Hồi ký song đôi 4
Tập 2 - N
Thăm lại Nguyễn Gia Trí
Trên kia tôi đã kể liền sau ngày giải phóng Sài Gòn, tôi và
anh Diệu đã đến thăm hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí ở một phố hẻm đối diện với chùa Vĩnh
Nghiêm.
Ngày 2-9-1987 vừa rồi, tôi trở lại thăm Nguyễn Gia Trí, tôi rủ
anh Diệp Minh Châu cùng đi với tôi. Nguyễn Gia Trí từ trong cửa hỏi kỹ tên người
đến thăm rồi mới chịu mở cửa. “Huy Cận đây mà?”. Nghe tiếng tôi, anh mở cửa
ngay. Anh đã yếu lắm rồi, nhưng đôi mắt vẫn tinh anh, và hàm răng anh vẫn còn
biểu hiện một ý chí mạnh mẽ như ngày nào. Tôi hỏi anh có còn tiếp tục vẽ không,
thì anh cho biết cách đấy hơn một năm anh bị ngã gãy chân trong lúc ngắm xem một
miếng gỗ đẹp nhằm làm sơn mài. Sau khi bó bột lành chân anh không đứng vẽ được
nữa. Tôi đọc anh nghe đoạn hồi ký kể anh vẽ chân dung Xuân Diệu theo trí nhớ
thì anh nói: “Tôi có tài đến thế kia à”... Tôi hỏi anh: “Sống có vất vả lắm
không?” thì anh mỉm cười trả lời: “Nhà thơ hỏi câu ấy làm gì!”. Câu trả lời hóm
hỉnh đầy lòng tự trọng của anh làm tôi càng ái ngại cho cảnh sống của anh..
Anh Như Phong đến thăm chúng tôi ở 61 Hàng Bông
Tôi nhớ khoảng sau Tết 1944, anh Như Phong một hôm chủ nhật đến
thăm anh Xuân Diệu và tôi trên gác 61 Hàng Bông. Ngồi nói chuyện lân la một
lúc, tôi mới hiểu ý anh muốn rủ chúng tôi vào một đoàn thể văn hoá, mục đích là
bảo vệ văn hoá dân tộc và phấn đấu cho độc lập của đất nước. Ý anh nói xa nói gần,
nhưng sau này tôi hiểu là vận động chúng tôi vào Hội văn hoá cứu quốc lúc đó mới
thành lập. Về phía tôi, tôi cũng nói cho anh ngầm hiểu rằng tôi cũng đã tham
gia một tổ chức yêu nước, và đang hoạt động trong đám anh em sinh viên và trí
thức ở Hà Nội. Nghĩa là tôi cũng muốn vận động anh cùng hoạt động Việt Minh với
tôi nhất là trong đám trí thức đang cần có những người trí thức giác ngộ bắt mối,
xâu chuỗi. Hai người hiểu nhau như vậy, cùng cười và nói chuyện văn chương tôi
có đọc cho anh nghe bài Giọt lệ Hoàng Mai (có in trong tập Hồi ký này), một bài
văn nói lên tâm trạng yêu nước đau xót của tôi khoảng năm 1941-1942. Anh Như
Phong cũng nói chuyện với chúng tôi về những dự định văn chương của anh, nhất
là những bút ký anh định viết về văn hoá văn nghệ dân tộc, về đất nước quê
hương. Vài năm trước anh đã cho xuất bản một tập bút ký, nay có lẽ anh viết tiếp
theo cái mạch ấy và mở rộng vấn đề ra. Về sau, có lẽ vì anh bận việc, nên tôi
không thấy anh hoàn thành tập bút ký mà anh nói chuyện với tôi hôm ấy. Trong buổi
gặp nhau trên gác phố Hàng Bông, anh Diệu và tôi cũng có nói nhiều với anh Như
Phong về sự cần thiết phải bảo vệ văn hoá dân tộc, cổ vũ thanh niên trí thức
trau dồi tiếng Việt phát huy vai trò của tiếng Việt trong mọi mặt đời sống xã hội,
vì lúc đó chúng tôi đã thấy một bọn người sau khi xu nịnh thực dân Pháp, đã lại
chạy theo xu nịnh phát xít Nhật và om xòm ca ngợi văn hoá, văn nghệ Nhật. Sau
này anh Như Phong mấy năm làm giám đốc Nhà xuất bản Văn hoá, tôi lại có dịp tiếp
tục bàn với anh vấn đề khai thác và phát huy vốn văn nghệ tốt đẹp của cha ông.
Cũng trên tinh thần ấy, mà nhà xuất bản đã liên tiếp cho tái bản những tác phẩm
của Nguyễn Du và các nhà thơ cổ điển khác.
Lần đầu tiên thăm làng Bát Tràng
Cuối năm 1940, một hôm chủ nhật, trời rét ngọt một nhóm sinh
viên chúng tôi rủ nhau đi thăm làng Bát Tràng, làng làm gạch và làm đồ gốm nổi
tiếng nằm bên kia sông Hồng. Trong số đi thăm hôm ấy có cả sinh viên luật học,
y học, canh nông, người Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ đủ cả. Cùng đi với chúng tôi
có chị Phùng Thị Duy Cúc, lúc đó học nha khoa, bây giờ là nhà điêu khắc Điềm
Phùng Thị khá nổi tiếng ở Paris. Tất cả chúng tôi ai cũng thuộc mấy câu ca dao:
Trên trời có đám mây xanh,
Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng.
Ước gì anh lấy được nàng,
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc rồi lại xây ngang,
Xây hổ Bán nguyệt cho nàng rửa chân,
Có rửa thì rửa chân tay,
Chớ rửa lông mày, chết cá ao anh.
Buổi sáng hôm ấy không những trời rét, là lại hơi âm u, gió
sông thổi vào làng từng đợt gió lạnh buốt. Sau khi đi xem các lò gạch và gốm,
chúng tôi có tập hợp nhau lại ở đình làng để nói chuyện. Anh chị em biết tôi là
nhà thơ bảo tôi nên nói một mẩu chuyện gì về văn chương, văn hoá đất nước. Tôi
không được chuẩn bị nhưng cũng nói vo câu chuyện về sự tiến hoá của tính tình
người Việt Nam trong quá trình mở mang đất nước trong quá trình Nam tiến. Câu chuyện
của tôi xoáy cái ý chính sau đây: dân tộc ta cũng như một người đi đường xa,
lúc ra đi trên vai mang một tay nải nặng, dần dần bỏ bớt vài thứ cho nhẹ gánh,
nhưng dọc đường lại gặp nhiều của quý lại cho vào tay nải, vốn lại giàu thêm, cứ
thế cho đến cuối đường đã trở thành một người giàu có mà cái vốn ban đầu mang
đi vẫn còn gần như nguyên.
Những đức tính, những tính tình của dân tộc ta trên đường Nam
tiến, cũng được bổ sung dần, nhiều đức tính mới, tốt đẹp làm giầu thêm những đức
tính cố hữu. Cuộc sống mấy mươi thế kỷ của dân tộc ta là một sự phát triển hài
hoà, thêm mà cũng củng cố thêm cái vốn tinh thần cố hữu của dân tộc. Ý này về
sau tôi đã viết lại kỹ hơn trong tập bút ký Tao phùng (1942).
Tôi bị ngã ngựa ở Việt Bắc
Tháng 6-1954, một buổi tối tôi đi họp Hội đồng Chính phủ về,
thì cách nhà lán khoảng 300 thước tôi đã lên tiếng gọi em Kiên, người phục vụ
tôi, ra đón.
Tôi cưỡi một con ngựa trắng, cao hơn con ngựa xích thố mà tôi
đã kể trong một đoạn trên. Con ngựa này cũng tương đối hiền, đi qua đèo qua suối
theo nhịp độ mà tôi muốn, chứ không chạy ào hay là phi theo ý muốn của nó có
khi rất nguy hiểm nhất là khi đi qua rừng nứa. Như thường lệ hôm ấy ở Hội đồng
Chính phủ về trên vai tôi mang một chiếc ba lô chất đầy tài liệu và vài quyển
sách tôi mang theo đọc, lại kèm mấy củ sắn tươi mà bà con gần nơi họp biếu tôi.
Con ngựa thủng thẳng đi về phía nhà lán tôi ở thì em Kiên mang chiếc đèn bão ra
đón. Thế là ngựa gặp đèn đưa ngang lên tầm mắt nó, bị choáng váng và nó nhảy lồng
lên, hất tôi lên cao cả người và ba lô rồi tôi rơi bịch xuống đất, rơi trong tư
thế ngồi, ba lô vẫn dính trên lưng. Tôi đau điếng, tưởng như có thể ngất đi được,
và kêu to một tiếng “Chết anh rồi Kiên ơi!”.
Con ngựa sau khi hất tôi lên, cũng đứng yên tại chỗ ngoảnh về
phía tôi. Còn em Kiên thì hoảng sợ và gọi người ra cứu tôi. Mấy anh em văn
phòng hội đồng Chính phủ ra nhấc tôi dậy, tôi đau buốt quá, như là trụn xương sống,
anh em phải lấy tấm ván đặt tôi nằm lên và khiêng tôi vào nhà lán. Tôi vẫn tỉnh
táo nhưng hết sức đau nhức, và phải nằm yên, cựa bên trái hay bên phải đều đau
nhói. Thế là tôi phải nằm dính ván hơn một tuần, ăn uống thì đã có em Kiên chăm
sóc, bữa ăn cơm, ăn cháo. Đồng chí y tá của cơ quan có cho mọi thứ thuốc bóp và
tiêm thuốc giảm đau cho tôi. Anh em có báo cáo với Bác Hồ là tôi bị ngã ngựa
đau, Bác liền bảo anh Trường (hoặc anh Kháng, tôi không nhớ rõ) đem cho tôi một
mẩu mật gấu để hoà tan trong rượu vừa uống vừa xoa bóp chỗ đau. Nhờ thế mà sau
mấy hôm tôi đỡ đau hẳn, và bác sĩ Chánh khám cho tôi thì cũng thấy không có vết
thương, chỉ là một dây thần kinh bị chèn do xương sống dồn mạnh lúc tôi ngã từ
cao xuống. Lúc bấy giờ phái đoàn chính phủ ta đi dự hội nghị Giơ-ne-vơ về vấn đề
chiến tranh Đông Dương, về vấn đề lập lại hoà bình ở Việt Nam, sắp lên đường.
Tôi đỡ đau, cũng đi rất thong thả, đến chào anh Tô (tức là Thủ tướng Phạm Văn Đồng)
và cũng để nghe anh dặn dò công việc ở nhà (vì lúc đó tôi là thứ trưởng Tổng
thư ký Hội đồng Chính phủ). Anh Tô cũng cho tôi một mẩu cao hổ cốt để uống cho
lành hẳn chỗ đau... Từ đó cho đến lúc về Hà Nội, tôi thấy không có biến chứng
hay dị tật gì do ngã ngựa cả. Nhưng đến mùa thu 1956, tôi thấy hơi đau nhức trở
lại, tôi gặp bác sĩ Tôn Thất Tùng; sau khi khám xét và chiếu X quang, anh cho
tôi nằm bệnh viện Phủ Doãn (tức là bệnh viện Việt Đức) tiêm các thứ thuốc cần
thiết, nhất là thứ thuốc bồi lại dây thần kinh trước đây bị chèn. Với đợt nằm bệnh
viện hơn 2 tuần này, tôi khỏi đau hẳn, và lại được lãi mười mấy bài thơ mà thi
hứng đến với tôi trong những đêm nằm một mình tại bệnh viện. Những bài thơ này
tôi đã chọn lọc lại và cho in một số vào tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng (xuất
bán cuối năm 1958). Cùng nằm bệnh viện với tôi lúc đó có anh Tôn Thất Phùng và
chị Thoa thường hay đàm đạo văn thơ với tôi vào những buổi chiều, sau giờ ăn cơm.
Câu chuyện với những người tri kỷ, tri âm cũng khuyến khích tôi làm thơ, trong
cái đà tôi trở lại sáng tác dồi dào, hào hứng trước cuộc sống mới. Cũng xin nói
thêm, là sau lần ngã ngựa ấy, tôi vẫn đi công tác tại Việt Bắc bằng ngựa, chỉ
có điều là đi càng cẩn thận và dặn em Kiên ra đón tôi lúc trở về thì đừng cầm
đèn. Con ngựa trắng của tôi, hình như nó cũng hiểu là tôi đã bị ngã đau, nên nó
đi càng chậm rãi, và những lúc lên dốc nó không chạy còn tôi thì tôi bám thật
chặt vào bờm ngựa và hai chân kẹp chặt bụng ngựa. Đến đầu tháng 10-1954, tôi
cùng một số anh em trong Chính phủ ra bến đò Bình Ca để xuôi thuyền về Sơn Tây
(trước khi về Hà Nội), thì tôi giao lại con ngựa trắng cho anh em văn phòng còn
ở lại thu xếp công việc, về sau. Tôi còn nhớ rõ lúc tôi rời cái nhà lá ra đi,
và chào con ngựa của tôi thì nó dẫm hai chân xuống đất một lúc rồi hý lên:
không biết đó là một phản xạ ngẫu nhiên của nó hay là thứ tình cảm “khuyển mã
chi tình” mà nó thể hiện bằng ngôn ngữ riêng biệt của nó. Dầu sao tôi bước ra
đi, từ giã Việt Bắc để về Thủ đô với hình ảnh lưu luyến của con ngựa trắng đã
bao năm tháng cùng tôi băng rừng, leo đèo, lội suối trong lòng thấy ngùi ngùi,
xúc động.
Tôi bị xuất huyết nặng ở đáy mũi cuối năm 1974
Đầu tháng 11-1974, có “đoàn văn công giải phóng” ở bưng biền
miền Nam ra Hà Nội tập huấn, để chuẩn bị đi biểu diên ở các nước anh em. Đoàn
do anh Mười Đờn phụ trách và do anh Lưu Hữu Phước lãnh đạo về chính trị và nghệ
thuật. Tôi phải làm việc trực tiếp với đoàn trong vài tuần, đêm nào cũng họp
cũng bàn tỉ mỉ từng tiết mục, có khi rất căng thẳng vì những sự tinh tế của nghệ
thuật đã đành, mà cũng một phần do những sự xung khắc tinh tế giữa những người
chỉ đạo nghệ thuật nữa. Tóm lại sự căng thẳng ấy kéo dài hàng đêm, làm tôi mất
ngủ và huyết áp đột ngột lên cao mà tôi không biết, và một buổi chiều tôi thấy
máu chảy ộc ra ở mũi thì tôi tưởng là máu cam, lấy bông dịt lại. Qua đêm máu vẫn
ri rỉ chảy, và sáng hôm sau tôi vẫn cố gắng ra nhà hát thành phố nói chuyện với
anh em trong đoàn về cách tu chỉnh, nâng cao các tiết mục trước khi đoàn đi.
Tôi đang nói thì máu lại ộc ra ở mũi, tôi lấy mu xoa lau thì
ướt thấm cả mu xoa. Anh em phải đem tôi vào bệnh viện Việt Xô ngay. Vào bệnh viện
tôi vẫn chủ quan, cho là một sự chảy máu thường, tiêm thuốc cầm máu là khỏi.
Nhưng đến khi bác sĩ Phúc xem xét kỹ, mới thấy đây là một sự xuất huyết khá nặng
do đứt một mạch máu ở đáy mũi bên phải, mà sự đứt mạch máu là do huyết áp lên
cao quá đột ngột. Bác sĩ Phúc còn nói: “May lớn cho anh. Nếu không đứt mạch máu
ở đáy mũi mà đứt một mạch máu não thì không còn nhà thơ Huy Cận!”. Tôi nghe vậy,
hơi chờn, nhưng cũng tin vài ngày sẽ khỏi. Bác sĩ Phúc cho bông thấp thuốc cầm
máu vào mũi tôi, rồi nhét một sợi gạc dài gần 3 tấc; bông và gạc nhét vào căng
và tức trong mũi, gây đau nhức lên đầu.
Thế là tôi phải nằm yên và thở bằng miệng. Hai mươi bốn giờ
sau, bác sĩ kéo nhẹ sợi gạc ra thì thấy máu vẫn chưa cầm, nhưng tôi vẫn bình
tĩnh, cho là vài ngày sẽ đâu vào đấy Anh Diệu và vợ tôi vào thăm tôi hàng ngày,
vợ tôi có ngày vào hai lần mang một ít thức ăn bổ sung, và nhất là ngồi trông
nom tôi hàng giờ để cho tôi ngủ yên, có tối đến 9, 10 giờ vợ tôi mới ra về.
Chính trong những ngày nằm bệnh viện này tôi đã viết được “Chùm thơ làm trong bệnh
viện” mà anh Diệu rất thích (những bài thơ này đã in một số vào trong tập Ngày
hằng sống, ngày hằng thơ và tập Ngôi nhà giữa nắng.
Sau một tuần, máu vẫn không cầm, tôi bắt đầu hoang mang; lần
đầu tiên trong đời tôi cảm thấy hơi chờn trước cái chết có thể đến. Những năm
tôi đi vào khu 4 khói lửa, suýt bị chết rất nhiều lần ở Vĩnh Linh, ở Quảng
Bình, ở cầu Hàm Rồng mà chưa bao giờ tôi có cảm giác hoảng sợ trước cái chết lướt
bên cạnh mình. Nhưng lần này thì khác. Một đêm, đã khuya tôi bừng tỉnh dậy, thì
thấy cả cái gối ướt đẫm máu, và tôi bắt đầu sợ. Nhưng tính nào tật ấy, tôi gọi
bác sĩ đến dịt bông và băng cho tôi tiêm thuốc cầm máu nữa, nhưng trong đầu lại
thảo một bài thơ. Đó là bài Hạt lại gieo, xin nhắc đây mấy câu nói lên cái tâm
trạng đêm hôm ấy:
Anh nghỉ làm thơ để máu cầm
Máu ơi, ở lại chớ ra dầm
Máu là thế giới trong ta đó
Chớ để ta nằm với lặng câm
Yêu nữa yêu rồi đâu hết yêu
Cuộc đời như miếng đất phì nhiêu
Trồng bao nhiêu vụ còn tươi tốt
Hạt gặt xong rồi, hạt lại gieo
Rồi một ngày kia giã cõi này
Xin cho gieo hết hạt trong tay
Chứ tay còn nắm, chưa vơi hạt
Mà phải ra về, cực lắm thay!
Nỗi tiếc nuối còn dào dạt suốt cả chùm thơ bệnh viện, tôi xin
kể thêm một hồi sau...
Hai lần thăm Kim Tự Tháp
Tháng 2-1962, tôi dự Đại hội nhà văn Á Phi tại Cairo, thủ đô
Ai Cập; vào tháng 7 năm ấy tôi lại sang Cairo để dự lễ quốc khánh Ai Cập. Cả
hai lần tôi đều tranh thủ đi xem những Kim Tự Tháp nổi tiếng, thành phố Memphis
và thành phố Alexandrie, hai thành phố cổ nổi tiếng, tiêu biểu cho nền văn minh
cổ Ai Cập Đặc biệt tôi đã thăm kỹ Kim tự tháp Khéops và đã chui vào lòng, trung
tâm điểm của Kim tự tháp.
Cảm giác kỳ vĩ, có phần nào choáng ngợp mà tôi cảm nhận trước
công trình kiến trúc đồ sộ và độc đáo thì cũng trùng hợp với cảm giác của các
nhà văn nhà thơ đã đến trước tôi. Nhưng cái điều mà tôi băn khoăn là bấy nhiêu
sự chăm lo, săn sóc cho cái vĩnh viễn của con người lại bị lở lói mất, bị xói
mòn bởi những trận gió cát của sa mạc, và của thời gian.
Cát!
Tuổi nhỏ tôi đã rất quen thân với cát của bãi Giang quê nhà,
tôi đã chạy trên bãi cát để thá diều những buổi trưa hè, tôi đã lấy tay đào sâu
xuống cát để chơi trò cối xay... Cát đối với tuổi thơ bé của tôi là một cái gì
êm ả, gần gũi, thân thương. Lớn lên đi khắp miến đất nước cát gắn liền trong
tâm trí tôi với phù sa, cát và phù sa sông Hồng, sông Luộc, cát với phù sa của
sông Cứu Long trên đất Nam Bộ phì nhiêu. Cát mịn, cát tơi, cát mát... Cát xây
nhà, những đống cát là chỗ mà các trẻ con, con tôi, bây giờ là cháu nội của tôi
thích vọc, thích đắp để làm trò xây nhà. Lại còn cát trên bãi biển những chiều
sóng lên trẻ con cũng như người lớn xây những lâu đài, xây chưa xong sóng đã cuốn
đi. Và cát trong câu thơ của Lưu Trọng Lư:
Trên cát vô tình vạch chữ Vân
Chữ viết vừa xong, sóng xoá dần.
Nhưng lần này tôi mới biết thế nào là cát, là cát sa mạc, là
cát với tư cách là một sức mạnh của trời đất nổi tung lên đe doạ và phá hoại những
công trình những sự nghiệp của con người... Ở rìa sa mạc Ai Cập cũng như ở rìa
sa mạc Angiêri tôi đã thấy cát là một nhân vật, một nhân vật dữ dội, một hung
thần có những cơn giận dữ đúng là long trời lở đất. Cho nên đứng ở chân Kim tự
tháp, hình ảnh cát hung thần đã ám ảnh tôi:
Chỉ có trời xanh thay cỏ cây
Mênh mông sa mạc cát làm ngày;
Cát làm đêm nữa. Trăng phơi cát
Sao sáng đằng xa hay cát bay
Vua chúa không yên chịu cát vùi
Trăm kim tự tháp đá chen trời
Năm nghìn năm đứng cười sa mạc
Nắm chắc trong tay vĩnh viễn rồi...
Nhưng đó là chưa tính đến sức mạnh của cát và của thời gian.
Cho nên cái vĩnh viễn vua xây dựng bị cát của sa mạc và nước của thời gian xói
mòn, không một sức gì cưỡng được...
Nhưng rồi sao, Kim tự tháp ngàn năm
Trong lòng tôi một xác ép vua nằm;
Dời chân tôi vạn thần dân chết lụi.
Vua muốn thắng thời gian vòi vọi
Nằm yên trong giấc đá, kín bưng.
Suốt đời vua lo chỗ ngủ cuối cùng,
Ôm cái chết mong thắng dần cái chết.
Thời gian thổi, hồn vua không sợ rét,
Mặt trời quay, trục tháp chẳng mòn xoay.
Vua ngủ yên nhưng tôi thức đêm ngày;
Cát, cát cát nổi từng cơn dữ dội,
Cát thổi đập vào mình tôi nhức nhối.
Tôi thức vua cho vua biết:giữa trăng sao
Hạn nằm trong vĩnh viễn chẳng còn bao
“Dậy vua ơi! Cái chết chẳng thể rào
Được cái chết”. Vua ngủ mê giấc đá
Lở chân trời nhiều bạn tôi tàn tạ,
Hắt ra ngoài vĩnh viễn xác vua phơi...
Tôi thấy thời gian rúng lạnh bốn chân tôi...
Hai chuyến đi thăm Ai Cập có để lại cho tôi nhiều ấn tượng nữa,
chứ không chỉ cảm nghĩ về Kim tự tháp. Nền văn minh cổ Ai Cập mà dấu vết còn đầy
rẫy trên đất nước sông Nin này, tôi sẽ xin ghi những cảm tưởng Ai Cập một lần
khác. Nhưng cũng xin ghi ngay ở đây cái cảm giác mát mẻ, xanh tươi của những mảng
sa mạc đang biến thành vườn, thành đất trồng trọt màu mỡ nhờ nước của đập
Átxuăng mà Liên Xô đã giúp Ai Cập xây dựng, một công trình thuỷ lợi khổng lồ
trên đất châu Phi, một sự lấn đất quyết liệt của con người chống lại sa mạc.
Chính cũng trong hơi gió mát của vườn mới, đất mới ấy mà tôi
đã viết bài thơ Trò chuyện với Kim tự tháp mà câu cuối cùng là:
Bóng Kim tự tháp trải lên bờ sông mát
Thăm di tích Babilon
Tôi lại có cái may mắn được thăm đất nước Irắc hai lần: lần đầu
tháng 7-1962 để dự quốc khánh Irắc và lần thứ hai năm 1980 để dự hội nghị các
nước không liên kết về công tác văn hoá, thông tin, truyền thông. Đất nước Irắc
rất đẹp, đẹp một phần vì phong cảnh và các công trình xây dựng ngày nay, đẹp một
phần lớn nữa là do quá khứ văn minh của cái đất nước “Nghìn lẻ một đêm” này.
Tôi đã say sưa đi dạo giữa các phố của thành phố Bát-đa cũ, với cuộc sống nhộn
nhịp như rào rào sinh khí của nhân dân, làm tôi tưởng như mình đang đi trong một
dòng truyền thuyết và có cảm giác như ở bất cứ ngõ hẻm nào của phố xá cổ sơ này
cũng sắp hiện ra một ánh đèn Alađanh.
Phụ nữ Irắc rất đẹp, da trắng mịn, má ửng hồng tự nhiên, mắt
đen láy, tóc đen mượt, mũi cao dọc dừa nghĩa là một cái đẹp Âu Á kiêm toàn. Chỉ
tiếc là lúc tôi sang thăm, đa số các chị còn theo phong tục xưa mang khăn quàng
kín mặt, chỉ để hở vừng trán và đôi mắt, nhưng dường như thế cái đẹp của các chị
có bề hấp dẫn hơn...
Mỗi lần tôi đều tranh thủ đi thăm di tích kinh đô ngày xưa là
Babilon. Dọc đường những rặng cây chà là cũng mang dáng dấp những công trình kiến
trúc với thân cây vững chãi, với ngọn cây túa đẹp như những ngọn tháp, như những
cột nhà Hi Lạp ngày xưa. Lý thú nhất là xem lại những đường phố của Babilon còn
nguyên vẹn với những gạch hoa, những mảng tường lớn trang trí bằng những hình
sư tử lớn và hình ngựa cao to, tất cả đều bằng gốm men màu chủ yếu là màu xanh
lá cây và màu nâu. Màu men gốm vẫn tươi ánh như mới ra lò. Giữa những đường phố
có tường trang trí lộng lẫy này, vua quan, công hầu bá tước, và những nàng công
chúa đẹp như truyền thuyết đã dạo qua trong những ngày lễ lớn, trong những ngày
hội của triều đình, trong những ngày đăng quang của các vị hoàng đế. Bên cạnh
cái lộng lẫy của đời sống vua chúa tôi còn được thấy những vết tích của công
trình thuỷ lợi, những hệ thống cống rãnh của một thành phố lớn xưa kia. Ở Babỉlon
đối với khách phương xa đến còn hai di tích nổi tiếng là con sư tử bằng đá cao
to, chưa sứt mẻ chút nào, và cái vườn treo Babilon. Cũng như khách thập phương
khác tôi đã có cái thú trèo cưỡi lên con sư tử để chụp ảnh cùng một đồng chí
Anbani đi vãn cảnh hôm đó. Anh này tôi còn giữ, với lời đề tặng của đồng chí
Anbani: “Mong rằng chúng ta - những con người - sẽ còn đứng vững bền hơn con sư
tử này”. Nếu là loài người nói chung thì câu đề tặng ấy chắc chắn là đúng. Còn
riêng đồng chí Anbani và tôi đã thăm Babilon hôm ấy thì chắc rằng đứng trên
trái đất này chẳng còn bao năm. Còn cái vườn treo của Babilon thì đã xơ xác đi
nhiều, tất nhiên còn cái dáng của vườn và đã có một ít cây cối cằn cỗi trên mảnh
đất treo ấy. Câu chuyện thì ai cũng biết: Có một ông vua thời đó cưới hoàng hậu
rất đẹp quê quán ở một làng hẻo lánh xa xôi cách kinh đô Babilon hơn trăm dặm.
Hoàng hậu rất mực yêu vua, chiều chuộng vua không phải với nghi lễ của một
chánh cung, mà với tất cả cử chỉ âu yếm đắm say của một người yêu, của một người
tình, mà tình yêu của cái xứ “Nghìn lẻ một đêm” này thì đắm say, đam mê như thế
nào chúng ta cũng có thể tưởng tượng. Nhưng hoàng hậu vẫn nhớ nhà, vẫn nhớ cha
mẹ, nhất là nhớ mẹ. Chiều chiều hoàng hậu cứ ra cửa sau của hoàng cung để nhìn
về phía quê mẹ mà ứa nước mắt. Vua thấy vậy càng yêu hoàng hậu và càng thương.
Vua bèn cho xây một cái vườn treo khá cao trên vườn treo trồng các thứ cây, hoa
của quê nhà hoàng hậu, để chiều chiều hoàng hậu lên đó dạo chơi tiêu khiển,
nhưng, hoàng hậu đứng trên vườn treo vẫn nhìn về quê mẹ, mà một câu thơ của
Babilon hồi ấy cũng nói là hoàng hậu nhìn về quê mẹ lòng đau đớn không nguôi.
Thật đúng như câu ca dao của ta:
Chiều chiều ra đứng cửa sau
Nhìn về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Xem tế Nam Giao
Bảo Đại về nước năm 1934, học sinh trường Quốc học, trường Đồng
Khánh và các trường tiểu học ở Huế, cùng với đội ngũ giáo viên đều được huy động
đi rước “Hoàng đế hồi loan”. Chúng tôi lúc đó mỗi đứa phải cầm một tờ giấy màu
vàng (màu của nhà vua) và khi xe của Bảo Đại đi ngang thì phất cờ và hô “Hoàng
đế vạn tuế”. Xe của Bảo Đại đi ngang đám học sinh cũng chạy tương đối nhanh,
chúng tôi liếc vào thấy Bảo Đại bận áo vàng, chít khăn vàng, ngồi im không nhúc
nhích như phỗng đá, không hề giơ tay vẫy chào đám người đi đón ông ta. Vả lại cửa
kính của xe cũng đóng kín, chắc ông ta cũng không nghe thấy tiếng hô “vạn tuế”
rời rạc của đám học sinh.
Mùa xuân năm 1935, một năm sau khi Bảo Đại về nước, triều
đình Huế tổ chức lễ tế Giao (nghĩa là nhà vua làm lễ cúng trời ở đàn Nam Giao,
cách trường Quốc học 3, 4 cây số về phía núi Ngự Bình). Lễ tế giao này đã được
quy định từ thời Gia Long, với cái ý nghĩa là nhà vua cầm quyền cai trị dân,
cai trị đất nước là do mệnh trời, cho nên cứ 3 năm một lần nhà vua làm lễ tế
giao để trình lại với trời công việc trị dân, trị nước, và cũng để cảm nhận ý
trời trong sứ mệnh cao cả của nhà vua. Theo thuyết của Khổng Tử và truyền thống
của các triều đại Trung Quốc thì vua là Thiên tử (con trời), nhưng các nhà vua
triều Nguyễn không dám tự xưng là thiên tử với nhân dân, chỉ dám nói qua quít
là trị dân, trị nước theo ý trời mà thôi.
Đó cũng là một sự mặc cảm của một triều đại mà trong tiềm thức
cũng tự cảm thấy cái vị trí con trời đã bị lung lay, cái mệnh trời cũng không
còn là một “chân lý” vững chãi nữa, dù cho là “chân lý” tượng trưng, hình thức.
Bảo Đại theo nghi lễ của triều đình làm lễ tế giao này cũng là làm chiếu lệ,
cho qua chuyện chứ không với một lòng tin như các ông vua ở các triều đại trước.
Đến ngày lễ tế giao, triều đình rước Bảo Đại ra cửa chính Ngọ
Môn, đi qua cầu Tràng Tiền, đi thẳng con đường lớn dọc sông Hương (lúc đó là đường
Jules Ferry, đi qua trước trường Đồng Khánh và trường Quốc học), rồi đi thẳng
lên đàn Nam Giao. Chúng tôi tập trung trước cửa trường Quốc học, gọi là chào
vua, mà thật ra là tò mò xem ông vua đi tế trời như thế nào. Bảo Đại ngồi trong
một cái kiệu 4 mặt đều che bằng những tấm kính lớn trong suốt, kiệu do tám người
lính gánh, lính của Hoàng thành đội nón dầu, mặc quần áo vải điều và quấn xà cạp
bằng vải điều có viền nỉ xanh tím. Còn Bảo Đại thì ngồi nghiêm nghị trong bộ áo
quần hoàng bào, đầu chít khăn vàng, chân đi giày cườm. Nhà vua cũng ngồi im như
pho tượng, không nhúc nhích, mắt cố gắng nhìn thẳng phía trước. Các quan đại thần
đi theo sau cũng ngồi trong những chiếc xe hòm đen, những chiếc xe kiểu năm
1900, các quan bận lễ phục hoặc bận áo dài đen, chít khăn chữ nhất, rồi lên đến
đàn Nam Giao mới mặc áo đại lễ. Trước kiệu của nhà vua có hàng lính Nam triều
mang cờ đi trước, tôi nhớ có cờ đại và nhiều cờ đuôi nheo bằng nỉ đỏ viền tím
xanh. Tiếp theo hàng cờ là đội lễ nhạc, nghĩa là một phường bát âm của triều
đình, vừa đi vừa tấu bài nhạc “Đăng đằng cung”. Cuộc rước nhà vua từ Ngọ Môn
lên đến đàn Nam Giao diễn ra trong nửa buổi sáng cũng không lấy gì lâm rực rỡ lắm,
mà cũng không gây được cái gì gọi là náo nức trong lòng dân chúng. Đó là một cuộc
rước không đến nỗi âm thầm, nhưng cũng không có gì là “khí phách thiên tử”. Đêm
hôm ấy Bảo Đại phải ăn chay tắm rửa bằng các thứ nước cho nhiều hoa lá xông vào
để nhà vua được thật “thanh khiết” trước khi tiếp xúc với trời. Ăn uống và tắm
rửa như vậy, người ta gọi là lễ trai giới của hoàng đế. Đến khoảng 4 giờ sáng
thì nhà vua và triều đình làm lề tế trời, trong bầu không khí mát mẻ và yên
tĩnh của ban mai, trước khi mặt trời mọc.
Đàn Nam Giao là một cái nền hình tròn (tượng trưng cho trời),
có ba bậc tam cấp cao vừa vừa, có bốn cửa đi lên theo hướng đông, tây, nam, bắc.
Ngày tế giao thì triều đình cho dựng lên trên nền đàn Nam Giao một cái nhà tế với
những cột gỗ cắm vòng quanh nền tròn và lợp trên những cột gỗ là một thứ tăng bằng
vải màu xanh lơ (cũng là tượng trưng màu xanh của trời). Bọn tôi tò mò, ngủ dậy
sớm, rủ nhau trèo tường ra khỏi trường và lên Nam Giao để xem tế.
Trong ngọn gió mai rì rào qua những cây thông chúng tôi nghe
lễ nhạc thoát qua cái tăng màu xanh và những lời xướng lễ của các quan như vọng
từ một quá khứ cổ sơ. Cảnh tượng ấy cũng gây cho chúng tôi một cảm tưởng hay
hay, hiu hiu. Nhưng tất cả cảnh vật và nghi lễ ấy, ngay lúc bấy giờ, cũng không
còn đủ cái vẻ thiêng liêng, không còn cái nội dung quân thần của các thời đại lịch
sứ xa xưa nữa, cho nên không thể làm rung động lòng thanh niên chúng tôi, dù là
một thứ rung động hoài cổ. Thật ra ngay bản thân nhà vua cũng cảm thấy đây là một
cái trò một nghi lễ giả tạo, cái hồn của nghi lễ không còn nữa, chỉ còn cái xác
của nghi lễ, cũng như ông vua bù nhìn chỉ còn cái xác vua chứ quyền trị vì, trị
dân, trị nước đâu còn có nắm trong tay. Cảm giác giả tạo cảm giác trò sân khấu ấy
làm chúng tôi không còn hứng thú xem hết lễ tế giao còn kéo dài mấy tiếng đồng
hồ, và chúng tôi cũng không màng xem lễ rước vua hồi cung. Thế mà nhà văn Nguyễn
Tiến Lãng đã viết trong tạp chí Nam phong hồi đó một bài tường thuật bằng tiếng
Pháp hết lời tán tụng lễ tế giao tán tụng nhà vua, cố gắng tạo ra cái không khí
thiêng liêng gần như một thứ không khí tôn giáo trong việc nhà vua tiếp xúc với
trời để nhận những ý trời trong bầu không khí tinh khiết và trầm mặc của buổi rạng
đông. Giả tạo lại được giả tạo ca ngợi là vậy.
Đồng Minh thắng hay Trục thắng?
Lúc xảy ra cuộc tiến công của phát xít Hít le vào Liên Xô
(1941), thì tôi ở Pôpốt cùng một số anh em sinh viên các ngành tại số nhà 198
phố Lò Đúc, trước cây đa Nhà bò. Trong số anh em sinh viên ở chung ăn chung,
khoảng 10 người, tự nhiên chia làm hai phe, và mỗi phe cũng khoảng 5 người, một
bên thì đánh cuộc và mong rằng Liên Xô và đồng minh thắng, phe kia thì mong và
tin chắc rằng Trục (tức là liên minh Đức - Ý- Nhật) sẽ thắng. Ngày nào tôi cũng
ghé qua bưu điện để xem tin của hãng ARIP đưa tin về diễn biến chiến sự trên
chiến trường châu Âu, châu Á, và xem đều báo tiếng Pháp “Ý chí Đông Dương” (La
volonté Indochinoise). Tờ báo này là của chính quyền thực dân Pháp ở Đông
Dương, đăng tin có vẻ khách quan nhưng thực ra cũng ngầm mong là Đồng minh sẽ
thắng song những bài bình luận thì nói lấp lửng, vì lúc đó bọn phát xít Nhật đã
vào Đông Dương và chúng cũng theo dõi sát các cơ quan ngôn luận của người Việt
và người Pháp. Trong đám chúng tôi đã ít nhiều giác ngộ, thì không những mong ước,
mà cũng có chút ít lập luận để tin rằng Liên Xô sẽ thắng, mặc dầu cuối năm
1941, đầu năm 1942 Liên Xô bị tấn công ào ạt, và bị tổn thất lớn. Nhưng đầu năm
1942 đã thấy sự cầm cự của Liên Xô rất ngoan cường nhất là trong những trận ở
Koursk và Orel... Thế rồi trong những buổi ăn trưa và ăn tối trong cái phòng ở
tầng dưới, hai phe đều đưa tin, với những chi tiết để thuyết minh rằng Liên Xô
thắng hay là Trục thắng... Từ chỗ đưa tin đến chỗ bàn cãi, từ chỗ bàn cãi đến
chỗ đập bàn, từ chỗ đập bàn đến chỗ thụi nhau, đánh nhau, có lần vỡ cả bát đĩa.
Tính tôi thường là điềm đạm, mà cũng có lần hăng máu tham gia cuộc “chiến đấu”
trong buồng ăn, nó là hình ảnh thu gọn của cuộc chiến tranh đang diễn ra trên
chiến trường châu Âu, châu Á. Tôi nhớ có một anh học ngành dược, mắt cận thị nặng,
đeo kính cận thị dày, đầu lại húi ngắn, giống y như một tên lính Nhật, và anh
cũng đứng về phía bênh vực bọn phát xít. Trong lúc cãi nhau hăng máu chúng tôi
đã gọi anh là “thằng phát xít trà trộn vào chúng ta”. Anh tức uất lên, nhưng
không cãi gì được, chỉ doạ “rồi chúng mày sẽ biết!”. Anh ta rất thân với một
anh học trường luật quê ở Quảng Nam có xu hướng thân Nhật và thỉnh thoảng anh bạn
cận thị lại mời anh sinh viên trường luật đến thuyết trình về chủ nghĩa Đại
đông Á cho chúng tôi nghe. Nhưng anh bắt đầu nói thì phe chúng tôi đứng dậy bỏ
đi, không gây sự nhưng cũng không giữ lễ độ, khinh khỉnh ra mặt. Thành ra anh
sinh viên trường luật thân Nhật lại thuyết trình cho những người đồng điệu mà
thôi. Thế rồi anh sinh viên trường luật này được Nhật mời sang học và nghiên cứu
tại Tôkyo, thực chất là để đào tạo thành một nòng cốt của bọn Nhật sau này khi
chúng nắm quyền lực ở Đông Dương, điều mà chúng tin chắc sẽ thực hiện. Phe Trục
trong pôpốt chúng tôi làm một bừa tiệc linh đình để tiễn anh T.H. lên đường đi
Nhật. Cuộc tiễn đưa diễn ra ở sân ga Hàng Cỏ. Tất nhiên là bọn chúng tôi tẩy
chay, nhưng chúng tôi cũng không gây sự, để mặc cho bọn họ bù khú với nhau, vì
lúc đó hie~l binh Nhật đã sục sạo nhiều trong các tổ chức xã hội, trong các trường
học. Tôi lại còn nhớ, về sau khi tôi đã chuyển sang ở ngõ Tân Hưng (nay là ngõ
Tức Mạc), thì bọn lính Nhật thỉnh thoảng tự nhiên vô cớ sục vào pôpôt của chúng
tôi, mặt đỏ gay, gươm dài kéo lết đất, lúc đầu nói sừng sộ, rồi sau ra hiệu mượn
một cái bát, và rút trong túi lấy ra một quả trứng gà. Chúng tôi không hiểu nó
làm trò gì. Thằng lính Nhật hình như là hạ sĩ quan, liền đập quả trứng nhẹ
nhàng bỏ vào cái bát và chỉ cho chúng tôi thấy lòng đỏ ở giữa, bao quanh là
lòng trắng. Rồi nó lấy giấy vẽ cái cờ Nhật ở giữa là mặt trời đỏ và xung quanh
toàn trắng, nghĩa là mặt trời lên lúc rạng đông. Đó là nước Nhật. Xong rồi nó lại
lấy ngón tay đánh tan lòng đỏ hoà vào với lòng trắng thành một màu tuyền vàng,
ý nói là người châu Á cùng da vàng đoàn kết với nhau, hoà với nhau thành một khối
trong khối thịnh vượng chung Đại đông Á. Đó là cách tuyên truyền bằng hình tượng
của quân đội Nhật. Nó bước ra, vẫn kéo lê lết chiếc gươm dài, hơi cười một chút
nhưng cái cười của bọn lính Nhật thì dễ sợ không kém lưỡi gươm nhọn sắc của
chúng. Chúng lại thỉnh thoảng vứt vào nhà chúng tôi những tập sách mỏng in đẹp,
tuyên truyền cho nền văn minh Nhật, có những hình ảnh về nghi lễ trà đạo, về lễ
thưởng thức hoa anh đào, về núi Phu-di, về võ sĩ đạo, và luôn luôn có hình ảnh
phụ nữ Nhật bận bộ kimônô màu sắc rất đẹp. Cuộc tranh luận, cãi cọ trong pôpốt
phố Lò Đúc của chúng tôi cứ kéo dài và diễn biến sôi nổi theo nhịp độ của chiến
trường châu Âu, châu Á, nhất là theo cuộc chiến đấu dữ đội của quân đội Xô Viết
ở mặt trận phía bắc và phía nam. Những ngày tháng Lêningrát bị bao vây là những
ngày tháng hồi hộp tường như chúng tôi cũng là những người dân của thành phố
anh hùng đang bị giam hãm trong gọng kìm của quân đội phát xít Đức. Chúng tôi hồi
hộp theo dõi tin hàng ngày trên báo, trên bản tin ARIP. Lúc đó Hít le lại huênh
hoang đã in sẵn thiếp mời dự tiệc chiến thắng ở trung tâm thành phố Lêningrát
vào ngày lễ Nôen 1942. Tất nhiên đó là một sự huênh hoang ngông cuồng của tên
trùm phát xít, cốt cổ vũ tinh thần của quân lính nó, nhưng tin đưa ra cũng làm
cho một số anh em bàng hoàng...
Thế rồi quân đội phát xít Đức bị bẻ gãy gọng kìm, và phe Trục
trong pôpốt Lò Đúc của chúng tôi cũng co vòi, tiu nghỉu cụp tai...
Tập 2-O
Một kỷ niệm về Nazim Hikmet
Tôi bắt đầu quen Nazim Hikmet, nhà thơ cộng sản lớn của dân tộc
Thổ Nhĩ Kỳ tại Lêningrát trong chuyến đầu tiên tôi đi thăm Liên Xô. Lúc bấy giờ
tại nhà hát Opêra - Ba lê của thành phố đang diễn vở ba lê Một truyền thuyết
tình yêu theo kịch bản của Nazim. Tôi đến chào anh, vì tôi đã đọc thơ anh, nhất
là đã đọc tập Thật là đau khổ cái nghề đi đày. Anh nói chuyện ngay, bằng tiếng
Pháp, giọng rất thân tình, rất anh em như quen biết đã từ lâu. Mùa hè 1959, tôi
gặp lại Nazim Hikmet tại Lai xích (Cộng hoà dân chủ Đức), nhân dịp tôi đi dự hội
nghị xuất bản các nước xã hội chủ nghĩa tại đó. Nazim Hikmet đang mệt; bệnh đau
tim của anh đã nặng thêm, thường đau nhói nơi tim. Qua mấy lần nói chuyện, tôi
biết anh cảm thấy mình không còn sống lâu nữa. Nhưng anh không tuyệt vọng,
không buồn, nhất là không hốt hoảng. Anh đã tự luyện cho mình một sự bình tâm
trước mọi chuyện có thể xảy ra, trước cái chết đang rình anh “như con rắn độc
nó chực cắn vào tim anh”.
Anh nói chuyện với tôi với thái độ rất anh em, với tình đồng
chí cộng sản. Giọng anh ấm áp lạ thường.
Tức khắc anh trở thành người bạn thân, như đã thân nhau từ
hàng chục năm trước. Tình người toả từ mắt anh, từ tay anh, từ tiếng nói bè bạn
của anh.
Quen anh tôi tường làm quen
Nghìn năm nhân loại thành tên một người
Anh đang mệt, nhưng nghe tôi nói có chiếu phim tài liệu Việt
Nam là anh đòi đến xem để biết thêm về dân tộc Việt Nam mà “anh rất cảm phục, rất
yêu mến”, để biết thêm về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà anh “yêu mến vô hạn” với tấm
lòng cách mạng, tấm lòng cộng sản của anh. Sau buổi chiếu phim anh hỏi nhiều về
đất nước, về con người, về cuộc sống chiến đấu của Việt Nam. Anh mong một ngày
kia sức khỏe cho phép anh được sang thăm đất nước “anh hùng, đau khổ và tất thắng”.
Buổi tối trước hôm tôi về nước, tôi đến thăm anh lần nữa tại khách sạn Astoria.
Nazim Hikmet đang cơn mệt, tim đau nhói, tay phải anh luôn luôn áp vào phía
trái tim, áp một thứ giấy có tẩm thuốc trợ tim, như một lá cao. Tôi đến bên giường
anh nói khẽ. Anh muốn vui với tôi, nhưng giọng anh nói tôi cảm nghe như ướt nước
mắt, thứ nước mắt cầm lại chảy vào trong lòng. Mắt anh, nhìn thương lắm. Anh bảo
tôi đọc cho anh nghe, đọc nguyên bản tiếng Việt Nam, vài bài thơ của tôi cho
anh nghe, đọc nguyên bản tiếng Việt để anh được “hưởng sự ngọt ngào, sâu lắng của
tiếng nói phong phú của con người”. Tôi đọc và giải thích cho anh nghe về điệu
thơ lục bát Việt Nam. Anh tỏ ý rất thích và rất tin ở sự nảy nở mới của các nền
văn hoá, của các văn học nghệ thuật phương Đông. “Phương Đông đã đóng góp lớn
cho văn minh nhân loại và sẽ còn đóng góp lớn hơn nữa. Chúng ta là Phương Đông,
đồng thời chúng ta hiểu cả phương Tây, chúng ta rất giàu”. Anh nói những lời
trên giọng trầm trầm, với một sức tin tưởng như ấn nặng xuống cuộc đời. Đã hơi
khuya, tôi còn muốn nói chuyện, ý anh cũng lưu luyến, nhưng tôi nài anh cứ nằm.
Tôi không nỡ rời anh trong lúc anh đang cơn đau. Tôi không sao ngoảnh lưng mà
ra về được. Tôi đi giật lùi từng bước. Anh chào tôi, giọng rơm rơm nước mắt: “Đồng
chí Huy Cận ơi, chắc tôi không còn sống lâu không còn sống đến ngày nước Thổ
Nhĩ Kỳ, dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ thân yêu của tôi được giải phóng. Ý nghĩ ấy làm tôi
chết điếng trong đáy tâm hồn. Anh còn sống lâu sau tôi, anh nhớ đến thăm đất nước
và nhân dân của tôi thay tôi. Đó là một yêu cầu bè bạn, anh em, anh nhớ cho.
Thôi anh về kẻo khuya; mai anh còn phải về Việt Nam chiến đấu với nhân dân anh
dũng của anh. Cho tôi gởi lời chào. Tạm biệt, tạm biệt”.
Câu cuối cùng anh nói trong nước mắt! Tôi kể cho anh nghe nội
dung bài thơ sân khấu Người thợ ảnh của tôi. Sau đó gặp lại ở Mát-xcơ-va, tôi
đưa anh xem bản dịch bài thơ ấy ra tiếng Nga do nhà thơ lớn Pavel Antakolski dịch.
Anh rất thích và hứa sẽ dịch ra tiếng Thổ Nhĩ Kỳ.
Kỷ niệm về nhà thơ Nicôla Ghiden
Lần đầu tiên tôi được gặp Nicôla Ghiden là tại Đại hội nhà
văn Á - Phi họp ở Cai rô, thủ đô Ai Cập hồi tháng 2-1962. Tôi đã được đọc thơ
anh từ trước trong một tuyển tập của anh do nhà xuất bản Pháp Seghers xuất bản
tại Paris. Tứ thơ và nhịp điệu thơ của anh (dầu là qua bản dịch) rất độc đáo,
có một cái gì trần trụi trực tiếp, vừa êm ái vừa sâu xoáy làm cho tôi nhớ ngay,
và có những bài thơ như cứ vương vấn trong tâm trí tôi, như tiếng nói của một
người bạn quen đã lâu ngày. Anh là một trong hai nhà thơ da đen của châu Mỹ mà
tôi biết trước hết, đó là Langston Hughes (nhà thơ da đen Mỹ) và anh. Sau này
tôi biết và quen thân thêm Keng Depestre, người Haiti. Nicôla Ghiden thật ra
không phải là hoàn toàn da đen, mà anh là người lai giữa da trắng và da đen, bố
anh là người Cuba da đen, mẹ anh là người da trắng gốc Tây Ban Nha. Những người
lai như anh ở Cuba gọi là người da nâu (mulâtre). Gặp nhau ở hội nghị, qua vài
câu chuyện, là chúng tôi trở nên thân thiết, như đã quen biết nhau từ lâu, anh
hơn tôi 17 tuổi, nhưng tình thơ tình cách mạng tạo ngay được mối tình anh em,
dù cách nhau nửa vòng trái đất. Thế rồi ngoài giờ hội nghị trong những lúc đi
tham quan, hoặc đi dạo phố chúng tôi lại cặp kè đi với nhau nói chuyện thơ,
chuyện đời, chuyện đất nước và cách mạng Cuba, Việt Nam châu Mỹ la tinh. Chúng
tôi dùng tiếng Pháp để nói chuyện với nhau, nhưng đôi khi trong một câu tiếng
Pháp, anh chen tiếng Tây Ban Nha vào mà tôi cũng đoán hiểu, và như thế tôi bắt
đầu học tiếng Tây Ban Nha nhờ anh. Sau này đi công tác hai lần ở Cuba tôi học
thêm và có tiến bộ về tiếng Tây Ban Nha, ít nhất là để khỏi lạc đường giữa các
phố La Havana. Nicôla Ghiden rất nổi tiếng ở Cuba đã đành, mà trong toàn châu Mỹ
la tinh nữa, các giới văn học thế giới cũng biết đến anh nhờ những bản dịch qua
tiếng Pháp tiếng Anh và tiếng Nga. Anh làm thơ cách mạng nhiều năm trước khi
cách mạng Cuba thành công. Những bài thơ đầu của anh in những năm 30, với tình
cảm xót xa, uất hờn trước cảnh đất nước Cuba bị đế quốc Mỹ và bọn tư bản bản xứ
bóc lột thậm tệ, trước thân phận những người công nhân, những người nông dân
Cuba sống như những người nô lệ, những em bé cả da trắng và da đen đi ăn xin
như “những con chó ghẻ” tìm ăn đáy đĩa dưới các bàn tiệc. Tôi nhớ mãi bài thơ của
anh Đất nước tôi bên ngoài dịu ngọt, bên trong cay đắng, và bài thơ Cái tên
tôi. Trong bài thơ này anh nói cái tên châu Phi của tổ tiên da đen của anh
không còn nữa, cái tên ấy bị đánh chìm trong đêm tối của thời gian, trong cái
kiếp nô lệ của cha ông bị bán làm sức lao động từ châu Phi sang châu Mỹ hơn 2
thế kỷ trước. Bây giờ anh phải mang tên một vị thánh (Nicôla) và tên Ghiden là
tên Tây Ban Nha ghép vào trong sổ của người công chứng (Notaire). Đoạn cuối bài
thơ anh Xuân Diệu dịch ra như sau:
Như thế, vậy thì sẽ có gì quan trọng
Vậy bây giờ còn quan trọng cái gì.
cái tên bé nhỏ của tôi
và mười bốn chữ trên trang giấy trắng
Và cái tên Phi châu xứ Đahômây,
xứ Tô gô, xứ Mali hoặc là xứ khác
của ông tổ đáng buồn
bị chết chìm trong mộc của một tên công chứng,
các bạn thuần khiết của tôi ơi, có quan trọng gì
đâu
Ồ! Vâng, các bạn thuần khiết của tôi ơi,
Vâng, hãy đến nhìn cái tên của tôi!
Cái tên tôi dài dằng dặc
và kết thành bằng những tên dài dằng dặc
cái tên tôi: tên của tôi, tên của người khác,
cái tên tự do của tôi, của anh, của bao người khác,
của bao người khác, cái tên tôi tự do như khí trời...
Còn bài thơ Tổ quốc tôi bên ngoài dịu ngọt thì mở đầu như
sau:
Tổ quốc tôi bên ngoài dịu ngọt...
Nhưng biết bao cay đắng bên trong;
Tổ quốc tôi bên ngoài dịu ngọt
Với mùa xuân xanh thắm
Với mùa xuân xanh thắm
Nhưng mặt trời mật đắng ở trong tim.
Trời xanh trầm lặng im lìm
Thản nhiên ngắm nhìn cay đắng
Trời xanh im lìm trắm lặng
Ôi Cuba! Tuy Thượng đế cho Người
Ôi Cuba! Tuy Thượng đế cho Người
Xanh xanh đây một mảnh trời...
Một con chim gỗ
Mỏ mang lại lời ca,
Một con chim gỗ
Mỏ mang lại lời ca...
Ôi Cuba! Tôi muốn cùng Người nói
Tôi hiểu Người sâu sắc xiết bao
Rừng cọ Người nhuộm những máu đào
Rừng cọ Người nhuộm những máu đào
Biển Người đó chỉ toàn nước mắt!
Tôi biết Người xiết bao sâu sắc
Sau nụ cười hiền dịu của Người
Tôi trông thấy máu tươi và nước mắt
Sau hiền dịu nụ cười
Máu tươi và nước mắt
Sau hiền dịu nụ cười
Máu tươi và nước mắt.
Những bài thơ có tinh thần và tình cảm cách mạng của anh viết
bằng điệu “Xông” được những người hát dạo lang thang ở những bến tàu hát lên một
cách buồn bã và cay đắng cho những khách du lịch tìm nghe những điệu hát “Bản xứ”.
Nhưng cuốn sách của anh gồm những khúc “Xông” ấy thì lại được ra đời ở Mêhicô,
bởi vì ở Cuba lúc bấy giờ là chế độ độc tài quân sự cai trị, việc phổ biến những
bài thơ như thế bị cấm. Song le - như Nicôla Ghiden đã nói - thơ đến với nhân
dân bằng những đường tinh vi nhất và khác nhau nhất.
Nicôla Ghiden đã sang thăm Việt Nam trong những ngày chúng ta
chống Mỹ cứu nước, tôi và anh Xuân Diệu đã hướng dẫn anh đi thăm Hà Nội, các
vùng lân cận, và vịnh Hạ Long, khu mỏ Hòn Gai. Anh thích được nghe các điệu dân
ca của ta, và thích được xem các kiến trúc cổ như đền chùa. Đối với anh, cũng
như đối với các nhà thơ chân chính khác, cái gì là bản sắc dân tộc đều có sức hấp
dẫn, đều khơi dậy những vang động sâu xa trong tâm hồn. Trước khi anh sang thăm
Việt Nam, tôi đã có dịp gặp lại anh hai lần ở Cuba: năm 1965, lúc tôi dẫn đầu
đoàn nghệ thuật sang biếu diễn bên đó, và tháng giêng năm 1968 lúc tôi sang dự
Đại hội văn hoá toàn thế giới họp tại La Havana. Mỗi lần, gặp nhau thân thiết
anh đều ao ước được sang thăm đất nước Việt Nam anh hùng, nước Việt Nam thân
thiết đối với anh cũng như đất nước Cuba” như lời anh nói.
Nhà xuất bản Văn học của ta có yêu cầu anh Xuân Diệu, tôi và
một số nhà thơ khác dịch và giới thiệu thơ Nicôla Ghiden. Anh Xuân Diệu đã viết
bài giới thiệu dài hơn 60 trang, và tôi đã viết lời nói đầu như sau:
“Thơ của Nicôla Ghiden là một dòng thơ cách mạng cỡ lớn. Cái
giá trị trước tiên mà mọi người công nhận ở ông, chính là ông đã cho thơ của
mình một nội dung rất cách mạng: những đắng cay và nhung căm giận của một dân tộc,
một lòng yêu tổ quốc nồng nàn, sự thúc giục và kêu gọi bất tuân chính quyền phản
động.
Và tất cả nội dung ấy đã được nói lên, được truyền đi một
cách giản dị, không chút kiểu cách. Đây là một thứ thơ trực tiếp, một ngôn ngữ
trực tiếp, không văn hoa, chẳng bày bố thông thái.
Mỗi bài thơ của Ghiden là một chấn động tâm hồn. Tại sao như
vậy. Cái bi tráng qua đởi sống quần chúng được nói với những tiếng, chữ của
nhân dân, với những cách nói của nhân dân, với cách diễn tả ngắn gọn của những
tục ngữ ca dao của dan tộc.
Và nhạc điệu của thơ ấy nữa! Dù qua các bản dịch, người đọc
cũng xúc cảm và vương vấn bồi hồi vì nhạc thơ ấy; có lẽ vì trước hết đây là một
nhạc điệu nội tâm, một nhạc điệu của tâm hồn. Nhưng tâm hồn và thể xác, làm sao
tách đôi ra được.
Một giá trị lớn khác của Nicôla Ghiden chắc hẳn đã gia nhập
được yếu tố da đen - ảnh hưởng gốc rễ sâu xa của xúc cảm và tính nhạc điệu cao
ca của các cử chỉ của ngôn ngữ - và đã thực hiện được cuộc hôn nhân đẹp đẽ giữa
sự xúc cảm da đen với sự xúc cảm Tây Ban Nha. Nói chung, Ghiden đã sáng tạo ra
cái nên thơ “lai giống” lai da đen và Tây Ban Nha, như chính ông cũng thích nói
như thế. Sự độc đáo lớn lao của ông nằm ở điểm này, sự đóng góp vô giá của ông
vào ngôn ngữ nhân loại cũng ở điểm này.
Ai một ngày kia sẽ định nghĩa được cho chúng ta cái diệu kỳ,
cái phép lạ và sức quyến rũ của thơ chân chất và chân chính? Chúng ta đọc thơ
Nicôla Ghiden luôn luôn với một giọt lệ rưng rưng, nước mắt căm giận, nước mắt
mừng vui, những giọt lệ thiên cảm và chung hoà của tình nhân loại”.
(Hà Nội, 23-10-1974)
Năm 1982, chính phủ và nhân dân Cuba đã làm lễ trọng thể mừng
Nicôla Ghiden 80 tuổi. Trong số báo tạp chí thì đúng hơn, Bôhemia số đặc biệt về
Nicôla Ghiden đã có cho in tấm ảnh chụp Nicôla và tôi đứng ở trên bờ Địa Trung
Hải, lúc dự Đại hội nhà văn Á- Phi 1962. Chính phủ ta đã cử anh Xuân Diệu sang
dự lễ mừng thọ Nicôla Ghiden, và mang sang cho anh tuyển tập thơ anh bằng tiếng
Việt Nam. Anh lấy làm hứng thú và nói với anh Diệu: “Thơ tôi có cay đắng và có
dịu ngọt, chắc rằng qua tiếng Việt Nam phần dịu ngọt sẽ dịu ngọt hơn, phần cay
đắng đã cay đắng hơn lên”, đó là một cách anh ca ngợi tiếng Việt Nam của chúng
ta, tiềm năng thơ trong tiếng Việt. Hiện nay Nicôla Ghiden đã 85 tuổi, vẫn khỏe,
chắc mạch như “một con trâu cày”, chắc sự so sánh này không làm phiền lòng anh.
Nicôla Ghiden! Một nhà thơ lớn của Cuba của châu Mỹ la tinh, của đội ngũ nhà
thơ cộng sản ở thế kỷ 20 này. Chúc anh sống lâu để thấy Tổ quốc anh và thế giới
của chúng ta thêm nhiều dịu ngọt, không còn cay đắng.
Kỷ niệm về nhà thơ Thanh Tịnh
Mùa hè năm 1937, lúc gần mùa thi, anh Xuân Diệu và tôi được
anh Thanh Tịnh rủ đi thăm các lăng tẩm ở Huế. Anh hướng dẫn chúng tôi đi thăm
lăng thì không còn ai hơn, vì anh rất hiểu sự tích các lăng, và có thể nói là rất
thạo trong công tác du lịch, trong cái nghề hướng dẫn khách thập phương vãn cảnh.
Anh lúc đó đang làm việc trong hội những người bạn của cố đô Huế” (Les amis du
Vieux Huế). Hội này có cho ra đều một tập san lấy tên của hội, mỗi số của tập
san dày hàng 400-500 trang, có nhiều bản minh hoạ bằng ảnh, bằng tranh màu, và
những bản đồ hoạ kiến trúc rất tỉ mỉ. Những kiến trúc lăng tẩm, cung điện lại
còn kèm thêm những hoạ tiết được vẽ lại rất công phu, những hình chạm những mẫu
áo quần, những mũ mão đều được khắc ghi lại rất chính xác như là những bản vẽ kỹ
thuật để sau này ai muốn phục hiện lại những thứ đó có thể căn cứ theo mà phục
hiện. Anh Thanh Tịnh là nhà thơ, nhà văn nhưng anh lại có trí nhớ rất chính
xác, rất tỉ mi về những câu chuyện lịch sử, về những mẩu chuyện dân gian liên
quan đến Huế, đến triều đình nhà Nguyễn, đến phong tục tập quán của vua quan và
của nhân dân xứ Huế. Anh biết tôi và anh Xuân Diệu đã kết thân với nhau tại trường
Quốc học, anh rất quí hai chúng tôi và anh muốn “chiêu đãi” chúng tôi bằng một
bữa đi thăm lăng.
Chúng tôi đi xe đạp lên đến bến Tuần rồi qua đò từ bến Tuần
sang thăm lăng Minh Mạng và lăng Tự Đức.
Ở bến Tuần thấy cảnh nước sông Hương êm lắng chảy về xuôi,
anh Xuân Diệu sực nhớ hai câu thơ Trung Quốc, và đọc lên như là tức cảnh:
Thiếp tâm chính tự trường giang thuỷ
Trú dạ tuỳ lang đáo Phúc Châu
Thế Lữ dịch là:
Lòng em như nước Trường Giang ấy
Sớm tối theo chàng đến Phúc Châu.
Thanh Tịnh cũng đọc liền câu ca dao:
Thuyền đi cát cũng rung rinh
Lòng em trờ lại bập bềnh trôi theo
Không biết đây là câu ca dao của dân gian hay là câu ứng khẩu
của anh Thanh Tịnh, tôi cứ ngờ ngợ là câu của anh, vì Thanh Tịnh có tài làm ca
dao, và thỉnh thoảng cứ tưng tửng đọc lên nói là của dân gian để lừa thiên hạ,
cho vui... Ngày hôm ấy (một chủ nhật), trời trong xanh, chưa nóng lắm, chúng
tôi ngoạn cảnh lăng tẩm, lòng hoài cổ thì ít mà thú thưởng thức thiên nhiên thì
nhiều, và nhiều hơn nữa là sự hào hứng nói về văn thơ, sự hào hứng của ba anh
em đã bước vào phong trào Thơ mới, của ba lính xung trận của một cuộc cách tân
thơ văn... Sau cuộc đi thăm lăng tẩm đó, chúng tôi nhất là tôi còn gặp anh
Thanh Tịnh nhiều lần, còn tâm sự nhiều với nhau về chuyện đời, chuyện thơ. Năm
1938, anh Thanh Tịnh cho xuất bản tập thơ Hận chiến trường, trong đó có rất nhiều
bài nói về sự chết chóc ở các chiến trường xưa nay, và cũng đượm ít nhiều lòng
hoài cổ, hay nói đúng hơn là lòng nhớ quá khứ oanh liệt của cha ông. Nhưng ít
nhiều cái thời thượng lúc đó làm cho tập thơ của anh có pha màu ma quái (ma
cabre), và nhấn mạnh vào điểm ấy là anh đã cho làm hàng trăm cái đầu lâu bằng bột
giấy ép lại, màu trắng hếu như sọ dừa thật. Hàng trăm cái đầu lâu ấy là anh tặng
cho những độc giả đã đặt tiền trước mua cả thơ và đầu lâu. Thỉnh thoảng gặp anh
Thanh Tịnh, tôi có nhắc lại giai thoại Hận chiến trường và hận đầu lâu này thì
anh cũng cười xoà, như nhớ lại những ngày tháng ngông cuồng của tuổi trẻ lãng mạn.
Anh Xuân Diệu và anh Thanh Tịnh đã lần đầu tiên gặp nhau trên
báo Phong hoá trong một số báo đăng bài thơ Tơ lòng và tơ trời của Thanh Tịnh,
và bài thơ Với bàn tay ấy của Xuân Diệu. Hai người ra mắt với độc giả cùng một
lúc, khi mà báo Ngày nay đang ở lúc thịnh thời. Anh Thanh Tịnh còn đăng một số
truyện ngắn trên báo Ngày nay, và vài báo khác các truyện này về sau đã tập hợp
lại in thành quyển Quê mẹ. Gần đây, Nhà xuất bản Văn học đã cho tái bản tập Quê
mẹ, đây là một tập truyện ngắn có giá trị, đậm đà hương vị quê hương, thôn dã. Ở
đầu truyện Quê mẹ, anh đã để câu ca dao vùng Bình Trị Thiên làm tiêu đề?
Chiều chiều ra đứng cửa sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Ở một truyện khác, anh cũng lấy một câu ca dao để đầu:
Rồi mùa, toóc rạ rơm khô
Bạn về xứ bạn, biết nơi mô mà tìm.
Đầu kháng chiến chống Pháp, anh Thanh Tịnh đã sáng tạo ra một
thể loại thơ truyền khẩu là “độc tấu”.
Tôi còn nhớ trong trận Việt Bắc, cuối 1947 anh đã viết và
trình diễn bài độc tấu Ở cây số 7 (cây số 7 trên đường Tuyên Quang đi Chiêm Hoá
là nơi mà giặc Pháp đã thua một trận đau). Trong suốt cuộc kháng chiến anh còn
trình diễn nhiều độc tấu nữa tiếc rằng những độc tấu ấy lúc nghe thì rất thích
nhưng qua câu chuyện rồi người ta quên, vả lại giá trị văn học bị hạn chế,
không định hình được.
Riêng tôi nghĩ, bên cạnh một số bài thơ đạt của anh, có in
vào các tuyển tập, một cái mạnh của Thanh Tịnh là viết truyện ngắn về thôn quê,
về tình quê hương, một tình cảm đằm thắm mang nhiều chất thơ và đậm tình người.
Nếu anh cứ tiếp tục sáng tạo theo hưởng này thì chắc anh đã để lại một sự nghiệp
văn xuôi dày dặn, chứ không phải chỉ có tập Quê mẹ, tập Ngậm ngải tìm trầm.
Nhưng chuyện đời nói sau thì vô cùng. Anh Thanh Tịnh đã để rất nhiều thì giờ để
tham gia quản lý văn nghệ trong quân đội, để làm chủ nhiệm chủ bút tạp chí Văn
nghệ quân đội, cống hiến của anh về mặt này không phải nhỏ, và được nhiều anh
trân trọng ghi nhớ. Về số phận riêng của anh thì có nhiều đau đớn, do kháng chiến
mà gia đình phải ly tán. Khổ cho anh là người vợ yêu quý của anh (chị Bích Đào)
trong lúc ở Nam đã được báo tin sai là anh đã mất, và sau nhiều năm chờ đợi chị
đã buộc lòng “đi bước nữa”. Đến lúc Sài Gòn giải phóng anh về Nam thăm, hai người
gặp lại nhau, khóc nức nở nhưng số phận không quay lại được bánh xe...
Kỷ niệm về Khái Hưng và Nhất Linh
Khái Hưng và Nhất Linh về cuối đời, hay nói cho đúng hơn là từ
năm 1940, sau khi quân đội phát xít Nhật vào Đông Dương đã đi vào con đường hoạt
động chính trị sai lầm, và hơn thế nữa, sau cùng đã đi vào con đường chính trị
phản động. Sau khi nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã làm Cách mạng
tháng Tám thành công, Nhất Linh (tức là Nguyễn Tường Tam) đã cùng Việt Nam cách
mệnh đồng minh hội dựa vào quân đội Tàu (quân đội Tưởng Giới Thạch) ráo riết hoạt
động chống đối với Việt Minh, chống chính quyền cách mạng. Nguyễn Tường Tam lúc
đó là một trong những lãnh tụ (cùng với Vũ Hồng Khanh) của Đại Việt quốc dân Đảng
tập hợp các lực lượng phản động để đương đầu với Việt Minh và chính phủ lâm thời
do Hồ Chủ tịch lãnh đạo. Xu hướng thân Nhật của Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) và
của Khái Hưng đã nảy nở từ khi Nhật vào, và do hoạt động có xu hướng thân Nhật
đó nên Nhất Linh, Khái Hưng và những người cùng chí hướng đã bị chính quyền thực
dân Pháp bắt giam tại Hà Nội năm 1941 và sau giam tại Vụ Bản thuộc châu Lạc Sơn
tỉnh Hoà Bình nhưng Nhất Linh trốn thoát kịp sang Nhật. Lúc Cách mạng tháng Tám
nổ ra, Khái Hưng và đồng bọn đã cho ra tờ báo Việt Nam để tuyên truyền, cổ động
cho Đại Việt quốc dân đảng và cho Việt Nam cách mệnh đồng minh hội của Nguyễn Hải
Thần, làm hậu thuẫn cho hoạt động chính trị và mưu đồ cướp chính quyền (hay ít
nhất là chia xẻ chính quyền) của Nguyễn Tường Tam và của Đại Việt quốc dân đảng.
Tờ báo Việt Nam đã có một loạt bài rất sâu độc công kích Việt Minh nói xấu, vu
cáo một vài lãnh tụ của Việt Minh, tìm cách chia rẽ nhân dân với mặt trận Việt
Minh, với Đảng Cộng sản. Những hoạt động chính trị phản động đi đến phản nước,
hại dân của nhóm Đại Việt quốc dân đảng mà một lãnh tụ chủ yếu là Nhất Linh
(Nguyễn Tường Tam), mà một cây bút cổ động hô hào sắc bén là Khái Hưng, thì mọi
người đã biết, mà một số tài liệu lịch sử cũng đã ghi và lên án, tôi không kể
rườm rà lại đây. Đoạn hồi ký tôi viết sau đây là muốn ghi lại một số kỷ niệm, một
số ấn tượng về hai nhà văn Nhất Linh và Khái Hưng là hai trụ cột của Tự lực văn
đoàn trong giai đoạn thịnh thời của nó. Những thành tựu những đóng góp quan trọng
và những hạn chế của Tự lực văn đoàn trong nền văn học Việt Nam hiện đại thì
các nhà văn học sử sẽ bình luận, phân tích và đánh giá sau. Ở đây tôi chỉ ghi lại
một số nét kỷ niệm về hai nhân vật sáng lập và tiêu biểu cho trào lưu văn học ấy.
Lần đầu tiên tôi gặp Nhất Linh là vào dịp Tết Mậu Dần (1938),
lúc bài thơ Chiều xưa của tôi được đăng trên báo Ngày nay số Tết; và Tết đó tôi
từ Huế ra chơi Hà Nội cùng anh Xuân Diệu.
Anh Xuân Diệu giới thiệu tôi với Nhất Linh. Nhất Linh đọc
ngay câu thơ đầu của bài Chiều xưa “Buồn gieo theo gió veo hổ - Đèo cao quán chật,
bến đò lau thưa”. Thì ra Nhất Linh đã chú ý bài thơ của tôi đăng số Tết vừa
phát hành. Rồi anh nói: “Hồn xưa trong một câu thơ lục bát rất mới! Chắc anh đã
làm nhiều thơ? Về Huế anh nhớ gửi đều thơ ra báo chúng tôi”.
Xong rồi Nhất Linh nói sang chuyện khác, chuyện chợ Tết, chuyện
đi mua hoa, chuyện làng quê còn giữ được không khí Tết ngày xưa như hồi anh ấy
còn đi học. Anh có mời tôi trở lại nhà báo chơi trước khi tôi trở về Huế tiếp tục
học Ban tú tài. Tôi đã trở lại toà báo Ngày nay ở số 80 đường Quan Thánh Hà Nội
thăm Nhất Linh và Khái Hưng trước khi đáp tàu hoả về Huế. Câu chuyện thân mật,
thân tình, không có gì là khách sáo, không có gì là “hàn lâm”. Tôi có nhắc qua
những truyện tôi đã được đọc của các anh, tôi có nói qua phong trào Thơ mới,
nói sự hâm mộ của thanh niên học sinh ở Huế, ở trường quốc học đối với báo Ngày
nay và sách của nhà xuất bản Đời nay. Nhất Linh và Khái Hưng không nhấn mạnh
vào sự hâm mộ và hoan nghênh ấy của công chúng độc giả. Hai người nói nhiều với
tôi về truyền thống nghìn năm văn vật của đất Thăng Long, của thành Hà Nội. Qua
câu chuyện tôi cảm thấy những tình cảm của quê hương đất nước mà các anh đã diễn
tả một cách kín đáo trong các truyện, các bài văn là một tình cảm sâu sắc, nung
nấu trong lòng qua nhiều năm tháng. Trong câu chuyện cả Nhất Linh và Khái Hưng
đều xen những câu hóm hỉnh, một thứ hu-mua rất Việt Nam, nhưng ở Nhất Linh thì
kín đáo và đượm chút trữ tình, còn ở Khái Hưng thì bộc lộ thoải mái và điểm những
tiếng cười y như các cụ ta ngày xưa khi bàn chuyện tâm đắc với nhau. Về sau lúc
tôi ra Hà Nội học trường Cao đẳng Nông lâm, tôi còn thường gặp Nhất Linh ở toà
soạn báo Ngày nay. Có khi anh còn rủ tôi về chơi nhà anh ở thị xã Hà Đông vào một
dịp Tết. Lúc đó Nhất Linh đang viết truyện dài Bướm trắng, anh có khoe với tôi
là đã viết được gần nửa truyện rồi. Nhất Linh viết truyện trên những quyển vở gạch
ca rô, và viết bằng bút chì vót thật nhọn, chữ viết đều đặn và chữ nhỏ.
Trên trang bản thảo ít có chỗ chữa, thoảng hoặc có thêm câu
nào thì móc ra ở ngoài lề như kiểu ta chừa bản mo-rát của nhà in đem tới. Anh
khoe với tôi là viết tiểu thuyết như vậy, anh không hề có đề cương trước, có
dàn bài trước, hay nói cho đúng hơn là anh có một thứ dàn bài mơ hồ trong tâm
trí, một thứ khung của câu chuyện. Rồi thì anh xông vào viết truyện, mặc cho
các nhân vật lôi cuốn anh đi. Anh cũng cho biết có những khi anh chủ động dẫn
nhân vật qua các ngõ ngách của cuộc đời, nhưng cũng lắm khi nhân vật mà anh đã
tạo ra lại cưỡng lại anh và sống theo cái đời tự lập của chúng. Sự vật lộn giữa
tác giả và nhân vật có lẽ khá sâu sắc trong truyện Bướm trắng này, là một tiểu
thuyết không có luận để xã hội bộc lộ như những truyện Đoạn tuyệt hay Lạnh lùng
ở hai quyển tiểu thuyết này tác giả đã phân công cho nhân vật sống những điều cần
sống, và nói những điều cần nói, tất nhiên là có xúc cảm, nhưng số phận của
nhân vật đã được tiền định trong tâm trí của tác giả. Có một thời vài ba năm,
Nhất Linh như đã có “xu hướng xã hội” với tập truyện Tối tăm, mà anh đã lấy một
câu của André Gide làm tiêu đề “Anh hãy tin chắc rằng cuộc đời có thể tốt đẹp
hơn, cuộc đời của bân thân anh và cuộc đời của những người khác”. Thật ra đó là
xu hướng “Duy dân” (populiste) của Nguyễn Tường Tam, thể hiện trong các truyện
của anh cũng như trong phong trào làm nhà “ánh sáng” mà anh cổ động, mà kiến
trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã hào hứng tham gia, vận động nông dân và người nghèo
thành thị làm những nhà mái gianh, vách toóc-si bốn phía có mái hiên rộng và mở
nhiều cửa sổ để cho “nắng gió ùa vào cái đời tăm tối nơi bùn lầy nước đọng”. Nhất
Linh đã chủ trì phong trào nhà “ánh sáng” một cách thực lòng, hào hứng và tin
tưởng là mình làm một việc xã hội có ích. Cái sức hấp dẫn của Nhất Linh, cái sức
tập hợp của anh với tư cách là giám đốc Tự lực văn đoàn chính là cái lòng tin
đó chính là cái lòng hoài bão của anh đối với tiền đồ văn học nước nhà, tất
nhiên là theo quan niệm của anh.
Nhất Linh đã đi học Pháp gần 5 năm, cùng một lứa du học với
anh Nguyễn Mạnh Tường, nhưng anh Tường thì học về văn chương, mà Nhất Linh thì
học khoa học; anh đã đậu cử nhân khoa học về thiên nhiên học, đặc biệt là về
sinh vật học. Nhất Linh vẽ rất khéo, đặc biệt là vẽ những côn trùng, những con
vật để minh hoạ những câu chuyện nửa văn chương, nửa khoa học của anh đăng trên
báo Phong hoá. Anh cũng đã minh hoạ tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng
bằng những nét vẽ rất gợi cảm; những tháng anh đã học ở trường mỹ thuật trước
kia không phải là vô ích. Học khoa học nhưng về nước thì anh cùng Khái Hưng lo
xây dựng sự nghiệp văn chương, hơn là đi dạy học như đa số những bạn đã du học
như anh.
Nhất Linh lại có một hồi mê học nhạc, đặc biệt là mê thổi kèn
clarinét; thường tôi đến toà soạn báo Ngày nay hay gặp anh thổi những bài nhạc
theo những điệu hát trong các phim nổi tiếng hồi bấy giờ là bài Horsay, Nàng Bạch
Tuyết và bảy chàng lùn... Thỉnh thoảng anh cũng thổi một vài bản nhạc cổ điển
Âu Tây ngắn như bài Sêrênát của Sube, bài Ánh trăng của Bitôven... Lúc Nhất
Linh chúm môi thổi clarinet thì vẻ mặt anh trầm lắng, hai mắt say sưa, thật dễ
gây cảm tình.
Có người đã nói với tôi là có một bà lần đầu tiên gặp Nhất
Linh trong lúc anh đang thổi kèn như vậy là đắm say ngay và về sau mối tình dai
dẳng mãi, mỗi một lần bà ta định cắt đứt thì lại gặp tiếng kèn đầy tình cảm kia
níu lại. Cũng có người về sau bảo với tôi rằng Nhất Linh thổi kèn clarinét là để
che mắt bọn mật thám đấy thôi. Anh vờ say âm nhạc để đánh lạc hướng bọn phòng
nhì, và lấy cớ liên hoan kèn hát để tập hợp những người cùng chí hướng tại Đầm
Vạc (Vĩnh Yên), hay tại một đồn điền của người bạn quen ở Vĩnh Yên. Dầu sao thì
tiếng kèn clarinét của Nhất Linh cũng để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc
cũng như tiếng đàn tam thập lục của Thạch Lam. Trong ánh mắt của Nhất Linh tôi
cảm thấy vừa có một sự tin yêu đằm thắm, một sự say mê nung nấu, lại vừa có
chút gì như là điên, như là ánh sáng thỉnh thoảng chớp lên một niềm điên. Về
sau, lúc cuối đời, người ta bảo Nhất Linh có một phần điên trong tâm tưởng.
Nếu qua có thế, thì cái hạt nhân điên đã thoảng hiện trong những
năm minh mẫn của anh và có lẽ đó cũng là một yếu tố làm nên cái tâm hồn say mê
của nhà văn và làm nên sức hấp dẫn của người thu lĩnh của Tự lực văn đoàn.
Thích nhạc, Nhất Linh rất thích nghe hát và trong những buổi gặp nhau, anh hay
cù rù anh Xuân Diệu hát những bài hát dân tộc của 3 miền mà anh Xuân Diệu rất
thuộc như: Nam ai, Nam bình, hò Huế, vọng cổ, Trường tương tư, Xàng sứ líu (cải
lương Nam bộ), bống mạc sa mạc (nhạc Bắc), và những bài hát mới lúc đó như Con
thuyền không bến, Đêm đông, Cánh buồm trắng và một số bài hát bằng tiếng Pháp
trích trong các phim nổi tiếng lúc bấy giờ, những bài hát mà Tino Rossi đã hát
và được lưu truyền khắp thế giới những năm ấy... Có khi Xuân Diệu hát thì Nhất
Linh thổi kèn clarinet điệp theo. Có một Tết, Nhất Linh và Thạch Lam đã rủ anh
Xuân Diệu và tôi về ăn Tết ở Cẩm Giàng (Hải Dương), nơi bà cụ của hai anh vẫn ở
và sinh sống từ ngày ông cụ thân sinh của các anh còn làm quan ở huyện. Đêm
giao thừa chúng tôi thức để đi bẻ lộc trong vườn, và sau khi ăn bát chè đậu
xanh giữa phút giao thừa thì chúng tôi trải chiếu ngủ trên ổ rơm rất ấm và thỉnh
thoảng ngâm thơ Thế Lữ Thuở ấy đượm màu sóng gió biếc - Trời mây huyền ảo đắm hồn
thơ - Cây im vin bóng um ùm lá - Sông thẳm nguồn sâu nước đợi chờ... Ấn tượng tổng
quát mà Nhất Linh để lại trong tôi ở giai đoạn ấy là một tâm hồn nghệ sĩ say
mê, một người đứng đầu một trường phái văn học có hoài bão, một người bạn văn
chương có con mắt sành biết khám phá và biết ủng hộ những tài năng. Đó là giai
đoạn đẹp trong đời Nhất Linh. Nhất Linh có nhiều con. Nhất Linh đã cưới vợ theo
đúng nghi lễ của một gia đình “gia giáo ít nhiều thế phiệt” buôn cau ở phố Hàng
Cau. Bà là một người vợ đảm đang, lo mọi việc gia đình, để chồng mình có thể để
toàn tâm lực làm việc xã hội, làm báo, làm văn. Có lần Nhất Linh tâm sự với
tôi: “Chắc anh sẽ hỏi tại sao tôi có nhiều con. Có gì đâu? Bà vợ tôi thích đẻ
con, vì bà ta cho biết mỗi lần mang thai thì sức khỏe của bà tốt lên thấy yên ổn
trong người. Thụ thai và mang thai đối với vợ tôi là một hạnh phúc. Đó là một hạnh
phúc cụ thể, vừa cơ thể vừa tâm hồn, đó là kinh nghiệm của tôi, hay đúng hơn là
kinh nghiệm của bà vợ tôi”. Nhất Linh nói mấy câu đó với một nụ cười không phải
là hóm hỉnh, mà như là một nụ cười tình cảm, tỏ lòng biết ơn đối với người vợ
đoan trang và đảm đang của mình. Có lần Nhất Linh cũng nói với tôi: “Làm vợ một
nhà văn nhiều khi cũng phiền, và cũng thiệt phải hy sinh nhiều. Cứ xem vợ cũng
Tú Xương thì rõ:
Quanh năm buôn bán ở mom sông - Nuôi đủ năm con với một chồng
- Lặn lội thân cò khi quãng vắng – Eo sèo mặt nước lúc đò đông” (thơ Tú Xương
mà Nhất Linh đọc thuộc lòng, với một giọng như là mượn lời thơ trên đây để tỏ
lòng biết ơn vợ, mặc dù bà Nhất Linh không đến nỗi vất vả, tần tảo như bà Tú
Xương).
Nhất Linh đông con mà Khái Hưng lại không có con. Bà Khái Hưng
là con gái một gia đình quan lại, nề nếp nho phong, sống giữa xã hội Hà Nội những
năm 30 mà cứ như là một phụ nữ khuê các ngày xưa, dáng dấp e lệ, kín đáo. Khái
Hưng và Nhất Linh là hai người bạn rất thân mặc dầu tình bạn đó đã được xây dựng
lúc hai người đã lớn tuổi, sau khi Nhất Linh đi học ở Pháp về, khi hai người gặp
nhau cùng dạy học ở trường Thăng Long, lúc đó Nhất Linh khoảng 26 tuổi và Khái
Hưng 36 tuổi. Vì tình bạn đó mà Nhất Linh đã cho đứa con trai của mình tên là
Triệu làm con nuôi của vợ chồng Khái Hưng, và em Triệu này lấy họ bố nuôi,
thành Trần Triệu. Một kỷ niệm vui nữa của Nhất Linh đối với tôi là khi tập Lửa
thiêng của tôi sắp đem in thì tôi hỏi Nhất Linh muốn tôi tặng bài thơ nào. Nhất
Linh lật qua các trang thơ đã đánh máy, dừng lại ở bài Áo trắng: “Anh cho tôi
bài thơ này”. Tôi hỏi: “Chắc anh có một kỷ niệm gì liên quan đến tình cảm của
bài thơ?” - “Đúng thế, trong đời tôi cũng có một cô áo trắng”. Sau khi đề tặng
Nhất Linh bài này, thì có một người khác trong Tự lực văn đoàn cũng muốn tôi tặng
bài đó. Thì ra trong đời hầu như ai cũng có một cô áo trắng! Về sau đọc tiểu
thuyết của Nhất Linh, tôi có chú ý rằng Nhất Linh đã một vài lần tả chiếc áo trắng
của người trong truyện, đặc biệt là trong một đoạn của cuốn Bướm trắng tác giả
đã tả chiếc áo cánh trắng phơi trên dây còn bay ra mùi hương da thịt làm đắm đuối
một nhân vật đứng ngắm chiếc áo. Chắc hẳn tác giả đã vận dụng kỷ niệm, đã sống
lại kỷ niệm say sưa của mình để viết đoạn văn trên.
Nhân nhắc đến bài Áo trắng, tôi xin ghi thêm kỷ niệm sau đây.
Lúc đó là mùa đông 1940, anh Xuân Diệu đã vào Mỹ Tho làm tham tá nhà đoan, tôi
vẫn ở gác Hàng Than ngày ngày đi học ở trường cao đẳng, áo quần mùa đông vừa đủ
mặc, có chiếc áo len mỏng nhưng không có áo bành tô. Một chiều rét như vậy tôi
ghé toà báo để lấy báo thì gặp Nhất Lình sắp bước ra về. Anh thấy tôi ăn mặc có
vẻ sơ sài liền hỏi: “Anh không có bađơxuy à?” Tôi đáp: “Làm gì có. Nhưng cũng
không rét lắm”. Anh liền cởi cái bađơxuy anh đang bận, mặc vào cho tôi. Đó là một
chiếc bađơxuy đã cũ, nhưng còn rất lành lặn, chưa đến nỗi bạc màu và may bằng một
thứ dạ màu tím than rất nhẹ. Tôi cứ thế ra về với bađơxuy đầu tiên tôi có trong
đời. Chiếc áo này tôi đã dùng 3 năm, lúc đã sờn vai tôi mang về quê cho đứa em
giai lúc đó đã bỏ học về nhà đi cày. Chiếc áo cũ của một nhà văn và của một nhà
thơ cũng làm anh trai cày có vẻ hãnh diện với bà con trong xóm và trong những
buổi chợ làng quê.
Về Khái Hưng tôi cũng ghi sau đây một vài kỷ niệm. Lần đầu
tiên tôi gặp Khái Hưng cũng là những ngày Tết Mậu Dần (đầu năm 1938). Khái Hưng
hơn Nhất Linh 10 tuổi, người mảnh khảnh, nước da mai mái, mắt hơi mài mại. Dáng
dấp của Khái Hưng rất nhẹ nhõm chân đi không nghe tiếng, người ta bảo đó là tướng
mèo, có thể là biểu hiện một sự thư thái, thoải mái trong tâm hồn, mà cũng có
thể là biểu hiện một sự rụt rè, thiếu tự tin. Đó là cách nói của các thầy tướng
còn tôi thì tôi thấy Khái Hưng rất hoạt bát, rất cởi mở, gần như có lúc bộp chộp
nữa. Khái Hưng cũng có cái cười hồn nhiên, chào đón, môi cười mà dường như mắt
cũng cười theo. Khái Hưng ngồi làm việc, nghĩa là ngồi viết suốt ngày ở cái bàn
to của phòng họp toà báo giữa một đống báo ngổn ngang, bên cạnh luôn luôn có một
cái kính lúp để thỉnh thoảng anh lại dùng để đọc những chữ quá nhỏ hoặc quá khó
đọc trên một trang báo hay trong một quyển tự vị. Khái Hưng viết truyện dài
đăng trên báo Ngày nay, thường là viết hàng tuần một, theo nhịp độ in tờ báo.
Đó cũng là cách làm anh phải viết nhanh, viết kịp thời nhưng điều đó cũng ảnh
hưởng đến sự trau chuốt câu văn, và ít nhiều cũng anh hương đến sự bố cục tình
huống. Nói vậy thôi, chứ Khái Hưng viết truyện đã có dàn bài trước, tính cách
nhân vật đã được nghiên cứu tương đối kỹ khi đặt bút viết, tất nhiên nhiều tình
tiết sẽ được sáng tạo trong quá trình viết, trong quá trình văn đưa in lên
trang báo. Còn văn của Khái Hưng thì thường trong sáng, trong trẻo nữa, và có
những đoạn mang tính chất thơ như trong Hồn bướm mơ tiên, trong một số truyện
ngắn của tập Dọc đường gió bụi. Văn của Khái Hưng còn một ưu điểm nữa là rất Việt
Nam, một thứ văn Việt Nam mới, hiện đại nhưng tính dân tộc trong câu văn rất
rõ. Khái Hưng đọc nhiều tiểu thuyết của phương Tây, và theo tôi biết thì anh đặc
biệt thích đọc các tiểu thuyết của Somerset Maugham và của Dickens. Anh cũng đọc
Stendhal, Flaubert và Balzac. Điều mà tôi quí nơi anh là anh còn ham đọc những
sách chữ Hán, chữ Nôm của cha ông để lại (Khái Hưng hồi nhỏ đã học chữ Hán đến
12 tuổi rồi mới học chữ quốc ngữ và chữ Pháp). Khái Hưng trong lúc làm việc
thích uống cà phê và nhờ bà vợ hoặc người nhà ra mua cà phê ở quán Joseph ở bên
kia đường Quan Thánh, trước mặt toà báo. Cũng có mấy lần anh mời tôi đi uống cà
phê ỏ quán này, và tất nhiên là ăn bánh ngọt nữa. Ông chủ quán quen thân với
nhà văn, biết tính nhà văn uống cà phê đậm nên bao giờ cũng cho lượng bột cà
phê gấp rưỡi hoặc gấp đôi vào cái phin. Đối với các bài thơ của tôi đăng đều
trên báo Ngày nay anh đều xem kỹ và mau thuộc. Rất nhiều lần tôi đến toà báo gặp
anh thì anh lại đọc một loạt mấy câu thơ trong những bài đã đăng trước đây, tỏ
ra thích thú và có khi bình luận lý thú. Anh cứ ngạc nhiên tại sao tôi là một
người học mới, không biết chữ nho, mà hồn nhiều bài thơ của tôi lại có phong
cách dân tộc đậm đà như vậy và cũng có những bài phảng phất hồn thơ Đường mặc
dù không phải là bắt chước thơ Đường, và cấu trúc bài thơ, cũng như cấu tứ bài
thơ lại hiện đại. Đến lúc tập thơ Lửa thiêng của tôi sắp in anh tha thiết muốn
tôi đề tặng bài Buồn đêm mưa, sau đó lại tiếc bài Tràng giang và lại đề nghị
tôi cho anh bài thơ đó..
Thành thứ một bài đề tặng Khái Hưng và một bài đề tặng Trần
Khánh Giư là tên khai sinh của anh. Để đáp lại tình cảm, duyên văn tự ấy, anh
đã tặng tôi bản thảo viết tay bằng mực tàu đen nhánh một truyện vừa anh đã biết
lúc mới vào đời văn. Bản thảo này tôi để trong một cái rương đã bị cháy ở Hương
Khê lúc đầu kháng chiến chống Pháp, cháy cùng một số bản thảo và mấy bản Lửa
thiêng giấy đẹp của tôi. Khái Hưng những ngày chủ nhật và những dịp lễ dài ngày
thường rủ bạn bè đi thăm danh lam thắng cảnh, đặc biệt anh thích đi vãn cảnh
chùa vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, là nơi có nhiều chùa chiền đẹp xây dựng từ đời
Lý đời Trần. Cũng trong một chuyến đi thăm chùa Tiêu Sơn ở Bắc Ninh mà anh đã nẩy
ra cái ý viết quyển tiểu thuyết Tiêu Sơn tráng sĩ. Cảnh chùa Tiêu Sơn gợi cảm,
đã thúc giục anh viết nhanh, viết hào hứng quyển truyện gọi là lịch sử, nhưng
có tính chất kiếm hiệp này. Anh cũng thường giao du với một số vị sư mà anh
quen biết trong cuộc đời nay đây mai đó trước đây của anh, lúc anh còn là một
nhà buôn tài tử, trước khi về sống ổn định ở Hà Nội đi dạy học ở trường Thăng
Long. Chính anh và Nhất Linh đã mời tôi đi xem chùa Thầy và cảnh núi Sài Sơn ở
huyện Quốc Oai, Sơn Tây vào một ngày hè năm 1940. Anh rất thạo về đạo Phật và
thuyết minh cặn kẽ cho tôi hiểu về ngôi chùa, về Từ Đạo Hạnh, về các vị La hán
thờ trong hậu tự, về kiến trúc cổ kính của ngôi chùa.
Lên thăm cảnh chợ trời trên núi Sài Sơn, chúng tôi lại cùng
nhau ngâm lại những câu thơ phóng khoáng đầy gợi cảm của Hồ Xuân Hương:
Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng
Ban chiều mây họp, tối trăng chơi...
Khái Hưng mang cốt cách một người tài tử, thích ngao du nay
đây mai đó, du sơn du thuỷ như một cụ nhà nho ngày xưa. Những cảnh vật vùng
trung du mà anh thường hay tả trong các truyện của anh (vùng Phú Thọ, vùng Bắc
Ninh Bắc Giang, vùng Sơn Tây Hoà Bình...) chính là những cảnh anh đã sống, đã
thân thuộc, đã yêu mến với tấm lòng “lãng tử” của anh. Chính vì vậy mà thứ tình
quê hương nhẹ nhàng nhưng thấm thía mà anh đã gợi lên trong văn của anh có sức
hấp dẫn, có sức thuyết phục. Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, cảnh đồng
quê, cả ở vùng trung du và vùng đồng bằng được gợi lên một cách đẹp đẽ và dễ cảm
tình như vậy, khác hẳn với những cái cảnh “cổ điển” được ghép lại bằng những
hình tượng vay mượn trong sách xưa của ta hay của Tàu. Nhưng thôi, lúc khác tôi
sẽ bình luận về văn và truyện của Khái Hưng.
Trong Tự lực văn đoàn, Nhất Linh là người chỉ đạo, nhưng Khái
Hưng là lực lượng có thể nói là nền móng. Sức sáng tác dồi dào của anh, sự hoan
nghênh của công chúng lúc bấy giờ đối với những tác phẩm của anh là chỗ dựa
chính cho sự tồn tại của tờ báo Ngày nay và của Nhà xuất bản Đời nay. Đối với
hai chúng tôi - Xuân Diệu và Huy Cận - thì Khái Hưng cũng như những người khác
trong Tự lực văn đoàn đều một lòng yêu nể, rất quí đôi bạn thơ này. Khái Hưng dịch
thơ rất hay. Bài Sonne d’ arvers, dịch rất đạt đã in trong tập truyện ngắn Anh
phải sống mà tôi đâu có nhắc lại trong một đoạn trên kia:
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu...
Bài Oceano-nox của Victor Hugo anh cũng dịch rất sát nghĩa mà
rất hay, đã đăng trên báo Phong hoá năm 1932:
Biết bao thuỷ thủ, bao thuyền chủ
Thuận gió xuôi buồm đi viễn xứ...
Bài này anh Gia Ninh và tôi đã chép ngay vào quyển vở sưu tầm
thơ liền sau khi xem báo, và cho đến bây giờ vẫn thuộc. Sau này có người dịch lại
bài này, nhưng không hay bằng. Khái Hưng ít dịch thơ Đường, nhưng rất thưởng thức
những bài dịch thơ Đường của Tản Đà, đặc biệt là bài dịch Hoàng Hạc lâu. Có hồi
báo Phong hoá riễu Tản Đà, nhất là về mặt uống rượu, nghiện rượu của nhà thơ,
và đôi khi cũng lấy những câu chuyện mộng mị của Tản Đà ra làm câu chuyện hài
hước. Nhưng trong thâm tâm Khái Hưng, Nhất Linh cũng như Tú Mỡ, Thế Lữ đều quí
trọng Tản Đà, đều quí sự đóng góp của Tản Đà vào nền thơ Việt Nam. Theo tôi biết,
có lúc tờ báo Ngày nay có giục Tản Đà gửi những bài thơ dịch đến đăng báo để
nhà thơ có tiền tiêu. Tản Đà lại có lúc phải đăng quảng cáo trên báo về việc
mình lấy số bói toán, với giá tiền “nhiều năm, ít có ba”, mà cũng có kỳ báo
đăng giùm quảng cáo, không lấy tiền. Những bài thơ vui trao đổi giữa Tản Đà
Nguyễn Khắc Hiếu và Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu trên báo Ngày nay là một kỷ niệm tốt đẹp
giữa nhà thơ trữ tình và nhà thơ trào phúng. Nhất Linh cuối đời có viết một quyển
tiểu thuyết lấy tên là Xóm cầu Ghênh (Xóm cầu Mới) với cái nhan đề phụ là Bèo dạt
và lấy câu thơ của tôi trong bài Tràng giang, Bèo dạt về đâu hàng nối hàng làm
tiêu đề cho quyển sách. Trong quyển tiểu thuyết này, Nhất Linh muốn tả nhiều số
phận người đời bị trôi dạt về tập trung ở một xóm (Xóm cầu Ghênh) nhưng quyển sách
đang viết dở dang thì Nhất Linh đã tự tử giữa năm 1963.
Trong Tự lực văn đoàn, người quản lý kinh doanh kinh doanh
nhà xuất bản Đời nay, tờ báo Ngày nay, và nhà in Ngày nay là Hoàng Đạo, cũng gọi
là Tứ ly tức là Nguyễn Tường Long, em Nguyễn Tường Tam và anh của Nguyễn Tường
Lân (Thạch Lam), Hoàng Đạo thường viết những bài xã luận, cũng có viết một vài
truyện ngắn và một quyển tiểu thuyết Con đường sáng Hoàng Đạo vừa làm báo vừa
làm tham tá trong ngạch toà án của Bắc kỳ. Vợ Hoàng Đạo là con một nhà tư sản
giàu, nên trong số anh em Nguyễn Tường và trong nhóm Tự lực văn đoàn, Hoàng Đạo
là sống tương đối sung túc hơn cả. Về sự nghiệp văn chương Hoàng Đạo không để lại
một tác phần nào gọi là có giá trị. Hoàng Đạo viết văn, chẳng qua là theo cái
đà của anh em trong nhóm, sóng cao thì thuyền lớn, thuyền bé cũng theo lên. Về
mặt quản lý kinh doanh thì Hoàng Đạo rất chặt chẽ, chi ly. Mức độ trả nhuận bút
cho các bài đăng báo đều do Hoàng Đạo quy định mặc dầu mỗi người trong toà soạn
thay phiên nhau phụ trách từng số báo. Anh Xuân Diệu đã có lần phải phàn nàn
(trong một trang nhật ký của anh) về mức trả quyền tác giả quyển Thơ thơ quá thấp,
vì có nhiều món trừ đầu trừ đuôi không hợp lý gì cả: ví như trừ số tiền những
quyển sách “không bán được” (mà thực ra không còn dư một quyển nào cả, không ế
một quyển nào cả); ví như tiền quảng cáo (trên báo Ngày nay) cho tập thơ tính
quá cao... Về sau cách tính bản quyền tác giả cho tập thơ Lửa thiêng của tôi
cũng có những điều không hợp lý như vậy... Thật ra xén đầu, xén đuôi tiền nhuận
bút tập thơ chẳng còn bao nhiêu mặc dầu sách được hoan nghênh, không ế một quyển
nào. Sự quản lý chặt chẽ ấy ta có thể hiểu được vì phải thu va thu vén thì tờ
báo và nhà xuất bản mới có thể sống lâu bền được. Nhưng có điều mà anh Thế Lữ bực
là việc Hoàng Đạo “nguýt” Thế Lữ về việc Thế Lữ cộng tác mật thiết với báo Tinh
hoa của Đoàn Phú Tứ. Hoàng Đạo cho rằng Thế Lữ là người của Tự lực văn đoàn, lại
là một người chủ chốt trong ban biên tập báo Ngày nay, thì không thể ở trong bộ
biên tập của tờ Tinh hoa được. Và Hoàng Đạo đã nói thẳng điều ấy với Thế Lữ, và
kèm theo một câu bằng tiếng Pháp, ý là “ai thính tai thì hãy nghe lấy”. Cái ấn
tượng mà nhà quản lý Hoàng Đạo để lại trong anh em không lấy gì làm tốt đẹp lắm.
Trong sự hoạt động chính trị sai lầm rồi đi đến phản động,
Hoàng Đạo cũng nhất nhất theo anh là Nhất Linh. Trong chính phủ liên hiệp kháng
chiến đầu năm 1946 có lúc Hoàng Đạo đã được cử làm thứ trường Bộ Kinh tế. Tôi
nhớ Hồ Chủ tịch có bảo tôi đến gặp Hoàng Đạo (vì tôi có quen biết trong báo
Ngày nay trước đây) để đề nghị anh ta bàn với những người trong Đại Việt quốc
dân đang thật lòng hợp tác giúp ổn định tình hình trong nước, đặng tập trung sức
chống lại kẻ thù thực dân Pháp đang lăm le trở lại. Sáng hôm ấy tôi đến gặp
Hoàng Đạo ở phố Lý Thái Tổ, bên cạnh trụ sở Bộ Canh nông lúc đó (bây giờ là trụ
sở Viện văn học). Hoàng Đạo mấy hôm cáo ốm không đến họp hội đồng chính phủ,
cũng vì vậy mà Hồ Chủ tịch phái tôi đến gặp để hiểu ý tứ ra sao.
Hoàng Đạo bận một cái áo ta, áo đoạn màu tím huyền từ trên
gác đi xuống, ra dáng mệt mỏi và nói luôn: “Cảm ơn Cụ Hồ phái anh đến thăm tôi.
Nhưng cung cách làm ăn như bây giờ thì khó lòng mà hợp tác lâu bền được”. Tôi
có trình bày ý kiến của Hồ Chủ tịch thì Hoàng Đạo nói tiếp: “Tôi cũng đã hết sức
bàn nhưng khó quá. Nếu Cụ Hồ trực tiếp nói chuyện với anh em, may ra nhờ uy tín
của Cụ mà người ta còn nghe ra được chăng.... Tóm lại nhóm Đại Việt quốc dân Đảng
vẫn ngoan cố nêu những yêu sách quá đáng của mình. Về sau, mấy tháng trước toàn
quốc kháng chiến bùng nổ, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo và cả
nhóm đã chạy sang Tàu, theo gót quân đội Tường Giới Thạch rời khỏi Việt Nam.
Hoàng Đạo đã chết trên tàu hoả từ Nam Ninh đi Quảng Châu, gục đầu chết (chắc vì
xuất huyết não), theo lời kể lại của Nguyễn Tường Bách khi về thăm Hà Nội có gặp
tôi và Thế Lữ.
Tập 2-P
Những năm tháng ở phố Hàng Than
Tựu trường năm 1939, tôi thi đậu vào Trường cao đẳng Nông
lâm. Hôm đi thi ở trường đại học (ở phố Lê Thánh Tôn bây giờ), anh Xuân Diệu
nhét 5 xu vào túi tôi để đi tàu điện. Hồ sơ thì anh Diệu đã lục trong cái rương
của tôi mà nộp giùm cho tôi lúc tôi đang dạy tư ở trường Tư thục “Chính hoá” ở
Vinh. Tóm lại việc thi vào trường Nông lâm là một sự tình cờ đối với tôi, do bạn
xếp đặt, nhưng cũng hợp với ý nghĩ của tôi là cần có một nghề tay trái để sau
này khỏi lâm vào cái cảnh bán rẻ thơ văn để nuôi sống. Thế mà tôi đậu vào trường
với thứ tự khá cao (số 5/25 người trúng tuyển), nhờ bài luận Pháp văn của tôi
được 18 điểm và những bài khoa học cũng không đến nỗi tồi... Tôi ở trọ trên gác
40 Hàng Than cùng với anh Diệu và một số bạn sinh viên khác như Lê Ngọc Chấn
(sau này đi theo Mỹ nguỵ, có lúc làm trợ lý quốc phòng cho Ngô Đình Diệm), anh
Thụ người Thanh Hoá, em vợ anh Chấn thi trượt tú tài nhiều năm và anh Ngô Nhật
Quang (bạn thân của anh Diệu và tôi, hiện nay là chuyên gia về xoá nạn mù chữ của
Bộ Giáo dục). Phía gác trong có anh Nguyễn Hải (sau này là bác sĩ làm việc ở miền
Nam trong thời Mỹ nguỵ chiếm đóng hình như cũng chỉ làm chuyên môn) và anh Phạm
Đình Sơn (sau này là Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp đã về hưu). Chúng tôi ở pôpốt với
nhau và có thuê một cậu nhỏ (tên là anh Bá) giúp việc bếp núc. Anh nhỏ này người
hơi gầy yếu, nhưng làm việc siêng năng, thật thà, giúp chúng tôi có đều cơm
ngon canh nóng. Sau anh Bá là anh Hạp giúp việc chúng tôi. Còn ăn sáng thì
chúng tôi lấy dây thòng một cái rổ đựng bát xuống lề đường để mua phở 3 xu kéo
lên, phở rất thơm ngon, rất nóng, có đủ cả hành chần và chanh múi. Ông phở sáng
này thành ra quen thân với chúng tôi, đêm khuya về; đi ngang nhà lại mời chúng
tôi ăn xương phở, chỉ phải trả 1 xu thôi, có khi ông còn cao hứng mời ăn không
cho vui, đó là những lúc chúng tôi đi xem chiếu bóng ở phố Tràng Tiền về (ở rạp
Êđen), hoặc ở rạp Magiettich, trước cửa trường Đồng Khánh. Chúng tôi lại còn
cái thú đi chợ Đồng Xuân (gần phố Hàng Than) ăn bún ốc, và bún thang, giá cũng
chỉ 5 xu thôi. Có khi chúng tôi gặp cơn đói, còn vào ăn quán cơm bình dân, cũng
ở phố Hàng Than phía bên kia đường, quán dành cho các anh phu xe kéo.
Ông chủ nhà Hàng Than mà chúng tôi ở trọ là cụ Tạ Tài. Cụ là
một nhân vật trong khu phố. Cụ có một số xe kéo cho thuê, và cụ cũng bóc lột đến
mức các anh phu xe, xe trả chậm giờ, là cụ phạt hẳn hoi, và có khi ngày sau
không cho thuê xe nữa.
Nhưng cũng phải công bằng mà nhắc rằng có khi cụ thấy một anh
phu xe cả ngày hẩm hiu không kiếm được tiền thì cụ cũng cho chịu tiền thuê xe
và có lúc còn xoá nợ. Nhưng một điều làm cụ nổi tiếng là cụ đã dám chống cự với
một thằng tây bán đấu giá đồ tầm tầm. Lần ấy thằng Tây bán đấu giá giơ lên một
cái bô vệ sinh của trẻ con, và dám nói đùa: “Thưa các ngài, đây là cái bát ăn
cháo của người An-na-mít, đặt giá 1 đồng ai mua xin giơ tay?”. Cụ Tạ Tài đứng gần
thằng Tây nói to: “Anh đừng có láo!”. Thằng Tây sửng cồ cãi lại thì cụ lấy ba
toong nện vào lưng nó một cú mạnh. Thế là cả góc phố xôn xao lên. Thằng Tây ỷ
quyền, doạ gọi cảnh sát đến bắt cụ, nhưng bà con công phẫn tỏ ý bênh vực cụ nên
thằng Tây cũng lờ đi. Sau đó thằng Tây bán tầm tầm đâm đơn kiện cụ Tạ Tài về việc
làm mất danh dự nó. Cụ lại có đơn kiện lại là thằng Tây làm mất danh dự cả người
Việt Nam hôm đó. Vụ kiện kéo dài mấy tháng, và rút cục toà án (mà chánh án Pháp
chủ trì) phải xử cho cụ được kiện và cụ được bồi thường 1 đồng bạc Đông Dương,
gọi là bồi thường danh dự. Thế là cụ nổi tiếng khắp cả khu phố. Cụ lại còn làm
thơ chế diễu bọn Tây “mắt xanh mèo, tay quào như cáo, mũi thò lò, thô bạo nói
năng.... Ở nhà dưới 40 Hàng Than là anh Lưu Trọng Lư và người vợ đầu của anh là
chị Thanh Thuỷ ở một nửa phòng, che chắn bằng một cái bình phong gỗ dài. Lúc đó
anh Lư mới có đứa con đầu là cháu Hải, bây giờ là một kiến trúc sư (nếu tôi không
nhớ nhầm). Mỗi lúc tôi đi học về, tôi phải dắt xe đi rón rén đặt ở chân cầu
thang để khỏi làm phiền gia đình anh chị Lư, nhất là sau những đêm anh đã đi
chơi khuya với bạn bè, hoặc thức khuya để viết lách. Chị Lư người rất hiền, nói
năng nhỏ nhẹ chúng tôi rất quí mến và nể chị. Cháu Hải thì rất ngoan và hay vẽ
tàu bay và tàu lặn lên nền nhà, cả trên nền ban công trên gác chúng tôi ở. Anh
Lư làm thơ (về sau in trong tập Tiếng thu) thỉnh thoảng gọi tôi xuống đọc cho
tôi nghe, đoạn nào tâm đắc thì hai anh em cùng ngâm đi ngâm lại.
Cụ Tạ Tài có hai cô con gái, một cô tôi nhớ là tên Tuất, hình
như là cô em và tháng 10 năm 1940, vào lúc trời đã rét, rét ngọt, thì một cô
con gái hoặc một cô cháu gái của cụ chết. Đám ma làm theo kiểu xưa có mời hàng
kèn về thổi nhưng bài nhạc đám tang suốt ngày đêm... Tôi ngồi trên gác nghe nhạc
tang này buồn không thể nói được, mỗi câu nhạc như len thấm vào từng thớ thịt,
thớ da của mình. Rồi đến buổi chiều đưa đám tang đi, tôi cũng có đi đưa đám.
Có hai hàng cờ đen do những người phu cờ bận toàn đen đi trước,
cái xe tang cũng phủ toàn màu đen, mà con ngựa kéo xe tang cũng được phủ một tấm
vải đen lên mình nó. Người ngồi xe tang điều khiển ngựa cũng bận toàn đồ đen,
và điệu nhạc đám ma thì buồn xé gan xé ruột, nhất là trong buổi chiều gió lạnh
hiu hắt, chân trời xám xịt thì có thể nói là cái buồn “tận thế”. Chính trong
cái khung cảnh ấy mà ngồi trên gác Hàng Than tôi đã viết bài thơ Nhạc sầu, xin
nhắc đây mấy câu đầu:
Ai chết đó nhạc buồn chi lắm thế
Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường
Phố đìu hiu, màu đá cũ lên sương
Sương hay chính bụi phai tàn lả tá
Từng tiếng lệ, ấy mộng sầu úa lá,
Chim vui đâu, cây đã gãy vài cành
Ôi chiều buồn, sao nắng quá mong manh
Môi tái nhạt nào cười mà héo vậy!...
Và sau đây là những câu cuối của bài thơ:
Ai chết đó nhạc buồn chi lắm thế
Kèn đám ma hay ấy tiếng đau thương
Của cuộc đời? Ai rút tự trong xương
Tiếng nức nở gởi gió đông quạnh quẽ...
Sầu chi lắm trời ơi! Chiều tận thế.
Bài thơ này, tôi cho đăng báo Ngày nay mà không kịp gởi cho
anh Xuân Diệu xem trước. Đến lúc anh Diệu đọc bài thơ trên báo Ngày nay, thì bị
ám ảnh bởi bài thơ, bởi cái nhạc đám ma được gợi lên trong bài thơ, và đêm ngủ
phải lấy bông nhét vào tai cho khỏi nghe điệu nhạc tan hồn ấy (thư của Diệu).
Lúc tôi ở phố Hàng Than, láng giềng với tôi ở số nhà 36, có
anh Phạm Huy Cơ, sinh viên Trường đại học Y khoa rất mê thơ Xuân Diệu và Huy Cận.
Anh Cơ thường hay sang để nghe chúng tôi đọc thơ, nhất là những bài thơ chúng
tôi mới làm chưa đăng báo.
Anh người hơi gù lưng, hơi rụt cổ, giọng nói rất nhỏ nhẹ, lời
nói rất tế nhị, có khi hơi hoa mỹ, nhưng tấm lòng yêu thơ của anh thì thật là
hiếm có và đáng quí. Về sau lúc Nhật sang, Mỹ có lúc đến ném bom Hà Nội, anh đã
mời tôi về làng anh ở Chém, để tránh bom. Ở tại nhà anh bên bờ sông Hồng, chúng
tôi lại thù tạc thơ văn suốt đêm. Anh Cơ sau 1954 vào Sài Gòn, nghe nói cũng chỉ
làm chuyên môn thầy thuốc và thời Mỹ nguỵ thì không biết đi đâu. Lúc giải phóng
Sài Gòn, tôi có hỏi thăm tin anh nhưng không ai biết tung tích anh ở đâu. Tôi
nhắc anh ở đây vì tấm lòng mê thơ bền bỉ, thuỷ chung của anh.
Cũng xin nhắc đến anh Nguyễn Đức Soạn, một bạn yêu thơ khác ở
phố Hàng Cót (tôi còn nhớ là ở số nhà 14). Anh Soạn là một thương gia, nhưng
tính tình rất nho nhã, và cũng rất sành sỏi trong việc thưởng thức thơ. Anh hay
mời anh Diệu và tôi đi chơi Hồ Tây, anh thuê thuyền để ba anh em dạo trên hồ những
đêm trăng thanh gió mát, và lúc đó là lúc anh đọc lại những bài thơ của chúng
tôi cho chúng tôi nghe, đọc với một giọng rất thanh và rất diễn cảm. Anh Diệu
có lúc nói đùa “Anh Soạn là chú lái khờ” (xem truyện cùng tên của anh Diệu),
nghĩa là một nhà thương gia có tâm hồn rất tài tử tâm hồn nghệ sĩ... Anh Soạn
đã lâm bệnh mất sớm trong kháng chiến chống Pháp (?) chúng tôi rất thương anh,
tiếc anh như tiếc một người tri kỷ, tri âm của cái đẹp, của thơ văn, của những
cái gì gọi là lý tưởng ở đời này. Cũng ở gác Hàng Than, có lúc Đinh Hùng đã đến
làm quen với chúng tôi (lúc đó Đinh Hùng ở đê Yên Phụ, mới bắt đầu làm thơ,
dáng dấp thư sinh, khiêm tốn, chứ chưa kênh kiệu như về sau này thời Mỹ nguỵ).
Đinh Hùng lúc đó còn đọc thơ cho anh Diệu nghe, nhờ anh Diệu nhận xét, và nghe
chăm chú những lời phân tích của anh Diệu, rõ ràng với lòng kính nể một bậc đàn
anh. Lúc đó nhà xuất bản Tân Việt cũng đã in vài bài thơ của Đinh Hùng trong tập
Lúa mới.
Câu chuyện lôi thôi sau khi anh Xuân Diệu cho đăng truyện ngắn
Người học trò tốt trên báo Ngày nay
Năm 1938, anh Diệu cho đăng báo Ngày nay truyện ngắn nói
trên. Trong truyện này anh mỉa mai một anh học trò tốt, nhưng lúc tả việc học tập
của anh học trò anh có mô tả cách dạy học của một vài giáo sư ở trường Quy
Nhơn, cũng là tả những nét vui trong cách giảng bài của thầy, chứ không có gì
là xúc phạm đến danh dự, đến phẩm chất của các thầy cũ của mình. Ví dụ anh có
ghi một nét: một giáo sư khi giảng xong vài câu lại giơ tay nói “hơ hơ”... Đó
là một nét vui, hơi buồn cười, mắm muối cho câu chuyện. Đại khái là những chi
tiết như vậy. Thế nhưng tờ báo vừa đến Quy Nhơn, thầy đọc trò đọc, và bỗng
nhiên thành một câu chuyện khá ầm ĩ: À? Nhà thơ Xuân Diệu chê bai, châm biếm
các thầy cũ của mình. Ông cụ thân sinh anh Xuân Diệu, cụ Tú Thọ, dạy chữ Hán ở
trường Quy Nhơn, rất lấy làm phiền lòng về câu chuyện xoay ra chiều hướng như vậy.
Một vài thầy cũng gặp cụ Tú, nói lời trách móc. Ông cụ viết thư ra cho anh Diệu
hết sức phàn nàn về thái độ của con, và về sự vụng về của con nữa. Thế rồi có
dư luận đồn rằng các thầy giáo cũ của anh Diệu sẽ phát đơn kiện về chuyện một
người học trò cũ bêu riếu thầy của mình trên báo chí! Không những kiện mà còn sẽ
đề nghị báo Ngày nay đăng bài cải chính. Anh Diệu tuy bình tĩnh nhưng với bức
thư của ông bố cũng hơi phân vân, và đem câu chuyện kể lại với ban biên tập của
báo Ngày nay. Ban biên tập cười ồ, và nói: “Mong cho có đơn kiện, chúng ta sẽ
trả lời các thầy giáo, và lại sẽ có dịp tuyên truyền cho văn học, và riêng
tuyên truyền cho nhà thơ kiêm nhà viết truyện ngắn Xuân Diệu, và làm cho mọi
người rõ thế nào là chuyện thực ở đời, và thế nào là chuyện trong văn chương,
thế nào là đời làm tư liệu cho văn chương.... Thế rồi câu chuyện cứ ỉm dần
không có đơn kiện, cũng không có thư đòi báo Ngày Nay cải chính. Và hè năm đó
anh Diệu về Quy Nhơn lại đi thăm các thầy cũ với lòng kính mến chân tình và cụ
Tú Thọ thân sinh anh Diệu cũng thở phào một cái, khỏi mang tiếng là có người
con bội nghĩa với thầy “tôn sư trọng đạo”, là phương ngôn mà mỗi học sinh lúc
vào trường đã phải học lấy làm lòng...
Xuân Diệu bênh vực Đoàn Phú Tứ về vở kịch Ghen
Năm 1938 Đoàn Phú Tứ viết vở kịch Ghen và sau đó nhờ đoàn kịch
của Thế Lữ diễn ở nhà hát lớn, tôi còn nhớ anh Vũ Đình Hòe, anh Đoàn Phú Tứ, bà
Lê Đình Quy (vợ một y sĩ công tác ở tỉnh) đều đóng vai trong vở.
Anh Thế Lữ đạo diễn vở này rất đạt. Vở kịch như vậy là rất được
hoan nghênh trong giới thanh niên trí thức trong giới văn hoá, văn nghệ lúc đó ở
thủ đô. Nhưng liền sau đó có một số bài báo nêu vấn đề Đoàn Phú Tứ ăn cắp văn của
Sacha Guitry, một nhà viết kịch và làm phim khá nổi tiếng của Pháp hồi đó, vì
Sacha Guitry cũng có một vở kịch tên là Ghen (Jalousie) Mấy bài báo công kích
này, có gây một chút dư luận. Anh Đoàn Phú Tứ cũng hơi khó xử, vì quả thật câu
chuyện trong hai vở Ghen có chỗ giống nhau, tình huống của vở này cũng làm cho
người ta liên hệ đến tình huống của vở kia. Tôi nghĩ có thể lúc anh Tứ viết vở
của mình cũng có được sự gợi ý xa gần của vở kịch Pháp. Nhưng mà làm sao nói được
điều này cho xuôi. Anh Tứ bèn nhờ anh Xuân Diệu viết bài trả lời hộ. Anh Diệu nể
bạn và quí bạn, liền xông ra trận và viết một bài “Xung quanh vở kịch Ghen” đại
khái như sau: chuyện đời có bao nhiêu chuyện giống nhau, nhưng mỗi nghệ sĩ, văn
sĩ khai thác theo cách của mình, với cảm nghĩ độc đáo của mình, mà vẫn là sáng
tạo riêng của mình như thường (trường hợp Corneille Racine, Molière). Và Nguyễn
Du sáng tạo truyện Kiều thì sao? Nói thật ra, với uy tín của báo Ngày nay lúc
đó với danh tiếng của nhà thơ Xuân Diệu bắt đầu nổi lên với cách nói có lý có
tình trong bài bênh vực, cho nên sau bài báo này cũng không thấy báo nào có
thêm bài công kích Đoàn Phú Tứ hoặc trả lời bài của Xuân Diệu nữa. Và như vậy
là câu chuyện Đoàn Phú Tứ và Sacha Guitry tạm xếp ổn. Tất nhiên trong câu chuyện
trà dư tửu hậu trong đám anh em văn nghệ sĩ hồi đó người ta còn lào xào về câu
chuyện này, nhưng rồi cũng yên. Vừa rồi tôi gặp lại anh Đoàn Phú Tứ (nay đã 73
tuổi) có nhắc câu chuyện này như là một chuyện vui của quá khứ, thì anh cũng hất
hàm cười khà khà như là cho qua một chuyện không đâu cách đây nửa thế kỷ...
Xuân Diệu nhờ Nguyễn Cao Luyện giới thiệu với trường Thăng
Long
Năm 1938, anh Diệu học Luật ở Trường đại học Đông Dương, đồng
thời viết báo Ngày nay. Học luật thì không có học bổng còn nhuận bút của báo
Ngày nay cho những bài thơ và những truyện ngắn của anh cũng không đủ nuôi sống
anh. Anh phải nhờ anh Nguyễn Cao Luyện (kiến trúc sư nổi tiếng, và có chân
trong Hội đồng quản trị của trường Thăng Long mà hiệu trưởng là anh Hoàng Minh
Giám, và người quản lý là giáo sư Tôn Thất Bình) giới thiệu với Ban giám đốc
trường Thăng Long để xin một chân dạy văn, cả Pháp văn và Việt văn. Sau đó mấy
tuần, anh Diệu được mời vào dạy ba lớp đệ nhất đệ nhỉ đệ tam ban thành chung.
Những buổi dạy đầu tiên đối với anh là một sự thử thách ghê gớm,
một thứ “cực hình” (theo lời anh kể lại) vì đứng trước một đám học sinh đông,
mà lại là học sinh trường tư, những ngày đầu anh rất lúng túng giảng bài không
tự nhiên, và có khi còn nói lặp. Nhưng với uy tín của anh trong làng thơ, với
lòng yêu mến học sinh với thơ Xuân Diệu, nhất là với thơ tình của Xuân Diệu,
nên anh cũng dần dần giảng bài được suôn sẻ với sự ủng hộ của đám học sinh đối
với nhà thơ - thầy giáo. Lương anh lĩnh ở trường Thăng Long, cũng không được
bao nhiêu, vì dạy không nhiều giờ, và thang lương dạy Việt văn vẫn thấp hơn là
thang lương dạy toán và khoa học. Nhưng dù sao, thì cũng là một cái nghề trong
sạch, thanh cao để nuôi thân, khỏi phải bán rẻ văn chương “rẻ như bèo” (chữ của
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu). Anh dạy trường Thăng Long chưa được bao lâu thì anh
đi làm tham tá thương chính (tức là nhà đoan) ở Mỹ Tho. Nghề dạy học của anh
tuy ngắn ngủi như vậy nhưng cũng để lại cho anh một số kinh nghiệm tốt mà sau
này anh vận dụng rất tài tình vào việc bình thơ, nói chuyện thơ với những công
chúng đông, với các loại công chúng rất khác nhau.
Nguyễn Gia Trí vẽ chân dung Xuân Diệu
Đầu năm 1945, nhà xuất bản Thời Đại (mà anh Ngô Nhật Quang, bạn
của anh Diệu làm giám đốc) xuất bản tập thơ thứ hai của Xuân Diệu là Gửi hương
cho gió. Tập thơ gồm hơn 50 bài, thuộc vào loại sách đẹp của nhà xuất bản Thời
Đại, bìa do hoạ sĩ Trần Văn Cẩn trình bày, có một số bản quí in bằng giấy dó dầy
rất đẹp, như là in trên lụa. Xuân Diệu ngỏ ý với hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí nhờ hoạ
sĩ vẽ cho mình một chân dung để cho in làm phụ bản kèm vào quyển sách. Xuân Diệu
và Gia Trí quen nhau đã lâu, và thường gặp nhau ở toà soạn báo Ngày nay. Xuân Diệu
ăn bận áo quần sang đến gặp Gia Trí và nói: “Tôi cần ngồi bao nhiêu giờ cho anh
vẽ?”. Hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí tủm tỉm cười: “Không cần giờ phút nào cả, anh có bận
việc thì anh cứ về, hoặc đi dạo chơi để lấy tứ thơ tôi sẽ vẽ Xuân Diệu theo trí
nhớ của tôi, giống hay không giống cái đó còn tuỳ.... Nói rồi hoạ sĩ Nguyễn Gia
Trí đứng dậy bắt tay Xuân Diệu... Thế rồi Xuân Diệu không phải ngồi làm mẫu, và
một tuần sau Nguyễn Gia Trí đưa cho Xuân Diệu bức chân dung của mình, nét vẽ rất
phóng khoáng “mmớ tóc mây trên đài trán thơ ngây” (lời của Thế Lữ trong bài tựa
Thơ thơ) mắt mơ màng mà suy nghĩ, tóm lại dáng dấp rất là Xuân Diệu, rát giống
Xuân Diệu, không phải giống từng chi tiết nét mặt, mà giống cái thần của nhà
thơ Xuân Diệu. Tôi cho đó là một trong những bức chân dung rất đạt mà Nguyễn
Gia Trí đã vẽ trong đời mình. Tất nhiên là tác giả tập Gửi hương cho gió và nhà
xuất bản Thời Đại hết sức hài lòng và tự hào, đắc ý có một bức chân dung của
nhà thơ, do hoạ sĩ nổi tiếng Nguyễn Gia Trí vẽ làm phụ bản. Bức chân dung này
in trên giấy dó đẹp chân dung in trên nền màu vàng, hiện nay tôi còn giữ được
hai bản, một bản để trong quyển Gửi hương cho gió gọi là Huy Xuân, và một bản để
trong cánh gương của một tủ sách trong phòng lưu niệm nhà thơ Xuân Diệu.
Tháng 5-1975 khi mới giải phóng Sài Gòn, tôi và Xuân Diệu có
đến thăm anh Nguyễn Gia Trí, có nhắc câu chuyện vẽ chân dung theo trí nhớ này,
thì cả ba cùng cười. Anh Trí còn nói thêm: “Dáng dấp Xuân Diệu có nhiều nét độc
đáo quá, ai mà quên được, nhất là các cô thiếu nữ mê thơ anh?”...
Những người yêu trộm nhớ thầm Xuân Diệu
Hồi anh Diệu học Ban tú tài ở trường Bưởi có lúc anh ở ký túc
xá trong trường, có lúc anh ở trọ ở chùa Tàu (gần Văn Miếu). Ăn ở tại chùa Tàu,
cảnh vật rất yên tĩnh cho việc học và làm thơ của anh, nhưng anh thường đến
chơi nhà một người bạn học sau anh mấy lớp. Người bạn anh có cô em gái là K., cứ
anh Diệu đến chơi là cô chăm sóc bạn của anh mình bằng mọi động tác của một người
em quý mến người anh, nhưng cũng dần dà có những cử chỉ rất trìu mến đối với
anh Diệu.
Thế rồi, anh Diệu về học ở Huế năm thứ ba tú tài, anh nhận được
thư của cô K. mấy thư đầu còn như là em gái viết cho anh, nhưng anh Diệu đã
linh tính là giọng thư sẽ chuyển điệu. Y như rằng chỉ mấy thư sau, là lời xưng
em đã nồng nàn hơn, say đắm, thương nhớ, nhớ thương.
Và cứ thế thư tiếp thư, mối tình yêu trộm nhớ thầm ngày càng
sâu sắc, càng đắm đuối. Tôi có được xem những bức thư ấy: Quả thật là một tâm hồn
đẹp, say đắm mà trong trẻo, nhưng rõ ràng cô K. không phải chỉ yêu nhà thơ Xuân
Diệu, mà còn là yêu anh chàng Xuân Diệu đẹp giai. Về sau anh Diệu lại ra Hà Nội
học trường Luật và dạy tư ở trường Thăng Long, giòng thư tình kia vẫn tiếp nối
không dứt. Có những bức thư cô K. trằn trọc mãi mới gửi cho anh Diệu; vì cô thấy
mối tình của cô gần như tuyệt vọng “vì không thấy anh Diệu có thư trả lời”,
nhưng nỗi lòng tha thiết và da diết của cô không thề không bộc lộ được với người
yêu lý tưởng của cô được. Mối tình yêu trộm nhớ thầm này kéo dài mấy năm trời,
cô K. có lúc người như gầy hao đi, tâm thần buồn bã làm cho người anh cô cũng
hơi lo lắng cho sức khỏe và tâm tư của em gái mình. Nhưng cô K. trong đời vẫn
giữ thái độ bình thản, tự chủ, và tuy còn ít tuổi nhưng có tư thế như là một
người đã chín tâm hồn, và đã từng trải việc đời. Có lẽ mối tình sâu sắc của cô
đối với anh Diệu, mối tình thầm mà sâu nặng, đã nung nấu tâm hồn cô làm cho cô
có sự trưởng thành sớm về tâm lý. Sau cùng anh Diệu cũng phải ngỏ ý rõ ràng là
anh rất cảm động về mối tình đẹp đẽ và cao thượng của cô K., nhưng anh khuyên
cô hãy quên anh đi, và cứ xem anh như là một người anh, và chúc “em sẽ có được
cuộc đời đầy hạnh phúc xứng đáng với tâm hồn đẹp đẽ của em”. Cô K. về sau yêu một
cán bộ, và chồng cô đã là một cán bộ cao cấp của ngành kinh tế quan trọng, nay
đã về hưu. Hai vợ chồng đã sống một cuộc đời êm ấm, hạnh phúc và đã có con đàn
cháu lũ. Tôi nghĩ ở trong đời có những tâm hồn đẹp như tâm hồn của cô K. là một
điều may mắn cho cuộc đời này, nó tôn thêm sự đẹp đẽ và cao quý của cuộc sống
cũng có khi quá tẹp nhẹp và tầm thường. Nay anh Diệu đã mất đi, và việc đời
cũng nhiều bề đã ổn định. Tôi có thể kể lại thay bạn mối tình thầm mà tôi cho
như là một bài ca trữ tình mà riêng tôi rất quí và nhớ lại rất cảm động.
Trên đây là mối tình của cô K. Nhân đây tôi lại xin kể mối
tình của cô Kh. L. Cô Kh. L. là một người có trình độ học vấn khá cao, và rất
say mê văn chương, đặc biệt là văn thơ của Tự lực văn đoàn. Cô mê Xuân Diệu qua
thơ văn, qua Thơ thơ và Phấn thông vàng, và viết cho anh Xuân Diệu hàng chục bức
thư, bắt đầu là đàm luận về văn chương, rồi dần dần là tỏ tình với nhà thơ, một
mối tình say đắm, nồng cháy, rạo rực không kém gì thơ tình của Xuân Diệu. Tôi
có cảm giác cô Kh. L. vừa là con đẻ của thơ Xuân Diệu, vừa là một tâm hồn đồng
điệu của nhà thơ. Thế rồi cô tìm đến gặp trực tiếp anh Xuân Diệu, tỏ lòng yêu đắm
đuối của mình, vừa e thẹn, mà cũng vừa “tấn công”, với tất cả sự say sưa bồng bột
của tuổi 20 lãng mạn. Anh Diệu có gặp cô Kh. L. một vài lần, nhưng dường như
anh muốn đổi mối tình cảm “cầm sắt” ra cảm tình “cầm kỳ”. Tôi đã gặp cô Kh. L.,
quả thật là một con người có sức hấp dẫn lạ thường, từ lời nói cho đến khóe mắt
nhìn đều có ma lực lôi cuốn người nói chuyện với cô. Anh Diệu cũng đã có lúc “cảm
động” sâu sắc trước mối tình sôi nổi, nồng cháy của Kh. L., nhưng sự cảm động ấy
theo tôi biết cũng không được bền.
Đến ngày Cách mạng tháng Tám, cô Kh. L. đã có chồng, mà vẫn đến
gặp anh Xuân Diệu, ít nữa là để đàm luận văn thơ...
Một mối tình không thành mà rất đẹp trong đời tôi (Huy Cận)
Năm tôi học năm thứ nhất Trường cao đắng Nông lâm, lúc bấy giờ
tôi ở ngõ Tân Hưng trước ga Hàng Cỏ (nay là ngõ Tức Mạc), một hôm tôi nhận được
một bức thư nét chữ cứng cáp, không ký tên, nhưng là một bức thư tỏ tình đằm thắm.
Tất nhiên là tôi xem bức thư trong lòng rất cảm động, nhưng rồi cảm xúc ấy cũng
qua đi vì không biết người gửi thư là ai, mà không biết có còn bức thứ hai
không. Nhưng mấy hôm sau lại nhận tiếp một phong bì màu ngà ngà, nhưng nhìn nét
chữ thì tôi đã biết là thư của người hôm nọ hay nói cho đúng hơn là của người
mà tôi không biết là ai. Mà quả thật lần này bức thư vẫn không ký tên.
Không ký tên, nhưng tình thì rất rõ rệt, rất say đắm rất thao
thức, rất thổn thức nữa vì người viết thư viết rằng đã khóc nhiều lắm trước khi
viết thư này. Mà quả thật, không biết tôi có tương tượng không, trên trang thứ
ba của bức thư tôi thấy có những dòng chữ nhòe. Và thế là thư tiếp thư, tôi
nghĩ rằng nếu ngày kia tôi biết được người viết thư là ai, thì chắc tôi sẽ yêu,
vì tình cảm thổ lộ trong thư sâu sắc lắm, sự sâu sắc của một tâm hồn đẹp đẽ và
sâu lắng. Người con gái này rõ ràng là có một đời sống bên trong rất phong phú,
có những tầng sâu, có những chân trời xa vợi. Và qua những bức thư tiếp theo
tôi hiểu đây là một nữ sinh Trường đại học Y khoa, hàng ngày tiếp xúc với khoa
học, với bệnh tật của người đời, và có lẽ nhờ thế mà có những cảm nghĩ sâu thắm
cả trong khi thổ lộ tình yêu. Trong một bức thư có đoạn viết: “Em yêu anh quá
thì viết cho anh cốt để trút lòng mình, vì để trong lòng nó nặng quá, còn anh
có biết em là ai đâu mà đáp lại tấm lòng của em”. Cho đến mấy ngày nghỉ hè tôi
đi chơi Đồ Sơn với nhóm Ngày nay, mà không biết sao cô cũng tìm được địa chỉ mà
gửi thư cho tôi ra tận bãi biển. Chuyện thật, mà cứ như là chuyện tiểu thuyết
lãng mạn. Rồi tôi có mấy tháng vào học tại Phân viện nghiên cứu Nông lâm ở Sài
Gòn, người viết thư không ký tên lại tiếp tục gửi cho tôi hàng chục bức thư. Cứ
như là “người tình không quen biết” của Nguyễn Khắc Hiếu, đây là người tình có
thật không ký tên.
Đến mùa rét 1941, khoảng tháng 10 thì phải, một sáng tôi sắp
ra đi học, thì một bưu kiện đến đề tên tôi. Tôi vội vàng mở ra xem, thì đó là một
chiếc áo len, len trắng rất đẹp, đường thêu rất khéo, và ở đằng sau cổ áo có
thêu bằng len đỏ thắm câu thơ của tôi “Hồn nhớ thương em dệt áo dâng anh” (câu
này ở trong bài Tình tự đăng báo Ngày nay và đã in trong tập Lửa thiêng).
Kèm theo chiếc áo trắng tinh đẹp đẽ ấy có thêm mấy dòng cũng
với nét chữ ấy: “Em gửi anh chiếc áo em mới đan cho anh vì trời đã trở lạnh”.
Và vẫn không ký tên. Tôi cảm động quá, nhà thơ cũng như thằng con trai trong
tôi đều thấy lòng mình được mơn trớn êm ái. Mặc dù giờ đi học đã chậm rồi, tôi
vẫn vào phòng, cởi áo vét tông ra, mặc luôn chiếc áo len trắng vào người, thì
than ôi nó chật quá, mặc dù lúc ấy tôi còn thon người, chứ chưa béo như ngày
nay.
Nhưng tôi cũng không trách người đan áo được, vì đã bao giờ
tôi để cho người ta đo kích thước của thân tôi đâu, đo vòng ngực của tôi rộng
bao nhiêu đâu, đo bằng thước hoặc đo bằng những vòng tay ôm... Tôi xếp áo vào
giấy của bưu kiện và cất ngay vào rương rồi lại đạp chiếc xe đạp lạch cạch lên
Trường cao đẳng Nông lâm ở vườn bách thảo. Không mặc được chiếc áo quá chật, mà
hôm ấy tôi cảm thấy ấm áp vô cùng, đúng là trời đã trở lạnh mà chiếc áo đến đã
đúng lúc, chỉ có chút sai số về kích thước. Nhưng đó mới là kích thước của áo,
của len, nhưng còn cái sai số về kích thước của cuộc đời thì còn bi kịch hơn nữa.
Thế rồi một sáng chủ nhật, có người nữ sinh viên y học đến
thăm một người bạn trong số ở cùng nhà với tôi. Người nữ sinh bận chiếc áo lụa
trắng đơn giản, bên trong có bận áo len hồng, vẻ mặt tự nhiên không son phấn
gì, nói chuyện rất có duyên với giọng nói vừa nhẹ vừa trầm lắng của vùng Bình Định,
Phú Yên. Sáp mặt tôi, vẻ mặt cô hơi ừng thẹn một chút rồi hai người cùng nói
chuyện qua quít nhưng tự nhiên tôi có linh cảm rằng chính người này đã viết những
bức thư đắm đuối và đằm thắm cho mình. Lúc cô ra về, tự nhiên tôi tiễn ra tận cổng
ngõ Tân Hưng, cô nắm chặt tay tôi, và hỏi nhỏ “anh có nhận được các thư của em
không?”. Tôi gật đầu, cô nhìn tôi với một khóe mắt hơi ướt, và lên xe đạp không
nói gì thêm.
Và những bức thư lại tiếp những bức thư, nồng nàn hơn, đằm thắm
hơn, và cũng sâu lắng hơn. Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là đã nhận được thư và rất
cảm động.
Thế rồi một buổi sáng cuối năm tôi nhận được thư của cô T. (từ
đây tôi có thể nói tên) nói rằng: “Em biết anh không yêu em, chính vì thế mà chủ
nhật tới anh phải gặp em”, và trong thư hẹn tôi gặp ở con đường tàu bay, trước
trường thú y lúc đó, vào lúc 10 giờ sáng. Tôi đến nơi hẹn gặp đúng giờ và tôi hỏi:
“Đi đâu bây giờ?” (tôi hỏi trống, không gọi em, cũng không gọi cô) Cô T. đáp:
“Anh đi theo em” rồi cô lên xe đạp đi trước, tôi đi theo, rồi đạp song song về
phía Hà Đông, đến lúc gần Hà Đông thì dừng lại, rẽ sang tay phải vào một khóm
cây um tùm, như là một khu rừng con. Hai người ở đó chuyện trò hồi lâu, cả hai
đều tránh nói đến tình yêu nhưng câu chuyện vẫn rất tình tứ và tế nhị. Gần đó
có một nhà thờ nhỏ. Đến lúc chuông nhà thờ đổ hồi 12 giờ thì cô hỏi tôi: “Anh
có biết hát những bài hát tiếng Pháp hay trong các bộ phim không?”. Tôi nói:
“Có biết một số bài”. - “Vậy em hát cho anh nghe bài “Tình yêu ơi, ta thấy lại
mặt người”(1). Bài hát này tôi biết, cũng có thuộc điệu và lời, và cô hát với một
giọng đầy xúc cảm, như giọng hát phát ra từ tâm can nung nấu của cô. Hát xong
cô khóc nức nở, nhất là đến câu cuối cùng có nói đến “sự phản bội của lòng
anh”. Tất nhiên tôi không thể sắt đá trước một nỗi lòng như vậy, và tôi đã ôm
cô vào lòng; cô tiếp tục khóc, nhưng rồi cũng nín. Rồi hai đứa chúng tôi ăn
bánh mì với trứng tráng như kiểu pích-ních. Mãi đến sẩm tối chúng tôi mới ra về.
Ra đến đường thì trời đã tối hẳn. Cô T. mua hai thẻ hương ở quán bên đường và
báo tôi thắp lên mỗi người cầm một thẻ để thay đèn, không phải để soi đường mà
để cho người ta thấy, đừng đâm vào mình.
Đạp về đến chỗ hẹn ban sáng (trước trường thú y), thì hai thẻ
hương tắt. Cô T. mắt ráo hoảnh nói: “Thôi anh về, hương cũng vừa tắt, đó là nén
hương cúng mối tình của đôi ta!” cô không khóc, nhưng lại đến lượt tôi khóc nức
nở...
Bẵng đi một dạo, tôi không nhận được thư của cô T. nữa. Thế rồi
tháng 5-1942, tôi nhận được một bức thư ngắn “Em thi xong rồi, sắp sửa về nghỉ
hè ở quê. Em muốn em được gặp anh tại ga chiều ngày... là ngày em đáp xe lửa về
Nam”. Ngày hôm sau, tôi đạp xe đạp ra ga, vội vã mua vé ra sân ga, ra đến nơi
thì thấy tàu bắt đầu chuyển bánh, tôi đưa mắt nhìn thật nhanh ở các cửa toa thì
thoáng thấy cô T. nhìn về phía tôi. Tôi nảy ra một sáng kiến: rời ngay sân ga,
lấy xe đạp đạp về chỗ chắn đường ngày nay là ngõ đi vào khu Kim Liên, và chờ
cho tàu đi qua đấy. Y như rằng tàu còn làm chuyển toa, móc toa một lúc rồi mới
khởi động chạy về hướng Nam. Và lúc tàu chạy qua chặng đường chỗ tôi đứng chờ,
thì tàu còn chạy thong thả, đủ cho tôi nhìn rõ được cô T. ở cửa sổ nhìn ra, và
cô T. cũng thấy rõ được tôi ở đường nhìn lên phía tàu. Thế là hai chúng tôi vẫy
tay chào nhau lần cuối cùng. Tôi không rõ tâm tư của người bạn gái buổi chiều
hôm ấy lúc rời Hà Nội nhưng riêng tôi sau khi kịp chào cô T. trong một hoàn cảnh
hối hả như vậy, tôi trở về nhà trong lòng cảm thấy bùi ngùi, vì mối quan hệ giữa
người bạn gái có tâm hồn đẹp đẽ ấy với tôi không trở thành mối tình, nhưng sự
tiếp xúc với một tâm hồn đẹp như vậy để lại trong lòng tôi một kỷ niệm vô cùng
sâu sắc và tôi cảm thấy tâm hồn tôi cũng được giàu lên, được mở rộng thêm một
chân trời. Mãi về sau tôi vẫn nghĩ: tất cả mối tình trong đời, kể cả những mối
tình được đáp lại, và cả những tình cảm một chiều đểu góp phần nung nấu thêm
tâm hồn, tình cảm, đều nhào nặn cho tâm hồn của con người được chín thêm, được
sâu đậm thêm. Vì thế tôi nghĩ trong địa hạt tình cảm, không bao giờ có “tình mất”
cả.
Sau này, qua bao nhiêu biến cố lịch sử xảy ra trên đất nước
trong mấy chục năm, tôi không có dịp gặp lại nữ bác sĩ T. Gần đây, có dịp đi
công tác nước ngoài, tôi được biết nữ bác sĩ hiện có phòng khám bệnh ở một
thành phố phía Nam nước Pháp. Có người bạn biết câu chuyện của tôi và cô T.
ngày xưa, gợi ý tôi đi thăm nữ bác sĩ. Nhưng tôi không đi, không nên khuấy động
lại tro tàn của quá khứ, nhất là tro ấy chỉ do một ngọn lửa đốt cháy mà thôi.
Chú thích:
(1) Mon amour je revois ton visage
Tập 2- Q
Một mối tình dang dở vì kháng chiến (Huy Cận)
Cuối năm 1944 tôi gặp N.M. ở Đại học xá ở Hà Nội. Lúc đó tôi
đang hoạt động mạnh ở trong Tổng hội sinh viên cùng với anh Dương Đức Hiền và một
số bạn sinh viên hoặc cựu sinh viên như đã kể một đoạn trên. Hồi đó có một dạ hội
do Tổng hội sinh viên tổ chức, mục đích cốt cổ vũ phong trào yêu nước của sinh
viên và thanh niên, và cũng để quyên một ít tiền cho việc truyền bá quốc ngữ,
và công tác y tế bình dân. N.M. lúc đó đang học năm thứ 3 ban thành trung của một
trường tư thục ở Hà Nội. N.M. không đẹp lộng lẫy, nhưng có cái đẹp khá hấp dẫn,
và nhất là cái duyên toả ra từ mỗi nét mặt, từ dáng đi, từ nụ cười kín đáo.
Dáng thon thon, bước đi lanh lẹ, với mớ tóc rủ xuống quá vai, tôi còn nhớ rõ mồn
một... Hôm ấy N.M. bận chiếc áo lụa hồng đứng ở cuối phòng, tôi đi ngang là tự
nhiên dừng lại, bị luồng mắt nhìn của N.M. làm tôi hơi sững. Tôi nói chuyện
bâng quơ, tìm cách bắt chuyện. N.M. cũng trả lời tôi một cách tự nhiên, chưa phải
là mặn mà gì, nhưng cũng không lạnh nhạt. Lúc ra về tôi hỏi muốn gặp lại N.M.,
thì gặp ở đâu. Thế rồi một buổi chiều tôi đón N.M. ở trường ra, đạp xe theo đến
cầu Long Biên, và còn đạp sang bên kia cầu nữa vì N.M. nhà ở trong một khu vườn
nhỏ bên bờ sông Nhị, cách đầu cầu Long Biên chừng nửa cây số. Gió chiều cuối
năm hơi lạnh, tà áo của N.M. bay trong gió, tôi cứ đạp theo mà thấy tâm hồn
lâng lâng, ngây ngất. Thế rồi đến đầu cầu bên kia N.M. dừng lại, và chào tôi, ý
nói tôi nên trở lại.
Tôi hồi hộp, nhưng cũng mạnh dạn trao cho N.M. bức thư đã viết
sẵn từ đêm hôm trước. Thế là mấy hôm sau tôi nhận được thư trả lời đằm thắm,
chưa hứa hẹn gì, nhưng trong thư nói những mơ ước của N.M. về một cuộc sống
tình cảm đẹp đẽ, lâu bền: Tôi thấy rằng tín hiệu đầu tiên như vậy là đã quá khẳng
định.
Thư đi từ lại suốt cả năm 1945, rồi cách mạng tháng Tám đến,
lúc ở Tân Trào về tôi lại viết thư cho N.M.
Trong một bức thư, N.M. có nói rằng rất tiếc là chưa đủ tuổi
để đi bầu quốc hội và để được bầu tôi. (Sự thực nếu N.M. đủ tuổi cũng không bầu
tôi được vì tôi ứng cử ở Hà Đông, mà N.M. thì trong danh sách cử tri ở Hà Nội).
Trong một bài thơ, tôi có phản ảnh điều tiếc ấy của N.M., bài thơ lạc mất, nay
tôi chỉ còn nhớ hai câu:
Trong thư em nói tiếc vô chừng,
Thiếu tuổi bầu anh vào quốc hội...
Đến ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ, chúng tôi không kịp
liên lạc với nhau, mà các thư của N.M. gởi cho tôi thì cũng bị dìm đáy sông
cùng bao nhiêu văn thơ trong tủ sách quý. Tôi từ Hà Đông lên Quốc Oai (Sơn Tây)
rồi lên Tuyên Quang ở An toàn khu, tôi hỏi dò tin tức xem N.M. sơ tán về hướng
nào, nhưng hỏi mãi không biết được tăm hơi. Đến gần kết thúc kháng chiến, năm
1953, mới có người bạn cho tôi hay tin rằng N.M. đã lấy chồng “sau mấy năm chờ
đợi”.
Thì ra N.M. cũng tìm cách liên lạc với tôi mà không bắt được
mối.
Năm 1955, sau một năm đã về thủ đô Hà Nội một hôm tình cờ tôi
gặp lại N.M. Ở phố Hàng Gai. Hai người bồi hồi một lúc, nhưng không hề ngỡ
ngàng.
Tất nhiên N.M. không còn là cô gái phơi phới mà tôi gặp trong
buổi dạ hội ở Tổng hội sinh viên, nhưng những nét đẹp định hình gần cái tuổi 30
càng làm cho vẻ đẹp vốn kín đáo của N.M. càng đằm thắm, càng có sức hút từ bên
trong, như cái sức hút của lửa ngún, của than hồng dưới trấu. Sau đó N.M. có hẹn
tôi gặp lại vài lần nữa. Tuy hai bên gặp nhau không thật ngỡ ngàng, vẫn thấy mối
tình buổi trước như còn nồng cháy, nhưng thật ra chuyện đời cũng như chuyện
lòng không còn đứng yên một chỗ... Sau một buổi gặp ấy tôi có viết mấy dòng thơ
sau đây gởi đến cho N.M.:
Trưa nay anh lại bồi hồi
Trời thu buổi ấy xanh ngời mắt em
Ba tuần duyên đã bén duyên
Ra đi kháng chiến hai miền cách nhau.
Mấy mùa man mác hương cau
Thu đông chiến dịch trung châu khó tìm...
“Tìm nhau như thể tìm chim”
Em ơi! Năm tháng lỗi niềm hẹn xưa...
Mười ba năm ấy bây giờ
Gặp nhau những tưởng mới vừa hôm qua.
Hôm qua đầu bến Nhị Hà
Thư anh trao vội, gió xoà tóc mây.
Hôm qua anh nhận thư dày
Em mơ hạnh phúc từ rày có anh.
Hôm qua trong buổi bình minh
Lòng ta chung một ân tình sáng trong.
Hôm qua... nước đã chia dòng
Thuyền không gặp lại bến sông thuở đầu.
Gặp em hồi hộp xót đau
Trời xanh đầu hạ nhìn nhau mỉm cười.
Trưa nay anh lại bồi hồì
Trời thu buổi ấy xanh ngời mắt em
Sau khi trao đổi bài thơ để nói lòng hoài niệm của mình, hoài
niệm có phần tiêu tao, da diết, tôi không tìm gặp N.M. nữa, vì nghĩ rằng không
nên khuấy động lại tro tàn quá vãng, huống chi tro cũng chưa thật tàn, mà nhất
là tro còn nóng này là do hai ngọn lửa đốt cháy... Thỉnh thoảng, ngoài đường phố
tôi lại xáp mặt N.M. hai bên chào nhau mỉm cười, có lần tôi thấy N.M. sau khi
chào tôi thì ngoảnh mặt đi.
Có phải còn chút gì xao xuyến từ ngọn gió của sông Nhị Hà thổi
từ buổi chiều xưa đó chăng? Nếu một ngày kia N.M. có đọc tới trang hồi ký này,
thì cũng thứ lỗi cho tôi đã không kể lể hết những niềm say sưa của hai chúng
tôi ngày xa nhau vì kháng chiến bùng nổ. Tôi tiếc đứt ruột đã để mất những bức
thư say đắm mà trong trẻo N.M. đã viết cho tôi trong gần hai năm trời. Những
dòng hồi ký này có trữ tình, tiếc nuối đến đâu cũng không bù đắp lại những dòng
thư đẹp và say, và ngây ngất của N.M., lúc bắt đầu yêu mà lại là yêu tôi. Nhưng
thôi, nước đã chảy dưới cầu; tôi níu lại cũng chẳng được, nhưng mong rằng mấy
dòng hồi ký này trong muôn một, tạ tấm lòng yêu say của N.M...
Xuân Diệu đi thi vào ngành thương chính
Đầu năm 1940, phủ toàn quyền mở cuộc thi tuyển một số tham tá
ngành thương chính (nhà đoan), bằng cấp phải có để thi là bằng tú tài, hoặc bằng
cử nhân.
Anh Xuân Diệu bàn với tôi: “Ta cứ đi thi xem sao, nếu đậu có
được đồng lương để yên thân về cuộc sống, thì làm thơ mới thoải mái được, mới
theo lý tưởng văn chương của mình được”. Anh Diệu có câu thơ được nhiều người
nhắc đến:
Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ.
Thế rồi anh nộp đơn và anh đi thi. Đến ngày thi đến Sở đoan
Trung ương (tức là trụ sở của Bảo tàng cách mạng Việt Nam) để thi thì anh gặp
nhà thơ Vũ Đình Liên. Anh em vui gặp nhau, và hơi ngỡ ngàng có chút bùi ngùi.
Hai anh mượn lời trong vở kịch Le Cid của Coócnây mà nói với nhau: “Xuân Diệu
ơi có ai đó có thể nói là như thế này! - Vũ Đình Liên ơi có ai có thể ngờ là
như thế này” (Qui l’eut -Qui l’eut cru?)
Về sau đó anh Vũ Đình Liên và anh Xuân Diệu đều trúng tuyển,
anh Liên được bổ nhiệm làm tại Sở thương chính Hà Nội, còn anh Diệu thì phải đi
làm tham tá tại Sở thương chánh Mỹ Tho (ngày nay là tỉnh Tiền Giang). Anh Diệu
phải xa rời Hà Nội là một nỗi đau buồn, cho hai chúng tôi, nhưng cũng đành phải
ra đi, vì “Cơm áo không đùa với khách thơ”. Về sau tôi mới hiểu ra rằng, sở dĩ
chính quyền thực dân Pháp lúc đó bổ nhiệm anh Diệu đi xa là vì chúng nghi rằng
nhóm Ngày nay là một nhóm hoạt động cách mạng chống Pháp, chúng nó tách chia
nhóm này được chừng nào hay chừng ấy cho chúng. Mà rõ ràng là ý đồ của chúng như
vậy, vì chúng yêu cầu lệnh bổ nhiệm phải được thi hành ngay lập tức, không cho
trì hoãn việc nhậm chức. Vừa rồi sau khi anh Diệu mất tôi có gặp lại anh Vũ
Đình Liên và nhắc câu chuyện hai nhà thơ đi làm “Tây đoan”, anh Liên vẫn còn cười
chua chát, và nói thêm “Nhưng cũng may có Cận, nên Diệu được sớm thoát cái cảnh
khổ cực làm “tây đoan” này. Đau khổ của một thời cho kiếp nhà thơ!”.
Xuân Diệu đối với u Khang
Sau khi má anh Diệu mất, anh có nhờ một u già giúp việc tên
là u Khang. U Khang có mấy người cháu làm việc ở Hà Nội, có thể nuôi dưỡng u,
và do đó cũng nhờ u giúp đỡ trong việc gia đình. Nhưng sau khi tiếp xúc thì u
Khang quyết định ở lại giúp anh Diệu trong việc bếp núc, trông coi chốn ăn ở
cho anh. Công việc giúp anh Diệu chỉ là đi chợ, nấu ăn, quét dọn cái phòng anh
làm việc. Mà ngay việc đi chợ, thì nhiều khi anh Diệu cũng đỡ phần cho u Khang,
vì thỉnh thoảng anh cũng trực tiếp đi mua rau và nhất là đi mua thịt chó ở chợ
Hàng Bè, hoặc ở phố Sinh Từ.
Còn giặt áo quần thì những áo mỏng như sơ mi, may ô anh mới
nhờ u giặt, còn quần và áo dày thì anh tự giặt lấy, không nỡ phiền u. Anh Diệu
đối xử với u Khang như là đối xử với mẹ đẻ, chăm lo từ miếng ăn cho đến chỗ ngủ,
chiếc chiếu, cái chăn, chiếc khăn len trùm đầu, đôi tất ấm... Anh lại còn đưa
tiền đều cho u Khang mua trầu, mua thuốc lào, vì u thỉnh thoảng cũng hút điếu
thuốc lào, hoặc cho thuốc lào cùng nhai với trầu. Có được thức ăn gì ngon do bạn
yêu thơ biếu trong những chuyến anh đi nói chuyện thơ, anh đều để phần cho u
Khang. Mỗi khi u ốm đau, mà u cũng hay ốm vặt, anh lại lo thuốc thang chu tất,
và dỗ u uống thuốc, như anh đã từng dỗ má anh. Anh có định làm một bài thơ đầu
đề là “U Khang”, mà anh chưa kịp làm xong thì anh đã mất. Ý bài thơ anh có nói
cho tôi biết: cuộc đời kiên nhẫn, chịu thương chịu khó tích luỹ từng chút an
vui như u Khang. Anh thấy nơi u Khang một biểu hiện của sự sống, của cuộc sống
trăm nghìn kiên nhẫn, trăm nghìn âu lo, trăm nghìn chăm chút cho hạnh phúc đơn
sơ của con người. U Khang đã mất đi mấy năm trước khi anh mất, vậy mà đến lúc
anh mất bài thơ vẫn chưa làm xong. Trong vô vàn ân hận của anh khi mất đi, chắc
chắn có điều ân hận này. Khi u Khang đã đến ngày cải táng, thì anh cùng các người
cháu của u chăm lo việc bốc mộ của u rất chu đáo, và anh cùng tôi đã đem tiểu
sành của u về chôn tại quê nhà của u, bên cạnh những ngôi mộ của gia đình,
trong tỉnh Hà Nam Ninh. Tấm lòng của anh Diệu đối với u Khang thật là như con đối
với mẹ.
Vì sao anh Xuân Diệu phải đi làm tham tá Nhà đoan
Trong một trang nhật ký đề ngày 27-9-1939, anh có ghi “tôi đã
đỗ tham tá tập sự ngành Đoan. Thoát dạy tư! Thoát những lo âu về cuộc sống hàng
ngày”.
Nhưng trong quyển nhật ký viết ở Mỹ Tho, ở trang đề ngày
18-5-1940 anh lại ghi:
“Một bạn thân vừa trách tôi trong thư, những lời làm tôi sung
sướng. Anh trách tôi sao lại đi làm, thiếu can đảm thì mới đi làm. Anh muốn tôi
đừng bao giờ bỏ làm thi sĩ. Tôi sung sướng vì có một người nói thật, nói thẳng,
họ nhắc cho tôi cái mệnh lớn của tôi.
Sao tôi lại đi làm? Nhiều cớ lắm.
Ở nhà bắt buộc, thúc giục, than thờ. Nếu nhà có tiền, tôi
không cần nghe. Nhưng đây là một gia đình đã 50 năm quay trong cái vòng đau khổ,
những người trong gia đình ấy, cha mẹ, má, em,... đều là những vai trong truyện
“Cái vòng”. Tôi đi làm: có một ít tiền để cho những người đời ấy khỏi hèn mọn;
có một ít tiền để cho họ bớt lo tính; họ là người đời, họ cần những của cải
thông thường của đời. Nếu tôi không may đậu đi làm, thì hiện giờ họ còn khổ sở,
chứ có đâu cái vui!
Những người ấy tôi thương yêu hết lòng, tội nghiệp cho mẹ, thầy,
má, em; tôi phải chịu khó vì họ ít nữa là trong 5-6 năm đã. Không phải vì yếu,
nhưng vì nhân đạo vì tôi thương những con người; những con người ấy mà thân
thích tôi, nên tôi biết rõ cái khổ mà càng thương thêm.
Cớ thứ hai: Không làm việc ngoài thì phải làm văn, nghĩa là
rút cục: làm báo. Cái tiền ấy khó ăn lắm. Được nó, cũng trải bao cái nhục. Lại
còn cái khổ kéo cày. Tôi đã được biết một ít cái mặt trai của báo, của văn. Tôi
muốn sổng cái văn, nhưng không muốn chen vào cái “đời văn”, có nhiều bỉ ổi. Bây
giờ, tôi “ngoài vòng cương toả” kia, để trong vòng cương toả” này. Thà vậy, cái
xấu trong đời, chịu được; chứ cái xấu trong ăn không nên chịu và không chịu được.
Chẳng qua cũng vì tình thế nước ta, nó ảnh hưởng luôn đến số
phận của một thi sĩ. Nếu ở nước ta, viết văn chứ không làm báo mà sống đủ, thì
tôi đã viết văn như văn sĩ Pháp, ra sách, rồi đủ ăn, nhưng ở nước ta, độc giả
ít, cái bè đảng lại cần có lắm. Mà bè đảng nào - Tự lực văn đoàn, cái hội cao
nhất ở nước Việt (về mặt văn chương) lại cũng là một cái hội báo. Tôi chen chân
vào chỗ nào? Cái tiếng thì được, chứ cái miếng, đó là chuyện khác. Thôi, tôi
cũng tại trời gởi tôi vào chỗ này. Gởi tạm để rồi tôi sẽ ra. Cũng vì sợ cái đời
văn ở nước mình sống lăn sống lóc, viết bạ viết bừa, mà tôi vào cái đời bó buộc;
tuy nó bó buộc, nhưng trong sạch, không có mánh khoé, không có lừa độc giả,
không chạy theo sờ thích thiên hạ, cạnh tranh để mà sống.
Ở đời có toàn vẹn bao giờ! Tôi sợ chen vào làng báo thì chết
cái hồn thơ, lẽ nào cái làng gãi giấy lại cũng giết được cái hồn thơ nữa. Thế
thì tôi biết đi ngả nào để cứu hồn tôi? Rút cục, cái đáng phàn nàn, là tôi đi
làm lại làm vào Nam Kỳ. Nêu ở Hà Nội hay Hải Phòng xứ rét, tôi quả quyết rằng
tôi hoạt động hơn”.
Những năm tháng anh làm tham tá nhà Đoan ở Mỹ Tho cũng có những
giờ phút tủi cực, có thể nói là tủi nhục nữa. Thỉnh thoảng thằng chủ Sở đoan
tên là Soulage lại doạ đổi anh đi nơi khác, vì anh làm việc hơi tài tử, không vừa
ý nó lắm.
Ngày 26-4-1940 anh lại ghi trong nhật ký:
“Làm việc suốt đời? Thế thì bao giờ mới sống. Tôi định làm đến
30 tuổi, cả tôi và Cận đều làm việc nhà nước, thì một người có thể xin thôi.
Người nào khổ nhất chắc là tôi. Làm 6 năm, tôi gắng góp tiền; được bao nhiêu?
Vào xứ này, nghe nói người ta tiêu một trăm ngàn như không, mà tủi quá! Mình cặm
cụi một năm được chăng là một nghìn đồng! Mà chịu bao nhiêu ràng buộc.
Trong hai tháng nay, hầu như tôi quên là Xuân Diệu. Tôi ít được
dịp ký cái tên chọc trời chữ ký của tôi ngắn lại cho tiện trên giấy má của Sở.
Tự quên mình là thi sĩ, văn sĩ nghệ sĩ. Lẽ nào đến thế, ai ơi! Ở đây một thân
mình, không kẻ đồng loại, không ai có một hoài bão với mình.
Hà Nội! Muôn lần thân yêu! Ngươi là nước, ta là cá, xa nước
ta sống sao đặng. Nếu tôi không ra được cái vòng này. Làm sao trở về được Hà Nội.
Tài tôi chưa cạn. Nhưng tâm trí không thư thái, thì biết làm sao! Hay là sự
sáng tạo cần có trở lực. Tôi viết Thơ thơ lúc ở Huế đang phải học tú tài phần
thứ hai. Bây giờ... còn hai bài trường ca, bao giờ viết xong. Nếu trong năm
1940, mà không xong thì nhục nhã lắm; thế sẽ tỏ rằng tôi bị thua cảnh ngộ.”
Ngày 10-5-1940, trong nhật ký anh lại ghi:
“Ông chủ lại doạ: đổi tôi đi. Thì đổi đi! Ai cần. Bây giờ chỉ
có một cái va ly, và một cái hòm gỗ; dễ khuân lắm; đây lại muốn đi cho biết đó
biết đây!
Mà tại tôi: cộng sai một con số, thành ra sai những mười ngàn
lít rượu! Mỗi lần làm báo cáo về việc làm của cá nhân là mỗi lần tôi bị càu
nhàu; hai tháng bị hai lần rồi, chắc còn những lần khác nữa.
Người khó tính thì bao giờ bằng lòng ai! Ngoài ra, chẳng có
việc gì to lớn. Bây giờ nghèo, phải tòng quyền. Ít lâu có vốn, tôi sẽ liệu chứ!
Thực vậy lòng tôi không yên một nơi nào cả; chỉ muốn lăn đi, dù không bám rêu
cũng được.
Sống trong lo lắng, chết vì yên vui, nói cho đúng hơn: Lo lắng
thì làm cho ta sống một trình độ cao, yên vui thì ta sống mà chết tinh thần. Phải
có bị những cái nhăn nhó của bà mẹ chồng khắc nghiệt, tôi mới biết rằng nghề
này chẳng vinh gì; tôi mới nhớ cảnh tôi mới tính bàn khôn dại”.
Tôi ít muốn tiêu tiền, càng đi làm, càng ít muốn tiêu. Thấy
đi làm bằng cách nào mà đỡ thân. Vui sướng gì, vinh hạnh gì là tiêu pha! Cái tiền
bị người ta cau có, ra mặt mới được, cái tiền ấy ta nên thu góp nó lại, đúc nó
ra thành thuốc súng, thành sức mạnh, để sau này giúp ta. Bọn tiêu sài tiền
lương, rút cục mắc luôn vào cái cùm; tháng nào xào tháng ấy, đã lúc hết nửa đời,
vẫn còn tôi mọi. Khi có tiền thì dù không xin thôi cũng có thể vững chãi, kiêu
hãnh, vì có thể thôi lúc nào cũng được. Không tiền phải bám cái khổ nhục mà sống!”
Trong nhật ký của anh Diệu không chỉ ghi những lời đau xót về
cái cảnh đi làm công cho nhà Đoan. Mà phần chủ yếu là anh ghi những cảm nghĩ về
cuộc đời những suy ngẫm về văn thơ của cha ông, của anh, của bạn anh. Nhiều
trang rất hào hứng viết về những cảm nghĩ và suy ngẫm ấy. Trên đây tôi trích mấy
đoạn nói về cái đau khổ, cái tủi nhục phải đi làm “Tây đoan” để nói lên cái việc
anh đi làm tham tá là một việc vạn bất đắc dĩ đối với anh. Cho nên lúc tôi đậu
kỹ sư canh nông và bắt đầu đi làm, có tiền lương (trong lúc đó tôi vẫn tiếp tục
hoạt động cách mạng bí mật), thì tôi mời anh về sống với tôi tại Hà Nội. Anh Diệu
đánh điện cho tôi: “Diệu từ chức được chưa?”. Thì tôi trả lời tức khắc: “Từ chức
ngay, và về ngay Hà Nội”. Vậy là đầu năm 1943 anh Diệu thôi làm Tây đoan, về Hà
Nội cùng sống với tôi ở số nhà 61 Hàng Bông, hai người chung một đồng lương của
tôi.
Thằng Soulage chủ sở đoan của anh Diệu, hay càu nhàu nhăn nhó
với anh Diệu như vậy, mà anh cũng rất bực mình nó, có lần anh cãi to tiếng với
nó, nên nó doạ đổi anh đi một nơi xa. Nhưng một mặt khác, anh lại thương hại
nó, mà không phải chỉ thương hại mà có phần thương xót nó... Số là, thằng
Soulage này sống không vợ con, hình như nó đã có một đời vợ mà sau đã li dị... Ở
Mỹ Tho nó sống cô độc, ngoài công việc Sở, và thỉnh thoảng đi bắt rượu lậu ở
các quận xung quanh, thì nó chỉ còn một trò tiêu khiển là chăm sóc con khỉ của
nó. Con khỉ nó đặt tên là Nana. Nó chăm sóc con vật này như chăm sóc một con
người, một con người thân thích. Có thể nói con Nana là đối tượng tâm sự, tâm
tình của ông chủ Soulage. Anh Diệu đã nhận xét rất tỉ mỉ, rất sâu sắc cuộc sống
của con vật này bên cạnh ông chủ, hay nói cho đúng hơn là bên cạnh người nhà của
nó. Anh đã định viết một truyện ngắn lấy tên là “Thân em”, em đây là con khỉ
Nana. Truyện ngắn không viết xong, nhưng còn lại hai trang trong di cảo của
anh, tôi xin trích ra đây một đoạn để nói lên chủ nghĩa nhân đạo trong mạch văn
của anh:
“Mỗi lần tôi nhớ đến con Nana, tôi lại thương đến thân liễu bồ
của nó. Tôi lại tương tượng nấm mồ nho nhỏ nó nghỉ dưới gốc cây dừa ở Sở nhà
đoan Mỹ Tho. Con Nana thoạt nhìn rất dễ sợ. Nó là một con khỉ đặc biệt, không
biết đến từ rừng nào, núi nào. Ông Soulage người Tây già chủ nó mua ở đâu tôi
chẳng biết. Người con Nana dong dỏng cao, mồm nó giô ra, hàm dưới nở, cái cằm
to lắm, chẳng trách nó hét nhiều. Hai tay của Nana dài lòng thòng, gần chấm đất.
Con Nana lông đen như mun vậy, dài và thưa hơn lông mèo. Người nó thấp nhỏ,
nhưng mình dài, chân dài, hai cánh tay thật dài, cái gì cũng dài, cái ngón chân
nó dài; còn tay nó thật là tay ngòi bút. Dáng người nó có thể nói là thướt tha.
Loài vật trong tiếng Việt Nam đều là giống cái hết. Bò, trâu,
chim, ngựa tất cả đều gọi bằng “con”. Cho nên nghe gọi là con Nana, tôi chỉ biết
nó là con khỉ mun. Một con vật, chứ nào có để ý nó là giống gì. Ai gọi con Nana
là khỉ. Nó không có cái gì là khỉ cả. Nó là một con vật đi hai chân; chẳng có
lúc nào nó chịu hạ mình mà đi bốn cẳng. Nó mặc một cái áo gi-lê bằng dạ xanh nước
biển cài khuy phía trước sau cho ấm ngực, nó nhẹ nhàng một cách lạ. Nana nó có
một tâm hồn... người Tây già chủ nó khi nói đến nó dùng ngôi thứ ba thì dùng
“giống cái”. Nó là cô Nana; nó là thiếu nữ Nana. Cái tên dịu dịu xinh xinh; thật
là tên con gái.
Cô Nana thật là xinh. Ừ, ừ Nana đẹp lắm, Nana đáng yêu lắm.
Nana nó vuốt cái áo của nó với những ngón tay mềm mại. Nhưng tại sao lần đầu
tiên gặp nó tôi sợ nó thế. Trông nó rất kinh. Tính hay sợ loài vật là một tính
xoàng. Sợ loài vật tức là không biết cái địa vị của mình là con người, cái địa
vị của người anh phải thương yêu những giống đàn em, là loài vật. Ông Soulage
người chủ nhà đoan già là hiện thân của hồn thuộc địa. Người ông to lớn, hai
hàm răng cằn khít lại. Ông ta nức tiếng là ông ác trong làng thương chính. Cả Sở
nhà đoan run sợ khi ông ta đổi xuống Mỹ Tho. Tính ông già còn mạnh mẽ này là
tính của một người không muốn cho ai hơn mình. Ông không thích cho người khác
vui sướng. Có vui sướng thì phải vui sướng thua ông, hay là do ông ban cho cái
sướng. Những biển Đại Tây dương Địa trung hải, Ấn Độ dương, Thái Bình dương đã
từ làn sóng này đến làn sóng khác lăn một hình người xa lạ đến ở một tỉnh nhỏ
này. Mặt trời nhiệt đới đã bạc tóc ông, ông đến đây để ngửi trên cát những cái
gì là nhà đoan ở tỉnh này và các tỉnh lân cận. Ông Soulage không có ai ưa hết.
Ngày ngày xong giờ làm việc ông lại lên trên lầu lủi thủi một mình. Ở bàn giấy
ông làm vương làm tướng nhưng khi Sờ đóng cửa rồi, ông già lại trở lại là một
người già. Xa nhà xa nước không vợ không con, không có gì giải trí ông lấy sự
nanh ác làm một cái vui”
Sau đó anh Diệu định tả cái niềm an ủi duy nhất của ông là
cái tình của ông đối với con Nana, và cái tình của con Nana đối với ông...
Tập 2- R
Bài diễn thuyết đầu tiên của Xuân Diệu
Đó là buổi diễn thuyết về “Thanh niên với quốc văn” tại hội
trường của Đại học Đông Dương vào hồi tháng 3-1944. Hoài bão của chúng tôi đối
với tiền đồ của tiếng Việt Nam đã được diễn tả nhiều lần trên báo Ngày nay và
trong những bài thơ. Nhưng để nói tập trung cái hoài bão đó, cái nỗi niềm đó
thì anh Diệu đã bàn với Tổng hội sinh viên làm cuộc diễn thuyết nói lên trách
nhiệm của các thế hệ thanh niên đối với tiền đồ của tiếng nước nhà, đối với
công cuộc xây dựng nền văn hoá dân tộc.
Trước ngày diễn thuyết, anh đọc đi đọc lại rất kỹ bài của
mình, lấy bút chì đỏ gạch dưới những câu, những chữ cần nhấn mạnh, chẳng khác
nào như một diễn viên sân khấu nghiên cứu đài từ của mình trước giờ diễn xuất.
Tối hôm đó tại hội trường lớn của trường Đại học, hội trường
theo bậc thang, chật ních những sinh viên và một số khách mời. Trong đám khách
mời có các giáo sư đã học, và một số bạn quen của chúng tôi. Anh Hoàng Xuân Hãn
tối ấy cùng đến dự, và ngồi ở ghế hàng đầu có nói chuyện hồi lâu với anh Diệu
trước khi anh Diệu bắt đầu nói chuyện. Không khí khá náo nức, vì cái tinh thần
yêu tiếng Việt, trau dồi cho tiếng Việt cũng đã được gây lên trên báo chí, qua
sách vở của Tự lực văn đoàn và của nhiều nhà xuất bản khác, qua phong trào truyền
bá quốc ngữ. Nhưng lần này sự náo nức lại được tăng lên bởi lẽ diễn giả là một
nhà thơ mới nổi tiếng được thanh niên rất yêu mến. Cũng nhắc thêm: ở diễn đàn
này, về sau anh Nguyễn Đình Thi cũng nói chuyện về tinh thần chống phong kiến,
tinh thần dân chủ trong ca dao Việt Nam. Anh Xuân Diệu bước lên diễn đàn được một
tràng vỗ tay của hội trường chào đón làm cho anh vốn đã dễ hồi hộp càng hồi hộp
thêm, nhưng đó là điều cổ vũ anh, làm anh vững tâm đọc bài diễn văn của mình.
Anh mở đầu: “Chưa khi nào tôi nói trước đông người. Lần này nói với các bạn, đó
là lần thứ nhất của tôi. Tôi không muốn mang cái vẻ dễ thành ra khôi hài của một
nhà diễn thuyết. Đây chỉ là một cuộc trò chuyện nó có vẻ một câu chuyện tâm
tình. Tâm tình với quốc văn, tâm tình của chúng ta đôi với quốc văn.
Sinh viên với quốc văn? Sinh viên Việt Nam với quốc văn Việt
Nam! Biết bao nhiêu điều các bạn có thể tự tình kể lể với cái hồn của nước ta đọng
trong quốc ngữ! Chúng ta tâm sự với tiếng nói của mẹ Việt Nam, chúng ta nghe rõ
trong lòng ta lời nói của mẹ Việt Nam. Vậy tôi chắc các bạn cùng cảm thông với
tôi trong cái nỗi niềm dạt dào khi nghĩ đến Mẹ”.
Xong rồi anh nói đến thái độ hờ hững của một số thanh niên đối
với tiếng nước nhà, nói đến việc dạy quốc văn không được tốt trong một số trường
học, nói đến tác dụng của tiếng mẹ đẻ trong sự nghiệp, giành độc lập và bảo vệ
độc lập. Anh cũng có nhắc đến câu của Alphonse Daudet trong cái truyện ngắn Buổi
học cuối cùng: “Một dân tộc nào mà cũng còn giữ được tiếng của mình, thì dân tộc
ấy cũng như giữ được cái chìa khoá để tự giải phóng cho mình”. Sau đó anh nói
trách nhiệm của sinh viên thanh niên là phải trau dồi tiếng mẹ đẻ, dùng tiếng mẹ
đẻ làm công cụ phát triển văn hoá, văn minh của nước nhà. Anh lại khuyến khích
sinh viên đi vào nghiên cứu vốn văn học dân tộc, vì không có tiếng nào hơn là
tiếng nước ta để biểu hiện trung thành và sâu sắc tư tưởng và tình cảm của con
người chúng ta. Anh cũng khuyến khích công việc dịch thuật để làm giàu thêm cho
kho sách của nhân dân.
Anh còn phác hoạ ra một chương trình gồm 6 điểm để củng cố địa
vị của quốc văn trong đời sống của quốc dân: một là phải chống những tật xấu
trong tinh thần Á Đông, hai là phải chống lại những tật xấu của riêng người Việt
Nam. Ba là phải chuộng sự thật; bốn là phải chuộng sự lành mạnh; năm là chuộng
sự sáng sủa; sáu là chuộng sáng tác, đẩy mạnh tinh thần sáng tạo. Đoạn kết anh
nói: “Tôi xin tóm tắt lại cùng anh em bằng một tình cảnh. Này một đứa bé Việt
Nam lọt lòng ra đời. Tiếng mẹ nó ru bao bọc lấy nó, mơn trớn, vuốt ve. Dần dần
đứa bé nghe lọt tai rồi ngày ngày được ẵm bồng trong câu ru Nam Việt. Tâm linh
nó tự nhiên thấm nhuần tiếng mẹ đẻ, nghe lời ru, nó hết khóc, nó mỉm cười Nó nằm
trong nôi, mà cũng là nằm trong lòng mẹ, mà cũng nằm trong tiếng nước nhà:
Nằm trong tiếng nói yêu thương,
Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời.
Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi:
Hồn thiêng đất nước cũng ngồi bên con.
Mấy câu thơ ấy của một thi sĩ bạn tôi (Huy Cận) thật đã tả
cái cảnh yêu thương chẳng những của lòng mẹ mà còn cái lòng đất nước. “Hồn
thiêng đất nước cũng ngồi bên con.... Anh lại thêm: “Anh em đừng ngại rằng quốc
văn ta nghèo nàn, kém cỏi, không đủ món ăn cho anh em. Không đủ, anh em cũng cứ
xem rồi thì khen lao hay chỉ trích, hay chế nhạo cũng được; nhưng miễn sao anh
em đừng hừng hờ. Anh em làm cái bổn phận ủng hộ, bổn phận dễ nhất của anh em.
Còn nhà chúng ta nghèo, chúng ta chớ ngại. Nhà nghèo mà anh em ta biết chịu
thương chịu khó, biết cố gắng, biết hy sinh thì chẳng mấy chốc mà cái nhà văn
Việt Nam, từ vách đất mái tranh, sẽ hoá nên lâu đài cung điện. Thưa anh em, văn
học Việt Nam đang mong mỏi ở mỗi chúng ta”.
Buổi diễn thuyết thành công mỹ mãn, lúc ra về mọi người tìm bắt
tay diễn giả và cũng nói lên cái lòng hoài bão chung đối với tiếng nước nhà...
Lúc cuốn Thanh niên với quốc văn xuất bản ở nhà “Thời đại”, anh Diệu đề tặng
tôi “Diệu tặng Cận bài diễn thuyết đầu tiên của Diệu; sắp sẵn những cuộc “chu
du nói chuyện” của ta về sau. Sở dĩ anh đề như vậy là vì cả hai chúng tôi lúc
đó có cái mộng là đi diễn thuyết khắp nước để cổ vũ công cuộc xây dựng nền văn
học và nền văn hoá nước nhà.
Mộng này về sau anh Diệu đã thực hiện một cách đầy đủ bằng
hàng trăm (gần đến 1000) cuộc bình thơ, nói chuyện thơ của anh. Tôi cũng làm được
mức nào bằng những cuộc nói chuyện của tôi về văn hoá, văn nghệ về sự trau dồi
bản sắc văn hoá dân tộc, về việc xây dựng các vùng văn hoá đẹp và bền trong cả
nước.
Xuân Diệu viết về “Hàng bia Văn Miếu”
Cùng một lúc với việc chúng tôi trau dồi tiếng Việt làm thơ
viết văn bằng tiếng Việt, với lòng yêu tiếng nước nhà một cách thiết tha, da diết
thì cũng có dăm ba người trong đám trí thức ti toe viết tiếng Pháp, hòng xây dựng
sự nghiệp văn chương bằng tiếng Pháp. Đối với chúng tôi lúc đó, việc chạy đòi
làm thơ văn bằng tiếng Pháp là một tinh thần nô lệ, hướng theo cái uy thế của
“mẫu quốc”. Chúng tôi không những cười cái trò ấy mà còn căm phẫn nữa. Thái độ
căm giận ấy anh Diệu đã tỏ rõ trong bài Hàng bia Văn Miếu. Ở giữa bài có đoạn
anh viết:
“Một chiều kia tôi đã nhận bài học của hàng bia Văn Miếu. Tôi
xin kể lại bài học ấy cùng mọi người. Thái học sinh nghĩa là gì? Nghĩa là những
cậu học sinh giỏi giang, ở trên cả các học sinh khác, những người “học trò” tốt
vậy, nghĩa là thuở Hán học, các học sinh ấy khéo thuộc lòng, khéo ăn cắp sách,
khéo nấu nướng những món văn sách, kinh nghĩa, nấu giả Đường, giả Tống cũng như
người ta nấu giả cầy, và dọn lên cho các quan trường thưởng thức. Các thái học
sinh đã làm việc rất hữu công cho thân mình họ, bởi cái lẽ hiệu nghiệm nhất là
họ đã làm việc không công cho tiếng nước Tàu... nào có ra gì bác Nguyễn Du, nếu
bất hạnh Nguyễn Du không đỗ đạt....
Đoạn kết thúc anh viết:
“Tôi buồn cười trông thấy sự ngây ngô của đời trước, tưởng rằng
đậu ông nghè là có đại công với văn học, với tổ quốc, vội xây đài kỷ niệm...
Người Việt Nam đời nay đã bỏ cái “công danh Tàu” đời trước: và cái “công danh
Tây” đời này người Việt Nam đời sau sẽ để vào góc nào? Chắc sẽ có một Văn Miếu
thứ hai, hai hàng bia đá khắc ghi tên những ông nghè, ông thạc, và rêu tha hồ
bám, cỏ tha hồ che”. (bài đăng ở báo Ngày nay năm 1938).
Giọng mỉa mai của anh đối với các bậc khoa cừ ngày xưa cũng
có chỗ chưa thật thoả đáng, nhưng cái ý chính của anh là mỉa mai các vị văn sĩ
viết tiếng Tây, và cái ý đồ bảo vệ tiếng mẹ đẻ, bảo vệ văn học và văn hoá dân tộc
là hoàn toàn chính đáng, mà vì vậy bài báo ra đã được đám thanh niên rất hưởng ứng.
Xuân Diệu công phu học vốn cổ thơ văn dân tộc
Trong các di cảo của anh có cả một quyển vở dày trong đó anh
chép các bài thơ, bài từ, bài phú hay (chép từ thời anh còn học tiểu học và
trung học ở Qui Nhơn, từ năm 1930-1933. Chẳng hạn về thơ ngụ ngôn anh đã chép
nhiều bài theo ngụ ngôn bát cú như bài Dạ hoài của Phạm Tuấn Tài:
Đêm năm tay vắt trán,
Thân thế nghĩ mà dơ!
Đội đức dường non bể,
Đền ơn chửa tóc tơ.
Giá hèn bầu bạn rẻ,
Xu ít chị em lờ!
Tủi phận hờn duyên chán,
Châm đèn dậy viết thơ.
Anh lại cũng chép những bài hát nói thấy dăng trên các báo
như bài Kỷ niệm vua Hùng Vuông của Trần Duyệt, bài Nhà nho với nhà trò than
thân của Huyền Mặc Đạo Nhân... Anh lại công phu chua chữ Hán bằng mực đỏ dưới
những câu đối trong các bài hát nói. Anh công phu chép hàng chục bài hát nói
như vậy.
Thể thơ song thất lục bát anh cũng chép nhiều bài như Đêm buồn
tự thuật của Vũ Như Châu hay bài Trường hận ca diễn âm (nguyên văn của Bạch Cư
Dị, bài diễn âm này không biết của ai, không phải bài dịch của Tản Đà). Anh lại
còn chép nhiều từ khúc, theo các điệu từ khúc của Tàu và của ta ngày xưa, như
điệu “Nhất tiễn mai”, điệu “Trường tương tư”, điệu “Lâm Giáng tiến”, điệu “Cán
khê sa”, điệu “Khoa phong lạc”, điệu “Thái xuân hoa”, điệu “Vân thê”, điệu “Giá
cô thiên”, điệu “Nga mi dương”, điệu “Như mộng lệnh”, điệu “Xuân quang hảo”, điệu
“Đổ bộ thiềm”, điệu “Mộc lan hoa” điệu “Nguyễn lang qui”, điệu “Bắc giang mai lệnh”
điệu “Nhất chi thất”, v.v... Cái điều mà ta gọi là làm chủ vốn cổ văn học nghệ
thuật nước nhà thì Xuân Diệu đã công phu chuẩn bị cho mình từ bé, để sau này thật
sự anh làm chủ cái vốn quí của cha ông khi anh trân trọng nghiên cứu “các nhà
thơ cổ điển Việt Nam”...
Dự định ra tạp chí Tao phùng tạp chí văn học và triết học
Từ lúc tôi học ban thành chung, nhất là từ khi tôi học ban tú
tài tôi rất ham mê triết học, song song với cái say mê văn chương. Tôi đọc sách
đều cả hai loại: triết lý và văn thơ. Đến năm tôi học năm thứ ba ban tú tài tôi
Càng say sưa nghiền ngẫm triết học, và những sách tôi đọc ngoài chương trình
triết học của nhà trường là rất nhiều. Thầy giáo tôi về triết học là ông Nguyễn
Huy Bảo đã ghi trong học bạ của tôi “Cù Huy Cận có một cảm quan nhạy bén và sâu
về triết lý”. Lúc tôi thi tốt nghiệp ban tú tài, giáo sư triết học người Pháp
Hertrich (ở Hà Nội vào Huế chấm thi) cũng cho tôi điểm cao nhất cả về bài viết
và bài vấn đáp. Và giáo sư này cũng khuyên tôi nên sang Pháp học môn triết học
để lấy bằng thạc sĩ về triết học, lời khuyên ấy là gãi đúng chỗ ngứa của tôi.
Tôi cũng đã làm đơn xin học bổng để đi học theo hướng gợi ý của giáo sư
Hertrich và của thầy Nguyễn Huy Bảo. Nhưng ngày 1-9-1939 chiến tranh thế giới
thứ hai bùng nổ, không biết đơn xin học bổng của tôi có được chấp nhận không,
nhưng tôi quyết định ở lại nhà, vì cảm thấy rằng sẽ có những biến cố lớn xảy ra
với đất nước. Rồi tôi đi dạy ở trường Chính hoá (Vinh), rồi vào học Trường cao
đẳng Nông lâm ở Hà Nội, học nông lâm là cốt để có một nghề tay trái, khỏi phải
bán văn thơ nuôi thân. Và cái mộng vừa làm thơ, vừa tìm tòi nghiên cứu về triết
học vẫn đeo đuổi tôi mài. Và đầu năm 1942, lúc tôi đã tham gia hoạt động cách mạng,
tôi vẫn nghiền ngẫm trong tâm trí cái dự kiến ra tạp chí triết học kiêm văn
chương.
Tôi gặp nhà thơ Vũ Đình Liên, lúc đó vừa dạy tư, vừa làm tham
tá nhà đoan, hai anh em tâm sự và trao đổi những ý đồ văn chương với nhau, rất
tâm đắc. Tôi bàn với anh Liên sẽ cho ra tờ tạp chí lấy tên là “Tao phùng” tạp
chí văn chương kiêm triết học, mà chủ nhiệm kiêm chủ bút là tôi và quản lý trị
sự là anh Liên phụ trách.
Hiện nay tôi vẫn còn giữ cái “ma két” của tờ tạp chí ấy vẽ bằng
mực xanh trên một tờ giấy không trắng lắm và nay thì đã ố vàng. Trong tạp chí
này chưa để tên Xuân Diệu vì anh Diệu lúc đó còn làm tham tá nhà đoan ở Mỹ Tho.
Tôi có viết thư cho anh Diệu biết dự định của tôi thì anh Diệu tán thành và
nói: “Diệu sẽ góp phần văn thơ là chính, còn phần triết học thì đó là miếng đất
và cái thú riêng của Cận”, nói câu ấy với một mỉm cười kín đáo. Cái mộng tạp
chí triết học kiêm văn thơ của tôi chỉ còn là một kỷ niệm, vì ở đời có phải bất
cứ dự định nào, bất cứ mơ ước nào cũng thành được sự thật cả đâu. Vừa rồi tôi gặp
lại anh Vũ Đình Liên có nhắc câu chuyện tạp chí “Tao phùng” này, thì hai anh em
cùng cười, nhưng không phải là cái cười chua chát, cay đắng nhớ đến một sự thất
bại của đời mình, vì chúng tôi, vì tôi nghĩ rằng mộng triết học kiêm văn chương
không thể hiện bằng tờ tạp chí, nhưng vẫn thực hiện trong cuộc đời, trong sự sống
của mình trong những cảm nghĩ và suy nghĩ hàng ngày của mình.
Có thể nói vui rằng hằng ngày tôi vẫn cho ra tạp chí “Tao
phùng” trong cuộc sống và trong hoạt động văn học, nghệ thuật của tôi. Chắc các
bạn đọc có thể thông cảm điều này. Định lấy cái tên “Tao phùng” là vì nhớ đến
câu “Nghìn năm một hội tao phùng” của Vũ Lượng trong bài Văn tế trận vong tướng
sĩ nổi tiếng.
Một cô người Pháp cực kỳ mê thơ Xuân Diệu
Cô ấy là Louise Koger, bố là người Pháp, mẹ cũng là người
Pháp, chứ không phải là đầm lai. Không biết cô học tiếng Việt trong trường hợp
nào, mà nói tiếng Việt rất sõi, giọng đặc là giọng người Hà Nội. Cô học văn
khoa tại Paris, và yêu một anh trạng sư Việt kiều.
Hai người nói chuyện với nhau toàn bằng tiếng Việt và cô tỏ
tình với người yêu toàn mượn lời thơ của Xuân Diệu để nói thay lòng mình. Và
trong câu chuyện hàng ngày cô cũng vẫn dùng những câu thơ của Xuân Diệu để nói
chuyện với người yêu, ví dụ hai người đi dạo ngoài phố mà cô Louise muốn giục
người yêu của mình đi mau thì cô đọc lên câu thơ “Mau với chứ, vội vàng lên với
chứ!”. Cũng có lần hai người đi chơi ở Angiêri gặp tuần Ramađăng (là một tuần lễ
của Hồi giáo, trong tuần đó người ta nhịn ăn, các cửa hàng ăn không bán thức
ăn, mà chỉ bán nước giải khát). Thế thì hôm trước tuần Ramađăng, hai người vào
tiệm ăn A-rập, cô giục người yêu cố gắng ăn no đi vì ngày mai có thể phải nhịn
đói, nếu không tìm được nhà người quen để ăn nhờ. Cô liền đọc câu thơ: “Ăn đi anh.
Em rất sợ ngày mai” (câu thơ của Xuân Diệu là: “Mau lên em! Anh rất sợ ngày
mai” trong bài Giục giã). Cô Louise Roger lại còn thuộc thơ Xuân Diệu đến nỗi
có thể tập thơ Xuân Diệu (như người ta tập Kiều) ví dụ cô đã ghép bốn câu ở bốn
bài khác nhau của Xuân Diệu thành một bài tứ tuyệt đúng niêm luật và có nghĩa:
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều (trong bài Vì sao)
Ta cần uống ở suối thương yêu (trong bài Vô biên)
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói (trong bài Dây mùa thu tới)
Không khóc nhưng mà buồn hiu hiu (trong bài Nhị hồ)
Cô này rất thuộc văn thơ Việt Nam, đặc biệt là Thơ mới. Anh bạn
trạng sư yêu cô say đắm, trọng vì nết, say vì tình, và hai người lại có một sự
say mê chung, là mê Thơ mới và đặc biệt là mê thơ tình của Xuân Diệu. Tưởng là
hai người kết duyên với nhau suốt đời, thế mà vì một sự vụng về và cạn nghĩ của
anh chàng trạng sư mà mối tình phải chấm dứt. Cô đành phải kết hôn với một người
bạn ở châu Mỹ la tinh, và anh bạn trạng sư về sau cứ tiếc ngơ tiếc ngẩn. Gặp
tôi ông trạng sư si tình còn tự hỏi thầm: “Không biết bây giờ thì cô đọc thơ
tình của Xuân Diệu cho ai nghe?”...
Chắc chắn là không còn đọc cho ông trạng sư nghe nữa. Chính
câu chuyện này người bạn trạng sư Việt kiều đã kể cho anh Xuân Diệu và tôi nghe
tháng 11-1981 lúc anh Xuân Diệu sang Paris để diễn thuyết về văn thơ Việt Nam tại
trường đại học Sorbonne.
Bà bán hoa, cô bán thịt chó, và bà hành khách đi tàu hoả đối
với nhà thơ Xuân Diệu
Cách đây hơn 10 năm, khi còn chống Mỹ cứu nước một hôm anh
Xuân Diệu đến mua hoa ở cửa hàng hoa trên bờ hồ Hoàn Kiếm. Anh thích hoa hồng
và tỉ mỉ chọn được 5 bông hoa vừa ý, và rút ví để trả tiền thì bà bán hoa nói:
“Sao ông lấy ít hoa thế, mùa này hoa đẹp, ông lấy vài chục bông về cắm ở phòng,
vừa đẹp vừa thơm. Hoa ái tình mà”. Anh Diệu nói “Hoa thì đẹp nhưng tiền thì
không nhiều!”. Bà hàng hoa đáp: “Có bao nhiêu đâu? Xin biếu nhà thơ. Yêu là chết
ở trong lòng một ít mà?”. Thì ra bà hàng hoa rất thuộc thơ Xuân Diệu và rất quí
nhà thơ, anh Xuân Diệu cảm động và cảm ơn và nói đùa thêm: “Cho rất nhiều nhưng
chẳng nhận gì cả?” câu thơ của anh là “Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao
nhiêu”...
Năm 1983, một hôm anh Diệu ra chợ Hàng Bè tìm mua thịt chó.
Anh gặp được một chỗ bán thịt mềm và ngon, mua nửa ki lô, toàn thịt không lấy
xương... Hỏi giá bao nhiêu thì cô hàng thịt chó cho biết là 50 đồng nửa ki lô
anh Diệu hơi ngần ngừ vì cảm thấy hơi đắt.
Cô hàng thịt nói “Xin nhà thơ cứ lấy, em chỉ tính 30 đồng
thôi, và nếu nhà thơ quen hầm vó cầy, thì em xin biếu luôn bộ vó này để nhà thơ
có thêm hứng mà làm thơ”. Thì ra cô này cũng rất thuộc thơ Xuân Diệu.
Anh Diệu vừa trả tiền vừa cảm ơn “Cô biếu tôi nhiều quá”, thì
cô hàng lại nói: “Có nghĩa gì đâu một buổi chiều” (câu thơ trong bài Vì sao). Từ
đó trở đi, cần ăn thịt chó thì anh Diệu lại ra chợ Hàng Bè tìm cô bán hàng thịt
chó rất thuộc Thơ thơ...
Năm 1982, anh Diệu đi từ Tuy Hoà ra Qui Nhơn bằng xe lứa. Lúc
ở ga Tuy Hoà lên xe thì trong toa tầu tối mịt người chen chúc nhau rất lộn xộn,
anh Diệu tay xách tay mang tìm chỗ đặt một chân cũng không được chứ đừng nói là
có chỗ ngồi. Anh Diệu phải nói to lên: “Thì các bà cũng phải để cho tôi chỗ đứng
với chứ?”. Sau đó vài phút, có một anh thanh niên tìm đến chỗ anh Diệu đứng và
nói: “Má em mời nhà thơ đến ngồi đằng này với chúng em không thừa chỗ, nhưng em
xin đứng để nhà thơ ngồi”. Anh Diệu hỏi sao biết tôi mà tìm đến giúp thì anh
thanh niên nói: “Má em nghe tiếng của nhà thơ, nhận ra cái giọng đặc biệt của
nhà thơ hôm nhà thơ nói chuyện ở Tuy Hoà, cho nên bảo em đến mời nhà thơ ngồi đằng
này cho thoải mái một chút.... Đại khái cảm tình của quần chúng bình thường đối
với nhà thơ Xuân Diệu là như vậy, một thứ cảm tình tự nhiên, tưởng như mộc mạc,
mà thật là một mối cảm tình sâu sắc đầy sự cảm nghĩ của những người có cuộc sống
bên trong sâu lắng, yêu mến cái đẹp, yêu mến văn thơ. Những chuyện như chuyện
tôi vừa kể còn nhiều lắm trong đời anh Xuân Diệu, lúc khác tôi sẽ kể thêm. Anh
Xuân Diệu cũng biết cái “thế mạnh” của mình, nên trong khi giao thiệp với người
này người kia, với cơ quan này, cơ quan kia, anh cũng nói vui: “Tôi là đồng chí
Xuân Diệu, đồng chí nhà thơ Xuân Diệu đây”, tôi xưng danh chỉ có thế” rồi anh
cười xoà...
Một bà má ở Mỹ Tho muốn gả con gái cho Xuân Diệu
Lúc anh làm tham tá nhà đoan ở Mỹ Tho anh ở nhà bà Nguyễn An
Ninh ở phố bờ sông Bảo Định (tôi sẽ kể sau với những năm tháng ở nhà bà Ninh).
Nhưng thỉnh thoảng anh có đến chơi nhà một bà má khá giàu sang ở gần Sở anh làm
việc, bà má người hiền lành nhưng cách ăn nói rất mực thước vừa thân tình mà
cũng vừa lịch thiệp. Bà có một cô con gái khá xinh, đã học qua bậc tiểu học rồi
ở nhà lo việc gia đình với bà. Thỉnh thoảng hai mẹ con về quê (trong đó gọi là
về vườn) mang nhiều hoa quả của ngon vật lạ ra Mỹ Tho. Theo cách hiểu bây giờ
thì tôi nghĩ rằng đó là một bà địa chủ cỡ vừa ở cái đất phì nhiêu của đồng bằng
sông Cửu Long. Không thấy chồng bà ra Mỹ Tho bao giờ, hoặc giả bà là quả phụ,
nhưng cũng không thấy bà nói chuyện ấy.
Anh Diệu đến chơi nhà thì bà rất quí, bà cũng biết anh Diệu
là nhà thơ nổi tiếng, nhưng bà cứ gọi anh Diệu là “Ông tham biện” trước mọi người.
Nhưng khi hai người nói chuyện riêng với nhau thì bà xưng má với anh Diệu và gọi
anh Diệu là con một cách rất tự nhiên. Cứ má má, con con như thế hàng tháng giời,
anh Diệu cũng thấy êm ái và nghĩ rằng đó là tình cảm trìu mến của một bà má Nam
bộ đối với một người trí thức ở Hà Nội vào, nhất là đối với một nhà thơ. Và bà
cùng cô con gái đã làm những bữa cơm thật ngon có cá chà bông, có canh chua
theo kiểu Nam bộ, có cơm gạo nanh chồn nấu với nước dừa... để chiêu đãi anh Diệu
những chiều thứ bảy hoặc trưa chủ nhật. Chính tôi cũng đã được hưởng thụ những
bữa cơm ngon đó khi vào thăm anh Diệu những dịp nghỉ hè. Mãi mà bà má không thấy
anh Diệu ngỏ ý, bà má đâm ra nóng ruột và có một hôm giọng rất tâm tình bà hỏi
nhỏ anh Diệu: “Vậy chớ con đã có ý định làm duyên với ai chưa, đã có ba má nào
trong này nhận con làm con chưa?”. Lúc bấy giờ anh Diệu mới hiểu ra rằng bà má
muốn gá con gái cho mình mà có sự săn đón thân tình đối với anh gần trong một
năm giời. Tất nhiên là anh có những lời thối thác, và rút lui “có trật tự”. Tuy
vậy thỉnh thoảng anh vẫn đến thăm bà má này, vì bên cạnh tấm lòng người mẹ lo gả
chồng cho con gái, vẫn có tấm lòng trìu mến của một bà má Nam bộ đối với một
người trí thức ở Bắc vào...
Đem má anh Diệu tập kết ra Bắc
Tháng 10-1954, chúng tôi về Hà Nội, thì anh Diệu và tôi tìm hỏi
ngay việc tập kết cán bộ và gia đình cán bộ ở Khu 5 ra Bắc như thế nào. Anh Diệu
rất lo lắng và không biết có thể đem má mình ở Gò Bồi (Bình Định) ra Hà Nội sống
với mình được không. Tôi tìm hỏi mãi thì liên lạc được với đồng chí Minh (lúc
đó là khu uỷ viên của Khu 5, và bây giờ là uỷ viên của Mặt trận Tổ quốc) là người
đang phụ trách sắp xếp việc đưa gia đình các cán bộ tập kết ra Bắc với con
mình. Thế là may quá anh Diệu và tôi đến trình bày trường hợp cụ thể của bà má
anh Diệu (là bà Nguyễn Thị Hiệp), lúc đó đang sống ở Gò Bồi, đơn chiếc không ai
chăm nom, mà nếu phải ở lại với chính quyền nguỵ thì sẽ điêu đứng và nguy hiểm
cho bà. Đồng chí Minh hết lòng giúp đỡ, liên hệ với trong Bình Định, nhờ người
của ta trong đó đi tìm bà má và bố trí cho bà được cùng ra với một số đông cán
bộ tập kết trên một chuyến tàu Ba Lan lúc đó chở cán bộ tập kết từ Khu 5 ra Hà
Nội. Như vậy là sau bao nhiêu năm mẹ con xa cách, anh Diệu lại được đón mẹ đẻ của
mình về cùng sống với mình tại ngôi nhà 24 Điện Biên Phủ cùng gia đình của tôi.
Bà má anh Diệu đã sống một đời đau khổ, như đã kể rõ trong chương trình nói về
tuổi nhỏ anh Diệu, nên bà sinh tính hơi rụt rè, nói rất nhỏ nhẹ, đi đứng âm thầm.
Và bà rất dễ tủi lòng. Có đôi khi anh Diệu bực mình một việc nhỏ gì đó nói hơi
to tiếng (không phải là to tiếng với mẹ đâu) thì bà má cũng thấy tủi cực và lủi
thủi đi xuống bếp. Thế là anh Diệu hối hận lại phải xuống an ủi má, có khi hai
má con cùng ứa nước mắt. Bà má biết tôi là bạn thân của anh Diệu, bà cũng rất
thương tôi và đi chợ mua được quà gì cho anh Diệu ăn thì bà cũng chia phần cho
tôi từ quá chuối đến cái bánh giò, đến miếng mít... Bà má cứ ăn bận áo quần bà
ba đen, theo kiểu đồng bào Khu 5 và Nam bộ, anh Diệu muốn may áo cánh trắng hay
là áo màu nâu cho bà, bà cũng không chịu mặc. Nỗi đau khổ lớn về tình cảm của
hai mẹ con trong thời thơ bé của anh Diệu cứ đeo đẳng bên anh nên anh tìm mọi
cách để làm vui lòng má chăm lo từng miếng ăn, từng miếng trầu, từng chén nước.
Bà má đã mất trong những ngày còn chống Mỹ cứu nước... Nay Tịnh Hà đã đưa gio
bà má về thành phố Hồ Chí Minh.
Tôi suýt chết đuối ở sông Đáy
Cuối năm 1949, lúc tôi mới từ Bộ Kinh tế trở về Phủ thủ tướng
làm Thứ trưởng Tổng thư ký Hội đồng Chính phủ, một hôm đi họp về, nước sông Đáy
hơi to, tôi cưỡi con ngựa đen (anh em gọi đùa là con ngựa Xích thố), tìm một chỗ
sông cạn để lội qua, nhưng mọi chỗ đều đã sâu.
Tôi đành ôm chặt bờm ngựa, cho ngựa bơi qua sông, hai chân kẹp
chặt vào bụng ngựa, trên vai vẫn mang ba lô.
Ngựa bơi chỗ nước sâu, nước chảy hơi mạnh, con ngựa vẫn ngẩng
đầu lên bơi rất thong thả, còn tôi thì nước đã ướt cả quần và ướt cả đến bụng
vì có lúc lưng con ngựa cũng chìm xuống một chút. Trong bụng tôi hơi run, nhưng
hai tay bám chặt bờm ngựa, và cố ngồi thật yên để giữ thăng bằng, vì tôi không
biết bơi, hay nói cho đúng hơn lúc tắm sông bận quần đùi tôi chỉ bơi được mươi
thước.
Nếu bây giờ con ngựa chòng chành mà tôi rơi xuống sông thì nhất
định chết đuối. Thế rồi ngựa bơi được sang bờ bên kia, và tới bờ nó chạy nhanh
lên chỗ gò đất cao thì tôi ngã xuống cả ba lô trên lưng, vì cái dây thắng đái
đã đứt lúc nào không biết trong lúc ngựa còn bơi qua sông. Thế nghĩa là chỉ cần
một chút chòng chành của lưng ngựa khi đang bơi, là cái bành lật nghiêng và tôi
sẽ chết đuối... Thật là hú vía, may mà sông hôm ấy nước to nhưng nước chảy
không thật mạnh lắm, không có những chỗ nước xoáy. Con ngựa rất khôn, nó lên gò
đất cao thấy tôi ngã, nó dừng lại chờ chứ không chạy thẳng về nhà nơi tôi ở.
Sau một vài phút bàng hoàng, tôi lại đứng dậy mang ba lô lên người và nối lại
dây thắng đái, buộc bành vào lưng ngựa và rất cẩn thận nhẹ nhàng lên ngựa đi lững
thững về nhà cụ Muỗi, một đồng bào người Tày ở trong xã Tân Trào, nơi tôi ở gần
hai tháng trời trước khi vào ở trong Lán của ATK (an toàn khu) của Chính phủ.
Từ đó về sau, tôi vẫn đi ngựa, nhưng mỗi lần trước lúc đi đều
nhờ đồng chí bảo vệ là anh Lư kiểm tra thật kỹ dây thắng đái của ngựa... Con ngựa
Xích thố này về sau bị vết thương trên lưng, tôi cho rắc thuốc sunfamít chữa
lành nhưng rồi lại bị xước và ung nhọt trở lại... Tôi nghỉ không đi ngựa hàng
tháng, thế rồi con ngựa chết, nó chết ban đêm, đến trước cửa phòng tôi ngủ mà
chết. Thật đúng là khuyển mã chi tình.
Đồng chí Trường Chinh dặn tôi đừng tịt thơ
Một chiều cuối năm 1947, trời đã trở rét, tôi đang đứng chờ
trên bờ sông Đáy để chờ bè chở sang sông đi họp Hội đồng Chính phủ thì gặp đồng
chí Trường Chinh vừa đi đến. Trong lúc chờ bè đồng chí Trường Chinh hỏi chuyện
tôi công việc trong Chính phủ, về việc vận động tăng gia sản xuất (vì lúc đó tôi
phụ trách Bộ Canh nông). Rồi đồng chí với một giọng thân tình hỏi tôi: “Thế nhà
thơ Huy Cận có còn làm thơ nữa không, hay là bận việc Chính phủ thì tịt mất
thơ?”. Tôi trả lời là “vẫn tiếp tục làm một số bài nhưng thấy làm thơ khó hơn
trước”. Đồng chí Trường Chinh vui vẻ nói với tôi: “Làm thơ đương nhiên là khó,
huống chi hồn thơ bây giờ cũng có khác trước khác lúc anh làm tập Lửa thiêng.
Nhưng bây giờ làm cách mạng rồi, có hào khí mới thì làm thơ càng hứng thú chứ
sao. Nhất định nhà thơ Huy Cận phải tiếp tục làm thơ, và làm thơ nhiều, dồi dào
hơn trước nữa. Nếu Huy Cận mà tịt thơ thì là có tội với Đảng với cách mạng, vì
người đời sẽ bảo rằng vì theo cách mạng, vì đi làm cách mạng mà nhà thơ cạn mất
nguồn thơ. Cho nên làm công tác gì thì đồng thời Huy Cận phải làm thơ....
Dặn tôi rồi anh bắt tay đi, với một nụ cười rất thân tình.
Tôi cứ nhớ mãi câu chuyện dặn tôi làm thơ bên bờ sông Đáy buổi chiều mùa đông
năm ấy. Sau này tôi tiếp tục làm thơ nhiều, dồi dào như đồng chí Trường Chinh
nói, với tất cả cái hào hứng của một người nghệ sĩ ở trong phong trào cách mạng,
sống trong cái luồng hào khí của nhân dân, của dân tộc sôi nổi làm cách mạng.
Và mỗi lần tập thơ mới của tôi ra đời thì tôi lại gửi tặng đồng chí Trường
Chinh, với dòng chữ báo cáo với anh là tôi không tịt thơ, vẫn sáng tác đều như
anh dặn. Hôm nay, viết đoạn hồi ký này, tôi đã có 18 tập thơ xuất bản, và có
tuyển tập thơ sắp phát hành, ngoài ra còn hơn 400 bài thơ đã hoàn thành mà chưa
đăng báo, chưa in sách. Tôi kể lể như vậy, để nói lên lòng cảm ơn một đồng chí
lãnh đạo đã có tấm lòng tri kỷ đối với một người làm thơ như tôi. Lúc anh Trường
Chinh cho xuất bản cuốn sách Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt nam trong thời kháng
chiến chống Pháp, anh cũng có tặng tôi một bản với một lời đề tặng rất khích lệ...
Xuân Diệu đấu tranh chống cảnh sát Tây ở phố Hàng Bông
Tôi nhớ lúc bấy giờ là mùa hè 1943, anh Diệu bị gãy tay (vì bị
ngã xe đạp) tay đang bó bột treo lên bằng một sợi gạc buộc vào cổ. Anh đi dạo về
nhà đến đầu phố Hàng Bông thì gặp một cuộc cãi cọ giữa mấy người đi đường với
tên cảnh sát Tây đi qua đó. Anh Diệu hỏi sơ qua câu chuyện thì hiểu rõ thằng cảnh
sát Tây có lỗi nhưng nó ỷ thế ỷ quyền quát mắng những người mà nó đã đâm xe đạp
vào. Mấy người này có sự ủng hộ của bà con đi đường vây quanh thằng cảnh sát
nhưng không ai nói tiếng Pháp thạo, nên thằng cảnh sát cũng có vẻ có thế áp đảo.
Anh Diệu mặc dầu tay đau, xông tới mắng thằng cảnh sát bằng
những lời lẽ khá mạnh, và bằng một lời văn tiếng Pháp rất đanh. Thằng cảnh sát
ngạc nhiên một phút, nhưng rồi cũng làm oai với cả anh Diệu, và nó có nói: “Nếu
anh không im thì tôi sẽ mời anh về bót”. Anh Diệu nổi nóng lên, càng nói hăng
lên, và đám người dừng lại giữa phố càng ủng hộ sự phê phán của anh Diệu. Cũng
lúc ấy thì tôi đi xe đạp ở vườn Bách Thảo về đến chỗ đang có cuộc đấu tranh.
Tôi cũng nói bồi thêm những lời phê phán cần thiết...
Thằng cảnh sát Tây thấy núng thế, lên xe đạp chuồn thẳng về
phía Bờ Hồ... Và còn nói lời hăm doạ “chúng bay đều là bọn chống Pháp, sẽ biết
tay các ông”.
Nhân đây cũng nhắc chuyện anh Diệu đã chống thằng hiệu trưởng
trường Khải Định là Lafferandne, hồi anh học năm thứ ba Ban tú tài (1936-1937).
Thằng hiệu trường này là một lão cáo già thuộc địa, rất hách dịch, rất khinh
thường học sinh Việt Nam. Anh Diệu bèn viết thư kiện thằng hiệu trưởng này với
Sở học chính toàn Đông Dương ở Hà Nội. Giám đốc học chính Đông Dương lại trả
đơn kiện về cho hiệu trưởng trường Khải Định. Thế là lão Lafferandrie lùng sục
xem chữ viết của học sinh nào dám kiện nó. Anh em trong lớp đều biết anh Diệu
viết đơn kiện, nhưng đều một lòng bảo vệ anh. Có lần lão hiệu trường nhìn anh
và nói “Anh coi chừng”. Thì anh Diệu thản nhiên trả lời: “Ông bảo tôi coi chừng
cái gì? Tôi là học sinh, có việc gì đã có hội đồng giáo sư của trường xem
xét....
Tên hiệu trưởng thấy anh cứng cựa, nó đành làm lơ bỏ đi...
Xuân Diệu viết bài cho Tạp chí Độc lập của Đảng Dân chủ trong
thời kháng chiến chống Pháp
Lúc bấy giờ anh Nguyễn Thành Lê làm chủ bút tạp chí này, cứ mỗi
tháng ra một số, in bằng giấy dó, giấy dó thì không phẳng lắm, có tờ lợn gợn từng
hạt như hạt thóc, mà mực in thì lại nhạt, cho nên báo đọc không được rõ lắm.
Tuy vậy Ban biên tập (mà linh hồn là anh Nguyễn Thành Lê), vẫn tập hợp đủ bài để
ra báo đều đặn. Cộng tác viên về mặt bình luận văn học chính là anh Xuân Diệu,
nhưng dưới những bài bình luận này lại ký tên Trảo Nha (Trảo Nha là tên xã quê
hương của anh Diệu ở huyện Can Lộc, Hà Tĩnh). Nhưng Trảo Nha ký dưới các bài
này cũng có nghĩa, vì Trảo Nha có nghĩa là răng và vuốt như là nanh vuốt, vì
đây là những bài phê bình, có khi là bút chiến gay gắt. Tôi đặc biệt nhớ bài của
Trảo Nha bình luận về quyển sách Nguyễn Du và quyền sống của con người trong
Truyện Kiều của Hoài Thanh. Tất nhiên là anh Diệu cũng có lời hoan nghênh anh
Hoài Thanh về công phu nghiên cứu Truyện Kiều và nêu lên vấn để chu nghĩa nhân
đạo của Nguyễn Du trong kiệt tác của mình. Nhưng Trảo Nha đã đặc biệt phê phán
mạnh mẽ thái độ của Hoài Thanh đối với Nguyễn Du khi nói: “Nếu Nguyễn Du sống đến
ngày nay, và sống giữa chúng ta thì chúng ta cũng sẽ mời cụ vào Hội Liên Việt,
dành cho cụ một chỗ ngồi trong Hội Liên Việt”. Câu nói ấy của Hoài Thanh rất
sai về cả hai phương diện: một là sai về thái độ xem thường nhà thi hào Nguyễn
Du, hai là sai về thái độ xem thường và có tính cách mỉa mai đối với Mặt trận
Dân tộc thống nhất (lúc đó là Hội Liên Việt) Tất nhiên anh Hoài Thanh xem được
bài của Trảo Nha cũng hơi bực mình, nhưng ngẫm lại thấy Xuân Diệu phản ứng có
lý, có lẽ, nên việc bực bội ấy không thành chuyện. Vả lại cả hai người thật sự
đều rất bái phục tài thơ của Nguyễn Du, và đểu trân trọng đến mực tấm lòng ưu
ái của Nguyễn Du đối với số phận con người. Nhưng Trảo Nha không chỉ phê bình,
mà trong nhiều bài còn giới thiệu và biểu dương thơ của bộ đội, của lớp nhà thơ
trẻ...
Những năm tháng Xuân Diệu ở nhà bà Nguyễn An Ninh
Những năm anh Diệu làm tham tá nhà đoan ở Mỹ Tho, anh ở trọ
nhà bà Nguyễn An Ninh (mà chúng tôi gọi thân mật là bác Ninh), ở phố dọc bờ
sông Bảo Định. Bác Ninh là vợ nhà cách mạng Nguyễn An Ninh lúc đó đang bị đầy
ra Côn Đảo. Bác Ninh một mặt lo chạy chữa cho chồng khỏi bị đối xử nghiệt ngã
quá tại nhà lao Côn Đảo, một mặt lo nuôi cho con ăn học: con gái lớn là Bình
(nay là một kỹ sư công tác rất giỏi) con trai là Nguyễn An Định (sau này là cán
bộ thiết kế mỹ thuật ngành sân khấu, tập kết ra Bắc, nay đã về Nam). Con trai
út là Vĩnh, mà bác Ninh cứ thường gọi là “Vĩnh cục vàng của má”. Anh Diệu ở đó
cũng có bày vẽ chút ít cho các em Bình, em Định học hành.
Lúc tôi vào thăm anh Diệu nghỉ hè thì tôi cũng có dạy cho các
em, mỗi tuần vài buổi. Bác Ninh cũng có buôn bán chút ít và làm lạp xường rất
ngon để bán lên Sài Gòn. Anh Diệu và tôi ở trên gác, và trên gác này lạp xường
cứ treo lủng lẳng khắp bốn phía tường vừa thơm, vừa ngậy... Khi đầu chúng tôi
không quen mùi lạp xường hơi khó ngủ, nhưng rồi cũng quen dần và mỗi lúc về nhà
ngửi thấy mùi lạp xường lại thấy dễ chịu. Bác Ninh rất thương hai chúng tôi, và
thấy hai chúng tôi thân nhau trong một tình bạn hiếm có như vậy thì bác càng
quý. Có hôm bác nói vui “Tao nằm dưới nhà mà cứ nghe hai anh em nói chuyện với
nhau “Diệu Diệu, Cận Cận” thì càng thương tụi bay.”
Có lần tôi đã đi theo bác Ninh về Sài Gòn để gặp trạng sư Trịnh
Đình Thảo, để nhờ trạng sư chạy chữa cho nhà cách mạng Nguyễn An Ninh được đối
xử tử tế hơn một chút ở nhà tù Côn Đảo. Nhà bác Nguyễn An Ninh có một tủ sách
tiếng Pháp vô cùng phong phú mà nhà cách mạng Nguyễn An Ninh đã mua góp trong
hàng chục năm trời. Chính ở đó tôi đã được đọc những bộ sách quý giá về triết học,
về thơ (như thơ Tao, thơ Heine, thơ Omar-Khayam, thơ Gớt-tơ, thơ Sin-le...).
Bác Ninh nay đã mất, bác để lại trong lòng chúng tôi hình ảnh
của một bà má miền Nam trìu mến, hình anh của một người vợ gương mẫu, đảm đang
nuôi con trong lúc chồng bị cầm tù vì hoạt động cách mạng.
Sau đây là bài Giọt lệ Hoàng Mai, tôi đã viết sau chuyến về
thăm quê vào mùa hè năm 1941.
Giọt lệ Hoàng Mai
Mẹ Quê hương! Con đã khóc thầm với mẹ! Con đã
khóc những giọt lệ nóng nhất của lòng con. Nhìn Mẹ
mà không thương sao được? Mặt non sông yêu mến, ở người toả
ra một nỗi niềm chi mà lòng ta thổn thức, bồi hồi. Ta nhìn giang sơn, non nước
thì lòng ta tan thành nước mắt. Ôôi quê hương bởi vì đâu là lòng ta thương yêu
lại hoá ra xa xót, ngậm ngùi? Anh em ơi, đã nhìn mặt Mẹ bao giờ chưa?
Một ngày giữa hè ta từ Hà Nội về thăm nhà. Chiếc tàu chợ chậm
rãi, cần cù lê thê dọc ngày, mãi xế chiều mới về đến xứ Nghệ. Nắng không oi lắm,
nhưng ngọn gió Lào – như tiếng rú của mấy con thú đau thương - cứ phần phật tạt
qua từng loạt. Ánh nắng chân trời thì trong, nhưng sát mặt đất hơi mờ mờ vì bụi
dấy lên từng lúc. Trời đất như cặm cụi làm việc gì khó khăn, phải bền gan, vững
chí mới làm được. Núi gần bên cây cổi cỗi cằn, cỏ vàng úa, ngọn cháy sém bời
gió thiêu; núi đứng từng đoàn, kết hợp mà ngó như cô đơn, bời ngôi nào cũng như
quả quyết đứng lại ở đây trấn thủ cho một ý mạnh gì. Này dưới chân núi, ruộng cạn,
đất nứt nẻ khắp nơi; đám lúa trỉa không ngất đầu lên được dưới ngọn gió thép,
và dưới trời cháy lặng. Ngọn lúa sém nức lên những tiếng khô, não ruột như hơi
thờ của một kẻ cùng lực. Này đôi bụi mưng, bụi mốc giữa đồng những điểm xanh rải
rác càng tăng thêm cái nặng nề, cái không khí khó nhọc của đồng ruộng nồng
khan. Chim ở đâu? Hoa sao không thấy nở? Mà người cũng ẩn đâu? Từng hồi mới gặp
được cái áo nâu, chiếc nón thượng: người cũng như cầm sức lại, để dành cho những
lúc khó khăn hơn nữa, phải nỗ lực để giành với cái chết một phần sự sống.
Tàu chậm rãi, cần cù đi qua. Lòng ta lúc ấy không phân tích
như ta vừa kể. Lòng ta cảm thông thắm thiết trong giây phút với cõi đất này.
Phân tích ra thì làm tan mất cái ẩn ý của non nước mà ta cứ cảm nghe hiển hiện
khắp chốn, khắp nơi.
Có phải không, ở trên đông lúa sém, trong dáng núi kiên gan,
cả trong ngọn gió Lào hồng hộc, ta nghe một linh hồn rắn rỏi vô cùng. Tưởng như
ở đây là lò hun đúc những bản lĩnh gang thép, bản lĩnh của cảnh vật nghĩa là bản
lĩnh của người. Sự sống đi đến đây dừng lại một chút, cô đặc hơn lên, để rồi
còn đi xa, trên con đường vạn dặm. Dòng nòi giống đến đây không còn long lanh,
óng ả như dòng sông mượt mà, mà đã trở nên một dòng thép chảy, nồng và nặng, ấn
sâu xuống đời. Gió Lào không phải là hơi thờ phơi phới của tuổi thơ. Không! Đây
tuổi đã đứng, đường đã đến một ngõ quyết định, nòi giống đến đây thờ hơi thở quả
quyết, nhọc nhằn nhưng không hề chán nản; trong hơi thở ấy, tưởng toát ra cả
hơi nóng của ruột gan, không thở luôn luôn, mà thở từng hồi để cầm sức. Nhưng
cũng có cái vui của khí phách hào hùng, cái vui không tỏ ra nụ cười, mà ở trong
dáng đi tin tưởng, cái vui hiện ra nơi mắt nhìn tròng trọc mà trong suốt thay!
Đến đây là một chặng đường tối quan yếu của dân tộc; trước
lúc đi xa hơn, giống nòi như kiểm soát lại sức mình.
Ngọn lúa hơi cằn bỗng trở nên oai hùng một cách lạ đồng ruộng
nứt nẻ phải chăng là nét nghị lực trên mặt giang sơn.
Con tàu chậm rãi đi qua. Sắp đến Hoàng Mai, ga lớn đầu tiên của
xứ Nghệ, Thanh Hoá phì nhiêu, mát dịu là thế, mà mới một quãng vào đây, sông
núi đã trở nên trầm hùng và gân guốc.
Tàu chạy cách núi chừng nửa cây số, hai bên đường sắt là ruộng
lúa và một ít rau. Ta bỗng thấy như lòng Mẹ mở ra, bòn tất cả sức sinh sống còn
lại đem nuôi con. Mẹ gắng đến cái sức cuối cùng để sinh ra lúa, ra ngô ra
khoai, ra đậu mà nuôi đàn con đông đảo và lực lưỡng này. Đường sắt chạy qua,
tàu dằn trên đất, ta đau xót như thấy Mẹ ta đang nằm đó, đưa tay qua lòng mà
phân phát cho anh em ta máu sống. Tàu chạy cần cù, chậm rãi bao nhiêu, ta nghe
đất lại dội lên đau xót bấy nhiêu. Và ta không cầm lòng ta được nữa, ta gục đầu
vào thành cửa tàu, khóc nức nở, nước mắt tràn nóng trên tay như máu uất tan ra:
Ta khóc mãi cho đến quá xế chiều, gần về chợ Thượng.
Giọt lệ Hoàng Mai! Giọt lệ non sông chảy qua lòng ta đó. Đã
hơn năm rồi, từ buổi chiều hè ấy. Hôm nay kể lại, lòng ta vẫn bồi hồi xa xót
như lúc ấy, như bao giờ. Ta muốn nói chuyện với anh em ta, nói đến cái nỗi niềm
của sông núi. Nỗi niềm ấy phải là nỗi niềm chung của chúng ta. Trong lòng
thương yêu bao giờ cũng ẩn một bài học quyết liệt; nếu không, yêu thương hoá ra
chỉ là lời điệu văn hoa nói cho qua chuyện.
Khí phách hào hùng của dân tộc: nghĩa rộng bao la. Giành lại
quyền sống! Giành lại quyền tư tưởng của giống nòi! Cha ông đã bấu vào sự sống
trên mảnh đất này, đã vật lộn với thiên tai và nhân hoạ dai dẳng mấy nghìn năm.
Cha ông đã thắng cuộc, cha ông đã sống, và cha ông đã có một
điệu sông riêng. Điệu sống ấy bảo đảm cho quyền sống ấy. Cái gang thép không chỉ
phải thực hiện trong đời, mà còn phải rạng ngời trong tư tưởng. Hôm nay ghi lại
vài ý tâm sự với anh em, qua ánh sáng một giọt nước mắt. Chớ ngại rằng bắt đầu
bằng giọt lệ. Những cuộc lên đường xưa nay đều đã bắt đầu sau một cơn nước mắt.
Huy Cận
Hà Nội 1942
Cuối năm 1941 tôi tham gia hoạt động cách mạng trong Việt
Minh, hoạt động ở Hà Nội trong thanh niên, sinh viên, và trong giới trí thức
khoa học.
Tập 2- S
Từ Đại hội Tân Trào đến sự sụp đổ của triều đình Huế
Trước Cách mạng tháng Tám, tôi hoạt động ở Hà Nội trong Việt
Minh và trong đảng Dân chủ được giao nhiệm vụ cùng một số đồng chí khác, vận động
sinh viên và trí thức tham gia phong trào đánh Nhật, đuổi Pháp. Mùa hè năm
1945, phong trào cứu quốc ở Hà Nội rất sôi nổi. Sau khi ra đời chính phủ bù
nhìn Trần Trọng Kim thân Nhật, thì uy thế của Việt Minh càng lên mạnh, có thể
nói rằng trong tất cả các giới đồng bào thủ đô rạo rực một tinh thần cứu nước,
tin tưởng chờ đợi những hành động quyết liệt và quyết định của Việt Minh. Các tổ
công tác của chúng tôi cũng trong đà ấy hăng say hoạt động mở rộng lưới tuyên
truyền, tổ chức ngày càng nhiều trí thức và thanh niên vào Việt Minh, mặc dù bọn
hiến binh Nhật và bọn Việt gian tay sai của chúng (như nhóm bọn “Võ sĩ đạo”, hay
một nhóm sinh viên Dại Việt trong Tổng hội sinh viên) hàng ngày lùng sục có khi
bám riết những hoạt động của chúng tôi.
Những tháng ấy, tôi cũng như một số đồng chí khác thường
không ngủ ở nhà, mà có khi lên ngủ ở Nhật Tân, ở Chèm Vẽ hoặc một khu phố khác
nơi mình ở (lúc đó nhà tôi ở phố Hàng Bông). Trong không khí hoạt động sôi nổi
và náo nức ấy, thì cuối tháng 7-1945, tôi được Tổng bộ Việt Minh triệu tập đi họp
Quốc dân Đại hội tại Tân Trào (châu Tự Do, tỉnh Tuyên Quang). Tôi cùng một số đồng
chí khác rời Hà Nội vào một buổi chiều cuối tháng 7 oi bức, bận áo quần nâu, với
nét mặt và dạng người thì rất giống một đồng bào nông dân vùng Nghệ Tĩnh, cho
nên anh em bảo tôi là nguỵ trang rất đạt. Chúng tôi thuê xích lô đạp qua cầu
sông Cái. Đến giữa cầu, xe căm nhông của quân đội Nhật còi inh ỏi, bác xích lô
không thể đạp nhanh hơn được, bọn lính Nhật xuống xe sừng sộ, đá túi bụi vào
bác làm chúng tôi vừa tức giận, vừa chờn (vì sợ lộ bí mật, cái giấy giới thiệu
cuốn tròn như điếu thuốc lá giắt trong nón, thì chúng tôi sẵn sàng búng cho nó
bay xuống sông Hồng, hoặc cho cả nón bay xuống sông, nếu như bọn Nhật lục
soát). Nhưng đến chỗ rẽ, xích lô của chúng tôi dạt vào một bên, và bọn Nhật
phóng xe đi thẳng. Sang đến Từ Sơn, chúng tôi chờ mãi người liên lạc ở chỗ hẹn
nhưng không gặp. Trời gần tối, chúng tôi đành quay về Hà Nội, rất hồi hộp và
lên xe điện đi thẳng vào Hà Đông, tất nhiên là không thể về nhà. Vào Hà Đông
chúng tôi đi thẳng về làng Vạn Phúc và được đồng chí liên lạc đưa về nhà anh
Trong (sau này anh Trong đã hy sinh ở Nam bộ trong chuyến Nam tiến đầu tiên). Ở
Vạn Phúc thì rất yên tâm, vì đó là một cơ sở mạnh của cách mạng, của Đảng.
Đêm hôm ấy, chúng tôi đang ngủ thì nghe mấy tiếng súng nổ,
các đồng chí trong nhà cho biết đó là tiếng súng trừ gian, và đội tự vệ của ta
đã khử được hai tên Việt gian định mò vào làng do thám. Sáng hôm sau chúng tôi
đi xe kéo lên bến Chèm, rồi từ đó đi đò dọc về phía Bắc Ninh. Lên đi bộ về phía
Từ Sơn lần này đồng chí liên lạc đã chờ sẵn chúng tôi ở chỗ hẹn. Từ đó chúng
tôi đi về phía sông Cầu, qua một vườn dâu xanh mượt, lá cành che kín, rồi xuống
bãi sông đáp đò ngang sang bờ bên kia. Qua bờ cũng lại đi qua một bãi dâu xanh
kín rồi mới lên đường. Bước lên đường thì không khí khác hẳn: những nam nữ tự vệ
bận áo quấn đen, lưng đeo mã tấu, đi lại khẩn trương và dẫn chúng tôi đến gốc một
cây đa to. Ở đó đã thấy người người ngồi nghỉ chân, chắc là chờ đợi liên lạc. Một
nồi cơm to (chừng là nồi mười) đã chín và bên cạnh là một thùng canh bí rất to.
Chúng tôi xúm xít ăn cơm ngay tại gốc cây đa, chỉ có cơm và canh bí với muối ớt
mà ai nấy ăn rất ngon miệng.
Tôi vừa ăn vừa nhìn ra chung quanh, thấy những khẩu hiệu bằng
phấn trắng trên các bảng gỗ ở các cổng đi vào từng nhà: “Việt nam độc lập”,
“Chính quyền nhân dân muôn năm”... Thì ra đây đã là khu giải phóng. Tôi mường
tượng ngày xưa cha ông khởi nghĩa ở Lam Sơn, hay ở Bình Khê có lẽ không khí
cũng như thế này. Đó là lối liên tưởng lịch sử hơi văn chương một chút của một
cán bộ trí thức hoạt động ở Hà Nội lần đầu tiên tiếp xúc với quần chúng cách mạng
ở khu giải phóng. Cùng đi đường với nhóm chúng tôi có anh Trần Huy Liệu (lúc đó
bí danh là anh Bút). Chân anh hơi yếu, tôi phải dìu anh đi cho đến tận Tân
Trào. Tôi có nghe nói nhiều đến anh và anh cũng đã đọc thơ tôi, cho nên dọc đường
hai anh em làm quen nhau rất mau, và nói chuyện nhiều về thời cuộc đã đành, về
lịch sử, về văn chương nữa, làm quên nỗi mệt đi đường. Chúng tôi đến Văn Lãng
thì được tin Nhật đầu hàng, và ai nấy đều cố gắng đi nhanh chân để chóng đến
Tân Trào. Xế chiều 14-8 thì đoàn chúng tôi đến xã Tân Trào, tinh thần rất phấn
chấn, nghe các câu chuyện ở khu giải phóng càng náo nức. Cờ đỏ sao vàng thêu rất
đẹp không to lắm, được treo trên một cột tre cao, và vài ngọn khác được treo
lên cây đa. Thấy trụ sở Việt Minh của xã (một cái lán nhỏ), chúng tôi cũng trám
trồ.
Ngày 16-8-1945, Quốc dân Đại hội do Tổng bộ Việt Minh triệu tập
họp ở đình làng Tân Trào. Ở ngoài nhìn vào, phía bên trái là một cuộc triển lãm
nhỏ, có những ảnh, những báo treo trên cây, đó là các báo cách mạng như Việt
Nam độc lập, như Cờ giải phóng, và một số ảnh của khu giải phóng. Phía bên phải
ở trên sàn đình kê những ghế dài bằng cây tre là nơi Quốc dân Đại hội hội họp.
Có gần một trăm đại biểu cả ba miền Bắc, Trung, Nam về dự.
Anh Khuất Duy Tiến và tôi được cử là thư ký đoàn của đại hội.
Mở đầu đại hội, đồng chí Trường Chinh Tổng bí thư của Đảng, đã thay mặt Đảng đề
ra chủ trương: Nhân dân Việt Nam phải triệt để lợi dụng sự thất bại của phát
xít Nhật mà nổi dậy giành lấy chính quyền từ tay Nhật và bọn bù nhìn tay sai của
Nhật trước khi quân đội Đồng minh vào Đông Dương và phải đứng địa vị chủ nhân của
nước nhà tiếp quân Đồng minh nếu họ vào tước vũ khí quân đội Nhật. Đại hội nhất
trí hoan nghênh chủ trương của Đảng đề ra và quyết định phát động tổng khởi
nghĩa trong cả nước. Sau đó Quốc dân Đại hội đã bầu ra Uỷ ban dân tộc giải
phóng cả nước gồm 15 người đứng đầu là Cụ Hồ Chí Minh. Tôi được bầu vào Uỷ ban
dân tộc giải phóng. Lần đầu tiên tôi được gặp Bác Hồ là ở Đại hội Tân Trào này.
Buổi chiều, lúc đại hội sắp khai mạc, tôi và một số đồng chí ra trước cửa đình
Tân Trào. Chúng tôi đang nói chuyện với nhau thì thấy một ông cụ mặc bộ quần áo
cũ màu chàm, đội mũ cát két, ngồi xuống nền đình, dựa vào cột đình, sát phía
sau đại biểu sắp họp. Ông cụ thấy chúng tôi đang nói chuyện với nhau, giơ tay
ngoắt tôi lại và hỏi: “Đồng chí hoạt động ở tỉnh nào về?”. Tôi được anh em đại
biểu khác cho biết đó là Cụ Hồ Chí Minh và cũng đã được anh em nói thầm lại cho
nghe rằng: Cụ Hồ Chí Minh tức là Cụ Nguyễn Ái Quốc. Thấy Cụ gọi lại và đột ngột
hỏi tôi như vậy trong người tôi có một nỗi bàng hoàng... nửa phấn khởi, nửa lại
run run, vì tôi mới bước vào hoạt động cách mạng chưa được bao năm, cho nên
trong phút đầu tiên tiếp xúc với lãnh tụ không khỏi bối rối. Tôi đáp lời một
cách ngập ngừng: “Thưa Cụ con mới hoạt động ba bốn năm tại Hà Nội trong đám anh
em sinh viên, trí thức, nhất là trí thức khoa học. Con cũng theo đòi Cụ và các
anh đi trước góp phần nhiệt huyết của mình vào phong trào....
Ông Cụ liền mỉm cười và giơ tay bảo tôi ngồi xuống thong thả
nói qua giọng hơi mệt vì sốt rét vừa qua: “Chú còn thanh niên, chú hoạt động
trong anh em sinh viên, trí thức là rất tốt. Còn làm cách mạng thì không phân
biệt người trước người sau, người hoạt động lâu năm với người mới vào phong
trào, cốt nhất là có nhiệt huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Người mới
vào phong trào mà làm việc hăng hái thì cũng có thể đóng góp cho sự nghiệp
chung. Chú cứ yên tâm mà hoạt động với các đồng chí”. Rồi Cụ lại nói chuyện
khác với các đồng chí khác. Lúc Quốc dân Đại hội Tân Trào bế mạc thì Bác cùng
toàn thể Uỷ ban dân tộc giải phóng toàn quốc vừa được bầu ra đọc lời tuyên thệ.
Anh Trần Huy Liệu đọc mấy lời thề trước bàn thờ Tổ quốc có đốt hương nghi ngút
đặt trước đình Tân Trào. Bác và chúng tôi trong Uỷ ban dân tộc giải phóng đều
giơ tay xin thề. Ba đồng chí đội viên của Giải phóng quân đứng trên phiến đá to
trước sân đình bắn ba loạt đạn ầm vang cả các vách núi chung quanh.
Không khí rất trang nghiêm và thiêng liêng. Liền sau đó có một
đoàn đại biểu nhân dân xã Tân Trào ra mừng Uỷ ban dân tộc giải phóng. Một cụ
già áo quần không được lành lặn lắm, áo hở đôi tay, một chị phụ nữ áo chàm gọn
ghẽ và một em bé mặc một chiếc áo rách và bụng để trần hơi ỏng. Em bé đứng khom
lưng, hai tay em vòng ấp ngực, vai em hơi sưng: ông cụ xách một bu gà, chị phụ
nữ xách cái giỏ có con lợn con và một nải chuối xanh. Chị phụ nữ nói: “Nhân dân
Tân Trào không có gì, xã nghèo chỉ có mấy con gà, nải chuối và con lợn giống mừng
Uỷ ban dân tộc giải phóng mới được bầu, xin chúc Uỷ ban lãnh đạo nhân dân. giải
phóng cả nước”. Cụ Hồ Chí Minh liền bảo: “Uỷ ban ban xin cử đồng chí Trần Huy
Liệu, Phó Chủ tịch Uỷ ban, cảm ơn đoàn đại biểu”. Anh Trần Huy Liệu bước ra nói
mấy lời cảm ơn, nhưng lại quên không cảm ơn cụ thể chị phụ nữ và gửi lời cảm ơn
các phụ nữ trong xã. Cụ lại nhắc: “Đồng chí Phó Chủ tịch phải cảm ơn các phụ nữ
Tân Trào và phụ nữ cả khu giải phóng, vì chị em góp công rất lớn vào công việc
chung, vào phong trào cứu quốc”. Anh Liệu lại ra nói mấy lời bổ sung và hứa với
nhân dân Tân Trào sẽ làm tròn nhiệm vụ mà quốc dân Đại hội giao cho và nhân dân
nhắc nhở.
Sau đó, Bác Hồ lại ngồi xuống dựa vào cột đình và nói: “Chúng
ta trong Uỷ ban dân tộc giải phóng và tất cả các đồng chí cách mạng hãy nhớ lấy
lời thề, và hãy nhìn xem em bé này: Các cháu cùng tuổi với em bé này ở các nước
khác thì đã đi học và được đùa chơi; tuổi học và chơi của các cháu ấy lại được
ăn no mặc lành. Nhưng các đồng chí có biết cháu này 9 tuổi ở trong làng làm gì
không? Nó đã phải đi trâu, đi chặt củi, cõng nước, mà áo không có mặc, để hở bụng
xanh xao. Chúng ta làm cách mạng để làm gì? Là để giải phóng dân tộc, là để cho
nhân dân ta ấm no hạnh phúc, để cho các cháu bé, con em chúng ta như cháu này đều
được ăn no mặc ấm, và được đi học. Nhiệm vụ của Uỷ ban dân tộc giải phóng là
như vậy. Chúng ta hứa với cụ già, đồng chí phụ nữ và cháu bé là phấn đấu hy
sinh để đạt được mục đích như vậy....
Mấy câu cuối, Bác nói với một giọng rất xúc động ngắt ra từng
tiếng. Giọng nói của Bác đi thẳng vào gan ruột người nghe. Chúng tôi đứng chung
quanh nhiều người rơm rớm nước mắt.
Cũng chiều hôm ấy dưới bóng cây đa Tân Trào đã có cuộc tiễn một
đơn vị Giải phóng quân lên đường tiến về Thái Nguyên, do đồng chí Văn chỉ huy.
Anh Liệu lại thay mặt Uỷ ban dân tộc giải phóng chào mừng đơn vị Giải phóng
quân và chúc đơn vị đánh thắng quân Nhật ở Thái Nguyên. Có một đại biểu Mỹ
(thay mặt quân đồng minh, mới nhảy dù xuống khu giải phóng mấy hôm trước) cũng
có mặt trong buổi tiễn đưa này và nói: “Đối với chúng tôi chiến tranh đã kết
thúc. Đối với các ngài, chiến tranh mới bắt đầu. Chúc các ngài thành công”.
Chúng tôi còn ở lại Tân Trào một đêm một ngày nữa. Tôi nhớ
đêm hôm Đại hội bế mạc, Hồ Chủ tịch đến thăm anh Trần Huy Liệu, anh Trần Đức Thịnh
và các đại biểu ở cùng nhà. Tôi ở cùng nhà với anh Liệu cho nên được nghe những
lời Bác dặn. Anh Liệu và anh Thịnh là hai đồng chí hoạt động đã lâu năm mà tính
tình lại sôi nổi. Hai anh nghĩ rằng: Về Hà Nội mà lại gặp bọn thực dân Pháp nhảy
dù xuống hay đổ bộ vào là phải đánh ngay. Tôi còn nhớ anh Liệu nói: “Mấy thằng
Tây quèn quỳ gối đầu hàng Nhật, chúng ló mặt ra là phải quét ngay”. Anh Thịnh
cũng gật gù tán thành.
Tôi nghe Bác giải thích, giọng chậm rãi, tiếng hơi khàn vì
còn mệt: “Chú nói mấy thằng Tây quèn nhưng cả đế quốc Pháp thì nó chưa quèn
đâu. Nhất định là nó lăm le cướp lại nước ta. Và nhất định là ta sẽ đánh lại.
Nhưng phải đánh như thế nào cho thắng, phải tích luỹ lực lượng, không đánh theo
kiểu một trận anh hùng rồi ra sao thì ra”. Sau đó tôi nhớ Bác giải thích thêm:
“Về, ta phải lợi dụng việc đồng minh vào giải giáp quân Nhật làm cho đồng minh
thấy ý chí độc lập của dân ta và ta phải tổ chức lực lượng”. Tôi nhớ anh Liệu
cũng ngẫm nghĩ nghe ra dần lời bàn luận của Bác. Bác lại còn đưa cho chúng tôi
xem lời kêu gọi của Bác ký tên là Nguyễn Ái Quốc gửi quốc dân đồng bào, và nói:
“Các chú có ý kiến gì thêm bớt không”. Bác nhắc lại: “Uỷ ban dân tộc vừa được bầu
ra phải lãnh đạo nhân dân nắm lấy cơ hội giành chính quyền, giành độc lập”. Và
Bác dặn: “Uỷ ban về xuôi thì một bộ phận vào Hà Nội, nhưng phải để một bộ phận ở
ngoài, phòng tình thế khó khăn và khi cần thiết. Các uỷ viên chia nhau đi các
nơi, đi vào Trung bộ Nam bộ để kịp thời kêu gọi đồng bào, và tổ chức chống lại
thực dân Pháp khi nó đổ bộ”. Tôi nhớ lúc đó Bác gầy, má hóp, trên trán nhìn rõ
nếp nhăn nhưng đôi mắt rất sáng, như cả tinh lực của Bác dồn cả vào đôi mắt.
Tôi biết Bác quê ở Nghệ An, nhưng nghe giọng Bác thì giọng trại đi nhiều không
còn rõ giọng Nghệ Tĩnh nữa. Ở Tân Trào ra về, tôi cùng đi một nhóm với anh Nguyễn
Lương Bằng và anh Trần Huy Liệu. Về qua Bắc Giang, Bắc Ninh gặp nước lụt to,
các cánh đồng nước bạc mênh mông những lá cờ đỏ sao vàng rất tươi màu phấp phới
trên các ngọn cau, nhìn rất đẹp. Chúng tôi đi thuyền cặp bến Gia Lâm, từ Gia
Lâm có mấy đồng chí đưa ô tô đón về Hà Nội.
Mấy hôm sau Bác Hồ cũng về Hà Nội, mặc quần soóc, áo sơ mi ka
ki, đội một cái mũ cát và tay cầm ba-toong dáng rất khắc khổ, nhưng Bác đã bớt
mệt và bước đi của Bác rất nhanh nhẹn. Bác cử một đoàn đại biểu ba người gồm có
anh Trần Huy Liệu (trưởng đoàn), anh Nguyễn Lương Bằng và tôi, thay mặt Chính
phủ lâm thời vào Huế nhận sự thoái vị của Bảo Đại. Trước khi chúng tôi lên đường,
Bác dặn: “Đoàn có người nhiều tuổi, người thanh niên giúp nhau mà làm việc cho
tốt”. Bác dặn thêm tôi: “Chú trước có học ở Huế, quen người quen cảnh chú phải
giúp cho anh Bằng, anh Liệu tiếp xúc với đồng bào trong ấy”. Chính phủ lâm thời
đã điện cho Bảo Đại yêu cầu thoái vị, và Bảo Đại cũng đã có điện trả lời chấp
nhận yêu cầu của Chính phu cách mạng và chờ đoàn đại biểu Chính phủ lâm thới
vào để làm lễ thoái vị và trao quốc quyền cho Chính phủ cách mạng.
Cách đây đúng 43 năm ngày 27 tháng 6 năm 1945, ba chúng tôi
lên đường vào buổi sáng bằng một chiếc xe hơi sơn đen, mượn của hãng xe STAI
(tôi nhớ hình như là xe Pô-giô).
Xe có sáu người: anh Bằng, anh Liệu và tôi, một đồng chí cán
bộ giúp việc, một đồng chí bảo vệ, và đồng chí lái xe. Chúng tôi mượn được những
bộ quần áo mới, khá sang, riêng tôi thì một người bạn cho mượn bộ tờ-rô-pi-can
mầu ghi rất lịch sự. Chúng tôi tính rằng đi xe suốt ngày đêm thì khoảng 28 đến
Huế và đã đánh điện cho Uỷ ban nhân dân cách mạng Huế như vậy. Nhưng chúng tôi
không thể tính đến việc nhân dân náo nức đón đoàn dọc đường. Từ Hà Nội đến Ninh
Bình, chúng tôi đi tương đối nhanh, xe cắm cờ đỏ sao vàng. Hai bên đường đồng
bào thấy xe đứng lại chào và vỗ tay hoan hô.
Nhưng từ Thanh Hoá trở đi thì cứ khoảng mươi cây số lại có một
đám đông đồng bào cờ đỏ sao vàng rực chói đón chặn xe để chào mừng đại biểu
Chính phủ lâm thời. Chúng tôi giơ tay ngỏ ý xin đi thì có người nói: “Cho chúng
tôi nhìn mặt Chính phủ lâm thời một chút”. Chúng tôi nghe mà ứa nước mắt.
Đồng bào hô khẩu hiệu khản cả cổ. Bốn tiếng “Chính phủ lâm thời”
sao mà thiêng liêng đối với tất cả mọi người đến thế! Cả đoàn chúng tôi lại xuống
xe chào đồng bào và chúng tôi quên cả oi bức, đồng bào và chúng tôi quyện lấy
nhau trong một tình cảm thiêng liêng dào dạt. Anh Trần Huy Liệu đứng trên mui
xe, nói chuyện rất hùng hồn, đồng bào nghe rạo rực như nuốt từng lời. Bao giờ
anh cũng bắt đầu bằng mấy câu: “Thưa các đồng chí, thưa quốc dân đồng bào! Sau
ngót 100 năm bây giờ nước ta mới lại độc lập, dân ta mới lại nắm chính quyền đồng
bào cả nước ta mới thoát khỏi cảnh nô lệ bị áp bức, bóc lột và mới rửa được cái
hận mất nước tủi nhục của dân tộc ta. Có được sự vô cùng vinh quang như ngày
nay mà chúng ta khắc sâu trong tâm trí là nhờ ở tinh thần yêu nước, chống ngoại
xâm của đồng bào ta đã lên đến đỉnh cao chưa từng có, nhờ ở sự tuyên truyền vận
động và tổ chức của Mặt trận Việt Minh vô cùng sáng suốt. Đồng bào cả nước đã
nhất tề nổi dậy, hăng hái thực hiện lệnh Tổng khởi nghĩa của Uy ban giải phóng
dân tộc do quốc dân Đại hội ở Tân Trào bầu ra.... Anh nói chừng mươi phút, tất
nhiên đồng bào nghe còn thòm thèm. Khẩu hiệu lại vang lên “Việt Nam độc lập muôn
năm?”, có khi đồng bào hô: “Việt Nam độc lập! Việt Nam độc lập!”
Từ Hà Tĩnh trở đi, những đoàn đồng bào ra đón dọc đường ngày
càng nhiều, càng đông. Có nhiều chặng đường xe phải dừng lại, thậm chí có chặng
đường cứ mỗi một cây số xe lại phải dừng để đoàn nói chuyện với đồng bào. Hôm
sau vượt đèo Ngang đến bến phà Ròn thì trời mưa tầm tã. Trời đã chiều.
Đồng bào tập hợp đông nghịt. Chúng tôi đề nghị đồng bào ra về
kẻo trời mưa ướt hết. Đồng bào trả lời: “Chúng tôi chờ đoàn dưới mưa đã từ
trưa....
Thấy vậy, chúng tôi lập tức xuống xe, vào nhà thương chánh
(nhà đoan) cạnh bến phà để nói chuyện. Nhiều người nghe anh Liệu nói đến cảnh
nước mất nhà tan trước kia thì nước mắt cứ cháy ròng ròng, chúng tôi cũng không
cầm được nước mắt. Nhưng khi anh Liệu nói đến cuộc Tổng khởi nghĩa của đồng bào
ta từ Nam chí Bắc thì mọi người đều dạt dào phấn khởi. Trời vẫn mưa như xối, mà
sao lạ! Giữa rừng cờ đỏ sao vàng, với những nét mặt đồng bào rắn chắc, vui mừng
mà cương nghị, chúng tôi có cảm giác như trời vẫn nắng khắp vùng. Qua phà lại một
đoàn đồng bào đã chờ tại bến. Cứ như thế cho đến Quảng Trị, đến Huế. Sáng 29
khoảng 9 giờ, chúng tôi đến bến phà Mỹ Chánh thì gặp đồng chí Tố Hữu, Chủ tịch
Uỷ ban khởi nghĩa Huế, ra đón. Anh giới thiệu đoàn với đồng bào và nói: “Chính
phủ này là của ta, thật sự là của ta”. Đoàn chúng tôi mãi đến gần trưa ngày 29
mới đến Huế và đi thẳng tới sân vận động phía chợ Cống. Đến đó, các đồng chí Uỷ
ban nhân dân cách mạng Huế cho biết đồng bào đã tập hợp ở sân vận động từ tối
27, suốt ngày 28 và từ sáng đến giờ để chờ đón đoàn. Ở đó chúng tôi gặp anh Lê
Văn Hiến, Bộ trưởng Bộ Lao động trong Chính phủ lâm thời, từ Đà Nẵng mới ra. Cuộc
mít tinh trọng thể và náo nức. Đồng bào diễu qua lễ đài, hô khẩu hiệu không ngớt,
lại có một đoàn đại biểu nữ của nhân dân tặng hoa đoàn. Ngay trong lúc mít
tinh, ông Phạm Khắc Hòe, Đổng lý Ngự tiền văn phòng của Bảo Đại tiếp xúc với
đoàn.
Buổi chiều 29, ông Hòe, áo dài đen, đội khăn chữ nhất đến gặp
chúng tôi tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cách mạng đóng tại toà khâm sứ cũ. Chúng
tôi đi ngay vào việc. Ông Hòe nói: “Nhà vua rất vui lòng thoái vị để trao lại
quốc quyền cho Chính phủ lâm thời, nhưng nhà vua có đề nghị mấy việc: a) Xin
Chính phủ đối xử với những người trong Hoàng gia như những công dân (ý nói:
không phân biệt đối xử). b) Đối với các quan lại cũ của triều đình cũng xin
Chính phủ cho phép tuỳ theo tinh thần, tuỳ theo năng lực mà được đóng góp vào
công cuộc giành độc lập. c) Đối với các lăng miếu của nhà Nguyễn thì xin Chính
phủ cách mạng đối xử “cho có sự thể” (nghĩa là cho coi được, không phá các lăng
tẩm).
Ông Hòe trình bày các đề nghị của Báo Đại và nói qua tâm trạng
của vua, cũng có ý nói ông đã góp phần thuyết phục Bảo Đại nhận ra thời cuộc mà
tự nguyện thoái vị. Thật ra, trước cuộc khởi nghĩa của nhân dân, Bảo Đại đã phải
đầu hàng và xin được thoái vị. Thật ra, quốc quyền đã được nhân dân cả nước nổi
dậy mà giành lấy trong cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chứ đâu phải do vua bù
nhìn đã bị cách mạng đánh đổ “trao lại” cho Chính phủ lâm thời?
Nghĩ vậy chúng tôi liền nói lại với ông Hòe là chính quyền đã
về tay nhân dân cả nước và chính sách của Chính phủ cách mạng là đoàn kết toàn
dân để giữ vững nền độc lập. Còn đối với lăng tẩm, cung điện của triều Nguyễn
thì không nên có một sự lo ngại gì. Đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời cũng có
quy định thêm mấy điểm như sau:
1) Sau khi làm lễ thoái vị rồi, Bảo Đại phải ra khỏi hoàng
cung và được hưởng tất cả các quyền tự do dân chủ như mọi công dân khác.
2) Trừ những của cải thật là của riêng Bảo Đại Nam Phương và
Từ Cung (mẹ Bảo Đại) thì được đưa ra và tự do sử dụng, còn tất cả tài sản khác
và của triều đình đều thuộc về quyền sở hữu của Nhà nước cách mạng.
3) Các đền miếu, lăng tẩm của các vua triều Nguyễn đều do nhà
nước cách mạng giữ gìn, việc lui tới thờ cúng ở đó được bảo đảm.
4) Lễ Bảo Đại thoái vị định vào chiều hôm sau ngày 30-8.
Ông Hòe lại nói: “Nhà vua thiết tha đề nghị lúc làm lễ thoái
vị thì cho treo cờ vàng một lần cuối cùng lên cột cờ Ngọ môn, rồi lúc tuyên bố
thoái vị xong thì sẽ hạ cờ vàng của vua xuống và kéo cờ đỏ sao vàng của cách mạng
lên”. Đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời đồng ý. Cũng chiều hôm ấy, ngày 29, trước
khi vào thành nội gặp Bảo Đại, chúng tôi bàn nên xưng hô thế nào. Nhất định là
không gọi Bảo Đại là hoàng thượng, hay ngài ngự, hay bệ hạ. Nhưng nếu gọi là
“ông” thì nghe cũng mới quá. Sau cùng chúng tôi nhất trí là sẽ dùng tiếng ngài.
Hơn 4 giờ chiều, xe của đoàn cắm cờ đỏ sao váng đi thẳng vào
Ngọ môn (tức là cửa chính chỉ mở trong những ngày lễ rất lớn, và trước đây chỉ
dành riêng cho vua và toàn quyền đi), và đến điện Kiến Trung nơi Bảo Đại ở Đến
đó, chúng tôi đã thấy ông Hòe chờ ở dưới tam cấp. Chúng tôi bước lên, Bảo Đại vận
áo dài xanh ra đón ở cửa diện. Chào hỏi xong, ông ta nói đại ý rất sung sướng
được trao quốc quyền lại cho Chính phủ lâm thời. Theo lời ông ta, hơn 20 năm
ông ta làm vua cũng chỉ “ngậm đắng nuốt cay”, ý nói ông ta ra điều muốn phân trần
“có những điều muốn làm cho nước, cho dân cũng không làm được”.
Anh Liệu thay mặt đoàn đại biểu nói hoan nghênh vua thoái vị,
và nói rõ chính sách đoàn kết toàn dân, giữ vững độc lập của Chính phủ. Bảo Đại
nói xin nhận các điều khoản của Chính phủ lâm thời đề ra (do ông Hòe đã trình
bày lại) và cảm ơn đoàn về cách đối xử với lăng miếu.
Sau đó chúng tôi lại về toà khâm sứ cũ. Hôm sau ngày 30-8,
đúng 4 giờ chiều, đoàn vào hoàng thành lên lầu Ngọ môn để tiếp nhận sự thoái vị
của Bảo Đại.
Đồng bào đã đứng chật cả bãi cỏ rộng trước Ngọ môn từ cửa Thượng
Tứ đến chân thành, ước chừng năm, sáu vạn người (của nội ngoại thành Huế). Lên
lầu Ngọ môn, chúng tôi thấy Bảo Đại đã chỉnh tề trong bộ hoàng bào, đầu đội
khăn vàng, chân đi giày cườm. Đó là lần cuối cùng ông vua cuối cùng của nhà
Nguyễn vận triều phục. Ông ta cùng ông Hòe đón chúng tôi lên lễ đài. Có mấy vị
quan cũng đi theo Bảo Đại trong buổi lễ. Tôi nhớ có cả hoàng thân Vĩnh Cẩn.
Sau câu chuyện xã giao, buổi lễ bắt đầu. Trước hết chúng tôi
đọc bức điện mới nhận được của Hà Nội cho biết Chính phủ lâm thời sẽ làm lễ ra
mắt quốc dân tại Hà Nội vào 2-9 và Cụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ, sẽ đọc
Tuyên ngôn Độc lập. Chúng tôi cũng đọc danh sách Chính phủ lâm thời cho đồng
bào nghe. Đồng bào vỗ tay và hô khẩu hiệu hồi lâu.
Sau đó Bảo Đại đọc bản tuyên bố thoái vị, đọc lẩm bẩm không
rõ lời, có lẽ một phần vì ông ta bị xúc động trong giờ phút đặc biệt ấy và một
phần vì ông ta không quen nói tiếng Việt hằng ngày.
Bảo Đại đọc xong thì cột cờ hạ cờ vàng của vua xuống và kéo cờ
đỏ sao vàng lên. Đồng bào vỗ tay như sấm dậy. Bảo Đại trao quốc ấn bằng vàng,
đúc từ đời Minh Mạng, nặng gần 10kg và quốc kiếm, vỏ bằng vàng nạm ngọc nhưng
lưỡi đã gỉ. Anh Liệu chuyển lại cho tôi và các đồng chí trong Uỷ ban nhân dân
cách mạng ấn và kiếm rồi đọc bản tuyên bố của đoàn đại biểu của Chính phủ lâm
thời. Đoàn mở đầu bản tuyên bố như sau: “Anh chị em đồng bào? Lịch sử nước nhà
đã đến một giai đoạn mới. Chính thể đế chế đã phải nhường chỗ cho chính thể dân
chủ cộng hoà. Đó là nguyện vọng chung của toàn thể quốc dân và là bước tất
nhiên trên con đường lịch sử. Một điều mà chúng ta phải nhận là: Chính thể dân
chủ cộng hoà không phải tự nhiên được đem lại cho quốc dân mà là do sức đấu
tranh lâu dài của bao nhiêu chiến sĩ và nhân dân trong mấy chục năm nay. Cuộc đấu
tranh giành cho được nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vẫn đi kèm luôn luôn với cuộc
đấu tranh giành độc lập cho xứ sở....
Bản tuyên bố đọc xong, mấy vạn đồng bào hô khẩu hiệu vang cả
một góc trời: “Chính phủ lâm thời muôn năm!” “Việt Nam độc lập muôn năm! Việt
nam Dân chủ Cộng hoà muôn năm!” Có một phút ngỡ ngàng cho Bảo Đại. Ông ta lúng
túng, không biết làm gì, nói gì. Một lúc sau ông ta nói:
“Bây giờ tôi được làm dân của nước độc lập. Xin đoàn đại biểu
Chính phủ cho tôi một vật gì làm kỷ niệm giờ phút này”. Sau khi trao đổi ý kiến
với anh Liệu, anh Bằng, tôi lấy một huy hiệu cờ đỏ sao vàng (mà Uỷ ban Nhân dân
cách mạng Huế đã gài vào áo chúng tôi) gài cho Bảo Đại và đề nghị đồng bào hoan
nghênh người công dân Vĩnh Thuỵ. Rồi Bảo Đại chào chúng tôi ra về. Ông Hòe và
các vị quan cũng theo Bảo Đại về lầu Kiến Trung. Lễ thoái vị đến đây kết thúc.
Đồng bào rầm rập kéo ra cửa Thượng Tứ rồi tuần hành qua các
phố từ tả ngạn sông Hương, vượt cầu Tràng Tiền sang hữu ngạn, với cờ và khẩu hiệu
rợp trời.
Chúng tôi về đến Uỷ ban nhân dân cách mạng (toà khâm sứ cũ)
trời còn sáng. Nhìn về phía Ngọ môn, lá cờ đỏ sao vàng cao chót vót tung bay
trong gió. Sáng hôm sau, ngày 31-8, chúng tôi lên đường về Hà Nội để kịp báo
cáo với Chính phủ trước buổi lễ tuyên bố độc lập ngày 2-9-1945.
Anh Lê Văn Hiến còn ở lại Huế một thời gian để cùng Uỷ ban
Nhân dân cách mạng Thừa Thiên và Uỷ ban Nhân dân cách mạng Huế tiếp quản hoàng
cung kiểm kê các tài sản của triều đình Huế và của vua (trừ những của cải riêng
của Bảo Đại) từ nay thuộc về quyền sở hữu của Nhà nước cách mạng.
Thừa lệnh Hồ Chủ tịch anh Lê Văn Hiến đã đến thăm hai bà
hoàng (vợ vua Thành Thái, vợ vua Duy Tân) và tặng hai bà một số tiền. Hai bà hết
sức cảm động về cử chỉ ân cần của cách mạng. Bà Duy Tân khóc nức nở.
Sau khi giải phóng miền Nam tôi đã có dịp nhiều lần về thăm
Huế. Tôi thăm lại thành cũ và lầu Ngọ môn đã có nhiều phần đổ nát, do khí hậu
và một phần do chiến tranh. Điều lý thú là chính Nhà nước cách mạng của chúng
ta lại lo tu bổ các lăng miếu và cung điện của triều Nguyễn (có lẽ quá sức ước
vọng của Bảo Đại), vì chúng ta xem đây là những công trình nghệ thuật của nhân
dân và đã được xây dựng lên bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu của nhân dân nữa.
Đã 45 năm rồi mà tôi thấy những sự kiện như mới xảy ra ngày hôm qua. không khí
Cách mạng tháng Tám, tinh thần Cách mạng tháng Tám sao mà chói lọi thế, sao mà
tươi tắn thế!
Ban thanh tra đặc biệt của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời
với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ở quảng trường
Ba Đình chiều ngày 2-9-1945. Nhân dân cả nước rạo rực, phấn khởi - chính quyền
nhân dân địa phương được thiết lập từ Nam chí Bắc, với Uỷ ban nhân dân các cấp
(cấp miền, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) Với sắc lệnh số 63 (xây dựng chính quyền
địa phương), các UBND sẽ đổi thành Uỷ ban hành chính.
Đúng 3 tuần sau ngày Tuyên ngôn độc lập, ngày 23-9-1945 giặc
Pháp với sự đồng loã của quân đội Anh (thay mặt đồng minh vào giải giáp quân đội
Nhật ở phía Nam) đã gây hấn ở Sài Gòn, cả nước lập tức chi viện cho Nam bộ chống
thực dân bằng những đoàn quân Nam tiến. Có những chuyến tàu hoả từ Hà Nội ra đi
chật ních thanh niên từ nhiều tỉnh dồn về, áo quần đủ kiểu. Đồng thời mỗi tỉnh
mỗi địa phương lớn nhỏ lại khẩn trương tổ chức lực lượng vũ trang, sẵn sàng chiến
đấu, sẵn sàng đánh bọn thực dân Pháp nếu chúng nhảy dù hoặc đổ bộ.
Ở Hà Nội và một vài tỉnh phía Bắc (Phú Thọ, Lào Kay, Vĩnh
Yên), chính quyền cách mạng non trẻ lại còn phải dẹp bọn Đại Việt Quốc dân đáng
bám gót Tàu Tưởng về phá rối cách mạng (số đồng bọn chúng đã được tổ chức ở
trong nước với sự che chở của quân đội Nhật).
Trên bối cảnh lịch sử phức tạp ấy, chính quyền nhân dân đang
còn trứng nước đã phải giải quyết những vấn đề có tầm chiến lược cực kỳ quan trọng.
Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày
3-9-1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách:
1- Phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói.
2- Mở chiến dịch xoá nạn mù chữ (bình dân học vụ)
3- Tổ chức tổng tuyển cử, phổ thông đầu phiếu để bầu ra Quốc
hội (tổng tuyển cứ vào ngày 6-1-1946).
4- Thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng, đoàn kết tôn giáo.
5- Bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, nghiêm cấm việc hút
thuốc phiện.
6- Mở phong trào giáo dục tinh thần cần, kiệm liêm, chính;
bài trừ những thói hư tật xấu do chế độ cũ để lại.
Cùng với nhiệm vụ chống giặc Pháp trở lại cướp nước ta, 6 nhiệm
vụ trên đây được thi hành khẩn trương, và cũng chính là để bồi sức dân, đoàn kết
dân tộc để giữ vững độc lập mới giành được qua Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Trong
hoàn cảnh ấy phải đề cao kỷ cương của chính quyền mới, chính quyền của dân, do
dân, vì dân. Bên cạnh những hành động cách mạng khẩn trương có hiệu quả lớn của
các UBND, cũng xuất hiện lẻ tẻ những hiện tượng lạm quyền; bắt người không đúng
nguyên tắc, chiếm công vị tư của một số ít cán bộ ở vài tỉnh. Đã có một số đơn
vị nhân dân ở địa phương tố cáo những việc làm sai ấy.
Để an lòng dân và để giáo dục cán bộ của bộ máy chính quyền
non trẻ theo tinh thần cần kiệm, liêm chính, ngày 23-11-1945 Hồ Chủ tịch đã ký
sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ, và cử hai vị thanh tra
Đặc biệt là: Cụ Bùi Bằng Đoàn và tôi (Cù Huy Cận), lúc đó là Bộ trưởng Bộ Canh
nông. Lúc Hồ Chủ tịch gọi tôi đến, giao thêm nhiệm vụ mới này tôi có thưa:
“Thưa Cụ, Cụ cho con làm Bộ trưởng Bộ Canh nông đã là nhiệm vụ quá nặng nề
trong lúc này. Nay Cụ bảo con kiêm làm thanh tra Đặc biệt thì sợ con không đảm
đương nổi”. Bác Hồ giải thích: “Ban Thanh tra Đặc biệt chỉ có 2 người: một già,
một trẻ. Già là Cụ Bùi, vị quan có tiếng liêm khiết của triều đình cũ, có uy
tín trong giới phụ lão. Trẻ là chú, một thanh niên hăng hái một nhà thơ có tiếng
nhiều người biết. Trẻ già kết hợp nhất định làm tốt. Công việc chú bàn thêm với
chú Nam (Hoàng Hữu Nam)”. Thấy tôi ngần ngừ, Bác mỉm cười nói thêm: “Còn như
chú muốn cho có vẻ chững chạc thì dễ thôi; chiều nay, chú mang đến một thỏi mực
tàu và một cây bút lông, tôi sẽ vẽ râu cho chứ! Bây giờ thì chú đi bàn ngay
còng việc với Cụ Bùi”. Như vậy là tôi đã nhận nhiệm vụ làm một trong hai vị
thanh tra đầu tiên của Chỉnh phủ cách mạng. Mọi việc tôi đều trao đổi với anh
Hoàng Hữu Nam, lúc đó làm ở Bộ Nội vụ và là uỷ viên Ban liên kiểm Việt - Pháp.
Xong tôi lại trình bày bàn bạc với cụ Bùi Bằng Đoàn. Cụ Bùi rất tốt, và rất tin
ở sự làm việc mẫn cán mà thận trọng của tôi; cụ lại có nhiều kinh nghiệm về
công tác pháp lý. Anh Nam liên hệ chặt chẽ với các tỉnh uỷ (lúc đó bí mật), nắm
tình hình các vụ cần xử lý, giúp Ban Thanh tra Đặc biệt rất nhiều. Chúng tôi đã
về Hưng Yên và cách chức vài cán bộ cấp tỉnh vì chiếm tài sản của công; về Hà
Nam, vào xem xét nhà giam và cho thả mấy người có tội nhẹ, chỉ đáng phạt kỷ luật
hành chính. Chúng tôi còn về Thanh Hoá xử lý những vụ tương tự. Sau mỗi chuyến
thanh tra về, chúng tôi báo cáo với Hồ Chủ tịch và được Bác chỉ dẫn thêm. Công
tác của Ban thanh tra Đặc biệt thật ra làm không được nhiều lắm, nhưng mấy vụ
được đưa ra xử lý nói trên cũng gây được tiếng vang. Lúc bấy giờ chưa có quy chế
làm việc rạch ròi, lớp lang. Cụ Bùi và tôi, với sự giúp sức đắc lực của anh Nam
đã cố gắng làm theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch: “Xử lý đích đáng một số vụ để an
lòng dân, và đề cao kỷ cương của chính quyền cách mạng”.
Một chiều ba mươi Tết bên cạnh Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc
Năm đó, 1951, như thường lệ vào mùa đông cơ quan Phủ Chủ tịch
và Phủ Thủ tướng đóng ở Bản Vèn, thuộc tỉnh Bắc Cạn, từ Đầm Hồng đi vào khoảng
vài chục cây số. Rồi đến mùa hè, hai cơ quan lại dọn về ở Châu Tự do, hoặc huyện
Định Hoá, ở bên núi Hồng, từ Quảng Nạp đi vào cũng hơn 10 cây số. Hôm ấy chiều
cuối năm âm lịch, trời tạnh ráo, nhưng gió buốt, lại các lán của cơ quan ở dưới
bóng những cây to nên cái rét càng thấm vào da thịt. Chúng tôi, anh em ở Phủ Thủ
tướng đốt củi ngồi sưởi ấm, nướng mấy củ sắn ngồi nói chuyện, kể những kỷ niệm
về Tết ở quê nhà cho đỡ buồn, cho đỡ nhớ gia đình. Bếp của chúng tôi là những
khúc gỗ to chụm lại, lúc lửa đã bén, thì các đầu gỗ cứ thế mà cháy âm ỉ, có khi
suốt đêm suốt ngày không tắt, mường tượng như những đầu than âm và dương trong
một bóng điện khổng lồ phát ra sức nóng và ánh sáng. Khoảng nửa tiếng đồng hồ một,
mới cần đẩy các cây đầu gỗ lại gần với nhau. Bên bếp lửa hồng cháy đượm như vậy
anh em đỡ rét, và đỡ lạnh lẽo trong lòng. Mọi người thi nhau nói những kỷ niệm
lý thú nhất về cái Tết ở quê nhà, về những cái Tết lúc còn nhỏ, về cái thú đốt
pháo, về cái thú theo mẹ theo cha, theo bà đi chợ Tết...
Câu chuyện đang đượm như lửa ấm, thì Bác Hồ đi tới. Chúng tôi
đứng dậy để chào, thì Bác giơ tay ra hiệu bảo ngồi xuống và Bác cũng ngồi xen
vào giữa chúng tôi bên cạnh bếp lửa trại. Ghế của Bác ngồi là một khúc gỗ được
cưa bằng. Bác hỏi chúng tôi đã nấu bánh chưng chưa, và chương trình tết của
chúng tôi như thế nào. Chúng tôi báo cáo với Bác những trò vui mà chúng tôi định
tổ chức với nhau ba ngày Tết. Bác dặn ngay là phải đi thăm đồng bào trong bản,
cùng đồng bào tổ chức vui chơi ngày tết đánh còn, thi bắn chim, thi bắt cá
trong hang suối...
Bỗng nhiên có một anh đứng dậy mạnh dạn thưa với Bác: “Thưa
Bác tha cho, cho con được hỏi Bác một câu?”. “Chú cứ hỏi, và chú cứ ngồi xuống
nói chuyện” - “Thưa Bác, tại sao Bác không lập gia đình?” Tất cả chúng tôi lặng
im đi một phút, một phần vì sợ Bác mắng do câu hỏi đường đột của đồng chí chúng
tôi, một phần vì thấy nét mặt của Bác cũng dường như trầm ngâm trước câu hỏi
đó. – “Người ta ai cũng muốn có gia đình (giọng Bác nói thong thả và dường như
có hạ cung bậc). Bác cũng là người như các chú, Bác cũng muốn có đời sống gia
đình đầm ấm. Nhưng các chú xem, hoàn cảnh của đời Bác không cho phép Bác lập được
gia đình, đó là điều thiệt thòi cho Bác, mà Bác đâu có muốn thế!” Rồi Bác cười:
“Bây giờ thì muộn quá rồi!... Bây giờ gia đình Bác là tất cả các cô các chú, là
tất cả bà con, đồng bào. Không có gia đình riêng, thì Bác lấy gia đình chung
làm cái vui của Bác, làm cái ấm áp của Bác.... Giọng Bác nói khẽ trầm ngâm,
chúng tôi nghe có người ứa nước mắt. Thấy vậy, Bác lại khuấy động không khí và
bảo chúng tôi hát lên cho vui, và bảo bới củ sắn ra cho Bác ăn với. Chúng tôi
hát những bài hát kháng chiến quen thuộc, còn sắn thì mải câu chuyện không ai lật
trở cho đều, cho nên đã cháy thui gần hết. Tuy vậy Bác cũng cầm một mẩu nhỏ
cùng ăn và khen sắn cháy càng thơm”. Trong đời chúng tôi đã ăn bao nhiêu cái Tết
vui, ấm, lúc trong gia đình khi xa quê hương, nhưng chưa bao giờ lại có được một
buổi chiều cuối năm ấm lòng như chiều tết ở bản Vèn bên cạnh Bác. Rồi chiều
mùng 1 Tết chúng tôi đi đánh còn với đồng bào ở ngoài đám ruộng khô, trong một
thung lũng khá rộng, đi chúc tết đồng bào, đi lội suối bắt cá... Sống cái tết gần
như cổ sơ, mà ngày tháng, giờ giấc tính theo độ lên xuống của mặt trời trên
núi, mà sớm hay khuya không cần nhìn đồng hồ, chỉ nghe độ gió buốt lọt vào chăn
cũng biết. Ai có ngờ lúc đó chúng tôi là một cơ quan đầu não kháng chiến, là Phủ
Thủ tướng của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà...
Tôi vinh dự được Bác Hồ tặng một bài thơ
Giữa năm 1963 tập thơ Bài thơ cuộc đời của tôi xuất bản, tôi
gửi dâng Bác Hồ bản đầu tiên. Mỗi lúc ra một tập thơ tôi đều có gửi dâng Bác,
và bao giờ tôi cũng xin Bác cho ý kiến nhận xét. Có lần Bác gặp tôi nói là Bác
đã đọc tập thơ này, tập thơ kia và có chú ý một số bài. Trên kia tôi đã kể khi
Bác đọc bài Năm người con gái anh hùng Cẩm Phả đăng trên báo Nhân dân, thì Bác
đã căn cứ theo bài thơ mà gửi 5 huy hiệu của Bác về cho Uỷ ban Cẩm Phả để tặng
năm gia đình có 5 cô con gái liệt sĩ này. Lần này sau mấy hôm, anh Việt Phương
một buổi trưa mang đến cho tôi một tờ giấy của Bác có ghi bài tứ tuyệt Bác tặng
tôi. Anh Việt Phương nói “Đây là vinh dự lớn nhất của nhà thơ đây” mở giấy ra
tôi thấy một bài tứ tuyệt viết theo lối phóng khoáng của Bác:
Cảm ơn chú biếu Bác quyển thơ,
Bác xem quyển thơ suốt mấy giờ.
Muốn Bác phê bình, khó nói nhỉ!
Bài hay chen lẫn với bài vừa.
Tôi sung sướng quá, anh Việt Phương cũng chia xẻ nỗi vui sướng
với tôi, đồng thời anh Việt Phương cũng đưa cho tôi một bức thư nhỏ của đồng
chí Phạm Văn Đồng đại ý khen ngợi tập thơ của tôi, nói là đồng chí đọc thấy có
nhiều bài hay, và rất hứng thú được nói điểu đó với tác giả. Trong những năm
kháng chiến ở Việt Bắc, mỗi lúc Bác Hồ có làm bài thơ mới nào bằng chữ Hán, hoặc
bằng tiếng Việt thì thường tôi cũng được vinh dự Bác gọi đến đọc cho nghe, và
bao giờ Bác cũng hỏi có ý kiến gì góp không. Khi Bác sáng tác bài tứ tuyệt
Trăng vào cửa sổ bằng tiếng Hán thì tôi được Bác giao cho dịch ra tiếng Việt bằng
thể Đường luật hoặc lục bát tuỳ ý. Tôi đã cố gắng diễn ra lục bát bốn câu súc
tích của Bác:
Trăng vào cửa sổ đòi thơ,
Việc quân đang bận, xin chờ hôm sau.
Chuông lầu gọi tỉnh giấc thu,
Ấy tin thắng trận biên khu mới về.
Bài dịch này đã được in trong tập Thơ Hồ Chủ tịch. Trước khi
tôi dịch anh Phạm Văn Đồng có trao đổi ý kiến với tôi, đặn tôi cố thể hiện qua
câu thơ tiếng Việt cái phong thái ung dung của Bác giữa trăm công nghìn việc của
kháng chiến. Nhân đây, tôi cũng xin kể là những phiên họp Hội đồng Chính phủ
trong kháng chiến chống Pháp, ở Việt Bắc, gần thác Dẩng thường được kết thúc bằng
một buổi tối lửa trại (sau hai ba ngày họp). Ở buổi lửa trại ấy, Bác Hồ là người
“trưởng trò”, Bác nói chuyện vui, Bác động viên mọi người có chuyện gì thích
thú thì kể cho nhau nghe. Và bao giờ Bác cũng nói: “Chú Phan Anh đâu, phải có mấy
câu tập Kiều”. Anh Phan Anh cũng biết vậy nên thường đã chuẩn bị sẵn mấy câu lục
bát tập Kiều, và đứng dậy đọc, giọng sang sảng bên ngọn lửa rất đượm của các
khúc củi to chụm lại với nhau. Thơ và lửa làm cho buổi liên hoan thật là ấm áp.
Và đến lượt tôi cũng bị Bác gọi “Còn thơ chú Cận đâu?”. Tôi cũng cố gắng làm mấy
câu ca dao tức cảnh và đọc nhanh như là nộp bài. Nhưng cũng có khi Bác bắt tôi
đọc một bài thơ cũ của tôi, và tôi không thể thoái thác, đành phải đọc những
bài tả thiên nhiên đất nước, có gửi gắm nỗi lòng mình trong đó như bài Tràng
giang.
Có một lần đang họp Hội đồng Chính phủ bàn vấn đề chuyển
lương của cán bộ từ hiện vật (số ki lô gạo) sang tiền. Anh Lê Văn Hiến Bộ trưởng
Bộ Tài chính vừa trình bày xong phương án chuyển gạo ra tiền thì có một đồng
chí trong Hội đồng phát hiện rằng giá gạo rất chênh lệch nhau giữa huyện Đại Từ
phía Bắc núi Tam Đảo, và tỉnh Vĩnh Yên phía Nam núi Tam Đảo. Tôi liền đứng dậy
xin đọc mấy câu không phải là tức cảnh mà là nói lên sự lúng túng của Chính phủ
trong quyết định giá lương tiền này:
Mây Tam Đảo! Mây Tam Đảo!
Mây dừng tại khoan bay, cho ta bảo:
Cớ sao cùng một đồng lương,
Mà bên cơm, bên cháo!
Sau tham luận bằng văn vần của tôi, Hội đồng Chính phủ bèn
hoãn lại việc chuyển lương gạo ra lương tiền.
Thường trực ở Bắc Bộ phủ
Từ ngày lập Chính phủ lâm thời (2-9-1945) cho đến ngày toàn
quốc kháng chiến (19-12-1946), có một tổ chức thường trực ở Bắc Bộ phủ (tổ gồm
5 người, được Hồ Chủ tịch duyệt). Năm người trong tổ: anh Võ Nguyên Giáp (gọi
là anh Văn), anh Hoàng Văn Thái, anh Khuất Duy Tiến, anh Hoàng Hữu Nam, và tôi.
Trong 5 người nay đã 3 anh qua đời: anh Thái, anh Tiến và anh Nam. Anh Nam mất
những ngày đầu kháng chiến, tại thị xã Tuyên Quang chết đuối ở ghềnh Quýt. Năm
anh em luân phiên nhau trực ban đêm tại Bắc Bộ phủ, thường là hai người trực
đêm, cũng có khi bận quá thì một người. Tôi nhớ là anh Hoàng Hữu Nam và tôi thường
hay trực với nhau, khi nào anh bận việc đột xuất thì giao tôi trực một mình.
Mấy tháng đầu, tôi vừa làm việc ở Bộ Canh nông (Bộ trưởng, rồi
sau thứ trưởng), buổi chiều đến làm việc với Hồ Chủ tịch (như là một trong những
thư ký riêng của Bác), ban đêm thì trực ở Bắc Bộ phủ. Tình hình căng thẳng ngay
từ những ngày đầu của cách mạng. Bọn Pháp bọn Quốc dân đảng bám theo quân đội
Tưởng Giới Thạch và mọi loại phản động luôn luôn tìm cách phá, thậm chí lật đổ
chính quyền cách mạng. Bọn họ hoạt động riêng rẽ, nhưng cũng có khi liên kết với
nhau để phá ta. Vì vậy việc trực đêm ở Bắc Bộ phủ cũng rất căng thẳng.
Luôn luôn có điện thoại gọi, khi thì cơ quan an ninh, khi thì
Uỷ ban hành chính Hà Nội, khi thì ban liên kiểm Việt Pháp, khi thì Uỷ ban thành
phố Hải Phòng... Điện thoại để báo cáo tình hình, cũng có khi để xin chỉ thị của
Hồ Chủ tịch, và cũng thường khi là hỏi tình hình ở Hà Nội, ở Bắc Bộ phủ có diễn
biến gì không. Lúc bấy giờ mọi cơ quan, nhất là những đồng chí chủ chốt, đều cảnh
giác cao độ, và làm việc gần như không kể ngày đêm.
Những đêm trực ở Bắc Bộ phủ, tôi ngủ ngay bên cạnh điện thoại,
trên một chiếc giường con, có khi trên một cái ghế dài xích đu. Cũng đôi khi có
một nữ đồng chí điện thoại viên ở giúp việc, có điện thoại thì gọi chúng tôi
nhưng về sau chúng tôi chỉ yêu cầu đồng chí điện thoại viên ở đến 9 giờ tối,
sau đó thì chúng tôi trực luôn cả điện thoại. Có những đêm như một ngày giữa
tháng sáu 1946, tình hình hết sức căng thắng: bọn lính Pháp bắn phá ở Bạch Mai,
chúng dùng cả súng lớn bắn vào rạp chiếu bóng Bạch Mai. Chúng tôi ở Bắc Bộ phủ
nghe các loạt súng rất rõ, cho người ra đường xem tình hình thì không thấy có
lính Pháp xê dịch, mà công chúng cũng không thấy chộn rộn. Tôi gọi ngay dây nói
cho anh Hoàng Hữu Nam để anh can thiệp ngay với bọn Pháp ở trong Ban liên kiểm
Việt Pháp... Anh Hoàng Văn Thái hôm ấy không phải phiên trực cũng đến ngay Bắc
Bộ phủ để nắm tình hình và trao đổi cách đối phó với anh Nam trong Ban liên kiểm...
Nhưng sau một chặp, thì tiếng súng im, và có người về báo là một toán lính Pháp
đã bắn bừa vào rạp chiếu bóng, và mấy nhà xung quanh nhưng tự vệ ta chống cự,
sau đó chúng rút lui. Về sau chúng tôi phán đoán rằng đây là một cách bọn Pháp
nắn gân chúng ta, nếu ta không cứng thì chúng làm ào tới.
Ngày hôm sau, anh Hoàng Hữu Nam đã đến Ban liên kiểm Việt
Pháp phản đối kịch liệt bọn Pháp, thì chúng thoái thác giả lời bừa rằng đó là
hành động tự phát của một nhóm lính bực bội trong tình hình căng thẳng mấy ngày
đó... Lúc đó tôi với anh Xuân Diệu cùng ở ngôi nhà 50 Hai Bà Trưng, đằng sau
thư viện quốc gia.
Tối nào tôi phải đi trực, thì anh Diệu nhắc tôi ăn cơm sớm,
và nên đi sớm đến Bắc Bộ phủ, vì đi tối có thể gặp bọn khiêu khích, hoặc bọn
lính mũ đỏ Pháp, hoặc bọn Việt cách, Việt quốc được bọn Tầu Tưởng đỡ đầu.
Những ngày tháng Hồ Chủ tịch sang Pháp (từ cuối tháng 5 đến
tháng 9-1946), chính phủ ở nhà phải liên lạc hàng ngày với phái đoàn ở Paris, một
phía để Hồ Chủ tịch hiểu tình hình ở Hà Nội và nói chung trong cả nước căng thẳng
đến đâu và ngược lại để ở nhà được biết chính phủ Pháp gây khó dễ với Hồ Chủ tịch
như thế nào... Nhưng làm thế nào mà thông báo tình hình phức tạp ấy, trong lúc
chúng ta không có điện tín thẳng với phái đoàn được, càng chưa có mật mã để điện
cho phái đoàn... Anh Hoàng Hữu Nam bèn nghĩ ra một thứ “mật mã”, qua những bức
điện công khai nhờ điện đài Pháp chuyển. Tôi còn nhớ rõ như thế này: “Ở nhà
đánh đi, thì chỉ quanh quẩn nói tình hình tốt, tốt vừa, hay rất tốt. Nhưng đã ước
lệ ngầm với nhau rằng: khi trong điện nói tình hình tốt có nghĩa là Pháp vẫn quấy
rối; khi điện nói tình hình bình thường thì có nghĩa là Pháp đang ráo riết chuẩn
bị tấn công ta; khi điện nói tình hình rất tốt thì có nghĩa là ở nhà các cơ
quan trọng yếu đang chuẩn bị sơ tán khỏi Hà Nội; khi nói tình hình rất yên tĩnh
thì có nghĩa là: chúng tôi chuẩn bị rút khỏi Hà Nội... Còn từ Paris điện về thì
chỉ tập trung đưa tin về sức khỏe của Hồ Chủ tịch. Khi điện nói sức khoẻ của Chủ
tịch bình thường, thì có nghĩa là chính phủ Pháp vẫn ngoan cố không nhân nhượng
gì cả; khi nói sức khỏe của Hò Chủ tịch tốt thì có nghĩa là Pháp vẫn gây sức
ép; khi nói sức khỏe của Chủ tịch hết sức tốt thì có nghĩa là: Pháp cực kỳ
ngoan cố, không đi đến ký kết được gì... Còn một số câu ở nhà đánh đi và ở
Paris đánh về thăng giáng một chút ít, nhưng đại để cũng là đưa tin theo “mật
mã” ấy.
Chúng tôi ở nhà cũng như các đồng chí bên cạnh Hồ Chủ tịch tại
Paris nhận được rất đều điện do phía Pháp chuyển. Người Pháp làm việc chuyển điện
đều đặn cũng muốn tỏ rằng họ có thiện chí, và nhất là tỏ lòng kính trọng Hồ Chủ
tịch. Chỉ có một điều là cái mật mã không mật mã do anh Hoàng Hữu Nam sáng tác
ra thì họ không tài nào mở khoá được... Cái bảng đối chiếu mật mã này anh Nam
viết tay và giao cho tôi giữ để hàng ngày thảo điện gửi đi Paris, hình như anh
cũng giữ một bản, nhưng lúc anh bị chết đuối không biết có ai tìm ra trong người
anh không... Còn điện tôi thảo thì bao giờ cũng theo ý kiến đã trao đổi giữa
các anh em với nhau và điện thảo xong thì tôi giao cho anh Dũng lúc đó làm công
tác điện đài, gửi đi.
Đã 40 năm trôi qua (1946-1986), mà tôi còn nhớ rõ mồn một cái
không khí trực đêm ở Bắc Bộ phủ còn nhớ rõ ràng dáng đi của mỗi anh: anh Hoàng
Văn Thái bao giờ vào phòng cũng dáng vội vã, với cái mũ ca lô đội lệch một chút
về phía phải, anh Hoàng Hữu Nam thì nét mặt luôn lo nghĩ, nhưng bước đi lại ung
dung, và luôn luôn ăn bận com lê rất đàng hoàng có thắt ca vát nữa vì anh luôn
luôn sẵn sàng đến Ban liên kiểm Việt Pháp (vì anh là trưởng ban về phía Việt
Nam); anh Khuất Duy Tiến với cái đầu to đi trước, miệng luôn luôn tươi cười,
anh Văn (tức là anh Võ Nguyên Giáp) thì xách một cái cặp đầy giấy tờ những đêm
trực anh vẫn làm việc ở cái phòng tầng dưới, dưới cái phòng của Hồ Chủ tịch ở
trên gác, là nơi anh làm trụ sở của Bộ Nội vụ, mà lúc đó anh làm Bộ trưởng
(kiêm Thứ trưởng Bộ quốc phòng, kiêm tổng chỉ huy Vệ quốc đoàn). Chúng tôi trực
đêm, thật sự là phải thức đến suốt sáng, mà không cảm thấy mệt, những ngày ấy
làm việc hăng say, và công việc cuốn đi... Về sau anh Hoàng Hữu Nam có dặn người
phục vụ thỉnh thoảng mua được hộp sữa thì pha cho anh em trực một cốc sữa vào
đêm khuya. Nhắc đến anh Hoàng Hữu Nam, tôi nhớ anh và tôi nhiều đêm cùng nằm
trên chiếc giường, bên điện thoại bàn chuyện đối phó với Pháp, bàn công tác
thanh tra đặc biệt mà lúc đó tôi phụ trách cùng cụ Bùi Bằng Đoàn... Thỉnh thoảng
chả biết anh kiếm được ở đâu ra một ít kẹo ngon anh lại dúi cho tôi mấy chiếc
vào túi... Đến lúc anh bị chết đuối ở Tuyên Quang, may tôi đến kịp nơi người ta
vừa vớt thi hài anh lên, đang chuẩn bị liệm anh. Trên mặt anh người ta đã để một
tờ giấy bản to. Tôi đến bên anh và nói “Anh Nam ơi, tôi đây này Cận đây này. Khổ
quá! Anh đi tắm làm gì cho đến nỗi.... Thế là máu trong miệng anh ộc ra ướt hết
cả giấy bản, và còn lênh láng xuống cả cổ áo... Chiều hôm ấy anh em Bộ Nội vụ
và tôi chôn cất anh gần thị xã Tuyên Quang, cùng với hai anh cán bộ nữa cùng chết
một lúc với anh, trong lúc hai anh này nhảy xuống sông để cứu anh.
Cái đẹp của ánh tà dương
Một chiều tháng chạp 1946 tôi quên mất ngày, cụ Huỳnh đang ngồi
chờ trong phòng khách lớn của Bắc Bộ phủ ở trên gác để tiếp một vị khách quan
trọng.
Tôi đến để giúp cụ tiếp khách. Khách chậm đến, cụ nói với
tôi: “Anh Cận ạ, anh có biết đọc thơ Đường không?” Tôi đáp: “Thưa cụ, tôi cũng
thuộc một số bài”. - “Tôi đọc cho anh nghe câu sau đây: “Đẹp ánh tà dương sắp lặn
đi” (tôi không nhớ câu chữ Hán là thế nào, chỉ nhớ câu diễn nôm của cụ Huỳnh).
Anh có biết không, buổi chiều này nắng rất đẹp, tự nhiên tôi nhớ câu thơ trên,
và thật ra tôi cũng đến cái lúc “ánh tà dương sắp lặn đi”. Cụ nói câu ấy với
tôi với giọng hơi bùi ngùi, cái bùi ngùi đáng quí biết bao thốt ra từ miệng một
nhà thi sĩ.
Những ngày đêm Điện Biên Phủ trên không tôi bám Hà Nội Tối
hôm 18-12-1972, chúng tôi đang duyệt một vở kịch tại rạp Hồng Hà ở phố Hàng Da,
thì còi báo động vang lên, và đèn trong nhà hát tắt. Rồi tiếng bom nổ ầm vang một
góc trời thành phố. Chúng tôi lập tức nhưng bình tĩnh rút ra khỏi nhà hát, và
ai nấy trở về nhà, riêng tôi đi bộ về số nhà 24 Điện Biên Phủ, xuống hầm trú ẩn
cùng mọi người trong gia đình, và có một vài bà con láng giềng đến ẩn nấp nhờ
vì cái hầm ở nhà tôi tương đối kiên cố. Thế là đợt ném bom của Mỹ bằng máy bay
B52 bắt đầu. Sáng hôm sau, ngày 19, đến Bộ Văn hoá, chúng tôi bàn việc cấp tốc
sơ tán các cơ quan của bộ về các hướng Sơn Tây, Hà Bắc... Chỉ cần để lại ở Bộ một
bộ phận thường trực mươi lăm người mà lúc đó chúng tôi gọi là “Đội trực chiến”.
Tôi xung phong ở lại làm đội trưởng đội trực chiến này, còn các đồng chí bộ, thứ
trưởng khác và hầu hết các đồng chí vụ trưởng đều sơ tán về ngoại ô thị xã Sơn
Tây, một số cơ quan sự nghiệp đi về phía Bắc Giang, cũng có một số anh em đi về
Tuyên Quang để coi ngó các kho sách phim, và những hiện vật quý của bảo tàng. Đồng
chí Lương Hữu Lễ, lái xe của tôi, tất nhiên là ở lại với tôi.
Trong gia đình tôi thì vợ tôi sơ tản theo Trường đại học Ngoại
ngữ về Hải Hưng, gần quán Gỏi, và các con tôi thì sơ tán về chùa Thầy ở chân
núi Sài Sơn. Anh Xuân Diệu cũng tự nguyện ở lại với tôi và đêm đêm chúng tôi đến
ngủ ở dưới hầm của Bảo tàng Mỹ thuật ở số nhà 66 Nguyễn Thái Học. Ngôi nhà bảo
tàng này khá kiên cố, nhất là cái hầm thì được xây dựng bằng bê tông cốt sắt
dày, nhà có thể sập vì bom, mà cái tầng hầm có thể vẫn đứng vững. Ngôi nhà này
ngày xưa là Phủ toàn quyền đã xây làm ký túc xá cho các nữ sinh Pháp (con các
công sứ, khâm sứ, các giám đốc người Pháp nắm quyền cai trị ở Đông Dương học ở
các trường Anbe Sarô, và ở các trường cao đẳng thuộc đại học Đông Dương. Cứ tối
đến, khoảng 8, 9 giờ là máy bay B52 của Mỹ đến ném bom. Đội phòng không của
chúng ta đã bắn rơi nhiều máy bay B52 ngay đêm đầu và những đêm tiếp B52 vẫn tiếp
tục “rụng như sung” (có cả thảy 34 chiếc B52 bị rơi trong đợt này). Hễ nghe còi
báo động nói là máy bay đã đi xa, thì mọi người chạy ùa ra phố đi bắt giặc lái
và tìm xác máy bay. Tôi cũng theo bà con đi tìm giặc lái, có lần chạy lên đến tận
Hồ Tây, và thấy bà con bắt được một thằng giặc lái rơi xuống hồ Trúc Bạch...
Còn xác máy bay B52, thì cái rơi ở xóm Ngọc Hà, cái rơi ở vườn Bách Thảo, có những
cái rơi xa hơn ở ngoại thành, và rơi ở tận phía Hà Đông, Sơn Tây... Đêm Nôen
1972, mọi người đinh ninh là giặc Mỹ sẽ không ném bom Hà Nội, vì đây là lễ
thiêng liêng của đồng bào công giáo. Nhưng một loạt máy bay B52 ồ ạt đến ném
bom giữa đêm Chúa Giáng sinh... Quân đội cũng như đồng bào đã cảnh giác, nên phản
kích kịp thời. Báo chí quốc tế đã đưa tin đầy đủ về cuộc chiến đấu cực kỳ ác liệt
của quân dân ta, tôi không nhắc lại đây các chi tiết của cuộc chiến đấu, và của
cuộc chiến thắng mà ngay lúc đó báo Nhân Dân và Đài phát thanh cũng đã gọi là
“Điện Biên Phủ trên không”.
Mỗi một sáng, tôi và chú Lễ phóng xe đến những chỗ vừa bị ném
bom để nắm tình hình, như ở khu An Dương (ngoài đê Yên Phụ), và dãy phố Khâm
Thiên... Có lúc chúng tôi đi ô tô, có lúc tôi đi chiếc Sô-lếch mù (Solex), đầu
đội mũ rơm để quan sát những thiệt hại do cuộc ném bom gây ra. Đến khu An Dương
sáng hôm ấy, người chết khá nhiều, các xác cái thì mới đào lên, cái thì đang chắp
lại cái đầu, cái tay cái chân vì mỗi bộ phận của cơ thể bị xé văng ra nhiều
nơi... Và chỉ có những chiếc chiếu tạm đắp các thi hài đầy máu me. Tôi có mở
chiếu ra xem mặt các đồng bào bị hy sinh, có những mặt chưa kịp thâm tím, có
người tay đang nắm lại như sắp cầm một vật gì thì bị bom sát hại... Tôi và chú
Lễ ở hồi lâu với cán bộ của khu phố coi sóc việc chở xác đi chôn. Mấy hôm ấy
quan tài không đóng kịp, cũng có những thi hài xếp vào mấy miếng ván bó lại...
Còn buổi sáng tôi đến phố Khâm Thiên, thì đã thấy một dãy dài các thi hài xếp
trên hè phố với những nén hương đang cháy, và bên một số thi hài đã có người
nhà vừa khóc vừa bó liệm người đã mất. Sự căm thù của nhân dân lên đến cực độ,
nhưng thể hiện bằng một tư thế trầm tĩnh, như là cắn răng lại, cầm nước mắt để
trả thù cho người đã mất...
Xúc động trước sự tang tóc, trước sự mất mát, chúng tôi không
nỡ ở lâu trước những quan tài và những thi hài chưa bó liệm ở dãy dài trên thềm
phố. Chúng tôi đi ra phía đằng sau phố Khâm Thiên là nơi bị bom phá hoại nặng nề,
nhiều dãy nhà bị đánh sạt, gạch ngói sụp đổ từng đống ngổn ngang, có nơi lứa
còn cháy âm 1 chưa dập tắt được... Chính quyền khu phố và nhân dân đang tập
trung cứu gấp những người còn bị nghẽn trong hầm, hoặc bị chèn dưới các đống
vôi gạch. Nơi khác thì người ta còn tìm cứu gà lợn bị nghẽn trong chuồng không
có lối ra. Cảm động biết mấy khi chúng tôi thấy ở một ngõ đi vào đường hẻm mấy
dòng chữ bằng phấn trắng viết lên một cánh cửa đã lung lay sắp rời khỏi tường:
“Gia đình chúng tôi tạm sơ tán về quê ở Vân Đình. Tất cả đồ đạc trong nhà chúng
tôi xin gửi lại nhờ Uỷ ban nhân dân khu phố trông nom hộ. Liên lạc với chúng
tôi ở Vân Đình... ở dưới ký tên chủ nhà và địa chỉ cụ thể. Ở một nơi khác chúng
tôi lại thấy treo một tấm bìa các tông cũng viết mấy lời dặn cho người nhà biết
là bà mẹ đã sơ tán các cháu về quê ở Hà Đông, và đồ đạc xin gửi lại bà con láng
giềng khu phố... Những bức thư và những lời dặn ở ngoài trời như vậy tôi cũng
đã từng thấy ở Hải Phòng những ngày tháng 8 năm 1972 lúc địch cũng ném bom bằng
máy bay B52 ở nội ngoại thành, ở khu Vạn Lý và ở làng...
Có những trường hợp hết sức xúc động, ai nghe kể cũng không cầm
được nước mắt: Có hai em bé dăm bảy tuổi, bố mẹ đi vắng, lúc bom dội xuống thì
hai em tỉnh dậy, khóc oà và cứ kêu “bố mẹ ơi, bố mẹ ơi?” nhà láng giềng cũng bị
sạt một mái, chưa kịp cứu chữa đồ đạc của mình và con lợn trong chuồng, nhưng
nghe tiếng hai em bé kêu khóc thì chạy sang cứu ngay hai em, dẫn em xuống hầm
cho em ăn uống, chờ hai em ngồi yên mới trở lên nền nhà cứu chữa phần nhà mình,
cứu những đồ vật gì còn có thể thu lượm lại được. Người ta thường bảo “cháy nhà
ra mặt chuột”, nhưng, đẹp đẽ thay, nhân tình thay, ở đây cháy nhà lại thổ lộ ra
tình nghĩa đồng bào cưu mang lấy nhau trong cơn hoạn nạn, đùm bọc lấy nhau
trong cái nạn lớn của đất nước. Nức lòng thay, ấm lòng thay... Chính đêm Nôen,
mà địch ném bom dữ dội thành phố thủ đô thì ở dưới hầm nhà Bảo tàng Mỹ thuật
tôi đã viết liền một hơi bài Trường ca Thiếu niên anh hùng họp mặt (hình thức
thơ sân khấu) mà liền sau đó báo Thiếu niên tiền phong đã in kịp vào số tết, và
Nhà xuất bản Kim Đồng cũng đã kịp xuất bản bán vào dịp Tết. Bài thơ sân khấu
này cũng đã được đoàn Tuồng Khu 5 dựng thành vở tuồng ngắn đã được diễn nhiều lần
và được chiếu trên vô tuyến truyền hình. Bom cứ dội ngoài thành phố, mà tiếng
vang làm rung chuyển cả ngôi nhà Bảo tàng thì những Phù Đổng Thiên Vương, những
Trần Quốc Toản, những Kim Đồng những Võ Thị Sáu, những em Tám đuốc lửa sống...
lại náo nức về tụ họp dưới hầm bảo tàng với tôi. Tôi viết bài Trường ca này với
ấn tượng rõ rệt là bốn nghìn năm lịch sử của dân tộc là một nền móng vô cùng vững
chắc mà không một loại bom nào, loại vũ khí hiện đại nào của giặc Mỹ có thể làm
rung chuyển được Những ngày ấy mỗi sáng, sau khi đi thăm những nơi bị ném bom,
anh Diệu, chú Lễ và tôi lại đến báo Nhân dân để lấy tin tức và để đưa một vài
bài ngắn (hoặc thơ hoặc văn xuôi) cho báo đăng kịp thời. Anh Thép Mới mỗi sáng
gặp chúng tôi ở toà báo cứ cười xoà “Thật sự đây là đội trực chiến của Điện
Biên Phủ trên không... Tôi còn giữ bức ảnh mà đồng chí nhiếp ảnh của báo Nhân
dân chụp ba chúng tôi đang ngồi trao đổi tin tức và bài vở ở toà soạn (anh Thép
Mới anh Xuân Diệu và tôi). Vừa rồi anh Thép Mới và tôi gặp nhau ở Mátxcơva, sau
ngày anh Diệu mất, hai anh em đã nhắc lại kỷ niệm những ngày trực chiến của
chúng tôi trong bầu không khí hào hùng của Thủ đô chiến đấu và chiến thắng. Sau
những ngày Điện Biên Phủ trên không, các cơ quan của Bộ Văn hoá cũng chưa dọn về
ngay ở Hà Nội, cho nên tôi và một vài anh em trong đội trực chiến lại phải lên
Sơn Tây báo cáo tình hình và công việc cho ban lãnh đạo của Bộ biết. Những ngày
đó, nhân dân Hà Nội sơ tán vợi hẳn đi đi ngoài đường có nhiều phố vắng hẳn, có
nhiều cơ quan đóng cửa, nhưng trật tự ở các phố lại rất nghiêm và đi lại giữa
Thủ đô quá nửa là sơ tán lại có cảm giác yên tâm. Về sau tôi nghe anh em công
an kể lại rằng có những dãy phố mà những nhà sơ tán toàn bộ gia đình chỉ khoá cửa
bằng một cái khoá bóp mà nhà vẫn được an toàn, đến lúc chủ trở về không mất mát
đồ đạc gì, từ áo quần cho đến thức ăn vật dụng...
Điện Biên Phủ trên không là một trang sử hiển hách trong lịch
sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, của nhân dân thủ đô anh hùng.
Tôi đã có cái may mắn và vinh dự được sống cùng đồng bào những ngày ấy, được tắm
mình trong dòng lịch sứ nóng bỏng ấy, và tôi vẫn kể lại với các con tôi những
ngày là “bố đi Sô lếch, solex mù và đội mũ rơm” giữa thủ đô nghìn năm văn vật với
một lòng tự hào, tự tin mà tôi đã tiếp nhận được của đồng bào và chiến sĩ...
BÌNH LUẬN
Vợ Cù Huy Cận
Như Bình
Nguồn: An ninh thế giới cuối tháng, số 57, tháng 4-2006
Trong mường tượng, tôi ngỡ bà sẽ khác hơn nhiều. Không phải
là dáng mỏng như một nhánh cây khô mà tôi bất chợt thấy. Không phải là sự nhẫn
nhịn pha chút thu mình đến còm cõi của một người luôn thấy mình quá bé nhỏ
trong cái thế giới mênh mông của cuộc đời để mà xem sự tồn tại của mình đã là một
hạnh phúc quá lớn. Bà đến gặp tôi ở tòa soạn theo lời hẹn. Mái tóc bạc xóa, đôi
mắt cười chan chứa và hiu hắt. Dường như bà đã chuẩn bị quá lâu cho cái sự rồi
sẽ một mình ở trọ lại cuộc đời này chờ tới khi đoàn viên với ông, thế nhưng
trong giọng nói, trong câu chuyện, trong nụ cười nhòa ướt nước mắt của bà, tôi
vẫn cảm thấy chút gì đó tựa như là bơ vơ, như là chống chếnh đến ngơ ngác mà
đáng ra cuộc sống hiện tại đủ để lấp đầy với bà, sự ra đi của người chồng gắn
bó hơn 40 năm nặng tình tri kỷ và ân nghĩa xem ra đã để lại trong bà một khoảng
trống quá lớn. Một vực sâu thiếu hụt mà không gì có thể lấp nổi. Thuyết phục
mãi rồi bà cũng dẫn tôi trở về ngôi nhà mà trong đó có căn phòng nhỏ ở 24 Điện
Biên Phủ nơi bà và ông đã có quãng thời gian chung sống gần 40 năm (hai năm cuối
đời, nhà thơ Huy Cận về sống chung với con gái ở Tây Hồ). Bà nói lúc còn sống ở
đây, nhà thơ Huy Cận rất ít khi tiếp khách tại nhà. Bấy nhiêu lâu rồi cả bà và
nhà thơ quên đi cái nhu cầu ấm áp vui vẻ ấy, vì vậy bà không muốn dẫn tôi về
đó. Không hiểu sao, tự dưng tôi cũng trở thành ké rón rén khi cùng bà băng qua
căn phòng nhỏ với lối đi cửa sau vòng qua mảnh sân đầy lá rung để tìm lối đi
lên căn gác của ông bà. Lần đầu tiên tôi được thở cùng bà trong cái không gian
quá nhiều những ký ức của hai thi nhân Việt Nam, Xuân Diệu và Huy Cận nổi tiếng
trong mối tình thơ, tình bạn cảm động có một không hai trong lịch sử văn
chương.
Tôi bước cùng bà những bước nhỏ, chậm rãi, cố để cảm nhận cho
hết khung cánh nơi đây, hồn cốt của thi nhân xưa còn vương lại trên từng đồ vật
cũ, cảnh cũ. Rất nhiều lá khô rơi và mục nát dưới lối đi. Chiếc cầu thang cỗ cũ
kỹ và ẩm mốc vương đầy lá khô bay nhè nhẹ trên từng bậc thang. Căn buồng của bà
và nhà thơ Huy Cận lâu rồi không có hơi ấm của người giờ phủ đầy bụi. Vốn là
người ít nói kiệm lời, bà Trần Lệ Thu chỉ vào đống ngổn ngang những bản thảo cũ
từ lâu mờ bụi phủ của nhà thơ Huy Cận: "Bây giờ tôi sống bằng tất cả những
thứ ấy và vì đó mà sống”. Bà đang tận dụng đến tối đa quỹ thời gian ít ỏi còn lại
của mình để hoàn thành trọn vẹn tập Hồi ký song đôi, hồi ký của bà, và nhặt nhạnh,
tập hợp lại những di cáo của nhà thơ để lại. Cho dù sự "ra đi" khỏi
căn nhà của nhà thơ Huy Cận đã từ trước đó 2 năm và bà dù đến bây giờ hằng ngày
vẫn cố gắng cần mẫn lại trở về làm việc và ngủ trên chiếc giường cũ, nơi ngôi
nhà cũ thì hơi ấm xưa dường như không bao giờ còn trở lại. Giường chiếu phủ bụi,
ngập nhà là ngổn ngang bản thảo cũ, cả những thứ lúc còn sống nhà thơ đã buông
đi, cho vào đống tạp pí lù nhưng bà tiếc đã cố công cất giữ lại. Giờ đây mỗi một
phong giấy vụn có vài nét chữ của ông, cả những bức thư bè bạn cũ, và muôn thứ
ngỡ là tầm phào, vớ vẩn ngày ông còn sống thì với bà là cả một gia tài. Nhìn bà
đeo mục kỉnh cặm cụi tỷ mẩn trong căn phòng bừa bộn giấy tờ, toàn bộ con người
bà dường như đã thuộc về quá khứ, thuộc về một đời sống của ký ức.
Trong sự cố gắng thu giấu mình đi giữa ngổn ngang đời thực và
những “lỗi xót đau nhân tình thế thái", bà chỉ muốn đơn thuần nương tựa
vào những câu thơ của ông để lại cho bà. Chút đời sống tinh thần ngớ như là nhỏ
nhoi ấy với bà là biển lớn, là cuộc đời, là cả sự nghiệp. Sự nghiệp chính của
cuộc đời bà ấy là sống cùng với ông, chia sẻ cuộc đời với ông và giờ đây là thu
vén lưu giữ cho hơi thở của ông vẫn mãi mãi nóng ấm giữa những trang viết mà
ông để lại.
Mối tình của bà với nhà thơ Huy Cận bước sang năm 2006 này đã
tròn 42 tuổi. Bà còn nhớ như in cái ngày định mệnh của ông và bà 4-7-1964, dưới
bàn tay sắp đặt của bà Phạm Thị Trường (vợ của nhà văn Nguyễn Đình Thi) ở phố
Trần Quốc Toản. Nhà thơ Huy Cận lúc đó 46 tuổi, đã qua biết bao ghềnh thác cuộc
đời. Bà Trần Lệ Thu lúc bấy giờ là cô giáo dạy tiếng Nga ở Đại học Ngoại ngữ,
đã 28 tuổi nhưng chưa một lần mở lòng mình với tình yêu. Từ đó nhà thơ Huy Cận
được tắm táp và bình yên trong tình yêu trắng trong, thuần khiết và rất đỗi dịu
dàng của người vợ hiền thảo luôn tôn kính và ngưỡng mộ chồng mỗi lần nhớ lại,
bà Trần Lệ Thu không quên được câu nói của nhà thơ Xuân Diệu với bà trong lễ cưới,
sau này bà viết lại trong hồi ký: "Anh Diệu nói với em, anh có một nghị lực
phi thường, có linh tính báo trước hạnh phúc của đời mình, mà em thì có một tấm
lòng kiên trì chờ đợi, nên tất nhiên là hai người phải gặp nhau”.
Thế nhưng, bà Trần Lệ Thu đã rơm rớm nước mắt khi kể cho tôi
nghe một “lời đau” của một người thân trong gia đình đã nói rằng bà lấy nhà thơ
Huy Cận để được ngồi xe ôtô. Nói rồi bà thổn thức. Ít ai biết rằng thuở nhỏ bà
và chị gái của bà đều đi học ở trường tây Félix Faure bằng ôtô riêng của gia
đình. Bà Trần Lệ Thu chính là con gái yêu của nhà tư sản nổi tiếng ở Hà Nội thời
bấy giờ với thương hiệu hãng dệt Đại Tân nức tiếng ở 40 Lê Lợi, sau này là 124
Bà Triệu. Mẹ bà là con gái Hà Nội gốc, ông bà ngoại làm nghề đăng ten ở làng La
Khê - La Cả, năm mẹ bà 19 tuổi đã cùng cha sang hội chợ Đấu Xảo ở Paris một
tháng để triển lãm sản phẩm, vì cụ nói tiếng Pháp thông thạo. Trong tuần lễ
Vàng năm 1946, cha của bà đã cúng 400 cây vàng cho Tổ quốc. Sau cách mạng, ông
được bầu làm Chủ tịch ủy ban Hành chính khu phố Liên Trì, năm 1948 bị giặc Pháp
bắt đi mất tích đến giờ. Năm 1961, toàn bộ tài sản gồm mấy ngôi nhà của gia
đình bà hiến cho Nhà nước quàn lý, từ một gia đình tư sản, trở thành tiểu
thương nhỏ, và cũng vì thế mà bà được kết hôn với nhà thơ Huy Cận - cán bộ cao
cấp do Trung ương quản lý (lúc bấy giờ cán bộ cao cấp không được lấy vợ thành
phần gia đình tư sản). Nhớ lại những năm tháng mặn nồng hạnh phúc, bà Lệ Thu lại
ứa nước mắt. Là một nhà thơ nổi tiếng, nhưng Huy Cận lại là người chất phác, hiền
lành, đôn hậu. Không rượu, chè, thuốc lá, ông sống giản dị và chân chất. Với bà
Lệ Thu, nhược điểm lớn nhất của ông nhiều lúc làm cho trái tim của bà nhói đau ấy
là vì nhà thơ quá đa tình, cả khi ông đã bước sang tuổi thất thập cổ lai hy. Có
lẽ, để giữ được tình yêu lâu bền cho một cuộc hôn nhân với nhà thơ, bà phải biết
cách chịu đựng và tha thứ. Bà nói, ngay từ hồi đang còn yêu nhau, khi chở bà đi
chơi, thấy một cô gái xinh đẹp đi đằng trước, Huy Cận đạp rướn lên nhìn bằng được
cô gái đó mới thôi. Bà hiểu trái tim của thi sĩ không hoàn toàn thuộc về bà, mà
đã thuộc về thơ ca, ông cần phải có những khoảng tự do, những niềm rung động
thì ông mới thăng hoa trong sáng tạo được. Ngay từ ngày đứng trước ngưỡng cửa của
hôn nhân, bà Lệ Thu đã nhìn thấy và lường trước được những gì mình cần phải vượt
qua khi làm vợ của một thi sĩ nổi tiếng. Bởi lẽ thế mà suốt cả quãng đời sau cuối,
cho dù trong một tâm thế "buồn bã và xót đau nhân tình thế thái” nhưng nhà
thơ Huy Cận luôn hàm ơn người vợ hiền thục của mình. Nhớ lại cuộc hôn nhân với
bà ông đã viết:
Khi anh cưới.
Mẹ em rằng
“Thu nó hiền thôi ít nói năng.
Từ đấy hai sông hòa một biển
Nước gần với nước gắn bằng trăng
Từ đấy lòng anh cứ lắng nghe
Lặng im trong mỗi bước em về
Lời thầm trong mỗi câu em nói”.
Trong mỗi làn tay em vuốt ve
Khi anh mệt nhọc khi anh đau
Công việc anh lo lửa nóng đầu
Anh cứ cảm nghe từ ánh mắt
Tình em ôm toa tựa hương ngâu
Em hỡi đời ai chẳng nửa thầm
Lặng yên mới có được vang âm
Tóc mềm sợi sợi nằm êm lắng
Vạn suối lòng anh chảy trở trăng
Rồi một ngày kia anh với em
Nằm yên trong đất giấc im lìm
Tai xương anh sẽ còn nghe ngóng
Hoa lá hồn em trong lặng im
(Hỡi em yên lặng).
Ngọn lửa thiêng đã về trời. Nhà thơ Huy Cận rời bỏ dương gian
từ mùa xuân năm trước. Đến nay đã qua hơn một năm nhưng với bà Lệ Thu, dường
như Huy Cận đang làm chuyến công cán xa chưa về kịp. "Những lúc tưởng nhớ
tới anh Cận, tôi đều cảm thấy mình được an ủi bởi những năm tháng cuối đời của
anh tôi được chứng kiến anh Cận đã sung sướng tắm mình trong nguồn nước ấm được
dội từ lòng thương yêu trìu mến của bạn bè tri kỷ ngay từ khi anh vẫn còn tồn tại.
Mỗi lần đi đâu, gặp gỡ chuyện trò với bạn tri âm, về nhà anh đều thủ thỉ kể lại
cho tôi nghe với một niềm vui sướng nhẹ nhàng, thanh thoát, pha chút ngây thơ,
hồn nhiên của tâm hồn trẻ nhỏ luôn thường trực trong con người anh. Tôi có cái
sung sướng nhất đời là chuyện gì tôi cũng được anh kể cho nghe. Có những chuyện
sống để dạ, chết mang theo anh cũng chia sẻ với tôi, chỉ mình tôi duy nhất”. Bà
Lệ Thu lần giở cho tôi xem những di bút những dòng lưu niệm của nhà thơ Huy Cận
để lại, nói về mối tình cảm ấm áp và chia sẻ trong những tháng năm êm đềm của
hai ông bà. Kể từ sau khi nhà thơ - người bạn tri kỷ của Huy Cận là Xuân Diệu rời
bỏ dương gian, thì bà chính là người đầu tiên lắng nghe thơ ông mỗi khi ông vừa
thốt viết chưa ráo mực. Một mối tình trọn vẹn như vậy, hẳn khi rời bỏ chốn nhân
gian này, nhà thơ Huy Cận đã mãn nguyện lắm thay.
Một nhà thơ làm bộ trưởng
Báo An ninh thế giới cuối tháng, số 6 2.2002
Ông Bộ trưởng 26 tuổi
Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận sinh năm 1919 tại Hương Sơn,
Hà Tnh trong một gia đình trung nông lớp dưới. Người cha là một nhà Nho, còn
người mẹ chuyên chăn tằm dệt cửi, sau khi lấy chồng cày ruộng. Sau khi đỗ Tú
toàn phần ở Huế chàng thanh niên họ Cù dạy tư hai tháng ở Vinh, quyết định thi
vào Trường cao đẳng Nông- Lâm (CĐNL). Hồi đó, Trường Nông-Lâm ở ngay Hà nội vị
trí của trường đặt tại khu vực Vườn Bách Thảo bây giờ, mỗi khoá chỉ tuyển khoảng
20 sinh nên. Khoá đầu tiên có ông Nghiêm Xuân Yêm học, khoá thứ hai có ông Đào
Thiện Thi và Huy Cận học khoá thứ ba... Huy Cận còn nhớ rất rõ: Khi vào trường
anh thi đậu điểm cao thứ 5; khi ra trường, thi tốt nghiệp cũng đứng thứ 5
Lý do Huy Cận thi vào Trường cao đẳng Nông-lâm thật đơn giản:
Học các trường khác thì phải mất học phí, nhưng học Nông-Lâm thì sinh viên lại
được ưu tiên trả học bổng tới 25 đồng tiền Đông Dương mỗi tháng. Hồi ấy, đó là
một khoản tiền có giá trị khá lớn, có thể mua được mấy tạ gạo ngon. Chàng sinh
viên Huy Cận chi tiêu tiết kiệm, nên cả tháng chỉ hết có... 3 đồng. Số tiền còn
lại, anh dùng để nuôi hai người em đi học và gửi về giúp gia đình...
Huy Cận bí mật tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1941. Cuối
tháng 7.1945, anh tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân trào và được bầu vào Uỷ ban
Dân tộc giải phóng toàn quốc Huy Cận đã vinh dự được Uỷ ban cử vào Huế để tham
gia tiếp nhận sự thoái vị của Vua Bảo Đại.
Khi Chính phủ lâm thời nước Việt nam dân chủ cộng hoà được
thành lập từ một nhà thơ nổi tiếng lại có bằng kỹ sư Nông nghiệp Huy Cận đã được
Chủ tịch Hồ Chí Minh cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Canh nông. Năm ấy, anh mới 26 tuổi.
Theo Huy Cận nhớ lại thì cả cơ quan Bộ Canh nông hồi đó chỉ có
vài chục người. Trụ sở đóng phố Ngọc Hà và số 20 phố Lý Thái Tổ – Hà nội (nay
là trụ sở của Viện Văn học). Phương tiện đi lại của Bộ trưởng và Thứ trưởng chủ
yếu bằng xe đạp, nhung không khí làm việc thì hăng hái lắm!
Nạn đói năm 1945 đã làm cho hơn hai triệu người Việt nam bị
chết thảm. Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước lụt vẫn còn mênh mông ở miền
Bắc nước ta... Hàng núi công việc đang chờ Bộ Canh nông giải quyết Nhưng việc đầu
tiên là phải tăng gia sản xuất để cứu đói. Vận động, tuyên truyền cho bà con
nông dân trồng những thứ được nhanh thu hoạch như ngô ba tháng, khoai lang, rau
muống... với khẩu hiệu tấc đất tấc vàng” và kiên quyết không để sót một tấc đất
bỏ hoang. Vốn liếng lớn nhất của Bộ Canh nông thời bấy giờ không phải là tiền bạc
mà là sức lao động của nông dân!
Chú có quyền làm trước, báo cáo sau...
Tuy làm việc ở Bộ Canh nông, nhưng nhiều buổi chiều, Huy Cận
vẫn được về Phủ Chủ tịch để giúp việc như một thư ký riêng cho Bác Hồ. Có thời
gian anh còn được điều động để làm một nhiệm vụ đặc biệt...
Ngày 23.11.1945. Hỗ Chủ tịch ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh
tra đặc biệt của Chính phủ. Và cử 2 người tham gia: Cụ Bùi Bằng Đoàn (nguyên
Thượng thư Bộ Hình của triều đình cũ) và Cù Huy Cận. Trước khi ký quyết định bổ
nhiệm, Bác Hồ cho gọi Huy Cận đến Văn phòng và nói:
- Từ ngày mai, chú có thêm một việc nữa là làm thanh tra đặc
biệt của Chính phủ. Chú nghĩ sao?
Huy Cận lo lắm, vì nghĩ mình còn trẻ chưa đủ uy tín để thực
thi một việc quan trọng như thế. Anh đắn đo một lúc rồi mạnh dạn nói:
- Thưa Bác! Bác cho cháu làm Bộ trưởng Canh nông là quá sức rồi.
Bây giờ Bác giao cho cả việc “Thanh tra đặc biệt” nữa thì e rằng cháu không làm
nổi. Vả lại, chức này phải cần những người có tiếng tăm và tuổi tác mới thuận.
Bác Hồ mỉm cười và động viên:
- Chú vẫn cứ làm Bộ trưởng Canh nông, chỉ kiêm thanh tra đặc
biệt thôi. Việc này Đảng và Chính phủ đã cân nhắc kỹ mới cử hai người: Một người
già là cụ Bùi rất có uy tín, một người trẻ là chú. Chú là nhà thơ cũng nổi tiếng
lắm chứ. Còn nếu chú ngại mình trẻ quá, thì chiều nay chú mang đến một thỏi mực
Tàu và một cây bút lông. Chú chịu khó mài mực, tôi sẽ vẽ... râu cho chú!
Đến đấy thì nhà thơ Huy Cận hết lý do từ chối.
Cần phải nói thêm điều này: Sở dĩ có chuyện phải thanh tra đặc
biệt là bởi hồi ấy Chính quyền cách mạng non trẻ, cán bộ phần lớn còn trẻ, rất
hăng hái nhưng chưa có kinh nghiệm công tác. Một số ít địa phương đã có biểu hiện
lạm quyền, bắt người không đúng phép thậm chí còn có cả chuyện tham ô và tiêu cực...
Thanh tra đặc biệt chính là để đề cao phép nước và an lòng dân! Muốn đạt được
điều đó, Ban “Thanh tra đặc biệt” của Chính phủ đã được trao cho quyền hạn rất
lớn:
- Cụ Bùi và chú có quyền... “Làm trước, báo cáo sau” - Bác Hồ
nói - Có thể cách chức cán bộ tỉnh tại chỗ, nếu chứng minh được người ấy có tội
và trở về báo cáo sau.
Nhà thơ Huy Cận nhớ lại: Đoàn “Thanh tra đặc biệt” đã được
Chính phủ cho xe tô đưa về các địa phương. Trước khi đi đến tỉnh nào, họ thường
nắm trước thông qua Văn phòng của Bộ Nội vụ về địa phương ấy. Chánh Văn phòng của
Bộ N vụ lúc đó là đồng chí Phan Bôi, một người tùng bị mật thám Pháp bắt lưu
đày ở đảo Mađagátxca, nhưng đã khôn khéo trở về nước bằng máy bay, rồi nhảy dù
xuống Việt nam, tiếp tục hoạt động cách mạng... Phan Bôi đã nhiệt tình cung cấp
đầy đủ những thông tin về vấn đề tiêu cực cần giải quyết ở địa phương mà đoàn
thanh tra đặc biệt sắp đến.
Về đến tỉnh thì đoàn “Thanh tra đặc biệt” dựa vào tỉnh uỷ và
đặc biệt là “Nông hội Nông dân - Lực lượng chủ yếu đã làm nên Cách mạng tháng
Tám 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta). Họ thường khôn khéo, tế nhị cho một vị
cán bộ có lỗi đến, rồi phân tích, thuyết phục... Cái khó cho “Thanh tra đặc biệt”
là, hầu hết những vị cán bộ ấy đều có thành tích trong Cách mạng và bây giờ
đang giữ trọng trách của địa phương... Những câu mà đoàn “Tthanh tra đặc biệt”
thường nói là “Ban Thanh tra đặc biệt xin chào đồng chí Chủ tịch! Chúng tôi rất
hoan nghênh đồng chí đã lãnh đạo quần chúng cách mạng cướp chính quyền nhanh
chóng, thành công tốt đẹp và trong những ngày vừa qua đồng chí đã lãnh đạo xây
dựng địa phương tốt. Nhưng bên cạnh đó, cũng còn một số khuyết điểm mà quần
chúng nhân dân phê bình, phản ảnh lên trên... Sau khi hội ý thống nhất với Tỉnh
uỷ, Uỷ ban hành chính và Nông hội... Chúng tôi đề nghị đồng chí giúp đỡ Cách mạng
bằng cách: Chuyển đổi công tác, thôi giữ chức vụ hiện nay. Tỉnh uỷ sẽ bố trí
cho đồng chí một nhiệm vụ khác, thích hợp hơn...
Nói tóm lại là phải bằng mọi cách để người ấy tự nguyện từ chức
một cách êm đẹp. Cứ thế, chỉ trong một thời gian ngắn, đoàn “Thanh tra đặc biệt”
đã lần lượt cách chức vài vị chủ tịch tỉnh có lỗi với nhân dân. Những địa
phương mà đoàn chưa tới, nhiều cán bộ khác cũng phải tự điều chỉnh mình, cố gắng
công tác tốt hơn để “Thanh tra đặc biệt” của Chính phủ không phải về làm việc...
Bị cất chức Bộ trưởng trong gần... 40 năm
Tháng 3.1946, để đối phó với thù trong giặc ngoài, Hồ Chủ tịch
cùng Đảng ta đã chủ trương thành lập “Chính phủ liên hiệp kháng chiến” với sự
tham gia của nhiều lực lượng chính trị, đảng phái khác nhau... Một hôm, nhà thơ
họ Cù được Bác Hồ đến và bảo:
- Từ ngày mai chú thôi làm Bộ trưởng nhé.
Huy Cận không chút thắc mắc, lễ phép nói ngay:
- Thưa Bác, nếu Bác và Cách mạng bảo làm gì, thì cháu xin làm
nấy.
- Không, chú vẫn công tác ở Bộ Canh nông, chỉ không làm Bộ
trưởng nữa. Nhưng mọi việc chú vẫn làm hết. Chỉ nhớ là khi nào cần ký, thì chú
đưa cho ông Bồ Xuân Luật (một nhà yêu nước, người của Cách mạng Đồng minh Hội)
ký. Ông ấy được mời làm Bộ trưởng để ký thay cho chú...
Từ đó, Huy Cận làm Thứ trưởng cho đến gần... 40 năm sau và trải
qua công việc của 5 Bộ: Canh nông, Kinh tế Văn hoá và Văn phòng Hội đồng Chính
phủ...
Riêng ở Bộ Canh nông, tính ra Thứ trưởng Cù Huy Cận đã lần lượt
“giúp việc” cho 4 đời Bộ trưởng: Bồ Xuân Luật, Huỳnh Thiện Lộc, Ngô Tấn Nhơn và
Nghiêm Xuân Yêm.
Tháng 9.1947, Cù Huy Cận được điều về tăng cường cho Bộ Kinh
tế. Hồi ấy, Bộ trưởng Bộ Kinh tế là ông Phan Anh. Huy Cận được bổ nhiệm làm Thứ
trưởng phụ trách về sản xuất, còn Thứ trưởng phụ trách Thương mại là ông Bùi
Công Trùng. Công việc cụ thể của Thứ trưởng Cù Huy Cận là lo đôn đốc sản xuất
những thứ để kịp thời phục vụ kháng chiến: Vận động nông dân trồng dâu nuôi tằm
để lấy cái mặc; cố gắng sản xuất gang để sản xuất vũ khí cho bộ đội.
Riêng về chuyện sản xuất gang, vị Thứ trưởng - Nhà thơ đã cho
mời một người tên là Vũ Quý Huân, Việt kiều ở Pháp về để làm cố vấn tổ chức cho
xây dựng cả một lò luyện gang ở Nghệ An... Nhưng hì hụi nấu quặng mãi mà vẫn
không ra được gang, cuối cùng đành phải chuyển phương án tận dụng sắt vụn để nấu
lại..
Sau kế hoạch luyện gang Thứ trưởng Huy Cận còn ủng hộ việc sản
xuất acide sunfuric ở Chu Lễ (Hà tĩnh) và lãnh đạo việc chuẩn bị tổ chức thăm
dò khảo sát nguyên khoáng sản cho đất nước sau này.
Cuối năm 1949, một lần nữa nhà thơ của chúng ta “chuyển nghề”:
Ông được điều động về Văn phòng Chính phủ làm Thứ trưởng Tổng thư ký Hội đồng
Chính phủ (tương tự như Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ hiện nay) cho đến năm
1955. Nhưng chuyện về “thâm niên” làm Thứ trưởng của nhà thơ họ Cù thì phải đợi
đến năm 1956, khi ông được điều về Bộ Văn hoá. Tại đây, Huy Cận đã đảm nhiệm chức
Thử trưởng Bộ Văn hoá liên tục cho tới năm 1978. Nghĩa là ông giữ trọng trách
này bền bỉ trong suốt... 22 năm! Đó là một “kỷ lục” mà sau này rất khó có ai vượt
qua nổi.
Chưa hết. khi đến tuổi 65, nhà thơ Huy Cận còn được Hội đồng
Nhà nước cử làm Bộ trưởng Đặc trách Văn hoá - Nghệ thuật trong 3 năm (1984 -
1987). Như vậy, trong cuộc đời hành chính của mình, Huy Cận đã có hai lần làm Bộ
trưởng. Đó cũng chính là quãng thời gian khởi đầu và kết thúc “sự nghiệp quan
chức” của ông. Nhà thơ Huy Cận nói rằng: Ông quan niệm chức vụ Bộ trưởng hay Thứ
trưởng chỉ đơn giản là “trách nhiệm xã hội”, vì trước hết mình phải là một Con
Người, sống và làm việc cho tốt... Bây giờ, rất ít người còn nhắc đến chức danh
Bộ trưởng của Huy Cận, nhưng danh hiệu cao quý Nhà thơ của ông thì còn mãi với
đời!
Mùa xuân năm con Ngựa này, nhà thơ họ Cù đáng kính của chúng
ta đã bước sang tuổi 83. Dù bước đi của ông đã chậm, đôi tai nghe có kém hơn
trước, nhưng trí nhớ và sự minh mẫn của nhà thơ lão thành này vẫn thật đáng nể.
Vốn tính xởi lởi, ngồi nói chuyện với nhau, thỉnh thoảng Huy Cận lại ghé sát
vào tai tôi bảo: “Khoe riêng với anh nhé, tôi vẫn làm thơ rất đều và hay. Sướng
thật!”. Rồi ông bật cười rất tự nhiên và thoải mái.
Tiếng cười của Huy Cận vẫn hào sảng như mỗi lần ông lên đọc
thơ và công chúng đang vỗ tay nồng nhiệt chào đón ông...
Hà nội tháng 2.2002
Đặng Vương Hưng
Nguyễn Trọng Tạo
Vĩnh biệt nhà thơ Huy Cận: Giữa sầu đau và bi tráng, thanh
cao và hương thơm
21-02-2005
Nhà thơ Huy Cận tên thật Cù Huy Cận, sinh ngày 31-5-1919 tại
xã Ân Phú, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh.
Trước Cách mạng Tháng Tám, Huy Cận đã theo học hết bậc tú tài
ở Huế, tốt nghiệp Cao đẳng Nông Lâm... Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường,
ông đã tham gia hoạt động văn học. Năm 1936, Huy Cận có viết trên Tràng An,
Sông Hương (bút danh Hán Quỳ), năm 1938 đăng thơ ở Ngày nay. Năm 1940, xuất bản
tập Lửa thiêng được thi đàn đánh giá là người đã đem một phong cách thơ, một hồn
thơ mới lạ, đánh dấu bước trưởng thành quan trọng trong sự nghiệp thơ của Huy Cận.
Từ tháng 7-1945 đến tháng 9-1984, nhà thơ Huy Cận giữ nhiều
chức vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước. Ông trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt
Nam vào năm 1957.
Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về
văn học nghệ thuật cho các tác phẩm thơ: Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa,
Bài thơ cuộc đời, Hai bàn tay em, Cô gái Mèo, Chiến trường gần đến chiến trường
xa, Ngày hằng sống, ngày hằng thơ, Ngôi nhà giữa nắng, Hạt lại gieo.
Ông qua đời tại thủ đô Hà Nội, lúc 20 giờ 53 phút ngày
19-2-2005 (11 tháng giêng năm Ất Dậu), thọ 86 tuổi.
Gần 20 tập thơ đã được xuất bản, dù có tập có bài rơi rụng
theo thời gian, nhưng những gì còn lại của thơ ông cũng đủ để làm nên một ngọn
Thi Sơn Huy Cận thật đáng trân trọng
Vào năm cuối cùng của thế kỷ XX, trong một cuộc trò chuyện về
thơ, tôi có nói với nhà thơ Huy Cận rằng, nếu chọn tốp ten các nhà thơ Việt Nam
thế kỷ thì nhất định phải có tên ông, và nếu chỉ chọn thất tinh thi sĩ (7 ngôi
sao) thì vẫn có Huy Cận.
Ông không lấy làm ngạc nhiên về nhận xét của tôi, mà còn tươi
cười nói thêm: “Nếu rút lại 5, ngũ hổ thơ ca chắc vẫn không loại Huy Cận ra
ngoài được đâu!” Ông quả là một nhà thơ đầy tự tin về tài năng thơ ca của chính
mình.
Huy Cận xuất hiện trên thi đàn Thơ Mới cuối những năm ba
mươi, khi đang là sinh viên của Trường Cao đẳng Nông Lâm và làm xôn xao làng
thơ bằng tập thơ đầu tay Lửa thiêng in năm 1940. Hai năm sau, ông xuất bản liên
tiếp tập thơ Vũ trụ ca và tập văn xuôi Kinh cầu tự, khẳng định tài năng văn
chương khi vừa bước qua tuổi 20. Vừa đi học, vừa làm thơ, vừa bí mật hoạt động
cách mạng đến tháng 7-1945, ông được tham dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào và được
bầu vào Ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc (sau mở rộng thành Chính phủ lâm thời
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà) và cùng Trần Huy Liệu vào Huế nhận ấn kiếm của
Bảo Đại, chấp nhận sự thoái vị của ông vua cuối cùng triều Nguyễn. Có thể nói,
Huy Cận là nhà thơ đầu tiên giữ chức bộ trưởng trong chính phủ mới (Bộ Canh
Nông). Từ đó ông luôn là một quan chức cao cấp với nhiều chức danh khác nhau:
Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Thứ trưởng Tổng Thư ký Hội đồng
Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Bộ trưởng đặc trách văn hoá - thông tin tại
Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học
nghệ thuật Việt Nam.
Từ hồi ông về làm việc hẳn ở Ủy ban Trung ương LHVHNTVN 51 Trần
Hưng Đạo, thỉnh thoảng tôi được gặp ông. Ông sống thật giản dị, chuyên mặc bộ
vét tông cũ, và buổi trưa thường ăn bánh mì, cơm nắm muối vừng hoặc bún lá đậu
phụ mắm tôm của mấy bà hàng rong ghé cổng cơ quan. Nhưng khi trò chuyện thì ông
rất vui. Ông bảo ông sống khỏe và đầu óc luôn minh mẫn vì ông có bí quyết giữ vệ
sinh tinh thần, chuyên nghĩ những điều tốt. Câu chuyện của ông thường quay về
những vấn đề văn hoá và thơ ca, và phải nói là ông rất am hiểu các nền văn hoá
đông tây kim cổ. Đến các địa phương, ông thường nhắc nhở các vị lãnh đạo phải
quan tâm tới lực lượng văn nghệ sĩ thiết thực hơn nữa, vì văn nghệ sĩ là những
người làm ra sản phẩm tinh thần cao cấp cho xã hội.
Đọc được một bài thơ hay của lớp trẻ trên báo, ông không tiếc
lời khen. Có lần, ông thích bài Có một nhà thơ tên là Trịnh Công Sơn tôi viết về
tài năng thi ca của nhạc sĩ họ Trịnh, thế là lần nào gặp tôi, ông cũng nói một
câu đầy cảm động: “Cảm ơn Trọng Tạo đã cho Huy Cận biết Trịnh Công Sơn là một
nhà thơ”. Tôi đùa ông: “Em đã nghe anh “cảm ơn” mấy lần rồi mà!” Ông cười: “Khi
mình đã thích thì cảm ơn bao lần cũng không thừa đâu”. Có hôm Huy Cận ghé vào
phòng làm việc của tôi và đưa ra một ý kiến khá bất ngờ, ông nói rằng ông muốn
đề nghị đuổi hai từ “thông cảm” ra khỏi từ điển tiếng Việt. Chả là khi đó người
ta đang xử một vụ án lớn tham ô tham nhũng thất thoát hàng nghìn tỉ đồng và phạm
nhân muốn được... thông cảm về trình độ quản lý non kém của họ. Sau ý nghĩ đó,
ông lại nói thật vui: “Chỉ tội ăn cắp sách hay là có thể tha thứ được”.
Một con người giản dị mộc mạc như thế lại là một thi sĩ mang
tư duy vũ trụ với một ngôn ngữ cao sang, chắt lọc hiếm thấy ở đời. Người Việt
Nam không mấy ai không thuộc những bài thơ thật hay của ông như Tràng giang, Đường
thơm, Các vị La Hán chùa Tây Phương... Thơ ông có sầu đau và bi tráng, có thanh
cao và hương thơm, có phận kiếp và cảm quan vũ trụ. Gần 20 tập thơ đã được xuất
bản, dù có tập có bài rơi rụng theo thời gian, nhưng những gì còn lại của thơ
ông cũng đủ để làm nên một ngọn Thi Sơn Huy Cận thật đáng trận trọng.
Nguyễn Trọng Tạo
Trần Mạnh Hảo
Huy Cận - Lửa vẫn còn thiêng
Trần Mạnh Hảo
Từ độ Nguyễn Du lục bát hoá đời Kiều để ngự trên ngôi báu thi
ca, chừng như long mạch thơ nước Việt đã mấy lần rót về Hà Tĩnh, khơi nguồn cho
những dòng thơ lớn khác xuất hiện: Nguyễn Công Trứ, Xuân Diệu và Huy Cận. Sau
tám năm từ độ ra đời, Thơ Mới (1932-1945) đang cuồn cuộn chảy như một dòng sông
lắm ghềnh nhiều thác, lúc ẩn, lúc hiện, chợt bùng lên rồi lắng lại sững sờ, như
ngẩn ngơ, như luyến tiếc cội nguồn? Kể cũng lạ, khi dòng Thơ Mới cuộn chảy, gầm
reo tới cao trào với Xuân Diệu thì cũng là lúc nó chợt phình ra giống một cái hồ
cho mưa nguồn chớp bể trong hồn sông nước được nghỉ ngơi, trầm lắng, ưu tư mà
hoài cổ. Khúc sông giống hồ nước của dòng Thơ Mới ấy chính là Huy Cận với tập Lửa
thiêng gồm 50 bài thơ ra mắt năm 1940. Nếu không có khúc sông hoá hồ nước Huy Cận
giúp Thơ Mới có cơ hội lắng xuống, thảnh thơi và điềm tĩnh, chùng chình và mênh
mông lại, biết đâu nó đã chẳng chảy tuột vào bể thẳm Tây phương? Chừng như hình
thức complet, cravate của Phương Tây Huy Cận khoác lên người không mang nổi hồn
vía Đông phương u uẩn, thẳm vời trong ông? Sau khi nhà thơ từng thổn thức nỗi
Verlaine, cái hồn ấy phiêu du ông về vạn cổ, kéo ông lạc vào Lý Bạch, Bạch Cư Dị,
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... ngay giữa lòng thế kỷ 20 ồn ào phố xá... Thành ra,
trong dòng thơ mới sục sôi với tầng tầng lớp lớp thi nhân, Huy Cận tuy không
khăn đóng áo the như Đông Hồ, không nâu sồng dân dã như Nguyễn Bính, nhưng hồn
ông đã ràng buộc với thất ngôn và lục bát xưa. Ông hoá nỗi buồn xưa mà lênh
đênh nguồn cội, một mình bơ vơ ngay giữa “Hội trùng dương” Thơ Mới, bơ vơ ngay
giữa hồn mình. Có thể nói, Huy Cận cô đơn ngay cả trong niềm nồng cháy ban đầu
Xuân Diệu. Vì sao một gã trai mười chín đôi mươi lại có một tâm hồn nghìn tuổi,
một niềm thơ vạn cổ rất tân thời như Lửa thiêng?
Ta bắt gặp trong Lửa thiêng một Huy Cận buổi “Tựu trường-Thơ
Mới”, tuy không mê đắm đến điên cuồng “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” như
Xuân Diệu, nhưng cũng rất tinh khôi niềm yêu đời, một niềm cách tân cả ý tưởng
đến hồn vía: “Tủ mới đánh và lòng trai thơm ngát” (Tựu trường). Chiếc tủ-hình-thức-Tây
phương vừa đánh verni, tưởng chỉ có thể treo những bộ áo quần tân thời ý tưởng
như câu thơ rất Tây trong bài Tình tự: “Sáng hôm nay hồn em như tủ áo / Ý trong
veo là lượt xếp từng đôi”. Huy Cận đi giữa tủ, rương như đi giữa những thời đại
bảo tàng, những thời đại ngọc ngà dễ vỡ, tưởng chừng ông toan biến đời mình
thành chiếc rương cất giữ vẻ tân kỳ hôm nay: “Rương nho nhỏ với linh hồn bằng
ngọc” (Tựu trường). Một cậu trai thuần khiết “Quần áo trắng đẹp như lòng mới mẻ”
thuở ấy ai ngờ lại có thể viết được những câu thơ rất mới, rất Tây: “Anh hãy bận
hồn em màu sáng chói” (Tình tự)... “Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng” (Đi
giữa đường thơm)... hoặc “Bắt gặp mùa tươi lên rún rẩy” (Xuân)... Huy Cận chìa
câu thơ thất ngôn truyền thống ra như chìa bàn tay mình để bắt tay ngọn gió mới
Tây phương, bằng cách đột ngột gieo một liên từ làm vần cuối câu thơ thứ hai,
khiến câu thơ vừa đứt, vừa nối, vừa chênh vênh, hụt hẫng lại vừa an nhiên, tự tại:
“Khi bóng hoàng hôn phủ núi xa / Khi niềm tư tưởng vướng chân, và... (Em về
nhà). Ta còn có thể bắt gặp trong Lửa thiêng nhiều vẻ đẹp Tây phương mới lạ của
Huy Cận, nhất là trong 15 bài thơ 8 chữ khá phóng túng của ông như bài Trò chuyện:
“Phố không cây thôi sầu biết bao chừng”, “Buồn vạn lớp trên mái nhà dợn sóng”,
“Chiều hiu hiu khêu gợi nhớ nhung hờ”, “Hồn bơ vơ không biết tựa vào đâu / Mây
không bay thương nhớ cũng không màu / Nắng không xế và lòng sầu mất hướng”...
Huy Cận thậm chí Tây không kém gì Xuân Diệu với nỗi sầu, nỗi chết ban đầu với tận
cùng cảm giác kiểu “Tay bồng thân, và tay nữa ôm mồ” (Trình bày)... “Chiều mồ
côi, đời rét mướt ngoài đường”... “Xương cọ vào xương bớt nỗi hàn” (Ngủ
chung)... hoặc “Ôi chiều buồn sao nắng quá mong manh” (Nhạc sầu). Ta có một Huy
Cận hướng ngoại tới tận trời tượng trưng Verlaine cả trong buồn, vui, sống, chết,
trong thế giới khả giác lúc nào như cũng muốn nổi da gà. Có khi, Huy Cận thử
tìm tới tất cả, thử vồ vập tất cả nhưng vì sao ông chưa thoả nỗi rưng rưng, dù
khi ông viết về tình yêu thời đi học với những câu thơ hay đến kinh ngạc: “Một
hôm trận gió tình yêu lại / Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ” (Học sinh). “Trận
gió tình yêu” mới mẻ phương Tây rất nồng nhiệt kia đã thổi bay đi tất cả niềm
vui mong manh chớm hé. Chỉ còn lại nhà thơ “Đứng ngẩn trông vời...” hiện tại,
dù hiện tại kia, tình yêu kia kỳ diệu tới mức, lãng mạn tới mức thần tiên: “Em
lùa gió biếc vào trong tóc / Thổi lại phòng anh cả núi non”(Áo trắng). Nhờ
“Em”, nhờ ngọn gió tóc kia mà căn phòng anh được nới rộng ra cả đất trời? Hay
chính là “Em” đã nhốt núi non, nhốt cái sừng sững cao vời vào căn phòng thi ca
anh để vô hạn hoá cái hữu hạn? Niềm vui tình đầu Huy Cận đẹp thế, hay thế nhưng
chỉ là gió thổi qua, chỉ là thoáng chốc. Trong thơ, Huy Cận cần một cách giải
thoát khác Xuân Diệu.
Huy Cận đi từ “ngẩn” tới “vời”: “Đứng ngẩn trông vời..., đi từ
tha nhân đến bản thân mình, từ niềm vui đến nỗi cô đơn, như chiếc thuyền trong
bài Mưa sau: “Lòng êm như chiếc thuyền trên bến / Nghe rét thu về hạ bớt mui”.
Câu thơ này mới đích thực thần thái Huy Cận; nó hay một cách hoang vắng, se se,
tồi tội, khẽ khàng, hiu hắt. Tâm hồn Huy Cận là chiếc thuyền miền sơn cước thi
ca, lặng lẽ “hạ bớt mui” khi rét thu về, lặng lẽ rút vào tranh thuỷ mặc xa xưa
mà u tịch. Nếu Xuân Diệu nhảy bổ vào tình yêu như nai kia khát nước nhảy bổ vào
nguồn suối, lăn xả vào đời sống con người mà choàng ôm tất cả, mà mê cuồng, say
đắm tất cả thì Huy Cận ngược lại, cứ một mình thui thủi tìm về nơi hoang vắng,
tránh xa nơi phồn hoa đô hội. Huy Cận tĩnh bên một Xuân Diệu động. Huy Cận xưa
bên một Xuân Diệu nay. Huy Cận buồn bên một Xuân Diệu vui, dù cả hai đều “Hai
chàng thi sĩ choáng hơi men” (Tình trai -X.D.). Những bài thơ hay nhất trong Lửa
thiêng là những bài Huy Cận thu hồn về ở ẩn trong một thiên nhiên hoang vắng,
thẫn thờ, như thể ông đã bị cuộc đời dồn đến trước lầu “Ngưng Bích”, cùng Thuý
Kiều lẫn vào “Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung” (Kiều). Trong 50 bài Lửa thiêng,
chỉ có 8 bài thơ lục bát: Buồn đêm mưa, Trông lên, Chiều xưa, Đẹp xưa, Thuyền
đi, Xuân ý, Thu rừng và Ngậm ngùi. Nhưng nếu không có 8 bài thơ lục bát này, Lửa
thiêng dù có nhiều bài thất ngôn hay ví như Tràng giang thì cũng chưa thể làm
nên một Huy Cận vượt thời gian như đã có. Nguyễn Du đại thiên tài lục bát, đã
đưa nhịp sáu tám Việt Nam lên tới đỉnh mây trời nhân loại. Nguyễn Du từng ít
nhiều ảnh hưởng lục bát ca dao, ảnh hưởng lục bát của Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia
Thiều để làm ra hàng nghìn câu thiên thu tuyệt diệu riêng mình. Thấm đẫm hồn
thơ cha ông, Huy Cận đã hiện đại hoá câu thơ sáu tám Việt Nam. Ông như người kế
thừa trung thành của phả hệ lục bát Nguyễn Du rồi phát triển nó về u tịch. Đọc
thơ lục bát Huy Cận, cơ hồ như hồn Nguyễn Du phảng phất đâu đây, như thể bút thần
xưa được hậu thế cầm lên viết tiếp, như bài Đẹp xưa:
Ngập ngừng mép núi quanh co
Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang...
Vi vu gió hút nẻo vàng
Một trời thu rộng mấy hàng mây nao
Dừng cương nghỉ ngựa non cao
Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon
Đi rồi khuất ngựa sau non
Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu
Trơ vơ buồn lọt quán chiều
Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người...
Câu thơ “Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang” trên của Huy Cận
làm ta nhớ đến “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia” của Tố Như xưa. Huy Cận lấy
hồn muôn năm trước mà hiện đại hoá câu thơ lục bát bây giờ, như gió xưa vàng đẫm
lá thu nay: “Vi vu gió hút nẻo vàng”. Ngọn gió Huy Cận mặc áo vàng nghìn thu mà
hun hút, mà nghiêng nghiêng mái chữ, mái-hiên-người, cũng là mái thơ: “Mái
nghiêng nghiêng gởi buồn theo hút người”. Cũng như bài Đẹp xưa, bài lục bát Buồn
đêm mưa và bài Chiều xưa hay đến từng câu từng chữ. Cái buồn Huy Cận nơi đây đẹp
đến rụng rời, đẹp đến ngơ ngác, hoang vu. Viết về nỗi bơ vơ kiếp người, về nỗi
buồn bản thể, nỗi buồn xa vắng, mù tăm tưởng không ai bằng Huy Cận: “... Lòng
run thêm lạnh nỗi hàn bao la / Tai nương nước giọt mái nhà / Nghe trời nặng nặng,
nghe ta buồn buồn” (Buồn đêm mưa). Tưởng chừng Huy Cận phải đội trên đầu cả vòm
“trời nặng nặng” mà nghe “ta buồn buồn”, rồi thơ thẩn đi hết cõi “Lửa thiêng”,
để nghe trọn vẹn trong hư không: “Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi”, “Trăm
muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ”. Huy Cận gom mình về thành quách xưa mà cô đơn một
thuở với trời đất; tuy ông vẫn để ngỏ các cửa thành cho gió ngàn năm bơ phờ cư
ngụ: “Gió về, lòng rộng không che”. Thổi hiu hiu, thổi u u trong lục bát Huy Cận
loài gió hạc vàng, gió tùng bách, gió khói sóng. Những hồn gió liêu trai từng
thổi qua Đường thi, Tống thi, thổi qua sao Khuê ở ẩn Nguyễn Trãi, qua vầng
trăng xẻ nửa Nguyễn Du mà thành bờ “lau thưa” Huy Cận:
Buồn veo theo gió bên hồ
Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa
Đồn xa quằn quại bóng cờ
Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về
Ngàn năm sực tỉnh, lê thê
Trên thành son nhạt - Chiều tê cúi đầu... (Chiều xưa)
Nhà ẩn sĩ của nỗi buồn xưa để tâm hồn mình trôi qua hai bờ lục
bát như bóng cờ kia quằn quại trôi qua đôi bờ trời chiều và “Thành son nhạt”,
càng trôi càng sững lại, càng phải vật vã với gió mà níu lấy hồn xưa ngơ ngẩn.
Phải chăng tinh thần của Lửa thiêng là tinh thần của lá cờ quá vãng ăn toàn gió
xưa mà tồn tại, mà nghi ngút khói mây: “Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về”? Huy
Cận mang hồn Nguyễn Du để làm nên giọng điệu lục bát rất riêng, rất mới của
mình như bài Thu rừng sau đây:
... Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về
Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi lá rụng cành nghe lạnh lùng...
Hai cặp lục bát trên đều đi nhịp đôi khe khẽ, rón rén, thi
thoảng, theo kiểu cứ một bước sương lại một bước khói, như trời thu theo nai xuống
núi, theo “chim đi” vì không nỡ bay sợ làm động vỡ hồn thu. Huy Cận mượn bút vẽ
Tề Bạch Thạch mà vẽ bức thuỷ mặc lục bát Thu rừng có một không hai. Chỉ thấy
nai, thấy chim, thấy sắc trời, thấy lá rụng, tuyệt nhiên không thấy người đâu,
mà không đâu không ám ảnh hồn người. Cảm giác, ấn tượng của những câu thơ trên
mạnh tới nỗi rùng mình, người đọc chợt được hoà tan vào từng câu chữ, khiến bài
thơ như chợt vượt ra ngoài trang giấy mà hoá vô biên thu, hoá vô tận rừng, hoá
mênh mông hồn thu Huy Cận. Nói đến lục bát Huy Cận, không thể không nhắc tới Ngậm
ngùi. Bài Ngậm ngùi tuy không tuyệt bích như các bài Thu rừng, Đẹp xưa, Buồn
xưa, Buồn đêm mưa, nhưng nó mang yếu tố mới của thơ tình, trước đó thơ ta chưa
có chuyện người đàn ông “hầu quạt” ru người con gái ngủ. Bài thơ mang được phẩm
chất sầu mộng của thời đại, được phổ nhạc thành bài hát rất hay, rất quen thuộc
nên người ta dễ nhớ hơn những vần lục bát thần diệu trên. Thơ thất ngôn Huy Cận
đạt tới tuyệt đỉnh với Tràng giang, với nỗi buồn hoài cổ tầng tầng lớp lớp
sóng, lớp lớp mây tâm trạng, như thể nhà thơ đã kéo dài mạch chảy của những
dòng sông thi ca Vương Bột, Thôi Hiệu..., những dòng sông thi ca “Trông vời trời
nước mênh mang” Nguyễn Du xưa mà trải hồn mình ra nghìn dặm xưa sau. Huy Cận là
nỗi buồn tiếp nối ông cha: “Vạn lý sầu lên núi tiếp mây”, như thể ngàn xưa còn
vọng mãi nỗi niềm rơm rớm nắng mưa nay: “Nắng đã xế về bên xứ bạn / Chiều mưa
trên bãi nước sông đầy”(Vạn lý tình). Hãy đọc thất ngôn Huy Cận lên để nghe
không gian chùng xuống đến tận cùng dây tơ thời gian: “Ôi! nắng vàng sao mà nhớ
nhung / Có ai đàn lẻ để tơ chùng?” (Nhớ hờ).
Huy Cận với Lửa thiêng còn ở bên trời “đàn lẻ”, là nỗi buồn
xưa, hồn xưa lưu lạc tới hôm nay vẻ hiu hắt, ngậm ngùi kiếp người. Ông mang đến
cho thi đàn một nỗi buồn đẹp như quê hương, như nước mắt trời xanh. Hình như sự
vĩnh cửu từng níu lấy áo Huy Cận mà kéo ông về bất tử thi ca ngay từ thuở vừa
ngoài tuổi đôi mươi. Lửa thiêng có lẽ là tập thơ toàn bích nhất trong các tập
thơ ra đời từ 1932-1945 trong phong trào Thơ Mới? Cây cổ thụ Huy Cận sẽ còn
xanh tươi mãi trong vườn thơ dân tộc như câu thơ ông từng viết trong bài Hoạ điệu:
“Cây không đi mà tình cũng nghiêng nghiêng”.
Bình luận 2
Phạm Minh Ngọc
Nguồn: Báo An ninh thế giới cuối tháng, số 43, tháng 2-2005
Kỷ niệm Cách mạng mùa thu
Nhà thơ Huy Cận: Lúc vào Đại hội Tân Trào, anh Trần Huy Liệu
giới thiệu tôi vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng. Tôi nhớ là hôm đó bầu 15 người. Đến
lượt tôi, anh Trần Huy Liệu giới thiệu: “Nhà thơ Huy Cận, bây giờ đã “bỏ bút
nghiên theo việc đao cung”, xin Đại hội bầu vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng”. Bỗng
nhiên, ở hàng đầu có một ông dáng cao cao đứng lên nói: “Tôi không đồng ý!”.
Tôi chột dạ, chắc ông này không muốn bầu mình vào Uỷ ban. Anh Trần Huy Liệu mới
hỏi tại sao, thì ông phản đối mới nói thế này: “Tôi không đồng tình với việc
“bó bút nghiên theo việc đao cung”; bầu nhà thơ Huy Cận nổi tiếng vào Uỷ ban
thì tôi đồng tình, nhưng mà bỏ bút nghiên là không đúng. Bút nghiên cũng là vũ
khí đấu tranh cho độc lập dân tộc”.
Người ấy là ai? Người ấy là đồng chí Tống, bí danh của đồng
chí Phạm Văn Đồng. Cả ông Liệu và tôi thở phào một cái... Ở Đại hội Tân Trào có
hai người làm thư ký đoàn là anh Khuất Duy Tiến và tôi... Đây này, đây là ảnh của
Chính phủ lâm thời năm 1945! Cụ Hồ đây; còn đây là ông Trần Huy Liệu, Phó chủ tịch;
ông Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng Bộ Giáo dục quốc gia, ông Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng
Bộ Nội vụ; ông Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Bộ Tài chính ông Nguyễn Mạnh Hà, Bộ trưởng
Bộ Kinh tế quốc gia; ông Hoàng Tích Chí, Thứ trưởng Bộ Y tế ông Hoàng Minh
Giám, Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ; ông Vũ Trọng Khánh, Bộ trường Bộ Tư pháp;
còn đây nữa, ông Cù Huy Cận, Bộ trưởng Bộ Canh nông (cười). Còn đây là ảnh
Chính phủ trong kháng chiến ở Việt Bắc, Cụ Hồ đây, tôi được ngồi cạnh Cụ Hồ.
Hôm đó, tôi đang tìm chỗ đứng thì Cụ bảo: “Chú ngồi đây”. Thế là Cụ Hồ ngồi đây
và tôi ngồi đây. Lúc ấy, tôi 30 tuổi, năm 1949... Còn đây là hình Huy Cận năm Lửa
thiêng ra đời, cũng khá đẹp trai đấy chứ (cười).
Phóng viên: Năm 1945, 26 tuổi, ông là Bộ trưởng Bộ Canh nông.
Trên cương vị ấy, ông có làm được gì không?
Huy Cận: Trời ơi, rất có công! Anh nói như vậy là anh nghi ngờ
thành tích của Bộ Canh nông hả? (cười). Được rồi, để tôi nói cho mà nghe. Tôi
làm Bộ trưởng Bộ Canh nông từ tháng 9-1945 cho đến hết tháng 3-1946, khi thành
lập Chính phú Liên hiệp kháng chiến thì tôi không làm Bộ trường nữa và Cụ Hồ
giao cho ông Bồ Xuân Luật làm Bộ trưởng. Nhưng tôi không đi đâu cả Cụ Hồ bảo:
“Chú cứ ở đấy nhưng mà chú làm Thứ trưởng, và bây giờ mọi việc chủ cứ làm như
trước, chi có việc ký là người khác”. Sau trận đói Ất Dậu, đen lúc bấy giờ vẫn
đói, nhiệm vụ của Bộ Canh nông rất cụ thể là tăng gia sản xuất gấp để cứu đói
Tôi lúc đó được các anh em giúp việc như Hoàng Văn Đức, Bùi Huy Đáp... Chương
trình của Bộ Canh nông là phải tăng gia sán xuất cứu đói bằng cách sán xuất những
thứ ăn ngay, ăn nhanh như ngô 3 tháng, lúa 3 tháng, trồng rau, rau muống trồng
khắp nơi, rồi nuôi gà, nuôi vịt,... Thế nhưng lấy vốn đâu, lấy gì ra để đầu tư.
Thì đây có một nguồn đầu tư rất lớn là sức lao động đông đảo của bà con nông
dân. Và những biện pháp mà Bộ Canh nông đưa ra đã có kết quả ngay: trên đường
đi chỗ nào cũng thấy trồng rau. Thế là công tác cứu đói có kết quả ngay, cái
thành tích lớn là như thế. Đồng thời, thành tích thứ hai là xây dựng cơ sở cho
bộ máy canh nông, từ Bộ, rồi Cục, Viện nghiên cứu, Sở Canh nông ở các tỉnh...
Việc tổ chức bộ máy rất nhanh và anh em làm việc tích cực lắm. Tôi xin nói với
các anh một câu mà thường thường người ta hay quên, đó là “thần thiêng nhờ bộ hạ”.
Tôi là Bộ trưởng, tất nhiên tôi cũng là một kỹ sư canh nông, nhưng nhờ có anh
em đoàn kết chung sức với mình, Hoàng Văn Đức rất có công, Bùi Huy Đáp rất có
công. Phải biết là trong Cách mạng Tháng Tám, Nông hội có uy tín rất lớn. Nhân
đây, tôi cũng xin nói với các anh rằng, Cách mạng Tháng Tám là do nông dân làm
nên là chủ yếu. Nông hội hồi đó có uy tín lắm, gần như là chính quyền thứ hai rồi...
Phóng viên: Khi ông còn rất trẻ, ông làm Bộ trưởng thì nói
chung là rất khó khăn rồi, vì khi ta trẻ ta đã có kinh nghiệm gì đâu...
Huy Cận: Cứ làm thì nó ra kinh nghiệm. Các anh không biết cái
câu nổi tiếng à: “Làm thì ra kinh nghiệm”!
Phóng viên: Thế việc ông làm Bộ trưởng so với sau này khi ông
đã lớn tuổi làm Thứ trưởng thì...
Huy Cận: Khoan, khoan!... Nhà nước, cụ thể là Đáng và Bác Hồ
giao gì thì tôi làm nấy, không có băn khoăn thắc mắc là tại sao lại hạ chức...
Phóng viên: Không, ý chúng tôi muốn hói là, khi nào ông cảm
thấy khó khăn hơn?
Huy Cận: Tôi nói cho các ông nghe nhé, khi ấy tôi mới 26 tuổi,
cũng mới ra trường được vài năm thôi, đã làm Bộ trưởng, mà tôi làm được. Cái ấy
là nhờ anh em, nhưng mà trên hết là được sự dìu dắt của Bác Hồ, của Đảng... Hai
nữa, không biết là tôi khoe hay cái gì nữa, nhưng có một cái mẫn cán như thế
nào đó công việc nặng mình cảm thấy mình cũng nắm được, và bởi vì mình có ý thức
về chính trị, mình có ý thức về văn hoá, thành thử mình dễ nắm. Và, quan trọng
nhất là dựa vào anh em, “thần thiêng nhờ bộ hạ” mà (cười).
Tình thơ sóng đôi
Phóng viên: Ông với nhà thơ Xuân Diệu gặp nhau như thế nào?
Huy Cận: Tôi với Xuân Diệu gặp nhau lần đầu tiên ở Trường Quốc
học Huế tháng 9-1936. Lúc bấy giờ, đấy mới chỉ là trường tú tài ở Huế, gọi là
Trường Khải Định. Những người học sinh quê ở Trung Kỳ thường về học năm thứ 3 ở
Huế. Anh Diệu đậu phần tú tài thứ nhất ở Hà Nội, ở Trường Bưởi, nhưng đến năm
thứ ba, không chi mình anh Diệu mà còn một số người nữa cũng về học ở Trường Khải
Định. Lúc bấy giờ, tôi mới vào năm thứ nhất của trường tú tài, còn anh Diệu đã
năm thứ 3. Gặp nhau thì có một người giới thiệu, bảo: Ồ hai ông Hà Tĩnh mà đều
làm thơ cả! Đọc thơ thì thích, nên có thể nói là kết nghĩa ngay lập tức, từ đó
trở đi thành đôi bạn suốt đời 50 năm, kết bạn từ năm 193e, cho đến lúc anh Diệu
qua đời tình bạn chúng tôi đã có với nhau hơn 49 năm, 49 năm mấy tháng, có thể
nói là nửa thế kỷ tình bạn.
Phóng viên: Trong tập Thơ thơ Xuân Diệu có viết là “Tôi thích
Rimbaud và Verlaine. Hai chàng thi sĩ choáng hơi men. Say thơ xa lạ, mê tình bạn,
Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen....
Huy Cận: Viết trước khi gặp tôi. Đó là ông nghĩ đến cái tình
giữa Verlaine và Rimbaud thôi, chứ không phải viết là do tôi và Xuân Diệu gặp
nhau.
Phóng viên: Cả ông và nhà thơ Xuân Diệu hồi trẻ đều uống rượu
chứ!
Huy Cận: Anh Diệu có uống rượu nhưng không uống nhiều, chỉ
thưởng thức rượu. Còn tôi thì tuyệt đối từ trước đến nay không bao giờ uống rượu.
Từ hồi đi học, rồi tới tuổi thanh niên và cho đến mãi sau này, ngay cả khi đi
hoạt động quốc tế, hễ ai mời uống rượu thì tôi cũng nói rất thăng thắn là tôi
không biết uống rượu. Tôi không uống rượu, không hút thuốc lá, nhờ thế mà khóe
đấy Một số nhà thơ bị ung thư, mất sớm là do uống rượu nhiều quá đấy...
Ký ức tình yêu
Phóng viên: Hồi trẻ ông đẹp trai như thế này, thì nhiều cô mê
lắm...
Huy Cận: Cũng có đẹp trai. Tôi nói thế này, tình yêu của tôi
cũng như tình yêu của nhiều người, không có cái gì đặc biệt. Có những tình yêu
lâu dài, dai dẳng cho đến tận sau này, cũng có những tình yêu ngắn ngủi và cũng
có cả những tình yêu không thành, chứ không có gì đặc biệt. Anh cũng thế, ai
cũng thế thôi, có những tình yêu không thành, mình muốn mà không thành, có những
tình yêu thì thành nhưng mà ngắn ngủi, có những tình yêu dai dăng suốt đời...
Tôi cũng may là có được nhiều tình yêu, cho nên...
Phóng viên:... Làm được thơ?
Huy Cận: Tất nhiên, nhưng nó cũng chi là một nguồn thôi chứ
không phải là nguồn đuy nhất. Tình yêu đôi lứa không phải là nguồn thơ duy nhất.
Còn có tình yêu đất nước, tình yêu thiên nhiên... Nhưng tôi cũng có những cái
tình yêu hấp dẫn. Năm 1940, chưa ra tập “Lửa thiêng”, nhưng báo Ngày nay liên tục
đăng thơ tôi. Thế là tôi liên tiếp nhận được thư của một người không ký tên,
nhưng trời ơi! Thư viết hay lắm, mê lắm, xúc động lắm! Mà tôi tiếc là tập thư ấy
cháy mất trong kháng chiến, tôi để nó trong một cái hòm ở Hương Khê, nhà bị
cháy nên cháy luôn, tôi tiếc ngơ tiếc ngẩn. Cô này có trình độ văn hoá, có cả
trình độ văn học nữa, mà không ký tên. Có cái lạ là, tôi đi đến đâu thì thư đi
đến đấy Tôi đi nghi ở Đồ Sơn với Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, không biết lần
mò địa chỉ thế nào mà thư đến kịp gặp tôi ở Đồ Sơn. Tôi học Trường Canh nông chủ
yếu là ở Hà Nội, nhưng cũng có mấy tháng học ở Sài Gòn, thư cũng đến Sài Gòn. Lạ
quá! Cái cô này, cô theo dõi mình một cách kinh khủng. Thư viết xúc động lắm!
Phóng viên: Chả lẽ sau này lại không gặp được nhau nữa?
Huy Cận: Cứ để tôi nói cho các anh nghe. Cái người viết ấy chữ
không khác gì như chữ con trai, nhưng lời lại như lời con gái. Có một hôm, mùa
đông năm 1940, tôi sắp sửa xách xe đạp đi học (Trường Canh nông hồi ấy ở Bách
thảo, gần Lăng Bác Hồ bây giờ) thì có một cái bưu phẩm đến. Mình mở ra. Trời
ơi! Một cái áo trắng rất đẹp. Đằng sau cổ thêu một câu thơ của tôi: “Hồn nhớ
thương em dệt áo dâng anh”; câu ở trong bài Tình tự. Nhưng mà mình mở ra thì mặc
không vừa, dù mình chưa béo như bây giờ... Thì mình cũng chả trách vì đã bao giờ
người ta ôm mình đâu, mà mình cũng đã ôm người ta đâu mà biết vừa hay không (cười).
Thành ra áo thì rất đẹp nhưng phải gói lại cho vào hòm rồi lại xách xe đạp đi.
Hôm ấy trời rét nhưng mình cảm thấy ấm vô cùng. Sau đó mấy tuần, bấy giờ tôi ở
ngõ Tân Hưng, nay là ngõ Tức Mạc, anh em ở chung khoảng 10 người, thì có một cô
tự nhiên đến, mặc cái áo trắng rất đẹp, các ông ạ. Cái áo trắng bằng lụa Hà
Đông. Cô ấy nói chuyện với tất cả mọi người nhưng mà phân biệt đối xử đối với
tôi Thế thì mình cũng đủ thông minh và đủ linh tính, thôi, chắc người này viết
thư cho mình rồi. Cô ấy là sinh viên Đại học Y học sau tôi một lớp, thua tôi một
tuổi. Hết buổi nói chuyện, cô dắt xe đạp ra về, thì tự nhiên cái chân tôi đi
theo. Tôi xin nói là cái chân tôi đi theo chứ không phải là tôi đi theo (cười).
Ra đến cửa ngõ, tự nhiên cô ấy dừng lại. Lúc bấy giờ, cô nói như thế này: “Anh
có nhận đủ thư em không?”. Tôi bảo: “Có!”. Thế là cô lên xe cô ấy đi không kịp
nói câu gì nữa. Cách đó mấy hôm, tôi nhận được một cái thư viết như một chỉ thị:
“Chủ nhật tới, anh đến gặp em”. Thế là mình ngoan ngoãn nghe thôi. Hẹn 9 giờ, 9
giờ kém 10', mình đến đã thấy cô ấy cũng đứng ở trước Trường Thú y trên đường Bạch
Mai. Bây giờ gọi nhau thế nào? Tiếng Việt Nam tài lắm, mình định gọi em nhưng
mà chưa đủ tình cảm để gọi em, gọi nàng thì “Tự lực Văn đoàn” quá (cười) gọi cô
thì lại khách sáo. Không cô, không nàng, không em thì phải làm thế nào? Thế là
hỏi một câu không có chủ từ: “Đi đâu bây giờ?”. Nhưng cô rất chủ động: “Anh đi
theo em”. Thế là cô ấy lên xe đạp. Chỗ nào đường đông thì cô đi trước, mình lẽo
đẽo theo sau; chỗ nào đường hơi rộng thì đi song song. Từ đó đi vào Thanh Xuân,
trên đường vào Hà Đông thì dắt qua bờ ruộng đi vào một cái khóm cây, một cái rừng
nhỏ, có một cái nhà thờ họ đạo nhỏ. Nói chuyện với nhau trên trời dưới đất,
không đả động đến tình yêu. Gặp nhau lúc 9 giờ, đi đến nơi 10 giờ, từ 10 giờ đến
12 giờ không nói đến tình yêu. Trước khi đi, cô ấy có chuẩn bị bánh mỳ xúc xích
đi theo. Đến 12 giờ, thì chuông nhà thờ đổ. Tôi nghe chuông nhà thờ đổ, tôi
cũng xúc động đấy nhé, mà chuông chùa cũng thế! Lúc ấy cô ấy hỏi: “Anh có thuộc
bài hát Cinema không?”. Tôi bảo tôi có thuộc, để tôi hát cho cô nghe, cô ấy bảo
để em hát trước. Một bài hát rất hợp cánh với chúng ta, một cái bài hát trong
đó có một thôn nhỏ, một cái nhà thờ nhỏ, một buổi sớm mùa xuân. Cô ấy hát xong
thì khóc nức nở... (Huy Cận hát: “Tình yêu ơi, ta thấy mặt em trong một sáng
mùa xuân... Tình yêu ơi, ta được thấy mặt em và cá lòng phản bội của ta...).
Lúc bấy giờ thì tôi nói thật là chưa đủ tình cảm, thế nhưng người ta hát vì
mình, người ta xúc động vì mình! Tôi ôm cô ấy, xúc động, một hồi lâu. Rồi khi
cô ấy hết khóc thì lại nói chuyện trên trời dưới đất, không đả động đến tình
yêu, rất lạ! Trong một hoàn cảnh như thế, tôi nói anh em thanh niên bây giờ các
cậu không trong sáng bằng bọn tôi đâu. Chúng tôi lãng mạn nhưng rất trong sáng.
Bây giờ chỉ 5 phút các cậu giải quyết hết! (Cười). Bọn tôi ngồi cả buổi sáng, đến
6 giờ chiều về mà vẫn chỉ êm ru thế thôi!
Phóng viên: Nhưng lớp trẻ bây giờ không có được khu rừng nhỏ
với tiếng chuông nhà thờ như của ông. Bây giờ rừng nhỏ hết rồi toàn là đường sá
với nhà nghỉ thôi. Còn đâu được sự trong sáng lãng mạn nữa!
Huy Cận: Không đi ra giữa thiên nhiên, các cậu không hiểu hết
được sự kỳ vĩ của tình yêu đâu. Đã yêu nhau bao giờ cũng phải đi ra giữa thiên
nhiên, bởi vì chỉ có kích thước của vũ trụ mới đo nổi nỗi xúc động của tình
yêu. Đó là quy luật mà tôi khám phá ra. Chi có kích thước của vũ trụ mới đo nổi
cái bề rộng, bề dài của rung động tình yêu. Các anh cũng đi ra giữa thiên nhiên
thôi, các anh giấu tôi làm gì! (Cười). Tình yêu mà chỉ ngồi trong phòng thì
không đủ, có đúng không? Buổi chiều về, về theo đường Tàu Bay, hồi ấy không có
đèn đường mà chi có đèn dinamo. Cô ấy mua hai thẻ hương, cô ấy cầm một, tôi cầm
một trên tay để người ta đỡ đâm vào mình. Về đến chỗ Trường Thú y thì dừng lại,
cô ấy gục vào vai tôi giục: “Thôi anh về!”. Tôi khóc. Buổi trưa cô ấy khóc, buổi
chiều mình khóc. Tôi khóc thật, khóc nức nở...
Phóng viên: “Chàng Huy Cận khi xưa hay buồn lắm...
Huy Cận: Không, không... Tại sao tôi khóc? Tại vì tôi thấy mối
tình đẹp quá, cái tâm hồn đẹp quá, vậy nên tôi khóc. Cô ấy bảo: “Thôi, anh về!”.
Anh thấy cái tình lạ không. Sau này, tôi đi hoạt động ở Paris nhiều lần, người
ta cho tôi biết địa chi, telephone của một phòng mạch ở miền Nam nước Pháp,
đông khách mà cô ấy làm chủ. Tôi không lại. Tại sao? Tại vì tình ngày xưa nó đẹp
như thế, bây giờ thì hai ông bà già hết rồi, con đàn cháu đống (cười) Thôi cứ để
êm đi cái quá khứ. Nhưng cô ấy thỉnh thoảng có viết thư về cho một người bà con
ở Hà Nội, bác sĩ Đặng Hiếu Chương. Anh Đặng Hiếu Chương bác tôi, chị ấy vẫn hòi
thăm anh đấy. Bây giờ thì tôi tiết lộ được rồi. Cô ấy là người Bình Định...
Phóng viên: Cô ấy có đẹp không?
Huy Cận: Tôi nói rất công bằng. Cô ấy không xấu, không đẹp,
nhưng mà xinh, có một cái duyên. Đẹp khác, xinh khác, nhưng cô ấy có một tâm hồn
làm cho mình mê...
Phóng viên: Lâu hơn, dai dẳng hơn, sâu sắc hơn?
Huy Cận: Sâu sắc à? Nhưng đó chỉ là một trong những cái tình.
Kháng chiến rồi thành ra dở dang. Về sau gặp nhau lại chỉ khóc thôi...
Phóng viên: Ông có phải là một người đa tình không?
Huy Cận: Anh đánh giá như thế nào thì đánh giá, nhưng qua cuộc
đời thì tôi cảm thấy tôi đa tình. Đam mê...
Thích mọi giai đoạn
Phóng viên: Bây giờ nhìn lại cả đời thơ dằng dặc của mình,
ông thích nhất giai đoạn nào?
Huy Cận (cười): Nói thế này thì hơi ham, tôi thích tất cả các
giai đoạn. Giai đoạn trước Cách mạng, thơ của tôi thành công rất rõ nhé. Không
phải thành công ở Lửa thiêng mà Vũ trụ ca cũng rất thành công. Như bài Xuân
hành nổi tiếng. Anh Hoài Thanh hết lời ca ngợi cái bài này. Chế Lan Viên cũng
ca ngợi... Nguyễn Đình Thi thấy bài Xuân hành ra đời, mừng quá, coi đấy là một
bước tiến mới của Huy Cận và đã có một sức mạnh gì đó mới ở trong thơ. Sau này
thì có hàng loạt bài các anh biết rồi đấy. Thơ của tôi, cả ở hai giai đoạn đều
phát triển ở độ cao. Giai đoạn trước Cách mạng cũng cao và giai đoạn sau Cách mạng
cũng cao. Bây giờ, người ta vẫn hay nhắc đến bài Các vị La Hán chùa Tây Phương.
Trong thơ Chế Lan Viên có một cái đoạn thơ ông ấy nhắc đến ý cái câu đấy: “Một
câu hỏi lớn không lới đáp/ Cho đến bây giở mặt vẫn chau”.
Phóng viên: Một nhà thơ mà yêu tất cả các tác phẩm, các giai
đoạn của mình, kể cũng lạ...
Huy Cận: Và sau này còn nhiều bài nữa chứ, bài Trò chuyện với
Kim Tự tháp... Bao nhiêu người đi xem Kim Tự tháp rồi, cả thế giới có bao nhiêu
người viết về Kim Tự tháp? Đặt vấn đề về Kim Tự tháp? (Cười). Hay là cái bài Gà
gáy trên cánh đồng Ba Vì được mùa có 4 câu:
“Núi Tản như con gà cổ đại
Khổng lồ mào đó thắp bình minh
Mênh mông đứng gáy cho mùa chín
Từ buổi Sơn Tinh thắng Thuý Tinh”.
Phóng viên: Bây giờ ông còn viết thơ tình?
Huy Cận: Không bao giờ hết tình đâu...
Phóng viên: ông có một chút buồn nào không khi không một đứa
con nào cua mình theo nghiệp thơ?
Huy Cận: Không, tôi không buồn. Bởi tôi làm thơ là khiếu trời
sinh... Khóc thể khóc theo Cách mạng
Huy Cận: Hôm nay, ông phó mộc ngồi nói chuyện với các ông!
Ông Nguyễn Xuân Thiều từng nói với ông Vũ Quần Phương thế này: ông Huy Cận
trông giống một ông phó mộc, nhưng lại tinh tế... Bây giờ sức làm thơ của tôi vẫn
tốt, mỗi ngày ba bài.
Phóng viên: Và “bài hay xen lẫn với bài vừa”?
Huy Cận (cười): Tôi nói với các ông, ông Trường Chinh với tôi
có nhiều ái duyên lắm. Về văn chương, lúc tôi hứa đi theo Cách mạng, năm 1940,
thế mà ông Trường Chinh đọc thơ tôi, ông có nói với ông Lê Quang Đạo: “Cái thằng
cha này chắc chắn phải đi theo Cách mạng”. Ông ấy đọc và cảm thấy trong thơ tôi
một tâm hồn đầy chất dân tộc. Ông Trường Chinh rất mê bài Tràng giang và bảo,
sao mà trong bài thơ ấy, đất nước đẹp thế, sao mà tiếng Việt Nam tuyệt diệu đến
thế! Khi tập Lửa thiêng ra đời, ông Trường Chinh nhờ ông Lê Quang Đạo mua ngay
một quyển... Tình quê hương với ai cũng quan trọng!
Đổ khuôn toàn thân nhà thơ Huy Cận
27-02-2005
Giam mình trong phòng lạnh, nơi bảo quản thi hài nhà thơ Huy
Cận suốt một ngày trời, làm việc cật lực trong mùi hoá chất nồng nặc, ''căn''
thời gian đến từng phút, 6 người trong nhóm Đinh Gia Lê chỉ ''hoàn hồn'' khi đổ
xong tượng cố nhà thơ, chuyển thi hài trở về ngăn lạnh.
Họ bước ra thì trời bắt đầu tối, về đến nhà thì ''quy” luôn.
Sáng hôm 24-2, khi mọi người chuẩn bị đưa nhà thơ Huy Cận về cõi vĩnh hằng, thì
Đinh Gia Lê, giọng khàn đi vì cái lạnh bị nhiễm hôm trước, thong thả kể lại
công việc thiêng liêng vừa mới hoàn thành, để cho vóc dáng nhà thơ lưu lại mãi
mãi...
5 giờ sáng, Đinh Gia Lê và kíp thợ của anh đã có mặt tại nơi
đặt thi hài nhà thơ Huy Cận, mang theo lỉnh kỉnh đồ nghề. Anh thú thật: Tôi rất
bất ngờ và lo lắng khi nhận được lời mời. Tự đổ tượng bản thân mình thì tôi làm
rồi. Tự mình “dày vò” cái thân mình thì có ảnh hưởng đến ai, có hỏng cũng không
sao. Thi thoảng bạn bè cũng đổ cho nhau, nhưng là đổ cho người sống. Chứ tôi
chưa từng đổ tượng cho người chết. Bảy năm học điêu khắc ở bên Đức, tôi cũng
chưa thấy ai làm theo cách này. Cụ Huy Cận là danh nhân, di hài được bảo quản
trong phòng lạnh, bây giờ chuyển cụ ra môi trường ngoài để đổ khuôn, nhanh cũng
phải ngót một ngày trời, không biết có bảo đảm không? Huống chi khi chuyển từ
phòng lạnh ra nhiệt độ bình thường, bao giờ cũng bị đổ mồ hôi, chắc chắn sẽ ảnh
hưởng đến chất chống dính, không khéo đổ khuôn xong lại không bóc khuôn ra nổi...
Từ khi nhận được lời mời, chỉ còn chưa đầy 1 ngày để chuẩn bị.
Không còn thì giờ nữa, phải bắt tay vào thử nghiệm ngay. Anh đã triệu tập ê-kíp
đến, phổ biến tình hình, “lột” ngay một cậu thợ ra để “đổ” thử, giả định các
tình huống xấu nhất để bảo đảm rằng chất chống dính sẽ phát huy tác dụng. Thông
thường, anh sử dụng chất chống dính là kem và bột đất sét mịn. Bột đất sét rất
tốt, nhưng cho khuôn hình kém sắc nét. Mà yêu cầu của gia đình là phải đổ tượng
chi tiết đến từng vân tay, từng nếp nhăn nhỏ nhất trên mặt cụ. Anh cũng rất lo
lắng đến vấn đề tâm linh, làm sao để khi khuôn dỡ ra, không bị đứt theo các
lông chân lông tay, vì chỉ làm suy chuyển đến một mảy may thân thể cụ anh cũng
thấy là mình có tội... Suy đi nghĩ lại, anh thấy mấu chốt là phải “pha chế” được
chất chống dính với liều lượng thích hợp nhất!
Tôi hỏi anh là tại sao không đổ khuôn bằng thạch cao như anh
cũng đã làm, nhanh hơn và thông dụng hơn silicon. Anh cho biết, cũng đã cân nhắc
đến chất liệu này. “Khi tự đổ khuôn mình bằng thạch cao, tôi nhận thấy nó rất
nóng, khoảng 60 độ. Nhiệt độ đó tôi có thể chịu được, nhưng không ổn khi bọc
quanh di hài vừa lấy ra từ phòng lạnh. Tôi lại sợ nữa là lúc dỡ khuôn. Thạch
cao khi khô rất cứng, không có độ co giãn, khi tôi tự đổ nửa trên của mình, tôi
phải hóp má, thu người lại mới dỡ được khuôn ra, nếu vướng có thể làm rách
da....
Sáu người lặng lẽ bước vào phòng lạnh. Thi hài từ ngăn lạnh
được chuyển sang một cái bàn inox, anh hiểu rằng thời gian làm việc lúc này phải
được căn đến từng phút. Silicon được lấy ra, pha chế chung cùng chất đông cứng
với hàm lượng tối đa. Bởi anh biết rằng để đổ khuôn tượng 100% như yêu cầu của
gia đình, anh phải làm 4 lớp silicon mỗi khuôn. Phải đổ 2 nửa khuôn (mặt trước
và mặt sau người) thì tổng cộng là 8 lớp, cùng 1 lớp thạch cao bọc cứng ở ngoài
nữa. Nếu cứ với tốc độ đông cứng thông thường (vài giờ một lớp) thì không biết
mấy ngày mới xong. Phải tăng nhanh độ đông cứng, nhưng nếu pha quá nhiều chất
đông cứng thì khuôn giòn, dễ vỡ. Anh tăng đến khi đạt khoảng 30 phút cho một lần
đông cứng thì dừng lại.
“Be” khuôn chia đôi người xong, 5 người chia ra phụ trách từng
phần cơ thể để làm khuôn nửa trước. Trời lạnh nhưng vã hết mồ hôi ra vì rất nhiều
thao tác phải dùng sức. Đúng như anh dự tính, silicon ăn vào từng khe nhỏ, từng
kẽ vân tay, bảo đảm khuôn ra y như thật. Để cho chắc chắn, hết một lớp silicon,
anh lại cho trải một lớp vải lên nhằm tăng độ dai... Thời gian tính từng 5 phút
một. Buổi trưa mỗi người chỉ kịp tu một hộp sữa Vinamilk. Nửa khuôn trước làm
xong, thì lật lên làm nốt nửa khuôn sau. Và anh chỉ thở phào nhẹ nhõm khi 2 mặt
khuôn dỡ ra an toàn và từ lúc bấy giờ mới dám... trả lời điện thoại bạn bè!
Nhìn lại, 50 kg silicon hết veo.
Đinh Gia Lê nói rằng, có may mắn là trong quãng thời gian học
bên Đức, anh đã được đổ phóng tay tất cả các loại nguyên liệu, trong đó có silicon
vì được bao cấp toàn bộ. Cả một thùng silicon 25 kg, pha ra rót từ đầu đến chân
mẫu tượng theo ý thích của mình. Một thùng như thế có biết bao nhiêu tiền không
- anh hỏi tôi? Rẻ nhất bây giờ là silicon Đài Loan 200.000 đồng/kg, đắt là loại
của Pháp 360.000 đồng/kg. Cho nên không phải ai cũng “thạo” về silicon.
Khuôn silicon tượng toàn thân cố nhà thơ Huy Cận có thể nói
là khuôn người thật đầu tiên ở Việåt Nam được làm sau khi vừa mất. Theo anh, từ
khuôn này có thể đổ ra các tượng chân dung nhà thơ để đem trưng bày, bảo đảm
100% so với nguyên mẫu. Nếu đổ bằng chất liệu sáp thì hoàn toàn như người thật.
Tôi tưởng tượng ra cảnh từ chiếc khuôn thiêng liêng kia, mai đây tác giả Lửa
thiêng sẽ lại run rẩy bước ra cuộc đời. Vóc dáng ấy, thân xác ấy sẽ là bất tử!
Theo Đinh Gia Lê, đổ khuôn sllicon hoàn toàn có thể sẽ trở
thành một giải pháp để làm tượng chân dung (trưng bày) hoặc lưu giữ hình tượng
của người thân vì mục đích kỷ niệm. Có thể làm trên người lúc sống hoặc sau khi
chết. Nếu làm lúc sống thì người mẫu phải có một sức khỏe nhất định mới chịu được
lớp khuôn khá nặng, bó chặt người trong vòng vài tiếng (có trích lỗ trước mũi để
thở)... Tất nhiên, nói thế không có nghĩa là anh nghĩ đến chuyện hành nghề
này...
Doãn Phương
Bình Luận 3
Tuệ Chương Hoàng Long Hải
June 15, 2005
Tuệ Chương Hoàng Long Hải
Mãi đến bây giờ, nhiều người bạn tôi vẫn còn thắc về sự có mặt
của Huy Cận trong phái đoàn 3 người của Chính phủ Cách mạng Lâm thời đến Huế nhận
ấn kiếm của vua Bảo Đại thoái vị. Hai người kia, Nguyễn Lương Bằng và Trần Huy
Liệu là những cán bộ Cộng sản từng bị thực dân Pháp bắt, bị tù, nhiều người biết.
Sự có mặt của họ chẳng có gì phải suy nghĩ. Huy Cận thì khác. Ít người cho rằng
trước Cách Mạng Tháng Tám, ông là cán bộ Cộng sản.
Hồi ức về buổi lễ thoái vị của vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn,
Huy Cận viết như sau:
“Đời tôi đúng là có duyên nợ với Huế. Năm 1927, tôi rời Hà
Tĩnh vào Huế học và sống ở đây đến tận năm 1939, tức là suốt thời học sinh mơ mộng,
bắt đầu làm thơ và thành danh cũng ở đây. Tôi coi Huế như quê hương thứ hai của
mình. Khi rời Huế vào năm 1939, thực sự tôi không thể ngờ là sáu năm sau, tức
là vào những ngày tháng Tám năm 1945, tôi lại được trở lại Huế với cương vị
thành viên của phái đoàn Chính phủ lâm thời để tiếp nhận thoái vị của vị vua cuối
cùng của triều đại cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.
Phái đoàn do ông Trần Huy Liệu, Phó Chủ tịch Chính phủ kiêm Bộ
trưởng Tuyên truyền làm trưởng đoàn, cùng với hai thành viên là ông Nguyễn
Lương Bằng và tôi. Lên đường từ Hà nội sáng 27 tháng 8, chúng tôi dự tính chiều
28 sẽ đến nơi, nhưng kế hoạch đã bị đảo lộn vì suốt dọc đường, nhất là từ Thanh
Hoá trở vào, nhân dân hai bên đường tập trung chào đón đoàn quá đông, trung
bình cứ khoảng 10 cây số lại gần như có một cuộc mít-tinh nho nhỏ. Nhiều bà con
từ xa cơm đùm gạo bới tìm đến, có người đang làm lụng trên đồng, cứ để nguyên
quần áo lấm láp mà chạy tới. Có cụ già cứ đòi nhìn vào tận xe để “coi mặt Chính
phủ lâm thời một chút mô…” mỗi lần như thế chúng tôi đều dừng xe và anh Trần
Huy Liệu lại đứng trên mui xe để trò chuyện với bà con. Buổi chiều đến phà Ròn
trời mưa tầm tã, rất đông bà con vẫn đội mưa chờ chúng tôi. Cảm động quá, anh
Trần Huy Liệu đứng lên nói như van xin “Xin đồng bào về đi, kẻo mưa to quá, ướt
hết rồi…” Tiếng râm ran đáp lại: “Chúng tôi đã chờ dưới mưa từ trưa tới chừ rồi…”
Thế là phải dừng, ghé vào khu nhà Đoan trò chuyện chừng 10 phút. Bà con rất cảm
động, nhiều người khóc. Nước mắt hoà lẫn với nước mưa. Tối 28 nghỉ lại Quảng Trị.
9h sáng hôm sau tới Mỹ Chánh, không có phà, bà con địa phương phải kết đò lại
thành cầu phao cho xe qua. Sang tới bên kia sông đã thấy anh Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ
ban Khởi nghĩa Thừa Thiên Huế, ra đón. Anh em ôm chầm lấy nhau. Tôi và anh Tố Hữu
biết nhau từ thời Quốc học, anh ấy học sau tôi hai năm và đã bắt đầu làm thơ và
hoạt động cách mạng từ trên ghế nhà trường. Lúc nầy thì Tố Hữu như cờ gặp gió,
anh sung sướng quá thét to lên với đồng bào của mình: “Đồng bào ơi! Đây là
Chính phủ của ta, thật sự của ta đấy…” Mọi người hoan hô rầm rĩ. Và xe của
chúng tôi đã đi trong tiếng hoan hô chào đón như thế cho đến gần trưa thi tới
sân vận động Chợ Cống, Huế. Đồng bào Huế đã chờ chúng tôi ở đây từ sáng, có người
chờ cả ngày hôm trước. Khoảng 40 ngàn người. Khi đoàn ra mắt, tiếng vỗ tay vang
lên như sấm. Một đoàn thiếu nữ Huế áo dào tha thướt lên tặng hoa, và trong số
đó tôi còn kịp nhận ra cô Phùng Thị Duy Cúc, sau nầy chính là nhà điêu khắc nổi
danh Điềm Phùng Thị và là một người bạn thân thiết của tôi.
Trưa hôm đó, ông Phạm Khắc Hòe, đổng lý văn phòng của triều
đình chuyển lời vua Bảo Đại mời chúng tôi vào tiếp kiến. Đoàn xe cắm cờ đỏ sao
vàng của chúng tôi ngắm cổng chính Ngọ Môn tiến vào. Xưa nay, chỉ có nhà vua,
các quan toàn quyền và khâm sứ Pháp mới đi cổng chính nầy, còn tất cả quan lại
khác của triều đình đều đi cửa ngách. Trên lầu Kiến Trung, Bảo Đại bận áo xanh,
đi giày cườm đã chờ sẵn để đón đoàn. Trước khi gặp Bảo Đạo, anh Trần Huy Liệu
và chúng tôi có cuộc hội ý chớp nhoáng xem nên xưng hô như thế nào. Gọi là
“Ngài ngự” hay “Hoàng thượng” đã đành không được, nhưng gọi “ông” thi mới quá.
Cuối cùng chúng tôi quyết định gọi “Ngài”. Và buổi tiếp đã diễn ra khá thoải
mái. Bảo Đại bày tỏ sung sướng được tiếp phái đoàn đại diện của Chính phủ lâm
thời và trưởng đoàn Trần Huy Liệu cũng bày tỏ vui mừng vì nhà vua đã chấp nhận
thoái vị. Vẻ mặt bùi ngùi, Bảo Đại nói giọng ân hận: “Thưa phái đoàn, thực ra
trong hai mươi năm làm vua, tôi cũng chỉ ngậm đắng nuốt cay, vì có nhiều việc
muốn làm cho dân cho nước mà người ta không cho làm…” Sau đó, ông ta đề nghị với
đoàn ba nguyện vọng: Một là, xin Chính phủ cách mạng xem mọi người trong Hoàng
gia như những công dân bình thường khác (ý nói không phân biệt đối xử); hai là,
cũng xin Chính phủ xem các quan lại trong triều như mọi đồng bào khác và được
tham gia vào những công việc cứu nước tuỳ khả năng và hoàn cảnh của từng người;
và cuối cùng là, xin Chính phủ cách mạng đối xử với lăng tẩm, đền miếu của nhà
Nguyễn cho có sự thể.
Lễ thoái vị chính thức được tổ chức vào chiều 30 tháng 8, với
sự có mặt của năm, sáu vạn người dân Huế đứng tràn ngập trước Ngọ Môn. Nhà vua
bận triều phục đại lễ, áo hoàng bào khăn vàng, đi giày cườm vàng. Theo nguyện vọng
của nhà vua, lá cờ vàng của triều đình được kéo lên một lần cuối cùng, sau khi
nhà vua đọc xong tuyên bố thoái vị thì kéo xuống để kéo lá cờ đỏ sao vàng của
cách mạng lên đỉnh Ngọ Môn.
Sau khi Bảo Đại đọc xong lời tuyên bố thoái vị, tới nghi thức
trao ấn kiếm. Chiếc kim ấn truyền quốc làm bằng vàng ròng nặng dễ đến ngót
10kilogram, anh Trần Huy Liệu vốn sức yếu, phải gồng lên mới cầm nổi, còn tôi
dĩ nhiên với cái tuổi 26, thì mười cân cũng nhẹ nhàng thôi. Thú vị nhất là khi
cầm cây kiếm, thấy vỏ ngoài dát vàng nạm ngọc rất đẹp, tôi thuận tay rút kiếm
ra xem, ai dè bên trong lưỡi kiếm đã bị rỉ, tôi hồn nhiên nói ngay vào micrô:
“Thưa đồng bào! Kiếm nhà vua bị rỉ hết rồi”. Mọi người cười ồ. Bảo Đại cũng cười.
Ông ta nói: “Thưa phái đoàn, từ nay tôi là một người dân bình thường của nước độc
lập, xin phái đoàn cho tôi một vật gì để kỷ niệm cái ngày này”. Ý kiến bất ngờ.
Chúng tôi hội ý và tôi nhanh tay rút chiếc huy hiệu cờ đỏ sao vàng mà Uỷ ban
Nhân dân Cách mạng Thừa thiên Huế, tặng các thành viên của phái đoàn cài lên ngực
Bảo Đại, đoạn nói to: “Xin đồng bào hoan nghênh công dân Vĩnh Thuỵ”. Nhiều tiếng
vỗ tay vang lên. Bảo Đại thực sự cảm động và lặng lẽ rút lui. Triều đại phong
kiến cuối cùng của Việt Nam đã ra đi trong cảnh chợ chiều, tôi nhìn quanh chỉ
thấy hoàng thân Vĩnh Cẩn và một vài quan lại thưa thớt. Trong khi đó, dưới kia,
cuộc mít tinh đã trở thành một cuộc biểu đương lực lượng khổng lồ của quần
chúng cách mạng Huế. Ấn tượng thật hùng vĩ. Tôi đã sống với Huế những năm của
tuổi trẻ. Trước đây, tôi chỉ biết Huế tình tứ dịu dàng, Huế hiền hoà và thơ mộng,
nhưng nay tôi biết thêm một Huế cách mạng, một Huế khi cần đã vùng dậy như những
ngọn sóng trào…”
Năm 1945, khi từ chiến khu về Hà Nội thành lập Chính phủ lâm
thời, Hồ Chí Minh biết sức của ông cũng như đảng ông còn yếu, nên tranh thủ
lòng yêu nước của tầng lớp trí thức, tiểu tư sản thành thị, trung nông, phú
nông, và cả quan lại của triều đình Huế. Những người có uy tín, được dân chúng
yêu mến và ngưỡng mộ đều được mời tham gia giữ những chức vụ không quan trọng lắm
trong Chính phủ, và cả những thành phần các đảng phái quốc gia khác, nếu ông bị
áp lực. Vua Bảo Đại trở thành Cố Vấn Vĩnh Thuỵ, cụ Bùi Bằng Đoàn, nguyên Thượng
thư Bộ Hình trong triều chính đời Bảo Đại hay Nguyễn Tường Tam làm Bộ Trưởng Bộ
Ngoại Giao, Phan Anh, Hoàng Xuân Hãn, v.v… đều ở trong chiến lược của họ Hồ. Chờ
tới khi đảng Cộng sản vững mạnh, Hồ Chí Minh sẽ thay đổi, loại trừ hoặc cho “ngồi
chơi xơi nước”.
Huy Cận cũng không nằm trong trường hợp ngoại lệ.
Ông được người Huế yêu mến vì tài nghệ của ông. Chính ông nổi
tiếng ở đó như ông đã xác nhận “suốt thời học sinh mơ mộng, bắt đầu làm thơ và
thành danh cũng ở đây”. (Bài đã dẫn)
Nhà thơ Huy Phương, trong bài “Nghe ta buồn buồn” viết nhân dịp
nghe tin Huy Cận qua đời, ghi lại tình cảm của những người Huế với thơ Huy Cận
và những nhà thơ tiền chiến như sau:
“Cái tên Huy Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Tế Hanh…
nói đến như soi rọi lại một quãng đời niên thiếu như vùng vẫy, lặn hụp trong
dòng sông dịu mát của những vần thơ của các thi sĩ, gọi là tiền chiến, được trịnh
trọng chép tay trên những tờ giấy mỏng manh đóng thành tập hay chuyền tay nhau
trong lớp học. Nỗi buồn trong thơ Huy Cận cũng là nỗi buồn của những chàng trai
mới lớn, bâng quơ, nhen nhúm chút tình…”
Nhận xét của Huy Phương nói ở trên không phải chỉ có trong lớp
thanh thiếu niên thời hậu chiến, mà ngay cả một hời gian dài trước những biến cố
trọng đại năm 1945, một tầng lớp thanh thiếu niên Huế, chìm đắm trong mơ mộng,
yêu đương, say mê thơ ca lãng mạn, cũng đã dành cho Huy Cận một chỗ đứng vững
chắc trong lòng họ rồi.
Ghi lại đây nhận xét của Huy Phương về Huy Cận đối với Huế,
như thế là quá đủ để khỏi trích dẫn những nhận xét của Hoài Thanh trong “Thi
Nhân Việt Nam” bởi vì những nhận xét của Hoài Thanh mang nét chung nhiều hơn là
nhận xét của Huy Phương nói về Huy Cận đối với Huế.
Hồ Chí Minh là người mưu lược chính trị, vậy thì trong những
người đến Huế nhận ấn kiếm vua Bảo Đại thoái vị, ngoài Nguyễn Lương Bằng và Trần
Huy Liệu mang nặng tính đảng, phải có một nhân vật khác, môt nhân vật thứ ba từng
được cảm tình của người dân Huế mà không phải là thành phần có mầm mống chống đảng,
người ấy không ai khác hơn Huy Cận. Điều nầy giải thích được những thắc mắc của
những người bạn tôi mà tôi nói ngay ở đầu bài, một thắc mắc đã mấy chục năm
chưa có dịp để được nói ra.
Nếu phê bình một cách rốt ráo trên lập trường “Cách mạng triệt
để”, những người Cộng sản không thể chấp nhận Huy Cận đứng trong hàng ngũ văn
nghệ của họ. Thứ nhất, ông thuộc tầng lớp thường được gọi là “Những nhà thơ
lãng mạn tiền chiến”, những nhà thơ bị Cộng sản Việt Nam đánh giá thuộc giai cấp
tiểu tư sản thành thị, phục vụ cho giai cấp tiểu tư sản dư ăn dư mặc mang nhiều
tính giai cấp xấu bị Cộng sản đánh phá dữ dội. Giai cấp nầy cùng giai cấp trung
nông và phú nông, dù “có công với cách mạng” vẫn bị phê bình, loại trừ hoặc đấu
tố để triệt tiêu.
Không riêng gì đối với Huy Cận, một người từng gắn bó và yêu
thương với Huế, cứ mỗi lần đọc những bài văn bài thơ của những nhà văn Cộng sản,
hay nghe một bài hát của họ nói về cái dũng khí cách mạng của người dân Huế,
tôi khó tránh không nghĩ tới năm ngàn người bị chôn sống hồi Tết Mậu Thân. Tôi
tin Huy Cận yêu Huế thật, nhưng ngay trong hồi ký nói trên của ông, không thể
không có những khoa trương, theo kiểu Cộng sản để tuyên truyền vì mục đích của
người Cộng sản, bao giờ cũng chỉ là tuyên truyền, theo cách “dạy” của Trường
Chinh trong đại hội văn hoá thứ nhất của Cộng sản năm 1947 ở chiến khu Việt Bắc,
trong bài gọi là “Luận Cương (“nổi tiếng”) Về Văn Hoá và Chính Trị” của lý thuyết
gia Cộng sản nầy.
Huy Cận viết: “Đời tôi đúng là có duyên nợ với Huế…” Vậy thì
Huy Cận có “duyên nợ” gì với năm ngàn người bị chôn sống ở Huế Tết năm đó. Ông
muốn quên họ đi, ông muốn lờ họ đi. Hay cũng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông cũng
cho rằng họ là “Những con rắn độc”. Ông không có “duyên nợ” gì với những con rắn
độc đó hết.
“Trong khi đó, dưới kia, cuộc mít tinh đã trở thành một cuộc
biểu đương lực lượng khổng lồ của quần chúng cách mạng Huế. Ấn tượng thật hùng
vĩ”. (Bđd)
Ai trong số “lực lượng khổng lồ của quần chúng cách mạng” đó,
đã gây “Ấn tượng thật hùng vĩ” cho Huy Cận thì đã bị chôn sống hồi Mậu Thân?
Cách viết như Huy Cận là cố ý nhằm xoá tan mọi tội lỗi của
cán bộ Cộng sản, của đảng Cộng sản về trách nhiệm tàn sát dân Huế năm đó. Một
người có lương tâm không thể chấp nhận một cách viết dối trá, che lấp tội ác
như thế được!
Những nhà hoạt động văn nghệ Cộng sản, khi bàn về vấn đề văn
học, họ thường lúng túng giữa lập trường vô sản, duy vật biện chứng, và vay mượn
dân tộc để giải thích lý thuyết cực đoan, nên ý tưởng họ có rất nhiều mâu thuẫn
làm cho người đọc cảm thấy khó chịu. Chẳng hạn như những câu trả lời trong bài
phỏng vấn Huy Cận sau đây, ta thấy rõ ràng ông bị vướng mắc những cái đối chọi
nhau khá kịch liệt, và ông đã cố gắng giải thích một cách gượng gạo, khó làm
người đọc đồng ý. Một mặt, ông vẫn đề cao vai trò thơ Mới, qua đó, ông đã
“thành danh” như ông ta tự nhận, nhưng bên cạnh đó, ông phủ nhận thơ Mới chịu ảnh
hưởng thi ca lãng mạn Pháp, đã kích chủ nghĩa tư bản Tây phương, và cố gắng đưa
thơ Mới về với dân tộc, để chứng minh thơ Mới là của dân tộc, trong khi những
nhà văn đồng thời với ông trong thời kỳ tiền chiến, như Xuân Diệu, Lưu Trọng
Lư, Thế Lữ, buộc lòng lên tiếng phủ nhận công trình của mình để “chạy tội” với
Cọng Sản.
Xin trích:
Nhà thơ Huy Cận:
Người ta đã bàn nhiều về nguồn gốc, giá trị của thơ Mới. Đó
là cuộc cách mạng lớn của thơ ca Việt Nam ở thế kỷ 20, sự ảnh hưởng của nó còn
phát sang đầu thế kỷ 21. Về nguồn gốc thơ Mới, ai đó cho rằng nó chủ yếu ảnh hưởng
của thơ Pháp là sai, là xuyên tạc. Thơ Mới trước hết nhận ảnh hưởng trực tiếp
thơ ca dân tộc, thấm đẫm văn hoá Việt Nam, sau đó là văn hoá Á Đông: Trung Quốc,
Ấn Độ, và sau nữa mới đến ảnh hưởng thơ Pháp, Anh, Đức với những tác giả như
Shakespeare, Gớt, Ranh-bô, Véc-len, Bô-Đờ-Le…
NT Trần Anh Thái:
Như vậy theo nhà thơ, trước khi xảy ra cuộc cách mạng, Thơ Mới
đã có sự manh nha?
NT Huy Cận:
Đúng như vậy. Sự ra đời chữ “Tôi” ở Việt Nam vốn tiềm tàng từ
những năm ba mươi của thế kỷ 20. Chính cái tôi ấy là động lực thúc đẩy cái tôi
trong thơ ca phát triển. Có một điều người ta phân biệt chữ tôi Việt Nam khác với
Chủ Nghĩa Cá Nhân Tây Phương thời Phục Hưng. Cá nhân thời Phục Hưng ra đời đồng
thời với Chủ Nghĩa Tư Bản. Nó ăn khớp máu thịt với chủ nghĩa tư bản. Khái niệm
cá nhân ở nước ta ra đời sau, nó bắt nguồn từ tinh thần dân tộc được hâm nóng lại
bằng cuộc hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc.
Và cuộc khởi nghĩa Yên Báy. Trong bối cảnh tinh thần được hâm nóng, mỗi người đều
gắn bó máu thịt với dân tộc, nó làm thức dậy tinh thần văn hoá dân tộc, thúc đẩy
ý thức về nền quốc học Việt Nam. Đến đây có thể thấy “cái tôi” của Việt Nam
không phải là cá nhân đơn lẻ mà là cái tôi - Việt Nam; Cá nhân - Dân Tộc.
Đọc câu: “Sự ảnh hưởng của nó còn phát sang sang đầu thế kỷ
21”. Người ta sẽ tự hỏi, có phải thơ bây giờ (đầu thế kỷ 21) là tiếp nối trào
lưu thơ Mới thời tiền chiến đó chăng? Không, nó không phải “tiếp nối” mà “sống
lại” trong kiểu cách thơ Mới thời tiền chiến.
Thật ra, thơ Mới đã chuyển mình trong thời kỳ cách mạng tháng
Tám, trong cuộc chiến đấu chống Thực Dân Pháp tái xâm lăng Việt Nam. Cuộc Cách
Mạng Tháng Tám đã làm cho thơ Mới chuyển mình từ những bài thơ lãng mạn, yêu
con người, yêu trăng, yêu gió, yêu thiên nhiên một cách vu vơ, trở thành tình
yêu nước mạnh mẽ, biến những lời thơ uỷ mị nhẹ nhàng thành những bài thơ hừng hực
lửa, cứng như thép để đủ sức đối kháng với vũ khí hiện đại của quân viễn chinh.
Nhưng chỉ kéo dài chừng đó. Khi thơ Mới bị buộc vào những khuôn phép của cuộc
“cách mạng đỏ” thì nó biến thành những bài vè, những bài tuyên truyền không thể
gọi nó là thơ được, nhất là sau thời kỳ “Nhân Văn - Giai Phẩm” năm 1956, 57.
Thơ Mới chết từ đó. Chính Phùng Quán đã nói lên điều đó:
Hễ đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khôn cùng
Thơ chết áo đắp mặt.
Giống như cái chết của Đỗ Phủ, thơ đã chết rồi, chết trong cảnh
khốn cùng, phải lấy áo đắp mặt thay vì một chiếc khăn liệm. Làm gì thơ Mới còn
tiếp nối đến ngày hôm nay, những năm đầu thế kỷ 21.
Cho dù đất nước thống nhất năm 1975, thơ Mới vẫn chưa đọi mồ
đứng dậy. Mãi tới thời kỳ đổi mới, mặc dù “cỡi trói văn nghệ” chỉ là lời nói
suông, thơ Mới đã sống lại cùng với dân tộc, vì mầm sống của nó chưa bị triệt
tiêu hoàn toàn, (Không ai có thể triệt tiêu hoàn toàn được thơ!), vì đảng Cộng
sản Việt Nam không xây dựng được “thiên đường Cộng sản” trên đất nước Việt Nam.
Huy Cận không đủ can đảm để nói lên điều đó, mặc dù có lúc ông đã từng là thứ
trưởng Bộ Văn Hoá.
Huy Cận cũng không thể phủ nhận sự phát triển của văn hoá Việt
Nam vào những năm ba mươi. (“vốn tiềm tàng từ những năm ba mươi của thế kỷ
20.”) Ngay từ đầu thế kỷ 20, chữ quốc ngữ đã đi tới, chữ Nho thì thụt lùi. Tiến
trình nầy có hai lý do chính yếu: Một là chế độ thực dân Pháp dính liền với chữ
quốc ngữ trong việc cai trị, phổ biến các văn thư, tin tức báo chí. Thứ hai là
sự thụ lùi của chữ Nho cùng với sự co cụm của triều đình Huế càng ngày càng bị
tước đoạt dần dần quyền lực. Qua tình hình đó, càng ngày vai trò của chữ Nho
càng yếu đi. Đến năm 1916, đời Duy Tân là khoa thi chữ Nho cuối cùng được tổ chức
theo lệ xưa ở tại Huế.
Với chính sách cai trị thuộc địa, người Pháp cần người biết
chữ Pháp và chữ quốc ngữ hơn là chữ Nho, để cộng tác với họ trong việc cai trị.
Bên cạnh đó, chiến tranh Nga-Nhật năm 1904 và sự canh tân nước Nhật của Minh Trị
Thiên Hoàng đã mở ra một tầm nhìn mới đối với thế giới bên ngoài cho giới sĩ
phu thời đó. Nó khơi nguồn cho Phong Trào Đông Du, Phong Trào Duy Tân cũng như
mở rộng con đường tân học cho người Việt, qua đó, chữ quốc ngữ càng ngày càng
có một vai trò quan trọng hơn.
Tuy vậy, sau một thời dọ dẫm ở hai thập niên đầu của thế kỷ
20, chữ quốc ngữ phát triển khá mạnh và nhanh trong khoảng thời gian chỉ có 15
năm, từ 1930 đến 1945. Cũng trong khoảng thời gian nầy, vai trò của giáo dục,
thi cử và sách báo, thông tin đóng một vai trò quan trọng. Trong lĩnh vực văn
chương và báo chí, Tự Lực Văn Đoàn của Nhất Linh đã xuất sắc hoàn thành công
tác của mình.
Chính vì những người làm báo, viết văn thời kỳ ấy phần đông
thuộc giới tiểu tư sản thành thị, chính vì sự thành công của Tự Lực Văn Đoàn mà
đứng đầu là Nhất Linh, một lãnh tụ đảng phái quốc gia, một người chống Cộng, một
nhân vật cách mạng mà Cộng sản thù ghét, từng bôi lọ ông, bằng những lời tuyên
truyền, những vỡ kịch (“Nguyễn Tường Tam ăn cắp hai triệu” - kịch) nên Huy Cận
chỉ nói một cách chung chung, mơ hồ. Ông không thể phủ nhận thời kỳ phát triển
của văn chương quốc ngữ thập niên 30 vì ông đã “thành danh” trong đó, nhưng ông
cũng không thể ca ngợi nó rõ hơn vì sợ “phạm trường qui”. Chỉ chừng đó, khó
đánh giá Huy Cận là người can đảm, mặc dù ông phát biểu những lời nói trên
trong thời kỳ được gọi là “Cỡi trói văn nghệ” rồi.
Lý luận về sự xuất hiện và phát triển của thơ Mới, ông có những
lập luận loanh quanh, cứng nhắc theo đường lối chủ trương của đảng.
Người ta nói thơ Mới là để phân biệt với thơ Cũ.
Sự phân biệt thơ Mới thơ Cũ chủ yếu đặt căn bản trên hình thức
hơn là nội dung. Ví dụ, các nhà phê bình văn học thường cho bài thơ “Tình Già”
là bài thơ Mới đầu tiên, là bài thơ tiên phong trong phong trào thơ Mới. Sau
đó, nhiều nhà thơ khác như Lưu Trong Lư, Hàn Mặc Tử, v.v… nối gót theo Phan
Khôi. Bài thơ “Tình Già” có hình thức mới mẻ, không giữ âm vận nghiêm nhặt,
không theo mẫu mực “đề, thực, luận, kết” và phép đối như trong thơ Đường mà Lư
Trọng Lư có lần mai mỉa rằng “Hễ con mèo đi ra thì con chó đi vô”. Hình thức
không cần thiết, câu thơ không bị lệ thuộc như thơ thất ngôn, ngũ ngôn, miễn
sao dễ dàng diễn tả tình cảm rong tâm hồn người thơ mà thôi.
Thực ra, câu dài câu ngắn không đều nhau vẫn là một hình thức
thơ cũ đã có mà người xưa thường gọi là “Trường đoản cú” như trong “Chinh Phụ
Ngâm” bản chữ Hán của Đặng Trần Côn.
Nếu bàn về chữ tôi (hay cái ta) trong thơ Cũ, Huy Cận tách bạch
cũng không phân minh, còn phiến diện, méo mó, v.v… Ví dụ “Chiếc thuyền lơ lững
bên sông, biết đem tâm sự ngõ cùng ai hay…” thì đó cũng là nói về cái ta của
Nguyễn Trãi vậy, đâu phải cái Tôi - Việt Nam, Cá nhân - Dân tộc, như Huy Cận
nói. Hay “Một mảnh tình riêng ta với ta” thì cũng chẳng phải cái Tôi - Việt
Nam, Cá nhân - Dân tộc, mà chính là của cả một tầng lớp sĩ phu Bắc Hà “Hàng thần
lơ láo” khi ra phục vụ triều đại nhà Nguyễn. Nói cái Tôi - Việt Nam, Cá nhân -
Dân tộc chỉ là một cách nói gượng ép, mượn dân tộc để nguỵ trang cá nhân.
Vẫn biết người Tây phương theo chủ nghĩa cá nhân, từ đó họ
đòi hỏi nhiều quyền lợi cho con người, quyền lợi tinh thần hơn là quyền lợi vật
chất. Đó là những quyền lợi tinh thần thuộc về các tự do căn bản là những điều
rất “kỵ” với chủ nghĩa Cộng sản. Nhưng các dân tộc Á Đông, và cả dưới chế độ Cộng
sản không ít người còn “cá nhân” hơn cả những người theo chủ nghĩa tư bản Tây
Phương. Họ ích kỷ, tham lam, ngại hy sinh cho đất nước, dân tộc, bảo vệ quyền lợi
riêng của mình, cả quyền lợi vật chất cũng như tinh thần còn hơn cả người Tây
phương rất xa. So sánh như thế để thấy rằng Huy Cận méo mó, phiến diện khoa
trương rất nhiều về những cái mà người Cộng sản Việt Nam không có. “Lấy của ban
ngày” không phải là một câu chuyện hữu ích nói về lòng tham lam ích kỷ của số
đông người Á Đông hay sao?!
Khái niệm cá nhân ở nước ta ra đời sau, nó bắt nguồn từ tinh
thần dân tộc được hâm nóng lại bằng cuộc hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu,
Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc. Và cuộc khởi nghĩa Yên Báy.
Câu nói trên của Huy Cận có ý nghĩa khá mơ hồ. Những người
như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh là những nhà cách mạng. Họ hy sinh cá nhân họ
cho đất nước và dân tộc, họ làm thơ làm văn kêu gọi lòng yêu nước, hy sinh của
mọi người cho đất nước, họ đâu có khơi dậy cái tôi trong mỗi người như Huy Cận
nhận xét.
Hơn thế nữa, Hồ Chí Minh là một cán bộ lãnh đạo Cộng sản, chủ
trương xây dựng chủ nghĩa tập thể, cho Quốc tế vô sản. “Đem đất nước xây dựng
chủ nghĩa xã hội, chứ không đem chủ nghĩa xã hội xây dựng đất nước”, hy sinh
dân tộc cho quốc tế vô sản, tại sao lại vơ vào mà nói tới việc Hồ Chí Minh “hâm
nóng” cái tôi trong thơ ca Việt Nam? Nói tới cái tôi, với cá nhân ích kỷ của Hồ
Chí Minh thì điều ấy vốn có thật. Việc Nông Thị Xuân “phục vụ” “bác” mà đẻ ra Hồ
Chí Trung, nhưng vẫn không được Hồ Chí Minh nhận làm vợ, lại âm mưu cho thủ
tiêu, thì cách sống và hưởng thụ của ông Hồ có khác chi vua chúa bên Trung Hoa
ngày xưa hay các những người giàu có bên ấy thời phong kiến. Ông Hồ còn tàn ác
hơn họ khi đồng ý cho thủ tiêu thị Xuân, một người “đầu gối tay ấp” với Hồ.
Riêng về cuộc khởi nghĩa Yên Báy, các nhà sử học Cộng sản thường
cho rằng đó là một cuộc nổi dậy ngông cuồng, thiếu cơ bản của những một số trí
thức Bắc Kỳ, còn nặng tính tiểu tư sản, ảnh hưởng nặng nề chủ nghĩa cá nhân.
Thành ra, những nhận xét của Huy Cận hoàn toàn trái ngược với quan điểm sử học
của Cộng sản. Có lẽ ngày nay, có sự cỡi trói nên Huy Cận kéo cuộc khởi nghĩa
Yên Báy vào đây để chứng tỏ có sự tiến bộ, sự cởi mở trong quan điểm triết học
và sử học ngày nay của Cộng sản Việt Nam đó chăng?
Dĩ nhiên van học Việt Nam có nền tảng của nó, bắt ngườn từ
trong đời sống dân tộc từ khi đất nước hình thành. Nhưng trên thế giới không
bao giờ có một nền văn học nào thuần tuý mà không vay mượn ít nhiều tư tưởng, học
thuật của những dân tộc khác qua sự tiếp xúc giữa các dân tộc đối với nhau, và
có những ảnh hưởng hỗ tương hay một bên nặng, một bên nhẹ. Những phương cách
sinh hoạt về văn hoá, chính trị và cả quân sự cũng như thời gian tiếp xúc giữa
các dân tộc nên ảnh hưởng đó đậm lạt nhiều khi khác nhau. Trong viễn tượng đó,
khi nước ta bị Tàu đô hộ, hay khi làm nô lệ cho Tây, hay qua nếp sống tôn giáo,
học thuật tư tưởng của ta chịu ảnh hưởng Tàu, Ấn Độ, các nước Tây phương, đặc
biệt với Pháp là điều đương nhiên, cần chi phải phủ nhận nó như Huy Cận, cũng
như những người làm công tác văn hoá Cộng sản Việt Nam, cái gì của ta cũng là
nhứt, không chịu ảnh hưởng của ai hết.
Lập trường văn hoá của họ như thế, mặc nhiên phủ nhận tính
cách văn hoá Việt Nam rồi. Tinh thần dân tộc ta không bao giờ tự cao tự đại quá
lố như kiểu Cộng sản, bởi vì:
Trong nhà nhất mẹ, nhì con
Ra đường lắm kẻ săn dòn hơn ta!
Người Pháp cai trị ta tính chung chung là một trăm năm. Họ
đem cái cung cách của họ mà cai trị ta. Chỉ riêng chừng đó, ta cũng đã ít nhiều
chịu ảnh hưởng của họ rồi. Chữ quốc ngữ của ta không phải từ văn hoá Âu Tây mà
ra đó hay sao?! Nếu chữ quốc ngữ không phải là cái hay tự khắc nó sẽ không được
tồn tại và phát triển. Viết văn bằng chữ quốc ngữ, làm thơ bằng chữ quốc ngữ, lại
phủ nhận ảnh hưởng văn hoá Âu Tây là một csự chủ quan khá kỳ lạ, nếu không muốn
nói là ngu ngốc và cực đoan. Thêm một điều, Pháp từng là một nước có một nền
văn hoá cao nhất thế giới, tư tưởng học thuật của nó phát triển sáng chói đến độ
khi những tư tưởng đó phát triển chỉ trong thời gian một trăm năm, với những tư
tưởng của Montesquieu, Voltaire, Rousseau, Diderot, v.v…, người ta phải đặt tên
cho nó là “Thế kỷ ánh sáng”. Cái “Thế kỷ ánh sáng” không chỉ chiếu sáng nước
Pháp mà thôi mà còn chiếu rọi khắp cả châu Âu, châu Mỹ. Nó là niềm hứng khởi
cho cuộc Cách Mạng Mỹ và là tư tưởng chủ đạo cho bản Tuyên Ngôn Độc Lập” Hoa Kỳ,
(Hồ Chí Minh “cóp” lại trong bản tuyên ngôn độc lập đợc ở Ba Đình ngày 2 tháng
9 năm 1945), cho cuộc Cách mạng tư sản Pháp năm 1789, cho các cuộc cách mạng
Châu Âu năm 1848, v.v… Nó khơi dậy những tư tưởng mới của các nhà văn hoá tư tưởng
Anh, Đức, Áo Nga, Nhật. Tàu, là ngọn đuốc dẫn đường cho Mác viết “Tư bản luận”,
v.v…. Nói chung, những người Cộng sản muốn “quên” việc ấy đi, muốn “lờ” nó đi
mà thôi. Nhưng nhìn chung, đó là một thực thể trong tiến trình phát triển tư tưởng
của nhân loại.
Chánh sách cai trị của người Pháp khá thâm độc. Họ tự cho họ
là có sứ mạng “khai hoá” cho các dân tộc bán khai khi đêm tàu sắt súng đồng xâm
lăng thuộc địa, nhưng họ không truyền bá những tư tưởng của “Thế kỷ ánh sáng”
đó sang cho dân tộc ta. Họ hỗ trợ sự truyền bá đạo Thiên Chúa vì công việc nầy
có lợi cho công cuộc thực dân cai trị của họ hơn. Nggười Việt Nam được những tư
tưởng của “Thế kỷ ánh sáng” chiếu rọi tới không phải bằng con đường từ Paris
Saigon mà qua ngã Trung Hoa. Người Việt Nam bắt đầu làm quan với tự do, dân chủ,
nhân quyền, v.v… qua những sách của người Tàu tryền bá sang ta. (Cho nên Việt
Nam nửa đầu thế kỷ 20 quên với những danh từ Mạnh Đức Tư Cưu, Lư Thoa do người
Tàu dịch từ Montesquieu, Voltair, v.v…).
Ngoài hiện tượng Xuân Diệu thú nhận một cách trung thực (“Tôi
nhớ Rimbeau với Verlaine”) hoặc những tư tưởng về tự do, dân chủ, nguyên tắc
phân quyền mà ngay chính hiến pháp của nước Việt Nam Cộng sản không thể không
nhắc tới, người ta còn thấy ngay trong thơ Huy Cận chịu ảnh hưởng tư tưởng Âu
Tây khá rõ, khá đậm.
Ví dụ như trong bài thơ Trình bày:
Trình Bày
Tôi sẽ đến trước mặt người, Thượng Đế
Để kêu than khi tôi đã lìa đời
Khi tôi chết và hồn tôi đã xế
Sang bên kia thế giới của loài người
Trước Thượng Đế hiền từ tôi sẽ đặt
Trái tim đau khô héo thuở trần gian
Tôi sẽ nói: Nầy đây là nước mắt
Ngọc đau buồn nguyên khối vẫn chưa tan
Người biết đấy lòng tôi trong trắng lắm
Người cho sao tôi giữ vậy như gương
Mặt trời đẹp sắc đời đua nở thắm
Tôi đã đành mang nặng nghiệp yêu thương
Từng bước lạnh teo, một mình thui thủi
Tin ngây thơ: hồn sẽ hiểu qua hồn
Tôi đâu biết thịt xương là sông núi
Chia biệt người ra từng xứ cô đơn
Cả linh hồn tôi đem cho trọn vẹn
Vốn nhà nghèo không quen thói bán buôn
Đến những kẻ mới vờ duyên hứa hẹn
Tôi cũng cho trọn vẹn cả linh hồn
Đầu gối rã tôi đứng chờ đã mệt
Tôi trông mong hai mắt tối đen rồi
Tôi đã khóc những đêm sầu đến chết
Thuở trần gian xin Thượng Đế thương tôi
Tuổi non dại lòng tôi say mến bạn
Khi thanh xuân tôi mãi chạy theo tình
Nhưng cô độc đã ghi thầm trên trán
Lòng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh
Lòng tôi đây trọn một đời thương nhớ
Hồn tôi đây thiên hạïbỏ đìu hiu
Người nhìn xem chân tay muôn dấu rỗ
Thủng gai đời đây tay với tình yêu
Hỡi Thượng Đế! Tôi cúi đầu trả lại
Linh hồn tôi là một kiếp đi hoang
Sầu đã chín, xin người thôi hãy hái
Nhận tôi đi, dầu địa ngục, thiên đàng
Rồi tôi khóc và đầu tôi ngã gục
Mắt tôi mờ vàtay của tôi xuôi
Không biết nữa thiên đường hay địa ngục
Quên, quên đi, đã mang trái tim người!
Nhìn vấn đề một cách tinh tế, người ta khó phủ nhận bài thơ
“Trình Bày” của Huy Cận chịu ảnh hưởng tư tưởng của Nietzsche, một triết gia Đức
chủ trương vô thần, chống đối những giá trị truyền thống của tư tưởng Âu Tây, đặc
biệt chống lại thần học của giáo hội Thiên Chúa La-Mã. Nietzsche có hai chủ
trương rất đáng lưu ý, một là ủng hộ thuyết tiến hoá (Theory of evolution), chủ
trương vô thần, tuyên bố rằng “Thượng Đế đã chết” (God is dead) và thứ hai là
thuyết “Siêu nhân”.
Về vô thần, tư tưởng của Nietzsche có ảnh hưởng lớn, không những
chỉ Châu Âu mà còn lan rộng sang Mỹ, làm nền tảng tư tưởng cho nhiều triết gia,
văn gia Pháp như Jean Paul Sarter, Albert Camus, từ cuối thế kỷ 19 cho đến cuối
thế kỷ 20 và cũng là nền tảng cho chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism).
Nhìn chung, vô thần là một trào lưu tư tưởng khá phổ biến
trong khoảng thời gian một thế kỷ vừa qua. Do đó, nếu Huy Cận là một người Tây
Học (Ông đậu kỹ sư canh nông), nếu có chịu ảnh hưởng thuyết vô thần, hay rõ
hơn, chủ trương loại bỏ Thượng Đế thì cũng không có chi lạ.
Tôi không tìm cái hay ở mỗi câu mỗi chữ trong bài Trình Bày
nói trên, một bài thơ rất được nhiều người ưa thích. Bởi vì tôi không làm công
việc phân tích, phê bình thơ Huy Cận. Nhìn một cách tổng quát, đây không phải
là lời van xin trước Thượng Đế. Huy Cận kêu gọi Thượng Đế đó để phủ nhận Thượng
Đế. Khi ông chết, ông sẻ trả lại cho Thượng Đế trái tim ông, cơ quan căn bản của
con người, nơi hàm chứa sự sống và tất cả yêu thương buồn giận của con người.
(Trước Thượng Đế hiền từ tôi sẽ đặt, Trái tim đau khô héo thuở trần gian). Thượng
Đế đã cho ông sự sống với tất cả những lời răn dạy. Ông đã sống và đã làm tất cả
những gì Thượng Đế răn dạy ông; “yêu thương” là trước nhứt. Ông yêu thương cả
những người không yêu ông, ghét ông, phản bội lại ông (Các đoạn 3, 4, 5, 6, 7,
8) nhưng cuối cùng ông chẳng được gì cả, mọi người đều lạnh nhạt xa lánh (Lòng
tôi đây trọn một đời thương nhớ, Hồn tôi đây thiên hạïbỏ đìu hiu). Ông tin vào
Thượng Đế nhưng chẳng được gì hết. Cũng như Nietzsche, Nietzsche chỉ mong chờ
thành quả ở cõi đời nầy, không phải những phần thưởng hứa hẹn ở cõi đời mai
sau. Huy Cận trả lại cho Thượng Đế những gì Thượng Đế đã cho ông, dù đó là một
kiếp người:
Hỡi Thượng Đế! Tôi cúi đầu trả lại
Linh hồn tôi là một kiếp đi hoang
Sầu đã chín, xin người thôi hãy hái
Nhận tôi đi, dầu địa ngục, thiên đàng.
Ngay chính bản thân ông suy nghĩ như vậy, thế mà Huy Cận phủ
nhận rằng thơ Mới không chịu ảnh hưởng văn thơ Pháp mới là điều lạ?!
Dù Huy Cận có nói lắc léo như thế nào chẳng qua cũng chỉ để
khỏi “phạm trường qui”. Trong Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm, Phan Khôi từng mai
mỉa: “Ới cụ đồ Chiểu ơi là cụ đồ Chiểu. “Ở đây nào phải trường thi, Ra đề hạn vận
một khi buộc ràng”. Ngày xưa chỉ phải “Ra đề hạn vận” ở một kỳ thi, nay thì “Ra
đề hạn vận” kéo dài suốt cả một đời người.
Huy Cận có cái may, ông không có những bài thơ làm ra sau kỳ
“Chỉnh Đảng” như Xuân Diệu, Lư Trọng Lư, nhưng những bài thơ ông làm sau khi
“theo Cách Mạng” chẳng có bài nào ra gì. Thật vậy, nhà thơ Huy Phương đã chứng
minh như sau đây:
“Có lẽ những bài thơ ca tụng “bác” của Huy Cận không nồng
nàn, tận tuỵ như của Tố Hữu, nên chức vụ của Huy Cận cũng là một chức vụ không
có mấy thực quyền, trong một Chính phủ có rất nhiều loại “Thứ… Mấy câu thơ của
Huy Cận làm trong thời gian ở Việt Bắc (1948) sau đây thấy không có gì là thơ,
mà cũng chẳng có gì là “huy cận”:
“Về đây ở với đồng bào
Người quen ngõ thuộc vui nào vui hơn”
(Quanh nơi làm việc)
hay một bài thơ khác ca tụng đất Nghệ Tĩnh:
“Đất nầy đất Xô Viết
Đảng mở hội cờ hồng
Tự tuổi vàng đá biết
Mặn nồng tình công nông”
(Gởi Người Bạn Nghệ Tĩnh)
Hay loại thơ chống Mỹ:
“Giặc Mỹ! Mày hung ác quá chừng!
Bom gieo sạt phố, đổ xiêu tường
Nhưng bao người viết thư tường ấy
Sẽ tống xô mày xuống đại dương
(Những Lá thư trên tường Hải Phòng)
Trước 1945, Huy Cận làm nhiều bài khá hay, vừa mang cái tính
lãng mạn sầu muộn vu vơ, “sầu đến chết” của thi ca tiền chiến, vừa mang tính cổ
thi, những hình tượng và đường nét xưa cũ, mênh mông như vũ trụ, bàng bạc trầm
tư về thân phận người như Trần Tử Ngang (°). Đó là những bài thơ thật hay. Đặc
biệt trong bài Tràng Giang có mấy câu:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngã
Củi một càng khô lạc mấy giòng
Bèo giạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Khôngcầu nối lại niềm thông cảm
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Cầu là phương tiện nối liền hai bên bờ sông, cho người qua lại,
thăm hỏi chuyện trò và… thông cảm nhau. Không cầu, khi cầu đã gãy thì Trầm Tử
Thiêng phải viết “Chuyện một câu cầu đã gãy” để thương tiếc là điều đương
nhiên.
Trước Trầm Tử Thiêng không lâu, Nhất Linh có kể lại khi ông
viết truyện dài “Cô Mùi”, ông có dự tính đặt tên là “Bèo Giạt” lấy ý trong câu
thơ trên của Huy Cận.
Còn một bài nữa, bây giờ không biết tại sao ít thấy phổ biến,
nhưng lại là một bài thơ rất hay, rất triết học, buồn hơn cả mấy câu thơ sau
đây của Hàn Mặc Tử:
Sáng nay vô số lá vàng rơi
Người gái trinh kia đã chết rồi
Có một chiếc xe mầu trắng đục
Hai con ngựa trắng bước hàng đôi.
Bài Nhạc sầu của Huy Cận, tôi thấy Huy Phương ghi lại có mấy
câu. Tôi nhớ cũng không hoàn toàn, xin tạm ghi như sau:
Nhạc sầu
Ai chết đó, nhạc buồn chi lắm thế
Chiều mồ côi đời rét mướt ngoài đường
Phố đìu hiu màu lá cũ lên sương
Sương hay chính bụi phai tàn lả tả
Những bước lạnh teo mộng hồn úa lá
Chim vui đâu cây đã gãy vài cành
Ô chiều buồn sao nắng quá mong manh
Mọi tái nhợt nào cười mà héo vậy
Ai chết đó trục xoay và bánh đẩy
Xe tang đi về tận thế giới nào
Chiều đông tàn lạnh xuống tự trời cao
Không lửa ấm chắc hồn buồn lắm đó
Thê lương vậy mà ai đành lìa bỏ
Trần gian sao nay thành phố đang quen
Nhưng chốc rồi nẻo vắng sẽ xa miền
…..
Và ngựa ơi! Đi nhịp đằm chớ nhảy
Kẻo thân đau chưa quen nệm giường đời
Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi
Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi
Người đã chết một vài ba đầu cúi
Năm, bảy lòng thương xót đến bên mồ
Ôi chiều buồn khi sắp xuống hư vô
Woecester, Mass mùa hè 2005
Hoàng Long Hải (Tuệ Chương)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét