Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2022

Hồi ký song đôi 4

Hồi ký song đôi 4

Tập 2 - N

Thăm lại Nguyễn Gia Trí

Trên kia tôi đã kể liền sau ngày giải phóng Sài Gòn, tôi và anh Diệu đã đến thăm hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí ở một phố hẻm đối diện với chùa Vĩnh Nghiêm.

Ngày 2-9-1987 vừa rồi, tôi trở lại thăm Nguyễn Gia Trí, tôi rủ anh Diệp Minh Châu cùng đi với tôi. Nguyễn Gia Trí từ trong cửa hỏi kỹ tên người đến thăm rồi mới chịu mở cửa. “Huy Cận đây mà?”. Nghe tiếng tôi, anh mở cửa ngay. Anh đã yếu lắm rồi, nhưng đôi mắt vẫn tinh anh, và hàm răng anh vẫn còn biểu hiện một ý chí mạnh mẽ như ngày nào. Tôi hỏi anh có còn tiếp tục vẽ không, thì anh cho biết cách đấy hơn một năm anh bị ngã gãy chân trong lúc ngắm xem một miếng gỗ đẹp nhằm làm sơn mài. Sau khi bó bột lành chân anh không đứng vẽ được nữa. Tôi đọc anh nghe đoạn hồi ký kể anh vẽ chân dung Xuân Diệu theo trí nhớ thì anh nói: “Tôi có tài đến thế kia à”... Tôi hỏi anh: “Sống có vất vả lắm không?” thì anh mỉm cười trả lời: “Nhà thơ hỏi câu ấy làm gì!”. Câu trả lời hóm hỉnh đầy lòng tự trọng của anh làm tôi càng ái ngại cho cảnh sống của anh..

Anh Như Phong đến thăm chúng tôi ở 61 Hàng Bông

Tôi nhớ khoảng sau Tết 1944, anh Như Phong một hôm chủ nhật đến thăm anh Xuân Diệu và tôi trên gác 61 Hàng Bông. Ngồi nói chuyện lân la một lúc, tôi mới hiểu ý anh muốn rủ chúng tôi vào một đoàn thể văn hoá, mục đích là bảo vệ văn hoá dân tộc và phấn đấu cho độc lập của đất nước. Ý anh nói xa nói gần, nhưng sau này tôi hiểu là vận động chúng tôi vào Hội văn hoá cứu quốc lúc đó mới thành lập. Về phía tôi, tôi cũng nói cho anh ngầm hiểu rằng tôi cũng đã tham gia một tổ chức yêu nước, và đang hoạt động trong đám anh em sinh viên và trí thức ở Hà Nội. Nghĩa là tôi cũng muốn vận động anh cùng hoạt động Việt Minh với tôi nhất là trong đám trí thức đang cần có những người trí thức giác ngộ bắt mối, xâu chuỗi. Hai người hiểu nhau như vậy, cùng cười và nói chuyện văn chương tôi có đọc cho anh nghe bài Giọt lệ Hoàng Mai (có in trong tập Hồi ký này), một bài văn nói lên tâm trạng yêu nước đau xót của tôi khoảng năm 1941-1942. Anh Như Phong cũng nói chuyện với chúng tôi về những dự định văn chương của anh, nhất là những bút ký anh định viết về văn hoá văn nghệ dân tộc, về đất nước quê hương. Vài năm trước anh đã cho xuất bản một tập bút ký, nay có lẽ anh viết tiếp theo cái mạch ấy và mở rộng vấn đề ra. Về sau, có lẽ vì anh bận việc, nên tôi không thấy anh hoàn thành tập bút ký mà anh nói chuyện với tôi hôm ấy. Trong buổi gặp nhau trên gác phố Hàng Bông, anh Diệu và tôi cũng có nói nhiều với anh Như Phong về sự cần thiết phải bảo vệ văn hoá dân tộc, cổ vũ thanh niên trí thức trau dồi tiếng Việt phát huy vai trò của tiếng Việt trong mọi mặt đời sống xã hội, vì lúc đó chúng tôi đã thấy một bọn người sau khi xu nịnh thực dân Pháp, đã lại chạy theo xu nịnh phát xít Nhật và om xòm ca ngợi văn hoá, văn nghệ Nhật. Sau này anh Như Phong mấy năm làm giám đốc Nhà xuất bản Văn hoá, tôi lại có dịp tiếp tục bàn với anh vấn đề khai thác và phát huy vốn văn nghệ tốt đẹp của cha ông. Cũng trên tinh thần ấy, mà nhà xuất bản đã liên tiếp cho tái bản những tác phẩm của Nguyễn Du và các nhà thơ cổ điển khác.

Lần đầu tiên thăm làng Bát Tràng

Cuối năm 1940, một hôm chủ nhật, trời rét ngọt một nhóm sinh viên chúng tôi rủ nhau đi thăm làng Bát Tràng, làng làm gạch và làm đồ gốm nổi tiếng nằm bên kia sông Hồng. Trong số đi thăm hôm ấy có cả sinh viên luật học, y học, canh nông, người Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ đủ cả. Cùng đi với chúng tôi có chị Phùng Thị Duy Cúc, lúc đó học nha khoa, bây giờ là nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị khá nổi tiếng ở Paris. Tất cả chúng tôi ai cũng thuộc mấy câu ca dao:

Trên trời có đám mây xanh,

Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng.

Ước gì anh lấy được nàng,

Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây.

Xây dọc rồi lại xây ngang,

Xây hổ Bán nguyệt cho nàng rửa chân,

Có rửa thì rửa chân tay,

Chớ rửa lông mày, chết cá ao anh.

Buổi sáng hôm ấy không những trời rét, là lại hơi âm u, gió sông thổi vào làng từng đợt gió lạnh buốt. Sau khi đi xem các lò gạch và gốm, chúng tôi có tập hợp nhau lại ở đình làng để nói chuyện. Anh chị em biết tôi là nhà thơ bảo tôi nên nói một mẩu chuyện gì về văn chương, văn hoá đất nước. Tôi không được chuẩn bị nhưng cũng nói vo câu chuyện về sự tiến hoá của tính tình người Việt Nam trong quá trình mở mang đất nước trong quá trình Nam tiến. Câu chuyện của tôi xoáy cái ý chính sau đây: dân tộc ta cũng như một người đi đường xa, lúc ra đi trên vai mang một tay nải nặng, dần dần bỏ bớt vài thứ cho nhẹ gánh, nhưng dọc đường lại gặp nhiều của quý lại cho vào tay nải, vốn lại giàu thêm, cứ thế cho đến cuối đường đã trở thành một người giàu có mà cái vốn ban đầu mang đi vẫn còn gần như nguyên.

Những đức tính, những tính tình của dân tộc ta trên đường Nam tiến, cũng được bổ sung dần, nhiều đức tính mới, tốt đẹp làm giầu thêm những đức tính cố hữu. Cuộc sống mấy mươi thế kỷ của dân tộc ta là một sự phát triển hài hoà, thêm mà cũng củng cố thêm cái vốn tinh thần cố hữu của dân tộc. Ý này về sau tôi đã viết lại kỹ hơn trong tập bút ký Tao phùng (1942).

Tôi bị ngã ngựa ở Việt Bắc

Tháng 6-1954, một buổi tối tôi đi họp Hội đồng Chính phủ về, thì cách nhà lán khoảng 300 thước tôi đã lên tiếng gọi em Kiên, người phục vụ tôi, ra đón.

Tôi cưỡi một con ngựa trắng, cao hơn con ngựa xích thố mà tôi đã kể trong một đoạn trên. Con ngựa này cũng tương đối hiền, đi qua đèo qua suối theo nhịp độ mà tôi muốn, chứ không chạy ào hay là phi theo ý muốn của nó có khi rất nguy hiểm nhất là khi đi qua rừng nứa. Như thường lệ hôm ấy ở Hội đồng Chính phủ về trên vai tôi mang một chiếc ba lô chất đầy tài liệu và vài quyển sách tôi mang theo đọc, lại kèm mấy củ sắn tươi mà bà con gần nơi họp biếu tôi. Con ngựa thủng thẳng đi về phía nhà lán tôi ở thì em Kiên mang chiếc đèn bão ra đón. Thế là ngựa gặp đèn đưa ngang lên tầm mắt nó, bị choáng váng và nó nhảy lồng lên, hất tôi lên cao cả người và ba lô rồi tôi rơi bịch xuống đất, rơi trong tư thế ngồi, ba lô vẫn dính trên lưng. Tôi đau điếng, tưởng như có thể ngất đi được, và kêu to một tiếng “Chết anh rồi Kiên ơi!”.

Con ngựa sau khi hất tôi lên, cũng đứng yên tại chỗ ngoảnh về phía tôi. Còn em Kiên thì hoảng sợ và gọi người ra cứu tôi. Mấy anh em văn phòng hội đồng Chính phủ ra nhấc tôi dậy, tôi đau buốt quá, như là trụn xương sống, anh em phải lấy tấm ván đặt tôi nằm lên và khiêng tôi vào nhà lán. Tôi vẫn tỉnh táo nhưng hết sức đau nhức, và phải nằm yên, cựa bên trái hay bên phải đều đau nhói. Thế là tôi phải nằm dính ván hơn một tuần, ăn uống thì đã có em Kiên chăm sóc, bữa ăn cơm, ăn cháo. Đồng chí y tá của cơ quan có cho mọi thứ thuốc bóp và tiêm thuốc giảm đau cho tôi. Anh em có báo cáo với Bác Hồ là tôi bị ngã ngựa đau, Bác liền bảo anh Trường (hoặc anh Kháng, tôi không nhớ rõ) đem cho tôi một mẩu mật gấu để hoà tan trong rượu vừa uống vừa xoa bóp chỗ đau. Nhờ thế mà sau mấy hôm tôi đỡ đau hẳn, và bác sĩ Chánh khám cho tôi thì cũng thấy không có vết thương, chỉ là một dây thần kinh bị chèn do xương sống dồn mạnh lúc tôi ngã từ cao xuống. Lúc bấy giờ phái đoàn chính phủ ta đi dự hội nghị Giơ-ne-vơ về vấn đề chiến tranh Đông Dương, về vấn đề lập lại hoà bình ở Việt Nam, sắp lên đường. Tôi đỡ đau, cũng đi rất thong thả, đến chào anh Tô (tức là Thủ tướng Phạm Văn Đồng) và cũng để nghe anh dặn dò công việc ở nhà (vì lúc đó tôi là thứ trưởng Tổng thư ký Hội đồng Chính phủ). Anh Tô cũng cho tôi một mẩu cao hổ cốt để uống cho lành hẳn chỗ đau... Từ đó cho đến lúc về Hà Nội, tôi thấy không có biến chứng hay dị tật gì do ngã ngựa cả. Nhưng đến mùa thu 1956, tôi thấy hơi đau nhức trở lại, tôi gặp bác sĩ Tôn Thất Tùng; sau khi khám xét và chiếu X quang, anh cho tôi nằm bệnh viện Phủ Doãn (tức là bệnh viện Việt Đức) tiêm các thứ thuốc cần thiết, nhất là thứ thuốc bồi lại dây thần kinh trước đây bị chèn. Với đợt nằm bệnh viện hơn 2 tuần này, tôi khỏi đau hẳn, và lại được lãi mười mấy bài thơ mà thi hứng đến với tôi trong những đêm nằm một mình tại bệnh viện. Những bài thơ này tôi đã chọn lọc lại và cho in một số vào tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng (xuất bán cuối năm 1958). Cùng nằm bệnh viện với tôi lúc đó có anh Tôn Thất Phùng và chị Thoa thường hay đàm đạo văn thơ với tôi vào những buổi chiều, sau giờ ăn cơm. Câu chuyện với những người tri kỷ, tri âm cũng khuyến khích tôi làm thơ, trong cái đà tôi trở lại sáng tác dồi dào, hào hứng trước cuộc sống mới. Cũng xin nói thêm, là sau lần ngã ngựa ấy, tôi vẫn đi công tác tại Việt Bắc bằng ngựa, chỉ có điều là đi càng cẩn thận và dặn em Kiên ra đón tôi lúc trở về thì đừng cầm đèn. Con ngựa trắng của tôi, hình như nó cũng hiểu là tôi đã bị ngã đau, nên nó đi càng chậm rãi, và những lúc lên dốc nó không chạy còn tôi thì tôi bám thật chặt vào bờm ngựa và hai chân kẹp chặt bụng ngựa. Đến đầu tháng 10-1954, tôi cùng một số anh em trong Chính phủ ra bến đò Bình Ca để xuôi thuyền về Sơn Tây (trước khi về Hà Nội), thì tôi giao lại con ngựa trắng cho anh em văn phòng còn ở lại thu xếp công việc, về sau. Tôi còn nhớ rõ lúc tôi rời cái nhà lá ra đi, và chào con ngựa của tôi thì nó dẫm hai chân xuống đất một lúc rồi hý lên: không biết đó là một phản xạ ngẫu nhiên của nó hay là thứ tình cảm “khuyển mã chi tình” mà nó thể hiện bằng ngôn ngữ riêng biệt của nó. Dầu sao tôi bước ra đi, từ giã Việt Bắc để về Thủ đô với hình ảnh lưu luyến của con ngựa trắng đã bao năm tháng cùng tôi băng rừng, leo đèo, lội suối trong lòng thấy ngùi ngùi, xúc động.

Tôi bị xuất huyết nặng ở đáy mũi cuối năm 1974

Đầu tháng 11-1974, có “đoàn văn công giải phóng” ở bưng biền miền Nam ra Hà Nội tập huấn, để chuẩn bị đi biểu diên ở các nước anh em. Đoàn do anh Mười Đờn phụ trách và do anh Lưu Hữu Phước lãnh đạo về chính trị và nghệ thuật. Tôi phải làm việc trực tiếp với đoàn trong vài tuần, đêm nào cũng họp cũng bàn tỉ mỉ từng tiết mục, có khi rất căng thẳng vì những sự tinh tế của nghệ thuật đã đành, mà cũng một phần do những sự xung khắc tinh tế giữa những người chỉ đạo nghệ thuật nữa. Tóm lại sự căng thẳng ấy kéo dài hàng đêm, làm tôi mất ngủ và huyết áp đột ngột lên cao mà tôi không biết, và một buổi chiều tôi thấy máu chảy ộc ra ở mũi thì tôi tưởng là máu cam, lấy bông dịt lại. Qua đêm máu vẫn ri rỉ chảy, và sáng hôm sau tôi vẫn cố gắng ra nhà hát thành phố nói chuyện với anh em trong đoàn về cách tu chỉnh, nâng cao các tiết mục trước khi đoàn đi.

Tôi đang nói thì máu lại ộc ra ở mũi, tôi lấy mu xoa lau thì ướt thấm cả mu xoa. Anh em phải đem tôi vào bệnh viện Việt Xô ngay. Vào bệnh viện tôi vẫn chủ quan, cho là một sự chảy máu thường, tiêm thuốc cầm máu là khỏi. Nhưng đến khi bác sĩ Phúc xem xét kỹ, mới thấy đây là một sự xuất huyết khá nặng do đứt một mạch máu ở đáy mũi bên phải, mà sự đứt mạch máu là do huyết áp lên cao quá đột ngột. Bác sĩ Phúc còn nói: “May lớn cho anh. Nếu không đứt mạch máu ở đáy mũi mà đứt một mạch máu não thì không còn nhà thơ Huy Cận!”. Tôi nghe vậy, hơi chờn, nhưng cũng tin vài ngày sẽ khỏi. Bác sĩ Phúc cho bông thấp thuốc cầm máu vào mũi tôi, rồi nhét một sợi gạc dài gần 3 tấc; bông và gạc nhét vào căng và tức trong mũi, gây đau nhức lên đầu.

Thế là tôi phải nằm yên và thở bằng miệng. Hai mươi bốn giờ sau, bác sĩ kéo nhẹ sợi gạc ra thì thấy máu vẫn chưa cầm, nhưng tôi vẫn bình tĩnh, cho là vài ngày sẽ đâu vào đấy Anh Diệu và vợ tôi vào thăm tôi hàng ngày, vợ tôi có ngày vào hai lần mang một ít thức ăn bổ sung, và nhất là ngồi trông nom tôi hàng giờ để cho tôi ngủ yên, có tối đến 9, 10 giờ vợ tôi mới ra về. Chính trong những ngày nằm bệnh viện này tôi đã viết được “Chùm thơ làm trong bệnh viện” mà anh Diệu rất thích (những bài thơ này đã in một số vào trong tập Ngày hằng sống, ngày hằng thơ và tập Ngôi nhà giữa nắng.

Sau một tuần, máu vẫn không cầm, tôi bắt đầu hoang mang; lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy hơi chờn trước cái chết có thể đến. Những năm tôi đi vào khu 4 khói lửa, suýt bị chết rất nhiều lần ở Vĩnh Linh, ở Quảng Bình, ở cầu Hàm Rồng mà chưa bao giờ tôi có cảm giác hoảng sợ trước cái chết lướt bên cạnh mình. Nhưng lần này thì khác. Một đêm, đã khuya tôi bừng tỉnh dậy, thì thấy cả cái gối ướt đẫm máu, và tôi bắt đầu sợ. Nhưng tính nào tật ấy, tôi gọi bác sĩ đến dịt bông và băng cho tôi tiêm thuốc cầm máu nữa, nhưng trong đầu lại thảo một bài thơ. Đó là bài Hạt lại gieo, xin nhắc đây mấy câu nói lên cái tâm trạng đêm hôm ấy:

Anh nghỉ làm thơ để máu cầm

Máu ơi, ở lại chớ ra dầm

Máu là thế giới trong ta đó

Chớ để ta nằm với lặng câm

Yêu nữa yêu rồi đâu hết yêu

Cuộc đời như miếng đất phì nhiêu

Trồng bao nhiêu vụ còn tươi tốt

Hạt gặt xong rồi, hạt lại gieo

Rồi một ngày kia giã cõi này

Xin cho gieo hết hạt trong tay

Chứ tay còn nắm, chưa vơi hạt

Mà phải ra về, cực lắm thay!

Nỗi tiếc nuối còn dào dạt suốt cả chùm thơ bệnh viện, tôi xin kể thêm một hồi sau...

Hai lần thăm Kim Tự Tháp

Tháng 2-1962, tôi dự Đại hội nhà văn Á Phi tại Cairo, thủ đô Ai Cập; vào tháng 7 năm ấy tôi lại sang Cairo để dự lễ quốc khánh Ai Cập. Cả hai lần tôi đều tranh thủ đi xem những Kim Tự Tháp nổi tiếng, thành phố Memphis và thành phố Alexandrie, hai thành phố cổ nổi tiếng, tiêu biểu cho nền văn minh cổ Ai Cập Đặc biệt tôi đã thăm kỹ Kim tự tháp Khéops và đã chui vào lòng, trung tâm điểm của Kim tự tháp.

Cảm giác kỳ vĩ, có phần nào choáng ngợp mà tôi cảm nhận trước công trình kiến trúc đồ sộ và độc đáo thì cũng trùng hợp với cảm giác của các nhà văn nhà thơ đã đến trước tôi. Nhưng cái điều mà tôi băn khoăn là bấy nhiêu sự chăm lo, săn sóc cho cái vĩnh viễn của con người lại bị lở lói mất, bị xói mòn bởi những trận gió cát của sa mạc, và của thời gian.

Cát!

Tuổi nhỏ tôi đã rất quen thân với cát của bãi Giang quê nhà, tôi đã chạy trên bãi cát để thá diều những buổi trưa hè, tôi đã lấy tay đào sâu xuống cát để chơi trò cối xay... Cát đối với tuổi thơ bé của tôi là một cái gì êm ả, gần gũi, thân thương. Lớn lên đi khắp miến đất nước cát gắn liền trong tâm trí tôi với phù sa, cát và phù sa sông Hồng, sông Luộc, cát với phù sa của sông Cứu Long trên đất Nam Bộ phì nhiêu. Cát mịn, cát tơi, cát mát... Cát xây nhà, những đống cát là chỗ mà các trẻ con, con tôi, bây giờ là cháu nội của tôi thích vọc, thích đắp để làm trò xây nhà. Lại còn cát trên bãi biển những chiều sóng lên trẻ con cũng như người lớn xây những lâu đài, xây chưa xong sóng đã cuốn đi. Và cát trong câu thơ của Lưu Trọng Lư:

Trên cát vô tình vạch chữ Vân

Chữ viết vừa xong, sóng xoá dần.

Nhưng lần này tôi mới biết thế nào là cát, là cát sa mạc, là cát với tư cách là một sức mạnh của trời đất nổi tung lên đe doạ và phá hoại những công trình những sự nghiệp của con người... Ở rìa sa mạc Ai Cập cũng như ở rìa sa mạc Angiêri tôi đã thấy cát là một nhân vật, một nhân vật dữ dội, một hung thần có những cơn giận dữ đúng là long trời lở đất. Cho nên đứng ở chân Kim tự tháp, hình ảnh cát hung thần đã ám ảnh tôi:

Chỉ có trời xanh thay cỏ cây

Mênh mông sa mạc cát làm ngày;

Cát làm đêm nữa. Trăng phơi cát

Sao sáng đằng xa hay cát bay

Vua chúa không yên chịu cát vùi

Trăm kim tự tháp đá chen trời

Năm nghìn năm đứng cười sa mạc

Nắm chắc trong tay vĩnh viễn rồi...

Nhưng đó là chưa tính đến sức mạnh của cát và của thời gian. Cho nên cái vĩnh viễn vua xây dựng bị cát của sa mạc và nước của thời gian xói mòn, không một sức gì cưỡng được...

Nhưng rồi sao, Kim tự tháp ngàn năm

Trong lòng tôi một xác ép vua nằm;

Dời chân tôi vạn thần dân chết lụi.

Vua muốn thắng thời gian vòi vọi

Nằm yên trong giấc đá, kín bưng.

Suốt đời vua lo chỗ ngủ cuối cùng,

Ôm cái chết mong thắng dần cái chết.

Thời gian thổi, hồn vua không sợ rét,

Mặt trời quay, trục tháp chẳng mòn xoay.

Vua ngủ yên nhưng tôi thức đêm ngày;

Cát, cát cát nổi từng cơn dữ dội,

Cát thổi đập vào mình tôi nhức nhối.

Tôi thức vua cho vua biết:giữa trăng sao

Hạn nằm trong vĩnh viễn chẳng còn bao

“Dậy vua ơi! Cái chết chẳng thể rào

Được cái chết”. Vua ngủ mê giấc đá

Lở chân trời nhiều bạn tôi tàn tạ,

Hắt ra ngoài vĩnh viễn xác vua phơi...

Tôi thấy thời gian rúng lạnh bốn chân tôi...

Hai chuyến đi thăm Ai Cập có để lại cho tôi nhiều ấn tượng nữa, chứ không chỉ cảm nghĩ về Kim tự tháp. Nền văn minh cổ Ai Cập mà dấu vết còn đầy rẫy trên đất nước sông Nin này, tôi sẽ xin ghi những cảm tưởng Ai Cập một lần khác. Nhưng cũng xin ghi ngay ở đây cái cảm giác mát mẻ, xanh tươi của những mảng sa mạc đang biến thành vườn, thành đất trồng trọt màu mỡ nhờ nước của đập Átxuăng mà Liên Xô đã giúp Ai Cập xây dựng, một công trình thuỷ lợi khổng lồ trên đất châu Phi, một sự lấn đất quyết liệt của con người chống lại sa mạc.

Chính cũng trong hơi gió mát của vườn mới, đất mới ấy mà tôi đã viết bài thơ Trò chuyện với Kim tự tháp mà câu cuối cùng là:

Bóng Kim tự tháp trải lên bờ sông mát

Thăm di tích Babilon

Tôi lại có cái may mắn được thăm đất nước Irắc hai lần: lần đầu tháng 7-1962 để dự quốc khánh Irắc và lần thứ hai năm 1980 để dự hội nghị các nước không liên kết về công tác văn hoá, thông tin, truyền thông. Đất nước Irắc rất đẹp, đẹp một phần vì phong cảnh và các công trình xây dựng ngày nay, đẹp một phần lớn nữa là do quá khứ văn minh của cái đất nước “Nghìn lẻ một đêm” này. Tôi đã say sưa đi dạo giữa các phố của thành phố Bát-đa cũ, với cuộc sống nhộn nhịp như rào rào sinh khí của nhân dân, làm tôi tưởng như mình đang đi trong một dòng truyền thuyết và có cảm giác như ở bất cứ ngõ hẻm nào của phố xá cổ sơ này cũng sắp hiện ra một ánh đèn Alađanh.

Phụ nữ Irắc rất đẹp, da trắng mịn, má ửng hồng tự nhiên, mắt đen láy, tóc đen mượt, mũi cao dọc dừa nghĩa là một cái đẹp Âu Á kiêm toàn. Chỉ tiếc là lúc tôi sang thăm, đa số các chị còn theo phong tục xưa mang khăn quàng kín mặt, chỉ để hở vừng trán và đôi mắt, nhưng dường như thế cái đẹp của các chị có bề hấp dẫn hơn...

Mỗi lần tôi đều tranh thủ đi thăm di tích kinh đô ngày xưa là Babilon. Dọc đường những rặng cây chà là cũng mang dáng dấp những công trình kiến trúc với thân cây vững chãi, với ngọn cây túa đẹp như những ngọn tháp, như những cột nhà Hi Lạp ngày xưa. Lý thú nhất là xem lại những đường phố của Babilon còn nguyên vẹn với những gạch hoa, những mảng tường lớn trang trí bằng những hình sư tử lớn và hình ngựa cao to, tất cả đều bằng gốm men màu chủ yếu là màu xanh lá cây và màu nâu. Màu men gốm vẫn tươi ánh như mới ra lò. Giữa những đường phố có tường trang trí lộng lẫy này, vua quan, công hầu bá tước, và những nàng công chúa đẹp như truyền thuyết đã dạo qua trong những ngày lễ lớn, trong những ngày hội của triều đình, trong những ngày đăng quang của các vị hoàng đế. Bên cạnh cái lộng lẫy của đời sống vua chúa tôi còn được thấy những vết tích của công trình thuỷ lợi, những hệ thống cống rãnh của một thành phố lớn xưa kia. Ở Babỉlon đối với khách phương xa đến còn hai di tích nổi tiếng là con sư tử bằng đá cao to, chưa sứt mẻ chút nào, và cái vườn treo Babilon. Cũng như khách thập phương khác tôi đã có cái thú trèo cưỡi lên con sư tử để chụp ảnh cùng một đồng chí Anbani đi vãn cảnh hôm đó. Anh này tôi còn giữ, với lời đề tặng của đồng chí Anbani: “Mong rằng chúng ta - những con người - sẽ còn đứng vững bền hơn con sư tử này”. Nếu là loài người nói chung thì câu đề tặng ấy chắc chắn là đúng. Còn riêng đồng chí Anbani và tôi đã thăm Babilon hôm ấy thì chắc rằng đứng trên trái đất này chẳng còn bao năm. Còn cái vườn treo của Babilon thì đã xơ xác đi nhiều, tất nhiên còn cái dáng của vườn và đã có một ít cây cối cằn cỗi trên mảnh đất treo ấy. Câu chuyện thì ai cũng biết: Có một ông vua thời đó cưới hoàng hậu rất đẹp quê quán ở một làng hẻo lánh xa xôi cách kinh đô Babilon hơn trăm dặm. Hoàng hậu rất mực yêu vua, chiều chuộng vua không phải với nghi lễ của một chánh cung, mà với tất cả cử chỉ âu yếm đắm say của một người yêu, của một người tình, mà tình yêu của cái xứ “Nghìn lẻ một đêm” này thì đắm say, đam mê như thế nào chúng ta cũng có thể tưởng tượng. Nhưng hoàng hậu vẫn nhớ nhà, vẫn nhớ cha mẹ, nhất là nhớ mẹ. Chiều chiều hoàng hậu cứ ra cửa sau của hoàng cung để nhìn về phía quê mẹ mà ứa nước mắt. Vua thấy vậy càng yêu hoàng hậu và càng thương. Vua bèn cho xây một cái vườn treo khá cao trên vườn treo trồng các thứ cây, hoa của quê nhà hoàng hậu, để chiều chiều hoàng hậu lên đó dạo chơi tiêu khiển, nhưng, hoàng hậu đứng trên vườn treo vẫn nhìn về quê mẹ, mà một câu thơ của Babilon hồi ấy cũng nói là hoàng hậu nhìn về quê mẹ lòng đau đớn không nguôi. Thật đúng như câu ca dao của ta:

Chiều chiều ra đứng cửa sau

Nhìn về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Xem tế Nam Giao

Bảo Đại về nước năm 1934, học sinh trường Quốc học, trường Đồng Khánh và các trường tiểu học ở Huế, cùng với đội ngũ giáo viên đều được huy động đi rước “Hoàng đế hồi loan”. Chúng tôi lúc đó mỗi đứa phải cầm một tờ giấy màu vàng (màu của nhà vua) và khi xe của Bảo Đại đi ngang thì phất cờ và hô “Hoàng đế vạn tuế”. Xe của Bảo Đại đi ngang đám học sinh cũng chạy tương đối nhanh, chúng tôi liếc vào thấy Bảo Đại bận áo vàng, chít khăn vàng, ngồi im không nhúc nhích như phỗng đá, không hề giơ tay vẫy chào đám người đi đón ông ta. Vả lại cửa kính của xe cũng đóng kín, chắc ông ta cũng không nghe thấy tiếng hô “vạn tuế” rời rạc của đám học sinh.

Mùa xuân năm 1935, một năm sau khi Bảo Đại về nước, triều đình Huế tổ chức lễ tế Giao (nghĩa là nhà vua làm lễ cúng trời ở đàn Nam Giao, cách trường Quốc học 3, 4 cây số về phía núi Ngự Bình). Lễ tế giao này đã được quy định từ thời Gia Long, với cái ý nghĩa là nhà vua cầm quyền cai trị dân, cai trị đất nước là do mệnh trời, cho nên cứ 3 năm một lần nhà vua làm lễ tế giao để trình lại với trời công việc trị dân, trị nước, và cũng để cảm nhận ý trời trong sứ mệnh cao cả của nhà vua. Theo thuyết của Khổng Tử và truyền thống của các triều đại Trung Quốc thì vua là Thiên tử (con trời), nhưng các nhà vua triều Nguyễn không dám tự xưng là thiên tử với nhân dân, chỉ dám nói qua quít là trị dân, trị nước theo ý trời mà thôi.

Đó cũng là một sự mặc cảm của một triều đại mà trong tiềm thức cũng tự cảm thấy cái vị trí con trời đã bị lung lay, cái mệnh trời cũng không còn là một “chân lý” vững chãi nữa, dù cho là “chân lý” tượng trưng, hình thức. Bảo Đại theo nghi lễ của triều đình làm lễ tế giao này cũng là làm chiếu lệ, cho qua chuyện chứ không với một lòng tin như các ông vua ở các triều đại trước.

Đến ngày lễ tế giao, triều đình rước Bảo Đại ra cửa chính Ngọ Môn, đi qua cầu Tràng Tiền, đi thẳng con đường lớn dọc sông Hương (lúc đó là đường Jules Ferry, đi qua trước trường Đồng Khánh và trường Quốc học), rồi đi thẳng lên đàn Nam Giao. Chúng tôi tập trung trước cửa trường Quốc học, gọi là chào vua, mà thật ra là tò mò xem ông vua đi tế trời như thế nào. Bảo Đại ngồi trong một cái kiệu 4 mặt đều che bằng những tấm kính lớn trong suốt, kiệu do tám người lính gánh, lính của Hoàng thành đội nón dầu, mặc quần áo vải điều và quấn xà cạp bằng vải điều có viền nỉ xanh tím. Còn Bảo Đại thì ngồi nghiêm nghị trong bộ áo quần hoàng bào, đầu chít khăn vàng, chân đi giày cườm. Nhà vua cũng ngồi im như pho tượng, không nhúc nhích, mắt cố gắng nhìn thẳng phía trước. Các quan đại thần đi theo sau cũng ngồi trong những chiếc xe hòm đen, những chiếc xe kiểu năm 1900, các quan bận lễ phục hoặc bận áo dài đen, chít khăn chữ nhất, rồi lên đến đàn Nam Giao mới mặc áo đại lễ. Trước kiệu của nhà vua có hàng lính Nam triều mang cờ đi trước, tôi nhớ có cờ đại và nhiều cờ đuôi nheo bằng nỉ đỏ viền tím xanh. Tiếp theo hàng cờ là đội lễ nhạc, nghĩa là một phường bát âm của triều đình, vừa đi vừa tấu bài nhạc “Đăng đằng cung”. Cuộc rước nhà vua từ Ngọ Môn lên đến đàn Nam Giao diễn ra trong nửa buổi sáng cũng không lấy gì lâm rực rỡ lắm, mà cũng không gây được cái gì gọi là náo nức trong lòng dân chúng. Đó là một cuộc rước không đến nỗi âm thầm, nhưng cũng không có gì là “khí phách thiên tử”. Đêm hôm ấy Bảo Đại phải ăn chay tắm rửa bằng các thứ nước cho nhiều hoa lá xông vào để nhà vua được thật “thanh khiết” trước khi tiếp xúc với trời. Ăn uống và tắm rửa như vậy, người ta gọi là lễ trai giới của hoàng đế. Đến khoảng 4 giờ sáng thì nhà vua và triều đình làm lề tế trời, trong bầu không khí mát mẻ và yên tĩnh của ban mai, trước khi mặt trời mọc.

Đàn Nam Giao là một cái nền hình tròn (tượng trưng cho trời), có ba bậc tam cấp cao vừa vừa, có bốn cửa đi lên theo hướng đông, tây, nam, bắc. Ngày tế giao thì triều đình cho dựng lên trên nền đàn Nam Giao một cái nhà tế với những cột gỗ cắm vòng quanh nền tròn và lợp trên những cột gỗ là một thứ tăng bằng vải màu xanh lơ (cũng là tượng trưng màu xanh của trời). Bọn tôi tò mò, ngủ dậy sớm, rủ nhau trèo tường ra khỏi trường và lên Nam Giao để xem tế.

Trong ngọn gió mai rì rào qua những cây thông chúng tôi nghe lễ nhạc thoát qua cái tăng màu xanh và những lời xướng lễ của các quan như vọng từ một quá khứ cổ sơ. Cảnh tượng ấy cũng gây cho chúng tôi một cảm tưởng hay hay, hiu hiu. Nhưng tất cả cảnh vật và nghi lễ ấy, ngay lúc bấy giờ, cũng không còn đủ cái vẻ thiêng liêng, không còn cái nội dung quân thần của các thời đại lịch sứ xa xưa nữa, cho nên không thể làm rung động lòng thanh niên chúng tôi, dù là một thứ rung động hoài cổ. Thật ra ngay bản thân nhà vua cũng cảm thấy đây là một cái trò một nghi lễ giả tạo, cái hồn của nghi lễ không còn nữa, chỉ còn cái xác của nghi lễ, cũng như ông vua bù nhìn chỉ còn cái xác vua chứ quyền trị vì, trị dân, trị nước đâu còn có nắm trong tay. Cảm giác giả tạo cảm giác trò sân khấu ấy làm chúng tôi không còn hứng thú xem hết lễ tế giao còn kéo dài mấy tiếng đồng hồ, và chúng tôi cũng không màng xem lễ rước vua hồi cung. Thế mà nhà văn Nguyễn Tiến Lãng đã viết trong tạp chí Nam phong hồi đó một bài tường thuật bằng tiếng Pháp hết lời tán tụng lễ tế giao tán tụng nhà vua, cố gắng tạo ra cái không khí thiêng liêng gần như một thứ không khí tôn giáo trong việc nhà vua tiếp xúc với trời để nhận những ý trời trong bầu không khí tinh khiết và trầm mặc của buổi rạng đông. Giả tạo lại được giả tạo ca ngợi là vậy.

Đồng Minh thắng hay Trục thắng?

Lúc xảy ra cuộc tiến công của phát xít Hít le vào Liên Xô (1941), thì tôi ở Pôpốt cùng một số anh em sinh viên các ngành tại số nhà 198 phố Lò Đúc, trước cây đa Nhà bò. Trong số anh em sinh viên ở chung ăn chung, khoảng 10 người, tự nhiên chia làm hai phe, và mỗi phe cũng khoảng 5 người, một bên thì đánh cuộc và mong rằng Liên Xô và đồng minh thắng, phe kia thì mong và tin chắc rằng Trục (tức là liên minh Đức - Ý- Nhật) sẽ thắng. Ngày nào tôi cũng ghé qua bưu điện để xem tin của hãng ARIP đưa tin về diễn biến chiến sự trên chiến trường châu Âu, châu Á, và xem đều báo tiếng Pháp “Ý chí Đông Dương” (La volonté Indochinoise). Tờ báo này là của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, đăng tin có vẻ khách quan nhưng thực ra cũng ngầm mong là Đồng minh sẽ thắng song những bài bình luận thì nói lấp lửng, vì lúc đó bọn phát xít Nhật đã vào Đông Dương và chúng cũng theo dõi sát các cơ quan ngôn luận của người Việt và người Pháp. Trong đám chúng tôi đã ít nhiều giác ngộ, thì không những mong ước, mà cũng có chút ít lập luận để tin rằng Liên Xô sẽ thắng, mặc dầu cuối năm 1941, đầu năm 1942 Liên Xô bị tấn công ào ạt, và bị tổn thất lớn. Nhưng đầu năm 1942 đã thấy sự cầm cự của Liên Xô rất ngoan cường nhất là trong những trận ở Koursk và Orel... Thế rồi trong những buổi ăn trưa và ăn tối trong cái phòng ở tầng dưới, hai phe đều đưa tin, với những chi tiết để thuyết minh rằng Liên Xô thắng hay là Trục thắng... Từ chỗ đưa tin đến chỗ bàn cãi, từ chỗ bàn cãi đến chỗ đập bàn, từ chỗ đập bàn đến chỗ thụi nhau, đánh nhau, có lần vỡ cả bát đĩa. Tính tôi thường là điềm đạm, mà cũng có lần hăng máu tham gia cuộc “chiến đấu” trong buồng ăn, nó là hình ảnh thu gọn của cuộc chiến tranh đang diễn ra trên chiến trường châu Âu, châu Á. Tôi nhớ có một anh học ngành dược, mắt cận thị nặng, đeo kính cận thị dày, đầu lại húi ngắn, giống y như một tên lính Nhật, và anh cũng đứng về phía bênh vực bọn phát xít. Trong lúc cãi nhau hăng máu chúng tôi đã gọi anh là “thằng phát xít trà trộn vào chúng ta”. Anh tức uất lên, nhưng không cãi gì được, chỉ doạ “rồi chúng mày sẽ biết!”. Anh ta rất thân với một anh học trường luật quê ở Quảng Nam có xu hướng thân Nhật và thỉnh thoảng anh bạn cận thị lại mời anh sinh viên trường luật đến thuyết trình về chủ nghĩa Đại đông Á cho chúng tôi nghe. Nhưng anh bắt đầu nói thì phe chúng tôi đứng dậy bỏ đi, không gây sự nhưng cũng không giữ lễ độ, khinh khỉnh ra mặt. Thành ra anh sinh viên trường luật thân Nhật lại thuyết trình cho những người đồng điệu mà thôi. Thế rồi anh sinh viên trường luật này được Nhật mời sang học và nghiên cứu tại Tôkyo, thực chất là để đào tạo thành một nòng cốt của bọn Nhật sau này khi chúng nắm quyền lực ở Đông Dương, điều mà chúng tin chắc sẽ thực hiện. Phe Trục trong pôpốt chúng tôi làm một bừa tiệc linh đình để tiễn anh T.H. lên đường đi Nhật. Cuộc tiễn đưa diễn ra ở sân ga Hàng Cỏ. Tất nhiên là bọn chúng tôi tẩy chay, nhưng chúng tôi cũng không gây sự, để mặc cho bọn họ bù khú với nhau, vì lúc đó hie~l binh Nhật đã sục sạo nhiều trong các tổ chức xã hội, trong các trường học. Tôi lại còn nhớ, về sau khi tôi đã chuyển sang ở ngõ Tân Hưng (nay là ngõ Tức Mạc), thì bọn lính Nhật thỉnh thoảng tự nhiên vô cớ sục vào pôpôt của chúng tôi, mặt đỏ gay, gươm dài kéo lết đất, lúc đầu nói sừng sộ, rồi sau ra hiệu mượn một cái bát, và rút trong túi lấy ra một quả trứng gà. Chúng tôi không hiểu nó làm trò gì. Thằng lính Nhật hình như là hạ sĩ quan, liền đập quả trứng nhẹ nhàng bỏ vào cái bát và chỉ cho chúng tôi thấy lòng đỏ ở giữa, bao quanh là lòng trắng. Rồi nó lấy giấy vẽ cái cờ Nhật ở giữa là mặt trời đỏ và xung quanh toàn trắng, nghĩa là mặt trời lên lúc rạng đông. Đó là nước Nhật. Xong rồi nó lại lấy ngón tay đánh tan lòng đỏ hoà vào với lòng trắng thành một màu tuyền vàng, ý nói là người châu Á cùng da vàng đoàn kết với nhau, hoà với nhau thành một khối trong khối thịnh vượng chung Đại đông Á. Đó là cách tuyên truyền bằng hình tượng của quân đội Nhật. Nó bước ra, vẫn kéo lê lết chiếc gươm dài, hơi cười một chút nhưng cái cười của bọn lính Nhật thì dễ sợ không kém lưỡi gươm nhọn sắc của chúng. Chúng lại thỉnh thoảng vứt vào nhà chúng tôi những tập sách mỏng in đẹp, tuyên truyền cho nền văn minh Nhật, có những hình ảnh về nghi lễ trà đạo, về lễ thưởng thức hoa anh đào, về núi Phu-di, về võ sĩ đạo, và luôn luôn có hình ảnh phụ nữ Nhật bận bộ kimônô màu sắc rất đẹp. Cuộc tranh luận, cãi cọ trong pôpốt phố Lò Đúc của chúng tôi cứ kéo dài và diễn biến sôi nổi theo nhịp độ của chiến trường châu Âu, châu Á, nhất là theo cuộc chiến đấu dữ đội của quân đội Xô Viết ở mặt trận phía bắc và phía nam. Những ngày tháng Lêningrát bị bao vây là những ngày tháng hồi hộp tường như chúng tôi cũng là những người dân của thành phố anh hùng đang bị giam hãm trong gọng kìm của quân đội phát xít Đức. Chúng tôi hồi hộp theo dõi tin hàng ngày trên báo, trên bản tin ARIP. Lúc đó Hít le lại huênh hoang đã in sẵn thiếp mời dự tiệc chiến thắng ở trung tâm thành phố Lêningrát vào ngày lễ Nôen 1942. Tất nhiên đó là một sự huênh hoang ngông cuồng của tên trùm phát xít, cốt cổ vũ tinh thần của quân lính nó, nhưng tin đưa ra cũng làm cho một số anh em bàng hoàng...

Thế rồi quân đội phát xít Đức bị bẻ gãy gọng kìm, và phe Trục trong pôpốt Lò Đúc của chúng tôi cũng co vòi, tiu nghỉu cụp tai...

Tập 2-O

Một kỷ niệm về Nazim Hikmet

Tôi bắt đầu quen Nazim Hikmet, nhà thơ cộng sản lớn của dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ tại Lêningrát trong chuyến đầu tiên tôi đi thăm Liên Xô. Lúc bấy giờ tại nhà hát Opêra - Ba lê của thành phố đang diễn vở ba lê Một truyền thuyết tình yêu theo kịch bản của Nazim. Tôi đến chào anh, vì tôi đã đọc thơ anh, nhất là đã đọc tập Thật là đau khổ cái nghề đi đày. Anh nói chuyện ngay, bằng tiếng Pháp, giọng rất thân tình, rất anh em như quen biết đã từ lâu. Mùa hè 1959, tôi gặp lại Nazim Hikmet tại Lai xích (Cộng hoà dân chủ Đức), nhân dịp tôi đi dự hội nghị xuất bản các nước xã hội chủ nghĩa tại đó. Nazim Hikmet đang mệt; bệnh đau tim của anh đã nặng thêm, thường đau nhói nơi tim. Qua mấy lần nói chuyện, tôi biết anh cảm thấy mình không còn sống lâu nữa. Nhưng anh không tuyệt vọng, không buồn, nhất là không hốt hoảng. Anh đã tự luyện cho mình một sự bình tâm trước mọi chuyện có thể xảy ra, trước cái chết đang rình anh “như con rắn độc nó chực cắn vào tim anh”.

Anh nói chuyện với tôi với thái độ rất anh em, với tình đồng chí cộng sản. Giọng anh ấm áp lạ thường.

Tức khắc anh trở thành người bạn thân, như đã thân nhau từ hàng chục năm trước. Tình người toả từ mắt anh, từ tay anh, từ tiếng nói bè bạn của anh.

Quen anh tôi tường làm quen

Nghìn năm nhân loại thành tên một người

Anh đang mệt, nhưng nghe tôi nói có chiếu phim tài liệu Việt Nam là anh đòi đến xem để biết thêm về dân tộc Việt Nam mà “anh rất cảm phục, rất yêu mến”, để biết thêm về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà anh “yêu mến vô hạn” với tấm lòng cách mạng, tấm lòng cộng sản của anh. Sau buổi chiếu phim anh hỏi nhiều về đất nước, về con người, về cuộc sống chiến đấu của Việt Nam. Anh mong một ngày kia sức khỏe cho phép anh được sang thăm đất nước “anh hùng, đau khổ và tất thắng”. Buổi tối trước hôm tôi về nước, tôi đến thăm anh lần nữa tại khách sạn Astoria. Nazim Hikmet đang cơn mệt, tim đau nhói, tay phải anh luôn luôn áp vào phía trái tim, áp một thứ giấy có tẩm thuốc trợ tim, như một lá cao. Tôi đến bên giường anh nói khẽ. Anh muốn vui với tôi, nhưng giọng anh nói tôi cảm nghe như ướt nước mắt, thứ nước mắt cầm lại chảy vào trong lòng. Mắt anh, nhìn thương lắm. Anh bảo tôi đọc cho anh nghe, đọc nguyên bản tiếng Việt Nam, vài bài thơ của tôi cho anh nghe, đọc nguyên bản tiếng Việt để anh được “hưởng sự ngọt ngào, sâu lắng của tiếng nói phong phú của con người”. Tôi đọc và giải thích cho anh nghe về điệu thơ lục bát Việt Nam. Anh tỏ ý rất thích và rất tin ở sự nảy nở mới của các nền văn hoá, của các văn học nghệ thuật phương Đông. “Phương Đông đã đóng góp lớn cho văn minh nhân loại và sẽ còn đóng góp lớn hơn nữa. Chúng ta là Phương Đông, đồng thời chúng ta hiểu cả phương Tây, chúng ta rất giàu”. Anh nói những lời trên giọng trầm trầm, với một sức tin tưởng như ấn nặng xuống cuộc đời. Đã hơi khuya, tôi còn muốn nói chuyện, ý anh cũng lưu luyến, nhưng tôi nài anh cứ nằm. Tôi không nỡ rời anh trong lúc anh đang cơn đau. Tôi không sao ngoảnh lưng mà ra về được. Tôi đi giật lùi từng bước. Anh chào tôi, giọng rơm rơm nước mắt: “Đồng chí Huy Cận ơi, chắc tôi không còn sống lâu không còn sống đến ngày nước Thổ Nhĩ Kỳ, dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ thân yêu của tôi được giải phóng. Ý nghĩ ấy làm tôi chết điếng trong đáy tâm hồn. Anh còn sống lâu sau tôi, anh nhớ đến thăm đất nước và nhân dân của tôi thay tôi. Đó là một yêu cầu bè bạn, anh em, anh nhớ cho. Thôi anh về kẻo khuya; mai anh còn phải về Việt Nam chiến đấu với nhân dân anh dũng của anh. Cho tôi gởi lời chào. Tạm biệt, tạm biệt”.

Câu cuối cùng anh nói trong nước mắt! Tôi kể cho anh nghe nội dung bài thơ sân khấu Người thợ ảnh của tôi. Sau đó gặp lại ở Mát-xcơ-va, tôi đưa anh xem bản dịch bài thơ ấy ra tiếng Nga do nhà thơ lớn Pavel Antakolski dịch. Anh rất thích và hứa sẽ dịch ra tiếng Thổ Nhĩ Kỳ.

Kỷ niệm về nhà thơ Nicôla Ghiden

Lần đầu tiên tôi được gặp Nicôla Ghiden là tại Đại hội nhà văn Á - Phi họp ở Cai rô, thủ đô Ai Cập hồi tháng 2-1962. Tôi đã được đọc thơ anh từ trước trong một tuyển tập của anh do nhà xuất bản Pháp Seghers xuất bản tại Paris. Tứ thơ và nhịp điệu thơ của anh (dầu là qua bản dịch) rất độc đáo, có một cái gì trần trụi trực tiếp, vừa êm ái vừa sâu xoáy làm cho tôi nhớ ngay, và có những bài thơ như cứ vương vấn trong tâm trí tôi, như tiếng nói của một người bạn quen đã lâu ngày. Anh là một trong hai nhà thơ da đen của châu Mỹ mà tôi biết trước hết, đó là Langston Hughes (nhà thơ da đen Mỹ) và anh. Sau này tôi biết và quen thân thêm Keng Depestre, người Haiti. Nicôla Ghiden thật ra không phải là hoàn toàn da đen, mà anh là người lai giữa da trắng và da đen, bố anh là người Cuba da đen, mẹ anh là người da trắng gốc Tây Ban Nha. Những người lai như anh ở Cuba gọi là người da nâu (mulâtre). Gặp nhau ở hội nghị, qua vài câu chuyện, là chúng tôi trở nên thân thiết, như đã quen biết nhau từ lâu, anh hơn tôi 17 tuổi, nhưng tình thơ tình cách mạng tạo ngay được mối tình anh em, dù cách nhau nửa vòng trái đất. Thế rồi ngoài giờ hội nghị trong những lúc đi tham quan, hoặc đi dạo phố chúng tôi lại cặp kè đi với nhau nói chuyện thơ, chuyện đời, chuyện đất nước và cách mạng Cuba, Việt Nam châu Mỹ la tinh. Chúng tôi dùng tiếng Pháp để nói chuyện với nhau, nhưng đôi khi trong một câu tiếng Pháp, anh chen tiếng Tây Ban Nha vào mà tôi cũng đoán hiểu, và như thế tôi bắt đầu học tiếng Tây Ban Nha nhờ anh. Sau này đi công tác hai lần ở Cuba tôi học thêm và có tiến bộ về tiếng Tây Ban Nha, ít nhất là để khỏi lạc đường giữa các phố La Havana. Nicôla Ghiden rất nổi tiếng ở Cuba đã đành, mà trong toàn châu Mỹ la tinh nữa, các giới văn học thế giới cũng biết đến anh nhờ những bản dịch qua tiếng Pháp tiếng Anh và tiếng Nga. Anh làm thơ cách mạng nhiều năm trước khi cách mạng Cuba thành công. Những bài thơ đầu của anh in những năm 30, với tình cảm xót xa, uất hờn trước cảnh đất nước Cuba bị đế quốc Mỹ và bọn tư bản bản xứ bóc lột thậm tệ, trước thân phận những người công nhân, những người nông dân Cuba sống như những người nô lệ, những em bé cả da trắng và da đen đi ăn xin như “những con chó ghẻ” tìm ăn đáy đĩa dưới các bàn tiệc. Tôi nhớ mãi bài thơ của anh Đất nước tôi bên ngoài dịu ngọt, bên trong cay đắng, và bài thơ Cái tên tôi. Trong bài thơ này anh nói cái tên châu Phi của tổ tiên da đen của anh không còn nữa, cái tên ấy bị đánh chìm trong đêm tối của thời gian, trong cái kiếp nô lệ của cha ông bị bán làm sức lao động từ châu Phi sang châu Mỹ hơn 2 thế kỷ trước. Bây giờ anh phải mang tên một vị thánh (Nicôla) và tên Ghiden là tên Tây Ban Nha ghép vào trong sổ của người công chứng (Notaire). Đoạn cuối bài thơ anh Xuân Diệu dịch ra như sau:

Như thế, vậy thì sẽ có gì quan trọng

Vậy bây giờ còn quan trọng cái gì.

cái tên bé nhỏ của tôi

và mười bốn chữ trên trang giấy trắng

Và cái tên Phi châu xứ Đahômây,

xứ Tô gô, xứ Mali hoặc là xứ khác

của ông tổ đáng buồn

bị chết chìm trong mộc của một tên công chứng,

các bạn thuần khiết của tôi ơi, có quan trọng gì

đâu

Ồ! Vâng, các bạn thuần khiết của tôi ơi,

Vâng, hãy đến nhìn cái tên của tôi!

Cái tên tôi dài dằng dặc

và kết thành bằng những tên dài dằng dặc

cái tên tôi: tên của tôi, tên của người khác,

cái tên tự do của tôi, của anh, của bao người khác,

của bao người khác, cái tên tôi tự do như khí trời...

Còn bài thơ Tổ quốc tôi bên ngoài dịu ngọt thì mở đầu như sau:

Tổ quốc tôi bên ngoài dịu ngọt...

Nhưng biết bao cay đắng bên trong;

Tổ quốc tôi bên ngoài dịu ngọt

Với mùa xuân xanh thắm

Với mùa xuân xanh thắm

Nhưng mặt trời mật đắng ở trong tim.

Trời xanh trầm lặng im lìm

Thản nhiên ngắm nhìn cay đắng

Trời xanh im lìm trắm lặng

Ôi Cuba! Tuy Thượng đế cho Người

Ôi Cuba! Tuy Thượng đế cho Người

Xanh xanh đây một mảnh trời...

Một con chim gỗ

Mỏ mang lại lời ca,

Một con chim gỗ

Mỏ mang lại lời ca...

Ôi Cuba! Tôi muốn cùng Người nói

Tôi hiểu Người sâu sắc xiết bao

Rừng cọ Người nhuộm những máu đào

Rừng cọ Người nhuộm những máu đào

Biển Người đó chỉ toàn nước mắt!

Tôi biết Người xiết bao sâu sắc

Sau nụ cười hiền dịu của Người

Tôi trông thấy máu tươi và nước mắt

Sau hiền dịu nụ cười

Máu tươi và nước mắt

Sau hiền dịu nụ cười

Máu tươi và nước mắt.

Những bài thơ có tinh thần và tình cảm cách mạng của anh viết bằng điệu “Xông” được những người hát dạo lang thang ở những bến tàu hát lên một cách buồn bã và cay đắng cho những khách du lịch tìm nghe những điệu hát “Bản xứ”. Nhưng cuốn sách của anh gồm những khúc “Xông” ấy thì lại được ra đời ở Mêhicô, bởi vì ở Cuba lúc bấy giờ là chế độ độc tài quân sự cai trị, việc phổ biến những bài thơ như thế bị cấm. Song le - như Nicôla Ghiden đã nói - thơ đến với nhân dân bằng những đường tinh vi nhất và khác nhau nhất.

Nicôla Ghiden đã sang thăm Việt Nam trong những ngày chúng ta chống Mỹ cứu nước, tôi và anh Xuân Diệu đã hướng dẫn anh đi thăm Hà Nội, các vùng lân cận, và vịnh Hạ Long, khu mỏ Hòn Gai. Anh thích được nghe các điệu dân ca của ta, và thích được xem các kiến trúc cổ như đền chùa. Đối với anh, cũng như đối với các nhà thơ chân chính khác, cái gì là bản sắc dân tộc đều có sức hấp dẫn, đều khơi dậy những vang động sâu xa trong tâm hồn. Trước khi anh sang thăm Việt Nam, tôi đã có dịp gặp lại anh hai lần ở Cuba: năm 1965, lúc tôi dẫn đầu đoàn nghệ thuật sang biếu diễn bên đó, và tháng giêng năm 1968 lúc tôi sang dự Đại hội văn hoá toàn thế giới họp tại La Havana. Mỗi lần, gặp nhau thân thiết anh đều ao ước được sang thăm đất nước Việt Nam anh hùng, nước Việt Nam thân thiết đối với anh cũng như đất nước Cuba” như lời anh nói.

Nhà xuất bản Văn học của ta có yêu cầu anh Xuân Diệu, tôi và một số nhà thơ khác dịch và giới thiệu thơ Nicôla Ghiden. Anh Xuân Diệu đã viết bài giới thiệu dài hơn 60 trang, và tôi đã viết lời nói đầu như sau:

“Thơ của Nicôla Ghiden là một dòng thơ cách mạng cỡ lớn. Cái giá trị trước tiên mà mọi người công nhận ở ông, chính là ông đã cho thơ của mình một nội dung rất cách mạng: những đắng cay và nhung căm giận của một dân tộc, một lòng yêu tổ quốc nồng nàn, sự thúc giục và kêu gọi bất tuân chính quyền phản động.

Và tất cả nội dung ấy đã được nói lên, được truyền đi một cách giản dị, không chút kiểu cách. Đây là một thứ thơ trực tiếp, một ngôn ngữ trực tiếp, không văn hoa, chẳng bày bố thông thái.

Mỗi bài thơ của Ghiden là một chấn động tâm hồn. Tại sao như vậy. Cái bi tráng qua đởi sống quần chúng được nói với những tiếng, chữ của nhân dân, với những cách nói của nhân dân, với cách diễn tả ngắn gọn của những tục ngữ ca dao của dan tộc.

Và nhạc điệu của thơ ấy nữa! Dù qua các bản dịch, người đọc cũng xúc cảm và vương vấn bồi hồi vì nhạc thơ ấy; có lẽ vì trước hết đây là một nhạc điệu nội tâm, một nhạc điệu của tâm hồn. Nhưng tâm hồn và thể xác, làm sao tách đôi ra được.

Một giá trị lớn khác của Nicôla Ghiden chắc hẳn đã gia nhập được yếu tố da đen - ảnh hưởng gốc rễ sâu xa của xúc cảm và tính nhạc điệu cao ca của các cử chỉ của ngôn ngữ - và đã thực hiện được cuộc hôn nhân đẹp đẽ giữa sự xúc cảm da đen với sự xúc cảm Tây Ban Nha. Nói chung, Ghiden đã sáng tạo ra cái nên thơ “lai giống” lai da đen và Tây Ban Nha, như chính ông cũng thích nói như thế. Sự độc đáo lớn lao của ông nằm ở điểm này, sự đóng góp vô giá của ông vào ngôn ngữ nhân loại cũng ở điểm này.

Ai một ngày kia sẽ định nghĩa được cho chúng ta cái diệu kỳ, cái phép lạ và sức quyến rũ của thơ chân chất và chân chính? Chúng ta đọc thơ Nicôla Ghiden luôn luôn với một giọt lệ rưng rưng, nước mắt căm giận, nước mắt mừng vui, những giọt lệ thiên cảm và chung hoà của tình nhân loại”.

(Hà Nội, 23-10-1974)

Năm 1982, chính phủ và nhân dân Cuba đã làm lễ trọng thể mừng Nicôla Ghiden 80 tuổi. Trong số báo tạp chí thì đúng hơn, Bôhemia số đặc biệt về Nicôla Ghiden đã có cho in tấm ảnh chụp Nicôla và tôi đứng ở trên bờ Địa Trung Hải, lúc dự Đại hội nhà văn Á- Phi 1962. Chính phủ ta đã cử anh Xuân Diệu sang dự lễ mừng thọ Nicôla Ghiden, và mang sang cho anh tuyển tập thơ anh bằng tiếng Việt Nam. Anh lấy làm hứng thú và nói với anh Diệu: “Thơ tôi có cay đắng và có dịu ngọt, chắc rằng qua tiếng Việt Nam phần dịu ngọt sẽ dịu ngọt hơn, phần cay đắng đã cay đắng hơn lên”, đó là một cách anh ca ngợi tiếng Việt Nam của chúng ta, tiềm năng thơ trong tiếng Việt. Hiện nay Nicôla Ghiden đã 85 tuổi, vẫn khỏe, chắc mạch như “một con trâu cày”, chắc sự so sánh này không làm phiền lòng anh. Nicôla Ghiden! Một nhà thơ lớn của Cuba của châu Mỹ la tinh, của đội ngũ nhà thơ cộng sản ở thế kỷ 20 này. Chúc anh sống lâu để thấy Tổ quốc anh và thế giới của chúng ta thêm nhiều dịu ngọt, không còn cay đắng.

Kỷ niệm về nhà thơ Thanh Tịnh

Mùa hè năm 1937, lúc gần mùa thi, anh Xuân Diệu và tôi được anh Thanh Tịnh rủ đi thăm các lăng tẩm ở Huế. Anh hướng dẫn chúng tôi đi thăm lăng thì không còn ai hơn, vì anh rất hiểu sự tích các lăng, và có thể nói là rất thạo trong công tác du lịch, trong cái nghề hướng dẫn khách thập phương vãn cảnh. Anh lúc đó đang làm việc trong hội những người bạn của cố đô Huế” (Les amis du Vieux Huế). Hội này có cho ra đều một tập san lấy tên của hội, mỗi số của tập san dày hàng 400-500 trang, có nhiều bản minh hoạ bằng ảnh, bằng tranh màu, và những bản đồ hoạ kiến trúc rất tỉ mỉ. Những kiến trúc lăng tẩm, cung điện lại còn kèm thêm những hoạ tiết được vẽ lại rất công phu, những hình chạm những mẫu áo quần, những mũ mão đều được khắc ghi lại rất chính xác như là những bản vẽ kỹ thuật để sau này ai muốn phục hiện lại những thứ đó có thể căn cứ theo mà phục hiện. Anh Thanh Tịnh là nhà thơ, nhà văn nhưng anh lại có trí nhớ rất chính xác, rất tỉ mi về những câu chuyện lịch sử, về những mẩu chuyện dân gian liên quan đến Huế, đến triều đình nhà Nguyễn, đến phong tục tập quán của vua quan và của nhân dân xứ Huế. Anh biết tôi và anh Xuân Diệu đã kết thân với nhau tại trường Quốc học, anh rất quí hai chúng tôi và anh muốn “chiêu đãi” chúng tôi bằng một bữa đi thăm lăng.

Chúng tôi đi xe đạp lên đến bến Tuần rồi qua đò từ bến Tuần sang thăm lăng Minh Mạng và lăng Tự Đức.

Ở bến Tuần thấy cảnh nước sông Hương êm lắng chảy về xuôi, anh Xuân Diệu sực nhớ hai câu thơ Trung Quốc, và đọc lên như là tức cảnh:

Thiếp tâm chính tự trường giang thuỷ

Trú dạ tuỳ lang đáo Phúc Châu

Thế Lữ dịch là:

Lòng em như nước Trường Giang ấy

Sớm tối theo chàng đến Phúc Châu.

Thanh Tịnh cũng đọc liền câu ca dao:

Thuyền đi cát cũng rung rinh

Lòng em trờ lại bập bềnh trôi theo

Không biết đây là câu ca dao của dân gian hay là câu ứng khẩu của anh Thanh Tịnh, tôi cứ ngờ ngợ là câu của anh, vì Thanh Tịnh có tài làm ca dao, và thỉnh thoảng cứ tưng tửng đọc lên nói là của dân gian để lừa thiên hạ, cho vui... Ngày hôm ấy (một chủ nhật), trời trong xanh, chưa nóng lắm, chúng tôi ngoạn cảnh lăng tẩm, lòng hoài cổ thì ít mà thú thưởng thức thiên nhiên thì nhiều, và nhiều hơn nữa là sự hào hứng nói về văn thơ, sự hào hứng của ba anh em đã bước vào phong trào Thơ mới, của ba lính xung trận của một cuộc cách tân thơ văn... Sau cuộc đi thăm lăng tẩm đó, chúng tôi nhất là tôi còn gặp anh Thanh Tịnh nhiều lần, còn tâm sự nhiều với nhau về chuyện đời, chuyện thơ. Năm 1938, anh Thanh Tịnh cho xuất bản tập thơ Hận chiến trường, trong đó có rất nhiều bài nói về sự chết chóc ở các chiến trường xưa nay, và cũng đượm ít nhiều lòng hoài cổ, hay nói đúng hơn là lòng nhớ quá khứ oanh liệt của cha ông. Nhưng ít nhiều cái thời thượng lúc đó làm cho tập thơ của anh có pha màu ma quái (ma cabre), và nhấn mạnh vào điểm ấy là anh đã cho làm hàng trăm cái đầu lâu bằng bột giấy ép lại, màu trắng hếu như sọ dừa thật. Hàng trăm cái đầu lâu ấy là anh tặng cho những độc giả đã đặt tiền trước mua cả thơ và đầu lâu. Thỉnh thoảng gặp anh Thanh Tịnh, tôi có nhắc lại giai thoại Hận chiến trường và hận đầu lâu này thì anh cũng cười xoà, như nhớ lại những ngày tháng ngông cuồng của tuổi trẻ lãng mạn.

Anh Xuân Diệu và anh Thanh Tịnh đã lần đầu tiên gặp nhau trên báo Phong hoá trong một số báo đăng bài thơ Tơ lòng và tơ trời của Thanh Tịnh, và bài thơ Với bàn tay ấy của Xuân Diệu. Hai người ra mắt với độc giả cùng một lúc, khi mà báo Ngày nay đang ở lúc thịnh thời. Anh Thanh Tịnh còn đăng một số truyện ngắn trên báo Ngày nay, và vài báo khác các truyện này về sau đã tập hợp lại in thành quyển Quê mẹ. Gần đây, Nhà xuất bản Văn học đã cho tái bản tập Quê mẹ, đây là một tập truyện ngắn có giá trị, đậm đà hương vị quê hương, thôn dã. Ở đầu truyện Quê mẹ, anh đã để câu ca dao vùng Bình Trị Thiên làm tiêu đề?

Chiều chiều ra đứng cửa sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Ở một truyện khác, anh cũng lấy một câu ca dao để đầu:

Rồi mùa, toóc rạ rơm khô

Bạn về xứ bạn, biết nơi mô mà tìm.

Đầu kháng chiến chống Pháp, anh Thanh Tịnh đã sáng tạo ra một thể loại thơ truyền khẩu là “độc tấu”.

Tôi còn nhớ trong trận Việt Bắc, cuối 1947 anh đã viết và trình diễn bài độc tấu Ở cây số 7 (cây số 7 trên đường Tuyên Quang đi Chiêm Hoá là nơi mà giặc Pháp đã thua một trận đau). Trong suốt cuộc kháng chiến anh còn trình diễn nhiều độc tấu nữa tiếc rằng những độc tấu ấy lúc nghe thì rất thích nhưng qua câu chuyện rồi người ta quên, vả lại giá trị văn học bị hạn chế, không định hình được.

Riêng tôi nghĩ, bên cạnh một số bài thơ đạt của anh, có in vào các tuyển tập, một cái mạnh của Thanh Tịnh là viết truyện ngắn về thôn quê, về tình quê hương, một tình cảm đằm thắm mang nhiều chất thơ và đậm tình người. Nếu anh cứ tiếp tục sáng tạo theo hưởng này thì chắc anh đã để lại một sự nghiệp văn xuôi dày dặn, chứ không phải chỉ có tập Quê mẹ, tập Ngậm ngải tìm trầm. Nhưng chuyện đời nói sau thì vô cùng. Anh Thanh Tịnh đã để rất nhiều thì giờ để tham gia quản lý văn nghệ trong quân đội, để làm chủ nhiệm chủ bút tạp chí Văn nghệ quân đội, cống hiến của anh về mặt này không phải nhỏ, và được nhiều anh trân trọng ghi nhớ. Về số phận riêng của anh thì có nhiều đau đớn, do kháng chiến mà gia đình phải ly tán. Khổ cho anh là người vợ yêu quý của anh (chị Bích Đào) trong lúc ở Nam đã được báo tin sai là anh đã mất, và sau nhiều năm chờ đợi chị đã buộc lòng “đi bước nữa”. Đến lúc Sài Gòn giải phóng anh về Nam thăm, hai người gặp lại nhau, khóc nức nở nhưng số phận không quay lại được bánh xe...

Kỷ niệm về Khái Hưng và Nhất Linh

Khái Hưng và Nhất Linh về cuối đời, hay nói cho đúng hơn là từ năm 1940, sau khi quân đội phát xít Nhật vào Đông Dương đã đi vào con đường hoạt động chính trị sai lầm, và hơn thế nữa, sau cùng đã đi vào con đường chính trị phản động. Sau khi nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã làm Cách mạng tháng Tám thành công, Nhất Linh (tức là Nguyễn Tường Tam) đã cùng Việt Nam cách mệnh đồng minh hội dựa vào quân đội Tàu (quân đội Tưởng Giới Thạch) ráo riết hoạt động chống đối với Việt Minh, chống chính quyền cách mạng. Nguyễn Tường Tam lúc đó là một trong những lãnh tụ (cùng với Vũ Hồng Khanh) của Đại Việt quốc dân Đảng tập hợp các lực lượng phản động để đương đầu với Việt Minh và chính phủ lâm thời do Hồ Chủ tịch lãnh đạo. Xu hướng thân Nhật của Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) và của Khái Hưng đã nảy nở từ khi Nhật vào, và do hoạt động có xu hướng thân Nhật đó nên Nhất Linh, Khái Hưng và những người cùng chí hướng đã bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam tại Hà Nội năm 1941 và sau giam tại Vụ Bản thuộc châu Lạc Sơn tỉnh Hoà Bình nhưng Nhất Linh trốn thoát kịp sang Nhật. Lúc Cách mạng tháng Tám nổ ra, Khái Hưng và đồng bọn đã cho ra tờ báo Việt Nam để tuyên truyền, cổ động cho Đại Việt quốc dân đảng và cho Việt Nam cách mệnh đồng minh hội của Nguyễn Hải Thần, làm hậu thuẫn cho hoạt động chính trị và mưu đồ cướp chính quyền (hay ít nhất là chia xẻ chính quyền) của Nguyễn Tường Tam và của Đại Việt quốc dân đảng. Tờ báo Việt Nam đã có một loạt bài rất sâu độc công kích Việt Minh nói xấu, vu cáo một vài lãnh tụ của Việt Minh, tìm cách chia rẽ nhân dân với mặt trận Việt Minh, với Đảng Cộng sản. Những hoạt động chính trị phản động đi đến phản nước, hại dân của nhóm Đại Việt quốc dân đảng mà một lãnh tụ chủ yếu là Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), mà một cây bút cổ động hô hào sắc bén là Khái Hưng, thì mọi người đã biết, mà một số tài liệu lịch sử cũng đã ghi và lên án, tôi không kể rườm rà lại đây. Đoạn hồi ký tôi viết sau đây là muốn ghi lại một số kỷ niệm, một số ấn tượng về hai nhà văn Nhất Linh và Khái Hưng là hai trụ cột của Tự lực văn đoàn trong giai đoạn thịnh thời của nó. Những thành tựu những đóng góp quan trọng và những hạn chế của Tự lực văn đoàn trong nền văn học Việt Nam hiện đại thì các nhà văn học sử sẽ bình luận, phân tích và đánh giá sau. Ở đây tôi chỉ ghi lại một số nét kỷ niệm về hai nhân vật sáng lập và tiêu biểu cho trào lưu văn học ấy.

Lần đầu tiên tôi gặp Nhất Linh là vào dịp Tết Mậu Dần (1938), lúc bài thơ Chiều xưa của tôi được đăng trên báo Ngày nay số Tết; và Tết đó tôi từ Huế ra chơi Hà Nội cùng anh Xuân Diệu.

Anh Xuân Diệu giới thiệu tôi với Nhất Linh. Nhất Linh đọc ngay câu thơ đầu của bài Chiều xưa “Buồn gieo theo gió veo hổ - Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa”. Thì ra Nhất Linh đã chú ý bài thơ của tôi đăng số Tết vừa phát hành. Rồi anh nói: “Hồn xưa trong một câu thơ lục bát rất mới! Chắc anh đã làm nhiều thơ? Về Huế anh nhớ gửi đều thơ ra báo chúng tôi”.

Xong rồi Nhất Linh nói sang chuyện khác, chuyện chợ Tết, chuyện đi mua hoa, chuyện làng quê còn giữ được không khí Tết ngày xưa như hồi anh ấy còn đi học. Anh có mời tôi trở lại nhà báo chơi trước khi tôi trở về Huế tiếp tục học Ban tú tài. Tôi đã trở lại toà báo Ngày nay ở số 80 đường Quan Thánh Hà Nội thăm Nhất Linh và Khái Hưng trước khi đáp tàu hoả về Huế. Câu chuyện thân mật, thân tình, không có gì là khách sáo, không có gì là “hàn lâm”. Tôi có nhắc qua những truyện tôi đã được đọc của các anh, tôi có nói qua phong trào Thơ mới, nói sự hâm mộ của thanh niên học sinh ở Huế, ở trường quốc học đối với báo Ngày nay và sách của nhà xuất bản Đời nay. Nhất Linh và Khái Hưng không nhấn mạnh vào sự hâm mộ và hoan nghênh ấy của công chúng độc giả. Hai người nói nhiều với tôi về truyền thống nghìn năm văn vật của đất Thăng Long, của thành Hà Nội. Qua câu chuyện tôi cảm thấy những tình cảm của quê hương đất nước mà các anh đã diễn tả một cách kín đáo trong các truyện, các bài văn là một tình cảm sâu sắc, nung nấu trong lòng qua nhiều năm tháng. Trong câu chuyện cả Nhất Linh và Khái Hưng đều xen những câu hóm hỉnh, một thứ hu-mua rất Việt Nam, nhưng ở Nhất Linh thì kín đáo và đượm chút trữ tình, còn ở Khái Hưng thì bộc lộ thoải mái và điểm những tiếng cười y như các cụ ta ngày xưa khi bàn chuyện tâm đắc với nhau. Về sau lúc tôi ra Hà Nội học trường Cao đẳng Nông lâm, tôi còn thường gặp Nhất Linh ở toà soạn báo Ngày nay. Có khi anh còn rủ tôi về chơi nhà anh ở thị xã Hà Đông vào một dịp Tết. Lúc đó Nhất Linh đang viết truyện dài Bướm trắng, anh có khoe với tôi là đã viết được gần nửa truyện rồi. Nhất Linh viết truyện trên những quyển vở gạch ca rô, và viết bằng bút chì vót thật nhọn, chữ viết đều đặn và chữ nhỏ.

Trên trang bản thảo ít có chỗ chữa, thoảng hoặc có thêm câu nào thì móc ra ở ngoài lề như kiểu ta chừa bản mo-rát của nhà in đem tới. Anh khoe với tôi là viết tiểu thuyết như vậy, anh không hề có đề cương trước, có dàn bài trước, hay nói cho đúng hơn là anh có một thứ dàn bài mơ hồ trong tâm trí, một thứ khung của câu chuyện. Rồi thì anh xông vào viết truyện, mặc cho các nhân vật lôi cuốn anh đi. Anh cũng cho biết có những khi anh chủ động dẫn nhân vật qua các ngõ ngách của cuộc đời, nhưng cũng lắm khi nhân vật mà anh đã tạo ra lại cưỡng lại anh và sống theo cái đời tự lập của chúng. Sự vật lộn giữa tác giả và nhân vật có lẽ khá sâu sắc trong truyện Bướm trắng này, là một tiểu thuyết không có luận để xã hội bộc lộ như những truyện Đoạn tuyệt hay Lạnh lùng ở hai quyển tiểu thuyết này tác giả đã phân công cho nhân vật sống những điều cần sống, và nói những điều cần nói, tất nhiên là có xúc cảm, nhưng số phận của nhân vật đã được tiền định trong tâm trí của tác giả. Có một thời vài ba năm, Nhất Linh như đã có “xu hướng xã hội” với tập truyện Tối tăm, mà anh đã lấy một câu của André Gide làm tiêu đề “Anh hãy tin chắc rằng cuộc đời có thể tốt đẹp hơn, cuộc đời của bân thân anh và cuộc đời của những người khác”. Thật ra đó là xu hướng “Duy dân” (populiste) của Nguyễn Tường Tam, thể hiện trong các truyện của anh cũng như trong phong trào làm nhà “ánh sáng” mà anh cổ động, mà kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã hào hứng tham gia, vận động nông dân và người nghèo thành thị làm những nhà mái gianh, vách toóc-si bốn phía có mái hiên rộng và mở nhiều cửa sổ để cho “nắng gió ùa vào cái đời tăm tối nơi bùn lầy nước đọng”. Nhất Linh đã chủ trì phong trào nhà “ánh sáng” một cách thực lòng, hào hứng và tin tưởng là mình làm một việc xã hội có ích. Cái sức hấp dẫn của Nhất Linh, cái sức tập hợp của anh với tư cách là giám đốc Tự lực văn đoàn chính là cái lòng tin đó chính là cái lòng hoài bão của anh đối với tiền đồ văn học nước nhà, tất nhiên là theo quan niệm của anh.

Nhất Linh đã đi học Pháp gần 5 năm, cùng một lứa du học với anh Nguyễn Mạnh Tường, nhưng anh Tường thì học về văn chương, mà Nhất Linh thì học khoa học; anh đã đậu cử nhân khoa học về thiên nhiên học, đặc biệt là về sinh vật học. Nhất Linh vẽ rất khéo, đặc biệt là vẽ những côn trùng, những con vật để minh hoạ những câu chuyện nửa văn chương, nửa khoa học của anh đăng trên báo Phong hoá. Anh cũng đã minh hoạ tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng bằng những nét vẽ rất gợi cảm; những tháng anh đã học ở trường mỹ thuật trước kia không phải là vô ích. Học khoa học nhưng về nước thì anh cùng Khái Hưng lo xây dựng sự nghiệp văn chương, hơn là đi dạy học như đa số những bạn đã du học như anh.

Nhất Linh lại có một hồi mê học nhạc, đặc biệt là mê thổi kèn clarinét; thường tôi đến toà soạn báo Ngày nay hay gặp anh thổi những bài nhạc theo những điệu hát trong các phim nổi tiếng hồi bấy giờ là bài Horsay, Nàng Bạch Tuyết và bảy chàng lùn... Thỉnh thoảng anh cũng thổi một vài bản nhạc cổ điển Âu Tây ngắn như bài Sêrênát của Sube, bài Ánh trăng của Bitôven... Lúc Nhất Linh chúm môi thổi clarinet thì vẻ mặt anh trầm lắng, hai mắt say sưa, thật dễ gây cảm tình.

Có người đã nói với tôi là có một bà lần đầu tiên gặp Nhất Linh trong lúc anh đang thổi kèn như vậy là đắm say ngay và về sau mối tình dai dẳng mãi, mỗi một lần bà ta định cắt đứt thì lại gặp tiếng kèn đầy tình cảm kia níu lại. Cũng có người về sau bảo với tôi rằng Nhất Linh thổi kèn clarinét là để che mắt bọn mật thám đấy thôi. Anh vờ say âm nhạc để đánh lạc hướng bọn phòng nhì, và lấy cớ liên hoan kèn hát để tập hợp những người cùng chí hướng tại Đầm Vạc (Vĩnh Yên), hay tại một đồn điền của người bạn quen ở Vĩnh Yên. Dầu sao thì tiếng kèn clarinét của Nhất Linh cũng để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc cũng như tiếng đàn tam thập lục của Thạch Lam. Trong ánh mắt của Nhất Linh tôi cảm thấy vừa có một sự tin yêu đằm thắm, một sự say mê nung nấu, lại vừa có chút gì như là điên, như là ánh sáng thỉnh thoảng chớp lên một niềm điên. Về sau, lúc cuối đời, người ta bảo Nhất Linh có một phần điên trong tâm tưởng.

Nếu qua có thế, thì cái hạt nhân điên đã thoảng hiện trong những năm minh mẫn của anh và có lẽ đó cũng là một yếu tố làm nên cái tâm hồn say mê của nhà văn và làm nên sức hấp dẫn của người thu lĩnh của Tự lực văn đoàn. Thích nhạc, Nhất Linh rất thích nghe hát và trong những buổi gặp nhau, anh hay cù rù anh Xuân Diệu hát những bài hát dân tộc của 3 miền mà anh Xuân Diệu rất thuộc như: Nam ai, Nam bình, hò Huế, vọng cổ, Trường tương tư, Xàng sứ líu (cải lương Nam bộ), bống mạc sa mạc (nhạc Bắc), và những bài hát mới lúc đó như Con thuyền không bến, Đêm đông, Cánh buồm trắng và một số bài hát bằng tiếng Pháp trích trong các phim nổi tiếng lúc bấy giờ, những bài hát mà Tino Rossi đã hát và được lưu truyền khắp thế giới những năm ấy... Có khi Xuân Diệu hát thì Nhất Linh thổi kèn clarinet điệp theo. Có một Tết, Nhất Linh và Thạch Lam đã rủ anh Xuân Diệu và tôi về ăn Tết ở Cẩm Giàng (Hải Dương), nơi bà cụ của hai anh vẫn ở và sinh sống từ ngày ông cụ thân sinh của các anh còn làm quan ở huyện. Đêm giao thừa chúng tôi thức để đi bẻ lộc trong vườn, và sau khi ăn bát chè đậu xanh giữa phút giao thừa thì chúng tôi trải chiếu ngủ trên ổ rơm rất ấm và thỉnh thoảng ngâm thơ Thế Lữ Thuở ấy đượm màu sóng gió biếc - Trời mây huyền ảo đắm hồn thơ - Cây im vin bóng um ùm lá - Sông thẳm nguồn sâu nước đợi chờ... Ấn tượng tổng quát mà Nhất Linh để lại trong tôi ở giai đoạn ấy là một tâm hồn nghệ sĩ say mê, một người đứng đầu một trường phái văn học có hoài bão, một người bạn văn chương có con mắt sành biết khám phá và biết ủng hộ những tài năng. Đó là giai đoạn đẹp trong đời Nhất Linh. Nhất Linh có nhiều con. Nhất Linh đã cưới vợ theo đúng nghi lễ của một gia đình “gia giáo ít nhiều thế phiệt” buôn cau ở phố Hàng Cau. Bà là một người vợ đảm đang, lo mọi việc gia đình, để chồng mình có thể để toàn tâm lực làm việc xã hội, làm báo, làm văn. Có lần Nhất Linh tâm sự với tôi: “Chắc anh sẽ hỏi tại sao tôi có nhiều con. Có gì đâu? Bà vợ tôi thích đẻ con, vì bà ta cho biết mỗi lần mang thai thì sức khỏe của bà tốt lên thấy yên ổn trong người. Thụ thai và mang thai đối với vợ tôi là một hạnh phúc. Đó là một hạnh phúc cụ thể, vừa cơ thể vừa tâm hồn, đó là kinh nghiệm của tôi, hay đúng hơn là kinh nghiệm của bà vợ tôi”. Nhất Linh nói mấy câu đó với một nụ cười không phải là hóm hỉnh, mà như là một nụ cười tình cảm, tỏ lòng biết ơn đối với người vợ đoan trang và đảm đang của mình. Có lần Nhất Linh cũng nói với tôi: “Làm vợ một nhà văn nhiều khi cũng phiền, và cũng thiệt phải hy sinh nhiều. Cứ xem vợ cũng Tú Xương thì rõ:

Quanh năm buôn bán ở mom sông - Nuôi đủ năm con với một chồng - Lặn lội thân cò khi quãng vắng – Eo sèo mặt nước lúc đò đông” (thơ Tú Xương mà Nhất Linh đọc thuộc lòng, với một giọng như là mượn lời thơ trên đây để tỏ lòng biết ơn vợ, mặc dù bà Nhất Linh không đến nỗi vất vả, tần tảo như bà Tú Xương).

Nhất Linh đông con mà Khái Hưng lại không có con. Bà Khái Hưng là con gái một gia đình quan lại, nề nếp nho phong, sống giữa xã hội Hà Nội những năm 30 mà cứ như là một phụ nữ khuê các ngày xưa, dáng dấp e lệ, kín đáo. Khái Hưng và Nhất Linh là hai người bạn rất thân mặc dầu tình bạn đó đã được xây dựng lúc hai người đã lớn tuổi, sau khi Nhất Linh đi học ở Pháp về, khi hai người gặp nhau cùng dạy học ở trường Thăng Long, lúc đó Nhất Linh khoảng 26 tuổi và Khái Hưng 36 tuổi. Vì tình bạn đó mà Nhất Linh đã cho đứa con trai của mình tên là Triệu làm con nuôi của vợ chồng Khái Hưng, và em Triệu này lấy họ bố nuôi, thành Trần Triệu. Một kỷ niệm vui nữa của Nhất Linh đối với tôi là khi tập Lửa thiêng của tôi sắp đem in thì tôi hỏi Nhất Linh muốn tôi tặng bài thơ nào. Nhất Linh lật qua các trang thơ đã đánh máy, dừng lại ở bài Áo trắng: “Anh cho tôi bài thơ này”. Tôi hỏi: “Chắc anh có một kỷ niệm gì liên quan đến tình cảm của bài thơ?” - “Đúng thế, trong đời tôi cũng có một cô áo trắng”. Sau khi đề tặng Nhất Linh bài này, thì có một người khác trong Tự lực văn đoàn cũng muốn tôi tặng bài đó. Thì ra trong đời hầu như ai cũng có một cô áo trắng! Về sau đọc tiểu thuyết của Nhất Linh, tôi có chú ý rằng Nhất Linh đã một vài lần tả chiếc áo trắng của người trong truyện, đặc biệt là trong một đoạn của cuốn Bướm trắng tác giả đã tả chiếc áo cánh trắng phơi trên dây còn bay ra mùi hương da thịt làm đắm đuối một nhân vật đứng ngắm chiếc áo. Chắc hẳn tác giả đã vận dụng kỷ niệm, đã sống lại kỷ niệm say sưa của mình để viết đoạn văn trên.

Nhân nhắc đến bài Áo trắng, tôi xin ghi thêm kỷ niệm sau đây. Lúc đó là mùa đông 1940, anh Xuân Diệu đã vào Mỹ Tho làm tham tá nhà đoan, tôi vẫn ở gác Hàng Than ngày ngày đi học ở trường cao đẳng, áo quần mùa đông vừa đủ mặc, có chiếc áo len mỏng nhưng không có áo bành tô. Một chiều rét như vậy tôi ghé toà báo để lấy báo thì gặp Nhất Lình sắp bước ra về. Anh thấy tôi ăn mặc có vẻ sơ sài liền hỏi: “Anh không có bađơxuy à?” Tôi đáp: “Làm gì có. Nhưng cũng không rét lắm”. Anh liền cởi cái bađơxuy anh đang bận, mặc vào cho tôi. Đó là một chiếc bađơxuy đã cũ, nhưng còn rất lành lặn, chưa đến nỗi bạc màu và may bằng một thứ dạ màu tím than rất nhẹ. Tôi cứ thế ra về với bađơxuy đầu tiên tôi có trong đời. Chiếc áo này tôi đã dùng 3 năm, lúc đã sờn vai tôi mang về quê cho đứa em giai lúc đó đã bỏ học về nhà đi cày. Chiếc áo cũ của một nhà văn và của một nhà thơ cũng làm anh trai cày có vẻ hãnh diện với bà con trong xóm và trong những buổi chợ làng quê.

Về Khái Hưng tôi cũng ghi sau đây một vài kỷ niệm. Lần đầu tiên tôi gặp Khái Hưng cũng là những ngày Tết Mậu Dần (đầu năm 1938). Khái Hưng hơn Nhất Linh 10 tuổi, người mảnh khảnh, nước da mai mái, mắt hơi mài mại. Dáng dấp của Khái Hưng rất nhẹ nhõm chân đi không nghe tiếng, người ta bảo đó là tướng mèo, có thể là biểu hiện một sự thư thái, thoải mái trong tâm hồn, mà cũng có thể là biểu hiện một sự rụt rè, thiếu tự tin. Đó là cách nói của các thầy tướng còn tôi thì tôi thấy Khái Hưng rất hoạt bát, rất cởi mở, gần như có lúc bộp chộp nữa. Khái Hưng cũng có cái cười hồn nhiên, chào đón, môi cười mà dường như mắt cũng cười theo. Khái Hưng ngồi làm việc, nghĩa là ngồi viết suốt ngày ở cái bàn to của phòng họp toà báo giữa một đống báo ngổn ngang, bên cạnh luôn luôn có một cái kính lúp để thỉnh thoảng anh lại dùng để đọc những chữ quá nhỏ hoặc quá khó đọc trên một trang báo hay trong một quyển tự vị. Khái Hưng viết truyện dài đăng trên báo Ngày nay, thường là viết hàng tuần một, theo nhịp độ in tờ báo. Đó cũng là cách làm anh phải viết nhanh, viết kịp thời nhưng điều đó cũng ảnh hưởng đến sự trau chuốt câu văn, và ít nhiều cũng anh hương đến sự bố cục tình huống. Nói vậy thôi, chứ Khái Hưng viết truyện đã có dàn bài trước, tính cách nhân vật đã được nghiên cứu tương đối kỹ khi đặt bút viết, tất nhiên nhiều tình tiết sẽ được sáng tạo trong quá trình viết, trong quá trình văn đưa in lên trang báo. Còn văn của Khái Hưng thì thường trong sáng, trong trẻo nữa, và có những đoạn mang tính chất thơ như trong Hồn bướm mơ tiên, trong một số truyện ngắn của tập Dọc đường gió bụi. Văn của Khái Hưng còn một ưu điểm nữa là rất Việt Nam, một thứ văn Việt Nam mới, hiện đại nhưng tính dân tộc trong câu văn rất rõ. Khái Hưng đọc nhiều tiểu thuyết của phương Tây, và theo tôi biết thì anh đặc biệt thích đọc các tiểu thuyết của Somerset Maugham và của Dickens. Anh cũng đọc Stendhal, Flaubert và Balzac. Điều mà tôi quí nơi anh là anh còn ham đọc những sách chữ Hán, chữ Nôm của cha ông để lại (Khái Hưng hồi nhỏ đã học chữ Hán đến 12 tuổi rồi mới học chữ quốc ngữ và chữ Pháp). Khái Hưng trong lúc làm việc thích uống cà phê và nhờ bà vợ hoặc người nhà ra mua cà phê ở quán Joseph ở bên kia đường Quan Thánh, trước mặt toà báo. Cũng có mấy lần anh mời tôi đi uống cà phê ỏ quán này, và tất nhiên là ăn bánh ngọt nữa. Ông chủ quán quen thân với nhà văn, biết tính nhà văn uống cà phê đậm nên bao giờ cũng cho lượng bột cà phê gấp rưỡi hoặc gấp đôi vào cái phin. Đối với các bài thơ của tôi đăng đều trên báo Ngày nay anh đều xem kỹ và mau thuộc. Rất nhiều lần tôi đến toà báo gặp anh thì anh lại đọc một loạt mấy câu thơ trong những bài đã đăng trước đây, tỏ ra thích thú và có khi bình luận lý thú. Anh cứ ngạc nhiên tại sao tôi là một người học mới, không biết chữ nho, mà hồn nhiều bài thơ của tôi lại có phong cách dân tộc đậm đà như vậy và cũng có những bài phảng phất hồn thơ Đường mặc dù không phải là bắt chước thơ Đường, và cấu trúc bài thơ, cũng như cấu tứ bài thơ lại hiện đại. Đến lúc tập thơ Lửa thiêng của tôi sắp in anh tha thiết muốn tôi đề tặng bài Buồn đêm mưa, sau đó lại tiếc bài Tràng giang và lại đề nghị tôi cho anh bài thơ đó..

Thành thứ một bài đề tặng Khái Hưng và một bài đề tặng Trần Khánh Giư là tên khai sinh của anh. Để đáp lại tình cảm, duyên văn tự ấy, anh đã tặng tôi bản thảo viết tay bằng mực tàu đen nhánh một truyện vừa anh đã biết lúc mới vào đời văn. Bản thảo này tôi để trong một cái rương đã bị cháy ở Hương Khê lúc đầu kháng chiến chống Pháp, cháy cùng một số bản thảo và mấy bản Lửa thiêng giấy đẹp của tôi. Khái Hưng những ngày chủ nhật và những dịp lễ dài ngày thường rủ bạn bè đi thăm danh lam thắng cảnh, đặc biệt anh thích đi vãn cảnh chùa vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, là nơi có nhiều chùa chiền đẹp xây dựng từ đời Lý đời Trần. Cũng trong một chuyến đi thăm chùa Tiêu Sơn ở Bắc Ninh mà anh đã nẩy ra cái ý viết quyển tiểu thuyết Tiêu Sơn tráng sĩ. Cảnh chùa Tiêu Sơn gợi cảm, đã thúc giục anh viết nhanh, viết hào hứng quyển truyện gọi là lịch sử, nhưng có tính chất kiếm hiệp này. Anh cũng thường giao du với một số vị sư mà anh quen biết trong cuộc đời nay đây mai đó trước đây của anh, lúc anh còn là một nhà buôn tài tử, trước khi về sống ổn định ở Hà Nội đi dạy học ở trường Thăng Long. Chính anh và Nhất Linh đã mời tôi đi xem chùa Thầy và cảnh núi Sài Sơn ở huyện Quốc Oai, Sơn Tây vào một ngày hè năm 1940. Anh rất thạo về đạo Phật và thuyết minh cặn kẽ cho tôi hiểu về ngôi chùa, về Từ Đạo Hạnh, về các vị La hán thờ trong hậu tự, về kiến trúc cổ kính của ngôi chùa.

Lên thăm cảnh chợ trời trên núi Sài Sơn, chúng tôi lại cùng nhau ngâm lại những câu thơ phóng khoáng đầy gợi cảm của Hồ Xuân Hương:

Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng

Ban chiều mây họp, tối trăng chơi...

Khái Hưng mang cốt cách một người tài tử, thích ngao du nay đây mai đó, du sơn du thuỷ như một cụ nhà nho ngày xưa. Những cảnh vật vùng trung du mà anh thường hay tả trong các truyện của anh (vùng Phú Thọ, vùng Bắc Ninh Bắc Giang, vùng Sơn Tây Hoà Bình...) chính là những cảnh anh đã sống, đã thân thuộc, đã yêu mến với tấm lòng “lãng tử” của anh. Chính vì vậy mà thứ tình quê hương nhẹ nhàng nhưng thấm thía mà anh đã gợi lên trong văn của anh có sức hấp dẫn, có sức thuyết phục. Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, cảnh đồng quê, cả ở vùng trung du và vùng đồng bằng được gợi lên một cách đẹp đẽ và dễ cảm tình như vậy, khác hẳn với những cái cảnh “cổ điển” được ghép lại bằng những hình tượng vay mượn trong sách xưa của ta hay của Tàu. Nhưng thôi, lúc khác tôi sẽ bình luận về văn và truyện của Khái Hưng.

Trong Tự lực văn đoàn, Nhất Linh là người chỉ đạo, nhưng Khái Hưng là lực lượng có thể nói là nền móng. Sức sáng tác dồi dào của anh, sự hoan nghênh của công chúng lúc bấy giờ đối với những tác phẩm của anh là chỗ dựa chính cho sự tồn tại của tờ báo Ngày nay và của Nhà xuất bản Đời nay. Đối với hai chúng tôi - Xuân Diệu và Huy Cận - thì Khái Hưng cũng như những người khác trong Tự lực văn đoàn đều một lòng yêu nể, rất quí đôi bạn thơ này. Khái Hưng dịch thơ rất hay. Bài Sonne d’ arvers, dịch rất đạt đã in trong tập truyện ngắn Anh phải sống mà tôi đâu có nhắc lại trong một đoạn trên kia:

Lòng ta chôn một khối tình

Tình trong giây phút mà thành thiên thâu...

Bài Oceano-nox của Victor Hugo anh cũng dịch rất sát nghĩa mà rất hay, đã đăng trên báo Phong hoá năm 1932:

Biết bao thuỷ thủ, bao thuyền chủ

Thuận gió xuôi buồm đi viễn xứ...

Bài này anh Gia Ninh và tôi đã chép ngay vào quyển vở sưu tầm thơ liền sau khi xem báo, và cho đến bây giờ vẫn thuộc. Sau này có người dịch lại bài này, nhưng không hay bằng. Khái Hưng ít dịch thơ Đường, nhưng rất thưởng thức những bài dịch thơ Đường của Tản Đà, đặc biệt là bài dịch Hoàng Hạc lâu. Có hồi báo Phong hoá riễu Tản Đà, nhất là về mặt uống rượu, nghiện rượu của nhà thơ, và đôi khi cũng lấy những câu chuyện mộng mị của Tản Đà ra làm câu chuyện hài hước. Nhưng trong thâm tâm Khái Hưng, Nhất Linh cũng như Tú Mỡ, Thế Lữ đều quí trọng Tản Đà, đều quí sự đóng góp của Tản Đà vào nền thơ Việt Nam. Theo tôi biết, có lúc tờ báo Ngày nay có giục Tản Đà gửi những bài thơ dịch đến đăng báo để nhà thơ có tiền tiêu. Tản Đà lại có lúc phải đăng quảng cáo trên báo về việc mình lấy số bói toán, với giá tiền “nhiều năm, ít có ba”, mà cũng có kỳ báo đăng giùm quảng cáo, không lấy tiền. Những bài thơ vui trao đổi giữa Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu và Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu trên báo Ngày nay là một kỷ niệm tốt đẹp giữa nhà thơ trữ tình và nhà thơ trào phúng. Nhất Linh cuối đời có viết một quyển tiểu thuyết lấy tên là Xóm cầu Ghênh (Xóm cầu Mới) với cái nhan đề phụ là Bèo dạt và lấy câu thơ của tôi trong bài Tràng giang, Bèo dạt về đâu hàng nối hàng làm tiêu đề cho quyển sách. Trong quyển tiểu thuyết này, Nhất Linh muốn tả nhiều số phận người đời bị trôi dạt về tập trung ở một xóm (Xóm cầu Ghênh) nhưng quyển sách đang viết dở dang thì Nhất Linh đã tự tử giữa năm 1963.

Trong Tự lực văn đoàn, người quản lý kinh doanh kinh doanh nhà xuất bản Đời nay, tờ báo Ngày nay, và nhà in Ngày nay là Hoàng Đạo, cũng gọi là Tứ ly tức là Nguyễn Tường Long, em Nguyễn Tường Tam và anh của Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), Hoàng Đạo thường viết những bài xã luận, cũng có viết một vài truyện ngắn và một quyển tiểu thuyết Con đường sáng Hoàng Đạo vừa làm báo vừa làm tham tá trong ngạch toà án của Bắc kỳ. Vợ Hoàng Đạo là con một nhà tư sản giàu, nên trong số anh em Nguyễn Tường và trong nhóm Tự lực văn đoàn, Hoàng Đạo là sống tương đối sung túc hơn cả. Về sự nghiệp văn chương Hoàng Đạo không để lại một tác phần nào gọi là có giá trị. Hoàng Đạo viết văn, chẳng qua là theo cái đà của anh em trong nhóm, sóng cao thì thuyền lớn, thuyền bé cũng theo lên. Về mặt quản lý kinh doanh thì Hoàng Đạo rất chặt chẽ, chi ly. Mức độ trả nhuận bút cho các bài đăng báo đều do Hoàng Đạo quy định mặc dầu mỗi người trong toà soạn thay phiên nhau phụ trách từng số báo. Anh Xuân Diệu đã có lần phải phàn nàn (trong một trang nhật ký của anh) về mức trả quyền tác giả quyển Thơ thơ quá thấp, vì có nhiều món trừ đầu trừ đuôi không hợp lý gì cả: ví như trừ số tiền những quyển sách “không bán được” (mà thực ra không còn dư một quyển nào cả, không ế một quyển nào cả); ví như tiền quảng cáo (trên báo Ngày nay) cho tập thơ tính quá cao... Về sau cách tính bản quyền tác giả cho tập thơ Lửa thiêng của tôi cũng có những điều không hợp lý như vậy... Thật ra xén đầu, xén đuôi tiền nhuận bút tập thơ chẳng còn bao nhiêu mặc dầu sách được hoan nghênh, không ế một quyển nào. Sự quản lý chặt chẽ ấy ta có thể hiểu được vì phải thu va thu vén thì tờ báo và nhà xuất bản mới có thể sống lâu bền được. Nhưng có điều mà anh Thế Lữ bực là việc Hoàng Đạo “nguýt” Thế Lữ về việc Thế Lữ cộng tác mật thiết với báo Tinh hoa của Đoàn Phú Tứ. Hoàng Đạo cho rằng Thế Lữ là người của Tự lực văn đoàn, lại là một người chủ chốt trong ban biên tập báo Ngày nay, thì không thể ở trong bộ biên tập của tờ Tinh hoa được. Và Hoàng Đạo đã nói thẳng điều ấy với Thế Lữ, và kèm theo một câu bằng tiếng Pháp, ý là “ai thính tai thì hãy nghe lấy”. Cái ấn tượng mà nhà quản lý Hoàng Đạo để lại trong anh em không lấy gì làm tốt đẹp lắm.

Trong sự hoạt động chính trị sai lầm rồi đi đến phản động, Hoàng Đạo cũng nhất nhất theo anh là Nhất Linh. Trong chính phủ liên hiệp kháng chiến đầu năm 1946 có lúc Hoàng Đạo đã được cử làm thứ trường Bộ Kinh tế. Tôi nhớ Hồ Chủ tịch có bảo tôi đến gặp Hoàng Đạo (vì tôi có quen biết trong báo Ngày nay trước đây) để đề nghị anh ta bàn với những người trong Đại Việt quốc dân đang thật lòng hợp tác giúp ổn định tình hình trong nước, đặng tập trung sức chống lại kẻ thù thực dân Pháp đang lăm le trở lại. Sáng hôm ấy tôi đến gặp Hoàng Đạo ở phố Lý Thái Tổ, bên cạnh trụ sở Bộ Canh nông lúc đó (bây giờ là trụ sở Viện văn học). Hoàng Đạo mấy hôm cáo ốm không đến họp hội đồng chính phủ, cũng vì vậy mà Hồ Chủ tịch phái tôi đến gặp để hiểu ý tứ ra sao.

Hoàng Đạo bận một cái áo ta, áo đoạn màu tím huyền từ trên gác đi xuống, ra dáng mệt mỏi và nói luôn: “Cảm ơn Cụ Hồ phái anh đến thăm tôi. Nhưng cung cách làm ăn như bây giờ thì khó lòng mà hợp tác lâu bền được”. Tôi có trình bày ý kiến của Hồ Chủ tịch thì Hoàng Đạo nói tiếp: “Tôi cũng đã hết sức bàn nhưng khó quá. Nếu Cụ Hồ trực tiếp nói chuyện với anh em, may ra nhờ uy tín của Cụ mà người ta còn nghe ra được chăng.... Tóm lại nhóm Đại Việt quốc dân Đảng vẫn ngoan cố nêu những yêu sách quá đáng của mình. Về sau, mấy tháng trước toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo và cả nhóm đã chạy sang Tàu, theo gót quân đội Tường Giới Thạch rời khỏi Việt Nam. Hoàng Đạo đã chết trên tàu hoả từ Nam Ninh đi Quảng Châu, gục đầu chết (chắc vì xuất huyết não), theo lời kể lại của Nguyễn Tường Bách khi về thăm Hà Nội có gặp tôi và Thế Lữ.

Tập 2-P

Những năm tháng ở phố Hàng Than

Tựu trường năm 1939, tôi thi đậu vào Trường cao đẳng Nông lâm. Hôm đi thi ở trường đại học (ở phố Lê Thánh Tôn bây giờ), anh Xuân Diệu nhét 5 xu vào túi tôi để đi tàu điện. Hồ sơ thì anh Diệu đã lục trong cái rương của tôi mà nộp giùm cho tôi lúc tôi đang dạy tư ở trường Tư thục “Chính hoá” ở Vinh. Tóm lại việc thi vào trường Nông lâm là một sự tình cờ đối với tôi, do bạn xếp đặt, nhưng cũng hợp với ý nghĩ của tôi là cần có một nghề tay trái để sau này khỏi lâm vào cái cảnh bán rẻ thơ văn để nuôi sống. Thế mà tôi đậu vào trường với thứ tự khá cao (số 5/25 người trúng tuyển), nhờ bài luận Pháp văn của tôi được 18 điểm và những bài khoa học cũng không đến nỗi tồi... Tôi ở trọ trên gác 40 Hàng Than cùng với anh Diệu và một số bạn sinh viên khác như Lê Ngọc Chấn (sau này đi theo Mỹ nguỵ, có lúc làm trợ lý quốc phòng cho Ngô Đình Diệm), anh Thụ người Thanh Hoá, em vợ anh Chấn thi trượt tú tài nhiều năm và anh Ngô Nhật Quang (bạn thân của anh Diệu và tôi, hiện nay là chuyên gia về xoá nạn mù chữ của Bộ Giáo dục). Phía gác trong có anh Nguyễn Hải (sau này là bác sĩ làm việc ở miền Nam trong thời Mỹ nguỵ chiếm đóng hình như cũng chỉ làm chuyên môn) và anh Phạm Đình Sơn (sau này là Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp đã về hưu). Chúng tôi ở pôpốt với nhau và có thuê một cậu nhỏ (tên là anh Bá) giúp việc bếp núc. Anh nhỏ này người hơi gầy yếu, nhưng làm việc siêng năng, thật thà, giúp chúng tôi có đều cơm ngon canh nóng. Sau anh Bá là anh Hạp giúp việc chúng tôi. Còn ăn sáng thì chúng tôi lấy dây thòng một cái rổ đựng bát xuống lề đường để mua phở 3 xu kéo lên, phở rất thơm ngon, rất nóng, có đủ cả hành chần và chanh múi. Ông phở sáng này thành ra quen thân với chúng tôi, đêm khuya về; đi ngang nhà lại mời chúng tôi ăn xương phở, chỉ phải trả 1 xu thôi, có khi ông còn cao hứng mời ăn không cho vui, đó là những lúc chúng tôi đi xem chiếu bóng ở phố Tràng Tiền về (ở rạp Êđen), hoặc ở rạp Magiettich, trước cửa trường Đồng Khánh. Chúng tôi lại còn cái thú đi chợ Đồng Xuân (gần phố Hàng Than) ăn bún ốc, và bún thang, giá cũng chỉ 5 xu thôi. Có khi chúng tôi gặp cơn đói, còn vào ăn quán cơm bình dân, cũng ở phố Hàng Than phía bên kia đường, quán dành cho các anh phu xe kéo.

Ông chủ nhà Hàng Than mà chúng tôi ở trọ là cụ Tạ Tài. Cụ là một nhân vật trong khu phố. Cụ có một số xe kéo cho thuê, và cụ cũng bóc lột đến mức các anh phu xe, xe trả chậm giờ, là cụ phạt hẳn hoi, và có khi ngày sau không cho thuê xe nữa.

Nhưng cũng phải công bằng mà nhắc rằng có khi cụ thấy một anh phu xe cả ngày hẩm hiu không kiếm được tiền thì cụ cũng cho chịu tiền thuê xe và có lúc còn xoá nợ. Nhưng một điều làm cụ nổi tiếng là cụ đã dám chống cự với một thằng tây bán đấu giá đồ tầm tầm. Lần ấy thằng Tây bán đấu giá giơ lên một cái bô vệ sinh của trẻ con, và dám nói đùa: “Thưa các ngài, đây là cái bát ăn cháo của người An-na-mít, đặt giá 1 đồng ai mua xin giơ tay?”. Cụ Tạ Tài đứng gần thằng Tây nói to: “Anh đừng có láo!”. Thằng Tây sửng cồ cãi lại thì cụ lấy ba toong nện vào lưng nó một cú mạnh. Thế là cả góc phố xôn xao lên. Thằng Tây ỷ quyền, doạ gọi cảnh sát đến bắt cụ, nhưng bà con công phẫn tỏ ý bênh vực cụ nên thằng Tây cũng lờ đi. Sau đó thằng Tây bán tầm tầm đâm đơn kiện cụ Tạ Tài về việc làm mất danh dự nó. Cụ lại có đơn kiện lại là thằng Tây làm mất danh dự cả người Việt Nam hôm đó. Vụ kiện kéo dài mấy tháng, và rút cục toà án (mà chánh án Pháp chủ trì) phải xử cho cụ được kiện và cụ được bồi thường 1 đồng bạc Đông Dương, gọi là bồi thường danh dự. Thế là cụ nổi tiếng khắp cả khu phố. Cụ lại còn làm thơ chế diễu bọn Tây “mắt xanh mèo, tay quào như cáo, mũi thò lò, thô bạo nói năng.... Ở nhà dưới 40 Hàng Than là anh Lưu Trọng Lư và người vợ đầu của anh là chị Thanh Thuỷ ở một nửa phòng, che chắn bằng một cái bình phong gỗ dài. Lúc đó anh Lư mới có đứa con đầu là cháu Hải, bây giờ là một kiến trúc sư (nếu tôi không nhớ nhầm). Mỗi lúc tôi đi học về, tôi phải dắt xe đi rón rén đặt ở chân cầu thang để khỏi làm phiền gia đình anh chị Lư, nhất là sau những đêm anh đã đi chơi khuya với bạn bè, hoặc thức khuya để viết lách. Chị Lư người rất hiền, nói năng nhỏ nhẹ chúng tôi rất quí mến và nể chị. Cháu Hải thì rất ngoan và hay vẽ tàu bay và tàu lặn lên nền nhà, cả trên nền ban công trên gác chúng tôi ở. Anh Lư làm thơ (về sau in trong tập Tiếng thu) thỉnh thoảng gọi tôi xuống đọc cho tôi nghe, đoạn nào tâm đắc thì hai anh em cùng ngâm đi ngâm lại.

Cụ Tạ Tài có hai cô con gái, một cô tôi nhớ là tên Tuất, hình như là cô em và tháng 10 năm 1940, vào lúc trời đã rét, rét ngọt, thì một cô con gái hoặc một cô cháu gái của cụ chết. Đám ma làm theo kiểu xưa có mời hàng kèn về thổi nhưng bài nhạc đám tang suốt ngày đêm... Tôi ngồi trên gác nghe nhạc tang này buồn không thể nói được, mỗi câu nhạc như len thấm vào từng thớ thịt, thớ da của mình. Rồi đến buổi chiều đưa đám tang đi, tôi cũng có đi đưa đám.

Có hai hàng cờ đen do những người phu cờ bận toàn đen đi trước, cái xe tang cũng phủ toàn màu đen, mà con ngựa kéo xe tang cũng được phủ một tấm vải đen lên mình nó. Người ngồi xe tang điều khiển ngựa cũng bận toàn đồ đen, và điệu nhạc đám ma thì buồn xé gan xé ruột, nhất là trong buổi chiều gió lạnh hiu hắt, chân trời xám xịt thì có thể nói là cái buồn “tận thế”. Chính trong cái khung cảnh ấy mà ngồi trên gác Hàng Than tôi đã viết bài thơ Nhạc sầu, xin nhắc đây mấy câu đầu:

Ai chết đó nhạc buồn chi lắm thế

Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường

Phố đìu hiu, màu đá cũ lên sương

Sương hay chính bụi phai tàn lả tá

Từng tiếng lệ, ấy mộng sầu úa lá,

Chim vui đâu, cây đã gãy vài cành

Ôi chiều buồn, sao nắng quá mong manh

Môi tái nhạt nào cười mà héo vậy!...

Và sau đây là những câu cuối của bài thơ:

Ai chết đó nhạc buồn chi lắm thế

Kèn đám ma hay ấy tiếng đau thương

Của cuộc đời? Ai rút tự trong xương

Tiếng nức nở gởi gió đông quạnh quẽ...

Sầu chi lắm trời ơi! Chiều tận thế.

Bài thơ này, tôi cho đăng báo Ngày nay mà không kịp gởi cho anh Xuân Diệu xem trước. Đến lúc anh Diệu đọc bài thơ trên báo Ngày nay, thì bị ám ảnh bởi bài thơ, bởi cái nhạc đám ma được gợi lên trong bài thơ, và đêm ngủ phải lấy bông nhét vào tai cho khỏi nghe điệu nhạc tan hồn ấy (thư của Diệu).

Lúc tôi ở phố Hàng Than, láng giềng với tôi ở số nhà 36, có anh Phạm Huy Cơ, sinh viên Trường đại học Y khoa rất mê thơ Xuân Diệu và Huy Cận. Anh Cơ thường hay sang để nghe chúng tôi đọc thơ, nhất là những bài thơ chúng tôi mới làm chưa đăng báo.

Anh người hơi gù lưng, hơi rụt cổ, giọng nói rất nhỏ nhẹ, lời nói rất tế nhị, có khi hơi hoa mỹ, nhưng tấm lòng yêu thơ của anh thì thật là hiếm có và đáng quí. Về sau lúc Nhật sang, Mỹ có lúc đến ném bom Hà Nội, anh đã mời tôi về làng anh ở Chém, để tránh bom. Ở tại nhà anh bên bờ sông Hồng, chúng tôi lại thù tạc thơ văn suốt đêm. Anh Cơ sau 1954 vào Sài Gòn, nghe nói cũng chỉ làm chuyên môn thầy thuốc và thời Mỹ nguỵ thì không biết đi đâu. Lúc giải phóng Sài Gòn, tôi có hỏi thăm tin anh nhưng không ai biết tung tích anh ở đâu. Tôi nhắc anh ở đây vì tấm lòng mê thơ bền bỉ, thuỷ chung của anh.

Cũng xin nhắc đến anh Nguyễn Đức Soạn, một bạn yêu thơ khác ở phố Hàng Cót (tôi còn nhớ là ở số nhà 14). Anh Soạn là một thương gia, nhưng tính tình rất nho nhã, và cũng rất sành sỏi trong việc thưởng thức thơ. Anh hay mời anh Diệu và tôi đi chơi Hồ Tây, anh thuê thuyền để ba anh em dạo trên hồ những đêm trăng thanh gió mát, và lúc đó là lúc anh đọc lại những bài thơ của chúng tôi cho chúng tôi nghe, đọc với một giọng rất thanh và rất diễn cảm. Anh Diệu có lúc nói đùa “Anh Soạn là chú lái khờ” (xem truyện cùng tên của anh Diệu), nghĩa là một nhà thương gia có tâm hồn rất tài tử tâm hồn nghệ sĩ... Anh Soạn đã lâm bệnh mất sớm trong kháng chiến chống Pháp (?) chúng tôi rất thương anh, tiếc anh như tiếc một người tri kỷ, tri âm của cái đẹp, của thơ văn, của những cái gì gọi là lý tưởng ở đời này. Cũng ở gác Hàng Than, có lúc Đinh Hùng đã đến làm quen với chúng tôi (lúc đó Đinh Hùng ở đê Yên Phụ, mới bắt đầu làm thơ, dáng dấp thư sinh, khiêm tốn, chứ chưa kênh kiệu như về sau này thời Mỹ nguỵ). Đinh Hùng lúc đó còn đọc thơ cho anh Diệu nghe, nhờ anh Diệu nhận xét, và nghe chăm chú những lời phân tích của anh Diệu, rõ ràng với lòng kính nể một bậc đàn anh. Lúc đó nhà xuất bản Tân Việt cũng đã in vài bài thơ của Đinh Hùng trong tập Lúa mới.

Câu chuyện lôi thôi sau khi anh Xuân Diệu cho đăng truyện ngắn Người học trò tốt trên báo Ngày nay

Năm 1938, anh Diệu cho đăng báo Ngày nay truyện ngắn nói trên. Trong truyện này anh mỉa mai một anh học trò tốt, nhưng lúc tả việc học tập của anh học trò anh có mô tả cách dạy học của một vài giáo sư ở trường Quy Nhơn, cũng là tả những nét vui trong cách giảng bài của thầy, chứ không có gì là xúc phạm đến danh dự, đến phẩm chất của các thầy cũ của mình. Ví dụ anh có ghi một nét: một giáo sư khi giảng xong vài câu lại giơ tay nói “hơ hơ”... Đó là một nét vui, hơi buồn cười, mắm muối cho câu chuyện. Đại khái là những chi tiết như vậy. Thế nhưng tờ báo vừa đến Quy Nhơn, thầy đọc trò đọc, và bỗng nhiên thành một câu chuyện khá ầm ĩ: À? Nhà thơ Xuân Diệu chê bai, châm biếm các thầy cũ của mình. Ông cụ thân sinh anh Xuân Diệu, cụ Tú Thọ, dạy chữ Hán ở trường Quy Nhơn, rất lấy làm phiền lòng về câu chuyện xoay ra chiều hướng như vậy. Một vài thầy cũng gặp cụ Tú, nói lời trách móc. Ông cụ viết thư ra cho anh Diệu hết sức phàn nàn về thái độ của con, và về sự vụng về của con nữa. Thế rồi có dư luận đồn rằng các thầy giáo cũ của anh Diệu sẽ phát đơn kiện về chuyện một người học trò cũ bêu riếu thầy của mình trên báo chí! Không những kiện mà còn sẽ đề nghị báo Ngày nay đăng bài cải chính. Anh Diệu tuy bình tĩnh nhưng với bức thư của ông bố cũng hơi phân vân, và đem câu chuyện kể lại với ban biên tập của báo Ngày nay. Ban biên tập cười ồ, và nói: “Mong cho có đơn kiện, chúng ta sẽ trả lời các thầy giáo, và lại sẽ có dịp tuyên truyền cho văn học, và riêng tuyên truyền cho nhà thơ kiêm nhà viết truyện ngắn Xuân Diệu, và làm cho mọi người rõ thế nào là chuyện thực ở đời, và thế nào là chuyện trong văn chương, thế nào là đời làm tư liệu cho văn chương.... Thế rồi câu chuyện cứ ỉm dần không có đơn kiện, cũng không có thư đòi báo Ngày Nay cải chính. Và hè năm đó anh Diệu về Quy Nhơn lại đi thăm các thầy cũ với lòng kính mến chân tình và cụ Tú Thọ thân sinh anh Diệu cũng thở phào một cái, khỏi mang tiếng là có người con bội nghĩa với thầy “tôn sư trọng đạo”, là phương ngôn mà mỗi học sinh lúc vào trường đã phải học lấy làm lòng...

Xuân Diệu bênh vực Đoàn Phú Tứ về vở kịch Ghen

Năm 1938 Đoàn Phú Tứ viết vở kịch Ghen và sau đó nhờ đoàn kịch của Thế Lữ diễn ở nhà hát lớn, tôi còn nhớ anh Vũ Đình Hòe, anh Đoàn Phú Tứ, bà Lê Đình Quy (vợ một y sĩ công tác ở tỉnh) đều đóng vai trong vở.

Anh Thế Lữ đạo diễn vở này rất đạt. Vở kịch như vậy là rất được hoan nghênh trong giới thanh niên trí thức trong giới văn hoá, văn nghệ lúc đó ở thủ đô. Nhưng liền sau đó có một số bài báo nêu vấn đề Đoàn Phú Tứ ăn cắp văn của Sacha Guitry, một nhà viết kịch và làm phim khá nổi tiếng của Pháp hồi đó, vì Sacha Guitry cũng có một vở kịch tên là Ghen (Jalousie) Mấy bài báo công kích này, có gây một chút dư luận. Anh Đoàn Phú Tứ cũng hơi khó xử, vì quả thật câu chuyện trong hai vở Ghen có chỗ giống nhau, tình huống của vở này cũng làm cho người ta liên hệ đến tình huống của vở kia. Tôi nghĩ có thể lúc anh Tứ viết vở của mình cũng có được sự gợi ý xa gần của vở kịch Pháp. Nhưng mà làm sao nói được điều này cho xuôi. Anh Tứ bèn nhờ anh Xuân Diệu viết bài trả lời hộ. Anh Diệu nể bạn và quí bạn, liền xông ra trận và viết một bài “Xung quanh vở kịch Ghen” đại khái như sau: chuyện đời có bao nhiêu chuyện giống nhau, nhưng mỗi nghệ sĩ, văn sĩ khai thác theo cách của mình, với cảm nghĩ độc đáo của mình, mà vẫn là sáng tạo riêng của mình như thường (trường hợp Corneille Racine, Molière). Và Nguyễn Du sáng tạo truyện Kiều thì sao? Nói thật ra, với uy tín của báo Ngày nay lúc đó với danh tiếng của nhà thơ Xuân Diệu bắt đầu nổi lên với cách nói có lý có tình trong bài bênh vực, cho nên sau bài báo này cũng không thấy báo nào có thêm bài công kích Đoàn Phú Tứ hoặc trả lời bài của Xuân Diệu nữa. Và như vậy là câu chuyện Đoàn Phú Tứ và Sacha Guitry tạm xếp ổn. Tất nhiên trong câu chuyện trà dư tửu hậu trong đám anh em văn nghệ sĩ hồi đó người ta còn lào xào về câu chuyện này, nhưng rồi cũng yên. Vừa rồi tôi gặp lại anh Đoàn Phú Tứ (nay đã 73 tuổi) có nhắc câu chuyện này như là một chuyện vui của quá khứ, thì anh cũng hất hàm cười khà khà như là cho qua một chuyện không đâu cách đây nửa thế kỷ...

Xuân Diệu nhờ Nguyễn Cao Luyện giới thiệu với trường Thăng Long

Năm 1938, anh Diệu học Luật ở Trường đại học Đông Dương, đồng thời viết báo Ngày nay. Học luật thì không có học bổng còn nhuận bút của báo Ngày nay cho những bài thơ và những truyện ngắn của anh cũng không đủ nuôi sống anh. Anh phải nhờ anh Nguyễn Cao Luyện (kiến trúc sư nổi tiếng, và có chân trong Hội đồng quản trị của trường Thăng Long mà hiệu trưởng là anh Hoàng Minh Giám, và người quản lý là giáo sư Tôn Thất Bình) giới thiệu với Ban giám đốc trường Thăng Long để xin một chân dạy văn, cả Pháp văn và Việt văn. Sau đó mấy tuần, anh Diệu được mời vào dạy ba lớp đệ nhất đệ nhỉ đệ tam ban thành chung.

Những buổi dạy đầu tiên đối với anh là một sự thử thách ghê gớm, một thứ “cực hình” (theo lời anh kể lại) vì đứng trước một đám học sinh đông, mà lại là học sinh trường tư, những ngày đầu anh rất lúng túng giảng bài không tự nhiên, và có khi còn nói lặp. Nhưng với uy tín của anh trong làng thơ, với lòng yêu mến học sinh với thơ Xuân Diệu, nhất là với thơ tình của Xuân Diệu, nên anh cũng dần dần giảng bài được suôn sẻ với sự ủng hộ của đám học sinh đối với nhà thơ - thầy giáo. Lương anh lĩnh ở trường Thăng Long, cũng không được bao nhiêu, vì dạy không nhiều giờ, và thang lương dạy Việt văn vẫn thấp hơn là thang lương dạy toán và khoa học. Nhưng dù sao, thì cũng là một cái nghề trong sạch, thanh cao để nuôi thân, khỏi phải bán rẻ văn chương “rẻ như bèo” (chữ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu). Anh dạy trường Thăng Long chưa được bao lâu thì anh đi làm tham tá thương chính (tức là nhà đoan) ở Mỹ Tho. Nghề dạy học của anh tuy ngắn ngủi như vậy nhưng cũng để lại cho anh một số kinh nghiệm tốt mà sau này anh vận dụng rất tài tình vào việc bình thơ, nói chuyện thơ với những công chúng đông, với các loại công chúng rất khác nhau.

Nguyễn Gia Trí vẽ chân dung Xuân Diệu

Đầu năm 1945, nhà xuất bản Thời Đại (mà anh Ngô Nhật Quang, bạn của anh Diệu làm giám đốc) xuất bản tập thơ thứ hai của Xuân Diệu là Gửi hương cho gió. Tập thơ gồm hơn 50 bài, thuộc vào loại sách đẹp của nhà xuất bản Thời Đại, bìa do hoạ sĩ Trần Văn Cẩn trình bày, có một số bản quí in bằng giấy dó dầy rất đẹp, như là in trên lụa. Xuân Diệu ngỏ ý với hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí nhờ hoạ sĩ vẽ cho mình một chân dung để cho in làm phụ bản kèm vào quyển sách. Xuân Diệu và Gia Trí quen nhau đã lâu, và thường gặp nhau ở toà soạn báo Ngày nay. Xuân Diệu ăn bận áo quần sang đến gặp Gia Trí và nói: “Tôi cần ngồi bao nhiêu giờ cho anh vẽ?”. Hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí tủm tỉm cười: “Không cần giờ phút nào cả, anh có bận việc thì anh cứ về, hoặc đi dạo chơi để lấy tứ thơ tôi sẽ vẽ Xuân Diệu theo trí nhớ của tôi, giống hay không giống cái đó còn tuỳ.... Nói rồi hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí đứng dậy bắt tay Xuân Diệu... Thế rồi Xuân Diệu không phải ngồi làm mẫu, và một tuần sau Nguyễn Gia Trí đưa cho Xuân Diệu bức chân dung của mình, nét vẽ rất phóng khoáng “mmớ tóc mây trên đài trán thơ ngây” (lời của Thế Lữ trong bài tựa Thơ thơ) mắt mơ màng mà suy nghĩ, tóm lại dáng dấp rất là Xuân Diệu, rát giống Xuân Diệu, không phải giống từng chi tiết nét mặt, mà giống cái thần của nhà thơ Xuân Diệu. Tôi cho đó là một trong những bức chân dung rất đạt mà Nguyễn Gia Trí đã vẽ trong đời mình. Tất nhiên là tác giả tập Gửi hương cho gió và nhà xuất bản Thời Đại hết sức hài lòng và tự hào, đắc ý có một bức chân dung của nhà thơ, do hoạ sĩ nổi tiếng Nguyễn Gia Trí vẽ làm phụ bản. Bức chân dung này in trên giấy dó đẹp chân dung in trên nền màu vàng, hiện nay tôi còn giữ được hai bản, một bản để trong quyển Gửi hương cho gió gọi là Huy Xuân, và một bản để trong cánh gương của một tủ sách trong phòng lưu niệm nhà thơ Xuân Diệu.

Tháng 5-1975 khi mới giải phóng Sài Gòn, tôi và Xuân Diệu có đến thăm anh Nguyễn Gia Trí, có nhắc câu chuyện vẽ chân dung theo trí nhớ này, thì cả ba cùng cười. Anh Trí còn nói thêm: “Dáng dấp Xuân Diệu có nhiều nét độc đáo quá, ai mà quên được, nhất là các cô thiếu nữ mê thơ anh?”...

Những người yêu trộm nhớ thầm Xuân Diệu

Hồi anh Diệu học Ban tú tài ở trường Bưởi có lúc anh ở ký túc xá trong trường, có lúc anh ở trọ ở chùa Tàu (gần Văn Miếu). Ăn ở tại chùa Tàu, cảnh vật rất yên tĩnh cho việc học và làm thơ của anh, nhưng anh thường đến chơi nhà một người bạn học sau anh mấy lớp. Người bạn anh có cô em gái là K., cứ anh Diệu đến chơi là cô chăm sóc bạn của anh mình bằng mọi động tác của một người em quý mến người anh, nhưng cũng dần dà có những cử chỉ rất trìu mến đối với anh Diệu.

Thế rồi, anh Diệu về học ở Huế năm thứ ba tú tài, anh nhận được thư của cô K. mấy thư đầu còn như là em gái viết cho anh, nhưng anh Diệu đã linh tính là giọng thư sẽ chuyển điệu. Y như rằng chỉ mấy thư sau, là lời xưng em đã nồng nàn hơn, say đắm, thương nhớ, nhớ thương.

Và cứ thế thư tiếp thư, mối tình yêu trộm nhớ thầm ngày càng sâu sắc, càng đắm đuối. Tôi có được xem những bức thư ấy: Quả thật là một tâm hồn đẹp, say đắm mà trong trẻo, nhưng rõ ràng cô K. không phải chỉ yêu nhà thơ Xuân Diệu, mà còn là yêu anh chàng Xuân Diệu đẹp giai. Về sau anh Diệu lại ra Hà Nội học trường Luật và dạy tư ở trường Thăng Long, giòng thư tình kia vẫn tiếp nối không dứt. Có những bức thư cô K. trằn trọc mãi mới gửi cho anh Diệu; vì cô thấy mối tình của cô gần như tuyệt vọng “vì không thấy anh Diệu có thư trả lời”, nhưng nỗi lòng tha thiết và da diết của cô không thề không bộc lộ được với người yêu lý tưởng của cô được. Mối tình yêu trộm nhớ thầm này kéo dài mấy năm trời, cô K. có lúc người như gầy hao đi, tâm thần buồn bã làm cho người anh cô cũng hơi lo lắng cho sức khỏe và tâm tư của em gái mình. Nhưng cô K. trong đời vẫn giữ thái độ bình thản, tự chủ, và tuy còn ít tuổi nhưng có tư thế như là một người đã chín tâm hồn, và đã từng trải việc đời. Có lẽ mối tình sâu sắc của cô đối với anh Diệu, mối tình thầm mà sâu nặng, đã nung nấu tâm hồn cô làm cho cô có sự trưởng thành sớm về tâm lý. Sau cùng anh Diệu cũng phải ngỏ ý rõ ràng là anh rất cảm động về mối tình đẹp đẽ và cao thượng của cô K., nhưng anh khuyên cô hãy quên anh đi, và cứ xem anh như là một người anh, và chúc “em sẽ có được cuộc đời đầy hạnh phúc xứng đáng với tâm hồn đẹp đẽ của em”. Cô K. về sau yêu một cán bộ, và chồng cô đã là một cán bộ cao cấp của ngành kinh tế quan trọng, nay đã về hưu. Hai vợ chồng đã sống một cuộc đời êm ấm, hạnh phúc và đã có con đàn cháu lũ. Tôi nghĩ ở trong đời có những tâm hồn đẹp như tâm hồn của cô K. là một điều may mắn cho cuộc đời này, nó tôn thêm sự đẹp đẽ và cao quý của cuộc sống cũng có khi quá tẹp nhẹp và tầm thường. Nay anh Diệu đã mất đi, và việc đời cũng nhiều bề đã ổn định. Tôi có thể kể lại thay bạn mối tình thầm mà tôi cho như là một bài ca trữ tình mà riêng tôi rất quí và nhớ lại rất cảm động.

Trên đây là mối tình của cô K. Nhân đây tôi lại xin kể mối tình của cô Kh. L. Cô Kh. L. là một người có trình độ học vấn khá cao, và rất say mê văn chương, đặc biệt là văn thơ của Tự lực văn đoàn. Cô mê Xuân Diệu qua thơ văn, qua Thơ thơ và Phấn thông vàng, và viết cho anh Xuân Diệu hàng chục bức thư, bắt đầu là đàm luận về văn chương, rồi dần dần là tỏ tình với nhà thơ, một mối tình say đắm, nồng cháy, rạo rực không kém gì thơ tình của Xuân Diệu. Tôi có cảm giác cô Kh. L. vừa là con đẻ của thơ Xuân Diệu, vừa là một tâm hồn đồng điệu của nhà thơ. Thế rồi cô tìm đến gặp trực tiếp anh Xuân Diệu, tỏ lòng yêu đắm đuối của mình, vừa e thẹn, mà cũng vừa “tấn công”, với tất cả sự say sưa bồng bột của tuổi 20 lãng mạn. Anh Diệu có gặp cô Kh. L. một vài lần, nhưng dường như anh muốn đổi mối tình cảm “cầm sắt” ra cảm tình “cầm kỳ”. Tôi đã gặp cô Kh. L., quả thật là một con người có sức hấp dẫn lạ thường, từ lời nói cho đến khóe mắt nhìn đều có ma lực lôi cuốn người nói chuyện với cô. Anh Diệu cũng đã có lúc “cảm động” sâu sắc trước mối tình sôi nổi, nồng cháy của Kh. L., nhưng sự cảm động ấy theo tôi biết cũng không được bền.

Đến ngày Cách mạng tháng Tám, cô Kh. L. đã có chồng, mà vẫn đến gặp anh Xuân Diệu, ít nữa là để đàm luận văn thơ...

Một mối tình không thành mà rất đẹp trong đời tôi (Huy Cận)

Năm tôi học năm thứ nhất Trường cao đắng Nông lâm, lúc bấy giờ tôi ở ngõ Tân Hưng trước ga Hàng Cỏ (nay là ngõ Tức Mạc), một hôm tôi nhận được một bức thư nét chữ cứng cáp, không ký tên, nhưng là một bức thư tỏ tình đằm thắm. Tất nhiên là tôi xem bức thư trong lòng rất cảm động, nhưng rồi cảm xúc ấy cũng qua đi vì không biết người gửi thư là ai, mà không biết có còn bức thứ hai không. Nhưng mấy hôm sau lại nhận tiếp một phong bì màu ngà ngà, nhưng nhìn nét chữ thì tôi đã biết là thư của người hôm nọ hay nói cho đúng hơn là của người mà tôi không biết là ai. Mà quả thật lần này bức thư vẫn không ký tên.

Không ký tên, nhưng tình thì rất rõ rệt, rất say đắm rất thao thức, rất thổn thức nữa vì người viết thư viết rằng đã khóc nhiều lắm trước khi viết thư này. Mà quả thật, không biết tôi có tương tượng không, trên trang thứ ba của bức thư tôi thấy có những dòng chữ nhòe. Và thế là thư tiếp thư, tôi nghĩ rằng nếu ngày kia tôi biết được người viết thư là ai, thì chắc tôi sẽ yêu, vì tình cảm thổ lộ trong thư sâu sắc lắm, sự sâu sắc của một tâm hồn đẹp đẽ và sâu lắng. Người con gái này rõ ràng là có một đời sống bên trong rất phong phú, có những tầng sâu, có những chân trời xa vợi. Và qua những bức thư tiếp theo tôi hiểu đây là một nữ sinh Trường đại học Y khoa, hàng ngày tiếp xúc với khoa học, với bệnh tật của người đời, và có lẽ nhờ thế mà có những cảm nghĩ sâu thắm cả trong khi thổ lộ tình yêu. Trong một bức thư có đoạn viết: “Em yêu anh quá thì viết cho anh cốt để trút lòng mình, vì để trong lòng nó nặng quá, còn anh có biết em là ai đâu mà đáp lại tấm lòng của em”. Cho đến mấy ngày nghỉ hè tôi đi chơi Đồ Sơn với nhóm Ngày nay, mà không biết sao cô cũng tìm được địa chỉ mà gửi thư cho tôi ra tận bãi biển. Chuyện thật, mà cứ như là chuyện tiểu thuyết lãng mạn. Rồi tôi có mấy tháng vào học tại Phân viện nghiên cứu Nông lâm ở Sài Gòn, người viết thư không ký tên lại tiếp tục gửi cho tôi hàng chục bức thư. Cứ như là “người tình không quen biết” của Nguyễn Khắc Hiếu, đây là người tình có thật không ký tên.

Đến mùa rét 1941, khoảng tháng 10 thì phải, một sáng tôi sắp ra đi học, thì một bưu kiện đến đề tên tôi. Tôi vội vàng mở ra xem, thì đó là một chiếc áo len, len trắng rất đẹp, đường thêu rất khéo, và ở đằng sau cổ áo có thêu bằng len đỏ thắm câu thơ của tôi “Hồn nhớ thương em dệt áo dâng anh” (câu này ở trong bài Tình tự đăng báo Ngày nay và đã in trong tập Lửa thiêng).

Kèm theo chiếc áo trắng tinh đẹp đẽ ấy có thêm mấy dòng cũng với nét chữ ấy: “Em gửi anh chiếc áo em mới đan cho anh vì trời đã trở lạnh”. Và vẫn không ký tên. Tôi cảm động quá, nhà thơ cũng như thằng con trai trong tôi đều thấy lòng mình được mơn trớn êm ái. Mặc dù giờ đi học đã chậm rồi, tôi vẫn vào phòng, cởi áo vét tông ra, mặc luôn chiếc áo len trắng vào người, thì than ôi nó chật quá, mặc dù lúc ấy tôi còn thon người, chứ chưa béo như ngày nay.

Nhưng tôi cũng không trách người đan áo được, vì đã bao giờ tôi để cho người ta đo kích thước của thân tôi đâu, đo vòng ngực của tôi rộng bao nhiêu đâu, đo bằng thước hoặc đo bằng những vòng tay ôm... Tôi xếp áo vào giấy của bưu kiện và cất ngay vào rương rồi lại đạp chiếc xe đạp lạch cạch lên Trường cao đẳng Nông lâm ở vườn bách thảo. Không mặc được chiếc áo quá chật, mà hôm ấy tôi cảm thấy ấm áp vô cùng, đúng là trời đã trở lạnh mà chiếc áo đến đã đúng lúc, chỉ có chút sai số về kích thước. Nhưng đó mới là kích thước của áo, của len, nhưng còn cái sai số về kích thước của cuộc đời thì còn bi kịch hơn nữa.

Thế rồi một sáng chủ nhật, có người nữ sinh viên y học đến thăm một người bạn trong số ở cùng nhà với tôi. Người nữ sinh bận chiếc áo lụa trắng đơn giản, bên trong có bận áo len hồng, vẻ mặt tự nhiên không son phấn gì, nói chuyện rất có duyên với giọng nói vừa nhẹ vừa trầm lắng của vùng Bình Định, Phú Yên. Sáp mặt tôi, vẻ mặt cô hơi ừng thẹn một chút rồi hai người cùng nói chuyện qua quít nhưng tự nhiên tôi có linh cảm rằng chính người này đã viết những bức thư đắm đuối và đằm thắm cho mình. Lúc cô ra về, tự nhiên tôi tiễn ra tận cổng ngõ Tân Hưng, cô nắm chặt tay tôi, và hỏi nhỏ “anh có nhận được các thư của em không?”. Tôi gật đầu, cô nhìn tôi với một khóe mắt hơi ướt, và lên xe đạp không nói gì thêm.

Và những bức thư lại tiếp những bức thư, nồng nàn hơn, đằm thắm hơn, và cũng sâu lắng hơn. Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là đã nhận được thư và rất cảm động.

Thế rồi một buổi sáng cuối năm tôi nhận được thư của cô T. (từ đây tôi có thể nói tên) nói rằng: “Em biết anh không yêu em, chính vì thế mà chủ nhật tới anh phải gặp em”, và trong thư hẹn tôi gặp ở con đường tàu bay, trước trường thú y lúc đó, vào lúc 10 giờ sáng. Tôi đến nơi hẹn gặp đúng giờ và tôi hỏi: “Đi đâu bây giờ?” (tôi hỏi trống, không gọi em, cũng không gọi cô) Cô T. đáp: “Anh đi theo em” rồi cô lên xe đạp đi trước, tôi đi theo, rồi đạp song song về phía Hà Đông, đến lúc gần Hà Đông thì dừng lại, rẽ sang tay phải vào một khóm cây um tùm, như là một khu rừng con. Hai người ở đó chuyện trò hồi lâu, cả hai đều tránh nói đến tình yêu nhưng câu chuyện vẫn rất tình tứ và tế nhị. Gần đó có một nhà thờ nhỏ. Đến lúc chuông nhà thờ đổ hồi 12 giờ thì cô hỏi tôi: “Anh có biết hát những bài hát tiếng Pháp hay trong các bộ phim không?”. Tôi nói: “Có biết một số bài”. - “Vậy em hát cho anh nghe bài “Tình yêu ơi, ta thấy lại mặt người”(1). Bài hát này tôi biết, cũng có thuộc điệu và lời, và cô hát với một giọng đầy xúc cảm, như giọng hát phát ra từ tâm can nung nấu của cô. Hát xong cô khóc nức nở, nhất là đến câu cuối cùng có nói đến “sự phản bội của lòng anh”. Tất nhiên tôi không thể sắt đá trước một nỗi lòng như vậy, và tôi đã ôm cô vào lòng; cô tiếp tục khóc, nhưng rồi cũng nín. Rồi hai đứa chúng tôi ăn bánh mì với trứng tráng như kiểu pích-ních. Mãi đến sẩm tối chúng tôi mới ra về. Ra đến đường thì trời đã tối hẳn. Cô T. mua hai thẻ hương ở quán bên đường và báo tôi thắp lên mỗi người cầm một thẻ để thay đèn, không phải để soi đường mà để cho người ta thấy, đừng đâm vào mình.

Đạp về đến chỗ hẹn ban sáng (trước trường thú y), thì hai thẻ hương tắt. Cô T. mắt ráo hoảnh nói: “Thôi anh về, hương cũng vừa tắt, đó là nén hương cúng mối tình của đôi ta!” cô không khóc, nhưng lại đến lượt tôi khóc nức nở...

Bẵng đi một dạo, tôi không nhận được thư của cô T. nữa. Thế rồi tháng 5-1942, tôi nhận được một bức thư ngắn “Em thi xong rồi, sắp sửa về nghỉ hè ở quê. Em muốn em được gặp anh tại ga chiều ngày... là ngày em đáp xe lửa về Nam”. Ngày hôm sau, tôi đạp xe đạp ra ga, vội vã mua vé ra sân ga, ra đến nơi thì thấy tàu bắt đầu chuyển bánh, tôi đưa mắt nhìn thật nhanh ở các cửa toa thì thoáng thấy cô T. nhìn về phía tôi. Tôi nảy ra một sáng kiến: rời ngay sân ga, lấy xe đạp đạp về chỗ chắn đường ngày nay là ngõ đi vào khu Kim Liên, và chờ cho tàu đi qua đấy. Y như rằng tàu còn làm chuyển toa, móc toa một lúc rồi mới khởi động chạy về hướng Nam. Và lúc tàu chạy qua chặng đường chỗ tôi đứng chờ, thì tàu còn chạy thong thả, đủ cho tôi nhìn rõ được cô T. ở cửa sổ nhìn ra, và cô T. cũng thấy rõ được tôi ở đường nhìn lên phía tàu. Thế là hai chúng tôi vẫy tay chào nhau lần cuối cùng. Tôi không rõ tâm tư của người bạn gái buổi chiều hôm ấy lúc rời Hà Nội nhưng riêng tôi sau khi kịp chào cô T. trong một hoàn cảnh hối hả như vậy, tôi trở về nhà trong lòng cảm thấy bùi ngùi, vì mối quan hệ giữa người bạn gái có tâm hồn đẹp đẽ ấy với tôi không trở thành mối tình, nhưng sự tiếp xúc với một tâm hồn đẹp như vậy để lại trong lòng tôi một kỷ niệm vô cùng sâu sắc và tôi cảm thấy tâm hồn tôi cũng được giàu lên, được mở rộng thêm một chân trời. Mãi về sau tôi vẫn nghĩ: tất cả mối tình trong đời, kể cả những mối tình được đáp lại, và cả những tình cảm một chiều đểu góp phần nung nấu thêm tâm hồn, tình cảm, đều nhào nặn cho tâm hồn của con người được chín thêm, được sâu đậm thêm. Vì thế tôi nghĩ trong địa hạt tình cảm, không bao giờ có “tình mất” cả.

Sau này, qua bao nhiêu biến cố lịch sử xảy ra trên đất nước trong mấy chục năm, tôi không có dịp gặp lại nữ bác sĩ T. Gần đây, có dịp đi công tác nước ngoài, tôi được biết nữ bác sĩ hiện có phòng khám bệnh ở một thành phố phía Nam nước Pháp. Có người bạn biết câu chuyện của tôi và cô T. ngày xưa, gợi ý tôi đi thăm nữ bác sĩ. Nhưng tôi không đi, không nên khuấy động lại tro tàn của quá khứ, nhất là tro ấy chỉ do một ngọn lửa đốt cháy mà thôi.

Chú thích:

(1) Mon amour je revois ton visage

Tập 2- Q

Một mối tình dang dở vì kháng chiến (Huy Cận)

Cuối năm 1944 tôi gặp N.M. ở Đại học xá ở Hà Nội. Lúc đó tôi đang hoạt động mạnh ở trong Tổng hội sinh viên cùng với anh Dương Đức Hiền và một số bạn sinh viên hoặc cựu sinh viên như đã kể một đoạn trên. Hồi đó có một dạ hội do Tổng hội sinh viên tổ chức, mục đích cốt cổ vũ phong trào yêu nước của sinh viên và thanh niên, và cũng để quyên một ít tiền cho việc truyền bá quốc ngữ, và công tác y tế bình dân. N.M. lúc đó đang học năm thứ 3 ban thành trung của một trường tư thục ở Hà Nội. N.M. không đẹp lộng lẫy, nhưng có cái đẹp khá hấp dẫn, và nhất là cái duyên toả ra từ mỗi nét mặt, từ dáng đi, từ nụ cười kín đáo. Dáng thon thon, bước đi lanh lẹ, với mớ tóc rủ xuống quá vai, tôi còn nhớ rõ mồn một... Hôm ấy N.M. bận chiếc áo lụa hồng đứng ở cuối phòng, tôi đi ngang là tự nhiên dừng lại, bị luồng mắt nhìn của N.M. làm tôi hơi sững. Tôi nói chuyện bâng quơ, tìm cách bắt chuyện. N.M. cũng trả lời tôi một cách tự nhiên, chưa phải là mặn mà gì, nhưng cũng không lạnh nhạt. Lúc ra về tôi hỏi muốn gặp lại N.M., thì gặp ở đâu. Thế rồi một buổi chiều tôi đón N.M. ở trường ra, đạp xe theo đến cầu Long Biên, và còn đạp sang bên kia cầu nữa vì N.M. nhà ở trong một khu vườn nhỏ bên bờ sông Nhị, cách đầu cầu Long Biên chừng nửa cây số. Gió chiều cuối năm hơi lạnh, tà áo của N.M. bay trong gió, tôi cứ đạp theo mà thấy tâm hồn lâng lâng, ngây ngất. Thế rồi đến đầu cầu bên kia N.M. dừng lại, và chào tôi, ý nói tôi nên trở lại.

Tôi hồi hộp, nhưng cũng mạnh dạn trao cho N.M. bức thư đã viết sẵn từ đêm hôm trước. Thế là mấy hôm sau tôi nhận được thư trả lời đằm thắm, chưa hứa hẹn gì, nhưng trong thư nói những mơ ước của N.M. về một cuộc sống tình cảm đẹp đẽ, lâu bền: Tôi thấy rằng tín hiệu đầu tiên như vậy là đã quá khẳng định.

Thư đi từ lại suốt cả năm 1945, rồi cách mạng tháng Tám đến, lúc ở Tân Trào về tôi lại viết thư cho N.M.

Trong một bức thư, N.M. có nói rằng rất tiếc là chưa đủ tuổi để đi bầu quốc hội và để được bầu tôi. (Sự thực nếu N.M. đủ tuổi cũng không bầu tôi được vì tôi ứng cử ở Hà Đông, mà N.M. thì trong danh sách cử tri ở Hà Nội). Trong một bài thơ, tôi có phản ảnh điều tiếc ấy của N.M., bài thơ lạc mất, nay tôi chỉ còn nhớ hai câu:

Trong thư em nói tiếc vô chừng,

Thiếu tuổi bầu anh vào quốc hội...

Đến ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ, chúng tôi không kịp liên lạc với nhau, mà các thư của N.M. gởi cho tôi thì cũng bị dìm đáy sông cùng bao nhiêu văn thơ trong tủ sách quý. Tôi từ Hà Đông lên Quốc Oai (Sơn Tây) rồi lên Tuyên Quang ở An toàn khu, tôi hỏi dò tin tức xem N.M. sơ tán về hướng nào, nhưng hỏi mãi không biết được tăm hơi. Đến gần kết thúc kháng chiến, năm 1953, mới có người bạn cho tôi hay tin rằng N.M. đã lấy chồng “sau mấy năm chờ đợi”.

Thì ra N.M. cũng tìm cách liên lạc với tôi mà không bắt được mối.

Năm 1955, sau một năm đã về thủ đô Hà Nội một hôm tình cờ tôi gặp lại N.M. Ở phố Hàng Gai. Hai người bồi hồi một lúc, nhưng không hề ngỡ ngàng.

Tất nhiên N.M. không còn là cô gái phơi phới mà tôi gặp trong buổi dạ hội ở Tổng hội sinh viên, nhưng những nét đẹp định hình gần cái tuổi 30 càng làm cho vẻ đẹp vốn kín đáo của N.M. càng đằm thắm, càng có sức hút từ bên trong, như cái sức hút của lửa ngún, của than hồng dưới trấu. Sau đó N.M. có hẹn tôi gặp lại vài lần nữa. Tuy hai bên gặp nhau không thật ngỡ ngàng, vẫn thấy mối tình buổi trước như còn nồng cháy, nhưng thật ra chuyện đời cũng như chuyện lòng không còn đứng yên một chỗ... Sau một buổi gặp ấy tôi có viết mấy dòng thơ sau đây gởi đến cho N.M.:

Trưa nay anh lại bồi hồi

Trời thu buổi ấy xanh ngời mắt em

Ba tuần duyên đã bén duyên

Ra đi kháng chiến hai miền cách nhau.

Mấy mùa man mác hương cau

Thu đông chiến dịch trung châu khó tìm...

“Tìm nhau như thể tìm chim”

Em ơi! Năm tháng lỗi niềm hẹn xưa...

Mười ba năm ấy bây giờ

Gặp nhau những tưởng mới vừa hôm qua.

Hôm qua đầu bến Nhị Hà

Thư anh trao vội, gió xoà tóc mây.

Hôm qua anh nhận thư dày

Em mơ hạnh phúc từ rày có anh.

Hôm qua trong buổi bình minh

Lòng ta chung một ân tình sáng trong.

Hôm qua... nước đã chia dòng

Thuyền không gặp lại bến sông thuở đầu.

Gặp em hồi hộp xót đau

Trời xanh đầu hạ nhìn nhau mỉm cười.

Trưa nay anh lại bồi hồì

Trời thu buổi ấy xanh ngời mắt em

Sau khi trao đổi bài thơ để nói lòng hoài niệm của mình, hoài niệm có phần tiêu tao, da diết, tôi không tìm gặp N.M. nữa, vì nghĩ rằng không nên khuấy động lại tro tàn quá vãng, huống chi tro cũng chưa thật tàn, mà nhất là tro còn nóng này là do hai ngọn lửa đốt cháy... Thỉnh thoảng, ngoài đường phố tôi lại xáp mặt N.M. hai bên chào nhau mỉm cười, có lần tôi thấy N.M. sau khi chào tôi thì ngoảnh mặt đi.

Có phải còn chút gì xao xuyến từ ngọn gió của sông Nhị Hà thổi từ buổi chiều xưa đó chăng? Nếu một ngày kia N.M. có đọc tới trang hồi ký này, thì cũng thứ lỗi cho tôi đã không kể lể hết những niềm say sưa của hai chúng tôi ngày xa nhau vì kháng chiến bùng nổ. Tôi tiếc đứt ruột đã để mất những bức thư say đắm mà trong trẻo N.M. đã viết cho tôi trong gần hai năm trời. Những dòng hồi ký này có trữ tình, tiếc nuối đến đâu cũng không bù đắp lại những dòng thư đẹp và say, và ngây ngất của N.M., lúc bắt đầu yêu mà lại là yêu tôi. Nhưng thôi, nước đã chảy dưới cầu; tôi níu lại cũng chẳng được, nhưng mong rằng mấy dòng hồi ký này trong muôn một, tạ tấm lòng yêu say của N.M...

Xuân Diệu đi thi vào ngành thương chính

Đầu năm 1940, phủ toàn quyền mở cuộc thi tuyển một số tham tá ngành thương chính (nhà đoan), bằng cấp phải có để thi là bằng tú tài, hoặc bằng cử nhân.

Anh Xuân Diệu bàn với tôi: “Ta cứ đi thi xem sao, nếu đậu có được đồng lương để yên thân về cuộc sống, thì làm thơ mới thoải mái được, mới theo lý tưởng văn chương của mình được”. Anh Diệu có câu thơ được nhiều người nhắc đến:

Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt

Cơm áo không đùa với khách thơ.

Thế rồi anh nộp đơn và anh đi thi. Đến ngày thi đến Sở đoan Trung ương (tức là trụ sở của Bảo tàng cách mạng Việt Nam) để thi thì anh gặp nhà thơ Vũ Đình Liên. Anh em vui gặp nhau, và hơi ngỡ ngàng có chút bùi ngùi. Hai anh mượn lời trong vở kịch Le Cid của Coócnây mà nói với nhau: “Xuân Diệu ơi có ai đó có thể nói là như thế này! - Vũ Đình Liên ơi có ai có thể ngờ là như thế này” (Qui l’eut -Qui l’eut cru?)

Về sau đó anh Vũ Đình Liên và anh Xuân Diệu đều trúng tuyển, anh Liên được bổ nhiệm làm tại Sở thương chính Hà Nội, còn anh Diệu thì phải đi làm tham tá tại Sở thương chánh Mỹ Tho (ngày nay là tỉnh Tiền Giang). Anh Diệu phải xa rời Hà Nội là một nỗi đau buồn, cho hai chúng tôi, nhưng cũng đành phải ra đi, vì “Cơm áo không đùa với khách thơ”. Về sau tôi mới hiểu ra rằng, sở dĩ chính quyền thực dân Pháp lúc đó bổ nhiệm anh Diệu đi xa là vì chúng nghi rằng nhóm Ngày nay là một nhóm hoạt động cách mạng chống Pháp, chúng nó tách chia nhóm này được chừng nào hay chừng ấy cho chúng. Mà rõ ràng là ý đồ của chúng như vậy, vì chúng yêu cầu lệnh bổ nhiệm phải được thi hành ngay lập tức, không cho trì hoãn việc nhậm chức. Vừa rồi sau khi anh Diệu mất tôi có gặp lại anh Vũ Đình Liên và nhắc câu chuyện hai nhà thơ đi làm “Tây đoan”, anh Liên vẫn còn cười chua chát, và nói thêm “Nhưng cũng may có Cận, nên Diệu được sớm thoát cái cảnh khổ cực làm “tây đoan” này. Đau khổ của một thời cho kiếp nhà thơ!”.

Xuân Diệu đối với u Khang

Sau khi má anh Diệu mất, anh có nhờ một u già giúp việc tên là u Khang. U Khang có mấy người cháu làm việc ở Hà Nội, có thể nuôi dưỡng u, và do đó cũng nhờ u giúp đỡ trong việc gia đình. Nhưng sau khi tiếp xúc thì u Khang quyết định ở lại giúp anh Diệu trong việc bếp núc, trông coi chốn ăn ở cho anh. Công việc giúp anh Diệu chỉ là đi chợ, nấu ăn, quét dọn cái phòng anh làm việc. Mà ngay việc đi chợ, thì nhiều khi anh Diệu cũng đỡ phần cho u Khang, vì thỉnh thoảng anh cũng trực tiếp đi mua rau và nhất là đi mua thịt chó ở chợ Hàng Bè, hoặc ở phố Sinh Từ.

Còn giặt áo quần thì những áo mỏng như sơ mi, may ô anh mới nhờ u giặt, còn quần và áo dày thì anh tự giặt lấy, không nỡ phiền u. Anh Diệu đối xử với u Khang như là đối xử với mẹ đẻ, chăm lo từ miếng ăn cho đến chỗ ngủ, chiếc chiếu, cái chăn, chiếc khăn len trùm đầu, đôi tất ấm... Anh lại còn đưa tiền đều cho u Khang mua trầu, mua thuốc lào, vì u thỉnh thoảng cũng hút điếu thuốc lào, hoặc cho thuốc lào cùng nhai với trầu. Có được thức ăn gì ngon do bạn yêu thơ biếu trong những chuyến anh đi nói chuyện thơ, anh đều để phần cho u Khang. Mỗi khi u ốm đau, mà u cũng hay ốm vặt, anh lại lo thuốc thang chu tất, và dỗ u uống thuốc, như anh đã từng dỗ má anh. Anh có định làm một bài thơ đầu đề là “U Khang”, mà anh chưa kịp làm xong thì anh đã mất. Ý bài thơ anh có nói cho tôi biết: cuộc đời kiên nhẫn, chịu thương chịu khó tích luỹ từng chút an vui như u Khang. Anh thấy nơi u Khang một biểu hiện của sự sống, của cuộc sống trăm nghìn kiên nhẫn, trăm nghìn âu lo, trăm nghìn chăm chút cho hạnh phúc đơn sơ của con người. U Khang đã mất đi mấy năm trước khi anh mất, vậy mà đến lúc anh mất bài thơ vẫn chưa làm xong. Trong vô vàn ân hận của anh khi mất đi, chắc chắn có điều ân hận này. Khi u Khang đã đến ngày cải táng, thì anh cùng các người cháu của u chăm lo việc bốc mộ của u rất chu đáo, và anh cùng tôi đã đem tiểu sành của u về chôn tại quê nhà của u, bên cạnh những ngôi mộ của gia đình, trong tỉnh Hà Nam Ninh. Tấm lòng của anh Diệu đối với u Khang thật là như con đối với mẹ.

Vì sao anh Xuân Diệu phải đi làm tham tá Nhà đoan

Trong một trang nhật ký đề ngày 27-9-1939, anh có ghi “tôi đã đỗ tham tá tập sự ngành Đoan. Thoát dạy tư! Thoát những lo âu về cuộc sống hàng ngày”.

Nhưng trong quyển nhật ký viết ở Mỹ Tho, ở trang đề ngày 18-5-1940 anh lại ghi:

“Một bạn thân vừa trách tôi trong thư, những lời làm tôi sung sướng. Anh trách tôi sao lại đi làm, thiếu can đảm thì mới đi làm. Anh muốn tôi đừng bao giờ bỏ làm thi sĩ. Tôi sung sướng vì có một người nói thật, nói thẳng, họ nhắc cho tôi cái mệnh lớn của tôi.

Sao tôi lại đi làm? Nhiều cớ lắm.

Ở nhà bắt buộc, thúc giục, than thờ. Nếu nhà có tiền, tôi không cần nghe. Nhưng đây là một gia đình đã 50 năm quay trong cái vòng đau khổ, những người trong gia đình ấy, cha mẹ, má, em,... đều là những vai trong truyện “Cái vòng”. Tôi đi làm: có một ít tiền để cho những người đời ấy khỏi hèn mọn; có một ít tiền để cho họ bớt lo tính; họ là người đời, họ cần những của cải thông thường của đời. Nếu tôi không may đậu đi làm, thì hiện giờ họ còn khổ sở, chứ có đâu cái vui!

Những người ấy tôi thương yêu hết lòng, tội nghiệp cho mẹ, thầy, má, em; tôi phải chịu khó vì họ ít nữa là trong 5-6 năm đã. Không phải vì yếu, nhưng vì nhân đạo vì tôi thương những con người; những con người ấy mà thân thích tôi, nên tôi biết rõ cái khổ mà càng thương thêm.

Cớ thứ hai: Không làm việc ngoài thì phải làm văn, nghĩa là rút cục: làm báo. Cái tiền ấy khó ăn lắm. Được nó, cũng trải bao cái nhục. Lại còn cái khổ kéo cày. Tôi đã được biết một ít cái mặt trai của báo, của văn. Tôi muốn sổng cái văn, nhưng không muốn chen vào cái “đời văn”, có nhiều bỉ ổi. Bây giờ, tôi “ngoài vòng cương toả” kia, để trong vòng cương toả” này. Thà vậy, cái xấu trong đời, chịu được; chứ cái xấu trong ăn không nên chịu và không chịu được.

Chẳng qua cũng vì tình thế nước ta, nó ảnh hưởng luôn đến số phận của một thi sĩ. Nếu ở nước ta, viết văn chứ không làm báo mà sống đủ, thì tôi đã viết văn như văn sĩ Pháp, ra sách, rồi đủ ăn, nhưng ở nước ta, độc giả ít, cái bè đảng lại cần có lắm. Mà bè đảng nào - Tự lực văn đoàn, cái hội cao nhất ở nước Việt (về mặt văn chương) lại cũng là một cái hội báo. Tôi chen chân vào chỗ nào? Cái tiếng thì được, chứ cái miếng, đó là chuyện khác. Thôi, tôi cũng tại trời gởi tôi vào chỗ này. Gởi tạm để rồi tôi sẽ ra. Cũng vì sợ cái đời văn ở nước mình sống lăn sống lóc, viết bạ viết bừa, mà tôi vào cái đời bó buộc; tuy nó bó buộc, nhưng trong sạch, không có mánh khoé, không có lừa độc giả, không chạy theo sờ thích thiên hạ, cạnh tranh để mà sống.

Ở đời có toàn vẹn bao giờ! Tôi sợ chen vào làng báo thì chết cái hồn thơ, lẽ nào cái làng gãi giấy lại cũng giết được cái hồn thơ nữa. Thế thì tôi biết đi ngả nào để cứu hồn tôi? Rút cục, cái đáng phàn nàn, là tôi đi làm lại làm vào Nam Kỳ. Nêu ở Hà Nội hay Hải Phòng xứ rét, tôi quả quyết rằng tôi hoạt động hơn”.

Những năm tháng anh làm tham tá nhà Đoan ở Mỹ Tho cũng có những giờ phút tủi cực, có thể nói là tủi nhục nữa. Thỉnh thoảng thằng chủ Sở đoan tên là Soulage lại doạ đổi anh đi nơi khác, vì anh làm việc hơi tài tử, không vừa ý nó lắm.

Ngày 26-4-1940 anh lại ghi trong nhật ký:

“Làm việc suốt đời? Thế thì bao giờ mới sống. Tôi định làm đến 30 tuổi, cả tôi và Cận đều làm việc nhà nước, thì một người có thể xin thôi. Người nào khổ nhất chắc là tôi. Làm 6 năm, tôi gắng góp tiền; được bao nhiêu? Vào xứ này, nghe nói người ta tiêu một trăm ngàn như không, mà tủi quá! Mình cặm cụi một năm được chăng là một nghìn đồng! Mà chịu bao nhiêu ràng buộc.

Trong hai tháng nay, hầu như tôi quên là Xuân Diệu. Tôi ít được dịp ký cái tên chọc trời chữ ký của tôi ngắn lại cho tiện trên giấy má của Sở. Tự quên mình là thi sĩ, văn sĩ nghệ sĩ. Lẽ nào đến thế, ai ơi! Ở đây một thân mình, không kẻ đồng loại, không ai có một hoài bão với mình.

Hà Nội! Muôn lần thân yêu! Ngươi là nước, ta là cá, xa nước ta sống sao đặng. Nếu tôi không ra được cái vòng này. Làm sao trở về được Hà Nội. Tài tôi chưa cạn. Nhưng tâm trí không thư thái, thì biết làm sao! Hay là sự sáng tạo cần có trở lực. Tôi viết Thơ thơ lúc ở Huế đang phải học tú tài phần thứ hai. Bây giờ... còn hai bài trường ca, bao giờ viết xong. Nếu trong năm 1940, mà không xong thì nhục nhã lắm; thế sẽ tỏ rằng tôi bị thua cảnh ngộ.”

Ngày 10-5-1940, trong nhật ký anh lại ghi:

“Ông chủ lại doạ: đổi tôi đi. Thì đổi đi! Ai cần. Bây giờ chỉ có một cái va ly, và một cái hòm gỗ; dễ khuân lắm; đây lại muốn đi cho biết đó biết đây!

Mà tại tôi: cộng sai một con số, thành ra sai những mười ngàn lít rượu! Mỗi lần làm báo cáo về việc làm của cá nhân là mỗi lần tôi bị càu nhàu; hai tháng bị hai lần rồi, chắc còn những lần khác nữa.

Người khó tính thì bao giờ bằng lòng ai! Ngoài ra, chẳng có việc gì to lớn. Bây giờ nghèo, phải tòng quyền. Ít lâu có vốn, tôi sẽ liệu chứ! Thực vậy lòng tôi không yên một nơi nào cả; chỉ muốn lăn đi, dù không bám rêu cũng được.

Sống trong lo lắng, chết vì yên vui, nói cho đúng hơn: Lo lắng thì làm cho ta sống một trình độ cao, yên vui thì ta sống mà chết tinh thần. Phải có bị những cái nhăn nhó của bà mẹ chồng khắc nghiệt, tôi mới biết rằng nghề này chẳng vinh gì; tôi mới nhớ cảnh tôi mới tính bàn khôn dại”.

Tôi ít muốn tiêu tiền, càng đi làm, càng ít muốn tiêu. Thấy đi làm bằng cách nào mà đỡ thân. Vui sướng gì, vinh hạnh gì là tiêu pha! Cái tiền bị người ta cau có, ra mặt mới được, cái tiền ấy ta nên thu góp nó lại, đúc nó ra thành thuốc súng, thành sức mạnh, để sau này giúp ta. Bọn tiêu sài tiền lương, rút cục mắc luôn vào cái cùm; tháng nào xào tháng ấy, đã lúc hết nửa đời, vẫn còn tôi mọi. Khi có tiền thì dù không xin thôi cũng có thể vững chãi, kiêu hãnh, vì có thể thôi lúc nào cũng được. Không tiền phải bám cái khổ nhục mà sống!”

Trong nhật ký của anh Diệu không chỉ ghi những lời đau xót về cái cảnh đi làm công cho nhà Đoan. Mà phần chủ yếu là anh ghi những cảm nghĩ về cuộc đời những suy ngẫm về văn thơ của cha ông, của anh, của bạn anh. Nhiều trang rất hào hứng viết về những cảm nghĩ và suy ngẫm ấy. Trên đây tôi trích mấy đoạn nói về cái đau khổ, cái tủi nhục phải đi làm “Tây đoan” để nói lên cái việc anh đi làm tham tá là một việc vạn bất đắc dĩ đối với anh. Cho nên lúc tôi đậu kỹ sư canh nông và bắt đầu đi làm, có tiền lương (trong lúc đó tôi vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng bí mật), thì tôi mời anh về sống với tôi tại Hà Nội. Anh Diệu đánh điện cho tôi: “Diệu từ chức được chưa?”. Thì tôi trả lời tức khắc: “Từ chức ngay, và về ngay Hà Nội”. Vậy là đầu năm 1943 anh Diệu thôi làm Tây đoan, về Hà Nội cùng sống với tôi ở số nhà 61 Hàng Bông, hai người chung một đồng lương của tôi.

Thằng Soulage chủ sở đoan của anh Diệu, hay càu nhàu nhăn nhó với anh Diệu như vậy, mà anh cũng rất bực mình nó, có lần anh cãi to tiếng với nó, nên nó doạ đổi anh đi một nơi xa. Nhưng một mặt khác, anh lại thương hại nó, mà không phải chỉ thương hại mà có phần thương xót nó... Số là, thằng Soulage này sống không vợ con, hình như nó đã có một đời vợ mà sau đã li dị... Ở Mỹ Tho nó sống cô độc, ngoài công việc Sở, và thỉnh thoảng đi bắt rượu lậu ở các quận xung quanh, thì nó chỉ còn một trò tiêu khiển là chăm sóc con khỉ của nó. Con khỉ nó đặt tên là Nana. Nó chăm sóc con vật này như chăm sóc một con người, một con người thân thích. Có thể nói con Nana là đối tượng tâm sự, tâm tình của ông chủ Soulage. Anh Diệu đã nhận xét rất tỉ mỉ, rất sâu sắc cuộc sống của con vật này bên cạnh ông chủ, hay nói cho đúng hơn là bên cạnh người nhà của nó. Anh đã định viết một truyện ngắn lấy tên là “Thân em”, em đây là con khỉ Nana. Truyện ngắn không viết xong, nhưng còn lại hai trang trong di cảo của anh, tôi xin trích ra đây một đoạn để nói lên chủ nghĩa nhân đạo trong mạch văn của anh:

“Mỗi lần tôi nhớ đến con Nana, tôi lại thương đến thân liễu bồ của nó. Tôi lại tương tượng nấm mồ nho nhỏ nó nghỉ dưới gốc cây dừa ở Sở nhà đoan Mỹ Tho. Con Nana thoạt nhìn rất dễ sợ. Nó là một con khỉ đặc biệt, không biết đến từ rừng nào, núi nào. Ông Soulage người Tây già chủ nó mua ở đâu tôi chẳng biết. Người con Nana dong dỏng cao, mồm nó giô ra, hàm dưới nở, cái cằm to lắm, chẳng trách nó hét nhiều. Hai tay của Nana dài lòng thòng, gần chấm đất. Con Nana lông đen như mun vậy, dài và thưa hơn lông mèo. Người nó thấp nhỏ, nhưng mình dài, chân dài, hai cánh tay thật dài, cái gì cũng dài, cái ngón chân nó dài; còn tay nó thật là tay ngòi bút. Dáng người nó có thể nói là thướt tha.

Loài vật trong tiếng Việt Nam đều là giống cái hết. Bò, trâu, chim, ngựa tất cả đều gọi bằng “con”. Cho nên nghe gọi là con Nana, tôi chỉ biết nó là con khỉ mun. Một con vật, chứ nào có để ý nó là giống gì. Ai gọi con Nana là khỉ. Nó không có cái gì là khỉ cả. Nó là một con vật đi hai chân; chẳng có lúc nào nó chịu hạ mình mà đi bốn cẳng. Nó mặc một cái áo gi-lê bằng dạ xanh nước biển cài khuy phía trước sau cho ấm ngực, nó nhẹ nhàng một cách lạ. Nana nó có một tâm hồn... người Tây già chủ nó khi nói đến nó dùng ngôi thứ ba thì dùng “giống cái”. Nó là cô Nana; nó là thiếu nữ Nana. Cái tên dịu dịu xinh xinh; thật là tên con gái.

Cô Nana thật là xinh. Ừ, ừ Nana đẹp lắm, Nana đáng yêu lắm. Nana nó vuốt cái áo của nó với những ngón tay mềm mại. Nhưng tại sao lần đầu tiên gặp nó tôi sợ nó thế. Trông nó rất kinh. Tính hay sợ loài vật là một tính xoàng. Sợ loài vật tức là không biết cái địa vị của mình là con người, cái địa vị của người anh phải thương yêu những giống đàn em, là loài vật. Ông Soulage người chủ nhà đoan già là hiện thân của hồn thuộc địa. Người ông to lớn, hai hàm răng cằn khít lại. Ông ta nức tiếng là ông ác trong làng thương chính. Cả Sở nhà đoan run sợ khi ông ta đổi xuống Mỹ Tho. Tính ông già còn mạnh mẽ này là tính của một người không muốn cho ai hơn mình. Ông không thích cho người khác vui sướng. Có vui sướng thì phải vui sướng thua ông, hay là do ông ban cho cái sướng. Những biển Đại Tây dương Địa trung hải, Ấn Độ dương, Thái Bình dương đã từ làn sóng này đến làn sóng khác lăn một hình người xa lạ đến ở một tỉnh nhỏ này. Mặt trời nhiệt đới đã bạc tóc ông, ông đến đây để ngửi trên cát những cái gì là nhà đoan ở tỉnh này và các tỉnh lân cận. Ông Soulage không có ai ưa hết. Ngày ngày xong giờ làm việc ông lại lên trên lầu lủi thủi một mình. Ở bàn giấy ông làm vương làm tướng nhưng khi Sờ đóng cửa rồi, ông già lại trở lại là một người già. Xa nhà xa nước không vợ không con, không có gì giải trí ông lấy sự nanh ác làm một cái vui”

Sau đó anh Diệu định tả cái niềm an ủi duy nhất của ông là cái tình của ông đối với con Nana, và cái tình của con Nana đối với ông...

Tập 2- R

Bài diễn thuyết đầu tiên của Xuân Diệu

Đó là buổi diễn thuyết về “Thanh niên với quốc văn” tại hội trường của Đại học Đông Dương vào hồi tháng 3-1944. Hoài bão của chúng tôi đối với tiền đồ của tiếng Việt Nam đã được diễn tả nhiều lần trên báo Ngày nay và trong những bài thơ. Nhưng để nói tập trung cái hoài bão đó, cái nỗi niềm đó thì anh Diệu đã bàn với Tổng hội sinh viên làm cuộc diễn thuyết nói lên trách nhiệm của các thế hệ thanh niên đối với tiền đồ của tiếng nước nhà, đối với công cuộc xây dựng nền văn hoá dân tộc.

Trước ngày diễn thuyết, anh đọc đi đọc lại rất kỹ bài của mình, lấy bút chì đỏ gạch dưới những câu, những chữ cần nhấn mạnh, chẳng khác nào như một diễn viên sân khấu nghiên cứu đài từ của mình trước giờ diễn xuất.

Tối hôm đó tại hội trường lớn của trường Đại học, hội trường theo bậc thang, chật ních những sinh viên và một số khách mời. Trong đám khách mời có các giáo sư đã học, và một số bạn quen của chúng tôi. Anh Hoàng Xuân Hãn tối ấy cùng đến dự, và ngồi ở ghế hàng đầu có nói chuyện hồi lâu với anh Diệu trước khi anh Diệu bắt đầu nói chuyện. Không khí khá náo nức, vì cái tinh thần yêu tiếng Việt, trau dồi cho tiếng Việt cũng đã được gây lên trên báo chí, qua sách vở của Tự lực văn đoàn và của nhiều nhà xuất bản khác, qua phong trào truyền bá quốc ngữ. Nhưng lần này sự náo nức lại được tăng lên bởi lẽ diễn giả là một nhà thơ mới nổi tiếng được thanh niên rất yêu mến. Cũng nhắc thêm: ở diễn đàn này, về sau anh Nguyễn Đình Thi cũng nói chuyện về tinh thần chống phong kiến, tinh thần dân chủ trong ca dao Việt Nam. Anh Xuân Diệu bước lên diễn đàn được một tràng vỗ tay của hội trường chào đón làm cho anh vốn đã dễ hồi hộp càng hồi hộp thêm, nhưng đó là điều cổ vũ anh, làm anh vững tâm đọc bài diễn văn của mình. Anh mở đầu: “Chưa khi nào tôi nói trước đông người. Lần này nói với các bạn, đó là lần thứ nhất của tôi. Tôi không muốn mang cái vẻ dễ thành ra khôi hài của một nhà diễn thuyết. Đây chỉ là một cuộc trò chuyện nó có vẻ một câu chuyện tâm tình. Tâm tình với quốc văn, tâm tình của chúng ta đôi với quốc văn.

Sinh viên với quốc văn? Sinh viên Việt Nam với quốc văn Việt Nam! Biết bao nhiêu điều các bạn có thể tự tình kể lể với cái hồn của nước ta đọng trong quốc ngữ! Chúng ta tâm sự với tiếng nói của mẹ Việt Nam, chúng ta nghe rõ trong lòng ta lời nói của mẹ Việt Nam. Vậy tôi chắc các bạn cùng cảm thông với tôi trong cái nỗi niềm dạt dào khi nghĩ đến Mẹ”.

Xong rồi anh nói đến thái độ hờ hững của một số thanh niên đối với tiếng nước nhà, nói đến việc dạy quốc văn không được tốt trong một số trường học, nói đến tác dụng của tiếng mẹ đẻ trong sự nghiệp, giành độc lập và bảo vệ độc lập. Anh cũng có nhắc đến câu của Alphonse Daudet trong cái truyện ngắn Buổi học cuối cùng: “Một dân tộc nào mà cũng còn giữ được tiếng của mình, thì dân tộc ấy cũng như giữ được cái chìa khoá để tự giải phóng cho mình”. Sau đó anh nói trách nhiệm của sinh viên thanh niên là phải trau dồi tiếng mẹ đẻ, dùng tiếng mẹ đẻ làm công cụ phát triển văn hoá, văn minh của nước nhà. Anh lại khuyến khích sinh viên đi vào nghiên cứu vốn văn học dân tộc, vì không có tiếng nào hơn là tiếng nước ta để biểu hiện trung thành và sâu sắc tư tưởng và tình cảm của con người chúng ta. Anh cũng khuyến khích công việc dịch thuật để làm giàu thêm cho kho sách của nhân dân.

Anh còn phác hoạ ra một chương trình gồm 6 điểm để củng cố địa vị của quốc văn trong đời sống của quốc dân: một là phải chống những tật xấu trong tinh thần Á Đông, hai là phải chống lại những tật xấu của riêng người Việt Nam. Ba là phải chuộng sự thật; bốn là phải chuộng sự lành mạnh; năm là chuộng sự sáng sủa; sáu là chuộng sáng tác, đẩy mạnh tinh thần sáng tạo. Đoạn kết anh nói: “Tôi xin tóm tắt lại cùng anh em bằng một tình cảnh. Này một đứa bé Việt Nam lọt lòng ra đời. Tiếng mẹ nó ru bao bọc lấy nó, mơn trớn, vuốt ve. Dần dần đứa bé nghe lọt tai rồi ngày ngày được ẵm bồng trong câu ru Nam Việt. Tâm linh nó tự nhiên thấm nhuần tiếng mẹ đẻ, nghe lời ru, nó hết khóc, nó mỉm cười Nó nằm trong nôi, mà cũng là nằm trong lòng mẹ, mà cũng nằm trong tiếng nước nhà:

Nằm trong tiếng nói yêu thương,

Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời.

Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi:

Hồn thiêng đất nước cũng ngồi bên con.

Mấy câu thơ ấy của một thi sĩ bạn tôi (Huy Cận) thật đã tả cái cảnh yêu thương chẳng những của lòng mẹ mà còn cái lòng đất nước. “Hồn thiêng đất nước cũng ngồi bên con.... Anh lại thêm: “Anh em đừng ngại rằng quốc văn ta nghèo nàn, kém cỏi, không đủ món ăn cho anh em. Không đủ, anh em cũng cứ xem rồi thì khen lao hay chỉ trích, hay chế nhạo cũng được; nhưng miễn sao anh em đừng hừng hờ. Anh em làm cái bổn phận ủng hộ, bổn phận dễ nhất của anh em. Còn nhà chúng ta nghèo, chúng ta chớ ngại. Nhà nghèo mà anh em ta biết chịu thương chịu khó, biết cố gắng, biết hy sinh thì chẳng mấy chốc mà cái nhà văn Việt Nam, từ vách đất mái tranh, sẽ hoá nên lâu đài cung điện. Thưa anh em, văn học Việt Nam đang mong mỏi ở mỗi chúng ta”.

Buổi diễn thuyết thành công mỹ mãn, lúc ra về mọi người tìm bắt tay diễn giả và cũng nói lên cái lòng hoài bão chung đối với tiếng nước nhà... Lúc cuốn Thanh niên với quốc văn xuất bản ở nhà “Thời đại”, anh Diệu đề tặng tôi “Diệu tặng Cận bài diễn thuyết đầu tiên của Diệu; sắp sẵn những cuộc “chu du nói chuyện” của ta về sau. Sở dĩ anh đề như vậy là vì cả hai chúng tôi lúc đó có cái mộng là đi diễn thuyết khắp nước để cổ vũ công cuộc xây dựng nền văn học và nền văn hoá nước nhà.

Mộng này về sau anh Diệu đã thực hiện một cách đầy đủ bằng hàng trăm (gần đến 1000) cuộc bình thơ, nói chuyện thơ của anh. Tôi cũng làm được mức nào bằng những cuộc nói chuyện của tôi về văn hoá, văn nghệ về sự trau dồi bản sắc văn hoá dân tộc, về việc xây dựng các vùng văn hoá đẹp và bền trong cả nước.

Xuân Diệu viết về “Hàng bia Văn Miếu”

Cùng một lúc với việc chúng tôi trau dồi tiếng Việt làm thơ viết văn bằng tiếng Việt, với lòng yêu tiếng nước nhà một cách thiết tha, da diết thì cũng có dăm ba người trong đám trí thức ti toe viết tiếng Pháp, hòng xây dựng sự nghiệp văn chương bằng tiếng Pháp. Đối với chúng tôi lúc đó, việc chạy đòi làm thơ văn bằng tiếng Pháp là một tinh thần nô lệ, hướng theo cái uy thế của “mẫu quốc”. Chúng tôi không những cười cái trò ấy mà còn căm phẫn nữa. Thái độ căm giận ấy anh Diệu đã tỏ rõ trong bài Hàng bia Văn Miếu. Ở giữa bài có đoạn anh viết:

“Một chiều kia tôi đã nhận bài học của hàng bia Văn Miếu. Tôi xin kể lại bài học ấy cùng mọi người. Thái học sinh nghĩa là gì? Nghĩa là những cậu học sinh giỏi giang, ở trên cả các học sinh khác, những người “học trò” tốt vậy, nghĩa là thuở Hán học, các học sinh ấy khéo thuộc lòng, khéo ăn cắp sách, khéo nấu nướng những món văn sách, kinh nghĩa, nấu giả Đường, giả Tống cũng như người ta nấu giả cầy, và dọn lên cho các quan trường thưởng thức. Các thái học sinh đã làm việc rất hữu công cho thân mình họ, bởi cái lẽ hiệu nghiệm nhất là họ đã làm việc không công cho tiếng nước Tàu... nào có ra gì bác Nguyễn Du, nếu bất hạnh Nguyễn Du không đỗ đạt....

Đoạn kết thúc anh viết:

“Tôi buồn cười trông thấy sự ngây ngô của đời trước, tưởng rằng đậu ông nghè là có đại công với văn học, với tổ quốc, vội xây đài kỷ niệm... Người Việt Nam đời nay đã bỏ cái “công danh Tàu” đời trước: và cái “công danh Tây” đời này người Việt Nam đời sau sẽ để vào góc nào? Chắc sẽ có một Văn Miếu thứ hai, hai hàng bia đá khắc ghi tên những ông nghè, ông thạc, và rêu tha hồ bám, cỏ tha hồ che”. (bài đăng ở báo Ngày nay năm 1938).

Giọng mỉa mai của anh đối với các bậc khoa cừ ngày xưa cũng có chỗ chưa thật thoả đáng, nhưng cái ý chính của anh là mỉa mai các vị văn sĩ viết tiếng Tây, và cái ý đồ bảo vệ tiếng mẹ đẻ, bảo vệ văn học và văn hoá dân tộc là hoàn toàn chính đáng, mà vì vậy bài báo ra đã được đám thanh niên rất hưởng ứng.

Xuân Diệu công phu học vốn cổ thơ văn dân tộc

Trong các di cảo của anh có cả một quyển vở dày trong đó anh chép các bài thơ, bài từ, bài phú hay (chép từ thời anh còn học tiểu học và trung học ở Qui Nhơn, từ năm 1930-1933. Chẳng hạn về thơ ngụ ngôn anh đã chép nhiều bài theo ngụ ngôn bát cú như bài Dạ hoài của Phạm Tuấn Tài:

Đêm năm tay vắt trán,

Thân thế nghĩ mà dơ!

Đội đức dường non bể,

Đền ơn chửa tóc tơ.

Giá hèn bầu bạn rẻ,

Xu ít chị em lờ!

Tủi phận hờn duyên chán,

Châm đèn dậy viết thơ.

Anh lại cũng chép những bài hát nói thấy dăng trên các báo như bài Kỷ niệm vua Hùng Vuông của Trần Duyệt, bài Nhà nho với nhà trò than thân của Huyền Mặc Đạo Nhân... Anh lại công phu chua chữ Hán bằng mực đỏ dưới những câu đối trong các bài hát nói. Anh công phu chép hàng chục bài hát nói như vậy.

Thể thơ song thất lục bát anh cũng chép nhiều bài như Đêm buồn tự thuật của Vũ Như Châu hay bài Trường hận ca diễn âm (nguyên văn của Bạch Cư Dị, bài diễn âm này không biết của ai, không phải bài dịch của Tản Đà). Anh lại còn chép nhiều từ khúc, theo các điệu từ khúc của Tàu và của ta ngày xưa, như điệu “Nhất tiễn mai”, điệu “Trường tương tư”, điệu “Lâm Giáng tiến”, điệu “Cán khê sa”, điệu “Khoa phong lạc”, điệu “Thái xuân hoa”, điệu “Vân thê”, điệu “Giá cô thiên”, điệu “Nga mi dương”, điệu “Như mộng lệnh”, điệu “Xuân quang hảo”, điệu “Đổ bộ thiềm”, điệu “Mộc lan hoa” điệu “Nguyễn lang qui”, điệu “Bắc giang mai lệnh” điệu “Nhất chi thất”, v.v... Cái điều mà ta gọi là làm chủ vốn cổ văn học nghệ thuật nước nhà thì Xuân Diệu đã công phu chuẩn bị cho mình từ bé, để sau này thật sự anh làm chủ cái vốn quí của cha ông khi anh trân trọng nghiên cứu “các nhà thơ cổ điển Việt Nam”...

Dự định ra tạp chí Tao phùng tạp chí văn học và triết học

Từ lúc tôi học ban thành chung, nhất là từ khi tôi học ban tú tài tôi rất ham mê triết học, song song với cái say mê văn chương. Tôi đọc sách đều cả hai loại: triết lý và văn thơ. Đến năm tôi học năm thứ ba ban tú tài tôi Càng say sưa nghiền ngẫm triết học, và những sách tôi đọc ngoài chương trình triết học của nhà trường là rất nhiều. Thầy giáo tôi về triết học là ông Nguyễn Huy Bảo đã ghi trong học bạ của tôi “Cù Huy Cận có một cảm quan nhạy bén và sâu về triết lý”. Lúc tôi thi tốt nghiệp ban tú tài, giáo sư triết học người Pháp Hertrich (ở Hà Nội vào Huế chấm thi) cũng cho tôi điểm cao nhất cả về bài viết và bài vấn đáp. Và giáo sư này cũng khuyên tôi nên sang Pháp học môn triết học để lấy bằng thạc sĩ về triết học, lời khuyên ấy là gãi đúng chỗ ngứa của tôi. Tôi cũng đã làm đơn xin học bổng để đi học theo hướng gợi ý của giáo sư Hertrich và của thầy Nguyễn Huy Bảo. Nhưng ngày 1-9-1939 chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, không biết đơn xin học bổng của tôi có được chấp nhận không, nhưng tôi quyết định ở lại nhà, vì cảm thấy rằng sẽ có những biến cố lớn xảy ra với đất nước. Rồi tôi đi dạy ở trường Chính hoá (Vinh), rồi vào học Trường cao đẳng Nông lâm ở Hà Nội, học nông lâm là cốt để có một nghề tay trái, khỏi phải bán văn thơ nuôi thân. Và cái mộng vừa làm thơ, vừa tìm tòi nghiên cứu về triết học vẫn đeo đuổi tôi mài. Và đầu năm 1942, lúc tôi đã tham gia hoạt động cách mạng, tôi vẫn nghiền ngẫm trong tâm trí cái dự kiến ra tạp chí triết học kiêm văn chương.

Tôi gặp nhà thơ Vũ Đình Liên, lúc đó vừa dạy tư, vừa làm tham tá nhà đoan, hai anh em tâm sự và trao đổi những ý đồ văn chương với nhau, rất tâm đắc. Tôi bàn với anh Liên sẽ cho ra tờ tạp chí lấy tên là “Tao phùng” tạp chí văn chương kiêm triết học, mà chủ nhiệm kiêm chủ bút là tôi và quản lý trị sự là anh Liên phụ trách.

Hiện nay tôi vẫn còn giữ cái “ma két” của tờ tạp chí ấy vẽ bằng mực xanh trên một tờ giấy không trắng lắm và nay thì đã ố vàng. Trong tạp chí này chưa để tên Xuân Diệu vì anh Diệu lúc đó còn làm tham tá nhà đoan ở Mỹ Tho. Tôi có viết thư cho anh Diệu biết dự định của tôi thì anh Diệu tán thành và nói: “Diệu sẽ góp phần văn thơ là chính, còn phần triết học thì đó là miếng đất và cái thú riêng của Cận”, nói câu ấy với một mỉm cười kín đáo. Cái mộng tạp chí triết học kiêm văn thơ của tôi chỉ còn là một kỷ niệm, vì ở đời có phải bất cứ dự định nào, bất cứ mơ ước nào cũng thành được sự thật cả đâu. Vừa rồi tôi gặp lại anh Vũ Đình Liên có nhắc câu chuyện tạp chí “Tao phùng” này, thì hai anh em cùng cười, nhưng không phải là cái cười chua chát, cay đắng nhớ đến một sự thất bại của đời mình, vì chúng tôi, vì tôi nghĩ rằng mộng triết học kiêm văn chương không thể hiện bằng tờ tạp chí, nhưng vẫn thực hiện trong cuộc đời, trong sự sống của mình trong những cảm nghĩ và suy nghĩ hàng ngày của mình.

Có thể nói vui rằng hằng ngày tôi vẫn cho ra tạp chí “Tao phùng” trong cuộc sống và trong hoạt động văn học, nghệ thuật của tôi. Chắc các bạn đọc có thể thông cảm điều này. Định lấy cái tên “Tao phùng” là vì nhớ đến câu “Nghìn năm một hội tao phùng” của Vũ Lượng trong bài Văn tế trận vong tướng sĩ nổi tiếng.

Một cô người Pháp cực kỳ mê thơ Xuân Diệu

Cô ấy là Louise Koger, bố là người Pháp, mẹ cũng là người Pháp, chứ không phải là đầm lai. Không biết cô học tiếng Việt trong trường hợp nào, mà nói tiếng Việt rất sõi, giọng đặc là giọng người Hà Nội. Cô học văn khoa tại Paris, và yêu một anh trạng sư Việt kiều.

Hai người nói chuyện với nhau toàn bằng tiếng Việt và cô tỏ tình với người yêu toàn mượn lời thơ của Xuân Diệu để nói thay lòng mình. Và trong câu chuyện hàng ngày cô cũng vẫn dùng những câu thơ của Xuân Diệu để nói chuyện với người yêu, ví dụ hai người đi dạo ngoài phố mà cô Louise muốn giục người yêu của mình đi mau thì cô đọc lên câu thơ “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!”. Cũng có lần hai người đi chơi ở Angiêri gặp tuần Ramađăng (là một tuần lễ của Hồi giáo, trong tuần đó người ta nhịn ăn, các cửa hàng ăn không bán thức ăn, mà chỉ bán nước giải khát). Thế thì hôm trước tuần Ramađăng, hai người vào tiệm ăn A-rập, cô giục người yêu cố gắng ăn no đi vì ngày mai có thể phải nhịn đói, nếu không tìm được nhà người quen để ăn nhờ. Cô liền đọc câu thơ: “Ăn đi anh. Em rất sợ ngày mai” (câu thơ của Xuân Diệu là: “Mau lên em! Anh rất sợ ngày mai” trong bài Giục giã). Cô Louise Roger lại còn thuộc thơ Xuân Diệu đến nỗi có thể tập thơ Xuân Diệu (như người ta tập Kiều) ví dụ cô đã ghép bốn câu ở bốn bài khác nhau của Xuân Diệu thành một bài tứ tuyệt đúng niêm luật và có nghĩa:

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều (trong bài Vì sao)

Ta cần uống ở suối thương yêu (trong bài Vô biên)

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói (trong bài Dây mùa thu tới)

Không khóc nhưng mà buồn hiu hiu (trong bài Nhị hồ)

Cô này rất thuộc văn thơ Việt Nam, đặc biệt là Thơ mới. Anh bạn trạng sư yêu cô say đắm, trọng vì nết, say vì tình, và hai người lại có một sự say mê chung, là mê Thơ mới và đặc biệt là mê thơ tình của Xuân Diệu. Tưởng là hai người kết duyên với nhau suốt đời, thế mà vì một sự vụng về và cạn nghĩ của anh chàng trạng sư mà mối tình phải chấm dứt. Cô đành phải kết hôn với một người bạn ở châu Mỹ la tinh, và anh bạn trạng sư về sau cứ tiếc ngơ tiếc ngẩn. Gặp tôi ông trạng sư si tình còn tự hỏi thầm: “Không biết bây giờ thì cô đọc thơ tình của Xuân Diệu cho ai nghe?”...

Chắc chắn là không còn đọc cho ông trạng sư nghe nữa. Chính câu chuyện này người bạn trạng sư Việt kiều đã kể cho anh Xuân Diệu và tôi nghe tháng 11-1981 lúc anh Xuân Diệu sang Paris để diễn thuyết về văn thơ Việt Nam tại trường đại học Sorbonne.

Bà bán hoa, cô bán thịt chó, và bà hành khách đi tàu hoả đối với nhà thơ Xuân Diệu

Cách đây hơn 10 năm, khi còn chống Mỹ cứu nước một hôm anh Xuân Diệu đến mua hoa ở cửa hàng hoa trên bờ hồ Hoàn Kiếm. Anh thích hoa hồng và tỉ mỉ chọn được 5 bông hoa vừa ý, và rút ví để trả tiền thì bà bán hoa nói: “Sao ông lấy ít hoa thế, mùa này hoa đẹp, ông lấy vài chục bông về cắm ở phòng, vừa đẹp vừa thơm. Hoa ái tình mà”. Anh Diệu nói “Hoa thì đẹp nhưng tiền thì không nhiều!”. Bà hàng hoa đáp: “Có bao nhiêu đâu? Xin biếu nhà thơ. Yêu là chết ở trong lòng một ít mà?”. Thì ra bà hàng hoa rất thuộc thơ Xuân Diệu và rất quí nhà thơ, anh Xuân Diệu cảm động và cảm ơn và nói đùa thêm: “Cho rất nhiều nhưng chẳng nhận gì cả?” câu thơ của anh là “Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”...

Năm 1983, một hôm anh Diệu ra chợ Hàng Bè tìm mua thịt chó. Anh gặp được một chỗ bán thịt mềm và ngon, mua nửa ki lô, toàn thịt không lấy xương... Hỏi giá bao nhiêu thì cô hàng thịt chó cho biết là 50 đồng nửa ki lô anh Diệu hơi ngần ngừ vì cảm thấy hơi đắt.

Cô hàng thịt nói “Xin nhà thơ cứ lấy, em chỉ tính 30 đồng thôi, và nếu nhà thơ quen hầm vó cầy, thì em xin biếu luôn bộ vó này để nhà thơ có thêm hứng mà làm thơ”. Thì ra cô này cũng rất thuộc thơ Xuân Diệu.

Anh Diệu vừa trả tiền vừa cảm ơn “Cô biếu tôi nhiều quá”, thì cô hàng lại nói: “Có nghĩa gì đâu một buổi chiều” (câu thơ trong bài Vì sao). Từ đó trở đi, cần ăn thịt chó thì anh Diệu lại ra chợ Hàng Bè tìm cô bán hàng thịt chó rất thuộc Thơ thơ...

Năm 1982, anh Diệu đi từ Tuy Hoà ra Qui Nhơn bằng xe lứa. Lúc ở ga Tuy Hoà lên xe thì trong toa tầu tối mịt người chen chúc nhau rất lộn xộn, anh Diệu tay xách tay mang tìm chỗ đặt một chân cũng không được chứ đừng nói là có chỗ ngồi. Anh Diệu phải nói to lên: “Thì các bà cũng phải để cho tôi chỗ đứng với chứ?”. Sau đó vài phút, có một anh thanh niên tìm đến chỗ anh Diệu đứng và nói: “Má em mời nhà thơ đến ngồi đằng này với chúng em không thừa chỗ, nhưng em xin đứng để nhà thơ ngồi”. Anh Diệu hỏi sao biết tôi mà tìm đến giúp thì anh thanh niên nói: “Má em nghe tiếng của nhà thơ, nhận ra cái giọng đặc biệt của nhà thơ hôm nhà thơ nói chuyện ở Tuy Hoà, cho nên bảo em đến mời nhà thơ ngồi đằng này cho thoải mái một chút.... Đại khái cảm tình của quần chúng bình thường đối với nhà thơ Xuân Diệu là như vậy, một thứ cảm tình tự nhiên, tưởng như mộc mạc, mà thật là một mối cảm tình sâu sắc đầy sự cảm nghĩ của những người có cuộc sống bên trong sâu lắng, yêu mến cái đẹp, yêu mến văn thơ. Những chuyện như chuyện tôi vừa kể còn nhiều lắm trong đời anh Xuân Diệu, lúc khác tôi sẽ kể thêm. Anh Xuân Diệu cũng biết cái “thế mạnh” của mình, nên trong khi giao thiệp với người này người kia, với cơ quan này, cơ quan kia, anh cũng nói vui: “Tôi là đồng chí Xuân Diệu, đồng chí nhà thơ Xuân Diệu đây”, tôi xưng danh chỉ có thế” rồi anh cười xoà...

Một bà má ở Mỹ Tho muốn gả con gái cho Xuân Diệu

Lúc anh làm tham tá nhà đoan ở Mỹ Tho anh ở nhà bà Nguyễn An Ninh ở phố bờ sông Bảo Định (tôi sẽ kể sau với những năm tháng ở nhà bà Ninh). Nhưng thỉnh thoảng anh có đến chơi nhà một bà má khá giàu sang ở gần Sở anh làm việc, bà má người hiền lành nhưng cách ăn nói rất mực thước vừa thân tình mà cũng vừa lịch thiệp. Bà có một cô con gái khá xinh, đã học qua bậc tiểu học rồi ở nhà lo việc gia đình với bà. Thỉnh thoảng hai mẹ con về quê (trong đó gọi là về vườn) mang nhiều hoa quả của ngon vật lạ ra Mỹ Tho. Theo cách hiểu bây giờ thì tôi nghĩ rằng đó là một bà địa chủ cỡ vừa ở cái đất phì nhiêu của đồng bằng sông Cửu Long. Không thấy chồng bà ra Mỹ Tho bao giờ, hoặc giả bà là quả phụ, nhưng cũng không thấy bà nói chuyện ấy.

Anh Diệu đến chơi nhà thì bà rất quí, bà cũng biết anh Diệu là nhà thơ nổi tiếng, nhưng bà cứ gọi anh Diệu là “Ông tham biện” trước mọi người. Nhưng khi hai người nói chuyện riêng với nhau thì bà xưng má với anh Diệu và gọi anh Diệu là con một cách rất tự nhiên. Cứ má má, con con như thế hàng tháng giời, anh Diệu cũng thấy êm ái và nghĩ rằng đó là tình cảm trìu mến của một bà má Nam bộ đối với một người trí thức ở Hà Nội vào, nhất là đối với một nhà thơ. Và bà cùng cô con gái đã làm những bữa cơm thật ngon có cá chà bông, có canh chua theo kiểu Nam bộ, có cơm gạo nanh chồn nấu với nước dừa... để chiêu đãi anh Diệu những chiều thứ bảy hoặc trưa chủ nhật. Chính tôi cũng đã được hưởng thụ những bữa cơm ngon đó khi vào thăm anh Diệu những dịp nghỉ hè. Mãi mà bà má không thấy anh Diệu ngỏ ý, bà má đâm ra nóng ruột và có một hôm giọng rất tâm tình bà hỏi nhỏ anh Diệu: “Vậy chớ con đã có ý định làm duyên với ai chưa, đã có ba má nào trong này nhận con làm con chưa?”. Lúc bấy giờ anh Diệu mới hiểu ra rằng bà má muốn gá con gái cho mình mà có sự săn đón thân tình đối với anh gần trong một năm giời. Tất nhiên là anh có những lời thối thác, và rút lui “có trật tự”. Tuy vậy thỉnh thoảng anh vẫn đến thăm bà má này, vì bên cạnh tấm lòng người mẹ lo gả chồng cho con gái, vẫn có tấm lòng trìu mến của một bà má Nam bộ đối với một người trí thức ở Bắc vào...

Đem má anh Diệu tập kết ra Bắc

Tháng 10-1954, chúng tôi về Hà Nội, thì anh Diệu và tôi tìm hỏi ngay việc tập kết cán bộ và gia đình cán bộ ở Khu 5 ra Bắc như thế nào. Anh Diệu rất lo lắng và không biết có thể đem má mình ở Gò Bồi (Bình Định) ra Hà Nội sống với mình được không. Tôi tìm hỏi mãi thì liên lạc được với đồng chí Minh (lúc đó là khu uỷ viên của Khu 5, và bây giờ là uỷ viên của Mặt trận Tổ quốc) là người đang phụ trách sắp xếp việc đưa gia đình các cán bộ tập kết ra Bắc với con mình. Thế là may quá anh Diệu và tôi đến trình bày trường hợp cụ thể của bà má anh Diệu (là bà Nguyễn Thị Hiệp), lúc đó đang sống ở Gò Bồi, đơn chiếc không ai chăm nom, mà nếu phải ở lại với chính quyền nguỵ thì sẽ điêu đứng và nguy hiểm cho bà. Đồng chí Minh hết lòng giúp đỡ, liên hệ với trong Bình Định, nhờ người của ta trong đó đi tìm bà má và bố trí cho bà được cùng ra với một số đông cán bộ tập kết trên một chuyến tàu Ba Lan lúc đó chở cán bộ tập kết từ Khu 5 ra Hà Nội. Như vậy là sau bao nhiêu năm mẹ con xa cách, anh Diệu lại được đón mẹ đẻ của mình về cùng sống với mình tại ngôi nhà 24 Điện Biên Phủ cùng gia đình của tôi. Bà má anh Diệu đã sống một đời đau khổ, như đã kể rõ trong chương trình nói về tuổi nhỏ anh Diệu, nên bà sinh tính hơi rụt rè, nói rất nhỏ nhẹ, đi đứng âm thầm. Và bà rất dễ tủi lòng. Có đôi khi anh Diệu bực mình một việc nhỏ gì đó nói hơi to tiếng (không phải là to tiếng với mẹ đâu) thì bà má cũng thấy tủi cực và lủi thủi đi xuống bếp. Thế là anh Diệu hối hận lại phải xuống an ủi má, có khi hai má con cùng ứa nước mắt. Bà má biết tôi là bạn thân của anh Diệu, bà cũng rất thương tôi và đi chợ mua được quà gì cho anh Diệu ăn thì bà cũng chia phần cho tôi từ quá chuối đến cái bánh giò, đến miếng mít... Bà má cứ ăn bận áo quần bà ba đen, theo kiểu đồng bào Khu 5 và Nam bộ, anh Diệu muốn may áo cánh trắng hay là áo màu nâu cho bà, bà cũng không chịu mặc. Nỗi đau khổ lớn về tình cảm của hai mẹ con trong thời thơ bé của anh Diệu cứ đeo đẳng bên anh nên anh tìm mọi cách để làm vui lòng má chăm lo từng miếng ăn, từng miếng trầu, từng chén nước. Bà má đã mất trong những ngày còn chống Mỹ cứu nước... Nay Tịnh Hà đã đưa gio bà má về thành phố Hồ Chí Minh.

Tôi suýt chết đuối ở sông Đáy

Cuối năm 1949, lúc tôi mới từ Bộ Kinh tế trở về Phủ thủ tướng làm Thứ trưởng Tổng thư ký Hội đồng Chính phủ, một hôm đi họp về, nước sông Đáy hơi to, tôi cưỡi con ngựa đen (anh em gọi đùa là con ngựa Xích thố), tìm một chỗ sông cạn để lội qua, nhưng mọi chỗ đều đã sâu.

Tôi đành ôm chặt bờm ngựa, cho ngựa bơi qua sông, hai chân kẹp chặt vào bụng ngựa, trên vai vẫn mang ba lô.

Ngựa bơi chỗ nước sâu, nước chảy hơi mạnh, con ngựa vẫn ngẩng đầu lên bơi rất thong thả, còn tôi thì nước đã ướt cả quần và ướt cả đến bụng vì có lúc lưng con ngựa cũng chìm xuống một chút. Trong bụng tôi hơi run, nhưng hai tay bám chặt bờm ngựa, và cố ngồi thật yên để giữ thăng bằng, vì tôi không biết bơi, hay nói cho đúng hơn lúc tắm sông bận quần đùi tôi chỉ bơi được mươi thước.

Nếu bây giờ con ngựa chòng chành mà tôi rơi xuống sông thì nhất định chết đuối. Thế rồi ngựa bơi được sang bờ bên kia, và tới bờ nó chạy nhanh lên chỗ gò đất cao thì tôi ngã xuống cả ba lô trên lưng, vì cái dây thắng đái đã đứt lúc nào không biết trong lúc ngựa còn bơi qua sông. Thế nghĩa là chỉ cần một chút chòng chành của lưng ngựa khi đang bơi, là cái bành lật nghiêng và tôi sẽ chết đuối... Thật là hú vía, may mà sông hôm ấy nước to nhưng nước chảy không thật mạnh lắm, không có những chỗ nước xoáy. Con ngựa rất khôn, nó lên gò đất cao thấy tôi ngã, nó dừng lại chờ chứ không chạy thẳng về nhà nơi tôi ở. Sau một vài phút bàng hoàng, tôi lại đứng dậy mang ba lô lên người và nối lại dây thắng đái, buộc bành vào lưng ngựa và rất cẩn thận nhẹ nhàng lên ngựa đi lững thững về nhà cụ Muỗi, một đồng bào người Tày ở trong xã Tân Trào, nơi tôi ở gần hai tháng trời trước khi vào ở trong Lán của ATK (an toàn khu) của Chính phủ.

Từ đó về sau, tôi vẫn đi ngựa, nhưng mỗi lần trước lúc đi đều nhờ đồng chí bảo vệ là anh Lư kiểm tra thật kỹ dây thắng đái của ngựa... Con ngựa Xích thố này về sau bị vết thương trên lưng, tôi cho rắc thuốc sunfamít chữa lành nhưng rồi lại bị xước và ung nhọt trở lại... Tôi nghỉ không đi ngựa hàng tháng, thế rồi con ngựa chết, nó chết ban đêm, đến trước cửa phòng tôi ngủ mà chết. Thật đúng là khuyển mã chi tình.

Đồng chí Trường Chinh dặn tôi đừng tịt thơ

Một chiều cuối năm 1947, trời đã trở rét, tôi đang đứng chờ trên bờ sông Đáy để chờ bè chở sang sông đi họp Hội đồng Chính phủ thì gặp đồng chí Trường Chinh vừa đi đến. Trong lúc chờ bè đồng chí Trường Chinh hỏi chuyện tôi công việc trong Chính phủ, về việc vận động tăng gia sản xuất (vì lúc đó tôi phụ trách Bộ Canh nông). Rồi đồng chí với một giọng thân tình hỏi tôi: “Thế nhà thơ Huy Cận có còn làm thơ nữa không, hay là bận việc Chính phủ thì tịt mất thơ?”. Tôi trả lời là “vẫn tiếp tục làm một số bài nhưng thấy làm thơ khó hơn trước”. Đồng chí Trường Chinh vui vẻ nói với tôi: “Làm thơ đương nhiên là khó, huống chi hồn thơ bây giờ cũng có khác trước khác lúc anh làm tập Lửa thiêng. Nhưng bây giờ làm cách mạng rồi, có hào khí mới thì làm thơ càng hứng thú chứ sao. Nhất định nhà thơ Huy Cận phải tiếp tục làm thơ, và làm thơ nhiều, dồi dào hơn trước nữa. Nếu Huy Cận mà tịt thơ thì là có tội với Đảng với cách mạng, vì người đời sẽ bảo rằng vì theo cách mạng, vì đi làm cách mạng mà nhà thơ cạn mất nguồn thơ. Cho nên làm công tác gì thì đồng thời Huy Cận phải làm thơ....

Dặn tôi rồi anh bắt tay đi, với một nụ cười rất thân tình. Tôi cứ nhớ mãi câu chuyện dặn tôi làm thơ bên bờ sông Đáy buổi chiều mùa đông năm ấy. Sau này tôi tiếp tục làm thơ nhiều, dồi dào như đồng chí Trường Chinh nói, với tất cả cái hào hứng của một người nghệ sĩ ở trong phong trào cách mạng, sống trong cái luồng hào khí của nhân dân, của dân tộc sôi nổi làm cách mạng. Và mỗi lần tập thơ mới của tôi ra đời thì tôi lại gửi tặng đồng chí Trường Chinh, với dòng chữ báo cáo với anh là tôi không tịt thơ, vẫn sáng tác đều như anh dặn. Hôm nay, viết đoạn hồi ký này, tôi đã có 18 tập thơ xuất bản, và có tuyển tập thơ sắp phát hành, ngoài ra còn hơn 400 bài thơ đã hoàn thành mà chưa đăng báo, chưa in sách. Tôi kể lể như vậy, để nói lên lòng cảm ơn một đồng chí lãnh đạo đã có tấm lòng tri kỷ đối với một người làm thơ như tôi. Lúc anh Trường Chinh cho xuất bản cuốn sách Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt nam trong thời kháng chiến chống Pháp, anh cũng có tặng tôi một bản với một lời đề tặng rất khích lệ...

Xuân Diệu đấu tranh chống cảnh sát Tây ở phố Hàng Bông

Tôi nhớ lúc bấy giờ là mùa hè 1943, anh Diệu bị gãy tay (vì bị ngã xe đạp) tay đang bó bột treo lên bằng một sợi gạc buộc vào cổ. Anh đi dạo về nhà đến đầu phố Hàng Bông thì gặp một cuộc cãi cọ giữa mấy người đi đường với tên cảnh sát Tây đi qua đó. Anh Diệu hỏi sơ qua câu chuyện thì hiểu rõ thằng cảnh sát Tây có lỗi nhưng nó ỷ thế ỷ quyền quát mắng những người mà nó đã đâm xe đạp vào. Mấy người này có sự ủng hộ của bà con đi đường vây quanh thằng cảnh sát nhưng không ai nói tiếng Pháp thạo, nên thằng cảnh sát cũng có vẻ có thế áp đảo.

Anh Diệu mặc dầu tay đau, xông tới mắng thằng cảnh sát bằng những lời lẽ khá mạnh, và bằng một lời văn tiếng Pháp rất đanh. Thằng cảnh sát ngạc nhiên một phút, nhưng rồi cũng làm oai với cả anh Diệu, và nó có nói: “Nếu anh không im thì tôi sẽ mời anh về bót”. Anh Diệu nổi nóng lên, càng nói hăng lên, và đám người dừng lại giữa phố càng ủng hộ sự phê phán của anh Diệu. Cũng lúc ấy thì tôi đi xe đạp ở vườn Bách Thảo về đến chỗ đang có cuộc đấu tranh. Tôi cũng nói bồi thêm những lời phê phán cần thiết...

Thằng cảnh sát Tây thấy núng thế, lên xe đạp chuồn thẳng về phía Bờ Hồ... Và còn nói lời hăm doạ “chúng bay đều là bọn chống Pháp, sẽ biết tay các ông”.

Nhân đây cũng nhắc chuyện anh Diệu đã chống thằng hiệu trưởng trường Khải Định là Lafferandne, hồi anh học năm thứ ba Ban tú tài (1936-1937). Thằng hiệu trường này là một lão cáo già thuộc địa, rất hách dịch, rất khinh thường học sinh Việt Nam. Anh Diệu bèn viết thư kiện thằng hiệu trưởng này với Sở học chính toàn Đông Dương ở Hà Nội. Giám đốc học chính Đông Dương lại trả đơn kiện về cho hiệu trưởng trường Khải Định. Thế là lão Lafferandrie lùng sục xem chữ viết của học sinh nào dám kiện nó. Anh em trong lớp đều biết anh Diệu viết đơn kiện, nhưng đều một lòng bảo vệ anh. Có lần lão hiệu trường nhìn anh và nói “Anh coi chừng”. Thì anh Diệu thản nhiên trả lời: “Ông bảo tôi coi chừng cái gì? Tôi là học sinh, có việc gì đã có hội đồng giáo sư của trường xem xét....

Tên hiệu trưởng thấy anh cứng cựa, nó đành làm lơ bỏ đi...

Xuân Diệu viết bài cho Tạp chí Độc lập của Đảng Dân chủ trong thời kháng chiến chống Pháp

Lúc bấy giờ anh Nguyễn Thành Lê làm chủ bút tạp chí này, cứ mỗi tháng ra một số, in bằng giấy dó, giấy dó thì không phẳng lắm, có tờ lợn gợn từng hạt như hạt thóc, mà mực in thì lại nhạt, cho nên báo đọc không được rõ lắm. Tuy vậy Ban biên tập (mà linh hồn là anh Nguyễn Thành Lê), vẫn tập hợp đủ bài để ra báo đều đặn. Cộng tác viên về mặt bình luận văn học chính là anh Xuân Diệu, nhưng dưới những bài bình luận này lại ký tên Trảo Nha (Trảo Nha là tên xã quê hương của anh Diệu ở huyện Can Lộc, Hà Tĩnh). Nhưng Trảo Nha ký dưới các bài này cũng có nghĩa, vì Trảo Nha có nghĩa là răng và vuốt như là nanh vuốt, vì đây là những bài phê bình, có khi là bút chiến gay gắt. Tôi đặc biệt nhớ bài của Trảo Nha bình luận về quyển sách Nguyễn Du và quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Hoài Thanh. Tất nhiên là anh Diệu cũng có lời hoan nghênh anh Hoài Thanh về công phu nghiên cứu Truyện Kiều và nêu lên vấn để chu nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du trong kiệt tác của mình. Nhưng Trảo Nha đã đặc biệt phê phán mạnh mẽ thái độ của Hoài Thanh đối với Nguyễn Du khi nói: “Nếu Nguyễn Du sống đến ngày nay, và sống giữa chúng ta thì chúng ta cũng sẽ mời cụ vào Hội Liên Việt, dành cho cụ một chỗ ngồi trong Hội Liên Việt”. Câu nói ấy của Hoài Thanh rất sai về cả hai phương diện: một là sai về thái độ xem thường nhà thi hào Nguyễn Du, hai là sai về thái độ xem thường và có tính cách mỉa mai đối với Mặt trận Dân tộc thống nhất (lúc đó là Hội Liên Việt) Tất nhiên anh Hoài Thanh xem được bài của Trảo Nha cũng hơi bực mình, nhưng ngẫm lại thấy Xuân Diệu phản ứng có lý, có lẽ, nên việc bực bội ấy không thành chuyện. Vả lại cả hai người thật sự đều rất bái phục tài thơ của Nguyễn Du, và đểu trân trọng đến mực tấm lòng ưu ái của Nguyễn Du đối với số phận con người. Nhưng Trảo Nha không chỉ phê bình, mà trong nhiều bài còn giới thiệu và biểu dương thơ của bộ đội, của lớp nhà thơ trẻ...

Những năm tháng Xuân Diệu ở nhà bà Nguyễn An Ninh

Những năm anh Diệu làm tham tá nhà đoan ở Mỹ Tho, anh ở trọ nhà bà Nguyễn An Ninh (mà chúng tôi gọi thân mật là bác Ninh), ở phố dọc bờ sông Bảo Định. Bác Ninh là vợ nhà cách mạng Nguyễn An Ninh lúc đó đang bị đầy ra Côn Đảo. Bác Ninh một mặt lo chạy chữa cho chồng khỏi bị đối xử nghiệt ngã quá tại nhà lao Côn Đảo, một mặt lo nuôi cho con ăn học: con gái lớn là Bình (nay là một kỹ sư công tác rất giỏi) con trai là Nguyễn An Định (sau này là cán bộ thiết kế mỹ thuật ngành sân khấu, tập kết ra Bắc, nay đã về Nam). Con trai út là Vĩnh, mà bác Ninh cứ thường gọi là “Vĩnh cục vàng của má”. Anh Diệu ở đó cũng có bày vẽ chút ít cho các em Bình, em Định học hành.

Lúc tôi vào thăm anh Diệu nghỉ hè thì tôi cũng có dạy cho các em, mỗi tuần vài buổi. Bác Ninh cũng có buôn bán chút ít và làm lạp xường rất ngon để bán lên Sài Gòn. Anh Diệu và tôi ở trên gác, và trên gác này lạp xường cứ treo lủng lẳng khắp bốn phía tường vừa thơm, vừa ngậy... Khi đầu chúng tôi không quen mùi lạp xường hơi khó ngủ, nhưng rồi cũng quen dần và mỗi lúc về nhà ngửi thấy mùi lạp xường lại thấy dễ chịu. Bác Ninh rất thương hai chúng tôi, và thấy hai chúng tôi thân nhau trong một tình bạn hiếm có như vậy thì bác càng quý. Có hôm bác nói vui “Tao nằm dưới nhà mà cứ nghe hai anh em nói chuyện với nhau “Diệu Diệu, Cận Cận” thì càng thương tụi bay.”

Có lần tôi đã đi theo bác Ninh về Sài Gòn để gặp trạng sư Trịnh Đình Thảo, để nhờ trạng sư chạy chữa cho nhà cách mạng Nguyễn An Ninh được đối xử tử tế hơn một chút ở nhà tù Côn Đảo. Nhà bác Nguyễn An Ninh có một tủ sách tiếng Pháp vô cùng phong phú mà nhà cách mạng Nguyễn An Ninh đã mua góp trong hàng chục năm trời. Chính ở đó tôi đã được đọc những bộ sách quý giá về triết học, về thơ (như thơ Tao, thơ Heine, thơ Omar-Khayam, thơ Gớt-tơ, thơ Sin-le...).

Bác Ninh nay đã mất, bác để lại trong lòng chúng tôi hình ảnh của một bà má miền Nam trìu mến, hình anh của một người vợ gương mẫu, đảm đang nuôi con trong lúc chồng bị cầm tù vì hoạt động cách mạng.

Sau đây là bài Giọt lệ Hoàng Mai, tôi đã viết sau chuyến về thăm quê vào mùa hè năm 1941.

Giọt lệ Hoàng Mai

Mẹ Quê hương! Con đã khóc thầm với mẹ! Con đã

khóc những giọt lệ nóng nhất của lòng con. Nhìn Mẹ

mà không thương sao được? Mặt non sông yêu mến, ở người toả ra một nỗi niềm chi mà lòng ta thổn thức, bồi hồi. Ta nhìn giang sơn, non nước thì lòng ta tan thành nước mắt. Ôôi quê hương bởi vì đâu là lòng ta thương yêu lại hoá ra xa xót, ngậm ngùi? Anh em ơi, đã nhìn mặt Mẹ bao giờ chưa?

Một ngày giữa hè ta từ Hà Nội về thăm nhà. Chiếc tàu chợ chậm rãi, cần cù lê thê dọc ngày, mãi xế chiều mới về đến xứ Nghệ. Nắng không oi lắm, nhưng ngọn gió Lào – như tiếng rú của mấy con thú đau thương - cứ phần phật tạt qua từng loạt. Ánh nắng chân trời thì trong, nhưng sát mặt đất hơi mờ mờ vì bụi dấy lên từng lúc. Trời đất như cặm cụi làm việc gì khó khăn, phải bền gan, vững chí mới làm được. Núi gần bên cây cổi cỗi cằn, cỏ vàng úa, ngọn cháy sém bời gió thiêu; núi đứng từng đoàn, kết hợp mà ngó như cô đơn, bời ngôi nào cũng như quả quyết đứng lại ở đây trấn thủ cho một ý mạnh gì. Này dưới chân núi, ruộng cạn, đất nứt nẻ khắp nơi; đám lúa trỉa không ngất đầu lên được dưới ngọn gió thép, và dưới trời cháy lặng. Ngọn lúa sém nức lên những tiếng khô, não ruột như hơi thờ của một kẻ cùng lực. Này đôi bụi mưng, bụi mốc giữa đồng những điểm xanh rải rác càng tăng thêm cái nặng nề, cái không khí khó nhọc của đồng ruộng nồng khan. Chim ở đâu? Hoa sao không thấy nở? Mà người cũng ẩn đâu? Từng hồi mới gặp được cái áo nâu, chiếc nón thượng: người cũng như cầm sức lại, để dành cho những lúc khó khăn hơn nữa, phải nỗ lực để giành với cái chết một phần sự sống.

Tàu chậm rãi, cần cù đi qua. Lòng ta lúc ấy không phân tích như ta vừa kể. Lòng ta cảm thông thắm thiết trong giây phút với cõi đất này. Phân tích ra thì làm tan mất cái ẩn ý của non nước mà ta cứ cảm nghe hiển hiện khắp chốn, khắp nơi.

Có phải không, ở trên đông lúa sém, trong dáng núi kiên gan, cả trong ngọn gió Lào hồng hộc, ta nghe một linh hồn rắn rỏi vô cùng. Tưởng như ở đây là lò hun đúc những bản lĩnh gang thép, bản lĩnh của cảnh vật nghĩa là bản lĩnh của người. Sự sống đi đến đây dừng lại một chút, cô đặc hơn lên, để rồi còn đi xa, trên con đường vạn dặm. Dòng nòi giống đến đây không còn long lanh, óng ả như dòng sông mượt mà, mà đã trở nên một dòng thép chảy, nồng và nặng, ấn sâu xuống đời. Gió Lào không phải là hơi thờ phơi phới của tuổi thơ. Không! Đây tuổi đã đứng, đường đã đến một ngõ quyết định, nòi giống đến đây thờ hơi thở quả quyết, nhọc nhằn nhưng không hề chán nản; trong hơi thở ấy, tưởng toát ra cả hơi nóng của ruột gan, không thở luôn luôn, mà thở từng hồi để cầm sức. Nhưng cũng có cái vui của khí phách hào hùng, cái vui không tỏ ra nụ cười, mà ở trong dáng đi tin tưởng, cái vui hiện ra nơi mắt nhìn tròng trọc mà trong suốt thay!

Đến đây là một chặng đường tối quan yếu của dân tộc; trước lúc đi xa hơn, giống nòi như kiểm soát lại sức mình.

Ngọn lúa hơi cằn bỗng trở nên oai hùng một cách lạ đồng ruộng nứt nẻ phải chăng là nét nghị lực trên mặt giang sơn.

Con tàu chậm rãi đi qua. Sắp đến Hoàng Mai, ga lớn đầu tiên của xứ Nghệ, Thanh Hoá phì nhiêu, mát dịu là thế, mà mới một quãng vào đây, sông núi đã trở nên trầm hùng và gân guốc.

Tàu chạy cách núi chừng nửa cây số, hai bên đường sắt là ruộng lúa và một ít rau. Ta bỗng thấy như lòng Mẹ mở ra, bòn tất cả sức sinh sống còn lại đem nuôi con. Mẹ gắng đến cái sức cuối cùng để sinh ra lúa, ra ngô ra khoai, ra đậu mà nuôi đàn con đông đảo và lực lưỡng này. Đường sắt chạy qua, tàu dằn trên đất, ta đau xót như thấy Mẹ ta đang nằm đó, đưa tay qua lòng mà phân phát cho anh em ta máu sống. Tàu chạy cần cù, chậm rãi bao nhiêu, ta nghe đất lại dội lên đau xót bấy nhiêu. Và ta không cầm lòng ta được nữa, ta gục đầu vào thành cửa tàu, khóc nức nở, nước mắt tràn nóng trên tay như máu uất tan ra: Ta khóc mãi cho đến quá xế chiều, gần về chợ Thượng.

Giọt lệ Hoàng Mai! Giọt lệ non sông chảy qua lòng ta đó. Đã hơn năm rồi, từ buổi chiều hè ấy. Hôm nay kể lại, lòng ta vẫn bồi hồi xa xót như lúc ấy, như bao giờ. Ta muốn nói chuyện với anh em ta, nói đến cái nỗi niềm của sông núi. Nỗi niềm ấy phải là nỗi niềm chung của chúng ta. Trong lòng thương yêu bao giờ cũng ẩn một bài học quyết liệt; nếu không, yêu thương hoá ra chỉ là lời điệu văn hoa nói cho qua chuyện.

Khí phách hào hùng của dân tộc: nghĩa rộng bao la. Giành lại quyền sống! Giành lại quyền tư tưởng của giống nòi! Cha ông đã bấu vào sự sống trên mảnh đất này, đã vật lộn với thiên tai và nhân hoạ dai dẳng mấy nghìn năm.

Cha ông đã thắng cuộc, cha ông đã sống, và cha ông đã có một điệu sông riêng. Điệu sống ấy bảo đảm cho quyền sống ấy. Cái gang thép không chỉ phải thực hiện trong đời, mà còn phải rạng ngời trong tư tưởng. Hôm nay ghi lại vài ý tâm sự với anh em, qua ánh sáng một giọt nước mắt. Chớ ngại rằng bắt đầu bằng giọt lệ. Những cuộc lên đường xưa nay đều đã bắt đầu sau một cơn nước mắt.

Huy Cận

Hà Nội 1942

Cuối năm 1941 tôi tham gia hoạt động cách mạng trong Việt Minh, hoạt động ở Hà Nội trong thanh niên, sinh viên, và trong giới trí thức khoa học.

Tập 2- S

Từ Đại hội Tân Trào đến sự sụp đổ của triều đình Huế

Trước Cách mạng tháng Tám, tôi hoạt động ở Hà Nội trong Việt Minh và trong đảng Dân chủ được giao nhiệm vụ cùng một số đồng chí khác, vận động sinh viên và trí thức tham gia phong trào đánh Nhật, đuổi Pháp. Mùa hè năm 1945, phong trào cứu quốc ở Hà Nội rất sôi nổi. Sau khi ra đời chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim thân Nhật, thì uy thế của Việt Minh càng lên mạnh, có thể nói rằng trong tất cả các giới đồng bào thủ đô rạo rực một tinh thần cứu nước, tin tưởng chờ đợi những hành động quyết liệt và quyết định của Việt Minh. Các tổ công tác của chúng tôi cũng trong đà ấy hăng say hoạt động mở rộng lưới tuyên truyền, tổ chức ngày càng nhiều trí thức và thanh niên vào Việt Minh, mặc dù bọn hiến binh Nhật và bọn Việt gian tay sai của chúng (như nhóm bọn “Võ sĩ đạo”, hay một nhóm sinh viên Dại Việt trong Tổng hội sinh viên) hàng ngày lùng sục có khi bám riết những hoạt động của chúng tôi.

Những tháng ấy, tôi cũng như một số đồng chí khác thường không ngủ ở nhà, mà có khi lên ngủ ở Nhật Tân, ở Chèm Vẽ hoặc một khu phố khác nơi mình ở (lúc đó nhà tôi ở phố Hàng Bông). Trong không khí hoạt động sôi nổi và náo nức ấy, thì cuối tháng 7-1945, tôi được Tổng bộ Việt Minh triệu tập đi họp Quốc dân Đại hội tại Tân Trào (châu Tự Do, tỉnh Tuyên Quang). Tôi cùng một số đồng chí khác rời Hà Nội vào một buổi chiều cuối tháng 7 oi bức, bận áo quần nâu, với nét mặt và dạng người thì rất giống một đồng bào nông dân vùng Nghệ Tĩnh, cho nên anh em bảo tôi là nguỵ trang rất đạt. Chúng tôi thuê xích lô đạp qua cầu sông Cái. Đến giữa cầu, xe căm nhông của quân đội Nhật còi inh ỏi, bác xích lô không thể đạp nhanh hơn được, bọn lính Nhật xuống xe sừng sộ, đá túi bụi vào bác làm chúng tôi vừa tức giận, vừa chờn (vì sợ lộ bí mật, cái giấy giới thiệu cuốn tròn như điếu thuốc lá giắt trong nón, thì chúng tôi sẵn sàng búng cho nó bay xuống sông Hồng, hoặc cho cả nón bay xuống sông, nếu như bọn Nhật lục soát). Nhưng đến chỗ rẽ, xích lô của chúng tôi dạt vào một bên, và bọn Nhật phóng xe đi thẳng. Sang đến Từ Sơn, chúng tôi chờ mãi người liên lạc ở chỗ hẹn nhưng không gặp. Trời gần tối, chúng tôi đành quay về Hà Nội, rất hồi hộp và lên xe điện đi thẳng vào Hà Đông, tất nhiên là không thể về nhà. Vào Hà Đông chúng tôi đi thẳng về làng Vạn Phúc và được đồng chí liên lạc đưa về nhà anh Trong (sau này anh Trong đã hy sinh ở Nam bộ trong chuyến Nam tiến đầu tiên). Ở Vạn Phúc thì rất yên tâm, vì đó là một cơ sở mạnh của cách mạng, của Đảng.

Đêm hôm ấy, chúng tôi đang ngủ thì nghe mấy tiếng súng nổ, các đồng chí trong nhà cho biết đó là tiếng súng trừ gian, và đội tự vệ của ta đã khử được hai tên Việt gian định mò vào làng do thám. Sáng hôm sau chúng tôi đi xe kéo lên bến Chèm, rồi từ đó đi đò dọc về phía Bắc Ninh. Lên đi bộ về phía Từ Sơn lần này đồng chí liên lạc đã chờ sẵn chúng tôi ở chỗ hẹn. Từ đó chúng tôi đi về phía sông Cầu, qua một vườn dâu xanh mượt, lá cành che kín, rồi xuống bãi sông đáp đò ngang sang bờ bên kia. Qua bờ cũng lại đi qua một bãi dâu xanh kín rồi mới lên đường. Bước lên đường thì không khí khác hẳn: những nam nữ tự vệ bận áo quấn đen, lưng đeo mã tấu, đi lại khẩn trương và dẫn chúng tôi đến gốc một cây đa to. Ở đó đã thấy người người ngồi nghỉ chân, chắc là chờ đợi liên lạc. Một nồi cơm to (chừng là nồi mười) đã chín và bên cạnh là một thùng canh bí rất to. Chúng tôi xúm xít ăn cơm ngay tại gốc cây đa, chỉ có cơm và canh bí với muối ớt mà ai nấy ăn rất ngon miệng.

Tôi vừa ăn vừa nhìn ra chung quanh, thấy những khẩu hiệu bằng phấn trắng trên các bảng gỗ ở các cổng đi vào từng nhà: “Việt nam độc lập”, “Chính quyền nhân dân muôn năm”... Thì ra đây đã là khu giải phóng. Tôi mường tượng ngày xưa cha ông khởi nghĩa ở Lam Sơn, hay ở Bình Khê có lẽ không khí cũng như thế này. Đó là lối liên tưởng lịch sử hơi văn chương một chút của một cán bộ trí thức hoạt động ở Hà Nội lần đầu tiên tiếp xúc với quần chúng cách mạng ở khu giải phóng. Cùng đi đường với nhóm chúng tôi có anh Trần Huy Liệu (lúc đó bí danh là anh Bút). Chân anh hơi yếu, tôi phải dìu anh đi cho đến tận Tân Trào. Tôi có nghe nói nhiều đến anh và anh cũng đã đọc thơ tôi, cho nên dọc đường hai anh em làm quen nhau rất mau, và nói chuyện nhiều về thời cuộc đã đành, về lịch sử, về văn chương nữa, làm quên nỗi mệt đi đường. Chúng tôi đến Văn Lãng thì được tin Nhật đầu hàng, và ai nấy đều cố gắng đi nhanh chân để chóng đến Tân Trào. Xế chiều 14-8 thì đoàn chúng tôi đến xã Tân Trào, tinh thần rất phấn chấn, nghe các câu chuyện ở khu giải phóng càng náo nức. Cờ đỏ sao vàng thêu rất đẹp không to lắm, được treo trên một cột tre cao, và vài ngọn khác được treo lên cây đa. Thấy trụ sở Việt Minh của xã (một cái lán nhỏ), chúng tôi cũng trám trồ.

Ngày 16-8-1945, Quốc dân Đại hội do Tổng bộ Việt Minh triệu tập họp ở đình làng Tân Trào. Ở ngoài nhìn vào, phía bên trái là một cuộc triển lãm nhỏ, có những ảnh, những báo treo trên cây, đó là các báo cách mạng như Việt Nam độc lập, như Cờ giải phóng, và một số ảnh của khu giải phóng. Phía bên phải ở trên sàn đình kê những ghế dài bằng cây tre là nơi Quốc dân Đại hội hội họp. Có gần một trăm đại biểu cả ba miền Bắc, Trung, Nam về dự.

Anh Khuất Duy Tiến và tôi được cử là thư ký đoàn của đại hội. Mở đầu đại hội, đồng chí Trường Chinh Tổng bí thư của Đảng, đã thay mặt Đảng đề ra chủ trương: Nhân dân Việt Nam phải triệt để lợi dụng sự thất bại của phát xít Nhật mà nổi dậy giành lấy chính quyền từ tay Nhật và bọn bù nhìn tay sai của Nhật trước khi quân đội Đồng minh vào Đông Dương và phải đứng địa vị chủ nhân của nước nhà tiếp quân Đồng minh nếu họ vào tước vũ khí quân đội Nhật. Đại hội nhất trí hoan nghênh chủ trương của Đảng đề ra và quyết định phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước. Sau đó Quốc dân Đại hội đã bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng cả nước gồm 15 người đứng đầu là Cụ Hồ Chí Minh. Tôi được bầu vào Uỷ ban dân tộc giải phóng. Lần đầu tiên tôi được gặp Bác Hồ là ở Đại hội Tân Trào này. Buổi chiều, lúc đại hội sắp khai mạc, tôi và một số đồng chí ra trước cửa đình Tân Trào. Chúng tôi đang nói chuyện với nhau thì thấy một ông cụ mặc bộ quần áo cũ màu chàm, đội mũ cát két, ngồi xuống nền đình, dựa vào cột đình, sát phía sau đại biểu sắp họp. Ông cụ thấy chúng tôi đang nói chuyện với nhau, giơ tay ngoắt tôi lại và hỏi: “Đồng chí hoạt động ở tỉnh nào về?”. Tôi được anh em đại biểu khác cho biết đó là Cụ Hồ Chí Minh và cũng đã được anh em nói thầm lại cho nghe rằng: Cụ Hồ Chí Minh tức là Cụ Nguyễn Ái Quốc. Thấy Cụ gọi lại và đột ngột hỏi tôi như vậy trong người tôi có một nỗi bàng hoàng... nửa phấn khởi, nửa lại run run, vì tôi mới bước vào hoạt động cách mạng chưa được bao năm, cho nên trong phút đầu tiên tiếp xúc với lãnh tụ không khỏi bối rối. Tôi đáp lời một cách ngập ngừng: “Thưa Cụ con mới hoạt động ba bốn năm tại Hà Nội trong đám anh em sinh viên, trí thức, nhất là trí thức khoa học. Con cũng theo đòi Cụ và các anh đi trước góp phần nhiệt huyết của mình vào phong trào....

Ông Cụ liền mỉm cười và giơ tay bảo tôi ngồi xuống thong thả nói qua giọng hơi mệt vì sốt rét vừa qua: “Chú còn thanh niên, chú hoạt động trong anh em sinh viên, trí thức là rất tốt. Còn làm cách mạng thì không phân biệt người trước người sau, người hoạt động lâu năm với người mới vào phong trào, cốt nhất là có nhiệt huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Người mới vào phong trào mà làm việc hăng hái thì cũng có thể đóng góp cho sự nghiệp chung. Chú cứ yên tâm mà hoạt động với các đồng chí”. Rồi Cụ lại nói chuyện khác với các đồng chí khác. Lúc Quốc dân Đại hội Tân Trào bế mạc thì Bác cùng toàn thể Uỷ ban dân tộc giải phóng toàn quốc vừa được bầu ra đọc lời tuyên thệ. Anh Trần Huy Liệu đọc mấy lời thề trước bàn thờ Tổ quốc có đốt hương nghi ngút đặt trước đình Tân Trào. Bác và chúng tôi trong Uỷ ban dân tộc giải phóng đều giơ tay xin thề. Ba đồng chí đội viên của Giải phóng quân đứng trên phiến đá to trước sân đình bắn ba loạt đạn ầm vang cả các vách núi chung quanh.

Không khí rất trang nghiêm và thiêng liêng. Liền sau đó có một đoàn đại biểu nhân dân xã Tân Trào ra mừng Uỷ ban dân tộc giải phóng. Một cụ già áo quần không được lành lặn lắm, áo hở đôi tay, một chị phụ nữ áo chàm gọn ghẽ và một em bé mặc một chiếc áo rách và bụng để trần hơi ỏng. Em bé đứng khom lưng, hai tay em vòng ấp ngực, vai em hơi sưng: ông cụ xách một bu gà, chị phụ nữ xách cái giỏ có con lợn con và một nải chuối xanh. Chị phụ nữ nói: “Nhân dân Tân Trào không có gì, xã nghèo chỉ có mấy con gà, nải chuối và con lợn giống mừng Uỷ ban dân tộc giải phóng mới được bầu, xin chúc Uỷ ban lãnh đạo nhân dân. giải phóng cả nước”. Cụ Hồ Chí Minh liền bảo: “Uỷ ban ban xin cử đồng chí Trần Huy Liệu, Phó Chủ tịch Uỷ ban, cảm ơn đoàn đại biểu”. Anh Trần Huy Liệu bước ra nói mấy lời cảm ơn, nhưng lại quên không cảm ơn cụ thể chị phụ nữ và gửi lời cảm ơn các phụ nữ trong xã. Cụ lại nhắc: “Đồng chí Phó Chủ tịch phải cảm ơn các phụ nữ Tân Trào và phụ nữ cả khu giải phóng, vì chị em góp công rất lớn vào công việc chung, vào phong trào cứu quốc”. Anh Liệu lại ra nói mấy lời bổ sung và hứa với nhân dân Tân Trào sẽ làm tròn nhiệm vụ mà quốc dân Đại hội giao cho và nhân dân nhắc nhở.

Sau đó, Bác Hồ lại ngồi xuống dựa vào cột đình và nói: “Chúng ta trong Uỷ ban dân tộc giải phóng và tất cả các đồng chí cách mạng hãy nhớ lấy lời thề, và hãy nhìn xem em bé này: Các cháu cùng tuổi với em bé này ở các nước khác thì đã đi học và được đùa chơi; tuổi học và chơi của các cháu ấy lại được ăn no mặc lành. Nhưng các đồng chí có biết cháu này 9 tuổi ở trong làng làm gì không? Nó đã phải đi trâu, đi chặt củi, cõng nước, mà áo không có mặc, để hở bụng xanh xao. Chúng ta làm cách mạng để làm gì? Là để giải phóng dân tộc, là để cho nhân dân ta ấm no hạnh phúc, để cho các cháu bé, con em chúng ta như cháu này đều được ăn no mặc ấm, và được đi học. Nhiệm vụ của Uỷ ban dân tộc giải phóng là như vậy. Chúng ta hứa với cụ già, đồng chí phụ nữ và cháu bé là phấn đấu hy sinh để đạt được mục đích như vậy....

Mấy câu cuối, Bác nói với một giọng rất xúc động ngắt ra từng tiếng. Giọng nói của Bác đi thẳng vào gan ruột người nghe. Chúng tôi đứng chung quanh nhiều người rơm rớm nước mắt.

Cũng chiều hôm ấy dưới bóng cây đa Tân Trào đã có cuộc tiễn một đơn vị Giải phóng quân lên đường tiến về Thái Nguyên, do đồng chí Văn chỉ huy. Anh Liệu lại thay mặt Uỷ ban dân tộc giải phóng chào mừng đơn vị Giải phóng quân và chúc đơn vị đánh thắng quân Nhật ở Thái Nguyên. Có một đại biểu Mỹ (thay mặt quân đồng minh, mới nhảy dù xuống khu giải phóng mấy hôm trước) cũng có mặt trong buổi tiễn đưa này và nói: “Đối với chúng tôi chiến tranh đã kết thúc. Đối với các ngài, chiến tranh mới bắt đầu. Chúc các ngài thành công”.

Chúng tôi còn ở lại Tân Trào một đêm một ngày nữa. Tôi nhớ đêm hôm Đại hội bế mạc, Hồ Chủ tịch đến thăm anh Trần Huy Liệu, anh Trần Đức Thịnh và các đại biểu ở cùng nhà. Tôi ở cùng nhà với anh Liệu cho nên được nghe những lời Bác dặn. Anh Liệu và anh Thịnh là hai đồng chí hoạt động đã lâu năm mà tính tình lại sôi nổi. Hai anh nghĩ rằng: Về Hà Nội mà lại gặp bọn thực dân Pháp nhảy dù xuống hay đổ bộ vào là phải đánh ngay. Tôi còn nhớ anh Liệu nói: “Mấy thằng Tây quèn quỳ gối đầu hàng Nhật, chúng ló mặt ra là phải quét ngay”. Anh Thịnh cũng gật gù tán thành.

Tôi nghe Bác giải thích, giọng chậm rãi, tiếng hơi khàn vì còn mệt: “Chú nói mấy thằng Tây quèn nhưng cả đế quốc Pháp thì nó chưa quèn đâu. Nhất định là nó lăm le cướp lại nước ta. Và nhất định là ta sẽ đánh lại. Nhưng phải đánh như thế nào cho thắng, phải tích luỹ lực lượng, không đánh theo kiểu một trận anh hùng rồi ra sao thì ra”. Sau đó tôi nhớ Bác giải thích thêm: “Về, ta phải lợi dụng việc đồng minh vào giải giáp quân Nhật làm cho đồng minh thấy ý chí độc lập của dân ta và ta phải tổ chức lực lượng”. Tôi nhớ anh Liệu cũng ngẫm nghĩ nghe ra dần lời bàn luận của Bác. Bác lại còn đưa cho chúng tôi xem lời kêu gọi của Bác ký tên là Nguyễn Ái Quốc gửi quốc dân đồng bào, và nói: “Các chú có ý kiến gì thêm bớt không”. Bác nhắc lại: “Uỷ ban dân tộc vừa được bầu ra phải lãnh đạo nhân dân nắm lấy cơ hội giành chính quyền, giành độc lập”. Và Bác dặn: “Uỷ ban về xuôi thì một bộ phận vào Hà Nội, nhưng phải để một bộ phận ở ngoài, phòng tình thế khó khăn và khi cần thiết. Các uỷ viên chia nhau đi các nơi, đi vào Trung bộ Nam bộ để kịp thời kêu gọi đồng bào, và tổ chức chống lại thực dân Pháp khi nó đổ bộ”. Tôi nhớ lúc đó Bác gầy, má hóp, trên trán nhìn rõ nếp nhăn nhưng đôi mắt rất sáng, như cả tinh lực của Bác dồn cả vào đôi mắt. Tôi biết Bác quê ở Nghệ An, nhưng nghe giọng Bác thì giọng trại đi nhiều không còn rõ giọng Nghệ Tĩnh nữa. Ở Tân Trào ra về, tôi cùng đi một nhóm với anh Nguyễn Lương Bằng và anh Trần Huy Liệu. Về qua Bắc Giang, Bắc Ninh gặp nước lụt to, các cánh đồng nước bạc mênh mông những lá cờ đỏ sao vàng rất tươi màu phấp phới trên các ngọn cau, nhìn rất đẹp. Chúng tôi đi thuyền cặp bến Gia Lâm, từ Gia Lâm có mấy đồng chí đưa ô tô đón về Hà Nội.

Mấy hôm sau Bác Hồ cũng về Hà Nội, mặc quần soóc, áo sơ mi ka ki, đội một cái mũ cát và tay cầm ba-toong dáng rất khắc khổ, nhưng Bác đã bớt mệt và bước đi của Bác rất nhanh nhẹn. Bác cử một đoàn đại biểu ba người gồm có anh Trần Huy Liệu (trưởng đoàn), anh Nguyễn Lương Bằng và tôi, thay mặt Chính phủ lâm thời vào Huế nhận sự thoái vị của Bảo Đại. Trước khi chúng tôi lên đường, Bác dặn: “Đoàn có người nhiều tuổi, người thanh niên giúp nhau mà làm việc cho tốt”. Bác dặn thêm tôi: “Chú trước có học ở Huế, quen người quen cảnh chú phải giúp cho anh Bằng, anh Liệu tiếp xúc với đồng bào trong ấy”. Chính phủ lâm thời đã điện cho Bảo Đại yêu cầu thoái vị, và Bảo Đại cũng đã có điện trả lời chấp nhận yêu cầu của Chính phu cách mạng và chờ đoàn đại biểu Chính phủ lâm thới vào để làm lễ thoái vị và trao quốc quyền cho Chính phủ cách mạng.

Cách đây đúng 43 năm ngày 27 tháng 6 năm 1945, ba chúng tôi lên đường vào buổi sáng bằng một chiếc xe hơi sơn đen, mượn của hãng xe STAI (tôi nhớ hình như là xe Pô-giô).

Xe có sáu người: anh Bằng, anh Liệu và tôi, một đồng chí cán bộ giúp việc, một đồng chí bảo vệ, và đồng chí lái xe. Chúng tôi mượn được những bộ quần áo mới, khá sang, riêng tôi thì một người bạn cho mượn bộ tờ-rô-pi-can mầu ghi rất lịch sự. Chúng tôi tính rằng đi xe suốt ngày đêm thì khoảng 28 đến Huế và đã đánh điện cho Uỷ ban nhân dân cách mạng Huế như vậy. Nhưng chúng tôi không thể tính đến việc nhân dân náo nức đón đoàn dọc đường. Từ Hà Nội đến Ninh Bình, chúng tôi đi tương đối nhanh, xe cắm cờ đỏ sao vàng. Hai bên đường đồng bào thấy xe đứng lại chào và vỗ tay hoan hô.

Nhưng từ Thanh Hoá trở đi thì cứ khoảng mươi cây số lại có một đám đông đồng bào cờ đỏ sao vàng rực chói đón chặn xe để chào mừng đại biểu Chính phủ lâm thời. Chúng tôi giơ tay ngỏ ý xin đi thì có người nói: “Cho chúng tôi nhìn mặt Chính phủ lâm thời một chút”. Chúng tôi nghe mà ứa nước mắt.

Đồng bào hô khẩu hiệu khản cả cổ. Bốn tiếng “Chính phủ lâm thời” sao mà thiêng liêng đối với tất cả mọi người đến thế! Cả đoàn chúng tôi lại xuống xe chào đồng bào và chúng tôi quên cả oi bức, đồng bào và chúng tôi quyện lấy nhau trong một tình cảm thiêng liêng dào dạt. Anh Trần Huy Liệu đứng trên mui xe, nói chuyện rất hùng hồn, đồng bào nghe rạo rực như nuốt từng lời. Bao giờ anh cũng bắt đầu bằng mấy câu: “Thưa các đồng chí, thưa quốc dân đồng bào! Sau ngót 100 năm bây giờ nước ta mới lại độc lập, dân ta mới lại nắm chính quyền đồng bào cả nước ta mới thoát khỏi cảnh nô lệ bị áp bức, bóc lột và mới rửa được cái hận mất nước tủi nhục của dân tộc ta. Có được sự vô cùng vinh quang như ngày nay mà chúng ta khắc sâu trong tâm trí là nhờ ở tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm của đồng bào ta đã lên đến đỉnh cao chưa từng có, nhờ ở sự tuyên truyền vận động và tổ chức của Mặt trận Việt Minh vô cùng sáng suốt. Đồng bào cả nước đã nhất tề nổi dậy, hăng hái thực hiện lệnh Tổng khởi nghĩa của Uy ban giải phóng dân tộc do quốc dân Đại hội ở Tân Trào bầu ra.... Anh nói chừng mươi phút, tất nhiên đồng bào nghe còn thòm thèm. Khẩu hiệu lại vang lên “Việt Nam độc lập muôn năm?”, có khi đồng bào hô: “Việt Nam độc lập! Việt Nam độc lập!”

Từ Hà Tĩnh trở đi, những đoàn đồng bào ra đón dọc đường ngày càng nhiều, càng đông. Có nhiều chặng đường xe phải dừng lại, thậm chí có chặng đường cứ mỗi một cây số xe lại phải dừng để đoàn nói chuyện với đồng bào. Hôm sau vượt đèo Ngang đến bến phà Ròn thì trời mưa tầm tã. Trời đã chiều.

Đồng bào tập hợp đông nghịt. Chúng tôi đề nghị đồng bào ra về kẻo trời mưa ướt hết. Đồng bào trả lời: “Chúng tôi chờ đoàn dưới mưa đã từ trưa....

Thấy vậy, chúng tôi lập tức xuống xe, vào nhà thương chánh (nhà đoan) cạnh bến phà để nói chuyện. Nhiều người nghe anh Liệu nói đến cảnh nước mất nhà tan trước kia thì nước mắt cứ cháy ròng ròng, chúng tôi cũng không cầm được nước mắt. Nhưng khi anh Liệu nói đến cuộc Tổng khởi nghĩa của đồng bào ta từ Nam chí Bắc thì mọi người đều dạt dào phấn khởi. Trời vẫn mưa như xối, mà sao lạ! Giữa rừng cờ đỏ sao vàng, với những nét mặt đồng bào rắn chắc, vui mừng mà cương nghị, chúng tôi có cảm giác như trời vẫn nắng khắp vùng. Qua phà lại một đoàn đồng bào đã chờ tại bến. Cứ như thế cho đến Quảng Trị, đến Huế. Sáng 29 khoảng 9 giờ, chúng tôi đến bến phà Mỹ Chánh thì gặp đồng chí Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Huế, ra đón. Anh giới thiệu đoàn với đồng bào và nói: “Chính phủ này là của ta, thật sự là của ta”. Đoàn chúng tôi mãi đến gần trưa ngày 29 mới đến Huế và đi thẳng tới sân vận động phía chợ Cống. Đến đó, các đồng chí Uỷ ban nhân dân cách mạng Huế cho biết đồng bào đã tập hợp ở sân vận động từ tối 27, suốt ngày 28 và từ sáng đến giờ để chờ đón đoàn. Ở đó chúng tôi gặp anh Lê Văn Hiến, Bộ trưởng Bộ Lao động trong Chính phủ lâm thời, từ Đà Nẵng mới ra. Cuộc mít tinh trọng thể và náo nức. Đồng bào diễu qua lễ đài, hô khẩu hiệu không ngớt, lại có một đoàn đại biểu nữ của nhân dân tặng hoa đoàn. Ngay trong lúc mít tinh, ông Phạm Khắc Hòe, Đổng lý Ngự tiền văn phòng của Bảo Đại tiếp xúc với đoàn.

Buổi chiều 29, ông Hòe, áo dài đen, đội khăn chữ nhất đến gặp chúng tôi tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cách mạng đóng tại toà khâm sứ cũ. Chúng tôi đi ngay vào việc. Ông Hòe nói: “Nhà vua rất vui lòng thoái vị để trao lại quốc quyền cho Chính phủ lâm thời, nhưng nhà vua có đề nghị mấy việc: a) Xin Chính phủ đối xử với những người trong Hoàng gia như những công dân (ý nói: không phân biệt đối xử). b) Đối với các quan lại cũ của triều đình cũng xin Chính phủ cho phép tuỳ theo tinh thần, tuỳ theo năng lực mà được đóng góp vào công cuộc giành độc lập. c) Đối với các lăng miếu của nhà Nguyễn thì xin Chính phủ cách mạng đối xử “cho có sự thể” (nghĩa là cho coi được, không phá các lăng tẩm).

Ông Hòe trình bày các đề nghị của Báo Đại và nói qua tâm trạng của vua, cũng có ý nói ông đã góp phần thuyết phục Bảo Đại nhận ra thời cuộc mà tự nguyện thoái vị. Thật ra, trước cuộc khởi nghĩa của nhân dân, Bảo Đại đã phải đầu hàng và xin được thoái vị. Thật ra, quốc quyền đã được nhân dân cả nước nổi dậy mà giành lấy trong cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chứ đâu phải do vua bù nhìn đã bị cách mạng đánh đổ “trao lại” cho Chính phủ lâm thời?

Nghĩ vậy chúng tôi liền nói lại với ông Hòe là chính quyền đã về tay nhân dân cả nước và chính sách của Chính phủ cách mạng là đoàn kết toàn dân để giữ vững nền độc lập. Còn đối với lăng tẩm, cung điện của triều Nguyễn thì không nên có một sự lo ngại gì. Đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời cũng có quy định thêm mấy điểm như sau:

1) Sau khi làm lễ thoái vị rồi, Bảo Đại phải ra khỏi hoàng cung và được hưởng tất cả các quyền tự do dân chủ như mọi công dân khác.

2) Trừ những của cải thật là của riêng Bảo Đại Nam Phương và Từ Cung (mẹ Bảo Đại) thì được đưa ra và tự do sử dụng, còn tất cả tài sản khác và của triều đình đều thuộc về quyền sở hữu của Nhà nước cách mạng.

3) Các đền miếu, lăng tẩm của các vua triều Nguyễn đều do nhà nước cách mạng giữ gìn, việc lui tới thờ cúng ở đó được bảo đảm.

4) Lễ Bảo Đại thoái vị định vào chiều hôm sau ngày 30-8.

Ông Hòe lại nói: “Nhà vua thiết tha đề nghị lúc làm lễ thoái vị thì cho treo cờ vàng một lần cuối cùng lên cột cờ Ngọ môn, rồi lúc tuyên bố thoái vị xong thì sẽ hạ cờ vàng của vua xuống và kéo cờ đỏ sao vàng của cách mạng lên”. Đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời đồng ý. Cũng chiều hôm ấy, ngày 29, trước khi vào thành nội gặp Bảo Đại, chúng tôi bàn nên xưng hô thế nào. Nhất định là không gọi Bảo Đại là hoàng thượng, hay ngài ngự, hay bệ hạ. Nhưng nếu gọi là “ông” thì nghe cũng mới quá. Sau cùng chúng tôi nhất trí là sẽ dùng tiếng ngài.

Hơn 4 giờ chiều, xe của đoàn cắm cờ đỏ sao váng đi thẳng vào Ngọ môn (tức là cửa chính chỉ mở trong những ngày lễ rất lớn, và trước đây chỉ dành riêng cho vua và toàn quyền đi), và đến điện Kiến Trung nơi Bảo Đại ở Đến đó, chúng tôi đã thấy ông Hòe chờ ở dưới tam cấp. Chúng tôi bước lên, Bảo Đại vận áo dài xanh ra đón ở cửa diện. Chào hỏi xong, ông ta nói đại ý rất sung sướng được trao quốc quyền lại cho Chính phủ lâm thời. Theo lời ông ta, hơn 20 năm ông ta làm vua cũng chỉ “ngậm đắng nuốt cay”, ý nói ông ta ra điều muốn phân trần “có những điều muốn làm cho nước, cho dân cũng không làm được”.

Anh Liệu thay mặt đoàn đại biểu nói hoan nghênh vua thoái vị, và nói rõ chính sách đoàn kết toàn dân, giữ vững độc lập của Chính phủ. Bảo Đại nói xin nhận các điều khoản của Chính phủ lâm thời đề ra (do ông Hòe đã trình bày lại) và cảm ơn đoàn về cách đối xử với lăng miếu.

Sau đó chúng tôi lại về toà khâm sứ cũ. Hôm sau ngày 30-8, đúng 4 giờ chiều, đoàn vào hoàng thành lên lầu Ngọ môn để tiếp nhận sự thoái vị của Bảo Đại.

Đồng bào đã đứng chật cả bãi cỏ rộng trước Ngọ môn từ cửa Thượng Tứ đến chân thành, ước chừng năm, sáu vạn người (của nội ngoại thành Huế). Lên lầu Ngọ môn, chúng tôi thấy Bảo Đại đã chỉnh tề trong bộ hoàng bào, đầu đội khăn vàng, chân đi giày cườm. Đó là lần cuối cùng ông vua cuối cùng của nhà Nguyễn vận triều phục. Ông ta cùng ông Hòe đón chúng tôi lên lễ đài. Có mấy vị quan cũng đi theo Bảo Đại trong buổi lễ. Tôi nhớ có cả hoàng thân Vĩnh Cẩn.

Sau câu chuyện xã giao, buổi lễ bắt đầu. Trước hết chúng tôi đọc bức điện mới nhận được của Hà Nội cho biết Chính phủ lâm thời sẽ làm lễ ra mắt quốc dân tại Hà Nội vào 2-9 và Cụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ, sẽ đọc Tuyên ngôn Độc lập. Chúng tôi cũng đọc danh sách Chính phủ lâm thời cho đồng bào nghe. Đồng bào vỗ tay và hô khẩu hiệu hồi lâu.

Sau đó Bảo Đại đọc bản tuyên bố thoái vị, đọc lẩm bẩm không rõ lời, có lẽ một phần vì ông ta bị xúc động trong giờ phút đặc biệt ấy và một phần vì ông ta không quen nói tiếng Việt hằng ngày.

Bảo Đại đọc xong thì cột cờ hạ cờ vàng của vua xuống và kéo cờ đỏ sao vàng lên. Đồng bào vỗ tay như sấm dậy. Bảo Đại trao quốc ấn bằng vàng, đúc từ đời Minh Mạng, nặng gần 10kg và quốc kiếm, vỏ bằng vàng nạm ngọc nhưng lưỡi đã gỉ. Anh Liệu chuyển lại cho tôi và các đồng chí trong Uỷ ban nhân dân cách mạng ấn và kiếm rồi đọc bản tuyên bố của đoàn đại biểu của Chính phủ lâm thời. Đoàn mở đầu bản tuyên bố như sau: “Anh chị em đồng bào? Lịch sử nước nhà đã đến một giai đoạn mới. Chính thể đế chế đã phải nhường chỗ cho chính thể dân chủ cộng hoà. Đó là nguyện vọng chung của toàn thể quốc dân và là bước tất nhiên trên con đường lịch sử. Một điều mà chúng ta phải nhận là: Chính thể dân chủ cộng hoà không phải tự nhiên được đem lại cho quốc dân mà là do sức đấu tranh lâu dài của bao nhiêu chiến sĩ và nhân dân trong mấy chục năm nay. Cuộc đấu tranh giành cho được nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vẫn đi kèm luôn luôn với cuộc đấu tranh giành độc lập cho xứ sở....

Bản tuyên bố đọc xong, mấy vạn đồng bào hô khẩu hiệu vang cả một góc trời: “Chính phủ lâm thời muôn năm!” “Việt Nam độc lập muôn năm! Việt nam Dân chủ Cộng hoà muôn năm!” Có một phút ngỡ ngàng cho Bảo Đại. Ông ta lúng túng, không biết làm gì, nói gì. Một lúc sau ông ta nói:

“Bây giờ tôi được làm dân của nước độc lập. Xin đoàn đại biểu Chính phủ cho tôi một vật gì làm kỷ niệm giờ phút này”. Sau khi trao đổi ý kiến với anh Liệu, anh Bằng, tôi lấy một huy hiệu cờ đỏ sao vàng (mà Uỷ ban Nhân dân cách mạng Huế đã gài vào áo chúng tôi) gài cho Bảo Đại và đề nghị đồng bào hoan nghênh người công dân Vĩnh Thuỵ. Rồi Bảo Đại chào chúng tôi ra về. Ông Hòe và các vị quan cũng theo Bảo Đại về lầu Kiến Trung. Lễ thoái vị đến đây kết thúc.

Đồng bào rầm rập kéo ra cửa Thượng Tứ rồi tuần hành qua các phố từ tả ngạn sông Hương, vượt cầu Tràng Tiền sang hữu ngạn, với cờ và khẩu hiệu rợp trời.

Chúng tôi về đến Uỷ ban nhân dân cách mạng (toà khâm sứ cũ) trời còn sáng. Nhìn về phía Ngọ môn, lá cờ đỏ sao vàng cao chót vót tung bay trong gió. Sáng hôm sau, ngày 31-8, chúng tôi lên đường về Hà Nội để kịp báo cáo với Chính phủ trước buổi lễ tuyên bố độc lập ngày 2-9-1945.

Anh Lê Văn Hiến còn ở lại Huế một thời gian để cùng Uỷ ban Nhân dân cách mạng Thừa Thiên và Uỷ ban Nhân dân cách mạng Huế tiếp quản hoàng cung kiểm kê các tài sản của triều đình Huế và của vua (trừ những của cải riêng của Bảo Đại) từ nay thuộc về quyền sở hữu của Nhà nước cách mạng.

Thừa lệnh Hồ Chủ tịch anh Lê Văn Hiến đã đến thăm hai bà hoàng (vợ vua Thành Thái, vợ vua Duy Tân) và tặng hai bà một số tiền. Hai bà hết sức cảm động về cử chỉ ân cần của cách mạng. Bà Duy Tân khóc nức nở.

Sau khi giải phóng miền Nam tôi đã có dịp nhiều lần về thăm Huế. Tôi thăm lại thành cũ và lầu Ngọ môn đã có nhiều phần đổ nát, do khí hậu và một phần do chiến tranh. Điều lý thú là chính Nhà nước cách mạng của chúng ta lại lo tu bổ các lăng miếu và cung điện của triều Nguyễn (có lẽ quá sức ước vọng của Bảo Đại), vì chúng ta xem đây là những công trình nghệ thuật của nhân dân và đã được xây dựng lên bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu của nhân dân nữa. Đã 45 năm rồi mà tôi thấy những sự kiện như mới xảy ra ngày hôm qua. không khí Cách mạng tháng Tám, tinh thần Cách mạng tháng Tám sao mà chói lọi thế, sao mà tươi tắn thế!

Ban thanh tra đặc biệt của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ở quảng trường Ba Đình chiều ngày 2-9-1945. Nhân dân cả nước rạo rực, phấn khởi - chính quyền nhân dân địa phương được thiết lập từ Nam chí Bắc, với Uỷ ban nhân dân các cấp (cấp miền, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) Với sắc lệnh số 63 (xây dựng chính quyền địa phương), các UBND sẽ đổi thành Uỷ ban hành chính.

Đúng 3 tuần sau ngày Tuyên ngôn độc lập, ngày 23-9-1945 giặc Pháp với sự đồng loã của quân đội Anh (thay mặt đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật ở phía Nam) đã gây hấn ở Sài Gòn, cả nước lập tức chi viện cho Nam bộ chống thực dân bằng những đoàn quân Nam tiến. Có những chuyến tàu hoả từ Hà Nội ra đi chật ních thanh niên từ nhiều tỉnh dồn về, áo quần đủ kiểu. Đồng thời mỗi tỉnh mỗi địa phương lớn nhỏ lại khẩn trương tổ chức lực lượng vũ trang, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng đánh bọn thực dân Pháp nếu chúng nhảy dù hoặc đổ bộ.

Ở Hà Nội và một vài tỉnh phía Bắc (Phú Thọ, Lào Kay, Vĩnh Yên), chính quyền cách mạng non trẻ lại còn phải dẹp bọn Đại Việt Quốc dân đáng bám gót Tàu Tưởng về phá rối cách mạng (số đồng bọn chúng đã được tổ chức ở trong nước với sự che chở của quân đội Nhật).

Trên bối cảnh lịch sử phức tạp ấy, chính quyền nhân dân đang còn trứng nước đã phải giải quyết những vấn đề có tầm chiến lược cực kỳ quan trọng.

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 3-9-1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách:

1- Phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói.

2- Mở chiến dịch xoá nạn mù chữ (bình dân học vụ)

3- Tổ chức tổng tuyển cử, phổ thông đầu phiếu để bầu ra Quốc hội (tổng tuyển cứ vào ngày 6-1-1946).

4- Thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng, đoàn kết tôn giáo.

5- Bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, nghiêm cấm việc hút thuốc phiện.

6- Mở phong trào giáo dục tinh thần cần, kiệm liêm, chính; bài trừ những thói hư tật xấu do chế độ cũ để lại.

Cùng với nhiệm vụ chống giặc Pháp trở lại cướp nước ta, 6 nhiệm vụ trên đây được thi hành khẩn trương, và cũng chính là để bồi sức dân, đoàn kết dân tộc để giữ vững độc lập mới giành được qua Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Trong hoàn cảnh ấy phải đề cao kỷ cương của chính quyền mới, chính quyền của dân, do dân, vì dân. Bên cạnh những hành động cách mạng khẩn trương có hiệu quả lớn của các UBND, cũng xuất hiện lẻ tẻ những hiện tượng lạm quyền; bắt người không đúng nguyên tắc, chiếm công vị tư của một số ít cán bộ ở vài tỉnh. Đã có một số đơn vị nhân dân ở địa phương tố cáo những việc làm sai ấy.

Để an lòng dân và để giáo dục cán bộ của bộ máy chính quyền non trẻ theo tinh thần cần kiệm, liêm chính, ngày 23-11-1945 Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ, và cử hai vị thanh tra Đặc biệt là: Cụ Bùi Bằng Đoàn và tôi (Cù Huy Cận), lúc đó là Bộ trưởng Bộ Canh nông. Lúc Hồ Chủ tịch gọi tôi đến, giao thêm nhiệm vụ mới này tôi có thưa: “Thưa Cụ, Cụ cho con làm Bộ trưởng Bộ Canh nông đã là nhiệm vụ quá nặng nề trong lúc này. Nay Cụ bảo con kiêm làm thanh tra Đặc biệt thì sợ con không đảm đương nổi”. Bác Hồ giải thích: “Ban Thanh tra Đặc biệt chỉ có 2 người: một già, một trẻ. Già là Cụ Bùi, vị quan có tiếng liêm khiết của triều đình cũ, có uy tín trong giới phụ lão. Trẻ là chú, một thanh niên hăng hái một nhà thơ có tiếng nhiều người biết. Trẻ già kết hợp nhất định làm tốt. Công việc chú bàn thêm với chú Nam (Hoàng Hữu Nam)”. Thấy tôi ngần ngừ, Bác mỉm cười nói thêm: “Còn như chú muốn cho có vẻ chững chạc thì dễ thôi; chiều nay, chú mang đến một thỏi mực tàu và một cây bút lông, tôi sẽ vẽ râu cho chứ! Bây giờ thì chú đi bàn ngay còng việc với Cụ Bùi”. Như vậy là tôi đã nhận nhiệm vụ làm một trong hai vị thanh tra đầu tiên của Chỉnh phủ cách mạng. Mọi việc tôi đều trao đổi với anh Hoàng Hữu Nam, lúc đó làm ở Bộ Nội vụ và là uỷ viên Ban liên kiểm Việt - Pháp. Xong tôi lại trình bày bàn bạc với cụ Bùi Bằng Đoàn. Cụ Bùi rất tốt, và rất tin ở sự làm việc mẫn cán mà thận trọng của tôi; cụ lại có nhiều kinh nghiệm về công tác pháp lý. Anh Nam liên hệ chặt chẽ với các tỉnh uỷ (lúc đó bí mật), nắm tình hình các vụ cần xử lý, giúp Ban Thanh tra Đặc biệt rất nhiều. Chúng tôi đã về Hưng Yên và cách chức vài cán bộ cấp tỉnh vì chiếm tài sản của công; về Hà Nam, vào xem xét nhà giam và cho thả mấy người có tội nhẹ, chỉ đáng phạt kỷ luật hành chính. Chúng tôi còn về Thanh Hoá xử lý những vụ tương tự. Sau mỗi chuyến thanh tra về, chúng tôi báo cáo với Hồ Chủ tịch và được Bác chỉ dẫn thêm. Công tác của Ban thanh tra Đặc biệt thật ra làm không được nhiều lắm, nhưng mấy vụ được đưa ra xử lý nói trên cũng gây được tiếng vang. Lúc bấy giờ chưa có quy chế làm việc rạch ròi, lớp lang. Cụ Bùi và tôi, với sự giúp sức đắc lực của anh Nam đã cố gắng làm theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch: “Xử lý đích đáng một số vụ để an lòng dân, và đề cao kỷ cương của chính quyền cách mạng”.

Một chiều ba mươi Tết bên cạnh Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc

Năm đó, 1951, như thường lệ vào mùa đông cơ quan Phủ Chủ tịch và Phủ Thủ tướng đóng ở Bản Vèn, thuộc tỉnh Bắc Cạn, từ Đầm Hồng đi vào khoảng vài chục cây số. Rồi đến mùa hè, hai cơ quan lại dọn về ở Châu Tự do, hoặc huyện Định Hoá, ở bên núi Hồng, từ Quảng Nạp đi vào cũng hơn 10 cây số. Hôm ấy chiều cuối năm âm lịch, trời tạnh ráo, nhưng gió buốt, lại các lán của cơ quan ở dưới bóng những cây to nên cái rét càng thấm vào da thịt. Chúng tôi, anh em ở Phủ Thủ tướng đốt củi ngồi sưởi ấm, nướng mấy củ sắn ngồi nói chuyện, kể những kỷ niệm về Tết ở quê nhà cho đỡ buồn, cho đỡ nhớ gia đình. Bếp của chúng tôi là những khúc gỗ to chụm lại, lúc lửa đã bén, thì các đầu gỗ cứ thế mà cháy âm ỉ, có khi suốt đêm suốt ngày không tắt, mường tượng như những đầu than âm và dương trong một bóng điện khổng lồ phát ra sức nóng và ánh sáng. Khoảng nửa tiếng đồng hồ một, mới cần đẩy các cây đầu gỗ lại gần với nhau. Bên bếp lửa hồng cháy đượm như vậy anh em đỡ rét, và đỡ lạnh lẽo trong lòng. Mọi người thi nhau nói những kỷ niệm lý thú nhất về cái Tết ở quê nhà, về những cái Tết lúc còn nhỏ, về cái thú đốt pháo, về cái thú theo mẹ theo cha, theo bà đi chợ Tết...

Câu chuyện đang đượm như lửa ấm, thì Bác Hồ đi tới. Chúng tôi đứng dậy để chào, thì Bác giơ tay ra hiệu bảo ngồi xuống và Bác cũng ngồi xen vào giữa chúng tôi bên cạnh bếp lửa trại. Ghế của Bác ngồi là một khúc gỗ được cưa bằng. Bác hỏi chúng tôi đã nấu bánh chưng chưa, và chương trình tết của chúng tôi như thế nào. Chúng tôi báo cáo với Bác những trò vui mà chúng tôi định tổ chức với nhau ba ngày Tết. Bác dặn ngay là phải đi thăm đồng bào trong bản, cùng đồng bào tổ chức vui chơi ngày tết đánh còn, thi bắn chim, thi bắt cá trong hang suối...

Bỗng nhiên có một anh đứng dậy mạnh dạn thưa với Bác: “Thưa Bác tha cho, cho con được hỏi Bác một câu?”. “Chú cứ hỏi, và chú cứ ngồi xuống nói chuyện” - “Thưa Bác, tại sao Bác không lập gia đình?” Tất cả chúng tôi lặng im đi một phút, một phần vì sợ Bác mắng do câu hỏi đường đột của đồng chí chúng tôi, một phần vì thấy nét mặt của Bác cũng dường như trầm ngâm trước câu hỏi đó. – “Người ta ai cũng muốn có gia đình (giọng Bác nói thong thả và dường như có hạ cung bậc). Bác cũng là người như các chú, Bác cũng muốn có đời sống gia đình đầm ấm. Nhưng các chú xem, hoàn cảnh của đời Bác không cho phép Bác lập được gia đình, đó là điều thiệt thòi cho Bác, mà Bác đâu có muốn thế!” Rồi Bác cười: “Bây giờ thì muộn quá rồi!... Bây giờ gia đình Bác là tất cả các cô các chú, là tất cả bà con, đồng bào. Không có gia đình riêng, thì Bác lấy gia đình chung làm cái vui của Bác, làm cái ấm áp của Bác.... Giọng Bác nói khẽ trầm ngâm, chúng tôi nghe có người ứa nước mắt. Thấy vậy, Bác lại khuấy động không khí và bảo chúng tôi hát lên cho vui, và bảo bới củ sắn ra cho Bác ăn với. Chúng tôi hát những bài hát kháng chiến quen thuộc, còn sắn thì mải câu chuyện không ai lật trở cho đều, cho nên đã cháy thui gần hết. Tuy vậy Bác cũng cầm một mẩu nhỏ cùng ăn và khen sắn cháy càng thơm”. Trong đời chúng tôi đã ăn bao nhiêu cái Tết vui, ấm, lúc trong gia đình khi xa quê hương, nhưng chưa bao giờ lại có được một buổi chiều cuối năm ấm lòng như chiều tết ở bản Vèn bên cạnh Bác. Rồi chiều mùng 1 Tết chúng tôi đi đánh còn với đồng bào ở ngoài đám ruộng khô, trong một thung lũng khá rộng, đi chúc tết đồng bào, đi lội suối bắt cá... Sống cái tết gần như cổ sơ, mà ngày tháng, giờ giấc tính theo độ lên xuống của mặt trời trên núi, mà sớm hay khuya không cần nhìn đồng hồ, chỉ nghe độ gió buốt lọt vào chăn cũng biết. Ai có ngờ lúc đó chúng tôi là một cơ quan đầu não kháng chiến, là Phủ Thủ tướng của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà...

Tôi vinh dự được Bác Hồ tặng một bài thơ

Giữa năm 1963 tập thơ Bài thơ cuộc đời của tôi xuất bản, tôi gửi dâng Bác Hồ bản đầu tiên. Mỗi lúc ra một tập thơ tôi đều có gửi dâng Bác, và bao giờ tôi cũng xin Bác cho ý kiến nhận xét. Có lần Bác gặp tôi nói là Bác đã đọc tập thơ này, tập thơ kia và có chú ý một số bài. Trên kia tôi đã kể khi Bác đọc bài Năm người con gái anh hùng Cẩm Phả đăng trên báo Nhân dân, thì Bác đã căn cứ theo bài thơ mà gửi 5 huy hiệu của Bác về cho Uỷ ban Cẩm Phả để tặng năm gia đình có 5 cô con gái liệt sĩ này. Lần này sau mấy hôm, anh Việt Phương một buổi trưa mang đến cho tôi một tờ giấy của Bác có ghi bài tứ tuyệt Bác tặng tôi. Anh Việt Phương nói “Đây là vinh dự lớn nhất của nhà thơ đây” mở giấy ra tôi thấy một bài tứ tuyệt viết theo lối phóng khoáng của Bác:

Cảm ơn chú biếu Bác quyển thơ,

Bác xem quyển thơ suốt mấy giờ.

Muốn Bác phê bình, khó nói nhỉ!

Bài hay chen lẫn với bài vừa.

Tôi sung sướng quá, anh Việt Phương cũng chia xẻ nỗi vui sướng với tôi, đồng thời anh Việt Phương cũng đưa cho tôi một bức thư nhỏ của đồng chí Phạm Văn Đồng đại ý khen ngợi tập thơ của tôi, nói là đồng chí đọc thấy có nhiều bài hay, và rất hứng thú được nói điểu đó với tác giả. Trong những năm kháng chiến ở Việt Bắc, mỗi lúc Bác Hồ có làm bài thơ mới nào bằng chữ Hán, hoặc bằng tiếng Việt thì thường tôi cũng được vinh dự Bác gọi đến đọc cho nghe, và bao giờ Bác cũng hỏi có ý kiến gì góp không. Khi Bác sáng tác bài tứ tuyệt Trăng vào cửa sổ bằng tiếng Hán thì tôi được Bác giao cho dịch ra tiếng Việt bằng thể Đường luật hoặc lục bát tuỳ ý. Tôi đã cố gắng diễn ra lục bát bốn câu súc tích của Bác:

Trăng vào cửa sổ đòi thơ,

Việc quân đang bận, xin chờ hôm sau.

Chuông lầu gọi tỉnh giấc thu,

Ấy tin thắng trận biên khu mới về.

Bài dịch này đã được in trong tập Thơ Hồ Chủ tịch. Trước khi tôi dịch anh Phạm Văn Đồng có trao đổi ý kiến với tôi, đặn tôi cố thể hiện qua câu thơ tiếng Việt cái phong thái ung dung của Bác giữa trăm công nghìn việc của kháng chiến. Nhân đây, tôi cũng xin kể là những phiên họp Hội đồng Chính phủ trong kháng chiến chống Pháp, ở Việt Bắc, gần thác Dẩng thường được kết thúc bằng một buổi tối lửa trại (sau hai ba ngày họp). Ở buổi lửa trại ấy, Bác Hồ là người “trưởng trò”, Bác nói chuyện vui, Bác động viên mọi người có chuyện gì thích thú thì kể cho nhau nghe. Và bao giờ Bác cũng nói: “Chú Phan Anh đâu, phải có mấy câu tập Kiều”. Anh Phan Anh cũng biết vậy nên thường đã chuẩn bị sẵn mấy câu lục bát tập Kiều, và đứng dậy đọc, giọng sang sảng bên ngọn lửa rất đượm của các khúc củi to chụm lại với nhau. Thơ và lửa làm cho buổi liên hoan thật là ấm áp. Và đến lượt tôi cũng bị Bác gọi “Còn thơ chú Cận đâu?”. Tôi cũng cố gắng làm mấy câu ca dao tức cảnh và đọc nhanh như là nộp bài. Nhưng cũng có khi Bác bắt tôi đọc một bài thơ cũ của tôi, và tôi không thể thoái thác, đành phải đọc những bài tả thiên nhiên đất nước, có gửi gắm nỗi lòng mình trong đó như bài Tràng giang.

Có một lần đang họp Hội đồng Chính phủ bàn vấn đề chuyển lương của cán bộ từ hiện vật (số ki lô gạo) sang tiền. Anh Lê Văn Hiến Bộ trưởng Bộ Tài chính vừa trình bày xong phương án chuyển gạo ra tiền thì có một đồng chí trong Hội đồng phát hiện rằng giá gạo rất chênh lệch nhau giữa huyện Đại Từ phía Bắc núi Tam Đảo, và tỉnh Vĩnh Yên phía Nam núi Tam Đảo. Tôi liền đứng dậy xin đọc mấy câu không phải là tức cảnh mà là nói lên sự lúng túng của Chính phủ trong quyết định giá lương tiền này:

Mây Tam Đảo! Mây Tam Đảo!

Mây dừng tại khoan bay, cho ta bảo:

Cớ sao cùng một đồng lương,

Mà bên cơm, bên cháo!

Sau tham luận bằng văn vần của tôi, Hội đồng Chính phủ bèn hoãn lại việc chuyển lương gạo ra lương tiền.

Thường trực ở Bắc Bộ phủ

Từ ngày lập Chính phủ lâm thời (2-9-1945) cho đến ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), có một tổ chức thường trực ở Bắc Bộ phủ (tổ gồm 5 người, được Hồ Chủ tịch duyệt). Năm người trong tổ: anh Võ Nguyên Giáp (gọi là anh Văn), anh Hoàng Văn Thái, anh Khuất Duy Tiến, anh Hoàng Hữu Nam, và tôi. Trong 5 người nay đã 3 anh qua đời: anh Thái, anh Tiến và anh Nam. Anh Nam mất những ngày đầu kháng chiến, tại thị xã Tuyên Quang chết đuối ở ghềnh Quýt. Năm anh em luân phiên nhau trực ban đêm tại Bắc Bộ phủ, thường là hai người trực đêm, cũng có khi bận quá thì một người. Tôi nhớ là anh Hoàng Hữu Nam và tôi thường hay trực với nhau, khi nào anh bận việc đột xuất thì giao tôi trực một mình.

Mấy tháng đầu, tôi vừa làm việc ở Bộ Canh nông (Bộ trưởng, rồi sau thứ trưởng), buổi chiều đến làm việc với Hồ Chủ tịch (như là một trong những thư ký riêng của Bác), ban đêm thì trực ở Bắc Bộ phủ. Tình hình căng thẳng ngay từ những ngày đầu của cách mạng. Bọn Pháp bọn Quốc dân đảng bám theo quân đội Tưởng Giới Thạch và mọi loại phản động luôn luôn tìm cách phá, thậm chí lật đổ chính quyền cách mạng. Bọn họ hoạt động riêng rẽ, nhưng cũng có khi liên kết với nhau để phá ta. Vì vậy việc trực đêm ở Bắc Bộ phủ cũng rất căng thẳng.

Luôn luôn có điện thoại gọi, khi thì cơ quan an ninh, khi thì Uỷ ban hành chính Hà Nội, khi thì ban liên kiểm Việt Pháp, khi thì Uỷ ban thành phố Hải Phòng... Điện thoại để báo cáo tình hình, cũng có khi để xin chỉ thị của Hồ Chủ tịch, và cũng thường khi là hỏi tình hình ở Hà Nội, ở Bắc Bộ phủ có diễn biến gì không. Lúc bấy giờ mọi cơ quan, nhất là những đồng chí chủ chốt, đều cảnh giác cao độ, và làm việc gần như không kể ngày đêm.

Những đêm trực ở Bắc Bộ phủ, tôi ngủ ngay bên cạnh điện thoại, trên một chiếc giường con, có khi trên một cái ghế dài xích đu. Cũng đôi khi có một nữ đồng chí điện thoại viên ở giúp việc, có điện thoại thì gọi chúng tôi nhưng về sau chúng tôi chỉ yêu cầu đồng chí điện thoại viên ở đến 9 giờ tối, sau đó thì chúng tôi trực luôn cả điện thoại. Có những đêm như một ngày giữa tháng sáu 1946, tình hình hết sức căng thắng: bọn lính Pháp bắn phá ở Bạch Mai, chúng dùng cả súng lớn bắn vào rạp chiếu bóng Bạch Mai. Chúng tôi ở Bắc Bộ phủ nghe các loạt súng rất rõ, cho người ra đường xem tình hình thì không thấy có lính Pháp xê dịch, mà công chúng cũng không thấy chộn rộn. Tôi gọi ngay dây nói cho anh Hoàng Hữu Nam để anh can thiệp ngay với bọn Pháp ở trong Ban liên kiểm Việt Pháp... Anh Hoàng Văn Thái hôm ấy không phải phiên trực cũng đến ngay Bắc Bộ phủ để nắm tình hình và trao đổi cách đối phó với anh Nam trong Ban liên kiểm... Nhưng sau một chặp, thì tiếng súng im, và có người về báo là một toán lính Pháp đã bắn bừa vào rạp chiếu bóng, và mấy nhà xung quanh nhưng tự vệ ta chống cự, sau đó chúng rút lui. Về sau chúng tôi phán đoán rằng đây là một cách bọn Pháp nắn gân chúng ta, nếu ta không cứng thì chúng làm ào tới.

Ngày hôm sau, anh Hoàng Hữu Nam đã đến Ban liên kiểm Việt Pháp phản đối kịch liệt bọn Pháp, thì chúng thoái thác giả lời bừa rằng đó là hành động tự phát của một nhóm lính bực bội trong tình hình căng thẳng mấy ngày đó... Lúc đó tôi với anh Xuân Diệu cùng ở ngôi nhà 50 Hai Bà Trưng, đằng sau thư viện quốc gia.

Tối nào tôi phải đi trực, thì anh Diệu nhắc tôi ăn cơm sớm, và nên đi sớm đến Bắc Bộ phủ, vì đi tối có thể gặp bọn khiêu khích, hoặc bọn lính mũ đỏ Pháp, hoặc bọn Việt cách, Việt quốc được bọn Tầu Tưởng đỡ đầu.

Những ngày tháng Hồ Chủ tịch sang Pháp (từ cuối tháng 5 đến tháng 9-1946), chính phủ ở nhà phải liên lạc hàng ngày với phái đoàn ở Paris, một phía để Hồ Chủ tịch hiểu tình hình ở Hà Nội và nói chung trong cả nước căng thẳng đến đâu và ngược lại để ở nhà được biết chính phủ Pháp gây khó dễ với Hồ Chủ tịch như thế nào... Nhưng làm thế nào mà thông báo tình hình phức tạp ấy, trong lúc chúng ta không có điện tín thẳng với phái đoàn được, càng chưa có mật mã để điện cho phái đoàn... Anh Hoàng Hữu Nam bèn nghĩ ra một thứ “mật mã”, qua những bức điện công khai nhờ điện đài Pháp chuyển. Tôi còn nhớ rõ như thế này: “Ở nhà đánh đi, thì chỉ quanh quẩn nói tình hình tốt, tốt vừa, hay rất tốt. Nhưng đã ước lệ ngầm với nhau rằng: khi trong điện nói tình hình tốt có nghĩa là Pháp vẫn quấy rối; khi điện nói tình hình bình thường thì có nghĩa là Pháp đang ráo riết chuẩn bị tấn công ta; khi điện nói tình hình rất tốt thì có nghĩa là ở nhà các cơ quan trọng yếu đang chuẩn bị sơ tán khỏi Hà Nội; khi nói tình hình rất yên tĩnh thì có nghĩa là: chúng tôi chuẩn bị rút khỏi Hà Nội... Còn từ Paris điện về thì chỉ tập trung đưa tin về sức khỏe của Hồ Chủ tịch. Khi điện nói sức khoẻ của Chủ tịch bình thường, thì có nghĩa là chính phủ Pháp vẫn ngoan cố không nhân nhượng gì cả; khi nói sức khỏe của Hò Chủ tịch tốt thì có nghĩa là Pháp vẫn gây sức ép; khi nói sức khỏe của Chủ tịch hết sức tốt thì có nghĩa là: Pháp cực kỳ ngoan cố, không đi đến ký kết được gì... Còn một số câu ở nhà đánh đi và ở Paris đánh về thăng giáng một chút ít, nhưng đại để cũng là đưa tin theo “mật mã” ấy.

Chúng tôi ở nhà cũng như các đồng chí bên cạnh Hồ Chủ tịch tại Paris nhận được rất đều điện do phía Pháp chuyển. Người Pháp làm việc chuyển điện đều đặn cũng muốn tỏ rằng họ có thiện chí, và nhất là tỏ lòng kính trọng Hồ Chủ tịch. Chỉ có một điều là cái mật mã không mật mã do anh Hoàng Hữu Nam sáng tác ra thì họ không tài nào mở khoá được... Cái bảng đối chiếu mật mã này anh Nam viết tay và giao cho tôi giữ để hàng ngày thảo điện gửi đi Paris, hình như anh cũng giữ một bản, nhưng lúc anh bị chết đuối không biết có ai tìm ra trong người anh không... Còn điện tôi thảo thì bao giờ cũng theo ý kiến đã trao đổi giữa các anh em với nhau và điện thảo xong thì tôi giao cho anh Dũng lúc đó làm công tác điện đài, gửi đi.

Đã 40 năm trôi qua (1946-1986), mà tôi còn nhớ rõ mồn một cái không khí trực đêm ở Bắc Bộ phủ còn nhớ rõ ràng dáng đi của mỗi anh: anh Hoàng Văn Thái bao giờ vào phòng cũng dáng vội vã, với cái mũ ca lô đội lệch một chút về phía phải, anh Hoàng Hữu Nam thì nét mặt luôn lo nghĩ, nhưng bước đi lại ung dung, và luôn luôn ăn bận com lê rất đàng hoàng có thắt ca vát nữa vì anh luôn luôn sẵn sàng đến Ban liên kiểm Việt Pháp (vì anh là trưởng ban về phía Việt Nam); anh Khuất Duy Tiến với cái đầu to đi trước, miệng luôn luôn tươi cười, anh Văn (tức là anh Võ Nguyên Giáp) thì xách một cái cặp đầy giấy tờ những đêm trực anh vẫn làm việc ở cái phòng tầng dưới, dưới cái phòng của Hồ Chủ tịch ở trên gác, là nơi anh làm trụ sở của Bộ Nội vụ, mà lúc đó anh làm Bộ trưởng (kiêm Thứ trưởng Bộ quốc phòng, kiêm tổng chỉ huy Vệ quốc đoàn). Chúng tôi trực đêm, thật sự là phải thức đến suốt sáng, mà không cảm thấy mệt, những ngày ấy làm việc hăng say, và công việc cuốn đi... Về sau anh Hoàng Hữu Nam có dặn người phục vụ thỉnh thoảng mua được hộp sữa thì pha cho anh em trực một cốc sữa vào đêm khuya. Nhắc đến anh Hoàng Hữu Nam, tôi nhớ anh và tôi nhiều đêm cùng nằm trên chiếc giường, bên điện thoại bàn chuyện đối phó với Pháp, bàn công tác thanh tra đặc biệt mà lúc đó tôi phụ trách cùng cụ Bùi Bằng Đoàn... Thỉnh thoảng chả biết anh kiếm được ở đâu ra một ít kẹo ngon anh lại dúi cho tôi mấy chiếc vào túi... Đến lúc anh bị chết đuối ở Tuyên Quang, may tôi đến kịp nơi người ta vừa vớt thi hài anh lên, đang chuẩn bị liệm anh. Trên mặt anh người ta đã để một tờ giấy bản to. Tôi đến bên anh và nói “Anh Nam ơi, tôi đây này Cận đây này. Khổ quá! Anh đi tắm làm gì cho đến nỗi.... Thế là máu trong miệng anh ộc ra ướt hết cả giấy bản, và còn lênh láng xuống cả cổ áo... Chiều hôm ấy anh em Bộ Nội vụ và tôi chôn cất anh gần thị xã Tuyên Quang, cùng với hai anh cán bộ nữa cùng chết một lúc với anh, trong lúc hai anh này nhảy xuống sông để cứu anh.

Cái đẹp của ánh tà dương

Một chiều tháng chạp 1946 tôi quên mất ngày, cụ Huỳnh đang ngồi chờ trong phòng khách lớn của Bắc Bộ phủ ở trên gác để tiếp một vị khách quan trọng.

Tôi đến để giúp cụ tiếp khách. Khách chậm đến, cụ nói với tôi: “Anh Cận ạ, anh có biết đọc thơ Đường không?” Tôi đáp: “Thưa cụ, tôi cũng thuộc một số bài”. - “Tôi đọc cho anh nghe câu sau đây: “Đẹp ánh tà dương sắp lặn đi” (tôi không nhớ câu chữ Hán là thế nào, chỉ nhớ câu diễn nôm của cụ Huỳnh). Anh có biết không, buổi chiều này nắng rất đẹp, tự nhiên tôi nhớ câu thơ trên, và thật ra tôi cũng đến cái lúc “ánh tà dương sắp lặn đi”. Cụ nói câu ấy với tôi với giọng hơi bùi ngùi, cái bùi ngùi đáng quí biết bao thốt ra từ miệng một nhà thi sĩ.

Những ngày đêm Điện Biên Phủ trên không tôi bám Hà Nội Tối hôm 18-12-1972, chúng tôi đang duyệt một vở kịch tại rạp Hồng Hà ở phố Hàng Da, thì còi báo động vang lên, và đèn trong nhà hát tắt. Rồi tiếng bom nổ ầm vang một góc trời thành phố. Chúng tôi lập tức nhưng bình tĩnh rút ra khỏi nhà hát, và ai nấy trở về nhà, riêng tôi đi bộ về số nhà 24 Điện Biên Phủ, xuống hầm trú ẩn cùng mọi người trong gia đình, và có một vài bà con láng giềng đến ẩn nấp nhờ vì cái hầm ở nhà tôi tương đối kiên cố. Thế là đợt ném bom của Mỹ bằng máy bay B52 bắt đầu. Sáng hôm sau, ngày 19, đến Bộ Văn hoá, chúng tôi bàn việc cấp tốc sơ tán các cơ quan của bộ về các hướng Sơn Tây, Hà Bắc... Chỉ cần để lại ở Bộ một bộ phận thường trực mươi lăm người mà lúc đó chúng tôi gọi là “Đội trực chiến”. Tôi xung phong ở lại làm đội trưởng đội trực chiến này, còn các đồng chí bộ, thứ trưởng khác và hầu hết các đồng chí vụ trưởng đều sơ tán về ngoại ô thị xã Sơn Tây, một số cơ quan sự nghiệp đi về phía Bắc Giang, cũng có một số anh em đi về Tuyên Quang để coi ngó các kho sách phim, và những hiện vật quý của bảo tàng. Đồng chí Lương Hữu Lễ, lái xe của tôi, tất nhiên là ở lại với tôi.

Trong gia đình tôi thì vợ tôi sơ tản theo Trường đại học Ngoại ngữ về Hải Hưng, gần quán Gỏi, và các con tôi thì sơ tán về chùa Thầy ở chân núi Sài Sơn. Anh Xuân Diệu cũng tự nguyện ở lại với tôi và đêm đêm chúng tôi đến ngủ ở dưới hầm của Bảo tàng Mỹ thuật ở số nhà 66 Nguyễn Thái Học. Ngôi nhà bảo tàng này khá kiên cố, nhất là cái hầm thì được xây dựng bằng bê tông cốt sắt dày, nhà có thể sập vì bom, mà cái tầng hầm có thể vẫn đứng vững. Ngôi nhà này ngày xưa là Phủ toàn quyền đã xây làm ký túc xá cho các nữ sinh Pháp (con các công sứ, khâm sứ, các giám đốc người Pháp nắm quyền cai trị ở Đông Dương học ở các trường Anbe Sarô, và ở các trường cao đẳng thuộc đại học Đông Dương. Cứ tối đến, khoảng 8, 9 giờ là máy bay B52 của Mỹ đến ném bom. Đội phòng không của chúng ta đã bắn rơi nhiều máy bay B52 ngay đêm đầu và những đêm tiếp B52 vẫn tiếp tục “rụng như sung” (có cả thảy 34 chiếc B52 bị rơi trong đợt này). Hễ nghe còi báo động nói là máy bay đã đi xa, thì mọi người chạy ùa ra phố đi bắt giặc lái và tìm xác máy bay. Tôi cũng theo bà con đi tìm giặc lái, có lần chạy lên đến tận Hồ Tây, và thấy bà con bắt được một thằng giặc lái rơi xuống hồ Trúc Bạch... Còn xác máy bay B52, thì cái rơi ở xóm Ngọc Hà, cái rơi ở vườn Bách Thảo, có những cái rơi xa hơn ở ngoại thành, và rơi ở tận phía Hà Đông, Sơn Tây... Đêm Nôen 1972, mọi người đinh ninh là giặc Mỹ sẽ không ném bom Hà Nội, vì đây là lễ thiêng liêng của đồng bào công giáo. Nhưng một loạt máy bay B52 ồ ạt đến ném bom giữa đêm Chúa Giáng sinh... Quân đội cũng như đồng bào đã cảnh giác, nên phản kích kịp thời. Báo chí quốc tế đã đưa tin đầy đủ về cuộc chiến đấu cực kỳ ác liệt của quân dân ta, tôi không nhắc lại đây các chi tiết của cuộc chiến đấu, và của cuộc chiến thắng mà ngay lúc đó báo Nhân Dân và Đài phát thanh cũng đã gọi là “Điện Biên Phủ trên không”.

Mỗi một sáng, tôi và chú Lễ phóng xe đến những chỗ vừa bị ném bom để nắm tình hình, như ở khu An Dương (ngoài đê Yên Phụ), và dãy phố Khâm Thiên... Có lúc chúng tôi đi ô tô, có lúc tôi đi chiếc Sô-lếch mù (Solex), đầu đội mũ rơm để quan sát những thiệt hại do cuộc ném bom gây ra. Đến khu An Dương sáng hôm ấy, người chết khá nhiều, các xác cái thì mới đào lên, cái thì đang chắp lại cái đầu, cái tay cái chân vì mỗi bộ phận của cơ thể bị xé văng ra nhiều nơi... Và chỉ có những chiếc chiếu tạm đắp các thi hài đầy máu me. Tôi có mở chiếu ra xem mặt các đồng bào bị hy sinh, có những mặt chưa kịp thâm tím, có người tay đang nắm lại như sắp cầm một vật gì thì bị bom sát hại... Tôi và chú Lễ ở hồi lâu với cán bộ của khu phố coi sóc việc chở xác đi chôn. Mấy hôm ấy quan tài không đóng kịp, cũng có những thi hài xếp vào mấy miếng ván bó lại... Còn buổi sáng tôi đến phố Khâm Thiên, thì đã thấy một dãy dài các thi hài xếp trên hè phố với những nén hương đang cháy, và bên một số thi hài đã có người nhà vừa khóc vừa bó liệm người đã mất. Sự căm thù của nhân dân lên đến cực độ, nhưng thể hiện bằng một tư thế trầm tĩnh, như là cắn răng lại, cầm nước mắt để trả thù cho người đã mất...

Xúc động trước sự tang tóc, trước sự mất mát, chúng tôi không nỡ ở lâu trước những quan tài và những thi hài chưa bó liệm ở dãy dài trên thềm phố. Chúng tôi đi ra phía đằng sau phố Khâm Thiên là nơi bị bom phá hoại nặng nề, nhiều dãy nhà bị đánh sạt, gạch ngói sụp đổ từng đống ngổn ngang, có nơi lứa còn cháy âm 1 chưa dập tắt được... Chính quyền khu phố và nhân dân đang tập trung cứu gấp những người còn bị nghẽn trong hầm, hoặc bị chèn dưới các đống vôi gạch. Nơi khác thì người ta còn tìm cứu gà lợn bị nghẽn trong chuồng không có lối ra. Cảm động biết mấy khi chúng tôi thấy ở một ngõ đi vào đường hẻm mấy dòng chữ bằng phấn trắng viết lên một cánh cửa đã lung lay sắp rời khỏi tường: “Gia đình chúng tôi tạm sơ tán về quê ở Vân Đình. Tất cả đồ đạc trong nhà chúng tôi xin gửi lại nhờ Uỷ ban nhân dân khu phố trông nom hộ. Liên lạc với chúng tôi ở Vân Đình... ở dưới ký tên chủ nhà và địa chỉ cụ thể. Ở một nơi khác chúng tôi lại thấy treo một tấm bìa các tông cũng viết mấy lời dặn cho người nhà biết là bà mẹ đã sơ tán các cháu về quê ở Hà Đông, và đồ đạc xin gửi lại bà con láng giềng khu phố... Những bức thư và những lời dặn ở ngoài trời như vậy tôi cũng đã từng thấy ở Hải Phòng những ngày tháng 8 năm 1972 lúc địch cũng ném bom bằng máy bay B52 ở nội ngoại thành, ở khu Vạn Lý và ở làng...

Có những trường hợp hết sức xúc động, ai nghe kể cũng không cầm được nước mắt: Có hai em bé dăm bảy tuổi, bố mẹ đi vắng, lúc bom dội xuống thì hai em tỉnh dậy, khóc oà và cứ kêu “bố mẹ ơi, bố mẹ ơi?” nhà láng giềng cũng bị sạt một mái, chưa kịp cứu chữa đồ đạc của mình và con lợn trong chuồng, nhưng nghe tiếng hai em bé kêu khóc thì chạy sang cứu ngay hai em, dẫn em xuống hầm cho em ăn uống, chờ hai em ngồi yên mới trở lên nền nhà cứu chữa phần nhà mình, cứu những đồ vật gì còn có thể thu lượm lại được. Người ta thường bảo “cháy nhà ra mặt chuột”, nhưng, đẹp đẽ thay, nhân tình thay, ở đây cháy nhà lại thổ lộ ra tình nghĩa đồng bào cưu mang lấy nhau trong cơn hoạn nạn, đùm bọc lấy nhau trong cái nạn lớn của đất nước. Nức lòng thay, ấm lòng thay... Chính đêm Nôen, mà địch ném bom dữ dội thành phố thủ đô thì ở dưới hầm nhà Bảo tàng Mỹ thuật tôi đã viết liền một hơi bài Trường ca Thiếu niên anh hùng họp mặt (hình thức thơ sân khấu) mà liền sau đó báo Thiếu niên tiền phong đã in kịp vào số tết, và Nhà xuất bản Kim Đồng cũng đã kịp xuất bản bán vào dịp Tết. Bài thơ sân khấu này cũng đã được đoàn Tuồng Khu 5 dựng thành vở tuồng ngắn đã được diễn nhiều lần và được chiếu trên vô tuyến truyền hình. Bom cứ dội ngoài thành phố, mà tiếng vang làm rung chuyển cả ngôi nhà Bảo tàng thì những Phù Đổng Thiên Vương, những Trần Quốc Toản, những Kim Đồng những Võ Thị Sáu, những em Tám đuốc lửa sống... lại náo nức về tụ họp dưới hầm bảo tàng với tôi. Tôi viết bài Trường ca này với ấn tượng rõ rệt là bốn nghìn năm lịch sử của dân tộc là một nền móng vô cùng vững chắc mà không một loại bom nào, loại vũ khí hiện đại nào của giặc Mỹ có thể làm rung chuyển được Những ngày ấy mỗi sáng, sau khi đi thăm những nơi bị ném bom, anh Diệu, chú Lễ và tôi lại đến báo Nhân dân để lấy tin tức và để đưa một vài bài ngắn (hoặc thơ hoặc văn xuôi) cho báo đăng kịp thời. Anh Thép Mới mỗi sáng gặp chúng tôi ở toà báo cứ cười xoà “Thật sự đây là đội trực chiến của Điện Biên Phủ trên không... Tôi còn giữ bức ảnh mà đồng chí nhiếp ảnh của báo Nhân dân chụp ba chúng tôi đang ngồi trao đổi tin tức và bài vở ở toà soạn (anh Thép Mới anh Xuân Diệu và tôi). Vừa rồi anh Thép Mới và tôi gặp nhau ở Mátxcơva, sau ngày anh Diệu mất, hai anh em đã nhắc lại kỷ niệm những ngày trực chiến của chúng tôi trong bầu không khí hào hùng của Thủ đô chiến đấu và chiến thắng. Sau những ngày Điện Biên Phủ trên không, các cơ quan của Bộ Văn hoá cũng chưa dọn về ngay ở Hà Nội, cho nên tôi và một vài anh em trong đội trực chiến lại phải lên Sơn Tây báo cáo tình hình và công việc cho ban lãnh đạo của Bộ biết. Những ngày đó, nhân dân Hà Nội sơ tán vợi hẳn đi đi ngoài đường có nhiều phố vắng hẳn, có nhiều cơ quan đóng cửa, nhưng trật tự ở các phố lại rất nghiêm và đi lại giữa Thủ đô quá nửa là sơ tán lại có cảm giác yên tâm. Về sau tôi nghe anh em công an kể lại rằng có những dãy phố mà những nhà sơ tán toàn bộ gia đình chỉ khoá cửa bằng một cái khoá bóp mà nhà vẫn được an toàn, đến lúc chủ trở về không mất mát đồ đạc gì, từ áo quần cho đến thức ăn vật dụng...

Điện Biên Phủ trên không là một trang sử hiển hách trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, của nhân dân thủ đô anh hùng. Tôi đã có cái may mắn và vinh dự được sống cùng đồng bào những ngày ấy, được tắm mình trong dòng lịch sứ nóng bỏng ấy, và tôi vẫn kể lại với các con tôi những ngày là “bố đi Sô lếch, solex mù và đội mũ rơm” giữa thủ đô nghìn năm văn vật với một lòng tự hào, tự tin mà tôi đã tiếp nhận được của đồng bào và chiến sĩ...

BÌNH LUẬN

Vợ Cù Huy Cận

Như Bình

Nguồn: An ninh thế giới cuối tháng, số 57, tháng 4-2006

Trong mường tượng, tôi ngỡ bà sẽ khác hơn nhiều. Không phải là dáng mỏng như một nhánh cây khô mà tôi bất chợt thấy. Không phải là sự nhẫn nhịn pha chút thu mình đến còm cõi của một người luôn thấy mình quá bé nhỏ trong cái thế giới mênh mông của cuộc đời để mà xem sự tồn tại của mình đã là một hạnh phúc quá lớn. Bà đến gặp tôi ở tòa soạn theo lời hẹn. Mái tóc bạc xóa, đôi mắt cười chan chứa và hiu hắt. Dường như bà đã chuẩn bị quá lâu cho cái sự rồi sẽ một mình ở trọ lại cuộc đời này chờ tới khi đoàn viên với ông, thế nhưng trong giọng nói, trong câu chuyện, trong nụ cười nhòa ướt nước mắt của bà, tôi vẫn cảm thấy chút gì đó tựa như là bơ vơ, như là chống chếnh đến ngơ ngác mà đáng ra cuộc sống hiện tại đủ để lấp đầy với bà, sự ra đi của người chồng gắn bó hơn 40 năm nặng tình tri kỷ và ân nghĩa xem ra đã để lại trong bà một khoảng trống quá lớn. Một vực sâu thiếu hụt mà không gì có thể lấp nổi. Thuyết phục mãi rồi bà cũng dẫn tôi trở về ngôi nhà mà trong đó có căn phòng nhỏ ở 24 Điện Biên Phủ nơi bà và ông đã có quãng thời gian chung sống gần 40 năm (hai năm cuối đời, nhà thơ Huy Cận về sống chung với con gái ở Tây Hồ). Bà nói lúc còn sống ở đây, nhà thơ Huy Cận rất ít khi tiếp khách tại nhà. Bấy nhiêu lâu rồi cả bà và nhà thơ quên đi cái nhu cầu ấm áp vui vẻ ấy, vì vậy bà không muốn dẫn tôi về đó. Không hiểu sao, tự dưng tôi cũng trở thành ké rón rén khi cùng bà băng qua căn phòng nhỏ với lối đi cửa sau vòng qua mảnh sân đầy lá rung để tìm lối đi lên căn gác của ông bà. Lần đầu tiên tôi được thở cùng bà trong cái không gian quá nhiều những ký ức của hai thi nhân Việt Nam, Xuân Diệu và Huy Cận nổi tiếng trong mối tình thơ, tình bạn cảm động có một không hai trong lịch sử văn chương.

Tôi bước cùng bà những bước nhỏ, chậm rãi, cố để cảm nhận cho hết khung cánh nơi đây, hồn cốt của thi nhân xưa còn vương lại trên từng đồ vật cũ, cảnh cũ. Rất nhiều lá khô rơi và mục nát dưới lối đi. Chiếc cầu thang cỗ cũ kỹ và ẩm mốc vương đầy lá khô bay nhè nhẹ trên từng bậc thang. Căn buồng của bà và nhà thơ Huy Cận lâu rồi không có hơi ấm của người giờ phủ đầy bụi. Vốn là người ít nói kiệm lời, bà Trần Lệ Thu chỉ vào đống ngổn ngang những bản thảo cũ từ lâu mờ bụi phủ của nhà thơ Huy Cận: "Bây giờ tôi sống bằng tất cả những thứ ấy và vì đó mà sống”. Bà đang tận dụng đến tối đa quỹ thời gian ít ỏi còn lại của mình để hoàn thành trọn vẹn tập Hồi ký song đôi, hồi ký của bà, và nhặt nhạnh, tập hợp lại những di cáo của nhà thơ để lại. Cho dù sự "ra đi" khỏi căn nhà của nhà thơ Huy Cận đã từ trước đó 2 năm và bà dù đến bây giờ hằng ngày vẫn cố gắng cần mẫn lại trở về làm việc và ngủ trên chiếc giường cũ, nơi ngôi nhà cũ thì hơi ấm xưa dường như không bao giờ còn trở lại. Giường chiếu phủ bụi, ngập nhà là ngổn ngang bản thảo cũ, cả những thứ lúc còn sống nhà thơ đã buông đi, cho vào đống tạp pí lù nhưng bà tiếc đã cố công cất giữ lại. Giờ đây mỗi một phong giấy vụn có vài nét chữ của ông, cả những bức thư bè bạn cũ, và muôn thứ ngỡ là tầm phào, vớ vẩn ngày ông còn sống thì với bà là cả một gia tài. Nhìn bà đeo mục kỉnh cặm cụi tỷ mẩn trong căn phòng bừa bộn giấy tờ, toàn bộ con người bà dường như đã thuộc về quá khứ, thuộc về một đời sống của ký ức.

Trong sự cố gắng thu giấu mình đi giữa ngổn ngang đời thực và những “lỗi xót đau nhân tình thế thái", bà chỉ muốn đơn thuần nương tựa vào những câu thơ của ông để lại cho bà. Chút đời sống tinh thần ngớ như là nhỏ nhoi ấy với bà là biển lớn, là cuộc đời, là cả sự nghiệp. Sự nghiệp chính của cuộc đời bà ấy là sống cùng với ông, chia sẻ cuộc đời với ông và giờ đây là thu vén lưu giữ cho hơi thở của ông vẫn mãi mãi nóng ấm giữa những trang viết mà ông để lại.

Mối tình của bà với nhà thơ Huy Cận bước sang năm 2006 này đã tròn 42 tuổi. Bà còn nhớ như in cái ngày định mệnh của ông và bà 4-7-1964, dưới bàn tay sắp đặt của bà Phạm Thị Trường (vợ của nhà văn Nguyễn Đình Thi) ở phố Trần Quốc Toản. Nhà thơ Huy Cận lúc đó 46 tuổi, đã qua biết bao ghềnh thác cuộc đời. Bà Trần Lệ Thu lúc bấy giờ là cô giáo dạy tiếng Nga ở Đại học Ngoại ngữ, đã 28 tuổi nhưng chưa một lần mở lòng mình với tình yêu. Từ đó nhà thơ Huy Cận được tắm táp và bình yên trong tình yêu trắng trong, thuần khiết và rất đỗi dịu dàng của người vợ hiền thảo luôn tôn kính và ngưỡng mộ chồng mỗi lần nhớ lại, bà Trần Lệ Thu không quên được câu nói của nhà thơ Xuân Diệu với bà trong lễ cưới, sau này bà viết lại trong hồi ký: "Anh Diệu nói với em, anh có một nghị lực phi thường, có linh tính báo trước hạnh phúc của đời mình, mà em thì có một tấm lòng kiên trì chờ đợi, nên tất nhiên là hai người phải gặp nhau”.

Thế nhưng, bà Trần Lệ Thu đã rơm rớm nước mắt khi kể cho tôi nghe một “lời đau” của một người thân trong gia đình đã nói rằng bà lấy nhà thơ Huy Cận để được ngồi xe ôtô. Nói rồi bà thổn thức. Ít ai biết rằng thuở nhỏ bà và chị gái của bà đều đi học ở trường tây Félix Faure bằng ôtô riêng của gia đình. Bà Trần Lệ Thu chính là con gái yêu của nhà tư sản nổi tiếng ở Hà Nội thời bấy giờ với thương hiệu hãng dệt Đại Tân nức tiếng ở 40 Lê Lợi, sau này là 124 Bà Triệu. Mẹ bà là con gái Hà Nội gốc, ông bà ngoại làm nghề đăng ten ở làng La Khê - La Cả, năm mẹ bà 19 tuổi đã cùng cha sang hội chợ Đấu Xảo ở Paris một tháng để triển lãm sản phẩm, vì cụ nói tiếng Pháp thông thạo. Trong tuần lễ Vàng năm 1946, cha của bà đã cúng 400 cây vàng cho Tổ quốc. Sau cách mạng, ông được bầu làm Chủ tịch ủy ban Hành chính khu phố Liên Trì, năm 1948 bị giặc Pháp bắt đi mất tích đến giờ. Năm 1961, toàn bộ tài sản gồm mấy ngôi nhà của gia đình bà hiến cho Nhà nước quàn lý, từ một gia đình tư sản, trở thành tiểu thương nhỏ, và cũng vì thế mà bà được kết hôn với nhà thơ Huy Cận - cán bộ cao cấp do Trung ương quản lý (lúc bấy giờ cán bộ cao cấp không được lấy vợ thành phần gia đình tư sản). Nhớ lại những năm tháng mặn nồng hạnh phúc, bà Lệ Thu lại ứa nước mắt. Là một nhà thơ nổi tiếng, nhưng Huy Cận lại là người chất phác, hiền lành, đôn hậu. Không rượu, chè, thuốc lá, ông sống giản dị và chân chất. Với bà Lệ Thu, nhược điểm lớn nhất của ông nhiều lúc làm cho trái tim của bà nhói đau ấy là vì nhà thơ quá đa tình, cả khi ông đã bước sang tuổi thất thập cổ lai hy. Có lẽ, để giữ được tình yêu lâu bền cho một cuộc hôn nhân với nhà thơ, bà phải biết cách chịu đựng và tha thứ. Bà nói, ngay từ hồi đang còn yêu nhau, khi chở bà đi chơi, thấy một cô gái xinh đẹp đi đằng trước, Huy Cận đạp rướn lên nhìn bằng được cô gái đó mới thôi. Bà hiểu trái tim của thi sĩ không hoàn toàn thuộc về bà, mà đã thuộc về thơ ca, ông cần phải có những khoảng tự do, những niềm rung động thì ông mới thăng hoa trong sáng tạo được. Ngay từ ngày đứng trước ngưỡng cửa của hôn nhân, bà Lệ Thu đã nhìn thấy và lường trước được những gì mình cần phải vượt qua khi làm vợ của một thi sĩ nổi tiếng. Bởi lẽ thế mà suốt cả quãng đời sau cuối, cho dù trong một tâm thế "buồn bã và xót đau nhân tình thế thái” nhưng nhà thơ Huy Cận luôn hàm ơn người vợ hiền thục của mình. Nhớ lại cuộc hôn nhân với bà ông đã viết:

Khi anh cưới.

Mẹ em rằng

“Thu nó hiền thôi ít nói năng.

Từ đấy hai sông hòa một biển

Nước gần với nước gắn bằng trăng

Từ đấy lòng anh cứ lắng nghe

Lặng im trong mỗi bước em về

Lời thầm trong mỗi câu em nói”.

Trong mỗi làn tay em vuốt ve

Khi anh mệt nhọc khi anh đau

Công việc anh lo lửa nóng đầu

Anh cứ cảm nghe từ ánh mắt

Tình em ôm toa tựa hương ngâu

Em hỡi đời ai chẳng nửa thầm

Lặng yên mới có được vang âm

Tóc mềm sợi sợi nằm êm lắng

Vạn suối lòng anh chảy trở trăng

Rồi một ngày kia anh với em

Nằm yên trong đất giấc im lìm

Tai xương anh sẽ còn nghe ngóng

Hoa lá hồn em trong lặng im

(Hỡi em yên lặng).

Ngọn lửa thiêng đã về trời. Nhà thơ Huy Cận rời bỏ dương gian từ mùa xuân năm trước. Đến nay đã qua hơn một năm nhưng với bà Lệ Thu, dường như Huy Cận đang làm chuyến công cán xa chưa về kịp. "Những lúc tưởng nhớ tới anh Cận, tôi đều cảm thấy mình được an ủi bởi những năm tháng cuối đời của anh tôi được chứng kiến anh Cận đã sung sướng tắm mình trong nguồn nước ấm được dội từ lòng thương yêu trìu mến của bạn bè tri kỷ ngay từ khi anh vẫn còn tồn tại. Mỗi lần đi đâu, gặp gỡ chuyện trò với bạn tri âm, về nhà anh đều thủ thỉ kể lại cho tôi nghe với một niềm vui sướng nhẹ nhàng, thanh thoát, pha chút ngây thơ, hồn nhiên của tâm hồn trẻ nhỏ luôn thường trực trong con người anh. Tôi có cái sung sướng nhất đời là chuyện gì tôi cũng được anh kể cho nghe. Có những chuyện sống để dạ, chết mang theo anh cũng chia sẻ với tôi, chỉ mình tôi duy nhất”. Bà Lệ Thu lần giở cho tôi xem những di bút những dòng lưu niệm của nhà thơ Huy Cận để lại, nói về mối tình cảm ấm áp và chia sẻ trong những tháng năm êm đềm của hai ông bà. Kể từ sau khi nhà thơ - người bạn tri kỷ của Huy Cận là Xuân Diệu rời bỏ dương gian, thì bà chính là người đầu tiên lắng nghe thơ ông mỗi khi ông vừa thốt viết chưa ráo mực. Một mối tình trọn vẹn như vậy, hẳn khi rời bỏ chốn nhân gian này, nhà thơ Huy Cận đã mãn nguyện lắm thay.

Một nhà thơ làm bộ trưởng

Báo An ninh thế giới cuối tháng, số 6 2.2002

Ông Bộ trưởng 26 tuổi

Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận sinh năm 1919 tại Hương Sơn, Hà Tnh trong một gia đình trung nông lớp dưới. Người cha là một nhà Nho, còn người mẹ chuyên chăn tằm dệt cửi, sau khi lấy chồng cày ruộng. Sau khi đỗ Tú toàn phần ở Huế chàng thanh niên họ Cù dạy tư hai tháng ở Vinh, quyết định thi vào Trường cao đẳng Nông- Lâm (CĐNL). Hồi đó, Trường Nông-Lâm ở ngay Hà nội vị trí của trường đặt tại khu vực Vườn Bách Thảo bây giờ, mỗi khoá chỉ tuyển khoảng 20 sinh nên. Khoá đầu tiên có ông Nghiêm Xuân Yêm học, khoá thứ hai có ông Đào Thiện Thi và Huy Cận học khoá thứ ba... Huy Cận còn nhớ rất rõ: Khi vào trường anh thi đậu điểm cao thứ 5; khi ra trường, thi tốt nghiệp cũng đứng thứ 5

Lý do Huy Cận thi vào Trường cao đẳng Nông-lâm thật đơn giản: Học các trường khác thì phải mất học phí, nhưng học Nông-Lâm thì sinh viên lại được ưu tiên trả học bổng tới 25 đồng tiền Đông Dương mỗi tháng. Hồi ấy, đó là một khoản tiền có giá trị khá lớn, có thể mua được mấy tạ gạo ngon. Chàng sinh viên Huy Cận chi tiêu tiết kiệm, nên cả tháng chỉ hết có... 3 đồng. Số tiền còn lại, anh dùng để nuôi hai người em đi học và gửi về giúp gia đình...

Huy Cận bí mật tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1941. Cuối tháng 7.1945, anh tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân trào và được bầu vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng toàn quốc Huy Cận đã vinh dự được Uỷ ban cử vào Huế để tham gia tiếp nhận sự thoái vị của Vua Bảo Đại.

Khi Chính phủ lâm thời nước Việt nam dân chủ cộng hoà được thành lập từ một nhà thơ nổi tiếng lại có bằng kỹ sư Nông nghiệp Huy Cận đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Canh nông. Năm ấy, anh mới 26 tuổi.

Theo Huy Cận nhớ lại thì cả cơ quan Bộ Canh nông hồi đó chỉ có vài chục người. Trụ sở đóng phố Ngọc Hà và số 20 phố Lý Thái Tổ – Hà nội (nay là trụ sở của Viện Văn học). Phương tiện đi lại của Bộ trưởng và Thứ trưởng chủ yếu bằng xe đạp, nhung không khí làm việc thì hăng hái lắm!

Nạn đói năm 1945 đã làm cho hơn hai triệu người Việt nam bị chết thảm. Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước lụt vẫn còn mênh mông ở miền Bắc nước ta... Hàng núi công việc đang chờ Bộ Canh nông giải quyết Nhưng việc đầu tiên là phải tăng gia sản xuất để cứu đói. Vận động, tuyên truyền cho bà con nông dân trồng những thứ được nhanh thu hoạch như ngô ba tháng, khoai lang, rau muống... với khẩu hiệu tấc đất tấc vàng” và kiên quyết không để sót một tấc đất bỏ hoang. Vốn liếng lớn nhất của Bộ Canh nông thời bấy giờ không phải là tiền bạc mà là sức lao động của nông dân!

Chú có quyền làm trước, báo cáo sau...

Tuy làm việc ở Bộ Canh nông, nhưng nhiều buổi chiều, Huy Cận vẫn được về Phủ Chủ tịch để giúp việc như một thư ký riêng cho Bác Hồ. Có thời gian anh còn được điều động để làm một nhiệm vụ đặc biệt...

Ngày 23.11.1945. Hỗ Chủ tịch ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ. Và cử 2 người tham gia: Cụ Bùi Bằng Đoàn (nguyên Thượng thư Bộ Hình của triều đình cũ) và Cù Huy Cận. Trước khi ký quyết định bổ nhiệm, Bác Hồ cho gọi Huy Cận đến Văn phòng và nói:

- Từ ngày mai, chú có thêm một việc nữa là làm thanh tra đặc biệt của Chính phủ. Chú nghĩ sao?

Huy Cận lo lắm, vì nghĩ mình còn trẻ chưa đủ uy tín để thực thi một việc quan trọng như thế. Anh đắn đo một lúc rồi mạnh dạn nói:

- Thưa Bác! Bác cho cháu làm Bộ trưởng Canh nông là quá sức rồi. Bây giờ Bác giao cho cả việc “Thanh tra đặc biệt” nữa thì e rằng cháu không làm nổi. Vả lại, chức này phải cần những người có tiếng tăm và tuổi tác mới thuận.

Bác Hồ mỉm cười và động viên:

- Chú vẫn cứ làm Bộ trưởng Canh nông, chỉ kiêm thanh tra đặc biệt thôi. Việc này Đảng và Chính phủ đã cân nhắc kỹ mới cử hai người: Một người già là cụ Bùi rất có uy tín, một người trẻ là chú. Chú là nhà thơ cũng nổi tiếng lắm chứ. Còn nếu chú ngại mình trẻ quá, thì chiều nay chú mang đến một thỏi mực Tàu và một cây bút lông. Chú chịu khó mài mực, tôi sẽ vẽ... râu cho chú!

Đến đấy thì nhà thơ Huy Cận hết lý do từ chối.

Cần phải nói thêm điều này: Sở dĩ có chuyện phải thanh tra đặc biệt là bởi hồi ấy Chính quyền cách mạng non trẻ, cán bộ phần lớn còn trẻ, rất hăng hái nhưng chưa có kinh nghiệm công tác. Một số ít địa phương đã có biểu hiện lạm quyền, bắt người không đúng phép thậm chí còn có cả chuyện tham ô và tiêu cực... Thanh tra đặc biệt chính là để đề cao phép nước và an lòng dân! Muốn đạt được điều đó, Ban “Thanh tra đặc biệt” của Chính phủ đã được trao cho quyền hạn rất lớn:

- Cụ Bùi và chú có quyền... “Làm trước, báo cáo sau” - Bác Hồ nói - Có thể cách chức cán bộ tỉnh tại chỗ, nếu chứng minh được người ấy có tội và trở về báo cáo sau.

Nhà thơ Huy Cận nhớ lại: Đoàn “Thanh tra đặc biệt” đã được Chính phủ cho xe tô đưa về các địa phương. Trước khi đi đến tỉnh nào, họ thường nắm trước thông qua Văn phòng của Bộ Nội vụ về địa phương ấy. Chánh Văn phòng của Bộ N vụ lúc đó là đồng chí Phan Bôi, một người tùng bị mật thám Pháp bắt lưu đày ở đảo Mađagátxca, nhưng đã khôn khéo trở về nước bằng máy bay, rồi nhảy dù xuống Việt nam, tiếp tục hoạt động cách mạng... Phan Bôi đã nhiệt tình cung cấp đầy đủ những thông tin về vấn đề tiêu cực cần giải quyết ở địa phương mà đoàn thanh tra đặc biệt sắp đến.

Về đến tỉnh thì đoàn “Thanh tra đặc biệt” dựa vào tỉnh uỷ và đặc biệt là “Nông hội Nông dân - Lực lượng chủ yếu đã làm nên Cách mạng tháng Tám 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta). Họ thường khôn khéo, tế nhị cho một vị cán bộ có lỗi đến, rồi phân tích, thuyết phục... Cái khó cho “Thanh tra đặc biệt” là, hầu hết những vị cán bộ ấy đều có thành tích trong Cách mạng và bây giờ đang giữ trọng trách của địa phương... Những câu mà đoàn “Tthanh tra đặc biệt” thường nói là “Ban Thanh tra đặc biệt xin chào đồng chí Chủ tịch! Chúng tôi rất hoan nghênh đồng chí đã lãnh đạo quần chúng cách mạng cướp chính quyền nhanh chóng, thành công tốt đẹp và trong những ngày vừa qua đồng chí đã lãnh đạo xây dựng địa phương tốt. Nhưng bên cạnh đó, cũng còn một số khuyết điểm mà quần chúng nhân dân phê bình, phản ảnh lên trên... Sau khi hội ý thống nhất với Tỉnh uỷ, Uỷ ban hành chính và Nông hội... Chúng tôi đề nghị đồng chí giúp đỡ Cách mạng bằng cách: Chuyển đổi công tác, thôi giữ chức vụ hiện nay. Tỉnh uỷ sẽ bố trí cho đồng chí một nhiệm vụ khác, thích hợp hơn...

Nói tóm lại là phải bằng mọi cách để người ấy tự nguyện từ chức một cách êm đẹp. Cứ thế, chỉ trong một thời gian ngắn, đoàn “Thanh tra đặc biệt” đã lần lượt cách chức vài vị chủ tịch tỉnh có lỗi với nhân dân. Những địa phương mà đoàn chưa tới, nhiều cán bộ khác cũng phải tự điều chỉnh mình, cố gắng công tác tốt hơn để “Thanh tra đặc biệt” của Chính phủ không phải về làm việc...

Bị cất chức Bộ trưởng trong gần... 40 năm

Tháng 3.1946, để đối phó với thù trong giặc ngoài, Hồ Chủ tịch cùng Đảng ta đã chủ trương thành lập “Chính phủ liên hiệp kháng chiến” với sự tham gia của nhiều lực lượng chính trị, đảng phái khác nhau... Một hôm, nhà thơ họ Cù được Bác Hồ đến và bảo:

- Từ ngày mai chú thôi làm Bộ trưởng nhé.

Huy Cận không chút thắc mắc, lễ phép nói ngay:

- Thưa Bác, nếu Bác và Cách mạng bảo làm gì, thì cháu xin làm nấy.

- Không, chú vẫn công tác ở Bộ Canh nông, chỉ không làm Bộ trưởng nữa. Nhưng mọi việc chú vẫn làm hết. Chỉ nhớ là khi nào cần ký, thì chú đưa cho ông Bồ Xuân Luật (một nhà yêu nước, người của Cách mạng Đồng minh Hội) ký. Ông ấy được mời làm Bộ trưởng để ký thay cho chú...

Từ đó, Huy Cận làm Thứ trưởng cho đến gần... 40 năm sau và trải qua công việc của 5 Bộ: Canh nông, Kinh tế Văn hoá và Văn phòng Hội đồng Chính phủ...

Riêng ở Bộ Canh nông, tính ra Thứ trưởng Cù Huy Cận đã lần lượt “giúp việc” cho 4 đời Bộ trưởng: Bồ Xuân Luật, Huỳnh Thiện Lộc, Ngô Tấn Nhơn và Nghiêm Xuân Yêm.

Tháng 9.1947, Cù Huy Cận được điều về tăng cường cho Bộ Kinh tế. Hồi ấy, Bộ trưởng Bộ Kinh tế là ông Phan Anh. Huy Cận được bổ nhiệm làm Thứ trưởng phụ trách về sản xuất, còn Thứ trưởng phụ trách Thương mại là ông Bùi Công Trùng. Công việc cụ thể của Thứ trưởng Cù Huy Cận là lo đôn đốc sản xuất những thứ để kịp thời phục vụ kháng chiến: Vận động nông dân trồng dâu nuôi tằm để lấy cái mặc; cố gắng sản xuất gang để sản xuất vũ khí cho bộ đội.

Riêng về chuyện sản xuất gang, vị Thứ trưởng - Nhà thơ đã cho mời một người tên là Vũ Quý Huân, Việt kiều ở Pháp về để làm cố vấn tổ chức cho xây dựng cả một lò luyện gang ở Nghệ An... Nhưng hì hụi nấu quặng mãi mà vẫn không ra được gang, cuối cùng đành phải chuyển phương án tận dụng sắt vụn để nấu lại..

Sau kế hoạch luyện gang Thứ trưởng Huy Cận còn ủng hộ việc sản xuất acide sunfuric ở Chu Lễ (Hà tĩnh) và lãnh đạo việc chuẩn bị tổ chức thăm dò khảo sát nguyên khoáng sản cho đất nước sau này.

Cuối năm 1949, một lần nữa nhà thơ của chúng ta “chuyển nghề”: Ông được điều động về Văn phòng Chính phủ làm Thứ trưởng Tổng thư ký Hội đồng Chính phủ (tương tự như Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ hiện nay) cho đến năm 1955. Nhưng chuyện về “thâm niên” làm Thứ trưởng của nhà thơ họ Cù thì phải đợi đến năm 1956, khi ông được điều về Bộ Văn hoá. Tại đây, Huy Cận đã đảm nhiệm chức Thử trưởng Bộ Văn hoá liên tục cho tới năm 1978. Nghĩa là ông giữ trọng trách này bền bỉ trong suốt... 22 năm! Đó là một “kỷ lục” mà sau này rất khó có ai vượt qua nổi.

Chưa hết. khi đến tuổi 65, nhà thơ Huy Cận còn được Hội đồng Nhà nước cử làm Bộ trưởng Đặc trách Văn hoá - Nghệ thuật trong 3 năm (1984 - 1987). Như vậy, trong cuộc đời hành chính của mình, Huy Cận đã có hai lần làm Bộ trưởng. Đó cũng chính là quãng thời gian khởi đầu và kết thúc “sự nghiệp quan chức” của ông. Nhà thơ Huy Cận nói rằng: Ông quan niệm chức vụ Bộ trưởng hay Thứ trưởng chỉ đơn giản là “trách nhiệm xã hội”, vì trước hết mình phải là một Con Người, sống và làm việc cho tốt... Bây giờ, rất ít người còn nhắc đến chức danh Bộ trưởng của Huy Cận, nhưng danh hiệu cao quý Nhà thơ của ông thì còn mãi với đời!

Mùa xuân năm con Ngựa này, nhà thơ họ Cù đáng kính của chúng ta đã bước sang tuổi 83. Dù bước đi của ông đã chậm, đôi tai nghe có kém hơn trước, nhưng trí nhớ và sự minh mẫn của nhà thơ lão thành này vẫn thật đáng nể. Vốn tính xởi lởi, ngồi nói chuyện với nhau, thỉnh thoảng Huy Cận lại ghé sát vào tai tôi bảo: “Khoe riêng với anh nhé, tôi vẫn làm thơ rất đều và hay. Sướng thật!”. Rồi ông bật cười rất tự nhiên và thoải mái.

Tiếng cười của Huy Cận vẫn hào sảng như mỗi lần ông lên đọc thơ và công chúng đang vỗ tay nồng nhiệt chào đón ông...

Hà nội tháng 2.2002

Đặng Vương Hưng

Nguyễn Trọng Tạo

Vĩnh biệt nhà thơ Huy Cận: Giữa sầu đau và bi tráng, thanh cao và hương thơm

21-02-2005

Nhà thơ Huy Cận tên thật Cù Huy Cận, sinh ngày 31-5-1919 tại xã Ân Phú, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh.

Trước Cách mạng Tháng Tám, Huy Cận đã theo học hết bậc tú tài ở Huế, tốt nghiệp Cao đẳng Nông Lâm... Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ông đã tham gia hoạt động văn học. Năm 1936, Huy Cận có viết trên Tràng An, Sông Hương (bút danh Hán Quỳ), năm 1938 đăng thơ ở Ngày nay. Năm 1940, xuất bản tập Lửa thiêng được thi đàn đánh giá là người đã đem một phong cách thơ, một hồn thơ mới lạ, đánh dấu bước trưởng thành quan trọng trong sự nghiệp thơ của Huy Cận.

Từ tháng 7-1945 đến tháng 9-1984, nhà thơ Huy Cận giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước. Ông trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1957.

Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm thơ: Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời, Hai bàn tay em, Cô gái Mèo, Chiến trường gần đến chiến trường xa, Ngày hằng sống, ngày hằng thơ, Ngôi nhà giữa nắng, Hạt lại gieo.

Ông qua đời tại thủ đô Hà Nội, lúc 20 giờ 53 phút ngày 19-2-2005 (11 tháng giêng năm Ất Dậu), thọ 86 tuổi.

Gần 20 tập thơ đã được xuất bản, dù có tập có bài rơi rụng theo thời gian, nhưng những gì còn lại của thơ ông cũng đủ để làm nên một ngọn Thi Sơn Huy Cận thật đáng trân trọng

Vào năm cuối cùng của thế kỷ XX, trong một cuộc trò chuyện về thơ, tôi có nói với nhà thơ Huy Cận rằng, nếu chọn tốp ten các nhà thơ Việt Nam thế kỷ thì nhất định phải có tên ông, và nếu chỉ chọn thất tinh thi sĩ (7 ngôi sao) thì vẫn có Huy Cận.

Ông không lấy làm ngạc nhiên về nhận xét của tôi, mà còn tươi cười nói thêm: “Nếu rút lại 5, ngũ hổ thơ ca chắc vẫn không loại Huy Cận ra ngoài được đâu!” Ông quả là một nhà thơ đầy tự tin về tài năng thơ ca của chính mình.

Huy Cận xuất hiện trên thi đàn Thơ Mới cuối những năm ba mươi, khi đang là sinh viên của Trường Cao đẳng Nông Lâm và làm xôn xao làng thơ bằng tập thơ đầu tay Lửa thiêng in năm 1940. Hai năm sau, ông xuất bản liên tiếp tập thơ Vũ trụ ca và tập văn xuôi Kinh cầu tự, khẳng định tài năng văn chương khi vừa bước qua tuổi 20. Vừa đi học, vừa làm thơ, vừa bí mật hoạt động cách mạng đến tháng 7-1945, ông được tham dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào và được bầu vào Ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc (sau mở rộng thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà) và cùng Trần Huy Liệu vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại, chấp nhận sự thoái vị của ông vua cuối cùng triều Nguyễn. Có thể nói, Huy Cận là nhà thơ đầu tiên giữ chức bộ trưởng trong chính phủ mới (Bộ Canh Nông). Từ đó ông luôn là một quan chức cao cấp với nhiều chức danh khác nhau: Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Thứ trưởng Tổng Thư ký Hội đồng Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Bộ trưởng đặc trách văn hoá - thông tin tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Từ hồi ông về làm việc hẳn ở Ủy ban Trung ương LHVHNTVN 51 Trần Hưng Đạo, thỉnh thoảng tôi được gặp ông. Ông sống thật giản dị, chuyên mặc bộ vét tông cũ, và buổi trưa thường ăn bánh mì, cơm nắm muối vừng hoặc bún lá đậu phụ mắm tôm của mấy bà hàng rong ghé cổng cơ quan. Nhưng khi trò chuyện thì ông rất vui. Ông bảo ông sống khỏe và đầu óc luôn minh mẫn vì ông có bí quyết giữ vệ sinh tinh thần, chuyên nghĩ những điều tốt. Câu chuyện của ông thường quay về những vấn đề văn hoá và thơ ca, và phải nói là ông rất am hiểu các nền văn hoá đông tây kim cổ. Đến các địa phương, ông thường nhắc nhở các vị lãnh đạo phải quan tâm tới lực lượng văn nghệ sĩ thiết thực hơn nữa, vì văn nghệ sĩ là những người làm ra sản phẩm tinh thần cao cấp cho xã hội.

Đọc được một bài thơ hay của lớp trẻ trên báo, ông không tiếc lời khen. Có lần, ông thích bài Có một nhà thơ tên là Trịnh Công Sơn tôi viết về tài năng thi ca của nhạc sĩ họ Trịnh, thế là lần nào gặp tôi, ông cũng nói một câu đầy cảm động: “Cảm ơn Trọng Tạo đã cho Huy Cận biết Trịnh Công Sơn là một nhà thơ”. Tôi đùa ông: “Em đã nghe anh “cảm ơn” mấy lần rồi mà!” Ông cười: “Khi mình đã thích thì cảm ơn bao lần cũng không thừa đâu”. Có hôm Huy Cận ghé vào phòng làm việc của tôi và đưa ra một ý kiến khá bất ngờ, ông nói rằng ông muốn đề nghị đuổi hai từ “thông cảm” ra khỏi từ điển tiếng Việt. Chả là khi đó người ta đang xử một vụ án lớn tham ô tham nhũng thất thoát hàng nghìn tỉ đồng và phạm nhân muốn được... thông cảm về trình độ quản lý non kém của họ. Sau ý nghĩ đó, ông lại nói thật vui: “Chỉ tội ăn cắp sách hay là có thể tha thứ được”.

Một con người giản dị mộc mạc như thế lại là một thi sĩ mang tư duy vũ trụ với một ngôn ngữ cao sang, chắt lọc hiếm thấy ở đời. Người Việt Nam không mấy ai không thuộc những bài thơ thật hay của ông như Tràng giang, Đường thơm, Các vị La Hán chùa Tây Phương... Thơ ông có sầu đau và bi tráng, có thanh cao và hương thơm, có phận kiếp và cảm quan vũ trụ. Gần 20 tập thơ đã được xuất bản, dù có tập có bài rơi rụng theo thời gian, nhưng những gì còn lại của thơ ông cũng đủ để làm nên một ngọn Thi Sơn Huy Cận thật đáng trận trọng.

Nguyễn Trọng Tạo

Trần Mạnh Hảo

Huy Cận - Lửa vẫn còn thiêng

Trần Mạnh Hảo

Từ độ Nguyễn Du lục bát hoá đời Kiều để ngự trên ngôi báu thi ca, chừng như long mạch thơ nước Việt đã mấy lần rót về Hà Tĩnh, khơi nguồn cho những dòng thơ lớn khác xuất hiện: Nguyễn Công Trứ, Xuân Diệu và Huy Cận. Sau tám năm từ độ ra đời, Thơ Mới (1932-1945) đang cuồn cuộn chảy như một dòng sông lắm ghềnh nhiều thác, lúc ẩn, lúc hiện, chợt bùng lên rồi lắng lại sững sờ, như ngẩn ngơ, như luyến tiếc cội nguồn? Kể cũng lạ, khi dòng Thơ Mới cuộn chảy, gầm reo tới cao trào với Xuân Diệu thì cũng là lúc nó chợt phình ra giống một cái hồ cho mưa nguồn chớp bể trong hồn sông nước được nghỉ ngơi, trầm lắng, ưu tư mà hoài cổ. Khúc sông giống hồ nước của dòng Thơ Mới ấy chính là Huy Cận với tập Lửa thiêng gồm 50 bài thơ ra mắt năm 1940. Nếu không có khúc sông hoá hồ nước Huy Cận giúp Thơ Mới có cơ hội lắng xuống, thảnh thơi và điềm tĩnh, chùng chình và mênh mông lại, biết đâu nó đã chẳng chảy tuột vào bể thẳm Tây phương? Chừng như hình thức complet, cravate của Phương Tây Huy Cận khoác lên người không mang nổi hồn vía Đông phương u uẩn, thẳm vời trong ông? Sau khi nhà thơ từng thổn thức nỗi Verlaine, cái hồn ấy phiêu du ông về vạn cổ, kéo ông lạc vào Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... ngay giữa lòng thế kỷ 20 ồn ào phố xá... Thành ra, trong dòng thơ mới sục sôi với tầng tầng lớp lớp thi nhân, Huy Cận tuy không khăn đóng áo the như Đông Hồ, không nâu sồng dân dã như Nguyễn Bính, nhưng hồn ông đã ràng buộc với thất ngôn và lục bát xưa. Ông hoá nỗi buồn xưa mà lênh đênh nguồn cội, một mình bơ vơ ngay giữa “Hội trùng dương” Thơ Mới, bơ vơ ngay giữa hồn mình. Có thể nói, Huy Cận cô đơn ngay cả trong niềm nồng cháy ban đầu Xuân Diệu. Vì sao một gã trai mười chín đôi mươi lại có một tâm hồn nghìn tuổi, một niềm thơ vạn cổ rất tân thời như Lửa thiêng?

Ta bắt gặp trong Lửa thiêng một Huy Cận buổi “Tựu trường-Thơ Mới”, tuy không mê đắm đến điên cuồng “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” như Xuân Diệu, nhưng cũng rất tinh khôi niềm yêu đời, một niềm cách tân cả ý tưởng đến hồn vía: “Tủ mới đánh và lòng trai thơm ngát” (Tựu trường). Chiếc tủ-hình-thức-Tây phương vừa đánh verni, tưởng chỉ có thể treo những bộ áo quần tân thời ý tưởng như câu thơ rất Tây trong bài Tình tự: “Sáng hôm nay hồn em như tủ áo / Ý trong veo là lượt xếp từng đôi”. Huy Cận đi giữa tủ, rương như đi giữa những thời đại bảo tàng, những thời đại ngọc ngà dễ vỡ, tưởng chừng ông toan biến đời mình thành chiếc rương cất giữ vẻ tân kỳ hôm nay: “Rương nho nhỏ với linh hồn bằng ngọc” (Tựu trường). Một cậu trai thuần khiết “Quần áo trắng đẹp như lòng mới mẻ” thuở ấy ai ngờ lại có thể viết được những câu thơ rất mới, rất Tây: “Anh hãy bận hồn em màu sáng chói” (Tình tự)... “Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng” (Đi giữa đường thơm)... hoặc “Bắt gặp mùa tươi lên rún rẩy” (Xuân)... Huy Cận chìa câu thơ thất ngôn truyền thống ra như chìa bàn tay mình để bắt tay ngọn gió mới Tây phương, bằng cách đột ngột gieo một liên từ làm vần cuối câu thơ thứ hai, khiến câu thơ vừa đứt, vừa nối, vừa chênh vênh, hụt hẫng lại vừa an nhiên, tự tại: “Khi bóng hoàng hôn phủ núi xa / Khi niềm tư tưởng vướng chân, và... (Em về nhà). Ta còn có thể bắt gặp trong Lửa thiêng nhiều vẻ đẹp Tây phương mới lạ của Huy Cận, nhất là trong 15 bài thơ 8 chữ khá phóng túng của ông như bài Trò chuyện: “Phố không cây thôi sầu biết bao chừng”, “Buồn vạn lớp trên mái nhà dợn sóng”, “Chiều hiu hiu khêu gợi nhớ nhung hờ”, “Hồn bơ vơ không biết tựa vào đâu / Mây không bay thương nhớ cũng không màu / Nắng không xế và lòng sầu mất hướng”... Huy Cận thậm chí Tây không kém gì Xuân Diệu với nỗi sầu, nỗi chết ban đầu với tận cùng cảm giác kiểu “Tay bồng thân, và tay nữa ôm mồ” (Trình bày)... “Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường”... “Xương cọ vào xương bớt nỗi hàn” (Ngủ chung)... hoặc “Ôi chiều buồn sao nắng quá mong manh” (Nhạc sầu). Ta có một Huy Cận hướng ngoại tới tận trời tượng trưng Verlaine cả trong buồn, vui, sống, chết, trong thế giới khả giác lúc nào như cũng muốn nổi da gà. Có khi, Huy Cận thử tìm tới tất cả, thử vồ vập tất cả nhưng vì sao ông chưa thoả nỗi rưng rưng, dù khi ông viết về tình yêu thời đi học với những câu thơ hay đến kinh ngạc: “Một hôm trận gió tình yêu lại / Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ” (Học sinh). “Trận gió tình yêu” mới mẻ phương Tây rất nồng nhiệt kia đã thổi bay đi tất cả niềm vui mong manh chớm hé. Chỉ còn lại nhà thơ “Đứng ngẩn trông vời...” hiện tại, dù hiện tại kia, tình yêu kia kỳ diệu tới mức, lãng mạn tới mức thần tiên: “Em lùa gió biếc vào trong tóc / Thổi lại phòng anh cả núi non”(Áo trắng). Nhờ “Em”, nhờ ngọn gió tóc kia mà căn phòng anh được nới rộng ra cả đất trời? Hay chính là “Em” đã nhốt núi non, nhốt cái sừng sững cao vời vào căn phòng thi ca anh để vô hạn hoá cái hữu hạn? Niềm vui tình đầu Huy Cận đẹp thế, hay thế nhưng chỉ là gió thổi qua, chỉ là thoáng chốc. Trong thơ, Huy Cận cần một cách giải thoát khác Xuân Diệu.

Huy Cận đi từ “ngẩn” tới “vời”: “Đứng ngẩn trông vời..., đi từ tha nhân đến bản thân mình, từ niềm vui đến nỗi cô đơn, như chiếc thuyền trong bài Mưa sau: “Lòng êm như chiếc thuyền trên bến / Nghe rét thu về hạ bớt mui”. Câu thơ này mới đích thực thần thái Huy Cận; nó hay một cách hoang vắng, se se, tồi tội, khẽ khàng, hiu hắt. Tâm hồn Huy Cận là chiếc thuyền miền sơn cước thi ca, lặng lẽ “hạ bớt mui” khi rét thu về, lặng lẽ rút vào tranh thuỷ mặc xa xưa mà u tịch. Nếu Xuân Diệu nhảy bổ vào tình yêu như nai kia khát nước nhảy bổ vào nguồn suối, lăn xả vào đời sống con người mà choàng ôm tất cả, mà mê cuồng, say đắm tất cả thì Huy Cận ngược lại, cứ một mình thui thủi tìm về nơi hoang vắng, tránh xa nơi phồn hoa đô hội. Huy Cận tĩnh bên một Xuân Diệu động. Huy Cận xưa bên một Xuân Diệu nay. Huy Cận buồn bên một Xuân Diệu vui, dù cả hai đều “Hai chàng thi sĩ choáng hơi men” (Tình trai -X.D.). Những bài thơ hay nhất trong Lửa thiêng là những bài Huy Cận thu hồn về ở ẩn trong một thiên nhiên hoang vắng, thẫn thờ, như thể ông đã bị cuộc đời dồn đến trước lầu “Ngưng Bích”, cùng Thuý Kiều lẫn vào “Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung” (Kiều). Trong 50 bài Lửa thiêng, chỉ có 8 bài thơ lục bát: Buồn đêm mưa, Trông lên, Chiều xưa, Đẹp xưa, Thuyền đi, Xuân ý, Thu rừng và Ngậm ngùi. Nhưng nếu không có 8 bài thơ lục bát này, Lửa thiêng dù có nhiều bài thất ngôn hay ví như Tràng giang thì cũng chưa thể làm nên một Huy Cận vượt thời gian như đã có. Nguyễn Du đại thiên tài lục bát, đã đưa nhịp sáu tám Việt Nam lên tới đỉnh mây trời nhân loại. Nguyễn Du từng ít nhiều ảnh hưởng lục bát ca dao, ảnh hưởng lục bát của Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều để làm ra hàng nghìn câu thiên thu tuyệt diệu riêng mình. Thấm đẫm hồn thơ cha ông, Huy Cận đã hiện đại hoá câu thơ sáu tám Việt Nam. Ông như người kế thừa trung thành của phả hệ lục bát Nguyễn Du rồi phát triển nó về u tịch. Đọc thơ lục bát Huy Cận, cơ hồ như hồn Nguyễn Du phảng phất đâu đây, như thể bút thần xưa được hậu thế cầm lên viết tiếp, như bài Đẹp xưa:

Ngập ngừng mép núi quanh co

Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang...

Vi vu gió hút nẻo vàng

Một trời thu rộng mấy hàng mây nao

Dừng cương nghỉ ngựa non cao

Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon

Đi rồi khuất ngựa sau non

Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu

Trơ vơ buồn lọt quán chiều

Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người...

Câu thơ “Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang” trên của Huy Cận làm ta nhớ đến “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia” của Tố Như xưa. Huy Cận lấy hồn muôn năm trước mà hiện đại hoá câu thơ lục bát bây giờ, như gió xưa vàng đẫm lá thu nay: “Vi vu gió hút nẻo vàng”. Ngọn gió Huy Cận mặc áo vàng nghìn thu mà hun hút, mà nghiêng nghiêng mái chữ, mái-hiên-người, cũng là mái thơ: “Mái nghiêng nghiêng gởi buồn theo hút người”. Cũng như bài Đẹp xưa, bài lục bát Buồn đêm mưa và bài Chiều xưa hay đến từng câu từng chữ. Cái buồn Huy Cận nơi đây đẹp đến rụng rời, đẹp đến ngơ ngác, hoang vu. Viết về nỗi bơ vơ kiếp người, về nỗi buồn bản thể, nỗi buồn xa vắng, mù tăm tưởng không ai bằng Huy Cận: “... Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la / Tai nương nước giọt mái nhà / Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn” (Buồn đêm mưa). Tưởng chừng Huy Cận phải đội trên đầu cả vòm “trời nặng nặng” mà nghe “ta buồn buồn”, rồi thơ thẩn đi hết cõi “Lửa thiêng”, để nghe trọn vẹn trong hư không: “Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi”, “Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ”. Huy Cận gom mình về thành quách xưa mà cô đơn một thuở với trời đất; tuy ông vẫn để ngỏ các cửa thành cho gió ngàn năm bơ phờ cư ngụ: “Gió về, lòng rộng không che”. Thổi hiu hiu, thổi u u trong lục bát Huy Cận loài gió hạc vàng, gió tùng bách, gió khói sóng. Những hồn gió liêu trai từng thổi qua Đường thi, Tống thi, thổi qua sao Khuê ở ẩn Nguyễn Trãi, qua vầng trăng xẻ nửa Nguyễn Du mà thành bờ “lau thưa” Huy Cận:

Buồn veo theo gió bên hồ

Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa

Đồn xa quằn quại bóng cờ

Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về

Ngàn năm sực tỉnh, lê thê

Trên thành son nhạt - Chiều tê cúi đầu... (Chiều xưa)

Nhà ẩn sĩ của nỗi buồn xưa để tâm hồn mình trôi qua hai bờ lục bát như bóng cờ kia quằn quại trôi qua đôi bờ trời chiều và “Thành son nhạt”, càng trôi càng sững lại, càng phải vật vã với gió mà níu lấy hồn xưa ngơ ngẩn. Phải chăng tinh thần của Lửa thiêng là tinh thần của lá cờ quá vãng ăn toàn gió xưa mà tồn tại, mà nghi ngút khói mây: “Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về”? Huy Cận mang hồn Nguyễn Du để làm nên giọng điệu lục bát rất riêng, rất mới của mình như bài Thu rừng sau đây:

... Nai cao gót lẫn trong mù

Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về

Sắc trời trôi nhạt dưới khe

Chim đi lá rụng cành nghe lạnh lùng...

Hai cặp lục bát trên đều đi nhịp đôi khe khẽ, rón rén, thi thoảng, theo kiểu cứ một bước sương lại một bước khói, như trời thu theo nai xuống núi, theo “chim đi” vì không nỡ bay sợ làm động vỡ hồn thu. Huy Cận mượn bút vẽ Tề Bạch Thạch mà vẽ bức thuỷ mặc lục bát Thu rừng có một không hai. Chỉ thấy nai, thấy chim, thấy sắc trời, thấy lá rụng, tuyệt nhiên không thấy người đâu, mà không đâu không ám ảnh hồn người. Cảm giác, ấn tượng của những câu thơ trên mạnh tới nỗi rùng mình, người đọc chợt được hoà tan vào từng câu chữ, khiến bài thơ như chợt vượt ra ngoài trang giấy mà hoá vô biên thu, hoá vô tận rừng, hoá mênh mông hồn thu Huy Cận. Nói đến lục bát Huy Cận, không thể không nhắc tới Ngậm ngùi. Bài Ngậm ngùi tuy không tuyệt bích như các bài Thu rừng, Đẹp xưa, Buồn xưa, Buồn đêm mưa, nhưng nó mang yếu tố mới của thơ tình, trước đó thơ ta chưa có chuyện người đàn ông “hầu quạt” ru người con gái ngủ. Bài thơ mang được phẩm chất sầu mộng của thời đại, được phổ nhạc thành bài hát rất hay, rất quen thuộc nên người ta dễ nhớ hơn những vần lục bát thần diệu trên. Thơ thất ngôn Huy Cận đạt tới tuyệt đỉnh với Tràng giang, với nỗi buồn hoài cổ tầng tầng lớp lớp sóng, lớp lớp mây tâm trạng, như thể nhà thơ đã kéo dài mạch chảy của những dòng sông thi ca Vương Bột, Thôi Hiệu..., những dòng sông thi ca “Trông vời trời nước mênh mang” Nguyễn Du xưa mà trải hồn mình ra nghìn dặm xưa sau. Huy Cận là nỗi buồn tiếp nối ông cha: “Vạn lý sầu lên núi tiếp mây”, như thể ngàn xưa còn vọng mãi nỗi niềm rơm rớm nắng mưa nay: “Nắng đã xế về bên xứ bạn / Chiều mưa trên bãi nước sông đầy”(Vạn lý tình). Hãy đọc thất ngôn Huy Cận lên để nghe không gian chùng xuống đến tận cùng dây tơ thời gian: “Ôi! nắng vàng sao mà nhớ nhung / Có ai đàn lẻ để tơ chùng?” (Nhớ hờ).

Huy Cận với Lửa thiêng còn ở bên trời “đàn lẻ”, là nỗi buồn xưa, hồn xưa lưu lạc tới hôm nay vẻ hiu hắt, ngậm ngùi kiếp người. Ông mang đến cho thi đàn một nỗi buồn đẹp như quê hương, như nước mắt trời xanh. Hình như sự vĩnh cửu từng níu lấy áo Huy Cận mà kéo ông về bất tử thi ca ngay từ thuở vừa ngoài tuổi đôi mươi. Lửa thiêng có lẽ là tập thơ toàn bích nhất trong các tập thơ ra đời từ 1932-1945 trong phong trào Thơ Mới? Cây cổ thụ Huy Cận sẽ còn xanh tươi mãi trong vườn thơ dân tộc như câu thơ ông từng viết trong bài Hoạ điệu: “Cây không đi mà tình cũng nghiêng nghiêng”.

Bình luận 2

Phạm Minh Ngọc

Nguồn: Báo An ninh thế giới cuối tháng, số 43, tháng 2-2005

Kỷ niệm Cách mạng mùa thu

Nhà thơ Huy Cận: Lúc vào Đại hội Tân Trào, anh Trần Huy Liệu giới thiệu tôi vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng. Tôi nhớ là hôm đó bầu 15 người. Đến lượt tôi, anh Trần Huy Liệu giới thiệu: “Nhà thơ Huy Cận, bây giờ đã “bỏ bút nghiên theo việc đao cung”, xin Đại hội bầu vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng”. Bỗng nhiên, ở hàng đầu có một ông dáng cao cao đứng lên nói: “Tôi không đồng ý!”. Tôi chột dạ, chắc ông này không muốn bầu mình vào Uỷ ban. Anh Trần Huy Liệu mới hỏi tại sao, thì ông phản đối mới nói thế này: “Tôi không đồng tình với việc “bó bút nghiên theo việc đao cung”; bầu nhà thơ Huy Cận nổi tiếng vào Uỷ ban thì tôi đồng tình, nhưng mà bỏ bút nghiên là không đúng. Bút nghiên cũng là vũ khí đấu tranh cho độc lập dân tộc”.

Người ấy là ai? Người ấy là đồng chí Tống, bí danh của đồng chí Phạm Văn Đồng. Cả ông Liệu và tôi thở phào một cái... Ở Đại hội Tân Trào có hai người làm thư ký đoàn là anh Khuất Duy Tiến và tôi... Đây này, đây là ảnh của Chính phủ lâm thời năm 1945! Cụ Hồ đây; còn đây là ông Trần Huy Liệu, Phó chủ tịch; ông Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng Bộ Giáo dục quốc gia, ông Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ; ông Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Bộ Tài chính ông Nguyễn Mạnh Hà, Bộ trưởng Bộ Kinh tế quốc gia; ông Hoàng Tích Chí, Thứ trưởng Bộ Y tế ông Hoàng Minh Giám, Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ; ông Vũ Trọng Khánh, Bộ trường Bộ Tư pháp; còn đây nữa, ông Cù Huy Cận, Bộ trưởng Bộ Canh nông (cười). Còn đây là ảnh Chính phủ trong kháng chiến ở Việt Bắc, Cụ Hồ đây, tôi được ngồi cạnh Cụ Hồ. Hôm đó, tôi đang tìm chỗ đứng thì Cụ bảo: “Chú ngồi đây”. Thế là Cụ Hồ ngồi đây và tôi ngồi đây. Lúc ấy, tôi 30 tuổi, năm 1949... Còn đây là hình Huy Cận năm Lửa thiêng ra đời, cũng khá đẹp trai đấy chứ (cười).

Phóng viên: Năm 1945, 26 tuổi, ông là Bộ trưởng Bộ Canh nông. Trên cương vị ấy, ông có làm được gì không?

Huy Cận: Trời ơi, rất có công! Anh nói như vậy là anh nghi ngờ thành tích của Bộ Canh nông hả? (cười). Được rồi, để tôi nói cho mà nghe. Tôi làm Bộ trưởng Bộ Canh nông từ tháng 9-1945 cho đến hết tháng 3-1946, khi thành lập Chính phú Liên hiệp kháng chiến thì tôi không làm Bộ trường nữa và Cụ Hồ giao cho ông Bồ Xuân Luật làm Bộ trưởng. Nhưng tôi không đi đâu cả Cụ Hồ bảo: “Chú cứ ở đấy nhưng mà chú làm Thứ trưởng, và bây giờ mọi việc chủ cứ làm như trước, chi có việc ký là người khác”. Sau trận đói Ất Dậu, đen lúc bấy giờ vẫn đói, nhiệm vụ của Bộ Canh nông rất cụ thể là tăng gia sản xuất gấp để cứu đói Tôi lúc đó được các anh em giúp việc như Hoàng Văn Đức, Bùi Huy Đáp... Chương trình của Bộ Canh nông là phải tăng gia sán xuất cứu đói bằng cách sán xuất những thứ ăn ngay, ăn nhanh như ngô 3 tháng, lúa 3 tháng, trồng rau, rau muống trồng khắp nơi, rồi nuôi gà, nuôi vịt,... Thế nhưng lấy vốn đâu, lấy gì ra để đầu tư. Thì đây có một nguồn đầu tư rất lớn là sức lao động đông đảo của bà con nông dân. Và những biện pháp mà Bộ Canh nông đưa ra đã có kết quả ngay: trên đường đi chỗ nào cũng thấy trồng rau. Thế là công tác cứu đói có kết quả ngay, cái thành tích lớn là như thế. Đồng thời, thành tích thứ hai là xây dựng cơ sở cho bộ máy canh nông, từ Bộ, rồi Cục, Viện nghiên cứu, Sở Canh nông ở các tỉnh... Việc tổ chức bộ máy rất nhanh và anh em làm việc tích cực lắm. Tôi xin nói với các anh một câu mà thường thường người ta hay quên, đó là “thần thiêng nhờ bộ hạ”. Tôi là Bộ trưởng, tất nhiên tôi cũng là một kỹ sư canh nông, nhưng nhờ có anh em đoàn kết chung sức với mình, Hoàng Văn Đức rất có công, Bùi Huy Đáp rất có công. Phải biết là trong Cách mạng Tháng Tám, Nông hội có uy tín rất lớn. Nhân đây, tôi cũng xin nói với các anh rằng, Cách mạng Tháng Tám là do nông dân làm nên là chủ yếu. Nông hội hồi đó có uy tín lắm, gần như là chính quyền thứ hai rồi...

Phóng viên: Khi ông còn rất trẻ, ông làm Bộ trưởng thì nói chung là rất khó khăn rồi, vì khi ta trẻ ta đã có kinh nghiệm gì đâu...

Huy Cận: Cứ làm thì nó ra kinh nghiệm. Các anh không biết cái câu nổi tiếng à: “Làm thì ra kinh nghiệm”!

Phóng viên: Thế việc ông làm Bộ trưởng so với sau này khi ông đã lớn tuổi làm Thứ trưởng thì...

Huy Cận: Khoan, khoan!... Nhà nước, cụ thể là Đáng và Bác Hồ giao gì thì tôi làm nấy, không có băn khoăn thắc mắc là tại sao lại hạ chức...

Phóng viên: Không, ý chúng tôi muốn hói là, khi nào ông cảm thấy khó khăn hơn?

Huy Cận: Tôi nói cho các ông nghe nhé, khi ấy tôi mới 26 tuổi, cũng mới ra trường được vài năm thôi, đã làm Bộ trưởng, mà tôi làm được. Cái ấy là nhờ anh em, nhưng mà trên hết là được sự dìu dắt của Bác Hồ, của Đảng... Hai nữa, không biết là tôi khoe hay cái gì nữa, nhưng có một cái mẫn cán như thế nào đó công việc nặng mình cảm thấy mình cũng nắm được, và bởi vì mình có ý thức về chính trị, mình có ý thức về văn hoá, thành thử mình dễ nắm. Và, quan trọng nhất là dựa vào anh em, “thần thiêng nhờ bộ hạ” mà (cười).

Tình thơ sóng đôi

Phóng viên: Ông với nhà thơ Xuân Diệu gặp nhau như thế nào?

Huy Cận: Tôi với Xuân Diệu gặp nhau lần đầu tiên ở Trường Quốc học Huế tháng 9-1936. Lúc bấy giờ, đấy mới chỉ là trường tú tài ở Huế, gọi là Trường Khải Định. Những người học sinh quê ở Trung Kỳ thường về học năm thứ 3 ở Huế. Anh Diệu đậu phần tú tài thứ nhất ở Hà Nội, ở Trường Bưởi, nhưng đến năm thứ ba, không chi mình anh Diệu mà còn một số người nữa cũng về học ở Trường Khải Định. Lúc bấy giờ, tôi mới vào năm thứ nhất của trường tú tài, còn anh Diệu đã năm thứ 3. Gặp nhau thì có một người giới thiệu, bảo: Ồ hai ông Hà Tĩnh mà đều làm thơ cả! Đọc thơ thì thích, nên có thể nói là kết nghĩa ngay lập tức, từ đó trở đi thành đôi bạn suốt đời 50 năm, kết bạn từ năm 193e, cho đến lúc anh Diệu qua đời tình bạn chúng tôi đã có với nhau hơn 49 năm, 49 năm mấy tháng, có thể nói là nửa thế kỷ tình bạn.

Phóng viên: Trong tập Thơ thơ Xuân Diệu có viết là “Tôi thích Rimbaud và Verlaine. Hai chàng thi sĩ choáng hơi men. Say thơ xa lạ, mê tình bạn, Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen....

Huy Cận: Viết trước khi gặp tôi. Đó là ông nghĩ đến cái tình giữa Verlaine và Rimbaud thôi, chứ không phải viết là do tôi và Xuân Diệu gặp nhau.

Phóng viên: Cả ông và nhà thơ Xuân Diệu hồi trẻ đều uống rượu chứ!

Huy Cận: Anh Diệu có uống rượu nhưng không uống nhiều, chỉ thưởng thức rượu. Còn tôi thì tuyệt đối từ trước đến nay không bao giờ uống rượu. Từ hồi đi học, rồi tới tuổi thanh niên và cho đến mãi sau này, ngay cả khi đi hoạt động quốc tế, hễ ai mời uống rượu thì tôi cũng nói rất thăng thắn là tôi không biết uống rượu. Tôi không uống rượu, không hút thuốc lá, nhờ thế mà khóe đấy Một số nhà thơ bị ung thư, mất sớm là do uống rượu nhiều quá đấy...

Ký ức tình yêu

Phóng viên: Hồi trẻ ông đẹp trai như thế này, thì nhiều cô mê lắm...

Huy Cận: Cũng có đẹp trai. Tôi nói thế này, tình yêu của tôi cũng như tình yêu của nhiều người, không có cái gì đặc biệt. Có những tình yêu lâu dài, dai dẳng cho đến tận sau này, cũng có những tình yêu ngắn ngủi và cũng có cả những tình yêu không thành, chứ không có gì đặc biệt. Anh cũng thế, ai cũng thế thôi, có những tình yêu không thành, mình muốn mà không thành, có những tình yêu thì thành nhưng mà ngắn ngủi, có những tình yêu dai dăng suốt đời... Tôi cũng may là có được nhiều tình yêu, cho nên...

Phóng viên:... Làm được thơ?

Huy Cận: Tất nhiên, nhưng nó cũng chi là một nguồn thôi chứ không phải là nguồn đuy nhất. Tình yêu đôi lứa không phải là nguồn thơ duy nhất. Còn có tình yêu đất nước, tình yêu thiên nhiên... Nhưng tôi cũng có những cái tình yêu hấp dẫn. Năm 1940, chưa ra tập “Lửa thiêng”, nhưng báo Ngày nay liên tục đăng thơ tôi. Thế là tôi liên tiếp nhận được thư của một người không ký tên, nhưng trời ơi! Thư viết hay lắm, mê lắm, xúc động lắm! Mà tôi tiếc là tập thư ấy cháy mất trong kháng chiến, tôi để nó trong một cái hòm ở Hương Khê, nhà bị cháy nên cháy luôn, tôi tiếc ngơ tiếc ngẩn. Cô này có trình độ văn hoá, có cả trình độ văn học nữa, mà không ký tên. Có cái lạ là, tôi đi đến đâu thì thư đi đến đấy Tôi đi nghi ở Đồ Sơn với Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, không biết lần mò địa chỉ thế nào mà thư đến kịp gặp tôi ở Đồ Sơn. Tôi học Trường Canh nông chủ yếu là ở Hà Nội, nhưng cũng có mấy tháng học ở Sài Gòn, thư cũng đến Sài Gòn. Lạ quá! Cái cô này, cô theo dõi mình một cách kinh khủng. Thư viết xúc động lắm!

Phóng viên: Chả lẽ sau này lại không gặp được nhau nữa?

Huy Cận: Cứ để tôi nói cho các anh nghe. Cái người viết ấy chữ không khác gì như chữ con trai, nhưng lời lại như lời con gái. Có một hôm, mùa đông năm 1940, tôi sắp sửa xách xe đạp đi học (Trường Canh nông hồi ấy ở Bách thảo, gần Lăng Bác Hồ bây giờ) thì có một cái bưu phẩm đến. Mình mở ra. Trời ơi! Một cái áo trắng rất đẹp. Đằng sau cổ thêu một câu thơ của tôi: “Hồn nhớ thương em dệt áo dâng anh”; câu ở trong bài Tình tự. Nhưng mà mình mở ra thì mặc không vừa, dù mình chưa béo như bây giờ... Thì mình cũng chả trách vì đã bao giờ người ta ôm mình đâu, mà mình cũng đã ôm người ta đâu mà biết vừa hay không (cười). Thành ra áo thì rất đẹp nhưng phải gói lại cho vào hòm rồi lại xách xe đạp đi. Hôm ấy trời rét nhưng mình cảm thấy ấm vô cùng. Sau đó mấy tuần, bấy giờ tôi ở ngõ Tân Hưng, nay là ngõ Tức Mạc, anh em ở chung khoảng 10 người, thì có một cô tự nhiên đến, mặc cái áo trắng rất đẹp, các ông ạ. Cái áo trắng bằng lụa Hà Đông. Cô ấy nói chuyện với tất cả mọi người nhưng mà phân biệt đối xử đối với tôi Thế thì mình cũng đủ thông minh và đủ linh tính, thôi, chắc người này viết thư cho mình rồi. Cô ấy là sinh viên Đại học Y học sau tôi một lớp, thua tôi một tuổi. Hết buổi nói chuyện, cô dắt xe đạp ra về, thì tự nhiên cái chân tôi đi theo. Tôi xin nói là cái chân tôi đi theo chứ không phải là tôi đi theo (cười). Ra đến cửa ngõ, tự nhiên cô ấy dừng lại. Lúc bấy giờ, cô nói như thế này: “Anh có nhận đủ thư em không?”. Tôi bảo: “Có!”. Thế là cô lên xe cô ấy đi không kịp nói câu gì nữa. Cách đó mấy hôm, tôi nhận được một cái thư viết như một chỉ thị: “Chủ nhật tới, anh đến gặp em”. Thế là mình ngoan ngoãn nghe thôi. Hẹn 9 giờ, 9 giờ kém 10', mình đến đã thấy cô ấy cũng đứng ở trước Trường Thú y trên đường Bạch Mai. Bây giờ gọi nhau thế nào? Tiếng Việt Nam tài lắm, mình định gọi em nhưng mà chưa đủ tình cảm để gọi em, gọi nàng thì “Tự lực Văn đoàn” quá (cười) gọi cô thì lại khách sáo. Không cô, không nàng, không em thì phải làm thế nào? Thế là hỏi một câu không có chủ từ: “Đi đâu bây giờ?”. Nhưng cô rất chủ động: “Anh đi theo em”. Thế là cô ấy lên xe đạp. Chỗ nào đường đông thì cô đi trước, mình lẽo đẽo theo sau; chỗ nào đường hơi rộng thì đi song song. Từ đó đi vào Thanh Xuân, trên đường vào Hà Đông thì dắt qua bờ ruộng đi vào một cái khóm cây, một cái rừng nhỏ, có một cái nhà thờ họ đạo nhỏ. Nói chuyện với nhau trên trời dưới đất, không đả động đến tình yêu. Gặp nhau lúc 9 giờ, đi đến nơi 10 giờ, từ 10 giờ đến 12 giờ không nói đến tình yêu. Trước khi đi, cô ấy có chuẩn bị bánh mỳ xúc xích đi theo. Đến 12 giờ, thì chuông nhà thờ đổ. Tôi nghe chuông nhà thờ đổ, tôi cũng xúc động đấy nhé, mà chuông chùa cũng thế! Lúc ấy cô ấy hỏi: “Anh có thuộc bài hát Cinema không?”. Tôi bảo tôi có thuộc, để tôi hát cho cô nghe, cô ấy bảo để em hát trước. Một bài hát rất hợp cánh với chúng ta, một cái bài hát trong đó có một thôn nhỏ, một cái nhà thờ nhỏ, một buổi sớm mùa xuân. Cô ấy hát xong thì khóc nức nở... (Huy Cận hát: “Tình yêu ơi, ta thấy mặt em trong một sáng mùa xuân... Tình yêu ơi, ta được thấy mặt em và cá lòng phản bội của ta...). Lúc bấy giờ thì tôi nói thật là chưa đủ tình cảm, thế nhưng người ta hát vì mình, người ta xúc động vì mình! Tôi ôm cô ấy, xúc động, một hồi lâu. Rồi khi cô ấy hết khóc thì lại nói chuyện trên trời dưới đất, không đả động đến tình yêu, rất lạ! Trong một hoàn cảnh như thế, tôi nói anh em thanh niên bây giờ các cậu không trong sáng bằng bọn tôi đâu. Chúng tôi lãng mạn nhưng rất trong sáng. Bây giờ chỉ 5 phút các cậu giải quyết hết! (Cười). Bọn tôi ngồi cả buổi sáng, đến 6 giờ chiều về mà vẫn chỉ êm ru thế thôi!

Phóng viên: Nhưng lớp trẻ bây giờ không có được khu rừng nhỏ với tiếng chuông nhà thờ như của ông. Bây giờ rừng nhỏ hết rồi toàn là đường sá với nhà nghỉ thôi. Còn đâu được sự trong sáng lãng mạn nữa!

Huy Cận: Không đi ra giữa thiên nhiên, các cậu không hiểu hết được sự kỳ vĩ của tình yêu đâu. Đã yêu nhau bao giờ cũng phải đi ra giữa thiên nhiên, bởi vì chỉ có kích thước của vũ trụ mới đo nổi nỗi xúc động của tình yêu. Đó là quy luật mà tôi khám phá ra. Chi có kích thước của vũ trụ mới đo nổi cái bề rộng, bề dài của rung động tình yêu. Các anh cũng đi ra giữa thiên nhiên thôi, các anh giấu tôi làm gì! (Cười). Tình yêu mà chỉ ngồi trong phòng thì không đủ, có đúng không? Buổi chiều về, về theo đường Tàu Bay, hồi ấy không có đèn đường mà chi có đèn dinamo. Cô ấy mua hai thẻ hương, cô ấy cầm một, tôi cầm một trên tay để người ta đỡ đâm vào mình. Về đến chỗ Trường Thú y thì dừng lại, cô ấy gục vào vai tôi giục: “Thôi anh về!”. Tôi khóc. Buổi trưa cô ấy khóc, buổi chiều mình khóc. Tôi khóc thật, khóc nức nở...

Phóng viên: “Chàng Huy Cận khi xưa hay buồn lắm...

Huy Cận: Không, không... Tại sao tôi khóc? Tại vì tôi thấy mối tình đẹp quá, cái tâm hồn đẹp quá, vậy nên tôi khóc. Cô ấy bảo: “Thôi, anh về!”. Anh thấy cái tình lạ không. Sau này, tôi đi hoạt động ở Paris nhiều lần, người ta cho tôi biết địa chi, telephone của một phòng mạch ở miền Nam nước Pháp, đông khách mà cô ấy làm chủ. Tôi không lại. Tại sao? Tại vì tình ngày xưa nó đẹp như thế, bây giờ thì hai ông bà già hết rồi, con đàn cháu đống (cười) Thôi cứ để êm đi cái quá khứ. Nhưng cô ấy thỉnh thoảng có viết thư về cho một người bà con ở Hà Nội, bác sĩ Đặng Hiếu Chương. Anh Đặng Hiếu Chương bác tôi, chị ấy vẫn hòi thăm anh đấy. Bây giờ thì tôi tiết lộ được rồi. Cô ấy là người Bình Định...

Phóng viên: Cô ấy có đẹp không?

Huy Cận: Tôi nói rất công bằng. Cô ấy không xấu, không đẹp, nhưng mà xinh, có một cái duyên. Đẹp khác, xinh khác, nhưng cô ấy có một tâm hồn làm cho mình mê...

Phóng viên: Lâu hơn, dai dẳng hơn, sâu sắc hơn?

Huy Cận: Sâu sắc à? Nhưng đó chỉ là một trong những cái tình. Kháng chiến rồi thành ra dở dang. Về sau gặp nhau lại chỉ khóc thôi...

Phóng viên: Ông có phải là một người đa tình không?

Huy Cận: Anh đánh giá như thế nào thì đánh giá, nhưng qua cuộc đời thì tôi cảm thấy tôi đa tình. Đam mê...

Thích mọi giai đoạn

Phóng viên: Bây giờ nhìn lại cả đời thơ dằng dặc của mình, ông thích nhất giai đoạn nào?

Huy Cận (cười): Nói thế này thì hơi ham, tôi thích tất cả các giai đoạn. Giai đoạn trước Cách mạng, thơ của tôi thành công rất rõ nhé. Không phải thành công ở Lửa thiêng mà Vũ trụ ca cũng rất thành công. Như bài Xuân hành nổi tiếng. Anh Hoài Thanh hết lời ca ngợi cái bài này. Chế Lan Viên cũng ca ngợi... Nguyễn Đình Thi thấy bài Xuân hành ra đời, mừng quá, coi đấy là một bước tiến mới của Huy Cận và đã có một sức mạnh gì đó mới ở trong thơ. Sau này thì có hàng loạt bài các anh biết rồi đấy. Thơ của tôi, cả ở hai giai đoạn đều phát triển ở độ cao. Giai đoạn trước Cách mạng cũng cao và giai đoạn sau Cách mạng cũng cao. Bây giờ, người ta vẫn hay nhắc đến bài Các vị La Hán chùa Tây Phương. Trong thơ Chế Lan Viên có một cái đoạn thơ ông ấy nhắc đến ý cái câu đấy: “Một câu hỏi lớn không lới đáp/ Cho đến bây giở mặt vẫn chau”.

Phóng viên: Một nhà thơ mà yêu tất cả các tác phẩm, các giai đoạn của mình, kể cũng lạ...

Huy Cận: Và sau này còn nhiều bài nữa chứ, bài Trò chuyện với Kim Tự tháp... Bao nhiêu người đi xem Kim Tự tháp rồi, cả thế giới có bao nhiêu người viết về Kim Tự tháp? Đặt vấn đề về Kim Tự tháp? (Cười). Hay là cái bài Gà gáy trên cánh đồng Ba Vì được mùa có 4 câu:

“Núi Tản như con gà cổ đại

Khổng lồ mào đó thắp bình minh

Mênh mông đứng gáy cho mùa chín

Từ buổi Sơn Tinh thắng Thuý Tinh”.

Phóng viên: Bây giờ ông còn viết thơ tình?

Huy Cận: Không bao giờ hết tình đâu...

Phóng viên: ông có một chút buồn nào không khi không một đứa con nào cua mình theo nghiệp thơ?

Huy Cận: Không, tôi không buồn. Bởi tôi làm thơ là khiếu trời sinh... Khóc thể khóc theo Cách mạng

Huy Cận: Hôm nay, ông phó mộc ngồi nói chuyện với các ông! Ông Nguyễn Xuân Thiều từng nói với ông Vũ Quần Phương thế này: ông Huy Cận trông giống một ông phó mộc, nhưng lại tinh tế... Bây giờ sức làm thơ của tôi vẫn tốt, mỗi ngày ba bài.

Phóng viên: Và “bài hay xen lẫn với bài vừa”?

Huy Cận (cười): Tôi nói với các ông, ông Trường Chinh với tôi có nhiều ái duyên lắm. Về văn chương, lúc tôi hứa đi theo Cách mạng, năm 1940, thế mà ông Trường Chinh đọc thơ tôi, ông có nói với ông Lê Quang Đạo: “Cái thằng cha này chắc chắn phải đi theo Cách mạng”. Ông ấy đọc và cảm thấy trong thơ tôi một tâm hồn đầy chất dân tộc. Ông Trường Chinh rất mê bài Tràng giang và bảo, sao mà trong bài thơ ấy, đất nước đẹp thế, sao mà tiếng Việt Nam tuyệt diệu đến thế! Khi tập Lửa thiêng ra đời, ông Trường Chinh nhờ ông Lê Quang Đạo mua ngay một quyển... Tình quê hương với ai cũng quan trọng!

Đổ khuôn toàn thân nhà thơ Huy Cận

27-02-2005

Giam mình trong phòng lạnh, nơi bảo quản thi hài nhà thơ Huy Cận suốt một ngày trời, làm việc cật lực trong mùi hoá chất nồng nặc, ''căn'' thời gian đến từng phút, 6 người trong nhóm Đinh Gia Lê chỉ ''hoàn hồn'' khi đổ xong tượng cố nhà thơ, chuyển thi hài trở về ngăn lạnh.

Họ bước ra thì trời bắt đầu tối, về đến nhà thì ''quy” luôn. Sáng hôm 24-2, khi mọi người chuẩn bị đưa nhà thơ Huy Cận về cõi vĩnh hằng, thì Đinh Gia Lê, giọng khàn đi vì cái lạnh bị nhiễm hôm trước, thong thả kể lại công việc thiêng liêng vừa mới hoàn thành, để cho vóc dáng nhà thơ lưu lại mãi mãi...

5 giờ sáng, Đinh Gia Lê và kíp thợ của anh đã có mặt tại nơi đặt thi hài nhà thơ Huy Cận, mang theo lỉnh kỉnh đồ nghề. Anh thú thật: Tôi rất bất ngờ và lo lắng khi nhận được lời mời. Tự đổ tượng bản thân mình thì tôi làm rồi. Tự mình “dày vò” cái thân mình thì có ảnh hưởng đến ai, có hỏng cũng không sao. Thi thoảng bạn bè cũng đổ cho nhau, nhưng là đổ cho người sống. Chứ tôi chưa từng đổ tượng cho người chết. Bảy năm học điêu khắc ở bên Đức, tôi cũng chưa thấy ai làm theo cách này. Cụ Huy Cận là danh nhân, di hài được bảo quản trong phòng lạnh, bây giờ chuyển cụ ra môi trường ngoài để đổ khuôn, nhanh cũng phải ngót một ngày trời, không biết có bảo đảm không? Huống chi khi chuyển từ phòng lạnh ra nhiệt độ bình thường, bao giờ cũng bị đổ mồ hôi, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chất chống dính, không khéo đổ khuôn xong lại không bóc khuôn ra nổi...

Từ khi nhận được lời mời, chỉ còn chưa đầy 1 ngày để chuẩn bị. Không còn thì giờ nữa, phải bắt tay vào thử nghiệm ngay. Anh đã triệu tập ê-kíp đến, phổ biến tình hình, “lột” ngay một cậu thợ ra để “đổ” thử, giả định các tình huống xấu nhất để bảo đảm rằng chất chống dính sẽ phát huy tác dụng. Thông thường, anh sử dụng chất chống dính là kem và bột đất sét mịn. Bột đất sét rất tốt, nhưng cho khuôn hình kém sắc nét. Mà yêu cầu của gia đình là phải đổ tượng chi tiết đến từng vân tay, từng nếp nhăn nhỏ nhất trên mặt cụ. Anh cũng rất lo lắng đến vấn đề tâm linh, làm sao để khi khuôn dỡ ra, không bị đứt theo các lông chân lông tay, vì chỉ làm suy chuyển đến một mảy may thân thể cụ anh cũng thấy là mình có tội... Suy đi nghĩ lại, anh thấy mấu chốt là phải “pha chế” được chất chống dính với liều lượng thích hợp nhất!

Tôi hỏi anh là tại sao không đổ khuôn bằng thạch cao như anh cũng đã làm, nhanh hơn và thông dụng hơn silicon. Anh cho biết, cũng đã cân nhắc đến chất liệu này. “Khi tự đổ khuôn mình bằng thạch cao, tôi nhận thấy nó rất nóng, khoảng 60 độ. Nhiệt độ đó tôi có thể chịu được, nhưng không ổn khi bọc quanh di hài vừa lấy ra từ phòng lạnh. Tôi lại sợ nữa là lúc dỡ khuôn. Thạch cao khi khô rất cứng, không có độ co giãn, khi tôi tự đổ nửa trên của mình, tôi phải hóp má, thu người lại mới dỡ được khuôn ra, nếu vướng có thể làm rách da....

Sáu người lặng lẽ bước vào phòng lạnh. Thi hài từ ngăn lạnh được chuyển sang một cái bàn inox, anh hiểu rằng thời gian làm việc lúc này phải được căn đến từng phút. Silicon được lấy ra, pha chế chung cùng chất đông cứng với hàm lượng tối đa. Bởi anh biết rằng để đổ khuôn tượng 100% như yêu cầu của gia đình, anh phải làm 4 lớp silicon mỗi khuôn. Phải đổ 2 nửa khuôn (mặt trước và mặt sau người) thì tổng cộng là 8 lớp, cùng 1 lớp thạch cao bọc cứng ở ngoài nữa. Nếu cứ với tốc độ đông cứng thông thường (vài giờ một lớp) thì không biết mấy ngày mới xong. Phải tăng nhanh độ đông cứng, nhưng nếu pha quá nhiều chất đông cứng thì khuôn giòn, dễ vỡ. Anh tăng đến khi đạt khoảng 30 phút cho một lần đông cứng thì dừng lại.

“Be” khuôn chia đôi người xong, 5 người chia ra phụ trách từng phần cơ thể để làm khuôn nửa trước. Trời lạnh nhưng vã hết mồ hôi ra vì rất nhiều thao tác phải dùng sức. Đúng như anh dự tính, silicon ăn vào từng khe nhỏ, từng kẽ vân tay, bảo đảm khuôn ra y như thật. Để cho chắc chắn, hết một lớp silicon, anh lại cho trải một lớp vải lên nhằm tăng độ dai... Thời gian tính từng 5 phút một. Buổi trưa mỗi người chỉ kịp tu một hộp sữa Vinamilk. Nửa khuôn trước làm xong, thì lật lên làm nốt nửa khuôn sau. Và anh chỉ thở phào nhẹ nhõm khi 2 mặt khuôn dỡ ra an toàn và từ lúc bấy giờ mới dám... trả lời điện thoại bạn bè! Nhìn lại, 50 kg silicon hết veo.

Đinh Gia Lê nói rằng, có may mắn là trong quãng thời gian học bên Đức, anh đã được đổ phóng tay tất cả các loại nguyên liệu, trong đó có silicon vì được bao cấp toàn bộ. Cả một thùng silicon 25 kg, pha ra rót từ đầu đến chân mẫu tượng theo ý thích của mình. Một thùng như thế có biết bao nhiêu tiền không - anh hỏi tôi? Rẻ nhất bây giờ là silicon Đài Loan 200.000 đồng/kg, đắt là loại của Pháp 360.000 đồng/kg. Cho nên không phải ai cũng “thạo” về silicon.

Khuôn silicon tượng toàn thân cố nhà thơ Huy Cận có thể nói là khuôn người thật đầu tiên ở Việåt Nam được làm sau khi vừa mất. Theo anh, từ khuôn này có thể đổ ra các tượng chân dung nhà thơ để đem trưng bày, bảo đảm 100% so với nguyên mẫu. Nếu đổ bằng chất liệu sáp thì hoàn toàn như người thật. Tôi tưởng tượng ra cảnh từ chiếc khuôn thiêng liêng kia, mai đây tác giả Lửa thiêng sẽ lại run rẩy bước ra cuộc đời. Vóc dáng ấy, thân xác ấy sẽ là bất tử!

Theo Đinh Gia Lê, đổ khuôn sllicon hoàn toàn có thể sẽ trở thành một giải pháp để làm tượng chân dung (trưng bày) hoặc lưu giữ hình tượng của người thân vì mục đích kỷ niệm. Có thể làm trên người lúc sống hoặc sau khi chết. Nếu làm lúc sống thì người mẫu phải có một sức khỏe nhất định mới chịu được lớp khuôn khá nặng, bó chặt người trong vòng vài tiếng (có trích lỗ trước mũi để thở)... Tất nhiên, nói thế không có nghĩa là anh nghĩ đến chuyện hành nghề này...

Doãn Phương

Bình Luận 3

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

June 15, 2005

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Mãi đến bây giờ, nhiều người bạn tôi vẫn còn thắc về sự có mặt của Huy Cận trong phái đoàn 3 người của Chính phủ Cách mạng Lâm thời đến Huế nhận ấn kiếm của vua Bảo Đại thoái vị. Hai người kia, Nguyễn Lương Bằng và Trần Huy Liệu là những cán bộ Cộng sản từng bị thực dân Pháp bắt, bị tù, nhiều người biết. Sự có mặt của họ chẳng có gì phải suy nghĩ. Huy Cận thì khác. Ít người cho rằng trước Cách Mạng Tháng Tám, ông là cán bộ Cộng sản.

Hồi ức về buổi lễ thoái vị của vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, Huy Cận viết như sau:

“Đời tôi đúng là có duyên nợ với Huế. Năm 1927, tôi rời Hà Tĩnh vào Huế học và sống ở đây đến tận năm 1939, tức là suốt thời học sinh mơ mộng, bắt đầu làm thơ và thành danh cũng ở đây. Tôi coi Huế như quê hương thứ hai của mình. Khi rời Huế vào năm 1939, thực sự tôi không thể ngờ là sáu năm sau, tức là vào những ngày tháng Tám năm 1945, tôi lại được trở lại Huế với cương vị thành viên của phái đoàn Chính phủ lâm thời để tiếp nhận thoái vị của vị vua cuối cùng của triều đại cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Phái đoàn do ông Trần Huy Liệu, Phó Chủ tịch Chính phủ kiêm Bộ trưởng Tuyên truyền làm trưởng đoàn, cùng với hai thành viên là ông Nguyễn Lương Bằng và tôi. Lên đường từ Hà nội sáng 27 tháng 8, chúng tôi dự tính chiều 28 sẽ đến nơi, nhưng kế hoạch đã bị đảo lộn vì suốt dọc đường, nhất là từ Thanh Hoá trở vào, nhân dân hai bên đường tập trung chào đón đoàn quá đông, trung bình cứ khoảng 10 cây số lại gần như có một cuộc mít-tinh nho nhỏ. Nhiều bà con từ xa cơm đùm gạo bới tìm đến, có người đang làm lụng trên đồng, cứ để nguyên quần áo lấm láp mà chạy tới. Có cụ già cứ đòi nhìn vào tận xe để “coi mặt Chính phủ lâm thời một chút mô…” mỗi lần như thế chúng tôi đều dừng xe và anh Trần Huy Liệu lại đứng trên mui xe để trò chuyện với bà con. Buổi chiều đến phà Ròn trời mưa tầm tã, rất đông bà con vẫn đội mưa chờ chúng tôi. Cảm động quá, anh Trần Huy Liệu đứng lên nói như van xin “Xin đồng bào về đi, kẻo mưa to quá, ướt hết rồi…” Tiếng râm ran đáp lại: “Chúng tôi đã chờ dưới mưa từ trưa tới chừ rồi…” Thế là phải dừng, ghé vào khu nhà Đoan trò chuyện chừng 10 phút. Bà con rất cảm động, nhiều người khóc. Nước mắt hoà lẫn với nước mưa. Tối 28 nghỉ lại Quảng Trị. 9h sáng hôm sau tới Mỹ Chánh, không có phà, bà con địa phương phải kết đò lại thành cầu phao cho xe qua. Sang tới bên kia sông đã thấy anh Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên Huế, ra đón. Anh em ôm chầm lấy nhau. Tôi và anh Tố Hữu biết nhau từ thời Quốc học, anh ấy học sau tôi hai năm và đã bắt đầu làm thơ và hoạt động cách mạng từ trên ghế nhà trường. Lúc nầy thì Tố Hữu như cờ gặp gió, anh sung sướng quá thét to lên với đồng bào của mình: “Đồng bào ơi! Đây là Chính phủ của ta, thật sự của ta đấy…” Mọi người hoan hô rầm rĩ. Và xe của chúng tôi đã đi trong tiếng hoan hô chào đón như thế cho đến gần trưa thi tới sân vận động Chợ Cống, Huế. Đồng bào Huế đã chờ chúng tôi ở đây từ sáng, có người chờ cả ngày hôm trước. Khoảng 40 ngàn người. Khi đoàn ra mắt, tiếng vỗ tay vang lên như sấm. Một đoàn thiếu nữ Huế áo dào tha thướt lên tặng hoa, và trong số đó tôi còn kịp nhận ra cô Phùng Thị Duy Cúc, sau nầy chính là nhà điêu khắc nổi danh Điềm Phùng Thị và là một người bạn thân thiết của tôi.

Trưa hôm đó, ông Phạm Khắc Hòe, đổng lý văn phòng của triều đình chuyển lời vua Bảo Đại mời chúng tôi vào tiếp kiến. Đoàn xe cắm cờ đỏ sao vàng của chúng tôi ngắm cổng chính Ngọ Môn tiến vào. Xưa nay, chỉ có nhà vua, các quan toàn quyền và khâm sứ Pháp mới đi cổng chính nầy, còn tất cả quan lại khác của triều đình đều đi cửa ngách. Trên lầu Kiến Trung, Bảo Đại bận áo xanh, đi giày cườm đã chờ sẵn để đón đoàn. Trước khi gặp Bảo Đạo, anh Trần Huy Liệu và chúng tôi có cuộc hội ý chớp nhoáng xem nên xưng hô như thế nào. Gọi là “Ngài ngự” hay “Hoàng thượng” đã đành không được, nhưng gọi “ông” thi mới quá. Cuối cùng chúng tôi quyết định gọi “Ngài”. Và buổi tiếp đã diễn ra khá thoải mái. Bảo Đại bày tỏ sung sướng được tiếp phái đoàn đại diện của Chính phủ lâm thời và trưởng đoàn Trần Huy Liệu cũng bày tỏ vui mừng vì nhà vua đã chấp nhận thoái vị. Vẻ mặt bùi ngùi, Bảo Đại nói giọng ân hận: “Thưa phái đoàn, thực ra trong hai mươi năm làm vua, tôi cũng chỉ ngậm đắng nuốt cay, vì có nhiều việc muốn làm cho dân cho nước mà người ta không cho làm…” Sau đó, ông ta đề nghị với đoàn ba nguyện vọng: Một là, xin Chính phủ cách mạng xem mọi người trong Hoàng gia như những công dân bình thường khác (ý nói không phân biệt đối xử); hai là, cũng xin Chính phủ xem các quan lại trong triều như mọi đồng bào khác và được tham gia vào những công việc cứu nước tuỳ khả năng và hoàn cảnh của từng người; và cuối cùng là, xin Chính phủ cách mạng đối xử với lăng tẩm, đền miếu của nhà Nguyễn cho có sự thể.

Lễ thoái vị chính thức được tổ chức vào chiều 30 tháng 8, với sự có mặt của năm, sáu vạn người dân Huế đứng tràn ngập trước Ngọ Môn. Nhà vua bận triều phục đại lễ, áo hoàng bào khăn vàng, đi giày cườm vàng. Theo nguyện vọng của nhà vua, lá cờ vàng của triều đình được kéo lên một lần cuối cùng, sau khi nhà vua đọc xong tuyên bố thoái vị thì kéo xuống để kéo lá cờ đỏ sao vàng của cách mạng lên đỉnh Ngọ Môn.

Sau khi Bảo Đại đọc xong lời tuyên bố thoái vị, tới nghi thức trao ấn kiếm. Chiếc kim ấn truyền quốc làm bằng vàng ròng nặng dễ đến ngót 10kilogram, anh Trần Huy Liệu vốn sức yếu, phải gồng lên mới cầm nổi, còn tôi dĩ nhiên với cái tuổi 26, thì mười cân cũng nhẹ nhàng thôi. Thú vị nhất là khi cầm cây kiếm, thấy vỏ ngoài dát vàng nạm ngọc rất đẹp, tôi thuận tay rút kiếm ra xem, ai dè bên trong lưỡi kiếm đã bị rỉ, tôi hồn nhiên nói ngay vào micrô: “Thưa đồng bào! Kiếm nhà vua bị rỉ hết rồi”. Mọi người cười ồ. Bảo Đại cũng cười. Ông ta nói: “Thưa phái đoàn, từ nay tôi là một người dân bình thường của nước độc lập, xin phái đoàn cho tôi một vật gì để kỷ niệm cái ngày này”. Ý kiến bất ngờ. Chúng tôi hội ý và tôi nhanh tay rút chiếc huy hiệu cờ đỏ sao vàng mà Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa thiên Huế, tặng các thành viên của phái đoàn cài lên ngực Bảo Đại, đoạn nói to: “Xin đồng bào hoan nghênh công dân Vĩnh Thuỵ”. Nhiều tiếng vỗ tay vang lên. Bảo Đại thực sự cảm động và lặng lẽ rút lui. Triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam đã ra đi trong cảnh chợ chiều, tôi nhìn quanh chỉ thấy hoàng thân Vĩnh Cẩn và một vài quan lại thưa thớt. Trong khi đó, dưới kia, cuộc mít tinh đã trở thành một cuộc biểu đương lực lượng khổng lồ của quần chúng cách mạng Huế. Ấn tượng thật hùng vĩ. Tôi đã sống với Huế những năm của tuổi trẻ. Trước đây, tôi chỉ biết Huế tình tứ dịu dàng, Huế hiền hoà và thơ mộng, nhưng nay tôi biết thêm một Huế cách mạng, một Huế khi cần đã vùng dậy như những ngọn sóng trào…”

Năm 1945, khi từ chiến khu về Hà Nội thành lập Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh biết sức của ông cũng như đảng ông còn yếu, nên tranh thủ lòng yêu nước của tầng lớp trí thức, tiểu tư sản thành thị, trung nông, phú nông, và cả quan lại của triều đình Huế. Những người có uy tín, được dân chúng yêu mến và ngưỡng mộ đều được mời tham gia giữ những chức vụ không quan trọng lắm trong Chính phủ, và cả những thành phần các đảng phái quốc gia khác, nếu ông bị áp lực. Vua Bảo Đại trở thành Cố Vấn Vĩnh Thuỵ, cụ Bùi Bằng Đoàn, nguyên Thượng thư Bộ Hình trong triều chính đời Bảo Đại hay Nguyễn Tường Tam làm Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao, Phan Anh, Hoàng Xuân Hãn, v.v… đều ở trong chiến lược của họ Hồ. Chờ tới khi đảng Cộng sản vững mạnh, Hồ Chí Minh sẽ thay đổi, loại trừ hoặc cho “ngồi chơi xơi nước”.

Huy Cận cũng không nằm trong trường hợp ngoại lệ.

Ông được người Huế yêu mến vì tài nghệ của ông. Chính ông nổi tiếng ở đó như ông đã xác nhận “suốt thời học sinh mơ mộng, bắt đầu làm thơ và thành danh cũng ở đây”. (Bài đã dẫn)

Nhà thơ Huy Phương, trong bài “Nghe ta buồn buồn” viết nhân dịp nghe tin Huy Cận qua đời, ghi lại tình cảm của những người Huế với thơ Huy Cận và những nhà thơ tiền chiến như sau:

“Cái tên Huy Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Tế Hanh… nói đến như soi rọi lại một quãng đời niên thiếu như vùng vẫy, lặn hụp trong dòng sông dịu mát của những vần thơ của các thi sĩ, gọi là tiền chiến, được trịnh trọng chép tay trên những tờ giấy mỏng manh đóng thành tập hay chuyền tay nhau trong lớp học. Nỗi buồn trong thơ Huy Cận cũng là nỗi buồn của những chàng trai mới lớn, bâng quơ, nhen nhúm chút tình…”

Nhận xét của Huy Phương nói ở trên không phải chỉ có trong lớp thanh thiếu niên thời hậu chiến, mà ngay cả một hời gian dài trước những biến cố trọng đại năm 1945, một tầng lớp thanh thiếu niên Huế, chìm đắm trong mơ mộng, yêu đương, say mê thơ ca lãng mạn, cũng đã dành cho Huy Cận một chỗ đứng vững chắc trong lòng họ rồi.

Ghi lại đây nhận xét của Huy Phương về Huy Cận đối với Huế, như thế là quá đủ để khỏi trích dẫn những nhận xét của Hoài Thanh trong “Thi Nhân Việt Nam” bởi vì những nhận xét của Hoài Thanh mang nét chung nhiều hơn là nhận xét của Huy Phương nói về Huy Cận đối với Huế.

Hồ Chí Minh là người mưu lược chính trị, vậy thì trong những người đến Huế nhận ấn kiếm vua Bảo Đại thoái vị, ngoài Nguyễn Lương Bằng và Trần Huy Liệu mang nặng tính đảng, phải có một nhân vật khác, môt nhân vật thứ ba từng được cảm tình của người dân Huế mà không phải là thành phần có mầm mống chống đảng, người ấy không ai khác hơn Huy Cận. Điều nầy giải thích được những thắc mắc của những người bạn tôi mà tôi nói ngay ở đầu bài, một thắc mắc đã mấy chục năm chưa có dịp để được nói ra.

Nếu phê bình một cách rốt ráo trên lập trường “Cách mạng triệt để”, những người Cộng sản không thể chấp nhận Huy Cận đứng trong hàng ngũ văn nghệ của họ. Thứ nhất, ông thuộc tầng lớp thường được gọi là “Những nhà thơ lãng mạn tiền chiến”, những nhà thơ bị Cộng sản Việt Nam đánh giá thuộc giai cấp tiểu tư sản thành thị, phục vụ cho giai cấp tiểu tư sản dư ăn dư mặc mang nhiều tính giai cấp xấu bị Cộng sản đánh phá dữ dội. Giai cấp nầy cùng giai cấp trung nông và phú nông, dù “có công với cách mạng” vẫn bị phê bình, loại trừ hoặc đấu tố để triệt tiêu.

Không riêng gì đối với Huy Cận, một người từng gắn bó và yêu thương với Huế, cứ mỗi lần đọc những bài văn bài thơ của những nhà văn Cộng sản, hay nghe một bài hát của họ nói về cái dũng khí cách mạng của người dân Huế, tôi khó tránh không nghĩ tới năm ngàn người bị chôn sống hồi Tết Mậu Thân. Tôi tin Huy Cận yêu Huế thật, nhưng ngay trong hồi ký nói trên của ông, không thể không có những khoa trương, theo kiểu Cộng sản để tuyên truyền vì mục đích của người Cộng sản, bao giờ cũng chỉ là tuyên truyền, theo cách “dạy” của Trường Chinh trong đại hội văn hoá thứ nhất của Cộng sản năm 1947 ở chiến khu Việt Bắc, trong bài gọi là “Luận Cương (“nổi tiếng”) Về Văn Hoá và Chính Trị” của lý thuyết gia Cộng sản nầy.

Huy Cận viết: “Đời tôi đúng là có duyên nợ với Huế…” Vậy thì Huy Cận có “duyên nợ” gì với năm ngàn người bị chôn sống ở Huế Tết năm đó. Ông muốn quên họ đi, ông muốn lờ họ đi. Hay cũng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông cũng cho rằng họ là “Những con rắn độc”. Ông không có “duyên nợ” gì với những con rắn độc đó hết.

“Trong khi đó, dưới kia, cuộc mít tinh đã trở thành một cuộc biểu đương lực lượng khổng lồ của quần chúng cách mạng Huế. Ấn tượng thật hùng vĩ”. (Bđd)

Ai trong số “lực lượng khổng lồ của quần chúng cách mạng” đó, đã gây “Ấn tượng thật hùng vĩ” cho Huy Cận thì đã bị chôn sống hồi Mậu Thân?

Cách viết như Huy Cận là cố ý nhằm xoá tan mọi tội lỗi của cán bộ Cộng sản, của đảng Cộng sản về trách nhiệm tàn sát dân Huế năm đó. Một người có lương tâm không thể chấp nhận một cách viết dối trá, che lấp tội ác như thế được!

Những nhà hoạt động văn nghệ Cộng sản, khi bàn về vấn đề văn học, họ thường lúng túng giữa lập trường vô sản, duy vật biện chứng, và vay mượn dân tộc để giải thích lý thuyết cực đoan, nên ý tưởng họ có rất nhiều mâu thuẫn làm cho người đọc cảm thấy khó chịu. Chẳng hạn như những câu trả lời trong bài phỏng vấn Huy Cận sau đây, ta thấy rõ ràng ông bị vướng mắc những cái đối chọi nhau khá kịch liệt, và ông đã cố gắng giải thích một cách gượng gạo, khó làm người đọc đồng ý. Một mặt, ông vẫn đề cao vai trò thơ Mới, qua đó, ông đã “thành danh” như ông ta tự nhận, nhưng bên cạnh đó, ông phủ nhận thơ Mới chịu ảnh hưởng thi ca lãng mạn Pháp, đã kích chủ nghĩa tư bản Tây phương, và cố gắng đưa thơ Mới về với dân tộc, để chứng minh thơ Mới là của dân tộc, trong khi những nhà văn đồng thời với ông trong thời kỳ tiền chiến, như Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, buộc lòng lên tiếng phủ nhận công trình của mình để “chạy tội” với Cọng Sản.

Xin trích:

Nhà thơ Huy Cận:

Người ta đã bàn nhiều về nguồn gốc, giá trị của thơ Mới. Đó là cuộc cách mạng lớn của thơ ca Việt Nam ở thế kỷ 20, sự ảnh hưởng của nó còn phát sang đầu thế kỷ 21. Về nguồn gốc thơ Mới, ai đó cho rằng nó chủ yếu ảnh hưởng của thơ Pháp là sai, là xuyên tạc. Thơ Mới trước hết nhận ảnh hưởng trực tiếp thơ ca dân tộc, thấm đẫm văn hoá Việt Nam, sau đó là văn hoá Á Đông: Trung Quốc, Ấn Độ, và sau nữa mới đến ảnh hưởng thơ Pháp, Anh, Đức với những tác giả như Shakespeare, Gớt, Ranh-bô, Véc-len, Bô-Đờ-Le…

NT Trần Anh Thái:

Như vậy theo nhà thơ, trước khi xảy ra cuộc cách mạng, Thơ Mới đã có sự manh nha?

NT Huy Cận:

Đúng như vậy. Sự ra đời chữ “Tôi” ở Việt Nam vốn tiềm tàng từ những năm ba mươi của thế kỷ 20. Chính cái tôi ấy là động lực thúc đẩy cái tôi trong thơ ca phát triển. Có một điều người ta phân biệt chữ tôi Việt Nam khác với Chủ Nghĩa Cá Nhân Tây Phương thời Phục Hưng. Cá nhân thời Phục Hưng ra đời đồng thời với Chủ Nghĩa Tư Bản. Nó ăn khớp máu thịt với chủ nghĩa tư bản. Khái niệm cá nhân ở nước ta ra đời sau, nó bắt nguồn từ tinh thần dân tộc được hâm nóng lại bằng cuộc hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc. Và cuộc khởi nghĩa Yên Báy. Trong bối cảnh tinh thần được hâm nóng, mỗi người đều gắn bó máu thịt với dân tộc, nó làm thức dậy tinh thần văn hoá dân tộc, thúc đẩy ý thức về nền quốc học Việt Nam. Đến đây có thể thấy “cái tôi” của Việt Nam không phải là cá nhân đơn lẻ mà là cái tôi - Việt Nam; Cá nhân - Dân Tộc.

Đọc câu: “Sự ảnh hưởng của nó còn phát sang sang đầu thế kỷ 21”. Người ta sẽ tự hỏi, có phải thơ bây giờ (đầu thế kỷ 21) là tiếp nối trào lưu thơ Mới thời tiền chiến đó chăng? Không, nó không phải “tiếp nối” mà “sống lại” trong kiểu cách thơ Mới thời tiền chiến.

Thật ra, thơ Mới đã chuyển mình trong thời kỳ cách mạng tháng Tám, trong cuộc chiến đấu chống Thực Dân Pháp tái xâm lăng Việt Nam. Cuộc Cách Mạng Tháng Tám đã làm cho thơ Mới chuyển mình từ những bài thơ lãng mạn, yêu con người, yêu trăng, yêu gió, yêu thiên nhiên một cách vu vơ, trở thành tình yêu nước mạnh mẽ, biến những lời thơ uỷ mị nhẹ nhàng thành những bài thơ hừng hực lửa, cứng như thép để đủ sức đối kháng với vũ khí hiện đại của quân viễn chinh. Nhưng chỉ kéo dài chừng đó. Khi thơ Mới bị buộc vào những khuôn phép của cuộc “cách mạng đỏ” thì nó biến thành những bài vè, những bài tuyên truyền không thể gọi nó là thơ được, nhất là sau thời kỳ “Nhân Văn - Giai Phẩm” năm 1956, 57.

Thơ Mới chết từ đó. Chính Phùng Quán đã nói lên điều đó:

Hễ đi với nhân dân

Thì thơ không thể khác

Dân máu lệ khôn cùng

Thơ chết áo đắp mặt.

Giống như cái chết của Đỗ Phủ, thơ đã chết rồi, chết trong cảnh khốn cùng, phải lấy áo đắp mặt thay vì một chiếc khăn liệm. Làm gì thơ Mới còn tiếp nối đến ngày hôm nay, những năm đầu thế kỷ 21.

Cho dù đất nước thống nhất năm 1975, thơ Mới vẫn chưa đọi mồ đứng dậy. Mãi tới thời kỳ đổi mới, mặc dù “cỡi trói văn nghệ” chỉ là lời nói suông, thơ Mới đã sống lại cùng với dân tộc, vì mầm sống của nó chưa bị triệt tiêu hoàn toàn, (Không ai có thể triệt tiêu hoàn toàn được thơ!), vì đảng Cộng sản Việt Nam không xây dựng được “thiên đường Cộng sản” trên đất nước Việt Nam. Huy Cận không đủ can đảm để nói lên điều đó, mặc dù có lúc ông đã từng là thứ trưởng Bộ Văn Hoá.

Huy Cận cũng không thể phủ nhận sự phát triển của văn hoá Việt Nam vào những năm ba mươi. (“vốn tiềm tàng từ những năm ba mươi của thế kỷ 20.”) Ngay từ đầu thế kỷ 20, chữ quốc ngữ đã đi tới, chữ Nho thì thụt lùi. Tiến trình nầy có hai lý do chính yếu: Một là chế độ thực dân Pháp dính liền với chữ quốc ngữ trong việc cai trị, phổ biến các văn thư, tin tức báo chí. Thứ hai là sự thụ lùi của chữ Nho cùng với sự co cụm của triều đình Huế càng ngày càng bị tước đoạt dần dần quyền lực. Qua tình hình đó, càng ngày vai trò của chữ Nho càng yếu đi. Đến năm 1916, đời Duy Tân là khoa thi chữ Nho cuối cùng được tổ chức theo lệ xưa ở tại Huế.

Với chính sách cai trị thuộc địa, người Pháp cần người biết chữ Pháp và chữ quốc ngữ hơn là chữ Nho, để cộng tác với họ trong việc cai trị. Bên cạnh đó, chiến tranh Nga-Nhật năm 1904 và sự canh tân nước Nhật của Minh Trị Thiên Hoàng đã mở ra một tầm nhìn mới đối với thế giới bên ngoài cho giới sĩ phu thời đó. Nó khơi nguồn cho Phong Trào Đông Du, Phong Trào Duy Tân cũng như mở rộng con đường tân học cho người Việt, qua đó, chữ quốc ngữ càng ngày càng có một vai trò quan trọng hơn.

Tuy vậy, sau một thời dọ dẫm ở hai thập niên đầu của thế kỷ 20, chữ quốc ngữ phát triển khá mạnh và nhanh trong khoảng thời gian chỉ có 15 năm, từ 1930 đến 1945. Cũng trong khoảng thời gian nầy, vai trò của giáo dục, thi cử và sách báo, thông tin đóng một vai trò quan trọng. Trong lĩnh vực văn chương và báo chí, Tự Lực Văn Đoàn của Nhất Linh đã xuất sắc hoàn thành công tác của mình.

Chính vì những người làm báo, viết văn thời kỳ ấy phần đông thuộc giới tiểu tư sản thành thị, chính vì sự thành công của Tự Lực Văn Đoàn mà đứng đầu là Nhất Linh, một lãnh tụ đảng phái quốc gia, một người chống Cộng, một nhân vật cách mạng mà Cộng sản thù ghét, từng bôi lọ ông, bằng những lời tuyên truyền, những vỡ kịch (“Nguyễn Tường Tam ăn cắp hai triệu” - kịch) nên Huy Cận chỉ nói một cách chung chung, mơ hồ. Ông không thể phủ nhận thời kỳ phát triển của văn chương quốc ngữ thập niên 30 vì ông đã “thành danh” trong đó, nhưng ông cũng không thể ca ngợi nó rõ hơn vì sợ “phạm trường qui”. Chỉ chừng đó, khó đánh giá Huy Cận là người can đảm, mặc dù ông phát biểu những lời nói trên trong thời kỳ được gọi là “Cỡi trói văn nghệ” rồi.

Lý luận về sự xuất hiện và phát triển của thơ Mới, ông có những lập luận loanh quanh, cứng nhắc theo đường lối chủ trương của đảng.

Người ta nói thơ Mới là để phân biệt với thơ Cũ.

Sự phân biệt thơ Mới thơ Cũ chủ yếu đặt căn bản trên hình thức hơn là nội dung. Ví dụ, các nhà phê bình văn học thường cho bài thơ “Tình Già” là bài thơ Mới đầu tiên, là bài thơ tiên phong trong phong trào thơ Mới. Sau đó, nhiều nhà thơ khác như Lưu Trong Lư, Hàn Mặc Tử, v.v… nối gót theo Phan Khôi. Bài thơ “Tình Già” có hình thức mới mẻ, không giữ âm vận nghiêm nhặt, không theo mẫu mực “đề, thực, luận, kết” và phép đối như trong thơ Đường mà Lư Trọng Lư có lần mai mỉa rằng “Hễ con mèo đi ra thì con chó đi vô”. Hình thức không cần thiết, câu thơ không bị lệ thuộc như thơ thất ngôn, ngũ ngôn, miễn sao dễ dàng diễn tả tình cảm rong tâm hồn người thơ mà thôi.

Thực ra, câu dài câu ngắn không đều nhau vẫn là một hình thức thơ cũ đã có mà người xưa thường gọi là “Trường đoản cú” như trong “Chinh Phụ Ngâm” bản chữ Hán của Đặng Trần Côn.

Nếu bàn về chữ tôi (hay cái ta) trong thơ Cũ, Huy Cận tách bạch cũng không phân minh, còn phiến diện, méo mó, v.v… Ví dụ “Chiếc thuyền lơ lững bên sông, biết đem tâm sự ngõ cùng ai hay…” thì đó cũng là nói về cái ta của Nguyễn Trãi vậy, đâu phải cái Tôi - Việt Nam, Cá nhân - Dân tộc, như Huy Cận nói. Hay “Một mảnh tình riêng ta với ta” thì cũng chẳng phải cái Tôi - Việt Nam, Cá nhân - Dân tộc, mà chính là của cả một tầng lớp sĩ phu Bắc Hà “Hàng thần lơ láo” khi ra phục vụ triều đại nhà Nguyễn. Nói cái Tôi - Việt Nam, Cá nhân - Dân tộc chỉ là một cách nói gượng ép, mượn dân tộc để nguỵ trang cá nhân.

Vẫn biết người Tây phương theo chủ nghĩa cá nhân, từ đó họ đòi hỏi nhiều quyền lợi cho con người, quyền lợi tinh thần hơn là quyền lợi vật chất. Đó là những quyền lợi tinh thần thuộc về các tự do căn bản là những điều rất “kỵ” với chủ nghĩa Cộng sản. Nhưng các dân tộc Á Đông, và cả dưới chế độ Cộng sản không ít người còn “cá nhân” hơn cả những người theo chủ nghĩa tư bản Tây Phương. Họ ích kỷ, tham lam, ngại hy sinh cho đất nước, dân tộc, bảo vệ quyền lợi riêng của mình, cả quyền lợi vật chất cũng như tinh thần còn hơn cả người Tây phương rất xa. So sánh như thế để thấy rằng Huy Cận méo mó, phiến diện khoa trương rất nhiều về những cái mà người Cộng sản Việt Nam không có. “Lấy của ban ngày” không phải là một câu chuyện hữu ích nói về lòng tham lam ích kỷ của số đông người Á Đông hay sao?!

Khái niệm cá nhân ở nước ta ra đời sau, nó bắt nguồn từ tinh thần dân tộc được hâm nóng lại bằng cuộc hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc. Và cuộc khởi nghĩa Yên Báy.

Câu nói trên của Huy Cận có ý nghĩa khá mơ hồ. Những người như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh là những nhà cách mạng. Họ hy sinh cá nhân họ cho đất nước và dân tộc, họ làm thơ làm văn kêu gọi lòng yêu nước, hy sinh của mọi người cho đất nước, họ đâu có khơi dậy cái tôi trong mỗi người như Huy Cận nhận xét.

Hơn thế nữa, Hồ Chí Minh là một cán bộ lãnh đạo Cộng sản, chủ trương xây dựng chủ nghĩa tập thể, cho Quốc tế vô sản. “Đem đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, chứ không đem chủ nghĩa xã hội xây dựng đất nước”, hy sinh dân tộc cho quốc tế vô sản, tại sao lại vơ vào mà nói tới việc Hồ Chí Minh “hâm nóng” cái tôi trong thơ ca Việt Nam? Nói tới cái tôi, với cá nhân ích kỷ của Hồ Chí Minh thì điều ấy vốn có thật. Việc Nông Thị Xuân “phục vụ” “bác” mà đẻ ra Hồ Chí Trung, nhưng vẫn không được Hồ Chí Minh nhận làm vợ, lại âm mưu cho thủ tiêu, thì cách sống và hưởng thụ của ông Hồ có khác chi vua chúa bên Trung Hoa ngày xưa hay các những người giàu có bên ấy thời phong kiến. Ông Hồ còn tàn ác hơn họ khi đồng ý cho thủ tiêu thị Xuân, một người “đầu gối tay ấp” với Hồ.

Riêng về cuộc khởi nghĩa Yên Báy, các nhà sử học Cộng sản thường cho rằng đó là một cuộc nổi dậy ngông cuồng, thiếu cơ bản của những một số trí thức Bắc Kỳ, còn nặng tính tiểu tư sản, ảnh hưởng nặng nề chủ nghĩa cá nhân. Thành ra, những nhận xét của Huy Cận hoàn toàn trái ngược với quan điểm sử học của Cộng sản. Có lẽ ngày nay, có sự cỡi trói nên Huy Cận kéo cuộc khởi nghĩa Yên Báy vào đây để chứng tỏ có sự tiến bộ, sự cởi mở trong quan điểm triết học và sử học ngày nay của Cộng sản Việt Nam đó chăng?

Dĩ nhiên van học Việt Nam có nền tảng của nó, bắt ngườn từ trong đời sống dân tộc từ khi đất nước hình thành. Nhưng trên thế giới không bao giờ có một nền văn học nào thuần tuý mà không vay mượn ít nhiều tư tưởng, học thuật của những dân tộc khác qua sự tiếp xúc giữa các dân tộc đối với nhau, và có những ảnh hưởng hỗ tương hay một bên nặng, một bên nhẹ. Những phương cách sinh hoạt về văn hoá, chính trị và cả quân sự cũng như thời gian tiếp xúc giữa các dân tộc nên ảnh hưởng đó đậm lạt nhiều khi khác nhau. Trong viễn tượng đó, khi nước ta bị Tàu đô hộ, hay khi làm nô lệ cho Tây, hay qua nếp sống tôn giáo, học thuật tư tưởng của ta chịu ảnh hưởng Tàu, Ấn Độ, các nước Tây phương, đặc biệt với Pháp là điều đương nhiên, cần chi phải phủ nhận nó như Huy Cận, cũng như những người làm công tác văn hoá Cộng sản Việt Nam, cái gì của ta cũng là nhứt, không chịu ảnh hưởng của ai hết.

Lập trường văn hoá của họ như thế, mặc nhiên phủ nhận tính cách văn hoá Việt Nam rồi. Tinh thần dân tộc ta không bao giờ tự cao tự đại quá lố như kiểu Cộng sản, bởi vì:

Trong nhà nhất mẹ, nhì con

Ra đường lắm kẻ săn dòn hơn ta!

Người Pháp cai trị ta tính chung chung là một trăm năm. Họ đem cái cung cách của họ mà cai trị ta. Chỉ riêng chừng đó, ta cũng đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của họ rồi. Chữ quốc ngữ của ta không phải từ văn hoá Âu Tây mà ra đó hay sao?! Nếu chữ quốc ngữ không phải là cái hay tự khắc nó sẽ không được tồn tại và phát triển. Viết văn bằng chữ quốc ngữ, làm thơ bằng chữ quốc ngữ, lại phủ nhận ảnh hưởng văn hoá Âu Tây là một csự chủ quan khá kỳ lạ, nếu không muốn nói là ngu ngốc và cực đoan. Thêm một điều, Pháp từng là một nước có một nền văn hoá cao nhất thế giới, tư tưởng học thuật của nó phát triển sáng chói đến độ khi những tư tưởng đó phát triển chỉ trong thời gian một trăm năm, với những tư tưởng của Montesquieu, Voltaire, Rousseau, Diderot, v.v…, người ta phải đặt tên cho nó là “Thế kỷ ánh sáng”. Cái “Thế kỷ ánh sáng” không chỉ chiếu sáng nước Pháp mà thôi mà còn chiếu rọi khắp cả châu Âu, châu Mỹ. Nó là niềm hứng khởi cho cuộc Cách Mạng Mỹ và là tư tưởng chủ đạo cho bản Tuyên Ngôn Độc Lập” Hoa Kỳ, (Hồ Chí Minh “cóp” lại trong bản tuyên ngôn độc lập đợc ở Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945), cho cuộc Cách mạng tư sản Pháp năm 1789, cho các cuộc cách mạng Châu Âu năm 1848, v.v… Nó khơi dậy những tư tưởng mới của các nhà văn hoá tư tưởng Anh, Đức, Áo Nga, Nhật. Tàu, là ngọn đuốc dẫn đường cho Mác viết “Tư bản luận”, v.v…. Nói chung, những người Cộng sản muốn “quên” việc ấy đi, muốn “lờ” nó đi mà thôi. Nhưng nhìn chung, đó là một thực thể trong tiến trình phát triển tư tưởng của nhân loại.

Chánh sách cai trị của người Pháp khá thâm độc. Họ tự cho họ là có sứ mạng “khai hoá” cho các dân tộc bán khai khi đêm tàu sắt súng đồng xâm lăng thuộc địa, nhưng họ không truyền bá những tư tưởng của “Thế kỷ ánh sáng” đó sang cho dân tộc ta. Họ hỗ trợ sự truyền bá đạo Thiên Chúa vì công việc nầy có lợi cho công cuộc thực dân cai trị của họ hơn. Nggười Việt Nam được những tư tưởng của “Thế kỷ ánh sáng” chiếu rọi tới không phải bằng con đường từ Paris Saigon mà qua ngã Trung Hoa. Người Việt Nam bắt đầu làm quan với tự do, dân chủ, nhân quyền, v.v… qua những sách của người Tàu tryền bá sang ta. (Cho nên Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 quên với những danh từ Mạnh Đức Tư Cưu, Lư Thoa do người Tàu dịch từ Montesquieu, Voltair, v.v…).

Ngoài hiện tượng Xuân Diệu thú nhận một cách trung thực (“Tôi nhớ Rimbeau với Verlaine”) hoặc những tư tưởng về tự do, dân chủ, nguyên tắc phân quyền mà ngay chính hiến pháp của nước Việt Nam Cộng sản không thể không nhắc tới, người ta còn thấy ngay trong thơ Huy Cận chịu ảnh hưởng tư tưởng Âu Tây khá rõ, khá đậm.

Ví dụ như trong bài thơ Trình bày:

Trình Bày

Tôi sẽ đến trước mặt người, Thượng Đế

Để kêu than khi tôi đã lìa đời

Khi tôi chết và hồn tôi đã xế

Sang bên kia thế giới của loài người

Trước Thượng Đế hiền từ tôi sẽ đặt

Trái tim đau khô héo thuở trần gian

Tôi sẽ nói: Nầy đây là nước mắt

Ngọc đau buồn nguyên khối vẫn chưa tan

Người biết đấy lòng tôi trong trắng lắm

Người cho sao tôi giữ vậy như gương

Mặt trời đẹp sắc đời đua nở thắm

Tôi đã đành mang nặng nghiệp yêu thương

Từng bước lạnh teo, một mình thui thủi

Tin ngây thơ: hồn sẽ hiểu qua hồn

Tôi đâu biết thịt xương là sông núi

Chia biệt người ra từng xứ cô đơn

Cả linh hồn tôi đem cho trọn vẹn

Vốn nhà nghèo không quen thói bán buôn

Đến những kẻ mới vờ duyên hứa hẹn

Tôi cũng cho trọn vẹn cả linh hồn

Đầu gối rã tôi đứng chờ đã mệt

Tôi trông mong hai mắt tối đen rồi

Tôi đã khóc những đêm sầu đến chết

Thuở trần gian xin Thượng Đế thương tôi

Tuổi non dại lòng tôi say mến bạn

Khi thanh xuân tôi mãi chạy theo tình

Nhưng cô độc đã ghi thầm trên trán

Lòng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh

Lòng tôi đây trọn một đời thương nhớ

Hồn tôi đây thiên hạïbỏ đìu hiu

Người nhìn xem chân tay muôn dấu rỗ

Thủng gai đời đây tay với tình yêu

Hỡi Thượng Đế! Tôi cúi đầu trả lại

Linh hồn tôi là một kiếp đi hoang

Sầu đã chín, xin người thôi hãy hái

Nhận tôi đi, dầu địa ngục, thiên đàng

Rồi tôi khóc và đầu tôi ngã gục

Mắt tôi mờ vàtay của tôi xuôi

Không biết nữa thiên đường hay địa ngục

Quên, quên đi, đã mang trái tim người!

Nhìn vấn đề một cách tinh tế, người ta khó phủ nhận bài thơ “Trình Bày” của Huy Cận chịu ảnh hưởng tư tưởng của Nietzsche, một triết gia Đức chủ trương vô thần, chống đối những giá trị truyền thống của tư tưởng Âu Tây, đặc biệt chống lại thần học của giáo hội Thiên Chúa La-Mã. Nietzsche có hai chủ trương rất đáng lưu ý, một là ủng hộ thuyết tiến hoá (Theory of evolution), chủ trương vô thần, tuyên bố rằng “Thượng Đế đã chết” (God is dead) và thứ hai là thuyết “Siêu nhân”.

Về vô thần, tư tưởng của Nietzsche có ảnh hưởng lớn, không những chỉ Châu Âu mà còn lan rộng sang Mỹ, làm nền tảng tư tưởng cho nhiều triết gia, văn gia Pháp như Jean Paul Sarter, Albert Camus, từ cuối thế kỷ 19 cho đến cuối thế kỷ 20 và cũng là nền tảng cho chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism).

Nhìn chung, vô thần là một trào lưu tư tưởng khá phổ biến trong khoảng thời gian một thế kỷ vừa qua. Do đó, nếu Huy Cận là một người Tây Học (Ông đậu kỹ sư canh nông), nếu có chịu ảnh hưởng thuyết vô thần, hay rõ hơn, chủ trương loại bỏ Thượng Đế thì cũng không có chi lạ.

Tôi không tìm cái hay ở mỗi câu mỗi chữ trong bài Trình Bày nói trên, một bài thơ rất được nhiều người ưa thích. Bởi vì tôi không làm công việc phân tích, phê bình thơ Huy Cận. Nhìn một cách tổng quát, đây không phải là lời van xin trước Thượng Đế. Huy Cận kêu gọi Thượng Đế đó để phủ nhận Thượng Đế. Khi ông chết, ông sẻ trả lại cho Thượng Đế trái tim ông, cơ quan căn bản của con người, nơi hàm chứa sự sống và tất cả yêu thương buồn giận của con người. (Trước Thượng Đế hiền từ tôi sẽ đặt, Trái tim đau khô héo thuở trần gian). Thượng Đế đã cho ông sự sống với tất cả những lời răn dạy. Ông đã sống và đã làm tất cả những gì Thượng Đế răn dạy ông; “yêu thương” là trước nhứt. Ông yêu thương cả những người không yêu ông, ghét ông, phản bội lại ông (Các đoạn 3, 4, 5, 6, 7, 8) nhưng cuối cùng ông chẳng được gì cả, mọi người đều lạnh nhạt xa lánh (Lòng tôi đây trọn một đời thương nhớ, Hồn tôi đây thiên hạïbỏ đìu hiu). Ông tin vào Thượng Đế nhưng chẳng được gì hết. Cũng như Nietzsche, Nietzsche chỉ mong chờ thành quả ở cõi đời nầy, không phải những phần thưởng hứa hẹn ở cõi đời mai sau. Huy Cận trả lại cho Thượng Đế những gì Thượng Đế đã cho ông, dù đó là một kiếp người:

Hỡi Thượng Đế! Tôi cúi đầu trả lại

Linh hồn tôi là một kiếp đi hoang

Sầu đã chín, xin người thôi hãy hái

Nhận tôi đi, dầu địa ngục, thiên đàng.

Ngay chính bản thân ông suy nghĩ như vậy, thế mà Huy Cận phủ nhận rằng thơ Mới không chịu ảnh hưởng văn thơ Pháp mới là điều lạ?!

Dù Huy Cận có nói lắc léo như thế nào chẳng qua cũng chỉ để khỏi “phạm trường qui”. Trong Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm, Phan Khôi từng mai mỉa: “Ới cụ đồ Chiểu ơi là cụ đồ Chiểu. “Ở đây nào phải trường thi, Ra đề hạn vận một khi buộc ràng”. Ngày xưa chỉ phải “Ra đề hạn vận” ở một kỳ thi, nay thì “Ra đề hạn vận” kéo dài suốt cả một đời người.

Huy Cận có cái may, ông không có những bài thơ làm ra sau kỳ “Chỉnh Đảng” như Xuân Diệu, Lư Trọng Lư, nhưng những bài thơ ông làm sau khi “theo Cách Mạng” chẳng có bài nào ra gì. Thật vậy, nhà thơ Huy Phương đã chứng minh như sau đây:

“Có lẽ những bài thơ ca tụng “bác” của Huy Cận không nồng nàn, tận tuỵ như của Tố Hữu, nên chức vụ của Huy Cận cũng là một chức vụ không có mấy thực quyền, trong một Chính phủ có rất nhiều loại “Thứ… Mấy câu thơ của Huy Cận làm trong thời gian ở Việt Bắc (1948) sau đây thấy không có gì là thơ, mà cũng chẳng có gì là “huy cận”:

“Về đây ở với đồng bào

Người quen ngõ thuộc vui nào vui hơn”

(Quanh nơi làm việc)

hay một bài thơ khác ca tụng đất Nghệ Tĩnh:

“Đất nầy đất Xô Viết

Đảng mở hội cờ hồng

Tự tuổi vàng đá biết

Mặn nồng tình công nông”

(Gởi Người Bạn Nghệ Tĩnh)

Hay loại thơ chống Mỹ:

“Giặc Mỹ! Mày hung ác quá chừng!

Bom gieo sạt phố, đổ xiêu tường

Nhưng bao người viết thư tường ấy

Sẽ tống xô mày xuống đại dương

(Những Lá thư trên tường Hải Phòng)

Trước 1945, Huy Cận làm nhiều bài khá hay, vừa mang cái tính lãng mạn sầu muộn vu vơ, “sầu đến chết” của thi ca tiền chiến, vừa mang tính cổ thi, những hình tượng và đường nét xưa cũ, mênh mông như vũ trụ, bàng bạc trầm tư về thân phận người như Trần Tử Ngang (°). Đó là những bài thơ thật hay. Đặc biệt trong bài Tràng Giang có mấy câu:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngã

Củi một càng khô lạc mấy giòng

Bèo giạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Khôngcầu nối lại niềm thông cảm

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Cầu là phương tiện nối liền hai bên bờ sông, cho người qua lại, thăm hỏi chuyện trò và… thông cảm nhau. Không cầu, khi cầu đã gãy thì Trầm Tử Thiêng phải viết “Chuyện một câu cầu đã gãy” để thương tiếc là điều đương nhiên.

Trước Trầm Tử Thiêng không lâu, Nhất Linh có kể lại khi ông viết truyện dài “Cô Mùi”, ông có dự tính đặt tên là “Bèo Giạt” lấy ý trong câu thơ trên của Huy Cận.

Còn một bài nữa, bây giờ không biết tại sao ít thấy phổ biến, nhưng lại là một bài thơ rất hay, rất triết học, buồn hơn cả mấy câu thơ sau đây của Hàn Mặc Tử:

Sáng nay vô số lá vàng rơi

Người gái trinh kia đã chết rồi

Có một chiếc xe mầu trắng đục

Hai con ngựa trắng bước hàng đôi.

Bài Nhạc sầu của Huy Cận, tôi thấy Huy Phương ghi lại có mấy câu. Tôi nhớ cũng không hoàn toàn, xin tạm ghi như sau:

Nhạc sầu

Ai chết đó, nhạc buồn chi lắm thế

Chiều mồ côi đời rét mướt ngoài đường

Phố đìu hiu màu lá cũ lên sương

Sương hay chính bụi phai tàn lả tả

Những bước lạnh teo mộng hồn úa lá

Chim vui đâu cây đã gãy vài cành

Ô chiều buồn sao nắng quá mong manh

Mọi tái nhợt nào cười mà héo vậy

Ai chết đó trục xoay và bánh đẩy

Xe tang đi về tận thế giới nào

Chiều đông tàn lạnh xuống tự trời cao

Không lửa ấm chắc hồn buồn lắm đó

Thê lương vậy mà ai đành lìa bỏ

Trần gian sao nay thành phố đang quen

Nhưng chốc rồi nẻo vắng sẽ xa miền

…..

Và ngựa ơi! Đi nhịp đằm chớ nhảy

Kẻo thân đau chưa quen nệm giường đời

Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi

Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi

Người đã chết một vài ba đầu cúi

Năm, bảy lòng thương xót đến bên mồ

Ôi chiều buồn khi sắp xuống hư vô

Woecester, Mass mùa hè 2005

Hoàng Long Hải (Tuệ Chương)

Chú thích:
Tình già
Phan Khôi
Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ
Hai mái đầu xanh kề nhau than thở
- Ôi đôi ta, tình thương nhau thì đã nặng
Mà lấy nhau hẵn là không đặng
Để đến nỗi tình trước phụ sau
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau
- Hay mới bạc làm sao chớ?
Buông nhau làm sao cho nỡ
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi đâu phải vợ chồng
Mà tính việc thuỷ chung?
Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi cái đầu đều bạc,
Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi
Con mắt còn có đuôi!
Trần Tử Ngang
U-Châu Đăng Đàn Ca
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất tri lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thượng nhân nhi lệ hạ!
Hỡi người xưa qua rồi
Hỡi người sau chưa tới
Nhìn trời đất vô cùng
Mình ta tuôn giòng lệ.
  Nietzsche sinh tại Rocken, thuộc Phổ (nay thuộc Đức). Thân phụ ông là mục sư đạo Tin Lành, qua đời khi Nietzsche mới 5 tuổi. Mẹ ông lo nuôi ông trong một ngôi nhà gồm bà nội (ngoại?), hai bà dì và chị ông. Ông học triết học cổ điển tại viện đại học Bonn và Leipzig và được bổ nhậm làm giáo sư triết học cổ điển tại việc đại học Basel khi mới 24 tuổi. Sức khỏe yếu vì bệnh mắt và chứng nhức đầu kinh niên dằn vặt ông suốt đời, khiến ông xin nghỉ việc năm 1879. Mười năm sau, ông bị chứng bệnh tâm thần mà không bao giờ hồi phục được. Ông qua đời tại Weimar năm 1900.
Ông chịu ảnh hưởng văn hoá Hy-Lạp, đặc biệt triết học của Plato và Aristote. Ông cũng chịu ảnh hưởng thuyết tiến hoá của nhà triết học Đức Arthur Schopenhauer và tình bạn của ông đối với nhà soạn nhạc Richard Wagner.
Ông có quan điểm chống đối kịch liệt tư tưởng truyền thống, đặc biệt do giáo hội cơ đốc đại diện, quyền lực của họ giới hạn chủ nghĩa cá nhân. Sức chống đối đó mãnh liệt đến nỗi ông tuyên bố rằng “Thượng Đế đã chết” và cho rằng đạo đức truyền thống chỉ là một thứ dùng để nô lệ hoá con người. Ông chủ trương thuyết “siêu nhân” là một lý thuyết mang tính cá nhân cao, độc lập, tập trung vào thế giới hiện tại hơn là những phần thưởng hứa hẹn ở thế giới mai sau.
9/7/2006
Huy Cận
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...