Hồi ức về Nguyễn Văn Huyên 2
Mẹ đẹp như tiên
Các bạn của mẹ
Các bạn của mẹ tôi tặng thơ:
“Cuộc đời chị đẹp tươi vui quá
Thật đúng cảnh liên ở dưới trần” (bác Quy).
Nguyễn Thị Đạm Quy
Mẹ tôi sinh ngày 14 tháng 2 năm 1916. Ở tuổi mười tám đôi
mươi, mẹ tôi và cô Kim Phú được mệnh danh là “ngôi sao tỉnh Thái Bình”. (Có ảnh
đăng trên báo).
Cô giáo Thịnh ở tỉnh Thái Bình là bạn của mẹ tôi. Sau này bác
Thịnh lấy ông Đỗ Xuân Hợp, Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt nam. Bác Thịnh
cho tôi xem hồi ký, tôi đã xin bác cho chép một đoạn: “Cụ Vi Văn Định Tổng đốc
Thái Bình được thưởng Bắc Đẩu Bội tinh. Trong dinh mở hội ăn mừng linh đình.
Toàn tỉnh Thái Bình và các tỉnh lân cận đều có đại diện đến mừng. Các giáo viên
nam nữ chung nhau sắm lễ vật vào mừng. Vào cửa quan dù là vào mừng chẳng ai muốn
đi. Các bạn bảo tôi: “Trường nam đã cử đại diện rồi, trường ta, chúng tôi cử cô
để cô ra mắt cụ lớn” Từ chối không được tôi đành phải theo ông giáo đại diện
vào mừng. Tự xét mình bé nhỏ tôi đi theo. Tới dinh cụ Thượng, tôi giật mình trước
cảnh huy hoàng chưa từng thấy. Ông giáo vội đặt khay đồ lễ lên kỷ kê trước sập
và lễ phép chúc mừng. Ông chưa nói hết lời thì cụ lớn đã chỉ vào tôi và bảo: “Có
phải cô giáo này mới xuống đây không? Sao hôm nay mới đến chào?”. Trời ơi,
không có chỗ nào ở dưới đất cho tôi chui xuống! Tôi đành mạnh dạn bước lên
trình bày…
Rồi cụ Thượng đứng phắt dậy vừa cưới vừa vui vẻ đến thẳng chỗ
tôi bảo: “À ra thế” rồi không nói gì cả, cụ lắm lấy tay tôi dưa ngay mấy vòng
van-sơ quay khắp phòng dưới con mắt kinh ngạc của mọi người. Bản nhạc vừa hết,
chưa hoàn hồn, cụ Thượng đã truyền cho cô Kim Ngọc, con gái xinh đẹp của cụ đưa
tôi xuống chào cụ Bà. Thường nghe nói: “Lệnh ông không bằng cồng bà” cho nên mới
nghe thấy xuống chào cụ Bà tôi đâm hoảng… Cụ Thượng bà tiếp khách dưới nhà
ngang, rộng rãi lịch sự chẳng kém sảnh đường… Cụ Bà to lớn hơn cụ ông, nhlác
trông có vẻ người hiền hậu. Ngọc chắp tay lễ phép giới thiệu tôi, cụ khẽ gật đầu
chưa nói… thì Ngọc đã đưa tôi vào phòng riêng. Trong đó đã có chục cô thiếu nữ
đều là xinh tươi. Không cô nào kém cô nào, ăn mặc lịch sự, toàn là quốc sắc thiên
hương cả. Thế là các cô xúm xít ngay lấy tôi hỏi chuyện không kịp trả lời Kim
Ngọc gọi tôi bằng tên không, như quen thân nhau từ bao giờ ấy. Thú thực tôi có
cảm tình ngay với Ngọc, nhưng còn dè dặt sợ bảo “thấy người sang bắt quàng làm
họ”…
Cái làm tôi thích thú nhất là Ngọc đánh dương cầm hay lại biết
vẽ, tính tình ý nhị nhẹ nhàng. Theo tôi thật là một người lý tưởng. Tuy học còn
ít nhưng thông minh lại có thừa. Tôi còn nhớ đã đọc được một quyển sách Pháp
nào mà tôi quên mất tên “Với một tấn học thức, có khi chưa chắc đã mua được một
gam thông minh”. Em ruột Ngọc là Kim Phú học sinh của tôi. Phú còn bé lườí học,
có khi bỏ cả bài không làm, bảo mãi không chuyển tức mình có lúc tôi cũng cộc
vào đầu và bắt đứng lên chịu phạt úp mặt vào tường. Ngày ấy đánh học trò là thường…
Một hôm có bà giáo bảo tôi: “Cô tợn thật! Dám đánh cả con cụ Thượng. Nó mách bố
nó thì chết? Kệ nó học đến đâu hay đến đấy. Việc gì mà mang vạ vào thân”. Giật
mình tôi thấy e ngại, đã thế ta mách trước cho mà xem.
Thứ năm gặp Ngọc tôi gợi ý việc học hành của Phú… Ngọc bảo:
“Để mình mách thầy”… Lần sau Ngọc bảo tôi: “Mình mách rồi đây, cụ bảo cứ để cho
cô giáo đánh cho biết thân! Thế là xong, mọi việc yên ổn cả”.
Ông ngoại tôi là người công minh và biết thực sự lo cho con học
hành tử tế. Sau này khi mãn hạn dạy ở tỉnh, cô giáo Thịnh trở về dạy ở Trường
Lò Đúc Hà Nội. Hai người vẫn thường xuyên trao đổi thư từ cho nhau. Hồi còn ở
Hà Nội, sáng nào trước khi đưa con đến trường, mẹ tôi cũng ngồi bên bàn gương
và lần lượt gọi tôi và Hà đứng trước gương để chải đầu, sửa móng tay bằng chiếc
kéo xinh xinh cong cong hay bằng chiếc kìm bấm bé tẹo được cất trong hộp đặt
trên mặt bàn rất gọn gàng ngăn nắp.
Đứng trước gương ba mặt, lựa vào lòng mẹ ngắm bên trái rồi
bên phải, hướng nào tôi cũng thấy mẹ đẹp như cô tiên. Ánh mắt dịu hiền toả một
lình yêu thương vô hạn. Vì thế mà vẫn khuôn mặt ấy, ánh mắt ấy, tôi vẫn đọc được
những lúc mẹ nhíu mày không vừa lòng. Những lúc nào có khách, đi trên đường phố
hoặc làm điều gì không phải, chỉ nhìn mẹ là tôi biết phải xử thế nào theo ý mẹ…
Chúng tôi có đủ các kiểu ảnh mẹ tôi chụp ở vào tuổi 20, 40,
50, 60, 70. Tấm ảnh nào mẹ cũng đẹp, ngay cả lúc tuổi đã già. Ánh mắt sáng tươi
lạc quan yêu đời và rất dịu hiền của mẹ tôi như đang nhìn chúng tôi. Chúng tôi
đã phóng to treo hết lên tường để ngắm mẹ mà không biết chán. Chỉ thiếu ảnh chụp
ở tuổi 30 vì lúc đó là vào lúc bước vào cuộc kháng chiến, là những ngày tản cư
di chuyển luôn luôn, cũng chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ tới chụp ảnh. Vào năm
1980, có một chú mang đến tặng mẹ một tấm ảnh đăng trên báo từ xa xưa, năm
1935… Ảnh chụp hai cô gái mặc áo dài, đeo kiềng vàng dưới đề: “Cô Kim Ngọc và
Kim Phú hai ngôi sao sáng của phiên chợ Thái Bình, hai cô không dự thi sắc đẹp”.
Mẹ tôi cho tôi biết đó là bức ảnh mẹ tôi và cô Di mặc áo nhung màu huyết dụ vô
tình bị người ta chụp. Tuổi 20 mẹ tôi đẹp như vậy. Con gái tuổi ấy thường được
“trời phú” cho là vậy.
Tôi tốt nghiệp đại học trở về nhà sau 12, 13 năm không được gần
mẹ, tuy mẹ tôi luôn giữ nếp tuần nào tháng nào cũng biên thư cho các con. Mẹ
tôi mong tôi sống xa mẹ nhưng không tuột khỏi tay mẹ. Nhưng không thể bù lại được
những thiếu sót ngày càng bộc lộ trong tôi. Giữ phong cách giản dị, gần gũi người
lao động mà tôi được tập thể nuôi dưỡng nhưng quá lệch lạc ở chỗ không biết trang
điểm làm đẹp bản thân. Ngược lại quá cẩu thả, lôi thôi, lếch thếch, luộm thuộm
mà tôi cho đó là hay. Mẹ tôi thường nhắc: “Hạnh phải giữ gìn cho đẹp trước mặt
cả chồng con. Ngay cả khi ở trong nhà cũng phải đẹp như lúc ra đường”. Làm đẹp
để những người thân yêu của mình yêu mến cũng là nhiệm vụ của những người phụ nữ
trong gia đình. Không những mẹ tôi coi trọng hình thức để làm đẹp lòng người
thân mà hơn thế mẹ tôi còn chú ý làm đẹp lòng phần tâm hồn của chồng con, bạn
bè và họ hàng thân thích. Nguyên tắc đó trong mọi nơi, mọi lúc đều được mẹ tôi
quán triệt. Vì thế mới có những lời ca ngợi sắc đẹp của mẹ tôi không phải chỉ ở
tuổi 20 mà ở vào tuổi 60, vẻ đẹp của mẹ tôi được bạn thơ tặng:
“Ai dám tin rằng bạn sáu mươi
Vẫn thanh tú lắm vẫn xinh tươi
Tiếng còn trong trẻo qua câu nói
Men vẫn say sưa giữa nụ cười
Nét hoạ vẫn mềm tay hoạ sĩ
Bức hoạ vẫn tỏ giáng hoa khôi
Mái đầu tuyết nhuộm thêm kiều diễm
Muốn vịnh “nàng thơ” khó đủ lời.
Mậu Ngọ sơ đông. 16-12-1978 Tuyết Ngọc”
Bác Tính là bạn thơ từ ngày đi học. Bác có bí danh cho những
áng thơ là Tuyết Ngọc. Còn mẹ tôi có bí danh cho những bức hoạ lúc còn trẻ là Mỹ
Vân.
Sau nhiều năm xa cách gặp lại nhau, mẹ tôi đã cùng chụp chung
với bác một bức ảnh. Trong đó còn có cô Kim Phú và chị Vi Nguyệt Hồ. Bác Tuyết
Ngọc có thơ gửi tặng mẹ:
Xin trân trọng cảm ơn quận chúa
Trao tâm hình vừa đủ bộ tư
Mỗi người mỗi vẻ mỗi ưa
Mỗi người là một ý thơ tuyệt vời
Kim Phú vẫn xinh tươi liền dịu
Vẫn giáng người yểu điệu thanh tân
Nhẹ nhàng giọng nói oanh ngân
Môi hồng, hay nụ hoa xuân đầu mùa!
Đây bạn mới Nguyệt Hồ vừa gặp
Mà sao lòng đã ngậm mến yêu
Yêu vì tháo vát đủ điều
Yêu vì duyên dáng, diễm kiều đoan trang!
Còn cố hữu nữ hoàng Kim Ngọc
Da anh đào tóc sáng bạch kim
Nụ cườí tươi ánh mắt huyền
Ấm êm trong cảnh đào nguyên dưới trần;
Riêng Tuyết Ngọc nhận phần xuống bút
Tặng “ba nàng” một chút hương thơ.
Ghi lại hội ngộ bất ngờ
Giữa chiều xuân đẹp ước mơ thanh bình.
Chiều Xuân Canh Thân. 15-1-1980
Đến tuổi 70, mẹ tôi vẫn đẹp. Hoạ sĩ lão thành Hoàng Lập Ngôn
đã viết như sau: “… Nửa đời vẽ chân dung, nay 79 mùa xuân rồi chưa ai gặp đã
quá thất thập cổ hai hy mà:
“Đẹp… tươi… trẻ
Tình cảm trắng trong
Như chị Vi Kim Ngọc
Hẳn là tôi sẽ vẽ chị…
Mắl lung linh trong sáng
Đôi môi hồng nguyên cánh
Nếp nhăn không một nét”.
Vào năm mẹ 70 tuổi, bác Quy mừng thọ:
“ Cuộc đời chị đẹp vui tươi quá
Thực đúng cảnh tiên ở dưới trần”.
Năm 1982, mẹ tôi gặp ông Về Thế Hùng, cháu cụ Thượng Vũ Quan
Nha, ông tặng mẹ bài thơ:
“Kim Ngọc rung rinh lá rủ cành
Khuê môn hội tú nét tinh anh
Cầm kỳ thi hoạ trời chung đúc
Phong nhã đào hoa đất kết thành
Cung số đã sinh dòng quý hiển
Duyên se lại gặp khách tài danh
Phế hưng non nước bao dời đổi
Âm đức kho thiêng phúc vẫn dành.
11-6-1982. Trân trọng gửi chị Ngọc”.
Bà là thợ xây lâu đài vững chắc
Quả thực là mẹ tôi đã được “Êm ấm trong cảnh đào nguyên giữa
trần”.
Là người phụ nữ yêu kiều duyên dáng và tinh tế. Mẹ tôi là người
hết mực hiền dịu thương yêu trìu mến chăm chút tổ ấm gia đình. Các bạn của mẹ
tôi ví mẹ tôi đẹp như tiên, cuộc đời của mẹ tôi cũng đẹp như tiên. Còn chính mẹ
tôi cũng tự mãn nguyện với cuộc sống hạnh phúc của mình. Khi mẹ tôi qua đời,
con trai tôi Kim Hiền là cháu đầu của bà còn đang ở bộ đội, đóng quân trên biên
giới quê hương của bà. Khi cháu trở về đã cầm lá thư bà gửi cho cháu ngày
8-9-1987 (trước khi mất một năm) có đoạn viết:
“ Biết bao người mong ước trên đời này được sống trong hạnh
phúc ấm cúng gia đình… Bà không dám tự hào mãn nguyện, nhưng bà thấy có thể mỉm
cười trước ngoài tuổi 70 này. Suốt cuộc đời tâm tâm niệm niệm làm điều tốt cho
mình, cho người, trong tâm không có điều gì phải ân hận… Với gia đình ta, bà đã
xây đắp từng viên gạch nhỏ đầu tiên… Cứ thế cần cù kiên trì tin tưởng, phân khởi
bằng mọi khả năng của mình xây đắp tổ ấm hạnh phúc. Suốt 50 năm trời trôi qua,
bà không mệt mỏi bà đã thành công. Bà đã được phần thưởng vô giá, Hiền ạ. Bà có
con trai, con gái, con dâu, con rể, cháu nội, ngoại mà bằng ấy trái tim đều có
một tâm hồn con người… biết vì lẽ phải, biết vì mọi người để mình sống trọn vẹn.
Đấy Hiền ngẫm xem bà có xứng đáng được một phần thưởng quý đó không? Tuỳ Hiền
nhận xét bà đã xây lầu cao xây lâu đài vững chắc. Đó chỉ còn là danh từ…”.
Tiếp theo, mẹ tôi đã tâm sự cùng cháu như đã từng viết thư
cho chúng tôi: “Từ viên gạch đầu cho đến khi hoàn thành… những ngườí được hưởng
ắt phải gìn giữ và tô điểm thêm. Phẩn tô điểm thêm là thế hệ Hiền đấy. Hiền là
con chim đầu đàn, sống như thế nào để các em sẽ noi gương của người anh cả”.
Khi chép lại những dòng chữ này cháu Hiền của bà đã được sang
Pháp học (sau đại học). Như vậy là năm 1934, ông ngoại đã bảo vệ xuất sắc luận
án tiến sĩ tại Đại học Sorbone. Sau 60 năm (1994), cháu ngoại đầu của ông đã có
mặt tại Sorbone, con chim đầu đàn của bà đã theo chân ông bước vào trường đại học,
hiện nay là một phần của hệ thống đại học Paris - thành lập năm 1257. Đó là
công của ông bà đã vun đắp một cách cần cù, kiên trì từng việc rất nhỏ trong
nhiều điều kiện và hoàn cảnh khác nhau.
Vào năm 1986, khi còn khỏe, mẹ tôi đã dẫn cháu Hiền về tận
quê ngoại của bà để thăm bà con họ Hà (Hà Thị Bạch là tên bà ngoại tôi) ở Điềm
He, xã Văn An thuộc huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn. Sau chuyến về thăm quê ngoại
bà còn bảo cháu Hiền về nhà vẽ lại cho bà toàn bộ sơ đồ mối quan hệ họ ngoại của
bà hiện ai còn ai mất và thế hệ sau đã trưởng thành phát triển đến đâu. Bà mong
con cháu sẽ không quên họ hàng mà phải nối tiếp nhau giữ tình thương yêu, giúp
nhau tiến bước. Tôi hiểu hành động của mẹ tôi là giáo dục con cháu có tấm lòng
nhân ái, có tình yêu Tổ quốc, yêu quê hương không thể chỉ bằng lời khuyên mà phải
bằng chính tình yêu nhỏ bé từ trong lòng gia đình ra họ hàng thôn xóm rồi mới đến
được tình nhân ái cao hơn, lớn hơn. Đấy cũng là một đặc điểm nổi trội xuyên suốt
trong cả cuộc đời của mẹ tôi mà tôi luôn được biết qua hành động cư xử với bà
con nội ngoại, qua dòng nhật ký từ thời kỳ Kháng chiến gian khổ cho đến nhiều bức
thư gửi cho các con, các cháu lúc xa nhà, cảm được lòng bà, cháu Hiền khi đóng
quân tại Lạng Sơn đã tìm đến bà con dân bản để hiểu thêm về Bản Chu, về Lộc
Bình quê bà. Cháu đã chụp ảnh phần mộ của cụ ngoại Hà Thị Bạch, cháu đã chụp cổng
vào nhà cụ Vi Văn Định ở Bản Chu, nơi mẹ tôi ra đời, nay chỉ còn toàn bộ “cái cổng”.
Nhà cửa đã bị pháo bắn sập năm 1979, không còn lại dấu tích gì. Bác Kim Yến nhớ
lại: “Ngày xưa dinh trại Bản chu có tất cả ba cấp cổng. Mỗi cổng có một chiếc
trống rất to. Khi có người đến thì cổng thứ nhất dánh trống, tiếp đến cổng thứ
hai rồi báo vào cho cổng thứ ba hồi âm. Trong dãy “nhà bông” của dinh thự đặt rất
nhiều súng kíp để bảo vệ.
Chiếc cổng mà cháu Hiền chụp phần còn lại là di tích của cổng
thứ hai. Bác Kim Yến muốn sửa lại để gìn giữ một di tích của dòng họ có công
phò vua Lê bảo vệ biên cương đã ở đấy mười ba đời. Rồi bác nhắc là còn mộ Tổ, mộ
cụ Lý và bà ngoại cùng các thím…
Các cháu ở quê ngoại là cô giáo như chị Hoàng Thị Bảy, Hoàng
Thị Tới và các con, các cháu… nhiều người là thầy cô giáo ở Văn Quan, Đồng Mỏ…
Các chị, các cháu đều được mẹ tôi động viên, khuyến khích. Mỗi lần các anh các
chị hoặc các cháu qua Hà Nội dự thi Đại học hoặc cùng đoàn giáo viên về nghỉ hè
tham quan Hà Nội hoặc về học nghề tại Hà Nội, nếu có dịp là mẹ tôi dẫn về Mai Dịch
thăm mộ cha tôi. Ở đấy còn có chú Di con rể họ Vi, có anh Tôn Thất Tùng cháu rể
họ Vi và có ông Hoàng Văn Thụ là chú của các chị.
Lần cháu Nụ Hồng con chị Tởi về thi đại học, cháu chỉ còn được
thắp nén nhang báo cáo với bà về kết quả học tập của cháu. Tuy rất lâu chưa gặp
nhau nhưng hai bà cháu vẫn thư từ động viên và hứa hẹn phấn đấu học tập thành đạt.
Tôi đã thay mẹ tôi dẫn mẹ con chị Tởi tới trường dự thi. Trước khi cháu vào trường,
tôi đã dẫn cháu tới nghĩa trang Mai Dịch thắp hương.
Khi mẹ tôi còn trên cõi đời này, mẹ tôi đã làm như ông ngoại,
sẵn sàng tạo điều kiện cho các cháu từ miền ngược được về thủ đô nghìn năm văn
hiến để học tập, học nghề, học được nhiều điều để về xây dựng quê hương, bảo vệ
vùng biên của Tổ quốc. Không lần nào tôi thấy mẹ tôi quên không tâm sự dặn dò
các cháu cố công học lập và “phải có tâm hồn con người, có như vậy mới biết lẽ
phải, biết sống vì mọi người và cũng để mình sống trọn vẹn”.
Cậu Huy gặp bác Bẩy… kể về việc ông ngoại đưa các cháu ở Bản
Chu (Thất Khê) hay cháu Đàm Đức Dậu ở Lạng Sơn về học ở Hà Nội. Vào năm 2001, 4
chị em về thăm quê ngoại gặp chú Quỳnh em họ của mẹ cũng kể về ngày xưa chú
cũng được ông đưa về ở “Ha le” để đi học. Không cứ người mang họ Vi mà cả những
con cháu mang họ Hà, họ Nguyễn, Hoàng… nếu có năng lực đều được cưu mang để
phát triển.
Khi cháu Kim Hiền đóng quân trên vùng biên cương của Tổ quốc,
cháu đã yêu mến một cô gái tại Lộc Bình đang học Đại học Y Bắc Thái. Cả nhà tôi
đã vui mừng tổ chức hôn lễ cho hai cháu, chắc chắn là có sự dẫn đường của bà
ngoại từ phương trời xa. Cháu dâu đầu của bà - Nguyễn Thu Hằng ngày nay đã là
cán bộ nghiên cứu khoa Tâm lý Giáo dục trẻ em.
Phần 2: Đến với cách mạng, vinh dự và trách nhiệm
Việc làm của người trí thức yêu nước
Ý thức được nỗi đau mất nước, với tinh thần hiếu học và động
cơ học tập vì dân vì nước, cùng với trí thông minh cha tôi đã vượt qua nhiều
khó khăn gian khổ về đời sống và học tập của một sinh viên Việt nam nghèo trên
đất Pháp. Cho nên cha tôi đã quyết tâm cần mẫn học tập và đạt kết quả xuất sắc:
Tháng 7 năm 1927 đỗ Tú tài phần I
Tháng 7 năm 1928 đỗ Tú tài phần II
Tháng 7 năm 1929 đỗ cử nhân Văn chương
Tháng 7 năm 1931 đỗ cử nhân Luật học
Tháng 2 năm 1934 đỗ Tiến sĩ Văn khoa (Bộ môn Sử Địa).
Kể từ năm 1932 đến năm 1935, cha tôi vừa giảng dạy tại trường
Đại học Ngôn ngữ Phương Đông vừa tiếp tục học. Thứ 7 ngày 17 tháng 2 năm 1934,
tại Đại học Sorbonne, Thủ đô nước Pháp lần đầu tiên trong lịch sử của trường có
một sinh viên Việt nam đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ Văn khoa: “Đó là sự
kiện lớn lao đáng ghi nhớ trong lịch sử trường đại học Sorbonne” - Lời nhận xét
của ông Vendryes, Chủ tịch Hội đồng Giám khảo.
Năm ấy cha tôi 26 tuổi. Thành quả tốt đẹp này đã chứng tỏ ý
nguyện sâu sắc của cha tôi từ khi vừa đặt chân lên đất Pháp. Ngay sau khi đỗ
hai bằng cử nhân Luật và tiến sĩ Văn chương, cha tôi trở về với cái nhìn của một
người muốn góp sức mình cho dân cho nước. Trước khi về nước, cha tôi đã trao đổi
cùng ông Nguyễn Mạnh Tường: “… nhất định không làm quan, chỉ dạy học và nghiên
cứu khoa học”.
Về thời gian này cha tôi đã viết trong Bản tự thuật lý lịch:
“Trước Cách mạng có dạy học, sau chuyên nghiên cứu về “Chính sách ngoại giao của
Pháp trong giai đoạn lịch sử thời Napoleon III”, vì giai đoạn này có liên quan tới
nước ta và tiền đồ của Pháp. Sau Chính phủ Pháp không cho phép sử dụng tài liệu
nên phải bỏ. Rồi hướng về lịch sử văn hoá dân tộc, đặc biệt là sự hình thành và
phát triển nông thôn. Lấy dó là noi ẩn thân, giữ được “thanh danh”, rèn luyện
mình, huấn luyện người, giành cho Việt nam một cương vị khoa học. Tôi làm nhân
viên khoa học thường trực của Viện Bác cổ, rồi vào Hội đồng Nghiên cứu Khoa học
Đông Dương và bắt đầu xây dựng Bộ môn “Lịch sử Văn minh Việt nam” ở Trường Đại
học Luật khoa. Nhưng trong tổ chức của Viện thì bị chèn ép; mặt khác thì nghiên
cứu trong tài liệu mà trong xã hội nông thôn (sau 10 năm sống xa Tổ quốc) thấy
sức sáng tạo của dân tộc rất to lớn, thấy dưới chế độ thực dân mà phong kiến
nhân dân thật thống khổ. Nhưng bất lực và mơ hồ, chỉ thấy mặt cần phải phát triển
giáo dục, nâng cao trình độ văn hoá nhân dân, đào tạo nhiều chuyên gia, mặt
khác phải phân phối lại ruộng đất, bãi bỏ chế độ phong kiến và thực dân. Nhưng
bằng cách gì, thì vì lập trường giai cấp, đời sống lẻ loi nên rất mơ hồ. Lờ mờ
như vậy thì chiếu tranh thế giới thứ 2 bùng nổ. Tôi chuyển sang nghiên cứu về đời
sống thực tại của xã hội hơn trước, chuẩn bị một cuốn sách về người “Nông dân
Việt nam”.
Tư tưởng “mong chờ ngày giải phóng”.
Sau khi trở về nước, cha tôi cùng bác Nguyễn Mạnh Tường đều
xin vào dạy ở Trường Bưởi, một trong những cái nôi đào tạo trí thức lúc đó. Năm
1908, Trường Bưởi mới được thành lập gọi là Trường Trung học Bảo hộ Hà Nội
(Lycée du Protectorat) là những năm bà nội tôi mới sinh cha tôi và chú Hưởng.
Sau 25 năm thì cha tôi đã trở lại làm giảng viên. Những tưởng
đã chọn được nghề trong sạch và nối nghiệp ông cha như gia phả tộc Nguyễn đã
ghi “Lấy nghiệp giáo để giúp người”. Trước sự kìm hãm mất tự do, nhất là cha
tôi dạy về môn Sử, Địa, do vậy ông đã chuyển đi. Cha tôi chuyển sang công việc
nghiên cứu khoa học và trở thành người Việt nam đầu tiên là uỷ viên thường trực
của Trường Viễn Đông Bác cổ, một cơ quan nghiên cứu khoa học có uy tín lớn ở Việt
nam và Đông Nam Á lúc bấy giờ. Trường Viễn Đông Bác cổ (Ecole Francaise
d'extrême Orient - EFEO) được thành lập từ năm 1900 tại Sài Gòn với nhiệm vụ khảo
cứu lịch sử ngôn ngữ, khảo cổ các nước Đông Dương và Khu vực Viễn Đông. Đến năm
1901, mới chuyển ra Hà Nội. Tại đây cha tôi đã có cơ hội góp phần cùng với Trường
triển khai những nghiên cứu về tín ngưỡng, thiết chế của nước nhà và đặc biệt
đi sâu vào xã hội nông thôn Việt nam. Cha tôi đã có nhiều công trình đăng trên
tập san của Trường (BEFEO), một tập san dưới sự chỉ đạo của Viện hàn lâm Khoa học
Pháp.
Trong quá trình nghiên cứu khoa học, cha tôi vẫn tiếp tục dạy
học, thuyết giảng tại Trường Bưởi, Trường Đại học Đông Dương, Trường Viễn Đông
Bác cổ. Năm 1906, trước sự đòi hỏi của các sĩ phu yêu nước, toàn quyền Pôn Bô
đã ký Nghị định thành lập trường Đại học đầu tiên của Việt nam cũng là trường Đại
học Đông Dương. Ngày 11 tháng 10 năm 1907, trường Đại học Đông Dương khai giảng
nhưng chỉ được 1 năm thì phải đóng cửa vì không đủ điều kiện. Từ năm 1918 đến
năm 1923, Toàn quyền Đông Dương có mở một số trường cao đẳng như Cao đẳng Luật
và Pháp chính, Sư phạm, Công chính, Thương mại, Nông nghiệp, Y Dược… Khi cha
tôi nhận giảng môn Lịch sử Văn minh Việt nam cho trường Luật thì Đại học Đông
Dương có thêm nhiều trường mới như Cao đẳng Mỹ thuật…
Trong mười năm đầu đời ra làm việc xã hội, cha tôi đã để lại
hơn 45 công trình nghiên cứu khoa học. Ở đấy ông dã gửi gắm biết bao tình yêu đất
nước, lòng tự hào dân tộc.
Vào năm 1938, ông đã tham gia hoạt động cùng các tầng lớp trí
thức yêu nước. Trước yêu cầu khẩn thiết của Cách mạng và lòng mong mỏi của người
dân Việt nam là muốn được học hành, gặp thời cơ phong trào dân chủ đang dâng
lên, Hội Truyền bá Quốc ngữ đã được thành lập. Năm 1938, khi thành lập Ban Trị
sự Bắc Kỳ, cụ Nguyễn Văn Tố làm Chánh Hội trưởng, ông Đặng Thai Mai làm thủ quỹ,
ông Võ Nguyên Giáp làm phó thủ quỹ. Cha tôi, ông Hoàng Xuân Hãn… cũng là thành
viên trong Ban Trị sự của Hội Truyền bá Quốc ngữ. (Hội Truyền bá Quốc ngữ.
Vương Kiêm Toàn. Nhà xuất bản Giáo dục. 1980). Theo lời kể của ông Đặng Thai
Mai trong cuốn sách này thì Ban Trị sự được mời lên Phủ Thống sứ Bắc Kỳ để bàn
bạc về việc cấp giấy phép cho Hội… Khi bắt tay Thống sứ người Pháp có nói: “Tôi
rất cảm ơn các ngài đã đặt cho Hội cái tên rất hiền từ “Hội Truyền bá Quốc ngứ.
Hay! Hay đấy! Nếu các ngài gọi nó là “chiến tuyến chống nạn thất học” hay “Trận
tuyến bảo vệ và phát triển tiếng nói dân tộc” chẳng hạn, thì các ngài sẽ đặt
tôi vào một tình thế thật khó xử, tuy rằng chính phỉ “Mẫu quốc” giờ đây là
khuynh tả”.
Khi tiễn đưa cha tôi lần cuối, ông Đặng Thai Mai nhớ: “Một
người bạn, một người đồng chí từ những ngày phong trào cách mạng nhen nhóm lên
và rồi thời gian 30 năm qua anh đã công hiến cho Tổ quốc những gì một người trí
thức yêu nước có thể đóng góp”.
Trong bài “Tưởng nhớ Nguyễn Văn Huyên: Trồng người - hoài bão
suốt đời”, ông Vũ Đình Hoè, nguyên là Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục đầu tiên của
nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà, đã viết: “Hai người tình cờ gặp nhau trên ngã
ba khởi hành của đường đời. Nơi gặp là hộn quán Hội khuyến học “Trí tri”, lâm
thời làm trụ sở của “Hội Truyền bá Quốc ngữ”.
Tối hôm ấy, Giáo sư Nguyễn Văn Huyên trong Ban Trị sự Hội đến
nói chuyện với anh chị em sinh viên và hướng đạo sinh vừa đăng ký “nhập ngũ”
chí nguyện trong đạo quân diệt dốt cho dân nghèo. Tôi theo chân một bạn
“xì-cút” Nguyễn Trọng Phấn tới nghe nhà sư phạm ngôn ngữ học lỗi lạc trình bày
phương pháp mới dậy vần quốc ngữ, với cách chắp vần tài tình i tờ- tờ i ti, đơn
giản mà rất khoa học, vừa dễ nhớ, nhớ lâu nhanh biết đọc biết viết hơn lối dạy
trước đây nhiều, mà lại vui nữa chứ. Rất thích hợp với bộ óc học viên là những
người lớn tuổi suốt ngày lao động cực nhọc nên tối cần giải trí hơn là “đánh vật”
với lối đánh vần oái oăm cổ xưa… Sẽ càng vui nhộn - theo Giáo sư Huyên gợi ý -
nến giáo viên quốc ngữ khéo xen vào bài học vần quốc ngữ, những mẩu văn tập đọc
phỏng theo các câu ca dao, tục ngữ quen thuộc mà có ý nghĩa:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương…”
“Bâu ơi thương lấy bí cùng…”
“Lạy trời cho cả gió lên,
Cho manh chiếu rách trùm lên tàn vàng”
Hoặc hóm hỉnh kiểu dân dã, gây cười, hồn nhiên:
“Chính chuyên” lấy được “chín chồng”
Vê viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi,
Không ngờ quang đứt lọ rơi,
Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng”.
Phương pháp i tờ xuất xứ từ sáng kiến của Giáo sư Hoàng Xuân
Hãn, có sự chung sức của hai nhà sử học, ngôn ngữ Trần Văn Giáp, Nguyễn Văn
Huyên ở Trường Viễn Đông Bác cổ. Tôi nghe Giáo sự Nguyễn Văn Huyên trình bày,
“sướng cái lỗ tai” đã đành, nhưng còn thú vị lĩnh hội được phần nào thâm ý của
vị diễn giả yêu nước Nguyễn Văn Huyên không nói điều gì xa lạ. Trước đó không
lâu các cụ Đông Kinh nghĩa thục đã nói - Nói và Làm (tuy bị Tây chặn ngang lại
là bỏ tù, đưa đi Côn Đảo, hoặc quản thúc). Và sau đó không lâu Bác Hồ kêu gọi
toàn dân diệt ba thằng giặc, xếp theo thứ tự: giặc đói - giặc dốt - giặc ngoại
xâm…
Thuở bé, tôi đã có sống ở nông thôn như Nguyễn Văn Huyên, có
lẽ lonh cảm được như thế, nên chưa vội nghĩ chuyện gì cao xa, tôi tham gia
phong trào Truyền bá Quốc ngữ (1939), nhận chân tuyên truyền viên, cổ động cho
sự nghiệp của Hội. Nhờ có tài liệu do Giáo sư Nguyễn Văn Huyên chuyển cho mượn
qua tay Nguyễn Trọng Phấn, tôi đi diễn thuyết ở nhiều nơi, nói về công cuộc
giáo dục xã hội ở các nước ngoài và công cuộc chống mù chữ và nạn thất học ở nước
ta, trình bày phương pháp chắp vần “tuyệt vời” mà tôi được Giáo sư “bồi dưỡng”
cho mình dạo nọ. Thế là dầu mới được làm quen với Giáo sư tôi đã sớm trở thành
bạn vong niên của Anh - một con người hiền hậu rất dễ đồng tình, đồng cảm với
mình. Đúng vào lúc mà tôi cùng với mấy bạn mới ra trường hoặc mới đi du học về,
có người chưa xong luận án tốt nghiệp (vì Đại chiến thế giới bùng nổ), anh em
bàn với nhau ra báo Thanh Nghị (TN), chia nhau đi tìm gặp các bậc đàn anh mời cộng
tác… Biết tôi đang chuẩn bị bài vở thuộc đề tài giáo dục, anh Huyên rất hoan
nghênh ý định ấy (chắc là tôi đã gãi trúng chỗ ngứa của Anh), gợi cho tôi nhiều
ý kiến quý báu, cung cấp cho tôi nhiều tài liệu mà kinh nghiệm giáo dục ở các
nước khác nhau trên thế giới và hứa sẽ có bài đóng góp cho Thanh Nghị, mặc dầu
Anh rất bận công tác nghiên cứu của Trường Bác cổ…
Vậy là chỉ ít lâu sau, Anh gửi luôn cho tôi 2 bài. “Lược khảo
về khoa thi Hội Quý Sửu, Duy Tân thứ 7” và “Dấu cũ Loa Thành”. Đặc biệt bài thứ
nhất hứa một nội dung sâu sắc. Nguyễn Văn Huyên sẽ phân tích những bài thi
trúng cách ở kỳ thi Hội đó. Anh dự định dùng phương pháp sử học mà chiếu một
tia sáng vào hồi năm 1913, sau khi “cuộc thái bình bảo hộ” (Pháp) thành lập một
cách chắc chắn, sau cuộc Nhật - Nga chiến tranh bảy năm và trước cuộc Âu châu
kinh chiến động địa năm ấy… (1914), ngụ ý không phải là dám phê bình gì chỉ
mong giúp được muôn một trong việc lượm lặt tài liệu cho Pho sử tinh thần Việt
nam…, ngõ hầu một ngày kia ta có xây đắp nên được cái nền tảng của lý tưởng nước
nhà chăng? (trích lời Nguyễn Văn Huyên).
Bài dài, đăng vào hai số TN 14, 15 năm 1942, rồi bỏ dở, lý do
là: “Tôi đã nông nổi quên hẳn mất vấn đề cá nhân rất quan hệ về pháp luật và
luân lý. Khoa Quý Sửu tôi đương khảo cứu cách đây chưa được ba mươi năm… Đợi thời
gian lấp lối lịch sử nước nhà thêm ít năm nữa vậy. Xin các bạn lượng thứ cho”.
Tác giả xin lỗi chúng ta như vậy, tôi cứ ngẩn ngơ tiếc mãi,
và mạo muội nghĩ thầm. Cái ông Nghè tân học này e ngại xâm phạm quyền tác giả của
các cụ Nghè cựu học tiền bối. Tôi thông cảm và hiểu rõ đức tính thận trọng và
phong độ tế nhị của Anh Huyên mà càng mến phục Anh.
Cho nên cứ mỗi lần đến Thư viện Viễn Đông Bác cổ tìm sách báo
tư liệu để tra cứu, tôi không ngần ngại vào phòng làm việc của Anh - ông bạn lớn
tuổi mà xuề xoà, hổn nhiên, đôi mắt dịu dàng, nụ cười tươi mát. Tôi hỏi Anh về
công cuộc cải cách giáo dục ở Pháp mà Anh am tường. Tôi dò ý Anh về cách tổ chức
“nâng cao dân trí, bỗi dưỡng dân khí” cho quần chúng đông đảo nước ta. Đó là một
vấn đề lớn. Anh cho biết tin là Ban trị sự Hội Truyền bá Quốc ngữ đang bàn về
việc mở lớp cao đẳng cho các học viên người lớn đã qua lớp i tờ. Thấy tôi quan
tâm vấn đề ấy, anh động viên tôi nên nhận tham gia Ban giáo khoa của Hội để
nghiên cứu chương trình và bài học cho lớp “cao đẳng bình dân”. Chính nhờ ý kiến
anh “gà” cho và dựa vào những buổi tiếp xúc với học viên mà tôi mạnh dạn soạn
thảo thử “lấy bài “giảng” sử, vệ sinh thực hành kèm theo “lấy nét về chương
trình và phương pháp “giảng”. Anh tán thành việc làm thử của tôi rồi bàn với Cụ
Hội trưởng Nguyễn Văn Tố nên giới thiệu tôi vào bổ sung cho Ban Trị sự Hội để
hình thức làm việc trong Tiểu Ban Sư phạm mà Anh phụ trách.
Trong Bản tự thuật lý lịch cha tôi viết: “Nhật đảo chính
Pháp” thì cục diện thế giới đã rõ. Thanh thế của Mặt trận Việt Minh ngày càng
sáng tỏ. Thành lập Chính phủ bù nhìn thân Nhật Trần Trọng Kim, tôi không tán
thành Hoàng Xuân Hãn đưa lực lượng trẻ và dân chủ vào, nếu không sẽ có thể chia
rẽ lực lượng giải phóng dân tộc sau này. Tôi ủng hộ cụ Phan Kế Toại; nhưng
chúng tôi lúc nào cũng chủ trương không để Nhật lợi dụng đàn áp Cách mạng; khi
Cách mạng tới thì trao lại. Nhưng sau Nhật bức bách quá nên phải rút vội”.
Ông Hoè viết tiếp: “Năm 1945, thế giới đại chiến bước vào pha
quyết liệt ở Đông Dương, quân đội Nhật làm đảo chính Pháp. Các tháp ngà rung
chuyển”. Trong tâm trạng bồn chồn của đám “thân phu hữu trách”, chúng tôi trong
nhóm Thanh Nghị tìm nhau trao đổi. Trao đổi không nhiều mà chủ yếu nhìn nhau,
đoán ý thôi, phương châm đã thống nhất từ thuở ban đầu: độc lập suy nghĩ, tự do
tư tưởng - lúc nào thấy cần thiết và có thể thì tự mình quyết lấy con đường đi,
không bận tâm đến sự ràng buộc nào. Cho nên khi được tin mấy anh Hãn, Hiền,
Phan anh nhận lời mời của vua Bảo Đại, cộng tác với chính phủ Trần Trọng Kim
thì những anh em còn lại không băn khoăn gì. Sau đó thấy sự chọn đường đi của
ba anh ấy là có lý lẽ, muốn bắc một tâm ván lên chỗ trống, làm cầu và tạm thời
giữ vai trò gác cầu, không cho kẻ thù dân tộc hoặc kẻ bất lương nào khác hớt
lay trên”, bất lợi cho tiền đồ đất nước thì chúng tôi yên tâm, hơn nữa còn đồng
tình. Thế là Hội Tân Việt nam ra đòi (5-5-1945). Nhóm Thanh Nghị, tất cả sáng lập
viên và biên tập viên chủ chốt, trong số đó, lẽ dĩ nhiên có Giáo sư học giả
Nguyễn Văn Huyên, đều công khai tuyên bố gánh trách nhiệm là thành viên của Uỷ
ban Trung ương Hội, cùng với mấy nhân sĩ yêu nước khác (tổng số là 34 vị).
Dứt khoát nhóm Thanh Nghị “nhập thế cục:, ủng hộ chính phủ Trần
Trọng Kim. Ít nhất trong mấy tháng. Vì ủng hộ có điều kiện (Tuy không cần nói
rõ hẳn như thế, nhưng ai cũng hiểu như thế). Kể cả Nguyễn Văn Huyên là một
trong những người xưa nay vốn nổi tiếng là thận trọng, điềm đạm, kín đáo nhất”…
Ông Hoè kể tiếp: “Khoảng giữa tháng 7-1945, tôi cùng với Lê
Huy Vân, Nguyễn Đình Thụ, thay mặt Uỷ ban Trung lương “Tân Việt nam hội” vào Huế
gặp các anh Về Văn Hiến, Phan Anh, nhận định tình hình để xem có nên rút chân
ra khỏi Chính phủ Trần Trọng Kim hay không. Hai anh cho biết trước đó đã có bàn
với anh Hãn (đang ở Hà Nội) và các anh đồng sự khác cùng chí hướng, về khả năng
ấy. Quay ra Hà Nội tôi tới tìm ngay anh Huyên, rồi nhất trí với nhau, hai chúng
tôi kín đáo vào Bắc Bộ phủ gặp Khâm sai Phan Kế Toại là anh rể anh Huyên để vận
động ông từ chức…
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, tôi từ chiến khu Tân Trào trở về
tới Hà Nội rực cờ hoa, trong bộ quần áo nâu, cải trang từ ngày ra đi. Cả nhà sửng
sốt, bố tôi vội kể rằng dăm ngày trước đó, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên đến tìm tôi
tại nhà, không biết về việc gì. Sau này, tôi được anh bật mí cho mới được rõ
các anh (4 người: Nguyễn Văn Huyên, Nghị Như Kon Tum, Nguyễn Xiển, Hồ Hữu Tường),
đã cùng ký tên vào bức điện gửi cho vua Bảo Đại yêu cầu thoái vị… đáng lẽ người
thứ 5 là Vũ Đình Hoè đấy… Trong khi đó Hiền, Phan Anh và Hãn cũng đã nhận lời đề
nghị của các bạn Việt Minh ở Huế và vận động được đa số trong Chính phủ Trần Trọng
Kim từ chức và khuyên vua Bảo Đại thoái vị kịp thời!
Trong thời gian ngắn ngủi, mấy anh em đi “thoát ly” vắng mặt ở
Thủ đô thì anh Huyên đã tích cực hoạt động… đóng góp đáng kể cho phong trào Việt
Minh ở Thủ đô. Cũng dễ dàng và tự nhiên thôi, chủ yếu nhờ hoàn cảnh Cách mạng
thắng lợi nhanh không ngờ. Một trăm dòng suối đều cùng chảy ra bể để rồi cùng
vượt phong ba bão táp…”.
Những công trình nghiên cứu
Vào dịp gặp lại ông Nguyễn Phú Hợi. nhân viên của Trường Viễn
Đông Bác cổ (cùng thời kỳ với cha tôi), đã mang lại cho gia đình tấm ảnh chụp
toàn thể nhân viên vào dịp Tất niên 1939 tại khách sạn Lạc Xuân (ngày
23-12-1939). Ông Hợi chỉ cho chúng tôi cụ Nguyễn Văn Tố, ông Trần Văn Giáp… và
nhân viên Triều Tiên Kim Yun Kun và nhân viên Cao Miên Tcheng Fang.
Em Huy có kể với cô Nguyễn Phương Ngọc: “Một người rất thân nữa
là ông Nguyễn Trọng Phấn, một nhà địa lý học. Ông có một tình cảm đặc biệt với
ông, cả sau khi ông đã mất, vẫn thường xuyên đến nhà thăm hỏi bà với các cô
chú. Tết nhất bao giờ cũng có chút hoa quả đem đến. Ông Phấn có để lại một số
bài trên tạp chí Thanh Nghị; ông biết rất nhiều, rất quan tâm đến vấn đề địa
lý. Các ông khác, thế hệ trước 45, thường đến thăm ông luôn, không hẳn là nhà
nghiên cứu đâu, mà là cả các nhân viên. Cụ Trần Huy Bá. sau này làm ở Bảo tàng
Lịch sử, có lẽ là người vẽ tất cả các bản đồ cho ông. Về mặt tình cảm thì còn
giữ với nhau như thế, nhưng về công việc thì mỗi người một việc, chỉ có cụ Giáp
là còn làm cùng”.
Ông Hợi kể lại, năm 1957 trong buổi tiếp quản Viễn Đông Bác cổ,
cha tôi có nhắc lại: “Trước khi về Viễn Đông Bác cổ, khi ông Huyên xin thẻ đến
đọc sách, mà Giám đốc còn hỏi vặn học vị. Vì trước đấy thư viện chỉ dành cho
người Pháp có học vị cao”. Hai tác phẩm đầu tay vào năm 1934 là “Những bài hát
đối đáp của nam nữ thanh niên Việt nam” và “Mở đầu nghiên cứu về nhà sàn Đông
Nam Á”. Hai tác phẩm này đã được Nhà xuất bản Paul Guethner Paris cho in sau
khi Chủ tịch Hàn lâm Paris, ông S. Charlety và ông H. Delacroix Chủ nhiệm Khoa
Văn Đại học Paris đã ký duyệt. Người Pháp khi giới thiệu về cuốn sách đầu tay của
cha tôi đã viết: “Là người Việt nam đã từng là giảng viên tại trường Ngôn ngữ
Phương Đông tại Paris là một người đóng góp rất có giá trị hiểu biết về Việt
nam. Ý nghĩa của nó là ở lĩnh vực cung cấp cho các nhà dân tộc học và dân ca học
một chất liệu phong phú, có chú ý cả đến chi tiết để hiểu đời sống yêu đương,
trước hết là tập quán tỏ tình, đính hôn của người Việt nam. Mặt khác nó chứa đựng
nhiều điều đáng biết đối với nhà ngôn ngữ học…”. Cha tôi có gửi tác phẩm của
mình cho nhà thơ Paul Valéry, một trí thức lớn được mệnh danh là anh hùng của
trí tuệ, thi bá của văn đàn Pháp (1871 -1945).
Ngày 22-3- 1934, ông Paul Valéry đã viết thư cho cha tôi có
đoạn: “Tôi càng nhạy cảm hơn nữa với phương pháp mà ông đã chọn để nghiên cứu sự
sáng tác thơ ca ngẫu hứng trong lễ hội Việt nam. Sự hài hoà của âm thanh mà cảm
giác là vấn đề chủ yếu của mọi thi ca. Nhưng trong các ngôn ngữ của chúng tôi,
vấn đề này không được xác định. Điều này chỉ được giải quyết trong thực tế sáng
tác và như là sự ngẫu nhiên, bởi vì người la không bao giờ có thể chắc chắn đem
lại cho tư duy một sự biểu cảm có tính nhạc.
Thế nhưng tôi tìm thấy trong quyển sách của ông những thí dụ
hình thành thi ca ở trạng thái này nảy sinh… và rồi nghĩ đến Ronsard đã làm thơ
dựa vào cây đàn luýt. Tôi cũng sực nhớ bản thân mình đã từng làm nhiều bài thơ
xuất phát từ những hình tượng, nhịp điệu chợt đến mà ám ảnh tôi. Những hình tượng
đó xác định dần dần những “từ” và cuối cùng là một “ý”… Tất cả những gì ông nói
về những đối xứng, cân bằng những nhóm, gây cho tôi hứng thú đến cao độ… Nhờ những
gì ông viết về các nhà thơ Việt nam tôi lấy làm sung sướng được đọc những điều
mà tôi tin là đúng với mọi thi ca, nhưng ở nước chúng tôi rất ít biết đến hoặc
thấu hiểu…”.
Câu thơ mà cha tôi chọn làm tựa đề cho luận văn lấy từ bài
thơ “Nghĩa địa thuỷ thủ” của Paul Valéry, đó là câu: “Gió đã thổi lên… phải cố
mà sống!”. Một nhà báo (Y Trang 14-4-1996. Báo Lao Động) có lời bình câu thơ
này: “Câu thơ suốt cả cuộc đời ông như một lòi thúc giục… Ngay cả khi gió ào ào
quá mạnh lay khi không có ngọn gió, Nguyễn Văn Huyên vẫn chế ngự được hoàn cảnh,
vươn lên chính mình để sống, để lên đường bước cùng đất nước và nhân dân”.
Sau khi ông Vũ Đình Hoè nghe cha tôi trình bày cách đánh vần
chữ quốc ngữ đã nhờ ông Nguyễn Trọng Phấn mượn hộ trong thư viện bản luận án tiến
sĩ của cha tôi: “Tôi chỉ mới được đọc lời giới thiệu ở đâu đó… Vợ tôi quê ở Nội
Duệ, Tiên Du Bắc Ninh vùng hát quan họ đấy. Hồi còn là sinh viên, đã có mấy lần
tôi về quê vợ chưa cưới xem hội “Lim”, nhưng thú thật để “ngắm” và “phá” là chỉ
yếu, chứ có thưởng thức được gì đâu! Đến nay, đọc tác phẩm “Hát đối nam nữ…” mới
“tỉnh ra”, bắt đầu thấm thía được tí chút cái hay của các làn điệu dân gian cổ
truyền quê hương thì muộn mất rồi, cái nghệ thuật cao quý ấy đã bị bọn thanh
niên thành thị chúng tôi “quấy rối” quá xá; ngày nay mấy nghệ nhân gia may còn
nhớ được lời giữ được giọng thì lại chẳng còn “quan viên họ” nào thành thực ngưỡng
mộ, vả lại không khí chung (cũng nhạt nhiều rồi cho nên các cụ cũng chẳng buồn
nghiên cất tiếng tâm tình với ai “liền anh” nữa.
Sau khi mẹ tôi thu dọn tủ sách của cha tôi, bà đặt hai tập bản
thảo đã hoàn tất năm 1939 cùng với cuốn sách được phát hành năm 1944. Mẹ tôi cất
cùng những bức thư của học trò Trường Bưởi cùng với các công trình nghiên cứu của
cha tôi. Trong đó có bức thư của ông Vi Quốc Bảo tác giả “Dân ca đám cưới Tày
Nùng” đã viết: “Vì cách đây 36 năm (1937-1939) tôi đã được Giáo sư xới gợi lên
lòng yêu nước, yêu mến văn hoá cổ truyền của dân tộc”. Bức thư và cuốn sách của
ông Vi Quốc Bảo được mẹ tôi cất cùng với tác phẩm của cha “Những khúc ca đám cưới
Tày ở Lạng Sơn và Cao Bằng”, xuất bản năm 1941. Trong đó có 62 bài dân ca đám
cưới Tày ở Lạng Sơn và 18 bài sưu tập ở Cao Bằng. Được in lại cả nguyên văn chữ
Nôm Tày, phần phiên âm Quốc ngữ và phần dịch ra tiếng Pháp.
Từ công trình “Hát đối đáp của thanh niên nam nữ Việt nam” đến
“Những khúc ca đám cưới Tày ở Lạng Sơn và Cao Bằng” hai giáo sư Phan Hữu Dật và
Bế Viết Đẳng đã viết “Ở đây bên cạnh bản năng của nhà dân tộc học, ông còn biểu
lộ tài năng của một nhà ngôn ngữ học” (Tham luận “Nguyễn Văn Huyên - Nhà Dân tộc
học lớn” (1908-1975). Sau khi xem “Hát đối đáp của thanh niên nam nữ Việt nam”
ông Vũ Đình Hoè đã tâm sự với ông Phấn: “Thật đáng mến biết bao “cái ông Nghè
tây học” mà mang nặng lòng nước non như thế đấy, tôi ngỏ ý với Nguyễn Trọng Phấn
thì anh vội rút từ cặp ra một xấp giấy đánh máy và nói: “Anh quan tâm đến cảnh
sống của dân quê thì xem ngay bài này đi, tác phẩm mới nhất của Tiến sĩ Nguyễn
Văn Huyên đấy, viết về tình hình nông thôn nước ta”. Anh sẽ thấy Nguyễn Văn
Huyên không chỉ nói “Xưa” mà nói cả “Nay”, không chỉ “hay” mà có cả “dở” nữa
cơ, “dở” là chủ yếu rồi nêu ra giải pháp cấp bách và lâu dài”. Tác phẩm mang đầu
đề “Vấn đề nông dân An Nam ở Bắc Kỳ” (1939). Tác giả vẽ bức tranh nông thôn đồng
bằng Sông Hồng, phô bày cảnh sống thê thảm của bảy triệu đồng bào vật lộn cùng
cực với đói rét, bệnh tật triền miên; căn cứ vào những sự việc cụ thể với những
con số chính xác không ai có thể chối cãi được. Nguyên phân sâu xa gây nên tình
cảnh bi đát đó là gì? Và hướng giải quyết như thế nào? Tác giả nói:
“Xem xét vấn đề trong tâm cả quy mô của nó, chúng tôi nghĩ rằng
sẽ chẳng làm được gì hết chừng nào chúng ta chưa làm thay đổi được tâm lý nông
dân, chừng nào ta chưa chú tâm chuẩn bị những thế hệ có ý thức hơn về quyền lợi
thật sự của họ (… ). Vì thế, sự nghiệp chủ yếu, việc làm cơ bản mà nếu không có
thì sẽ chẳng xây dựng được gì vững chắc, chính là việc “Giáo dục công dân”. Cần
phải tiếp nhận những đứa trẻ “quặt quẹo và ở nghèo khổ này” và thử làm cho
chúng trở thành những con người có một ở hiểu biết khách quan hơn về lợi ích của
mình một ý thức hiện đại hơn về đời sống nông thôn tốt đẹp hơn”.
Từ năm 1938, cha tôi đã tiến hành thành lập bộ môn “Lịch sử
Văn minh Việt nam” cho trường Đại học Luật. Bản thảo cuốn sách “Văn minh Việt
nam” được hoàn tất vào năm 1939 và ông dùng nó để giảng dạy cho đến 1944 mới
chính thức in thành sách. Sở dĩ bản thảo nằm lâu như thế ở Nhà xuất bản vì lúc
dó còn phải đợi chính quyền thực dân Pháp duyệt. Giáo sư Phan Hữu Dật đã viết về
tác phẩm “Văn minh Việt nam” như sau: “Ngày nay đọc công trình này của ông, ta
không khỏi ngạc nhiên về sự uyên bác của ông. Có thể nói là không cường điệu:
Công trình “Văn minh Việt nam” không những tổng kết thành công nghiên cứu dân tộc
học của ông trong 10 năm cần cù sáng tạo, mà còn là sự tổng kết thành tựu của
các ngành khoa học nghiên cứu về người Việt nam (cho đến giữa thế kỷ 20 này”. Về
giá trị của công trình, Giáo sư Dật viết: “Những vấn đề cối lõi nêu lên trong
“Văn minh Việt nam” là những vấn đề cũng cốt lõi phải xem xét giải quyết đứng đắn
trong quá trình phát triển đi lên của đất nước. Vấn đề gia đình, vấn đề làng, vấn
đề đất nước đều là những vấn đề cốt tử hiện nay trong việc xây dựng hệ thống
chính trị mới của đâí nước ta trong sự nghiệp đổi mới”.
Về cuốn sách “Văn Minh Việt nam” ông Vũ Đình Hoè kể lại: “Tạp
chí Thanh Nghị khoảng 6-1941 có bài của tôi nhan đề “Mấy điều cải cách khẩn cấp
trong gia đình giáo dục”. Bài viết được là nhờ có sự góp ý của Giáo sư Nguyễn
Văn Huyên. Đầu đuôi thế này: thời gian đó, anh Huyên đang đọc lại, sửa chữa bản
thảo tác phẩm đồ sộ “Văn minh Việt nam”. Thừa dịp tôi lân la đòi được xem những
trang Anh viết về “văn hoá, giáo dục” xưa và nay, đặc biệt về các trường hương
sư, về vai trò của các ông đồ Nho trong các gia đình Việt Narn truyền thống nền
nếp. Cố nhiên có nhiều nếp cổ hủ phải loại bỏ: nhưng tinh thần “tu thân, tề
gia, trị quốc… bình thiên hạ”, “Dân vi quý, xã tắc thứ chi quân vi khinh” là một
di sản quý báu của tổ tiên Hồng Lạc, không nên đánh mất. Vậy là tôi vững tâm mở
đầu bài viết bằng hai câu thơ của Tản Đà: “Ôi! văn minh Đông Á giời thu sạch!
Này lúc luân thường đảo ngược ra?” Tôi cũng nhắc trân trọng vai trò phụ nữ
trong gia đình cổ Việt nam, nhấn mạnh trách nhiệm giáo dưỡng con cháu của người
Mẹ mà đề xuất ý kiến nên lập gấp “Hội các bà mẹ Việt nam”, trong lúc này
(1941). “Có đi có lại nhé?” anh Huyên bảo tôi thế mà đòi tôi cho anh đọc ghé bản
thảo những bài của Ban biên tập đã viết hoặc chuẩn bị viết về các đề tài kinh tế,
xã hội ở nông thôn (trồng trọt, chăn nuôi, thủ công nghiệp, đê điều, ao giếng,
bệnh tật… ). Tôi đoán Anh muốn đối chiếu Nay và Xưa để xem có nên bổ sung gì
cho bản thảo “Văn minh Việt nam” của Anh”.
Giáo sư Vũ Ngọc Khánh đã nhắc lại lời cha tôi vào năm 1964,
khi cha tôi đọc duyệt một công trình về văn hoá dân gian xứ Thanh của ông như
sau: mọi kiến thức Sử học, Văn học, Văn hoá dân gian, Địa lý, Nhân học… đều phải
được khai thác đến, trong một cái nhìn tổng hợp. Phải như vậy với đi đến những
kết luận khách quan. Nói đến tính chất khách quan, cần luôn luôn nhớ rằng trong
khoa học có thể có dự cảm nhưng không được phép có những định đề tiên kiến”. Mặt
khác văn lời thầy dặn: “Điều quan trọng trong nghiên cứu là phải ở cái nhìn rộng
ra ngoài biên giới của chính mình và của đất nước mình. chưa biết thế giới ra
sao, Đông Nam Á ra sao, sao lại có thể khẳng định chỉ riêng chúng ta mới có những
cái gì độc đáo?…” (Trích trong “Những bài nói và viết của Nguyễn Văn Huyên”).
Những lời của ông Về Ngọc Khánh làm cho tôi hiểu sâu hơn,
ngay từ khi còn là thanh niên, những ham muốn mà cha tôi cùng bác Tường đã
không bỏ lỡ cơ hội để trong mười năm đèn sách ở nước ngoài dù kinh tế hạn hẹp vẫn
cố đi khắp các miền Châu Âu, Châu Á… Và khi cha tôi chọn luận văn phụ “Nhà sàn ở
Đông Nam Á” vào năm 1934, ông đã đề cập tới nhà sàn của 18 dân tộc ở Đông Dương
từ Miến Điện, Lào, Thái Lan, Campuchia cho đến Việt nam. Sau đó còn giới thiệu
thêm về cách cư trú trên đảo Xê Lép và 24 dân tộc các đảo khác. Ông đã lặn lội
sang cả thư viện Hà Lan để tìm đọc. Em Huy đã trao đổi với cô Nguyễn Phương Ngọc
về phương pháp nghiên cứu: “Nói chung các nhà nghiên cứu từ xưa tới nay, kể cả
các nhà nho, ai cũng phải đi lấy tài liệu, ai cũng phải tích góp tất cả các tư
liệu, đấy là chuyện hoàn toàn bình thường. Thực tế mà nói thì như thế cũng là
đi điền dã, ví dụ như thời Lê Quý Đôn chẳng hạn, Lê Quý Đôn đi là năng nhặt chặt
bị, đi đến đâu ghi chép đến đấy, từng tờ phiếu, từng tờ phiếu một, tất cả tập hợp
lại sau này mới thành ra Kiến văn tiểu học, Phủ biên tạp lục. Đó là cái cách đi
điền dã của những người ngày xưa.
Nhưng có thể nói rằng đối với ngành dân tộc học Việt nam thì
ông là người đầu tiên sử dụng các phương pháp khoa học hiện đại cho việc điền
dã đó thì chính xác hơn. Các phương pháp ấy thể hiện rất rõ ngay từ trong chuẩn
bị luận án tiến sĩ của ông về “Hát đối nam nữ” và “Nhà sàn Đông Nam Á”, cũng
như trong tất cả các đề tài về sau này. Trong “Hát đối đáp”, ông đã sử dụng
phương pháp enquête và questionnaires để phỏng vấn là hỏi rất nhiểu đối tượng
khác nhau. Đặc biệt là vì thời gian ông học và nghiên cứu ở bên ấy là mười năm,
không có điều kiện về nước cho nên việc ông nghiên cứu quan họ và các hình thức
hát đối đáp ấy là dựa trên các thư tịch, sách báo đã công bố về các loại hình
hát khác nhau. Đồng thời ông cũng dựa trên các tài liệu, sách vở trong nước xuất
bản mà bác Mão (Toại) gửi sang cho ông để phân tích. Nhưng một tài liệu rất
quan trọng đối với ông là ông hình thành các câu hỏi enquête, để phỏng vấn người
Việt nam ở Pháp. Có hai loại đối tượng chính: Một loại đối tượng là nghiêng người
lính thợ Việt nam có mặt tại Pháp, họ gắn bó với quê hướng đất nước và đã từng
hát quan họ. Đối tượng thứ hai là ông phỏng vấn những người Việt nam sang Paris
dự hội chợ, hình như là năm 1930, năm 1931 ấy, có hội chợ rất lớn. Ông làm
enquête hỏi và phân tích những ý kiến của họ. Thứ hai nữa là ông có mời những
người ấy, những người am hiểu và biết hát quan họ, hát và thực hiện ghi âm trên
các đĩa, và từ ghi âm trên các đã như thế mới phân tích âm nhạc.
Đó chính là những phương pháp khoa học hiện đại đầu tiên mà
ông đưa vào hai công trình nghiên cứu đó. Những cái đó là hoàn toàn mới, mang một
hơi thở mới vào trong nghiên cứu văn hoá, lịch sử Việt nam.
Sau khi về nước ông tiếp tục triển khai và sử dụng các phương
pháp đó bây giờ ta gọi là phương pháp quan sát trực tiếp và tham dự. Thí dụ như
khi ông viết về hội Gióng hay hội Lý Phục Man thì ông phải ở đấy cả tháng. Ở hội
Lý Phục Man, ông ở tại đây 15 ngày, quan sát xem xét, tham gia và thực hiện ghi
chép rất rỉ mỉ. Hiện nay ở nhà vẫn còn giữ được mấy quyển ghi chép của ông rất
hay mà sau này nó được thể hiện trên các bài báo của ông.
Thứ hai nữa là trong quá trình như vậy, ông sử dụng phương
pháp chụp ảnh để minh hoạ cho tất cả, và cái đó cũng là rất mới đối với các nhà
nghiên cứu lúc đó. Sau này các bác, các chú kể lại, ông đi điển dã một mình,
ông tự lái ôtô. Mà ông lái xe rất giỏi, ông vào tất cả các nơi. Đặc biệt ông là
một trong những người tạo ra các vấn đề tổ chức gửi các questionnaires điều tra
về các thần tích thành hoàng, gửi về từng làng từng tổng để người ta điền vào. Ở
nhà còn rất nhiều tài liệu cũng như các thư từ của các đia phương họ gửi rề cho
ông, ghi rất rõ là “Kính gửi ông Nguyễn Văn Huyên; theo yêu cầu của ông thì
chúng tôi trả lời…”. Trong các hồ sơ trả lời phiếu hỏi còn lưu giữ trong gia
đình chúng tôi, đa phần là do các hiệu trưởng, giáo viên các trường hàng tỉnh,
huyện, làng gửi về. Trong số đó có ông Hiệu trưởng Hoàng Minh Vui, Trường Tiểu
học Hoà Ninh, Quảng Trạch, Quảng Bình, nơi mà các anh chú Cầu đã học. Ông Vui
đã gửi cho cha tôi một số ảnh chụp cảnh sinh hoạt và một số mẫu nhà ở của làng
Hoà Ninh. Em Hà tôi đã nhận ra nhà của chị chú Cầu hiện nay ở giống một ngôi
nhà trong ảnh. Chính nhờ các hệ thống đó mà chúng ta có rất nhiều tư liệu quý.
Trong nghiên cứu ông kết hợp rất nhiều phương pháp: phương
pháp địa lý, phương pháp xã hội học, questionnaires, thành lập các hệ thống bản
đồ. Ông là người tổ chức thực hiện và tổng hợp tất cả những cái đó trong cùng một
công trình; đấy mới thực sự là liên ngành.
Huy đã trao đổi tâm tình với Phương Ngọc những điều mới chỉ
trong gia đình biết: Trong lời nói đầu của Nhà xuất bản cho cuốn “Nguyễn Văn
Huyên toàn tập” có câu “Dùng những tư liệu dân tộc học sẽ soi sáng vào những mảng
tối trong lịch sử dân tộc thực ra không phải là của chú mà chú trích ở trong
đơn xin gia nhập Đảng của ông lần đầu tiên và lần duy nhất, năm sáu mươi, lớp đảng
viên trí thức mồng sáu tháng giêng kỷ niệm ba mươi năm thành lập Đảng. Đây
chính là tư tưởng xuyên suốt các công trình của ông. Bài Chống hạn trong tập
quán Việt nam, Pháp Vũ… gần như là một mẫu mực về nối dân tộc học mà sử học, nối
những chuyện từ xưa tới nay, từ hạn hán cầu đảo của vua chúa qua các thời kỳ lịch
sử đến cuộc sống đường thời. Tất cả cái đó tạo ra mối nối giữa sử học và dân tộc
học và địa lý”.
Nhân Kỷ niệm 85 năm ngày sinh của cha tôi tổ chức tại Văn Miếu,
Giáo sư Trần Quốc Vượng có đọc bài tham luận với nhan đề: “Nguyễn Văn Huyên và
không gian văn hoá Việt vùng châu thổ Bắc Bộ”, trong đó ông phân tích: “Ông quả
như ban tổ chức hội thảo khoa học này nhận định là một nhà khoa học nhân văn lớn
và hiện đại đầu tiên ở nửa đầu thế kỷ 20 này… Lớn, vì ông để lại chỉ trong khoảng
10-15 năm hành nghề khoa học một khối lượng công trình bao quát nhiều lĩnh vực
Sử học, Dân tộc học, Folklore học… chỉ riêng trong lĩnh vực Folklore, điểm nhìn
của ông đã soi rọi từ cái nhà sàn truyền thống đến lịch sử một làng, từ họ hàng
kiểu Việt đến một vị thành hoàng, từ một phường múa hát Ải lao - Tùng hoặc
trong lễ hội Gióng đến những làn điện dân ca ví đối gái trai, từ tín ngưỡng thần
nước đến đạo thần tiên, từ Mẫu Liễu đến đạo nội dân gian. Lớn, vì ông đi từ sự
miêu tả cụ thể tỉ mỉ, chính xác từng dữ kiện văn hoá nhân văn đến những khái
quát khoa học về thể loại dân ca, về cội nguồn dân tộc, về văn minh Việt nam…
Ông lao vào nhiều địa hạt cực ở khó của tâm thức dân gian người Việt châu thổ Bắc
Bộ như “Sự chuyển hoá hồn linh và lễ hội vong nhân” (1941), “Thanh minh - Tảo mộ”
(1942), “Phương thuật chống ác ma mùa viêm nhiệt và tết Đoan ngọ” (1942),
“Kiêng giờ kỵ trong mai táng Việt nam” (1939), “Việc cầu tiên ở Việt Nam”
(1943)… tôi biết ông còn nghiên cứu Tử vi. Tiếc thay cho tới trước thời kỳ đổi
mới ngành Nhân văn Việt nam dường như không có ai dám ở lao vào những “khu vực
cấm kỵ” ấy… Lịch sử tâm thức Việt nam, theo tôi còn nhiều chặng đường dài cần
phải đi và tới”.
Giáo sư Trần Quốc Vượng còn viết: “Giới nghiên cứu trẻ, già
hôm nay còn được học mà phải học ở ông nhiều về phương pháp luận và các phương
pháp tiếp cận những sự kiện nhân văn, vừa cụ thể, vừa tổng thể…”.
Ông Hoè viết: “Bẵng đi 2 năm 1943-1944, anh Huyên không viết
thêm bài gì cho Thanh Nghị. Biết anh đang dồn hết lực, tâm vào hoàn chỉnh công
trình lớn “Văn minh Việt nam”, vừa tiến hành khẩn trương công việc nghiên cứu
các đề tài khoa học thuộc đời sống vật chất và tinh thần Xưa và Nay của dân tộc
Việt nam, như chống hạn trong tập quán Việt nam”, “Tục thờ cúng thần tiên ở Việt
nam”, điều tra về tình hình ăn uống, y phục, nhà ở của người Việt”… Tôi không
dám giục, vẫn mừng vì nghĩ rằng tất cả những vấn đề đó đều liên quan mật thiết
đến mục đích nội dung, tìm hiểu của báo mình và sớm hay muộn độc giả Thanh Nghị
cũng sẽ được hưởng kết quả việc sưu tầm và suy nghĩ của anh. Có thể là Anh còn
phải lo góp sức cụ thể hoá hơn nữa chương trình dạy và cung cấp giáo tài, tư liệu
tham khảo cho các lớp của hệ cổ điển học Á Đông. Tôi bắt đầu thoáng thấy mối
liên quan giữa sự nghiệp nghiên cứu sử học, dân tộc học, xã hội học của Anh với
lý tưởng “trồng ngườí” mà anh ôm ấp một cách kín đáo, tuy không giấu nổi sự tha
thiết của mình, như đã có lần thổ lộ trong tác phẩm “Vấn đề nông dân Việt nam ở
Bắc Kỳ”, hoặc khi phổ biến phương pháp mới dạy vần quốc ngữ, chẳng hạn…”.
Thời kỳ này là những năm tháng cha tôi dành tâm huyết cho
nghiên cứu khoa học. Từ năm 1935 đến năm 1945, mười năm mà nhiều công trình
nghiên cứu văn hoá dân gian, dân tộc học, xã hội học… có giá trị đã được ra đời.
Các công trình này đều xoay quanh một vấn đề mới mẻ, đầy thách thức, giữ gìn và
phát huy truyền thống văn hoá của dân tộc mình. Ngày Hội thảo được tổ chức tại
Văn Miếu đại diện của Viễn Đông Bác cổ Pháp có lời: “Với nhiều nhà Việt học
Pháp, tác phẩm Nguyễn Văn Huyên là chiếc chìa khoá vàng mở cửa cho việc tìm hiểu
văn hoá Việt nam”.
Như vậy là trước khi được phổ cập rộng rãi trong nước, qua
các bài viết bằng tiếng Pháp, ông truyền ra thế giới Văn minh, Văn hoá Việt nam
từ những năm tháng đất nước còn bị màn đêm che phủ. Đó là những gì thuộc về tâm
huyết của một nhà trí thức yêu nước thương nòi có thể làm được. Sau Cách mạng
Tháng Tám thành công, ông đã gác lại công việc nghiên cứu dân tộc học để chuyên
tâm vào sự nghiệp nâng cao dân trí phổ cập giáo dục toàn dân.
Tuy vậy, trong suốt gần 30 năm làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cha
tôi vẫn liên tục sưu tầm tài liệu cho các công trình dự định của mình. Cho nên
năm 1975, khi sang chữa bệnh ở Cộng hoà Dân chủ Đức cũ, cha tôi đã bàn với mẹ
tôi mua một chiếc máy chữ để nghỉ hưu sẽ tiếp tục công việc viết, Tiếc thay cha
tôi đã không bao giờ trả lời được câu hỏi của ông Hoàng Xuân Hãn đã viết thư hỏi:
“Khi nào anh nghỉ hưu? Bao giờ nối lại công tác khảo cứu?”. Mặc dầu còn bao
hoài bão không làm được cho dân tộc, Đảng và Nhà nước vẫn thấy được những cống
hiến đáng kể của ông.
Khi cha tôi qua đời, ông Trường Chinh đến nhà ghi sổ tang: “…
Vô cùng thương tiếc anh Nguyễn Văn Huyên một chiến sĩ đáng kính trên mặt trận
Cách mạng Văn hoá”.
Lời vĩnh biết của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “… Là ngườí cộng sự
ở Hội đồng Chính phủ từ ngày thành lập nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà và suốt
30 năm qua đảm đương sự nghiệp Giáo dục phổ thông nước ta với những thành tựu tốt
đẹp”.
Nguyên Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của nước Việt nam Dân chủ
Cộng hoà, ông Vũ Đình Hoè đã viết về cha tôi như sau:
“… Nhìn khái quát toàn bộ sự nghiệp của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn
Văn Huyên, người ta thường phân biệt hai mảng. Một là mảng nghiên cứu sáng tác
khoa học thuộc thời gian 10 năm đầu…, mảng thứ hai kéo dài 30 năm sau là mảng
công tác giáo dục… Tôi nhìn hơi khác. “Hai mảng hoạt động liên tiếp ấy gắn bó hữu
cơ với nhau, phản ánh ước vọng của lòng anh luôn luôn hoà đồng. Bởi vì nung nấu
bằng cùng ngọn lửa hoài bão… Hoài bão suốt đời của anh là vận dụng vốn thế và học
dồi dào của dân tộc mà phấn đấu kiên trì, kín đáo cho sự nghiệp chung, bồi
dưõng dân khí, nâng cao dân trí, đào luyện các lớp trẻ để có đủ khả năng kế thừa
phát huy ý chí quật cường muôn ngàn đời nòi giống Tiên Rồng, dựng nước, giữ nước,
lao động sáng tạo và phát triển”.
Đến tuổi học chữ
Mẹ dẫn tôi đi học
Ngày ở với ông ngoại, sáng nào mẹ tôi cũng đẫn tôi đến bến xe
gần Gô đa (Bách hoá Tổng hợp Tràng Tiền) để tôi lên ôtô cùng các bạn nhỏ tới
trường trong khu nhà thờ Liễu Giai một trường do các bà sơ chăm sóc. Chiều nào
mẹ tôi cũng đến đón tôi về. Có lần cha tôi lái ôtô đưa mẹ tôi và Bích Hà lên
trường tham quan và đón thẳng tôi về nhà.
Ở đây điều kiện sinh hoạt rất nền nếp, ăn ngủ đều rất nghiêm
chỉnh. Phòng ngủ là một dãy giường sắt cao, mỗi giường hai trò ngủ trên đệm lò
so êm ấm. Trước khi đi ngủ phải thay áo quần ngủ, mỗi người có một túi quần áo
treo riêng trong từng phòng thay. Trường quy định đồng phục, từ lớp lớn đến lớp
bé đều mặc một kiểu.
Ăn uống cũng rất nghiêm, không phải chỉ là tiện nghi mà kể cả
kỷ luật ăn uống. Phần được chia là phải ăn hết, dù món ăn mình không thích. Tôi
sợ nhất món rau xay nát mà ngày nào cũng phải ăn một muôi. Cho đến nay tôi vẫn
còn nhớ những giờ học giao tiếp như cách chào, cách đưa dao kéo, cách mời nước…
Hoặc những giờ thủ công, những buổi dã ngoại, những buổi cô giáo kể chuyện theo
tranh… Ai thuộc bài được 8 - 9 điểm là cô cho lên bàn, cô để tự chọn phần thưởng
trong một cái thùng to. Nào là sổ con bút chì bé xíu, dây chuyền có hình chúa…
Chính vì những phần thưởng nhỏ xíu, hợp sở thích trẻ con nên chúng tôi rất tự
nguyện phấn đấu đạt điểm cao để lên bảng nhận quà. Về sau này khi các con tôi lớn,
bắt đầu tìm trường Mẫu giáo để gửi con vào học, mẹ tôi đã cẩn thận cùng tôi dẫn
các cháu đến để làm quen với môi trường trước khi xin vào học, mẹ tôi đã gợi lại
cho tôi nhớ cái ngày chuẩn bị cho tôi đi học, cha mẹ cho tôi dự buổi lễ bế giảng
của một trường.
Đến nay tôi chỉ còn lại ấn tượng là được xem nhiều tiết mục
do các bạn nhỏ biểu diễn. Cuối cùng tất cả các bạn cùng chạy xuống vây quanh
đàn piano, cô giáo đệm đàn, các bạn cùng hát. Kết thúc là học trò nào cũng được
phần thưởng toàn đồ chơi rất đẹp…
Sự kiện đó đã gieo vào lòng con trẻ một ước muốn mong chóng
được đi học để được ca hát, được nhiều phần thưởng.
Tôi nhớ là hình như ngày đầu tiên đi học ở nhà thờ Liễu Giai
tôi đã không phải mất giọt nước mắt nào. Mỗi lần đưa con hoặc cháu đến Mẫu
giáo, điều kiện học tập, ăn ngủ đều chẳng được như tôi ngày xưa, tôi rất thương
các cháu. Trong lòng những mong mỗi người Việt nam cố tiết kiệm một chút, làm
việc tích cực hơn để đất nước mau chóng giầu có, con trẻ được hưởng điều kiện học
hành tết nhất, tiện nghi hoàn thiện nhất. Cha tôi đã từng lo cho tôi có điều kiện
học hành tốt nhất cho nên đã có lần tâm sự với mẹ tôi là thương cho các em tôi
chẳng được bằng tôi ngày bé. Chắc là ở cương vị một Bộ trưởng ông có nhiều trăn
trở về những điều chưa làm được cho con cháu mà ông gọi “Mẫu giáo là viên ngọc
quý chưa được mài dũa”.
Ý tưởng của ông là: “Trồng cây thì có quả ăn trong vài chục
năm, nhưng trồng người chẳng những được “ăn” ở đời mình mà cả đời con, đời cháu
mãi mãi về sau”. (trong bài viết về “Vì tương hai và hạnh phúc của con em chúng
ta” Báo Người giáo viên nhân dân, 1967).
Không những ông lo cho các con khi còn thơ bé mà khi ông giữ
trọng trách vì tương hai và hạnh phúc của con em đất Việt cũng không ngoài tư
tưởng chủ đạo trên.
Cho nên tôi hiểu lòng ông luôn trăn trở về sự “Trường không
ra trường, lớp không ra lớp”. Ông thường phàn nàn “với trường sở như vậy gây
cho học sinh thói xấu đáng tiếc như mất trật tự, luộm thuộm, thiếu nếp học tập,
lao động nghiên cứu khoa học…”.
Mẹ tôi thì thấy tiện nghi của trường Mẫu giáo không đảm bảo sức
khỏe cho trẻ. Thỉnh thoảng vì ngủ đất, vì ngủ quạt mà sinh đau họng, ốm kéo
dài. Mẹ than phiền: “Để sự chăm sóc thế này mắc bệnh viêm họng có khi gây thành
bệnh kinh niên cho trẻ như thấp khớp, đau tim, đau thận… làm còi cọc giống
nòi”. Nhưng biết làm sao được khi đất nước còn chiến tranh, còn nghèo nàn.
Tôi phải cảm ơn cha mẹ đã chăm sóc tôi trong điều kiện quá đầy
đủ. Cho dù quãng thời gian học ở trường chẳng là bao nhưng đã có dấu ấn tốt đẹp
về kỷ luật, nền nếp và ít nhiều ghi nhớ cô giáo uốn nắn phong cách giao tiếp đường
hoàng mà lễ phép.
Trường chuyển vào Hà Đông
Lần đầu tiên theo gia đình chạy loạn đó là vào năm 1943 -
1944. Từ trường các bà sơ trở về tôi kể cho mẹ nghe là tôi đã nghe tiếng bom rền
khi ngồi trong hầm trú ẩn. Các bà sơ Pháp nhắc học trò bình tĩnh tụng kinh.
Về nhà nghe người lớn nói tới cái chết của bà Tư Sinh đang ngồi
xe tay qua “Đấu Sảo” thì bị bom chết ngay tại chỗ. Rồi sự việc tiếp diễn, cha
tôi gọi người về bán xe Renault màu xám. Từ đấy chúng tôi không được đi chơi,
không được thăm bà nội hằng tuần. Trong những năm chạy loạn, gia đình tôi rời
vào Hà Đông, còn các anh chị ở “Hale” theo cha mẹ về quê. Chúng tôi chia tay
nhau từ đấy. Chỉ có cô Quý là vẫn theo mẹ tôi vào Hà Đông.
Thời kỳ đầu, gia đình tôi còn phải ở nhờ dinh cụ Thượng Quỳ, ở
đó tôi được sống với các bạn của mẹ tôi, cô Nga, cô Thái. Được quen biết các em
của các cô là: cô Châu, cô Điểm, cô hai, cô Tài…
Một hôm cô Châu rủ tôi ra chơi dưới cây đa trước cổng nhà.
Cây đa to lắm, dây rễ rủ xuống dài quét đất. Chẳng biết bằng cách gì mà tôi với
cô Châu hai tay ôm dây và ngồi trên dây đánh đu. Đêm đó tôi lên cơn sốt cao, cụ
trẻ phải làm khay hoa quả cúng. Cô Bích Châu sau này trở thành diễn viên kịch
Hà Nội, nổi tiếng một thời đóng Ni La.
Mẹ tôi nhắc chúng tôi ghi nhớ tình bạn của cô Nga, cô Thái đã
giúp đỡ gia đình chúng tôi những ngày đầu chạy máy bay Đồng Minh ném bom phát
xít Nhật.
Sau khi mẹ tôi, cô Di và bác Tú Cương mỗi người mua một nhà
liền kề. Tường sân nhà này sát nhà nọ. Bếp và công trình phụ xa phòng ngủ. Vườn
tuy nhỏ nhưng mẹ tôi cũng trồng rau và cây chanh, cây na. Trước nhà là chợ Hà
Đông. Bên cạnh nhà tôi là nhà bác Tú Cương. Còn một bên là bãi cỏ. Bên kia bãi
cỏ là rạp chiếu bóng. Tại Hà Đông, nơi có rạp chiếu bóng, mẹ tôi đã gặp lại người
bạn gái học cùng trường từ thuở còn nhỏ, đó là bác Tính. Sau này bác còn có một
bí danh cho những áng thơ: Tuyết Ngọc. 43 năm sau mẹ tôi gặp lại bác khi đã nghỉ
hưu. Bác Tuyết Ngọc trở thành nhà thơ, còn mẹ tôi sau này là Hội viên Hội nghệ
sĩ tạo hình.
Rạp chiếu bóng của gia đình bác Tuyết Ngọc ở ngay gần nhà
tôi, mỗi khi muốn xem phim tôi chạy qua gác vào tọt sau màn bạc thế là được xem
phim ngược. Mỗi lần phiên chợ người đổ về rất đông. Xe thúng mủng rổ rá vẫn đỗ
trước cửa nhà tôi khi vào chợ. Tôi ra đứng xem và ngửi mùi của rổ rá đã sấy khô
trên gác bếp rất là thơm. Mẹ tôi đã mua cho tôi một bộ thúng to nhỏ để chơi đồ
hàng. Ít lâu sau cũng ở chợ đông vui ấy, cơ man nào là ăn mày. Nhìn cảnh vô
cùng thương tâm, thật đau lòng! Có những em trạc tuổi tôi bấy giờ gầy giơ
xương, quần áo rách rưới, ẵm theo em nhỏ đi ăn xin. Có em cởi truồng mông thì
không còn nhìn thấy, chỉ thấy tòi ra một cục bằng quả bóng đỏ lòm, mẹ tôi bảo
“người ta bị lòi dom”. Nhiều người đi khắp chợ ăn xin, chạy cửa này lại sang cửa
khác, hoặc có cả gia đình lũ lượt lớn bé đói rách gầy xác xơ thi nhau bới đống
rác cạnh rạp chiếu bóng sau ngày phiên chợ. Bao nhiêu cơm thừa đem cho cũng
không xuể. Rồi đêm đến ngủ la liệt trên hè, đầu hồi nhà tôi. Sáng ra có người
đã chết. Xe chở rác đầy chặt xác người nhặt trên hè phố được đắp lên chiếc chiếu
rách. Nạn đói hoành hành dữ dội. Sự bóc lột của giặc Nhật đã lên tới cùng cực.
Sau này đi học tôi hiểu nỗi thống khổ của nhân dân trong thời kỳ ấy.
Đó là điều rất dễ hiểu vì sao khi tiếng gọi của Mặt trân Việt
Minh phát ra lại được đại đa số nhân dân đón nhận nhanh chóng và khí thế đến vậy.
Rõ ràng khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” lúc này thực sự đã đáp ứng
nguyện vọng cấp bách của quần chúng. Thực sự thổi bùng lên rất nhanh ngọn lửa
căm thù trong đông đảo nhân dân và phát động quần chúng vùng dậy với khí thế
cách mạng hừng hực tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền.
Sau này mẹ tôi thường nhắc lại không khí cách mạng hừng hực
làm lòng mẹ xao xuyến. Thỉnh thoảng lại nhận được truyền đơn đưa qua khe cửa. Mọi
người đều trong tâm trạng đón chờ sự kiện đổi mới. Bỗng một hôm, tôi thấy khắp
chợ ăn mày mặc váy đầm, quần áo rộng thùng thình. Sau đó nhà nào cũng phải chuẩn
bị treo cờ. Nhà tôi không có cờ phải nhuộm nghệ một mảnh vải để máy vội. Đó là
ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp và thành lập Chính phủ Trần Trọng
Kim.
Tình cảnh lúc này lộn xộn lắm. Mẹ tôi thường đóng cửa hướng
ra phía chợ. Chúng tôi toàn đi theo phía cửa Rạp chiếu bóng. Mẹ tôi nhớ lại lúc
có mang em Huy là những tháng gay go và đã viết cho Huy: “Suốt 9 tháng mẹ mang
nặng đẻ đau là lúc Nhật Pháp giày xéo lên đất nước ta, cuộc sống đảo điên, lúc
nào cũng nơm lớp lo âu, cuộc sống. không bảo đảm. Ai ai cũng thầm mong có cái
gì đó biến đổi cả cuộc sống. lúc đó vì cuộc sống rất khó thở”…
Tiếp đó là sự kiện mùng 6 tháng 8 năm 1945, Mỹ ném bom nguyên
tử ở Hiroshima, Nagasaki, rồi ngày 10 tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng.
Tôi chỉ còn nhớ láng máng về cái ngày đê vỡ, khu phố chợ Hà
Đông rục rịch chạy loạn. Tuy mới sinh em Huy, nhưng mẹ tôi đã phải thu dọn để
nhanh chóng rời về Hà Nội. Trước khi rời Hà Đông còn tạm ở nhờ nhà cô Nga, cô
Thái.
Khi Nhật lục tục rút thì Tàu Tưởng vào thế ngay các nơi Nhật
đóng. Gia đình tôi trở về Hà Nội, không quay lại được nơi ở cũ. Gia đình chúng
tôi đón Cách mạng Tháng Tám ngay tại 45 phố Cột cờ, nay là phố Điện Biên Phủ,
Hà Nội. Để tránh bom, các trường Pháp Việt ở Hà Nội cũng chuyển vào thị xã Hà
Đông. Mẹ tôi dẫn tôi đến trường thuê sách. Cầm các cuốn sách giáo khoa bìa cứng
tuy màu giấy vàng nhưng đã gợi lên trong tôi một suy nghĩ là phải giữ gìn sách
sạch, không được rách nát. Về sau này tôi đã tạo cho các con chúng tôi lúc nào
cũng có bộ sách giáo khoa bìa cứng (tự đóng lấy). Tôi không thể chấp nhận nổi
sách giáo khoa của học trò để mất bìa, quăn góc, nhàu nát rồi đem làm giấy gói
hàng!
Đến trường tôi đã gặp lại nhiều bạn trong bộ đồng phục của
trường cũ Ngày mới tới trường không biết nhà vệ sinh ở đâu nên đã tè dầm. Lớp học
xây theo chiều dốc. Tôi ngồi hàng 3 - 4 gì đó. Tè dầm chảy xuôi xuống dưới. Khi
cô giáo hỏi tôi không nói gì, nhưng cô biết ngay. Sau đó cô đã chỉ cho tôi nhà
vệ sinh mà không bị cô quát mắng. Một ấn tượng để lại trong tôi là mình chẳng
nên không nhận lỗi. Người lớn rồi cũng sẽ biết tất cả. Bài học thứ nhất về việc
nhận lỗi là lần tôi vặt một quả vải trong số quà các bác biếu ông tôi, mẹ tôi
đã phát hiện vì có mầu trắng trắng lộ ra trong chùm vải nguyên vẹn. Bị mẹ tôi
phát hiện nhưng mẹ tôi không mắng, chỉ dặn tôi muốn ăn phải xin phép mẹ, người
lớn ăn trước, ông ăn trước rồi con cháu mới được ăn. Nhờ sự giáo dục êm nhẹ đầy
tình thương ấy mà tôi không sợ lỗi sẽ bị roi đòn. Mặc dầu biết là mình được cha
mẹ yêu chiều nhưng cũng hết sức nghiêm khắc không để cho tôi có cơ hội lẫn lộn
đúng sai, thật giả. Vì vậy trước cái đúng, cái đẹp và sự chân thật luôn được
tôi dũng cảm bảo vệ. Nhiều lúc đã gây không ít những thiệt thòi cho bản thân vì
những sự đấu tranh bảo vệ cái đúng, bảo vệ bạn bè, tâm tính của tôi vẫn không
suy suyển. Cái đẹp, cái đúng cái chân thật vẫn tồn tại vững vàng trong lòng
tôi.
Ngày ấy chú thím Hưởng cũng đã gửi Nguyễn Quang Vinh vào học
trong Hà Đông. Những lúc nghỉ ở nhà, Vinh thường hay mang sách chuyện tranh kể
cho tôi nghe, cậu ta cứ làm như thể thuyết minh trên màn ảnh, chị em tôi ngồi
xem rất là thú vị. Trong Kháng chiến tôi lại được mẹ tôi gửi cho chú thím Hưởng
về học ở Tân Trào, chị em lại được gần nhau. Ấn tượng nhất là Vinh rất hiền
lành. Ngày ở Hà Đông mẹ tôi thường đọc truyện cho tôi nghe vào các buổi trưa.
Tôi còn nhớ, mẹ tôi đã đọc câu chuyện anh Hạ Long một học trò nghèo đang đi học
thì phải nghỉ vài ngày. Khi anh trở lại trường các bạn thấy anh tay đeo băng
đen và xin thầy giáo thôi học với lý do là mẹ anh đã chết. Không hiểu câu chuyện
do ai viết mà lâm ly đến nỗi tôi rúc vào nách mẹ khóc nức nở. Mẹ tôi đã khắc
vào lòng tôi một mối tình mẹ con thật vô cùng vĩ đại. Tình thương ấy chẳng có
ngôn ngữ riêng nhưng sao nó diệu kỳ đến mức trẻ thơ cảm nhận được nếu thiếu vắng
mẹ là đời sẽ mất đi tất cả. Mà chẳng biết lúc ấy mẹ tôi có khuyên dạy gì tôi
không, nhưng tôi thì nhớ câu chuyện với kết cục: không có mẹ thì con chẳng có
quyền đi học nữa, niềm vui của trẻ thơ cũng theo đó mà tan.
Rời vào Hà Đông, cha tôi không dọn sách theo. Trong nhà cũng
đơn sơ Nhưng tôi hiểu được cha mẹ là người rất quý trọng sách, nâng niu sách.
Các con tôi sau này cũng đã nhờ thừa hưởng sách có trong nhà mà trưởng thành
lên rất nhiều. Mẹ tôi cất sách vào tủ kính khoá cẩn thận. Hè đến bà cho các
cháu mượn dần từng quyển. Gần như sách trong tủ bà mỗi ngày một đầy thêm khi có
thêm cháu nội ngoại.
Cháu Hiền con trai lớn của tôi đã nhớ về ông bà ngoại như
sau: “Ông bà tôi để lại cho anh em chúng tôi nhiều sách. Số lớn là văn học cổ
kim, truyện Tầu, truyện Nga, truyện Pháp đã được dịch ra tiếng Việt. Chúng tôi
thật là sung sướng vì sau chiến tranh, đất nước rất khó khăn, cuộc sống vật chất
còn đầy lo toan, vậy mà riêng tôi tắm mình trong thế giới tinh thần của cái thư
viện gia đình mình, tôi lại cảm thấy thoải mái sung sướng và chính vì thế tôi
không cảm thấy có nhu cầu lang thang chơi bời với những trò đùa nghịch thông
thường như bạn bè thời ấy”.
Song cái phần con tôi được hưởng thật quá ít. Kháng chiến chống
Pháp, toàn bộ sách để lại Hà Nội. Khi trở về chỉ còn lại một số ít được đóng
trong hòm gửi tại Viễn Đông Bác cổ mà thôi.
Tình hình trên quê
Từ Bản Chu, ngày 23-1-1945, chú Dư gửi thư cho mẹ tôi và các
cô, các bác ở Hà Nội: “Các chị ơi! Sống ngày nào thời biên ngày ấy thôi. Về quê
thì lấy gì mà phong lưu nữa. Thóc gạo đủ ăn là tốt rồi, rau cháo cho qua bữa thời
thôi… Các cháu nó đều chạy trốn nhà đi chiến khu cả rồi… Thằng Ái và thằng Mãn
chỉ có chúng nó nhớn ở nhà giúp đỡ nhiều nay nó đi, sớm tối em và anh Cả lấy ai
mà sai bảo công việc… Cháu Phác ở dưới ấy nhờ chị chỉ bảo nó, dạy nó cho em nhờ…”.
Thế là về sau anh Phác đã cùng thanh niên Hà Nội theo tiếng gọi
của Cách mạng tham gia “Nam tiến”. Hôm tiễn đưa anh Phác thật là bịn rịn nhưng
cũng đáng tự hào. Được tiễn người trong gia đình đi chiến đấu để bảo vệ từng tấc
đất thân yêu của Tổ quốc là lẽ sống và nghĩa vụ của mỗi người Việt nam yêu nước.
Trước khi anh Phác “Nam tiến” anh cùng sống với chúng tôi ở
45 Phố Cột Cờ. Một hôm tôi theo mẹ và cô Quý ra cổng chờ anh về ăn cơm mà mãi
không thấy về. Đến khi trời gần tối, chúng tôi mới thấy anh từ xa trong bộ quần
áo trắng. Mừng quá cả nhà chạy ra đón anh. Bởi vì tình hình bấy giờ rất căng thẳng.
Bên cạnh nhà tôi ở là nhà của một sĩ quan Nhật. Ngày ngày lính Nhật tập hợp
ngoài hè. Từ trên hiên nhà tôi thấy nhiều lần sĩ quan Nhật đeo gươm dài bên
mình tát quân lính. Anh Phác làm cả nhà hoảng hốt vì trên người đầy vết máu Anh
nói vừa đưa bạn về Bệnh viện Phủ Doãn…
Ngày ấy cô Quý được anh Phác dạy cho rất nhiều bài hát cách mạng
như bài “Chiều nay trên chiến khu trong rừng chiều…” hay là bài “Diệt Phát
xít”, “Tiên quân ca”…
Sau chiến dịch Thu Đông 1947, gia đình tôi gặp lại anh. Bấy
giờ anh bị ốm rất nặng. Hình như anh cũng có bệnh tim như anh Phiên của anh. Mẹ
tôi lo lắng ghi trong nhật ký như vậy.
Tuy anh Phiên mất đã lâu mà nhật ký mẹ viết ngày 2-4-1948,
trên đường tản cư rẽ Quả Cảm - Đoan Hùng đã viết: “Phiên ơi, Phiên có biết các
bác qua đây đi tìm nơi an nghỉ ngàn năm của Phiên không? Sống khôn thác thiêng
hãy phù hộ cả họ nhà ta cháu nhé”.
Vào dịp tôi đang học ở Trung Quốc, tôi đã gặp anh Phác sang
tu học hoá nghiệm tại Trung Quốc. Anh em gặp nhau mừng khôn tả… Khi tôi viết hồi
tưởng về cha mẹ tôi thì anh đã nghỉ hưu. Tình cờ tôi đọc trên báo “Sức khỏe”
(3-l-1996, số 657) nhắc tới anh. Họ viết: “Anh Vi Phác là một thầy thuốc thật
thà, khiêm tốn, tin tưởng ở đồng nghiệp… Bản chất của dân tộc Tày sống giản dị
chất phác như chính tên của anh…”.
Vì sao lại có bài báo này? Đó là nhờ sau khi tu học ở Trung
Quốc anh đã sáng chế và bộ môn cùng góp công để làm ra thuốc chữa bệnh lậu, Rồi
bẵng đi rất lâu, có người báo cáo thành công trình của riêng họ, rồi lại có người
lên tiếng bênh vực chống lại… Vì đồng tiền và danh vọng nên có bài báo “Nguyên
cáo trở thành bị cáo”. Khi đưa ra công luận người viết đến tìm anh (vì anh
không lên tiếng), anh đã trả lời: “Trong thâm tâm tôi không thắc mắc gì vì nghĩ
rằng tất cả việc mình làm chỉ vì cái chung, vì người bệnh cả thôi”.
Trong khí thế chung, thanh niên lúc bấy giờ đều có nhận thức:
“Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con
đường nào khác”. Mọi tầng lớp thanh niên đều đã chọn con đường ấy.
Trước lúc đó bác Chinh tôi còn có hai anh Quế và Lục cũng đã
từ Yên Thế ra nhập Đội Cứu quốc quân, ra nhập Mặt trận Việt Minh, tham gia vũ
trang đánh đổ Pháp Nhật và tay sai của chúng, để cứu nước cứu dân khỏi vòng nước
sôi lửa bỏng, để tuổi thanh niên được tự do vươn tới sự đổi mới.
Con đường bước theo Cách mạng của các tầng lớp thanh niên
cũng khác nhau. Do đói nghèo, do căm thù và cũng do mong muốn được tự do, được
đổi mới. Các anh Lục, Quế, Ái, Mãn lần lượt ra đi từ những năm 1945, 1946 cũng
là do hoàn cảnh gia đình lúc bấy giờ đã làm cho các anh thấy khao khát được hưởng
tự do và đổi mới, đồng thời cũng vì truyền thống gia lộc vốn làm nghĩa vụ trấn ải
biên cương. Anh Quế hy sinh ngay đầu thời kỳ kháng chiến chống Pháp; mãi đến
năm 2002 các anh chị gia đình bác Chinh mới tìm thấy mộ anh Quế và đưa về Bất Bạt
gần hai bác.
Thư bác Cả gái đã viết:
“Bản Chu 4-4-1945…
Thầy lúc nào cũng muốn đè nén, lúc nào thầy cũng an chỉ là lũ
con thầy vô dụng… Không có gì là lạ vì làm sao đời thầy sinh, ông bà lại hiếm
hoi chiều quý thầy, đến năm 22 tuổi, thầy ra làm quan, 25 tuổi thì ông bà quy
tiên. Thế là từ ấy thầy cầm đầu tất cả công việc đối với xã hội cũng như trong
gia đình. Ai cũng sợ nể thầy…”.
Rồi bác kể rằng: “Dù sai trái phận làm dâu, Tết đến vẫn phải
đứng lên xin tạ lỗi để cụ tha thứ vui vẻ ăn tết với con cháu”. Rồi bác bảo rằng
bác đã dạy bảo các anh các chị không được cãi lại ông, ngay đến bác Cả trai đã
lớn rồi, già rồi mà “không bao giờ dám cãi nữa là chúng mày con cháu. Thật thế
em ạ, gia đình nhà ta chưa xảy ra cha mắng con cãi lại rầm rầm như thế đã là đại
phúc rồi em ạ”.
Các anh thuộc thế hệ thứ ba sống bên cạnh người ông, như vậy
thì hỏi làm sao mà cam chịu nổi trong lúc Mặt trận Việt Minh kêu gọi chống
phong kiến, chống áp bức. Thế hệ thứ hai như mẹ tôi là điển hình mà còn quyết
chí vượt ra khỏi vòng áp chế nữa là lớp trẻ - lớp con cháu.
Sống trên Yên Thế, Tuyên Quang, Lạng Sơn là nơi căn cứ địa
cách mạng, rất may mắn cho các anh tôi, không khí cách mạng trên chiến khu đã rất
nhanh chóng thổi đến và cuốn hút các anh vào cơn bão táp của cuộc Cách mạng giải
phóng dân tộc. Sau này trải qua cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp,
anh Ái, anh Mãn, anh Lục và chúng tôi gặp lại nhau nhiều lần. Lúc ở Phú Thọ,
lúc ở Chiêm Hoá. Mỗi lần gặp lại các anh là thay sự trưởng thành của Vệ Quốc
đoàn, của anh bộ đội cụ Hồ. Các anh đã tham gia nhiều trận đánh. Cuối cùng là
chiến dịch Điện Biên Phủ.
Những anh chị em sống tại Ha le đều trải qua thăng trầm của
cuộc sống, gần như đều có chung một ý nghĩ như anh Chu Quang: “Có lúc tán thành
phương pháp giáo dục của cụ Vi nếu pha thêm được những nét dân chủ…”.
Rồi anh nhắc tới tuổi thơ để lại cho chúng mình điều gì đáng
quý? Về cuộc sống đại gia đình mà tôi kể trên, anh cho rằng: “Nó không cho phép
mình ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình và anh em với nhau ai cũng có bổn phận, gần gũi
yêu thương nhau, mong cho nhau tốt đẹp… Những thực tiễn xã hội đâu thế, còn có
số phận của nó… Nhưng cái cơ bản nhất mà chúng mình đều có đó là lương thiện và
có những đức tính thật sự con người”.
Ngày 18-9-1949, mẹ tôi gặp anh Ái ở Thanh Thuý, Phú Thọ đã viết:
“Ái thay đổi nhiều. Ái đưa nhật ký cho cô xem. Thời gian Ái ở Cao Bằng cũng một
thời đấy!… Mong cháu hãy phát huy lên để ông, cha mẹ chồng cả họ tự hào có người
con ưu tú. Hiện giờ Ái học ở không quân…”.
Sau ngày chiến thắng trở về Hà Nội vì thành phần anh phải
chuyển ngành và đã làm việc ở Bộ Đại học cho đến ngày nghỉ hưu. Anh Chu Quang
cũng như anh Ái ở trong quân ngũ, các anh chiến đấu rất dũng cảm và có thành
tích nên được đề bạt Đại đội trưởng. Mẹ tôi gửi cho tôi tấm ảnh anh Quang oai
nghiêm trong bộ quân phục và chiếc huy hiệu: “Chiến sĩ Điện Biên”. Đó là niềm tự
hào của mẹ tôi, của chúng tôi. Nhật ký trong Kháng chiến nhiều lần mẹ tôi viết
“Bác yên tâm về Mãn”.
Cùng chung số phận như anh Ái, anh Quang giải ngũ và về phụ
trách thể dục thể thao ở Hải Phòng. Ở cương vị nào anh cũng làm việc hết mình.
Sau khi cha tôi qua đời anh Chu Quang đã nói lên tình cảm của con cháu đối với
người bác như sau: “… Tin bác ra đi đột ngột và xúc động, nước mắt cháu tràn
ra. Tổn thất và đau thương cho tất cả con cháu. Cháu vô cùng biết ơn bác đã dìu
dắt từ những ngày chập chững vào đời (1937 -1945). Lớn lên theo Cách mạng, cháu
vẫn luôn luôn noi gương bác, một người thực sự học được ở Bác Hồ kính mến đạo đức
“cần kiệm liêm chính, chí công vô tư và suốt đời trung thành với sự nghiệp đại
của Đảng và dân tộc”.
Thấy tôi có viết hồi ký và nhắc đến một thời cùng chung sống
tại “Hale”. Anh Chu Quang nói với tôi: “Vừa qua mình có viết một bài về tiêu đề
anh lính Điện Biên Phủ năm xưa trên mảnh đất cảng Hải Phòng rất được hoan
nghênh. Chủ đề là anh lính Điện Biên Phỉ đồng nghĩa với anh lính cụ Hồ, hoàn
thành nghĩa vụ, huân chương đầy ngực, cấp bậc thì cao, không lao vào công việc
tiêu cực và không thể nào lại là viên đại uý Tênacđiê của Victo Hngô”.
Chị Hồ, sau năm 1944, có quay trở về Hà Nội và theo trường
Fêlic Fô chuyển vào Hà Đông học. Chị Hồ cao lên, đẫy đà hơn, xinh đẹp hẳn lên.
Đúng là một cô gái duyên dáng, dịu hiền, mạnh khỏe, nhanh nhẹn và rất hồn
nhiên. Thế là anh Tôn Thất Tùng học trò của chú Hồ Đắc Di yêu say đắm, nhất nhất
xin cưới ngay trong đầu năm 1945. Mới 15 tuổi tròn, chị đã đi lấy chồng. Chị
thì quá trẻ, anh hơn chị 20 tuổi. Tôi từ Hà Đông cũng được đón về Hà Nội để dự
đám cưới.
Đám cưới anh chị Tùng, Hồ được tổ chức tại nhà Hale (59 Trần
Bình Trọng) nhộn nhịp như những lần ông tôi mời khách. Mâm bàn bày biện lịch sự
tại phòng khách và phòng ăn. Nhà Hale mở rộng cửa đón khách. Tôi còn nhớ những
món ăn có màu sắc rực rỡ: xôi gấc đỏ, chả quế thơm, các món ăn được bày biện rất
cầu kỳ. Mọi người quay ra làm kem ngay trước bếp của bác Thuận. Nào đá, nào mùn
cưa đầy ở sân, mọi người chạy lên chạy xuống nhộn nhịp. Trong đám cưới chị Hồ
chỉ thiếu có đội múa xòe như mọi lần ông tôi tiếp khách.
Đôi vợ chồng anh chị Tùng, Hồ sống trọn cuộc đời đầu bạc răng
long mà vẫn còn yêu nhau say đắm. Đôi Tùng, Hồ và đôi cha mẹ tôi là niềm hạnh
phúc đôi lứa mà cả họ tôi ai cũng biết, cũng quý trọng và noi theo. Kể từ sau
ngày cưới anh chị Tùng, Hồ tôi không bao giờ còn được đặt chân tới ngôi nhà
thân thương và biết bao kỷ niệm trìu mến của tuổi thơ nữa. Sau đám cưới chị Hồ
ít lâu sau thì Cách mạng thành công.
Những ngày huy hoàng
Trong Bản tự thuật lý lịch cha tôi đã viết: “Cách mạng Tháng
Tám thắng lợi giải phóng cho dân tộc một cách kỳ diệu. Tôi vô cùng sung sướng,
được thấy ánh sáng và tham gia cách mạng từ đấy…”.
Ngày 3 tháng 8 năm 1945, mẹ tôi sinh em Huy chưa được mấy
ngày thì nạn lụt vỡ đê. Trong khi đó cha tôi vất vả ngày ngày đạp xe từ Hà Đông
ra Hà Nội làm việc. Nơi ở của gia đình là nơi trũng thấp nên không thể nấn ná
được. Không chờ ngày đầy tháng của em tôi, mẹ tôi đã phải thu dọn bồng bế chúng
tôi trở về Hà Nội. Trên hiên nhà 45 Cột Cờ, tôi chứng kiến ngày đoàn biểu tình
sục sôi diễu hành trên đường phố hô vang khẩu hiệu. Cả một rừng cờ đỏ sao vàng
tung bay trên tay mọi người.
Nhật ký mẹ tôi viết: “Mẹ con bồng bế nhau từ Hà Đông ra Hà Nội
để sống những ngày huy hoàng của Tổ quốc”. Cha mẹ chẳng có lúc nào kể cho chúng
tôi nghe về thời bấy giờ.
Ngày 27 tháng 8 năm 1945, trên Báo Cứu Quốc số 32 có đăng bức
điện: “Một chính phủ nhân dân lâm thời đã thành lập. Chủ tịch là cụ Hồ Chí
Minh. Yêu cầu Vua thoái vị ngay để củng cố và thống nhất nền độc lập nước nhà”.
Ký tên của bốn nhà trí thức, trong đó có cha tôi. Vì sao có bức điện này? Theo
Giáo sư Nguyễn Xiên kể lại thì: “Chiều ngày 22 tháng 8 năm 1945, sau cuộc khởi
nghĩa thành công ở Hà Nội, sinh viên và thanh niên học sinh tổ chức mít tinh ở
Đông Dương học xá có mời nhiều nhà trí thức trong đó có anh Nguyễn Văn Huyên,
Nguỵ Như Kon Tum, Hồ Hữu Tường và tôi (Nguyễn Xiển) đến phát biểu ý kiến. Chúng
tôi đều đồng thanh ủng hộ Việt Minh…”.
Do việc này ông Xiển cho biết nhà sử học Pháp khi viết về
Cách mạng Tháng Tám đã gọi nhóm bốn người là “Nhóm người đánh điện”.
Vào năm 1968, cha tôi đã có bài phát biểu trên đài tiếng nói
Việt Nam về trí thức trong giai đoạn bấy giờ ông đã nhắc tới xúc cảm của mình
trong ngày đầu Cách mạng Tháng Tám: “Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ những cảm
xúc của mình khi đứng trên quảng trường Ba Đình lịch sử nghe Hồ chủ tịch đọc
Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Không phải đến lúc đó tôi mới nghe
mấy tiếng “Độc lập, Tự do”, nhưng cũng chỉ từ phút đó và qua kháng chiến tôi mọi
càng thấm thía nghĩa sâu sắc hai tiếng đó…”.
Kể từ năm 1938, ông Vương Kiêm Toàn đã cùng làm việc với cha
tôi trong Ban trị sự truyền bá quốc ngữ. Bấy giờ ông đảm nhiệm chức Trưởng ban
dạy học của Trung ương Hội. Đến ngày Bác Hồ ký sắc lệnh thành lập “Bình dân học
vụ” thì ông Vương Kiêm Toàn cũng đã lại có mặt trên mặt trận này. Cha tôi và
ông lại cùng sát vai phục vụ cho sự nghiệp nâng cao dân trí. Suốt 30 năm cùng
làm việc với cha tôi, ông luôn ở cương vị Vụ trưởng Vụ bình dân học vụ.
Ngày 8 tháng 9 năm 1975, kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Ngành
Bình dân học vụ. Trong buổi họp mặt đông đủ anh chị em hoạt động Bình dân học vụ
lâu năm cha tôi cũng đã có mặt. Sau lần gặp mặt đó cha tôi đã sang Cộng hoà Dân
chủ Đức cũ chữa bệnh. Không ngờ đó là buổi gặp mặt cuối cùng với những người hoạt
động Ngành Bình dân học vụ. Sau khi hoàn thành cuốn sách “Hội Truyền bá Quốc ngữ”
Nhà xuất bản Giáo dục 1980, ông Vương Kiêm Toàn đã không quên gửi tặng gia đình
cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên - thành viên Ban trị sự Hội Truyền bá Quốc ngữ Bắc
Kỳ.
Sau Cách mạng Tháng tám năm 1945, cha tôi được cử giữ chức Tổng
giám đốc Đại học vụ kiêm Giám đốc Trường Viễn Đông Bác cổ. Thời gian này Giáo
sư Nguỵ Như Kon Tum làm Đổng lý văn phòng Bộ Giáo dục kiêm Phó giám đốc Đại học
vụ. Bấy giờ Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục là luật sư Vũ Đình Hòe.
Một thời gian sau ông Hòe về làm Bộ trưởng Bộ Tư Pháp thì Bộ
trưởng Bộ Giáo dục chuyển cho ông Đặng Thai Mai.
Khi ông Ca Văn Thỉnh từ Miền Nam ra Bắc thì ông Mai nhường lại
chức đó cho ông Thỉnh. Từ tháng 11-1946 cha tôi mới chính thức thay ông Ca Văn
Thỉnh làm Bộ trưởng.
Ông Vũ Đình Hoè viết trong Hồi ký về cha tôi như sau: “Tôi đến
chơi Nguyễn Văn Huyên tại Học Viện Bác cổ để bàn với Anh về khung tổ chức Bộ Quốc
gia Giáo dục và mấy việc phải làm ngay. Giúp Bộ quản lý việc học sẽ đặt ở Trung
ương bốn Nha đứng đầu là bốn Tổng Giám đốc. Nha Đại học vụ Nguyễn Văn Huyên phụ
trách, hai Nha Trung học và Tiểu học sẽ giao cho hai anh Nguỵ Như Kon Tum và
Nguyễn Hữu Tảo. Còn về Bình dân học vụ sẽ bàn thêm với Cụ Tố. Tôi khẩn khoản
xin anh Huyên nhận thêm cho vai Cố vấn của Bộ, thì anh cười: “Tôi đâu dám, cố vấn
vân cho Bộ phải là một Hội đồng: Hội đồng Giáo dục Quốc gia. Tôi sẽ tìm các vị
cố vấn cho Anh. Cũng là những người Anh biết cả thôi…”.
Ông Vũ Đình Hoè viết tiếp: “Sắc lệnh ngày 10-10-1945 thiết lập
“Hội đồng Cố vấn học chính” để xúc tiến việc nghiên cứu soạn thảo dự án Cải
cách Giáo dục của Chính Phủ lâm thời nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà. phải nói
ngay rằng ông “thợ cả” giúp đỡ cho Hội đồng dựng lên được bản dự án đứng đắn ấy
chính là Nguyễn Văn Huyên, và trợ thủ đắc lực là Hồ Hữu Tường, có tham khảo bản
“Chương trình Trung học Hoàng Xuân Hãn” đã bắt đầu áp dụng từ niên khoá
1945-1946 tại Trung Kỳ (và cả những năm tiếp theo ở Miền Nam)…
Trong tờ trình bản dự án, nêu rõ đường lối cải cách như sau
“Nền giáo dục mới đặt trên ba Nguyễn tắc cơ bản: dân chủ, dân tộc, khoa học và
theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia”.
Trong tạp chí “Tiên Phong” số 2, ngày 1-12-1945, có đăng một
thông tin: “Trường Đại học khai giảng: Sáng 15-11-45 tại Hà Nội đã làm lễ khai
giảng trường Đại học. Tới dự có Hồ chủ tịch, nhiều quan khách Trung Hoa và nhân
viên Chính phủ. Ông Nguyễn Văn Huyên, Giám đốc Đại học vụ, đọc diễn văn khai mạc.
Ông Vũ Đình Hoè, Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nói về các nhiệm vụ của trường Đại học
lúc này. Sau cùng là cuộc phát bằng cho các bác sĩ tân khoa, nn bằng cấp đầu
tiên của nước Việt nam độc lập”.
Bài diễn văn, được đọc trong buổi lễ khai giảng Trường Đại học
đầu tiên của nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà năm thứ nhất, cha tôi viết bằng bút
chì được lưu giữ tại Pháp trong “Hồ sơ Nguyễn Văn Huyên”. Cô Nguyễn Phương Ngọc
nghiên cứu sinh tại Pháp nghiên cứu về lớp trí thức Việt nam của đầu thế kỷ 20
đã sưu tầm được và gửi về cho gia đình chúng tôi. Tôi muốn ghi lại đây toàn bộ
bài diễn văn này để con cháu mãi mãi phải gắng công học hành xứng đáng với niềm
tin và hy vọng của ông Cha vào thế hệ tương hai của Tổ quốc:
“Thưa Cụ chủ tịch, Thưa các ngài, Thưa các bạn,
Tôi rất lấy làm vui mừng và cảm động, được thấy cử hành ở đây
buổi lễ long trọng mở đầu một kỷ nguyên mới cho nền Đại học nước Việt nam ta. Vậy
trước khi trình bày cùng các ngài những phương sách của trương Đại học tôi xin
thay mặt toàn Ban Đại học cảm ơn cụ chủ tịch đã không quản thời giờ vàng ngọc tới
chủ toạ ngày lễ của chúng tôi. Tôi lại không quên cảm tạ liệt quý vị đại diện
cho các phái bộ cường quốc Đồng minh ở Hà Nội và các anh em đồng bào các giới tới
chứng minh lễ khai giảng đại học này.
Các ngài tới đây làm tăng vẻ long trọng của một buổi lễ mà
trường ra chỉ là một buổi họp thân mật của các Giáo sư và các bạn sinh viên.
Nhưng buổi lễ hôm nay anh em Giáo sư và sinh viên chúng tôi
muốn là một dịp để tỏ cho thế giới biết trong giờ phút nghiêm trọng của tiền đồ
Tổ quốc này, dân tộc Việt nam ngoài công cuộc đấu tranh bằng xương máu trên
thiên địa cũng nỗ lực tham gia vào công cuộc tiến triển văn hoá của nhân loại.
Chúng tôi muốn rằng nền đại học mới này là một lực lượng mạnh trong những lực
lượng chiến đấu của dân tộc Việt nam. Chúng tôi muốn nó là một thành luỹ để trường
kỳ kháng chiến phục hồi hoàn toàn lãnh thổ và giải phóng tinh thần cho dân tộc
chúng tôi là một dân tộc văn hiếu có ngoài nghìn năm lịch sử độc lập và tự gây
nên được một nền văn minh đặc sắc trên ven bể Thái Bình Dương này.
Thưa các ngài,
Vì cảm thấy sự quan trọng của nền đại học tôi muốn nhân cuộc
hội họp hôm nay trình bày với các Ngài một đôi lời về công việc của chúng tôi.
Trường Đại học quốc gia này mở ra trong những trường hợp rất
khó khăn. Thế giới vừa vùi được ngọn binh lửa mới có hơn một tháng thì cuộc
binh đao sát hại lại bùng nổ lên trên cả một dải đất rộng và phì nhiêu nhất ở
phương Nam nước này. Dựa vào những lý thuyết bất công và giả dối, thực dân Pháp
đã đi ngược đường với sự chiến đấu chung cho tự do của nhân loại. Sự xâm lăng ấy
còn đương tiếp tục một cách mãnh liệt mà chúng tôi được thượng lệnh xây đắp
ngay nền tảng Đại học quốc gia.
Tuy khó khăn, nhưng nhờ sự giúp đơ của tất cả mọi người,
chúng tôi đã không sai hẹn.
Về các bạn sinh viên thì ai nấy đều lặng lẽ hiểu biết trách
nhiệm của mình và đã tiếp tục ghi tên vào các ban, cùng dự các kỳ thi lên lớp
hoặc tốt nghiệp, một cách sốt sắng và có hiệu quả tốt đẹp.
Thế là không kể những anh em sinh viên cùng thanh niên trí thức
hiện nay còn ở trong hàng ngũ quân đội, hoặc ở những cơ quan chiến đấu khác,
không kể những anh em Nam Bộ hoặc còn đang tranh đấu trên chiến trường, hoặc
còn đương tham dự công việc hành chính, những anh em Trưng bộ còn bị đường sá cản
trở, những anh em lân bang Cao Miên Ai Lao đương bị thực dân Pháp chia rẽ, chưa
kịp tới giúp sức chúng anh em có mặt ở đây.
Dầu sao với số sinh viên đã ghi tên theo học các ban, chúng
tôi cũng nhận thấy rằng Trường Đại học đã mở ra trên một cơ sở khả quan. Nhưng
chúng tôi cũng mong rằng trước sự hoà bình mà vì công lý thiêng liêng sẽ trở lại
đất nước này, số sinh viên ấy sẽ tăng thêm nhiều lên để xứng đáng với số quốc
dân hiếu học và với địa vị của Việt nam trong nền văn minh Đông Á.
Về vấn đề Giáo sư, chúng tôi có trách nhiệm là lập hẳn một ngạch
mới vì nền tảng của Pháp thuộc để lại đã quá mỏng yếu. Trong sự tựa chọn Giáo
sư là những vị có nhiệm vụ tối cao dẫn đạo cho các bạn thanh niên trí thức tân
tiến nước nhà trong thời gian lịch sử quan trọng này, chúng tôi đã căn cứ không
những là chỉ về bằng cấp, mà cả vì kinh nghiệm. Chúng tôi đã chú trọng tới những
nhà chuyên môn có trực tiếp thẳng với đời sống của dân tộc, tới tất cả các
ngành hoạt động trong nước như bác sĩ, bác học, kỹ sư.
Tất cả mọi người đã giúp chúng tôi trong công việc khó khăn lựa
chọn này. Ai nấy đều một lòng hy sinh để cho nền đại học được mau có kết quả.
Ngoài những bực chuyên môn, chúng tôi đã được những nhân vật trong giới ngoại
giao, trong giới chính trị, trong các giới văn hoá giúp. Vâng, trong đoàn Giáo
sư mới này chúng tôi có những bực đã từng chiến đấu cho đất nước, có những vị
nhiều kinh nghiệm trên đường đời, có những nhân sĩ đã từng du học lâu năm ở ngoại
bang.
Vì thế mà trong các ban đại học chúng tôi có đủ nhân tài tham
gia vào công cuộc kiến thiết: tân học có, cựu học có, lão thành có, tuổi trẻ
có. Ai nấy đều một lòng hăng hái, không ngại nhiều công lắm việc, mà đem tài
năng, kinh nghiệm xây đắp nền văn hoá mới cho quốc gia, cố tâm tìm những phương
sách thích hợp với công việc đào tạo nhân tài, không câu nệ quá ở cổ tục, không
nhắm mắt đi liều trên con đường mới xẻ.
Muốn cho công cuộc xây đắp đại học có một cơ sở vững vàng,
chúng tôi đã được phép chính phủ cho lập mọt Hội đồng quản trị gồm các Giáo sư
có kinh nghiệm mà những bậc có quan tâm tới đại học. Hội đồng ấy có nhiệm vụ là
tìm một phương sách thích hợp để mở mang nền đại học và để quản trị một ngân
sách tự trị giống như các quỹ tự trị ở các trường đại học các nước tân tiến Âu-
Mỹ. Quỹ này được chính phủ trợ cấp hằng năm, mà chúng tôi mong rằng nhiều bậc hảo
tâm trong nước sẽ giúp sức hoặc bằng tiền mặt, hoặc bằng nhà cửa ruộng đất để nền
đại học được phát triển nhanh chóng.
Quỹ ấy phải có nhiều người giúp vì những phòng thí nghiệm và
những thư viện của chúng tôi còn phải mở mang nhiều lắm, nhất là trong mấy năm
chiến tranh những điều đã phát minh ra rất nhiều và rất quan trọng cho văn minh
hiện đại.
Nói tóm lại, Trường Đại học Việt nam sau bao nhiêu năm bị kiềm
chế cần phải cấp bách tiến một bước dài. Hiện thời Trường Đại học ngay niên
khoá này có năm ban Y Khoa, Khoa học, Văn khoa, Chính trị xã hội và Mỹ thuật.
Ban Y Khoa thì có Y học, Dược học và Nha học; Ban Khoa học
thì có đủ các khoa toán lý, hoá và thiên nhiên học; ban Mỹ thuật thì có hội hoạ
và điêu khắc học. Cả ban này hiện thời còn theo quy tắc cũ. Nhưng nội trong
niên khoá này sẽ triệu tập một hội đồng để tìm phương sách cải tổ lại cho hợp với
những sự tiến bộ của nhân loại.
Trong hai ban mới là Chính trị xã hội và Văn khoa thì ban
Chính trị xã hội dùng để thay cho ban Luật học cũ vì khuôn khổ ấy không thích hợp
với nhu cầu của mọi ngành xã hội cách tân này. Niên khoá 1945- 46 ban Chính trị
xã hội có hai lớp. Một lớp đặc biệt dành cho những sinh viên đã học hai năm Luật
khoa rồi; một lớp thượng thì mở chung cho tất cả những thanh niên có bằng tốt
nghiệp trung học muốn chuyển về mọi ngành chính trị và hành chính. Lớp này học
làm hai năm. Năm đầu sẽ dạy những khái niệm đại quan về dân luật, hiến pháp,
công pháp và kinh tế.
Những sinh viên tối nghiệp năm đầu sẽ được học một năm thứ
hai chuyên môn hoặc về kinh tế và hành chính, hoặc về công pháp và ngoại giao,
hoặc về tư pháp. Sau này sinh viên tốt nghiệp về chuyên khoa nào sẽ có thể tạm
áp dụng được trong mọi ngành hoạt động của quốc gia như hành chính, ngoại giao,
tư pháp, thương mại, luật sư…
Còn ban Văn khoa thì hoàn toàn mới. Mục đích ban này là phần
thì để đào tạo lấy một số Giáo sư cho nền trung học, phần thì để gây lấy trong
anh em thanh niên có một căn bản vững bền để có thể tham gia được vào những cuộc
khảo cứu và phát minh trong mọi ngành triết lý, xã hội, văn chương, sử ký, địa
dư là một phần những công cuộc lớn lao kiến thiết văn hoá của toàn thể nhân loại
văn minh hiện đại.
Nên cần cấp trong một thời hạn hai năm chúng tôi sẽ mở mười khoa
là hai khoa thiên lý, một khoa xã hội và nhân chủng, bốn khoa văn chương, hai
khoa sử ký và một khoa địa dư. Những khoa ấy sẽ xếp làm bốn chuyên khoa để tiện
hướng dấn sinh viên về những ngành hoạt động đặc biệt của tinh thần triết lý, sử
ký, địa dư, văn học Việt nam và văn học Trung Hoa.
Thêm nữa, vì nhận xét rằng trong thế giới đại đồng ngày nay
không một nước nào dầu lớn hay nhỏ, là có thể sống tách biệt được, nên Trường Đại
học sẽ chú trọng đặc biệt ngay trong niên khoá 1945- 46 tới những sinh ngữ có
quan trọng cho văn hoá, như tiếng Trung Hoa, tiếng Anh-Mỹ, tiếng Nga. Ngoài ra,
nhờ sự tận tâm của các Bộ Kinh tế, Giao thông những trường Cao đẳng chuyên môn
Thú y, Canh nông và Công chính đều cũng khai giảng ngày hôm nay.
Thưa Cụ Chủ tịch, Thưa các Ngài,
Đấy là tóm tắt những phương sách của Trường Đại học quốc gia
Việt Nam ngay năm đầu của nền dân chủ cộng hoà. Trước sự hợp tác của các Giáo
sư, trước sự sốt sắng của các bạn sinh viên, trước lòng ái quốc và sự hy sinh của
tất cả mọi người, chúng tôi tin tưởng rằng sẽ thành công. Và cũng vì tin tưởng
rằng nền Đại học là một trong những nền tảng của công cuộc kiến thiết quốc gia,
anh em chúng tôi cùng hội họp ở đây hôm nay, trước sự khuyến khích long trọng của
liệt vị quý khách, chúng tôi cảm thấy có cùng một trách nhiệm luyện tập tinh thần
cho một số khả quan đại chúng chọn ở mọi tầng lớp dân chúng, không kỳ là trai
hay gái, là quý hay tiện, là giầu hay nghèo để giúp vào công cuộc xây dựng nền
văn hoá mới cho nước Việt nam.
Chúng tôi cảm thấy cũng có trách nhiệm đào tạo một số đông những
người có đủ đức tính và khả năng để dẫn đạo cho quần chúng, những bực quân tử,
nếu các ngài cho phép tôi dùng một chữ cổ, trong nghĩa cổ của một nền văn minh
Đông phương, những người vừa biết trau dồi về kiến thức để có thể tự biết phẩm
bình mọi lực lượng của văn minh, vừa biết xử sự về thực tế để có thể đem áp dụng
ngay trong đời sống những điều hiểu biết của mình để cùng anh chị em đồng bào
các giới nêu cao ngọn quốc kỳ trong mọi cơn giông tố, và trong mọi cuộc hội họp
quốc tế về văn hoá trên nền hoà bình, công lý, tự do, hạnh phúc, bác ái xán lạn
của nhân loại mai sau.
Vì thế chúng tôi sẽ hành lễ khai giảng đại học này một cách
giản dị và trang nghiêm để tất cả anh chị em hiểu rõ nhiệm vụ cùng cố gắng”.
Ngay sau khi khai giảng Trường Đại học, ông Nguyễn Trọng Phấn
kể, cha tôi nhờ ông đi tìm người biết tiếng Nga để mở lớp dạy tiếng Nga.
Ông Phấn kể hồi đó tìm được một người biết tiếng Nga ở Hà Nội
thật là một điều khó khăn, nhưng cuối cùng, ông đã tìm được một người Nga Bạch
vệ đang cư trú tại Hà Nội. Tạp chí “Tiên phong” số 3, ngày 16 tháng 12 năm
1945, đã đăng tin “Lớp dạy tiếng Nga - Bắt đầu từ ngày 17 tháng 12 năm 1945 sẽ
mở tại trường Đại học một lớp dạy tiếng Nga dành riêng cho sinh viên các ban
trong Đại học; người ngoài có bằng Trường học cao cấp; công chức do các ông
giám đốc giới thiệu”.
Cùng đăng tin này có tin: “Lớp La tinh và Hy Lạp ban Văn khoa
trường Đại học Việt nam sẽ mở vào trung tuần tháng 12 năm 1945 một lớp dạy văn
chương La tinh và văn chương Hy Lạp, do Giáo sư Phạm Duy Khiêm đảm nhận”.
Theo những tư liệu lưu giữ trong gia đình, ngoài tham gia các
công tác về giáo dục cha tôi đã tham gia các hoạt động văn hoá. Có một bức thư
của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao số 214/VP gửi cha tôi, lúc ấy là Giám đốc Đại học,
đề ngày 26-3-1946, có nhắc lại việc cha tôi “trong buổi họp Ban Văn hoá của Bộ
Ngoại giao là uỷ viên Hội, ông đã vui lòng nhận tìm hộ cho các tài liệu về sách
vở, tranh ảnh cũ, mới có liên quan đến nền văn hoá của dân tộc Việt nam. Vậy
xin nhắc để ông cho sưu tầm những tài liệu đó và đến 30-3-46 hồi 9 giờ sáng, mời
ông lại dự Hội đồng của toàn Ban Văn hoá (văn chương và mỹ thuật)…”.
Chỉ sau 6 tháng Cách mạng thành công “Ngày 9 tháng 2, hồi 9
giờ sáng, sau khi Hồ Chủ tịch cùng các nhân viên chính phủ đã làm lễ khai mạc
cuộc triển lãm do ông Giám đốc cùng nhân viên của Đông Phương Bác cổ viện tổ chức
tại Quốc gia Bảo tàng viện, chúng tôi cũng vào xem, với cái lòng hăm hở sẽ được
mục kích những tài liệu về văn hoá và lịch sử nước nhà mà bấy lâu chỉ được nghe
nói đến hay thỉnh thoảng được xem hình ảnh trong các tạp chí bác học…”. (Tạp
chí “Tiên phong” số 7, ngày 15 tháng 3 năm 1946. Bài của Thu Xan). Cha tôi vào
thời gian đó giữ chức Giám đốc Trường Bác cổ.
Uỷ ban Vận động Hội nghị Văn hoá Toàn quốc đã gửi cho cha tôi
một bức thư ngày 15 tháng 4 năm 1946:
“… Chúng tôi khẩn khoản yêu cầu ông, hết sức lưu tâm đến bài
thuyết trình mà ông đã hứa làm giúp. Chúng tôi cũng biết ông bận nhiều công việc
quan trọng khác, nhưng vì bài thuyết trình đó có một địa vị đặc biệt và một ảnh
hưởng sâu rộng về văn hoá sau này, dám mong ông sẽ không bao giờ để Hội nghị
Văn hoá đầu tiên của nước nhà thiếu một tài liệu cần thiết như vậy…”.
Trong hồ sơ gia đình không thấy có bài viết này. Sau tôi được
đọc trên tạp chí “Tiên phong” số 24, ngày 1 tháng 12 năm 1946. Bài của Phóng
viên, chúng tôi mới biết chắc bài đó không được đọc vì Hội nghị chỉ diễn ra trong
ngày: “Hội nghị Văn hoá toàn quốc đã sửa soạn trong gần một năm nay. Đã mấy lần
giấy tờ vận động đã gửi đi khắp nước, đã mấy lần định họp hội nghị ở Thủ đô,
nhưng vì tình thế phải hoãn lại mãi đến ngày 24 tháng 11 năm nay…
Hội nghị khai mạc lúc 9 giờ sáng tại Nhà Hát Lớn. Có mặt gần
200 đại biểu Bắc, Trung, Nam… Ngoài các đại biểu Văn nghệ… còn có đủ đại biểu
các ngành văn hoá khác, khoa học, triết học như các ông Hồ Hữu Tường, Đào Duy
Anh, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên…
Thật là xứng đáng một cuộc Hội nghị Văn hoá toàn quốc, nhất
là khi Hồ chủ tịch bước lên đọc diễn văn khai mạc…
Và sau đó Hội nghị được một cái tin bất ngờ: Hội nghị chỉ họp
trong một ngày hôm nay thôi. Cái chương trình rộng lớn trong bảy ngày đành phải
gác lại…”.
Ngày 9 tháng 5 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, Ca
Văn Thỉnh, đã gửi thư cho cha tôi lúc đó làm Giám đốc Đại học vụ: “Hội đồng
sách giáo khoa họp ngày 18-4-1946, đã đề cử ông soạn cho một quyển Sử ký theo
chương trình lớp Chuyên khoa Lịch sử thế giới hiện tại… Vậy tôi có lời trân trọng
xin ông vui lòng đảm nhận cho việc soạn quyển sách giáo khoa nói trên. Vì nhu cầu
của học sinh các trường, xin ông soạn gấp cho quyển ấy để có thể xuất bản kịp
vào dịp khai trường của niên học 1946-1947 này thì hay. Nếu ông đã soạn xong
quyển sách ấy - hoặc một quyển sách giáo khoa khác - xin ông gửi ngay bản thảo
cho bản Bộ để đưa Hội đồng duyệt y và trù liệu việc xuất bản cuốn sách này. Sau
này tôi được đọc đề cương bản thảo cha tôi chuẩn bị viết về Bác Hồ với sự nghiệp
Giáo dục và Bác Hồ với trí thức, có mục: “Cử làm Bộ trưởng Giáo dục”. Trong phần
này cha tôi đã ghi tóm tắt những nội dung Bác đã nói trong lần gặp cha tôi vào
tháng 11 năm 1946: “Bác thấy chú chăm chỉ, có đạo đức nên giới thiệu đoàn thể
mà được chấp nhận”. Bác bảo: “Khó Bác giúp, nghiên cứu cùng làm, quyết tâm là
được. Bọn phản động bán nước đã gạt ra hết rồi. Pháp chúng rất ngoan cố mà hiếu
chiến. Cả nước một lòng chúng không làm nổi gì. Ta nhất định thành công”.
Ngày 14 tháng 11 năm 1946, “Theo quyết nghị của Quốc hội,
ngày 3 tháng 11 năm 1946, ông nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Ca Văn Thỉnh
đã bàn giao công việc Bộ Quốc gia Giáo dục cho ông Bộ trưởng mới Nguyễn Văn
Huyên”. Cha tôi đã đảm nhận nhiệm vụ này suốt từ ngày đó cho đến khi mất vào
ngày 19 tháng 10 năm 1975.
Như một chuyện thần thoại, một dân tộc vừa phá xiềng gông nô
lệ đã lao vào việc học hành. Ngay cả vùng nông thôn xa xôi, tối đến sau những
buổi cày cấy, nông dân lại ngồi học bên những ngọn đèn dầu với biết bao say mê
háo hức. Khi phong trào xoá nạn mù chữ đã ít nhiều thành công, ngành Giáo dục lại
phải lao ngay vào việc tổ chức soạn chương trình học và soạn tài liệu giáo
khoa, nghiên cứu và sửa đổi cho thích hợp nhu cầu mới. Học viên thoát nạn mù chữ
được qua ngay lớp dự bị để học một số kiến thức phổ thông… Rõ ràng cha tôi thấm
nhuần điều Bác Hồ nêu: “Muốn giữ nền độc lập muốn cho dân giầu nước mạnh, mỗi
người Việt nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến
thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Và trước hết là phải
biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ…”.
Kể từ niên khoá 1946-1947, đã mở tại tỉnh lỵ Thái Nguyên (Bắc
Bộ) một trường Trung học Phổ thông, tại tỉnh lỵ Hải Dương một trường Trung học
Phổ thông…
Sau 30 năm Cách mạng thành công, vào dịp kỷ niệm 85 năm ngày
sinh của Bác Hồ, cha tôi đã viết bài trên báo Tổ quốc vào năm 1975 (Đó cũng là
bài viết cuối cùng trước lúc ra đi gặp Bác Hồ). Trong đó cha tôi có nêu: “Trong
gần 30 năm phục vụ sự nghiệp xây dựng ngành Giáo dục dưới sự lãnh đạo của Đảng,
vinh dự lớn nhất cũng là hạnh phúc lớn nhất đối với tôi và đó cũng là vinh dự lớn
nhấtn đối với tất cả những người làm công tác Giáo dục là được sự quan tâm của
Bác Hồ, một sự quan tâm thường xuyên, liên tục, cụ thể, một sự quan tâm hết sức
đặc biệt…”.
Nhờ sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ mà thành tựu giáo dục từ
1945 đến 1975 đã được Đảng và Nhà nước đánh giá cao và được coi là “Một trong
hai Bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa xã hội chủ nghĩa”.
Tiễn cha lên đường
Cuốn Sổ tay Đà Lạt
Trong gia đình chúng tôi còn lưu giữ tấm chứng minh thư: “Chủ
tịch chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hoà chứng nhận ông Nguyễn Văn Huyên đã được
cử làm Cố vấn đoàn phái bộ đàm phán trù bị tại Đà Lạt. Hà Nội, ngày 15 tháng 4
năm 1946. Ký: Hồ chí Minh”.
“Từ ngày 19 tháng 4 đến 11 tháng 5 năm 1946, Đoàn đại biểu
Chính phủ nước Việt nam do Nguyễn Tường Tam làm trưởng đoàn và đoàn đại biểu
Pháp do Max André làm trưởng đoàn, đã họp Hội nghị trù bị ở Đà Lạt để trao đổi
các vấn đề phải giải quyết trong cuộc đàm phán chính thức sẽ họp ở Pháp. Do
phía Pháp cố bám lập trường thực dân của họ nên các vấn đề đặt ra tại Hội nghị
không đạt được một thoả thuận nào” (Đại cương Lịch sử Việt nam, Tập III, NXB
Giáo dục - 2000, chủ biên Lê Mậu Hãn).
Tạp chí “Tiên phong” số 9, ngày 16 tháng 4 năm 1946. Bài T.P.
viết: “Sáng 16 tháng 4, hai phái đoàn của Quốc hội và chính phủ Việt nam lên đường
đi Paris và Đà Lạt ở trường bay Gia lâm. Hai phái đoàn một hình ảnh: Nước Việt
nam mới, nước Việt nam cách mạng và dân chủ. Nét mặt rắn rỏi, tia mắt nhìn thẳng,
thành thực và tự tin của “những người con yêu của giống nòi” giờ ra đi, đượm lại
không chí “chiếu khu”… Hai phái đoàn một ý chí: nước Việt nam thống nhất…
Đêm 15, giờ cuối cùng, Dương Bạch Mai người chiến sĩ miền Nam
lặn hội ra đến Thủ đô… Nam Bộ là ruột, là thịt trong Việt nam”… Hai phái đoàn,
một nhiệm vụ:… Nền độc lập hoàn toàn của Việt nam. Đích đã đến gần một bước, phải
mang gánh nặng tiến gần nó thêrn nữa. Hai phái đoàn một sức mạnh. Sức mạnh của
quần chúng Việt nam… Bền bỉ, nhẫn lại, kín đáoo nhưng mạnh mẽ như hơi thuốc
súng, nó sẽ đập nốt những vòng xiềng xích cuối cùng”.
Bà Đỗ Hồng Chỉnh, vợ ông Phan Anh, có chuyển cho cha tôi “Cuốn
Sổ tay Đà Lạt” và viết thư cho cha tôi: “Tôi có mượn anh Hãn một số sách giáo
khoa để xem, trong số sách đó có lẫn một vài mài liệu có giá trị lịch sử của
nó. Hôm nọ, đồng chí Thâu có sang mượn bên tôi một số bài viết và cũng muốn mượn
quyển sổ của anh, tôi không dám cho mượn. Đồng chí Thâu khẩn khoản nhờ tôi nói
hộ với anh cho đồng chí ấy mượn. Tôi không dám hứa hẹn gì. Nay xin trả lại anh
cuốn sổ mà cũng mong anh có ý kiến trả lời cho đồng chí Thân biết (Đồng chí
Thân, cán bộ Thành uỷ viết về sử Đảng). Xin cám ơn anh”.
Những năm tản cư ra Kháng chiến, mỗi lần mẹ tôi mở va ly thuốc
mang theo phòng khi ốm đau còn cất giữ nhiều vật kỷ niệm. Lần nào cũng vậy, nắp
va ly bật mở, chùm hoa bất tử cha tôi mang từ Đà Lạt năm ấy về làm kỷ niệm cho
mẹ con tôi luôn nằm ngay trên cùng. Những bông hoa bé như những bông cúc mốc.
Như giả mà lại là hoa thật, màu hoa còn nguyên vàng, đỏ tía nâu nâu. Chúng tôi
lần lượt xin mẹ cho sờ vào và gẩy gẩy cánh hoa “cứng như nhựa”.
Thỉnh thoảng mẹ tôi lại mở những phong thư cha viết từ
Fontainebleau và đọc cho chúng tôi nghe vài đoạn… Mỗi vật kỷ niệm mẹ tôi thường
cùng chúng tôi ôn lại như mẹ tôi đang tâm sự với chính mình. Lúc nào tôi cũng
thấy mẹ tôi nhắc đến Cách mạng, đến Bác Hồ. Sau này tôi thấy cuốn sổ tay Đà Lạt
được cất cùng cuốn “Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt” của ông Hoàng Xuân Hãn
gửi tặng cha tôi vào năm 1974, nhân dịp anh Tôn Thất Tùng công cán qua Paris.
Thấy tôi nhắc lại kỷ niệm xưa, mẹ tôi đã mời bác Nguyễn Mạnh
Tường kể chuyện về cha cho con cháu cùng nghe. Có đoạn bác kể về những diễn biến
tại Hội nghị Đà Lạt:
“Ông Vũ Đình Huỳnh có bảo tôi biết là Hồ chủ tịch muốn gặp
riêng. Tôi hỏi ông Huỳnh tôi có thằng bé con nó muốn được gặp Hồ Chủ tịch. Ông
Huỳnh bảo: “Được thôi, anh cứ cho cháu đi”.
Tôi và cháu Hưng cùng đi đến gặp Hồ Chủ tịch. Cụ Hổ ẵm thằng
Hưng, để ngồi trên lòng và cho nó một ngôi sao vàng. lúc đó Cụ gọi tôi bằng
“Ngài”. Cụ bảo: “Bây giờ chúng tôi phải ký hiệp định, nhờ ngài nghiên cứu hộ lập
trường để cho Chính phủ bênh vực khi đi dự Hội nghị Đà Lạt”. Tôi thưa với Cụ ở
trong nước nhiều người có đủ khả năng làm việc này hơn tôi. Không phải vì khiêm
tốn nhưng tôi thấy việc đó quá sức mình. Cụ bảo: “Không, thưa Ngài, chúng tôi
đã thăm dò ý kiến của nhiều anh em. Anh em đều tán thành cái này thì phải nhờ
luật sư Nguyễn Mạnh Tường”.
Tôi gặp anh Huyên nói chuyện, anh bảo: “Bây giờ thì cố gắng
mà làm”. Tôi mới đình chỉ hết công việc ở Văn phòng Luật sư lại, trong vòng hai
tháng để nghiên cứu đề án tham dự Hội nghị Đà Lạt.
Sau khi xong, lúc trình lên, Cụ Hồ thấy là được. Do đó mới cử
tôi vào trong phái đoàn của chính phủ đi dự Hội nghị. Còn anh Huyên về bộ phận
Văn hoá thì là cố vấn”.
Rồi bác Tường nhớ lại ngày lên đường như sau: “Trước khi đi,
Phái đoàn họp nhau ở Bắc Bộ Phủ để cùng ra máy bay. Người Quốc Dân đảng cử đi
cùng Nguyễn Tường Tam là Vũ Hồng Khanh. Bảy giờ chúng tôi lên ôtô đi sân bay,
không thấy Vũ Hồng Khanh đâu. Vũ Hồng Khanh đã không đến…”.
Chúng tôi ngồi nghe bác Tường kể chuyện cứ như nghe cha tôi kể
chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa về một thời oanh liệt của cha ông. Đó là những
cứ liệu ở nhiều góc độ khác nhau để chúng tôi được biết thêm về những giây phút
diễn biến của lịch sử mà cha tôi cùng nhiều trí thức yêu nước đã có mặt trong
đó.
Khi xem lại “Ký vãng” của bác Hãn có đoạn nhắc đến giờ phút
khởi hành đi Đà Lạt: “5h30 ngày 16-4-1946, Phái đoàn hội tụ ở Bắc Bộ phủ… Chính
phủ phát cho nhân viên một món tiền 20 tờ bạc một trăm. Tuy ăn ở tại Đà Lạt đã
được Cao uỷ Pháp mời. Nhưng số tiền ấy giữ đề phòng có sự bất trắc. Nếu không cần
tới thì lúc về nộp lại Chính phủ. Không khí thật có vẻ gia đình, y như đàn con
được cha chú tiễn chân khi sắp đi trẩy”.
Còn bác Tường nhắc lại lời Bác Hồ căn dặn trước khi lên đường:
“Găng nhưng không được gẫy. Đoàn kết. Đoàn kết”. Rồi Bác nói: “Tình hình bây giờ
gay go lắm”. Anh Huyên bảo tôi: “Xâu xé nội bộ thì tương hai đất nước sẽ tối
tăm”.
Hai máy bay cất cánh đi Đà Lạt. Bác Tương đi trên máy bay của
các phái viên còn một máy bay của các cố vấn thì có cha tôi. Đến Pác-xế thì máy
bay hạ cánh. Bác Tường kể: “Nó bảo hết xăng. Tôi hôm đó nó đưa Phái đoàn vào một
cái nhà có lính canh gác. Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện kêu: “Chết rồi, thế này mình
bị nó giam rồi! Không biết điều gì xảy ra ở Hà Nội! Điều gì xảy ra trên thế giới!”.
Ông Giáp mới nói: “Các anh em cứ bình tĩnh”. Đêm đó không anh nào nghỉ được,
anh nào cũng thức đợi… tới nay cũng vẫn không biết rõ lý do dừng ở Pác-xê. Phải
đi khảo cứ liệu ở bên Pháp mới biết”.
Hôm sau bác Tường đi với ông Cù Huy Cận thăm tỉnh trưởng Pác-xê.
Đi ngoài phố người nào trông thấy Phái đoàn Việt nam cũng tránh. Trong 48 giờ
chờ đợi, phái đoàn vẫn họp bàn sửa soạn công việc. Trong Sổ tay của cha tôi ghi
lại những phân công như sau: “Hòe coi bí thư, Khoa liên lạc. Cận điều tra. Tình
và Thanh liên lạc xa bằng vô tuyến điện. Mạnh, Tường, Huyên là phát ngôn nhân,
Tam, Giáp, Hãn, Hiền, Tường tiểu ban thảo những chuyên môn”. Riêng bác Hãn
trong “Ký vãng” viết là “còn được giao công việc liên lạc thường trực”.
Khi báo “có xăng rồi”, lên máy bay đi Đà Lạt, thì bác Tường Kể:
“Còn Huy Cận còn làm thơ. Còn Huyên, Hãn và Tường cả ba anh em cùng nhau trò
chuyện. Trên máy bay tôi có nói chuyện với một ông sĩ quan. Ông ấy có đủ các thứ
“lon”, anh em thấy làm lạ lắm. Ông ấy nói: “Phải xem ở dưới Pháp có “lon” gì thì
chúng tôi cũng phát “lon” ấy. Lúc đến Đà Lạt ông ta thò cổ ra nhìn xuống thấy
dưới có thằng sĩ quan Pháp đeo “lon” quan tư, ông ấy cũng đeo “lon” quan tư để
xuống…
Không khí đón tiếp tại sân bay Đà Lạt làm cho anh em trong
Phái đoàn hiểu ngay là chúng nó định dở trò. Thái độ của Chính phủ Pháp đã bộc
lộ khá rõ… Chúng cố ý đánh đòn tâm lý đầu tiên để thử tinh thần chống cự của
dân ta, hoặc để lấn át và ức chế lòng tin của ta, cho nên đã thay đổi Chủ tịch
Phái đoàn mà không bàn bạc trước”.
Rồi bác Tường lại nói: “Lúc đầu nhìn hai tấm cờ chăng từ trên
khách sạn to nhất và đẹp nhất. Một cái lá cờ Pháp, một cái lá cờ đỏ sao vàng.
Hai lá cờ ngang nhau dài rộng như nhau. Riêng điều đó thôi, Hội nghị này tuy là
trù bị, nhưng mà Hội nghị có tính quốc tế. Thấy hai lá cờ ngang nhau kéo dài đến
mười thước từ trên khách sạn xuống làm anh em trong lòng có một giây phút phấn
khởi đầu tiên…
Mặc dầu bị o ép cấm đoán không cho tiếp xúc với Phái đoàn
nhưng đồng bào ta thấy hai lá cờ thì nói: “Nay “Anh Minh” đã về. Anh Minh là
ai? Là Việt Minh. Đồng bào Đà Lạt phân khởi lắm. Như thế là cuộc Cách mạng của
mình trước đánh giá chưa đúng mức thì bây giờ thấy lá cờ ngang nhau, như thế cuộc
Cách mạng không thể coi rẻ được. Và lúc đó đồng bào của chúng ta gọi chúng tôi
là “Anh Minh” hay “Cán bộ Minh”.
Bác Tường nhắc lại lối trịch thượng của D' Argenlieu: “Lẽ ra
là trưởng đoàn nhưng nó lại muốn là “Chóp bu” mời hai Phái đoàn gặp gỡ lại Dinh
của D’ Argenlieu. Đáng lẽ 10 giờ họp, nó điều động các nhà báo, quay phim… tất
cả có mặt đầy đủ định đợi hai Phái đoàn đến, nó ra bắt tay, rồi nâng cốc… tuyên
truyền khắp thế giới là Hội nghị Đà Lạt đã thành công.
Phái đoàn chúng ta không chấp nhận, đặt lại vấn đề. Chúng tôi
đến là ngang hàng với Phái đoàn Pháp do D' Argenlieu là trưởng đoàn chứ không
phải D’ Argenlieu là chủ. Công việc bàn bạc kéo dài đến 2 tiếng đồng hồ… Các
phái viên nhiếp ảnh ngoại quốc và Pháp đứng đợi để chụp ảnh đã ngơ ngác không
biết sự thể ra sao”.
Trong Sổ tay Đà Lạt của cha tôi ghi tóm tắt lại thời điểm
này. Cha tôi cùng Nguyễn Tường Tam đến gặp D' Argenlieu (cha tôi là phát ngôn
nhân, ông Nguyễn Tường Tam tuy giỏi tiếng Pháp nhưng về phía ngoại giao vẫn nói
bằng tiếng Việt. Có đoạn viết: “Mình theo Tam (hồi 12g 30). Cảm ơn đã cho thuận
tiện đến Đà Lạt. Sẵn sàng cùng Phái bộ Pháp hợp tác. Lấy làm lạ nhưng cũng vui
lòng chấp nhận Max André thay D’ Argenlieu làm trưởng đoàn Pháp: yêu cầu phải
thoả thuận với nhau để định nghi lễ khai mạc và bàn chương trình làm việc”. Dịch
lời D’ Argenlieu: “Tôi tin các ông nhưng các ông không tin tôi. Nhưng chúng ta
phải thoả thuận trong bầu không khí thân thiện vì có Hiệp định 6-3. Vì Hội nghị
Đà Lạt có quan trọng trong quốc tế, phải thoả thuận để thành hội nghị không có
ngoại quốc bảo chúng ta ở Đông Dương không có đủ lực lượng tài cán thành lập một
hội nghị. Đó là vấn đề danh dự của chúng ta”.
Bác Tường nhấn mạnh: “Sau hai giờ gặp gỡ thoả thuận, cuối
cùng hai phái đoàn đi đến cùng một lúc, không có người đứng trên thềm đón. Có
nghĩa là ngang lưng nhau. D’ Argenlieu cũng phải chấp nhận…”.
Thuật lại buổi hôm đó, cha tôi còn ghi lại tường tận: “Xong rồi
D’ Argenlieu cho mời nhân viên phái bộ Pháp (chỉ mời được 6 người vì không đủ
chỗ) vào giới thiệu. Có cả Bourgvin, Acsnez (không hiểu hai người này có ấn tượng
gì với cha tôi mà ông đã ghi như vậy). Mình kịp lui ra ngoài để báo cáo cho
phái bộ Việt nam biết kết quả vừa rồi (Nói với Hãn). Xong thì Brusson đưa về Đà
Lạt ăn cơm trưa (13h30)”.
Bữa tiệc đầu tiên vào trưa hôm đó bác Hãn có nhắc đến bác
Nguyễn Mạnh Tường như sau: “Trong bữa tiệc vẫn cứ đấu tranh. Phái đoàn đã dự định
trưởng đoàn sẽ trả lời bằng tiếng Việt để tỏ ý chí độc lập của dân tộc. Những
người Pháp trong tiệc bắt đầu khó chịu. Nhưng liền sau, Nguyễn Mạnh Tường đứng
dậy ở cuối bàn, nét mặt tươi cười dịch lời trưởng đoàn ra tiếng Pháp một cách
chải chuốt, thanh nhã, hùng hồn thì ai nấy cũng quay nhìn với vẻ ngạc nhiên và
thích thú. Không khí khác hẳn. Một phái viên khen nức nở, quay lại tôi hỏi dịch
giả là ai. Sau khi tôi cho biết đó là một tiến sĩ văn khoa và luật khoa, ông ta
bảo đùa với tôi rằng “Ông ấy ngườí Pháp hơn cả người Pháp”, “như hầu hết các
anh, chắc điều đình không khó”. Tôi đã trả lời “Với các ông thì không khó,
nhưng với chính quyền Pháp thì không biết sẽ ra sao!”.
Qua những lời kể của bác Tường và “Ký vãng” của bác Hãn cũng
như mốc thời gian và tóm tắt sự kiện trong Sổ tay của cha tôi chứng tỏ rằng những
ngày ở Đà Lạt là cơ hội để trí thức gặp nhau và xích lại gần nhau cùng chung mục
đích vì Độc lập và Thống nhất của Tổ quốc Việt nam.
Có một chi tiết ngoài Hội nghị được cha tôi ghi trong Sổ tay
đó là kỷ niệm 1-5-1946.
“11h. Họp toàn Phái bộ làm lễ Premier Mai (l-5). Trần Đăng
Khoa chủ tịch. Giáp nói rất lưu loát về ý nghĩa ngày lễ này: Lao động Mỹ, Lao động
Quốc tế, Lao động Vinh, Trường Thi 1929, rồi Lao Nông. Nay lập trường thống nhất
lãnh thổ, chính trị hành chính, quân đội và tinh thần. Phái bộ Đà Lạt là dịp
các phái, các tầng lớp hiểu nhau hơn trước về sự tranh đấu với đế quốc Pháp.
Hãn nói đến Thạch (Phạm Ngọc Thạch) và Nam Bộ và yêu cầu Mai nói (Dương Bạch
Mai). Mai nói về vô sản trong đấu tranh giành lấy chính quyên trong nước, ở thế
giới và ở Nam Bộ. Nhất là ở Sài Gòn. Quyền của vô sản. (Nhắc về ông Dương Bạch
Mai, mẹ tôi có lần kể rằng hồi ở Pháp bác Lê cũng thân với ông Mai. Sau này ông
Mai về nước hay qua lại nhà cô Di và rất quý cô Di). Luyện (Bác sĩ Nguyễn Văn
Luyện) cắt nghĩa địa vị trí thức và của ông trong Mặt trận Việt Minh. Trong
giai đoạn tranh thu độc lập. Công ở quần chúng. Hãn và Giáp báo cáo về công việc
của Phái bộ, những kết quả và những trở ngại còn phải đấu tranh. Hãn nói là lực
lượng đấu tranh của chiến sĩ trong mấy tháng, sự bó buộc là Hiệp định Sơ bộ, đã
có chỉ thị của Chính phủ trong cuộc đàm phán lúc ra đi. Trước khi Giáp nói thì
có mặc niệm chiến sĩ anh hùng. Trước khi giải tán (12h30) có hô khẩu hiệu
“Cương quyết chiến đấu và ủng hộ Chính phủ”. Mặc dầu chính kiến không hẳn như
nhau nhưng tất cả trí thức tại bàn Hội nghị đều đồng tâm hiệp lực vì một mục
đích kiên trì lập trường thống nhất lãnh thổ và giành độc lập toàn vẹn chủ quyền
cho đất nước.
Về sự kiện ông Phạm Ngọc Thạch có trong danh sách Phái bộ đã
được cha tôi ghi lại rất nhiều đoạn: “Ngày 21-4-1946. Vòng qua chợ Đà Lạt. Trở
về gặp Nguyễn Văn Sâm. Nói mới lên tối qua. Cả Phạm Ngọc Thạch cùng lên với vợ
chồng Tung (Bác sĩ Nguyễn Văn Tung). Ngày 23-4-1946. 8h30 họp Ban Chính trị có
cả Phạm Ngọc Thạch. Thạch nói: “Ở Nam Bộ sẵn sàng kháng chiến để thống nhất.
Pháp tiếp tục thiệt hại nhiều. Nay Pháp không thể lợi dụng được Nam Bộ chút nào
cả Vậy phái Bộ phải cưong quyết, không thì Nam Bộ trách anh em ngoài Bắc”. Giáp
bàn: “Việc Nam Bộ cùng sự găng hay gẫy là tuỳ việc tuỳ nơi tuỳ thời cơ có thể ở
Đà Lạt hay ở Hà Nội hay ở Ba Lê. Chớ nên trước sự khiêu khích của một hay một bọn
người mà gẫy. Vì nay gẫy họ sẽ bảo mình Intraisell, rồi chỉ lơi cho “địch”. Sợ
phân chia Bắc Nam… Hãn trước có ý găng nay nghe phân trần vậy cũng dịu. Tam nhắc
lại chỉ thị của Chính Phủ, rồi kết luận sự giải quyết vấn đề”. Buổi trưa 11h30
tan hội đi ăn cơm. Cảm tưởng Thạch bất mãn.
23-4-1946. Thạch bị Pháp bắt ở cửa Parc cùng đi với Mai. Vào
lúc 12h15 trưa có một đại uý và 2 mật thám dẫn lên xe. Tam bảo Hòe điện hỏi gặp
D’ Argenlieu. D’ Argenlieu không tiếp bảo hỏi Max André (thay trưởng đoàn). Tam
viết thư cho Haussain phản kháng việc bắt Thạch và báo cho Max André.
18h các nhà báo xin phỏng vấn Tam. Mình và Hòe theo ra tiếp.
Hỏi việc bắt Thạch và Sâm. Cùng ngày đánh điện về Chính phủ báo cáo việc Thạch
và xin chỉ thị. Pháp cắt nghĩa: “Hôm 19-4 có người xin cho Thạch lên Đà Lạt
nhưng Haussain đã báo cáo cho cụ Hồ biết là không được vì Thạch đã bạo động ở
Nam Bộ, là đất mà chính phủ Việt Nam không có quyền gì. Cả vợ Thạch đã biết thế
mà Thạch còn lên Đà Lạt giấu, nay nhà đương cục đã đưa trả về Sài gòn”.
Ngày 24-4-1946. Họp toàn thể. Max André chủ toạ. Tam đưa vấn
đề Thạch: “Sự ấy trái với tục lệ quốc tế, là người phụ trách an toàn cho đại biểu
Việt nam, tôi phản kháng”. Max André trả lời: “Không phải Thạch bị bắt mà là
đưa về Sài gòn”.
Bác Tường kể cho chúng tôi biết thêm: “… Ta coi anh Thạch là
uỷ viên trong Phái đoàn, cho nên ở khách sạn khi bữa ăn dọn ra trên bàn bao giờ
chúng tôi cũng để dành chỗ trống gọi là để chỗ cho anh Phạm Ngọc Thạch. Ở Đà Lạt
được vài hôm thì anh Thạch tới. Phái đoàn Việt Nam phải giấu anh. Ăn uống, bữa
cơm phải để dành các món đem về cho anh. Thế rồi Cù Huy Cận và tôi còn phải đi
ra chợ mua thêm thức ăn cho anh. Vì sợ lộ ra là nó tôm ngay. Quả thực lúc đưa
anh ra công khai nó lập tức bắt anh ngay. Khi chúng bắt anh thì anh em rất phẫn
uất, nhất định bỏ hội nghị để về. Lúc bấy giờ anh Giáp mới nói: “Các anh lại
quên câu của cụ Hồ “găng mà không được gãy”.
Rồi bác Tường kể: “… Lần đầu tiên dự hội nghị quốc tế, kinh
nghiệm chưa có, nói chuyện cứ bô bô, về sau phải coi chừng bọn chúng. Không cẩn
thận nó có máy nghe… Lúc bấy giờ biết gì máy nghe. Kết quả ông Huyên với tôi
hai người cứ đi ra ngoài vườn nói chuyện với nhau”.
Sổ tay của cha tôi ngày 23-4-1946 có viết về sự kiện thông
tin liên lạc như sau: “Sáng nay đương bàn chuyện thì được thư Haussain về việc
đặt radio. Phải xin phép Tư lệnh Đồng Minh lúc ấy có trách nhiệm, yêu cầu tạrn
đình chỉ dùng máy và xin phép. Hứa trong khi chờ cho mượn máy của Pháp…”
Trong “Ký vãng” của bác Hãn cũng viết về những ngày 22 và 23
tháng 4 về việc Pháp gây khó dễ cho ta và ta đã kiên quyết không nghe. Bấy giờ
người phụ trách đưa tin hàng ngày là ông Nguyễn Văn Tình và ông Thanh. Ông Tình
sau này là một trong những người phụ trách Tổng cục Bưu điện của nước Việt nam
Dân chủ Cộng hoà và là anh vợ của anh Chính (ông đã mất sau ngày thống nhất đất
nước). Nhờ vậy Chính phủ đã theo dõi từng ngày không khó khăn mà Phái đoàn gặp
và cho chỉ thị cấp tốc.
Diễn biến tại Hội nghị được cả nước theo dõi. Tạp chí “Tiên
phong” số 10 ngày 1 tháng 5 năm 1946 trong phần “Tin Văn hoá” thông báo tóm tắt
diễn biến tại Hội nghị: “Tại Hội nghị trù bị Đà Lạt… Hai bên đại biểu Pháp, Việt
nam có chỗ đã thoả thuận với nhau, nhưng cũng có chỗ bất đồng ý kiến. 1) Tiếng
Pháp trong chương trình giáo dục Việt nam. 2) Luật lệ mở trường học Pháp ở Việt
nam. 3) Khoa học Pháp trong nền văn hoá Việt nam. 4) Việc tham dự của các Giáo
sư Pháp trong chương trình giáo dục Việt nam. 5) Việc liên lạc về văn hoá giữa
hai nước. Trong vấn đề thứ nhất và thứ hai, hai bên đã thoả thuận dùng tiếng
Pháp trong văn hoá Việt nam và các học sinh Việt nam được hoàn toàn tự do vào học
lrường Pháp. Trong vấn đề thứ ba, hai bên bất đồng ý kiến về các Trường Bác cổ,
Bệnh viện Pat-tơ (Pasteur), nhà thư viện, trường Đại học. Trong vấn đề thư tư,
đôi bên bằng lòng để Giáo sư Pháp tham gia vào việc giáo dục Việt nam nếu chính
phủ Việt nam yêu cầu. Trong vấn đề thứ năm, còn nhiều chi tiết chuyên môn như
việc cấp học bổng, tham gia các tài liệu văn học… Thế là Uỷ ban Văn hoá Pháp-viết
đã giải quyết xong xuôi sau bao nhiêu ngày bàn cãi…
“Tiểu ban Văn hoá họp ngày 23 tháng 4 hồi 3 giờ chiều, dưới
quyền chủ toạ của ông Nguyễn Mạnh Tường. Tiểu ban bắt đầu xét vấn đề thứ nhất
ghi ở chương trình nghị sự. “Việc dạy tiếng Pháp trong các bậc học Việt nam”
phái đoàn Pháp đề nghị: 1) Tiếng Pháp là thứ tiếng chính thức thứ hai ở Việt
nam. 2) Việc dạy tiếng Pháp sẽ sớm hơn và bắt buộc ở một bậc học nào sẽ định
sau. 3) Một cố vấn Pháp bậc đại học sẽ để tuỳ quyền sử dụng của Việt nam. Tiểu
ban tuyên bố rằng đề nghị thứ nhất vượt phạm vi ban văn hoá. Đoàn Việt nam phát
biểu ý kiến rằng: “Trong nền giáo hoá Việt nam, tiếng Pháp sẽ có một đia vị ưu
đãi trong các thứ sinh ngữ. Về đề nghị thư hai, đại biểu Việt nam nói rằng tiếng
Pháp sẽ được kể làm một trong những sinh ngữ bắt buộc từ bậc trung học Việt
Nam. Về điểm thứ ba đoàn đại biểu Việt nam đề nghị sáp nhập vào điều thứ tư
trong chương trình nghị sự, nói về: “Tiếng Pháp dự phần vào nền giáo dục Việt
nam thế nào?” Hội đồng giải tán lúc 17g30”.
Trong cuốn Sổ tay Đà Lạt cha tôi viết tiếp diễn biến ngày
2-5-1946:
“Lúc 15h30 họp sự bộ ở buồng Tam. Giáp có đề nghị về trước để
báo cáo. Chính phủ tìm đường mới cho Phái bộ và sửa soạn đi Paris… Chủ nhật
ngày 2-5-1946 lúc 16 giờ, họp ở buồng Tam bàn về Ban Chính trị. Bàn về bài đáp
từ của Max André hôm qua. Giáp nói ta không nên cho là việc mới. Đó chính là ý
kiến của họ vẫn có. Trước Max André đã nhiều lần gặp cụ Hồ và ngỏ ý này. Trước
bữa cơm Max André có nói với Giáp về vấn đề chính trị kinh tế hai bên có thể
thoả thuận được, song về diplomatique (ngoại giao) và Nam Bộ thì khó giải quyết
và phải cố gắng lắm.
Lúc này Max André qua muốn vào chào Tam và gặp Giáp.
Giáp ra thì kiếu cho Tam không tiếp được vì vẫn nằm giường
(Tam cáo ốm vì Pháp thay trưởng đoàn, ta cũng gần như thay). Max André đưa cho
ta một phong thư riêng nói là gửi cụ Hồ. Thư nói vắn tắt 5 điểm (Như trong “Ký
vãng” của ông Hãn đã dịch nguyên văn)”. Sau đó những nhận xét riêng của cha tôi
về bức thư: “Là một tờ giấy kỳ quặc tỏ rõ thái độ của Pháp. Trên không đề viết
cho ai, dưới đề ngày 5-4 và ký tên không chức vụ (bấy giờ là 5-5). Tam kết luận:
“Dầu thế nào ta ở Đà Lạt cũng phải giữ thái độ bình tĩnh để tiến hành cho xong
rồi về sửa soạn đi Paris chứ không thay đổi trước khiêu khích nào của Pháp.
Giáp tán thành rồi tất cả anh em tuân theo im lặng…”.
Cuốn Sổ tay của cha tôi được đánh dấu 155 trang. Từ trang 1 đến
136 ghi từ ngày 18-4-1946 đến ngày 12-5-1946 là ngày chủ nhật, ngày Đoàn lên
máy bay trở về Hà Nội. Vẫn tác phong của nhà nghiên cứu khoa học, cha tôi không
những ghi chép những diễn biến chủ yếu cả ngày giờ cụ thể và những ý kiến cụ thể
của đôi bên, tính quyết liệt của từng buổi họp… những ý kiến đưa ra của hai
phía rồi lại bàn lại mà đưa ra các điểm khác…
Lướt đọc những trang cuối cùng: “Chủ nhật 12 tháng 5 năm
1946. 7h45 đi Liên Khang. 8h 45 đến trường bay. Trời u ám điểm một vài giọt
mưa, nhưng không có gió. Hai chiếc máy bay Juenker và Dakota chờ đó. Còn một
chiếc nhỏ ở cạnh đương chữa. Tổng thư ký Batsson ra tiễn.
9h 45 chiếc Dakota cất cánh trước. Mình lên với Hãn, Tường,
Tam, Giáp, Luyện, Hiền, Bửu, Hà Tường, Phác, Kiên, Công Cung, Cận, Hòe, Khoa,
Đ. V. Hớn, Liên, Bính, Mai. Có hai người lạ là Melro người Pháp và một nhà báo
Belp.
Bay qua miền núi ra Quảng Trị, Thanh Hoá rồi Phủ Lý, Hà Nội.
Tới trường bay 13h20, hạ xuống sân bay 13h30 (tức là đồng hồ giờ độc lập Việt
nam 12h30). Ra sân bay đón có các ông Phan Anh, Lê Văn Hiến, Vũ Đình Hòe, Nguyễn
Xiển, Trần Duy Hưng…”.
Đọc những dòng trên tôi nghĩ rằng nếu sau này có dựng phim lịch
sử thì những đoạn tả cảnh trên cần được đưa vào bởi nó mang tính xác thực của lịch
sử.
Tạp chí “Tiên Phong” số 11 ngày 15 tháng 5 năm 1946, đã thông
báo trên trang nhất: Phái đoàn chính phủ đi dự Hội nghị trù bị Đà Lạt đã về tới
Hà Nội. Phái đoàn đã đại diện một cách xứng đáng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng
hoà chuộng hoà bình, nhưng cương quyết. Những nguyện vọng của một nước tranh đấu
cho tự do, bao giờ cũng chính đáng. Nhưng để gây một không khí thân thiện cần
thiết cho cuộc đàm phán, các đại biểu của ta đã giữ một thái độ mềm dẻo, cố sao
cho dung hoà được quyền lợi hai nước. Một điểm đáng nêu lên nhất là khi bênh vực
quyền lợi của Tổ quốc, các đại biểu ta đã tỏ rõ một tinh thần đoàn kết rất cao
và cảm động. Sau cuộc Hội nghị này, chúng ta đã cho người Pháp biết rõ lập trường
của chúng ta, và chúng ta cũng đã biết được lập trường của họ trong cuộc đàm
phán chính thức sắp mở ở Paris nay mai, cuộc tranh luận chắc sẽ gay go và gặp
nhiều bước khó khăn. Nhưng ta mong rằng bầu không khí chính trị ở Thủ đô nước
Pháp đệ tứ cộng hoà, sẽ có lợi cho cuộc đàm phán hơn, và những chính khách của
nước Pháp mới không phải chỉ là những người muốn đi ngược trào lưu tiến bộ thế
giới, khăng khăng cưỡng lại một cách tuyệt vọng, những đợt sóng lụt trời của một
dân tộc dâng lên. Hơn lúc nào hết, chúng ta càng phải đoàn kết mạnh mẽ, để ủng
hộ phái đoàn chính thức. Đoàn kết tức là thắng lợi T.P.”.
Tiễn cha trong bình minh
“Chủ tịch chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hoà. Chiểu đề nghị
của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thoả thuận. Ra Sắc lệnh:
Điều thứ nhất. Nay cử những vị sau này vào Phái đoàn Việt nam
sang Ba Lê: Đoàn trưởng - ô. Nguyễn Tường Tam, Phó Đoàn - Phạm Văn Đồng, uỷ
viên thuyết trình - Phan Anh, Phái viên - Hoàng Minh Giám, Đặng Phúc Thông,
Dương Bạch Mai, Huỳnh Thiên Lộc, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Văn Bính, Tạ Quang Bửu,
Bửu Hội, Nguyễn Mạnh Hà; Cố vấn - Phạm Khắc Hoè, Hoàng Văn Đức, Nguyễn Văn
Tình, Hồ Đắc Liên, Nguyễn Văn Luyện.
Điều thứ hai. Bộ trưởng bộ Ngoại giao chiểu sắc lệnh thi
hành.
Hà Nội, ngày 29 tháng 5 năm 1946. Hồ Chí Minh”
Ngày 31 tháng 5 năm 1946, theo lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã lên đường sang thăm Pháp. Cùng ngày, phái đoàn Chính phủ nước
Việt nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu cũng lên đường sang đám phán chính thức với
Chính phủ Pháp. Hội nghị đàm phán họp tại Fontainebleau từ ngày 6 tháng 7 đến
10 tháng 9 năm 1946. Hội nghị đã bàn đến các vấn đề địa vị của Việt nam trong
khối Liên hiệp Pháp và những mối quan hệ ngoại giao giữa Việt nam với các nước,
tổ chức Liên bang Đông Dương, vấn đề thông nhất ba kỳ và việc trong cầu dân ý ở
Nam Bộ, những vấn đề kinh tế, văn hoá và soạn thảo dự án Hiệp ước. Cuộc đàm
phán ở Fontainebleau đã thất bại, do phía Pháp vẫn cố giữ lập trường thực dân
và ngay trong thòi gian đang đàm phán họ đã ráo riết thực hiện âm mưu mở rộng
xâm lược trên đây nước ta… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Moutet - đại diện của
Chính phủ Pháp, bản Tạm ước vào đêm 14 tháng 9 năm 1946. Bản Tạm ước gồm 14 khoản,
trong đó quy định một số điều quan hệ tạm thời về kinh tế và văn hoá giữa hai
nước, đình chỉ chiến sự ở miền Nam, quy định thời gian tiếp tục đàm phán Việt
Pháp vào đầu năm 1947…” (Đại cương Lịch sử Việt nam, Tập III, NXB Giáo dục -
2000, chủ biên Lê Mậu Hãn).
Mỗi lần xem cuốn ảnh gia đình mẹ tôi lại chỉ vào tấm ảnh đã
ngả vàng gẫy một góc: “Đây là ảnh chụp trước khi cha đi Hội nghị Fontainebleau.
Huy lúc đó còn ẵm trên tay thế này đây!”. Tôi nói theo: “Hồi đó con, Bích Hà và
Nữ Hiếu đều mặc áo dài bông đỏ màu mận chín mẹ nhỉ”.
Mẹ sung sướng thấy tôi còn nhớ và nhắc lại: “Hạnh còn nhớ đến
thế kia à? Ba chị em ba chiếc áo dài bông với quần lụa trắng!”.
Ảnh mẹ tôi bện tóc rồi vấn trần như thể vấn khăn. Nét mặt của
mẹ tôi dịu hiền, trang nghiêm có đượm nét buồn lo, không giống như tất cả mọi bức
ảnh trước đấy và cả sau này, lúc nào mẹ tôi cũng có nụ cười tươi sáng trong ánh
mắt và nơi khoé miệng. Tôi đâu có hiểu bấy giờ tiễn cha ra đi, để lại 5 mẹ con
nhỏ dại trước cảnh đất nước ngàn cân treo sợi tóc!
Sớm tinh mơ, tiễn cha lên đường rồi chúng tôi lại trở về giường.
Bỗng nhiên mẹ tôi reo lên: “A! Anh Chính đến! Anh Chính mang ôtô đến đưa mẹ con
mình sang sân bay tiễn cha!”.
Tôi và Bích Hà đứng ngay trên giường lò so trải đệm trắng
tinh của mình mà nhún nhảy. Đến lúc mẹ tôi giục thay quần áo mới vội vàng nhảy
xuống. Khi xuống gác, mẹ tôi vội lướt ánh mắt trìu mến nhìn hai chị em tôi Thấy
mẹ mỉm cười vừa lòng chúng tôi chạy theo anh Chính vào xe. Bầu trời có vẻ ảm đạm
hay là còn sớm quá, tôi cũng chẳng nhớ. Tôi chỉ còn nhớ chị em chúng tôi bước
theo tà áo dài của mẹ đi trên sân băng. Có bác nào đó đen, gầy đón Nữ Hiếu trên
tay mẹ tôi và dẫn chúng tôi đến chỗ Bác Hồ. Bác Hồ lần lượt bắt tay từng người.
Bấy giờ có cả cô Quý cũng ra sân bay, rồi Bác Hồ bế em Hiếu chờ cha đến.
Sau này khi biên thư cho Hiếu báo tin mừng về Hội nghị
Giơvenơ 1954, cha tôi đã viết: “Chắc các con hôm nay cũng vui mừng phấn khởi…
tiếng súng đã im bặt ở Bắc Bộ và 10 ngày nữa sẽ không còn bắn nhau trên toàn
cõi Việt, Miên, Lào… Hôm tới chào Bác, mừng Bác, tỏ lòng biết ơn Bác vừa rồi, cậu
nhớ đến 9 năm về trước em Hiếu ra tiễn Bác ở sân bay Gia Lâm, Bác đã bế Hiếu và
ước mong mang lại được hạnh phúc cho nhi đồng. Cậu nhớ các con cũng xao xuyến
trong lòng…”.
Những ngày trên Việt Bắc, mẹ tôi thường kể chuyện ngày xưa mấy
mẹ con đã nhắc tới kỷ niệm tiễn cha sáng hôm đó…
Cha tôi là người cuối cùng lên máy bay, cha tôi rút từ trong
túi ra chiếc bút máy Pilot màu đen đưa cho tôi và dặn: “Chị Hạnh ở nhà ngoan,
nghe lời mẹ và chăm học nhé!” Lúc nào trịnh trọng và âu yếm, cha tôi thường gọi
tôi bằng “Chị Hạnh”. Mẹ tôi luôn nhắc lại: “Bác Phạm Văn Đồng bế Hiếu đến Bác Hồ”.
Hai mươi năm về trước (1926), cha tôi lên đường sang Pháp học, mang nặng tâm trạng
thanh niên của một nước nô lệ. Còn nay hẳn cha tôi tự hào là lên đường sang
Pháp với cương vị là một trí thức yêu nước, đại diện cho một dân tộc độc lập
đang đấu tranh giành chủ quyền thực sự cho đất nước.
Ra sân bay tiễn cha đi dự Hội nghị Fontainebleau trở về nhà,
tôi và Bích Hà chạy vội lên gác vào phòng ngủ của cha nhảy lên giường lò so trải
đệm trắng tinh, hôn lên gối, lên công tắc đèn. Tôi lại còn trèo lên tủ đầu giường
để được hôn lên cả công tắc bật quạt trần… Cô Quý mắng yêu: “Việc gì lại phải
hôn lên tận đấy? Điện giật nguy hiểm lắm! Nhớ cha hôn lên chuỗi hạt đây này?”
Tay cô lại chỉ lên ngực tôi. Cúi xuống ngực, hai chị em tôi lại nhìn nhau, hai
chuỗi hạt long lanh mà cha mới cho hồi đi họp Hội nghị trù bị Đà Lạt trở về.
Chúng tôi rất yêu cha và nhớ cha vô cùng, vì cha tôi chiều con hết mực. Ngày
nào cũng vậy, mỗi lần sau bữa cơm là mẹ tôi có sẵn chậu rửa tay ngay trong
phòng ăn. Cơm xong, cha tôi chờ chị em tôi và gọi:
- Chị Hạnh ra đây lau “mõm”?
- Chú Bích Hà nữa nào đưa “mõm” đây!
Mẹ tôi còn giữ được 3 bức thư cha tôi viết cho mẹ tôi và các
con trong những ngày tại Fontainebleau. Hẳn là Hội nghị khá căng thẳng nên mới
có thư gửi về cho mẹ tôi như sau:
Thư ngày 13-8-1946 (ngày 7-7. âm lịch) Hôm kia trước những
khó khăn quá độ, phái bộ la đã tuyên bố đình chỉ đàm phán đến khi nào chính phủ
Pháp định rõ thái độ. Huyên thấy ngày về xa lắm!
Hôm qua Phái bộ mới ta ăn cơm. Ngồi ăn chung với người Pháp
chán quá mở môi ra cũng ngại ngùng…”.
Thư ngày 20-8-1946 (14-7 âm lịch) có đoạn: Ngọc cứ yên lòng,
công việc một là sắp xong, hai là hỏng. Mà hỏng thì Pháp cũng thiệt nhiều. Tình
hình qquốc tế ngày nay có lợi cho ta. Chừng 10 ngày nữa cụ Hồ về nước. Phái
đoàn sẽ về sau độ một tuần hay mười ngày… Thángtám này là tháng gió mùa lớn ở Ấn
Độ nên đường hàng không có chiều khó khăn. Chưa rõ cụ Hồ đi tàu bay hay đi tàu
chiến về…”.
Thư ngày 19-8-1946. Xem tình hình ngày về không còn xa mấy nữa.
Bước khó khăn còn nhiều nhưng ai nấy đều nỗ lực. Dẫu thành hay bại phen này
cũng đã trả nợ nam nhi đối với Tổ quốc, không thẹn lòng, đối với nhà. Không tủi
công đi học và lòng yêu dấu gia đình. Không được hoàn toàn, anh em trong nước đều
có trách nhiệm nặng cả, không nên đổ tội cho ai. Chỉ biết bình tĩnh và cố gắng
trong công cuộc kiếu thiết chung sau này. Còn công hay tội vài chục năm sau đây
lịch sử sẽ rõ.
Nước ta ở trong cái loạn thế giới, vừa qua có một hình ảnh đặc
biệt, gỡ ra thực là khó, ngồi không mà nói thì có gì là dễ hơn nhỉ. Riêng mình
biết sức mình, không ra mà chịu gánh một phần thì có tội. Những điều Huyên dự
tính trước đây đều dần dần đúng cả, không thể nào cưỡng được. Xưa các cụ bảo là
Trời thực ra là ỏ người…”.
Đó là những dòng chữ tâm huyết của cha tôi khi đang quay trở
lại Paris lần thứ hai. Nhân dịp Phái đoàn Chính phủ sang Pháp, để mở cuộc đàm
phán chính thức ở Paris, ông Nguyễn Đình Thi, Tổng thư ký Hội Văn hoá Cứu quốc
Việt nam viết hai bức thư gửi “Cho đồng bào tại Pháp” và “Gửi các nhà trí thức
Pháp” trên tạp chí “Tiên Phong” số 13, ngày 16 tháng 6 năm 1946. Trong đó đối với
đồng bào thì kêu gọi góp sức xây dựng nước Việt Nam mới.
“Anh chị em hãy thâu thái lấy những tinh hoa nước ngoài để về
cải tạo quốc gia. Điều cốt yếu là anh chị ern phải chuẩn bị cho đầy đủ để khi về
nước có sẵn phương tiện làm việc. Một nhà bác học chẳng hạn, trước khi lên đường
về nước, phải đã có sẵn một phòng thí nghiệm tối tân, đầy đủ đừng trông mong
vào phòng thí nghiệm ở nước nhà, thường chỉ có tên không, nếu ta không muốn gọi
là trò hề khoa học của chế độ thực dân…”.
Còn đối với các bạn trí thức Pháp: “Hỡi các bạn trí thức
Pháp! Bênh vực nguyện vọng của dân tộc Việt nam đòi hỏi tự do và thống nhất, bằng
sức mạnh tinh thần của các bạn mà bằng tình cảm thiết thực, các bạn sẽ phụng sự
cho nền hoà bình thế giới, và hơn nữa, các bạn sẽ phụng sự quyền lợi thực của
nước Pháp”.
Ông Phạm Huy Thông, tại Paris ngày 2 tháng 5 năm 1946, đã viết
tặng Phái bộ Phạm Văn Đồng bài thơ “Chào sử giả của Tự do ánh sáng”
Trong quá trình diễn biến Hội nghị Fontainebleau ở trong nước
đã bày tỏ thái độ: “Cuộc đàm phán chính thức giữa Pháp và chúng ta đã bắt đầu ở
Paris. Lần đầu tiên chúng ta đường hoàng nói chuyện ngang hàng với nước Pháp…
muốn cho cuộc đấu tranh ngoại giao vô cùng khó khăn ấy thắng lợi, chúng ta nhất
định không thể chỉ thụ động, ỷ lại vào phái đoàn của chúng tôi, mặc dầu những
nhân viên thành phần phái đoàn đều là những chiến sĩ cách mạng trung thực, những
người yêu nước chân chính, mặc dầu bên cạnh phái đoàn còn có sự sáng suốt của
người lãnh đạo thân mên của giống nòi. Chúng ta phải góp phần của chúng ta một
cách tích cực, chúng ta phải tốn công sức để ủng hộ phái đoàn… Cuộc đấu tranh
ngoại giao ở Paris thành công hay không một phần rất lớn là ở chúng ta, vì
không phải phái đoàn đàm phán, mà chính toàn thể chúng ta, dân tộc Việt nam đàm
phán”. (Trang đầu của tạp chí “Tiên Phong” số 1 4, ngày 1 tháng 7 năm 1946).
Vào cuối năm 1971, cha tôi có lãnh đạo đoàn Giáo dục sang
thăm Algérie. Bạn có tổ chức một chuyến tham quan qua các tỉnh Sétif,
Collslautine, Biskra, Malchik. Qua Biskra là vào địa đầu sa mạc Sahara. Khi đến
Malchik, ông chủ tịch dẫn đoàn đến thăm thị trấn. Đến cạnh sa mạc ông chỉ ra
phía sa mạc mênh mông và kể rằng: “Đằng kia cách đây chừng10 km kia là quân đội
Pháp họ đóng một đồn to lắm. Trong đồn có cả sân bay. Tôi nhớ nărn 1946, Pháp
có đưa một đoàn Việt nam trong đó có cụ Hồ chí Minh đến thăm đồn. Nhưng đến chiều
lại thấy bay đi. Dân ở đây biết cả là vẫn nhớ lấy. Sau Hiệp định Evial 1962,
Pháp phái rút khỏi Algérie đã phá bỏ vết tích đồn binh ấy”.
Trong đoàn cùng đi có chú Nguyễn Ngọc Chảo là cán bộ đối ngoại
của Bộ Giáo dục có kể lại sự việc trên và nói rằng: “Khi ngồi lên xe, đi vào sa
mạc Bộ trưởng thủng thỉnh nói: “Ông ta nói đúng đấy. Hồi ấy thế là cách đây hơn
hai mươi năm rồi. Tháng 8 năm 1946 Pháp còn coi đất này là của Pháp. Họ bảo đưa
Đoàn chính phủ ta đi thăm miền nam nước Pháp. Tối họ đưa đến, trưa hôm sau, tiệc
tùng rồi họ đưa phái đoàn Fontainebleau đi nơi khác…”. Chú Chảo nhớ lại: “Bộ
trưởng tựa lưng vào đệm xe, nhìn ra sa mạc, còn tôi, tôi ngồi nghĩ miên man đến
chuyến đi gian nan và nguy hiểm năm 1946 của Bác Hồ và các vị trong Đoàn.
Sau chuyến thăm hữu nghị đất nước Mauritanie và quay trở về
Pháp, Đoàn Giáo dục đã lại thăm Bộ trưởng Xuân Thuỷ có mặt trong Đoàn đàm phán
của ta đang ở Paris. Vừa gặp, ông Xuân Thuỷ nói ngay: “Lần trước các anh đến, Mỹ
tuyên truyền rùm beng đánh tan đường Hồ chí Minh. Lần này các anh quay về ta thắng
lớn ở Đường 9 Nam Lào. Mấy bữa nay họ im giọng…”.
Tiếp đó ông Xuân Thuỷ nói: “Nhân dịp anh qua Paris, anh với
tôi đi thăm Fontainebleau. Nhờ một Việt kiều chụp một số hình ảnh. Anh chỉ cho
những phòng làm việc của Hội nghị mà Bác và các anh trong phái đoàn đã ở
Fontainebleau năm 1946 để làm tư liệu kỷ niệm”.
Chú Chảo lắc đầu nói: “Tiếc rằng hôm ấy là thứ hai, bảo tàng
họ nghỉ. Đoàn Giáo dục lại phải rời Paris vào thứ ba.!…”.
Không biết rồi sau đó Bộ trưởng Xuân Thuỷ có dịp nào đến thăm
Fontainebleau nữa hay không? Riêng cha tôi thì đấy là lần cuối cùng đặt chân
trên đất Pháp.
Đón ông ngoại về Hà Nội
Sau ngày cưới, bác Phạm Văn Đồng cùng cô Cúc đến thăm gia
đình tôi. Bác có tặng tôi chiếc khăn tay thêu rua và hỏi: “Bố cháu có mua quà
cho cháu không?”. Tôi đã thưa với bác: “Cháu thích búp bê và kính đen thế mà bố
cháu chẳng mua gì cho cháu cả”. Bác Đồng nói: “Tiếc quá, chú không biết để mua
quà cho cháu”. (Tuy bác Đồng xưng là chú nhưng tôi được mẹ dạy gọi bạn cha mẹ
dù già hay trẻ hơn cha mẹ đều là bác). Sau này nghĩ lại thấy mình có ý thích kỳ
lạ là muốn có kính đen. Tại sao quá ngây thơ bày tỏ điều ngốc nghếch trong lúc
Cách mạng đâu có tiền phát cho cha tôi để mua quà. Sau Tuần lễ vàng rồi đã có
bao lần quyên góp khác để Chính quyền non trẻ lo củng cố nhà nước! Đúng là tôi
trẻ con thật. Trong Nhật ký mẹ tôi viết: “… Đại diện cho những người cách mạng chân
chính có anh Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp đã mang lòng tin đến anh và em, với
những người thân yêu của chúng ta, Di và Tùng (Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng)”.
Lúc còn nhỏ, nghe mẹ tôi nói thì tôi cũng biết là như vậy.
Sau này tôi mới được gặp bác Võ Nguyên Giáp và cô Hà ở trên nhà sàn làng Ải
(1947). Vào buổi lễ long trọng kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cha tôi, bác Giáp
đã có mặt và nói cho chúng tôi biết chính bác Giáp là người đã giới thiệu cha
tôi với Bác Hồ để làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Lúc bấy giờ biên giới phía Bắc,
18.000 quân Tầu Tưởng núp bóng Đồng minh tràn sang nước ta giải giáp quân đội
Nhật. Chúng như đội quân ốm đói và đáng khinh. Người ta gọi chúng bằng cái tên
Tàu Phù, Tầu ô; nạn Tầu Tưởng vào Hà Nội là mối lo cho những nhà buôn như bác
Tú Cương. Khi gặp mẹ tôi bác luôn nói về tiền “quan kim” và tôi được bác cho tiền
gấp bươm bướm khi đồng tiền bị phá giá.
Bấy giờ ông tôi đã về Lạng Sơn (từ 1942, ông tôi đã nghỉ
hưu). Vào thời kỳ đó ở Hà Nội có xảy ra vụ Ôn Như Hầu, mọi người rất sợ hãi, không
dám đeo đồ trang sức Mẹ tôi và cô Di phải dùng xà phòng để tháo vòng ngọc; người
ta đồn rằng nếu chúng cướp không được thì chặt cả tay.
Mẹ tôi nhận được thư cha tôi gửi về ngày 18-7-1946
(Fontainebleau) “Ngọc thử lên Lạng bẩm thầy lúc nào cũng nhớ thầy lắm. Phen này
Huyên về dàn xếp xong công việc cũ. Thầy nên tĩnh dưỡng, Huyên hiểu thầy hơn tất
cả mọi người tuy tất cả anh em trong nhà ai ai cũng yêu thầy”.
Trong khi cha tôi vẫn còn tại bàn đàm phán ở phương xa thì ở
nhà có cuộc họp gia đình họ Vi tại số nhà 75 Hàng Bông (gần Bệnh viện Phủ
Doãn). Đó là nhà của cô chú Hồ Đắc Di. Vợ chồng bác Tú Cương, vợ chồng anh chị
Tùng Hồ, mẹ tôi và chú Vi Văn Kỳ họp cùng ông Hoàng Hữu Nam (thứ trưởng Bộ Nội
vụ) bàn về việc mời ông ngoại tôi về ngay.
Ông Hoàng Hữu Nam cho biết Bác Hồ trước khi đi hội nghị ở
Pháp đã có chỉ thị lại cho ông bàn cùng gia đình làm thế nào đón cụ Vi về Hà Nội
thì tốt, kẻo hữu sự gì thì không kịp. Bác Tú Cương kể rằng sau khi nghe ông Nam
phân tích nhiều điều ích lợi, cả nhà đều nhận thấy ý của Chính phủ đối với ông
ngoại tôi là tốt đẹp nên đã tán thành. Ai cũng cho rằng ông ngoại tôi đã nghỉ
hưu lâu không muốn rời quê. Khi ấy ông Ba Ngọ cũng có mặt ở buổi họp đã nói rằng:
“Để tôi lên đón Cụ mới tin”.
Tại buổi họp muốn cử ba cô con gái cùng lên đón. Nhưng lúc bấy
giờ cả ba đều có con nhỏ, cho nên đã cử anh Tùng đại diện lên đường cùng ông Ngọ
và hai người nữa. Việc Cách mạng tìm hai người phụ nữ cùng ông Ngọ lên đón ông
ngoại tôi đã được ông Vũ Đình Huỳnh kể lại trong hồi ký đăng trên Tạp chí Văn
(tháng 3-1990 TPHCM).
Ông Vũ Đình Huỳnh thuật lại việc Bác Hồ đã quan tâm tới vấn đề
đón ông tôi về Hà Nội. Sau khi biết ông ngoại tôi có con rể, cháu rể là Nguyễn
Văn Huyên, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng thì Bác có nói: “Con cháu Cụ Vi đều đi với
Cách mạng cả, hãy mời cụ về Hà Nội”. Đồng thời Bác đã chỉ thị cho ông Vũ Đình
Huỳnh tìm các đồng chí ngày xưa đã bị Cụ Tổng đốc bắt cầm giấy mời của Chính phủ
lên trao tận tay, như vậy Cụ Vi sẽ hiểu ta không giữ hận thù mà thật lòng đoàn
kết.
Việc ông Ba Ngọ lên Lạng Sơn gia đình tôi nhắc tới nhiều lần.
Nhất là cái buổi ông tổ chức liên hoan cùng bà con dân bản để chia tay. Tại đó
ông Ba Ngọ thay mặt Cách mạng hứa bảo đảm an toàn cho ông ngoại tôi khi ông lên
đường về Hà Nội.
Bác Tú Cương kể rằng, hôm tiễn đoàn ở Bắc Bộ Phủ lên Lạng
Sơn, các ông ấy muốn các cô con gái viết thư cho ông ngoại tôi. Mẹ tôi đã nhận
lời viết.
Mẹ tôi nhớ lại: “Ngồi viết thư có người là viên chức cũ ở Phủ
Khâm sai nay vẫn làm ở Văn phòng Bắc Bộ Phủ còn đi qua ghé tai mẹ nói “bút sa
gà chết đấy”, nhưng mẹ tin ở Cách mạng, tin Bác Hồ”.
Sau khi cha tôi biết tin ông ngoại đã về Hà Nội đã có thư
ngày 19-8- 1946: “Huyên chắc Ngọc mời thầy về Bác cổ rồi chứ? (nơi gia đình tôi
đang sống). Thầy cứ ở đấy không ngại gì”.
Khi Đoàn đón ông từ Lạng Sơn về Bác cổ thì con cháu đến đông
đủ. Bác Tú Cương là người đến sau cùng. Khi bác tới ông chỉ vào bác mà nói với
ông Ngọ: “Đây là con gái thứ hai của tôi. Có các con tôi đầy đủ, anh nói đi”.
Thế là ông Ngọ kể cho tất cả cùng nghe chuyện năm 1930- 1931,
ông đã giúp đỡ ông Ngọ như thế nào. Bấy giờ ông đang làm Tổng đốc Thái Bình. “Cụ
Vi thường giam chính trị phạm ngay nhà tắm cạnh phòng nghỉ của Cụ. Trưa Cụ lại
gọi lên đọc báo cho Cụ nghe”.
Cho đến năm 1935, ông bà ngoại tôi gặp ông Ngọ tại hội chợ Đấu
Sảo (gần ga Hà Nội). Hai bên gặp nhau hiểu nhau, ông đưa mắt để ông Ngọ ra chỗ
vắng rồi dúi cho ông Ngọ 20 đồng Đông Dương và nhắc “trốn nhanh nó đang lùng bắt
ông đấy!”. Rồi ông Ngọ nói: “Thế là tôi đi biệt cho đến nay, tôi đã được hân hạnh
lên đón cụ”.
Khi ông Ngọ vào Bản Chu bày tỏ việc mời Cụ về Hà Nội thì ông
ngoại tôi đã trả lời: “Tôi nay già yếu rồi chắc không đóng góp được việc gì,
xin cho lão giả yên chi”.
Ông không nhận lời nên Đoàn lại ra khỏi Bản Chu. Sau 2 ngày,
ông Ngọ lại lãnh Đoàn quay trở về gặp ông ngoại tôi. Lần này thì ông ngoại tôi
đã nhận lời. Sau 1, 2 ngày thu xếp công việc nhà, bác Cả Diệm và chú Dư đã theo
lệnh ông thông báo cho tất cả bà con trong làng và các trại là người Tày, người
Nùng đến để dự một bữa liên hoan có tới vài ngàn người, phải mổ mấy con bò, mấy
con lợn, hàng trăm mâm cỗ. Ông thông báo: “Chính phủ nước Việt nam am Dân chủ Cộng
hoà cho đón tôi về Hà Nội. Khi vắng tôi mọi việc các con, các cháu và dân bản
các trại vẫn làm ăn bình thường”.
Mọi người nhao nhao lên hỏi Cụ đi thế có được đảm bảo không
vì đang chiến tranh bom rơi súng nổ. Ông Ngọ liền đứng lên trả lời: “Đồng bào
yên tâm, chính phủ đón đi là phải đảm bảo chứ!”.
Đảng và Nhà nước giữ đúng lời hứa, chăm sóc ông tôi cho đến
ngày ông tôi qua đời thọ 96 buổi (20-12-1975). Liên quan đến câu chuyện ông tôi
được đón về Hà Nội, bác Tú Cương còn kể tiếp: “Chú Vi Văn Kỳ học bấy giờ còn ở
Hàng Da. Bỗng một trưa hè, chú còn đang mặc quần cộc thì có người báo chú có
khách không mời mà tới. Thì ra đó là một thằng Tây tên là “Chít Xo” (mật thám
Pháp) xin gặp chú để mời chú về Lạng Sơn làm “Vua nước Nùng”. Chú Kỳ tôi đã lên
tìm cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc bấy giờ thay Bác Hồ đang ở Pháp và gặp ông Hoàng Hữu
Nam để báo về việc trên. Ngay sau đó cả gia đình được Cách mạng chuyển vào Thanh
Hoá. Tại đây chú làm việc ở Bộ Nội vụ cho đến khi về hưu. Sự việc này xảy ra
sau khi ông Ngọ đã đón ông tôi về Hà Nội. Điều đó càng chứng tỏ sự sáng suốt của
Bác Hồ đã kịp thời “Kẻo hữu sự gì thì không kịp”.
Gia đình tôi rất xót sa khi hay tin ông Hoàng Hữu Nam mất.
Khi đó chúng tôi đang tản cư đến làng Trường Thành cách thị xã Tuyên Quang chừng
5 km. Tôi không biết ông Ba Ngọ mất năm nào xong chị em chúng tôi lại học với
anh “Tu Căng” (Nguyễn Văn Căng) con trai ông. Mỗi lần Bác Hồ qua thăm Liên Xô
thường gặp mặt các cháu thiếu nhi con cán bộ học bên đó. Em Bích Hà kể lại lần
nào Bác cũng hỏi đến “Tu Căng” và Phan Nhã (con ông Hoàng Hữu Nam). “Tu Căng”
sau này công tác tại Đại sứ quán Việt nam ở Liên Xô có kể cho chúng tôi biết, hồi
còn ở nhà mẹ anh thường kể về chị em con cụ Vi đã đưa cơm và giấy bút cho ông
Ba Ngọ khi ông bị bắt giam ở nhà tắm của ông ngoại tôi ở Dinh Tổng đốc Thái
Bình. Tôi có hỏi lại mẹ tôi thì mẹ tôi nói là cô Di làm việc đó.
Trưng thu độc lập
Tết Trung thu mẹ không bày cỗ ở nhà
Ông ngoại tôi trở về Hà Nội, mẹ tôi mời ông về ở nhà 20 Ngô
Quyền. Đây là ngôi nhà công vụ là dành cho Giám đốc Trường Viễn Đông Bác cổ Cha
mẹ tôi đã có lần dẫn tôi đến chơi ông bà Giám đốc thời trước Cách mạng.
Bấy giờ cha tôi vẫn đang dự Hội nghị Fontainebleau, mẹ tôi mời
ông ở ngay phòng ngủ của cha tôi. Từ phòng ông tôi bước ra là phòng rộng lớn,
nơi đặt bàn làm việc, tủ sách, đài radio và bộ bàn ghế tiếp khách. Tôi còn nhớ
những cuốn sách của cha tôi được đóng bằng bìa da nâu, chữ vàng. Cuốn nào cũng
dày và chắc chắn xếp đầy trên tủ. Từ phòng khách bước vào phòng nhỏ đó là phòng
ngủ của hai chị em tôi và Bích Hà. Có thêm giường kê cho cô giáo Kim. Một gia
sư vừa dạy tiếng pháp và văn hoá cũng như thêu thùa cho chị em tôi. Chúng tôi
có thể từ trên giường mình nhảy xuống đất, đi trên thảm đỏ để leo ngay lên chiếc
giường đôi của mẹ. Đây là phòng của mẹ tôi và Nữ Hiếu. Trước bàn hướng ra cửa sổ
có giấy bút và vài cuốn sách được xếp gọn. Bên cạnh là chiếc máy khâu luôn có
chồng quần áo đang may dở. Cạnh cửa sổ thứ hai là bàn phấn. Chúng tôi có thể đi
chân đất trên sàn gỗ bóng để sang phòng em Huy và dì Quý. Mẹ tôi không rời các
con, bên trái bên phải phòng mẹ tôi đều có chúng tôi. Mẹ tôi luôn giữ nếp nhà
trật tự, ngăn nắp sạch sẽ. Việc nào mẹ tôi cũng tổ chức làm đâu ra đấy. Không
bao giờ tuỳ tiện, tuỳ hứng. Cho nên việc sắp đặt cuộc sống đều rất quy củ. Đó
là nét đặc trưng của mẹ tôi dù trong hoàn cảnh Kháng chiến chỉ có một phòng ở
nhưng trong phòng vẫn có bàn học cho các con, có bồ thúng đựng đồ chơi, mùa
đông vẫn có bếp lò sưởi trong nhà…
Dù xa mẹ, chúng tôi không bao giờ quên được nền nếp mẹ đã tạo
cho chúng tôi. Tôi còn nhớ cả nhà vây quanh đài thu thanh tại phòng lớn lắng
nghe tường thuật ngày nhân dân Hải Phòng đón Bác Hồ lên tầu hoả về Hà Nội. Sở
dĩ hôm đó chúng tôi không được ra ngoài vì em Huy đang bị ốm. Tiếng hoan hô reo
hò vang dội trong loa truyền thanh rộn vang khắp phòng: “Nhanh bước nhanh nhi đồng,
treo cờ dỏ sao vàng, kìa lời gió ngàn, kìa lời song núi…” theo nhịp trống ếch,
chúng tôi hát bài “Già Huỳnh”, “Già Hồ”…
Trong Kháng chiến mẹ tôi thường mang cuốn “Loại sách tự học
trích giải lời Hồ Chủ tịch” để đọc cho chị em chúng tôi nghe, cho chúng tôi
theo đó tập chép. Có đoạn thư Bác viết sau khi từ Pháp trở về: “Bác đi Pháp mấy
tháng, nhớ các cháu luôn. Chắc các cháu cũng nhớ Bác. Khi Bác về Tổ quốc, từ Hải
Phòng đến Hà Nội, các cháu mang nhau đi đón Bác. Có lẽ hơn mười vạn cháu, tay cầm
cờ đỏ sao vàng, đứng chật hai bên đường hai bên bờ ruộng. Reo cười ca hát, vui
vẻ như một đàn chim…” Đọc thư, chép thư tôi lại nhớ không khí ngày ấy, lòng tôi
lại xốn xang nhớ ngày Trung thu độc lập đầu tiên. Hồi đó mẹ tôi may cho tôi và
Bích Hà mỗi người một bộ áo trắng, quẩn xanh có yếm và mua cho chúng tôi chiếc
ca-lô đội như các bạn.
Mẹ tôi là người mẹ tuyệt vời nhất. Mọi ao ước của con trẻ đều
được mẹ đón trước để thoả mãn một cách hợp lý. Chúng tôi theo trống ếch nhịp
nhàng của đoàn thiếu nhi khối phố đến khu vực gần Hồ Hoàn Kiếm chờ xem xe hoa.
Chiều hôm đó chúng tôi lại gọn ghẽ trong bộ quần áo công nhân, hai túi đầy vỏ
bưởi theo đội ra Bờ Hồ chiến đấu với “tầu chiến địch”. Chiến hạm dựng ở phía
góc đường Bà Triệu, Hàng Khay, còn chúng tôi được chia đứng ở vườn hoa Chí
Linh. Cuộc chiến đấu bắt đầu từ chiến hạm bằng cót, các thuyền con bơi ra mọi
phía để đổ bộ lên bờ! Chúng tôi tới tấp ném vỏ bưởi… Ai đã dự Trung thu năm ấy
hẳn còn nhớ chiến hạm bị đổ tung toé…
Mùa thu Cách mạng năm ấy, Bác Hồ đã mang lại cho trẻ nhỏ Việt
Nam niềm tự hào là con một dân tộc độc lập và với niềm tin, lòng dũng cảm để bước
tiếp theo con đường mà Bác đã mở ra…
Tết Trung thu năm ấy Bác còn gọi nhi đồng Việt nam là “các
em”. Chép trong cuốn tự học: “Đây là Hồ Chí Minh, nói chuyện với các em vui
chơi một cách có đoàn kết, có tổ chức. Như thế là tốt lắm. Hôm nay Tết Trung
thu là của các em. Mà cũng là một cuộc biểu tình của các em để tỏ lòng yêu nước
và để ủng hộ nền độc lập”.
Tôi còn nhớ mẹ tôi cho viết mấy dòng: “Trước khi phá cỗ vui vẻ
chúng ta cùng nhau hô hai khẩu hiệu: “Trẻ Việt nam sung sướng! Việt nam độc lập
muốn năm”.
Lời Bác vẫn giản dị, vừa yêu trẻ, vừa thắm thiết như người
trong nhà.
Chúng tôi đã hát trong Kháng chiến với một tình cảm vô vàn
kính yêu Bác Hồ
“Già Hồ ơi! Bé đến đây.
Già Hồ ơi! Bé yêu Hồ.
Cười rúc rích, cười rúc rích bên tai già Hồ
Mời già Hồ xơi kẹo với em
Chúng em đây lớn thế này
Già Hồ bế em nhiều nhé!”
Tối hôm đó chúng tôi trở về ngôi đến ở phố Bà Triệu để phá cỗ.
Tại đây các mẹ, các chị đã bày sẵn nào là hồng, nào là chuối, là bưởi… những
con chó bông bằng bưởi có lưỡi đỏ, có mắt đen nhánh. Ai vào cỗ cũng nói: “Đẹp
ơi là đẹp! Giống thật quá!” tại đây mẹ tôi cũng có mặt để chờ chúng tôi. Mẹ dạy
tỉa hoa
Nhân dịp Trung thu, mẹ tôi dẫn tôi đến Tràng Tiền xem trưng
bày một phòng toàn hoa đặt trong tủ kính cùng các con vật làm bằng đu đủ, những
múi bưởi ghép lại sao mà đẹp thế, đáng yêu đến thế. Mầu sắc hồng hồng, vàng nhẹ,
của những bông hoa hồng, những bông cẩm chướng vàng, thuỷ tiên thật là tươi tắn,
mắt dịu. Mẹ nói: “Đây là những thứ bày bán đấu giá góp tiền cho Chính phủ Cách
mạng”. Hình ảnh hai mẹ con dắt nhau đi trong phòng hoa đó vẫn còn đọng lại
trong tôi cùng với lời giảng giải của mẹ. Mẹ tôi quả là người mẹ tài đức.
Trước biến cố trong lịch sử xã hội, cha mẹ luôn là người hướng
đạo từng bước cho các con. Trước 1945, Trung thu nào, mẹ tôi cũng dẫn tôi đi sắm
tết, tự chọn mua những con giống, những bộ bàn ghế “salông”, những nồi niêu bằng
bột được dán trên một mảnh bìa… để về bày cỗ. Kể cả ngày chạy Nhật vào Hà Đông
mẹ tôi vẫn lo bày cỗ cho các con. Duy có Trung thu năm 1946 là mẹ không bày cỗ ở
nhà, mẹ đã dắt chúng tôi bước vào không khí đầy nhiệt huyết của cách mạng lúc bấy
giờ. Chưa bao giờ mẹ tôi để chúng tôi ngồi hè đường, kể cả lúc nhà ở ngay trước
cổng chợ Hà Đông, thế mà bấy giờ mẹ tôi đã cho chúng tôi ra đường ngồi bên vệ
đường cùng tất cả mọi người xem diễu hành, xem xe hoa. Đó là lần đầu tiên mẹ
tôi cho chúng tôi hoà nhập vào xã hội.
Tôi còn nhớ vào một năm, cả nhà ngồi trên hiên nhà “Hale” để
tập tỉa hoa. Bấy giờ tôi còn bé chỉ chạy quanh xem mẹ dạy các chị Hồ, Lạng và
cô Quý tỉa hoa mà thôi. Vì sao mẹ tôi lại chú trọng chăm lo cho các chị tham dự
vào cái tết cố truyền làm những công việc như vậy? Theo phong tục cổ truyền, Tết
Trung thu đâu chỉ phải là Tết riêng của trẻ em.
Cha tôi có một bài viết về lễ hội này vào năm 1942. Ở đó ông
có viết một đoạn liên quan đến việc vì sao mẹ tôi lại dạy các chị học để thành
con gái khéo tay. Bởi vì Tết Trung thu trong quá trình diễn biến lâu dài của lịch
sử đã trở thành Tết của trẻ em, của tuổi trẻ và ông viết: “Mặt trăng trên trời
được coi là chỗ ở của ông Tơ bà Nguyệt có nhiệm vụ gắn bó trai gái với nhau bằng
những sợi chỉ hôn nhân”.
Vì vậy những cô gái qua cỗ Tết thể hiện tài nghệ nữ công gia
chánh để tỏ mình trước các chàng trai và các bà mẹ chồng tương hai. Dần dần
phong tục này giữ lại dành cho trẻ em những sự vui thú, còn đối với tôi thì nhớ
nhất là trên mâm cỗ năm nào cũng có ông tiến sĩ đầu đội mũ cánh chuồn ngồi chễm
chệ trên ghế vòng hai tay trong áo thụng. Bởi vì theo cha tôi Tết Trung thu còn
có ý nghĩa “Những thanh niên đã hoặc sắp sửa học hành thành tài lại vui Tết
Trung thu theo kiểu của họ. Đối với họ đây là ngày tết của tương hai, ngày tết
mở đầu cho các kỳ đỗ đạt sắp tới của họ”.
Cho đến nay, tôi vẫn nghĩ rằng, mẹ tôi muốn các con theo
gương cha học hành tấn tới để thành “ông tiến sĩ”. Còn như khi được đọc tác phẩm
của cha tôi mới thật hiểu tại sao ngày xưa con cóc ba chân trên mặt trăng thành
con cóc vàng, “kim thiềm thừ” biểu tượng của sự đỗ đạt ở kỳ thi Hương và cây đa
che cho chú Cuội của dân gian lại trở thành cây nguyệt quế có hoa nở về mùa thu
và đôi khi rụng xuống mặt đất. Cái cây hiếm hoi này, với những cành nhánh oai vệ
biểu tượng của sự đỗ đạt vinh quang. Thảo nào cứ đến Trung thu trên hiên gác
“Ha le”, cha tôi lại cho tôi nhìn qua ống nhòm để ngắm “cây nguyệt quế” và chú
Cuội. Mẹ tôi mua cho tôi đèn cá chép, những con giống hình kỳ lân…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét