Hồi ký Phạm Duy: Thời Thơ ấu - Vào đời
Tập 1 - Phần 3
Mười lăm
Cô hái mơ ơi
Không trả lời tôi lấy một lời...
Nguyễn Bính
Lúc này Nhật Bản đang tiến hành công cuộc chiếm đoạt toàn thể
vùng Đông Nam Á. Sau khi Nhật thả bom cảnh cáo xuống Hải Phòng, Pháp đã phải
thoả mãn những yêu sách như cắt đường tiếp tế quân cụ cho Trung Hoa, để cho Nhật
đóng quân ở nhiều vị trí chiến lược, bắt nông dân nhổ lúa trồng đay, thu mua những
hạt thực vật như lạc, vừng để ép lấy dầu chạy máy. Với chính sách tiết kiệm
nhiên liệu, với những cuộc tập phòng thủ thụ động... người Việt Nam đã khởi sự
sống trong tình trạng chiến tranh rồi.
Một ngày thu lạnh năm 1941, tôi ra bến xe để đáp xe hàng về
Hưng Yên. Sau khi thua trận trong Thế Chiến, chính phủ Laval của Thống Chế
Pétain được thành lập ở Pháp để làm bù nhìn cho Đức Quốc Xã. Bộ máy cai trị của
thực dân Pháp ở Việt Nam chưa bị lật đổ và được dùng để duy trì an ninh cho
Quân Đội Nhật Bản đang đóng quân nhiều nơi trong nước. Bây giờ xe hàng chở
khách không còn chạy bằng ét xăng nữa mà chạy bằng than. Đằng sau mỗi chiếc xe
có gắn một cái lò than với ống khói phun thán khí lên trời. Nhìn anh phụ xế chọc
que sắt để khơi lò, tôi bỗng nhớ lại quãng đời công nhân của mình ở nhà máy điện
Moncay.
Hưng Yên là một tỉnh lỵ nhỏ không nằm trên những con đường
huyết mạch như đường xuống cửa khẩu Hải Phòng hay đường thuộc địa số 1 đi vào
miền Trung, miền Nam mệnh danh là đường thiên lý hay đường cái quan. Nhưng
trong đoạn đầu của hành trình, chiếc xe hàngvới hình thù và tuổi tác của một
con khủng long phải dùng con đường Hà Nội-Hải Phòng để tới Bần Yên Nhân. Sau
khi đậu lại cho cả tài xế lẫn hành khách nghỉ ngơi, xe chạy tiếp tới Phố Nối rồi
rẽ sang một tỉnh lộ chạy về Hưng Yên.
Hưng Yên là quê quán của nhiều danh nhân và có nhiều di tích lịch
sử như đền thờ Đào Nương, tổ sư nghề hát ả đào tại làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ.
Như làng Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, quê hương của Nguyễn Thiện Thuật, anh hùng Bãi
Sậy (tên chiến khu nằm giữa hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên). Có đền thờ Trạng
Ăn Lê Như Hổ ở xã Tiên Châu, huyện Tiên Lữ. Có đền thờ Phạm Ngũ Lão (ông tổ của
tôi chăng?) ở làng Phù Ưng, phủ Ân Thi. Những danh nhân khác gốc gác ở Hưng
Yên là Đoàn Thị Điểm, Chu Mạnh Trinh...
... Xe hàng đưa tôi đi trong một vùng quê có hơi khác biệt
vùng Sơn Tây mà tôi đã biết. Ở đây, ngoài cánh đồng xanh hun hút với lũy tre
tím ngát, còn có nhiều rặng cây nặng trĩu những chùm nhãn tròn mầu nâu nhạt.
Ngay từ lúc đầu tiên tới vùng Hưng Yên nổi tiếng về nhãn này, khi xe hàng ngừng
lại dọc đường, tôi đã được thưởng thức thứ "nhãn tiến", nghĩa là loại
nhãn dành riêng để tiến vua ngày xưa, với quả to, hột bé, cùi dòn... Đồng ruộng
cũng có chút thay đổi. Đây đó, chen vào những ruộng lúa là những mảnh đất trồng
đay. Nhật Bản ra lệnh cho chính quyền bảo hộ ép buộc nông dân trồng thứ cây kỹ
nghệ này và đó là một trong những duyên cớ gây nên nạn đói khủng khiếp vào năm Ất Dậu (1945).
Sau khi chạy ngoằn ngoèo theo ven sông Hồng, xe hàng tới tỉnh
lỵ Hưng Yên. Đi qua con phố ngắn - phố Chợ - là tới phố Bắc Hòa, nơi mẹ tôi
và chị Chinh đang ở với anh Nhượng.Căn nhà tỉnh lẻ mà tôi sẽ trú ngụ trong hơn
một năm cũng khá lớn, vừa rộng vừa dài và có thêm một căn gác. Tôi được dành
cho căn phòng ở cuối nhà, đối diện với cái sân lộ thiên nhỏ. Tại đây, tôi thích
ngồi vẽ tranh sơn dầu với đề tài là một khung cửa sổ trông ra vườn chuối rực nắng.
Trước cửa nhà tôi là những cây sữa rất lớn mà mùi hoa lá là
mùi thơm của câu hát đêm thơm như một giòng sữa khi tôi soạn bài Dạ Lai Hương.
Một đêm Hưng Yên, ngồi trước cửa nhà với mẹ, nói về sự thơm ngát của phố Bắc
Hòa trong đêm, tôi gọi đó là mùi dạ lan hương. Mẹ bảo tôi rằng: "Con phải
dùng danh từ dạ lai hương thì mới đúng với cảnh này". Cám ơn mẹ vô cùng!
Thành phố Hưng Yên bé bằng cái lỗ mũi. Nhưng cũng có một phố
Khách là phố thương mại nằm trong tay người Tầu. Người Tầu cũng có cửa hàng lớn
ngay phố Chợ, chẳng hạn Chú Dzùng, có cô con gái đẹp tên là Sâm, người mà tôi sẽ
gửi cho nhiều lá thư tình. Khu hành chánh gồm có Tòa Sứ, các Dinh Tuần Phủ,
Thương Tá, Chánh Án nằm chung quanh Hồ Bán Nguyệt là nơi nên thơ nhất của tỉnh
lỵ. Hồ Bán Nguyệt đẹp không thua Hồ Gươm là mấy. Tôi thường ngồi đây để nhớ
ngày còn bé tỉ tì ti. Đi thêm một quãng đường ngắn là hết tỉnh, có nhà Cercle nằm
cạnh con sông nhỏ chảy ra sông Cái. Tòa Án (là nơi tôi sẽ làm việc) xây cạnh bờ
đê, trường học với sân vận động (là nơi tôi sẽ trổ tài điền kinh) cũng gần
đó...
Sống ở tỉnh nhỏ là dễ có bạn. Và có rất đông bạn chứ không phải
chỉ có vài ba người như khi còn ở Hà Nội. Lúc đó, lũ thanh niên 20 tuổi ở Hưng
Yên đều thất nghiệp, ăn bám vào cha mẹ, hằng ngày tìm tới nhau rồi ngồi đánh cờ
tướng, đi đá bóng hay ra cuối tỉnh để thi bơi trên sông Hồng. Tôi đã biết bơi
và bơi giỏi là khác sau những ngày đi tắm ở Hồ Quảng Bá và được chiêm ngưỡng
thân hình hấp dẫn của hoa hậu Hà Nội. Hoặc dạy nhau hát những bài ca cải cách
và bài ca Nhật Bản với lời Việt.
Tôi thường đánh cờ với Hoàng Thư, đánh boxe với Tiết Lương Đức
tức Đức "đen", hoạ đàn mandoline với Quynh, một người đáng lẽ phải trở
thành nhạc sĩ vì đã soạn nhạc ngay từ lúc đó. Lê Vy, đồng tác giả với tôi trong
bài Con Đường Vui hãy còn là cậu bé con nhưng đã biết thổi saxophone rồi. To
con và ồn ào nhất trong đám là Ưng, kẻ sẽ đi lính "heitai" cho Nhật
và hay trở về nhà khoe với bạn bè cây kiếm Nhật đeo lủng lẳng bên hông. Tại phố
Khách, có anh bạn là Phan Tại, họa sĩ mầm non và đạo diễn kịch chưa có việc
làm, lúc nào cũng ngậm pipe và trầm ngâm. Ơ' cùng phố với Phan Tại là Học Phi,
người sẽ trở thành "hung thần Cách Mạng" khi nắm chính quyền và bắt
giết nhiều người. Bạn của tôi lúc đó còn là Thiệp đá bóng, người bị Pháp bắn chết
tại Hải Phòng vào năm 46 và Thận, sĩ quan thiết giáp sau này của miền Bắc Cộng
Sản. Đó là chưa kể Lê Ninh, con ông Thương Tá Lê Cẩn, sau này là sĩ quan trong
Cục Quân Cụ của Quân Đội Cộng Hòa và Lê Hồng Giang, Lê Duy Kỳ, những con trai của
ông bà Tuần Phủ Lê Đình Trân, hai bực "phụ mẫu chi dân" (°) sau này
là cha mẹ nuôi của tôi.
Ôi đẹp thay những ngày tôi 20 tuổi ở tỉnh nhỏ Hưng Yên! Cùng
với bạn bè, tôi hay tới trước cây bàng ở Tòa Án để dùng súng cao xu bắn rơi những
trái bàng. Rồi chia nhau ăn những quả bàng ngọt như đường. Hay tới gốc đa nhà
Cercle để hái búp đa rồi thổi thành những quả bóng nhỏ. Hoặc rủ nhau mua sách học
tiếng Nhật. Học chào: Konichiwa. Học cám ơn: Arigato. Riêng tôi, ca sĩ mầm non,
học cách xưng hô: Watakusi wa ongakusen = tôi là nhạc sĩ... Nhưng ngoại trừ Ưng
ở phố Khách, chúng tôi không thích làm việc với Nhật dù cũng khoái khi thấy Nhật
da vàng bắt nạt Pháp da trắng quá trời. Nhưng chúng tôi rất thích hát những bài
Nhật như Mori No, Kohan No Yado. Lúc đó bài Thu Trên Đảo Kinh Châu vừa được Lê
Thương soạn ra với một âm giai Nhật Bản và lập tức được chúng tôi hát luôn mồm.
Ơ' Hưng Yên, tôi được sống rất gần gũi với Tuồng, Chèo mỗi
khi có gánh hát tới kiếm ăn ở tỉnh này. Ngành sân khấu cổ truyền đang tới kỳ mạt
vận. Gánh hát nào cũng ế khách, kép hát nào cũng nghiện ngập. Mẹ tôi được coi
là nhà Mạnh Thường Quân hạng nhất của họ. Không những mẹ đi coi hát luôn luôn để
ủng hộ tinh thần và vật chất cho các gánh hát nghèo, mẹ còn mời đào kép về nhà
ăn ở nữa. Tôi đã học cách đánh trống chèo với kép Tư Liên, học cách vẽ mặt với
hề Phẩm. Tôi được ngồi ăn cơm với tổ sư của ngành Hát Chèo Văn Minh là Nguyễn
Đình Nghị ngay từ lúc đó, trước khi làm việc với cụ tại Liên Khu IV (Thanh Hoá)
vào năm 1949. Và cùng với bạn bè, chúng tôi tổ chức những buổi ca kịch, trong
đó tôi trổ tài hát nhạc cải cách hay nhạc ngoại quốc lời Việt.
Về ái tình, cũng như hầu hết các anh bạn, tôi bị cú "sét
đánh" bởi cô con gái của Chú Dzùng ở phố Chợ tên là Sâm. Chú Dzùng người Tầu
lấy vợ Việt Nam có họ với Hoàng Thư nên Sâm là cháu của bạn tôi. Tôi dễ dàng
làm quen với cô gái đẹp nhất Hưng Yên để viết nhiều thư tình, những bức thư chỉ
được người nhận thư trả lời bằng những nụ cười có má lúm đồng tiền và câm lặng.
Tôi không thể nào ngờ rằng cô nữ sinh gốc Minh Hương này cũng được thầy giáo
Nhượng mê luôn và hỏi làm vợ. Ông giáo tỉnh nhỏ dễ lấy vợ hơn chàng thất nghiệp
tỉnh nhỏ. Ngày anh mình cưới chị Sâm, tôi không còn ở Hưng Yên để nhìn người
mình mơ thưởng trở thành chị dâu. Sau khi biết anh mình đóng vai chính trong
truyện Trầu Cau (truyện cổ tích: hai anh em yêu một người) và không muốn làm kẻ
tình địch của anh, tôi lảng xa cô Sâm. Rồi từ đó tôi tạo cho tôi một nỗi buồn rất
"cải lương". Nỗi buồn vẩn vơ này sẽ trở thành nỗi buồn rất thực khi mấy
năm sau tôi trở về nhà và thấy chị Sâm đã qua đời sau hai năm làm dâu trong gia
đình tôi, để lại cho người chồng đau khổ hai đứa con trai nhỏ. Khi chị Sâm mất - vì bệnh thương hàn do sự cẩu thả của ông bác sĩ tỉnh nhỏ - tôi đang đi hát
rong ở miền Nam. Không ai biết tôi ở đâu để cho biết hung tin. Tôi còn buồn hơn
nữa khi biết thêm rằng sau ngày vợ chết, trong mấy năm liền, anh Nhượng luôn
luôn giở những chiếc áo dài của vợ ra coi rồi ngồi ôm mặt khóc. Cho tới khi anh
tái hôn với một cô gái Thái Nguyên vào lúc Cách Mạng thành công thì mới thôi.
Khi còn ở Hà Nội, tôi chưa đủ tuổi để đi hát cô đầu. Tại Hưng
Yên, vì không có tiền nên lũ thanh niên thất nghiệp thường đi ké với người lớn
tới xóm ả đào ở Nam Hòa. Cô đầu Trần Thị Đào rất đẹp và hát rất hay. Nhưng
không đứa nào trong lũ thanh niên túi rỗng sờ được lông chân của cô. Để giải
quyết sinh lý, chỉ còn cách tán mấy người bán hàng rong, như chị bán bánh giò
ban đêm chẳng hạn. Thỉnh thoảng vào lúc nửa đêm, khi nghe thấy tiếng rao hàng từ
xa xa, tôi dón dén mở cửa ra phố dắt chị bán bánh giò lớn tuổi hơn tôi vào
phòng để ân ái. Thật là liều lĩnh vì mẹ tôi nằm ngủ ở ngay nhà ngoài. Quen mùi,
cứ vài ngày tôi lại nghe tiếng ồ ồ của chị ta, rao đi rao lại: "Giò nóng
đây!"
Trong đám thanh niên vô công rồi nghề chỉ biết chim gái, rong
chơi và ca hát như vậy, tôi là kẻ may mắn nhất. Tôi có công việc ngay sau khi về
tỉnh này chừng ít lâu. Một người anh họ xa, anh Ninh, làm lục sự tại Tòa Án
đem tôi vào làm thư ký. Hằng ngày, ngoài việc đánh máy những bản án luôn luôn bắt
đầu bằng câu: "Attendu que...", cùng với một thư ký khác tên Xương,
tôi thay mặt ông Lục Sự nhận tiền đút lót của những người đi hầu Tòa, dù là bên
nguyên hay bên bị. Tôi chứng kiến những chuyện cười ra nước mắt, khóc ra nụ cười
ở một nơi có nhiều vở hài kịch hay thảm kịch sống động còn hơn là những vở tuồng
trên sân khấu. Thấy vẻ mặt lo âu của những người vô phúc nên phải đáo tụng
đình. Thấy ông Chánh Án Vũ Đại to béo như Hộ Pháp, bệ vệ ra ngồi trên bục,
chưa hỏi cung bị can hay chứng nhân mà đã biết xử án ra sao. Vì ngài đã nhận đồ
"vi thiềng" rồi ạ! Cho nên ông Chánh A³n thường ngủ gật bên cạnh hai
ông Thẩm Phán và Lục Sự.
Rồi tôi còn được nhòm qua lỗ khoá vào một buổi nghỉ trưa hè để
thấy người vợ trẻ của một can phạm nằm ngửa trên bàn giấy để "đút
lót" ông Thẩm Phán tên là Thừa bằng cái tiết hạnh của mình, vừa đút lót vừa
dẫy dụa và rên ầm ầm, làm tung toé giấy tờ của người đại diện luật pháp. Thấy
những người làm Cách Mạng thứ thiệt bị xét sử như những tên cướp. Thấy những kẻ
cướp thực sự bị xét sử rồi về sau thấy họ tự khoe là nhà Cách Mạng! Ngán ngẫm
nhất là thấy ông anh Lục Sự Ninh, béo lùn và đầu hói, ban ngày quát mắng lũ dân
đen đi hầu tòa bằng giọng nói thét ra lửa mửa ra khói, chiều tối về nhà lại tiu
nghỉu như mèo cụp đuôi trước cơn thịnh nộ không duyên cớ của bà vợ rất dữ.
Đi làm tại Tòa Án với số tiền lương là 12 đồng một tháng,
tôi đã tự sắm cho mình một bộ đồ Tây mùa hè mầu trắng. Nhưng tôi không tiếp tục
làm cái nghề "nha lại" này sau nửa năm nếm mùi công lý mầu đen đó. Vả
lại tôi đang được ông Tuần Phủ Lê Đình Trân yêu thích giọng hát của tôi khi tôi
vào dinh để chơi với hai người con trai. Rất chiều chồng, bà Trân liền xin mẹ
tôi cho tôi làm con nuôi để - gọi là - dạy học cho lũ con nhỏ. Trong thực tế,
bà muốn có tôi trong dinh để làm một thứ "cô đầu hát" cho ông chồng
làm quan đầu tỉnh này. Lúc đó người Nhật đem vào Việt Nam hai bài hát thịnh
hành là Hà Nhật Quân Tái Lai (Bao Giờ Chàng Trở Lại) và Shina No Yoru (Đêm
Trung Hoa). Tôi rất thích bài Hà Nhật Quân Tái Lai với lời Việt của Văn Chung:
Đi chớ để hình bóng
Cùng vết thương ở trong lòng...
Không cứ gì ông Tuần Phủ Lê Đình Trân, ai nghe tôi hát bài
này cũng phải mê tôi cả. Qua những buổi nhạc hội, tôi đã nổi tiếng là hát hay tại
nơi tỉnh lỵ bé bỏng này. Đây là lúc tôi đã bị Thần Âm Nhạc ám ảnh và tôi đang
được ru hồn bằng những bài thơ mới của Huy Cận. Đúng như Hoài Thanh viết về thơ
Huy Cận: ''... Có người sẽ bảo thơ Huy Cận già. Già vì buồn, già vì hay kể lể
những chuyện xa, những chuyện xưa. Nhưng trong đời người ta, còn có tuổi nào
hay buồn hơn tuổi hai mươi? Còn có tuổi nào vẩn vơ hơn?'' Lúc đó, trong giới
thi ca, chưa có lối ngâm thơ theo kiểu Tao Đàn và nếu yêu bài thơ nào người ta
thường ngâm lên theo giọng bồng mạc, sa mạc hay theo điệu ả đào... Riêng về phần
tôi, với tuổi hai mươi, vì thích những bài thơ buồn vẩn vơ của Huy Cận vừa được
in ra trong tập Lửa Thiêng rất phù hợp với sự thất tình vớ vẩn của mình nên tôi
đã tập tọa "hát" những bài thơ đó lên theo lối của tôi. Tức là tôi phổ
nhạc đấy! Tôi chọn 2 bài:
Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung
Có ai đàn lẻ để tơ chùng
Có ai tiễn biệt nơi xa ấy
Xui bước chân đây cũng ngại ngùng...
(Nhớ Hờ)
Bỗng dưng buồn bã không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về...
(Thu Rừng)
Hát 2 bài thơ trên đây, đối với tôi, là sự tập tành phổ nhạc.
Tôi chỉ thành công 20 năm sau với thơ Huy Cận khi tôi phổ nhạc bài Ngậm Ngùi.
Tuy nhiên lúc đó tôi lại thành công khi phổ nhạc bài thơ Cô Hái Mơ của Nguyễn
Bính. Bài thơ phổ nhạc này nói tới sự câm lặng của cô hái mơ hay của cô Sâm
đây? Nhạc học gia Georges Etienne Gauthier ở Canada đã có lòng yêu ghi lại sự
thành công đó bằng một bài viết đăng trên báo Bách Khoa ở Saigon vào năm 1970:
... 1942, Cô Hái Mơ, ấn phẩm đầu tiên của Phạm Duy. Ta thử
xem nhà soạn nhạc trẻ măng của chúng ta đã phổ nhạc bài thơ đẹp đẽ của Nguyễn
Bính như thế nào. Câu nhạc đầu, xuống bậc, với hơi điệu trầm tĩnh và mênh mông,
dẫn chúng ta vào cảnh về chiều mơ mộng của thi sĩ. Rồi thì cái nhìn của nghệ sĩ
ngước lên ánh trời và ta được hưởng một nét nhạc rất "Phạm Duy" lúc bấy
giờ đã mềm mại và uyển chuyển. Nhưng chính phần thứ hai của ca khúc mới biểu lộ
tất cả sức tưởng tượng và nhạc hứng của chàng nghệ sĩ, tất cả sự táo bạo và coi
thường ước lệ của ông. Đoạn nhạc này, với nhạc tính nhanh nhẹn và hơi mạnh mẽ
hiển nhiên là đoạn nhạc của một nhà soạn nhạc có cảm tính trẻ. Nhưng trong trường
hợp Phạm Duy, "trẻ" không có nghĩa là vụng về hay do dự, bởi vì cần
phải ghi nhận lối viết rất vững vàng, lối chuyển câu rất hợp lý, cần nhất là phải
ghi nhận sự khoái vượt khó của chàng trẻ Phạm Duy. Và những khó khăn ở trong đoạn
này thì vô số: nào là tiết điệu khá phức tạp của nét nhạc, nào là những nhịp
ngoại (syncopes) và những thanh trình (intervalles) khó hát, những nốt móc kép
(double croches) hiểm hóc, những chuyển biến đột ngột từ hơi trưởng qua hơi thứ,
tất cả những khó khăn chứng tỏ rằng lúc đó chàng nghệ sĩ của chúng ta đã có lỗ
tai đặc biệt tinh tế và một khiếu nhạc tuyệt vời. Lại còn mấy phách - với lời
cô chửa về ư? và hay cô ở lại - cũng tuyệt diệu nữa, ở đây, Phạm Duy đã chuyển
biến được giọng nói của ngôn ngữ mẹ đẻ thành ra nhạc ngữ dễ yêu và ngộ nghĩnh.
Nhưng rủi thay, những sự kỳ diệu trên đây đã chẳng quyến rũ nổi cô hái mơ nọ,
và bài hát kết luận, trong sự thầm nhắc lại hai đoạn đầu... sự buồn bã đó đã có
tính cách rất "phạm duy" qua lối chuyển bán cung đặc biệt. Đó, chúng
ta phải thừa nhận: việc làm đầu tiên của Phạm Duy đã là việc thành công ngay.
Vâng, trên bàn cờ nghệ thuật khó khăn, nhà soạn nhạc đã chiếu bí và thắng ván đầu.
Bởi vì phải nói đến cái đẹp dị thường của bản hợp phổ này. Không có chi là gượng
ép, tất cả như tuôn ra từ một dòng suối thiên nhiên tinh khiết. Nhạc tính của
ca khúc không có vẻ Việt Nam hay Á Đông một cách quá đáng và cũng không quá
Tây Phương: thực sự, vượt trên vài nét ảnh hưởng nhẹ (nếu quả có ảnh hưởng), ở
đây đã có tiếng nói riêng biệt của Phạm Duy cất cao lên. Cuối cùng, hãy để ý tới
sự chợn lựa bài thơ của Nguyễn Bính, ngay từ nhạc phẩm đầu tay, chàng trẻ Phạm
Duy đã có thể phô diễn được cái "nhị-nguyên tính" sâu xa của mình: vừa
là người suy tư, vừa là người hành động...
Tôi bỏ việc làm tại Tòa Án và vác thân tới ăn ở trong dinh
thự của ông bà Tuần Phủ Lê Đình Trân. Đã vui vì có thêm một người mẹ nuôi rất
yêu thương mình, tôi cũng không buồn rầu vì phải xa mẹ ruột, ngày nào mà tôi chẳng
ghé về phố Bắc Hòa thăm mẹ. Tôi còn vui mừng hơn nữa khi bỗng nhiên có một người
cha. Dù là cha nuôi. Rất may cho tôi, ông Tuần Phủ Trân không phải là hạng quan
lại mà tôi ghét thầm. Ông gầy gò và hiền lành, không nghiêm khắc với dân và
không nịnh Tây, rất vui tính, yêu âm nhạc và thích đánh cờ tướng. Tôi được ông
yêu hơn lũ con ruột vì tôi thoả mãn hai sở thích của ông. Mỗi ngày tôi phải hát
cho ông nghe bài Hà Nhật Quân Tái Lai ít ra là ba, bốn lần. Khi đánh cờ thì ông
thua tôi là chuyện dễ hiểu, nhiều khi tôi phải giả vờ thua để ông khoái chí. Tuy
nhiên, tôi không tìm thấy nơi ông người cha lý tưởng mà suốt đời tôi đi tìm kiếm.
Đáng tiếc!
Trong nhà có đầy con cái - một nửa là con bà Hai, em ruột của
bà Cả, đã qua đời - nhưng bà Trân đối đãi với tôi như con ruột. Tôi chưa hề được
ai "hầu" tôi như bà Tuần Phủ này. Bà lo cho tôi mọi sự như cơm ăn, áo
mặc, tiền tiêu. Bà Trân ham làm lắm. Thấy bà vợ quan thân hình đẫy đà cầm chổi
quét nhà, tôi thường tranh nhau với "bà lớn" trong việc dọn dẹp nhà cửa.
Tôi học được ở mẹ nuôi sự chịu khó, sự cần mẫn để sau này hễ làm bất cứ một
công việc gì, tôi cũng phải làm cho đến nơi đến chốn. Những con ruột của ông bà
Trân được dạy dỗ kỹ lưỡng, đều là những người lịch sự và ngoan ngoãn. Không có
ai tỏ ra mình là con quan, kể cả hai cô con gái có hình dáng rất "lá ngọc
cành vàng".
Một người làm quan, cả họ được nhờ. Đúng như vậy! Những người
giúp việc trong dinh toàn là có họ hàng với ông bà Trân. Khi thấy thân nhân
trong gia đình này thương yêu nhau, nâng đỡ nhau thì tôi chạnh lòng nghĩ tới
tình cảnh anh em nhà mình. Trong số người làm có bác Thủ, anh họ của ông Trân,
40 tuổi rồi mà vẫn chưa có vợ. Mắt toét, mũi to, môi dày và đỏ choét vì ăn trầu,
thân hình béo tốt, hằng ngày bác Thủ chỉ phải lo việc châm điếu thuốc lào, đấm
lưng, bóp chân cho ông em Tuần Phủ. Bác thích đùa nghịch với chúng tôi lắm. Để
khoe sức khoẻ như vâm của mình, mỗi lần đi đái là bác gọi tôi và Giang ra coi:
thận của bác khỏe đến độ bác có thể vén cái thắt lưng xanh lên, vạch cái quần ống
chùng ra, đứng ở trên hè đái vọt ra tận giữa đường cái. Đái xa tới bốn, năm thước
là ít! Phục bác quá!
Tôi ở chung phòng với Lê Hồng Giang, chia sẻ với Giang những
cuộc chơi thể thao, đàn hát. Có thân hình lực lưỡng và giọng hát khỏe, Giang
sau này đi học lớp Huấn Luyện Thanh Niên ở Phan Thiết và sẽ lấy tên là Phạm
Thành khi tấp tểnh muốn làm ca sĩ như tôi sau ngày Cách Mạng thành công. Cách Mạng
Tháng Tám tới vào năm 45 mà gia đình ông bà Trân không bị hề hấn gì trong khi
nhiều người làm quan bị giết chết thì đủ biết bố mẹ nuôi của tôi không bị liệt
vào loại "cường hào, địa chủ gian ác". Ngoài ra, người con trai thứ của
ông bà Trân là sĩ quan Việt Minh Lê Tôn Hy đã hy sinh tại Trương Xá, Hưng Yên
vào thời điểm thực dân Pháp quay lại tái chiếm Việt Nam. Hơn nữa, trong gia
đình ông bà còn có người con rể tên Trần Văn Khang, vị giáo sư to béo dạy Sử Học
và nổi danh vì những hoạt động văn nghệ ở trường Bưởi, là người đã đi theo Việt
Minh từ lâu.
Lúc tôi ở Hưng Yên, trong nước đang có phong trào thể thao do
chính quyền bảo hộ đưa ra để thu hút thanh niên. Đại Tá Ducoroy được Phủ Toàn
Quyền giao cho trách nhiệm tổ chức phong trào này. Một trường đào tạo huấn luyện
viên thể dục gọi là ESEPIC (Ecole Supérieure D'Education Physique De
L'Indochine) được thành lập ở Phan Thiết. Thanh niên Việt Nam tốt nghiệp ở trường
này sẽ ăn lương ngạch gardien de paix tức là lương của một Cò (commissaire)
Tây. Lê Ninh và Lê Hồng Giang rủ nhau đi học trường ESEPIC.
Chính quyền trong tỉnh cũng huy động thanh niên tham gia
phong trào thể thao, thể dục. Thầy giáo Nhượng được giao việc thành lập đội đá
bóng và đội điền kinh. Chiều chiều hai đội kéo tới sân vận động tập luyện. Tôi
được dịp trổ tài chạy nhanh và nhảy cao, cái thú điền kinh mà tôi đã luyện tập
và thành công ở sân vận động SEPTO. Sau đó, hai đội thể dục thể thao được phái
đi khắp nơi để lôi kéo các thanh niên nông dân. Lê Ninh, Lê Hồng Giang tốt nghiệp
ở Phan Thiết trở về điều khiển hai đội "lực sĩ" này. Hai chiếc xe
hàng đưa chúng tôi đi biểu dương "tinh thần thanh niên".
Thế là tôi có dịp được biết phong cảnh và con người ở những
Huyện, Phủ trong tỉnh Hưng Yên mang tên Ân Thi, Phù Ưng, Khoái Châu, Tiên Lữ,
Kim Động, Phù Cừ.... kể sao cho hết. Và tôi được thăm viếng các đền thờ các
danh nhân gốc Hưng Yên. Được đi vào vườn ổi, vườn táo, vườn nhãn ở Văn Miếu, Đền
Mẫu hay những đình làng. Được coi mấy trăm pho tượng trong Chùa Chuông, tượng bụt
đã đành là có nhưng cũng có cả tượng ông quan, tượng người thợ cầy, tượng anh
nông dân bắt ếch, tượng kẻ tù tội đeo xiềng đeo xích...
Và đi thăm Phố Hiến, một cửa khẩu được thành lập từ thế kỷ
16, theo Văn Thạch viết trong báo TRI TÂN vào năm 42, là một nơi phồn hoa đô hội,
có hàng nghìn nóc nhà san sát xen lẫn với các lâu đài nguy nga, dân cư đông
đúc, phố xá sầm uất lại thêm có tầu to thuyền lớn ra vào luôn luôn, hàng hóa đổ
lên bến tấp nập. Phố Hiến ngày xưa phồn thịnh đến độ có câu xưng tụng: Thứ nhất
kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến. Tên phố Bắc Hòa, nơi gia đình tôi ở, đã có từ thế kỷ
16. Nhưng nay Phố Hiến chỉ còn là một bãi cát bồi có lác đác mấy tòa miếu cổ và
vài ngôi mộ có tấm bia ghi tên người Hòa Lan, Pháp và Tầu. Bây giờ tôi được biết
vì sao trong số rau đậu mà tôi ăn hàng ngày có thứ gọi là "đậu Hòa Lan". Người Hòa Lan đem hột đậu sang trồng ở đây từ hồi mới có Phố Hiến.
Trong phong trào thể thao, thể dục, người Pháp còn tổ chức cuộc
đua xe đạp vòng quanh Đông Dương (Tour D'Indochine) giống như đua xe đạp vòng
quanh nước Pháp (Tour De France) ở chính quốc. Cuộc đua xe đạp thu hút dân
chúng ghê lắm. Suốt dọc con đường cái quan, cuộc đua tiến hành với hàng trăm
cua-rơ Nam, Bắc tham dự, tới đâu cũng được dân chúng kéo nhau ra coi. Báo chí rầm
rộ theo dõi cuộc đua. Trong làng báo đã có những ký giả thể thao đầu tiên là Trọng
Thìn, Thiệu Võ. Các cua-rơ đã được ban cho những cái tên rất kêu. Cua-rơ miền
Nam lao xe như bay xuống đèo là "Phượng Hoàng Lê Thành Các". Cua-rơ
miền Bắc, Vũ Văn Thân là "anh hùng leo dốc".
Tôi không thích cuộc đua xe đạp nhưng thích môn đánh boxe lắm.
Mua cả đôi găng để đo tài với bạn bè. Luôn luôn theo dõi hoạt động của nền võ
thuật được gọi là quyền Anh này. Võ sĩ đầu tiên của Việt Nam là Tộ, người miền
Nam, được gọi là "vua đấm". Cùng thời với Tộ là Đặng Trần Thường, người
miền Bắc, chịu đòn rất giỏi. Một võ sĩ tên Vũ Văn Ân thì quảng cáo là có gồng
Trà Kha. Trong trận đánh ở Quy Nhơn với một võ sĩ xuất thân là phu gạo tên Đặng
Hồ Khuê, biết rằng không hạ được địch thủ, võ sĩ Gồng Trà Kha xin hòa với võ sĩ
Khuê để giữ danh dự. Ở Hưng Yên vào lúc đó chúng tôi mê đánh boxe nhưng chỉ
theo dõi các cuộc đấu qua báo chí. Có được coi đánh boxe bao giờ đâu? Làm gì có
cái thú như bây giờ, được lười biếng nằm coi chương trình TV với Mike Tyson đấu
với Larry Holmes, trong đó bất cứ một cú đấm quan trọng nào cũng được cho chiếu
chậm lại (instant replay, slow motion) để mình coi cho sướng mắt!
Một niềm vui sướng rất lớn lao cũng đến với tôi trong những
ngày ở Hưng Yên này. Từ Trạm Chôi ở Sơn Tây, vì không còn cách nào để sống được
nữa, vú tôi về Hưng Yên với gia đình tôi. Đã có vú già suốt đời ở với chúng tôi
rồi, vú Cẩn chỉ phụ việc vú già một thời gian ngắn rồi ban ngày vú đi làm thợ dệt
cho một xưởng vải nhỏ, tối đến vú về ngủ ở nhà tôi. Tôi lại được sống bên người
vú sữa mà tôi rất thương yêu. Dù đã hai mươi tuổi rồi, tôi vẫn ôm vú mỗi khi từ
dinh Tuần Phủ trở về thăm mẹ. Trời đất ơi!!! Tôi có tới ba người mẹ trong một
lúc à??? Mẹ đẻ thì hiền lành, chừng mực, vú nuôi thì nhẹ nhàng, kín đáo, mẹ
nuôi thì sôi nổi, rộn ràng... cả ba người này chắc chắn đã ảnh hưởng vào tôi.
Bây giờ thì tôi hiểu vì sao, trong số những kỷ niệm ở khắp mọi nơi tại những
chân trời góc biển xa gần, tôi thương nhớ những ngày ở Hưng Yên nhất!
Rồi một ngày kia, Tuần Phủ Lê Đình Trân được thăng quan tiến
chức, trở thành ông Tổng Đốc và được bổ đi làm việc tại Kiến An. Tôi chào tạm
biệt mẹ đẻ và vú nuôi rồi leo lên xe ô tô đi về sống tại nơi đồng chua nước mặn
với ông bà Trân. Về sau, thỉnh thoảng tôi cảm thấy hơi buồn vì đã bỏ hai người
mẹ nghèo để đi sống với người mẹ giầu sang hơn. Nhưng tôi không hối hận vì lẽ
giản dị là tôi học được ở bà mẹ nuôi khá nhiều điều bổ ích.
Kiến An cũng nhỏ bé như Hưng Yên nhưng đời sống ở đây buồn
như chấu cắn. Ngoài niềm vui êm ả trong gia đình ông Tổng Đốc tại một tỉnh lỵ
an tĩnh một cách lạ thường, tôi chỉ có thêm một cái thú là cùng với Lê Hồng
Giang, Lê Duy Kỳ leo lên xe đạp đi tắm biển Đồ Sơn. Có khi còn đi xa hơn nữa,
vào tận bãi biển Sầm Sơn trong Thanh Hóa.
Mười sáu
Gió lạnh cái đêm đông trường
Nửa chăn, nửa chiếu, nửa giường để đó chờ ai?
Hát Quan Họ
Kiến An buồn tẻ đến độ tôi không muốn biết mặt mũi tỉnh lỵ,
suốt ngày chỉ ru rú trong Dinh Tổng Đốc. Ngoài công việc rất dễ là kèm học cho
hai em nhỏ, đánh cờ và hát cho ông Trân nghe, tôi không có việc gì để làm thêm
nữa. Lê Hồng Giang và Lê Duy Kỳ đã lên Hà Nội học, thỉnh thoảng mới trở về thăm
cha mẹ rồi chúng tôi kéo nhau đi tắm biển Đồ Sơn. Tôi không quen biết một ai ở
Kiến An, không tham gia một môn thể thao thể dục nào, không đi coi ciné hay coi
hát, không đọc sách hay đọc báo như xưa nữa. Đời sống không bận rộn như khi ở
Hưng Yên nhưng tôi chẳng thấy âu sầu buồn bã gì cả. Được sống lười biếng, vô tư
lự, không đam mê một thứ gì cũng khoái lắm chứ! Sống êm êm như một cánh bèo nằm
trên mặt ao lặng lẽ.
Một hôm bà Trân hỏi:
- Con có muốn giúp me một việc này không?
-?
- Thày me có một cái đồn điền ở Nhã Nam Yên Thế. Đã giao cho
cậu Hai Ninh trông coi ít lâu nay. Nay me muốn nhờ con lên đó giúp cậu một tay.
- Con có biết gì về nghề nông đâu mà giúp được cậu?
- Con cứ lên trên đó xem cậu Hai muốn con giúp cậu những
gì...
Thế là tôi không còn được sống lười biếng ở nơi "con kiến
an nhàn" là Kiến An nữa rồi! Trước khi đi Nhã Nam, tôi tạt về Hưng Yên
thăm mẹ và vú. Rồi tôi lên Hà Nội, ra thẳng nhà ga, lấy vé xe lửa đi Phủ Lạng
Thương...
... Bắc Giang là một tỉnh nửa trung du, nửa thượng du, nối liền
vùng đồng bằng với vùng rừng núi. Đi khỏi Bắc Ninh, Đáp Cầu là đã thấy những
dãy đồi nhấp nhô nằm dài bên những cánh đồng rộng rãi. Ruộng vườn vùng này mầu
mỡ phì nhiêu vì nằm ở một lưu vực giữa hai con sông lớn: Sông Cầu và Sông
Thương. Đất cát được tưới táp kỹ càng qua một hệ thống sông đào chằng chịt. Dân
cư đông đúc. Chợ búa đông đảo. Ngồi trên xe lửa đang lắc lư chạy qua một vùng
đã có thời được gọi là Kinh Bắc, tôi rất vui.
Tới Phủ Lạng Thương, tôi xuống đò dọc để trôi ngược Sông
Thương lên Bố Hạ. Rồi từ nơi nổi tiếng về cam ngon này, tôi sẽ leo lên xe ngựa
về Ấp Bình Chương thuộc Lan Giới trong khu Nhã Nam, Yên Thế...
Sông Ngâu, sông Cả, sông Đào
Ba con sông ấy đổ vào sông Thương...
Ai đã sáng tác ra câu ca dao vớ vẩn này? Thực ra, chẳng có
con sông nào đổ vào sông Thương cả! Sông phát nguyên từ con suối nhỏ ở Bản Thi
thuộc Lạng Sơn, chạy theo dãy núi Cai Kinh rồi trước khi đổ vào Bắc Giang, nước
chảy lúc mạnh lúc nhẹ giữa hai bờ đá, con sông không dùng trong việc giao thông
được. Chỉ khi tới Bố Hạ thì sông Thương mới rộng ra, thuyền bè mới đi lại được.
Hai bên bờ sông có đắp đê và con đê dài là con đường bộ của những xe bò, xe ngựa,
xe đạp... liên lạc từ làng này qua làng nọ.
Sông Thương có một lưu lượng bất thường. Vào mùa cạn mặt sông
không rộng quá ba thước nhưng vào mùa nước mặt sông rộng tới mười thước, nước
sông chảy rất mạnh cuốn theo những mảng đất lở hai bên bờ nên đã đổi mầu và
chúng ta có câu sông Thương nước chảy đôi dòng, một dòng trong xanh và một dòng
đen đục.
Cái tên "Sông Thương" thật là hấp dẫn. Là "yêu
thương" hay là "thảm thương"? Đã có những câu ca dao rất tình về
con sông này:
Sông Thương nước chảy đôi dòng
Trai quên vợ, gái quên chồng, thì lên!...
Sông Thương nước chảy đôi dòng
Đèn soi hai ngọn anh trông ngọn nào?
Nhờ một đập nước khá lớn xây ở Cầu Sơn và một hệ thống sông
đào trong toàn vùng dài trên 60 cây số, dân chúng có nước để tát ruộng vào mùa
cạn, do đó đồng lúa ở đây có được cả hai vụ chiêm và vụ mùa.
Thuyền trôi êm ái trên dòng sông Thương. Tôi nghĩ tới Đặng Thế
Phong và bài Con Thuyền Không Bến bất hủ. Phải chèo ngược nước, thuyền không
trôi giữa dòng mà trôi ven bờ, những chùm lá chồi ra phía sông thỉnh thoảng đập
vào mặt khách đò giang đang ngồi trên mui thuyền là tôi.
Sông sâu, nước dọc, đò ngang.
Mình về bên ấy ta sang bên này.
Thuyền tới Bố Hạ. Lên bờ để nghỉ ngơi trước khi leo lên xe ngựa
về Lan Giới, tôi lững thững đi chơi chung quanh thị trấn nhỏ. Xa gần, trong
vùng đồi xanh ngát đã thấy rực rỡ mầu vàng ối của những vườn cam. Bước tới vườn,
những quả cam mọng nằm vừa tầm tay với. Giơ tay hái. Ăn ngấu nghiến. Ăn cam cả
múi lẫn vỏ. Đã từng được thưởng thức chả cá Quán Lã Vọng, bánh tôm Cổ Ngư, tỉm
sắm Đông Hưng, nhãn Hưng Yên... bây giờ tôi được ăn cam Bố Hạ! Nay mai sẽ còn
được ăn bánh bèo Huế, nếm nước mắm Phan Thiết, sực cá nướng Cần Thơ. Thật là
may mắn được làm kẻ giang hồ. Đâu cũng là nhà của mình. Đâu cũng là quê của
mình. Ăn cái gì cũng ăn tận gốc. Và ăn tận tình, nhất là với kẻ tham ăn tục uống
là tôi. Yêu quê hương, trước hết là yêu những món quà quê hương.
Từ Bố Hạ về ấp Bình Chương ở Lan Giới còn khoảng 10 cây
số đường xe ngựa. Ra khỏi vùng cam ngọt, xe lăn bánh đều đều trên đường đê yên
tĩnh. Lũ trẻ quê đang tắm dưới sông đào ngẩng nhìn anh thanh niên lạ mặt. Những
cô gái cắt cỏ bên đường, má đỏ hồng hồng. Những nông dân đang đánh rơm trên
cánh đồng nâu trơ gốc dạ. Mùi đất sao mà thơm đến thế! Trong số đông người Kinh
vận áo mầu nâu ở đây cũng đã có lác đác những người Tày với y phục mầu xanh lam
của núi rừng. Vẫn là hình ảnh chung chung của quê hương quen thuộc nhưng bức
tranh đã có thêm mầu sắc. Đồng quê Bắc Giang hùng vĩ hơn đồng quê Sơn Tây. Sự
hùng vĩ còn tăng lên khi tôi chợt thấy mình đang đi trong một vùng nổi tiếng:
vùng Yên Thế của anh hùng Hoàng Hoa Thám. Sau này có một bài Tân Nhạc của Việt
Lang nhan đề Chiều Yên Thế:
Đây chiều Yên Thế
Bóng sương mờ rơi
Tiếng ca trên đồi
Gieo buồn khắp nơi...
Đi trong chiều Yên Thế, tôi chẳng thấy buồn gì cả, tôi chỉ thấy
hãnh diện mà thôi. Rồi đắc chí vì thấy mình được đi trong một vùng lịch sử oai
hùng.
Kia rồi "Ấp Bình Chương! "Ấp nằm giữa một ngọn đồi thấp,
có ngôi nhà ngói thấp thoáng sau lũy tre già, cách đường đê sông đào chừng nửa
cây số. Tôi xuống xe ngựa, xách hành lý xuống con đường ruộng dẫn tôi vào ấp. Vợ
chồng cậu Hai Ninh đón tôi ở cổng ấp. Vài tá điền khăn áo chỉnh tề nhưng quần vẫn
ống thấp ống cao đứng trên sân chào mừng "cậu" con nuôi bà Tổng Đốc,
phụ tá viên của ông chủ ấp.
Mới tới ấp được một ngày, tôi đã thích ngay khung cảnh
sơn trại nên thơ này. Có cái hiền hòa của đồng bằng trời mây xanh ngát vào lúc
ban ngày nhưng cũng có cái bí hiểm của rừng đồi trời tím mây hồng khi chiều từ
từ buông xuống.
Sau vài ngày nghỉ ngơi, với một háo hức dễ hiểu, tôi ngồi
nghe cậu Hai Ninh giao phó công việc. Cậu Hai đúng là một ông chủ ấp bất đắc
dĩ. Chắc cậu cũng thuộc vào hạng người ăn chơi dữ dội như ông bạn đàn anh Đỗ Tử
Côn của tôi ở Moncay. Cậu còn hơn ông Côn ở chỗ đang nghiện thuốc phiện nặng. Cậu
đã lâm vào cảnh thất nghiệp từ lâu, nếu không có bà chị Tổng Đốc giúp đỡ thì
không biết cậu lấy tiền đâu để vừa ăn vừa hút đây? Được giao phó trông coi cái
đồn điền này nhưng cậu không phải làm việc gì hết, cả ngày cậu chỉ nằm hút và
coi tiểu thuyết. Cũng chẳng cần cậu phải ra tay đốc thúc những người thuê ruộng.
Có tay tá điền nào dám cả gan chậm nộp thóc cho ông chủ ấp có họ hàng ruột thịt
với một bà quan đâu. Tuy nhiên về sau này, tôi không thấy dân trong ấp tố khổ
gia đình họ Lê trong thời kỳ cải cách ruộng đất.
Công tác đầu tiên mà cậu giao phó cho tôi là một việc đáng lẽ
cậu phải làm từ lâu: đi đo lại và vẽ lại bản đồ của những thửa ruộng nằm trong
200 mẫu tây đồn điền. Để giúp tôi đi vòng vòng mỗi ngày vài ba chục cây số làm
công tác đo đạc, tôi có một con ngựa chỉ to hơn con chó một chút thôi. Ngồi
trên lưng ngựa mà thương cho nó quá. May cho con ngựa gầy này, lúc đó tuy thân
hình tôi đã đầy bắp thịt sau những ngày làm công nhân nhưng hãy còn nhẹ ký lắm.
Đi kiểm tra ruộng đất như vậy, tôi phải biết địa dư của đồn
điền qua một bản đồ vàng khè rách nát. Rồi nhận diện từng thửa ruộng của họ Lê
nằm chen chúc giữa những thửa ruộng của chủ điền khác. Rồi xuống ngựa, cắm cọc
chăng dây đo đi đo lại các bề ngang, bề dọc, bề chéo của từng mảnh ruộng. Tính
ra diện tích của mỗi mảnh đất là bao nhiêu? Ai là tá điền? Ruộng vùng nào tốt?
Vùng nào xấu? Công việc tuy khó nhọc nhưng tôi rất vui vì được cưỡi ngựa đi khắp
vùng Nhã Nam, Yên Thế, đi đâu cũng được tá điền niềm nở đón tiếp.
Xong việc kiểm tra ruộng đất, tôi nhúng tay vào việc cầy cấy
một thửa ruộng riêng mà bà Trân đã phát cho người em, tuy đã có mấy nông dân
giúp cậu mợ làm đất, trồng lúa, trồng khoai nhưng tôi cũng xung phong giúp vào
công việc đó, vì vui thích mà làm chứ không phải vì bị bắt buộc phải làm.
Những ngày làm ruộng ở Nhã Nam là những ngày thật đẹp. Tôi đã
thực sự làm việc ruộng đồng, biết yêu con trâu cái cầy, yêu đám mạ cây lúa, yêu
hạt thóc củ khoai do chính mình làm ra. Thú nhất là vào ngày mùa, được đi gặt
lúa chung với đám thợ gặt từ Bắc Ninh đi lên. Gặt lúa xong, gánh lúa về ấp. Tôi
đã làm đúng như trong câu ca và nhịp điệu của bài dân ca kháng chiến tôi soạn
ra sau này:
Gánh gánh gánh! Gánh thóc về!
Gánh gánh gánh! Gánh thóc về!
Gánh về! Gánh về! Gánh về! Gánh về!
Gánh thóc về, rồi ăn cơm. Nghỉ ngơi xong là có vụ đập lúa. Dưới
ánh trăng, đứng giữa sân, dùng hai thanh tre có dây trão, quặp lấy cổ của bó
lúa rồi giơ lên cao, đập bó lúa xuống miếng đá ở dưới chân cho thóc tung toé ra
sân. Rồi đem thóc ra cối giã gạo ở bên vách nhà. Cối lớn bằng đá được chôn dưới
đất. Có cái cần lớn bằng gỗ nằm dài trên mặt đất. Một đầu cần có cái mỏ bịt sắt
kèm một viên đá nặng, ở giữa cần có cái chốt để tôi dùng chân nhấn xuống cho
cái mỏ sắt vươn lên và rơi thình thịch xuống cối đá. Đứng giã gạo phải giơ tay
níu cái dây treo trên cao và nếu giã gạo chung với một thôn nữ thì được ngửi
mùi nách của cô. Rất thơm! Và thể nào cũng có chuyện tình tự trong đêm khuya!
Trong thời gian ở đây, tôi có hai cuộc tình. Cựu Chánh Tổng
có hai người con gái chưa chồng: Hạ (có thêm nữa là Nụ) và Lan. Cô Lan to lớn
hơn chị nhưng Hạ cũng không phải là thứ tiểu thư thị thành yểu điệu cành xuân
khiến ta phải ngây ngất vì bộ mặt tô son điểm phấn hay vì thân hình liễu yếu
đào tơ. Nụ đẹp một cách man dã và khỏe như một con beo. Trong đêm, chúng tôi
thích vật nhau trên đống rơm và bao giờ tôi cũng thua trận ngay trong hiệp đầu.
Chúng tôi vật nhau thực sự như hai võ sĩ vậy. Bởi vì, khác với cô gái thị
thành, thôn nữ không ưa tán phét và chỉ thích tỏ tình bằng sức khỏe, nhiều khi
đấm vào lưng tình lang thùm thụp làm mình nghẹt thở luôn! Tôi đã có ý định lấy
Nụ (tôi thích tên Nụ hơn tên Hạ) làm vợ nhưng cuộc đời đẩy đưa tôi ra khỏi vùng
Nhã Nam quá nhanh khiến tôi hụt lấy vợ nông dân.
Một cô gái quê khác tên Khuê, đã đi lấy chồng ở làng bên
nhưng hằng ngày nàng hay trở về ấp này để cắt cỏ. Để rồi chúng tôi yêu nhau.
Khuê có đôi mắt rất to, lúc nào cũng như ngạc nhiên nhìn đời. Đôi môi không tô
son mà rất hồng. Mặt cứ đỏ và tai cứ tía lên mỗi khi gặp tôi. Chiều nào cũng đợi
tôi bên kia sông đào. Chúng tôi yêu nhau giữa thiên nhiên như trời đất yêu nhau
vậy. Có một buổi chiều, trời vừa tạnh mưa, sau khi tình tự rồi chia tay ra về,
nàng luống cuống đi trên đường ruộng vừa nhỏ vừa trơn nên ngã ngửa trên đám mạ.
Tôi vẫn còn nhớ nụ cười ướt át của hai đứa lúc đó, có vị đăng đắng của thương
xót vô cùng. Và nhớ mãi bóng dáng nâu non của người gánh cỏ đi về phía chân trời
tím thẫm. Đi quanh co mãi mãi như không muốn biến ngay vào bóng tối.
Ngày ở ấp Lan Giới, tôi được anh nông dân tên là Xuân dạy
tôi hát quan họ. Nhưng dưới thời Pháp thuộc và vào năm 1943 này, tục lệ đáng
yêu là sự tỏ tình qua tiếng hát trong lúc đang làm việc đồng áng đã không còn nữa.
Làm gì có chuyện đi trên bờ đê sông đào, được dừng chân nghe tiếng hát lanh lảnh
của cô cắt cỏ: Ai đi đường đó, hỡi ai, hay là trúc đã nhớ mai đi tìm? Để có thể
hát câu trả lời rất hợp tình, hợp cảnh: Hỡi cô đang cắt cỏ xanh, có về Lan Giới
với anh thì về... Ngay cả cuộc thi hát trong những ngày hội làng cũng ít khi được
tổ chức. Nói chung, nhạc cổ truyền từ dân ca, hát hội cho tới nhạc trên sân khấu
Tuồng, Chèo đã tàn lụi. Chỉ có Hát Cải Lương - nhất là Hát Vọng Cổ - là khởi
sắc.
Anh trai làng dáng người thấp bé và có đôi môi đỏ như môi con
gái đã dạy tôi hát quan họ và làm cho tôi thú vị vô cùng. Tôi thấy được tất cả
sự lạc quan, tính trữ tình của người nông dân Việt Nam trong quá khứ qua những
làn điệu vô cùng phong phú. Tại Nhã Nam vào năm 1943 này, không được hát tỏ
tình thực sự với một cô thôn nữ nào hay đi dự thi hát ở một hội làng như hội
Lim chẳng hạn... thì tôi đành hát chơi trong ấp Bình Chương vậy. Sau này chính
tôi là người đầu tiên hát bài quan họ sau đây ở Hà Nội vào những năm 45, 46 và
trên các Đài Phát Thanh ở Saigon vào những năm 52, 53:
Gió rằng gió lạnh chứ gió lạnh cái đêm đông trường
Nửa chăn là chăn nửa chiếu ý a
Chứ mấy có nửa giường nửa giường để đó chờ ai?...
Tất cả những bài dân ca hay trường ca tôi soạn ra sau này đều
đã được khởi sự nuôi dưỡng từ những ngày tôi sống tại Ấp Bình Chương thuộc
Nhã Nam, Yên Thế, Bắc Giang.
Trong lần thứ hai được về sống ở vùng quê, tôi đã khá trưởng
thành để thấy được tình cảnh dân quê dưới thời cai trị của thực dân. Đúng là
nơi bùn lầy nước đọng tại đó người dân là nạn nhân của quan trường. Đối với dân
quê, quan huyện là một ông vua nhỏ, thường thường là kẻ lạm quyền. Dân quê còn
là nạn nhân của phường trộm cướp vì vấn đề trị an quá dở. Tôi không thấy được cảnh
bọn cướp "bật hồng" (đốt đuốc) bắt người khảo của nhưng được nghe những
hồi trống ngũ liên ghê rợn trong đêm khuya. Người dân là nạn nhân của rượu và
thuốc phiện là đồ ma túy mà Nhà Nước Bảo Hộ bán công khai qua các đại lý gọi là
Régie Alcool (RA) và Régie Opium (RO). Nhưng nếu ai nấu rượu lậu thì người đó sẽ
bị bắt bỏ tù ngay. Muốn hại người nào, cứ việc nhét bã rượu tại nhà người đó rồi
đi báo nhà chức trách. Tôi cũng được thấy cảnh người quê bán vợ, đợ con để
tranh nhau một chức lý trưởng. Hoặc vì quá nghèo nên phải bán con đi. Vùng quê
đúng là nơi mà sự đói khổ triền miên đi đôi với sự dốt nát sâu đậm. Tất cả những
sự kiện này đã in sâu vào tâm trí tôi để tôi sẽ có những hành động tích cực đối
với dân quê trong đời sống cũng như trong nghệ thuật.
Tuy nhiên, vào mùa Thu của năm 1943 này, đời sống của tôi ở ấp Bình Chương cứ lặng lẽ trôi như dòng nước sông đào khi trong khi đục
kia. Tôi đang tận hưởng những cái đẹp của sơn thôn. Cái đẹp bao la và bí ẩn của
thiên nhiên. Cái đẹp thầm kín trong giao tình giữa tá điền và con nuôi chủ điền.
Cái đẹp ảo huyền giữa sức người và hạt lúa. Nhất là cái đẹp lồ lộ của hai người
tình. Đã ý thức được thống khổ của dân quê cũng như hoàn cảnh của riêng mình
nhưng mặc cảm người dân mất nước được vơi đi bởi khí thiêng Yên Thế và hương hồn
anh hùng Hoàng Hoa Thám.
Cho tới một ngày nọ, tôi bị cám dỗ bởi một cuộc viễn du tôi hằng
mơ ước. Mẹ tôi nhắn tin cho tôi biết:
- Suy nghĩ đi! Nếu con muốn đi Saigon thì về Hà Nội ngay để
gặp ông Đức ở Phố Hàng Trống.
Đi Saigon! ĐI SÀIGÒN!!! Mộng ước của bất cứ một thanh niên 20
tuổi nào ở miền Bắc lúc đó. Cần gì phải suy nghĩ nữa??? Thôi nhé, xin đành giã
từ Nhã Nam, Yên Thế. Giã từ sơn thôn, giã từ sông máng, giã từ cậu mợ, giã từ
anh Xuân và tiếng hát quan họ. Giã từ con trâu, cái cầy, cái liềm, cái cối. Giã
từ em Nụ, em Khuê đa tình. Anh về Hà Nội không quên hai cô mình... (1)
Chú thích:
(1) một câu hát trong Trường Ca Con Đường Cái Quan.
Mười bảy
"Xướng ca vô loài"
Người xưa
Hà Nội có lính Nhật đóng quân nhiều nơi. Sau khi Nhật đánh
bom Pearl Harbor, chiếm đóng Phi Luật Tân và những hòn đảo ở vùng Thái Bình
Dương, Hoa Kỳ đã tham chiến. Phản công chiếm lại dần dần những hòn đảo đó, Hoa
Kỳ đang chuẩn bị giải phóng Phi Luật Tân. Máy bay Mỹ tới thả bom ở những nơi có
Nhật đóng quân. Đông Dương đã nếm mùi bom Mỹ.
Về Hà Nội, tôi tới ở chung với Nguyễn Hiến ở khu Phố Huế. Mẹ
tôi từ Hưng Yên lên gặp tôi để hai mẹ con cùng tới nhà ông Đức. Cũng như một số
các bà mẹ ở Hà Nội vào thời đó, mẹ tôi có nhiều người tự nhận là con nuôi.
Trong số con nuôi có một người luôn luôn bỏm bẻm nhai trầu là ông Đức, chủ nhân
giầu tiền của một tiệm bán áo lông (fourrures) Phố Hàng Trống. Vợ ông Đức có
người em gái lấy kép hát kiêm soạn giả tuồng Cải Lương khá nổi tiếng là Charlot
Miều, tên thật là Ngô Nhật Huy. Ngành Sân Khấu Cải Lương đang thành công rực rỡ
và đang đẩy Tuồng Cổ, Chèo Cổ hay Chèo Văn Minh vào bóng tối. Đầu tư vào gánh
hát cải lương là chuyện nên làm. Ông Đức có tiền và ông Huy có tài. Hai anh em
cột chèo này được hai người vợ thúc đẩy nên cộng tác với nhau để thành lập một
gánh hát lấy tên ĐỨC HUY. Gánh hát có tham vọng đi lưu diễn cả ba miền đất nước,
đi từ Bắc qua Trung vào Nam. Rồi gánh này sẽ còn đi hát ở nhiều tỉnh bên nước
Cao Miên nữa. Vì ông Đức không thể bỏ cửa hàng đi theo gánh hát được nên ông
xin với mẹ tôi cho tôi đi thay mặt. Thế là chó ngáp phải ruồi, giấc mộng xướng
ca giang hồ của mình đã tới lúc được thực hiện. Bao nhiêu lâu nay, mình coi thường
sự khinh bỉ của xã hội Việt Nam đối với kẻ xướng ca vô loài, chỉ mơ ước được đi
đây đi đó, nhất là nếu được đi theo một gánh xiếc để loè khán giả với những trò
quỷ thuật mà mình học được khi xưa thì tuyệt. Bây giờ thấy mẹ gọi về để cho gia
nhập một đoàn hát cải lương thì khoái quá! Không bao giờ tôi có thể ngờ rằng đi
với gánh ĐỨC HUY này, tôi lại được đẩy lên sân khấu để cầm đàn ca hát trước
ánh sáng tiền trường. Thành anh ca sĩ trong màn "tân nhạc phụ diễn"
(tiếng Pháp gọi là attractions) để làm tăng giá trị cho những vở tuồng xã hội của
Charlot Miều trên một sân khấu hài kịch tư nhân nhỏ bé là gánh ĐỨC HUY. Rồi dần
dà trở thành người của quần chúng trên một sân khấu rất vĩ đại là nước Việt Nam
đầy bi hài kịch. Trong suốt 50 năm! Cho tới khi chết, chưa chắc tôi đã ra khỏi
cái sân khấu đã có thời là cuộc chiến tranh làm rúng động hoàn cầu, lại còn là nơi
hận thù khôn nguôi giữa đồng bào một nước để trong suốt đời mình, tôi luôn luôn
bị rát mặt bởi những ngọn đèn còn nóng hơn cả mặt trời.
Ngày đầu tiên gặp hai ông Đức và Huy ở Phố Hàng Trống thì biết
ngay là trong một gánh hát đã có bảng hiệu và có đầy đủ đào kép nổi danh rồi,
mình sẽ không phải đàn hát, làm trò quỷ thuật hay trò xiếc gì cả!
- Cậu sẽ là thư ký và tiền đạo.
- Nghĩa là?
- Thư ký là làm các công việc ngoại sân khấu như ngồi bán
vé, xé vé vô cửa, xếp chỗ ngồi, viết chương trình quảng cáo, tính sổ chi thu,
trả lương nghệ sĩ và công nhân. Tiền đạo là mỗi khi gánh hát sắp tới nơi nào
thì cậu phải đi trước, thuê rạp, phải tìm cách hối lộ các nhân viên thuế vụ ở
các tỉnh nhỏ để chỉ phải đóng thuế impôt indirect (gián thâu) rất ít.
Tuy hơi thất vọng vì không được trổ tài ca diễn mà phải làm một
thứ tư chức trong gánh hát, nhưng khi biết mình sẽ là đại diện của một ông chủ,
không dưới quyền ai cả thì tôi rất thú vị. Tôi lập tức hẹn với anh Ngô Nhật
Huy-Charlot Miều ngày giờ phải xuống rạp TRẦN MỸ NGỌC ở đường Tám Gian Hải
Phòng là nơi các nhân viên gánh hát sẽ tập trung để sắm đồ tuồng như phông cảnh,
y trang, đồ điện... và để tập tuồng trong một tháng trước khi lên đường Nam Tiến.
Rồi tôi trở về trú ngụ tại nhà Nguyễn Hiến vài hôm.
Từ lâu, tôi đã có may mắn được làm quen với Tuồng, Chèo nhờ ở
mẹ tôi là Mạnh Thường Quân của những gánh hát nghèo và rất ế khách thường lui tới
tỉnh lỵ Hưng Yên vào thời suy vi của hai môn ca kịch nghệ cổ truyền này.
Tôi thấy được mục đích của Hát Tuồng là sự ca ngợi những con
người trung quân ái quốc với những đề tài vua băng nịnh tiếm và phù vua phục
nghiệp. Đề cao Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa. Những nhân vật trong Tuồng thường bị đẩy
vào những cảnh ngộ đầy thử thách rồi phải tự định đoạt số phận mình. Người theo
chính nghĩa bao giờ cũng thắng kẻ tà gian. Một nhân vật trong Tuồng là Đổng Mẫu,
mẹ của Đổng Kim Lân, không muốn vì mình mà con bỏ việc nước nên đã tự vẫn để
người con anh hùng được rảnh tay qua đèo đi cứu chúa.
Tôi cũng thấy được sự tôn trọng nữ quyền trong Hát Chèo. Nhân
vật chính trong Chèo là phụ nữ, hoặc từ bi hỷ xả như Thị Kính, tiết tháo như
Châu Long, tiết trinh và hiếu thảo như Thị Phượng. Chỉ tiếc rằng vào thời đó,
người ta ưa chuộng cái mới và đã có khá nhiều người hướng về nền Kịch Nghệ Âu
Tây, bỏ quên luôn sân khấu cổ truyền đầy những đức tính này.
Khi tôi đang đi học hay khi tôi thất nghiệp và về sống ở tỉnh
nhỏ thì cùng với bạn bè, chúng tôi hay tổ chức diễn kịch theo đường lối của Thoại
Kịch Tây Phương. Chúng tôi cũng biết qua loa về hoạt động của những người yêu kịch
ở Việt Nam. Từ đầu thế kỷ này, đã có người dịch những bi kịch của Pháp ra tiếng
Việt. Phạm Quỳnh dịch Le Cid của Corneille, Nguyễn Văn Vĩnh dịch L'Avare của
Molière thành Người Biển Lận. Ông Vĩnh còn đóng vai chính trong vở Người Bệnh
Tưởng (Le Malade Imaginaire) khi vở này được trình diễn tại hội Khai Trí Tiến Đức,
Hà Nội vào năm 1920. Nhưng công việc của hai vị học giả đó mới chỉ là sự phóng
tác từ những vở bi kịch Pháp. Bố tôi, Phạm Duy Tốn - theo tác giả Phạm Thế Ngũ
trong cuốn VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ, B III - mới là người viết những mẩu kịch
đầu tiên bằng chữ quốc ngữ qua một truyện đối thoại giữa hai ba nhân vật, chia
ra làm 2, 3 hồi, trong khuôn khổ một hai cột báo và có tính cách luân lý, trào
phúng như bài Thề Cá Trê Chui Ảng đăng trong báo Đông Dương Tạp Chí số 71. Rồi
tới những vở kịch thật sự của nhà giáo Vũ Đình Long như vở Chén Thuốc Độc đăng
trên báo HỮU THANH năm 1921 và vở Tòa Án Lương Tâm sau đó (1923). Phong trào Kịch
Nói lên cao trong thập niên 30 với những vở kịch của Vi Huyền Đắc (các vở Kim
Tiền, Hai Tối Tân Hôn, Cô Đốc Minh, Ông Ký Cóp...), Đoàn Phú Tứ (các vở Những Bức
Thư Tình, Kiều Liên, Mơ Hoa, Sau Đêm Khiêu Vũ, Ghen), Vũ Trọng Phụng (vở Không
Một Tiếng Vang).
Khá nhiều các đoàn kịch được thành lập như Nhóm TINH HOA của
Đoàn Phú Tứ, NGHỆ SĨ ĐOÀN của Vũ Trọng Can, Chu Ngọc, Ban Kịch THẾ LỮ của Thế
Lữ, tiền thân của Đoàn ANH VŨ khi nhà thơ này cộng tác với Võ Đức Diên, Đoàn
NGHỆ THUẬT của Lê Văn, Anh Tâm, Thuyết Thuận.
Tuy nhiên trong dân chúng, nếu Tuồng Chèo không còn khả năng
hấp dẫn nữa thì, qua những tổ chức không chuyên nghiệp (non professionel) cho lắm,
Kịch Nói chỉ được chấp nhận trong giới trí thức, sinh viên học sinh và chỉ được
coi như những hoạt động kịch nghệ tài tử (amateur) mà thôi. Đại đa số nhân dân
lúc đó rất ưa coi Hát Cải Lương xuất xứ tự Nam Kỳ. Như đã nói ở Chương Tám, mỗi
lần các gánh hát Trần Đắt, PHƯỚC CƯƠNG với những đào kép thượng thặng như
Phùng Há, Năm Phỉ, Kim Thoa, Năm Châu,Tư Chơi, Bẩy Nhiêu ra diễn ở Hà Nội thì
đó là một biến cố lớn.
Giới sân khấu nhà nghề ở Hà Nội thấy được sự thành công của
sân khấu Cải Lương Nam Kỳ. Trần Phềnh, hoạ sĩ vẽ phông người Tầu lai là một
trong những người đầu tiên lập một ban hát với nghệ thuật sân khấu mới mẻ hơn
Tuồng Chèo và hơi giống Cải Lương Nam Kỳ, lấy tên là ban ĐỒNG ẤU TRẤN PHẾNH.
Thành phần diễn viên của ban TRẤN PHẾNH toàn là nhi đồng từ 10 tới 15 tuổi,
trong đó cô bé Thu Nhi (bà Lê Văn, Vũ Bắc Tiến sau này) mới chỉ có 6 tuổi và
anh ruột là Hồng Kỳ 7 tuổi cũng được cho vào học hát luôn. Trần Phềnh là người
Tầu nên đã dạy các diễn viên nhi đồng hát những điệu hát Quảng Đông, gọi là điệu
hồ quảng, với lời Việt do ông soạn ra. Nhưng chỉ trong ít lâu, một người Tầu
khác là Ông Tài bỏ tiền ra mua đào kép của ban hát đồng ấu TRẤN PHỀNH để lập
ra ban NHẬT TÂN BAN. Khi các đào kép trong ban NHẬT TÂN BAN như Kim Chung, Bích
Thuận, Khánh Hợi (vợ tương lai của Sỹ Tiến) lớn lên thì lập tức họ được mua chuộc
để vào hát cho những ban mới thành lập như TỐ NHƯ, ƯNG LẬP BAN... Rồi có thêm
những gánh hát như gánh HUYNH LAN ANH do ba nghệ sĩ là Huỳnh Thái, Lan Phương,
Anh Đệ làm chủ và gánh ÁI LIÊN có cô đào trẻ và đẹp hát "bài ta theo điệu
Tây" mới mẻ hơn những "bài hát hồ quảng", khiến cho giới sân khấu
Hà Nội trở thành một lực lượng nghệ thuật trình diễn đáng kể.
Trong không khí tưng bừng của một thứ sân khấu mới mẻ như thế,
Ngô Nhật Huy là một anh hề nổi danh. Cũng như các tay hề trong làng Hát Chèo là
Hề Phẩm, Hề Liên, rất phục tài tử ciné Charlie Chaplin, Ngô Nhật Huy bèn tự đặt
cho mình cái tên là Charlot Miều. Và bây giờ, với sự bỏ vốn của người anh cột
chèo là Ông Đức, Charlot Miều thành lập gánh ĐỨC HUY, có cậu thanh niên Phạm
Duy Cẩn giúp việc tiền đạo và thư ký.
Khi tôi xuống rạp TRẦN MỸ NGỌC ở Đường Tám Gian, Hải Phòng
thì gánh ĐỨC HUY đang rất bận rộn trong việc mua sắm đồ tuồng và tập tuồng.
Tôi bắt đầu làm quen với những người sẽ làm tăng vẻ đẹp của những ngày tươi như
hoa nở của tôi. Kép chính của gánh hát là Quý tức Nhật Thanh, em ruột của
Charlot Miều. Các kép phụ là Dần rỗ, Hiếu chột, Ba Hội, Đạt móm... Đào chính là
Tình và Nga. Gánh ĐỨC HUY muốn có thêm những màn phụ diễn do đó đã thu nhận
"vũ sư" Phúc, người Tầu Lai, chuyên nhảy "thiết hài" theo lối
nhẢy claquettes (tap dance) của Fred Astaire, Shirley Temple, Ginger Rogers...
là những tài tử Mỹ đang được bà con trên thế giới rất thích vì nghệ thuật nhảy
giầy sắt tuyệt vời của họ. Người nhảy claquettes đầu tiên trên sân khấu Việt
Nam vào năm 1936-38 là đào Bạch Tường, em gái của ông bầu Đỗ Xuân Ứng trong
gánh ỨNG LẬP BAN. Trong gánh ĐỨC HUY bây giờ, vũ sư Phúc huấn luyện hai em
bé, con gái của hai nhạc công trong đoàn để cùng nhảy thiết hài với mình.
Cũng như các gánh hát Cải Lương hồi đó, gánh ĐỨC HUY có hai
ban nhạc. Ban nhạc cổ truyền gồm những nhạc công đánh đàn nguyệt, đàn guitare
có phím trũng gọi là octaviana, đàn bầu, đàn cò, violon dùng để đệm cho đào kép
hát trên sân khấu, và ban nhạc Tây tấu nhạc trước sân khấu (avant scène) gồm có
các nhạc sĩ đánh piano, thổi saxophone và đánh trống jazz.
Tôi được anh Ân đàn cò dạy chơi nhạc cải lương. Ngoài vai trò
diễn viên chính của gánh hát, kép Nhật Qúy cũng đánh đàn trong ban nhạc cổ truyền.
Sau này, với cái tên Ngô Nhật Thanh, anh là giáo sư dạy đàn bầu giỏi nhất trường
Quốc Gia Âm Nhạc Saigon. Ban nhạc Tây mới đầu có Paul Trí, đánh piano. Về sau
khi gánh hát vào tới Saigon thì có Mateo, người Phi Luật Tân (chúng tôi gọi là
người Maní vì cái tên Manille, thủ đô của Phi) và là nhạc sĩ đánh piano loại nhạc
classique rất cừ. Trong ban nhạc Tây của gánh hát khi vào Saigon thì có thêm
Paul Báu đánh guitare và Giỏi người Việt gốc Miên đánh trống. Paul Báu dạy tôi
đánh đàn guitare. Thằng Giỏi sẽ làm cho tôi phải nếm mùi nhà tù thực dân.
Lao công trong gánh hát là thợ vẽ Nguyên, thằng Cõn, anh Thuận
và vợ chồng Chất... phụ trách những việc như vẽ quảng cáo, trèo thang mắc màn
sân khấu, dọn phông cảnh hay khuân vác những thùng đồ tuồng và hành lý nặng hằng
trăm ký lô mỗi khi gánh hát di chuyển từ địa điểm này qua địa điểm khác. Chưa kể
chuyện đi chợ, nấu nướng, dọn cơm cho nhân viên đoàn hát ăn, dưới quyền chỉ huy
của vợ ông bầu là chị Miều. Chưa kể thỉnh thoảng, khi cần tới thì các lao công
lên sân khấu đóng những vai rất phụ (figurants) như lính nhà vua, đội xếp,
khách hàng ăn, khách qua đường, v.v... Thằng Cõn cũng là thứ dị nhân như Ả Cẩu
của tôi ở Moncay, người bé choắt nhưng không phải vì hút thuốc phiện, rất khỏe,
làm việc rất tận tụy. Anh Thuận, hơi tàng tàng, thích gọi tôi là bố, dù tôi
thua anh mười tuổi, luôn luôn đè tôi ra để tẩm quất, bóp thịt, bẻ xương.
Sau một vài tuần trang bị đầy đủ phông cảnh, đồ tuồng và sau
khi tập xong dăm ba vở tuồng mang nhiều tính cách phê bình xã hội, đã tới lúc
gánh hát khai diễn. Vào quãng buổi trưa của ngày lịch sử, thằng Cõn đi thuê một
cỗ xe ngựa rồi anh thợ vẽ gắn lên đó tấm bảng có những dòng chữ lớn:
Gánh ĐỨC HUY CHARLOT MIỀU mới thành lập
Tối nay khai diễn tại rạp TRẦN MỸ NGỌC
Diễn tuồng ÔNG GIÀ NHÃ ÁI
Có phụ diễn nhảy thiết hài
Ba giờ chiều, hai cô đào trẻ mặt mày loè loẹt leo lên ngồi
trên ghế xe ngựa. Nấp sau tấm bảng quảng cáo là thằng Cõn và anh Thuận đánh
chiêng trống tùng tùng xòe. Ngồi đằng sau xe, tôi có bổn phận tung chương trình
bươm bướm. Dân các phố Tám Gian, Cầu Đất, Lạch Chay... từ trong nhà xô cửa ra
nhìn chúng tôi. Lũ trẻ bỏ chơi chạy theo xe ngựa, tranh nhau nhặt những tờ
chương trình màu đỏ.
Tối đến, thằng Cõn vác trống ra cửa rạp, đánh những nhịp trống
múa sư tử. Khán giả lục tục kéo đến. Tôi lăng xăng đi từ ngoài rạp vào buồng
vé, từ buồng vé vào chỗ khách ngồi, từ chỗ khách ngồi lên sân khấu. Trên ban thờ
tổ sư của ngành xướng ca là Lê Nguyên Cát đặt ở hậu trường để đào kép khấn vái
trước khi ra đóng tuồng đã được bày một đĩa hoa quả và được cắm hương, khói lên
nghi ngút. Ban nhạc avant scène đã chơi ầm ỹ những bài pasodoble, rumba.
Đồng hồ điểm 8 giờ. Giờ lịch sử đã tới. Anh Thuận bấm xong ba
hồi chuông điện, giơ hai tay kéo màn. Tấm màn nhung đỏ từ từ mở ra. Sân khấu lộng
lẫy dưới những ngọn đèn 1000 nến và đèn mầu. Vở tuồng bắt đầu. Một quãng đời mới
của tôi cũng vừa mở ra với tấm màn nhung.
Mười tám
Ta ca trái đất còn riêng ta
TRƯƠNG CHI - Văn Cao
Trong gần hai tháng gánh Cải Lương ĐỨC HUY-CHARLOT MIỀU tập
trung ở đây để tổ chức và ra mắt khán giả, tôi được làm quen với thành phố cửa
bể chính của Bắc Kỳ này...
... Với hai lần xuống Hải Phòng trước đây, một lần đi đón ông
anh du học ở Pháp về, một lần đáp tầu thủy đi Moncay, tôi chỉ biết qua loa
khung cảnh bến tầu nhưng tôi đã thích sự náo nhiệt của nơi có tiếng "mời gọi
giang hồ" thật là quyến rũ. Thành đô Hà Nội âm thầm với những hồ nước im
lìm chỉ đủ kéo tôi về dĩ vãng, nó không mở rộng cánh cửa cho tôi đi ra năm châu
bốn bể được. Đứng ở bến tầu Hải Phòng là đã có cảm giác xuất ngoại rồi! Hà Nội
cũng không phải là nơi quần cư nghĩa là có nhiều giống người cư ngụ vĩnh viễn
hay tạm thời. Ở Hải Phòng, sống bên cạnh người Việt là những thương gia hay thủy
thủ Pháp, Y Pha Nho, Anh Cát Lợi, Hòa Lan, Xiêm La, Ấn Độ, Nhật Bản v.v...
Người Tầu thì đông vô kể, họ bắt rễ vào Hải Phòng đông hơn ở Hà Nội cũng như đã
bắt rễ vào tất cả thành phố lớn trên thế giới. Nếu lúc đó tôi chưa có cơ hội vượt
biên và đi sống ở nhiều thủ đô hay hải cảng trên thế giới như bây giờ thì những
ngày Hải Phòng, đối với tôi, đã có nhiều vẻ quốc tế rồi đó.
Muốn có chút gì để kéo ta về quá khứ thì ta có thể tưởng tượng
ra khung cảnh thương khẩu lúc hãy còn mang tên Bến Ninh Hải, vẫn nằm trên ngã
ba sông Tam Bạc và sông Cấm này và vào đầu thế kỷ 19 được Triều Đình Huế giao
việc tu bổ cho Quan Doanh Điền Sứ, ông quan này có người Việt Nam đầu tiên xuất
dương qua Mỹ là Bùi Viện giúp sức. Trước đó, từ thế kỷ thứ 17, các tầu buôn Hòa Lan, Anh, Nhật đã ra vào Bắc Việt để buôn bán, thám hiểm hay truyền đạo nhưng họ
lại đi vào nước ta bẵng cửa sông Thái Bình để ngược lên sông Hồng rồi chọn Phố
Hiến ở Hưng Yên làm thương khẩu. Khi người Pháp tới và nhận thấy đi vào Bắc Việt
bằng cửa sông Cấm, cách cửa sông Thái Bình chừng mấy chục cây số ở phía Bắc và
chọn Ninh Hải làm thương cảng thì tiện lợi hơn. Từ đó Ninh Hải trở thành Hải
Phòng và là cửa khẩu lớn nhất của Bắc Việt.
Hải Phòng náo nhiệt hơn tất cả các thị trấn lớn nhỏ mà tôi đã
sống trước đây. Không cứ gì bến Sáu Kho với tầu bè to lớn đậu san sát nhau và với
hành khách lên xuống tấp nập, khu buôn bán ở phía Bắc thành phố gần sông Tam Bạc
là nơi tôi đang ở cùng gánh hát cũng ồn ào không kém. Khu Phố Khách của người Tầu
ở liền ngay đó còn ầm ỹ hơn nữa. Vì tất cả hàng hoá xuất cảng đi nước ngoài hay
nhập cảng vào Việt Nam đều phải đi qua cửa khẩu này, Hải Phòng đứng đầu Bắc Việt
về sự phồn thịnh thương mại.
Hải Phòng còn là một thành phố kỹ nghệ với nhiều nhà máy, nhiều
công ty sản xuất và lẽ tất nhiên với nhiều xưởng đóng tàu và sửa chữa thuyền
bè. Có nhà máy xi măng, nhà máy gạo, xưởng chế hoá đồ sành, đồ xứ, xưởng máy
làm chai và các đồ thủy tinh khác, xưởng đúc đồ gang, đồ sắt, đồ đồng, xưởng sản
xuất than, xưởng thuộc da. Có cả nhà máy sợi, nhà máy làm xà phòng.
Hải Phòng đúng là một thành phố của công nhân. Đã từng làm việc
trong xưởng thợ tại Trường Kỹ Nghệ Hà Nội và Nhà Máy Điện Moncay, tôi rạo rực sống
lại mảnh đời công nhân của mình. Và tôi thấy yêu thành phố này quá, khi ngồi uống
cốc cà phê ở một quán nhỏ, lắng tai nghe tiếng còi tầm của công xưởng vào những
buổi sớm có nắng hồng. Hay khi ngồi ăn bữa cơm bình dân ở một hè đường trong
chiều mưa, bên cạnh những người dân không chỉ mặn mùi muối bể mà còn nồng mùi dầu
mỡ bụi than. Đôi khi cùng mấy anh em trong đoàn hát vào ăn tiệm thì thấy miếng
ăn Hải Phòng cũng ngon không thua miếng ăn Hà Nội. Trong các đồ hải vị ở đây,
ngoài tôm ra, cá song, cá thu Hải Phòng nổi tiếng là ngon.
Vì Hải Phòng là nơi thịnh vượng về cả hai mặt sản xuất và
thương mại nên đã thu hút người tứ xứ tới. Người Nam Định, Hải Dương, Kiến An gần
gũi tới Hải Phòng để sinh nhai là chuyện thường. Người Bắc Ninh, Bắc Giang,
Thái Nguyên xa xôi cũng lần mò về kiếm ăn tại hải cảng. Tôi sống hả hê trong
thành phố có đủ hạng người ở các địa phương trong nước, có thêm các hạng người ở
các vùng trời Âu Á, tất cả những sắc dân này sống chung với nhau giống như sự
pha trộn bẩy mầu của một chiếc cầu vồng to lớn.
Tuy nhiên, trong những ngày tôi lưu lại tại hải cảng này tôi
thấy bộ mặt chiến tranh đã phơi ra với hình ảnh những toán quân kỵ mã Nhật đi
ngựa qua thành phố hay những toán bộ binh Nhật cởi trần đóng khố vừa đi vừa hát
những bản hùng ca. Hải Phòng cũng đã nếm mùi bom Mỹ. Có những ngày, theo lệnh của
chính quyền, tôi cùng hàng ngàn gia đình kéo nhau đi tránh bom ở vùng ngoại ô,
xâm xẩm tối mới trở về thành phố, coi như tập dượt cảnh tản cư trong kháng chiến
chống Pháp sau này.
Nhật Bản đã chiếm hoàn toàn vùng Đông Nam Á. Âm nhạc và điện
ảnh ca tụng tinh thần chiến đấu của con cháu Thái Dương Thần Nữ được phổ biến rộng
rãi ở khắp nơi, từ Trung Hoa qua Đông Dương, xuống Mã Lai và xuống cả vùng Nam
Dương nữa. Lần thứ nhất trong đời, tôi được nghe những bản nhạc hùng của Á Đông.
Thường thường nhạc Á Đông là nhạc ấn tượng chỉ đem sự trầm
ngâm tới cho người nghe. Nhạc sĩ Pháp Debussy nổi danh vì có được sự trầm ngâm
đó, khi ông chỉ dùng những phím đen của đàn piano. Năm phím đen đó là thang âm
ngũ cung của Á Đông. Lúc cả Âu Châu đang bị nhạc của Wagner áp đảo, nhạc
Debussy ra đời và được gọi là musique impressioniste. Bây giờ tại Hải Phòng, nhạc
hành ca mà toán quân Nhật Bản vừa đi vừa hát trên đường phố, tuy vẫn là nhạc
ngũ cung nhưng tôi thấy sao mà hùng tráng đến thế! Các rạp chiếu bóng cũng chiếu
nhiều phim Nhật xưng tụng chủ nghĩa người hùng qua những phim hiệp sĩ đạo.
Ngoài những phim truyện, tôi còn được coi chiến công của Nhật Bản trong phim thời
sự hoặc do hãng PATHE JOURNAL thực hiện (với hình ảnh con gà trống gáy te te)
hoặc do quân đội Nhật thực hiện và chính quyền bảo hộ bắt chủ rạp phải chiếu.
Trong thời gian tôi ở Hải Phòng, ngoài thú vui của một người
thèm xuất ngoại được sống tại một cửa bể suốt ngày nhìn ra trùng dương, ngoài
háo hức của một thanh niên thích xướng ca được sống trong một gánh hát rong
đang chuẩn bị lên đường "viễn xứ"... tôi còn có cái may gặp một người
bạn mới. Người đó là Văn Cao.
Văn Cao là tên thật, họ Nguyễn, ra đời sau tôi vài năm tại bến
Bính, bên dòng sông Cấm. Cha (hay anh ruột, tên là Tú) làm cai của nhà máy bơm
nước ở bờ sông đó nên suốt thời niên thiếu, anh sống trong nhà máy này. Học tiểu
học tại trường Bonnal, trung học ở trường Saint Joseph, Văn Cao đã có khiếu văn
nghệ ngay từ khi còn đi học. Ăn ở trong một căn nhà nhỏ có cái máy bơm rất lớn
nằm chình ình giữa nhà suốt ngày đêm hút nước từ dưới sông lên không lúc nào
ngưng nghỉ, Văn Cao còn vất vả hơn nữa là phải lấy một tấm phản kê lên máy bơm
để làm bàn học. Sau này nhớ tới "giọng máy bơm nước", Văn Cao sẽ có
câu thơ:
Anh muốn giơ tay lên mặt trời
Để vui da mình hồng hồng sắc máu
Mấy năm một điệu sáo
Như giọng máy nước thâu đêm chảy...
(Anh Có Nghe Không, trong LÁ, tuyển tập thơ Văn Cao)
Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn
tôi nhiều. Chắc chắn là đứng đắn hơn tôi. Lúc mới gặp nhau, anh ta chưa dám
mày-tao với tôi, nhưng tôi thì có cái tật thích nói văng mạng (và văng tục) từ
lâu, kết cục, cu cậu cũng theo tôi mà "xổ chữ nho". Nhưng Văn Cao bản
tính lầm lỳ, ít nói, khi nói thì bàn tay gầy gò luôn luôn múa trước mặt người
nghe. Anh ta thích hút thuốc lào từ khi còn trẻ, có lần say thuốc ngã vào tay
tôi. Về sau, anh còn nghiện rượu rất nặng.
Hình như Văn Cao có đi học vẽ ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật như
tôi, nhưng chắc chắn anh đã được họa sĩ Lưu Văn Sìn dắt vào hội hoạ. Văn Cao vẽ
rất giỏi. Tôi giữ được bức tranh tự hoạ của Văn Cao, tranh sơn dầu vẽ trên bìa
cứng cho tới ngày Pháp đánh Saigon vào năm 1945 thì mất, tiếc quá! Văn Cao làm
thơ cũng rất hay. Vào năm 1941 mà anh đã có những câu thơ nghe như thơ Huy Cận:
Sông chầm chậm chảy trong mưa
Nghe chừng cô gái đã thưa nhát chèo
Mưa trong trăng tiếng nhỏ đều
Bến mờ mịt: mấy mái lều bơ vơ...
(Đêm Mưa)
Chưa gặp Văn Cao nhưng tôi đã biết tài soạn nhạc qua mấy bài
nhạc hùng của anh rồi. Khi tới Hải Phòng, sau khi gặp Hoàng Quý tôi tìm đến Văn
Cao. Cũng như tất cả thanh niên "mỏ trắng" (blanc bec) thời đó, Văn
Cao đang thất nghiệp sau một tháng làm việc tại Nhà Bưu Điện. Thanh niên thất
nghiệp Hưng Yên gặp nhau là nói chuyện ca hát thì thanh niên thất nghiệp Hải
Phòng cũng vậy. Văn Cao cũng có một số bạn bè để chơi "trò âm nhạc".
Gặp tôi đang lập cuộc đời mới trong một gánh hát thì kết thân ngay. Lúc đó, tôi
đã tập tọe đánh đàn với các nhạc sĩ trong ban nhạc Tây của gánh Đức Huy. Văn
Cao lại chơi với tôi và thấy mọi người trong đoàn đang tập dượt thì bị cám dỗ
ngay. Tuy có giọng hát khá hay nhưng chưa được dùng đến trên sân khấu của gánh
hát, tôi cũng đã biết sử dụng cây đàn guitare để hát những bài như Bản Đàn Xuân
của Lê Thương, Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong. Nhất là hát bản ruột của
mình là Cô Hái Mơ. Và tôi đã hát cho Văn Cao nghe. Nghe xong, Văn Cao vội vàng
đưa cho tôi dăm ba bài anh ta mới làm xong. Lúc đó bên cạnh hai đứa chúng tôi
còn có Đỗ Hữu Ích, con ông chủ bán đồ sắt phố Hàng Đồng, soạn lời ca rất hay.
Đa số những bản đầu tay của Văn Cao đều đã được Đỗ Hữu Ích giúp đỡ trong phần
lời ca. Dần dà tôi biết hơn về Văn Cao và Đỗ Hữu Ích.
Vào năm 1944 này, Tân Nhạc Việt Nam đã qua giai đoạn chuẩn bị
với những bài ta theo điệu tây và bước vào giai đoạn thành hình với hai loại nhạc
tình và nhạc hùng. Nhạc hùng đã được hai nhóm là TIẾNG HÁT SINH VIÊN ở Hà Nội
và ĐỒNG VỌNG ở Hải Phòng làm cho khởi sắc với những bản hùng ca của hai người cầm
đầu hai nhóm là Lưu Hữu Phước và Hoàng Quý. Trước đó, đã có những bài hát hướng
đạo cũng như những bài lịch sử ca soạn ra để cổ võ lòng yêu nước của thanh niên
(cho nên được gọi là thanh niên-lịch sử ca) như:
Vui ca lên nào anh em ơi!
Hát cho đời thắm tươi...
(Linh Mục Thích)
Anh hùng xưa nhớ hồi là hồi niên thiếu
Dấy binh lấy lau làm cờ...
(Hoàng Đạo Thúy)
Bây giờ hai nhóm TIẾNG HÁT SINH VIÊN và ĐỒNG VỌNG tung ra
những bài như Vui Xuân, Bạn Đường, Bạch Đằng Giang của Lưu Hữu Phước, Đêm Trong
Rừng, Bóng Cờ Lau, Nước Non Lam Sơn của Hoàng Quý. Đều là những bài hát hay
nhưng chỉ hay một cách bình thường.
Văn Cao đóng góp vào loại nhạc hùng này với những bài như Vui
Lên Đường, Gió Núi, Anh Em Khá Cầm Tay, Đống Đa, Thăng Long Hành Khúc... Theo
tôi, những hướng đạo ca và thanh niên-lịch sử ca của Văn Cao có nhiều souffle
(hơi thở) hơn trong câu nhạc và có nhiều tính thơ hơn trong lời ca. Trong những
bài ca hướng đạo Anh Em Khá Cầm Tay, Gió Núi ta đã thấy manh nha những phóng
bút tuyệt vời của Chiến Sĩ Việt Nam, Bắc Sơn hay Thiên Thai, Trương Chi sau
này:
Anh em khá cầm tay
Mau đến cùng nhau hát nhé
Nơi đây chúng mình ca
Trong gió hòa êm êm.
Bao nhiêu gió về đây
Chim chóc về đây hót nhé
A vui sướng làm sao
Ta ngó trời xanh êm...
(ANH EM KHÁ CẦM TAY)
Gió núi qua mái lều vi vu
Vừng trăng xế lu
Phía cách xa núi mờ ánh trăng
Lời ca hát rằng:
Cùng ngồi lại đây ta chờ hơi gió
Thoáng qua mái lều
Là tiếng hát phất phơ từ đâu?...
Ngàn đời về xưa muôn quân thương tiếc
Bao nhiêu thây chết nơi đây
Ngàn đời về sau nấu nung máu hờn...
(GIÓ NÚI)
Về phần nhạc hùng thì bài Đống Đa với câu ca: Tiến quân hành
khúc ca, thét vang rừng núi xa... nó phải dẫn tới bài Tiến Quân Ca của Cách Mạng
Tháng Tám. Còn bài Thăng Long Hành Khúc à? Tôi yêu nó vô cùng. Bài này có đoạn
kết tiếc thay được ít người hát tới, với lời ca như những lời tiên tri của con
người hơn tôi rất nhiều ở chỗ được suốt đời sống với Thăng Long:
Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng
Không cứ bây giờ chúng ta tìm đi
Người đời này qua
Dặm đường dù vắng
Khắp nơi dồn theo đời vui tươi chờ ta!
Chúng ta! Muôn ngàn năm yêu sống dưới khói mây
Trên thành đô xứ Bắc ấy
Chiều vàng dần sắp tắt
Chờ đợi một đêm qua
Nắng mai hồng lên đàn chim vang lời ca...
U'a! Vào năm 43-44 mà Văn Cao đã tiên tri ngày "thành đô
xứ Bắc, chiều vàng sắp tắt" à? Tắt cho tới nay... Nắng mai hồng nào sẽ
lên? Từ đâu tới?
Bây giờ nói tới nhạc tình. Vào đầu thập niên 40, nhạc tình ở
Hà Nội nằm trong tay nhóm MYOSOTIS (Hoa Lưu Ly) với những bài như Thuyền Mơ,
Khúc Yêu Đương, Hồ Xưa... của Thẩm Oánh, Tâm Hồn Anh Tìm Em của Dương Thiệu Tước
và trong tay nhóm TRICEA với những bài như Đoá Hồng Nhung, Bóng Ai Qua Thềm của
Văn Chung, Bẽ Bàng của Lê Yên, Cô Lái Thuyền, Biệt Ly của Dzoãn Mẫn. Nhạc tình
đang phổ biến dữ dội lúc đó cũng còn là của một người Nam Định, Đặng Thế Phong
với ba bài hát mùa Thu: Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến và Giọt Mưa Thu...
Ơ' Hải Phòng, nhạc tình là địa hạt của Lê Thương với những
bài đầu tay rất hay như Bản Đàn Xuân, Một Ngày Xanh (hay Bên Bờ Đà Giang), Nàng
Hà Tiên... Nhất là với bài Thu Trên Đảo Kinh Châu soạn trên âm giai Nhật Bản và
đang rất thịnh hành (đến độ đi vào nhạc mục của Hát Quan Họ ở Bắc Ninh).
Trong một không khí nhạc tình lãng mạn toàn nói về mùa Thu
như vậy, chàng tuổi trẻ Văn Cao cũng soạn ra những bài hát mùa Thu như Thu Cô
Liêu, Buồn Tàn Thu... nhưng chưa bao giờ anh ta có cơ hội để phổ biến. Tôi sẽ
là người đầu tiên đem nhạc của Văn Cao đi - nói theo lời Văn Cao đề tựa trong
một bài hát - gieo buồn khắp chốn. Danh từ người du ca đầu tiên cũng do chính
Văn Cao đã gán cho tôi với một sự thèm sống cuộc đời "xướng ca vô
loài" như tôi lắm lắm!
Khác với những bài hát tình thu bị ảnh hưởng thơ văn lãng mạn
Pháp của các nhạc sĩ khác, bài Thu Cô Liêu của Văn Cao có cái buồn của Đông
Phương. Lời ca nghe như một câu thơ Đường:
Thu cô liêu tịch liêu, cô thôn chiều
Ta yêu thu, yêu Thu, yêu Mùa Thu!
Vàng hoen đáy nước soi rõ đường đi
Một mùa Thi! Một mùa Thi!
Lá rơi, rơi rụng, buồn chi lá vàng
Trăng ấp lạnh non, sương cứng lá
Đã từng nghe gió biết Thu sang.
Vàng theo cánh gió lấp bay tìm em
Một chiều êm! Một chiều êm!
Nhạc điệu của bài này theo nhạc chủ thể Tây Phương (musique
tonale) với những "áp-âm" hay "cảm âm" (notes sensibles)
làm cho nét nhạc có nhiều cảm tính. Giai điệu trải ra trên một âm vực rất rộng
nên hơi khó hát. Trái lại, bài Buồn Tàn Thu dùng ngũ cung Việt Nam với nét nhạc
giản dị hơn cho nên dễ đi vào dân chúng. Tôi sẽ làm nên cuộc đời du ca của tôi
với bài hát nói về người thiếu phụ đan áo chờ chồng này:
Ai lướt đi ngoài sương gió?
Không dừng chân đến, em bẽ bàng!
Ôi vừa thoáng nghe
Em mơ ngày bước chân chàng
Từ từ xa tìm đến.
Đêm mùa Thu chết
Nghe mùa đang rớt
Rơi theo lá vàng.
Em ngồi đan áo
Lòng buồn vương vấn
Em thương nhớ chàng...
Ngay từ lúc này, Văn Cao đã nói tới mùa Thu chết. May cho anh
ta, lúc đó chưa có Mùa Thu Cách Mạng nên chưa bị vu cáo là rủa Cách Mạng. Như
tôi đã bị lên án với bài Mùa Thu Chết, phổ thơ Apollinaire vào năm 1970. Soạn
ra bài này chỉ vì tôi đang thất tình (sic) chứ lúc đó tôi đâu có thèm để ý tới
Cách Mạng, Cách Miếc gì nữa. Để mà nguyền rủa.
Nhưng vào lúc tôi gặp Văn Cao ở Hải Phòng, tôi thích bài Cung
Đàn Xưa nhất. Văn Cao soạn bài này thì không nói tới mùa Thu mà nói tới mùa
Xuân nhưng lại là một mùa Xuân đã tàn, đã chết như mùa Thu. Tuy là một bài hát
ngắn, nhưng Văn Cao cũng chia ra 4 đoản khúc rõ ràng. Đoạn đầu nói tới cung đàn
năm xưa:
Hồn cầm phong hương
Hình bóng Xuân tàn
Ngày dần buông trôi
Sầu vắng cung đàn.
Lời đàn năm xưa
Xe kết đôi lòng
Lời đàn năm nay
Chia rẽ đôi lòng...
Đoạn 2 nói tới cung Thương, cung Nam mà Lê Thương, Phạm Duy
cũng đều nói tới qua những bài Bản Đàn Xuân, Khối Tình Trương Chi:
Cung Thương là tiếng đàn
Cung Nam là tiếng người
Ai oán khúc ca cầm chìm rơi
Tình duyên lãng đãng
Nhớ thương dần pha phôi...
Đoạn 3 chuyển qua một nhịp điệu khác, nói tới sự buồn rầu
trong cung đàn xưa:
Cung đàn ngân
Buồn xa vắng trong tiếng thầm
Buồn như lúc Xuân sắp tàn
Ôi đàn xưa
Còn vang nhắc chi đến người
Lòng ta tắt bao thắm tươi
U hoài duyên đưa...
Thì ra tất cả ba đoạn nói tới một cung đàn xưa đó chỉ muốn nhắc
tới một người mà Văn Cao diễn tả một cách tuyệt mỹ, một người tình tưởng tượng
có đôi mắt giữ lại mùa Xuân, có đôi chân đi tới đâu hoa nở tới đó, có thân hình
thơm hương, có tiếng nói khơi dậy thương yêu... khiến cho hiện thân của anh
Trương Chi là Văn Cao đó, bây giờ đã phải cất lên tiếng đàn giao hoan và dệt
nên không biết bao nhiêu là mộng mị:
Chiều năm xưa
Gót hài khai hoa
Mắt huyền lưu Xuân
Dáng hồng thơm hương.
Chiều năm nay
Tiếng người khơi thương
Tiếng đàn giao hoan
Giấc mộng chàng Trương...
Tôi muốn nói nhiều tới hai bài hát Thu Cô Liêu, Cung Đàn Xưa
này hơn là nói tới bài Buồn Tàn Thu mà ai cũng biết là vì, đáng tiếc thay, rất
ít người biết tới những bản nhạc tình đầu tay của Văn Cao, trong đó ta đã thấy
manh nha những hình ảnh, những ý tình, những cái đẹp mà Văn Cao sẽ phát triển tột
độ trong hai bài ca bất hủ là Thiên Thai và Trương Chi... Những cô hái mơ, cô
bán hoa, cô hàng nước, cô lái đò, cô láng giềng mà ta thấy xuất hiện trong các
bản nhạc tình thuở đó, làm sao mà có được những gót hài khai hoa, mắt huyền lưu
Xuân, dáng hồng thơm hương... như trong bản Cung Đàn Xưa của Văn Cao? Chỉ cần
12 chữ và dù chỉ để xưng tụng một người tình tưởng tượng mà thôi, Văn Cao đã
đưa nhạc tình 1943-44 vượt khỏi những khuôn sáo cũ mèm. Sau này, để xưng tụng một
người tình có thực và cũng là một cách xưng tụng Văn Cao, tôi có hát trong bài
Đường Em Đi:
Đường em có đi
Hằng đêm bước qua
Nở những đoá hoa ôi dị kỳ.
Đường êm có khi
Chờ em bước qua
Là nghiêng giấc mơ ước thề...
Từ Thu Cô Liêu, Cung Đàn Xưa của lúc đó tới Suối Mơ, Bến Xuân
sau này (và với cả bài Chiến Sĩ Hải Quân nữa) Đỗ Hữu Ích đã đóng góp rất nhiều
vào phần soạn lời ca.
Đỗ Hữu Ích có một cô em gái rất đẹp tên là Yến mà chắc chắn
Văn Cao phải mê. Như tôi đã mê. Trong một buổi cả nhà đi lánh bom máy bay Mỹ ở
ngoại ô, tôi đã leo vào nhà Đỗ Hữu Ích để ăn cắp tấm ảnh và cái áo lót của cô
em gái. Đem tấm ảnh vào tới Saigon, Cà Mâu rồi đem ra Hà Nội. Nếu không lâm vào
cảnh phải chạy giặc tối thiểu cũng là bốn lần thì chắc chắn tấm ảnh này chưa bị
thất lạc.
Khi kết bạn với Văn Cao ở Hải Phòng vào năm 1944, tôi đã có
nhiều kinh nghiệm về tình rồi nhưng tôi thấy Văn Cao lúc đó rất cô độc, không
có một thứ nhân tình, nhân ngãi nào cả! Tôi không tỏ tình với Yến bởi vì tôi
đang có người tình là cô đào chính trong gánh hát. Văn Cao không dám tỏ tình với
Yến chắc chắn vì tính nhát gái. Văn Cao lúc còn trẻ là người chừng mực. Ít khi
anh chàng chịu theo tôi trong những cuộc chơi. Tôi ngờ rằng những bản nhạc tình
đầu tiên của Văn Cao soạn ra là mối tình câm lặng đối với Đỗ Thị Yến.
Trong lúc ngồi nhớ lại một thời sống với Văn Cao ở Hải Phòng
vào đầu năm 44, tôi không muốn đóng khung niềm nhớ bạn vào một thời điểm quá ngắn
ngủi này. Bởi vì trong những tập Hồi Ký tôi sắp viết, tôi sẽ chỉ nhắc tới Văn
Cao với loại nhạc Cách Mạng Kháng Chiến của anh mà thôi, tôi muốn viết ngay ra
đây những ý nghĩ của tôi về nhạc tình của Văn Cao ngay sau khi chúng tôi xa
nhau rồi gặp lại nhau tại Hà Nội vào năm 1946.
Nếu đem so sánh với những bản nhạc tình của 50 năm Tân Nhạc
thì những bài Suối Mơ, Bến Xuân là cực điểm của lãng mạn tính trong ca nhạc Việt
Nam. Sẽ không bao giờ có những bài ca lãng mạn như thế nữa! Sẽ có nhạc tình cảm
tính, nhạc tình não tính, nhạc tình nhục tính và ảo tính nhưng không thể có
thêm những bài nhạc tình lãng mạn nào hay hơn nhạc Văn Cao. Không ai có thể mô
tả cái đẹp của con suối trong rừng Thu như thế này nữa:
Suối mơ!
Bên rừng Thu vắng
Dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng.
Ngày chưa đi sao gió vương?
Bờ xanh ngắt bóng đôi cây thùy dương...
Hoặc ca tụng người tình nơi Bến Xuân:
Tới đây chân bước cùng ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền soi nước...
Tới đây mây núi đồi chập chùng
Liễu dương hơ tóc vàng trong nắng...
Trong cả hai bài nhạc tình về mùa Thu và mùa Xuân này, bao giờ
nét nhạc mineure mở đầu cũng rất lâng lâng rồi cũng sẽ chuyển qua một nét nhạc
majeure ngắn để diễn tả một niềm vui thoáng qua. Hình ảnh người tình trong cả
hai bài hát này đều rất là lộng lẫy, cao sang. Tình cảm của cả hai bài nhạc
tình đều không dìm con người vào cõi u tối, trái lại làm cho người nghe thấy
nguôi ngoai, sảng khoái. Con suối trong rừng Thu buồn muôn thuở là vì còn lưu
luyến hương vị tình yêu chúng ta:
Suối ơi!
Nghe rừng heo hút.
Dòng êm đưa lá khô già trút
Còn như lưu hương yêu dấu
Với suối xưa trôi nơi đâu...
Đứng trên bến Xuân để nhìn những cánh buồm xa và nghe tiếng
chim ca lưu luyến cuộc tình của chúng ta, cuộc tình vừa mới đi qua:
Sương mênh mông che lấp kín non xanh
Ôi cánh buồm nâu còn trên lớp sóng xuân
Ai tha hương nghe ríu rít oanh ca
Cánh nhạn vào mây thiết tha
Lưu luyến tình vừa qua...
Không "ích kỷ" (!) như tôi, nghệ sĩ tài hoa Văn Cao
hiến thân cho Cách Mạng. Nhưng Cách Mạng sẽ không cho anh sáng tác nữa nên sự
nghiệp anh đành dở dang. Trong suốt một đời, con người tình cảm hơn tôi này chỉ
soạn ra dăm bẩy bản nhạc tình trong đó hai bài Thiên Thai và Trương Chi đã làm
mờ đi bốn bài còn lại như hai bài đã kể ở trên và hai bài nữa là Suối Mơ và Bến
Xuân. (Cách Mạng xông tới nên Bến Xuân đã bị đổi thành Đàn Chim Việt).
Bài Buồn Tàn Thu không có giá trị nghệ thuật cao bằng những
bài khác của Văn Cao nhưng vì nó được hát lên trên sân khấu gánh hát rong và
trên Đài Phát Thanh Saigon trong những năm 44-45 là lúc TÂN NHẠC còn mới phôi
thai, cho nên nó được nhiều người biết tới. Nhưng những bài tình ca nhỏ nhặt đó
sẽ bị mờ đi khi Thiên Thai và Trương Chi ra đời. Với tài năng đã đến độ chín
mùi, Văn Cao sẽ dắt ta tới đỉnh cao nhất của ái tình cũng như sẽ đưa ta vào cõi
sâu thẳm nhất của khổ đau với hai câu chuyện cổ dân gian biến thành hai bản
tình ca muôn thuở.
Tôi đã có dịp nói tới không khí Đường Thi trong nhạc Văn Cao,
nghĩa là nói tới chất thơ trong sáng, cô đọng ngay từ trong những bản nhạc đầu
tiên của anh. Ta thấy những bài Thu Cô Liêu, Buồn Tàn Thu... như có vẻ vừa
thoát ra từ khung cảnh THU HƯNG của Đỗ Phủ. Nghe câu hát Chiều năm xưa gót hài
khai hoa, mắt huyền lưu Xuân, dáng nồng thơm hương... trong bài Cung Đàn Xưa
thì ta nghe ra như một câu thơ của Thôi Hiệu.
Nhưng trong thời kỳ thành hình và phát triển của TÂN NHẠC,
Văn Cao cũng không phải là chàng nhạc sĩ trẻ tuổi độc nhất đã bị ảnh hưởng của
Thơ Đường. Nhạc sĩ đàn anh Lê Thương mà đã chẳng biết dùng khung cảnh TRĂNG
QUAN SAN của Lý Bạch để soạn ra câu hát: Qua Thiên San kìa ai tiễn rượu vừa tàn
khiến cho ba bản Hòn Vọng Phu của anh đã trở thành bất diệt đó à?
Có lẽ cũng cảm thấy ma lực của Đường Thi trong Tân Nhạc cho
nên về sau này tôi cũng mượn không khí của: Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự -- Dạ
bán chung thinh đáo khách thuyền của Trương Kế để soạn ra câu hát trên sông Lô:
Thuyền tôi đậu bến Sông Lô - Nửa đêm nghe tiếng quân thù thở than. Nếu chúng
ta đi xa thêm vào dĩ vãng, ta lại còn thấy trong truyền thống HÁT Ả ĐÀO, những
bài thơ như TƯƠNG TIẾN TỬU, TIỀN-HÂU XÍCH BÍCH... của Thơ Đường đã trở
thành những điệu hát hoàn toàn Việt Nam. Còn sân khấu Cải Lương Nam Kỳ thì có hẳn
một điệu hát được gọi tên là DẠ BÁN CHUNG THINH. Ai cũng bị ảnh hưởng Đường
Thi mà chẳng nói ra hay chưa có dịp để nói ra.
Nhưng với bài Thiên Thai in ra vào năm 1944 thì Văn Cao tự nhận
mình là "Người Sông Ngự" và không ngần ngại viết mấy câu đề tựa trên
đầu bản nhạc do nhà xuất bản TINH HOA ở Huế ấn hành: Ảnh hưởng sông nước khúc
Thiên Thai cổ trong khung cảnh huyền diệu của Đường Thi với hai truyện Thiên
Thai và Đào Nguyên. Người Sông Ngự đã lạc cảm xúc rồi! Trong bản in còn đề rõ:
lời ca của Văn Cao và Hoàng Thoái - tôi ngờ Hoàng Thoái là bí danh của Đỗ Hữu Ích.
Ta hãy thử xem những bài thơ Đường mà Văn Cao vừa kể ra như
ĐÀO NGUYÊN HẠNH của Vương Duy và LƯU NGUYỄN NHẬP THIÊN THAI của Tào Đường đã có
những gì khiến cho người nhạc sĩ mang thêm bí danh Người Sông Ngự này đã phải lạc
cảm xúc? Trong cuốn ĐƯỜNG THI in tại Saigon vào năm 1971, Giáo Sư Phạm Liễu đã
cho rằng cảnh Đào Nguyên là cảnh đẹp vô cùng lý tưởng. Bài thơ của Vương Duy dẫn
chúng ta vào một khung cảnh thần tiên:
Chiếc thuyền câu đẩy đưa trên sông nước
Mê sắc trời núi đẹp ánh xuân xa...
Đôi bờ Đào Hoa, bến thuyền xưa ấy
Ngồi ngắm nhìn cây thắm, không biết xa...
Chốn suối hoa đào thần tiên đó mà có được, chẳng qua cũng chỉ
vì thi sĩ có quá nhiều gian khổ trong cuộc đời nên đã phải tạo ra cho mình một
nơi để ẩn lánh. Một nơi sau này thi bá Vũ Hoàng Chương bước vào thì phải lạc lối,
người thơ của lên đường Tản Đà tới được thì, sau nửa năm tiên cảnh, một bước trần
ai... sẽ phải giã biệt nơi cảnh đẹp lý tưởng đó với tiếng suối tiễn, tiếng oanh
đưa...Và nếu chúng ta có tới được thì cũng chẳng ở được lâu, cũng giống như
truyện hai chàng thư sinh mang họ Lưu, họ Nguyễn lạc vào cõi Thiên Thai vậy. Ơ'
dưới trần thì mơ lên tiên cảnh. Ơ' tiên cảnh thì lại đòi về dương trần. Đó là
thân phận con người, la condition humaine. Đứng núi này trông núi nọ...
Bài thơ của Tào Đường thì diễn tả cảnh hai chàng thư sinh đi
hái thuốc, không ngờ lại tới được chốn Đào Nguyên:
Khe cây, lối đá nhận đường vào
Hoa cỏ không vương mảy bụi nào
Nhìn bóng dáng mây quên việc trước
Trông chiều cây nước ngỡ chiêm bao..
Muốn biết về đâu, non nước ấy
Hỏi thăm, nên tới suối Hoa Đào...
Người Sông Ngự/Văn Cao đã thú nhận rằng mình bị ảnh hưởng
sông nước của hai truyện ĐÀO NGUYÊN, THIÊN THAI cho nên đã soạn ra một bài hát.
Một bài hát, theo tôi thật là tuyệt diệu! Nó vừa có tính chất
trường ca, vừa có tính chất nhạc cảnh. Nếu hình thức ca khúc trong Tân Nhạc Việt
Nam cho tới năm 1944 này vẫn còn nằm trong khuôn khổ một đoản khúc được ước định
trong một số khuôn nhạc nào đó, với một lối chuyển cung, chuyển điệu công thức
nào đó... thì bản Thiên Thai của Văn Cao đã vươn lên một hình thức rất lớn,
chia ra nhiều đoạn, nhiều cảnh, gồm tới con số chín mươi bốn khuôn nhạc, chan
chứa những giai điệu thần tiên và những lời ca thần diệu.
Với tài năng đã nở rộ cùng với bước đi tới của Tân Nhạc, Văn
Cao mô tả cảnh đầu của bài Thiên Thai của anh, cảnh hai chàng Lưu Nguyễn lạc tới
Đào Nguyên:
Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên.
Kìa đường lên tiên,
Kìa nguồn hương duyên,
Theo gió tiếng đàn xao xuyến.
Phím tơ lưu luyến
Mấy cung u huyền
Mấy cung trìu mến
Như nước reo mạn thuyền...
Sau khi mở ra một tiếng hát của ai không biết, hát vang lừng
trên sóng để đẩy đưa hai chàng Lưu Nguyễn lạc tới Đào Nguyên... thì, với một
nét nhạc leo thang, Văn Cao vẽ ra con đường lên tiên, nơi nguồn hương duyên,
theo gió bay lên với tiếng đàn xao xuyến... Ngay trong cảnh đầu của bài ca,
ngay từ khi con thuyền nào đó (con thuyền câu của ĐÀO NGUYÊN HẠNH?) đưa hai kẻ
si tình này đi vào cõi mộng, Văn Cao chỉ nói tới phím tơ lưu luyến, mấy cung u
huyền, mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền. Tuyệt nhiên không có tả cảnh.
Con đường lên tới suối hoa đào cũng không phải qua khe cây hay lối đá để nhận
đường vào... như trong bài thơ của Tào Đường.
Tôi nghĩ rằng đây có lẽ là chiếc thuyền của anh Trương Chi mà
Văn Cao đã cho hai chàng Lưu Nguyễn mượn tạm. Và những âm ba của giọng hát mà
Văn Cao nói tới trong đoạn này đã làm cho hoa đào nơi suối tiên phải rụng cánh,
có lẽ đó chính là tiếng hát của người thợ chài trên Sông Ngự, trong cuộc đời có
thực hay trong cổ truyện lung linh vậy.
Tiếng hát đưa đẩy con thuyền tình trôi trên nước ngọc tuyền,
và người trên thuyền cũng thấy quê hương dần xa lấp trong núi ngàn như trong
hai bản Đường Thi... để gặp một tiếng hát khác bên bờ Đào Nguyên:
Âm ba, thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời.
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Quê hương dần xa lấp núi ngàn
Bâng khuâng chèo khua nước ngọc tuyền
Ai hát bên bờ Đào Nguyên...
Trong đoạn này, Văn Cao đã chuyển nét nhạc một cách rất tài
tình, dùng những nốt-bán-cung để di chuyển rất nhanh chóng câu hát đi từ một chủ
âm mineure này qua chủ âm mineure khác, cho ta thấy được rất nhiều mầu sắc của
khung cảnh thần tiên này. Mầu sắc ở đây lại không có gì là sặc sỡ, nó mơ hồ, nó
nên thơ, nó huyền diệu...
Ai hát bên bờ Đào Nguyên? Ngoài tiếng hát Trương Chi hay Lưu
Nguyễn đang đưa đẩy con thuyền? Thưa đó là bầy thiên tiên đang đứng hát đón chờ
hai gã tình lang tại một nơi còn nguyên vẹn trinh tiết bởi vì mùa Xuân ở đây
chưa bao giờ gập bướm trần gian tới làm cho Xuân phải ô uế, và mùa đào thì theo
dòng ngày tháng chưa hề bao giờ tàn phai!
Với một nhạc điệu rất đẹp chảy dài từ bát độ trên xuống bát độ
dưới, với một nhịp điệu lẳng lơ nhưng thanh thoát, Văn Cao cho chúng ta một đoản
khúc có thể là khúc Nghê Thường mà ta vẫn nghe nói tới trong Đường Thi:
Thiên Thai!
Chốn đây hoa Xuân chưa gặp bướm trần gian
Có một mùa đào
Dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần.
Thiên tiên!
Chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
Khúc Nghê Thường này
Đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn...
Nhạc bỗng sáng lên, chuyển qua giọng majeure nhưng lời ca thì
vẫn chỉ nói tới tiếng đàn, tiếng nhạc. Tuyệt nhiên không nói tới người. Bầy
tiên chỉ là hư ảnh. Biết đâu, ngay cả hai chàng Lưu Nguyễn cũng không có mặt
trong bài ca:
Đàn soi trăng lên, nhạc lắng tiếng quyên
Đây đó nỗi lòng mong nhớ
Này khúc Bồng Lai
Là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi...
Rồi nhạc chuyển vội về giọng mineure để nói rằng tiếng đàn
xui quên đời dương thế, tiếng đàn khao khát tình duyên:
Đàn xui ai quên đời dương thế,
Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên.
Cho mãi tới bây giờ Văn Cao mới hé cho ta thấy cuộc ái ân nổi
dậy giữa người tiên người phàm bằng cách quay lại với nhạc đề chính trong bài
ca:
Thiên Thai!
Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
A'i ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần...
Đàn phách lại nổi lên! Nhạc Văn Cao rộn rã một cách khác thường
trong đoạn này. Gió hắt đi những tiếng hát. Những tiếng hát này sẽ làm se lòng
người mỗi khi được nghe lại. Lưu Nguyễn quên trần hoàn rồi. Họ cùng bầy tiên đàn
ca một vài ba thế kỷ:
Gió hắt trầm tiếng ca
Tiếng phách dòn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta.
Đào Nguyên trước, Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm.
Nhớ quê chiều nào xa khơi
Chắc không đường về tiên nữ ơi...
Không nói đến sự trở về trần hoàn của Lưu Nguyễn khi nhớ quê,
không nói đến sự thất vọng của họ khi về tới cõi trần nơi đó chẳng còn ai biết
tới hai người nữa! Văn Cao bỏ qua sự đứng núi này trông núi nọ của họ, chỉ nói
tới sự quay về đường tiên của hai cụ già Lưu Nguyễn. Nhưng than ôi, Đào Nguyên
biến mất rồi! Chỉ còn rền lại tiếng ca của cõi tiên:
Gió hắt trầm tiếng ca
Tiếng phách dòn lắng xa.
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta.
Đào nguyên trước, Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao?
Những khi chiều tà trăng lên
Tiếng ca còn rền trên cõi tiên...
Tôi hiểu được bài học không biết chọn lựa của hai gã Lưu Nguyễn
trong bài Thiên Thai của Văn Cao.Vì không biết chọn lựa nên họ mất cả cõi tiên
lẫn cõi trần. Họ đang sống bơ vơ ở đâu?
Tuy viết ra một bản hát vừa có tính chất trường ca, vừa có
tính chất nhạc cảnh, nhưng Văn Cao không tả thực trong bài Thiên Thai này. Những
nhân vật chính của câu truyện như hai chàng Lưu Nguyễn, bầy thiên tiên hoặc những
cảnh vật như suối hoa đào, chiếc thuyền lan, nước ngọc tuyền, đều được mô tả một
cách rất mơ hồ. Giống như trong một giấc mộng vậy! Ta biết là có con thuyền chở
Lưu Nguyễn tới cõi Thiên Thai, có bầy thiên tiên múa hát dâng trái đào thơm...
nhưng ta không thấy được họ...
Khi cùng người yêu xây được ngôi nhà cỏ bên suối mơ hay trước
bến xuân với hai tình khúc trước, Văn Cao có thể mời đón chúng ta bước vào căn
nhà bên chiếc cầu soi nước để ngồi nhìn đàn nai đùa trên đống lá vàng khô.
Nhưng trong Thiên Thai, cõi mơ của Văn Cao, chúng ta không thể nào bước vào vườn
cấm này được. Đây là cõi riêng của Người Sông Ngự. Nhưng ta lại được tự do tuyệt
đối để nghe lên toàn thể tiếng đàn, tiếng hát vút lên từ đầu tới cuối của trường
khúc Thiên Thai, tiếng đàn hát mà tôi cho là của Trương Chi trong truyện cổ và
Văn Cao đã cho Thiên Thai mượn tạm. Tôi kết luận: Thiên Thai là cõi riêng của
Văn Cao. Trương Chi mới là tiếng hát của Văn Cao.
Nói tới Trương Chi thì nhớ lại thuở tôi còn nhỏ, ở Hà Nội thường
có những người đi hành khất bằng giọng hát, nghĩa là họ đến trước cửa từng nhà
để hát những câu chuyện cổ Việt Nam, hát xong thì ngửa tay xin tiền. Tôi vẫn nhớ
hình ảnh người ca sĩ ăn mày đó, miệng hát, tay đập vào cái hộp sắt bỏ trong túi
áo để gõ nhịp cho bài hát. Và hình như anh ta chỉ có một bài hát duy nhất để làm
vũ khí cho nghề đi ăn xin mà thôi. Đó là bài hát về anh Trương Chi:
Ngày xưa có anh Trương Chi
Người thì thậm xấu, tiếng hát thì thật hay
Cô Mỵ nương vốn ở Lầu Tây
Con quan Thừa Tướng ngày rày cấm cung...
Sau này, tôi thường cám ơn thầm người hành khất bằng giọng
hát đó, vì ngay từ khi tôi chưa có đủ trí khôn để hiểu biết cuộc đời thì anh ta
đã nuôi dưỡng tình cảm của tôi bằng một câu chuyện tình đẹp ngang với những
chuyện tình đẹp nhất trên thế giới.
Câu truyện cổ tích về anh Trương Chi người thì thậm xấu, tiếng
hát thì thật hay mà ca nhạc cổ truyền đã xưng tụng qua hình thức hát rong, hát
dạo, hát xẩm... cũng đã được các thi sĩ, văn sĩ của thời nay nhắc tới. Chẳng hạn
trong bài thơ BÀI CA NGƯ PHÚ của Vũ Hoàng Chương mà Hoàng Thư đã ngâm lên một
cách mê ly trên các Đài Phát Thanh ở trong nước cách đây mấy chục năm. Thạc Sĩ
Phạm Duy Khiêm viết truyện LE CRISTAL D'AMOUR bằng Pháp Ngữ, in trong cuốn
Légendes Des Terres Sereines. Thi sĩ Hoàng Cầm còn dùng truyện cổ đó để soạn vở
kịch thơ TIẾNG HÁT với nội dung không ai giam nhốt nổi tiếng hát.
Trong giới Tân Nhạc, có Hùng Lân viết bài Hận Trương Chi. Phạm
Duy viết bài Khối Tình Trương Chi và Văn Cao viết bài Trương Chi. Với bài hát
nói lên một nỗi hận, Hùng Lân không kể chuyện anh Trương Chi, ông chỉ mượn một
nhân vật tiêu biểu cho giới cầm ca để nói luôn đến chuyện Tử Kỳ và Bá Nha, chuyện
người hát hay, đàn hay mà không có người thưởng thức. Phạm Duy là tôi lúc còn ấu
trĩ, thì khách quan kể lại câu truyện cổ truyền. Riêng chỉ có Văn Cao là nói tới
nhân vật tài hoa truyền kỳ này, nói tới sự não nuột trong tiếng nhạc Trương
Chi, tới con người và số phận, đồng thời cũng là nói về mình!
Không phải bây giờ Văn Cao mới nói tới Trương Chi. Người Sông
Ngự đã đưa hồn Trương Chi vào hồn mình từ lâu rồi! Từ khi nói tới một trong những
chiều năm xưa có những cung đàn cũng năm xưa ấy réo rắt lên, bên một người con
gái đẹp mà... gót hài khai hoa, mắt huyền lưu Xuân, dáng hồng thơm hương đã khiến
cho Chàng Trương/Văn Cao phải đưa vào mộng mị:
Chiều năm nay
Tiếng người khơi thương
Tiếng đàn giao hoan
Giấc mộng chàng Trương...
Lúc đó, Văn Cao chỉ mới hé lộ cho ta thấy tâm hồn của anh là
tâm hồn của chàng ngư phủ thất tình họ Trương. Bây giờ, anh phát triển tiếng
hát câm lặng đó bằng một trường khúc não nuột nhưng cũng rất kiêu sa.
Bài hát mở đầu bằng câu nhạc dài hơi như trong Thiên Thai
nhưng nhạc trong Trương Chi có nhiều tính mô tả hơn:
Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ.
Vương vất heo may hoa yến mong chờ
Ôi tiếng cầm ca, Thu tới bao giờ...
Kiêu sa lắm chứ! Khi Văn Cao cho rằng từ lúc mới có Trời, có
Đất, khi chưa có Thơ thì đã có Nhạc rồi. Và chỉ có nhạc thì mới kéo được mùa
Thu tới cho loài hoa, loài chim, loài người. Rồi cũng với câu nhạc đó, Văn Cao
đưa tiếng nhạc của Trương Chi tới Mỵ Nương:
Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang
Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan
Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng
Đây đó từng song he hé đợi đàn...
Một nét nhạc khác cho ta thấy Mỵ Nương vui vẻ chờ đợi tiếng
hát:
Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân
Hò khoan mơ bóng con đò trôi.
Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi
Lả lơi bên trời...
Nét nhạc bây giờ vút lên, như tiếng nức nở của Trương Chi sau
khi Mỵ Nương bị thất vọng về cái nhan không có sắc của anh:
Anh Trương Chi
Tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung
Anh thương nhớ, oán trách cuộc từ ly não nùng.
Đò trăng cắm giữa sông vắng
Gió đưa câu ca về đâu?
Nhìn xuống đáy nước sông sâu
Thuyền anh đã chìm đâu...
Thưa rằng thuyền anh đã chìm sâu! Có nghĩa là anh đã gieo
mình xuống sông tự tử, nhưng oan hồn của anh còn đó khiến cho tiếng hát vẫn
không tắt nghỉ. Khách giang đầu còn được nghe mãi mãi tiếng than khóc của
Trương Chi:
Từng khúc nhạc xa vời
Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi
Sương thu vừa buông xuống
Bóng cây ven bờ xa mờ xoá dòng sông
Ai qua bến giang đầu tha thiết
Nghe sông than mối tình Trương Chi
Dâng úa trăng khi về khuya
Bao tiếng ca ru mùa Thu...
Nhưng Trương Chi có thực sự than khóc cái nghèo nàn, cái xấu
trai của mình không? Ta hãy nghe Văn Cao chuyển cung từ RE thứ qua SOL trưởng một
cách sướng tai vô cùng, để diễn tả giọt mưa rơi ngoài song cửa Mỵ Nương như rơi
trên những cung đàn huyền diệu. Mưa cũng rơi trên con thuyền ngoài dòng sông lạnh,
thuyền này chưa chắc đã là của Trương Chi:
Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn
Còn nghe như ai nức nở và than
Trầm vút tiếng gió mưa
Cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?
Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn
Về phương xa ai nức nở và than
Trầm với tiếng gió vương
Nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa...
Vào lúc Tân Nhạc mới chập chững biết đi mà Văn Cao đã viết được
những câu nhạc diễn tả giọt mưa tài tình như vậy, thật là hiếm có. Nếu ta nhận
ra được nét nhạc SOL trưởng trong đoạn mưa rơi trên cung đàn này là nhạc ngũ
cung thì ta lại càng yêu quý Văn Cao hơn lên.
Câu chuyện tình éo le nhưng rồi cũng kết thúc một cách đẹp đẽ:
Trương Chi chết đi nhưng vì cuộc tình chưa thoả cho nên trái tim không chịu tan
đi và hóa thành ngọc đá. Rồi người đời đem viên ngọc đó ra để làm thành một bộ
chén trà dâng tặng gia đình nhà quan. Trong một tiệc trà, Mỵ Nương bưng chén ngọc
lên, thấy hình ảnh chàng ngư phủ cất tiếng hát trong miệng chén. Thương nhớ con
người và giọng hát năm xưa, nàng rơi lệ! Giọt nước mắt nhỏ xuống chén ngọc. Thế
là mối oan tình từ bao năm nay đã được thỏa mãn. Và bây giờ thì chén ngọc, hay
là trái tim của Trương Chi mới chịu tan đi.
Văn Cao không đả động tới chuyện đó. Anh tiếp tục xoáy vào
nhân vật Trương Chi:
Đò ơi!
Đêm nay dòng sông Thương dâng cao
Mà ai hát dưới trăng ngà
Ngồi đây ta gõ ván thuyền ta ca trái đất còn riêng ta.
Đàn đêm thâu! Trách ai khinh nghèo quên nhau.
Đôi lứa bên giang đầu
Người ra đi với cuộc phân ly
Đâu bóng thuyền Trương Chi?
Như tôi đã nói, Văn Cao không kể lại câu chuyện Trương Chi/Mỵ
Nương. Anh chỉ tỏ thái độ của Chàng Trương sau khi thất tình, trước khi chết
cũng như sau khi chết:
Ngồi đây ta gõ ván thuyền
Ta ca trái đất còn riêng ta...
Tâm hồn tôi đẹp - vì tôi hát hay mà - nhưng hình hài tôi xấu,
người không yêu tôi à? Thì tôi vẫn có cuộc đời hay trái đất này để ra tuyên
ngôn: Trái đất còn riêng ta. Trách ai khinh nghèo quên nhau. Trách ai? Trách
chính quyền hay trách người đời không bao giờ dung nổi con người nghệ sĩ? Không
dung thì thôi! Ta vẫn còn riêng Ta. Đó là ý nghĩa của bài Trương Chi.
Người Việt Nam yêu nhạc, trải qua gần 50 năm lịch sử của Tân
Nhạc lúc nào cũng sẵn sàng bị phản bội. Không phải tới bây giờ, ở trong những cộng
đồng Việt Nam trên hải ngoại, những nhà tái bản sách nhạc, những con buôn của
nghề sản xuất lậu băng nhạc, những ca sĩ không biết tự trọng... luôn luôn khinh
miệt người sáng tác bằng cách sử dụng bừa bãi những tác phẩm làm bằng mồ hôi và
nước mắt của tác giả như: không xin phép, không trả tác quyền, không đề tên tác
giả trong bìa băng, không hát đầy đủ lời ca của tác phẩm. Ngay từ hồi Văn Cao
viết bài tình ca bất hủ Trương Chi này, người ta cũng không bao giờ chịu để ý tới
lời 2 của nhạc phẩm để in ra hoặc hát lên. Hôm nay, tôi có dịp để ghi lại những
lời ca đẹp như trái tim ngọc đá của ngư phủ họ Trương:
Từ ngày trăng mơ nước in thành thơ
Lạc loài hương thu thoáng vương đường tơ.
Ngây ngất không gian rên xiết lay bờ,
Bao tiếng cầm ca rung ánh sao mờ.
Nhạc còn lưu luyến nhắc ai huyền âm.
Lạnh lùng đôi dây tố lan trầm ngân
Trong lúc đêm khuya ai lóng tiếng cầm
Thu đã chìm xa xa ánh nguyệt đầm.
Khoan khoan đò ơi! Tương tư tiếng ca
Chàng Trương Chi cất lên hò khoan
Đêm thu dài đến, khoan tiếng nhạc ơi!
Nhạc ơi, thôi đàn!
Có một điều buồn đến với tôi khi hát lên lời 2 của bản Trương
Chi này. Văn Cao tiên tri cái ngày anh không được phép đàn hát nữa? Như đã xẩy
ra sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Đêm Thu dài đến, khoan tiếng nhạc ơi! Nhạc ơi,
Thôi đàn... Đêm Thu đến với Văn Cao, quả rằng nó đã quá dài. Dài tới ba mươi
năm có lẻ! Trong thời gian đó, Văn Cao là "Người Thăng Long Thành"
hay "Người Sông Ngự" thì cũng phải chết đi như Trương Chi, trái tim
anh có lẽ cũng đã thành viên ngọc đá. Tôi đã nhiều lần tự hỏi: Ai là người sẽ
nhỏ lệ lên trái tim Văn Cao?
Sau ba mươi năm bẻ bút, đập đàn Văn Cao, bây giờ vì trào lưu
tiến hoá của nhân loại, trước sự đòi hỏi và thắng lợi của cái đích thực gọi là
dân chủ, dân quyền, theo gót các nước xã hội chủ nghĩa đàn anh hay đàn em, chính
quyền Hà Nội đã chủ trương cởi mở và phục hồi điạ vị cho nghệ sĩ Văn Cao.
Xa cách nhau, bị cấm không được liên lạc với nhau trong một
thời gian dài hơn một đời người, vào mùa Xuân 1988, chúng tôi đã gửi cho nhau
những cái hôn bằng giấy mực. Qua một vài bức ảnh mới chụp, thấy Văn Cao lúc này
coi bộ yếu lắm, vì "Người Sông Ngự" uống rượu ghê quá! Vào cuối thế kỷ
20 này, tôi chúc anh có đủ sức khoẻ để cùng tôi bước qua thế kỷ mới. Xin anh tiếp
tục đàn ca nhé, vừa ca vừa vỗ mạn thuyền, như tôi đã bắt chước anh:
Ta ca trái đất còn riêng ta...
Mười chín
Đàn bao tuổi rồi
Đàn ca chẳng ngơi
Bao giây phút trong quãng đời
Tình tang tang tang tính tình
Tình tang tang tang tính tình
Của tình duyên số mạng người...
BẢN ĐÀN XUÂN - Lê Thương
Vở tuồng nòng cốt của gánh ĐỨC HUY là một vở tuồng xã hội
nhan đề Ông Già Nhà Ai do Charlot Miều thủ vai chính. Vở này do anh Miều viết
và dàn cảnh, đưa ra nhân vật ông già nhà quê, khi ra tỉnh thì bị cám dỗ bởi rượu
ngon, gái đẹp rồi sa đọa. Cuối cùng được cứu vớt. Trong vở tuồng có cảnh ông
già dẫn gái đẹp đi ăn cơm tại một tiệm ăn sang trọng, có âm nhạc và khiêu vũ.
Đây là lúc phải có một màn "phụ diễn", trước là vì nhu cầu của vở tuồng,
sau là để cho sân khấu ĐỨC HUY có thêm mới lạ.
Màn phụ diễn thường được gọi là màn attractions nghĩa là màn
lôi kéo khán giả. Gánh hát ĐỨC HUY đã mời "vũ sư" Phúc vào đoàn ngay
từ lúc mới thành lập gánh. Dân Bắc Kỳ đã mê lối nhảy claquettes của Fred
Astaire và Ginger Rogers từ lâu qua những phim ca vũ nhạc được chiếu trên màn ảnh
ciné. Ngay từ những năm 1936-38, trong gánh ƯNG LẬP BAN đã có màn nhảy thiết
hài của cô đào trẻ Bạch Tường. Trong thời gian tập tuồng tại Hải Phòng tôi đã
thấy vũ sư Phúc cầm roi để dạy cho hai em nhỏ, con gái của hai gia đình đào kép
trong đoàn, nhảy tâng tâng trên sân khấu với đôi giầy có gắn miếng sắt ở mũi đế
giầy. Tội nghiệp hai đứa bé, được nuôi dưỡng bằng rau muống và gạo hẩm, làm gì
có sức để phục vụ một môn vũ thuật phải vận dụng tối đa tất cả những bắp thịt ở
tay chân và thân hình. Ngay vị vũ sư Tầu lai này, gầy gò còn hơn tôi lúc đó, mỗi
lần nhảy xong một bài tap dancing là mặt tái mét, mồ hôi ra như tắm, thở hổn hển
như anh phu khuân vác vừa đổ một tạ gạo xuống lòng tầu ở Sáu Kho. Tôi thường gọi
đùa Phúc là "anh phải bỏng". Anh nhẩy claquettes giống như người đang
đi trên đường dẫm phải những cục than đỏ cho nên đôi chân phải dẫy dụa và nhảy
lên. Đã có lần không kiểm soát được sự thăng bẵng khi dẫy dụa, Fred Astaire của
Gánh ĐỨC HUY ngã quay cu lơ xuống chỗ ban nhạc ngồi ở avant scène, may mà
không chết như Charlot trong phim LIMELIGHT...
Rất vui vì được sống trong gánh hát, tôi ca hát tối ngày. Tiếng
hát lọt vào lỗ tai mọi người trong gánh hát. Một hôm, trong bữa cơm chiều, khi
đã hơi ngà say, anh Miều gạ tôi:
- Tối nay, chú Cẩn ra làm một phát phụ diễn chơi...
- Tôi hát ra cái gì mà hát với hỏng!
- Cứ thử coi.
Kép chính Nhật Thanh tức Quý, anh Dần mặt rỗ, Ân đàn cò nhao
nhao lên tiếng:
- Cẩn hát Bản Đàn Xuân được lắm!
- Hát đi...
Cô đào chính tên Tình, người đã hiến tình cho tôi ở balcon rạp
hát Trần Mỹ Ngọc một đêm mới đây cũng liếc tôi một cái thật dài và nũng nịu:
- Ư' ư! Con Thuyền Không Bến hay hơn!
Tôi thấy trong những đêm đầu ra mắt ở Hải Phòng, vì chưa nổi
tiếng, gánh ĐỨC HUY không đông khách lắm, nếu mình ra hát thì cũng không đến nỗi
sợ khán giả lắm đâu! Ừ, anh em muốn thì "moa" hát. Sợ gì?!
Tối hôm đó, trong vở tuồng Ông Già Nhà Ai, khi tới màn
Charlot Miều đưa cô gái tới ăn cơm tại nhà hàng Quốc Tế, sau màn nhẩy claquettes
của Phúc và hai em nhỏ, tôi ôm đàn guitare nhẩy ra sân khấu, không nhìn vào đào
kép đang đóng tuồng mà nhìn vào khán giả - nói cho đúng ra là nhìn vào khoảng
trống - không chào khán giả, không giới thiệu bài hát và cũng không có ai giới
thiệu tôi là ai cả. Rồi tôi rú lên:
Đàn xuân tủi lòng
Nẩy cung đợi mong
Reo ai oán trong khuê phòng
Tình tang tang tính tính tình
Tình tang tang tính tính tình
Lạnh lùng hơn gió ngoài đồng...
Chọn bài Bản Đàn Xuân của Lê Thương để hát trong đêm-đầu tiên
ra sân khấu, tôi không ngờ tôi chọn đúng một bài Tân Nhạc không xa lạ với lỗ
tai (hay sự thẩm âm) của giới bình dân Việt Nam. Giai điệu của bài này - cũng
như một số những bài Tân Nhạc ra đời vào lúc đó - nằm trong nhạc ngũ cung, lơ
lớ như điệu hát sa mạc rất quen thuộc. Lại có thêm những tiếng đệm tình tang
tang tính tính tình làm cho bài hát hết sức gần gũi với nhạc bình dân cổ truyền.
Cùng với đào kép trong vở tuồng đang ngồi trên sân khấu, khán giả ngồi dưới kia
vỗ tay hoan nghênh anh ca sĩ gầy gò đeo kính cận thị hát một bài hát sa mạc mới!
Nhờ ở bài hát nhiều hơn là nhờ ở giọng hát. Thế là bước đầu tiên đã được trả
giá. C'est le premier pas qui coute. Một cái giá không có gì là đắt cả! Tôi chẳng
mất gì, còn được thêm cái vỗ tay ầm ầm làm mình nở mũi. Gánh hát không mất một
xu teng nào cho tôi cả mà có thêm một mục attraction mới lạ.
Sau vài buổi ra mắt thành công như vậy, Charlot Miều quyết định
tôi sẽ hát Tân Nhạc thường xuyên trên sân khấu, không cứ gì trong vở Ông Già
Nhà Ai. Bởi vì có phải đêm nào cũng hát vở này đâu? Trong những đêm hát với các
vở khác trong đó không có cảnh "hát phụ diễn ở nhà hàng" thì có riêng
một màn để tôi hát Tân Nhạc, hát ở ngoài màn nhung (avant scène) trong khi anh
Thuận hạ màn để đổi cảnh.
Bây giờ tôi cần có một cái tên để người trong gánh hát giới
thiệu sự xuất hiện trên sân khấu của một trong hai người hát Tân Nhạc đầu tiên
trong gánh Cải Lương (người khác là Tino Thân tức Canh Thân trong gánh ÁI
LIÊN, lúc đó đang lưu diễn ở Thái Bình) cũng như để làm quảng cáo trên biển ngữ
hay trong những tờ chương trình bươm bướm. Trong một buổi ngồi uống cà phê
trong rạp hát, anh em bàn tàn về cái tên nghệ sĩ của tôi. Charlot Miều đề nghị:
- Hoàng Đức, được không? (vì trong đó có chữ ĐỨC và một chữ
gần giống như HUY).
Bà Miều góp ý kiến:
- Bên Ái Liên có Tino Thân thì mình cũng phải có Tino Cẩn
chứ?
- Hay là Mộng Vân? Tôi nói. Vì đã tự đặt cho mình cái tên
"cải lương" này từ lâu rồi!
Ba Hội người Huế, bảo hoàng hơn vua:
- A lê! Đặt tên là Bửu Cẩn.
Sau một hồi bàn tán, tôi xin cắt bỏ tên thật, dùng tên họ làm
tên nghệ sĩ. Chỉ cần một cái tên hai chữ cho dễ gọi, dễ nhớ. Thế là tên tục (Cẩn)
do cha mẹ đặt cho, tên phụ (thằng Tôm, chú Tiểu) do họ hàng gán cho đã biến đi.
Cái tên, đúng là phải do mình tạo nên. Tôi chỉ hơi phiền là lúc đó tôi không
tiên đoán được những ngày phải sống ở Hoa Kỳ như hiện nay, mỗi lần có ai gọi điện
thoại hay có nhân viên hàng không réo tên ở phi trường thì tên mình được gọi là
Fem Đai!!! Nghe tức cái lỗ tai quá!
Trên sân khấu ĐỨC HUY, sau khi thấy được ngay bí quyết để
thành công với bài Bản Đàn Xuân của Lê Thương, tôi hát bài Con Thuyền Không Bến
của Đặng Thế Phong. Bài này cũng được soạn trên âm giai ngũ cung. Trong bài hát
có câu "trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng" tôi bèn thêm hai chữ
"ai ơi" vào sau hai chữ "sông Thương". Nghe càng có vẻ Việt
Nam hơn nữa trong một bản Tân Nhạc!
Khởi đầu cuộc đời ca hát của mình, tôi chỉ có hai bài đó để
trình diễn mỗi đêm. Những bài hát khác, hoặc là của tôi như bài Cô Hái Mơ hay của
các nhạc sĩ khác như Tâm Hồn Anh Tìm Em (Dương Thiệu Tước), Cô Lái Thuyền Mơ
(Dzoãn Mẫn) không phù hợp với nơi phổ biến là sân khấu và đối tượng là đại
chúng. Đó là những bài hát chỉ phù hợp với thứ văn nghệ salon, văn nghệ bỏ túi.
Chẳng ai dạy mà tôi nắm ngay được kỹ thuật hát trên sân khấu.
Tôi thấy khi mình đứng hát trên sân khấu, khán thính giả ngồi gần mình nhất
cũng từ 4 tới 5 thước. Khán giả ngồi ở giữa rạp hay ở cuối rạp thì còn xa mình
tới 20 hay 30 thước là ít. Vậy thì ca sĩ phải "cường điệu hoá" lối
hát của mình. Lúc đó làm gì có micro, ampli và speaker? Ca sĩ phải mở to miệng
ra, phải dùng cặp môi để uốn nắn từng chữ trong mỗi câu hát. Bộ mặt phải diễn tả
tính tình của bài hát. Có khi phải dùng cả thân hình và tay chân nữa. Bài hát
trên sân khấu phải có những nét tình cảm phóng đại, không thể là thứ tình cảm tế
nhị, cao siêu. Hát hai bài Bản Đàn Xuân, Con Thuyền Không Bến thì phải dùng
"tiểu sảo", nhấn mạnh vào những tiếng đệm tình tang tang tính tính
tình và ai ơi...
Đúng vào lúc khởi đầu nghề hát rong của mình, tôi có may mắn
được gặp Văn Cao. Trong mấy bài hát anh ta vừa mới soạn ra là Thu Cô Liêu, Cung
Đàn Xưa và Buồn Tàn Thu, chỉ có bài Buồn Tàn Thu là có đủ yếu tố để dễ dàng
thành công trên sân khấu. Bài này là một bài hát buồn, tuy rất ngắn nhưng có đầy
đủ những hình ảnh như: mùa Thu chết - và không phải chỉ chết có một lần -
sương rơi, gió thổi, lá vàng bay, người cô phụ ngồi đan áo và thương nhớ người
tình đã ra đi hay đã quá cố, bóng chim uyên... Rất lãng mạn, rất hợp thời.
Ngày còn ở Nhã Nam, Yên Thế, khi học hát những bài hát quan họ,
tôi đã nhận ra cái hay trong lối ngân giọng và trong lối dùng những âm đệm
"hư hứ hư hừ hừ" rất đặc biệt của loại dân ca-tình ca-hát hội này.
Tôi lại còn thấy kỹ thuật ngân giọng của Việt Nam khác với kỹ thuật ngân giọng
của Tây Phương. Hát Ả Đào thì phải "hãm giọng", hát quan họ phải
"rung đổ hột". Tôi bèn áp dụng lối "rung đổ hột" và lối
dùng "âm đệm" vào việc hát bài Buồn Tàn Thu:
Đêm hí hi hì mùa Thu chết
Nghe hí hi hì mùa đang rớt
Rơi theo lá há ha hà vàng...
Tôi vẫn cho tiếng Việt là một trong những thứ tiếng có nhiều
vần và nhiều âm thanh nhất. Tiếng Nhật, chẳng hạn, không phát âm được vần
"r" (rờ). Tuy chỉ có 5 dấu nhưng tiếng Việt có tới 8 thanh khác
nhau:
phù bình thanh, gồm những tiếng không có dấu;
trầm bình thanh, tiếng có dấu huyền;
phù thượng thanh, tiếng có dấu ngã
trầm thượng thanh, tiếng có dấu hỏi
phù khứ thanh, tiếng có dấu sắc
trầm khứ thanh, tiếng có dấu nặng
phù nhập thanh, tiếng có dấu sắc, đằng sau có c, ch; p, t
trầm nhập thanh, tiếng có dấu nặng, đằng sau có c, ch; p, t
Bây giờ, tôi thêm "âm đệm" vào một câu hát là tôi
làm cho giai điệu của bài hát phong phú hơn.
Gánh hát từ biệt Hải Phòng vào một buổi sáng tinh mơ. Tôi đã
thuê được hai chiếc xe ô tô ca lớn, một chiếc chuyên chở đồ tuồng, phông cảnh,
hành lý, một chiếc chuyên chở đào kép rồi sau khi đồ đạc, người và chó (vợ chồng
Ân nuôi chó) chồng chất lên nhau, hai chiếc xe ca phành phạch chạy trên đường
cái vắng vẻ.
Đoàn hát không ngừng lại trình diễn ở Kiến An, một tỉnh lỵ chỉ
cách Hải Phòng trên 10 cây số và là nơi tôi đã sống với gia đình ông bà Tổng Đốc
trong một thời gian.Tôi hơi tiếc vì tôi vẫn nhớ tới cái thị xã bé nhỏ và buồn
thỉu buồn thiu, nơi tôi đã để lại một phần nhỏ của đời sống.
Sau khi qua khỏi Ninh Giang, trên con đường cái đã không còn
hiu hắt nữa, xe chạy bon bon giữa những làng xóm của vùng đông dân nhất ở Bắc
Việt là Thái Bình. Cũng như những tỉnh nằm ven biển vịnh Bắc Việt, Thái Bình có
nhiều sông ngòi và những con rạch. Ba con sông lớn chảy qua tỉnh này là sông Hồng,
sông Luộc và sông Trà Lý. Vì nước sông Hồng từ mạn ngược chảy về tới đây được
chia bớt cho những con sông khác nên dòng nước không còn hung hăng nữa, hai bên
bờ sông đã không cần phải đắp đê đề phòng lụt nữa.
Thái Bình có vẻ trù phú với những cánh đồng phì nhiêu và là
nơi sản xuất nhiều chiếu nhất Bắc Việt. Khung cảnh đồng quê ở đây được tô điểm
thêm bẵng mầu sắc lộng lẫy của hàng ngàn mảnh chiếu mà dân chúng phơi nắng hai
bên đường. Tỉnh lỵ Thái Bình nằm ngay cạnh sông Trà Lý. Dân chúng chen vai
thích cánh trên đường phố và trong chợ. Trong tỉnh có tới 200 cái chợ. Chợ to
nhất là Chợ Bo. Rạp hát ngay cạnh chợ. Những đêm diễn ở đây, gánh ĐỨC HUY có
nhiều khách tới coi hơn là lúc diễn ở Hải Phòng. Tuồng tích đã được diễn viên
thuộc lầu hơn. Tôi đã hơi quen sân khấu. Rất bận bịu vì phải làm hai công việc
hành chánh và trình diễn nhưng tôi thấy sảng khoái vô cùng. Theo lệnh anh Miều,
việc tiền đạo giao cho anh Chúc, người cũng có kinh nghiệm về việc này, để tôi
luôn luôn có mặt trong những đêm hát. Không có ai để làm bạn trong những ngày
Thái Bình nhưng dì ruột tôi lấy chồng làm Tham Tá ở đây, tôi có dịp tới nhận họ
và được hưởng phần nào không khí ấm cúng của gia đình.
Sau một tuần lễ trình diễn - đêm nào cũng diễn chứ không phải
chỉ diễn trong những đêm cuối tuần - gánh hát di chuyển qua Nam Định. Vì không
có một cái cầu lớn nào bắc qua con sông Hồng rộng rãi ở giáp giới hai tỉnh Thái
Bình Nam Định, xe ca chuyên chở gánh hát phải xuống phà bến Tân Đệ. Cũng như những
bến phà khác, ở đây có rất đông hàng quà. Và cũng có rất đông những người ăn
mày.
Nam Định là nơi xuất thân của các nhân tài thời trước khi các
ngài phải thi lọt qua Trường Thi Hương được thành lập ở đây từ 1845. Trong quá
khứ, Nam Định nổi danh là đất văn học. Những người đỗ đạt tới bậc đại khoa thường
xuất xứ từ làng Hành Thiện. Đại văn hào như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương đều là
những người sinh trưởng ở Nam Định.
Tỉnh lỵ Nam Định là thành phố lớn thứ ba tại Bắc Việt, sau Hà
Nội và Hải Phòng nhưng cũng không thua Hải Phòng về mặt kỹ nghệ. Ở đây có nhiều
xưởng sản xuất lớn như Nhà Máy Rượu, Nhà Máy Sợi, Nhà Máy Tơ... Việc thương mại
cũng phát đạt nhờ sự giao thông rất tiện lợi giữa Nam Định và các tỉnh khác bằng
đường bộ hay đường thủy. Đường xe lửa xuyên Việt phải đi qua Nam Định. Đây còn
là nơi có rất đông người theo đạo Công Giáo. Nhà thờ mọc lên tại khắp các thị
trấn lớn nhỏ và tại các làng xã. Trong tỉnh lỵ có trên 150 cái chợ, chợ lớn nhất
là chợ Rồng. Rạp hát cũng ở gần chợ. Tôi lại được hòa mình trong đám đông dù là
ban ngày đi dạo phố hay là ban đêm khi tiếng nhạc, tiếng hát nổi lên trong rạp
hát chật cứng người coi.
Trong làng Tân Nhạc Việt Nam, một số các nhạc sĩ tiền phong
là người Nam Định. Đó là Đặng Thế Phong, Bùi Công Kỳ, Đan Thọ, Hoàng Trọng. Khi
tôi tới Nam Định cùng gánh ĐỨC HUY, các thanh niên này tìm đến tôi ngay. Vào
thời đại đa số các nhạc sĩ amateur đều là những thanh niên thất nghiệp bởi vì,
nói theo người Pháp, la musique ne nourrit pas son homme = âm nhạc không nuôi
được người đánh nhạc, hơn nữa ai cũng sợ bị mang tiếng xướng ca vô loài nên khi
thấy tôi sống được với nghề hát nhạc cải cách ở trên sân khấu thì các nhạc sĩ
tài tử đến nghe tôi hát. Bùi Công Kỳ đã có vẻ rất đãng tử. Đan Thọ kéo violon rất
mùi. Hoàng Trọng đã soạn ra những bài tango rất hay... Đây cũng là lúc Đặng Thế
Phong đã qua đời. Ít người biết tới tiểu sử của anh. Ngay tôi, lúc tới Nam Định,
cũng không tò mò hỏi những bạn tôi mới làm quen về tác giả của những bản Đêm
Thu, Con Thuyền Không Bến và Giọt Mưa Thu. Mãi tới năm 1962 mới thấy in ra tiểu
sử của Đặng Thế Phong, ở mặt sau của bài Con Thuyền Không Bến do nhà xuất bản
Tinh Hoa ấn hành. Thấy thời thơ ấu của anh cũng na ná như của Văn Cao và của
tôi:
Đặng Thế Phong sinh năm 1918, thứ nam của cụ Đặng Hiển Thể,
thông phán Sở Trước Bạ thành phố Nam Định, là con thứ hai của một gia đình có
sáu anh em, hai trai bốn gái. Thân phụ mất sớm, gia đình thiếu thốn, ông phải bỏ
dở học vấn khi đang học lớp 2ème année P.S. (bây giờ là lớp Đệ Lục bậc Trung Học
Phổ Thông). Ông có lên Hà Nội theo học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật với tư cách
bàng thính viên. Trong một kỳ thi, ông vẽ tranh cho báo HỌC SINH (chủ bút là Phạm
Cao Củng) như tranh các truyện Hoàng Tử Sọ Dừa, Giặc Cờ Đen để lấy tiền ăn học.
Mùa Xuân năm 1941 ông có đi Saigon rồi Nam Vang. Ơ' Nam Vang ông có mở một lớp
dạy nhạc. Đến mùa Thu 1941 ông lại trở về Hà Nội. Lúc sinh thời Đặng Thế Phong
là một nhạc sĩ rất nghèo nên cuộc sống của ông thật là khổ cực, chật vật. Ngoài
tài sáng tác, ông còn là một ca sĩ, tuy chưa hẳn được là ténor nhưng giọng hát
khá cao, đã nhiều lần ra sân khấu mà lần đầu tiên ông hát bài Con Thuyền Không
Bến tại rạp chiếu bóng Olympia (phố Hàng Da) Hà Nội năm 1940. Đến đầu 1942 thì
ông từ giã cõi đời tại nhà, trên một căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng vì bịnh lao
(tuberculose péritonique). Ông hưởng thọ được 24 tuổi.
Tôi vẫn cho Đặng Thế Phong là người đầu tiên đưa ra những bài
hát lãng mạn và Văn Cao là người phát triển đến tột độ loại nhạc lãng mạn đó.
Ngay từ lúc đầu mùa của Tân Nhạc, ba hay bốn năm trước Văn Cao, trong khi các
nhạc sĩ khác như Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Văn Chung, Lê Yên... chỉ làm ta
rung động vì những bài hát về thiên nhiên thì Đặng Thế Phong dắt ta đi thẳng
vào lòng người.
Thời đại của những năm cuối thập niên 30 là thời đại của bà
Tương Phố trong phạm vi thơ (Giọt Mưa Thu) và của Hoàng Ngọc Phách trong phạm
vi tiểu thuyết (Tố Tâm) còn rớt lại, đồng thời cũng là thời đại của các thi
nhân, văn nhân lãng mạn đang nổi tiếng như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Nhất Linh,
Khái Hưng, Lê Văn Trương.
Nếu đã có người nói rằng bất cứ một người Việt Nam nào cũng
là một thi sĩ thì tôi cũng có thể nói rằng bất cứ một nhạc sĩ nào, vào lúc Tân
Nhạc mới thành hình, cũng là nhạc sĩ soạn nhạc lãng mạn cả. Miền Bắc Việt là
nơi có đầy đủ bốn mùa và mùa Thu ở đây thì nên thơ không thua gì mùa Thu ở
Paris hay ở Đông Kinh, Nam Kinh, Bắc Kinh gì đó...
Trong ba nhạc phẩm của Đặng Thế Phong và cũng là ba bài trong
số những bản nhạc tình đầu tiên của Tân Nhạc Việt Nam, ta đều thấy mùa Thu hiển
hiện một cách bàng bạc, lung linh, quyến rũ. Bài Đêm Thu được soạn với nhạc thuật
Tây Phương dùng nhịp valse chậm để diễn tả lòng người trước cảnh đêm Thu vắng vẻ:
Vườn khuya trăng rãi hoa đứng im như mắt buồn
Lòng ta xao xuyến lắng nghe lời hoa.
Cánh hoa vương buồn trong gió
Ánh hương yêu nhẹ nhàng say, gió lay...
Với giọng mineure rất đẹp Đặng Thế Phong dẫn ta vào một vườn
trăng để, cũng như Lê Thương trong bản đàn xuân, tình tự với hoa. Nhưng có lẽ Đặng
Thế Phong thấy trước được mệnh yểu của mình nên muốn mở lòng ra thật rộng để
thâu tóm vào tất cả cảnh vật chung quanh, từ tiếng côn trùng trong gió tới ánh
sao trong vũ trụ. Ca khúc có hai phần, một phần theo âm hưởng mineure của Tây
Phương, một phần nghiêng hẳn về nhạc ngũ cung Việt Nam:
Đêm lắng buồn tiếng Thu như thì thầm
Trong hàng cây trầm mơ.
Làn gió lướt tới cuốn đưa hồn ta phiêu diêu
Theo mây trắng trôi lờ lững
Ngàn muôn tiếng réo rắt
Côn trùng như than van
Mơ hồ theo gió lan.
Trăng xuống dần cỏ cây thêm âm thầm
Dâng buồn trong ánh sao
Như chiếu nhìn mắt ta bao lạnh lùng
Lay hồn ta rồi tan...
Qua tới bài Con Thuyền Không Bến, nhà nghệ sĩ không còn đứng
trong khu vườn nhỏ nữa, anh dắt ta ra trước cảnh Thu về trên một dòng sông:
Đêm nay Thu sang cùng heo may
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng
Như nhớ thương ai trùng tơ lòng...
Dường như Đặng Thế Phong đã nói lên được tâm trạng của thanh
niên nam nữ trong thời đại. Bơ vơ lạc lõng như con thuyền không bến. Nhưng phải
là con thuyền trôi trên một dòng sông dân tộc, dòng sông Thương - ai ơi - nước
chảy đôi dòng. Quan trọng nhất là phải trôi trong một mùa Thu Việt Nam có gió
heo may, có sương lam ở chân mây, có gió van thông ngàn và có ánh trăng mờ chiếu...
Nếu là con thuyền trôi trong mùa Hè thì chưa chắc bài hát có thể quyến rũ và ám
ảnh chúng ta từ lâu và mãi mãi được:
Lướt theo chiều gió
Một con thuyền theo trăng trong
Trôi trên sông Thương (ai ôi) nước chảy đôi dòng.
Biết đâu bờ bến?
Thuyền ơi thuyền, trôi nơi đâu?
Trôi trên sông Thương
Nào ai biết nông sâu...
Thật là huyền diệu đối với tôi! Đã âm ư trong lòng bài hát
tuyệt mỹ này khi trôi ngược dòng sông Thương bên đục bên trong, mà tôi biết có
khi nông, có khi sâu, trên một con thuyền có bến hẳn hòi, ra đi từ bến Phủ Lạng
Thương tới bến Bố Hạ. Rồi chỉ sau đó ít lâu lại được hát bài đó ngay tại quê
hương của người soạn ra bài hát và hát công khai trước một cử toạ bình dân chưa
chắc đã biết tới tận cùng giá trị của bài hát trong giai đoạn Tân Nhạc hãy còn
bụ sữa.
Bài Con Thuyền Không Bến còn có một ưu điểm là được soạn với
giai điệu nghe như hát sa mạc hay ngâm Kiều. Nhạc sĩ Pháp Debussy, khi đi tìm
chất liệu mới trong nhạc ngũ cung, đã có một câu nhạc tương tự như nét nhạc của
câu hát mở đầu ''Đêm nay Thu sang cùng heo may''. Ngoài ra, trong Con Thuyền
Không Bến còn có những đoạn hát với "nhịp chỏi" (syncope), một thứ nhịp
ta thường thấy trong những bản hát Chèo:
Nhớ khi chiều sương
Cùng ai trắc ẩn tấm lòng.
Biết bao buồn thương
Thuyền (syncope) mơ (syncope) buông xuôi dòng
Bến mơ dù thiết tha (syncope)
Thuyền ơi! Đừng chờ mong!
Ánh trăng mờ chiếu
Một con thuyền trong đêm thâu
Trên sông bao la
Thuyền mơ bến nơi đâu?
Thuyền mơ tới nơi đâu? Lạy Chúa! May mắn hơn anh nhạc sĩ xấu
số họ Đặng, ngay từ lúc đó tôi đã biết thuyền mơ của tôi sẽ trôi tới bến nào,
khi tôi bất chấp sự khinh rẻ của xã hội đối với những kẻ xướng ca vô loài và cầm
đàn đi vào đại chúng. Lại cả gan đứng hát trên một sân khấu Cải Lương khi miệng
đời đã có câu nguyền rủa: ba thằng kép hát tới nhà mi. Trong quá khứ, người ta
thường cho rằng: ai vô phúc thì mới bị đào kép tới nhà. Sinh hoạt hằng ngày với
các bạn trong gánh hát ĐỨC HUY, đôi khi tôi cũng chứng kiến những hành động
hơi thấp kém của đào kép Cải Lương, vốn là những người có đời sống rất buông thả.
Biết vậy nhưng tôi không dám dạy đời ai cả, chỉ tự khuyên mình không nên giống
họ!
Từ khu vườn nhỏ ra tới sông dài, sông rộng, bây giờ Đặng Thế
Phong còn đi xa hơn nữa, đi tới cuối cuộc đời của mình qua một ca khúc mà mới đầu
anh định đặt tên là Vạn Cổ Sầu. Đó là bài Giọt Mưa Thu:
Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi
Trời lắng u sầu mây hắt hiu ngừng trôi.
Nghe gió thoảng mơ hồ
Trong mưa thu ai khóc ai than hờ...
Bây giờ mùa Thu đối với anh là một sự chia ly, sự chết chóc,
dương thế trong mùa Thu bao la sầu, gió sẽ thổi về, mưa sẽ giăng mù lê thê và
chim non trên cành hay vợ chồng Ngâu sẽ mãi mãi khóc vì Thu...
Vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành
Như nhủ trời xanh
Gió ngừng đi
Mưa làm chi
Cho cõi đời lâm ly.
Hồn Thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che, gió về
Ai nức nở thương, đời châu buông mau
Dương thế bao la sầu...
Nghe như bản Nhạc Sầu trong thơ Huy Cận:
Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế
Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường...
Từng tiếng lệ: ấy mộng sầu lá úa
Chim vui đâu? Cây đã gãy vài cành...
Trong bài Giọt Mưa Thu Đặng Thế Phong dung hợp cả hai âm giai
thất cung Tây Phương và ngũ cung Việt Nam để nói lên cái hắt hiu, cái lâm ly,
cái xa xôi của mùa Thu ngoài đời và trong đời mình.
Mùa Thu sẽ còn được xưng tụng nhiều lần trong Nhạc Sử Việt
Nam, khi thì làm cho một cuộc Cách Mạng có thêm chất lãng mạn (Nhạc Tuổi Xanh)
khi thì nói tới cái chết của một cuộc tình (Mùa Thu Chết) nhưng vào buổi bình
minh của Tân Nhạc này, ta đã có một bài hát sâu sắc thâm trầm, tê tái như bài
Giọt Mưa Thu, ta chỉ còn biết tiếc thương cho người nghệ sĩ tài hoa bị thần bệnh
cướp đi khi tuổi còn thanh xuân.
Về phương diện nhạc ngữ, với Giọt Mưa Thu, Đặng Thế Phong còn
cho ta một bài học về sự chuyển thể trong ca nhạc Việt Nam. Lối hành âm từ giọng
Mi mineur qua La majeur ở trong nhiều đoạn chẳng khác chi lối chuyển thể trong
loại hát bồng mạc, sa mạc. Nếu nghiên cứu theo lối Tây Phương thì ca khúc được
xây dựng trên mode dorien rất gần gũi với một dạng trong ngũ cung A³ Đông. Âm vực
của bài này rất rộng, nét nhạc đi từ nốt SI trầm vói lên tận SOL cao, cốt ý diễn
tả cái sầu thiên cổ trong mùa thu, có mưa rơi không bao giờ ngừng.
Chưa chắc Đặng Thế Phong đã soạn những bản nhạc mùa Thu của
ông tại Nam Định vì thành phố này không có gì là buồn bã âu sầu cả. Tôi thích dạo
phố một mình tại nơi đào tạo ra các bậc sĩ tử khi xưa. Thành phố nằm trên đường
xe lửa xuyên Việt và có một nhà ga lớn. Từ đây vào tới Saigon, qua từng chặng một,
gánh hát của chúng tôi sẽ dùng xe lửa để di chuyển.
Đã tới ngày gánh hát phải tạm biệt thành phố sầm uất này rồi!
Có bao nhiêu khán giả thì họ đã đi coi đủ hết các tuồng của gánh ĐỨC HUY rồi!
Anh Chúc tiền đạo đã trở về Nam Định và cho biết:
- Không hát được ở Ninh Bình. Vì kẹt rạp. Hiện nay đang có
gánh ÁI LIÊN hát ở đó. Ta đi vào thẳng Thanh Hóa thôi. Tôi đã thuê được rạp rồi!
Hai mươi
Núi Hồng Lĩnh mây tuôn ngũ sắc
Cảnh Bồng Lai vằng vặc bóng trăng soi
Ca Dao Nghệ An
Đi tầu hỏa hay tầu thủy là một cái thú đối với anh thanh niên
đi giang hồ mấy năm về trước ở Bắc Giang hay ở Moncay. Nhưng bây giờ đi trong một
gánh hát rong với hàng tấn đồ nghề và bầu đoàn thê tử của một đống đào kép
trong thời kỳ bom Mỹ tới đánh phá Đông Dương vì tại đây có Quân Đội Nhật... thì
thật là một cái khổ! Đưa chúng tôi vào Thanh Hóa, sợ phi cơ Mỹ bay tới bắn, tầu
hoả phải chạy ban đêm. Cầu Hàm Rồng trên sông Mã đã bị bom làm cho hư hại. Hành
khách phải xuống tầu bên này sông, leo qua cái cầu làm bằng những mảnh gỗ để
lên chuyến tầu khác bên kia sông. Lối đổi tầu này được gọi là trans-bordement.
Đổi tầu vào nửa đêm, khiêng đồ nặng như vậy mà không có ai ngã xuống sông cũng
thật là lạ.
Tầu hỏa chạy trong đêm, tôi không thấy được phong cảnh của miền
Thanh Hóa để hiểu vì sao mà người xưa lại có câu ca dao:
Ăn chanh ngồi gốc cây chanh
Lấy anh thì lấy, về Thanh không về...
Để đền bù lại, sau này đi kháng chiến, tôi được ở lâu với xứ
Thanh để sống với cảnh vật và để... lấy vợ ở đây luôn.
Thành phố Thanh Hóa khá lớn nằm dài theo đường thuộc địa số
1. Rạp CINEAC ở phố Trịch Điền gần nhà máy điện là một rạp chiếu bóng nhưng
anh tiền đạo Chúc đã thuê để gánh ĐỨC HUY tới hát vì rạp này sạch sẽ và có nhiều
chỗ ngồi hơn các rạp ĐẮC THỊNH (của một trong các tổ sư của ngành Hát Chèo là
ông trùm Thịnh) hay rạp CỬA HẦU chẳng hạn. Cũng như ở mọi tỉnh khác, nhân viên
gánh hát ăn ngủ ngay trong rạp. Đã là ca sĩ thực thụ, tôi không phải lo việc
hành chánh nữa. Tôi cũng không phải leo lên xe ngựa hay xe cao su, chạy quanh
quanh trong thành phố để gõ trống gõ chiêng, tung chương trình bươm bướm với thằng
Cõn hay với anh Thuận.
Cho tới bây giờ tôi đã vững tin trong sự chọn lựa làm một anh
hát rong của thời đại. Đã có sáng tác dù mới chỉ là một bài đã hoàn tất và nhiều
bài còn dang dở, đã đứng ra hát tại tiền trường sân khấu dù nhạc mục chỉ có dăm
bảy bài, đã được cả hai giới trí thức và bình dân chấp nhận ở cả hai địa bàn
văn nghệ salon và văn nghệ đại chúng. Từ nay trở đi tôi cần phải được bồi dưỡng
thêm rất nhiều trong cả ba địa hạt sáng tác, ca diễn và học hỏi về âm nhạc của
tôi.
Sự học hỏi của tôi về nhạc thuật theo đường lối Âu Tây chỉ mới
đóng khung trong sự nghe đĩa nhạc cổ điển của anh Khiêm mang từ Pháp về, trong
sự đọc ngấu nghiến những bài học nằm trong cuốn sách dạy nhạc của LAVIGNAC tôi
mua được ở Hà Nội từ lâu, nay là sách gối đầu ghế bố. Trong sự mò mẫm tự học
đánh guitare và sự hoà đàn hằng đêm với ban nhạc Tây ở trong gánh hát. Tôi đã
thuộc lòng nhiều bản nhạc hòa tấu là những bản nhạc bán cổ điển hay nhạc khiêu
vũ rất nổi danh. Về nhạc cổ truyền, ngoài việc được nuôi dưỡng bởi những đám
hát xẩm ở phố Bờ Hồ, bởi nhạc đàn tranh của bà Ám Chung ở phố Hàng Dầu
trong những năm còn bé, như hát quan họ ở Nhã Nam khi tôi là một anh nông dân
đa tình... bây giờ tôi được nuôi dưỡng thêm bởi những nhạc bản nằm trong nhạc mục
Cải Lương và bởi loại dân nhạc địa phương. Tôi mang ơn những ngày theo gánh
ĐỨC HUY đi khắp mọi nơi trong nước và có dịp thâu tóm được hầu hết các bài dân
ca cổ truyền để từ đó soạn ra dân ca mới. Trường ĐẠI HỌC ÂM NHẠC của tôi, đó là
những chuyến đi vào nhân dân bằng gánh hát rong này vậy.
Những ngày Thanh Hóa, tôi thích ra bờ sông Mã để nghe một loại
hò trên nước - dân ca Việt Nam có hai loại hò là hò trên cạn và hò trên nước
- được gọi đích danh là hò sông Mã hay hò xuôi dòng:
Vắng anh có một chuyến đò
Trầu ăn không có, chuyện trò thì không.
Về nhà cha đánh mẹ hò
Thì em cũng chẳng bỏ anh trai đò được đâu...
Ngồi nghe hò và được ăn món "phi" của địa phương
ngon tuyệt trần. Đó là những con nghêu dài như ngón tay và trắng như mực, ăn
vào thấy dòn chứ không dai như mực.
Thanh Hóa cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử như Lăng Vua
Lê Lợi, Thành Nhà Hồ nhưng tôi thích đi coi hang Từ Thức ở Nga Sơn hơn. Và tiếc
rằng một người như Văn Cao, thành công với truyện Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai mà
không có thêm một bài nữa cho người tình họ Từ, cởi áo gấm ra để chuộc tội làm
gãy cành mẫu đơn của người đẹp mang tên Giáng Tiên. Cùng với chị Miều, tôi đi lễ
ở Đền Sòng Phố Cát. Khi còn bé, tôi đã được mẹ cho đi lễ ở đền thờ bà Chúa Liễu
Hạnh rồi. Tôi mê nhất cái hồ nhỏ với những con cá mầu đỏ lớn gần bằng bắp tay
vui mừng lượn đi lượn lại trong hồ nước xanh rêu. Tôi cũng đi với Trường violon
ra chơi Sầm Sơn để biết thêm cảnh mưa lạnh của một bãi biển đã nổi danh vì cuốn
tiểu thuyết TRỐNG MÁI của Khái Hưng. Không hoang vu như bãi biển Trà Cổ mà tôi
đã biết nhưng vào mùa Đông, bãi biển Sầm Sơn cũng không kém phần âm u. Hàng
thông trên cồn cát rất đẹp nhưng trông rất quạnh hiu. Lại càng thấy bãi biển âm
u và hàng thông cô quạnh hơn khi trong tay mình không có một người tình để ôm ấp.
Người mà tôi muốn được coi như người tình thì chỉ khi gánh ĐỨC HUY vào tới Nghệ
An thì tôi mới được gặp.
Xong thời gian khoảng hơn một tuần lễ, bây giờ là lúc gánh
hát rời Thanh Hóa để đi tới Vinh, tỉnh lỵ của xứ Nghệ. Tầu hỏa đi ban ngày, sướng
quá, tôi được thấy cảnh:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng...
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Vùng Nghệ An là vùng đất quá hẹp. Một bên là núi, một bên là
biển, vùng đồng bằng đã hẹp lại hẹp thêm vì ở tiếp giáp với biển là những cồn
cát và tiếp giáp với núi là những mảnh đất rừng đầy sỏi đá, đất đai dùng vào việc
cầy cấy trồng trọt chẳng còn bao nhiêu. Người dân ở đây nghèo lắm. Ngồi trong
toa tầu nhìn xuống đường là thấy người phu lặc lè đẩy cái xe rất thô sơ cục mịch
mà người Bắc gọi là xe kút kít - cũng được gọi là xe lợn vì thường dùng để chở
lợn - chỉ có một cái bánh gỗ thật to và rất khó giữ thăng bằng. Thấy những tiều
phu đi đốn củi trên rừng không buồn ngẩng cổ khi có một hành khách quá ư hào hứng
vì cuộc đi là tôi giơ tay vẫy chào họ. Phong cảnh thì đẹp vô cùng, dù là đường
vô xứ Nghệ hay đường ra Hà Nội. Đưa mắt nhìn về phía nào cũng thấy đầy đủ núi
cao, biển rộng, trời xanh, mây tím, những ngọn đèo, những động đá... Đẹp một
cách hùng vĩ. Cảnh hùng vĩ và đời sống khắc khổ ở đây là những yếu tố tạo ra những
con người thường xuyên làm cách mạng.
Dân ca ở đây nổi tiếng là có nhiều khí phách. Qua loại hát giặm.
Nhạc điệu không còn lả lơi, óng ả như hát quan họ chẳng hạn, trái lại nặng nề,
nghiêm chỉnh. Sau này, khi có dịp nghiên cứu dân nhạc Cao Nguyên tôi khám phá
ra sự gần gũi giữa hát giặm và nhạc dân ca của sắc tộc Takua. Đời sống vất vả của
nông dân Nghệ An được thể hiện qua câu hát giặm:
Động Cơ Mai thì hốc
Động Trộ Đó thì dài
Ra đến động Hai Vai
Thậm chừng chi là khỏe.
Đời sống nghèo nàn nhưng cảnh vật lại phong phú. Trong câu
hát giặm sau đây, ta thấy sóng biển, mây rừng và gió lộng cùng vui với vợ chồng
quê và con cái:
Sóng ngoài biển dồn vô
Mây rừng xanh cuộn lại
Gió ngọn nguồn cuộn lại.
Mự (mợ) cũng có thằng cu rồi
Tôi cũng có con đĩ rồi
Mắc võng lên ta ngồi
Ru cu hời con đĩ hời
Ru cu hời con đĩ hợi.
Sau này có thêm bài dân ca rất hãnh tiến:
Trai Đại Phong đã quyết lay rừng
Thì rừng kia phải chuyển.
Gái Đại Phong đã dốc lòng tát biển
Thì biển cũng phải lui.
Ta đua nhau xẻ núi phá đồi
Bắt dòng sông Lam chảy ngược
Quyết chống trời thì trời cũng phải thua...
Tôi sung sướng đặt chân tới vùng Hồng Lĩnh, Lam Giang nổi tiếng
này. Tôi đã từng biết tiếng tăm của nơi nhân sĩ mang tên La Sơn Phu Tử ở ẩn, của
nơi đã từng được Quang Trung Nguyễn Huệ định dùng làm thủ đô.
Tôi bỗng nhớ tới Cậu Xuân, ông lái buôn người Nghệ thường chở
thuyền nước mắm ra Bắc bán và ở trọ nhà tôi, nhớ tới câu mẹ nói đùa Cậu Xuân là
dân cá gỗ. Bây giờ thì tôi hiểu cái nghèo của dân quê xứ Nghệ (1). Nghèo nhưng
yêu làng xóm của mình nên không bỏ ra đi. Bám lấy đất mà sống. Chịu sống khổ ở
nơi đất cằn sỏi đá, chịu hít thở thứ không khí khô khan bỏng cổ vì những trận
gió Lào khủng khiếp. Đời sống của người dân xứ Nghệ nặng nề như giọng nói Nghệ
An.
Dân thành phố thì không nghèo lắm. Vinh là một thị trấn sầm uất.
Thành phố cách Bến Thủy chừng 5 cây số và cũng có một bãi biển là Cửa Lò, rất
tĩnh mịch. Nằm giữa Vinh và Bến Thủy là nhà máy Tràng Thi, nơi sản xuất và sửa
chữa xe lửa dùng tới 4000 công nhân. Khi còn đi học trường Kỹ Nghệ Thực Hành Hà
Nội, tôi đã từng mơ ước có ngày được vào làm việc tại nhà máy lớn nhất ở Đông
Dương này.
Gánh hát ĐỨC HUY chọn địa điểm hát ở rạp ANNAM CINE, trước
mặt chợ Vinh, cạnh bờ sông có con dốc đưa tới Cầu Rầm. Đêm nào cũng đông khách
cho nên gánh hát ở lại thành Vinh khá lâu. Cũng như ở các tỉnh miền Bắc và tỉnh
Thanh mà tôi vừa ghé qua, thanh niên nam nữ của thành phố Vinh là những người
có Tây học. Họ mua vé đi coi gánh ĐỨC HUY là để nghe tôi hát "nhạc cải
cách" chứ không phải để coi tuồng cải lương. Cũng có một phần tò mò muốn
biết mặt ngang mũi dọc của người em ông Trạng Mẹo (anh Khiêm đậu agrégé về
grammaire) dám cả gan làm nghề ca xướng.
Phong trào Tân Nhạc đã tràn lan ở mọi tỉnh lỵ lớn. Tỉnh nào
cũng có ban nhạc tài tử luôn luôn tổ chức những buổi hoà nhạc tại tư gia hay
hát phụ diễn cho những buổi chiếu phim lấy tiền làm việc nghĩa. Các ban nhạc đó
luôn luôn cần có những bản nhạc mới. Bây giờ có một anh hát rong là tôi đem những
bài hát mới toanh đi phổ biến từ tỉnh này qua tỉnh khác thì họ đua nhau đón tiếp
tôi.
Vì những bản nhạc chưa được in ra như sau này, tại thành phố
Vinh, tôi được hân hạnh chép tay một vài nhạc phẩm của Văn Cao để tặng những
người ái mộ. Trong đám người này có một người còn giữ được bản tôi chép tay bài
Cung Đàn Xưa từ năm 1944 đó để hơn bốn mươi năm sau, gặp tôi ở Thị Trấn Giữa
Đàng (Midway City) thuộc tiểu bang California, đã tặng lại tôi. Người đó là tỷ
phú Thân Trọng Lạc.
Trong đám người tôi mới làm quen ở Vinh có tài tử và đạo diễn
điện ảnh tương lai của Việt Nam là Hoàng Vĩnh Lộc. Lúc đó anh ta đang làm
steward tức là nhân viên tiếp đãi hàng không của hãng Air France và với tên Dạ
Chung, anh đã soạn lời ca cho dăm ba bản nhạc của em ruột anh là nhạc sĩ Lâm
Tuyền. Một người bạn nữa là chị Trần Mỹ Nghệ, người thiếu nữ đầu tiên mà tôi
kính phục. Được lớn lên trong một gia đình và trong một xã hội chỉ tôn trọng
phái nam, luôn luôn dễ dàng yêu đàn bà nhưng chưa bao giờ ngưng bắt nạt con gái
trừ những lúc bị cô gái quê tên là Nụ ở Yên Thế vật ngã trên ổ rơm... lúc nào
tôi cũng chỉ coi phái nữ như một mảnh xương sườn của mình mà thôi! Tại Vinh, lần
đầu tiên trong đời, tôi có được sự kính yêu đối với phái nữ qua sự giao thiệp với
chị Trần Mỹ Nghệ. Chị là con gái của ông Trần Bá Vinh, một công chức lớn của Sở
Công Chánh và thuộc hạng nhà giầu ở thành phố Vinh vì có tới 40 căn nhà cho
thuê, chưa kể cái biệt thự rất to mà tôi được chị mời tới uống trà. Chưa bao giờ
tôi được gặp một thiếu nữ mà ngoài vẻ đẹp ngọt ngào của gương mặt và thân hình
làm cho mình no đôi con mắt còn có những lời ăn tiếng nói dịu dàng nghe xướng lỗ
tai quá. Chuyện gì chị cũng biết, từ chuyện văn chương nghệ thuật qua chuyện
chính trị, xã hội. Tôi yêu chị như một đứa em yêu người chị lớn. Một phụ nữ lịch
lãm như thế ắt phải cao số. Về sau, khi gặp lại chị ở Saigon, chị vẫn chưa lấy
chồng. Khi đã hơi luống tuổi rồi chị mới kết duyên với một người chồng ít tuổi
hơn chị rất nhiều. Lúc đó chị là chủ nhân ngôi nhà mà anh ruột của tôi thuê. Rồi
đột nhiên chị qua đời ở Phú Nhuận vào năm 1965.
Tại thành phố Vinh tôi được làm quen - một cách không trực
tiếp - với một người tôi rất phục tài là nhạc sĩ Lê Thương. Nghĩa là chưa có
hân hạnh bắt tay anh rồi cùng hoạt động với anh như khi tôi vào tới Saigon mà
qua một người con gái tên là Hà Tiên.
Thuở còn nhỏ, tôi rất yêu một bài thơ Pháp, Sonnet d'Arvers.
Tôi chỉ còn nhớ hai câu tiếng Pháp như sau:
Mon coeur a son secret, ma vie a ses mystères
Toujours à ses côtés et pourtant solitaire...
Nhà văn Khái Hưng đã dịch bài thơ đó ra tiếng Việt một cách
tuyệt vời:
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay.
Hỡi ôi người đó ta đây
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân
Dẫu ta đi trọn đường trần
Chuyện riêng không dễ một lần hé môi.
Người dù ngọc thốt hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên mối tình.
Một niềm tiết liệt đoan trinh
Xem thơ nào biết có mình ở trong.
Lạnh lùng lòng lại hỏi lòng
Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?
Thi sĩ d'Arvers yêu một người đẹp mà thi sĩ gập gỡ hằng ngày
nhưng không bao giờ chàng dám tỏ tình với người mình yêu cả. Chàng giữ kín mối
tình câm đó suốt đời mình và nghĩ rằng sẽ một có ngày người đẹp đó đọc bài thơ
này rồi bâng khuâng tự hỏi: Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?
Vào những năm đầu của thập niên 40, cũng như một số nhạc sĩ
trẻ khác vừa bước vào con đường nhạc tình, tôi rất thích bài Sonnet d'Arvers. Ước
ao có được mối tình câm lặng như thế. Có lẽ vì vậy mà tôi chọn bài thơ của Nguyễn
Bính để phổ nhạc thành bài tình ca ấp úng là Cô Hái Mơ chăng? Tôi không biết
các ông tổ sư của nhạc tình trong làng TÂN NHẠC Việt Nam như Dương Thiệu Tước,
Thẩm Oánh, Văn Chung, Lê Yên, Dzoãn Mẫn... có bắt chước thi sĩ nhát gái
d'Arvers để yêu vụng nhớ thầm một người tình nào đó và soạn ra những bản tình
ca bất hủ mà ai nấy đều hát... nhưng bây giờ tôi biết chắc chắn khi soạn ra bài
hát nhan đề Nàng Hà Tiên, quả rằng nhạc sĩ Lê Thương có yêu một người con gái
có xương có thịt mang tên Hà Tiên.
Người mang tên bài hát của Lê Thương đang ở thành phố Vinh,
đã đi nghe tôi hát và mời tôi về nhà chơi. Hà Tiên có gương mặt tròn như trăng,
có đôi mắt sáng như sao, có đôi môi như chùm nho chín, có đôi má lúm như hai quả
táo ngon, tính tình nhanh nhẹn, cởi mở. Cùng với người chị xinh đẹp không kém
nhưng tính tình khép kín hơn, hai cô gái thành Vinh này rất thích những bài ca
mới, nhất là bài Buồn Tàn Thu đã được nghe tôi hát ở gánh ĐỨC HUY. Sau đó hai
cô mời tôi tới tham dự buổi văn nghệ salon ở nhà mình.
Câu chuyện về âm nhạc nổ như pháo ran tại căn nhà một tầng của
gia đình ở giữa thành phố. Hai chị em hát rất hay, nhất là Hà Tiên. Trong câu
chuyện, hai cô đả động tới Lê Thương. Trước đây tôi chỉ biết qua loa là nhạc sĩ
họ Lê có soạn hai bài hát nhan đề Một Ngày Xanh và Nàng Hà Tiên. Bây giờ được một
cô bé mang tên Hà Tiên ở thành Vinh hát cho nghe thì thật là khoái! Tôi biết nhạc
sĩ Lê Thương có tên thật là Ngô Đình Hộ, đã cởi áo thầy dòng để làm nghề dạy học
ở Hải Phòng rồi lại bỏ Hải Phòng đi tuốt vào Bến Tre làm việc cho một đồn điền
cao su của Pháp. Tôi muốn tin rằng tại một nơi nào đó, anh gặp Hà Tiên và giữa
hai người là một chuyện tình, nhỏ nhoi hay vĩ đại. Và những nhạc phẩm Lê Thương
như Một Ngày Xanh, Nàng Hà Tiên ra đời. Ngoài những bài mà ta đã biết như Bản
Đàn Xuân, Thu Trên Đảo Kinh Châu...
Bài Một Ngày Xanh mô tả cuộc tình mà tôi muốn là có thực của
Lê Thương bên bờ Đà Giang. Mở đầu bài hát Lê Thương cho ta biết anh trở về ngồi
bên bờ sông xưa để nhớ tới người yêu cũ:
Trời khuya thanh vắng
Anh ngồi bờ sông
Nhìn mây đen trắng bay mờ trên không.
Từ xa đưa đến
Tiếng trống canh điểm đêm
Và tiếng dế kêu đềm êm.
Dưới sông có vầng trăng sáng
Chiếu trong lòng Đà giang...
Người tình trong bài hát, ngồi bên bờ Đà Giang, nhắc lại lời
thề còn ghi trên đá dù cỏ mọc xanh rì đã che dấu lời thề:
Dưới đá anh có ghi những lời
Phối ước chung một lòng son.
Em yêu kề bên má, anh hôn
Anh thề cùng em
Bể cạn sông mòn với cuộc tình duyên.
Tuy bây giờ anh đã ra đi
Lời thề còn ghi dưới cỏ xanh rì
Bên bờ Đà Giang...
Những câu hát kết thúc hẳn phải là những lời buồn:
Một ngày xanh đã ghi vào lòng anh
Cuộc tình duyên đó có khi nào anh quên?
Ngày nay trăng chiếu trên bờ Đà Giang
Lòng anh thấy thiếu mối tình mơ màng...
Bài Một Ngày Xanh là một bản tình ca buồn bã thì bài Nàng Hà
Tiên là một truyện ca huyền ảo. Tôi vẫn cho rằng trong làng Tân Nhạc, sau 50
năm sinh hoạt, vẫn chưa có ai kể truyện hay cho bằng nhạc sĩ Lê Thương. Truyện
ca bé bỏng là bản Nàng Hà Tiên này đã báo trước cái vĩ đại của bộ ba HÒN VỌNG
PHU.
Với Nàng Hà Tiên, ta hãy nghe chàng Lê kể truyện:
Ba trăm năm qua bên bờ Cửu Long Giang
Một người đàn bà hay xuống mé sông
Đứng tiếp rước khách trẩy đò ngang
Lòng ngao ngán tiếc thân chưa có chồng...
Qua nét nhạc majeur rất lưu loát và nhịp đôi nhanh vun vút,
anh kể rằng 300 năm về trước, có một người đàn bà làm nghề rước khách trẩy đò
ngang, đang buồn phiền vì chưa có chồng thì:
Ngày kia tự nhiên có một thiếu niên nào
Từ quan san xa cách xa tìm đến
Mới bước xuống xe vừa trông thấy cặp má đào
Chàng thiếu niên bèn ngỏ lời kết duyên...
Lê Thương chuyển nhẹ qua DO mineur với nét nhạc thật là ngọt
ngào:
Hai năm sau sinh một nàng tiên...
Qua một đoạn giống như một điệp khúc, Lê Thương lại trở về với
giọng majeur và với nhịp điệu bình tĩnh, anh kể truyện tiếp về cô tiên kết tinh
của mối tình giữa cô lái đò và chàng thiếu niên (teen ager?):
Nàng nghịch đùa sông
Phá nước thay dòng
Nàng cầm ngọn mưa
Tưới ra Biển Hồ.
Chiều chiều nàng mong
Chờ một làn sóng
Đến dâng cho nàng khúc đàn
Âu yếm mơ màng...
Nàng tiên đó, sinh ra trên một dòng sông nên thích đùa nghịch
với sông. Dùng đôi tay cầm nguồn mưa tưới qua Biển Hồ (Cao Miên). Rồi chờ đợi
làn sóng đưa đến cho nàng khúc ca âu yếm. Chờ đợi hoài mà vẫn không gặp được
quý nhân dù tiên nương có đem thân tới Vịnh Xiêm La (Thái Lan) đi nữa! Nàng
tiên sẽ không được như mẹ, sẽ không có người yêu và sẽ biến thành một bến nước
mang tên HÀ TIÊN:
Hai mươi năm sau nàng Hà Tiên
Bực mình vì lòng thiếu chút duyên
Đem thân tiên nương đi tìm Vịnh Xiêm
Họa chăng có bóng qúy nhân độ thuyền.
Ngày kia một cơn gió mang tới biên thùy
Một công tôn đi đứng trông kiều qúy
Bóng dáng quý nhân vừa trông
Đã thấy hoá ra nàng gặp một giấc mơ.
Tiên cô đi yêu một bài thơ...
Bài hát kết thúc cũng giống như một bài thơ mơ hồ hay một giấc
mơ huyền hoặc mà Lê Thương đã vẽ ra trong các đoạn trên:
Từ mộng thuyền quyên
Tới giấc mơ huyền
Lòng người được quen
Thú vui hoặc huyền
Từ rày Hà Tiên
Thành một bờ bến
Đón đưa những người xuống đò
Để thấy mơ hồ....
Ngay từ đầu thập niên 40, ta đã thấy Lê Thương cho ta những
câu nhạc dài hơi bằng chứng của óc sáng tạo, khác với những tài năng yếu kém chỉ
viết nổi những câu nhạc cụt thun lủn. Có ai trong đám chúng tôi có được đầu óc
phong phú như chàng Lê, tạo ra một câu chuyện hư hư thực thực, chuyện người đẻ
ra tiên, rồi nàng tiên biến thành một bến nước? Nhưng khởi sự ra câu chuyện
này, chắc chắn đã có một động lực là cô con gái má lúm đồng tiền tên là Hà
Tiên.
Chẳng nhẽ một vị đàn anh mà mình kính phục là Lê Thương đã
yêu một cô gái đẹp và viết ra một truyện ca tuyệt vời mà mình lại có thể dửng
dưng trước cô ta hay sao? Tôi bèn bắt chước ông anh nhưng dở hơn chàng Lê, tôi
chẳng soạn nổi một câu nhạc cho nàng tiên này cả! Sau này được gặp anh Lê
Thương yêu quý ở Saigon, hai anh em nhắc tới chuyện cùng yêu Hà Tiên thì cả hai
đều cười tồ tồ như hai con vịt đực.
Cô bé Hà Tiên cũng không tránh được số phận Trời cho là ban
phát hạnh phúc cho những chàng nhạc sĩ. Nàng Tiên kết duyên với một nhạc sĩ có
hạng ở Hà Nội là Nguyễn Thiện Tơ, tác giả bài Giáo Đường Im Bóng.
Chú thích:
(1) Có giai thoại cho rằng ở Nghệ An có những gia đình nghèo
quá, thức ăn hàng ngày là một khúc gỗ đẽo hình con cá ngâm nước mắm, mọi người
trong nhà vừa ăn cơm vừa mút con cá gỗ.
Hai mươi mốt
Chiều chiều mây phủ A'i Vân
Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn...
Ca Dao
Gánh ĐỨC HUY-CHARLOT MIỀU giã từ thành Vinh để suôi Nam. Đi
qua các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị để vào nơi tôi hằng mơ tưởng là Huế.
Đường bộ đưa chúng tôi đi qua Đèo Ngang, hơn một trăm năm về
trước đã in dấu chân của Bà Huyện Thanh Quan trong một buổi chiều bóng xế tà,
có lom khom dưới núi tiều vài chú, lác đác bên sông (sông Cẩm Lệ?) chợ với
nhà... Ngừng lại hát ở Đồng Hới và Đông Hà, vì không đông khách lắm nên gánh
hát rút đi nhanh chóng. Tôi không có kỷ niệm nào ở hai thị trấn nhỏ bé này cả.
Vào tới Huế là bắt gặp mùa Xuân với mưa phùn làm tăng vẻ thơ
mộng của nơi cố đô. Gánh hát tới đóng đô ở rạp TÂN TÂN trên đường Paul Bert
(sau đổi tên là đường Trần Hưng Đạo) đối diện với dòng Hương Giang nổi tiếng.
Đã mơ ước nằm đò sông Hương từ lâu, tôi vội vã vác va ly xuống
bến. Ngay trong đêm đầu tiên tới Huế, tôi đã được hưởng cái thú nằm trong
khoang thuyền để nghe ca Huế thâu đêm suốt sáng. Trước đây tôi chỉ biết ca Huế
qua tiếng đàn tranh của bà Ám Chung hay qua giọng cô Nhơn trong đĩa hát
Béka loại 78 tours. Bây giờ được nghe những ca sĩ như Bích Liễu (vợ nhạc sĩ
Vĩnh Phan), Minh Mẫn rót ngay vào tai mình những câu hò mái đẩy, hò mái nhì, những
bài Nam Ai, Nam Bình hay Lý Tình Tang, Lý Tử Vi... Lại được nghe hát những bài
ca tình tứ đó trong khung cảnh rất nên thơ là một khoang thuyền ấm cúng có ngọn
đèn dầu le lói, có tiếng hát của ca kỹ vọng ra ngoài, âm ba lan ra mặt nước rồi
dội ngược vào khoang thuyền và nhờ đó mà thêm phần réo rắt. Có lẽ tiếng hát của
chàng ngư phủ Trương Chi trong truyện truyền kỳ cũng nhờ ở hoàn cảnh hát trên
sông nước mà được phóng âm lên và trở nên hấp dẫn hơn đối với lỗ tai của tiểu
thư lá ngọc cành vàng Mỵ Nương chăng?
Tuy là một trong những người đầu tiên đưa ra chủ trương là phải
tạo nên một dòng nhạc mới để thay thế cho dòng nhạc cổ nhưng tôi vẫn luôn luôn
để tâm nghiên cứu kỹ càng những làn điệu của dòng nhạc bình dân ở từng địa
phương để từ đó phát triển lên dòng nhạc cải cách. Sau khi đã nắm được nội dung
và hình thức của hầu hết các loại dân nhạc ở miền Bắc như Hát Cò Lả, Hát Quan Họ,
Hát Chèo, Hát Ả Đào v.v... vào đầu năm 1944 này, tôi bắt gặp một hệ thống ca
nhạc hoàn toàn khác với hệ thống dân nhạc miền Bắc. Lúc còn bé, nghe ca Huế,
tôi chưa nhận ra sự khác biệt của hai hệ thống âm giai mà nhà nghề gọi là hơi
Nam, hơi Bắc. Bây giờ thì tôi nhận ra sự lơ lớ của cung bực trong những điệu
hát mà người ca kỹ đang rót vào tai tôi trong khoang thuyền ấm cúng của con đò
cắm sào bên bờ sông Hương.
Khám phá ra tính chất lơ lớ của giai điệu hò Huế rồi, tôi sẽ
là người đầu tiên ghi âm những bài ca Huế một cách khoa học hơn các bực tiền bối
như Hoàng Yến trong loạt bài đăng trong tập san Bulletin Des Amis Du Vieux Huế
hay như danh cầm Trần Quang Tồn trong một cuốn sách dạy đánh đàn tỳ bà vào hồi
đầu thế kỷ thứ 20.
Ghi âm điệu hò Huế bằng ký âm pháp solfège vào năm 1944 nhưng
chưa có cơ hội in ra. Phải tới khi tôi đi kháng chiến tại Thanh Hoá vào năm
1948, gặp Trần Thiếu Bảo, giám đốc nhà xuất bản MINH ĐỨC thì điệu hò Huế đó mới
được in ra trong một nhạc tập nhan đề NHỮNG ĐIỆU HÁT BÌNH DÂN VIỆT NAM. Rồi
khi tôi di cư vào Saigon, trong năm 1953, tôi lại có thêm một cơ hội nữa để cho
ấn hành một bản nhạc rời về điệu hò đặc biệt miền Trung. Trong cả hai ấn phẩm
được in ra ở Thanh Hóa và Saigon này, tôi nêu lên một lý thuyết: Âm giai ngũ
cung lơ lớ của hò mái nhì khác hẳn với âm giai điều hoà (gamme tempérée) của Âu
Tây và âm giai ngũ cung đúng của dân nhạc miền Bắc. Các cung bực của hò Huế có
những cao độ (intervalles) non hơn hay già hơn các cung bực trong âm giai Âu Tây
hay âm giai miền Bắc.
Tôi còn vẽ ra một sơ đồ so sánh sự khác nhau của những hệ thống
âm thanh đó nữa. Chính vì đặc điểm âm giai lơ lớ này mà các điệu hát miền
Trung, đặc biệt là điệu hò Huế, với những nét nhạc mơ hồ như nét nhạc Chàm hay
nét nhạc Ấn Độ, đã hấp dẫn người nghe hơn là những điệu ca bình dị của miền
Bắc. Trong phần tiểu dẫn in trong ấn phẩm của bài hò mái nhì hay hò mái đẩy,
cách đây nửa thế kỷ, tôi đã nói tới sự thần bí của âm giai lơ lớ như sau:
Hò mái nhì hay hò mái đẩy là tiếng nói điển hình của người
dân tại một miền nên thơ nhất của nước Việt. Tiếng hát xây dựng trên một hệ thống
âm giai lơ lớ đã thể hiện được sự thầm bí của cõi lòng, vì vậy nên dễ dàng đi
sâu vào tâm hồn người nghe hơn là nhạc ngũ cung đúng của miền Bắc. Sự thành tựu
của nhịp điệu cũng rất là tế nhị:
Trước Bến à ơ
Văn Lâu ơ
Chiều chiều...
Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu
Ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm
Ai nhớ ai trông...
Tiếp theo là những câu thủ thỉ cốt nâng niu ý chính của toàn
bài để rồi sẽ kết thúc bằng tiếng nức nở, có nhiều dấu chấm than (!) và dấu chấm
hỏi (?):
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy a rồi
A ơ á ơ
Mái đẩy động tấm ơ ơ lòng
Hơ... ơ à... à ơ
A non nước lơ non à ờ
A a ơi hự...
Lời ca của bài hò Huế trên đây là của một văn gia thuộc lớp
người quyền quý ở Huế, Thúc Giạ Thị Ưng Bình. Nội dung có vẻ kích thích lòng
yêu nước của người nghe. Cũng vào năm 1944 này, tôi đã sưu tập thêm được một
bài hò ái quốc với lời ca (có thể là) của cụ Phan Bội Châu...
... Gánh ĐỨC HUY dừng lại nơi cố đô lâu hơn những nơi khác,
hằng đêm sau khi tan hát xong tôi thường kéo những bạn mới như Vũ Đức Duy, Vĩnh
Phan xuống đò chơi, khi thì nằm hút thuốc phiện và tán phét, khi thì nghe các bạn
của Vĩnh Phan đàn hát. Đêm vui nào cũng kéo dài tới 2, 3 giờ sáng. Hôm sau, ngủ
dậy vào nửa trưa là tôi leo lên bờ, ra chợ Đông Ba ăn quà rồi tới quán Lạc Sơn
gần đó để uống cà phê, ngắm các cô gái Huế đi chợ...
Một hôm tôi thấy từ xa đi đến một ông già mà tôi ngờ là say
rượu, tay cầm ống tiêu, lưng vác một con khỉ, lảo đảo trên đường cái, coi thường
xe cộ đông đảo lui tới... Rồi tôi thấy ông ta đứng lại trước quán nước, dựa
lưng vào gốc cây, đưa ống tiêu lên miệng thổi ra một điệu nhạc Huế rất lạ lùng
làm xôn xao và bứt rứt lòng người nghe. Tôi mê luôn ông già thổi tiêu mà người
Huế cho là điên dại này. Ngày nào cũng vậy, rất đúng giờ, ông già tới quán Lạc
Sơn với con khỉ và ống tiêu, rồi sau khi thổi tiêu mà không đòi hỏi người nghe
phải trả tiền như một gã hát xẩm, ông già dị nhân lẳng lặng ra đi.
Rồi có một buổi trưa, tôi không ngăn được tôi bước chân đi
theo ông và bây giờ thì tôi biết ông đi từ miền Gia Hội tới Chùa Từ Đàm, dọc đường
ông thường dừng chân lại và thổi lên những tiếng tiêu để quyến rũ những người
nhạy cảm như tôi. Tại chùa Từ Đàm, ngồi trên sân chùa, tôi đánh bạo làm quen với
ông. Hỏi thêm về các điệu nhạc Huế, tôi được ông cho nghe một bài hò Huế với lời
ca - tôi ngờ rằng - rút ra từ một tập thơ nào đó của cụ Phan Bội Châu:
Chí anh hùng thủy chung một khối
Nghèo khó không thở than
Giầu sang không đắm đuối
Tù tội không đổi lòng.
Chuyện đời lắm sự bất công
Người ăn không hết kẻ mần không ra...
Nhưng hò Huế không hoàn toàn là những bài ca Cách Mạng. Bao
nhiêu câu hò là bấy nhiêu câu hát tình tự:
Trăm năm dầu lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa...
Đã có nhiều người cãi nhau khi tranh luận về cái cây ở trong
câu ca dao trở thành câu hò Huế này. Người thì bảo đó là cây "da",
người thì bảo đó là cây "đa". Riêng tôi không thắc mắc lắm, chỉ cần mỗi
lần nghe câu hò là được nhớ tới người gái Huế mình yêu, lúc đó đang làm nghề
đưa đò ở Đập Đá bên bờ sông Hương. Rồi vì lỡ hẹn mà không bao giờ tìm thấy nàng
nữa... Lại đành phải yêu một con đò khác vậy!
Tôi sẽ có không biết bao nhiêu là kỷ niệm với con người và cảnh
vật nơi cố đô và những kỷ niệm đẹp đó sẽ được tôi nhắc lại trong một cuốn Hồi
Ký khác. Tôi chỉ viết ra đây sự cảm nhận của tôi lúc đó trước sự trầm lặng của
thành phố và của những cô gái Huế. Thứ trầm lặng bề ngoài che dấu những đợt
sóng ngầm dữ dội nếu ta có cơ hội sống lâu để có thể nói như tôi rằng: đã
"biết ái tình ở dòng sông Hương" (câu hát trong bài TÌNH CA). Trong lần
gặp nhau đầu tiên giữa tôi và Huế vào năm 1944 này, tôi chỉ mê mải đi tìm cái đẹp
của Huế qua những câu hò, câu hát:
Đất Thừa Thiên, dân hiền cảnh lịch
Điện ngọc, lầu vàng
Non xanh, nước biếc
Tháp bẩy từng Thánh Miếu, Chùa Ông
Chuông chùa Diệu Đế, trống rung Tam Tòa...
Cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp
Anh qua không kịp, tội lắm em ơi...
Những ngày ở Huế, học hỏi về nhạc cổ truyền, tôi có may mắn
được gặp các nhạc sĩ Vĩnh Phan, Bửu Lộc... Trong nhóm này còn có cụ Vĩnh Trân tức
Ngũ Đại là anh của vua Duy Tân, đánh đàn tỳ bà rất hay. Những người trong hoàng
phái này yêu âm nhạc với tâm hồn phóng khoáng, không như một nhạc công gốc Quảng
Trị, người mà tôi nghĩ rằng chỉ nên kéo đàn nhị cho hay chứ không nên lập luận
về âm nhạc bằng nửa con mắt và những rất ý nghĩ rất hẹp hòi và nông cạn. Không
một nền nhạc cổ truyền nào có thể tồn tại nếu không có sự cải cách liên tục. Chỉ
người ngu dốt mới thần thánh hoá cái cổ rồi cho rằng mọi sự cải cách là bội phản
(sic). Ngay lúc đó, tôi đã khám phá ra sự liên tục phát triển của những bài ca
Huế. Một số những bài thuộc loại hát lý đã do các nhà giáo vừa mới phóng tác và
cho in ra để dạy học trò, ví dụ bài Lý Hoài Xuân. Nghe một bài ca Huế là Tứ Đại
Cảnh tôi nhận ra đó là nhạc điệu của bài Khi Tương Phùng trong loại hát quan họ
của miền Bắc Ninh. Trong khi nhạc cổ truyền luôn luôn chuyển động thì anh nhạc
công mà tôi không yêu đó lúc nào cũng mị dân bằng sự cổ hủ của mình.
Về phần Tân Nhạc, có các nhạc sĩ như Ngô Ganh, Văn Giảng...
kéo nhau tới nghe tôi hát Buồn Tàn Thu ở rạp TÂN TÂN rồi sau đó chúng tôi kết
thân với nhau. Đã có sự trao đổi kinh nghiệm, trao đổi tài liệu giữa anh ca sĩ
chuyên nghiệp và các nhạc sĩ tài tử ở miền sông Hương, núi Ngự. Tôi đã biết
thêm những bài hát mới, chẳng hạn bài Hương Giang Dạ Khúc của Lưu Hữu Phước mà
tôi vội vàng hát ngay trên sân khấu gánh ĐỨC HUY. Lại có thêm Nguyễn Văn
Thương tặng cho những bài Trên Sông Hương, Bướm Hoa, Đêm Đông để đánh đàn với
ban nhạc Tây trong gánh hát.
Đây cũng là lúc tôi đặt mục đích cao nhất của đời mình là phải
được mời hát ở trên ĐÀI RADIO INDOCHINE tại Saigon. Nên nhớ lúc đó vấn đề vô
tuyến truyền thanh còn là chuyện khá mới mẻ đối với người dân Việt Nam. Tôi
chưa bao giờ có được một cái máy nghe radio cả dù đã từng là thợ sửa chữa radio
ở phố Hàng Gai Hà Nội. Vả chăng chương trình văn nghệ của những đài truyền
thanh ở Hà Nội hay ở Saigon không có gì để hấp dẫn tuổi trẻ đang yêu âm nhạc mới.
Chương trình âm nhạc của đài radio lúc đó là trình bày Tuồng cổ hay Chèo cổ,
hát những bài bản Cải Lương, phần nhiều là bài Vọng Cổ do các cô Tư Sạng, Ba Bến
Tre, Ngọc Nữ phụ trách. Chỉ tới tháng Novembre 1944 là lúc tôi đã vào tới
Saigon mới có mục hát nhạc cải cách do Nguyễn Văn Cổn nói chuyện và với tôi hát
3 lần một tuần ở đài ĐÀI RADIO INDOCHINE.
Thành phố Huế cũng có những thanh niên hoạt động văn nghệ hào
hứng không thua gì giới văn nghệ sĩ Hà Nội hay Hải Phòng. Võ Đức Duy, người
tiên phong của làng kịch đã dựng vở thoại kịch phóng tác từ phim BEN HUR là
truyện cổ La Mã. Mấy anh em Hoàng Trọng Thước, Hoàng Trọng Khanh đã thành lập từ
năm 1938 một gánh hát lấy tên là KIM SANH với đường lối nghệ thuật giống như của
một đoàn hát cải lương Nam Kỳ, chỉ khác ở chỗ về phần âm nhạc, gánh KIM SANH
không dùng những bản ca nằm trong nhạc mục của sân khấu miền Nam mà dùng toàn
những điệu ca Huế. Dù không thành công nghĩa là không lan tràn đi khắp nơi
nhưng sự ra đời của gánh KIM SANH cho ta thấy trong ngành sân khấu ở Huế cũng
có những người muốn làm công cuộc cách mạng.
Thế là trong lần gặp gỡ đầu tiên với chiếc nôi của âm nhạc Việt
Nam là thành phố Huế, tôi đã học hỏi được rất nhiều về nhạc cổ truyền. Nếu
trong những chuyến đi về thôn quê trước đây và trong chuyến đi theo gánh hát
rong lúc này tôi đã tiếp thu được ở kho tàng âm nhạc nhân dân (chứ không phải
trong sách vở về nhạc Tây Phương) nhiều tài liệu "nhạc sống" để có
thêm vốn liếng cho việc soạn ra những bài hát của mình thì chính tại vùng Huế
này tôi khám phá ra sự phong phú của nhạc ngữ Việt Nam qua hệ thống âm giai đặc
biệt để rồi sẽ dễ dàng viết ra một bản trường ca như CON ĐƯỜNG CÁI QUAN.... Rồi
đây trên đường Nam Tiến, tôi sẽ được dừng chân tại vùng Phan Rang là nơi còn dư
vang của những bản nhạc Chiêm Thành để xác định bằng lỗ tai sự tương hưởng giữa
hai dòng nhạc Chàm, nhạc Huế mà người ta thường nói trong sách vở.
Sau những ngày được sống với mùa Xuân ướt lạnh ở Huế, gánh
ĐỨC HUY giã từ sông Hương lên đường vào Tourane (Đà Nẵng). Lần đầu tiên vượt đèo Ải Vân, tôi tưởng mình là một tráng sĩ thời xưa, đi mở rộng biên thùy nước Việt.
Đi trong mây phủ Ải Vân của câu ca dao quen thuộc, tai không nghe thấy tiếng
chim kêu trên gành đá nhưng nghe thấy những câu hát của bài Lý Qua Đèo vang dội
ở trong lòng.
Mùa Đông 1989 Phạm Duy
Mùa Đông 1989
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét