng sốt ruột
chờ kết quả. Ngày khai giảng vào trung tuần tháng 9. Chị Phương con bác Thanh
đã thi đỗ vào đại học Dược chị học xuất sắc lắm, chỉ có 1 nữ đỗ trong 29 nữ…
Năm 1956. Thư con gửi cho Vinh, Phúc, Lộc và mấy chị, mẹ đã đưa cả rồi, còn anh
Khánh cũng với trường đi tham quan cải cách ruộng đất, chắc chưa có thư trả lời
Hạnh…
Ngày 9-6-59.
Em Diện 11-6 tới Hà Nội, cả nhà chú thím dang chuẩn bị đón.
Còn Lệ Thuỷ chưa có tin ngày về… Anh Lộc mới chụp một ít ảnh cho cậu mẹ và Huy,
anh Lộc in lấy, mẹ sẽ gửi sang cho con…
Chủ nhật ngày 16 tháng 6 năm 1957. Sáng nay, Chu Quang và
Linh (Linh là em Quang), hiện nay đang học lớp Sư phạm Trung cấp, đến tháng 7
thì ra) lại chơi, mẹ đã đưa thư Hạnh cho Quang. Quang dạo này có hơi gầy, cũng
mệt được ra Đồ Sơn nghỉ. Chắc sẽ có thư cho Hạnh. Lộc có hay viết thư cho Hạnh
không? Chủ nhật trước nhà có giỗ, lên anh Chính gặp tất cả các cô chú cả nam nữ
thanh niên. Mỗi lần gia đình họp, nhìn thấy nam nữ thanh niên mẹ không khỏi nhớ
tới Hạnh, Bích Hà và em Hiếu bây giờ cũng đều lớn cả rồi. Gia đình chí thím Hưởng,
các em lớn bằng chú thím cả ríu rít trông vui lắm Hạnh ạ. Vợ chưa cưới của Vinh
trông cũng đẹp đôi lắm, hơn em Hiếu có 1 tuổi thôi mà trông nhớn bằng 18, 19 tuổi.
Hạnh bảo Vinh nó gửi ảnh cho mà xem. Hạnh đã nhận được thư của Thể Lan chưa?
Lan cũng mong Hạnh về dịp hè này lắm đấy. Vì xa nhau mấy năm Hạnh Lan đều thay
đổi nhiều Ngày 22 tháng 9 năm 1957. Anh Ái cũng về học chỉnh huấn, chỉ nhật nào
cũng ra chơi. Linh đi dạy học ở Vĩnh Phúc rồi, chủ nhật thường về thăm nhà, dạo
này chí Di yếu luôn nữa thành ra Linh cũng vẫn về thăm. Chu Quang về mấy hôm,
nay đã về đơn vị rồi, chuyện đó chưa định cưới vào tháng nào. Anh Ái cũng đang
tìm hiểu chị Lộc con bác hai Vịnh, Hạnh có ngạc nhiên không? Nếu có kết quả mẹ
sẽ cho Hạnh biết tin… Ngày 22 tháng 1 năm 1956. Hôm vừa đây Phương, Lan, Khoan
cũng lại nhà ăn com nhắc mãi đến Hạnh, tả Hạnh giản dị, ăn mặc lôi thôi… Ngày
13 tháng 10 năm 1957. Hồng Nhưng con chú Kỳ vừa ở Pháp về được tuần lễ nay.
Nhung bằng tuổi Bích Hà nhưng cao và ra rẻ một thiếu nữ lắm, cao 1m60, trông dịu
dàng, chưa nhận công tác ở đâu cả…
Tình cảm của mẹ tôi đối với nhà chồng được mẹ thể hiện qua những
bức thư mà anh Chính trích lại cho chúng tôi ghi nhớ: “Nửa thế kỷ trôi qua,
chúng ta sống đằm thắm, chân thật, dưới mái nhà họ Nguyễn. Chỉ có một mối tình
duy nhất là thương yêu nhau, vun đắp cho dòng họ ngày càng tốt đẹp. Chỉ có thế
cho nên tình yêu chân thành mới giữ mãi thuỷ chung. Tình thím cháu ta là thế
đó… Mỗi lần ta nhớ nhau nếu không chịu đựng được hãy mượn bút giấy tâm sự cùng
nhau…”.
Người chị gái cúa cha tôi
Ngày 18 tháng 9 năm 1987 mẹ tôi lại viết: “… Anh Chính ơi!
thím cháu ta san sẻ nỗi niềm vui buồn, tâm sự trong lúc tuổi già. Chúng ta
không viết thư ngoại giao mà cũng không là để an ủi. Ta trao đổi về nhân tình
thế thái để mà hiểu nhau… thế là nửa thế kỷ nay thím cháu ta đã làm được, làm
được bền bỉ chung thuỷ theo trái tim của ta…”. Chú Hưởng kể rằng ngày ấy Đông
Kinh Nghĩa thục mở ngay lớp học ở Hàng Đào, gần Hàng Gai nơi có đình làng Lương
(Đường) Ngọc. Người lớn đã học thông chữ Hán thì học tân học theo lối Trung Quốc
và Nhật Bản. Còn đối với trẻ nhỏ thì nhà trường dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ
theo sách mới Đông Kinh Nghĩa Thục soạn. Bà nội ngày xưa thường quản lý việc học
của các em nhỏ cho nên biết chữ Hán. Bà hiểu biết nhiều và thông minh nên đã chịu
ảnh hưởng của phong trào Đông Kinh Nghĩa thục. Vào những năm 1905 - 1910 khi mà
Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ sang Nhật, mở đầu cho phong trào Đông du thì bà nội
sinh cha tôi và chú Hưởng. Bấy giờ có hàng trăm học sinh được cử sang Nhật du học
(1908). Tôi chắc điều này đã có nhiều ảnh hưởng tới việc sau này bà quyết tâm
cho hai anh em cùng sang Pháp du học vào năm 1926. Hơn nữa năm 1914, mới đặt Tú
tài Đông Dương và chỉ dành riêng cho con em người Pháp. Mãi tới năm 1927, Chính
quyền Pháp mới đặt bằng Tú tài cho cả người bản xứ. Nhưng phải đến năm 1930 mới
có sắc lệnh bằng Tú tài bản xứ có giá trị ngang bên Pháp. Bà nội tôi đã hướng cho
các con đường đi lối bước tiến kịp xã hội. Chú Hưởng còn lấy bằng chứng: “Bà
thường đọc kinh Phật bằng chữ nho trước bàn thờ”. Các cô, bác trong nhà luôn kể
về những việc làm thông minh sáng suốt của bà nội. Đó là điều tôi không ngờ tới,
bởi lẽ ngày bé tôi chỉ thấy bà ở Trại Minh Tâm luôn đi chân đất ngoài vườn hồng,
mặc chiếc váy đen dài, ra đón chúng tôi vào nhà. Bà gọi hàng bánh cuốn và cho
tôi ăn bằng cách cầm tay chấm nước mắm rồi bón vào mồm tôi. Chẳng như mẹ tôi,
ăn phải ngồi bàn, có thìa, có bát hẳn hoi.
Người chân quê thế mà sáng trí thông minh, cho nên bác Toại
gái đi học đến năm 1919, đã tự dạy học nuôi thân. Rồi vừa học tiếp lên để đỗ
cao hơn đặng thực hiện di chúc tộc Nguyễn “lấy nghiệp Giáo dục để cứu người”.
Bác Toại gái vào học tại trưởng nữ sinh An be Xa rô. Tốt nghiệp
khoá 1924-1927 Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, có bằng Tú tài và bằng
Brevet Superier thì bác đi dạy toán tại trường Nam Định rồi về trường Hàng Cót,
sau này là trường Cao đẳng Tiểu học nữ Đồng Khánh (Trưng Vương Hà Nội ngày
nay). Anh Lê Vĩnh Chiếu, con trai ông Lê Thước, đã cho chúng tôi một tấm ảnh chụp
ngày 10 tháng 8 năm 1958, nhân buổi liên hoan của cựu sinh viên Trường Cao đẳng
Sư phạm Đông Dương cũ ở Hà Nội kèm theo danh sách 4 vị khách mời là cha tôi,
các ông Hà Huy Giáp, Nguyễn Minh Trứ, Bùi Kỷ; và 61 cựu sinh viên. Cùng khoá với
bác Toại gái có ông Tôn Quang Phiệt, Trần Văn Khang; trên bác một khoá có ông
Nguyễn Khánh Toàn, Hoàng Minh Giám. Trên khoá bác Toại gái có các ông: Nguyễn
Văn Hiếu, Lê Thước, Nguyễn Hữu Tảo, Hoàng Ngọc Phách, Cao Xuân Huy; dưới khoá
bác có các ông Đặng Thai Mai, Ca Văn Thỉnh, các bà: Nguyễn Thị Thục Viên, Nguyễn
Thị Yến. Ông Nguyễn Lân tốt nghiệp khoá 1929-1932. Vào năm mừng thọ bác 80 tuổi,
nữ sinh cũ ở nhiều lớp khác nhau đã tới chúc mừng bác. Các học trò của bác phải
ngạc nhiên về cô giáo xưa vẫn còn nhớ tên trò mà nay các trò đã trên dưới 70 tuổi.
Nhiều học trò của bác đã trở thành những nhà hoạt động xã hội, chính trị,
chuyên môn có danh tiếng. Khi gặp lại cô giáo vẫn nhớ lời dạy bảo, uốn nắn của
cô, từ cách ăn mặc, cách nói năng đến từng lỗi nhỏ của mỗi câu văn… Ngày bé tôi
rất sợ bác vì thấy bác rất nghiêm. Bác đã dành phần lớn lương của mình góp phần
cho hai anh em Huyên, Hưởng đi học. Bác qua đời chú Hưởng tôi đã gửi thư từ Sát
Gòn ra vĩnh biệt bác. Trong thư có đoạn: “Về công ơn chị đối với anh Huyên và
em, em đã ghi âm để cho các cháu thỉnh thoảng vặn lại để hiểu anh Huyên em và
em đã có địa vị xã hội cao là hoàn toàn nhờ chị đã hy sinh bảy năm liền để cho
các em học thành tài”.
Tấm gương của bà nội tôi đã được bác Mão kế tục. Bác tôi cũng
là kế mẫu. Bác tôi lấy bác Phan Kế Toại và đã thay bạn nuôi con (vợ trước của
bác Phan Kế Toại là bạn học của bác tôi), khuyến khích các con học tập, tự mình
cùng học với các con chồng về một số môn ngoại ngữ để làm gương. Bác tôi cũng
có một quyết tâm mãnh liệt như bà nội tôi để đào tạo con chồng, con mình nên
người, học tập có bằng đại học, trên đại học. Anh Phan Kế An, tốt nghiệp Trường
Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội và đi học nghiên cứu sinh ở Trường Mỹ thuật
Lê-nin-grát, Liên Xô cũ; anh Phan Kế Ninh làm nhân viên Hàng không, chị Phan Lệ
Mỹ sau lấy anh Doãn, Bác sĩ, GS. TS, Anh Hùng Lao động, Viện trưởng Quân Y Viện
108; anh Phan Kế Bảo làm nghề điện ảnh, tốt nghiệp tại Cộng hoà Dân chủ Đức;
anh Phan Kế Khoan và anh Phan Kế Hoành nối nghiệp mẹ làm nhà giáo; anh Phan Kế
Phúc PGS. TS., cán bộ giảng dạy Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội; Phan Kế Lộc,
GS. TS., cán bộ giảng dạy Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; chị Phan Lệ Thuỷ,
PGS. TS., cán bộ giảng dạy Trường Đại học Dược khoa; anh Phan Kế Bình, cử nhân
Sinh học, cán bộ Công ly Công viên Hà Nội. Chị Khanh, con gái bác hai Vịnh đã lấy
anh Phan Kế An, như vậy thân càng thêm thân. Tuy biết anh khá lâu nhưng tôi thuộc
hạng đàn em ít biết về anh. Mỗi khi tới thăm chị có ngắm tranh anh vẽ. Tôi
thích nhất những bức tranh anh vẽ về đồi cọ. Mới đây nhất vào tháng 3 năm 1998,
tôi đã được dự buổi khai mạc triển lãm hội hoạ Đồi Cọ của các hoạ sĩ, trong đó
có anh Phan Kế An và Vi Văn Bích tức Ngọc Linh là hai người anh em họ nội ngoại
của chúng tôi. Vào năm 1996, anh viết bài “Gia đình như một nền tảng tâm linh -
mỹ học”, tôi rất tâm đắc khi anh nói “… chính vì nó gắn với những gì thiêng
liêng nhất của con người. Cái thiêng liêng nằm trong dòng chảy nối tiếp từ đời
này sang đời khác, mà mỗi cá nhân đều có thể soi bóng mình vào dòng chảy ấy để
có thể tự trả lời một phần rất lớn của câu hỏi: Ta là ai? Từ đâu ra? Và sau ta
sẽ còn lại cái gì?” và anh viết: “Cái thiêng liêng nằm ở chỗ đó. Nó nằm ở chỗ
biết cá nhân mình thành một điểm trong dòng chảy vô tận của các thế hệ…”. Triết
lý mà anh con rể họ Nguyễn làng Lai viết về tâm linh của gia đình “giữa hiện
hình và siêu nhân đó là cái thiêng liêng”. Khi tiễn đưa người mẹ kế - bác Mão
tôi, anh đã thay mặt họ Phan đọc điếu văn ngợi ca người kế mẫu đáng được người
đời nhớ về một nhân cách.
Chú thích:
- Rờ Nô: Hiệu xe hơi Renault
Những ngày du học
Chú Hưởng sinh năm 1910 và đã luôn cùng cha tôi đi học cho đến
năm 1932 thì hai anh em mới xa nhau. Chú kể rằng khi cha tôi đi học thì vào lớp
10 còn chú thì vào lớp 11 (tương đương với lớp 1 hiện nay): “Ba cháu sinh 1905.
Nhưng vì mất mấy năm học chữ nho, nên khi xin học trường Tây phải sửa thành
16-1-1908”. Chú kể vậy rồi nói: “Hồi đi học thì nhà còn rất nghèo. Bốn mùa thường
mặc quần cộc và đội cái mũ “xi- cút”. Nắng cũng như mưa đều đi bộ. Ăn uống cũng
bình thường thôi, ở nhà toàn mua xúc xích, bánh mì trong thành bán ra cho rẻ tiền.
Anh Chính lại nhớ về bữa ăn “rất lạ lùng, thức ăn là dứa, là mật… Thời gian đó
là lúc chú Huyên, chú Hưởng đã đi học ở Pháp xa xôi lắm!”.
Sau này, bác Toại gái đã được nhận lương tháng là 120 đồng.
Thời đó lương như vậy là lớn lắm, lại trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, 1 đồng
bằng 26 Franc ( tiền quan ). Vì thế có điều kiện cho cả hai anh em đi Pháp học.
Mỗi tháng người đi Pháp học phải gửi sang là 500 Franc, bác chỉ giữ lại 1/6
lương, còn 100 đồng mua ngay “măng đa” để gửi sang cho hai anh em ăn học. Tiền
tệ Đông Dương bấy giờ vẫn còn mang hệ thống “ngân bản vị” lấy kim bạc khí đảm bảo.
Khi làm thủ tục sang Pháp học cũng gay go lắm. Thời đó là vào năm 1925, cụ Phan
Bội Châu trên đường từ Quảng Châu đến địa điểm họp nhóm Cách mạng, vừa đến Thượng
Hải thì bị thực dân Pháp bắt cóc đem về nước. Chúng âm mưu thủ tiêu cụ nhưng
không thành phải đưa ra xử ở Toà đề hình Hà Nội. Dịp xử cụ Phan cũng là lần đầu
tiên chú theo cha tôi bước vào Toà án Hà Nội. Chú Hưởng say sưa nhắc lại ấn tượng
sâu sắc khi được nghe cụ Phan nói lời trước toà sau khi toà đề hình luận tội.
Trong đó có mấy điều chú nhấn mạnh lời của cụ: “Nếu cụ (có tội chỉ vì tội muốn
cho đất nước được độc lập, là tội dã tổ chức cho học sinh đi du học…”. Cuộc đấu
tranh bãi khoá, bãi công bảo vệ tính mạng nhà chí sĩ yêu nước trở thành cao
trào rộng lớn. Cuối cùng chúng phải tha bổng cụ Phan.
Chú Hưởng kể: “Khi chú và ba cháu làm thủ tục để đi Pháp cũng
lôi thôi lắm, phải chối là không đến Toà án, phải tìm người làm chứng nó mới
làm giấy cho đi”. “Hôm hai anh em lên dsf là lúc đê bị vỡ phải đi thuyền sang
Gia Lâm, phải chờ mấy tiếng để mua vé đi tầu hoả xuống Hải Phòng rồi xuống tầu
Aylerido đi Pháp. Lúc đợi tầu di Pháp, hai anh em ở nhờ nhà bác Phúc Lai chủ hiệu
ảnh. Bác Phúc Lai thuộc chi thứ hai dòng họ Nguyễn. Bác có hai anh con trai là
Nguyễn Quang Riệu và Nguyễn Quý Đạo sau này cũng sang Pháp học. Cả hai đều đỗ
tiến sĩ. Năm 1975, khi đất nước hoàn toàn giải phóng hai anh em Riệu và Đạo hay
trở về thăm nhà và làm công việc nghiên cứu khoa học với các giới khoa học
trong nước. Mỗi lần về nước làm việc anh Riệu hay qua lại gia đình chúng tôi.
Qua đó tôi được biết anh Nguyễn Quang Riệu là GS.TS Giám đốc nghiên cứu thuộc
Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp, Đài thiên văn Melldon Paris, Giáo
sư vật lý thiên văn. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Quý Đạo là Giám đốc nghiên cứu
Phòng thí nghiệm hoá lý Paris, Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp Giáo
sư trường Centrale Paris. Bác Phúc Lai còn có người con trai ở giữa hai anh em
Riệu và Đạo, đó là anh Nguyễn Quang Quyền, bác sĩ y khoa Hà Nội, là người sôi nổi
hoạt động phong trào sinh viên từ những năm 1953. Anh đã chuyển vào Sài Gòn sau
năm 1975 và là Hiệu phó trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, phụ trách
Khoa giải phẫu học kiêm Chủ tịch Hội hình thái học Việt Nam. Cha tôi và chú Hưởng
qua tầu Pháp không phải là bằng tầu khách mà là tầu giao và lấy hàng, cho nên đậu
cả ở cảng to cảng nhỏ, vì thế hai anh em được tham quan nhiều nơi từ Việt Nam tới
Pháp. Trước tiên là đến Sài Gòn hai anh em còn đi tầu điện vào Thủ Đức ăn nem.
Đến Côlôngbô bị anh xe bắt nạt, hai anh em còn dở vốn tiếng Anh ít ỏi để cãi
nhau, anh xe phải chịu, rồi kịp xuống tầu đi tiếp… Qua biển Terane trời rất
rét. Ngày 2-12-1926 thì tới Pháp. Có người quen cũ là ông Darius ra đón và đưa
về Montpellier.
Sau này tôi được biết trường Đại học Montpellier là một trường
nổi tiếng được thành lập từ năm 1222. Năm 1970, Đại học Montpellier chia thành
3 trường tách biệt, trường Montpellier III tiếp nhận cả sinh viên nước ngoài đến
học về ngôn ngữ và văn chương Pháp, được mang tên văn hào Pháp Paul Valéry người
đã từng học tại Montpellier và cũng là người có kỷ niệm sâu sắc với cha tôi.
Theo ông Nguyễn Mạnh Tường kể lại thì thời bấy giờ sinh viên
Việt Nam sang Pháp học thường tập trung 2 nơi: Aix-en-Provence và Montpellier.
Là vùng miền Nam nước Pháp, nơi có mặt trời mọc quanh năm. Thành phần sinh viên
thì phức tạp về nguồn gốc xã hội. Đa phần cha ông họ là điền chủ Miền Nam. Có
ít sinh viên ngoài Bắc. Những sinh viên gốc tư sản càng ít, có cả loại xuất
thân từ các tầng lớp tiểu tư sản thành thị viên chức nhỏ, tiểu thương cũng bóp
bụng cho con đi du học. Đời sống của hai anh em Huyên, Hưởng cũng như ông Tường
thuộc loại học trò nghèo mà từ cổ kim ta vẫn có.
Nhờ ông Darius giúp, hai anh em thuê nhà một bà goá, vợ một
nha sĩ có máy ép răng. Lúc chú Hưởng và cha tôi ở đó thì bà còn ở cùng cô con
gái và cậu con trai Robert Nicolas Delous mới 4 - 5 tuổi. Tấm ảnh cha tôi chụp
với Nicolas vẫn còn giữ được. Chú Hưởng và cha tôi khi mới sang Pháp không có
Pa-đờ-suy (tức là áo dạ dài mặc vào mùa đông) chỉ có chiếc áo gió khoác ngoài.
Mãi sau bà tôi gửi cho hai anh em mỗi người một chiếc áo dài bông thì mới thấy ấm
áp. Sang Pháp thì chỉ chúi mũi vào mà học, ngoài giờ nghe giảng ở trường hai
anh em còn đi nghe giáo sư giảng thêm các buổi tối những môn học mà chú Hưởng gọi
là “hóc búa lắm”. Chú còn nhớ: “Hồi mới sang Pháp chiều ăn ở nhà hàng rẻ tiền,
có cô phục vụ ngạc nhiên thấy 10 ngày rồi mà món ăn của hai anh em vẫn không
thay đổi, vì tiền nhà gửi sang chẳng là bao nhiêu, nên không dám phí phạm. Số
anh em con nhà giầu nhận tiền gửi sang, khi có tiền thì tiêu phí cùng các cô đầm,
ăn một tuần là hết, ba tuần ăn bánh mì khô. Nhiều người ho lao là vì vậy. Tuy
thế không phải tất cả đều như vậy. Có ông Nguyễn Bá Húc, rất giỏi toán bị ho
lao ra máu nhiều lắm, chú đã chăm sóc mà không sợ lây. Sau này khi về nước gặp
lại nhau, ông Nguyễn Bá Húc cũng đã nhắc về tình bạn đó. Thỉnh thoảng hai anh em
lại nhận được quà của bà nội tôi gửi sang. Đó là những bao bì bằng chiếc hộp
bánh biscuit ở trong đựng lạp sườn hoặc ruốc. Anh Chính kể rằng mỗi lần bà mua
hộp sắt bao bì rồi đóng gói bà lại nhờ bác cả Đắc đem đi phố Hàng Thiếc hàn kín
rồi gửi cho hai chú. Suốt mấy năm học, mỗi người lúc nào cũng chỉ có hai bộ quần
áo và một đôi giầy. Dù đi họp, đi học, đi chơi cũng chỉ một đôi, khi nào mòn vẹt,
rách mới mua đôi khác. Năm 1930, lên Paris học thì ở ngay Trung tâm tại phố
Pooc-vai- ăng, tiền nhà đắt quá phải chuyển ra ở ngoại ô. Bấy giờ kinh tế khủng
khoảng, 1 Franc ở nhà bà nội có thể mua được 3 - 4 tạ gạo. Rồi chú nhấn mạnh:
“Vì vậy mà anh em bảo nhau phải cố mà học khỏi phụ công mẹ nuôi dưỡng”. Bà
không còn kham nổi nên đã điện sang báo tin bị ốm và chú Hưởng phải trở về sau
khi nhận bằng Cử nhân Luật vào năm 1932, còn cha tôi thì tự kiếm sống để tiếp tục
học lên.
Những chuyến du lịch vòng quanh nước Pháp
Sau những ngày miệt mài học hành, hai anh em đã dành thời
gian đi tham quan du lịch. Chú Hưởng kể rằng: “Chú và ba cháu làm quen với rất
nhiều bạn như ông Phạm Đình Ái, ông Phạm Trinh Mẫn, ông Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn
Tường Tam (sau nay là nhà văn Nhất Linh)…
Ngày nghỉ hai anh em mỗi người một xe đạp đi chơi, xem người
ta hái nho, rồi cũng hái nho không công, được người ta cho ăn nho tự do. Rồi
sau 1975, mẹ tôi vào Thành phố Hồ Chí Minh thăm bà con họ hàng thì được chú
thím Hưởng kể rằng có nhận được từ bà con trong này một hộp ảnh cha tôi và chú
Hưởng chụp những ngày học ở Pháp, như ảnh hai anh em chụp chung ở Castelneau, ở
Jardin des plantes, ở Palavas hay ở Restaurant Louis năm 1927. Sang năm 1928,
hai anh em cùng đi cắm trại, tham quan với ông Tường, ông Mẫn (anh bác Phạm
Trinh Cán), ông Tam, ông Tạo… và các bạn Pháp ở các điểm như: Pyrénées, Alpe,
Lyon, Mesdesglaces, Genève, bãi biển Biarritz… Năm 1929 có ảnh chụp ở
Exposition de Barcelone, Côte Vermeille, Arene Snimes, Biarntz, Etudiants en
histoire Encesions danh les Causois… Năm 1930 có chụp ảnh tại Boulevard
Germaine. Năm 1931 có ảnh chụp dự hội chợ Exposition Intemationale. Năm 1932
hai anh em còn chụp ảnh tại Bretagne, Versaille, Luxembourg, D'artgnan.
Có thể nói cha tôi rất giầu kinh nghiệm đi tham quan. Đó là
thú vui hoạt động ngoài trời của cha tôi cho đến sau này vẫn thường gặp. Tôi nhớ
có lần chú Ngọc Chảo cùng đoàn Giáo dục đến thăm Algérie đã kể: “Chiều hôm ấy Bộ
trưởng đến phòng chúng tôi và bảo: “Anh đi lại tôi. Lên cái đồi dưới kia… Chúng
tôi đi theo và leo lên đồi. Đồi này cũng không cao lại có lối đi lên lên chỉ một
lúc sau chúng tôi đứng nhìn về phía mặt trời đang từ từ hạ xuống. Mặt cát phẳng
lì, không có gì che lấp mặt trời. Mặt trời to như một cái nong, đỏ rực như một
quả cầu lửa, đang hạ xuống và lấn vào mặt cát. Vòm trời đã úp lấy sa mạc đà trời
tối dần. Chúng tôi xuống đồi và quay về. Bộ trưởng đã nói với chúng tôi: “Đấy
anh xem, đến sa mạc mà không ngắm mặt trời lặn thì thật hoài”.
Cũng với phong cách này cha tôi đã từng đánh thức các cháu
ngoại Hiền, Chi dậy sớm để xem mát trời mọc trên bãi biển Đồ Sơn. Ông không bỏ
lỡ dịp để con cháu được cảm thụ cái đẹp thiên nhiên.
Tiễn em về nước
Hai năm đầu ở Montpellier, chú Hưởng học xong Tú tài phần I
và phần II và năm thứ ba chú học cử nhân Luật rồi lên Paris học tiếp. Năm 1932
thì chú tốt nghiệp và trở về nước. Lúc này có điện báo bà nội ốm nặng. Chú kể rằng:
“Hồi ấy lại lâm vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Bà nội mua quần áo của quân
lính sửa lại bán đi lãi một áo chỉ nửa xu đến một xu thôi. Kể từ năm 1932, bác
Toại gái còn phải lo cho bác đi lấy chồng nữa chứ. Nhà không còn tiền gửi sang
cho hai anh em ăn học còn phải lo cho các chú Phú, chú Quý, anh Chĩnh đã lớn rồi.
Vì vậy chú trở về nước. Ba cháu xin cho chú một vé tầu để chú về đến Hải
Phòng”.
Về nước thì chú tôi ra làm quan. Cho đến năm 1940-1941, chú
bàn với cha tôi và bà nội tôi làm đơn từ chức quan tri huyện trước làn sóng
cách mạng Nam Kỳ khởi nghĩa. Bà nội tôi đồng ý ngay.
Khi bác Phan Kế Toại (anh rể cha tôi) làm Khâm sai Bắc Kỳ thời
chính phủ Trần Trọng Kim thì chú tôi đã nhận làm Đổng lý văn phòng của Phủ Khâm
sai, giúp việc bác Toại. Chú kể rằng: “Tình hình cách mạng chú đã thấy trước
nên đã nói với bác Toại: làm khâm sai không được mấy ngày đâu. Chú còn nhớ
Napoleon ở cù lao Elbe về Fháp đúng sau 100 ngày phải đi đày ở đảo Sainte -
Helène nêu chú nói: “Chắc chúng ta không tồn tại đến 100 ngày dâu”.
Quả nhiên 100 ngày thì Cách mạng đã lật đổ chính quyền… Hồi
bác Toại làm khâm sai, anh Phan Kế An đã vào Việt Minh từ lâu. Anh An lấy được
ít súng thường mang vào phủ Khâm sai. Môi buổi tối lại gói súng cho Phan Kế
Phúc, Phan Kế Lộc đạp xe thẳng ra giao cho Cách mạng. Chú Hưởng kể vậy rồi nói:
“Cháu cứ hỏi anh An thì sẽ rõ”.
Bấy giờ chú thím tôi đã có các em Vinh, Hiển, Thái, Diệu (còn
em Thắng sinh trong Kháng chiến chống Pháp). Các em đã giữ vững truyền thống
thương yêu đùm bọc nhau trong mọi hoàn cảnh và hiếu học của dòng họ Nguyễn ở
Lai Xá. Nguyễn Quang Vinh, cử nhân Sư phạm, tu nghiệp ở Bỉ về Xã hội học, Phó
Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Quang Hiển,
cử nhân Đại học Sư phạm Văn khoa Hà Nội, giáo viên Trường PTTH Hà Bắc; Nguyễn
Quang Thái, PGS.TSKH. Toán Kinh tế, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển,
ở các trường Đại học Tổng hợp, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Bách khoa;
Nguyễn Quang Diệu, du học nhiều năm ở CHDC Đức, kỹ sư Hoá học Công Ty Thuốc sát
trùng Miền Nam; Nguyễn Quang Thắng, cử nhân luật, Phó trưởng phòng công chứng 2
Thành phố Hồ Chí Minh. Trong tập hồi ký “Bác Hồ từ Tân Trào về Hà Nội” của ông
Vũ Đình Huỳnh trong tạp chí Văn học số 8, tháng 3 năm 1990, nhắc đến thời người
Nhật đã cảm thấy mối nguy từ phía Cách mạng Việt Nam, nhất là sau một số đụng độ
với du kích Việt Minh, nên chúng bắt đầu ra tay chan chỉnh bộ máy tay sai… có
đoạn viết: “Phát hiện con trai của ông Phau Kế Toại là Phan Kế An hoạt động
trong phong trào sinh viên học sinh, người Nhật nương tay không bắt mà gửi công
văn khuyến cáo quan khâm sai đại thần về phong trào này: “Rất tiệc trong số đó
có cả quý công tử”. Ông đọc xong công văn chỉ cười rồi đưa cho Phan Kế An đọc.
Chúng lại càng không ngờ rằng từ khi còn ngồi ghế Tổng đốc Thái Bình năm 1943,
Viên khâm sai đại thần của chính quyền bù nhìn năm 1945 này đã mua ủng hộ Việt
Minh năm trăm đồng tín phiếu. Và chúng lại càng không ngờ tới khi làm khâm sai
thì bác và chú tôi đã tiếp cận với Việt Minh.
Hồi ký của ông Vũ Đình Hòe - “Hồi ký Thanh Nghị” viết: Có lần
theo gợi ý của ông Dương Đức Hiền, ông Hòe đã đến gặp cha tôi để cùng đến gặp
bác Toại ở Bắc Bộ Phủ. Bác Toại ghé tai ông Hòe nói: “Lính Nhật thường xuyên
vây Bắc Bộ Phủ, ông không sợ à mà giám đến chơi tôi?” Ông Hòe đã nói với bác Toại:
“Anh em trí thức hoan nghênh cụ cáo ốm không chịu đi hiểu dụ nhân dân “bán”
thóc. Nhưng anh em muốn khuyên cụ làm mạnh hơn nữa”. Bác Toại hỏi lại ông Hòe:
“Xin từ chức phải không? Thế ông là Việt Minh à?”. Ông Hòe nói lảng sang chuyện
khác thì bác Toại nói: “Đừng giấu, con cháu tôi cũng vào Việt Minh nhiều rồi
mà”. Chính vì lẽ trên mà bác gái đã không ở cùng bác trai trong Bắc Bộ Phủ, mà
chỉ ở nhà tại Trại Minh Tâm ít ngày rồi bác đưa các anh chị về ở Mông Phụ (quê
của bác trai).
Chú Hưởng nhắc những lời cha tôi thường bàn bạc với chú và
bác Phan Kế Toại: “Khi Nhật đảo chính Pháp thì cục diện thế giới đã rõ. Thanh
thế phía Mặt trận Việt Minh ngày càng sáng tỏ. Nhật thành lập Chính phủ bù nhìn
cha không tán thành đưa lực lượng trẻ và dân chủ vào nếu không cẩn thận sẽ có
thể chia rẽ lực lượng giải phóng dân tộc sau này… Cha cháu nói cần phải ủng hộ
bác Phan Kế Toại, chủ trương không để Nhật lợi dụng đàn áp cách mạng, khi cách
mạng tới thì trao lại để tránh đổ máu. Nhưng sau Nhật bức bách quá, bác Toại
đành phải rút sớm hơn…”.
Đó cũng là cái lẽ bác Toại đã chọn chú Hưởng giúp việc bên cạnh
bác trong những ngày màn đêm sắp tan. Khi Cách mạng mới thành công, chú tôi được
cử làm thứ trưởng Bộ Tư pháp cho đến tháng 11 năm 1946 thì chuyển sang việc
khác. Chú đã giữ chức Vụ trưởng Vụ Hình luật trong thời gian dài đến tận sau
ngày giải phóng Miền Nam. Năm 1932, tiễn em lên tầu trở về nước cha tôi có nhờ
chú Hưởng đến tìm gặp ông Trần Văn Giáp làm việc tại Viễn Đông Bác cổ để xin
tài liệu về Thần Độc Cước và ảnh chụp nhà sàn để cha tôi làm luận án Tiến sĩ.
Vào năm 1932, Viện Bảo tàng được khánh thành mang tên nhà Đông Dương học nổi tiếng
Louis Finot và được giao cho Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) sử dụng làm nơi
trưng bày hiện vật của Việt Nam và Đông Dương. Khi cha tôi chính thức về Trường
Viễn Đông Bác cổ thì ông Trần Văn Giáp vẫn làm việc ở đó. Ông là nhà Hán Nôm học
nổi tiếng. Có một lần cô Nguyễn Phương Ngọc, nghiên cứu sinh tại Pháp về phỏng
vấn em Huy, em tôi đã nói về ông Trần Văn Giáp: “Giữa cụ Giáp và ông có mối
liên hệ chặt chẽ lắm. Ông với ông Giáp đã làm việc với nhau từ ngày ông còn ở
Paris, kể cả về sau hoà bình, ông rất hay đến thăm ông Giáp. Đặc biệt là hoàn cảnh
ông Giáp rất khó khăn. Có bài viết của chị Hoài về tình bạn của ông và ông
Giáp, qua đám tang của ông Giáp. Lúc đầu Uỷ ban Khoa học Xã hội định tổ chức
đám tang ông Giáp nho nhỏ thôi, ở Bệnh viện Việt Xô, sau đó theo như chú Hoài
nói có sự can thiệp của ông nên làm rất trọng thể, ở Trung tâm, có cả bác Đồng
đến”.
Ông Nguyễn Hoài, nghiên cứu viên cao cấp Trung tâm Khoa học
Xã hội và Nhân văn Quốc gia, viết về tình bạn giữa cha tôi và ông Trần Văn
Giáp: “Nguyễn Văn Huyên là người Việt Nam có danh tiếng bậc nhất của Trường Viễn
Đông Bác cổ (Pháp), là Bộ trưởng lâu năm nhất của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà, đồng thời cũng là người có tình bạn thuỷ chung, cao cả. Trần Văn Giáp có
thời cùng làm việc với Nguyễn Văn Huyên ở Trường Viễn Đông Bác cổ và Bộ Giáo đục.
Kháng chiến thành công. Hoà bình được lập lại. Từ Khu học xá Trung ương, Trần
Văn Giáp được chuyển về công tác tại Ban Văn Sử Địa - Viện Sử học - cho đến khi
nghỉ hưu với mức lương chuyên viên 2 (1970).
Ngày 25 tháng 11 năm 1973, Trần Văn Giáp qua đời tại căn
phòng hơn 40 m2 tầng 2 của ngôi nhà đằng sau cơ quan làm việc, 26 Lý Thường Kiệt,
Hà Nội. Cụ ra đi để lại người vợ thứ và bao nhiêu công trình còn đang dang dở!
Vợ cả và 3 con ở trong Nam. Hai con trai đã từng là Bộ trưởng trong Chính phủ
nguỵ quyền Sài Gòn. Không ra Hà Nội được. Trong tình hình nan giải đó, Nguyễn
Văn Huyên đã tới lo liệu mọi thứ: nào báo cáo với Trung ương, nào lo liệu thu xếp
nơi quàn linh cữu, nào viết cáo phó đăng trên các báo Nhân dân và Hà Nội mới.
Ngày, đêm lên xuống, ngược xuôi thật là vất vả. Vậy mà sáng sớm ngày hôm sau,
Nguyễn Văn Huyên đã bấm chuông Viện Sử học. Tôi xuống mở cửa cho Người và đón
Người lên phòng ở tập thể của chúng tôi, tầng 2 của ngôi. nhà 2 tầng sau trụ sở
làm việc. Bộ trưởng cho biết Người đến là để xem xét tình hình chuẩn bị nơi
quàn linh cữu cụ Trần Văn Giáp ra sao. Còn sớm quá cửa chưa mở. Nghe tôi nói việc
dọn dẹp, tổng vệ sinh và chuẩn bị đón linh cữu cụ Trần về quàn tại phòng lớn nhất,
tầng 1 của Viện Sử học - 38 Hàng Chuối, Hà Nội. Bộ trưởng tỏ ra hài lòng và kể
lại cho tôi nghe về tình thân hữu, lòng yêu mến và quý trọng của hai người. Tôi
rất cảm động. Tiếp đến Người căn dặn tôi về công tác bảo vệ. Vì chiều Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đến viếng và chia buồn. Trước linh cữu cụ Trần Văn Giáp, Thủ tướng
Phạm Văn Đồng nói: “Sự có mặt của tôi hôm nay ở đây biểu thị thái độ kính trọng
và yêu quý của Đảng và Nhà nước đối với cụ Giáp. Cụ là một trí thức yêu nước, rất
dũng cảm, có sức chịu đựng rất cao, luôn luôn tận trung với nước, luôn luôn vì
sự nghiệp khoa học nước nhà”. Chúng tôi nói với nhau: thì ra cuộc đời này Tình
bạn cao dẹp nâng cao phẩm giá con người lúc sinh thời và làm cho người đã qua đời
được vĩnh hằng hạnh phúc và sống mãi với non sông đất nước “.
Tình bằng hữu
Cũng trong “Hồi ký Thanh Nghị” ông Vũ Đình Hoè nhắc tới sự kiện
5-5-1942, Toàn quyền Đông Dương đã phải ra một nghị định “Lập một hệ môn học “Cổ
điển Á Đông” trong 8 năm tại một số trường trung học Pháp - Việt”. Trong đó có
viết: “Người đề xướng để được chấp nhận đó là hai học giả của Trường Viễn Đông
Bác cổ: Nguyễn Văn Huyên và Trần Văn Giáp với mục đích là để trau dồi cho học
sinh những điều cương yếu của Văn hoá Cổ điển Á Đông”. Ông Hoè nói về cha tôi:
“Đầu năm 1942. Thanh Nghị nhiệt liệt lòng hộ sáng kiến do một số giáo sư và học
giả người Việt đề ra với Toàn quyền Đông Dương: Yêu cầu lập một hệ môn học “Cổ
điển Á Đông 6 năm” (từ lớp 6 trung học đến đại học) tại một số trường học “bản
xứ” phỏng theo hướng cải cách giáo dục ở “mẫu quốc” coi như then chốt của cuộc
“Cách mạng Quốc gia” của Thông chế Pétain với khẩu hiệu đang được cổ động om
sòm: “Lao động-Gia dình-Tổ quốc”. Động viên tinh thần quốc gia cốỡcu, khôi phục
các nếp sông cổ truyền (kể cả tôn giáo) để rèn luyện một lý tưởng cao đẹp, một
tâm luồn trong sáng, một nghị lực dám hy sinh bản thân cho Tổ quốc. Lấy gậy ông
đập lưng ông, giới trí thức Việt nam đòi dặt môn Văn hoá Cổ điển Á Đông trong
chương trình Trung học Pháp Việt đối xứng với môn Nhân bản học cổ điển La Mã,
Hy Lạp cho học sinh Pháp thì là đòi hỏi hợp lý quá rồi. Cho nên Toàn quyền Đông
Dương vội ký ngay Nghị định ngày 5 tháng 5 năm 1942, chấp nhận sáng kiến đó, thực
ra dưới động cơ không hoàn toàn trong sáng đâu (lấy lòng giới trí thức An Nam,
mà Nhật cũng đang cố lôi kéo). Vả lại các nhà chức trách thực dân không tin rằng
chủ trương là khả thi được nhanh chóng: chương trình thế nào, sách giáo khoa thế
nào, giáo sư có không, nhất là chữ Hán hết thời rồi? Ai ngờ liền sau kiến nghị,
một chương trình đàng hoàng với kế hoạch mở lớp đầy đủ đã được soạn thảo cụ thể,
tỉ mỉ từ lớp 6 đến lớp nhất gửi lên Phủ Toàn quyền xin duyệt y gấp rút đáp ứng
ngay, tác giả là hai nhà sử học, dân tộc học Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giáp.
Chuyện thần kỳ.
Nhóm Thanh Nghị chúng tôi sung sướng được tin ấy, hưởng ứng
nhiệt liệt chủ trương tốt đẹp của Anh. Riêng tôi, cùng anh Phau Anh, đến chơi
nhà GS. Nguyễn Văn Huyên, ôm lấy ông bạn hơn tuổi mà hôn hít”. Không chỉ có thế,
tôi còn đưa Anh xem bài xã luận tôi vừa chuẩn bị xong cho số báo ra ngày 1
tháng 10 năm 1942. Có lẽ đó là tiếng nói đầu tiên, hào hứng thực sự của dư luận
đối với sáng kiến lập Ban Cổ điển Á Đông”.
Tôi nói thêm với Anh: “Không những chỉ hoan nghênh đâu! Có
phân tích và góp ý kiến đấy, tất nhiên là rất xây dựng”. Anh Huyên mỉm cười
khiêm tốn, thỏ thẻ. “Khéo không tẽn đấy nhé!”.
Trong “Văn minh Việt Nam”, cha tôi bàn riêng một vấn đề là
ngôn ngữ bác học - chữ Hán: “Nếu tiếng Việt phải đợi đến thế kỷ 19 mới trở
thành ngôn ngữ văn minh, đó chính là vì chữ Hán Việt đã là ngôn ngữ bác học và
chính thức duy nhất lrong gần hai nghìn năm. Cho nên “dù thế nào đi nữa chữ Hán
đã có ở Việt Nam vai trò nổi bật. Nó đã để lại những dấu vết không phai mờ
trong tất cả các thể chế và các biểu hiện trí tuệ của Việt Nam…” chỉ riêng những
dòng đó thôi, để giữ gìn bản sắc dân tộc chắc là cha tôi trăn trở nhiều, nhất
là khi làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục lại chưa đưa vào nền giáo dục nước nhà một khối
đồ sộ suy nghĩ này: “Môn học Cổ điển Á Đông” phải được phổ cập từ bậc trung học.
Chỉ tiếc rằng nhiệm vụ giáo dục trước mắt phải đuổi theo đòi hỏi cấp bách là
đào tạo gấp đội ngũ trí thức cho một nhà nước non trẻ. Công việc cải cách giáo
dục chuyển từ nền giáo dục thực dân sang nền giáo dục dân chủ nhân dân đã choán
hết tâm trí của các nhà trí thức đương thời. Trải qua thăng trầm của hai cuộc
chiến tranh kéo dài 30 năm, “Môn học Cổ điển Á Đông” chưa được đặt vào đúng vị
trí của nó. Tôi tin rằng đã đến lúc nó được trở về đúng vị trí của mình. Bởi
chính các con và các cháu tôi sau những ngày được nhà nước cho tu học nước
ngoài khi trở về cháu nào cũng muốn có thời gian bổ khuyết mỗ hổng” này.
Thỉnh thoảng các cháu lại yêu cầu vợ chồng tôi giúp các cháu
giải nghĩa những cụm từ chữ Hán và các cháu đều có ý muốn sẽ phải đi tiếp con
đường nâng cao hiểu biết bằng học Trung văn, học chữ Hán để đi sâu tìm hiểu về
đất nước và con người Việt Nam và để hiểu về người láng giềng kề cận ngay bên
mình? Cha tôi trân trọng gìn giữ nền văn hoá cổ điển của đất nước để nối kết
2000 năm lịch sử qua bài phỏng vấn của Tri Tân về Văn Miếu Quốc Tử Giám: “Sau
khi ông hỏi thăm về tình hình và đời sống của Tri Tân và nói lướt đến phong
trào sách báo hiện thời, tôi liền lựa lời dắt ông vào câu chuyện tôi muôn hỏi:
“Thưa ngài, hôm nọ bạn Tiên Đàm có nói ngài đặc biệt chú ý đến Văn Miếu Hà Nội,
nay nhân cho ra số đặc san về thu, tôi mong được ngài cho nghe về câu chuyện
đó.
Bằng một giọng thư thả, ông Huyên nhẹ nhàng vào chuyện:
“Vâng, nói đến Văn Miếu ở Giám thật là buồn tẻ. Chắc cũng có lúc ngài đi qua và
nếu tò mò ngài vào trong đó thì thấy hiện ra một cảnh tượng cỏ mọc rêu phong.
Chỗ thờ đức Khổng Tử và các bậc tiên hiền là nơi các con dơi làm tổ và các chim
chóc vẫn ngày tháng đi về. Một không khí ảm đạm, ẩm thấp toả ra khắp các căn
nhà khiến du khách phải vội vàng trở bước! Ở ngoài thì Khuê Văn Các là chỗ hẹn
của các trẻ đến đây tinh nghịch nếu không là nơi trăng gió của các cặp tình
nhân. Chỉ xuân thu nhị kỳ các quan chức tỉnh Hà Đông mới tới đó tế lễ, họ mới sửa
sang cỏ mọc, ở các lối đi, chỉ lối di thôi, còn nơi khác có khi cỏ dại mọc ngập
đầu người…
Ngạc nhiên về sự hoang vu ấy của Văn Miếu tôi vội hỏi ông
Huyên: “Thưa ngài, nếu tôi không lầm, thì Văn Miếu thuộc vào các đến đài của đất
nước do Trường Bác cổ trông nom?”
Ông Huyên thư thả phân trần:
"Trường Bác cổ chỉ trông nom gìn giữ về phương diện kiến
trúc, còn muốn sửa chữa hay tu bổ thì lại thuộc quỹ Hà Đông. Trường Bác cổ
không có tiền. Theo điều ước 1884, thành phố Hà Nội là một nhượng đất cho Pháp,
duy có khu Văn Miếu là của nước Nam. Người ta đã không nhìn nhận gì đến Văn Miếu
lại có khi làm những việc vô ý thức. Một dạo có người đã định lấy ít đất quanh
Văn Miến cho một hội làm hội quán nhưng may việc đó không thành. Hiện nay Văn
Miếu ở Giám chỉ là Văn chỉ của một làng to mà trong đó các văn thân không ai
nghĩ tới! Theo phong tục các quan chức Hà Đông xuân thu nhị kỳ phải tế lễ. Hà
Đông không có Văn Miếu nên phải tế nhờ ở Hà Nội.
Tuy ở Hà Đông có ban Văn Miếu song vì phạm vi chật hẹp nên
chưa làm được việc đáng ghi. Chính thực ra Văn Miếu không phải của riêng tỉnh
Hà Đông, không phải của Hà Nội mà là của cả toàn quốc, không phải của riêng
phái cựu học hay tân học mà là của hết thảy người Việt Nam vì đó là di tích của
các vị tiền bối có quan hệ đến lịch sử văn học nước nhà".
Đồng ý kiến ấy với ông Nghè Huyên tôi ngắt lời ông:
"Chúng tôi cũng nghĩ việc bảo tồn Văn Miếu là một việc có ý nghĩa, vì nếu
cứ để cho mưa nắng tàn phá với cảnh hoang vu hiện tại thì sau này ngày thêm đổ
nát. Nếu có người ngoại quốc thăm chốn cố đô xưa này, muốn tìm đến cái dấu vết
văn học của các bậc tiền nhân ta, nhìn thấy quang cảnh ấy của Văn Miếu tất phải
có những ý nghĩ không hay về dân tộc Việt Nam mình!
Nhưng ông bảo làm sao được. Đã sáu, bảy năm nay, một bậc nho
học cụ Lê Dư, sốt sắng về việc đó đã đứng lên điều đình với các quan chức tỉnh
Hà Đông cho giồng các cây có quả, như nhãn, vải, trên các thửa đất bỏ không của
Văn Miếu nhưng tiếc thay việc ấy không thành. Ông tính, Văn Miếu của ta xưa làm
gì có cái quang cảnh hiu quạnh như ngày nay. Xưa Văn Miếu là chỗ giảng học, là
trường đại học của toàn quốc để các sĩ tử đi thi Hội. Văn Miếu thuộc về phía
nam của thành Thăng Long ở phường hồ Bích Câu. Chung quanh Văn Miếu là cả một
khu văn học. Các đại quan và các danh nho như cụ Bùi Huy Bích phần nhiều có
dinh hay trại ở khu đó. Ngày xưa khu Văn Miếu có một tinh thần văn học. Cái
tinh thần ấy ngày nay đã chết. Giá người ta làm sồng lại cái tinh thần ấy bằng
việc lập ra một khu Đông Dương học xá ở quanh Văn Miếu thì chúng tôi ta vừa giữ
được cái không khí cũ, vừa có một khu văn học như khu La tinh của người Pháp ở
Ba Lê.
- Thưa ngài, ngoài những vị thánh hiền đã thờ ở Văn Miếu ra,
ngài tưởng ta còn nên kỷ niệm những vị danh nho nào của ta vào Văn Miếu nữa?
Không đồng ý kiến ấy, ông Huyên liền quả quyết trả lời:
- Văn Miếu lập nên từ đời nhà Lý. Các bậc đại khoa từ đời Lê
đều có tên trong đó. Văn Miếu thờ đức Khổng Tử, bậc tiên hiền. Từ nhà Nguyễn trở
đi thì ở Huế đã có Văn Miếu. Nếu kỷ niệm thêm các bậc danh tôi tưởng nên ở Huế
chứ không ở Văn Miếu Hà nội.
- Theo ý ngài, ta nên bảo tồn Văn Miếu bằng cách nào?
Ông nghè Huyên thư thả đáp:
- Theo ý tôi có 2 cách, một là sửa sang khu Văn Miếu làm
thành một cái thư viện cho cả nước, thu thập các sách chữ Nho, chữ quốc ngữ, và
tiếng ngoại quốc nói về Á Đông và có quan hệ đến quốc học của ta.
Cách thứ hai là làm Văn Miếu như xưa thành một giảng đài, cho
các bậc cựu học, tân học học đủ tín nhiệm đến đó giảng về nền văn học xưa và
nay, giảng về thân thế sự nghiệp các bậc tiên hiền thờ trong Văn Miếu, vì tôi
xét ra nhiều người không biết Văn Miếu là thế nào và thờ những ai.
Rồi phải có một tập san hoặc hàng năn hoặc hàng tháng để in
các bài giảng ấy, lần lượt cho in các sách có quan hệ nền quốc học Việt nam.
Như thế phải có một hội Văn Miếu có Ban trị sự chọn hội viên
và ấn hành các công việc.
Nay có một cách, có thể thi hành ngay được dự định ấy là hội
Khai Trí Tiến Đức đã sẵn có một ban văn học. Uỷ ban ấy nên mở rộng phạm vi lập
nên thành một ban Văn Miếu rồi lần lượt thi hành các công việc ở trên.
Hiện nay, ở một vài tỉnh đã có hội Văn Miếu như Bắc Ninh,
Hưng Yên chẳng hạn, nhưng đó là của hàng tỉnh. Cái hội ấy nên cử người vào hội
Văn Miếu toàn quốc.
Đã là của toàn quốc, theo ý ngài ta nên kỷ niệm các vị tiên
hiền bằng cách nào cho hợp thời ngoài việc tế lễ xuân thu nhị kỳ. Đành rằng tế
lễ cũng là một cách kỷ niệm nhưng chúng tôi cho là có ý nghĩa hẹp hòi và cũng
không có bóng vang chi hết trong làng trí thức.
Cân chuyện đã trở nên thân mật, ông Huyên để lộ chiếc cười nửa
miệng trên cặp môi.
- Tôi tưởng nên để dành tiền chi phí về tế lễ mà tu sửa lại
Văn Miếu còn hơn. Nếu hội Văn Miếu tôi nói mà thành lập thì hội đó sẽ treo hằng
năm các giải thưởng về văn học, mỹ thuật và âm nhạc, đặt giải thưởng cho bậc
thanh niên nào tốt nghiệp rất xuất sắc nhất ở các ban trong Trường Đại học, cấp
học bổng cho sinh viên nghèo. Rồi chọn lấy một ngày có ý nghĩ làm lễ kỷ niệm
cho Văn Miếutoàn quốc. Ngày đó sẽ xướng danh các ngườí được ban thưởng về các
tác phẩm và các bậc thanh niên xuâí sắc nhất trong các kỳ thi tốt nghiệp ở các
ban thuốc, Luật…
Nghe đến hai chữ xứng danh tự nhiên tôi nghĩ đến ngày đó với
cảnh tưng bừng rộn rịp của quang cảnh trường thi xưa và để kết thúc câu chuyện
đã hồi lâu, tôi nối lời ông nghè Huyên:
Thưa ngài, ngày xướng danh đó có lẽ sẽ là một ngày nô nức nhất
mà ai nấy đều ngong ngóng chờ mong cái kết quả về sự lựa chọn của Hội Văn Miếu.
Cuộc phỏng vấn đã kéo dài trên tiếng đồng hồ. Thấy câu chuyện
đã đến lúc cần phải chấm hết, tôi liền đứng lên cáo từ người tôi phỏng vấn để
trả ông cho các chồng sách của Trường Bác cổ (Phạm Mạnh Phan, Báo Tri Tân, ngày
28 tháng 9 năm 1944).
Trong Bản tự thuật lý lịch về quan hệ xã hội cha tôi viết:
“Trước Cách mạng tôi ít có bạn bè. Chủ yếu chỉ biết học, kết bạn với những người
sách vở cần cù. Những bạn trước Cách mạng có những người như Nguyễn Mạnh Tường,
Hoàng Xuân Hãn, Phạm Đình Ái, Phan Anh, Đặng Phúc Thông. Hãn là người có tinh
thần yêu nước, cần cù, giản dị. Chúng tôi tôn trọng nhau; có trao đổi ý kiến
chông thực dâu Pháp cùng nhau…”. Trước Cách mạng cha mẹ hay dẫn tôi đến chơi
nhà bác Hoàng Xuân Hãn. Bác Hãn hay tổ chức những cuộc họp mặt cuối tuần. Có những
buổi cha tôi cùng bác Hãn đi bơi thuyền, tôi và chị Tý con bác Hãn cùng được đi
chơi, hai người vừa chèo thuyền, vừa ngắm cảnh Hồ Tây, vừa chuyện trò. Nhân
chuyến công tác của chồng Bích Hà - chú Cầu đã ghé qua Pháp, mẹ tôi có gửi thư
thăm hỏi hai bác Hoàng Xuân Hãn. Lần gặp gỡ này bác Hãn có hỏi Cầu về những biến
đổi của Hà Nội. Cầu đã kể cho bác biết mới xây dựng xong Quảng trường 1-5, Nhà
Hội trường Công đoàn. Bác Hãn hỏi lại địa điểm và nói như vậy là nơi “Đấu Sảo
xưa kia”.
Lúc đầu tại Đấu Sảo có xây dựng một Bảo tàng của Trường Viễn
Đông Bác cổ, sau bị bão phá huỷ mới chuyển địa điểm là Bảo tàng Lịch Sử Việt
Nam bây giờ. Nhân việc nhắc tới Đấu Sảo bác Hãn đã kể cho Cầu biết ngày xưa Tây
định biến Đấu Sảo thành Nghĩa địa Tây. Các cụ bô lão ta đã họp lại cùng thống
nhất đưa bản kiến nghị. Hôm đó cha tôi vắng mặt, nhưng sau buổi họp, Bản kiến
nghị này trao cho cha tôi ký đồng thời giao việc cho cha tôi giải quyết. Cuối
cùng chúng phải chấp nhận không để nghĩa địa tại Đấu Sảo. Bác Hãn nói: “Sở dĩ
các cụ giao việc này cho ông Huyên giải quyết và giải quyết được là do bấy giờ
ông Huyên đang giảng cho một lớp công chức Tây về phong tục Việt Nam”. Bác Hãn
có hỏi thăm chú Cầu về thư viện của cha tôi với 1 vạn cuốn sách. Làm gì còn thư
viện! Tuy vậy cách vài tuần cha tôi lại xoay trần quét dọn sạch giá sách ít ỏi
mới sưu tập của ông. Có lần vào những năm 90, Đại sứ Pháp trước khi về nước
cũng gọi điện muốn xin đến thăm thư viện của cha tôi! Rất tiếc đó chỉ còn ở
trong trí nhớ của mọi người mà thôi.
Song sách vẫn là đề tài gia đình tôi hằng quan tâm, mọi hồ sơ
tài liệu, sách báo còn lại của cha tôi đều được mẹ tôi giữ gìn hết sức cẩn thận.
Ngày 21-9-1974, ông Hãn viết thư cho cha tôi:
“Anh Huyên. Nhân bác sĩ Thông sang công cán, tôi gửi vài lời
về thăm Anh. Tôi đã nhiều lần nhờ người chuyển thư thăm Anh và có gửi biếu anh
một tác phẩm của tôi nhắc lại một vài ý tưởng chung và tôi nghĩ có thể làm anh
vui. Có lẽ những sách ấy không tới tay anh. Tôi cũng được nghe nói lúc này anh
đau nặng. Tôi rất lo. Chắc nay anh lành mạnh. Các chúng bạn lứa tuổi ta nay đã
bắt đầu thưa dần. Nghe tin các anh Trần Văn Giáp, Tôn Quang Phiệt mất, tôi
không khỏi luyến tiếc.
Khi nào anh sẽ về hưu? Anh sẽ có thì giờ nối lại công tác khảo
cứu. Tuy ở xa tôi vẫn cố gắng theo dõi sự giáo dục và nghiên cứu bên nhà và rất
mừng khi thấy mọi mặt đều tiên bộ. Thôi ít lời chúc anh, chị, các cháu, cụ Vi
và bà con lành mạnh. Thân mến. HXH”
Với vị trí là Giám đốc Trường Viễn Đông Bác cổ sau ngày Cách
mạng Tháng Tám thành công, cha tôi đã trình lên Chủ tịch nước một văn kiện về
việc bảo vệ các di tích lịch sử và tổ chức triển lãm đồ gốm sứ Việt Nam. Cha
tôi đã nhờ ông Hãn chủ trì việc này. Bác Hồ đã đến khai mạc triển lãm này tại Bảo
tàng Lịch sử. Ngày bác Nguyễn Mạnh Tường sang học ở Pháp cũng tới Montpellier.
Bác hay đến chơi với chú Hưởng và cha tôi ở phố Ridơcôphơi, một phố bé nhỏ có
đường dốc, lát bằng những hòn đá. “Mỗi lần đến thăm phải leo dốc mệt lắm, nhưng
đổi lại được bà chủ nhà mời càfê”. Bác Tường kể: “Ở Châu Âu và đặc biệt ở Pháp
thì việc “đi càfê” rất lý thú. Mới đầu cha cháu đưa bác đến “ngồi càfe” thì bác
thấy chán lắm. Uống một chén càfê mà ngồi nhìn mọi người, thấy bực mình, mất thời
giờ lắm. Về sau nó thấm nhuần tác phong đó cũng thấy thú vị. Bởi ngồi uống
càfê, đọc báo, nhìn những kẻ này nọ ăn mặc… Trong số đi càfe ngườí trong nước
có, người các nước cũng có thành ra rất thích mắt… Có khi là ngồi uống một chén
càfê mà xem lại hàng chục tờ báo của nó. Có khi lại gọi giấy viết thư nữa.
Thành ra tiền trả một chén càfê cũng chưa chắc đủ trả các khoản báo đọc không mất
tiền, giấy viết thư không mấy tiền. Ngồi mấy giờ cũng tự nhiên thôi, nhất là trời
rét, có khi cả buổi tối. Có người thích đánh bài, chơi cờ, có người không, chỉ
ngồi nói chuyện với nhau… Đó là cái thú vị mà người Châu Á không biết đến?”.
Rồi bác Tường nhớ lại là khi bà nội tôi không còn khả năng gửi
tiền cho cha tôi đi học. Lên Paris cha tôi đi dạy phụ đạo môn tiếng Việt ở Trường
Ngôn ngữ Phương Đông là Trường chuyên dạy những môn ngoại ngữ Á Đông. Vì thế
“anh ấy kiếm đọc tiền, có lương anh ấy ở sang hơn tôi”. Cha tôi thuê nhà căn hộ
khép kín bên cạnh phòng ngủ có bếp, có buồng tắm, ở phố Ruydơ Băng để tự nấu nướng.
“Suốt ngày đi làm, chỉ có tối về nhà. Tuy đời sống bận rộn
nhưng vẫn dành dụm thời gian và kinh phí cho sinh loạt văn hoá. Chủ nhật thì
sáng làm cơm, trưa ăn cơm rang. Ngày ra công viên Boa đò Bulônhơ, sáng bơi thuyền,
chiều nghe nhạc. Đó là hai môn giải trí mà cha tôi thích nhất. Hồi ấy ở
Montpanat, ở Sănglêgic có những nhà soạn kịch hiện đại và có diễn viên giỏi. Tuần
một hai lần đi xem kịch có danh tiếng. Tất nhiên là phải ngồi ở trên cao, nơi rẻ
tiền nhất. Nhưng dù sao đời sống văn hoá cũng đầy đủ”.
Kinh nghiệm đi du lịch đi tham quan vòng quanh nước Pháp khi
hai anh em sống bên nhau đã dẫn cha tôi đến việc có ý định tổ chức những cuộc
du lịch cùng bác Nguyễn Mạnh Tường ra ngoài biên giới nước Pháp. Bác Tường kể:
“Anh Huyên lanh lợi hơn tôi. Tôi chưa nghĩ đến chuyện nghỉ hè, anh đã biết tất
cả. Anh ấy bảo: “Nghỉ hè thì chúng ta phải đi chơi nước ngoài, không ở Pháp”.
Vì có anh Huyên nên chúng tôi đi chu du khắp Châu Âu. Cứ mỗi năm đi một nơi. Đầu
tiên chúng tôi đi Tây Ban Nha, sang Ý, rồi lại sang Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ. Theo đà
đó khi thì anh Huyên đi nơi này, tôi đi nơi khác. Anh sang Anh, tôi sang Bỉ… Di
sang Tây Ban Nha là năm đầu tiên. Bấy giờ đi cũng thuận tiện. Sang Tây Ban Nha
đi thăm hết tất cả Tây Ban Nha. Lúc đó hãy còn là thời Tây Ban Nha cũ. Đi chơi
rất là sung sướng. Lúc về anh hỏi: “Đấy! Đi xem mới mở mắt ra, học được cái này
cái nọ, chứ ở Pháp tụi con điền chủ chỉ chơi nhảy nhót chứ họ chả học gì”. Lúc
đi du lịch cha tôi chủ trương ngay cả cách ăn mặc. Cha tôi nói với bác Tường:
“Đi du lịch thì mặc quần gôn, tiện là khi nghủ không mất nếp do đó không phải
lo bàn là”. Khi cha tôi may quần gôn thì cũng rủ bác Tường: “Này anh cũng phải
may đi!”. Thế là cả hai đều có quần gôn đi du lịch…”
Chuyến đi Tây Ban Nha hai người đi tầu hoả từ Paris vượt biên
giới sang mấy hòn đảo nơi nghỉ mát của bọn tỷ phú. Nhưng hai người chỉ đi qua
thôi”. Đến năm thứ hai cha tôi nói với bác Tường: “Chúng mình là những người học
về văn, sử cổ đại Hy Lạp, La Mã, mà chúng mình không sang Hy Lạp, không sang La
Mã thì đó là chuyện thiệt thòi, nhất định phải đi”.
Thế là hai người lại dành dụm tiền để lên đường. “Ở bên
Pháp có Hội những nhà chuyên môn nghiên cứu về cổ văn, cổ sử Hy Lạp, La Mã. Hằng
năm họ tổ chức tất cả một tầu biển từ Mác- xây (một cảng miền nam nước Pháp) đi
chơi quanh Địa Tnng Hải. Bầu không khí trên tầu rất kỳ lạ bởi toàn người học giỏi,
thông thái, tay kém nhất cũng là cử nhân, còn toàn các nhà bác học, phê bình,
thạc sĩ sử… Cuộc sống trên tầu không có sự dồn dập, nhộn nhịp, không có gì thúc
bách mình phải chạy, nhảy, cứ tuần tự thong dong, dửng dưng sống không có nhịp
độ mãnh liệt…”.
Những ngày tháng đó cha tôi đã chụp ảnh cùng bác Tường ở
Budapest, Vienne, Venise, Milan, Geneve… hai người đã sang Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ…
đến thủ đô Is-tăng-bun (trwớc gọi là Công-stăng-ti-nốp), đến eo biển Hắc Hải,
qua eo biển thông với Địa Trung Hải. Đi tầu vào giữa eo biển một bên là Châu Âu
một bên là Châu Á. Bây giờ là Thổ Nhĩ Kỳ, còn Hắc Hải là Liên Xô. Chuyến đi Tây
Ban Nha thì đến mỏm cuối của Châu Âu là Gi-bơ-ran-ta. Nó cho phép Đại Tây Dương
thông với Địa Trung Hải. Bên này là Châu Âu, bên kia là Châu Phi. Vậy là hai
người đi hết một vòng Địa Trung Hải. Chỉ còn Châu Úc và Châu Mỹ là chưa sang”.
Rồi bác Tường dừng lại nói: “Có lúc gặp anh đi công tác từ Châu Phi về, anh em
gặp nhau, anh nói đi nhiều cũng mệt lắm nhưng việc cần thì phải đi”.
Khi bác Tường kể những chuyện trên, tôi cảm thông với những
tâm tình của cha tôi về những chuyến công du ra nước ngoài thực sự là căng thẳng.
Khi đi máy bay cha tôi thường bị mệt. Vào những năm đó cha tôi đã bị thủng một
bên màng nhĩ.
Nhận bằng tiến sĩ
Ngày 17 tháng 2 năm 1934 là ngày cha tôi bảo vệ xuất sắc luận
án Tiến sĩ tại Trường Đại học tổng hợp Sorbon Paris. Đỗ song hai bằng tiến sĩ
Luật học và Văn chương vào năm 1933- 1934 thì bác Tường trở về nước. Cha tôi về
sau hai năm vì lúc đó còn mắc dạy theo hợp đồng. Nhận bằng xong, bác Tường đi
mua một quả dứa về liên hoan, bác nói: “Quả dứa bấy giờ đắt tiền lắm”. Nói rồi
bác Tường chỉ vào bức ảnh “Nhị Hỷ” mà cha tôi thì mặc áo đuôi tôm, mẹ thì mặc
áo dài the trắng và ôn lại thời thanh niên của hai người cho mẹ tôi được hưởng
những phút giây vui vẻ tưởng nhớ về cha.
“Tôi bảo rằng bây giờ về Hà Nội chúng mình là tiến sĩ thì phải
may cái áo dài đuôi tôm. Thế là ông ấy dắt mình đi đến hiện may ở Paris”.
Bác Tường cười thoải mái rồi lại kể tiếp: “Mình lại bảo có áo
đuôi tôm rồi lại phải có áo tiến sĩ, áo giáo sư trung học có một hàng lông thỏ,
còn áo tiến sĩ là phải có ba hàng, áo giáo sư đại học cũng có ba hàng lông thỏ.
Mình thì không có mấy tiền. Ông ấy di dạy có lương nên cứ nói: “Tôi có, mà cậu không
có thì không xong. Đã làm gì với nhau thì phải đầy đủ cả. Cho nên học về nước
chúng tôi có áo tiến sĩ và cả áo đuôi tôm”.
Nhưng chúng tôi chỉ thấy ảnh cha tôi mặc áo đuôi tôm chứ chưa
bao giờ thấy mẹ tôi kể cha mặc áo tiến sĩ.
Hai người bạn tri âm tri kỷ nhận xong bằng tiến sĩ, lòng chan
chứa hy vọng đi sâu vào công việc nghiên cứu khoa học. Bác Tường kể rằng: “Chủ
trương của chúng tôi là về cống hiến hết cuộc đời mình cho giáo dục và khoa học
nên anh Huyên nhấn mạnh: “Chúng mình đi dạy học, nghiên cứu, viết sách là tốt
nhất. Tôi đã tán thành chu trương đó. Do đó vào nărn 1935, hai anh em cùng dạy
học với nhau ở trường Bưởi. Anh Huyên dạy Sử, Địa, tôi dạy Văn. Sau này có ông
Hoàng Xuân Hãn dạy Toán, hai năm sau ông Nguỵ Như Kon Tum dạy Vật lý… Có thể nói
lúc bấy giờ ở trường Bưởi không có một tập thể giáo sư nào có bằng cấp cao như
vậy. Cho nên tụi Toàn quyền, Thông sứ hết sức nể nang. Nhưng rồi mọi sự đâu có
được như ý. Mặc dầu trường Bưởi có bề dày lịch sử đáng kể. Là cái nôi đào tạo
ra đội ngũ trí thức Việt nam. Mình đi dạy học thế này bế tắc bởi vì chúng nó
chèn ép câm đoán… Tuy rằng chúng tôi được hưởng lương Tây 300 đồng còn anh em
khác chỉ được hưởng lương 80 đồng. Anh Huyên nói: “Về sử học bây giờ con đường
thoát của tôi là vào Trường Viễn Đông Bác cổ. Anh đi sang Bác Cổ thì tôi về mở
văn phòng Luật. Thế là hai người cùng vào dạy học cho đến năm 1938 cùng ra đi”.
Cha tôi về nghiên cứu tại Trường Viễn Đông Bác cổ đồng thời
tiếp tục dạy học nhưng ở bậc đại học.
Ông ngoại của tôi
Hồi chạy bom thời Nhật ở Hà Đông, gia đình bác Tú Cương ở sát
vách gia đình tôi. Anh Phan Vi Long thường hay sang nhà tôi chơi. Có lần anh đã
trông thấy bà tôi từ Hà Nội vào thăm mẹ tôi khi bà sinh bé Huy. Còn tôi được gặp
bà nội anh mà chúng tôi thường gọi là cụ Huyện. Một hôm anh hỏi tôi: “Vì sao
chúng mình lại có một ông hai bà nhỉ?” Câu hỏi đó tôi cũng chịu không giải
thích được. Quả là chúng tôi có chung một ông Vi Văn Định còn bà riêng của
chúng tôi thì hoạ hoằn lắm mới gặp một vài lần. Ở cái tuổi mà anh Long nhận xét
về bà mình “có cái cổ nhiều thịt giống cổ bò” thì đúng là không sao hiểu được về
mối quan hệ huyết thống dòng họ.
Khi ông ngoại tôi ở tuổi 96 thì mất (20 - 10 Ất Mão), bấy giờ
mẹ tôi mới lấy những tấm đồng gia phả về nhờ dịch (những tấm gia phả bằng đồng
phải gói vào một tấm vải to nặng mấy cân). Bấy giờ tôi mới được đọc và hiểu về
dòng tộc mà bác Kim Yến luôn tự hào nói là dòng tộc “trâm anh thế phiệt”.
Đọc gia phả lôi ngỡ ngàng, bởi lẽ ở ngoài xã hội tôi chỉ biết
ông ngoại theo dư luận thì ông là kẻ thù của giai cấp, may mắn lắm nhờ ơn Cách
mạng ông mới được xếp vào hạng “nhân sĩ liên bộ”. Cái vở kịch như kiểu của Học
Phi luôn lấy ông tôi làm nhân vật đối kháng làm nhân chứng lịch sử để trình diễn
trước công chúng. Đó là những nỗi tủi mà tôi mang theo suốt tuổi niên thiếu.
Chẳng phải chỉ có tôi. Các anh chị em họ thuộc nội ngoại họ
Vi đều né tránh mà lấy bí danh khác như Mai Vi, Chu Quang, hoặc đổi bỏ đệm còn
hai tên Vi Phác, Vi Bích. Các anh chị tôi đều giống thế hệ trẻ đương thời,
không mang họ Tôn Thất, Nguyễn Phước mà đổi thành Tôn Đức, Nguyễn Thị, Nguyễn
Ngọc…
Về sau này khi những người như Học Phi dùng ngòi bút của mình
đính chính bằng cách trích dẫn lời Bác Hồ: “Lòng yêu nước là đạo đức của mọi
người” hoặc chính ông Học Phi phê phán “người viết lịch sử Đảng có thiên hướng
quy tất cả cho ý thức giai cấp, mọi việc đều xuất phát từ quyền lợi giai cấp chứ
không phải từ quyền lợi của dân tộc”. Đồng thời đã nhắc lời đồng chí Trường
Chinh: “Tính chất lịch sử là yếu tố thứ nhất trong hồi tưởng cách mạng” thì ông
Học Phi đã viết câu kết: “Tôi muốn câu này được mở rộng ra cho tất cả các thể
loại viết lịch sử Đảng”. (Trích bài viết của Học Phi đăng trong Xưa và Nay. Đăng
lại trên tờ Công An Thành phố Hồ Chí Minh).
Vào thời điểm lịch sử đã xa dần, trong họ Vi cũng có sự đổi
thay. Hoạ sĩ Ngọc Linh tức Vi Văn Bích đã có cuộc triển lãm thứ chín “Tôi Hà Nội
yêu” nhân dịp anh vừa tròn 60 tuổi (29-10-1995) đã trả lại cho chính mình quê
hương bản quán là người Tày Lạng Sơn chứ không phải Cao Bằng. Và anh đã vẽ “ông
Nội tôi” một bức lụa 85x50 đội mũ cánh chuồn, đi hia và mặc áo gấm rồng phượng
có cân đai chỉnh tề…
Mẹ tôi hiểu tâm sự của tôi. Muốn chúng tôi không mặc cảm mà
phải ngẩng cao đầu mà sống, để mà hãnh diện với đời là đã sinh ra từ một dòng tộc
của người mẹ được đất nước giao trọng trách “trân ải biên cương”. Cho nên mẹ
tôi đã trao cho tôi đọc gia phả đã được dịch.
Gia phả có ghi: “Từ đời cụ Vi Kim Thăng hiện là Đinh Mật triều
Trần, xã Vạn Phần, tổng Vạn Phần, huyện Đông Thành, Xứ Nghệ”: Quả thực tôi chưa
thể lý giải vì sao họ Vi lại có quê tại Lạng Sơn, Lộc Bình, Bản Chu? Và cũng
chưa hiểu vì sao lại trở thành dân tộc Tày?
Nhân đọc “Chính sách dân tộc thời Lý Trần Lê Sơ” của Vũ Trường
Giang - Tuấn Nam (Thế Giới mới 1999) tôi hiểu thêm những điều về chính sách dân
tộc thời xa xưa. Hiểu thêm về những điều mẹ tôi thường kế về tập tục “Thất tộc”
trong quan hệ hôn nhân tại vùng biên cương phía Bắc của Tổ quốc. Mẹ tôi kể rằng
chỉ tới thế hệ của mẹ tôi tập tục này mới bị phá vỡ.
Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, vấn đề giữ vững và ổn
định tình hình chính trị - xã hội ở vùng biên cương luôn được các triều đại
phong kiến Việt nam đặc biệt quan tâm: “… Đấy là địa bàn trọng yếu, kế cận với
quốc gia láng giềng và là khu vực có mức “ly tâm” rất lớn đối với sự kiểm soát
của nhà nước trung ương, đó là điểm dễ bị các thế lực ngoại bang lợi dụng”.
Hình như mẹ tôi nhận thức sâu sắc về chức phận của dòng tộc
mình nên luôn nhắc nhở, truyền cho con cháu có chung một nhận thức là từ ngàn
xưa nhà nước phong kiến luôn tìm phương sách hay mô hình quản lý đối với các
dân lộc vùng biên ải. Như nhà Lý dùng hôn nhân để liên kết ràng buộc các tù trưởng.
Thời Lý Công Uẩn gả công chúa Bình Dương cho Châu mục Châu Lạng là Thân Thiện
Thái, (Tập 1, trang 259 Đại Việt Sử ký toàn thư. Xuất bản năm 1983), gả công
chúa Kim Thành cho Châu mục Châu Phong là Lê Tông Thuận (như trên, trang 265)…
Chính bằng mối quan hệ thân tộc này, nhà Lý không những nắm
được dân, được đất mà còn thắt chặt mối quan hệ dân tộc, mở rộng phạm vi ảnh hưởng
của triều đình tới vùng biên giới xa xôi… Cho đến triều Lê, họ Vi cũng đã nằm
trong việc vận dụng chính sách lúc mềm mỏng lúc cứng rắn này. Và vì vậy bảy họ:
Vi, Nguyễn Đình, Hoàng, Nông, Hà… đã được giao nhiều trọng trách, duy trì chế độ
tự quản ở vùng biên giới, ban thưởng cho các tù trưởng có công một cách xứng
đáng… Nhờ vậy nhà nước phong kiến ở các thời đại đã tập hợp được hầu hết các
dân tộc thiểu số vào khối đoàn kết toàn dân cùng chống giặc ngoại xâm.
Mẹ tôi luôn tự hào về những trang nhật ký của Cụ ngoại Vi Văn
Lý cũng là với lý do như vậy.
Theo gia phả và lịch sử Thổ ty của tỉnh Lạng Sơn thì cụ tổ Vi
Kim Thăng làm quan triều Trần:
“Đến năm Hưng Long đời Trần Vi Kim Tôn do quân tịch làm quan
đến chức Đô đốc dinh tước phong vạn quân truyền đến con là: Vi Kim Đính được dự
quan chức ở Hoan Châu, tức Nghệ An bấy giờ và kiêm chức vận lương cho quân lính
đi đánh Chiêm Thành. Vì có công trong chuyển vận lương được phong tước Hằng quận
công. Đến đời con tức cháu Vi Kim Tôn là Vi Kim Thăng được tập ấm bổ chức Trực
Điện Kim đạo ty. Tuổi trẻ lanh lợi được vua yêu mến cho giữ chức Kim Ngô.
Đến khi Hồ Quý Ly cướp ngôi vua Trần, ông Vi Kim Thăng không
chịu theo, ngấm ngầm chạy sang Trọng Quốc cầu cứu nhưng việc không thành ông phải
ở lại Trung Quốc giáp biên giới nước ta. Người nhà Minh mời ông ra giúp việc
ông cũng không nhận. Khi nhà Minh sai Lý Bân, Mã Kỳ sang xâm chiếm nước ta thì
Lê Lợi (Lê Thái Tổ) nổi lên ở Lam Sơn. ông Kim Thăng cùng con trai là Vi Đình
Hân giúp Lê Lợi chống quân Minh thắng lợi (1428). Có công phò Lê nên được phong
chức. Riêng Vi Đình Hân được phong Đô đốc Đồng tri quận công đem 15000 tướng sĩ
lên Lạng Son. Từ đó họ Vi cùng 6 họ khác đời đời làm Thổ ty tập tước bảo vệ
biên cương đất Việt. Thất tộc đó là: Vi, Nguyễn Đình (1), Hà, Nông, Hoàng Đình,
Hoàng Đức và Nguyễn Đình (2).
Theo Lịch sử Thổ ty Lạng Sơn lập từ năm 1850 đến năm 1921 có
đoạn ghi đầy đủ các đời làm quan từ thời Trần cho đến thời Lê… Cụ Vi Kim Thăng,
chiêu tập dân định cư các trại, các động theo Lê Lợi đánh giặc. Giặc tan, thưởng
công, ông được liệt vào công đầu tấn phong tước Trụ quốc Thảo lộ Tả Đô đốc Mật
quận công giữ chức thủ tướng.
Năm Thuận Thiên thứ 4, vua Lê lại phái con ông Vi Kim Thăng
là Vi Đình Hân giữ chức Đô đốc Đổng tri Hoàn quận công mang hơn 3 vạn quân lên
Lạng dẹp giặc (Hồ Kim Khuê làm vua xứ Lạng) kiêm trị các nơi thuộc tỉnh Quảng
Yên”.
Mẹ tôi chỉ cho tôi xem một trang chụp trên báo cũ (từ ngày
15-3- 1940) có tóm tắt 14 đời họ Vi để tôi đối chiếu với gia phả mới dịch. Như
vậy đến đời cụ thân sinh ra ông ngoại tôi được phong “Hiệp tá Đại học sĩ, Tổng
đốc Lạng Sơn, Tràng Phái nam Vi Văn Lý”. Đó là đời thứ 13. ông ngoại tôi thuộc
đời thứ 14.
Mẹ tôi nói sau khi tôi trả lại tập ảnh chụp: “Không phải dễ
gì đời này tiếp nối đời kia vẫn giữ phẩm chất của người quan biết chăm lo việc
dân việc nước. Mất cái gốc ấy khó tìm được sử sách lưu truyền muôn thuở”.
Năm 1994, bác Kim Yến có trở về thăm quê. Con cháu cùng theo
bác vào tận Lộc Bình, Bản Chu. Nếu mẹ tôi còn chắc sẽ không vắng mặt. Trong
chuyến về quê đó, bác có dừng chân tại Lạng Sơn, cô tiếp viên có kể lại là năm
1979, thị xã bị chiến tranh biên giới phá hết, dinh Thống sứ cũng bị phá không
còn dấu vết. Bác đã chỉ cho con cháu cái thềm nhà Thống sứ. Nơi đây có sự kiện
mà bác không bao giờ quên. Đó là câu chuyện cụ Lý đã yêu cầu chụp ảnh lưu giữ lại
dấu ấn cho con cháu mai sau về một tinh thần dân tộc. Theo Quy ước thời bấy giờ,
nhà vua phong trang ấp và thần dân cho các quan cai quản, có trách nhiệm phải bảo
vệ dân. Bấy giờ một tên quan ba Pháp bắt bốn người dân trong lãnh địa do cụ phụ
trách, theo Quy ước thì phía Pháp trái luật. Thống sứ và cụ Lý, bấy giờ là Tổng
đốc, thi hành án phạt tên quan ba trước thềm này. Bác còn nhớ như in 2 hàng
quân một bên là lính Pháp và một bên là lính Cụ, tên quan ba nằm giữa có 2 người
cầm roi đánh đủ số roi theo luật. Rồi bác nói: “Quy ước được thực hiện, điều đó
chứng tỏ cụ Lý là người như thế nào”.
Vào ngày 14-10-1989, tôi đọc trên báo Thể thao Văn hoá số 41
về phát hiện hai bia niên đại Chính Hoà ở Lạng Sơn (1680) cao 1 mét, rộng 0,75
mét được đặt tại chùa Trung Thiên xứ Mẫu Sơn với 300 chữ khắc trên bia có đoạn
viết: “Đô tổng binh xứ lý, tổng binh xứ Bác quận Đô đốc Thiên sứ Vũ quận công
Vi Đức Thắng, tự là Vạn Thọ người xã Khuất Xá, châu Lộc Bình, phủ Trường Kháng
xứ Lạng Sơn đạo Kinh Bắc An Nam… Tự phát công bồ đề xây chùa lô tượng… Đời đời
con cháu làm phiên thần trung tận tiệt, trung hiếu song toàn. Thụ mệnh quốc
vương làm nhân thần, phiên trông lại phong sắc trấn thủ nội thành, ngoại thị,
chế ngự biên cương, gìn giữ quan ải, ứng phó với Thiên Triều làm cho biên cương
hai nước yên ổn, cho mạch nước được vững bền.
Tôi tìm lại gia phả, đối chiếu lại lịch sử Thổ ty thì Về quận
công Vi Đức Thắng chính là cụ tổ đời thứ 7 của dòng tộc mẹ tôi. Nhân tìm thấy
bia niên đại Chính Hoà, ông Hoàng Giáp tiếp tục tìm hiểu hai gia phả họ Vi và họ
Nguyễn Đình (cất tại nhà anh Nguyễn Đình Bảo thị xã Na Sầm, huyện Văn Lang) thì
trong gia phả Nguyễn Đình có viết: “Tướng quân Đô đốc Thiên sứ Nghi quận công
Nguyên Cẩm Miên đem 15 000 tướng sĩ lên Lạng Sơn làm chánh tuần phủ công người
bản xứ Đô đốc Đồng tri Hoàn quận công Vi Đình Hân cũng đem 15 000 tướng sĩ lên
Lạng Sơn làm phó tuần phỉ đóng tại hoàn thành cùng chia giữ biên cương chia giữ
các cửa ải Nam Quan, Bình Nhi, Bình Lăng, Thân Quan, Kết Quan. Mỗi cửa quan cử
2000 lính để trân giữ quân phương Bắc”.
Ngày 14-10-1989, khi tìm thấy văn bia niên đại Chính Hoà thì
mẹ tôi đã ra đi tròn một năm (13-10-1988). Nếu mẹ tôi mà biết được hẳn là vui mừng
lắm. Chắc mẹ tôi cũng sẽ làm như tôi, lật mở Thổ ty Lạng Sơn để biết về cụ Vi Đức
Thắng:
“Vào đời Lê Huy Tông đã được trao chức cao nhất là Đô đốc
Thiên sứ được quyền phân xử mọi việc xứ Lạng kể cả giao hiếu với Trung Quốc.
Sau khi đi sứ nước Tầu về, được thưởng binh lương hai huyện Bảo Lộc và Lục Ngạn
làm thái ấp”.
Ông Hoàng Giáp tìm dịch toàn văn hai văn bia và dịch sắc chỉ
Chính Hoà năm thứ 1 (1680) gửi cho cụ Vi Đức Thắng nhận lệnh dẹp giặc. Đồng thời
ông lần tìm ngọn nguồn hai danh nhân trong bia: Vi Đức Thắng và Thân Công Tài
thì càng thấy rõ hai vị tướng được nhân dân ca ngợi công lao như sau: “Hai vị
tướng một bản xứ họ Vi, một khác xứ họ Thân, một Tày, một Kinh, một chánh, một
phó tướng đã khéo hoà nhập với nhau cùng một lòng yên nước thương dân nên giữ
yên biên giới, chú ý nông nghiệp, phát triển thương mại, làm cho dân giầu móc mạnh…”
Ngay từ ngày ấy các ông đã có công xây dựng làm nên phố Kỳ Lừa ngày một phát
triển. Mẹ tôi thường tự hào về cụ Vi Văn Lý (ông nội của mẹ tôi) về những chiến
công hiển hách của cụ. Mẹ tôi thường viết nhật ký: “Suốt đời vai khoác áo nhung
trên lưng ngựa chinh chiến với quân phương Bắc”. Trong gia phả có riêng vài
trang tóm tắt chiến công oanh liệt của cụ Vi Văn Lý: “Năm Tự Đức thứ 6 (1854),
bấy giờ ta 24 tuổi, thưa lệnh đem quân Thổ ty đi tiễu phỉ ở phố Đồng Nhân. Lần
này được thưởng Phi Long ngân tiền. Năm sau phòng ngự ở xã Thạch Bi, lần này
cũng được thưởng… Đến năm Tự đức thứ 10 (1857), được bổ thụ Thiên Hộ.
Năm Tự Đức thứ 12 (1859), đi tiễu phỉ ở xã Yên Lập thuộc tỉnh
Quảng Yên, sau khi dẹp yên, được thưởng.
Năm Tự Đức thứ 13 (1860), đi chặn đường biên giới, được thưởng
hai lần Phi Long ngân tiền và tiền 16 quan…
Năm Tự Đức thứ 15 (1862), khi giặc cướp nổi dậy ở nhiều nơi,
làm cho nhân dân không yên ổn làm ăn… Tất cả tám chín trận tiễu phỉ đều được
công trạng, được hưởng kỷ lục và 7 đồng ngân tiền…
Tháng 3 năm Thành Thái thứ 5, phụng chuẩn hực thụ tuần phủ.
Hàm hưu đường là thường Long Bội Tinh hạng 5. Lại gia tặng cho Cha Mẹ. Cha được
tặng Thái Thượng bộc tự khanh, Mẹ được tặng Tòng tam phẩm Thục nhân…”.
Vào dịp con trai Kim Hiền, cháu ngoại của bà sang Pháp học
(1995- 1996) có lại thăm ông Hoàng Xuân Hãn. Cháu có ghi âm đoạn kể về cụ thân
sinh ra ông Hãn đã cùng ông ngoại tôi sang tận Trung Quốc chuộc hài cốt của cụ
Lý bà. (Nay mộ cụ Lý đặt tại Lộc Bình quê hương họ Vi).
Đến đời ông ngoại thì Tây không để ông tôi làm quan trên biên
giới nữa. Đó là chính sách điệu hổ ly sơn của thực dân Pháp. Mới đầu chúng đưa
ông tôi rời quê làm tuần phủ Cao Bằng (1920), sau rồi chuyển về làm Tuần phủ
Phúc Yên (1922). Rồi từ Phúc Yên chuyển về làm Tuần phủ Hưng Yên (1925). Ngày ở
Hưng Yên bác Kim Thành đã lấy chồng chỉ còn ba chị em Kim Yến, Kim Ngọc và Kim
Phú đi theo cha mẹ. Tại nơi đây mẹ tôi đã được học cô giáo Yến sau này là Hiệu
trưởng trường Trưng Vương Hà Nội. Tháng 8 năm 1928, ông ngoại tôi được thăng Tổng
đốc về nhậm chức ở Thái Bình.
Bác Kim Yến kể rằng ông rất có kiến thức lãnh đạo, bác đã chứng
kiến ông làm lợi cho dân như khai thác dẫn thuỷ nhập điền, vớt bèo Nhật Bản để
khỏi ảnh hưởng mùa màng. Sáng lập ra bãi biển Đồng Châu. Mùa hè bác thấy rất
đông công chức, quan lại ra tắm… Bác kể rằng hồi ấy ngoài lính cơ, ông ngoại
tôi còn có một đội quân riêng là người Thổ (Tày). Ông đón một thầy võ người Tầu
về huấn luyện cho đội quân này. Bác Vi Văn Lê cũng đã động viên bác Kim Yến và
mẹ tôi tham gia tập võ. Mẹ tôi thường nói với tôi: “Chẳng cứ cầm kỳ thi hoạ mà
cả võ nghệ, cưỡi ngựa mẹ cũng luyện tập chẳng thua ai”.
Thỉnh thoảng chúng tôi cùng mẹ tôi sang thăm hai bác Tú Cương
ở 13 Lý Thường Kiệt. Bác lại kể cho chúng tôi nghe vài mẩu chuyện về ông ngoại.
Lượm lặt được chuyện nào tôi lại ghi vào trang giấy để hôm nay chép ra. Khoảng
năm 1932 - 1933 gì đó, lúc bấy giờ bác Lê vẫn còn (bác mất năm 1934), ông đã kể
cho các con nghe về vụ Cộng sản định ám sát ông. Có một người muốn gặp cụ Tổng
đốc, nghe báo vậy cụ cho gặp riêng ngay trong phòng làm việc không cần lính
canh. (ông không thích gọi bằng cụ vì ông muốn dùng từ “ông” kiểu Pháp - bác
nói vậy). Người đó ngồi đối diện bàn, hai tay đút túi quần. Ông nghĩ là có vấn
đề nên ông cũng kéo ngăn kéo ra và tay sẵn sàng khi cần đến súng… Sau cuộc đối
thoại giữa hai người thì người kia nói: “Tôi được lệnh ám sát ông, nhưng sau
khi đối thoại, tôi hiểu ông. Kể từ nay chúng ta hiểu nhau là sẽ làm như tinh thần
đó”. Kể rồi bác Yến nói: “Bác chỉ tiếc là không nhớ tên người đó. Nhưng mà làm
Cách mạng thì có biết bao nhiêu là tên!”. Bác tự giải thích như vậy. Tôi cho đó
là ông Ba Ngọ nhưng bác bảo không phải, vì nếu vậy thì ngày gặp nhau ở phố Ngô
Quyền năm 1946, ông Ngọ đã ôn lại việc này rồi!
Bác Tú Cương thấy tôi quan tâm muốn hiểu về ông ngoại. Chợt
nhớ lại chuyện gì thì kể: “Có lần chính trị phạm bị mất tích. Thực ra là trốn mất.
Nhưng nó vu cho ông là thủ tiêu, đưa ra toà. Về sau chúng bắt lại được thì nó lại
ve vãn mời ông lên. Khi về ông giơ mấy đồng xu cho mọi người xem mỉa mai nói
“tiền bồi thường danh dự”. Sau vụ này ông ngoại tôi viết đơn xin từ quan về hưu
trước tuổi. Đó là vào năm 1942.
Bác Tú Cương kể rằng ông là người tiến bộ, kịch liệt chống
phong tục tập quán xấu như mê tín dị đoan đốt vàng mã. Ông đặc biệt ghét cờ bạc,
trộm cắp. Đến đâu làm quan ông cũng lo làm giầu cho địa phương mình cai trị,
không để Tây khinh miệt.
Có lần mẹ tôi nhắc bác Tú Cương kể cho chúng tôi nghe về trận
đòn của chú Vi Văn Kỳ khi làm quan tri phủ. Vì chơi bạc thua đem bát nhang “ông
đầu râu” nhốt vào lô cốt - ý nói là đã không phù hộ để chú thắng bạc. Ông đã gọi
về đánh cho chú Kỳ một trận và từ đó chú không bao giờ đánh bạc nữa.
Ngày bé tôi cũng láng máng nghe được là ông đánh đến nỗi ảnh
của mẹ chú Kỳ treo trên tường phải rơi xuống đất (bà đã mất). Đối với quân trộm
cướp ông trị thẳng tay. Ông thường đem nhốt vào lô cốt.
Nhưng mẹ tôi kể chính trị phạm thì ông chỉ giam ở nhà tắm và
buổi trưa lên đọc báo cho ông nghe. Chính ông Ba Ngọ và ông Vũ Đình Huỳnh đã từng
đọc báo cho ông kiểu ấy. Một lần tôi đến thăm cô Phượng người cùng cơ quan ở phố
Khâm Thiên, biết tôi là con cháu họ Vi, bố chị đã kể cho chúng tôi nghe về ông
ngoại tôi đã lo xây dựng dẫn thuỷ nhập điền cho vùng Thái Bình. Mỗi kỳ đắp đê
và làm mương cụ Vi còn khoác áo dân để tuần tra xem dân làm ăn. Và chính ông kể
cho tôi về công ông ngoại tôi cải tạo xây dựng bãi biển Đồng Châu. Mẹ tôi tả về
cảnh đường quê rợp bóng mát cũng là do ông đôn đốc chăm lo. Bố chị bạn tôi cũng
kể như vậy với một tình cảm chân thành kính nể.
Mẹ tôi đưa cho tôi xem gia phả, giải thích cho tôi hiểu về
lòng yêu nước của ông bắt nguồn từ nhiều đời truyền lại với một nhiệm vụ trấn ải
biên cương. Mẹ tôi chỉ cho tôi xem di chúc ông làm vào ngày 11 tháng 5 năm Bảo
Đại thứ 15 ở Bản Chu, tức ngày 16-6-1940. Sau khi các con ký đầy đủ, cuối bản
di chúc có đoạn viết: “Sau khi ta mất, đám ma phải làm rất đơn giản, không được
bày lễ nghi phiền phức, phí tổn và đọc discours lôi thôi. Nhất thiết không được
làm chay, làm đàn đốt vàng đốt mã. Ký tên Vi Văn Định.
Ông ngoại tôi đã mất vào ngày 20 tháng 10 năm ất Mão, tức là
vào năm 1975. Sau khi làm di chúc 35 năm ông tôi thọ 96 tuổi. Như vậy ông ngoại
tôi đã sống gần được một thế kỷ sống trong hai chế độ.
Ngôi nhà “Ha le”
Bà ngoại tôi chịu cảnh năm thê bảy thiếp cũng là tình trạng
chung của xã hội phong kiến. Ông ngoại tôi tuy đa thê nhưng đối với các con và
các cháu thì ông là người cha, người ông hết mực quan tâm đồng thời hết sức vì
nể bà ngoại.
Bác Kim Yến kể rằng: ngày ấy bác và mẹ tôi được ông cho lên
Hà Nội học piano. Bấy giờ cô Kim Phú mới 10 tuổi nên chưa được theo học đàn Hai
chị em được ông cho học thầy người Pháp giỏi nhất có tên là Poinsigon. Lên Hà Nội
học, hai chị em còn nhút nhát không biết phố nào ngoài phố Cột Cờ. Học xong
theo ông lái xe về ngay. Ông chăm con mà lại nghiêm khắc giáo dục theo nếp gia
phong phải lễ độ tôn ti trật tự, sai một tý là ông cho mấy roi ngay. Cho nên
bác viết:
“Chúng tôi sợ bố lắm”.
Bác còn nhớ những ngày bác cùng mẹ tôi theo bà ngoại cùng ông
cưỡi ngựa vào rừng săn bắn. Bà ngoại tôi thạo ngựa, cho nên lần bà giận ông đã
bỏ về Lạng Sơn, bà bị ngã ngựa chấn thương sọ não và qua đời ngày 24 tháng 11
năm Dần, tức là đầu năm 1939. Cô Kim Phú sợ khi mẹ tôi đi lấy chồng sẽ phải
thay mẹ theo bà ngoại học tập nội trợ quản lý gia đình. Khi chú Hồ Đắc Di hỏi
là cô không chờ mẹ tôi lấy chồng đã nhận lời liền. Chính vì vậy năm 1936, sau
khi lấy cha tôi, mẹ tôi vẫn muốn ở gần bà vừa là để đỡ đần bà ngoại vừa để bà đỡ
cô đơn Sau khi sinh tôi (năm 1937) thì năm 1939 bà ngoại mất. Ông tôi giữ mẹ
tôi ở lại bên cạnh ông để quản lý gia đình, giúp ông tiếp khách và chăm sóc đàn
cháu (từ các nơi gửi về học ở Hà Nội). Đó là lý do vì sao gia đình nhỏ của cha
mẹ tôi lại về ở 59 Trần Bình Trọng. Ngôi nhà ông vừa mới xây dựng xong. Đó là
ngôi biết thự cao 3 tầng trước mặt là Hồ Thiền Quang (có một thời là Nhà Khách
Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam). Bên hồ có hai ngôi chùa Thiền Quang và
Quang Hoa. Hình như vì sức khỏe, mẹ tôi đã bán khoán tôi cho cửa Phật mang họ
Ngô cũng ở ngôi chùa này. Mẹ tôi kể bán khoán rồi ra Kháng chiến không chuộc lại
nữa và như vậy cho đến nay tôi vẫn là con nuôi cửa Phật. Chúng tôi gọi ngôi nhà
(59 Trần Bình Trọng) hiện nay của ông là “nhà Hale”.
Trong 10 năm đầu ra làm việc, cha tôi miệt mài với sự nghiệp
nghiên cứu và dạy học, còn mẹ tôi thì lo toan gánh vác việc nhà. Không những mẹ
tôi lo toan gánh vác gia đình nhỏ mà tôi còn tận mắt nhìn thấy mẹ tôi đảm đang
gia đình lớn của ông ngoại tôi như thế nào. Hoạt động của mẹ tôi tại nhà Hale
thì bận bịu liên tục. Khi thì đón bác Cả, chú Dư từ Lạng Sơn về, khi lại đón
bác Chinh từ Yên Thế sang. Mỗi lần đón rất đông các anh chị cùng về. Mọi người
mang cam, bưởi, nhãn, vải về biếu ông mùa nào thức ấy. Rồi những dịp tết cổ
truyền, lết Đoan ngọ, bác Cả, chú Dư mang về các loại rau lá đông trùng hạ thảo
(loại cây mùa đông thành sâu mùa hè là cỏ) rất lạ. Mọi người dùng các loại lá
thổi xôi tím, xôi vàng rất đẹp. Những ngày ấy nhà “Hale” nhộn nhịp hẳn lên và mẹ
cũng bận bịu vô cùng. Ngôi nhà Hale rộng lớn, nhiều phòng. Riêng vườn cây rất đẹp,
có bể nước giữa sân, xung quanh bể có vài cây quế. Đôi lúc tôi hái trộm nhai thử
lá quế ngọt ngọt… Sau vườn có một chuồng thú nhỏ. Trong đó có nhiều thú lạ. Tôi
chỉ nhớ có lần bác Cả Diệm mang về biếu ông con công, con gà gô…
Cha mẹ tôi được chia ở trên tầng ba là tầng cao nhất. Tôi chẳng
nhớ có mấy phòng song chắc chắn là có phòng cha mẹ và tôi ở, một phòng của Bích
Hà và Nữ Hiếu và một phòng làm việc của cha tôi. Bên cạnh là phòng của cô Kim
Quý và chị Vi Nguyệt Hồ (con gái bác Cả Diệm). Bước qua sảnh đường là sang
phòng ông ngoại. Ông tôi còn một phòng ngủ ở tận trên tầng thượng. Thỉnh thoảng
tôi mới lên trên đó, còn phòng ông ở tầng ba thì tôi vẫn thường tự do vào khi có
ông ở nhà. Mặc dầu còn bé nhưng tôi lờ mờ hiểu các anh chị em họ sống tại nhà
“Ha le” rất sợ ông. Sau này mẹ tôi luôn nhắc lại là mẹ tôi không chấp nhận thái
độ và hành vi gia trưởng đối với con cháu của ông. Ông luôn áp đặt, võ đoán và
đánh đòn. Cái lối cư xử đó chỉ làm cho con cháu sợ hãi mà vâng lời mù quáng,
cũng như mọi người rồi sẽ trở nên yếu đuối hoặc phản kháng ông mà thôi!
Riêng tôi tuy lớn lên ở trong bối cảnh xã hội nhỏ của ngôi
nhà rộng lớn này nhưng tất cả đều khắc sâu trong tâm trí tôi và đều rất đẹp. Bởi
lẽ tuy sống trong cộng đồng này tôi vẫn là đứa trẻ được cha mẹ dành cho tôi sự
yêu chiều tự do phát triển hoàn toàn. Không có hình bóng bị ông áp đặt trong
tôi. Và hình như ông ngoại vì nể cha mẹ tôi thì phải. Tôi vẫn lớn lên như tôi vốn
có. Mẹ tôi nổi tiếng trong họ nội ngoại là yêu chiều con. Tầng hai dưới phòng
ông ở là phòng tiếp khách nhỏ. Ở đây ông thường xuyên tiếp khách. Phòng bài trí
theo kiểu Á Đông, có sập gụ tủ chè bóng hoáng. Còn hai phòng lớn chiếm cả tầng
hai là phòng ăn và phòng khách, có thảm trải giữa phòng là da con hổ, ngoài cửa
tại sảnh đường cũng trải bộ da báo lớn. Xung quanh phòng có giá gỗ thấp, có tủ
kính bày đồ mỹ nghệ. Trên đó có ảnh cụ Lý. Tấm ảnh Cụ chụp lúc còn trẻ, trên đầu
còn có búi tó. Mẹ tôi chỉ tấm ảnh cụ Lý cho tôi xem cái búi tó củ hành. Về sau
này mỗi lần nhớ về cụ tôi hay liên tưởng tới câu: “Búi tó củ hành làm anh thiên
hạ”. Nơi đây ít mở cửa. Nhưng mỗi lần mở cửa tiếp khách tôi đều theo mẹ vào và
chạy chơi trong phòng. Những buổi tiếp khách của ông ngoại tôi rất uy nghi và
thịnh soạn. Lần nào khi tiếp khách Tây cũng thấy ông bà Nô được nhắc đến. Tình
cờ một hôm bác Kim Yến chỉ cho tôi là ông bà Nô trong ảnh cưới cha mẹ tôi ở
Thái Bình, tôi mới hỏi hai lịch vợ chồng người Tây mà ông ngoại tôi chơi thân.
Đó là giám đốc Nha học chính Bắc Kỳ. Nhờ sự giao lưu đó ông ngoại tôi đã cho tất
cả các con cháu trai, gái di học.
Tầng một có rất nhiều phòng, là nơi ở chính của các anh chị
em họ. Tôi đã lớn lên trong ngôi nhà này cho đến tuổi lên 7. Dù trong thời gian
không dài, nhưng khu vực cộng đồng gia đình này cũng đã ít nhiều tạo nên tâm
tính cho một đứa trẻ. Trước tiên là mối giao tiếp giữa người thân trong họ được
nhận biết từ sớm để rồi học ở các anh các chị cách sống chan hoà, nhịn nhường lẫn
nhau. Biết lẽ đời thông qua chăm sóc người ốm, trẻ nhỏ của mẹ tôi tuy cần phải
công bằng nhưng phải giữ tôn ti trật tự kính trên nhường dưới, ưu tiên những
người gia yếu, bệnh tật…
Sống cùng anh chị em họ
Ở tầng một, phòng đầu dành cho bác Cả thỉnh thoảng về nghỉ (bởi
vì trong phần chia gia tài nhà “Hale” đứng tên bác Cả). Tôi nhớ được là bởi vì
có lần tôi vào phòng có bác gái phải đứng trên ghế soi gương chải tóc. “Tóc bác
dài quá chân, vấn khăn có đuôi gà rất đẹp”. Đó là mẹ tôi nhớ về bác như vậy.
Trước phòng của bác cả Diệm là một giàn hoa phong lan. Các giò phong lan treo lủng
liểng và nở nhiều hoa. Sau này khi bác cả Diệm sống ở 13 Lý Thường Kiệt cùng
gia đình bác Tú Cương, tôi vẫn thấy sự đam mê của bác: bác dùng xi lanh tưới
cho các giò phong lan bác treo quanh một cây cổ thụ. Anh Vi Văn Lân trạc tuổi
tôi, thỉnh thoảng về thăm ông cũng ở phòng đó. Tết Trung thu, mẹ tôi mua cho
hai anh em chơi các con tò he bột màu xanh, trắng, hồng rất đẹp. Anh rủ tôi
chui xuống gầm giường “ăn con giống này ngọt lắm vớ!”. Quả là ngọt thật… Đó là ấn
tượng duy nhất nhớ về anh. Sau này anh sang Pháp học lấy vợ và ở luôn bên đó.
Ông Hoàng Xuân Hãn kể cho cháu Hiền biết ông là người xin việc cho anh làm thợ ở
một xưởng in.
Dưới nhà có anh Cơ con bác Chinh bị ho lao phải sống cách ly.
Còn đầu hồi là nơi anh Phiên ở. Phiên là con chú Dư, người cao gầy xanh. Mẹ tôi
bảo: “Phiên bị đau tim đấy”. Còn anh Ái con bác Cả, anh Lục con bác Chinh, anh
Phác, Mãn con chú Dư đều ở tầng một. Thỉnh thoảng còn có Thường, Cần, Linh,
Hoàn con chú Dư cũng về chơi, về học. Tôi không còn nhớ nhưng biết các anh đã sống
tại ngôi nhà Hale này. Chế độ ăn uống cho từng ấy người trong nhà đều do mẹ tôi
sắp đặt cho bác Vi Thuận nấu ăn. Tôi nhớ một lần duy nhất vào bếp thấy bác mặc
tạp dề, đội mũ trắng cao, cầm đũa rất dài đang nướng chả viên thơm ngon. Tôi có
hỏi thì bác nói là “để cho chú CƠ và chú Phiên”. Khi hoà bình lập lại (1954), mẹ
tôi đã đón bác Thuận từ Thái Bình ra nấu cơm cho cha tôi theo tiêu chuẩn Bộ trưởng
có một cấp dưỡng. Chúng tôi đã đón chị Về con bác Thuận về Hà Nội khi tôi sinh
cháu Hậu. Cha mẹ chúng tôi tiễn đưa con trai bác Thuận là em Lưu vào Nam chiến
đấu như tiễn chân con em trong gia đình. Khi mẹ tôi bị ốm, chị đã về thăm rất
chu đáo. Hàng năm giỗ ông ngoại, con cháu bác Thuận vẫn lên Hà Nội thắp hương.
Tôi không nhớ vào lúc nào thì anh Cơ và anh Phiên mất, nhưng
tôi biết khi đó các anh còn rất trẻ. Ngày chúng tôi ngược dòng Sông Lô lên Việt
Bắc có đỗ lại một bến gọi là “Quả Cảm”, mẹ tôi đã ghi lại nhật ký là “Các bác
đi tìm mộ Phiên mà không thấy”. Các anh và chị Hồ đều đi học trường Pháp - Việt.
Riêng cô Quý và chị Lạng (con bác Chinh) thì học trường Đồng Khánh. Chị Hồ luôn
mặc váy đầm đi học, về nhà nhảy múa quay vòng cả ngoài hành lang. Còn cô Quý và
chị Lạng thì mặc áo dài, về nhà hát “lá là la, đôi cánh của ta. Bấy lâu ta sống
đời giam hãm, như trong chậu nuôi con cá ly, như trong lồng nuôi chim sơn ca…”.
Tôi cứ theo các chị hát mà thuộc và diễn tích “Hươu Tuần Lộc”
Các anh các chị còn được ông dành cho một phòng học và một thầy
giáo đến tận nhà ôn tập giảng thêm bài… Sở dĩ tôi còn nhớ được là bởi vì hôm đó
tôi ngồi ngay trên bàn đầu và “dự giờ” của thầy giáo Khánh với hình ảnh ngón
tay trỏ của thầy bị băng. Năm 1987, 1988, thầy vẫn qua thăm mẹ tôi. Tình cờ con
tôi qua Pháp học lại gặp con thầy cũng đang học ở bên đó. Những lúc rỗi, mẹ tôi
cùng tôi ngồi tập piano. Mẹ tôi lại “biểu diễn” cho tôi xem mẹ đánh đàn tam thập
lục. Mỗi tuần một vài lần gì đó, chị Hồ dẫn tôi và Thể Lan (con cô Di) đến một
bà giáo người Pháp vừa học nhạc vừa tập đàn.
Chị Hồ và cô Quý được một thầy đến tận nhà dạy đàn tam thập lục.
Một hôm ông ngoại tôi phải tiếp thầy hết buổi mà không thấy các chị về. Sau này
ông mới biết các chị không thích học đàn cổ. Các chị bị một trận đòn về tội vô
lễ, rồi ông đã cho các chị chuyển sang học đàn piano. Chị Hồ và cô Quý đua nhau
ngồi trên tay vịn cầu thang gác từ tầng ba tụt xuống tầng một. Ông tôi đứng chờ
ngay dưới chân cầu thang rồi cho một bài thuyết giáo “con gái phải đoan
trang…”. Tuy sống trong cùng một nhà, trẻ con ở các cỡ tuổi khác nhau, mà tôi
không bao giờ thấy có sự ồn ào cãi cọ, luôn luôn giữ sự êm ấm như anh chị em một
nhà. Ông tôi thường ăn cơm cùng cha mẹ tôi và các cháu. Thỉnh thoảng ông lại tổ
chức cho các cháu ăn cơm Tây vào buổi chiều để các con cháu quen cách dùng nĩa
dao. Bữa cơm thường khá nặng nề. Bởi vì ông tôi hay chờ lúc gặp mặt con cháu để
nhắc nhở. Ngay cả khi đang ăn cũng phải chỉnh đốn từ cách ngồi đến cách và cơm
hoặc phải vét sạch cơm trong bát… Ngày nay coi những sự uốn nắn hành vi theo
phép lịch sự xã giao, đối nhân xử thế… là gò bó, câu thúc giả tạo, cổ hủ. Nhưng
thực ra ở một chừng mực nào đó thay lời giáo huấn nguyên tắc chung chung vẫn là
việc làm hợp lý. Để tạo thành tập quán, đào luyện con người dần dần tự giác
hình thành những đức tính đáng quý.
Cũng không hẳn là do sự nhắc nhở đe nẹt của ông mà các anh
các chị cảm thấy nặng nề. Điều quan trọng hơn, tuy ông tôi người bé nhỏ nhưng
cái uy của ông lúc nào cũng làm cho mọi người vì nể thì phải. Riêng ông đối với
tôi, lại hoàn toàn không có cảm giác đó, tôi chỉ thấy lúc nào ông cũng vui vẻ
xoa đầu tôi và cù kí làm tôi rất buồn cười. Đến ngày ông đã già 96 tuổi, ông vẫn
trò chuyện với tôi như người bạn. Ông kể cho tôi nghe ngày xưa cụ đẻ ra ông
trong bọc như vỏ trứng non ấy, người ta phải cắt vỏ bọc thì mới đón ông ra đời
được. Ông thường dặn tôi những chuyện đại loại: “ăn đu đủ phải nhớ giữ vỏ, nếu
bị ngộ độc thì đốt lấy than mà uống mới thoát độc…”.
Ông quan tâm từ việc rất nhỏ. Ví như một hôm ông phát hiện cô
Quý biết đi xe đạp, liền bảo mẹ lấy mấy chai rượu Tây bán đi để mua xe cho cô
Quý. Áo bật chỉ ông nói cô Quý đính lại “con đỉa” làm tôi phải tò mò xem như thế
nào là “con đỉa” của áo.
Sau 30, 40 năm lăn lộn với cuộc chiến tranh giành độc lập, thống
nhất đất nước, nhìn lại quá khứ anh Chu Quang đã tâm sự: “Cụ Vi phải là
Bonconski của Lép Tonstoi, bởi nhân vật đó là cơ sở của chế độ sản sinh ra con
người đó có cái tích cực, cũng muốn Âu hoá nhưng đồng thời lại là một quan chức
cao cấp, cho nên cuộc sống là một sự pha trộn giữa văn minh và đậm những nét lạc
hậu của chế độ phong kiên đã có hàng nghìn năm”.
Số phận từng người
Số phận của các anh chị sống bên ông ngoại cũng thật chẳng ai
giống ai. Nhưng có một điều chị Hồ và cô Quý khi lấy chồng ra làm việc cơ quan
nhà nước tôi đều thấy các chị giống nhau ở một điểm hai người đều là người vợ,
người mẹ rất đảm đang và rất mực yêu thương chồng con. Biết hy sinh sự nghiệp của
riêng mình để dành cho chồng có thời gian và tâm trí gánh vác việc nước vẹn
toàn, tự giành lấy việc nuôi con được chu đáo.
Công việc xã hội các chị đều làm với tinh thần kỷ luật, ý thức
trách nhiệm cao, hết lòng vì người bệnh nhưng không hãnh tiến mà hết mực khiêm
nhường, chan hoà với tất cả mọi người.
Chị Hồ đủ sức để có thể học cao hơn nhưng suốt cuộc đời không
hãnh liến chỉ làm một việc thành thạo gây mê cho các ca mổ của anh Tôn Thất Tùng
(chồng chị).
Cô Quý một mình gánh vác việc nhà để chú Trần Bá Kỳ hoàn
thành nhiệm vụ của bác sĩ, Viện phó Quân Y viện trong hai cuộc chống Pháp và chống
Mỹ. Có lúc cô phải làm bánh bán và nuôi trẻ để ổn định cuộc sống gia đình. Khi
các con khôn lớn, cô đã toàn tâm lo việc phục vụ Bệnh viện. Khi nghỉ hưu cô là
thiếu tá Quân Y và chú Kỳ là Đại tá Quân Y.
Anh Ái, Phác, Mãn, Lục đều tham gia Cách mạng từ những năm
1945, 1946. Sau này các anh đều là chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt nam. Ngày
1-10-1948, mẹ tôi viết nhật ký khi đang ở Thanh Thuý: “ Những đứa cháu thân yêu
Ái, Phác, Mãn, Lục đang ở trong Quân dội trẻ tuổi. Các cháu cũng thiếu thốn vật
chất như toàn quân, nhưng các cháu có đầy đủ tấm lòng vì nước vì dân. Cô vô
cùng tự hào có các cháu… Cô bằng tuổi các cháu mà cô không dám mạnh dạn chọn
cho mình chí hướng mà mình ước mong đấy… Ái, Mãn, Phác, Lục sẽ làm rạng rõ cho
ông cho cha mẹ sung sướng tuổi già”.
Hoặc có lúc mẹ tôi viết riêng cho anh Phác, có lúc mẹ tôi viết
riêng cho anh Mãn, anh Ái: “… Cô mong các cháu không thẹn với dòng họ ta, dòng
họ cũng một thời oanh liệt chống giặc ngoại xâm, bảo vệ biên cương của Tổ quốc…
Các cháu hãy cố gắng học tập rèn luyện để trỏ thành những chàng trai đất Việt
thời Trầu Quốc Tuấn (1948)”.
Tháng 4 năm 1948, mẹ tôi gặp lại anh Phác (sau khi tiễn anh
đi Nam tiến): “Bất ngờ quá! Không đợi mà tới. Ôi thương quá. Mấy năm bác cháu
xa cách… Bác cháu cùng lệ rơi đầm đìa vừa vui gặp nhau. Vừa buồn thấy Phác gầy
xanh… (anh bị đau tim giống như bệnh của anh Phiên vậy).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét