Hồi ký song đôi 3
Tập 2- D
Lò sát sinh
Trường học Queignec của tôi ở sát cạnh lò sát sinh của thành
phố Huế, và lò sát sinh cách nhà cậu tôi ở cũng chỉ hơn 200 thước. Lò sát sinh ở
trên một khoảng đất rộng, có trồng cỏ xanh như bãi để bóng.
Lò sát sinh là một cái nhà rộng, dài kiểu như một nhà máy cơ
khí, chỉ khác một điếu là trong nhà máy gắn với nền xi măng là những cỗ máy to
bự; còn ở đây gắn với nền xi măng là những vòng kiềng sắt to, buộc vào xiềng là
những sợi xích dài, những xiêng xích ấy là để buộc những con bò dể người ta giết.
Lần đầu tiên, lúc đó tôi học lớp ba, 1929, tôi cùng mấy bạn học trong nhà vào
xem lò sát sinh, và xem người ta giết bò, mổ lợn. Hồi nhỏ, lúc tôi 5, 6 tuổi,
tôi đã thấy người ta giết bò, giết bê làm thịt vào dịp Tết hàng ngày rằm tháng
7, nhưng cách giết bò là buộc bốn chân bò và bê rồi lấy dao đâm thọc vào cổ con
vật cho máu ộc ra, và máu chảy hết thì bò bê cũng tắt thở. Đối với tuổi nhỏ việc
nhìn thấy giết con vật thân quen như thế cũng đã là một điều ghê rợn. Nhưng ở
lò sát sinh thì cách giết lại khác. Tôi thấy người ta dắt những con bò vào và lấy
xích buộc nó chặt vào các cái xiềng gắn ở nền xi măng. Không biết các con bò có
linh tính gì không, nhưng tôi thấy chúng bước vào lò sát sinh đi từng bước nặng
trĩu, đầu cúi rạp xuống, và hai con mắt của chúng buồn không thể tả được. Mà thực
sự tôi đã thấy chúng khóc, khóc những giọt nước mắt không tràn trề, nhưng rõ
ràng là những giọt nước mắt của những con vật cảm thấy giờ tận kiếp sắp đến. Những
giọt nước mắt bò, than ôi, cũng đau đớn, cũng xé gan xé ruột như những giọt nước
mắt người. Thế rồi, những con bò đã bị xiềng xích đứng im, như yên phận chờ số
mệnh của chúng. Và một người vạm vỡ, bận quần đùi, áo cộc, cả quần áo đều màu
cháo lòng, bước vào, tôi sợ quá! Gọi người này bằng tên gì? Trong cảm giác thơ
bé của tôi, anh ta là một đao phủ, đao phủ của những con bò tội nghiệp đứng chờ
kia. Tôi không dám nhìn, nhưng rồi tôi cũng nhìn cho biết việc hạ thủ những con
vật kia sẽ xảy ra như thế nào. Anh vạm vỡ kia đi tới trước con bò, dừng lại chừng
nửa phút, dường như để ngắm dáng đứng của con bò đã khớp với tư thế đứng của
anh chưa và trong nháy mắt anh giơ cái búa to, nặng cần không dài lắm, giáng mạnh
vào gáy con bò. Tôi nhắm mắt không dám nhìn nữa. Bỗng nghe một tiếng xoạc đổ, rầm
một cái: tôi mở mắt ra, con bò đã ngã khuỵu bốn chân xoài ra, hai mắt nó không
còn nhìn nữa, cũng không khóc nữa, nó đã chết tức khắc sau nhát búa giáng mạnh
vào gáy nó. Mỗi ngày, hoặc là mỗi tuần vài ba ngày, ở trong lò sát sinh ấy giết
đến mấy con bò như vậy. Nhưng tôi chỉ xem phút hạ thủ bò chỉ một lần ấy mà
thôi... Sau đó, tôi cũng tò mò xem người ta mổ bò, lột da bò và treo con bò đã
lột da, đã lấy hết huyết, lên những đòn tay có xích kéo cao lên, để nhờ ông bác
sĩ thú y đến khám xét xem thịt bò lành hay bị nhiễm bệnh. Sau này tôi có dịp
xem bức tranh của Rembrand “Con bò đã lột da”, thì tôi thấy nó giống những con
bò treo ở nhà sát sinh quá. Ông T. y sĩ thú y của thành phố khoảng 9 giờ đi xe
kéo nhà đến, vào thẳng lò, cầm một con dao mổ “Scalpel” rất sắc và nhọn đi rạch
vào từng mảng thịt của những con bò, để xem có sán hoặc có các ký sinh trùng
nào khác ẩn trong cơ bắp của bò không. Dao ông sắc lém đến nỗi ông chỉ rạch qua
mà đôi khi văng cả cục thịt ra ngoài, nhưng những người đi theo không ai dám nhặt,
vì mắt ông còn sắc lém hơn. Có một lần ông N. cậu ruột của một người bạn học
tôi, xớ rớ thế nào mà ông tưởng là nhặt cắp thịt văng ra ông liền phóng con dao
theo ông N., may mà dao trượt qua lưng chỉ trầy da một chút thôi. Cái anh vạm vỡ
đao phủ trên kia và cái ông thú y sắc lém này làm tôi khiếp đảm, từ đó mặc dầu
trường tôi ở sát nách lò sát sinh tôi cũng không dám vào xem công việc mổ bò, mổ
lợn nữa. Huyết bò đổ vào những cái chậu to bằng tôn, và huyết cũng lai láng
trên nền xi măng. Các bà buôn huyết bò (như thím Lạng đã nói trên kia), vội vàng
gánh thùng vào cho huyết đầy thùng và gánh đi thoăn thoắt, vì trễ giờ thì lò
sát sinh sẽ đóng cửa, và mọi người đều sợ gặp ông thú y như sợ cọp.
Ông thú y này có một lần bị kiện vì hành động tàn bạo đối với
người lao động trong lò sát sinh, nhưng được quan trên che chở nên ông cũng trắng
án. Trong kháng chiến chống Pháp, tình cờ tôi có dịp gặp lại ông, tôi không nhắc
lại chuyện cũ ở lò sát sinh, ông cũng không nhắc, nhưng cả hai người đều khêu gợi
những kỷ niệm ở Huế. Thú vị cho tôi là nghe ông nhắc nhiều đến chùa Thiên Mụ, tả
tiếng chuông chùa ngân vang mỗi sáng mỗi chiều, tiếng chuông Thiên Mụ mà tôi
cũng rất mê nghe ngày tôi học ở trường Quốc học. Ông nói rất tự nhiên, như là bộc
lộ một suy nghĩ thấm sâu, dai dắng của mình: “Thật ra ai cũng có Phật tâm, chỉ
có lúc này lúc kia bị chuyện đời che lấp làm cho mờ ám cái Phật tâm kia....
Trong bụng tôi tự nghĩ: “Chắc hẳn rằng lúc ông phóng con dao vào thắt lưng ông
N. là lúc Phật tâm kia của ông bị che lấp, tối mờ đi...
Từ lò sát sinh, xung quanh lò sát sinh, nầy nở nhiều nghề phụ:
nghề buôn da và thuộc da, nghề buôn xương (để làm cúc, vạch...), nghề buôn huyết
và chế biến huyết, nghề buôn lông lợn và chế biến lông lợn (làm bàn chải, làm
những cái thông bóng đèn,...).
Người ta bảo với tôi là còn nghề buôn sừng trâu, sừng bò,
móng trâu móng bò cũng được tiền lắm. Tôi ngây thơ tưởng rằng những người làm ở
lò sát sinh mục kích hàng ngày việc giết trâu giết bò như vậy thì dễ sinh tính
hung tợn, tàn bạo, và tôi cứ phàn nàn tại sao trường tôi lại xấu số ở sát cạnh
lò sát sinh. Lại có người nhắc mẹ thầy Mạnh Tứ không muốn cho con ở gần chợ...
Nhưng cuộc đời nó không theo cái lập luận ngây thơ của tôi. Vợ ông N. mà tôi đã
nhắc đến trên kia là một người rất hiền, rất thương người, rất thương cháu, đặc
biệt là thương người cháu nghèo bạn học của tôi cùng lớp. Thậm chí bà nói nhỏ
nhẹ, và không muốn người khác nói to tiếng trong nhà mình. Và người ta còn kể
cho tôi nghe cái anh vạm vỡ đao phủ của những con bò, về nhà lại rất hiền, rất
êm ái với vợ con và láng giềng, hàng xóm. Và biết bao nhiêu người hiền lành tôi
đã được gặp, tôi đã được chung đụng trong cái xã hội nhỏ sống gần lò sát sinh
như những người tôi đã nhắc đến trên kia: anh Cháu đờn ông Lạng, chú Kình, chú
Xối, ông cả Soạn, mụ Lợn mệ Chiếu, v.v... Lò sát sinh: một chi tiết dữ dội
trong kỷ niệm tuổi nhỏ ở phố Đông Ba.
Trường Queignec
Trường tiểu học Queignec của tôi có 6 lớp: lớp năm, lớp tư, lớp
ba, lớp nhì nhất niên, lớp nhì nhị niên và lớp nhất. Đằng sau trường có một sân
khá rộng để học trò tập thể dục buổi chiều theo sự hướng dẫn của một ông cai
lính khố áo xanh. Mỗi lớp của trường tương đối rộng, chứa được trên dưới 40 học
sinh, bàn ghế của học sinh làm bằng gỗ lim, đã hàng chục năm, vẫn vững chắc.
Bàn của thầy giáo là lối bàn ở các giảng đường, nghĩa là có che kín xung quanh
và để trên một cái bục cao. Từ bàn đó, thầy nhìn xuống lớp thấy rất rõ từng bàn
của học sinh, bàn cuối lớp cũng không lọt được con mắt kiểm soát của thầy. Áp
vào tường là một cái bảng đen to tướng, mầu đen rất bền, viết phấn trắng lên,
phấn rất cắn và rất nổi chữ... Năm tôi học lớp ba và lớp nhì thì cậu tôi là hiệu
trưởng có sáng kiến giao cho thầy trò mỗi lớp trồng mấy cây bàng phía cửa sổ của
lớp nhìn sang cái vườn của sở trứng (nhà máy làm bột trứng) mà chủ là một người
Pháp. Những cây bàng mà chúng tôi trồng lớn khá nhanh và sau hơn một năm đã cho
bóng mát vào lớp Năm 1975 sau khi giải phóng Huế, tôi về thăm trường, thì việc
trước tiên là tôi thăm mấy cây bàng. Các cây bàng này không to lên bao nhiêu,
có lẽ trồng trên đất sỏi gạch, nhưng lá vẫn mượt, và cây không bị sâu. Người
cai trường, lúc tôi học ở đó, là ông Tộ, hơi nặng tai, nên ông nói với ai cũng
nói thật to Cũng theo lẽ ấy, khi ông đánh trống trường ông cũng nện dùi trống
thật mạnh và tất nhiên là tiếng trống vang to và vang xa, nhưng tội một cái là
trống của trường mau thủng mặt trống, và ông hiệu trưởng là cậu tôi lại phải
xin tiền ty học chánh Thừa Thiên để thay mặt trống. Sau này cậu tôi không giao
ông Tộ đánh trống nữa, mà giao cho học sinh lớp nhất luân phiên nhau đánh trống.
Ông Tộ rất tốt, đến giờ đóng cửa trường mà gặp học sinh đến chậm, ông vẫn mở cửa
cho vào, có khi ông bày cho học sinh leo qua cửa sổ nhà ông mà vào lớp. Cả năm,
ông không đi đâu nghỉ hè cũng vậy: trường thật sự là nhà của ông...
Thầy Phan Tiên Nhắc đến những năm học ở trường Queignec, trước
hết tôi nhớ và hết sức biết ơn thầy Phan Tiên. Thầy người quê ở Quảng Ngãi học ở
trường đạo Pellerin (Huế), đậu bằng thành chung mùa hè 1928 và được bổ nhiệm về
trường tôi vào kỳ tựu trường năm ấy, là lúc tôi học lớp ba. Thầy là người học
giỏi, đọc rộng, tính tình rất sôi nổi, phong cách hào phóng. Tuy thầy không qua
môn sư phạm, nhưng thầy dạy học trò mau tiến bộ dường như thầy rất tin ở sự
thông minh của đám trẻ học với thầy, và một phần nào thầy giao cho lớp tự quản.
Đặc biệt, thầy hay gợi ý cho học sinh đọc sách sách giáo khoa hoặc những sách tập
đọc ngoại khoá.
Thầy chú ý khêu gọi lòng ham đọc sách, hứng thú tìm cái hay
cái đẹp trong sách cho học sinh. Hàng tháng thầy dành một vài tiết học cho học
sinh kể lại những bài mình đã đọc, những truyện lý thú mà mình đã khám phá
trong các sách đọc ngoài giờ học. Thầy cũng hay gợi ý cho học sinh trau dồi
tình bạn với nhau, và thầy kể hồi nhỏ ở lứa tuổi của chúng tôi, nghĩa là 9, 10
tuổi, thầy đã kết bạn như thế nào với một bạn học con trai và một bạn học con
gái. Thầy kể tình bạn tuổi nhỏ ấy với một giọng đầy xúc động, làm cho chúng tôi
rất yêu thầy, và cũng làm cho chúng tôi thấy tình bạn đẹp quá Tôi và vài anh nữa,
vào loại “đắc ý môn sinh” của thầy, vì chúng tôi học giỏi, và cũng giúp thầy chấm
bài cho cả lớp: chấm toán chẳng hạn, thì thầy chấm bài chúng tôi trước, thầy
phê đúng và cho điểm. Sau đó thầy giao số bài còn lại cho chúng tôi kiểm tra
đúng thì đề đúng, sai thì đề sai còn điểm thì chúng tôi ghi bằng bút chì thường
theo sự đánh giá chủ quan của chúng tôi, sau đó thầy xem lại và phê điểm bằng
bút mực đỏ, thường là thầy đồng tình với những điểm chúng tôi đề nghị; tất
nhiên cũng có trường hợp thầy gia giảm. Anh em học sinh cùng lớp cũng biết cách
chấm này của thầy, nhưng không thắc mắc, một là vì sợ thầy, hai là thấy điểm
cho cũng công bằng, không có gì là thiên vị hay trù úm. Thầy hay dẫn học trò đi
chơi thăm những cảnh đẹp trong thành phố hay ngoài thành phố như đàn Nam Giao,
chùa Từ Đàm, chùa Diệu Đế.
Thầy Tiên rất thương học trò, cuối mỗi năm học, thầy đòi mỗi
học sinh cho thầy một ảnh nhỏ để thầy dán vào quyển sổ lưu niệm của thầy. Năm
1975, sau khi miền Nam được giải phóng, từ Sài Gòn đi ra bằng xe hơi, tôi ghé
Quảng Ngãi tìm thăm thầy và tôi đã gặp thầy ở thị xã Quảng Ngãi (huyện Tư
Nghĩa). Thầy đã già nhưng còn quắc thước, giọng nói vẫn sang sảng.
Gặp tôi thầy nhớ ra ngay, và thầy cho tôi ăn kẹo lạc và đường
phổi Quảng Ngãi, như hồi bé tôi vẫn được thầy cho sau khi thầy về quê ăn tết ở
quê ra. Thầy đi vào phòng trong đưa ra một quyển vở dày và mở ra cho tôi xem ở
trang có dán ảnh học sinh lớp ba của thầy ở trường Queignec năm 1929. Thầy chỉ
vào ảnh tôi (cái ảnh mà tôi còn giữ được trong căn cước đi thi tiểu học yếu lược)
và đọc lại tôi nghe lời nhận xét của thầy về tôi “Cậu bé này có tương lai rực rỡ”.
Lời nhận xét khích lệ của thầy, thầy lấy làm tâm đắc. Năm tôi lên lớp nhì đệ nhị
niên lại gặp thầy Tiên. Tình nghĩa thầy trò từ bấy nay không hề phai nhạt, mỗi
lần có cơ hội là tôi thăm thầy, và điều làm thầy sung sướng là mỗi lần tôi lại
tặng thầy một tập thơ mới của tôi...
Tôi ốm thương hàn
Năm tôi học lớp ba, tôi bị ốm một trận thập tử nhất sinh, sốt
liên miên nhiều ngày mà cậu mợ tôi không hiểu rõ là bệnh gì. Cậu mợ rất lo, một
mặt đánh dây thép mời thầy (cha) tôi vào, mặt khác cậu tôi mời một ông ngự y
quen biết đến bắt mạch cho tôi và cho toa thuốc. Uống thuốc của ông ngự y (thầy
thuốc của nhà vua) được ba bốn hôm thì bệnh thuyên giảm, và lúc đó cũng vừa lúc
thầy tôi ở Hà Tĩnh đi xe lửa vào. Thành ra thầy tôi được một dịp đi thăm kinh
đô Huế, mà thầy vẫn ao ước, và ngồi đánh tài bàn tổ tôm với cậu tôi và mấy người
quen nửa tháng rồi về.
Sau này tôi mới hiểu rõ lần ấy tôi bị bệnh thương hàn, và ông
ngự y cũng đã cho tôi uống bài thuốc kinh điển về bệnh này, hình như có nhiều
phụ tử. Lúc tôi gần khỏi, đầu cứ choáng váng, nằm thấy trần nhà cứ xoay tròn,
và cố gắng đứng dậy đi lại thì người cứ nhẹ lâng, như không còn sức hút của đất.
Lúc tôi ốm, cả mợ Vân, cả dì Em đều chăm nom tôi hết lòng như mẹ chăm nom cho
con. Có lúc mợ và dì tưởng tôi có thể chết thì đã hối hận “đem nó vào làm gì để
cho cha mẹ nó sẽ oán hận.... Lúc đó tôi không hề có cảm giác là có thể chết, ý
nghĩ về cái chết có lẽ không bao giờ lởn vởn trong đầu một đứa trẻ con. Tôi
chưa làm một cuộc điều tra về điều này, nhưng tôi đoán chắc như thế. Trẻ con là
mầm đang lên, chưa có cái cụp héo của tuổi già để mà lo sợ cái chết. Tôi khỏi bệnh
rồi ăn cháo mấy ngày, cháo thịt bò, rồi ăn cơm bình thường mà cậu tôi vẫn nhờ
ông ngự y làm cho một thẩu thuốc bổ, thuốc tễ (từng viên vuông như viên đường
kính, mầu nâu) để ăn dần. Ăn hết thẩu thuốc tễ này thì tôi khỏe hẳn, và từ đó về
sau tôi không ốm nữa. Qua trận ốm này, và một lần ốm nhẹ nữa năm 1936 (sau khi
tôi đậu thành chung), tôi càng tin thuốc bắc, đặc biệt là các phương thuốc bổ
nó ngấm lâu dài vào cơ thể của ta, và cho ta một cái vốn đề kháng rất lớn.
Cũng vì vậy tôi rất tin tưởng ở phương châm kết hợp y học
phương Tây với y học dân tộc. Cũng là một sự ngẫu nhiên đẹp đẽ ở đời là thầy
tôi và thầy anh Xuân Diệu, sau khi hai con của mình thoát chết vì bệnh thương
hàn thì đều nghiên cứu đông y và trở thành những thầy thuốc “mát tay” chữa bệnh
cho bà con họ hàng, làng xóm.
Xóm Mang Cá
Từ trường học Queignec của tôi đi xuôi về Sình, qua cầu Thanh
Long, là đến xóm Mang Cá, ở gần đồn Mang Cá Đồn Mang Cá lúc đó là do lính Pháp
và lính khố đỏ đóng, vì đây là một vị trí quân sự quan trọng, chính quyền thực
dân không muốn giao cho lính khố xanh đóng, mà họ gọi là đội lính bản xứ (garde
indigène). Đồn Mang Cá xưa kia, lúc Pháp mới sang, là nơi đã xảy ra cuộc chiến
đấu ác liệt của nhà yêu nước Tôn Thất Thuyết chống cự (một cách tuyệt vọng
nhưng rất anh hùng) bọn giặc Pháp lúc đó muốn củng cố nền đô hộ chưa ổn định của
chúng. Xóm Mang Cá những năm 30 của thế kỷ là xóm của những người vợ lính Tây,
cả Tây trắng và Tây đen (từ “tây đen” là chỉ những người lính châu Phi da đen ở
trong quân đội Pháp). Một vài người bạn học cùng lớp với tôi (như bạn Côn, bạn
Bảo) nhà ở dưới đó, có rủ tôi đi chơi ở xóm Mang Cá. Đó là những ngôi nhà tranh
vách toócsi (đất nhồi rơm, có khi cả với phân trâu khô) sạch sẽ, trong mỗi nhà
là gia đình của một anh lính. Các chị vợ Tây này có người có con, nhiều nhất là
vài đứa, có người không có con. Lính Tây chỉ được sống với vợ con tối thứ bẩy
và ngày chủ nhật trừ những anh cai hay đội thì thỉnh thoảng cũng được về nhà
vài đêm “bổ sung”.
Các chị vợ lính Tây thường nhàn rỗi, vì đã có tiền của anh chồng
bao, chỉ đi chợ mua thức ăn, lo bếp núc, nhất là thứ bẩy và chủ nhật: Còn ngày
giờ rỗi thì các chị đánh tứ sắc, hay là đánh chắn.
Tôi còn nhỏ (10 tuổi), nhưng tại sao tôi có cảm giác các chị
sống một cuộc đời dường như ngơ ngác, như giả tạo, và trên nét mặt của các chị
tôi thấy một nỗi buồn phảng phất, kể cả những khi các chị vui đùa. Có những anh
lính Tây cũng thương vợ thật, đằm thắm nữa là khác, và lúc về Tây, không đem vợ
theo được, thì để lại cho vợ một số tiền khá lớn, và sắm sửa cho vợ đủ thứ bàn
ghế, giường màn, rương tủ, cả chậu cảnh nữa, về đến Pháp hay châu Phi còn gởi
thư sang, giọng đầy tình nghĩa. Nhưng cũng có những chị bị chồng Tây hành hạ,
đánh đập như một người nô lệ, mà nó đánh thì không ai dám đến can. Số phận con
người “me Tây” tuỳ may, tuỳ rủi. Nói số phận “me Tây”, tôi lại nhớ đến mẹ anh
Hường cùng học lớp với tôi. Mẹ anh hai đời lấy Tây, chồng trước là một anh Tây
trắng đối xừ với bà rất tàn tệ, thậm chí có lúc giam đói bà cả ngày chủ nhật vì
cách chiều chuộng mơn trớn của bà không vừa ý nó. Đến lúc về Tây, nó chỉ thí
cho bà được vài chục đồng bạc, và chẳng có thư từ hỏi han gì. Nhưng đời sau là
một anh Tây đen, người Xênêgan, “đen như cột nhà cháy”, cao lêu nghêu nhưng rất
hiền. Anh chồng này chiều chuộng bà đủ cách, muốn may áo là may áo muốn sắm giường
là có giường, và không khi nào anh to tiếng với bà. Người cao to như ông hộ
pháp mà giọng nói lại nhỏ nhẹ, tiếng Pháp bồi, đủ để trao đổi ý kiến về sinh hoạt
hàng ngày, và để trao đổi những tình cảm cơ bản... Đến lúc anh này về nước, anh
để lại không những một số tiền to, mà còn cả những thứ anh sắm mấy năm trời khi
anh đóng ở trại Mang Cá. Ra về anh khóc sướt mướt, hai vợ chồng tiễn nhau đến Cửa
Hàn tức là Đà Nẵng ngày nay, và còn cái đồng hồ nơi tay anh cũng cho vợ nốt.
Anh Hường là con đời chồng Việt Nam của bà, đã chết trước khi bà lấy Tây. Bà rất
thương anh Hường, và anh Hường cũng rất thương dượng Tây đen của anh. Hai đời
chồng Tây không cho bà một đứa con nào, trắng cũng không mà đen cũng không.
Năm 1975 sau khi Huế giải phóng, tôi về thăm Huế, và đạp xe đạp
xuống thăm xóm Mang Cá. Cảnh đã khác xưa, có nhiều nhà ngói xây thời Mỹ nguỵ,
thay những nhà tranh vách toócsi xưa kia. Những bà vợ “me Tây” đã phiêu bạt đi
đâu và cái cảnh ngơ ngác của các bà cũng không còn nữa. “Vang bóng một thời”
Tây, tôi xin ghi vài nét trên đây làm chứng liệu. Tôi sẽ trở lại các chị “me
Tây”, khi nói đến cái lớp học tiểu học dành cho bọn trẻ Tây lai trong trường
trung học quốc học...
Các thầy thợ in của báo Tiếng dân
Báo Tiếng dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng ở trên phố Đông
Ba, cách nhà cậu tôi chừng nửa cây số.
Một ông cậu khác của tôi lúc đó học trường quốc học ham đọc
báo Tiếng dân, và thỉnh thoảng viết một cái tin vặt (nhưng có ý nghĩa về đời sống
của dân chúng) gởi đăng báo, và khi tin được đăng lên, cậu tôi rất sung sướng,
có phần nào hãnh diện với những người xung quanh rằng ta có “bài đăng báo”. Báo
Tiếng dân của cụ Huỳnh dùng toàn thợ in ở Hà Nội, ở ngoài Bắc vào. Các anh em
thợ in này, ít người bận âu phục thường là bận áo quần ta, áo dài đen hoặc áo
dài trắng, và đi giày vải trắng, đội mũ “cát” trắng. Bà con gọi anh em thợ in
này là thầy, và cũng nể các thầy, vì anh em giữ tư cách đứng đắn, ăn nói lịch
thiệp dường như anh em cũng giữ danh dự cho cả nhà in báo Tiếng dân của cụ Huỳnh
nữa. Có mấy thầy quen nhà cậu tôi, chủ nhật thỉnh thoảng đến đánh tổ tôm, tài
bàn với cậu tôi. Đánh bài thì có thua có được có thầy nướng hết vốn, phải vay,
nhưng sau đó trả nợ đàng hoàng. Tôi không biết các thầy này có vợ không hay là
có vợ mà để vợ ở quê. Duy có thầy Yên thì tôi biết đích xác là chưa có vợ và rất
si tình. Thầy thường bận một áo lương đen, đội khăn xếp lượt, tay cầm một chiếc
ô “lục soạn”, dáng đi nho nhã như một ông đồ nho. Thầy bắt tình với một chị làm
công ở hiệu buôn Đức Thuận, ở phố Pônbe (Paul Bert). Chị cũng đẹp, tóc bỏ đuôi
gà, nước da trắng mịn và đôi mắt rất tình tứ. Hai người dan díu đã lâu và rồi
chị có thai với anh. Anh em đồng nghiệp thương thầy Yên, không những không chê
cười thầy mà còn tìm cách giúp đỡ và nếu thầy và người yêu muốn nên vợ nên chồng
thì anh em cũng sẵn sàng giúp tổ chức đám cưới. Thầy Yên cũng tâm sự với cậu mợ
tôi, và còn mượn nhà cậu mợ tôi làm nơi gặp gỡ người yêu. Ai cũng tường đám cưới
sẽ thành, chị rất thương anh không dấu giếm gì cả và anh cũng quyết tâm lấy chị,
anh săn sóc chị săn sóc cái thai trong bụng chị như là một người chồng săn sóc
vợ đã cưới... Thế mà, đám cưới không thành vì bà chủ của chị kiên quyết phản đối,
kiên quyết bắt thầy Yên phải bỏ chị lấy cớ rằng chị là “người nhà” của bà, bà
phải giữ chị làm ăn với bà rồi bà sẽ “kiếm tấm chồng cho”. Cuộc tình duyên phải
chấm dứt, nhưng chị đẻ con ra thì thầy Yên nuôi với tất cả tấm lòng của một người
cha.
Tập 2- E
Hồ Tịnh Tâm
Những năm tôi học lớp nhì, lớp nhất, tôi hay vào trong thành
Huế chơi với bạn học cùng lớp. Nhiều lần tôi đã đến nhà anh Đặng Huệ gần cửa
Đông Ba, nhà anh ở chân thành, có nhiều cây roi (ở Huế gọi là cây đào tiên), cả
vườn xanh mắt. Cha anh làm việc ở một cơ quan Nam triều ở trong thành, tôi
không biết rõ là cơ quan gì. Chỉ nhớ là ông rất niềm nở đón bạn của con và vào
lúc roi chín, ông cho tha hồ chọc hoặc hái quả Gần nhà anh Huệ có một ông thợ
khắc dấu gỗ và cái thú của tôi là đến thuê ông khắc một cái dấu tủ sách gia
đình hình bầu dục, cái dấu này còn in rõ trong một số sách mà tôi còn giữ được
từ trước cách mạng. Một nhà bạn nữa mà tôi thường đến chơi là nhà anh Đặng Ngọc
Khuê (nay là bác sĩ về hưu) ở gần miếu “âm hồn”. Anh Khuê người gầy, da cứ sủi
vẩy như da của kỳ đà, nhưng miệng cười rất tươi, mà giọng nói thì ỏn ẻn như giọng
con gái. Đến nhà anh Khuê bao giờ chúng tôi cũng được bà anh ấy cho ăn bánh nậm,
hoặc bánh ướt, hoặc bánh canh, các thứ bánh này bà mua ở một hàng cạnh nhà. Ở
nhà anh Khuê có một hòn non bộ rất đẹp trong một cái bể cạn to và sâu ở giữa vườn.
Trên hòn non bộ có đủ cảnh chùa, cảnh tiều phu gánh củi, cảnh Lã Vọng câu cá cảnh
ông quan đi sứ có lọng vàng che, và dưới chân núi non bộ có cảnh thuyền bè, chợ
búa... Bà anh Khuê mộ đạo Phật, đã đi cầu Phật ở nhiều chùa, nên mỗi lần trở về
bà lại bảo anh Khuê làm thế nào chắp thêm vào hòn non bộ cảnh chùa bà vừa đến
thăm.
Anh Khuê cũng có khiếu tạo hình, lại lấy đất vắt chùa, vắt bụt
cho vào bếp nướng (nung) rồi gắn lên hòn non bộ. Bên cạnh nhà anh là miếu âm hồn.
Miếu này được nhân dân lập ra sau ngày kinh đô thất thủ (1885), để thờ những
người lính và những người dân đã chết trong những trận cuối cùng chống giặc
Pháp của ông Tôn Thất Thuyết và những sĩ phu khác. Người ta bảo miếu được lập
trên một ngôi mộ chung chôn nhiều người tử trận. Thường cứ rằm tháng bảy âm lịch
là có giỗ cúng âm hồn, không ai bảo ai mà nhiều nhà đem cơm và trứng luộc và
xôi đến cúng. Trên mỗi bát cơm có cắm một chiếc đũa mà phía trên có vót ngược
lên thành một cái ngù, tượng trưng cho vũ khí của những người từ trận, theo lời
dân gian kể.
Mọi người đều bảo miếu âm hồn thiêng lắm. Thực dân Pháp biết
đó là miếu thờ những người tử trận chống Pháp nhưng làm ngơ, không dám đụng chạm
đến. Có vài vị quan, không biết vì lòng yêu nước, hay vì muốn lấy lòng dân mà đến
ngày rằm tháng bảy cũng cho vợ con đem cơm xôi đến cúng miếu âm hồn. Và cụ Ngáo
là người đao phủ của triều đình, và của chính quyền Pháp nữa, mỗi lúc được lệnh
thi hành một án chém thì cụ cũng đến miếu âm hồn khấn vái xin âm hồn xá tội cho
cụ và phụ trợ cụ. Tôi chưa thấy mặt cụ Ngáo bao giờ, nhưng người ta tả cho tôi
thì rùng rợn lắm: hai chân cụ đi khập khiễng, trên mặt cụ nổi lên những cục, những
u sần sùi mốc mốc như da cóc (người ta truyền nhau rằng mỗi u là biểu hiện một
cái đầu cụ đã chém); mỗi lần phải đi chém cụ uống rượu thật say và múa thử chiếc
gươm trong hàng tiếng đồng hồ, và cũng có khi cụ thử chiếc gươm bằng cách chém
chó. Vả lại cụ Ngáo cũng thường ăn thịt chó hoặc mua ở chợ, hoặc do cụ tự tay
làm lấy. Các bà mẹ ở Huế muốn doạ con trẻ thì cứ nói: “Im ngay không thì tao mời
cụ Ngáo đến!”. Trẻ con chẳng biết gì, nhưng cứ nghe tên cụ Ngáo thì sợ. 'Nhưng
cụ Ngáo lại rất sợ miếu âm hồn.
Từ “miếu âm hồn” đi vào chơi hồ Tịnh Tâm, nói là chơi nhưng
nhiều lần tôi vào đó học ôn bài thi học kỳ hoặc thi bằng tiểu học. Trước hồ Tịnh
Tâm có một cái hồ để hoang vu, và ở giữa có một ngôi nhà đã gần đổ nát là Quốc
sử quán. Hồ Tịnh Tâm là một cái hồ nhân tạo khá rộng, một bề khoảng nửa cây số,
và bề dài khoảng non cây số. Hồ được xây dựng từ đời Minh Mạng; nhà vua muốn tạo
nên một cảnh yên tĩnh để nghỉ ngơi thư thái, lúc đi câu, lúc đi săn, lúc ngồi
thuyền hái sen, lúc lên gò ngâm thơ, hóng gió... Ở giữa hồ có hai hòn đảo nhỏ,
hòn bên tay phải để như cảnh hoang vu, hòn bên tay trái có xếp đá xây thành cảnh
núi non thanh tú có trồng trúc, trồng hoa và nhiều cây cổ thụ. Từ ở ngoài vào
đi qua một cái cầu dài, rồi lại qua một chiếc cầu nữa mới đến hòn đảo có cảnh
núi đá, hai cầu đều bằng gỗ sơn son. Ở trên hòn đảo núi đá có một cái nhà bát
giác, mái lợp ngói men nhìn ra tám phía hồ rất đẹp. Trong nhà bát giác có nhiều
ghế dài, đó là nơi chúng tôi học bài rất yên tĩnh, rất mát mẻ. Mùa hè hoa sen
thơm ngào ngạt một mùi hương thơm mát tăng thêm vẻ vắng lặng, xa xôi của cảnh hồ
vốn đã cổ xưa, yên ắng. Cậu mợ tôi đã có lần dẫn hai cháu là anh Cục và tôi vào
chụp ảnh ở hồ Tịnh Tâm. Triều đình nhà Nguyễn có tái tạo sửa sang phong cảnh,
gây mối quan hệ hài hoà giữa người và cảnh. Nhưng tái tạo cảnh này thành công
nhiều hơn ở các lăng vua, đặc biệt là ở lăng Minh Mạng và lăng Tự Đức, một phần
nào ở lăng Gia Long, chứ ở hồ Tịnh Tâm thì cái nhân tạo còn lộ rõ qua những nét
chắp nối giữa nhân tạo và thiên nhiên chưa liền, không gây được cái thú vui “nhập
cảnh”. Cho nên chơi dạo trong hồ Tịnh Tâm vẫn cho ta cái cảm giác đi chơi trên
một hòn non bộ lớn.
Tôi cùng bạn học trong nhà một vài lần vào xem bảo tàng thủ
công và mỹ nghệ, ở gần “tam toà” trong thành. Bảo tàng này do Pháp xây dựng lên
để tập hợp các ngành nghề của dân ta trong xứ Trung kỳ hồi đó cùng nhằm phát
triển thủ công, và nhất là mỹ nghệ để xuất cảng sang Pháp, và một phần nào sang
các thuộc địa khác. Bảo tàng trình bày khá công phu và khá đẹp các hàng thủ
công mỹ nghệ, tôi nhớ nhất là những hàng gỗ chạm, hàng ngà, hàng mây đan hàng mộc
(có những bộ bàn ghế khảm xà cừ rất đẹp những cái giường bằng gỗ trắc cũng khảm
xà cừ hình hoa lá tinh vi). Tôi còn nhớ trong bảo tàng này còn trình bày cả mô
hình của những chiếc xe đạp nước, và cái guồng nước hình tròn thường ta thấy
trên các con sông của Quảng Nam, Bình Định... Nhưng chúng tôi vào xem bảo tàng
tam toà không phải chỉ bị thu hút bởi những mô hình thủ công, mỹ nghệ, mà còn bị
thu hút trước mắt bởi những tấm đá ác-đoa (ardoise) còn chất đống ở một góc vườn,
dưới chân cây muỗm hoặc cây nhãn. Đống ác-đoa này là số thừa hoặc phế phẩm của
ác-đoa đã dùng để lợp cái bảo tàng trên kia và một số nhà khác trong khu vực
tam toà. Ác-đoa chở từ bên Pháp sang. Chúng tôi lượm những mảnh ác-đoa ấy về
làm bảng học sinh rất tốt, phấn viết lên ác-đoa rất rõ và lại dễ lau sạch, bóng
đen...
Hội đồng hương quyên tiền ở nhà cậu tôi, thỉnh thoảng có những
ông người Nghệ Tĩnh, khăn đen áo dài đến thăm và nói chuyện thủ thỉ với cậu
tôi. Các ông tự xưng là người của hội đồng hương đến quyên tiền để giúp dân Nghệ
Tĩnh khi bị lũ lụt, khi bị bão... Tôi thấy cậu tôi hơi e dè nhưng cuối cùng thì
cũng cúng một số tiền nhỏ nhưng xin các ông đồng hương đừng ghi tên vào sổ, vào
danh sách quyên góp, và cậu tôi cũng không đòi một giấy biên nhận gì. Các ông hội
đồng hương làm đúng theo yêu cầu của cậu tôi và ra về có nói một câu, nói vừa đủ
cậu tôi nghe: “Đây là việc nghĩa cả, chúng tôi sẽ dùng đồng tiền cho có ích nhất,
không phụ lòng hào hiệp của ông”. Các ông chào ra về, cậu tôi lễ phép chào
nhưng không tiễn ra tận đường. Về sau tôi đoán hiểu những ông đồng hương này là
người của một tổ chức cách mạng, không hiểu là của đoàn thể nào, đến gặp cậu
tôi với mục tiêu tối cao là mời cậu gia nhập đoàn thể, và mục tiêu tối thiểu
cũng là quyên góp tiền ủng hộ “nghĩa cả”, ủng hộ phong trào. Tôi có hỏi những đồng
chí lão thành cách mạng có phải lúc ấy ở Huế có những người đi vận động như vậy
không, thì các đồng chí cho biết là đúng như thế, lúc bấy giờ sau phong trào Xô
Viết, các đồng chí ta phải dùng nhiều hình thức vận động để củng cố phong trào
mà hình thức hội đồng hương là một hình thức tiếp cận với những người trí thức
ít nhiều có lòng yêu nước. Cậu tôi mất rồi (năm 1946) tôi không hỏi được cậu sự
thật trên điểm này, trên đây tôi chỉ ghi sự đoán hiểu của tôi. Dầu sao thì những
ông hội đồng hương khăn đen áo dài này cũng đã để lại cho tôi một ấn tượng sâu
sắc, nhất là cái giọng Nghệ Tĩnh quê nhà của các ông cái giọng mà suốt đời đi
đâu thì tôi vẫn giữ được nguyên vẹn. Cứ về đầu làng là tôi nói giọng Hà Tĩnh một
trăm phần trăm, hơn thế nữa tôi nói đúng giọng của làng tôi, xóm tôi, không
quên giọng đã đành mà cũng không quên những từ quen thuộc của địa phương nữa,
cái giọng và những từ trong đó tôi đã sinh ra và được mẹ tôi ru hồi tấm bé.
Tuổi dậy thì
Có nên ghi vào hồi ký những năm tháng phức tạp này không?
Nhưng tôi nghĩ cứ nên ghi, cứ nên kể vì đây là đời của mình, đời xương thịt nó
chứa đựng cả đời tâm hồn và làm nền cho đời tâm hồn. Vả lại ai cũng chỉ sống có
một đời, tôi không kể đời tôi trọn vẹn thì ai sẽ kể thay cho tôi trong thăm thẳm
của thời gian. Người ta thường bảo “Nữ thập tam, nam thập lục”. Nhưng tôi chưa
đến thập lục, chỉ mới thập nhị thập tam cũng đã đến cái tuổi biến chuyển sinh
lý, cái tuổi dậy thì. Tuổi đầy mơ mộng, mà đối tượng mơ mộng thật chưa rõ ràng,
những tình cảm tả trong sách làm cho mình cảm nhiều hơn là những đụng chạm
trong đời. Nhưng các giác quan đã thức dậy, có khi sắc nhạy, kể cả giác quan của
dậy thì. Thế rồi chàng thiếu niên đang lớn lên cứ âm thầm tưởng tượng những tình
duyên, những gặp gỡ, những cảm giác và những say sưa trong tình cảm. Tâm hồn và
máu thịt đang cùng nảy nở một lần, đang làm giàu cho nhau trong cái buổi “khai
thiên lập địa” của một con người. Chính những năm tháng này, cũng là những năm
tháng bắt đầu nảy nở hồn thơ trong tôi, bắt đầu xao động cái khiếu thơ bấy lâu
đang còn ấp ủ, như một cái mầm bắt đầu nhú lên, mở những cánh lá đầu tiên đón
gió.
Lần đầu tiên đi gặp biển
Trên kia tôi đã kể lúc đi theo mợ Vân vào Thừa Thiên, tôi đã
tiếp xúc với biển ở đèo Ngang. Nhưng lúc ấy chỉ thoáng thấy biển ở chân đèo, mặc
dù cảm giác rất mới lạ, nhưng chưa phải là một sự chấn động sâu xa trong cảm
giác và tình cảm của tôi. Thật sự tiếp xúc với biển lần đầu tiên là buổi đi
chơi Thuận An với bạn Đồng Sĩ Hiền lúc chúng tôi học lớp nhì như tôi đã nhắc ở
một đoạn trên. Lúc bấy giờ tôi 11 tuổi Hiền và tôi đi từ sáng sớm. Dọc đường từ
Đập Đá qua Nam Phổ đã tiếp xúc với biển qua gió biển.
Quê tôi ở vùng sơn cước, ở chân núi Mồng Ga, chưa bao giờ tôi
nghe thổi một ngọn gió mát và nhẹ như thế, một ngọn gió mà tưởng là hơi thở hiền
hoà của đất của trời. Tuổi nhỏ, tôi cứ tưởng là gió dính liền với cây lá, với rừng,
nơi nào không có cây thì không có gió. Tôi quen thấy gió từ cây từ cành lá rung
rinh hoặc bạt theo một chiều. Đi dần về biển, tôi mới có cảm giác rõ rệt gió có
thể rời cây, gió có thể riêng với cây gió là hơi thở của bầu trời rộng lớn. Cứ
đi, cứ nghe gió, tắm mình trong gió. Rồi khoảng 8, 9 giờ sáng, nghe tiếng ào ào
như mưa qua rặng phi lao: cảm giác như đến gần chợ Nước ở quê tôi. Cũng thấy lạo
xạo, dào dạt mỗi lúc một to. Thỉnh thoảng lắng đi một tí. Rồi bừng lên trước mắt
tôi cái mênh mông xanh của biển, thoạt nhìn thấy hơi cứng. Gió biển vù vù làm rợn
cả người tôi. Tôi thấy mát cả nơi khóe mắt tưởng như mắt tôi mở to gấp mấy lần.
Biển phồng lên, tôi thấy như một cái ngực hồi hộp. Khối xanh bát ngát ấy không
cứng nữa như cảm giác ban đầu. Khối xanh ấy bây giờ cho tôi một cảm giác đùn
lên đùn lên vô tận. Hơi ngợp. Tôi đứng nhìn say sưa. Biến và sông đều là khối
nước, mà sao cho tôi cảm giác khác nhau quá? Biển hút tôi, biển đặt tôi vào một
trạng thái tâm hồn dạt dào, rộng mở, mà lại lắng sâu. Tôi nhìn biển không chán
cho đến trưa lúc mặt trời chói nắng. Đó là tình yêu đầu tiên của tôi với biển.
Từ đó đến nay tôi mê biển như một nỗi mềm. Cứ có dịp là tôi về với biển. Có điều
lạ là biển bát ngát, rộng mở lại làm tôi lắng về bên trong tâm hồn. Biển là khối
lớn dào dạt, như chiếc võng lớn đưa cao làm tôi say mà lại yên tâm vô cùng.
Trong đời làm thơ của mình tôi đã viết hàng chục bài thơ về biển, vì biển (có
thể gần đến trăm bài), xin kể ra đây vài đoạn vào những năm khởi đầu của thơ
tôi.
Trời thắm duyên rằm, vừng nhạc mờ
Chuông sao rung nhớ tiếng vàng bay
Lượng vui muôn kiếp cân đầu sóng
Biển rủ rê lòng nhập cuộc say.
(Lượng vui, 1941)
Ta, biển sinh đôi tự thuở nào
Sóng lùng bao đợt nhói lòng đau
Cái vui đầu sóng buồn chân sóng
Cùng lặn chiều hôm nét đỏ au.
(Ta viết bài thơ gọi biển về)
Trăng ru sóng vui tràn vũ trụ
Hồn ta ơi chớ ngủ nghe em!
Trăng cao gọi thúc nỗi niềm
Biển bằng phơi dậy bờ đêm trùng trùng...
(Triều nhạc, 1940)
Bãi biển cuối hè dần vắng lặng
Vô tâm biển vẫn đẹp tưng bừng
Mai đây ta vắng, đời không vắng
Vũ trụ điềm nhiên đẹp dửng dưng
Sóng trắng bờm phi hí gió mai
Mây bay tới tấp ngợp chân trời
Phải chăng vũ trụ thừa dư sức
Thỉnh thoảng chồm lên như trẻ chơi.
(Bãi biển cuối hè, 1974)
Rồi một ngày kia hết ở đời
Cho ta theo biển khoả chân trời
Điều chi chưa nói xin trao sóng
Lấp lánh hồn ta mặn gió khơi...
(1982)
Nếu bạn đọc hồi ký của tôi muốn hiểu thêm mối bình của tôi với
biển, xin tìm đọc các tập thơ của tôi trong tập nào cũng có một số bài về mối
tình dai dẳng ấy.
Tủ sách của cậu tôi
Cũng trong nhà cậu một điều vui lớn, ít nhất là đối với tôi
là tủ sách của cậu tôi. Cậu tôi khá giỏi tiếng Pháp, nhưng rất hâm mộ văn thơ
dân tộc, từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm cho đến những bài vè nổi tiếng lúc bấy
giờ, ở Bình Định, Quảng Nam hay là Huế. Những ngày tháng ở Quảng Điền, là những
ngày tôi bắt đầu ham mê đọc sách nhờ cái tủ sách của cậu tôi cái tủ sách kỳ diệu
nó đã mở ra cho tôi thế giới thần kỳ của văn thơ đông, tây, kim, cổ. Tủ sách
không to lắm, nhưng lúc đó tôi thấy nó sao mà bát ngát.
Sách tiếng Việt có các truyện Nôm (Thạch Sanh, Phan Trần, Tống
Trân Cúc Hoa, Hoàng Trừu, Nữ tú tài, Trê Cóc, và Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm,
Cung oán ngâm khúc...) và cả những bài vè của địa phương miền Trung mà cậu tôi
đã công phu chép vào một quyển sổ đẹp: vè Thông Tầm, vè Thất thủ kinh dô...
Trong quyển sổ đẹp ấy cậu còn chép cả những bài thơ nổi tiếng như Khuê Phụ Thán
10 bài (và bài Tục Khuê Phụ Thán nữa), thơ của Bà Huyện Thanh Quan, thơ Tú
Xương, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ Nguyễn Khuyến, thơ Hồ Xuân Hương và những câu
đối hay những danh ngôn, những tục ngữ... Quá một nửa tủ là sách tiếng Pháp,
tôi nhớ loại nhiều nhất là các truyện cổ tích của Pháp và của thế giới nhưng đã
được soạn gọn lại cho thiếu nhi đọc, và các sách này đều có minh hoạ. Có truyện
cổ tích của Perrault, nhiều tập truyện của Andersen (sau này tôi mới biết đó là
sách của Andersen, vì sách mất bìa) có cả một tập truyện của Ấn Độ, và tập truyện
Ba Tư (rút từ Nghìn lẻ một đêm) thuật lại bằng tiếng Pháp. Tôi nhớ mãi câu chuyện
ông vua ở trần truồng ngự giá đi ngoài phố mà ai cũng ca ngợi là vua mặc quần
áo đẹp quá (truyện của Andersen). Cậu tôi đọc và dịch các truyện và giải thích
cho chúng tôi nghe. Thỉnh thoảng cậu tôi cũng thêm lời bình luận, có khi theo
sát bình luận trong sách, nhưng thường là theo cảm nghĩ của ông. Ví như truyện
ông vua vừa rồi thì cậu tôi nói “đó là vua phương Tây, chứ vua ở nước ta thì
không dám liều thế đâu mặc dù có anh thợ may xảo quyệt lừa vua”. Cậu tôi còn
xem Những người khốn khổ của Victo Huygô sách mượn của hội Trí Tri ở Huế, rồi kể
hết tuần này sang tuần khác cho cả nhà nghe, như người ta kể truyện Tam quốc
hay Thuyết dường diễn nghĩa vậy.
Tôi còn nhớ cái không khí náo nức, hào hứng mà bọn tôi chờ
nghe tiếp hồi này qua hồi khác câu chuyện của Giăng Van giăng, chúng tôi hồi hộp
theo dõi những bước đường của nhân vật anh hùng này, chúng tôi cũng ham mê theo
dõi cuộc tình duyên của Côdét và Mariuýt. Cậu tôi kể sát truyện Victo Huygô,
nhưng cách kể của cậu lại có phần kết hợp với truyền thống truyện nôm của ta
nên rất hấp dẫn. Hết Những người khốn khổ cậu tôi lại kể tiếp sang Ba người ngự
lâm pháo thủ của Dumas, cách kể cũng từng hồi từng đoạn hấp dẫn và mê ly như thế.
Về sau học ở ban thành chung tôi đọc những tập truyện này trong nguyên bản tiếng
Pháp thì như là đọc lại, và như là gặp lại những người quen thuộc từ thuở nhỏ.
Trong tủ sách của cậu tôi còn có nhiều tập thơ Pháp, tôi nhớ có một tuyển tập
thơ Victo Huygô, một tuyển tập Lamáctin, và một tuyển tập thơ Pháp từ đầu cho đến
cuối thế kỷ 19. Lại còn sách của Khổng Tử (dịch ra tiếng Pháp, trong đó có một
tập Đại học, tập Trung dung...), quyển sách của Khổng Tử bìa đen này để trong một
góc tủ cậu tôi không hề mó tới; sau này cậu tôi cho tôi quyển sách đen ấy, tôi
cũng để một góc tủ không hề mó tới cho đến năm tôi đậu tú tài toàn phần tôi đem
cho một người bạn ham nghiên cứu triết học Trung Quốc.
Trong tủ sách của cậu tôi còn có một số “tập san của Những
người bạn của Huế cổ kính” trong đó có nhiều tranh in màu vẽ lăng miếu, cung điện
ở Huế. Thỉnh thoảng cậu tôi lại trích trong tập san ấy những đoạn văn ngắn để đọc
chính tả tiếng Pháp cho chúng tôi viết Tôi còn nhớ có cả quyển Bình yên của
Dufresne.
Tủ sách của cậu tôi là trường học văn thơ đầu tiên của tôi.
Tôi say sưa đọc văn thơ tiếng Việt, chẳng mấy lúc mà đọc hết; đọc hết lại đọc lại.
Có những lúc tôi đọc cho mợ tôi nghe, nhất là đọc vè Thông Tằm, vè Kinh đô thất
thủ, đọc truyện Thạch Sanh và các truyện Nôm khác. Rồi tôi tập đọc dần sách tiếng
Pháp, tất nhiên là không hiểu hết; tôi hỏi cậu tôi, đề nghị cậu nói tóm tắt từng
truyện rồi tôi mò tìm hiểu dần từng trang. Rõ ràng cái tủ sách của cậu tôi đã
hé mở cho tôi cái thế giới kỳ diệu của văn chương, nghệ thuật. Cái thói quen
hay mua sách, hay gom sách, hay tích luỹ sách hay của tôi cũng bắt nguồn từ đó.
Tủ sách, và chính cậu nữa đã gây cho tôi cái thú ham đọc sách, cái thú tìm niềm
vui thanh khiết trong sự đọc sách, trong sự tiếp xúc với những tâm hồn Đông,
Tây kim, cổ. Cậu tôi chết sớm năm 1946 tại Thanh Hoá lúc đó cậu mới 47 tuổi. Tủ
sách thân yêu của cậu và của tôi về sau bị phân tán, mất mát dần qua những lần
cậu tôi đổi nơi làm việc, và cũng bị người này lấy đi một ít, người kia lấy đi
một ít. Nhưng tủ sách ấy vẫn còn, còn ở trong tâm trí tôi; còn ở chỗ thân yêu
nhất trong kỷ niệm của tôi. Nếu bác Cù Hoàng Thự đã khai tâm cho tôi về chữ quốc
ngữ, thì cậu tôi và tủ sách của cậu đã khai tâm cho tôi về khiếu thẩm mĩ về nhận
thức cái đẹp và cái hay trong sách và trong đời Vừa rồi tôi gặp mợ tôi, tôi nhắc
đến tủ sách, mợ tôi cũng còn nhớ rõ các truyện, các vè mà tôi đã đọc cho mợ
nghe. Mợ tôi nói: “Anh làm thơ hay, nhớ đến tủ sách, thì cũng thoả lòng cậu”.
Khi quyển thơ đầu tiên của tôi, là tập Lửa thiêng ra đời năm 1940, tôi có gửi tặng
cậu, mợ một bản đẹp, nghe nói cậu cũng cho vào tủ sách và đọc đi đọc lại nhiều
lần. Nếu tập thơ đầu của tôi đã phần nào làm cậu hài lòng, làm cậu hứng chí trong
những giờ rảnh rỗi thì nó cũng là mong muốn một tôi đáp lại cái công ơn đào tạo
và khơi nguồn của cậu. Nhân nói tủ sách, tôi còn nhớ cậu có quyển tự vị
Larousse khá mới, và chúng tôi hay mở từng trang xem các minh hoạ trong đó,
nhân đó học thêm tiếng, học dễ nhớ nhờ có hình.
Hai tủ sách và hòm sách của tôi bị trôi sông và bị cháy trong
kháng chiến
Như một đoạn trên tôi đã kể, trước ngày kháng chiến toàn quốc
bùng nổ (19-12-1946) tôi và anh Xuân Diệu đã chở cái tủ sách của chúng tôi về gởi
nhà ông Trương Đăng ở Kim Bài (huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông) gần phía Vân
Đình. Những ngày đầu kháng chiến chúng tôi còn ở lại Kim Bài vài tuần, và vẫn đọc
sách với nhưng vốn văn học cổ kim đông tây mà chúng tôi đã mua góp được vào tủ
sách quý của mình.
Trong tủ sách có nhiều tác phẩm văn học cổ điển của ta như
Truyện Kiều (nhiều bản khác nhau), Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Tần cung
oán Bái Công văn, 3 tập Văn đàn bảo giám, Đại nam Quốc sử diễn ca, Nam hải dị
nhân, có cả Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Hán Việt văn khảo của Phan Kế
Bính, nhiều sách của Tự lực văn đoàn... Đặc biệt có những truyện nôm dân gian
mà tôi đã cóp nhặt mua ở phố Hàng Gai (như Thạch Sanh, Trương Viên, Trê cóc,
Bích câu kỳ ngộ, Nữ tú tài, Trinh thử, Thoại Khanh Châu Tuấn, Tống Trân Cúc Hoa,
Phạm Tải Ngọc Hoa, Trương Chi, Bần nữ thán, Nhị độ mai...) và tôi đã cho đóng
thành 1 quyển dày bằng quyển tự vị Larousse, với gáy da đề dòng chữ vàng “Hồn cổ
Việt”.
Trong tủ sách ấy còn cả báo Ngày nay đóng thành 3 tập trong
đó có đăng thơ của anh Xuân Diệu và của tôi lại còn tập hồ sơ xây dựng chính
quyền nhân dân mà anh Nguyễn Thượng Đạt và tôi đã cất giữ sau khi giúp Bộ Nội vụ
của ta xây dựng sắc lệnh 68 là sắc lệnh tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
hành chính các cấp (người chủ trì việc soạn thảo sắc lệnh này là anh Võ Nguyên
Giáp, lúc đó là bộ trường Bộ Nội vụ kiêm thứ trưởng Bộ Quốc phòng và kiêm tổng
chỉ huy vệ quốc đoàn). Đến sau Tết, chúng tôi lên Việt Bắc, thì tủ sách vẫn gởi
lại nhà ông Trương Đăng, chúng tôi chỉ mang theo mình dăm ba quyển mà thường
hay đọc lại. Thế rồi quân đội Pháp đánh rộng ra, chiếm đóng cả tỉnh Hà Đông, và
từ các đồn bốt đóng ở các huyện ly, ở các ngã ba đường xung yếu chúng đi lùng sục
các làng, nhất là các làng ven đường cái ven các trục giao thông quan trọng.
Làng Kim Bài ở sát bên một trục giao thông ấy đi từ thị xã Hà Đông đến Vân
Đình, và đi xuống khu Ba. Gia đình ông Trương Đăng hơi hãi, bèn nghĩ cách tẩu
tán tủ sách của chúng tôi, vì bọn lính Pháp hay tay sai của chúng mà phát hiện
được tủ sách thì chủ nhà sẽ bị vạ lây.
Tẩu tán bằng cách gì? Gia đình đã nghĩ cách đem sách ra đốt,
nhưng đốt cũng lâu và khói um lên dễ bị bọn Việt gian nghi ngờ... Nhưng người
nhà đang tính tới tính lui như vậy thì bọn lính Pháp và lũ tay sai ở huyện đã
kéo đến đầu làng. Người nhà vội vàng khiêng cả tủ sách vứt xuống ao to phía đằng
sau nhà. Từ nhà ra bờ ao cũng khá xa, nhưng cả nhà hì hà hì hục gánh tủ sách
đông tây kim cổ và hồn cổ Việt của chúng tôi cho xuống đáy ao. Đó là về sau lúc
kháng chiến thành công trở về Hà Nội, chúng tôi được nghe kể chuyện lại như vậy,
chứ lúc tủ sách chìm nghỉm xuống đáy ao thì chúng tôi đã ở Việt Bắc rồi, đâu có
biết? Những nhà văn, những nhà thơ đông tây kim cổ yêu mến của chúng tôi, những
Nguyễn Du, những Victo Huygô, những nhà thơ Đường, những tác giả truyện nôm...
Có biết cái nông nỗi bị dìm xuống ao vì cuộc xâm lăng của thực dân không? Còn
cái hòm sách quý của anh Diệu và tôi toàn đựng tác phẩm của Huy Xuân (nhiều bản
của Thơ thơ in lần thứ nhất và thứ hai, của Phấn thông vàng, mười mấy bản in giấy
đẹp của Lửa thiêng, và một số bản thảo của chúng tôi), và đây chính là cái
rương bằng gỗ thông mà tôi đã dùng trong suốt 7 năm học ở trường quốc học ở huyện
Hương Khê (Hà Tĩnh) và đã bị cháy theo cả cái trại nơi chúng tôi gởi không cứu
được một chút gì. Về sau này anh Diệu và tôi phải công phu đi sưu tầm các tác
phẩm đầu tay của mình, qua bạn bè và qua các hiệu sách cũ. May mà gia đình tôi ở
Ân Phú còn giữ được một bản Lửa thiêng giấy đẹp và một bản Phấn thông vàng. Anh
Lương Xuân Nhị thì đã tặng lại anh Xuân Diệu tập Thơ thơ mà anh Diệu đã tặng
anh ấy lúc sách mới ra đời (chính Lương Xuân Nhị đã trình bày tập Thơ thơ). Khi
mới giải phóng Sài Gòn, tôi vào công tác trong đó thì ông Nghiêm Thẩm, một người
bạn yêu thơ, đã tặng lại tôi bản Lửa thiêng in trên giấy rất đẹp. Và sách của
chúng tôi cũng được các nhà xuất bản trong Sài Gòn tái bản thời kỳ Mỹ nguỵ (dưới
cái nhãn hiệu là sách tham khảo cho các trường đại học văn khoa trong đó) cho
nên chúng tôi cũng thu lượm được một số bản in lại trong hoàn cảnh ấy. Một tủ
sách bị dìm xuống sông, một rương sách bị lửa đất cháy, đó là số phận của sách,
của văn thơ trong một trường hợp nhỏ là hai anh em làm thơ chúng tôi qua một chặng
đường khói lửa của dân tộc. Từ đó chúng tôi ngẫm ra: qua bao nhiêu thời đại,
bao nhiêu thế kỷ qua bao nhiêu biến cố lịch sử, qua bao nhiêu binh lửa trên nước
nhà, thì ông cha ta đã mất mát biết bao nhiêu vốn sách vở, vốn văn hoá, văn nghệ.
Ngày nay chúng ta có nhà in in sách ra nhiều bản, mà tìm lại những sách đã mất
còn khó thay, huống hồ cha ông ngày xưa chỉ chép tay hay chỉ in được một số ít
bản bằng mộc bản! Tôi cứ tiếc ngẩn tiếc ngơ bản Lửa thiêng giấy Arches dày, đẹp
và có kèm theo 12 bức minh hoạ của anh Tô Ngọc Vân vẽ bằng thuốc nước rất đẹp
(anh Tô Ngọc Vân là hoạ sĩ đã trình bày bìa rất đẹp cho tập thơ Lửa thiêng của
tôi). Bây giờ có Cục lưu trữ quốc gia là một nhiệm vụ là lưu trữ cả các tài liệu
văn học, nghệ thuật. Với sự khuyến khích thúc giục của đồng chí Hoan, tổng cục
trưởng lưu trữ tôi đã gởi một số tác phẩm in thành sách của anh Xuân Diệu và của
tôi vào kho lưu trữ.
Tập 2- F
Cậu tôi lúc ở Quảng Điền phải chép bài luân lưu cầu nguyện
cho thế giới khỏi tận thế
Đầu năm 1928 lúc cậu Vân tôi đang còn làm hiệu trường trường
tiểu học huyện Quảng Điền, và lúc đó tôi còn học lớp tư, một hôm cậu tôi nhận
được một bức thư khá dài khoảng 3 trang viết tay. Thư không ký tên, còn nội
dung thì đại khái nói là thế giới sắp đến ngày tận thế, và hễ ai nhận được bức
thư này thì phải chép ra 20 bản gởi đi cho những người quen thân, như vậy là một
cách cầu nguyện Chúa để cho Chúa cứu lấy cuộc đời này khỏi tận thế. Hễ ai nhận
được thư mà không chép gửi đi, thì người đó thế nào cũng bị Chúa phạt, sẽ mắc nạn
sớm hay muộn. Cậu tôi nhận được thư đọc cho học trò trong nhà nghe giọng như đầy
màu sắc tôn giáo và mê tín, và không ai dám cười, mặc dù cả thầy trò đều không
ai theo đạo. Những lời cầu nguyện trong thư, tôi không nhớ hết, nhưng có những
ý nằm trong kinh thánh mà về sau đến lúc đọc kinh thánh thì tôi gặp lại và mới
biết là bức thư luân lưu đã trích dẫn kinh thánh rất nhiều nhất là trích những
ý ở đoạn Apôkalíp (tận thế) cậu tôi ngẫm nghĩ một buổi rồi cũng quyết định chép
bức thư dài 3 trang ra 20 bản, may mà lúc ấy giấy cũng không đắt lắm, vả lại cậu
tôi cứ lấy giấy của văn phòng trường mà chép. Cậu tôi nói: “Chép cũng mất công
một chút, nhưng như thế cho nó yên tâm, nhỡ mình không chép mà gặp tai nạn rồi
lại hối không kịp!”. Cậu chia cho học trò chép, và bản thân cậu cũng chép 3 bản,
tôi cũng có chép 3 bản. Chép xong phải nhớ địa chỉ của người quen thân mà gửi
đi. Tội nghiệp cho những người nhận được thư luân lưu này lại phải nằm bò ra mà
chép mỗi người 20 bản. Về sau tôi nghĩ không biết đây là một điều mê tín của những
người cuồng đạo, 10 sợ thế giới tận thế, hay là mưu mẹo của một hãng buôn giấy
nó bày ra cái trò chơi tốn giấy này? Dù sao thì sau khi gởi 20 bản thư cầu nguyện
cho cuộc đời khỏi tận thế, cậu tôi cũng yên lòng và cũng không thấy tai nạn gì
xảy đến với mình.
Gần đây tôi đi họp ở Pháp một số lần, lại có một số người
Pháp nói là nên cầu nguyện Chúa trời cứu cho loài người khỏi tận thế vì sắp đến
năm 2000, và vì chiến tranh nguyên tử chắc khó tránh khỏi! Câu chuyện lo lắng
này lại nhắc tôi nhớ tới bức thư luân lưu năm 1928 mà cậu tôi phải nhân ra bằng
chép tay. Nếu bây giờ có vị nào có sáng kiến gửi thư luân lưu để cầu nguyện cho
số mệnh của loài người thì chắc là sẽ nhân lên vạn bản và bằng máy tính điện tử!
Thầy Ngôn dạy lớp nhất
Ghi những năm tháng tôi học ở trường Queignec tôi không thể
không nhớ đến thầy Trương Cảnh Ngôn đã dạy tôi ở lớp nhất, vì thầy không chỉ dạy
bài vở để đi thi, mà thầy còn làm cho chúng tôi cảm thấy được cái hay, cái đẹp
trong văn chương. Tôi đặc biệt nhớ thầy đã dạy chúng tôi bài học thuộc lòng bằng
tiếng Pháp Kỷ niệm ngày tựu trường của Anatole France. “Tôi sẽ kể cho các bạn
nghe mỗi năm trời thu xao xuyến, những bữa cơm chiều đầu tiên ăn dưới ánh đèn,
và những lá bắt đầu úa vàng trong những hàng cây run rẩy gió, tất cả những cái
đó đã xui tôi nhớ đến những gì.... Đoạn văn rất nội tâm và đầy âm nhạc, và đầy
chất thơ của Anatole France đã được thầy Ngôn diễn đạt rất xúc động, làm cho
chúng tôi thấy rung cảm thấm thía cái không khí tựu trường và nỗi niềm kỷ niệm
của tác giả. Thầy Ngôn cũng nói lúc giảng cho chúng tôi bài này, thầy cũng cảm
động nhớ lại những buổi tựu trường trong tuổi nhỏ của thầy. Rồi thầy đọc đi đọc
lại bài văn, có thể nói là ngâm ngợi, cho chúng tôi nghe, như thế gọi là đọc diễn
cảm. Mà giảng bài này đối với thầy tôi cũng là sống lại nhưng kỷ niệm vấn
vương, đẹp đẽ. Đoạn văn của A. F. học năm 1931, cách đây 55 năm, quá nửa thế kỷ
mà tôi vẫn thuộc lòng, không quên một chữ. Năm 1938, tôi cũng xúc động về cái
không khí xôn xao của buổi tựu trường, tôi đã viết bài thơ Tựu trường mà nhiều
bạn đọc nhớ và thích. Bài thơ của tôi không có điểm nào giống đoạn văn của A.
F., nhưng cái đẹp của kỷ niệm tựu trường mà A. F. đã diễn đạt đầy xúc cảm đã gợi
cho tôi tứ thơ, tôi biết ơn cả thầy Ngôn và Anatole France.
Đọc truyện Tàu cho bà mợ nghe
Mợ Vân tôi ham xem truyện Tàu, bảo tôi đi thuê các truyện ở một
quán sách rồi về đọc cho mợ nghe, những giờ nghỉ hoặc chiều chủ nhật. Thôi thì
đọc đủ thứ: Thuyết Đường diễn nghĩa, Anh hùng náo, Tiết Nhân Quí, Tiết Đình San,
Chinh đông chinh tây, La Thông tảo bắc, Tam quốc chí, Tái sinh duyên, Tục Tái
sinh duyên, Song phượng kỳ duyên... Khi đầu tôi đọc cho mợ nghe là vì nhiệm vụ
phải làm chưa thấy thích, nhưng cứ ề à đọc mãi về sau tôi cũng thấy thinh
thích. Tôi đặc biệt nhớ pho truyện Thuyết Đường diễn nghĩa, với cái chuỳ nặng
nghìn cân của Lý Nguyên Bá, với cái cười rồi chết của Trịnh Giảo Kim... Tôi còn
nhớ trong truyện này hoặc một truyện khác, có ông vua cầm cái trâm cắm mặt trời
lại, giữ mặt trời ở mãi buổi trưa, để ông vua đủ ánh sáng tìm một vật quí gì
đánh rơi mất. Không biết tình tiết này có trong truyện không, nhưng tôi cứ nhớ
là có, và điều đó gây ấn tượng kỳ lạ, thần tiên, huyền bí trong tâm trí tôi.
Người và trời đất có một mối quan hệ gì mật thiết lắm, cảm quan ấy tôi đã nghe
từ tuổi nhỏ, gắn với những truyện cổ kim đông tây tôi được đọc trong tủ sách của
cậu tôi. Tam quốc chí lại cho tôi một cảm giác khác, cảm giác về sự giao thiệp
giữa người và người trước hết là cảm giác về tình bạn giữa Lưu Bị, Quan Công, Trương
Phi. Ở đây tôi không bình luận, không đánh giá Tam quốc chí cũng như các truyện
Tàu khác, tôi chỉ ghi ấn tượng mà các truyện ấy đã để lại trong tâm hồn thơ bé
của tôi. Cảm giác các truyện ấy gậy ra thì khá lộn xộn, dường như tâm trí đứa
bé chỉ giữ lại những cái đẹp, cái huyền diệu, cái rung cảm về tình người...
Trong bài thơ Tựu trường đã nhắc đến trên kia, có mấy câu:
Buổi chiều đầu họ tìm bạn kết duyên
Trong sân trường tưởng dạo giữa Đào viên
Lòng hé mở giữa tay đời ấm áp...
Đào viên là vườn đào nơi kết nghĩa của Lưu Bị Quan Công và
Trương Phi. Lại còn nàng Phàn Lê Huê mê Tiết Đình San, tung hồ lô lên trời.
Nàng đẹp quá và tình nàng nồng nhiệt, phép tiên của nàng tuy kỳ ảo nhưng không
đủ để bắt được người yêu. Rút cục lại cũng phải tấm lòng mới chinh phục được tấm
lòng...
Lớn lên tôi ít đọc truyện Tàu, mà cũng không thích đọc trừ những
quyển gọi là truyện nhưng thực sự lại là sử như: Đông Chu liệt quốc, và Sử ký của
Tư Mã Thiên. Tây du về sau này tôi mới đọc, và cái thú đọc Tây du lúc đã đứng
tuổi lại có một màu sắc khác, không như cái thú mê truyện hồi còn bé. Dầu sao
thì cái việc là “thì đọc” cho mợ tôi cũng đã cho tôi một số cảm giác, một số ấn
tượng mặc dù lộn xộn, nhưng không phải là thừa đối với đứa bé đang lớn lên, vì
theo tôi, phải cần tất cả để nhào nặn nên tâm hồn của một con người.
Tôi không chỉ đọc truyện Tàu cho mợ tôi nghe mà còn đọc một số
truyện của ta xuất bản hồi đó, truyện dã sử gợi lên lòng yêu nước. Tôi không nhớ
những sách ấy do nhà xuất bản nào xuất bản, nhưng khổ sách cũng như khổ các
truyện Tàu, và sách xuất bản vào những năm 1925, 1926, 1927... Tôi đặc biệt nhớ
hai truyện: Tiếng sấm đêm đông nói về cuộc khởi nghĩa của Ngô Quyền (tác giả là
ai tôi quên mất), và Vị quốc vong thân của Nguyễn Trậm Dự. Truyện sau này kể lại
cuộc chiến đấu của những sĩ phu và nhân dân yêu nước chống quân nhà Minh, chống
Trương Phụ. Truyện viết rất xúc động, lúc tả mấy sĩ phu yêu nước bị Trương Phụ
bắt và hành hình thì mợ cháu tôi và những người nghe xung quanh đều khóc nức nở.
Sau này vào thư viện Hà Nội tôi cứ tìm mãi quyển Vị quốc vong
thân để đọc lại mà không tìm thấy, không biết có phải chính quyền Pháp đã loại
cuốn sách yêu nước này đi, hay là do sự quản lý không chặt chẽ của thư viện đã
để mất sách. Lại còn truyện Sóng hồ Ba Bể cũng rất hấp dẫn (hình như tác giả là
Tam lang Vũ Đình Chí).
Chúng tôi còn đọc tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt trong sách
quảng cáo dầu Nhị Thiên Đường như truyện Gương vỡ lại lành mà mợ tôi nghe cũng
lấy làm lý thú và xúc động. Chúng tôi còn đọc Ánh trăng thu của Bửu Đình, Giọt
lệ sông Hương của Tam lang Vũ Đình Chí, Tuyết Hồng lệ sử của Từ Trẩm Á (tác giả
Trung Quốc dịch ra quốc văn) và nhiều truyện nữa. Tủ sách của ông cậu, những giờ
đọc sách với bà mợ cũng đã góp phần khêu gợi cái thú văn chương cho tôi.
Lụt vào nhà, vẫn ngồi học
Năm đó tôi học lớp nhất. Vài tháng sau kỳ tựu trường thì phải,
có trận lụt to nước vào nhà đến gần đầu gối. Mọi thứ trong nhà dọn lên giường:
gạo, thức ăn, hòm rương, sách vở... ở giữa phòng ngoài, có một cái giường to của
mấy anh em học sinh người Quảng Nam và tôi thường ngủ. Bên cạnh giường có cái
bàn vuông để ngồi học. Các bạn học sinh đều nhân nước lụt mà bỏ đi chơi, bì bõm
ngoài đường. Chỉ có tôi ngồi trên giường, chân ngâm trong nước lụt, chăm chỉ
chép bài, học ôn bài cho thi học kỳ. Tôi còn nhớ lúc đó tôi cố chép cho xong những
bài toán yếu về sử, địa, lý nhất là khoa học thường thức để kịp trả quyển vở
cho bạn Lương Văn Chí. Mợ tôi và dì Em thấy tôi chăm học thì khen và cho tôi ăn
trước mọi người bát cơm nếp lạc. Dì Em bảo: “Mai sau mi làm nên, đừng có quên
bát cơm nếp lạc nghe không!”. Mỗi lần đến thăm dì tôi vẫn nhắc mẩu chuyện này
thì dì bảo: “Bây giờ anh có cho tôi ăn xôi lạc thì tôi cũng chẳng còn răng mà
ăn!”. Sau trận lụt ấy, không hiểu vì sao mà anh Cúc (cháu gọi mợ bằng cô) và
tôi bị ghẻ ruồi khắp lưng, khắp bụng, và cả ở chân tay nữa. Mợ Vân nấu nước lá
(tôi nhớ là có lá sầu đông, tức là lá xoan) tắm cho hai chúng tôi, rồi bôi thuốc
ghẻ, thứ thuốc vàng vàng mà tôi quên tên, chờ cho thuốc khô mới cho chúng tôi bận
áo quần. Phải mấy lần tắm nước lá và bôi thuốc như vậy mới khỏi ghẻ.
Ở nhà cậu tôi, chiều chủ nhật thường các bạn của cậu đến đánh
tổ tôm. Tôi phải chia bài, nhiều khi bực mình, tôi lớp bài cho mọi người cầm
bài lên đều thấy bài mình tốt, ông thì chạm chờ tôm, ông thì bài bạch định mà
cũng chạm chờ, ông thì thập hồng... Người cái đánh một con, mọi người hồi hộp.
Bốc lên một con là có người ù, và mấy người kia đều đập giường tiếc cho ván bài
của mình quá đẹp mà bị ù tay trên...
Tôi đứng thấy buồn cười, mà không dám cười. Về sau cậu tôi biết
được trò nghịch ngợm của tôi, lấy thước thẻ vào mấy ngón tay tôi, cấm về sau
không được lớp bài như thế nữa. Nhưng từ đó về sau cậu tôi cũng ít bắt tôi chia
bài tổ tôm, có phải vì cậu sợ tôi lại lớp bài chăng.
Ông cậu dạy tôi học Tôi có trực tiếp học cậu tôi ở trường
Queignec suốt năm lớp nhì đệ nhất niên (1929-1930) nhưng cậu tôi còn dạy tôi ở
nhà những ngày chủ nhật và những ngày nghỉ. Cậu tôi thu nhặt những tờ giấy mà học
trò các khoá trước đã làm bài thi, còn một mặt trắng đóng lại thành quyển vở
như vở chữ Hán cho tôi làm bài. Mỗi sáng chủ nhật, cậu đọc cho tôi một bài
chính tả tiếng Pháp, và bắt tôi làm một bài luận tiếng Pháp. Chưa hết, ông còn
bắt tôi làm mười bài toán mà đề toán lấy ở quyển sách toán của Brachet, nếu làm
buổi sáng chưa xong toán và luận, thì chiều chủ nhật không được đi chơi, phải ở
nhà làm cho xong bài. Nhưng không những trong buổi sáng tôi làm xong luận, mười
bài toán cậu ra mà tôi còn làm thêm mười bài nữa tôi tự chọn lấy. Ông cậu cuối
buổi sáng chấm xong bài thấy làm tốt cả, chỉ nói: “Chiều nay cho đi chơi”. Và cậu
tôi tự tay mình chép lại bài chính tả vào một quyển vở cho tôi và ghi ở dưới
bài những tiếng một mà tôi cần học, cả những điểm lắt léo về văn phạm nữa. Cứ
thế tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, tôi tiến bộ nhanh trong học
tập nhờ sự dìu dắt hết lòng và rất có phương pháp sư phạm của cậu tôi. Quyển vở
chép bài học thuộc lòng nói trên tôi đã giữ mãi cho đến ngày kháng chiến chống
Pháp thì bị cháy trong một cái rương cùng một số bản thảo và mấy bản Lửa thiêng
in đẹp của tôi rương sách và bản thảo này lúc đó gởi gia đình anh Xuân Diệu dời
về Hương Khê (Hà Tĩnh).
Nẩy nở hồn thơ
Trong phần tuổi nhỏ trên kia, tôi đã kể sự tiếp xúc đầu tiên
của tôi với Truyện Kiều, với thơ như thế nào. Vào học ở Huế, trong khung cảnh đẹp
của sông Hương núi Ngự, trong môi trường đằm thắm văn nghệ dân gian, ở phố Đông
Ba, với cái tủ sách kỳ diệu của cậu tôi khiếu thơ của tôi đã gặp điều kiện thuận
tiện để nẩy nở. Bạn học của tôi lúc đó là anh Đồng Sĩ Hiền cũng mê thơ văn, và
hai đứa một ngày chủ nhật rủ nhau đi chơi cửa biển Thuận An thì mang theo Chinh
phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc. Buổi trưa hè, dưới bóng những cây phi lao rào
rào gió biền hai chúng tôi ngâm ngợi một cách say sưa thơ của Đoàn Thị Điểm và
của Nguyễn Gia Thiều, đặc biệt là mấy đoạn sau đây:
Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thuỷ khôn bằng thuyền...
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió thu
(Chinh phụ ngâm)
Cầu thệ thuỷ nằm trơ cổ độ
Quán thu phong đứng rũ tà huy
Phong trần đến cả sơn khê,
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này...
(Cung oán)
Hiền và tôi ngâm lên thấy réo rắt trong lòng, và cũng buồn
man mác. “Quán thu phong đứng rũ tà huy”, lúc bấy giờ trời đã ngả chiều, mặc dù
không phải mùa thu, mà chúng tôi cũng buồn rười rượi...
Chúng tôi lại còn đi chơi núi Ngự Bình, dưới bóng những cây
thông, trong nắng chiều vàng, chúng tôi lại cùng nhau đọc Giọt lệ thu của bà
Tương Phố...
Nhưng không chỉ có thơ gợi ý thơ, mà cảnh trời, cảnh đồi xung
quanh tôi cũng cho tôi những rung động thơ đầu tiên. Cây bàng lá rụng, ngọn gió
sông hiu hắt, cây bồ hòn đứng lặng trong chiều đông, rồi tiếng đàn của ông Cả
Soạn, của anh Cháu đờn, ông xẩm chợ kể vè rồi tình bạn trẻ thơ, tiếng gió biển
trong rừng phi lao, ánh nắng thu trên mái rừng thông, tiếng chuông chùa Diệu Đế,
tiếng hò mái nhì, mái đẩy trên sông Hương... Tất cả đã làm xao động trong tôi
cái cảm giác thơ:
Nhớ buổi đầu tiên rung động thơ
Sân trường tiểu học tuổi mười ba
Cây bàng lá rụng mình trần trụi
Gió rít ngoài sông, thuyền nép bờ.
Dãy phố Đông Ba dài xứ Huế
Cây bồ hòn lặng đứng chiều đông
Xa nhà theo cậu lo ăn học
Phận học trò nghèo đâu dám ngông.
Nhưng có niềm chi nửa lặng im
Nửa như ai đốt cháy trong tim
Sân trường những buổi ra chơi ấy
Có phải hồn non đã tự tìm
Thơ đến tìm ta tự lối nào
Từ cành tái vỏ cây bàng cao
Hay từ mặt nước se theo gió
Từ những bàn tay bạn kết giao
Rạo rực nghe thơ kề má lửa
Giữa chiều đông tím một sân trường
Câu thơ thứ nhất không còn nhớ
Nhưng nhớ còn rành nỗi mến thương.
Chỉ nhớ trời thơ rất bạn bè
Duyên thơ mời bén đã say mê
Yêu đời tập sự bằng yêu bạn
Nghe đất trời cùng tự lắng nghe
(1972)
Tập 2- G
Vào học cấp thành chung (trung học)
Tháng 6-1932 tôi đậu bằng tiểu học và sau đó tôi thi đậu vào
trường quốc học (cấp thành chung, tức là trung học thời ấy). Tháng 9 năm ấy là
tựu trường đầu tiên của tôi vào trường quốc học, và tôi được vào ký túc xá, vì
đậu cao được cấp học bổng toàn phần.
Ôi náo nức của một thời trẻ dại
Hỡi ngói nâu, hỡi tường trắng, cửa gương
Những chàng trai mười lăm tuổi vào trường
Rương nhỏ nhỏ với tâm hồn bằng ngọc...
Thật là náo nức buổi tựu trường đầu tiên này. Được nhà cho mấy
đồng bạc, tôi liền đến một hiệu đồ gỗ trong thành Huế, gần cửa Thượng Tứ mua một
cái rương (hòm) bằng gỗ thông, đánh véc ni màu đỏ thẫm và có nẹp mấy nẹp sắt
sơn đen. Cái rương khá rộng đủ cho hết quần áo và sách vở của tôi vào trong.
Mùi gỗ thông lẫn với mùi véc ni thơm phức gây cho tôi một cảm giác say say gần
như rạo rực trước buổi vào trường. Rương lại có hai cái khoá bằng đồng sáng
choang, mỗi lúc mở lại có tiếng kêu keng càng tăng vẻ sang trọng của chàng học
sinh quốc học. Trong nắp rương có hai đường nẹp bằng gỗ thông để sau nẹp ấy có
thể gài những hồ sơ, lý lịch, các giấy tờ của một học sinh tựu trường. Tôi nảy
ra cái ý dán trên hai cái nẹp ấy mấy câu mà tôi rất thích, học được trong sách,
như để làm phương châm cho mình:
“Đã sinh ra đứng trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”
(Nguyễn Công Trứ)
“Biết cắn răng để chịu thiệt, đứng vững gót mà làm người”
(Ngạn ngữ xưa)
Tôi viết hai câu này bằng mực tàu mài ra, chữ rất đen trên giấy
croquis (giấy để vẽ) và dán vào trên hai nẹp thông trong nắp rương và lấy làm
tâm đắc.
Chiều ngày 15-9-1932 tôi thuê một cái xe kéo chở hòm vào trường
Quốc học. Sân trường rộng quá, có hai bụi tre đằng ngà rất đẹp ở trước cái nhà
chơi. Nhưng tôi chưa để thì giờ khám phá cái thế giới khá hấp dẫn ở trong sân
trường. Tôi phải lên ngay phòng ngủ ở trên gác của ngôi nhà lớn bên phải của
trường.
Mỗi học sinh nội trú được nhận một cái giường cá nhân bằng gỗ
lim rất chắc chắn, với một cái màn tuyn rất trắng, trắng như bọt sóng biển. Và
thích nhất là mỗi chúng tôi được chia mỗi người hai cái ngăn tủ con trong một
cái tủ đứng cũng bằng lim, còn khoá thì tự mình lo lấy, nghĩa là chúng tôi phải
đem theo đinh khuy và khoá bóp. Mỗi ngăn tủ dài 60 phân rộng 50 phân và cao 40
phân, tha hồ chứa áo quần và sách vở, và còn có thể để vào đó những vật kỷ niệm
những thẩu đường, những thức ăn khô mà nhà gửi cho. Tôi đứng trước hai ngăn tủ,
xếp áo quần và sách vở còn thức ăn khô thì tôi chẳng có, mà say sưa ngửi mùi
véc ni của tủ mới đánh, véc ni rất thơm, thơm mùi nhựa thông, thoang thoảng như
hương những gốc cây thông mà tôi đã hít thở ở sườn núi Ngự. Chính cái mùi thơm
của tủ mới ấy đã vào trong bài thơ Tựu trường của tôi (1938):
Tựu trường đó, lòng tôi vừa bắt gặp
Nỗi xôn xao thầm lặng ở trong rương
Của chàng trai mười lăm tuổi vào trường
Mắt tin cậy và tóc vừa dưỡng rẽ
Người bạn nhỏ! Cho lòng tôi theo ghé
Không nỗi gì có thể vuốt ve hơn
Đêm tựu trường mùi cửa sổ mới sơn
Tủ mới đánh, và lòng ta thơm ngát.
Xếp sách và áo quần xong, tôi ra cửa sổ nhìn xuống sân trường,
lúc đó đối với tôi thật là bát ngát thơ mộng. Dọc hai đường đi kết thành chữ thập
của sân có những cây hoa phượng, lá vẫn rất xanh, còn hoa thì đã rụng gần hết,
nhưng lơ thơ trên mỗi cành còn vài hoa, màu đỏ rất thắm, tường như là mùa hè đã
tàn gởi lại những nụ cười tươi tắn cuối cùng. Sau bữa cơm đầu tiên trong nhà
ăn, tôi ra dạo ở hai con đường có hoa phượng ấy, tìm làm quen với những bạn
cũng mới vào ký túc xá với tôi, nhất là tìm gặp những bạn sẽ học cùng lớp. Nói
sao hết sứ bồi hồi cảm động của những chàng học sinh 13, 14 tuổi đi tìm bạn
trong buổi chiều đầu tiên tựu trường.
Trong sân trường này, trong trường Quốc học này tôi đã gặp
bao nhiêu là bạn, tôi đã kết được bao nhiêu tình bạn, nó bền chặt cho đến ngày
nay. Những tình bạn này tôi sẽ kể đến trong một hồi sau. Đã nhiều lần tôi về
thăm trường Quốc học trước Cách mạng tháng Tám, cũng như sau ngày Huế được giải
phóng. Đi qua những lớp xưa kia tôi đã ngồi học, tôi bồi hồi xúc động nhớ lại
những thầy, những bạn, mà trong số đó đã có nhiều người không còn nữa. Tôi cũng
có thể nói như một nhà văn xưa kia: “Sau những cánh cửa đóng kín này, còn ngủ lại
một phần quá khứ của tôi”. Trong những bạn học của tôi, có những người đã hy
sinh trong cuộc chiến đấu lâu dài giải phóng dân tộc, cũng có người đã chết bệnh,
và than ôi cũng có một hai người đã chết điên vì đi tìm lý tưởng mà không gặp
được lý tưởng. Trong mấy dòng hồi ký của tôi xin các bạn yên nghỉ, hoặc vì các
bạn đã làm xong phận sự thiêng liêng đối với quê hương đất nước hoặc vì lý tưởng
mà các bạn không kịp tìm thấy thì anh em chúng tôi may mắn được sống lâu hơn đã
tìm thấy trong đời... Người ta trường nói: Trường học là một cái xã hội, một xã
hội con trong một xã hội lớn có tường rào ngăn cách phần nào, nhưng âm vang của
xã hội lớn vẫn len vào trong xã hội của trường. Tôi thấy đúng như thế, mặc dù
không khí trong trường giữa thầy với bạn, giữa bạn học với nhau vẫn giữ được
cái gì thanh tao, đầm ấm. Tôi sẽ kể nhiều về những năm tháng sống và học ở trường
Quốc học vì ở đó tôi đã may mắn có nhiều thầy giáo tốt và gặp được nhiều bạn tốt,
trung thành, thuỷ chung.
Năm tôi vào Quốc học, nhà trường lại xếp 35 người đỗ trên vào
lớp A, và 35 người cuối sổ vào lớp B.
Thành ra lớp A của tôi là một lớp đặc biệt xuất sắc có nhiều
học trò giỏi, thầy nào đến dạy cũng lấy làm hài lòng. Trong số bạn lớp A của
tôi, có nhiều bạn sau này đã trở thành nhà khoa học, thầy thuốc nổi tiếng nhạc
sĩ có tài, kịch tác gia độc đáo. Một số bạn khác đã tham gia quân đội kháng chiến
và cũng đã trở thành những nhà quân sự có tài. Tôi riêng nhớ bạn Nguyễn Hoà
Dung và bạn Phạm Gia Ninh là hai bạn rất mê văn thơ Việt Nam và đã cùng tôi
nung nấu hoài bão trao đổi tiếng nước nhà, cái tiếng Việt mà chúng tôi yêu một
cách tha thiết, da diết. Xin nói rõ: chúng tôi là những học sinh giỏi tiếng
Pháp, đọc nhiều sách tiếng Pháp, nhưng tấm lòng của chúng tôi đối với tiếng Việt
là tấm lòng con đối với mẹ. Tiếng Việt càng bị rẻ rúng bởi bọn thực dân, và một
phần bị rẻ rúng trong cái xã hội nửa thực dân nửa phong kiến hồi đó, thì chúng
tôi càng say sưa, thiết tha trao đổi tiếng Việt. Trong chương trình của ban học
thành chung, mỗi tuần chỉ có một giờ dạy tiếng Việt (lúc đó gọi là An-na-mít).
Một số ít học sinh mất gốc trong tâm hồn, xem thường giờ này, và đến giờ thì giở
các bài toán, bài lý hoặc bài luận Pháp văn ra làm, chúng tôi thấy thế rất căm
phẫn. Bạn Nguyễn Hoà Dung và bạn Phạm Gia Ninh thì đến những giờ ấy mở sách xưa
như Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc ra ngâm ngợi. Bạn Dung lại
còn cắt trên Ngọ báo, trên báo Phong hoá... nhiều bài văn dán vào một quyển vở
to và đọc cho chúng tôi nghe, nhất là vào những giờ cuối năm. Tôi cứ nhớ mãi bạn
Dung đã đọc vài truyện của Thanh Tùng Tử với một giọng réo rắt thiết tha, chúng
tôi nghe thật bồi hồi xúc động. Bạn Ninh lại có những quyển sổ con để chép thơ
chép văn là bạn đã chọn lựa trong các báo, hoặc trong Văn đàn bảo giám, những
quyển sổ thơ này đóng bằng giấy trắng, bìa bọc vải rất đẹp, các tuyển tập chép
hai thứ mực, các đầu đề bằng mực đỏ. Bạn Ninh còn sống, tôi thường gặp luôn. Bạn
Dung thì tôi không kịp gặp; lúc Sài Gòn mới giải phóng thì anh đã mất. Anh và
Ninh đã nung nấu thêm cho tôi lòng yêu thơ văn, đã cùng tôi chung một nỗi niềm
đối với tiếng nước nhà.
Chúng tôi không chỉ tự mình trau dồi tiếng Việt mà chúng tôi
còn bảo vệ tiếng Việt ngay ở trong trường. Hồi đó chúng tôi học năm thứ ba (1934-1935).
Một số anh em chúng tôi là học trò giỏi và cũng giỏi về môn Pháp văn, đồng thời
chúng tôi yêu quốc văn với tấm lòng người con thương mẹ, yêu thương người mẹ đẻ
bị rẻ rúng, bị xem thường. Lòng yêu quốc văn của chúng tôi lúc đó, là một biểu
tượng, hay nói đúng hơn là một biểu hiện của lòng yêu nước. Tất nhiên trong lớp
cũng có những đứa “xì dầu” (nịnh hót) thầy Tây, hay ti toe tiếng Tây cả những
khi không bắt buộc, không cần thiết. Chúng tôi căm phẫn, chúng tôi phản ứng với
thái độ nô lệ ấy. Và chúng tôi... hành động. Chúng tôi đặt ra một cái... thẻ
chó, một miếng gỗ đẽo giống hình cái thẻ mà bấy giờ cảnh sát bắt chó các nhà phải
đeo vào cổ để kiểm soát, và phòng chó dại. Và chúng tôi qui định với nhau: hễ
anh nào bị bắt quả tang đang nói tiếng Tây trong sân trường giờ ra chơi hoặc
trước giờ vào lớp, hoặc lúc tan học thì phải “mang” thẻ chó. “Mang” có nghĩa là
phải nhận cái thẻ chó mà một anh khác đang phải mang trong người giao lại cho
mình.
“Mang”. Mang tượng trưng thôi, nhưng rất đáng xấu hổ trước bạn
bè. Anh bị mang thẻ chó ấy lại phải rình để bắt quả tang một anh khác nói tiếng
Tây lúc không cần thiết để giao thẻ, và mình “mãn hạn” phạt.
Tôi nhớ qui định của chúng tôi thi hành được khoảng 4, 5
tháng, và thi hành khá gắt gao. Bọn giám đốc và giám thị người Pháp không khám
phá ra được vì bọn học sinh nịnh Tây cũng không dám báo cáo với chúng. Một vài
thầy giám thị Việt Nam biết, nhưng cũng lờ cho chúng tôi làm. Như vậy mà đỡ được
cái bệnh ti toe nói tiếng Tây và đỡ cái bệnh nói lai nghĩa là trong mỗi câu có
lẫn tiếng ta và tiếng tây. Các em học sinh bây giờ học tiếng Việt trong một nước
Việt Nam đã độc lập có thể không hiểu hết nỗi lòng chúng tôi yêu tiếng mẹ đẻ
lúc bấy giờ như thế nào. Và một số em bây giờ cũng chưa thấy hết giá trị của tiếng
Việt và do đó không để lòng trau dồi nó. Tôi cứ nhớ mãi một truyện ngắn của
Alphonse Daudet nhan đề là Buổi học cuối cùng. Tác giả kể: Lúc bấy giờ Đức đã
chiếm mất vùng Alsace và Lorraine. Ngày mai là các thầy giáo Đức đến dạy tiếng
Đức, buộc học sinh Pháp phải học để trở thành người Đức. Buổi chiều hôm ấy thầy
giáo Pháp mời cha mẹ học sinh đến lớp để từ biệt, thầy bận áo quần đẹp như ngày
lễ, cha mẹ họe sinh cũng ăn bận tử tế. Mọi người vào lớp đứng dậy chào cờ rồi
thầy nói: “Các em ơi hôm nay không có bài học. Ngày mai các em sẽ có thầy khác,
và học tiếng khác. Giọng thầy rưng rưng nước mắt: nhưng về nhà các em phải tiếp
tục học tiếng Pháp với bố mẹ, nói tiếng Pháp với anh em bà con. Các em hãy nhớ
rằng: “Khi một dân tộc bị nô lệ mà còn giữ được tiếng nói mẹ đẻ của mình, thì
dân tộc ấy vẫn giữ được trong tay cái chìa khoá của tự do, độc lập”. Truyện ngắn
này, tác giả viết rất xúc động với cả lòng yêu nước và yêu văn hoá dân tộc của
mình. Chúng tôi lúc đó cũng một nỗi lòng như Daudet. Anh Nguyễn Xuân Sanh đã
cùng tôi “xuất bản” một tạp chí văn học hàng tuần, lấy tên là “Bước đầu”, xuất
bản nghĩa là hai anh em chép tay vào một quyển vở rất đẹp những bài văn, bài
thơ mà chúng tôi đã sáng tác trong tuần cho số tạp chí: có thơ, có truyện ngắn,
có xã luận, có cả bài bình luận văn học nữa. Trước Cách mạng tháng Tám tôi còn
giữ được mấy số “tạp chí” này. Vừa rồi anh Xuân Sanh và tôi có kỷ niệm năm mươi
năm ngày xuất bản tạp chí hàng tuần này, kỷ niệm nghĩa là ngồi nhắc lại với
nhau “cái thuở ban đầu văn học ấy” chỉ nhắc thôi nhưng lòng đầy xúc động.
Các thầy học của tôi ở trường Quốc học
Như trên đã nói, chúng tôi có may mắn gặp được nhiều giáo sư
người Việt, rất tốt. Tôi biết ơn các thầy không những đã trang bị kiến thức cho
tôi theo chương trình của nhà trường, mà còn gợi ý cho tôi về trách nhiệm làm
người, về hứng thú làm được cái gì hay và dẹp ở đời.
Thầy Lê Xuân Phương, đảng viên của Đảng Tân Việt Thầy dạy tôi
các môn sử ký, địa lý, và tiếng Việt ở cả ba năm đệ nhất, đệ nhị, đệ tam. Thầy
giảng rất kỹ những đoạn thơ trích ở Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm. Cách
diễn giảng của thầy không có sức thu hút theo kiểu hùng biện, nhưng lại làm cho
chúng tôi rất chăm chú nghe vì thầy giảng sâu, và dường như có những ý sâu kín,
những ý tâm đắc mà thầy chưa biểu hiện hết qua lời giảng của thầy. Tôi còn nhớ
mãi thầy giảng mấy câu thơ của Chinh phụ ngâm mà mất cả một tiết học:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu, tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn
Dầu binh lửa, nước non như cũ
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương
Phận giai già ruổi chiến trường
Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về...
Thầy tả ngọn gió hiu hắt thổi lạc những hồn chiến sĩ và ánh
trăng trên mặt chinh phu với một giọng rất xúc động, làm cho chúng tôi ngồi
trong lớp học, giữa bốn bức tường dày mà cảm giác được cái hiu hắt, cái xa vắng,
cái lạnh lùng của chiến trường... Thầy Phương dạy sử Việt Nam theo chương trình
thì thầy bảo chúng tôi học theo quyển sách của Maybon, nhưng lúc giảng thì thầy
phát triển rất nhiều, và thầy gài vào lời giảng những ý gợi lòng yêu nước. Những
ngày gần tết và những ngày gần nghỉ hè, chương trình đã học xong, thi học kỳ
cũng kết thúc rồi, đến giờ sử, hoặc giờ Việt văn, thầy bảo chúng tôi đóng kín cửa
lại, rồi thầy nói chuyện quốc sự, tất nhiên là nói gần nói xa thôi, nhưng chúng
tôi cũng đủ hiểu. Chính thầy Lê Xuân Phương đã cho anh Tố Hữu trốn vào nhà và
giấu kín hơn một ngày, khi anh Tố Hữu bị mật thám lùng bắt năm 1937.
Thầy Đoàn Nồng dạy chúng tôi môn Pháp văn năm thứ nhất và năm
thứ ba. Thầy là một trong những giáo sư xuất sắc của trường, và có phong cách
ít nhiều tài tử. Thầy giảng thơ văn Pháp sâu và tế nhị, thường hay nhắc đến tiểu
sử của các tác giả để soi sáng lời bình luận tác phẩm của các nhà phê bình và của
bản thân thầy. Thầy giảng hứng thú, và mỗi lần giảng lại bài đã học thì thầy lại
có những nhận xét mới, những khám phá mới. Giảng bài văn đối với thầy cũng là một
sự sáng tạo. Thầy có cho đăng trong một tờ báo bằng tiếng Pháp dành cho học
sinh là tờ AJS (nghĩa là Bạn của thanh niên hiếu học), bài luận văn của thầy
lúc tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Luận văn ấy “La-mác-tin và
Nguyễn Du, hai nhà thơ trữ tình”, được giới học sinh chúng tôi rất hoan nghênh
và xem đó là một kiểu mẫu về bình luận văn học.
Thầy dạy tiếng Pháp, nhưng thấy những học sinh nào trau dồi
tiếng Việt, làm thơ tiếng Việt thì thầy rất khuyến khích, và tỏ ý mừng. Thầy Nồng
có viết một quyển nghiên cứu “Nghệ thuật hát bội” mà giới nghiên cứu sân khấu
đánh giá cao, về mặt tư liệu cũng như về mặt suy nghĩ và nhận định nghệ thuật.
Thầy hay rủ học sinh đến nhà thầy chơi những ngày chủ nhật. Nhà thầy ở xóm Đập
Đá, gần thôn Vĩ Dạ, một ngôi nhà nhỏ, có vườn nhỏ, ở trong bày biện đơn sơ,
đúng là nhà một giáo sư thanh bạch. Ở phòng giữa thầy treo một ảnh to của thi
hào Vichto Huygô, mà thầy cho là một con người lý tưởng về cuộc sống cũng như về
sáng tạo văn học, nghệ thuật. Thầy vẫn dặn chúng tôi: “Học được cái đẹp trong
sách vở, ta cũng phải cố gắng sống cho đẹp trong đời”. Sau ngày miền Bắc giải
phóng, thầy Nồng làm hiệu trường trường Chu Văn An (trường Bưởi cũ) tôi vẫn thường
đến thăm thầy, và hai thầy trò lại đàm đạo văn chương như thuở thầy còn ở trường
Quốc học.
Thầy Nguyễn Đình Dụ
Thầy Nguyễn Đình Dụ dạy chúng tôi môn khoa học tự nhiên năm
thứ nhất, năm thứ hai, và dạy toán chúng tôi năm thứ ba. Trước kia thầy dạy ở
trường trung học Cần Thơ sau mới đổi ra trường Quốc học. Thầy Dụ rất nghiêm giảng
bài rất chặt chẽ, giảng môn khoa học tự nhiên miệng nói tay vẽ hình trên bảng rất
rõ và rất đẹp. Dạy toán thì thầy hay ra bài làm ở lớp, và có bài về nhà làm nữa.
Chấm xong, thầy giữ lại những bài ưu nghĩa là không những có đáp số đúng, mà giải
trình cũng gọn và có nghệ thuật. Tôi cũng sung sướng được ghi lại đây rằng tôi
đã có vinh dự được thầy giữ một số bài của tôi, sau này đến thăm thầy thầy còn
nhắc tới. Có một năm (năm thứ ba), để mừng tết thầy các bạn trong lớp cử tôi đọc
lời chúc mừng bằng tiếng Pháp. Lớp đã chuẩn bị mua một bó hoa tươi thật đẹp để
tặng thầy, nhưng luống cuống thế nào mà lại không mua được, sau cùng bạn được
phân công mua về một bó hoa giấy, hoa giấy làm rất giống, rất đẹp, chủ yếu là
hoa hồng. Trong lời chúc mừng, tôi không kịp chữa lại cứ đọc là “Xin tặng thầy
bó hoa tươi thắm....
Thầy cảm động cầm lấy bó hoa giấy, cảm ơn cả lớp rồi thầy mỉm
cười nói thêm: “Những bông hoa này chắc là nó tươi mãi mãi, vì tôi sẽ bỏ vào lọ
mà không phải tưới nước.... Chúng tôi xấu hổ quá, đỏ mặt, nhưng thầy thông cảm
với chúng tôi và để an ủi chúng tôi thầy nói thêm: “Hồi còn đi học, tôi cũng đã
một lần chúc tết thầy học như thế này.... Thầy Dụ trong kháng chiến chống Pháp
là một cán bộ cốt cán của ngành giáo dục, đóng góp nhiều vào sự phát triển của
ngành.
Sau khi giải phóng miền Bắc thầy được cử làm giám đốc Sở giáo
dục Hà Nội trong nhiều năm. Hiện nay thầy đã về hưu, tôi thường đến thăm thầy
và nhắc lại những năm học với thầy ở Quốc học, thầy nói còn nhớ tôi học toán giỏi,
không ngờ tôi lại đi vào con đường văn thơ...
Thầy Mai Trung Thứ
Thầy Mai Trung Thứ (tức là hoạ sĩ Mai Thứ) dạy chúng tôi về
môn vẽ, mỗi tuần có một tiết. Thầy Thứ gần như không nói một câu nào suốt cả giờ
học. Thầy chỉ bảo chúng tôi vẽ một vật gì đặt giữa lớp (một bình hoa, một cái
ché, một đầu pho tượng bằng thạch cao...) rồi thầy ngồi thầy vẽ. Gần cuối giờ
thầy gọi chúng tôi lần lượt đưa bài vẽ lên để thầy chấm. Đôi mắt thầy rất to
nhìn vào bức vẽ của mỗi người, thầy chỉ giơ bút quệch quặc chữa lại vài đường
nét và nói bằng tiếng Pháp “Xà xà... rồi cho điểm.
Thầy không bao giờ giải thích cho chúng tôi nguyên tắc và
phương pháp vẽ, cứ để chúng tôi tự nhiên vẽ được sao thì thầy chấm nấy, vì có lẽ
thầy cũng nghĩ rằng môn này là môn phụ, Ban Giám đốc chẳng chú ý mà học trò thì
cũng học qua quít mà thôi. Tôi nhắc đến thầy Thứ vì thầy là một hoạ sĩ có tài vẽ
chân dung bằng sơn dầu rất đẹp. Cứ vài năm một lần, thầy lại có một triển lãm
những tranh sơn dầu của thầy (phần lớn những chân dung phụ nữ) ở hiệu thuốc tây
Imbert. Những chân dung của thầy vẽ đẹp, đẹp về nghệ thuật, nhưng phải nói thầy
cũng chọn những đối tượng rất đẹp để vẽ. Có lần thầy vẽ chân dung một bà, vợ một
y sĩ, mà “giam” người mẫu hai ba ngày liền trong xường vẽ của mình, làm cho ông
y sĩ hết sức hoang mang, nhưng cũng không dám can thiệp. Sau này sang công tác ở
Pa ri tôi có gặp lại hoạ sĩ Mai Thứ, và tôi có nhắc lại với thầy câu chuyện vui
này thì thầy hoạ sĩ vẫn nói với đôi mắt to nhìn tôi cười: “Đó là một nhược điểm
của tuổi trẻ, anh hiểu chứ!...
Thầy Bửu Cân, người hoàng phái, dạy chúng tôi vật lý và hoá học
từ năm thứ nhất đến năm thứ ba. Thầy dạy giỏi, nhưng năm trước dạy thế nào thì
năm sau lặp lại y như thế, không bổ sung, không sáng tạo. Thầy có tính hài hước,
hay cù cho học trò cười, nhưng thầy lại giữ nét mặt rất nghiêm, mọi người cười
xong thầy mới nhếch môi mỉm cười một tí. Tôi cứ nhớ khi thầy giảng về ba trạng
thái của các vật thì thầy nói: “Không phải chỉ có ba trạng thái mà là bốn: trạng
thái đặc cứng, trạng thái lỏng, trạng thái hơi và trạng thái dẻo như là kẹo mè
xửng và cứt gà sáp. Học trò cười, nhưng thầy không cười. Khi nào gọi học sinh đọc
bài thì thầy bắt đầu gọi họ trước, và nhìn anh nào họ ấy mà luống cuống thì gọi
tên anh ta. Có lần thầy gọi: “Cù”, tôi cứ ngồi yên, thầy gọi thêm: “Cù Huy”,
tôi vẫn ngồi yên. Sau cùng thầy gọi đủ tên Cù Huy Cận tôi mới đứng dậy và lên bảng.
Thầy hỏi: “Rứa chưa có mấy họ Cù trong lớp mà không chịu lên?” Nhưng đọc bài tốt,
thầy vẫn cho điểm tốt. Thầy còn nói đùa: “Mai sau nếu anh làm thượng thư thì gọi
“Cụ Cù” mà không gọi cụ Cận”.
Hè 1935
Kết thúc năm học đệ tam niên thành chung, hè 1935 tôi cùng
hai bạn Nguyễn Xuân Sanh và Nguyễn Xuân Tám (anh Tám nay là Tổng cục phó Tổng cục
Du lịch) rủ nhau ở lại Huế, và ở trọ nhà ông Đội Đán trên một ngọn đồi sau nhà
ga Huế. Vợ chồng ông Đội Đán là người Quảng Nam, làm được cái nhà mái tranh
vách toóc-si đã mấy năm trên dốc đồi này nhà không rộng lắm, nhưng xinh xắn, sạch
sẽ, mát mẻ. Xung quanh nhà có một vườn nhỏ dưới bóng mát một cây đa to và cao.
Đằng sau nhà có đường đi cỏ mọc hoang dại dẫn về khu vực đồi núi của ngoại
thành Huế. Chỗ ở nửa thôn nửa thị này rất hợp với “gu” của chúng tôi, nửa muốn
có cái tiện nghi của thành phố (điện, nước), nửa muốn hưởng cái êm ả, và vẻ đẹp
của thiên nhiên. Cây cỏ xung quanh nhà, và nhất là trên con đường phía sau nhà
còn vẻ hoang vu cho chúng tôi cảm giác sống một cuộc đời nửa phiêu lưu. Chiều
chiều ba anh em chúng tôi, nhất là tôi và Xuân Sanh hay đi ra phía sau nhà nhìn
đồi núi, xem mặt trời lặn có khi ngồi gốc cây cho đến tia nắng cuối cùng tắt ở
chân trời đã mờ sương. Gặp buổi chiều mưa giông thì cả ba chúng tôi trần truồng
ra tắm mưa ở ngoài sân dưới những cành đa, tưởng tượng mình như những người tiền
sử. Mỗi tuần chúng tôi xuống phố một vài lần để mua ít quà bánh, và nhất là để
mua sách, báo ở hiệu sách Hương Giang của anh Hải Triều. Trong ba chúng tôi,
tôi là người nghèo nhất, anh Sanh không giầu gì nhưng cũng nhận được đều tiền của
bố, một ông Thừa phái, gửi cho hàng tháng; anh Tám thì nhận được tiền của gia đình
ở nông thôn (anh quê ở huyện Nam Đàn, Nghệ An), gửi cho đủ sống cả vụ hè. Ông Đội
Đán là đội lính khố xanh, ông có học qua cấp tiểu học, người điềm đạm, và rất
trọng những người trí thức. Nghe chúng tôi đàm luận văn chương, ông thường ghé
nghe, tỏ ra rất thích thú. Có tháng chúng tôi không kịp trả tiền trọ, thì ông
nói: “Không sao, chờ tựu trường, các anh lên lớp trả cũng không muộn. Các anh ở
đây là vui nhà chúng tôi; các anh không nhiều tiền, nhưng nhiều văn chương, tôi
cũng không giàu nhưng hâm mộ văn chương, thế là vui rồi”. Bà vợ ông Đán, cùng
quê với ông, là một người dân quê hiền lành, chất phác. Bà làm cơm cho chúng
tôi chung với gia đình, bữa cơm nhiều rau, rau muống, rau rền, thường có một ít
cá, còn thịt thì một tuần được vài lần. Nhưng bữa nào cũng ngon miệng nhờ tương
ngon để chấm rau muống và nhờ nước mắm Nam Ô mà chúng tôi rưới cơm rất ngon.
Khi nào bà nghe ai nói điều gì không vừa ý thì bà chỉ cười và nói: “Vô duyên ôộng!”
rồi cười, miệng nhóp nhép miếng trầu. Cuối hè, chúng tôi nợ một tháng cơm trọ.
Sau tựu trường chúng tôi ra thăm nhà và trả tiền, thì hai vợ chồng ông Đội Đán
lại thết chúng tôi một bữa cơm thịt gà khá thịnh soạn. Những tháng chúng tôi ở
nhà ông Đội Đán, có nhiều kỷ niệm: Tháng 7 năm ấy, nhà văn Nguyễn Công Hoan mà
tập truyện Kép Tư Bền vừa được nhà xuất bản Tân Dân phát hành, vào chơi Huế và
có ghé ở hiệu sách Hương Giang một buổi chiều để tác giả ký tên vào sách cho những
bạn đọc muốn gặp tác giả.
Anh Hải Triều có báo trước vài hôm cho Xuân Sanh và tôi biết
cái tin lý thú ấy. Chiều hôm đó, tôi và Xuân Sanh cùng một số bạn đọc khác xếp
hàng để được bắt tay tác giả Kép Tư Bền và xin chữ ký. Anh Nguyễn Công Hoan lúc
đó bắt đầu cắt tóc, kiểu vận động viên thể dục thể thao, khỏe mạnh, dáng lanh lẹ
không nói chuyện nhiều nhưng vẻ mặt tươi cười mặc dầu không cười ra tiếng.
Chúng tôi nhìn nhà văn Nguyễn Công Hoan, mà chúng tôi đã đọc một số truyện ngắn
rất thích thú, với lòng cảm phục, kính trọng. Và qua việc nhà văn tiếp xúc với
độc giả tuy trong một khung cảnh đơn sơ, và qua việc nhà văn ký tên vào sách mới
ra của mình, chúng tôi như thấy được, như ngửi thấy được cái mùi vị của danh vọng
văn chương...
Đến lượt chúng tôi đưa sách xin anh ký, anh Nguyễn Công Hoan
cũng bắt tay chặt như đối với mọi người, và hỏi thêm: “Các bạn học ở đâu, các bạn
có viết văn không?”. Chúng tôi giả lời qua loa, vì còn nhiều người nữa đợi xin
chữ ký. Anh Hải Triều nói cho anh Hoan biết rằng chúng tôi là những học sinh ưu
tú trau dồi tiếng Việt, và hâm mộ văn thơ hiện tại của nước nhà.
Chúng tôi thấy náo nức trong lòng, và đứng lại ở hiệu sách chờ
cho nhà văn Nguyễn Công Hoan đi khỏi chúng tôi mới trở về nhà trọ. Về nhà rọc
sách ra xem, sách thơm mùi giấy mới và mùi mực in, như nó là hương vị của văn
chương.
Cuốn tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh cũng phát hành vào
hè năm ấy, nhưng không có tác giả đến Huế để chúng tôi xin chữ ký. Xuân Sanh và
tôi đã mỗi người mua một bản mang về nhà trọ, trân trọng đọc lại cho nhau nghe,
vì truyện này chúng tôi đã đọc hàng tuần trên báo Phong hoá. Ở hiệu sách Hương
Giang, chúng tôi còn mua nhiều sách cũ, các tác phẩm của văn học cổ điển và văn
học hiện đại nhất là các tập thơ Pháp của các trường phái lãng mạn, thi sơn, tượng
trưng... Chúng tôi cũng mê mua sách bình luận văn học của Sainte Beuve, của
Faguet Lanson. Nhất là anh Tám rất mê xem sách của Sainte Beuve, với kỳ vọng một
ngày kia sẽ trở thành một nhà nghiên cứu, phê bình văn học sâu sắc và tế nhị đi
sâu vào tâm lý của nhân vật và của tác giả. Chúng tôi càng tìm mua những sách
văn học Việt Nam như Văn đàn bảo giám, Hán Việt văn khảo, các sách văn học xưa
do ông Nguyễn Văn Ngọc sưu tầm và dẫn giải, và Văn học tạp chí (của nhóm Dương
Bá Trạc)...
Anh Hải Triều, mà chúng ta đều biết là nhà lý luận văn học
mác-xít, cũng ham đọc rộng, và cũng thường thức cái hay của văn chương cổ điển
và lãng mạn, chứ không bó hẹp sự hưởng thụ thẩm mỹ của mình trong dòng văn học
vô sản. Và anh cũng biết tích luỹ những sách hay cho bạn đọc thân quen của anh.
Có những lần anh nói với Xuân Sanh và tôi: “Có mấy quyển hay để dành cho hai
anh đấy, tôi giấu trong nhà, bày ra tủ hàng sợ họ mua mất”. Chúng tôi nói là
chưa có tiền thì anh bảo cứ mang sách về, khi nào có tiền thì trả sau. Chính ở
hiệu sách Hương Giang, lần đầu tiên tôi gặp anh Hoài Thanh, lúc đó làm ở nhà in
Đắc Lập, và ở trong Ban biên tập báo Tràng An cũng do nhà in Đắc Lập (của ông
Bùi Huy Tín) phát hành. Anh Hoài Thanh người cao, da mặt hơi rám nắng, mắt to
và sáng, anh bận bộ âu phục simili trắng, ca vát đen, cả người anh toát ra một
vẻ gì chặt chẽ và mực thước.
Lúc tôi xem những bài bình luận văn học của anh trên báo
Tràng An, nhất là bài anh viết về Thế Lữ thì tôi lại đoán hiểu ở nơi anh một
tâm hồn đằm thắm, có một sự say mê thầm kín. Tôi nhớ mãi cái ý anh viết về Thế
Lữ “Đọc thơ Thế Lữ cho chúng ta một xúc động bâng khuâng như bâng khuâng một buổi
chiều cuối xuân đầu hạ.... Hải Triều và Hoài Thanh sẽ bút chiến kịch liệt về
nghệ thuật, nhưng hai anh trò chuyện với nhau rất tự nhiên, nếu không thân mật
thì cũng là hoà nhã, và tôn trọng lẫn nhau. Tôi còn trở lại nói về anh Hoài Thanh
trong một hồi sau.
Anh Hải Triều, tức là Nguyễn Khoa Văn, một người hoạt động
cách mạng sớm như chúng ta đã biết, là con bà Đạm Phương Nữ Sĩ. Anh người thấp,
mắt hơi mại mại, miệng cười tươi và nói chuyện rất có duyên. Vợ anh, chị Tuyến
là con cụ Hàn Mạn Tử, Giao Thiều một vị nhà nho học rộng, là người đã hiệu đính
quyển Hán Việt từ điển cho ông Đào Duy Anh. Hai vợ chồng anh làm nghề bán sách,
bán báo một cách hứng thú và chắc chắn ngoài lý do sinh nhai, anh Hải Triều còn
sử dụng hiệu sách của anh như một nơi tuyên truyền văn hoá tiến bộ, và có lẽ là
một nơi liên lạc bí mật của những người hoạt động cách mạng nữa. Sau này tôi có
hỏi anh về điểm này thì anh cho biết cũng có như thế, nhưng hết sức hạn chế, vì
mật thám nó theo dõi rất sát. Anh Hải Triều để lại cho chúng tôi một ấn tượng
sâu sắc, ấn tượng của một nhà báo tiến bộ, của một người hoạt động văn hoá năng
động, của một người trí thức cách mạng gắn bó với truyền thống văn hoá của dân
tộc. Gần anh, người ta có cảm giác gần một người bạn, ý kiến có thể bất đồng với
nhau nhưng tình bè bạn vẫn đậm đà, đượm tình nhân ái.
Cũng hè 1935, anh Nguyễn Xuân Sanh, anh Nguyễn Xuân Tám và
tôi rủ nhau đi La Vang ở Quảng Trị một nơi hành hương của đồng bào công giáo.
Chúng tôi đi xe lửa đến ga Quảng Trị, rồi theo đồng bào đi bộ về La Vang trong
buổi lễ trọng của nhà thờ La Vang. Lần đầu tiên chúng tôi mục kích sự biểu hiện
của lòng tín ngưỡng cao độ của một đám đông người phần lớn là nông dân nghèo,
trên một mảnh đất khô cằn. Sau hồi chuông nhà thờ đổ, tiếng cầu kinh của đám
đông tín đồ này rào rào lên như tiếng sóng biển chiều hôm, và từng đợt, từng đợt
đám người đông đảo cúi rạp xuống như một ruộng lúa có ngọn gió mạnh thổi qua.
Chúng tôi có một cảm giác và một cảm tưởng khó tả: nửa cảm phục đồng bào có một
lòng tin sâu mạnh gần như là một bản năng, nửa lại thấy ái ngại về lòng tin
này, nó gần như một sự mê mẩn.
Chúng tôi cũng đã từng đọc những sách Pháp nói về đạo của
chúa Giêsu, và cũng đã đọc những trích đoạn của Kinh thánh, nhưng đây là lần đầu
tiên chúng tôi tiếp xúc với đám con chiên của Chúa, mà chúng tôi không thấy giống
lắm với những hình ảnh đã tả trong các sách được đọc. “Chúa của những người
nghèo” đã đến với những người dân nghèo ở Quảng Trị, ở Trung Kỳ trong một nỗi
bâng khuâng khó tả. Anh Tám, anh Sanh và tôi đi La Vang về cứ trao đổi cảm tường
về chuyến đi và có một nỗi buồn không phải day dứt nhưng cũng bàng hoàng hàng
tháng...
Cũng trong mùa hè này một buổi chiều cơm xong ba anh em cao hứng
rủ nhau mang chiếu lên đỉnh núi Ngự Bình để ngủ lại một đêm trên đó. Chúng tôi
đi đường quanh co, cho có vẻ phiêu lưu, và lúc đến gần đỉnh núi thì trời nhá
nhem tối. Bỗng nhiên chúng tôi thấy đường xa xa có mấy ngọn đuốc đi tới, chúng
tôi hơi rợn mình, sợ là ăn cướp. Chúng tôi lánh ra một bên, giấu mình trong bụi
rậm thì đoàn người cầm đuốc đi qua một cách yên ổn, hiền lành; họ đi săn từ
trong núi về, và hình như có gánh về được một con lợn rừng khá to. Họ mượn đường
núi Ngự Bình để đi tắt về làng mà thôi. Chúng tôi đêm ấy ngủ trên đỉnh núi, gió
mát nhưng gần sáng thì sương lạnh, may mà có mang chăn đơn theo. Ba anh em thức,
nói chuyện văn thơ, mãi quá nửa đêm mới ngủ. Chúng tôi thức dậy cùng một lần với
mặt trời. Nhìn xuống sườn núi những giọt sương long lanh trên lá, trên cỏ,
trong gió hây hây mát, làm chúng tôi khoan khoái, say sưa. Rồi chúng tôi đi hái
những chùm lá, những chùm hoa của những cây dại mà chúng tôi không biết tên để
mang về ép vào trong sách làm kỷ niệm, chẳng khác nào những nhà thảo mộc học đi
góp nhặt những tiêu bản qua những cuộc khảo sát thiên nhiên. Những lá ép hoa ép
này tôi còn giữ mãi một vài mẫu cho đến ngày nay, nó cũng như là những tiêu bản
của tuổi thanh niên đầy mơ mộng.
Tập 2-H
Em bé bán lạc rang và bán báo
Năm tôi học đệ tam niên thành chung, một sáng chủ nhật, ở trường
xa, tôi ngồi chơi ở vườn hoa bên bờ sông Hương, gần hãng buôn Morin, tôi gặp một
em bé bán lạc rang và bán báo, mặt khôi ngô, lanh lợi. Tôi hỏi em: “Chủ nhật em
bán báo và đậu phụng, thế ngày thường em đi học ở trường nào?”. Thấy tôi hỏi em
bé có vẻ ngượng nghịu, xấu hổ. Tôi lặp lại câu hỏi thì em nói: “Thưa anh, em
không được đi học, em chưa biết đọc biết viết.... Tôi hỏi: “Thế làm sao em bán
báo được, biết tờ nào là báo gì mà đưa cho khách?” - “Em thuộc mặt các tờ báo,
chỉ có ba bốn tờ thôi, cả báo ở Huế, cả báo Hà Nội, làm gì là em không thuộc...
Rồi em kể cho tôi nghe: Bố mẹ em đã chết bệnh, vì nghèo quá
không đủ thuốc thang. Và em được một người cô nuôi, người cô cũng nghèo, buôn
thúng bán mẹt ở Gia Hội, chỉ có thể cưu mang nuôi cháu ngày hai bữa cơm cháo,
không đủ sức nuôi cháu ăn học. Em đành phải đi bán đậu phụng rang và bán báo,
kiếm được đồng nào thì về đưa cô, và cô cũng cho lại em mỗi tuần một hào để ăn
quà sáng. Em rất thương cô thấy cô nghèo quá, có tuần em không nỡ lấy hào bạc
cô cho... Em ứa nước mắt, chào tôi định đi. Tôi gọi em trở lại, và bảo em: “Thế
em có muốn học chữ quốc ngữ không?”. Em hỏi: “Muốn lắm, nhưng bằng cách nào?” -
“Anh sẽ dạy em, mỗi sáng chủ nhật, đúng 8 giờ, em cứ đến đây, ở ghế vườn hoa
này, anh ở trường ra, anh sẽ dạy cho em một tiếng đồng hồ, cứ đều đặn như thế
thì mấy tháng là em biết đọc, biết viết được. Anh sẽ mua chữ quốc ngữ cho em và
cho em cả vở và bút....
Thế rồi, mỗi sáng chủ nhật, ở trường ra tôi đến chỗ hẹn chờ
em bé, có lúc em đến chậm một chút, nhưng thường là em đến trước tôi, chờ tôi.
Cũng có lần tôi ra chậm, và em vẫn chờ. Em thông minh, tôi dạy em cũng tỉ mỉ
nên chỉ sau mấy chủ nhật là em đọc được đọc ngay hẳn vào chữ in. Chỉ có bày cho
em viết tập là hơi khó, vì không có bàn, chỉ có bút chì viết trên vở, kê vào đầu
gối mà viết. Tuy nhiên, về nhà em kiên nhẫn đồ theo những trang tôi viết bút
chì rồi em cũng thuộc mặt chữ và viết được. Lúc đầu còn nguệch ngoạc, sau chữ
cũng đứng nét dần, và viết đều đặn.
Tôi nhớ gần nghỉ hè, khoảng tháng 3 hoặc tháng 4-1935, thì em
đã biết đọc biết viết hẳn hòi, và có hôm chủ nhật tôi ở trường ra thì đã thấy
em ngồi trên ghế đá vườn hoa, cầm tờ báo Phong hoá đang đọc. Tôi mừng thầm đã
thành công trong việc giúp em, đem lại chữ quốc ngữ cho em. Tôi định nói với em
là từ tuần sau tôi không còn phải dạy em nữa, và tôi cũng bận thi học kỳ, và
chào tạm biệt em. Tôi thấy em lúng túng, như muốn nói điều gì đó với tôi... Sau
cùng em rút ở trong tờ báo ra một mẩu giấy, thì đó là bức thư em viết cho tôi,
tỏ lòng biết ơn tôi đã dạy em biết chữ. “Cô em nói với em: “Cháu đã gặp bụt bày
chữ cho cháu đó”. Em nói với cô: Anh học trò ấy còn trẻ lắm thì cô em nói: bụt
thương cháu nên xui anh ấy bày cháu học. Thưa anh, em biết ơn anh, hứa làm ăn
thật tử tế khỏi phụ lòng anh.... Tôi quên không nhớ rõ tên em bé, không biết có
phải là Quang, hay là Trang...
Lúc gần nghỉ hè, một sáng chủ nhật, tôi lại gặp em rao bán
báo và đậu phụng; hai anh em gặp nhau, cảm động em đưa tôi một gói đậu phụng,
tôi lấy tiền giả em nhất định không lấy, tôi phải cầm gói đậu phụng bỏ túi cho
em vui lòng, và anh em từ giã nhau, hai đứa đều rơm rớm nước mắt. Đó là lần cuối
cùng tôi gặp em bé bán báo và đậu phụng rang, người học trò nhỏ của tôi. Sau
này, tiếp xúc với phong trào truyền bá quốc ngữ ở Hà Nội, tôi lại nhớ đến cậu học
sinh vườn hoa. Và bây giờ, thỉnh thoảng bàn vấn đề xoá nạn mù chữ trên thế giới
trong hội đồng chấp hành UNESCO tôi lại nhớ những sáng chủ nhật ở vườn hoa bên
bờ sông Hương kiên nhẫn dạy đứa em của tôi...
Diễn kịch tại nhà
Hè 1936, sau khi đậu bằng thành chung, các anh Nguyễn Xuân
Tám, Nguyễn Xuân Sanh và tôi lại cùng nhau ở lại Huế, mấy tuần đầu ở trọ tại một
nhà ở xóm An Cựu, gần cầu và chợ An Cựu. Nhà ngói trệt có vườn xanh mát, có sân
gạch, có bể cạn chứa nước mưa bên gốc mấy cây cau. Nhà chỉ có hai vợ chồng
không có trẻ con, ông chồng làm một chức gì trong hàng nho lại trong thành Huế,
bà vợ trạc gần 40 tuổi ở nhà, cũng không hẳn làm nội trợ, mà rảnh rỗi thời
gian, khi đi đánh bài, đánh chắn hay đánh tứ sắc, khi thì ra chợ kề cà chuyện
trò hết buổi. Chúng tôi không thấy bà lo cơm nước, nhưng đến bữa vẫn có được bữa
cơm tươm tất, thì ra bà nhờ một người ở của nhà láng giềng giúp bà việc bếp
núc. Thế rồi một hôm, không biết hai vợ chồng cãi cọ nhau thế nào, mà sáng hôm
sau chúng tôi thấy bà đã cạo trọc đầu như một bà vãi ở chùa. Chúng tôi thấy ái
ngại, không dám hỏi chuyện sợ chạm vào một tâm sự cay đắng, não nùng... Bà chủ
động nói trước: “Tôi có chuyện buồn riêng nhưng các anh cứ tự nhiên, ở lại nhà
tôi cho đến hết nghỉ hè cho vui, đến tựu trường các anh muốn ở lại nữa cũng được”.
Nói xong, bà ngồi yên, mặt hơi cúi xuống, như trầm ngâm lắng suy nghĩ vào bên
trong. Rồi bà lấy sách ra đọc lấy báo thì đúng hơn, đó là vài tập Tiểu thuyết
thứ bảy, vài quyển truyện của Lê Văn Trương, và một số tiểu thuyết của nhà xuất
bản Tân Dân. Hình như có cả vài tập truyện Tàu nữa, và mấy tập truyện trinh
thám của Phạm Cao Củng. Là một tâm hồn bị dày vò bởi những ham muốn không thoả
mãn được hay là một nỗi lòng bất đắc chí của một người có hoài bão nấu nung? Ba
chúng tôi cứ ngồi đoán hiểu tâm hồn uẩn khúc của bà chủ nhà.
Có một tối ba chúng tôi cao hứng muốn diễn kịch, mà không có
kịch bản tiếng Việt Nam trong tay. Chúng tôi bèn vạch qua vài nét trong câu chuyện,
rồi cứ thế sáng tạo tại chỗ những lời đối đáp sáng tạo cả nội tâm nhân vật nữa,
như ta nói ngày nay là diễn một vở kịch cương. Anh Tám đóng vai một ông chủ
nhà, anh Xuân Sanh đóng vai bà chủ nhà, còn tôi đóng vai một người khách lạ đến
chơi. Ông chủ nhà (là anh Tám) rất sợ vợ, mà lại hay ghen, lại có lối suy nghĩ
của một người trí thức hay phân tích tâm lý, ông khách lạ (là tôi) thì tính hay
bông đùa, dễ bắt chuyện, nhưng cũng che dưới tính bông đùa một trái tim dễ xúc
động, tha thiết, nhạy cảm... Bà vợ (là anh Sanh) thì tâm hồn lãng mạn không hẳn
là chê chồng nhưng cũng thấy lòng mình không được thoả mãn trong đời sống vợ chồng
hàng ngày. Tính cách nhân vật là như vậy, nhưng làm thế nào cho có câu chuyện dẫn
dắt, hấp dẫn... Sáng tạo lời đối với chúng tôi không khó lắm, nhưng sáng tạo
hoàn cảnh thì mặc dù đã học bao nhiêu vở kịch cổ điển và lãng mạn của văn học
Pháp, chúng tôi vẫn loay hoay không bày ra được tình huống. Chúng tôi đang diễn,
đang sáng tạo thì đột nhiên bà chủ nhà ở trong buồng đi thẳng ra giữa phòng lớn,
nơi chúng tôi đang biến thành sân khấu: “Các anh cho tôi chơi kịch với cho vui.
Anh Sanh không phải đàn bà, làm sao mà diễn vai bà chủ nhà được, đó là vai của
tôi”. Rồi bà chủ tự đặt ra lời, diễn rất hoạt bát, rất nội tâm vai bà chủ mơ mộng,
trách chồng mà không hắt hủi chồng có khía cạnh thương hại chồng, và niềm nớ tiếp
người khách lạ, nói với người khách lạ những câu đầy ý tứ mà vẫn nghiêm trang,
lịch sự... Tôi đứng nghe lấy làm thích thú, bị thu hút bởi tài diễn kịch, tài ứng
khẩu của bà chủ nhà, quên bẵng rằng mình đang đóng vai người khách lạ... Bà chủ
nhìn tôi nói: “Ô ông khách! Ông nói đi chứ? ông có cần tôi nhắc lại những điều
tôi vừa nói với ông để ông trả lời?”. Tôi luống cuống không biết trả lời bà chủ,
hay trả lời nhân vật... thì bà nói: “Ông cứ nói đi, trả lời tôi là bà chủ nhà,
hay là bà chủ trong kịch bản cũng được... Tôi nhập cả hai vai”. Cả ba chúng tôi
ngừng vở kịch ở đó, và ngồi nói chuyện với bà chủ có nhiều tâm sự, đầu đã cạo
trọc như người đi tu, mà lòng đời còn lắm nỗi xao xuyến.
Sau đó một tuần chúng tôi dọn đi một nhà trọ khác gần trường
Providence. Thỉnh thoảng, tôi và anh Sanh có trở lại thăm bà chủ nhà An Cựu;
tóc bà đã mọc dài trở lại, chải rất mượt, thơm mát mùi dầu dừa...: “Các anh có
diễn kịch nữa không, cho tôi chơi kịch với”.
Tiếc rằng, cả anh Tám, anh Sanh và tôi không người nào đi vào
con đường sáng tác kịch bản, hoạt động sân khấu, nếu không thì chúng tôi đã mời
bà chủ nhà An Cựu tham gia đóng vai, ít nhất là đóng vai bà chủ nhà mơ mộng và
có nỗi lòng xao xuyến...
Thầy Dương và thư viện của trường Quốc học
Nhớ những ngày ở trường Quốc học, không thể không nhắc đến thầy
T.X. Dương. Lúc tôi vào học năm thứ nhất, thầy đã khoảng 40 tuổi, không có vợ, ở
luôn trong trường, trong một căn phòng dành riêng cho thầy ở trên gác. Thầy người
thấp, trán cao, một mắt hơi mài mại, lưng hơi còng, dáng đi thong thả. Thầy được
trường giao nhiều việc: làm phụ tá cho những giáo sư dạy hoá học, trông phòng
thí nghiệm hoá học của nhà trường; quản lý thư viện khá lớn gồm hàng mấy vạn
quyển sách của trường. Và còn một trách nhiệm nặng nề nữa của thầy là: quản lý
đám học sinh Tây lai học ở trường tiểu học ghép vào trường Quốc học (gọi là trường
trung học nhỏ). Đám trẻ Tây lai này là con của các lính Tây, mà các bà mẹ ở xóm
Mang Cá.
Bố của chúng mãn hạn lính ở Đông Dương về Pháp, để lại chúng
với mẹ. Chính quyền thực dân tự cho mình có trách nhiệm nuôi dưỡng đám trẻ Tây
lai này và cho chúng học bổng toàn phần để được ở ký túc xá học tiểu học. Thầy
Dương quản lý chúng, chăm sóc chúng... Người hiệu trưởng Pháp của trường Quốc học
gọi thầy Dương là người cha nuôi của đám học sinh Tây lai, hàng tuần, chiều chủ
nhật, những bà mẹ của đám trẻ này lại vào trường thăm cha nuôi của chúng có khi
lại vào hẳn trong phòng của cha nuôi để tâm sự.
Mọi người ở trong trường thấy việc ấy cũng bình thường không
ai xì xào gì. Thầy Dương được mọi người kính trọng, hiệu trưởng và giám thị người
Pháp rất nể, và bọn trẻ Tây lai thì sợ thầy một phép. Thầy Dương rất có ơn đối
với chúng tôi vì thầy quản lý thư viện của nhà trường rất tốt, luôn luôn xin
mua được sách mới và mỗi tuần chiều thứ tư cho chúng tôi vào phòng thư viện tha
hồ chọn sách mà xem, và đổi sách mượn. Tôi đã đọc được hầu hết các tác phẩm
tiêu biểu của văn học cổ điển và hiện đại của Pháp tại trường, là nhờ công của
thầy Dương. Cũng xin nói rõ là tất nhiên những sách trong thư viện này đều là
sách Pháp, từ điển bách khoa toàn thư, cho đến những quyển tiểu thuyết nổi tiếng
của đầu thế kỷ 20. Khỏi phải nói, chúng tôi muốn đọc sách văn học Việt Nam thì
phải tìm mua ở hiệu sách Hương Giang, hay mượn của nhau trong những thư viện
gia đình. Thầy Dương phụ đạo các giáo sư hoá học thuộc quy trình các bài thí
nghiệm đến nỗi mỗi lần thầy không cần mở sách xem, trong khi một vài giáo sư
còn lúng túng. Thầy rất nghiêm trong khi hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm, cậu
nào láu cá muốn đi đến kết quả mà làm tắt thí nghiệm thì thầy cũng bắt được và
phê bình hẳn hoi, bắt làm lại thí nghiệm nhưng không cho thêm chất hoá học. Tuy
vậy thầy được học sinh chúng tôi rất mến và kính trọng vì thầy thẳng thắn,
không nịnh Tây. Suốt đời thầy không lấy vợ, lấy trường làm nhà, lấy việc chăm
sóc lũ trẻ Tây lai làm vui, lấy việc thí nghiệm hoá học làm thú tiêu khiển.
Thăm một ông cậu của tôi bị giam ở nhà lao Thừa Phủ.
Năm tôi học đệ nhị niên thành chung (1934), một người bà con
về bên ngoại báo cho tôi biết là cậu A. ở Nga về đã bị bắt tại Hàm Rồng, bị giải
về Trung Kỳ, bị giam ở Lao Bảo hơn 2 năm và nay bị giam ở nhà lao Thừa Phủ. Cậu
A., em mẹ tôi, là cậu thứ tư của tôi. Lúc nhỏ ở nhà cậu không được bố thương bằng
các anh. Đậu tiểu học, cậu được bố cho vào học trường học nghề của Nam triều. Cậu
bỏ trường học nghề này thi đậu vào Quốc học cùng một khoá với cậu học trung học
tại trường Quốc học ở Huế, cùng một lớp với ông Đào Duy Anh đậu thành chung, rồi
ra Hà Nội học trường cao đẳng y khoa đào tạo ra những y sĩ Đông Dương. Ở Hà Nội,
cậu giác ngộ cách mạng, sau đó năm 1926, tìm cách đi sang Pháp để học thêm và để
tham gia hoạt động cách mạng tại Pháp. Ở Pháp được vài năm, cậu lại bí mật sang
Liên Xô và học một lớp chính trị tại Mátxcơva rồi tình nguyện gia nhập Hồng
quân Liên Xô. Ở trong Hồng quân được gần ba năm, cậu A. lại xin về Việt Nam hoạt
động. Từ Liên Xô cậu đi về qua Trung Quốc, theo đường dây của Đảng Cộng sản
Trung Quốc. Lúc về đến Việt Nam, cậu đi thuyền về đến mỏ Hòn Gay, từ Hòn Gay đi
thuyền về Hải Phòng, từ Hải Phòng đi xe lửa về Thanh Hoá, xuống ga Thanh Hoá, cậu
vác cái thang cho một người thợ nề đến Hàm Rồng thì cậu bị bắt và bị tù ở Lao Bảo
hơn 2 năm sau đó giải về Huế và ngồi tù ở lao Thừa Phủ. Cậu A. có tinh thần chống
Pháp từ hồi nhỏ, thường hay có những ý kiến xung khắc với bố (là ông ngoại
tôi), nhưng rất thương mẹ (bà ngoại tôi), và thương chị (là mẹ tôi).
Với anh em khác, cậu ít gặp gỡ, vì cậu cho là không hợp tính
tình. Tôi nhớ hồi tôi còn nhỏ, mẹ tôi xin được của bà ngoại một cái ảnh của cậu
A. và để trên cái mâm cỗ bồng, trên bàn thờ nhà tôi. Trong ảnh, nét mặt cậu rắn
chắc và có vẻ gì như ương ngạnh. Lúc tôi vào thăm ở nhà lao, người bà con cùng
đi giới thiệu với cậu tôi là con chị Cháu Ngạn thì cậu tỏ ngay cảm tình, vì cậu
rất thương mẹ tôi. Cậu hỏi tôi việc tôi đi thăm như thế này có ảnh hưởng gì đến
việc học của tôi không, ý nói mật thám có thể theo dõi. Người bà con và tôi đều
nói: “Tình gia đình thì vào thăm, còn họ có theo dõi hay không thì cũng chịu”.
Sau đó vài ba tháng một lần tôi lại vào thăm cậu tôi cũng ham nghe những câu
chuyện của cậu mặc dầu cậu không nói được nhiều, càng không nói được cụ thể cuộc
đời hoạt động của cậu, nhưng câu chuyện ngắn gọn trong phòng tiếp khách nhà
lao, vẫn hé mở cho tôi thấy một cuộc đời sôi nổi, với những chân trời xa xôi, nửa
rạt rào hào khí, nửa đượm màu phiêu lưu. Cậu khuyên tôi chăm học, muốn làm gì
thì cũng phải có trình độ văn hoá cao, hiểu biết rộng. Mỗi lần thăm, nhà lao chỉ
cho phép tiếp xúc lâu nhất là nửa tiếng đồng hồ, nhưng người đội gác có vẻ nể cậu
tôi, nên cũng có lần cho kéo dài buổi thăm thêm 15 phút. Ở nhà lao ra, cậu tôi
làm thuê cho nhà in Đắc Lập, làm kế toán viên, và một phần nào vào xường in
giúp sắp xếp công việc của thợ in, công việc “lên trang” của tờ báo và của những
quyển sách, vì cậu tôi qua những năm hoạt động ở Hà Nội và ở Pháp cũng đã thạo
công việc ấn loát. Sau đó, cậu tôi còn tham gia viết báo Tờ báo Huế, (báo bằng
tiếng Pháp) nhưng không viết (chắc là không được viết) những bài có tính chất
chính trị. Cậu chỉ viết những bài thời đàm có tính văn hoá, xã hội, không trực
tiếp liên quan đến chính trị đương thời. Tuy vậy, cậu cũng cho đăng được mấy kỳ
một thiên hồi ký về những bước đường hoạt động của mình, nhưng dưới cái dạng một
thiên phóng sự, mà anh Xuân Sanh và tôi xem rất thích vì thiên phóng sự khá hấp
dẫn, với nhiều tình tiết như rút từ một quyển tiểu thuyết phiêu lưu.
Cậu A. học rộng, có trình độ hiểu biết mác-xít cao và cũng hiểu
văn hoá chung khá nhiều và khá sâu. Ưu điểm của cậu là có tinh thần yêu nước,
tinh thần cách mạng khá lớn và kiên trì đi theo con đường đấu tranh chống thực
dân Pháp, nhưng một nhược điểm khá rõ của cậu là hay bàn ngang, mà không chỉ
bàn ngang, có thể là cậu tự khép mình vào kỷ luật cách mạng một cách khó khăn.
Khó khăn, nhưng rồi cũng theo kỷ luật vì lý tưởng. Cậu A. cũng là người đa
tình, người ta bảo mắt cậu nhìn đắm lắm, và cậu đã có một vài mối tình đẹp ở Huế,
những mối tình khá lãng mạn giữa cảnh sông Hương núi Ngự, những người cậu yêu
là những phụ nữ trí thức, những bậc nữ lưu, như ta nói hồi đó. Một nữ lưu ấy đã
trở thành vợ của cậu. Còn những bậc nữ lưu khác, thì tôi nhường cho hồi ký của
cậu kể, vì hình như ông cậu cũng có viết hồi ký. Dầu sao tôi cũng phải thêm: một
bậc nữ lưu kia dai dẳng yêu cậu mãi, và người ấy đã kể cho tôi những năm dan
díu với cậu tôi “những năm tháng say nhất, đẹp nhất, bàng hoàng nhất” của đời
bà. Lúc tôi ra học cao đẳng canh nông ở Hà Nội, cậu đã gởi cho tôi rất nhiều bộ
áo quần cũ của cậu, cũ nhưng còn tốt, tôi bận rất vừa. Tôi đã cho một anh bạn
hai bộ, một mùa đông và một mùa hè. Tập Lửa thiêng của tôi ra đời cuối năm
1940, tôi không kịp gởi tặng, thì cậu đã mua và đọc ở Sài Gòn, và đọc xong cậu
có viết thư cho tôi nói là rất tán thưởng tập thơ và khuyên tôi cứ tiếp tục sự
nghiệp văn chương đã khởi đầu tốt. Trong kháng chiến chống Pháp, cậu tôi đã làm
việc trong một cơ quan kinh tế của Khu 4, và có những đóng góp đáng kể. Nhưng
cũng vì tính hay nói ngang và nói thẳng, mà cậu không được lòng mọi người.
Nhưng điều an ủi cho cậu A. là ông giám đốc cơ quan rất quí cậu biết cậu là người
có khả năng, có tài năng, có nhiều ý kiến hay về tổ chức. Hiện nay cậu đã già,
hơn 80 tuổi nhưng óc còn minh mẫn, vẫn đọc sách và thỉnh thoảng có làm vài bài
thơ... tình. Những bài thơ tình này là những hoài niệm, nhắc lại những mối tình
xưa, nhất là những mối tình say và bàng hoàng ở Huế, sau khi ở nhà lao ra.
Ngủ chung những đêm rét ở trường Quốc học
Tôi sống mấy năm liền trong ký túc xá của trường Quốc học, và
cái tuổi mới lớn lên (14, 15 tuổi), trong không khí rất mơ mộng của trường và của
cả xứ Huế.
Sau tựu trường tháng 9 thường ở Huế mưa rả rích suốt hàng
tháng, có những tuần không một giờ nào ngớt mưa. Về cuối năm vừa mưa vừa lạnh.
Học sinh ở ký túc xá như sống trong một tổ ấm, mặc dù có người con nhà nghèo,
có người con nhà giầu, và có cả những công tử con quan nữa. Nhưng những sự phân
biệt xã hội ấy ở trong ký túc xá cũng có phần mờ đi. Một thứ dân chủ của nhà
trường, phần nào dựa trên tài năng (tài năng đây là học giỏi) cũng an ủi những
anh học trò nghèo như bọn tôi lúc đó. Những đêm trời mưa rét, một cái thú của
chúng tôi là kết bạn ngủ chung với nhau. Chờ cho thầy giám thị (mỗi phòng có một
thầy) đi kiểm tra một vòng rồi đi ngủ trong phòng con của thầy, chúng tôi nhẹ
nhàng đi tìm bạn ngủ chung. Ít nhất là một phần ba học sinh ngủ chung với nhau
như thế; thầy giám thị sáng mai dậy sớm có biết thì cũng lờ đi. Trong một bài
thơ của tôi, đoạn mở đầu đã nhắc đến cảnh ngủ chung thắm thiết này:
Ôi rét đêm nay mấy học trò
Ngủ chung giường hẹp trốn bơ vơ
Cô hổn vạn thuở buồn đơn chiếc
Có lẽ đêm nay cũng ngủ nhờ...
Những đêm ngủ chung như thế “tay choàng làm gối ấm”, những
đôi bạn thường nói chuyện thủ thỉ đến khuya, chuyện tâm tình, chuyện văn
chương, chuyện đời. Còn chuyện học, thì đã có những đêm ai nấy cùng lo học thi,
nằm trong giường riêng của mình mỗi người với một ngọn đèn tí hon, mà bóng đèn
là những lọ thuốc tây đã cưa cái đáy, đèn để trong một cái hộp kín, chỉ để hở
vài phân vuông ánh sáng chiếu vào trang sách học. Nhân nói giấc ngủ trong ký
túc xá tôi lại nhớ cứ 5 giờ rưỡi sáng là có kèn “la vầy” của trại lính khố xanh
đóng cách trường mấy trăm thước vang lên, thức chúng tôi dậy. Nhưng trước tiếng
kèn “la vầy”, đã có tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân vang. Tiếng chuông rất trầm
mà ngân nga hồi lâu, có đến mấy phút đồng hồ, nhất là trong bầu không khí trong
trẻo của những sáng mai hè. Người ta bảo trong cái chuông chùa Thiên Mụ có nhiều
vàng nên tiếng chuông trong và ngân lâu, và trong số vàng đúc vào chuông có
vàng của nhiều thiếu nữ thất tình, bỏ nhà đi tu. Không biết có phải vậy không,
nhưng trong tiếng chuông mà tôi nghe ngân nga mỗi sáng, tôi không nghe thấy âm
hưởng của lòng não nuột, của cay đắng mùi đời. Trong tiếng chuông Thiên Mụ, dường
như tôi chỉ nghe tiếng vang vọng của những tâm hồn thanh thản, có lẽ đã phần
nào thoát tục, gần như tiếng chuông chùa trong bài thơ của Thế Lữ. Tôi đã nhiều
lần đến thăm chùa Thiên Mụ, cảnh chùa đẹp soi bóng xuống dòng sông Hương Giang,
nhất là cảnh vườn sau của chùa xanh mát, êm ả, đẹp cái đẹp của thiên nhiên và của
tay người sắp xếp. Nhưng tôi vẫn thấy cảnh chùa không đẹp bằng tiếng chuông
chùa cái ngân nga vô tận của tiếng chuông nói với tôi nhiều hơn là mười mấy tầng
tháp trên gò đất cao. Tôi cũng đã nghe tiếng chuông của nhà thờ Phủ Cam đổ hồi
những ngày lễ trọng. Nhà thờ Phủ Cam cũng ở gần trường Quốc học, nên ở trong
trường nghe chuông rất rõ. Hai tiếng chuông khác nhau quá? Cũng là đạo nhưng tiếng
chuông nhà thờ dường như vẫn náo nức lòng đời, vẫn mang trong âm thanh những
xao xuyến của trái tim đời, còn tiếng chuông chùa thì như hoà tan chút lòng đời
còn lại vào cõi mênh mông bát ngát, vào nơi “không gian thanh tịnh”. Những chiều
thứ năm các thầy giám thị dẫn học sinh đi dạo chơi thăm những danh lam, thắng cảnh
ở ngoại thành thành phố Huế. Thường chúng tôi được đi chơi ở chùa Bảo Quốc,
chùa Từ Đàm, nơi mà cụ Lê Đình Thám hội trưởng hội Phật giáo Trung Kỳ thỉnh thoảng
đến thuyết pháp về đạo Phật. Cũng có lần chúng tôi được dẫn đi thăm một lăng
vua, lăng Tự Đức hoặc lăng Minh Mạng mãi tối mới về đến trường. Riêng thầy Lê.
Đ. P. thì bao giờ đến phiên thầy, thầy cũng dẫn chúng tôi đến Tân lăng, tức là
lăng của vua Dục Đức (?). Lăng nhỏ nhưng cây cối xung quanh họp thành một cảnh
đẹp có nhiều cây đại làm cho cảnh lăng hơi giống. cảnh chùa. Thầy Lê. Đ. P. dẫn
chúng tôi đến đó, giao chúng tôi cho cảnh lăng, còn thầy thì vào một ngôi nhà cổ
kính ở trong một khu vườn bên cạnh lăng để đánh chắn hoặc đánh tài bàn với mệ
S. Mệ S. là một người của hoàng gia, một công chúa dòng Duy Tân, lúc bấy giờ
còn trẻ khoảng hơn 30 tuổi. Mệ S. đẹp, cái đẹp quí phái, nhưng không phải là
cái đẹp ẻo lả. Trái lại người mệ rất nở nang, đường nét cân đối, không thướt
tha mà rất hài hoà trong bộ áo quần hoàng phái của mệ. Tôi nghe nói sau này,
trong thời Mỹ nguỵ, lúc bấy giờ mệ đã có tuổi, mệ còn bận áo quần thể thao, lái
ô tô vượt đèo Hải Vân đi vào Đà Nẵng, Qui Nhơn. Thầy Lê. Đ. P. đánh chắn với mệ
đều đặn mỗi chiều thứ năm, còn hai người có ván bài nào khác không, thì anh em
trong trường cũng xì xào nhiều, còn chúng tôi thì chỉ chờ lúc thầy ra về, mệ S.
tiễn ra cổng là chúng tôi được ngắm cái vẻ đẹp vừa cổ kính vừa có chút gì tân
thời, hiện đại của mệ. Hoàng gia suy tàn, hoàng gia dưới chế độ bảo hộ của thực
dân Pháp, sinh ra một mẫu nàng công chúa như mệ S., vẫn giữ tư thế tự trọng, mà
ôm ủ trong người một vẻ gì chán chường sống cuộc đời như nửa đùa nửa thật. Thấy
mệ S. đi đôi giày cườm với cái áo dài màu cánh sen, tôi cứ nghĩ đến những cây đại
trước Tân lăng. Không hiểu sao lại có sự liên tương này, có phải vì cái khung cảnh
suy tàn của cây cỏ, của gạch đá xanh màu rêu phong nó nói lên cái bùi ngùi của
cảnh lẫn người, cho dù một sắc đẹp hấp dẫn như sắc đẹp mệ S. cũng không làm cho
tươi tắn lại được.
Tập 2- I
Valéry và Gide ở Huế
Những năm 1935-1936 ở Huế có một “phong trào” một thời thượng
thì đúng hơn, xem thơ Valéry và đọc các sách, truyện của Gide. Valéry lúc đó được
coi là nhà thơ siêu việt của văn học hiện đại Pháp; còn Gide thì lúc đó được
xem là nhà văn độc đáo, đang có chiều hướng tiến bộ, xích gần lại với phong
trào cộng sản nhất là sau khi Gide cho xuất bản quyển “Những thức ăn trần gian
mới” (Les Nouvelles Nourritures), mà một phần lớn đã trích đăng trong báo
Marianne, là tờ báo có xu hướng cộng sản. Việc đọc sách của hai tác giả này trở
thành thời thượng đến nỗi một anh bạn học lớp tôi anh Phan D. viết thư cho
Gide, tâm sự với Gide về những nỗi băn khoăn của mình trước cuộc sống, và được
Gide trả lời bằng một bức thư ngắn gọn trong đó Gide tỏ sự đồng cảm với một tâm
hồn băn khoăn ở xứ Đông Dương xa xôi. Lại có một bác sĩ người Pháp ở bệnh viện
Huế là bác sĩ Tribouillet cho xuất bản liền hai quyển sách nghiên cứu về Valéry
và Gide. Bác sĩ đã diễn thuyết về nhà thơ và nhà văn này, được giới trí thức Huế
rất hoan nghênh, mặc dù có khi thính giả cũng không hiểu hết bác sĩ phân tích
những gì trong thơ Valéry và trong văn Gide. Trước mỗi buổi diễn thuyết, nhà
bác sĩ nghiên cứu văn học giới thiệu cho mỗi người xem hai bức ảnh lớn mà
Valéry và Gide đã gởi tặng ông, với những lời đề tặng rất trân trọng khích lệ.
Bác sĩ lúc đó trạc ngoại tứ tuần, khỏe mạnh đẹp theo kiểu một người trí thức
quen suy nghĩ. Bác sĩ là “bác sĩ riêng” của Nam Phương hoàng hậu, và mỗi tuần
bác sĩ vào hoàng thành để thăm sức khỏe của bà Hoàng. Người ta kể nhiều chuyện
về những buổi thăm sức khỏe hoàng hậu của bác sĩ, vì nó kéo dài hàng tiếng đồng
hồ. Nhưng hoàng hậu đủ khôn ngoan để không gây ra tăm tiếng; đã có một bà hoàng
hậu trước kia đã có con với quan khâm sứ. Dầu sao thì bác sĩ cũng gây được cảm
tình với giới trí thức, học sinh ở Huế, và cũng có góp phần làm cho thành phố
Huế có vẻ là một thành phố “trí tuệ” không thua gì Hà Nội hay Sài Gòn. Nói về
thời thượng tôi nhớ anh Hoài Thanh lúc đó cũng đã dịch một bài văn dài Gide nói
về văn học nghệ thuật đăng dày cả hai trang báo Tràng An. Tất nhiên anh dịch
đăng mấy trang này của Gide vì lẽ nó rất phù hợp với quan điểm nghệ thuật của
anh trong cuộc bút chiến sôi nổi “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị
nhân sinh”. Lời văn dịch của anh khá hay; chắc rằng anh đã gởi cái rung động của
anh vào mạch văn vốn đã xúc động của Gide.
Làm quen với Hoài Thanh Như trên kia đã nói, sau khi xem bài
của Hoài Thanh viết về Thế Lữ, tôi có cảm bình với tác giả bài phê bình, vì tôi
đoán hiểu ở anh một tâm hồn tế nhị có rung cảm, và có phần nào đồng điệu với những
nhà thơ mới lúc bấy giờ. Tôi liền viết một bài nói về
Thế Lữ, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, bài bình luận văn học
theo lối ấn tượng, và tôi gởi cho anh Hoài Thanh. Thế rồi tờ báo Tràng An tuần
liền đó đăng bài của tôi với một lời giới thiệu ngắn khích lệ.
Tôi lại gởi tiếp một bài bình luận quyển Tiếng suối reo của
Khái Hưng. Bài ấy cũng được đăng liền. Tiếp đó tôi không gởi những bài bình luận
nữa mà gởi vài bài thơ mà tứ thơ là những ước vọng, những hoài bão của một
thanh niên trước cuộc đời. Hai bài thơ này cũng được đăng trong hai số báo. Tất
cả các bài bình luận và thơ, tôi đều ký tên Hán Quỳ, tức là lấy chữ Huy Cận sắp
xếp lại. Cho đến đó, tôi vẫn chưa gặp anh Hoài Thanh. Mùa hè 1936, tôi lại viết
mấy bài bình luận văn chương gửi đăng báo Sông Hương do Phan Khôi làm chủ nhiệm,
và do Hoài Thanh làm biên tập. Lúc bấy giờ anh Sanh và anh Tám báo tôi nên đến
thăm toà báo và hỏi tiền nhuận bút. Tôi và Xuân Sanh một buổi chiều đến thăm
toà soạn Sông Hương, ở phố nào tôi quên mất (hình như ở phố Gia Hội). Anh Hoài
Thanh tiếp và nói chuyện với chúng tôi rất niềm nở, rất hợp “gu” chúng tôi với
những suy nghĩ về triển vọng phát triển của văn học nước nhà.
Nhưng khi chúng tôi nói với những lời rào đón quanh co nêu vấn
đề nhuận bút thì anh cho biết là rất tiếc, báo rất nghèo, phải có sự ủng hộ mạnh
mẽ của người đọc và của cả người viết thì báo mới có thể tiếp tục ra đời. Tóm lại
báo đăng những bài của tôi như là những bài lai cảo. Tôi và Xuân Sanh trở về
tay không nhưng câu chuyện văn chương ở toà soạn cũng làm chúng tôi nức lòng.
Đó là mối duyên văn đầu tiên giữa tôi và anh Hoài Thanh. Về sau này, trong
kháng chiến chống Pháp, cũng như trong những năm chống Mỹ cứu nước có nhiều điểm
tôi chưa thống nhất với anh Hoài Thanh về cách nhận định văn học nghệ thuật, về
cách nhận định phong trào thơ văn của ta về chức năng, nhiệm vụ của văn nghệ, của
người văn nghệ sĩ. Nhưng không phải vì vậy mà tôi quên cái êm ái, cái thân tình
của buổi đầu gặp gỡ. Với lại bên cạnh những quan điểm, những cách suy nghĩ của
anh mà tôi không đồng tình, anh cũng có những suy nghĩ mà tôi tán thưởng sâu sắc,
như khi anh nói về tấm lòng của Nguyễn Du đối với vận mệnh của con người hoặc
khi anh nói “Có một nền văn hoá Việt Nam”.
Khi tôi đang thực tập kỹ sư ở đồn điền canh nông trên tỉnh
Tuyên Quang (1941) thì tôi nhận được quyển Thi nhân Việt Nam (trong đó bài anh
viết về tôi rất đằm thắm, thiết tha, sâu sắc biểu hiện một sự đồng cảm từ đáy
lòng). Nhận được sách, tôi đã thắp một nén hương để đọc, vì có cái câu của Nguyễn
Du anh để ở đầu trang sách làm tiêu đề Của tin gọi một chút này làm ghi. Tôi đồng
cảm sâu sắc với anh trong lòng tin đó, tin ở tiền đồ của tiếng Việt, tin ở tiền
đồ của nền văn học, của nền văn hoá nước nhà. Tên khai sinh của anh là Nguyễn Đức
Nguyên, nhưng anh lại đặt tên văn học của mình là Hoài Thanh, chắc là với cái
nghĩa nhớ tiếng, nhớ tiếng mẹ đẻ là nỗi niềm chung của chúng tôi lúc đó.
Những bài thơ dịch của Song Nam Nguyễn Văn Thuộc
Trở lại một chút về những năm học tiểu học, tôi đã làm quen với
thơ lãng mạn Pháp qua những bản dịch của Nguyễn Văn Thuộc đăng ở báo Thành
chung (Huế). Nguyễn Văn Thuộc dịch nhiều thơ của Lamáctin phần nhiều dịch theo
điệu song thất lục bát, lời thơ trôi chảy, mà nhiều đoạn như là phóng tác, đọc
lên nghe réo rắt, có âm hưởng của câu thơ Việt Nam. Tôi nhớ nhất là bài Tình hận
đầu tiên bắt đầu bằng những câu sau đây:
Biển Sở Giang sóng cồn xanh biếc
Khách nhàn du ai biết chăng ai
Một non một nước một trời
Kia kìa trên bến mộ người cửu nguyên
Cây cam mọc một bên mộ chí
Đã một vừng ghi để ngàn thu
Qua chơi, hỏi khách giang hồ
Vạch vùng lau sẽ thấy mồ hồng nhan
Tuổi hai tám suối vàng sao vội
Khách xem bia khôn nỗi thờ than
Than hoa chưa nở đã tàn...
Ai run rủi cho ta tới đó
Để lòng này nhớ chỗ năm xưa
Giấc chiêm bao khéo hững hờ
Người xưa cảnh cũ bây giờ là đâu
Trong mây nước hạt châu tầm tã
Nỗi bi ai khôn tả nên lời...
Những bài dịch như thế được lưu truyền trong các thầy giáo và
đám học sinh, gần như là những bài sáng tác Về sau này tôi tìm hiểu Nguyễn Văn
Thuộc là ai và ông có để lại một sáng tác nào không, hoặc một tập thơ dịch đã
xuất bản nào không, nhưng tôi chỉ được biết ông là một ông tham tá công chính,
làm việc đâu ở phía Nam Trung bộ, về sau sống ở đâu và mất lúc nào cũng không
ai biết.
Quả thật, ở nước ta có truyền thống dịch hay dịch hay những
bài thơ hay, truyền thống đó bắt đầu từ bà Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm của
ông Đặng Trần Côn, và từ ông Phan Huy Vịnh dịch Tì bà hành của Bạch Cư Dị. Có một
bài dịch nữa mà tòi cũng cho là đạt, là bài thơ tình của Arvers do Khái Hưng dịch,
chắc nhiều người còn thuộc, nhưng tôi cũng xin ghi lại đây:
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thu
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm cơ hầu không hay
Hỡi ơi người đó ta đây
Mà ta thui thủi đêm ngày chiếc thân
Dẫu ta đi trọn đường trần
Chuyện riêng dám dễ một lần hé môi
Người thì ngọc nói hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên khôi tình
Một niềm tiết liệt đoan trinh
Xem thơ nào biết có mình ở trong.
Gạn gùng lòng sẽ hỏi lòng:
“người đâu tả ở mấy dòng thơ đây”.
Nhân đây, tôi cũng xin nhắc một điều, mà anh Xuân Diệu và tôi
thường hay trao đổi với nhau. Trong hàng trăm, hàng nghìn bài thơ thất ngôn bát
cú đăng trong báo Nam phong, phần lớn là bài dở, cũ mòn mòn lời, mòn tứ, nhưng
thỉnh thoảng cũng có đôi bài thơ dịch hay. Có lẽ các nhà nghiên cứu văn học rồi
cũng phải để công tìm kiếm, cứu vớt những chút hay ấy khỏi bị mai một trong mớ
bụi của thời gian. Chẳng hạn như bài sau đây mà tôi còn nhớ 6 câu:
Thầy lý làng ta khăn mỏ rìu
Vườn trồng đầy ngô chưa thật nghèo
Chim vì thóc vãi quanh thềm đậu
Tre đón người quen trước ngõ reo
... ba thước lũ
... một ao bèo
Trúc xanh, cát trắng, vừng trăng nhạt
Tiễn khách bên sông ngán cảnh chiều
Nhân nói chuyện dịch thơ, tôi cũng nhớ lần đầu tiên đọc bài
thơ ngụ ngôn Con ve và con kiến của La Phongten do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, bài dịch
hay đến nỗi có thể tường là nguyên tác của ông Vĩnh. Sau đó tôi đọc lại La
Phongten trong nguyên tác tiếng Pháp so sánh nguyên văn và bán dịch mới càng thấy
tính sáng tạo của bản dịch, và càng thấy cái thần của tiếng Việt ta, và tôi cứ
nghĩ nếu La Phongten sinh ra là người Việt Nam thì chắc ông ta làm thơ ngụ ngôn
bằng tiếng Việt cũng hay bằng thơ tiếng Pháp của ông, và biết đâu lại không có
phần lý thú hơn. Ông Nguyễn Văn Vĩnh cũng đã dịch Ba người ngự lâm pháo thủ của
A. Dumas rất đạt; bởi có nhiều đoạn ông dùng lối phóng tác, giúp cho người đọc
dễ cảm thụ cái hay của câu chuyện. Tôi nhắc nhiều câu chuyện dịch văn dịch thơ
vì tuổi nhỏ của tôi đã được hưởng nhiều bài dịch hay... Dịch hay là một sự tái
tạo, một sự giao cảm.
Tìm gặp Thế Lữ ở hội chợ Huế
Gần Tết năm 1934, ở Huế có mở hội chợ gần Viện dân biểu, bên
bờ sông Hương. Có một tin làm cho chúng tôi náo nức, là nhà thơ Thế Lữ sẽ vào
thăm hội chợ. Lúc bấy giờ chúng tôi đã đọc các bài thơ của Thế Lữ đăng trên báo
Phong hoá, và lúc đó tập Mấy vần thơ của Thế Lữ cũng vừa mới phát hành. Một bạn
đọc lớp tôi đã đặt mua được một bản Mấy vần thơ giấy đẹp (giấy De Rives), giấy
trắng, xốp rất đẹp. Quyển Mấy vần thơ là quyền đầu tiên trong loại sách mỹ thuật
của nhà xuất bản Đời Nay, do kỹ sư ấn loát Đỗ Văn trình bày, và do hoạ sĩ Trần
Bình Lộc minh hoạ.
Xuân Sanh và tôi suốt cả một buổi chiều đi đi lại lại trong hội
chợ cốt để gặp cho được Thế Lữ, để chào anh, để nói với anh vài lời, tỏ lòng
hâm mộ của chúng tôi Không khí hội chợ gần Tết rất phơi phới, có cái gì như xui
lòng người ta rạo rực, nghĩ đến những tình duyên đẹp, những cuộc hội ngộ đằm thắm.
Rồi xế chiều Thế Lữ đi vào hội chợ, đi theo có vài người bạn.
Thế Lữ lúc đó còn trẻ lắm, nhưng như anh đã nói trong một bài
thơ, Nỗi gian truân trên bước đường đời đã làm cho nét mặt anh có một vẻ trầm
tư xa hơn cái tuổi của anh. Bọn tôi ngắm anh từ đôi mắt nhìn thắng mà vẫn mơ mộng,
đến hai bàn tay thon như bàn tay của các cụ đồ ngày xưa, đến dáng đi rất nhẹ của
anh với thân hình mảnh dẻ, dáng đi như lướt trên đường, không nghe tiếng chân ấn
xuống đất. Chúng tôi chào Thế Lữ, không nói được gì nhiều, một phần vì chúng
tôi cảm động, một phần vì anh cũng có vẻ phải đi vội. Nhưng anh cười với chúng
tôi một cách rất bè bạn, tỏ ý thông cảm lòng yêu văn thơ của chúng tôi. Sau này
gặp lại Thế Lữ ở Hà Nội, tôi có nhắc việc chúng tôi đi lùng tìm anh ở hội chợ
Huế thì anh nói có nhớ mang máng hai chàng học sinh đến đón anh, và nhớ mãi cái
ấn tượng lòng say văn thơ của thanh niên, học sinh ở Huế. Trong chuyến đi thăm
Huế lần này, anh đã nảy cái tứ làm bài thơ Nghe đàn nguyệt trên sông Hương, một
trong những bài thơ hay của anh, xin nhắc qua đây mấy câu:
Đêm khuya vắng thêm gợi thời xa vắng
Tiếng bi ai như vẽ hình cay đắng
Của những chia phôi, thương tiếc, đợi chờ
Trong bao thiên tình sử não nùng xưa...
Thuốc độc êm đềm, ôi! Giọng đàn kiều mị,
Bời vì đâu gieo mãi xuống lòng ta
Những giọt nồng cay, tê tái, say sưa...
Quen Tế Hanh
Tế Hanh cũng học ở trường Quốc học, nhưng sau tôi ba lớp,
(tôi ở đệ nhất niên ban tú tài, thì Tế Hanh mới ở đệ nhị niên ban thành chung).
Tế Hanh cũng bắt đầu làm thơ từ đó, và biết tôi có làm thơ nên tìm gặp tôi, ở
trong trường, và nhất là ở nhà trọ của tôi năm tôi học đệ nhị tú tài, phải đi
làm gia sư, sau khi bị cắt học bổng (vì đi đón Gô-đa). Thường buổi chiều đi học
về, chúng tôi hay đi dạo trên con đường Khải Định, hai bên đường trồng cây hoa
phượng, lúc gần hè hoa phượng nở từng chùm đỏ rực, cả một lùm cây đỏ rực, hoa
phượng hồn của mùa hè xứ Huế, náo nức mà nhớ nhung: Rưng rưng hoa phượng màu
thương nhớ, và Tưng bừng lựu đỏ trà non nớt, - Chắc nắng chiều qua phượng nở rồi.
Tế Hanh làm được bài thơ nào thường có đem cho tôi xem và nhờ
tôi góp ý kiến. Tôi cũng đã góp ý cho Tế Hanh sửa chữa một số câu thơ, một số
bài thơ. Tất nhiên là tôi chỉ gợi ý, và Tế Hanh tự sửa chữa lấy. Tôi nhớ những
gợi ý chủ yếu của tôi là làm sao cho bài thơ gọn lại, làm sao tăng sức khêu gợi
của những câu thơ, do đó nên chọn những từ có nhiều âm hưởng trong tâm tình người
đọc, những từ có mang sức vang động bên trong tâm hồn. Chúng tôi bàn với nhau
nhiều về cách biểu hiện mới trong thơ, biểu hiện mới để nói được tứ mới, nhưng
lại phải được biểu hiện thế nào để dính với truyền thống cảm xúc của dân tộc.
Chúng tôi say sưa bàn cái hay của những câu thơ Kiều, cái sức khêu gợi của câu
thơ lục bát Nguyễn Du. Chúng tôi ngạc nhiên tại sao câu thơ của Nguyễn Du cứ mới
thế, cứ trẻ thế, dường như Nguyễn Du sáng tác ở thời đại chúng' ta, như cảm xúc
ở thời đại chúng ta. Chúng tôi cũng thán phục cái tài dùng chữ của bà Đoàn Thị
Điểm trong bản dịch Chinh phụ ngâm. Những câu như: Ngòi đầu cầu nước trong như
lọc, Đường bên cầu cỏ mọc còn non và câu: Giã nhà đeo bức chiến bào, Thét roi
câu Vị ào ào gió thu cứ làm chúng tôi tấm tắc mãi. Bài học nghệ thuật của cha
ông gắn bó chúng tôi.
Kỷ niệm về nhà thơ Phạm Hầu
Phạm Hầu là con vị thượng thư Phạm Liệu của triều đình Huế.
Phạm Hầu cũng học ở trường Quốc học, sau tôi 2 lớp. Lúc học đệ tứ niên thành chung
Phạm Hầu đã làm thơ, và đã có đăng một số bài ở tạp chí Tao đàn hồi đó. Phạm Hầu
thường hay trao đổi bàn chuyện thơ với tôi ở trong trường, sau giờ học buổi chiều,
trước giờ ăn cơm. Anh người mảnh dẻ, giọng nói rất nhẹ, gần như nói thầm, nhưng
thỉnh thoảng cũng cười to lên, khi gặp một ý thích thú tâm đắc. Mắt Phạm Hầu
như nhìn xa đi đâu, không phải là khóe mắt mơ mộng thường gặp ở các thiếu nữ mới
lớn lên, mà là nét nhìn xa vắng, xa trong tưởng tượng của anh, và vắng với cảnh
vật trước mắt. Tôi rất mến anh, quí anh. Hồi tôi ra Hà Nội học Trường cao đẳng
Nông lâm, anh cũng ra học Trường cao đẳng Mỹ thuật. Anh ở phố Bôvet (nay là phố
Yết Kiêu), số nhà 32, trên gác. Tôi thường đến thăm và đàm đạo thơ ca với anh.
Chúng tôi rủ nhau đi thăm cảnh chùa Hương, đi lễ đền Hùng. Và khi tôi thực tập
kỹ sư canh nông ở đồn điền Tuyên Quang (1941), thì anh lên chơi với tôi 1 tuần
và dịp ấy anh làm được hai bài thơ mà hiện nay tôi còn giữ bản chép tay nguyên
bản của anh. Phạm Hầu thường tâm sự với tôi: “Cận đã có tập thơ Lửa thiêng và
đang có đà làm thơ, đáng mừng cho Cận. Còn mình thì chưa biết sao đây? Phải có
sự nghiệp gì trước tuổi 30, nếu không thì chả sống làm gì?” Rồi anh say sưa vẽ,
thỉnh thoảng làm thơ, trong vẽ, trong thơ anh cốt tìm lý tưởng. Dạo ấy anh có vẽ
một bức tranh tặng tôi, tranh theo lối lập thể. Trung tâm bức tranh là một cái
quạt mở rộng (lấy ý “lòng anh mở với quạt này” trong bài Ngậm ngùi của tôi), và
xung quanh chiếc quạt là chim, bướm, cây cỏ, mây cuốn ráng chiều, có cả thấp
thoáng, ẩn hiện những hình thiếu nữ lẫn với hoa lá, như từ hoa lá mà nở ra. Rồi
dần dần tôi thấy anh hao gầy đi, mắt đôi khi như lạc đi, có nét ngơ ngác. Đầu
năm 1942 tôi vào Sài Gòn học nốt học kỳ chót của trường Kỹ sư canh nông, thì được
tin anh đã bị điên, và người ta đã đem anh vào nhà thương Vội ở Bắc Giang (nhà
thương điều trị những người điên). Mặc dù người anh ruột hết sức chăm sóc anh,
bệnh tâm thần của anh không khỏi và anh đã mất tại nhà thương năm 1942, vào
tháng nào tôi không nhớ rõ, và gia đình đã đem thi hài anh về chôn ở Huế, gần
chùa Từ Đàm. Người yêu của anh là một nghệ sĩ đánh đàn tranh rất hay nhưng tiếng
đàn yêu thương ấy cũng không đủ sức bồi lại sức sống cho anh, không đủ sức lập
lại sự cân bằng trí não cho anh. Phạm Hầu đã điên, nhưng không phải cái điên
thường, mà là điên vì đi tìm lý tưởng mà tìm không ra, rồi tắc nghẹn tâm tư, loạn
cuồng trí tuệ. Phạm Hầu si tình thì được người yêu yêu lại thắm thiết. Nhưng Phạm
Hầu si lý tưởng thì khổ cho anh. Anh đã bị cái chất điên nó ngấm vào anh năm
này qua năm khác, còn hơn là bệnh ung thư gặm nhấm tế bào.
Nhớ thương Phạm Hầu, tôi đã tạc anh thành người “thanh niên
điên vì lý tưởng” trong bài thơ sân khấu Người thợ ảnh (trong tập Bài thơ cuộc
đời), xin trích ra đây đoạn thơ nói về anh:
Người điên (nói với bác thợ ảnh già):
Tôi đã chết, tôi cũng về thăm bác.
Tôi chết điên, hồn không lìa khỏi xác
Nên tôi còn tha thẩn mãi trần gian.
Bác nhớ không, cứ mỗi buổi chiều vàng
Tôi vác giá ra ngoại ô đứng vẽ
Mặt trời lặn, và vẽ hồn tôi xế...
Thuở ấy tôi học đàn, đàn không đủ bình tâm,
Nhạc không dủ yên hồn, tôi đi vẽ ba năm,
Trộn hết sắc màu không thấy màu lý tưởng.
Người yêu tôi đánh đàn tranh, âm hưởng
Gọi hồn tôi tỉnh về như chị gọi em thơ,
Như tiếng quê hương gọi kẻ giang hồ...
Bên người yêu tôi thấy hồn quang tạnh
Nhưng giữa phút yêu đương có khi hồn trắng lạnh.
Tôi lại ra đi tìm tuyệt đích đời tôi.
Tuyệt đích đâu. Tôi hoá điên rồi
Điên thấm vào tôi như dòng nhựa độc...
Người yêu tôi chỉ còn ôm đàn khóc;
Nhưng khóc, em ơi! Không cứu được đời anh...
Bác nghe không? Có tiếng đàn tranh
Đang nức nở, run từng dây máu đỏ...
Phạm Hầu chết đã 44 năm, mà tôi nhớ anh rõ mồn một: cái dáng
đi của anh rất nhẹ, lời anh thỏ thẻ, mắt anh xa vắng... Tôi ghi mấy dòng kỷ niệm
nhớ anh, thương anh, tiếc hồn thơ tế nhị của anh chưa đủ tháng năm để nở hết
hương sắc. Phạm Hầu đi qua đời như một cái bóng, cái bóng trong quá, nhẹ quá
không đậu bám được ở cuộc đời, như “du khách giây phút dừng chân Vọng hải đài”.
Nhưng mấy vần thơ ít ỏi mà anh để lại vẫn còn in dấu trong thơ ca:
Chẳng biết trong lòng ghé những ai
Thềm son từng đội gót vân hài
Hỡi ôi! Người chỉ là du khách
Giây phút dừng chân Vọng hải đài
Lòng xiêu xiêu, hồn nức hương mai
Rạng đông về thức giấc hoa nhài
Đưa tay ra vẫy ngoài vô tận
Chẳng biết xa lòng có những ai.
(Vọng hải đài)
Một kỷ niệm về anh Lưu Trọng Lư
Lúc đó (1940) tôi và anh Lư cùng ở số nhà 40 Hàng Than, Hà Nội.
Tôi ở trên gác cùng một số bạn sinh viên, anh Lư ở dưới nhà với chị Lư (tức là
chị Thanh Thuỷ, người vợ đầu của anh) và cháu Hải. Lúc này anh Xuân Diệu đã vào
Mỹ Tho làm tham tá nhà Đoan. Một chiều thứ sáu tháng 10 (hoặc tháng 9) tôi vừa
đi học ở trường đại học về, vừa đặt chiếc xe đạp ở cầu thang, đang lên gác, thì
anh Lư bước vội lên gọi tôi: “Huy Cận ơi? Hay lắm, thú lắm? Đi ngay với mình!”.
- Cái gì thế?
- Bài thơ Tràng giang của cậu đã đăng ở báo Ngày nay, hay tuyệt!
- Thế à? Tôi chưa được xem báo...
- Đăng rồi! Chiều nay, ông Ngô Tất Tố cùng xem với bọn mình,
ông Tố rất khoái và thốt lên: “Giọng thơ Đường, thịnh Đường, mà hay hơn thơ Đường!”...
Tôi nói:
- Ồ thế thì thích quá...
Anh Lư rủ tôi: “Bây giờ Cận đi với mình đến hiệu Xuân Nghi
(phố Hàng Quạt) ăn bữa phở ngon, mừng bài thơ của Cận”. Tất nhiên là tôi đi, với
cái phấn khởi trong lòng, được bạn thơ tán thường, cổ vũ mình và với cơn đói nữa,
vì trưa hôm ấy tôi ở lại trường không về ăn cơm trưa ở Pôpốt. Hai anh em đạp xe
đến hiệu Nghi Xuân, anh Lư dõng dạc gọi phở tái gầu, rồi lại phở xào với cải
làn... Anh Lư có uống tí rượu, còn tôi thì không uống được rượu, chỉ uống nước
chè. Anh Lư vừa ăn vừa hào hứng bình luận thêm bài Tràng giang, anh say sưa bàn
như là thơ của anh, tôi nghe cảm động. Rồi chúng tôi bàn đến nền thơ nói chung,
bàn đến cái hay của tiếng Việt, đến cái cô đọng của thơ phương Đông... Rồi anh
Lư gọi người hầu bàn tính tiền để anh trả. Anh sờ túi ngoài, túi quần, túi ngực
đều không có ví tiền, cả túi trong của áo vét tông cũng không có... Thì ra anh
quên mang tiền, theo tính đãng trí “truyền thuyết” của anh (người ta còn bảo
anh quên cả số con của mình!). May mà tôi vừa lãnh học bổng, nên không phải chịu
nợ hiệu phở “Nghi Xuân”.
Rồi hai anh em vẫn chưa hết cơn hào hứng, anh Lư rủ tôi đi
thăm chùa Bích Câu, gần Văn Miếu. Tôi nhớ tối hôm ấy trăng mờ, trăng lu thì
đúng hơn, cái ánh trăng rất hợp với việc khêu gợi những truyện xưa, những truyền
thuyết dân gian, rất hợp với câu chuyện tình nửa trần, nửa tiên Bích Câu kỳ ngộ.
Hai chúng tôi dạo hồi lâu trong sân chùa, đọc thơ xưa, thơ nay, càng thấy cái hồn
xưa của cha ông đẹp quá, đằm thắm quá. Tôi nhớ tôi còn đọc cho anh Lư nghe bài
thơ Hồn xa của tôi trong đó có mấy câu:
Tự buổi tiên đi, sầu cũng nhỏ
Nhân gian thôi nhớ chuyện trên trời
Đại bàng vỗ cánh muôn năm trước
Ai biết trời xưa rộng mấy khơi...
...
Bích Câu đâu nữa bóng chàng Uyên
Sông núi thô sơ bặt tiếng huyền
Có lẽ hồn ta không đẹp nữa
Nét thần thôi hoạ bức thiên duyên.
Anh Lư và tôi còn ở chung nhà Hàng Than một năm nữa. Cũng cuối
năm 1940, anh cho ra tập thơ Tiếng thu, và tôi cho ra tập Lửa thiêng, hai anh
em cùng mừng cho nhau đứa con đầu của sự nghiệp văn chương (con đầu về thơ, vì
anh đã cho ra tập Người sơn nhân từ năm 1933).
Kỷ niệm về Thạch Lam
Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Lân là em trai Nguyễn Tường
Tam (tức là Nhất Linh). Thạch Lam đậu tú tài toàn phần (tú tài tây), rồi chuyên
làm báo và viết văn, không như Hoàng Đạo làm tham tá, hoặc Tường Bách là bác
sĩ. Thạch Lam người gầy, mặt xương xương, mùa đông hay đội mũ dạ mốt xăng, vành
bẻ cụp xuống. Anh thường đi bộ từ nhà đến toà báo Ngày nay, ở số 80 đường Quán
Thánh. Nhà anh là một ngôi nhà nhỏ, mái gianh, vách toóc-si ở sát bờ Hồ Tây,
ngay bên cạnh đình Yên Phụ, mùa hè khá mát, mùa đông thì rất rét, gió hồ thổi
vào từng hồi lạnh buốt. Nhưng Thạch Lam thích ở đó hơn là ở phố, một phần vì đấy
là cái nhà, miếng đất do anh dành dụm mà tạo được. Nhưng cái chính là vì ở đó hợp
với tính tình của anh thích yên tĩnh, thích sống gần thiên nhiên; và dường như
sống giữa xóm nghèo, gần gũi những người bình dân mà anh có cảm tình là một điều
thoải mái mà anh tìm kiếm.
Trong số mấy anh em Nguyễn Tường, anh là nhà văn gần gũi nhất
với những người nghèo. Mà bản thân anh cũng nghèo, vợ anh cũng nghèo phải buôn
bán tần tảo, không như Hoàng Đạo mà vợ là con nhà tư sản giàu có.
Tôi thường gặp Thạch Lam tại toà soạn Ngày nay vào buổi chiều,
lúc tôi đi học về, và cũng là lúc anh đến toà báo để đưa bài hoặc đi chữa bài.
Tôi thích nhất là ngồi nghe anh đánh đàn tam thập lục trong một phòng xép bên cạnh
phòng họp của toà báo, phòng xép này nhìn ra đường Quán Thánh, có bóng mấy cây
bàng che mát.
Tiếng đàn anh thánh thót, hai cần tre nẩy trên những dây đồng
vang lên một âm hưởng rất tình cảm; dường như mỗi lần anh cứ đánh đi đánh lại
có vài bài ấy thôi nhưng tiếng đàn anh đánh rất nội tâm, chứ không phải chỉ
quen tay, quen điệu. Đánh đàn xong anh rít một điếu thuốc lào, người hơi ngả ra
phía sau trên lưng ghế mắt mơ màng một hồi lâu. Thạch Lam tỏ ý rất thích thơ
tôi, cho là hợp với tâm hồn anh, hợp với điệu cảm xúc của anh. Thế rồi một hôm
gần Tết anh mời tôi đi ăn ở hiệu Mỹ Kinh, một hiệu Tàu khá sang hồi đó. Đối với
tôi đó là một điều thích thú, ít khi được vào hiệu ăn ngon và sang, vì anh đâu
có nhiều tiền, bữa ăn thết bạn đồng nghiệp như vậy có lẽ cũng mất đi nửa nhuận
bút của một cái truyện ngắn. Thạch Lam nói chuyện thỏ thẻ dường như e lệ, mắt
nhìn chứa đầy cảm tình miệng mỉm cười rất tươi với đôi môi đỏ thắm. Thạch Lam rất
sành ăn, sành các món ăn dân tộc mà anh đã mô tả một cách tinh vi và đầy chất
thơ trong cuốn Hà Nội 36 phố phường. Vừa ăn anh vừa giới thiệu cho tôi biết các
đặc sản của Hà Nội, của từng phố, thậm chí của cả người bán rong các món ăn
bình dân, như cháo lòng, bún ốc, mà anh quen. Anh còn nói chuyện nhiều với tôi
về Hà Nội cổ, về Thăng Long ngày xưa, vì anh biết tôi ra ở Hà Nội chưa bao lâu
và cũng có tấm lòng quí những gì là di sản của cha ông. Lúc tôi tập hợp các bài
thơ đã đăng báo và chưa đăng báo để in thành tập Lửa thiêng, tập thơ đầu của
tôi, Thạch Lam ngỏ ý muốn viết tựa cho tôi. Đó là một lời ngỏ ý trân trọng với
tình cảm quí mến nhau rất chân thật. Tôi hơi khó xử. Nhưng khi tôi nói là anh
Xuân Diệu đã chuẩn bị viết tựa Lửa thiêng từ lâu rồi, thì Thạch Lam hiểu ngay
đó là điều tự nhiên, “tất yếu', không hề phiền lòng.
Các bài thơ của tôi in trên báo Ngày nay, anh đọc thích thú
và thường bình luận. Tôi còn nhớ về bài Tràng giang, anh rất thích thú với cái
không khí rộng lớn bát ngát có khi được mô tả bằng cái nhỏ bé, như trong hai
câu:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa.
Tôi đã tặng anh bài Đi giữa đường thơm vì cảm thấy bài đó rất
hợp với tâm hồn anh. Còn mỗi khi anh ra sách, anh đều tặng tôi, với một cái tên
ký và chữ M ngoắt lên được vẽ thành một cây nến đang cháy. Tất nhiên đó là một
cách chơi bút của nhà văn nhưng không hiểu vì sao tôi cứ nghĩ đến những cây nến
trên các áo quan khi sắp đưa đám... Thạch Lam mắc bệnh ho lao, gia đình hết sức
chạy chữa nhưng lúc đó bệnh này là bệnh nan y; anh chết năm 1942 trong cảnh
nghèo, mới 33 tuổi.
Làm báo Thanh niên
Năm 1942, sau khi tôi tham gia hoạt động Việt Minh, tôi vào
Sài Gòn cùng một nhóm bạn sinh viên như anh Lưu Hữu Phước, anh Đặng Ngọc Tốt
anh Huỳnh Văn Tiểng, anh Huỳnh Bá Nhung, tham gia làm báo Thanh niên mà anh Huỳnh
Tấn Phát chủ trì, và bỏ tiền ra in. Anh Xuân Diệu cũng tham gia viết bài cho
báo. Mục đích của tờ báo là gợi lòng yêu nước cho thanh niên, nhắc lại những
truyền thống vẻ vang của cha ông, truyền thống chống ngoại xâm, truyền thống
văn hoá độc lập. Tôn chỉ mục đích thì như thế, nhưng cách viết bài thì phải
khéo léo, phải viết nhiều bằng ẩn dụ, và xen vào những bài vô thưởng vô phạt
trên báo Thanh niên này, Xuân Diệu cũng vậy. Tôi còn nhớ cũng trên báo này,
chúng tôi đã cho đăng một bài thơ mà chúng tôi rất thích của anh Huỳnh Văn Nghệ,
mở đầu bằng bốn câu sau đây:
Ai đi về Bắc, ta theo với
Thăm lại giang sơn giống Lạc Hồng
Tự buổi mang gươm đi mở cõi
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long...
Bài thơ có tiếng vang trong thanh niên trí thức của Sài Gòn
lúc bấy giờ, và tờ báo tuy số in ra không nhiều cũng có tiếng vang, làm chúng
tôi phấn chấn định mở rộng ảnh hường của tờ báo, chạy thêm tiền để in nhiều
hơn, tìm thêm đại lý thì tờ báo bị đóng cửa. Tính ra báo mới ra chưa được 10 số
nhưng nó là một hoạt động hào hứng của chúng tôi. Gần đây tôi được biết một bạn
Việt kiều ở Bỉ chuẩn bị làm một luận án về tờ báo Thanh niên này, xem đó là một
tờ báo có tác dụng trong giai đoạn ấy.
Đến gặp anh Hoàng Xuân Hãn
Tháng 4-1942, sau khi tôi đã tham gia hoạt động Việt Minh, một
hôm tôi đến gặp anh Hoàng Xuân Hãn tại nhà ở phố Tràng Thi bây giờ. Dưới nhà là
hiệu thuốc tây của chị Hãn. Tôi gặp anh Hãn ở trên gác, có hẹn trước. Anh Hãn vốn
là thầy dạy toán của tôi ở Trường cao đẳng Nông lâm, anh dạy toán cao cấp khi
tôi học năm thứ nhất của trường cao đẳng.
Tôi có cảm tình với anh, không phải chỉ vì tình thầy trò, mà
vì tôi đặc biệt cảm tình với tờ báo Khoa học mà anh chủ trì, với sự tham gia của
các anh Tạ Quang Bửu, Nguyễn Xiển, Nguỵ Như Công Tum... nhóm báo Khoa học có một
mục đích rất rõ rệt là tạo ra, là chuẩn bị một tiếng Việt Nam khoa học, khả dĩ
truyền bá tất cả các kiến thức khoa học, kỹ thuật cho đồng bào ta bằng tiếng nước
nhà, không phải nhờ tiếng nước ngoài nào nữa. Tinh thần và mục đích, tôn chỉ của
nhóm có thể nói là tập trung nơi anh Hoàng Xuân Hãn, người đã tự một mình làm
ra quyển Danh từ khoa học đầu tiên của nước nhà. Vì tôi đoán hiểu ở anh một
tinh thần dân tộc nồng nàn, nên tôi đến gặp anh để thăm dò anh, có thể mời anh
tham gia hoạt động với chúng tôi trong Mặt trận Việt Minh, dưới một hình thức
này hay hình thức khác không. Gặp tôi anh rất niềm nở tiếp chuyện, với cả tình
đồng hương nữa, vì cả hai chúng tội đều là người Hà Tĩnh. Trong gian phòng rộng,
nơi anh tiếp tôi có hàng tủ sơn màu đen, có rất nhiều hộc, là những ô hồ sơ
nghiên cứu của vị giáo sư. Điều đó cũng tăng thêm cảm tình của tôi đối với anh.
Tôi gợi ý rõ ràng chuyện muốn mời anh tham gia hoạt động bí mật với chúng tôi,
ngụ ý rằng uy tín của anh khá lớn trong đám sinh viên trí thức, nếu anh tham
gia thì có thể lôi kéo thêm nhiều người, hoặc là làm một thứ hậu thuẫn cho
chúng tôi dễ hoạt động. Anh nói hết sức cảm động được anh em thanh niên tín nhiệm
anh mà tìm đến anh vì việc nước, việc dân như thế này, và anh hoàn toàn ủng hộ
những hoạt động yêu nước của anh em, trong khi vận nước có thể có những biến
chuyển. Nhưng, anh nói anh đã hơi có tuổi, xin để cho anh đứng phía sau làm vai
trò ủng hộ, còn xông ra hoạt động phía trước thì để nhường cho anh em trẻ tuổi
còn sức, đang lòng hăng hái... Nhưng anh em có thể tin cậy ở sự ủng hộ tinh thần
phía sau của anh và những người như anh.
Tôi cáo từ ra về, được anh tặng một quyển Danh từ khoa học mà
tôi còn giữ cho đến ngày nay, mà tôi vẫn quí.
Một năm làm gia sư
Như một đoạn trên đã kể, cuối năm học đệ nhất niên tú tài
(tháng 4-1937) tôi bị cắt học bổng vì đi đón Gô-đa (Justin Godart). Vì thế lên
năm thứ hai, tôi không còn được ở nội trú trong trường Quốc học, mà phải đi làm
gia sư để có thể tiếp tục học. Tôi đến ở nhà bác sĩ B. D., nhà là một biệt thự
giữa một khu vườn rộng, có trồng mấy cây dừa, có nhiều cây cao bóng mát. Đặc biệt
có một cái giếng rất sâu, nước rất trong, những đêm hè, tôi tha hồ tắm và giặt
quần áo và ngắm bóng trăng ở đáy giếng... Tôi được bố trí ở một cái phòng con
sát liền với ga-ra, vì bác sĩ B. D. có một ô tô riêng để đi khám bệnh. Cái nhà
lớn, nơi ông bà chủ và gia đình ở, thì thỉnh thoảng tôi mới lên để lấy sách vở
quí hoặc vài thứ vật dùng tôi cất trong cái rương mà tôi gởi ở phòng ăn. Học
trò của tôi là một cậu con trai học dốt, một cô con gái chăm học nhưng không
sáng dạ lắm, và một cậu con út khôi ngô và khá thông minh. Tôi phải dạy ba học
trò của tôi bằng ba thời khắc biểu khác nhau; còn ngày chủ nhật thì tôi để cả
buổi sáng để dạy toán và Pháp văn cho cả ba đứa. Vợ chồng bác sĩ cũng biết là
hai con của mình dốt, nên thường động viên tôi cố gắng dạy thêm giờ.
Nhưng có điều không ngờ là cuối năm kết quả học tập của ba học
sinh đều tốt, ngoài cả dự kiến của gia sư. Hai đứa con đầu của bác sĩ thì học
trường trung học Tây ở Hà Nội, một cậu thông minh, còn cậu cả thì cũng thường
thường bậc trung. Đến Tết về nhà hai cậu công tử ăn diện lắm, nhưng nói thật gặp
tôi cũng nể, không dám lên mặt, một phần vì biết tôi học giỏi, phần nữa là tôi
đã bắt đầu nổi tiếng trong đám trí thức học sinh Huế với những bài thơ của tôi
đăng khá đều trên báo Ngày nay. Nhưng mà tôi cũng hơi thèm những đôi giày da của
hai cậu công tứ này có đôi là đóng mới, cũng có đôi mua giày cũ chữa lại nhưng
đối với tôi vẫn là sang và quí. Lúc đó đi học tôi chỉ đi một đôi giày làm bằng
săm bánh xe hơi dán lại màu đỏ gạch, mùa đông thì ấm chân, nhưng mùa hè thì bí
hơi, cứ phải rửa chân luôn. Các cô học sinh trường Đồng Khánh gặp tôi thì mỉm
cười, có lẽ vì có cảm tình với nhà thơ trẻ, nhưng có lẽ cũng vì thấy đôi giày
ngộ nghĩnh, độc đáo của tôi. Tôi không muốn lập dị, nhưng cực chẳng đã tôi phải
đi đôi giày cao su đỏ đến hết năm thứ hai tú tài. Vừa rồi có anh bạn trước cùng
học ở Quốc học gặp tôi lại nhắc “chàng thi sĩ đi đôi giày đỏ” trên đường Khải Định...
Bên cạnh phòng tôi ở có một cây ổi, có mấy cành là là, có thể mắc võng nằm, có
thể đánh đu... Với cái thói quen có từ thuở nhỏ, tôi hay ra ngồi trên cây ổi đọc
sách, làm thơ và nhất là những đêm trăng sáng, tôi nằm trên cành ổi nhìn mấy ngọn
lửa sáng loáng của nhà tôi ở và của vườn bên cạnh. Bên đó có mấy cô nữ sinh trường
Đồng Khánh thỉnh thoảng lại cất cao tiếng hát, hát mấy bài hát trong các phim
Pháp hồi đó.
Chẳng biết có tình ý gì không, mà thường khi tôi ra nằm ở cây
ổi đọc sách hoặc làm thơ thì lại được nghe tiếng hát vườn bên kia cất lên sau
những lá dừa... Bà chủ nhà có một cô em gái khá đẹp, mà nhất là có duyên, thỉnh
thoảng đến thăm các cháu tức là học sinh của tôi và cũng nói chuyện với thầy,
nói chuyện thơ văn, cũng tỏ ý có cảm giác rằng cái cầu đã được bắc, nếu tôi đi
tới một bước thì có thể đã thành duyên thành nợ... Nhưng không hiểu tại sao, bước
ấy tôi không đi, và mối cảm tình cứ lửng lơ, không chín thành tình cảm được. Về
sau này tôi biết người con gái ấy đã có một cuộc đời tình duyên rất đau khổ gần
như tủi nhục, đến nỗi có lúc cô ta muốn tự tử. Được tin, tôi bàng hoàng và tự
nhiên cảm thấy tôi có một phần trách nhiệm trong sự đau khổ của người đẹp xấu số...
Nhưng kỷ niệm sâu sắc nơi vườn dừa cây ổi của tôi lại là bà
chị của bà chủ nhà, lúc đó đã gần 50 tuổi mà vẻ người còn duyên dáng, mượt mà.
Cái giọng nói Huế vốn đã êm ả, trữ tình, mà riêng cái giọng của bà chị này lại
càng êm thấm, càng nội tâm. Bà ta nói chuyện với tôi hoặc với bất cứ ai khác mà
cứ tưởng như bà tự nói với mình. Mắt bà rất đẹp, nhiều lúc như ngẩn vào trong,
đôi lông mày cứ nhíu nhíu lại, chắc hồi trẻ cái nhíu lông mày đã làm chết điếng
nhiều chàng trai. Dần dần tôi mới hiểu bà thất tình, và bà đến cây ổi của tôi
bà ngồi lên cành, hai tay nắm hai cành con đu đưa như đưa võng, rồi khe khẽ hát
những bài ca Huế, nhất là điệu Nam bình buồn sâu lắng...
Tôi đã gặp nhiều người điên, nhưng chưa bao giờ thấy một người
điên lại biết điều như bà, thật ra bà ngẩn đi vì tình hơn là điên, bà sống bằng
kỷ niệm mà không sống bằng hiện tại, bà thuộc vào loại người mà thiên hạ gọi là
si dại. Thỉnh thoảng bà tự nói một mình, nói mạch lạc, lời trau chuốt, làm cho
tôi nghĩ rằng những màn độc thoại trong sân khấu cổ điển của các nước là hiện
thực, là rút từ trong đời chứ không phải là một ước lệ của các thầy tuồng. Sống
với những người bình thường, có trí não lành mạnh tôi hiểu được nhiều về cuộc đời,
nhưng tiếp xúc với những người điên, người si, dường như tôi được hiểu bổ sung
về cuộc đời, về sự sống, vì đây là một thứ toán ảo giác, làm bằng những ảo số.
Một năm làm gia sư cho tôi được hiểu nhiều về tính cách của
nhiều con người, của ông bác sĩ quá thực tế, cứ muốn dạy con sống theo các nhân
vật của Marcel Pagnol, những nhân vật rất “thực dụng chủ nghĩa”, cố vụ lợi vật
chất, xem đời sống tinh thần, văn hoá là một thứ xa xỉ thậm chí là không tường...
Được biết tính tình bà chủ nhà thương con, lo sắm đủ thứ cho con, nhưng không
dám tiêu pha gì cho mình, và chắt bóp từng xu đối với bà con thân thích. Hai vợ
chồng sống rất tương đắc trong cách quản lý gia đình, trong cách đối xử với họ
hàng nhưng dường như đời sống nội tâm của họ có một khoảng trống, đó là điều
tôi đoán hiểu nhưng cũng được xác định qua câu chuyện của bà chị thất tình và của
cô em gái... Còn tâm lý của ba đứa học sinh của tôi thì chưa có gì đáng nói, mà
tôi cũng không thèm để ý. À, mà cũng đáng nhắc điều này: cái cậu con trai học dốt
cứ cười tôi là thầy quá mơ mộng quá ảo tưởng... “cuộc đời nó không đẹp như thầy
tưởng đâu? Cuộc đời nó như trong các vở kịch của Pagnol ấy!”. Ông bố đã đúc cậu
con theo cái khuôn của ông không sai một ly. Có điều nói thế thì nói, chứ trò vẫn
trọng thầy và nể thầy. Xã hội vẫn còn cho phép có những người mơ mộng, có những
người không tưởng cậu học trò quá thực dụng của tôi cũng dần dần hiểu ra điều
đó.
Sau này, trong thời gian chống Mỹ cứu nước, tôi có hỏi thăm
tin tức về gia đình ông B. D. thì được biết hai cậu con học trường Tây Hà Nội
đã làm công chức cho chế độ Mỹ nguỵ, nhưng cũng không phạm tội ác gì. Còn cậu học
trò dốt thì nghe đâu đi buôn cốt kiếm tiền, không tham gia hoạt động chính trị,
đúng với tính cách của anh hồi nhỏ.
Tập 2- J
Những ngày tháng bám cầu Hàm Rồng
Năm 1967, Mỹ liên tục đánh phá cầu Hàm Rồng chiếc cầu anh
hùng, tượng trưng cho tinh thần kháng chiến kiên cường bất khuất của nhân dân
Thanh Hoá của đất Lam Sơn khởi nghĩa, của quê hương của Bà Triệu... Tháng 9,
tôi vào Thanh, bám cầu Hàm Rồng một mặt để thay mặt Bộ Văn hoá chỉ đạo riêng,
công tác văn hoá ở tỉnh Thanh và ở thị xã, mặt khác đối với tôi là đi thực tế,
sống cuộc sống chiến đấu cùng với đồng bào và bộ đội địa phương. Cùng bám cầu
Hàm Rồng với tôi có anh Hồ Bông, nhạc sĩ, cán bộ của Vụ Nhạc Múa. Anh Hồ Bông,
người Nam bộ, quê ở Đồng Tháp là một người tôi quen đã từ lâu, cũng ham đi thực
tế những vùng khói lửa. Hai anh em vào liên hệ với tỉnh uỷ, Uỷ ban và tỉnh đội,
thì các đồng chí ở tỉnh muốn bố trí chúng tôi ở một huyện hậu phương, cũng có
chiến đấu nhưng không căng thẳng lắm. Nhưng hai chúng tôi khẩn khoản xin được
bám cầu Hàm Rồng để được sống cuộc sống chiến đấu khẩn trương hàng ngày với dân
và quân trên cầu và hai bên cầu. Sau một tuần chúng tôi ở rừng thông, nơi tỉnh
đội đóng, các đồng chí tỉnh không từ chối được nhưng dặn chúng tôi phải hết sức
cẩn thận, thỉnh thoảng ra cầu để cho biết không khí chiến tranh không nên có mặt
ở đó luôn. Tỉnh đội cũng giới thiệu chúng tôi về một gia đình của xã Hoàng
Long, cách cầu Hàm Rồng khoảng 2 cây số. Hai anh em chúng tôi dọn ngay đến ở
nhà ông Năng, một gia đình nông dân, có nhà ngói, có sân gạch, đủ ăn. Bà cụ mẹ
ông Năng đã già yếu, nhưng thấy cán bộ đến ở thì rất quí và chăm nom bếp nước
giúp vợ chồng ông Năng để “nuôi” chúng tôi. Ông Năng người chất phác trạc tuổi
45, ít nói nhưng rất ý tứ, thấy chúng tôi cần giúp đỡ cái gì là tìm cách giúp
ngay. Sau hôm chúng tôi đến chúng tôi thấy ông cứ nhìn mãi chúng tôi mà không
nói, lại đi quanh nhìn vào đầu chúng tôi... Chúng tôi tự hỏi hay là ông này
nghi ngờ mình không phải là cán bộ chăng... Sau cùng tôi hỏi thẳng: “Bác có điều
gì băn khoăn phải không? Hay có điều gì muốn hỏi chúng tôi? Hôm chúng tôi đến
đã đưa bác xem đủ các giấy tờ... thì ông Năng có vẻ bối rối trả lời: “Không có
gì đâu, chỉ có điều là tóc hai đồng chí hơi dài quá tôi muốn xin phép được cắt
tóc cho hai đồng chí”. Thì ra ông cụ thân sinh ông Năng đã có nhận xét là cán bộ
đi kháng chiến thường để tóc quá lứa, cho nên ông cụ bảo ông Năng đi tìm mua một
bộ đồ cúp tóc để khi nào cán bộ đến ở nhà hoặc đi qua thì cúp hộ tóc cho cán bộ.
Thế là những tháng chúng tôi ở đó, cứ hai tuần chúng tôi được cúp tóc một lần rất
tử tế. Bữa cơm nhà ông Năng không nhiều thịt cá, nhưng theo yêu cầu của chúng
tôi thì có cà muối dầm mắm rất ngon. Tuy vậy bà cụ không yên tâm, thỉnh thoảng
cụ mua được một ít thịt lợn kho dừa cho chúng tôi ăn, vì vườn nhà có mấy cây dừa,
và thỉnh thoảng chúng tôi vẫn được uống nước dừa rất ngọt và rất mát.
Hàng ngày, sau buổi ăn sáng, anh Hồ Bông và tôi lại ra cầu
Hàm Rồng xem anh em thợ chữa cầu làm việc vì địch đánh liên tục, cầu không sập,
nhưng luôn luôn có những thanh thép trên thân cầu bị đạn bắn xuyên thủng hoặc mảnh
bom rơi từ xa hàm vạt đi từng khúc... Lại còn một số thợ cầu làm hai bên đầu cầu
để củng cố đường cho xe tải và xe con chạy... Mỗi ngày máy bay địch đến đánh
phá mấy đợt, súng phòng không của ta bắn lên đan lửa trên trời, nên thường địch
ném bom trệch mục tiêu, phần lớn bom rơi vào thôn Yên Vực một thôn nhỏ phía bắc
cầu Hàm Rồng, ở bên trái con đường từ trong đi ra. Thôn Yên Vực được bà con gọi
là “Xtalingrat của Thanh Hoá”. Rất nhiều lần, máy bay ập đến, anh Bông và tôi
đang ở giữa cầu, nhưng cũng chạy kịp vào hang ở đầu cầu bên này. Lần nào cũng
hú vía. Mà máy bay Mỹ nó đổi giờ đánh luôn, để bắt chộp ta, không cho ta nắm
quy luật tấn công của nó. Anh Bông thường nói đùa với tôi giữa đám anh em công
nhân: “Ông Cận ơi, ông có chết thì chết ở đầu cầu tôi còn tha ông về hang được.
Chứ nếu ông chết ở giữa cầu thì ông nặng quá, tôi không kéo nổi về hang đâu!”.
Chúng tôi còn đòi tỉnh đội cho chúng tôi vào sống vài tuần ở thôn Yên Vực để
cho biết cái không khí chiến đấu của quân và dân tại chỗ nhưng tỉnh đội không đồng
ý. Chúng tôi bèn đi “chui” vào thôn Yên Vực vào những buồi chiều, sau khi mặt
trời lặn, nghĩa là vào cái giờ mà máy bay địch có thể không hoạt động nữa. Thế
mà có buổi chiều tôi và anh Bông vừa bì bõm lội vào thôn, và như mọi lần, thôn
Yên Vực lại hứng mấy quả bom trệch mục tiêu cầu Hàm Rồng. May mà chúng tôi tụt
kịp xuống hầm... Cứ như thế hai anh em chúng tôi trở đi trở lại nhiều lần cái
thôn Yên Vực thân yêu của chúng tôi... Đồng chí Bàn bí thư chi bộ Yên Vực lúc
đó thấy chúng tôi gắn bó với thôn cũng ái ngại, khuyên chúng tôi không nên về
thôn luôn, để tránh nguy hiểm. Có một lúc địch đánh căng thẳng quá đảng uỷ xã
và chi bộ thôn chủ trương cho dân sơ tán đi một xã xa, chỉ để lại một trung đội
dân quân tự vệ 40 người, phần lớn là nam, cũng có mấy chị em tham gia.
Nhiều người tình nguyện ở lại làm đội trực chiến, nên hợp tác
xã phải bầu những người được ở lại. Bà con được lệnh sơ tán dọn đồ đạc đi, cố gắng
dọn được hết càng tốt... Tuy vậy, trong lúc sơ tán vội vàng, có nhà phải để lại
con lợn đang nuôi, để lại con gà mái đang ấp trứng, thậm chí có nhà còn để lại
cả con chó không kịp dắt đi... Rồi thì có gia đình không kịp mang thúng ngô
đang ướt vì gặp mưa chưa phơi... Sau một tuần mấy bà con kia trở lại để dọn nốt
tài sản thì thấy lợn vẫn béo và máng cám vẫn đầy, bầy gà con nở ra vẫn được
khoanh trong một cái bu to và được cho ăn tử tế, và cả con chó cũng được nhốt
trong buồng với những bát cơm nguội... còn thúng ngô thì đã được phơi khô, gác
từ tế lên giàn bếp... Và bà con ngạc nhiên hết sức là con đường đi vào thôn đã
được trồng thêm hai dãy dừa non, vì anh em trực chiến đã khám phá ra những quả
dừa giống của hợp tác xã đã lên mầm khá cao và vội đi trồng cho “đúng tuổi” dừa.
Tình đồng đội, tình đồng chí, rất thực mà nghe như truyện truyền thuyết ấy làm
cho anh Bông và tôi hết sức xúc động và nghe chị Tâm kể lại cứ ứa nước mắt. Một
đêm trăng, anh Bông và tôi ngồi trên bờ đê của thôn, nhìn xuống dòng sông Mã
nghe chị Tâm kể chuyện và tâm sự. Chị là một trong những người trực chiến, người
thâm thấp, béo chắc khỏe mạnh, về sản xuất chị là một tay lao động nhiều điểm
nhất, về chiến đấu là một tay súng cừ khôi, mà về văn nghệ cũng là một “cây”
hát... Người yêu của chị đang ở chiến trường miền Nam, có chuyến xe nào đi ra
chị cung đón hỏi tin tức miền Nam, và cứ hy vọng là người yêu gặp xe ra Bắc thì
gửi thư về cho chị. Chị chờ đợi, chờ người, chờ thư. Trong lúc chờ thì chị chiến
đấu chị sản xuất, chị làm văn nghệ trong đội trực chiến. Chị ham đọc sách, và gặp
chúng tôi không xin gì chỉ xin sách, xin báo. Thế rồi, cũng có một lần chị Tâm
nhận được thư của người yêu gởi một xe tải từ đường Trường Sơn đem về... Chị đọc
đi đọc lại đến mòn cả bức thư, sau chị phải xin một miếng giấy ni lông để bọc bức
thư và cho vào túi trong phía ngực. Đội trực chiến của chị 41 người, ban đêm
thường tập trung ngủ ở chùa của thôn, tất nhiên là phân tán vào nhiều hầm đào
trong vườn chùa. Rồi một buổi tối bom địch đã trúng vào hầm và ba đồng chí hy
sinh. Được tin, bà con sơ tán lại xung phong về thay ba người đã mất, lại phải
một cuộc lựa chọn của chi uỷ và hợp tác xã, vì nhiều người xung phong quá. Ở
Yên Vực tôi còn nhớ câu chuyện: một chiều máy bay địch từ xa bay tới, đội dân
quân bắn súng máy bay đã bố trí trận địa sẵn sàng, súng bắn máy bay có đến mấy
khẩu, nhưng hôm ấy lại vắng mất một đội viên. Thế là có một đồng chí bộ đội đi
nghỉ phép, về qua đường, thấy đội trực chiến đang loay hoay thì xung phong vào
bổ sung khẩu đội. Và cuộc chiến đấu diễn ra rất đẹp, tuy không bắn rơi được máy
bay nhưng kế hoạch tác chiến hoàn thành đẹp đẽ. Bắn xong, đồng chí bộ đội lại
lên xe đạp về quê đội trực chiến cũng quên hỏi tên anh, và trong sổ truyền thống
của thôn chỉ ghi: “Anh bộ đội nghỉ phép qua đường bổ sung khẩu đội”. Những ngày
tháng tôi và anh Bông bám cầu Hàm Rồng, còn thường ra thăm đội nữ công binh
nhân dân xây dựng cầu Tào. Đó là một đội toàn là chị em tình nguyện đi xây cầu,
chữa cầu để bảo đảm giao thông, đội cầu Tào, xây cầu toàn bằng gỗ mà rất chắc
chắn, xe lửa có thể đi qua được.
Bám cầu Hàm Rồng, anh Bông và tôi chết hụt nhiều lần. Chỉ xin
kể ra đây một trường hợp. Chiều hôm đó nắng trong, mây tạnh, anh Bông và tôi đã
hẹn họp với chi đoàn thanh niên trong thôn Nam Ngạn. Tụ tập rồi sắp họp thì đồng
chí bí thư thị uỷ là đồng chí Thi cho người đến gọi tôi về ngay thị uỷ để cùng
các đồng chí đón đoàn Liên Xô đến thăm. Anh Bông và tôi vừa đạp xe đạp về đến
trụ sở thị uỷ thì máy bay đến và nghe tiếng bom nổ ở đàng sau. Nửa giờ sau, thị
uỷ cho người về Nam Ngạn lấy tin thì biết bom trúng vào cái nhà mà đoàn thanh
niên và chúng tôi suýt họp ở đó. Thanh niên đã giải tán, không ai việc gì:
nhưng gia đình có 9 người thì chết mất 6, trong đó có 2 em bé. Cũng hôm đó, hoặc
là sau vài hôm, tôi không nhớ rõ, bom Mỹ đã đánh sập mấy hầm liền, hơn 30 đồng
chí dân quân tự vệ và cán bộ xã và thôn đã bị hy sinh. Phải đào suốt hai ngày
đêm mới tìm đủ xác các đồng chí. Đồng chí bí thư đã có một sáng kiến rất xúc động
là tổ chức một cuộc giao ban giữa những người đã hy sinh và những người còn lại.
Trước thi hài những người đã mất, đồng chí bí thư đã phân công những ai phải
làm việc thay cho những đồng chí đã hy sinh, sau cuộc giao ban tình nghĩa và đầy
sĩ khí ấy mới tổ chức đưa đám những anh em đã mất. Tôi đã ghi cảm tường về sự
kiện lịch sử ấy của thôn Nam Ngạn trong một bài thơ: Giao ban.
Đào suốt hai ngày đêm
Mới đủ xác anh em
Dẫu chết rồi cũng phải cho đủ mặt
Đồng chí bí thư giao ban trong nước mắt,
Phân công thay những người đã mất
Ai làm thêm phần việc của ai
Nuốt nước mắt, cuộc chiến đấu ngày mai
Còn tiếp tục.
Ở đâu cái chết ghê rợn
Ở đâu người chết vụt biến hư vô
Ở đây cái chết có cuộc đời ở cạnh
Một cuộc giao ban bi thiết biết chừng mô.
Anh Hồ Bông đã phổ nhạc ngay bài thơ này với một giai điệu trầm
hùng, có hát thử lên cho anh em nghe thì thấy xúc động, nói được nỗi đau thương
nén lại và tình đồng chí keo sơn giữa kẻ mất, người còn. Nhưng cả bài nhạc và
bài thơ lúc ấy chúng tôi không cho đăng báo, sợ gợi lên nhiều đau xót quá, sợ
nhắc đến những mất mát đau thương quá...
Trong chuyến bám cầu Hàm Rồng, khu Nam Ngạn gần 8 tháng ấy
anh Hồ Bông cũng đã làm được mấy ca khúc cảm động: Đội gái thuyền nan, Những nữ
dân quân tỉnh Thanh, Trực chiến (bài sau này là phổ nhạc bài thơ cùng tên của
tôi). Riêng tôi đợt ấy làm được hơn 30 bài thơ mà một số đã đăng báo in sách
như: Cầu Hàm Rồng, Giờ trưa, Gió mưa sấm sét, Sông Mã sông Chu, Tháo bom bi,
Chào Đông Sơn, Thăm Lò Chum, Bàn tay nữ pháo thủ... Ngoài những bài thơ ngắn,
tôi cũng có viết một bản trường ca. Làng thép bên núi Ngọc, ca ngợi sự tích anh
hùng của dân, quân thôn Yên Vực. Trường ca này tôi viết bằng thơ ngũ ngôn, còn
một chương chưa viết xong, tôi sẽ cố gắng hoàn thành bản Trường ca này để tặng
cái thôn Xtalingrát của Thanh Hoá, nơi mà anh Hồ Bông và tôi đã sống những ngày
hào hứng và hào hùng với bà con, trong tình đồng chí mặn nồng, thắm thiết.
Trở lại cuộc sống và chiến đấu của thôn Yên Vực. Đến mùa cấy
lúa, đội trực chiến không thể làm kịp vụ cho nên huyện uỷ đã động viên xã viên
các hợp tác xã bên cạnh, hoặc ở xung quanh đến cấy giúp cho thôn anh hùng. Mọi
việc nước nôi, phân bón bà con cũng trợ lực cho Yên Vực. Cảm động biết mấy khi
thấy những bà, những chị gánh từng gánh phân chuồng đến thôn Yên Vực và rải xuống
ruộng sắp cấy. Các bà vừa gánh vừa nói đùa: “Chăm bón cho mảnh đất anh hùng chả
mất đi đâu mà sợ!”. Thậm chí, thôn thiếu mạ, bà con xung quanh quẩy mạ tới để cấy
kịp thời vụ. Rút cục, thôn Yên Vực lại được cấy xong trước trong vùng...
Những ngày chiến đấu căng thẳng hồi đầu năm 1965, lúc Mỹ bắt
đầu ném bom khu Nam Ngạn Hàm Rồng, chúng tôi cũng đã đến đó và tiếp xúc với anh
chị em dân quân, với các tổ tự vệ thôn xã. Lúc bấy giờ nổi lên hai cô gái chiến
đấu dũng cảm là chị Tuyển (sau được tuyên dương anh hùng) và chị Nguyễn Thị Hằng
(sau được tuyên dương chiến sĩ thi đua toàn quốc, được bầu vào Quốc hội và vào
Ban chấp hành TW của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh). Nhưng có một người
nữa cũng rất anh hùng mà báo chí ít nói đến là chị Nguyễn Thị Hiền, người đã
vác những hòm đạn nặng chạy qua cầu kịp tiếp đạn cho các đơn vị pháo bắn mảy
bay. Thành tích của chị cũng xấp xỉ như thành tích của chị Tuyển, chị Hằng,
nhưng địa phương cũng không thể lựa chọn hết để đem vào danh sách anh hùng, chiến
sĩ... Nhưng tỉnh và huyện vẫn rất quí chị Hiền, và đã tạo điều kiện cho chị học
bổ túc công nông, và giao công tác trong Uỷ ban huyện... Chị Hiền mồ côi cha mẹ,
phải một mình nuôi hai em nhỏ ăn học. Lúc đã hơi yên tiếng súng, chị mở một cái
quán bán nước chè, chè xôi để kiếm đồng ra, đồng vào nuôi em. Tôi ái ngại trước
hoàn cảnh neo túng của chị, và đã đưa giúp chị 50 đồng, chị ngần ngại không muốn
nhận tôi đành phải nói là cho chị vay, khi nào có thì chị giả lại cũng được. Chị
Hiền sau này đã lập gia đình với một đồng chí giáo viên cấp 2 ở huyện, đã có 2
con... Sau ngày giải phóng Sài Gòn, một hôm tôi nghe người gọi cổng, một chị
gánh mấy quả dừa bước vào hỏi thăm tôi. Tôi hỏi chị là ai? Thì chị kia giọng
rơm rớm nước mắt: “Anh Cận không nhận ra em à? Em là Hiền ở cầu Hàm Rồng đây
mà, chắc là em đã già quá nên anh không nhận ra?”. Quả thật chị vất vả lam lũ
nuôi em, nuôi con nên nét mặt cũng đứng trước tuổi... Thiệt thòi chung cho người
phụ nữ là vậy. Chị biếu tôi lấy quả dứa gọi là có nhớ những ngày tôi giúp đỡ...
Tôi hỏi chuyện con cái, về công việc làm ăn, về công tác của anh chị. Cũng như
mọi cuộc đời đời của chị Hiền là một sự can đảm hàng ngày, một sự chịu thương,
chịu khó liên tục, âm thầm giữa hoàn cảnh chung của đất nước đang nhiều bề khó
khăn. Biết bao nhiêu chị em của chúng ta như thế, rất anh hùng, rất dũng cảm,
làm người mẹ tận tuỵ nuôi con, làm người chị cưu mang các em từ tấm bé. Chị Hiền
không được tuyên dương anh hùng, tôi xin dành riêng một trang hồi ký này tặng
chị, tỏ lòng cảm mến của tôi đối với người con gái đất Thanh anh hùng mà từ tốn.
Anh Hồ Bông và tôi bám cầu Hàm Rồng, nhưng thỉnh thoảng cũng
đi về các huyện như huyện Hậu Lộc, huyện Yên Định, huyện Tĩnh Gia, huyện Thạch
Thành để tìm hiểu sâu phong trào dân quân chống Mỹ. Tại một xã bên bờ sông Chu,
lúc bấy giờ trung đội nữ bần máy bay của chị Nguyễn Thị Hằng hàng ngày kéo nhau
ra tập gần một bãi sông. Mấy chị đi tập khá sớm và đi qua nhà tôi ở, trẻ con thấy
chị Hằng xinh hay chạy theo trêu chị, chị đuổi ngay. Tôi gọi chúng vào và bày
cho các cháu mấy câu ca dao:
Chị Hằng chẳng ở cung trăng
Ở khu Nam Ngạn bắn thằng Mỹ chơi
Mỹ buồn, Mỹ rụng, Mỹ rơi
Bên bờ Nam Ngạn cười tươi cô Hằng.
Thế là hôm sau các cháu cũng bám theo cô Hằng mà hát lên mấy
câu lục bát này, thì chị Hằng chưa đuổi ngay. Nhưng lúc các cháu hát xong thì
chị lại đuổi “tụi bay cút đi để cho người ta tập!”. Cái xen này cứ lập đi lập lại
mãi mỗi buổi sáng giữa lũ trẻ tinh nghịch với cô đội trưởng xinh đẹp.
Đêm đêm trên cầu Hàm Rồng sáng loáng những ngọn lửa xanh của
các anh em thợ hàn sì hàn những vết thương cho chiếc cầu. Anh Hồ Bông và tôi đứng
cách cầu chừng 500 mét nhìn về phía cầu thấy mà nức lòng, như thấy một mảng trời
sao nhấp nháy xuống đậu trên cầu, như một mảng trời đất thức giữa đêm khuya
đánh đi bốn phương tín hiệu của lòng dũng cảm. Mà thật thế, đêm đêm trèo lên những
thanh cầu, giàn cầu đâu có phải là chuyện thường, là trò chơi thể thao! Mỗi một
lần là một thử thách, mỗi ngọn lửa xanh là một mục tiêu sáng rõ cho máy bay đêm
của Mỹ bay chớp nhoáng từ biển vào.
Đánh Mỹ là chuyện sự sống cái chết đặt lại hàng
giờ hàng phút
Phải sống anh hùng, không có cách nào hơn
Đánh Mỹ là mỗi đêm bước lên cầu Hàm Rồng
không nhụt không run
Tay cầm ngọn lửa xanh êm rịt hàn xương thép
(Niềm tự hào viết ở Hàm Rồng tháng 9-1967)
Anh Hồ Bông và tôi được Ban chỉ huy trận địa pháo bảo vệ cầu
Hàm Rồng dẫn đến xem chỉ huy sở cách nhà ông Năng nơi chúng tôi ở có mấy trăm
thước. Ra đa bắt mục tiêu rất nhạy, mục tiêu là những máy bay Mỹ từ hạm đội bảy
ở Thái Bình Dương bay vào. Trên màn ra đa, những hình máy bay lao tới sở rất đầy
đủ. Những bạn lính trẻ, hoặc là sinh viên đại học tòng quân, hoặc là học sinh tốt
nghiệp lớp 10 mới nhập ngũ, điều khiển các máy móc rất thạo. Nhìn chỉ huy sở mường
tượng như một nhà máy con. Tôi nhớ đồng chí Tiến thượng tá phó chỉ huy đứng
trên nắp hầm chỉ huy trận đánh rất nhạy, rất lẹ, tư thế gắn liền với kỹ thuật
khí tài mà vẫn rất hiên ngang. Chiều hôm đó hai máy bay bốc cháy lao nhanh về
phía biển. Cả đội pháo chỉ tiếc có một điều là không bắt được giặc lái tại chỗ,
không nhặt được mảnh máy bay tan xác. Anh Tiến người nhỏ nhắn, quê ở ngoài Bắc,
dáng nho nhã mà lúc chỉ huy sao mà oai hùng thế, anh chỉ huy giỏi nên được điều
động vào chiến trường miền Nam để diệt máy bay địch trong đó. Sau ít lâu chúng
tôi được tin anh đã hy sinh trong chiến trường B, bà con xã Hoàng Long ai cũng
thương tiếc, khóc anh như khóc nhớ người thân.
Anh Hồ Bông và tôi còn đi vào thôn Đông Sơn sơ tán phía sau,
các gia đình ở trong hang đá lởm chởm. Thôn Đông Sơn lúc đó cũng là một thôn
chiến đấu rất anh dũng trong tập thể anh hùng là khu vực Nam Ngạn - Hàm Rồng.
Chào bà mẹ tạm vào hang với cháu
Để con trai đi đánh giặc chiến trường xa
Để con gái con dâu ra đồng làm lúa gạo
Hột gửi miền Nam, hột để nuôi nhà
Đông Sơn thôn anh hùng đánh Mỹ
Nơi sơ sinh nền văn hoá quê nhà
Trống đổng vọng từ ba mươi thế kỷ
Lấp lánh trong luồng mắt chớp ra đa.
Bám cầu Hàm Rồng, một buổi chiều chúng tôi về rừng Thông để
tiễn một số đồng chí tân binh lên đường đi B. Thanh Hoá là hợp điểm của các
đoàn tân binh từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng vào, từ các huyện Thanh Hoá dồn về
nữa. Một cuộc tiễn đưa lên đường náo nức, xúc động ở dưới những cây thông lực
lưỡng mà thanh tao, đoàn tân binh đi nhẹ bước chân không rầm rập như trong các
phim ảnh ta thường xem thấy, người thì đi chân trần giầy đeo vào ba lô người
thì đi dép cao su đúc. Ngoài các đồng chí lãnh đạo tỉnh, các đồng chí tỉnh đội,
còn rất nhiều bà con ở gần rừng Thông ra tiễn đoàn quân đi chiến trường xa. Tôi
vừa nhìn, vẫy chào anh em tân binh, vừa nghe câu chuyện bà con trao đổi với
nhau. Ai cũng khen tân binh khỏe và trẻ, nhất là trẻ, có cậu khoảng 16 17 tuổi
thôi. Bỗng có một bà nông dân trạc 50 tuổi thốt lên: “Các con ơi, chừng ấy đủ
đánh giặc Mỹ chưa? Nếu chưa đủ thì các mẹ ráng đẻ thêm một lứa nữa cho đủ con
đi bổ sung chiến trường.... Trời ơi! Tôi nghe mà giật mình. Lời bà mẹ nói vui,
nói đùa mà sao sâu thấu tâm can. Không, bà không nói đùa đâu! Lời gan ruột của
bà mẹ Việt Nam đó chứ, đâu có đùa vui. Sinh con, nuôi con cho khôn lớn để con
theo cha lên đường đánh Mỹ. Lời của bà mẹ đứng bên tôi hay là lời của mẹ Tổ quốc
thương yêu? Các mẹ bình dị mà gặp ý Bác Hồ, lo nghĩ sâu như Bác: “Độc lập Tự do
ta phải làm bằng xương máu của ta. Đời ta đánh giặc chưa xong, thì đời con, đời
cháu sẽ tiếp tục cho kỳ giành được tự do, độc lập.... Tối hôm ấy tôi về cầu Hàm
Rồng có làm bài thơ Lời Mẹ Tổ quốc để ghi nỗi xúc động của tôi cái buổi chiều
tiễn anh em tân binh vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ...
Đội bát âm nhà ông Tam
Hồi tôi còn nhỏ, một thích thú của tôi là được nghe đàn, sáo
của đội bát âm ở nhà ông Tam. Ông Tam là ông chú của tôi trong họ Cù. Ông là
nông dân, cày sâu cuốc bẫm, không được đi học, chữ Hán không biết, chữ quốc ngữ
chỉ mon men đánh được vần cái tên của mình. Ông chăm chi làm ăn, nên sống cũng
khá sung túc, no đủ với cái mức sống của nông dân Nghệ Tĩnh thời đó. Điều mà
tôi đặc biệt nhớ về Ông Tam là ông rất mê đàn, sáo. Ông đi chơi ở các làng phía
chợ Thượng, phía Đức Thọ, ông gặp những người thổi sáo hay, đánh đàn hay, ông rất
mê, và ông đã mời một số các nghệ sĩ dân gian ấy về nhà ông những ngày rảnh rỗi
sau vụ gặt lúa chiêm, lúa mùa, đàn hát ở nhà ông. Và ông cũng tập thổi sáo và
kéo đàn nhị, tiếng sáo và tiếng nhị của ông cũng mượt mà, có tình; có nội tâm.
Mặt ông Tam hơi rỗ, nhưng mắt ông rất lanh lợi và miệng ông nói chuyện rất tươi
và có duyên. Đến lúc ông chúm môi thổi sáo, hay nghiêng đầu kéo nhị thì mặt ông
sáng hẳn lên, và như thần nhạc đã nhập vào vẻ mặt của ông làm cho nó trở nên hấp
dẫn khác ngày thường. Các nghệ sĩ dân gian và ông Tam hợp lại thành một đội bát
âm nổi tiếng khắp làng trên, xóm dưới. Cứ đội bát âm nổi tiếng đàn, tiếng sáo
lên là một số bà con trong xóm kéo đến nhà ông Tam để nghe, và mỗi lần như vậy
thì bà Tam lại nấu một nồi nước chè xanh và có khi còn luộc cả một nồi khoai
lang để tiếp khách không khí rất là đầm ấm, rất là “nghệ thuật dân gian”.
Những bà con không đến nhà ông Tam, thì ở nhà cũng lắng tai
nghe tiếng đàn, sáo bay khắp xóm. Đời sống của bà con nông dân trong xóm làng hồi
ấy có bao nhiêu khổ cực, tủi nhục nữa, nhưng những giờ phút nghệ thuật như sinh
hoạt bát âm ở nhà ông Tam cũng đem lại cho họ những giờ phút thư thái, đôi chút
ngọt ngào hoạ may an ủi họ một phần nào trong cuộc đời lam lũ, cực nhọc. Cũng
nhờ đó bà con theo tư tưởng mê tín nói rằng “cứ vui lắm, rồi buồn lắm cho mà
xem” nhất là khi họ nghe tiếng đàn bầu não nùng, gần như ai oán. Chả biết có
đúng thế không, mà sau đó một thời gian nhà ông Tam chịu liền mấy cái tang, và
ông cũng làm ăn sa sút dần. Rồi đội bát âm của ông cũng chia tan, mỗi người về
một ngả. Dù sao tiếng đàn hát ấy đã làm sáng tâm hồn thơ bé của tôi lúc 6, 7 tuổi,
khi tôi bắt đầu học a, b, c với bác Thự.
Tính tinh nghịch tuổi nhỏ
Hồi tôi 5-6 tuổi, còn ở nhà, ngoài việc cưỡi trâu cho trâu
phóng nhanh như ngựa phi, và việc đi thả diều và đi chọi chim với chú tôi, tôi
thường có những trò tinh nghịch khác của một đứa bé nông thôn thời đó. Đánh
khăng, bắn bóc (bóc là một ống trúc có một thanh tre làm cần thụt để bắn những
hạt cây chua me nén chặt ở trong, bóc bắn như vậy khá xa vì có hơi nén và khá
đau nếu hạt chua me trúng vào người) là những trò chơi thú vị của các trẻ chăn
trâu trong đó có tôi. Nhưng cũng có những sự tinh nghịch không lành mạnh, mang
tính quái ác của cái tuổi “chưa biết thương”, của cái tuổi mà tâm hồn đang còn
ngẩn ngơ một cách nghịch ngợm. Tôi nhớ lúc 5-6 tuổi, mỗi lúc đi bến ở Bãi Giang
về, tôi thường đi qua nhà ông Chắt Nguyện, ở sát nhà tôi. Ông Chắt Nguyện chăm
làm vườn, và trước nhà ông trồng một dãy cây mít non, và trong khoảnh vườn phía
trước ông đúc rất nhiều hạt chè (tức là ươm chè). Có lần đi tắm về, tôi dừng lại
trước hàng mít non, và lấy tay kéo hai cây lên, như vậy là cây đứt rễ non,
nhưng không ai biết là cây đã bị nhổ rễ. Thế rồi mấy hôm sau hai cây mít con cứ
héo dần dần... Ông Chắt Nguyện rất bực mình, nhưng không hiểu nguyên do của sự
chết héo của hai cây mít. Ông cặm cụi lấy hoang (một thứ xẻng dài và hẹp) đào
sâu dưới rễ hai cây mít để xem có phải có con sâu nào đục ăn rễ đi không. Nhưng
ông không thấy gì và cứ bực mình, ngẫm nghĩ. Rồi ông sang kể hiện tượng cây mít
chết héo với bố tôi... Tôi nghe câu chuyện giữa ông và bố tôi, tự nhiên thấy hối
hận. Sau đó tôi đã thú thật với ông là chính tôi đã nghịch làm hai cây mít tươi
tốt của ông chết oan. Ông nghe tôi thú tội, giận dữ một lúc, mắng tôi sao lại
“quái ác” thế, nhưng ông cũng không đánh tôi và cũng không mách với bố tôi. Sau
một lúc, ông Chắt Nguyện lại có vẻ hứng thú, vì đã tìm ra được nguyên nhân sự
chết héo của đôi cây mít và ông nói: “Từ rày tao sẽ rào những cây mít vào trong
những cái rọ tre, thì bay hết phá!”. Từ đó hàng mít của ông lên tươi tốt, và
sau này tôi còn được ăn mít của nhà ông mỗi lúc nghỉ hè về nhà. Bây giờ, mỗi
khi tôi về quê, ông Chắt Dự, con ông Chắt Nguyện, vẫn nhắc câu chuyện nhổ cây
mít non của tôi...
Một nỗi thương tâm lớn của anh Xuân Diệu
Số phận đau khổ của người em giai: Như đã kể trong chương tuổi
nhỏ của Xuân Diệu, Tịnh Hà (tức là Ngô Xuân Sanh) là em ruột cùng cha cùng mẹ của
anh Xuân Diệu. Tịnh Hà phải bỏ học sớm, vì gia đình lúc đó (tức là ông cụ thân
sinh và bà vợ lớn của ông) cũng không chăm lo đầy đủ việc ăn học của anh. Thế rồi,
sau một buổi bị phạt ở trường Qui Nhơn, bị bố đánh túi bụi tại lớp, anh bỏ học
luôn và đi hoang. Những năm tháng đầu anh còn sống cầu bơ cầu bất, có lúc gần
như đi ăn xin dọc đường. Cái truyện ngắn Thằng ăn mày của Xuân Diệu (trong tập
Phấn thông vàng) chính là mô tả đứa em bất hạnh của anh. Tịnh Hà đã sống một cuộc
đời lang thang “đi hoang” như anh thường nói, một cuộc đời hoang dại trong nếp
sống và trong tâm hồn. Có lúc anh làm thuê trong một hiệu giặt, có lúc anh đi
bán báo ngoài đường phố có lúc anh đi ở gánh nước cho một quán ăn... Nhưng dọc
cuộc đời đi hoang ấy anh vẫn mơ mộng, vẫn nghiền ngẫm về đời người, và từ năm
1942 trong khoảng vài ba năm, anh đã viết được một tập hồi ký rất có giá trị mà
anh đặt tên là Gió cuốn bụi đời, mà anh Diệu về sau đặt lại cho cái tên Đi
hoang.
Mười mấy quyển vở hồi ký này, viết bằng bút chì anh Diệu và
tôi đã xem kỹ, và đã cho đánh thành mấy bản, hiện nay tôi còn giữ cả bản thảo và
bản đánh máy ấy, cùng trong một tủ với các di cảo của anh Xuân Diệu. Văn của Tịnh
Hà trong tập hồi ký này rất sống, rất hoạt, chứa đựng nhiều chất xúc động trực
tiếp toát lên từ cuộc sống, từ những mảng đời mà anh đã sống với cả máu thịt của
anh, với cả tâm hồn đau khổ và sâu sắc của anh, giọng văn ở đây như không phải
là văn, mà lại như bình thản tự nhiên, lời tâm sự trần trụi của một kiếp người.
Anh Diệu và tôi đánh giá cao tập hồi ký của Tịnh Hà, và đang muốn giúp Tịnh Hà
sửa sang lại chút ít để cho xuất bản thì anh Diệu đã mất. Bây giờ tôi có nhiệm
vụ thay cả anh Diệu giúp đỡ Tịnh Hà hoàn tất tập hồi ký mang đầy tính nhân đạo
chủ nghĩa này và tìm nhà xuất bản để xuất bản một quyển sách rất “cuộc đời”, có
giá trị nhân văn như thế. Trong cuộc đời đi hoang của anh Tịnh Hà đã tiếp xúc với
đủ hạng người, kẻ cao sang có, người bần cùng trong xã hội có, thậm chí anh đã
chung đụng, có khi đụng độ với cả những dân trộm cắp với những người “dưới đáy
xã hội”. Vậy mà anh vẫn giữ được trong một góc tâm hồn cái trong trắng cái ngây
thơ, cái mơ mộng cố hữu của anh. Tôi không sợ nói quá lời, nói đại ngôn, khi
tôi cho rằng có những đoạn hồi ký của Tịnh Hà làm cho ta nghĩ đến những tập hồi
ký về tuổi nhỏ của Mácxim Goócki. Anh đã sống như vậy ở Bình Định, Qui Nhơn, ở
Nha Trang, ở Sài Gòn, và cả ở mấy tỉnh Tây Nguyên nữa. Sau cùng thì anh cũng có
được một cuộc đời gọi là yên ổn nghĩa là có vợ và có con tại Nha Trang. Trong
thời kỳ Mỹ chiếm đóng ở miền Nam, anh sống rất cơ cực ở Sài Gòn dưới chế độ Mỹ
nguỵ, với bà vợ thứ hai của anh là chị Lệ, người Nghệ An lưu lạc vào trong đó.
Hai vợ chồng và mấy đứa con (của bà vợ đầu) sống trong một
gian nhà ổ chuột hôi hám, tối mò ở gần bờ sông Sài Gòn, bên cạnh cầu Bông. Ban
ngày anh đi bán báo, hoặc vừa bán báo vừa bán kem, cũng có lúc đạp xích lô
thuê... Bà vợ thì buôn thúng bán mẹt cả hai vợ chồng sống “trên biên giới của sự
đói rách và của sự chết mòn”. Nhưng chính trong hoàn cảnh cơ cực và tủi nhục ấy
mà hai vợ chồng đã nuôi giấu một số cán bộ cách mạng nằm vùng, tức là chị Vân đảng
viên đảng cộng sản hoạt động bí mật trong nội thành.
Cái cảnh đời và cảnh nhà ổ chuột của vợ chồng Tịnh Hà cũng đã
giấu cán bộ, bọn mật thám của Mỹ nguỵ cũng không nghĩ tới lùng sục cái ổ chuột
làm gì. Đến ngày giải phóng Sài Gòn, chị Vân ra hoạt động công khai và nghiễm
nhiên trở thành một cán bộ rất có uy tín và có trọng trách trong quận và trong
phường. Chị Vân rất biết ơn vợ chồng Tịnh Hà đã nuôi giấu mình và đã giới thiệu
vợ chồng với phường, và giúp cho chị Lệ nhận một công việc thích hợp trong phường
chị ở...
Còn anh Tịnh Hà thì anh Diệu và tôi đã giới thiệu cho bộ phận
thường trực của báo Văn nghệ tại thành phố Hồ Chí Minh, báo đã giao cho anh việc
chữa bài và làm liên lạc với các cơ quan văn hoá và báo chí.
Cuộc đời vậy là tạm ổn. Nhưng cái phòng ổ chuột thì tính sao
đây? Lúc mới giải phóng Sài Gòn tôi vào công tác trong đó, tìm theo địa chỉ đến
thăm ngay Tịnh Hà. Lần đầu tiên tôi nhìn cảnh ăn ở của gia đình anh, không cầm
được nước mắt. Tịnh Hà cũng khóc. Lúc bấy giờ anh Diệu chưa vào, giao cho tôi
tìm cách giúp đỡ Tịnh Hà có công ăn việc làm. Đồng chí lái xe đi với tôi, có
theo tôi vào chỗ ở của Tịnh Hà thì cũng động lòng trắc ẩn mà rơm rớm nước mắt.
Nghèo khổ như vậy, mà anh cũng nèo tôi ở lại ăn cơm trùng phùng với anh một bữa.
Tôi không thể từ chối, ngồi ăn cơm với vợ chồng, tôi cứ nuốt nước mắt, và không
dám nói chuyện nhiều về cái cảnh đời của anh, vì cứ đụng tới câu chuyện là tôi
cứ muốn oà khóc. Tôi viết thư ngay cho anh Diệu hoàn cảnh sống cơ cực của em
anh, và gợi ý là phải tìm cách giúp Tịnh Hà có một nơi ăn ở tốt hơn. Thế rồi
anh Diệu vào, và cho anh Tịnh Hà một số tiền khá lớn (lớn đối với anh Diệu) để
tìm mua một căn nhà gọi là ở được trong cái khu phố nghèo ấy. Anh Phạm Hữu Nhuận
(biên tập viên của báo Văn nghệ, em kết nghĩa của anh Diệu) và tôi giúp Tịnh
Hà, tìm kiếm nhà trong vài tuần, và giúp chạy thủ tục để mua được nhà, vì ngay
lúc mới giải phóng thủ tục mua nhà cũng đã khó và phức tạp.
Nhưng vì chị Lệ là cán bộ của phường, và được phường giúp đỡ
nên việc mua nhà cũng được giải quyết tương đối gọn và sớm. Vậy là anh Tịnh Hà
và gia đình với số tiền tiết kiệm của anh Diệu trút gần hết vào đây đã có được
một căn nhà khá tươm tất gồm một phòng ở tầng trệt, và một phòng trên gác, bề
ngang thì hẹp (2m50), nhưng bề sâu thì khoảng 6-7m. Cửa sổ phía sau nhìn xuống
cái nhánh sông Sài Gòn ở gần cầu Bông đen ngòm, nhưng gió sông thổi vào thì
mát. Nhà có hố xí riêng, có bếp riêng. Đối với gia đình anh Tịnh Hà đó là một sự
đổi đời ghê gớm, một sự hoá kiếp như anh đã nói. Trong nhà không có tủ, chỉ sắm
được vài cái ghế và một chiếc bàn con. Còn ở trên gác thượng, thì trải chiếu nằm
xuống sàn, về mùa hè thì cũng không trải chiếu nữa mà sàn là giường. Mỗi lúc
anh Diệu và tôi vào thành phố làm việc, đến nhà Tịnh Hà ngủ lại vài bữa, thì vợ
chồng lại có những bữa chiêu đãi anh Diệu và tôi, có cả rượu nữa, vì Tịnh Hà
thường ngày cũng có uống chút rượu thuốc (ngâm sâm đại hành).
Anh Tịnh Hà không chỉ viết hồi ký Đi hoang, mà anh còn viết
truyện ngắn, và một số truyện của anh đã được đăng trên các báo, trên báo Văn
nghệ nữa. Thật ra, nếu có điều kiện thuận tiện thì Tịnh Hà cũng có thể trở
thành một nhà văn “chính cống”. Nhưng anh Xuân Diệu thì cứ bảo với Tịnh Hà:
“Văn thơ gì cứ lo cho cái đời yên ổn đi đã. Cứ văn chương thơ thẩn thì rồi chết
đói?”. Mà có lúc anh Diệu còn thật sự mắng em về chuyện viết lách. Kể cũng lạ!
Sự nghiệp văn chương của anh thì như thế, mà anh đeo đuổi cả một đời, bỏ mọi thứ
vặt vãnh xung quanh, mà anh lại trách em muốn đi vào con đường văn chương trong
khi anh vẫn thấy tập hồi ký của em là rất có giá trị. Ngày anh Diệu mất, được
điện của báo Văn nghệ, Tịnh Hà ra ngay Hà Nội để lo tang cho anh cùng với con
dâu của tôi (lo về mặt gia đình, còn đám tang thì thật sự Hội Liên hiệp văn học
nghệ thuật và Hội Nhà văn lo đầy đủ hết). Lúc tôi ở Pari về, không kịp đám tang
anh Diệu, nhưng còn gặp Tịnh Hà ở nhà để hai anh em tâm sự với nhau trước cái
tang lớn của chúng tôi. Tịnh Hà nói với tôi với giọng đầy nước mắt: “Anh Diệu mất
đi, may mà còn anh Huy Cận. Anh Huy Cận thay anh Diệu làm anh của Tịnh Hà. An ủi
ở đời chỉ còn có thế”. Gần đây, hồi cuối hè, Tịnh Hà lại ra Hà Nội để bốc mộ bà
má (mẹ của anh Diệu và của Tịnh Hà) đã được chôn ở khu vực cố định của nghĩa
trang Văn Điển. Hôm ấy không may gặp trời mưa, mà vợ chồng Tịnh Hà cũng cặm cụi
dưới mưa cùng với anh em công nhân ở nghĩa trang bốc mộ, và sau đó đốt thiêu
xương của bà má để lấy gio mang về thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay cái bình gio
của bà má đã được gởi ở chùa Vĩnh Nghiêm, ngôi chùa lớn nhất thành phố, trên
bình gio có gắn ảnh của bà má ảnh mà tôi đã nhờ một bạn nhiếp ảnh chụp lại theo
cái ảnh dán trong căn cước. Anh Tịnh Hà làm được việc này, rất yên tâm với
hương hồn má và anh.
Nỗi thương tâm lớn trong đời anh Diệu là cái số phận đau khổ
cùng cực của người em như tôi đã kể.
Lúc anh còn sống, anh vẫn nói với tôi: “Cái nghiệp của thằng
Sanh là tại gia đình, nhưng cũng một phần tại nó. Mỗi người có một số phận, như
đã định trước. Đôi lúc cứ nghĩ rằng không biết con người có tự do đến mức nào
trong sự quyết định của số mệnh của mình. Cứ nghĩ đến đời thằng Sanh mà đâm ra
bàng hoàng”. Anh Diệu thương má thương em, suốt đời anh day dứt về cái khổ của
má và em. Trong một trang nhật ký của anh viết về tuổi nhỏ mà tôi vừa xem lại
anh đã ghi bên cạnh bằng bút chì đỏ hai chữ “Đàn ơi” là tiếng thảng thốt thương
tâm của anh, Đàn là tên của Tịnh Hà hồi bé ở nhà... Tôi viết hồi ký thay cho cả
anh Diệu, còn sẽ kể nhiều về những mối thương tâm của anh.
Tập 2-K
Thế Lữ và Xuân Diệu
Anh Xuân Diệu bắt đầu làm quen với Thế Lữ khi anh còn học tú
tài phần thứ nhất ở trường Bưởi. Làm quen, nghĩa là gởi những bài thơ của mình
đến cho Thế Lữ xem, và nhờ Thế Lữ nhận xét, cho ý kiến. Lúc bấy giờ anh Diệu vừa
tự tin, vừa rụt rè, không tìm đến toà soạn Ngày nay để gặp Thế Lữ, mà chỉ viết
thư và gởi thơ... Thế Lữ nhận liên tiếp bài thơ này đến bài thơ khác của Xuân
Diệu, đọc kỹ, nhưng không có thư trả lời Thế rồi một hôm trên báo Ngày nay đăng
bài Với bàn tay ấy của Xuân Diệu, đó là bài thơ đầu tiên Xuân Diệu ra mắt với độc
giả báo Ngày nay. Bài này rất hay và đã in trong tập Thơ thơ. Sau đó đăng liền
mấy bài khác như bài Vì sao (Làm sao cắt nghĩa được tình yêu, Có nghĩa gì đâu một
buổi chiều, Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, Bàng mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu... ).
Đến Tết năm 1987, lúc đó anh Diệu đang học tú tài phần hai tại trường Khải Định,
ở Huế, trên số Tết báo Ngày nay có một bài của Thế Lữ rất trân trọng giới thiệu
Xuân Diệu: Một nhà thơ mới: Xuân Diệu. Lời giới thiệu không những trân trọng,
mà còn đầm ấm, sâu sắc. Đúng là lời giới thiệu của một người tri kỷ đối với một
tài năng thơ đang độ nở, đối với một tâm hồn đang rộng mở trước cuộc đời. Đến
lúc tập Thơ thơ ra đời, thì Thế Lữ lại đề tựa, một bài tựa xúc tích và xúc động.
Sau này nhà xuất bản Văn học cho in tuyển tập của Thế Lữ thì Xuân Diệu viết lời
bạt (gọi là: Đọc thơ Thế Lữ), trong đó anh phân tích đầy đủ thơ Thế Lữ, và cũng
là một cách uốn nắn những chỗ không thoả đáng của bài giới thiệu do Lê Đình Ky
viết. Hai nhà thơ chí tình với nhau là như vậy.
Xuân Diệu đấu tranh chống bọn phản động Quốc dân Đảng
Cuối năm 1945, khoảng tháng 11 và tháng 12 bọn Quốc dân Đảng
kết hợp với bọn Nguyễn Hải Thần, được bọn quân đội Tưởng Giới Thạch đỡ đầu và ủng
hộ, đã có những hoạt động ráo riết chống chính quyền cách mạng, khi thì ngấm ngầm
phá hoại (như bắt cóc và thủ tiêu cán bộ, đặt mìn vào các công sở hoặc ở đường
xe lửa như chúng đã đặt mìn trên đường Hải Phòng - Hà Nội lúc chúng ta đón Hồ
Chủ tịch từ Hải Phòng về Thủ đô, sau chuyến đi Pháp về), khi thì hoạt động công
khai, dán truyền đơn, tổ chức những cuộc biểu tình, hô khẩu hiệu đả đảo chính
phủ. Những cuộc biểu tình của chúng chỉ lèo tèo mấy chục người, nhiều lắm là
hơn 100 người bà con lúc đó gọi là biểu tình pháo tép, pháo xì pháo xịt ngòi...
Một buổi sáng tháng 12, anh Diệu đi ra đường gặp lũ côn đồ này đang kéo nhau đi
lê thê lếch thếch, gọi là biểu tình để đả đảo tổng tuyển cử (tổng tuyển cử đầu
tiên cử hành vào ngày 6-1-1945) anh Diệu liền dừng lại, dắt xe đạp hô “đả đảo
biểu tình” và anh lại tập hợp bà con ở khu phố làm một cuộc biểu tình chống lại
cuộc biểu tình phản cách mạng. Bà con bắt đầu tập hợp và cũng hô khẩu hiệu như
anh “đả đảo biểu tình phản cách mạng”, thì bọn đầu trâu mặt ngựa bất đầu tan
rã, nhưng cũng có mấy đứa đuổi rượt theo anh, định bắt cóc anh đem về hắc điếm.
Anh đành phải bỏ xe đạp giữa đường và đi vào đám đông đồng bào. Đồng bào bảo vệ
anh và đem anh về trụ sở Văn hoá cứu quốc. Vài giờ sau lại có người mang xe đạp
của anh giả lại cho anh.
Câu chuyện Xuân Diệu hăng hái, sôi nổi đấu tranh chống bọn Quốc
dân Đảng phản động, ai cũng biết và đồn đi các tỉnh. Anh Thép Mới trong bài viết
về Xuân Diệu sau khi nhà thơ mất, cũng đã nhắc lại sự kiện trên. Sau buổi biểu
tình ấy anh Diệu viết ngay bài thơ châm biếm Một cuộc biểu tình và cho đăng vào
báo Độc lập số ngày 24-12-1945. Xin trích sau đây vài đoạn trong bài thơ đả
kích ấy:
Bữa kia trong vài phố Hà Nội
Có cuộc biểu tình (nghĩ cũng tội)
Vẻn vẹn đếm được những ba mươi
Linh bảy thằng người đi quấy rối...
Khuyển ưng một lũ sắp mưu gian
Cai quản ít nhiều tên bỉ ổi,
Di qua mấy phố diễn trò hề,
Khiến cả quốc dân đều... bịt mũi!
Biểu tình chi đó? Biểu tình ai
Ai biểu tình, mà lạ nhỉ!
Họ đều như thể... đũa so le,
Bước mạnh như là... người thất chí.
- Bà ơi! Dắt cháu ngó kỳ quan!
- Mợ nó ngừng tay, ra ngắm tí!
Một đoàn nhơ nhuốc mang trên trán
Uể oải há mồm rao bánh rán:
“Tẩy chay tuyển cử” với... nhân dân!
“liên hiệp quốc gia” cùng... “nước bạn”
Vài ông mặc lính bước xa xa,
Hộ vệ đám người đem nước bán.
(Lính nào ăn mặc giả trang kia,
Không phải Việt Nam, thưa các bạn.)
Tẩy chay tuyển cử - Cứ tẩy chay!
Dân Việt Nam tôi cứ tuyển cử!
Quốc gia Liên hiệp... Quốc gia liên...
Những hiệp với ai, ông nói thử?
- Những quân liếm gót sạch bong rồi,
Mới dám anh hùng như thế chứ!
Ai đem máy ảnh chụp giùm tôi!
Nghĩ đến biểu tình mà xấu hổ
Đi như phu bắt phải khiêng đồn,
Kêu tựa làm công cho các chú.
Mấy anh mang súng kèm hai bên
Thỉnh thoảng nhắc vào: - Hô đi chứ!
Chen nhau đông tựa chùa Bà Đanh!
Hăng hái như người đang ngái ngủ!
Thuê người - hỏi thật - mấy quan kim
Gớm! Cứ lòe nhau chi thế, cụ!
(cụ đây là chỉ tên Nguyễn Hải Thần)
Đến tháng 2-1946 bọn phản động Quốc dân Đảng lại có cuộc “vận
động” “tổng đình công”, anh Diệu lại có bài thơ châm biếm đả kích chúng. Bài Tổng...
bất đình công này đã đăng ở báo Sự thật số ngày 20-2-1946. Xin trích một số đoạn
dưới đây:
Tổng đình công hỡi! Tổng đình công
Tướng có, ai ngờ lại hoá không!
Trời hỡi, đất ơi, xin chứng giám
Lấy mo mà bịt mặt cho xong!
Tổng đình công ấy, nghĩ mà thương,
Phố đóng sao mà cửa mờ toang
Tàu điện long cong ra vẫn chạy,
Đồng Xuân ầm ĩ họp như thường!
Tổng đình công hỡi! Tổng đình công!
Dân chúng sao mà xỏ chúng ông
Tưởng chắc được dân nên mới tổng:
Mà dân không được, thế là... tong!
Tổng đình công hỡi! Tổng đình công!
Họ chẳng đình cho, lại họp đông
Tiu nghỉu như mèo tai bị cắt,
Nước bày đem bán, bán không xong.
Một lần tuyển cử phá không xong,
Nay khối nhân dân vẫn một lòng.
Biết trước thôi đành câm miệng hến,
Tổng đình công hỡi! Tống đình công!
Xuân Diệu đối với các nhà thơ trẻ
Suốt đời anh, nhất là từ năm 1954, sau ngày giải phóng miền Bắc,
Xuân Diệu luôn luôn theo dõi sự nẩy nở của những tài năng trẻ trong thơ ca, và
anh đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn các bạn trẻ làm thơ bằng những nhận xét tỉ mỉ,
chính xác về cả nội dung lẫn hình thức sau khi xem kỹ thơ của họ. Những nhận
xét của anh rất có lý, rất có tình được các người đồng nghiệp trẻ tiếp nhận một
cách sâu sắc mà thoải mái vì đó không phải chỉ là vấn đề tu từ học, mà là câu
chuyện đời, câu chuyện sống, câu chuyện tâm thành trong cảm xúc, cùng là câu
chuyện chính xác trong ngôn từ dân tộc. Và anh rất công phu sưu tầm cả những
bài thơ bích báo của quần chúng đem ra giới thiệu trên các báo và bình luận làm
cho nồi bật cái hay, cái nhuần nhị của giọng thơ quần chúng, nghĩa là thơ dân
gian mới. Ngay trong kháng chiến chống Pháp anh cũng đã đi hết cơ quan này đến
cơ quan khác tiếp xúc với đơn vị bộ đội này và đơn vị khác, và đi vào thôn xã để
sưu tầm những bài bích báo, những bài ca dao của quần chúng cơ sở, và anh giới
thiệu các bài ấy một cách rất trân trọng trên báo Cứu quốc, và trên tạp chí Độc
lập. Có lần anh Xuân Thuỷ đã nói: “Xuân Diệu nhà thơ đa tình, cũng rất chí tình
với văn nghệ quần chúng. Xuân Diệu là tri kỷ của nhân dân làm thơ”. Tôi nghĩ
không có lời khen nào thấm thía và chính xác hơn sự đánh giá trên đây của anh
Xuân Thuỷ. Chính anh Xuân Diệu và Xuân Thuỷ đã cùng chủ trì một cuộc chấm thơ
do báo Cứu quốc hồi đó tổ chức (1948). Hai người công phu đọc hàng ngàn bài
thơ, bài ca dao, và cũng chọn ra được mấy chục bài để tặng giải và để đăng báo.
Chính anh Xuân Diệu cũng tâm sự: “Mình vừa chấm thi, nhưng cũng vừa học được
nhiều cái hay trong cách quần chúng làm thơ”. Đó là một thu hoạch rất chân thực
của anh hồi đầu kháng chiến. Rất nhiều bạn trẻ (như Vũ Quần Phương, như Nguyễn
Bùi Vợi, như Phạm Tiến Duật, như Nguyễn Duy...) đã viết những kỷ niệm về sự tiếp
xúc với Xuân Diệu, về việc nâng cao những bài thơ và nghề thơ của mình. Riêng đối
với hai nhà thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa và Khánh Chi thì anh Xuân Diệu lại càng
chăm sóc tỉ mỉ, gần như một người làm vườn tưới bón cho những cây non mới trồng,
cho những mầm mới nhú.
Trần Đăng Khoa, mỗi năm rất nhiều lần đến gặp “chú Diệu” để
được nghe chú phân tích cái hay và cái chưa hay trong những bài thơ của mình.
Trước hết anh Xuân Diệu tấm tắc phục cái tài làm thơ tưởng như hồn nhiên mà thật
ra rất chín về nghệ thuật của Trần Đăng Khoa. Anh và tôi rất quí cậu bé Trần
Đăng Khoa, cậu bé nông thôn ở Nam Sách có cái cảm thụ, rất mới, rất lạ, rất
tươi về cuộc sống, về thiên nhiên, về quê hương, về con người. Và cũng thấy rõ
Trần Đăng Khoa mặc dù còn rất nhỏ tuổi đã biết học vốn cha ông, và biết học những
người làm thơ vào tuổi cha chú của mình, và chúng tôi cũng khuyến khích Trần
Đăng Khoa đi vào hướng đúng ấy. Còn lúc phân tích cái chất cảm xúc, nội dung
tình ý, nội dung cảm giác nữa của những bài thơ, câu thơ. Và anh đã viết nhiều
bài giới thiệu thơ Trần Đăng Khoa trên các báo. Nhà điện ảnh nổi tiếng của Pháp
là Gérard Guillaume có dựng một phim về Khoa mà thuyết minh là của anh Diệu.
Lúc anh Diệu mất đi, Trần Đăng Khoa cũng như nhiều bạn thơ trẻ khác đã khóc nức
nở, đau như thắt ruột lại theo lời của các bạn. Chính anh Tố Hữu cũng đã có nhận
xét: “Xuân Diệu là người chí tình với giới nhà thơ trẻ, có tấm lòng cưu mang với
những mầm non, đó là một cái gương sáng”.
Đới với cô bé Khánh Chi (bây giờ thì đã lớn lắm rồi, và đang
học đại học Tổng hợp văn tại Liên Xô) anh Diệu ít có dịp tiếp xúc như với Trần
Đăng Khoa nhưng anh cũng đã theo dõi sát sự hình thành của tài thơ Khánh Chi,
và anh đã trân trọng viết bài tựa cho tập thơ Gởi gió về cho nội của Khánh Chi
do nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản. Khánh Chi và Trần Đăng Khoa đều là hai nhà
thơ thiếu nhi có tài nhưng tính cách thơ rất khác nhau. Anh Diệu đã từng nói:
“Trần Đăng Khoa là hương hoa nông thôn, còn Khánh Chi là cái lấp lánh của ánh
đèn thành thị. Thơ Trần Đăng Khoa sát gần cảm giác, gần cảm xúc, cũng có phần
khái quát, nhưng không khái quát cao. Còn Khánh Chi thì cảm xúc đã tổng hợp, và
đã khái quát vào trí tuệ”. Đó là nhận xét của “chú X.D”.
Những tháng ngày tôi đi thâm nhập thực tế ở vùng mỏ Hòn Gai -
Cẩm Phả
Tháng 8 năm 1958, sau cuộc tổng kết đấu tranh chống bọn Nhân
văn giai phẩm, có chủ trương văn nghệ sĩ đi thâm nhập thực tế cuộc sống sâu hơn
và bền hơn. Tôi xin đi về vùng mỏ than Hòn Gai - Cẩm Phả vừa là để chỉ đạo
phong trào văn hoá văn nghệ tại tỉnh Quảng Ninh, và vùng mỏ, vừa là để tìm hiểu
sâu hơn cuộc sống của công nhân mỏ. Giữa tháng 8, sau khi tiếp xúc với Tỉnh uỷ,
Uỷ ban tỉnh, với Ty văn hoá, với ban giám đốc và công nhân ở thị xã Cẩm Phả,
tôi về nhà bác Dậu. Bác Dậu đã có tuổi nhưng cũng còn làm việc ở trong một Xường
của mỏ, còn hai người con trai của anh Hưng và anh Hợp đang tuổi trai tráng làm
công nhân cuốc than vào loại có năng suất cao, và em gái tên là Gái thì làm
công nhân xúc than ở trong nhà sàng than. Còn người anh cả thì làm công tác bảo
vệ mỏ Đèo Nai, vợ anh cũng là công nhân ở trong nhà sàng than. Tôi ăn ở nhà bác
Dậu, hoàn toàn như người trong gia đình, cùng ăn cơm với gia đình, không có gì
là thức ăn làm riêng cho tôi, và ngủ thì tôi ngủ chung giường với anh Hợp. Tắm
rửa, thì nhà có một cái giếng rất trong bên cạnh mấy bụi mía và một cây chanh,
tha hồ tắm giặt một ngày mấy bận cũng được. Mà thật ra phải tắm rửa nhiều, ít
nhất là một ngày hai lần, vì mỗi lần lên tầng mỏ về áo quần đầy bụi than và bụi
đường.
Tôi được bố trí làm công nhân cuốc than cùng một tổ với anh Hợp,
cứ mỗi buổi sáng hai anh em lại ăn sáng thật sớm rồi ra bến xe ở gần xưởng cơ
khí để xe cam nhông chở chúng tôi lên tầng than Đèo Nai. Xe thì cao tôi thì thấp,
leo lên thành xe cũng khá vất vả nhưng mấy ngày là quen dần. Đứng trên xe khá
chật, nên dù xe lên đèo có lúc lắc nhiều, nhưng cũng không phải chao đảo lắm,
và cũng không chóng mặt. Tôi lại còn cái thú là đứng trên xe nhìn xuống thị xã
Cẩm Phả rất đẹp với những mái ngói đỏ chêm giữa những lùm cây xanh tốt, và xa
xa ngoài kia là vịnh Bái Tử Long. Con đường đi lên đèo hơi dốc, nhìn ra cảnh mấy
phía đều ngoạn mục, nhất là lúc đó đã vào mùa thu, nắng hanh vàng rất đẹp. Lên
đến tầng than của chúng tôi, tôi được phân công xúc than cho vào những chiếc
goòng phải xúc luôn tay vì các xe goòng nối tiếp nhau chuyển than ra máng than.
Những anh công nhân đào than (gọi là khao than) thì đứng trên cao vỉa than đào
xuống bằng những cái choàng to và nặng, các anh rất khéo cho choàng vào những
điểm thích hợp làm cho mỗi lần choàng đào vào là từng mảng than lớn đổ xuống,
có khi có những khối than to bằng cái chum lăn xuống.
Mấy ngày đầu tôi xúc than chưa quen, cứ lấy hết sức hai tay
mà nâng cái xẻng to đầy than cho than lên goòng, khá mệt. Nhưng sau đó tôi đã bắt
chước các anh chị công nhân lấy bắp đùi làm điểm tựa mà hất cái xẻng than vào
goòng thì vừa nhẹ, vừa nhanh, năng suất khá cao. Tất nhiên là vẫn còn mệt, và mặc
dù mùa thu đã se lạnh, mà vẫn toát mồ hôi. Nhưng chỉ hơn một tuần là tôi đã thạo
công việc xúc than, có thể nói là cái nghề xúc than của tôi. Và cuối tháng, họp
trong tổ công nhân, mặc dù tôi không ăn lương của mỏ, nhưng cũng được xếp hạng
vào loại công nhân có năng suất trung bình, nghĩa là ăn lương tháng 70 đồng (loại
kém chỉ được 40-50 đồng, loại giỏi thì có thể được 90-100 đồng). Buổi trưa, cũng
như anh Hợp tôi mang cà mèn cơm và thức ăn đi theo, ăn trưa tại mỏ, trong một
cái lán che lá hoặc che vải bạt cùng với tất cả anh chị em công nhân cùng tầng.
Cơm trưa có chút cá kho, đôi khi có cả tầu xì (là một thứ đậu muối mặn và hơi
chua, là thức ăn quen thuộc của người Hoa kiểu sống ở mỏ).
Hoạ hoằn lắm, mẹ anh Hợp mới cho vào cà mèn của anh và của
tôi vài miếng thịt kho. Nhưng không biết có phải vì đói không mà tôi ăn những bữa
cơm trưa trên Đèo Nai rất ngon, và uống nước gạo rang trong cái thùng ở lán
cũng rất ngon. Ăn trưa xong chúng tôi nghỉ một lát, không đủ thì giờ để ngủ
trưa (nhưng thường ở nhà tôi vẫn ngủ 15-20 phút chỉ ngồi dựa vào cái cột tre của
lán thiu thiu một chốc. Đến 1 giờ chiều, chúng tôi lại tiếp tục ra vỉa than,
người thì khao, người thì xúc. Cũng có lúc tôi đổi việc, đi đẩy xe goòng chở
than đến máng than, công việc tường nhẹ, nhưng cũng phải cật lực mới đẩy xe chạy
nhanh theo nhịp độ cần thiết được. Khoảng 4 giờ chiều, chúng tôi lại lên xe tải
để về dưới phố Cẩm Phả. Lại một dịp cho tôi ngắm toàn cảnh mỏ Đèo Nai, và thị
xã Cẩm Phả, cùng vịnh Bái Tử Long trong nắng chiều vàng, cái cảnh tôi được ngắm
hàng ngày đó được thể hiện trong nhiều bức tranh (sơn mài có, sơn dầu có) của
các hoạ sĩ đã về thâm nhập vùng mỏ. Hàng ngày, sau bữa cơm chiều cùng với gia
đình bác Dậu, tôi đi thăm các gia đình công nhân, tìm hiểu đời sống vật chất của
họ, và nhất là quá trình làm thợ mỏ của mỗi người. Có khi tôi còn được các bác,
các anh chị công nhân tâm sự cho tôi nghe cả chuyện nhà cả chuyện riêng tư từ lịch
sử gia đình cho đến lịch sử của mỗi lứa đôi. Chính trong những buổi tiếp xúc
thân mật, thân tình ấy, mà tôi đã được hiểu cặn kẽ cuộc đời của anh Tài Lạc, của
anh Phòng, của bác Sự, của bác Xướng, của chị Bồi, của chị Tâm, của anh Hợp và
của rất nhiều người nữa. Tôi cũng được tiếp xúc với nhiều công nhân đã từng
tham gia đấu tranh trong thời kỳ Pháp còn tạm chiếm vùng mỏ, như bác Phở Cầu,
như gia đình của 5 người con gái anh hùng Cẩm Phả. Tôi cũng được tiếp xúc với
những người thân thuộc của anh Điều mù... Có lúc tôi ngồi nói chuyện đã hơi
khuya (khoảng 10 giờ tối) muốn xin phép về, thì bà con giữ lại nói chuyện và
tâm sự thêm. Bà con cũng biết tôi làm công tác gì, và nghe mang máng là tôi làm
thơ, nhưng dần dà bà con thấy tôi thân tình và gần gũi như người nhà nên có khi
còn nhắn tôi đến nói chuyện, nhất là những ngày chủ nhật mà bà con được nghỉ.
Cũng một số lần, các bác, các anh chị còn mời tôi ăn cơm với gia đình, cũng có
khi tôi từ chối được, nhưng cũng có trường hợp không thể nào không dự bữa cơm
thân tình đó.
Anh Hợp rất nhanh chóng trở thành người anh em của tôi thật sự
anh xem tôi như anh em ruột thịt, nhắc tôi đi làm như bạn cùng nghề, chia với
tôi cái chăn bông như anh em ruột. Công nhân ở mỏ có người đã hai ba đời là
công nhân, nhưng cũng khá đông là mới ở các tỉnh về bổ sung vào đội ngũ. Số khá
đông là người từ Thái Bình, Nam Định ra đây, kể cả công nhân mấy đời hoặc công
nhân mới vào vùng mỏ.
Cũng có nhiều công nhân Hoa kiều, ở đây đã lâu đời và họ làm
việc rất chăm chỉ, rất có năng suất, có người đã được tuyên dương anh hùng lao
động (anh Hồ Xây Dậu). Tôi cũng đã đến thăm mấy gia đình công nhân Hoa kiều, bà
con cùng nói chuyện tâm sự với tôi, kể cả chuyện lo dựng vợ gả chồng cho con.
Bà con Hoa kiều sống khá hoà nhập vào cộng đồng người Việt Nam tại mỏ. Trong thời
kỳ tôi đi xâm nhập vào thực tế cuộc sống ở vùng mỏ, báo Nhân dân có đưa tin, và
có đăng một cái ảnh của tôi đang xúc than ở Đèo Nai. Thế là có mấy tờ báo của bọn
nguỵ ở Sài Gòn đưa tin xuyên tạc, và bảo rằng “nhà thơ Huy Cận chắc là không được
lòng lãnh đạo cộng sản nên đã bị đày ải đi làm phu mỏ ở Hòn Gai....
Tất nhiên là tôi không cần cải chính, mà báo Nhân dân thì cải
chính gián tiếp bằng cách đăng nhiều bài thơ của tôi viết về vùng mỏ lúc đó...
Sau mấy tháng đi lao động ở vùng mỏ về, tôi có được gặp Bác Hồ trong một cuộc
Bác gặp chung nhiều văn nghệ sĩ khác đi thực tế các nơi về. Bác bảo “chú đưa
tay tôi xem!” Và Bác sờ thấy có chai khá dày ở trong bàn tay thì Bác cười: “Có
lao động thật đó, chú xúc được nhiều than, và làm được nhiều thơ, thế là tốt”.
Đến lúc bài thơ của tôi nhan đề là Năm người con gái anh hùng Cẩm Phả đăng lên
báo Nhân dân, được Bác xem, thì Bác gởi ngay 5 huy hiệu của Bác về cho Uỷ ban
thị xã Cẩm Phả để tặng 5 gia đình đã có 5 người con gái hy sinh oanh liệt tại mỏ
trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Cùng đi về mỏ trong một chuyến với tôi có các nhà thơ Khương
Hữu Dụng, anh Huy Thành đạo diễn điện ảnh, anh Lê Thọ Vụ trưởng Vụ đào tạo của
Bộ Văn hoá có cả anh Phạm Chính trưởng ty văn hoá Quảng Ninh và mấy anh em khác
trong Ty. Chúng tôi hội ý đều với nhau về công tác văn hoá văn nghệ quần chúng
tại mỏ cùng anh Đặng Trần Nhân phụ trách công tác văn hoá trong công đoàn mỏ.
Còn anh Khương Hữu Dụng thì không phải hội ý, mà là “hội thơ”, vì mỗi lúc làm
được bài thơ mới, chúng tôi lại đọc cho nhau nghe, và góp ý góp từ cho bài
thơ... Trong mấy tháng (gần 4 tháng) tôi ở mỏ, có tranh thủ đi thuyền ra Vịnh Hạ
Long, và ra mấy hòn đảo ở trong vịnh. Những ngày tháng tôi sống ở mỏ Hòn Gai -
Cẩm Phả là những ngày tháng đẹp trong đời tôi. Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với
giai cấp công nhân của ta, không những bằng những câu chuyện thăm hỏi, mà bằng
cả lao động hàng ngày với họ. Những tình cảm mà tôi nhận được là như tình cảm
bà con ruột thịt và những tình cảm mà tôi có được trong lòng cũng là những tình
cảm ruột rà thân thích đối với những người mà thật tình tôi thấy như là anh em
máu mủ của tôi. Tôi sống và lao động ở mỏ với tất cả cái hào hứng của một nhà
thơ, của một cán bộ muốn đi sâu vào phong trào quần chúng, của một con người vốn
ham giao thân với nhiều người khác, ham kết bạn với những con người chân thực,
với những tấm lòng bè bạn. Đối với tôi việc lao động ở mỏ, việc làm thợ mỏ
trong mấy tháng không có gì là khó khăn, không có gì là phải cố gắng, một phần
có lẽ nhờ tôi có sức khỏe, nhưng một phần chính là nhờ cái lòng hào hứng, lý
thú vừa nói trên kia.
Mấy tháng đó tôi đã có một đợt sáng tác mới, rất mới đối với
tôi. Tôi đã viết được mấy chục bài thơ về cuộc đời của công nhân mỏ, về lao động
ở mỏ, về cái không khí, có thể nói là hào khí bắt đầy xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở vùng công nhân tập trung này. Những bài thơ ấy đã in trong tập thơ Trời mỗi
ngày lại sáng (15 bài về mỏ in ở đầu sách) (xuất bản cuối năm 1958), và còn in
tràn sang tập thơ sau Đất nở hoa (xuất bản năm 1960).
Những bài Anh Tài Lạc, Năm người con gái anh hùng Cẩm Phả,
Bác Phờ Cầu, Chuyện anh Phòng đấu tranh, Vệt lá trên than, Thu về trên Đèo Nai,
Đoàn thuyền đánh cá, Sập lò cái đá, Tiếng sào anh Điều mù, Mưa xuân trên biển,
Một đêm thức trong mưa bão,... đều được viết tại nhà bác Dậu, có khi viết trên
tầng than Đèo Nai... Khi tôi ở vùng mỏ về, anh Tố Hữu và các bạn thơ đều mừng
cho tôi “được mùa thơ mới”, anh Tố Hữu còn nói thêm “Thơ xã hội chủ nghĩa là
đây đây. Tôi rất biết ơn vùng mỏ, anh chị em công nhân mỏ đã gieo cho tôi và
giúp tôi gặt mùa thơ mới mẩy hạt ấy”.
Tôi đi nghe hát chèo ở Hoài Đức
Cuối năm 1940 trời đã lạnh, một hôm Khái Hưng rủ tôi và Tú Mỡ,
Thế Lữ đi nghe hát chèo tại phủ đường của phủ Hoài Đức, nơi mà Trần Tự, em ruột
của Khái Hưng, làm tri phủ hồi đó. Tôi ra Hà Nội đã xem hát chèo một vài lần ở
rạp chèo của ông Nguyễn Đình Nghị ở phố Hàng Quạt, nhưng xem chèo ở nông thôn Bắc
Bộ thì chưa bao giờ.
Tối hôm đó, tại phủ đường, một gánh chèo ở nông thôn được Trần
Tự mời đến cũng chỉ diễn những trích đoạn của mấy vở chèo truyền thống: Suý Vân
giả dại, Quan âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, cốt là để chúng tôi nghe các làn
điệu thưởng thức cái giọng nghe nói là đặc sắc của mấy đào, kép quanh vùng. Tất
nhiên là ông phủ và chúng tôi cùng xem kỹ, xem tận mắt và tận mặt những trò độc
đáo của đào kép, những “miếng” chèo độc đáo của gánh chèo này. Sân khấu diễn
cũng là mấy chiếc chiếu cạp điều trải trên nền phủ đường, nơi quan phủ Trần Tự
thường ngồi xử kiện. Khái Hưng giải thích cho tôi biết đó là cốt phục hiện đúng
cung cách diễn chèo truyền thống ở các đình làng xưa. Và Khái Hưng cũng dẫn giải
cho tôi hiểu sâu thêm các làn điệu chèo và cái hay trong cách diễn xuất của mỗi
đào, kép, đặc biệt là anh đã bình luận kỹ cho tôi nghe về các vai hề, và về tiếng
trống đế trong chèo. Buổi biểu diễn kéo dài đến khuya và ông phủ Trần Tự mời cả
gánh chèo ở lại ăn cháo gà, và “thường” cho gánh một số tiền tôi không biết là
bao nhiêu. Chúng tôi cũng được ăn cháo gà, và còn ngồi nói chuyện thơ văn một
lúc rồi mới lên xe về Hà Nội. Về sau tôi xem cái truyện ngắn Dọc đường gió bụi
của Khái Hưng, tôi rất thích thú, vì anh tả cái say mê nghệ thuật của đào Mơ và
của tất cả gánh chèo một cách rất thấm thía, rất sâu đầy cảm tình với môn nghệ
thuật dân gian truyền thống của cha ông. Cô đào Mơ là một hình ảnh đẹp còn lưu
lại trong trí nhớ của tôi, nói lên một sự gắn bó với cái gì là vốn cổ của cha
ông, với cái gì là cảm xúc mộc mạc mà đằm thắm của đồng bào ta ở nông thôn
trong xã hội cũ. Sau này, trong nhiều năm làm công tác chỉ đạo nghệ thuật, cùng
anh em chăm lo phục hồi và nâng cao luôn nghệ thuật chèo, tôi vẫn không quên ấn
tượng về cô đào Mơ.
Viết thêm về tập hồi ký Đi hoang của Tịnh Hà
Một đoạn trên tôi đã kể về nỗi thương tâm lớn của anh Diệu là
số phận long đong của Tịnh Hà, em cùng cha cùng mẹ của anh, và tôi cũng đã nói
qua về tập hồi ký Gió cuốn bụi đời (Đi hoang) của Tịnh Hà.
Nay tôi xin chép vào đây lời tựa của chính anh Tịnh Hà viết
cho tập hồi ký của mình, tựa viết tại Sài Gòn ngày 15-7-1942:
“Không hiểu vì sao, hễ cứ chiều đến, và mỗi một cơn gió bắc
hay làn gió nam, thì tôi lại thấy lòng tôi buồn thấm thía, cái buồn ăn sâu vào
tâm khảm.
Nhưng cũng có một chỗ trống trải, một chỗ đáng để cho tôi ghi
nhớ suốt đời, vì tôi là một kẻ không có gia đình, đời sống lẻ loi, cô độc.
Thượng đế đã làm cho tôi như thế. Từ vật chất đến tinh thần
tôi hoàn toàn là một nạn nhân của đau khổ. Tôi đã nhiều phen nuốt lệ, để gượng
cười mà cảm ơn Thượng đế, Thượng đế đã thương tôi và đã đào tạo một hột cát nhỏ
bay từ chỗ này sang chỗ khác, mỗi khi gặp một trận bão lòng lôi cuốn.
Nhưng tôi đã hiểu đời tôi như thế tôi cũng gắng mà đi theo
ngày giờ vàng ngọc mà tôi đã phí bỏ trong 7 năm trường. Tôi sẽ thuật lại đời
gió bụi của tôi, lăn lóc trong 7 năm qua, tôi sống cực, sống tủi để xem đời và
hiểu đời. Than ôi! Đến nay vẫn còn nửa cuộc đời tôi còn lại dài lắm, và càng khổ
nhiều hơn nữa, nhưng tôi phải ngượng tiến bước, và tiến lên nữa, tuy rằng, đến
đây tôi thấy thân hình tôi đã tiều tuỵ và yếu đuối lắm rồi.
Các bạn đời của tôi ơi! Các bạn hãy đọc cho thật kỹ và phải
có hiếu để tránh những lỗi sai lầm, lỡ bước như tôi”.
Đó là lời tựa. Tôi sẽ cùng Tịnh Hà xem kỹ lại tập hồi ký Đi
hoang, giúp Tịnh Hà sửa sang lại chút ít chủ yếu không phải là trau chuốt câu
văn, và sắp xếp lại các sự kiện cho có mạch lạc, và chính xác hơn nếu có đôi chỗ
còn chưa rõ. Còn sự chân thực của hồi ký thì phải giữ nguyên.
Tập 2- L
Hai tháng tôi dạy học trường tư ở Vinh
Sau khi đậu tú tài toàn phần, tôi có ý định ra Hà Nội đi dạy
học tư, và viết văn, làm thơ, làm báo mặc dù tôi vẫn đâm đơn xin học bổng đi học
triết lý và văn khoa bên Pháp. Như một đoạn trên tôi đã kể, ngày 1-9-1939, chiến
tranh thế giới thứ hai bùng nổ thì tôi quyết định ở lại nhà, vì cảm thấy sẽ có
những biến cố lớn lao xảy ra với đất nước. Trong lúc chờ đợi, được lời mời của
ông Hà Thúc Chính, tôi nhận lời dạy văn ở trường “Chính hoá” tại Vinh.
Ông Hà Thúc Chính và người anh của ông là Hà Thúc Kính (và vợ
ông là bà Kiệm) được tôi nhận lời dạy thì rất mừng, rất hoan hỉ vì lúc đó tôi
đã bắt đầu nổi tiếng về mặt thơ văn, mà học sinh dạo ấy rất “mê tín” các nhà
thơ mới dạy văn chương. Tôi dạy môn văn cho cả 3 lớp đệ nhất, đệ nhị, đệ tam
(ban thành chung). Trong số học sinh học năm thứ nhất với tôi lúc đó có anh
Chính Hữu, anh Đào Văn Lan (hiện là đại tá) và một số khác nữa mà về sau tôi
thường gặp lại trong kháng chiến chống Pháp.
Anh Chính Hữu trong một bài hồi ký đăng ở tạp chí văn học Hà
Nội có nhắc đến “thầy Huy Cận” khi anh học ở trường Chính Hoá. Tôi dạy văn
đương nhiên là dựa theo chương trình, nhưng cách chọn bài để giảng, và cách giảng
thì cũng khá tài tử.
Tôi đã để cả hai buổi liền để giảng một đoạn ngắn trong Truyện
Kiều. Đó là đoạn nói Kim Trọng trở lại thăm vườn Thuý sau khi chịu tang chú ở
Liêu Dương trở về:
Từ ngày muôn dặm phù tang
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.
Vội sang vườn Thuý dò la,
Nhìn xem phong cảnh nay đà khác xưa.
Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
Song giăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời...
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Sập sè én liệng lầu không
Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.
Cuối tường gai góc mọc đầy
Đi về này những lối này năm xưa...
Riêng hai câu cuối của đoạn thơ trích trên đây, tôi đã để cả
tiếng đồng hồ để phân tích cái hay, cái bề sâu của tình cảm của Nguyễn Du đối với
nhân vật.
Cái câu Đi về này những lối này năm xưa, tôi hỏi học sinh rằng
đó là lời của ai? Tất nhiên là các bạn học trò của tôi đều trả lời là lời của
tác giả dẫn truyện. Tôi lại hỏi có thể là lời của ai nữa không, thì có một cô học
sinh (nếu tôi nhớ không sai là chị Đính, con của bà Kiệm) đứng lên nói ngập ngừng:
“Cũng có thể là lời nói thầm của Kim Trọng... Vì trong bản Kiều ngày xưa cũng
như ngày nay không có dấu ngoặc kép trên câu thơ này nên có thể hiểu là lời của
tác giả hay lời của nhân vật cũng được.... Cô Đính nói xong, mà như chưa tin ở
sự phân tích của mình cho nên có vẻ ngượng ngùng và xin lỗi thầy và các bạn học
là đã mạo muội đưa ra một ý nghĩ ngớ ngẩn. Tôi nói: “Chị Đính được 20 điểm, vì
chị đã hiểu sâu tâm lý của câu thơ”. Tôi lại hỏi có thể là lời của ai nữa không
thì cả lớp ngồi im. Tôi nói với các em: “đó còn có thể là lời của cảnh vật, của
tạo hoá thông cảm với nỗi nhớ nhung bùi ngùi của Kim Trọng mà thốt lên, mà nói
to lên cái điều mà Kim Trọng đang cảm nghĩ thầm. Khác nào như ta thấy cảnh vật
của vườn Thuý đang nhìn vào Kim Trọng, đang chỉ tay vào Kim Trọng mà nói anh trở
lại thăm vườn, những bước chân anh đang đi trên con đường ngày trước đó, những
lối đường mà anh và chị Thuý Kiều đã cùng dạo ban đêm....
Các học sinh của tôi đều thiết tha cho rằng sự phân tích của
thầy là đi vào tận cùng tình cảm của tác giả, của nhân vật, và thấu được cả ý
thầm của tạo hoá thông cảm với con người. Cho đến nay tôi vẫn nghĩ rằng lời giảng
văn trên đây của “thầy Huy Cận” là chấp nhận được, là chính xác. Tôi lại yêu cầu
học sinh của tôi sưu tầm ca dao, đặc biệt là ca dao Nghệ Tĩnh, mỗi học sinh phải
nộp cho tôi ít nhất là 100 câu ca dao, hễ trò nào chép được nhiều câu hay thì
được điểm cao. Tôi lại nhớ chính cô Đính đã cung cấp nhiều câu hay nhất và được
18 điểm. Tôi hỏi cô làm sao sưu tầm được nhiều câu hay như thế, thì cô thưa là
mẹ cô (bà Kiệm) đọc cho cô chép mà cũng chưa đọc hết kho của bà.
Đầu tháng 10-1939, tôi nhận được điện của anh Diệu gọi ra đi
học trường cao đẳng Nông lâm, vì tôi đã trúng tuyển. Thầy trò trường “Chính
hoá” làm một bữa cơm tiễn tôi với tình cảm hết sức lưu luyến. Bà Kiệm cũng có mặt
trong bữa cơm, và ra về, và nói nhỏ với tôi: “Nhà thơ còn bay nhảy nhiều, còn
rong ruổi trên con đường danh vọng chứ đâu thiết gì đến cái đất Vinh và trường
“Chính hoá” nhỏ bé này... Ở đây chắc chẳng có gì đáng níu chân nhà thơ lại....
Tôi cũng không hiểu hết ý “ngôn ngoại” của bà, tôi chỉ biết
bà rất đẹp với hàm răng đen nháy như hạt na, với đôi mắt nhìn rất quyến rũ. Bà
hơn tôi 10 tuổi và tôi cũng đã nghe nói qua về những mối tình lãng mạn rất đẹp
của bà... Hôm tôi đáp tầu hoả ra Hà Nội, học sinh ra tiễn rất đông, và bà Kiệm
cũng có ra ga chào tôi, cùng đi với cô con gái... Hai tháng ở trường “Chính
hoá” là đoạn đời đi dạy học duy nhất của tôi cộng thêm với 1 năm làm gia sư ở
nhà bác sĩ B.D. Hồi tôi còn học ở ban thành chung, tại trường Quốc học, tôi vẫn
mơ ước một ngày kia làm giáo sư dạy trường trung học để được giảng văn thơ Việt
Nam và văn thơ Pháp cho học sinh, thủ thỉ với họ truyền cảm cho họ cái hay mà
tôi thu nhận được vào tâm trí mình, vào lòng mình nữa. Nhưng cuộc đời đã không
chiều mơ ước tuổi nhỏ của tôi, cho nên nếu tôi kể hơi dài dòng về mấy tuần dạy
tư ở Vinh thì bạn đọc cũng phải thông cảm cho chút nuối tiếc của tôi đối với
hoài bão muốn làm giáo sư dạy văn của “chàng thơ” thuở ấy.
Anh Xuân Diệu viết bài giới thiệu thơ tôi trên báo Ngày nay
Bài thơ đầu tiên của tôi đăng ở báo Ngày nay (số Tết năm Mậu
Dần, 1938) là bài Chiều xưa. Bài ấy tôi gởi cho anh Diệu xem (lúc đó tôi học
năm thứ hai tú tài ở Huế), anh Diệu bèn gởi đến báo Ngày nay bằng thư qua bưu
điện, như một bài thơ lai cảo. Thế Lữ đọc bài thơ thấy thích quá cho đăng vào số
Tết cùng trong một khung với bài Cảm xúc của Xuân Diệu. Thế Lữ khoe với Xuân Diệu
là đã phát hiện được bài Chiều xưa rất thích, và hỏi Xuân Diệu có biết Huy Cận
là ai không. Tất nhiên là anh Diệu giả lời: “Chính tôi gởi bài thơ của Huy Cận
đến báo đấy vì Huy Cận là bạn thân của tôi, tôi không muốn tự tay mang đến, để
cho khách quan”. Thế Lữ gật gù trước cái thận trọng và tế nhị của Xuân Diệu đối
với bạn của mình và đối với toà soạn nữa... Về sau Thế Lữ gặp tôi cứ hay nhắc lại
câu chuyện gởi thơ đăng báo này, nhất là khi gặp dịp Tết về...
Sau bài thơ ấy, báo Ngày nay đăng khá đều đặn thơ tôi liên tiếp
suốt cả năm 1938 và 1939. Đến ngày 17-6-1939 trên số 166 báo Ngày nay, anh Diệu
lại viết bài giới thiệu thơ tôi với đầu đề: Thơ Huy Cận (Xuân Diệu phê bình).
Đoạn mở đầu như sau:
“Đã giáp một năm nay, Huy Cận đã tới giữa chúng ta với những
bài thơ đặc biệt, với một tâm hồn có nhiều hương vị; một kho tàng tuy đương hỗn
tạp nhưng thực là giầu. Bổn phận của chúng ta đối với văn chương Nam Việt, chẳng
phải và ráng thấu hiểu để yêu mến những văn tài mới lên hay sao.... Và bài phê
bình - giới thiệu ấy kết thúc bằng đoạn sau đây: “Huy Cận! Một tâm hồn đặc biệt
quá, nồng cháy bên trong, e lệ bên ngoài, hay nói nhớ và hay làm thinh, để cho
men lòng càng rạo rực hơn nữa; một tâm hồn hay lặng yên để nước mắt chảy, không
biết khóc vì cái gì; vừa mạnh, vừa yếu, rất mới và rất xưa, rất Âu tây và rất Á
đông: nghĩa là cả con người, con người phức tạp của muôn thuở.
Thơ Huy Cận không phải là một lời hứa hẹn nữa. Thơ ông chỉ chờ
một ít thời gian để trút hẳn cái vỏ còn sót lại, và lộ ra bao nhiêu nụ hộc xanh
tốt, mạnh cứng, cho ta hưởng một hương sống rất lạ lùng.
Đến cuối năm 1940 tập Lửa thiêng của tôi ra đời thì anh Diệu
lại đề tựa, một bài tựa khá nổi tiếng trong giới văn thơ hồi bấy giờ (tựa viết
tháng 6-1940 tại Mỹ Tho). Lúc tập thơ Hai bàn tay em của tôi xuất bản (năm
1967) anh Diệu lại viết tiểu luận in ở đầu sách, và than ôi một tháng trước khi
anh mất, anh vừa viết xong tiểu luận giới thiệu tuyển tập của tôi (Thế giới thơ
của H.C). Tội nghiệp cho bạn tôi! Anh đã để ra hơn 1 năm trời để viết bài giới
thiệu tuyển tập của tôi. Anh công phu đọc đi, đọc lại không biết bao nhiêu lần
16 tập thơ đã xuất bản của tôi đến lúc đó và gần 500 bài chưa đăng báo, chưa in
sách. Anh tỉ mỉ ghi chép những câu thơ, những đoạn thơ mà anh thấy là cần sẽ
trích dẫn vào bài bình luận của anh. Anh nói đùa với tôi: “Tôi sống với ông cả
một đời, mà tôi vẫn chưa ôm được hết cái khối thơ, cái khối cảm xúc của ông!
Huy Cận ơi, chưa bao giờ Xuân Diệu viết tiểu luận về thơ vất vả như lần này! Đời
thơ giàu có của Huy Cận quần mình mệt quá.... Anh nói xong, hai chúng tôi cùng
cười xoà với nhau. Hôm 5-12-1985, anh Diệu tiễn tôi đi họp ở Sênêgan, tiễn tôi
đến chân máy bay (đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối tiễn nhau đến tận máy
bay như vậy), và anh còn dặn tôi:
“Cận nhớ mua kẹo ngon cho Diệu, thứ kẹo đặc biệt ở Paris ấy,
có đắt một chút cũng chịu khó mua, biết còn sống được bao nhiêu năm nữa mà cứ
phải nhịn thèm thì phí quá! Với lại Cận cũng phải thưởng cho bài giới thiệu tuyển
tập viết cả một năm trời chứ.... Lúc ghé qua Paris trên đường di Sênêgan tôi đã
mua một gói kẹo ngon cho bạn, có ngờ đâu lúc đem kẹo về Hà Nội là để cúng bạn...
Nhân câu anh Diệu nói “Đời thơ giàu có” của tôi tôi lại nhớ đến
hồi dầu kháng chiến chống Pháp ở tại đồn điền Tuyên Quang, một đêm trăng anh Diệu
và tôi đã tâm sự với nhau về bước đường làm thơ... Lúc đó tôi thấy làm thơ sao
khó quá, mặc dù rất muốn làm, và tôi đã hơi bi quan, thầm nghĩ không biết mình
có còn tiếp tục được sự nghiệp văn thơ không. Nay tuyển tập của tôi đã ra, với
bài giới thiệu công phu của bạn, tôi nhớ đến câu chuyện đêm trăng ở đồn điền
Tuyên Quang nửa phấn chấn, nửa bùi ngùi... Cuộc đời đi qua mau quá...
Tưởng nhớ hai nhà phê bình văn học: Trần Thanh Mại và Thiếu
Sơn
Tôi nhắc tới tên hai anh, là vì khi tôi bước vào con đường
văn thơ, với lòng yêu tha thiết và da diết tiếng nước nhà, thì tôi đã được đọc
hai quyển sách của hai anh cùng chứa chan một hoài bão ấy. Quyển Trông giòng
sông Vị của anh Trần Thanh Mại xuất bản năm 1938, phát hành ở Huế, mà tôi vội
vàng mua ở hiệu sách Hương Giang của anh Hải Triều. Tôi đọc một mạch cuốn sách,
nó làm cho tôi yêu mến Tú Xương thêm, yêu mến cái đất Vị Xuyên, quê hương của
nhà thơ, và càng nung nấu trong tôi cái lòng yêu tiếng Việt, cái chí trau dồi
tiếng Việt vốn đã có sẵn từ khi tôi học lớp nhất tiểu học. Cái cách anh Trần
Thanh Mại kể lại cuộc đời của Tú Xương (có tiểu thuyết hoá một chút) gợi lên
cho tôi một sự mê say đi theo con đường văn chương, cho dù phải gặp cảnh nghèo
túng như nhà thơ đất Vị Hoàng. Quyển sách của anh Mại là sách nghiên cứu, phê
bình nhưng cũng toát lên một cảm xúc thơ, một không khí thơ, có lẽ vì sự cảm thụ
thơ của anh có bề sâu và sự đồng cảm của anh với nỗi lòng của tác giả cũng thống
thiết. Mấy câu thơ của Tú Xương để lên đầu sách dưới bức vẽ nhỏ minh hoạ ngôi
nhà năm gian lợp lá gồi càng tăng thêm ý vị thơ của cuốn sách:
Nhà gỗ năm gian lợp lá gồi,
Trông giòng sông Vị tựa non Côi,
Đầu nhà khanh khách vào làm tổ
Ngồi thấy chim con nó há mồi.
Sau khi đọc quyển sách của anh, trong lòng tôi đầy một sự cảm
tình đối với anh Trần Thanh Mại. Lúc đó anh làm thư ký ở kho bạc Huế, cùng với
anh Phan Văn Dật (nhà thơ). Tôi có tìm đến gặp anh ở kho bạc và nói chuyện với
anh, tỏ lòng hoan nghênh quyển sách của anh. Sau đó tôi còn gặp anh nhiều lần ở
ngoài phố, ở trường tư Hộ Đắc Hàm mà hình như anh có đến dạy văn mỗi tuần vài
giờ ở đó. Anh thường mang trong tay quyển Trông giòng sông Vị của anh, điều ấy
không làm cho tôi buồn cười, mà trái lại còn gợi lên cho tôi cái thú làm văn
chương... Vả lại Trông giòng sông Vị là cuốn sách của anh Mại, ai mà chẳng muốn
khoe đứa con đầu lòng của mình. Tiếp theo quyển sách của anh Mại là quyển Phê
bình và Cảo luận của Thiếu Sơn ra đời. Tôi cũng đã mua ngay quyển ấy và cũng đọc
một mạch, rất say sưa. Trong cuốn này Thiếu Sơn có những bài phê bình nhân vật
(như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Khắc Hiếu, Trần Trọng Kim, Hồ Biểu
Chánh, Tương Phố nữ sĩ, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Khôi), và phê bình ba
quyển sách: Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và
Người vợ hiền của Nguyễn Thời Xuân. Cuối sách là mấy bài Cảo luận: Nói chuyện
quốc học, Nói chuyện tiểu thuyết, Báo giời và văn học quốc ngữ.
Văn của anh Thiếu Sơn chưa thật mới, còn pha biền ngẫu nhiều,
nhưng tôi đọc vẫn rung động vì lối văn nửa cổ nửa kim ấy vẫn chứa đựng được những
cảm thụ tinh tế, sâu sắc của anh, có thể nói là cảm xúc rung động của mình trước
những tác phẩm, hay trước những con người mà anh cảm mến. Hãy kể một ví dụ: kết
thúc bài phê bình Huỳnh Thúc Kháng, anh viết: “Nhà chí sĩ cũng như khách đa
tình bao giờ cũng có cái tâm lý thiên lệch: khách đa tình thì thiên lệch về
tình, nhà chí sĩ thì thiên lệch về nước”. Lại một ví dụ khác: viết về Tản Đà
(Nguyễn Khắc Hiếu), anh có đoạn: “Trong cõi lòng đó (cõi lòng nhân loại), từ
thượng cổ đến nay, những sự bi thương oán cảm, những điều khoái lạc ham vui,
không bao giờ là không có, mà cũng không bao giờ là không sanh. Thương ai mà ngậm
ngùi? Nhớ ai mà thơ thẩn? Mất ai mà đau lòng? Cùng ai mà vui sướng? Ta không có
văn tài mà tả diễn được ra, thì nhà thi sĩ chính là để giúp ta mà cho ta coi được
tới cái cõi lòng của ta vậy...
Cuốn sách của anh Thiếu Sơn cũng chứa chan một tinh thần yêu
trọng quốc văn, cùng một hoài bão xây dựng nền văn học, nền văn hoá dân tộc cho
có bản sắc. Tất nhiên tôi không đồng ý hết những điều nhận xét của anh về nhân
vật hay về tác phẩm được anh phân tích, nhưng cái điều tôi quí ở anh là tấm
lòng đối với tiếng nước nhà. Sau này tôi muốn tìm gặp anh để nói chuyện văn
thơ, nhưng không có dịp gặp vì anh làm sở bưu điện ở trong Nam. Mãi năm 1974,
lúc anh ra Hà Nội dự Hội nghị MTTQ, anh em mới gặp nhau sau bao nhiêu năm biết
nhau qua tác phẩm. Anh đề tặng tôi và anh Xuân Diệu quyển Phê bình và cảo luận
mà tôi đã mua được ở một hiệu sách cũ.
Xuân Sanh và tôi gởi tập thơ cho Nhà xuất bản Mai Lĩnh ở Hải
Phòng
Hè năm 1935, Xuân Sanh, tôi và bạn Nguyễn Xuân Tám cùng ở lại
Huế như tôi đã kể ở một đoạn trên.
Xuân Sanh và tôi thấy đăng trên các báo có Nhà xuất bản Mai
Lĩnh ở Hải Phòng xuất bản thơ và tiểu thuyết bèn nảy ra cái ý là gởi thơ cho
nhà này. Hai anh em tập hợp được một tập thơ chung khoảng 50 bài, lấy nhan đề
gì tôi cũng quên mất, chép rất cẩn thận và ra bưu điện gởi tập thơ theo lối bưu
kiện bảo đảm. Kèm tập thơ chúng tôi có thư dặn nhà xuất bản là tiếp được tác phẩm
của chúng tôi có định xuất bản hay không, thì cũng trả lời cho chúng tôi biết.
Chúng tôi chờ cho đến hết hè cũng không thấy thư trả lời, rồi tựu trường vào vẫn
mong ngóng chờ thư từ Hải Phòng gởi đến... Vậy là nhà xuất bản Mai Lĩnh không
xuất bản tập thơ của hai chúng tôi, mà cũng không thèm trả lời. Nhưng không phải
vì vậy mà chúng tôi nản làm thơ. Sau này, nhà xuất bản Mai Lĩnh phải đóng cửa,
vì thua lỗ, nhưng chắc chắn Xuân Sanh và tôi không chịu một chút nào trách nhiệm
trong sự thua lỗ ấy. Biết đâu, nếu xuất bản tập thơ của chúng tôi thì nhà xuất
bản còn có thể kéo dài tuổi thọ thêm vài tháng!... Có một người ở Hải Phòng, có
biết nhà xuất bản này, về sau gặp tôi có cho tôi biết là quảng cáo thì trưng
cái tên nhà xuất bản cho nó oai, chứ sự thực thì cũng chả in được bao nhiêu
sách, và chủ yếu là ông chủ làm nghề khác, buôn bán hàng xuất khẩu là chính.
Nhưng dạo ấy cũng có cái mốt là một số nhà buôn cứ muốn kiêm cái tên giám đốc
nhà xuất bản này nọ...
Những tháng tôi thực tập kỹ sư ở đồn điền Canh nông
Cuối năm 1941, tôi được cử lên thực tập kỹ sư ở đồn điền thí
nghiệm Canh nông Tuyên Quang (đồn điền của nhà nước) cùng với anh Hoàng Văn Đức,
bạn cùng lớp với tôi ở trường cao đẳng nông lâm. Tôi đã xin làm việc ở sở
nghiên cứu tằm tang trong Viện nghiên cứu nông lâm toàn Đông Dương, tại Hà Nội.
Và do đó, trong năm học cuối cùng, tôi đi sâu vào môn học về sâu bọ, và chuyên
khoa là nghiên cứu về tằm và ong. Yêu cầu của tôi được giám đốc nhà trường và
Viện nghiên cứu nông lâm chấp nhận dễ dàng, là vì không ai trong lớp tôi và cả
những lớp trước đâm đơn vào Viện nghiên cứu. Còn tôi, sở dĩ xin vào Sở nghiên cứu
tầm tang, là cốt có một chân làm tịnh tại Hà Nội, để còn làm thơ, viết văn. Nói
một cách khác là tôi chọn Hà Nội, chứ cũng chả phải chọn cái nghề mổ xẻ con tằm,
soi kính hiển vi các bệnh gai của tằm, hay là ngồi hàng giờ bên tổ ong theo dõi
con ong chúa đẻ trứng, và các con ong thợ tha phấn về tổ. Tuy vậy cái chuyên
môn tằm tang và ong mật cũng phù hợp với cái thú thôn dã của tôi đã có từ bé.
Trong lúc chờ đợi để nghiên cứu tại Sở ở Hà Nội, thì tôi phải thực tập ba tháng
ở đồn điền, để biết công việc chung của một kỹ sư canh nông, từ trồng trọt cho
đến chăn nuôi. Anh Đức thì sẽ về làm việc ở Sở canh nông Bắc Bộ. Anh đi sâu
nghiên cứu môn trồng trọt các cây công nghiệp ở đồn điền: mía, cà phê, chè, trầu,...
và anh cũng xem xét việc chăn nuôi bò, lợn, gà ở đồn điền. Tất nhiên tôi cũng
theo dõi, tìm hiểu các môn trên, và được anh Đức giúp đỡ rất nhiều, gần như là
phụ đạo cho tôi trong chuyến thực tập này. Đồn điền có một ông giám đốc và một
anh phó giám đốc người Pháp. Tay giám đốc mà tôi quên mất tên thì suốt ngày uống
rượu, và cứ chiều thứ năm, thứ bảy và chủ nhật là sang thị xã Tuyên Quang vào
câu lạc bộ Tây để uống rượu và chơi bài. Bà vợ không đẹp lắm, nhưng cũng có
duyên, và luôn luôn đi cặp kè chồng, cả những khi tay giám đốc đi thăm các vườn
chè, vườn cà phê hay ruộng mía. Mỗi lúc tôi gặp lão giám đốc, thường là gặp ở bến
đò đi sang thị xã, thì tôi nói chuyện với lão về văn thơ, nhất là văn thơ Pháp
nhiều hơn là về trồng trọt chăn nuôi. Hai vợ chồng nghe tôi nói chuyện cũng tỏ
ra thích thú, và hình như câu chuyện của tôi cũng gợi lại sự nhớ nhà nhớ nước của
hai vợ chồng, gợi lại những kỷ niệm tuổi nhỏ của họ qua những liên tưởng mà câu
chuyện văn thơ Pháp của tôi dẫn đến. Còn tay phó giám đốc, trẻ hơn, thì không
biết gì về chuyên môn, đại khái anh ta như là một người cai đồn điền ở bên Pháp
được cử về đây để “quản lý” công việc làm của công nhân đồn điền ở đây. Thế
nhưng thỉnh thoảng anh ta cũng tỏ ra có lắm chuyên môn, cũng có nhận xét này nọ
trước các vườn thí nghiệm, bằng cách học lỏm các thầy tham biện canh nông ở đồn
điền như ông Tri, ông Điền... Nhưng anh ta làm ra điều có hiểu biết thế thôi để
ra oai với đám công nhân, chứ không dám lên mặt với chúng tôi, nhất là với các
ông ở lâu năm trong đồn điền như ông Tri, ông Điền, ông Tuy.
Anh phó giám đốc này tên là Mulra, có một cô vợ trẻ và khá đẹp
Mụ vợ này chiều thứ bảy nào cũng đi về Hà Nội, và chiều tối chủ nhật mới trở về
đồn điền. Thỉnh thoảng lắm tay phó giám đốc Mulra mới cùng vợ đi về Hà Nội. Người
ta kể nhiều chuyện lắm xung quanh những chuyến đi thăm Hà Nội mỗi cuối tuần của
bà phó giám đốc, hình như tay Mulra cũng đoán biết đường đi lối về của vợ,
nhưng cũng lờ đi, và chấp nhận những sự bất thường trong cuộc sống, miễn là nó
không xáo động quá mức cuộc sống yên phận của anh... Những nhân vật có bản lĩnh
độc đáo, có cá tính hay ở đồn điền lại là những ông tham biện canh nông mà tôi
đã kể tên ở trên. Ông Điền là một nhà chuyên môn giỏi, đặc biệt giỏi về sự lai
giống của cây cà phê, và trong các cách lai giống thì ông là bậc thầy trong việc
ghép giống “gteffage”. Có thể nói ông ghép một trăm cành thì sống một trăm phần
trăm.
Anh Đức và tôi học được ở ông nhiều lắm. Khi nào ông nói đến
lão giám đốc và phó giám đốc đồn điền, thì có khi ông văng tục, vì ông cho họ dốt,
nhưng vì có quyền cho nên làm oai. Nhưng điều mà tôi nhớ người về ông Điền là mối
tình dai dẳng của ông với chị T. Chị T. là một công nhân làm ở đồn điền đã lâu
năm, có nhan sắc tính tình rất thuỳ mị. Ở hoàn cảnh khác có thể chị đã có một
cuộc đời nếu không lộng lẫy thì cũng êm đẹp. Nhưng vì hoàn cảnh nghèo, và vì
nhiều sự không may khác nữa chị phải buộc chân vào cái nghề làm cỏ, hái cà phê,
bón phân các đồi chè, ruộng mía. Trong sự buộc chân chị lại đồn điền cũng có phần
trách nhiệm của ông Điền, vì mối tình của ông đối với chị đằm thắm, bền chặt,
nhưng sự bền chặt này cũng là một sự khống chế. Các chị em công nhân đều thông
cảm với chị T., và thường tránh đi để cho chị T. và ông Điền được thoải mái tâm
sự trong các vườn thí nghiệm, hoặc ở trong kho phân phát các thứ phân hoá học...
Lúc anh Đức và tôi thực tập ở đó, chị T. đã hơi đứng tuổi, nhưng còn đẹp, và
dáng đi của chị có một vẻ gì âm thầm, gần như ngượng ngùng; và chị rất ít nói,
chỉ thỉnh thoảng mỉm cười, mà sao cái mỉm cười của chị nó buồn và héo thế! Chị
T. không có con, sống cuộc đời âm thầm, “bên cạnh” ông Điền, chắc là an phận
trong sự héo mòn. Ở đồn điền Tuyên Quang rất nhiều nắng, rất nhiều gió nhất là
những ngày cuối năm, hoặc đầu xuân, nhưng tâm tình của chị T. thì gợi lên trong
tâm trí tôi một buổi chiều mù sương se lạnh...
Ông Tri cũng là một nhà chuyên môn giỏi của đồn điền, nhưng
tính tình ông chất phác, không tài ba như ông Điền. Suốt ngày ông chỉ chăm lo
làm việc trong các vườn thí nghiệm, tham gia mọi công việc trồng trọt hay chăn
nuôi với công nhân, không nề hà chân lấm tay bùn... Ngày chủ nhật thì ông cặm cụi
làm việc gia đình cùng vợ con, ít khi đi chơi, ngay thị xã trước mặt đồn điền
ông cũng ít sang.
Còn ông Tuy là một chuyên gia về cơ khí của đồn điền, các máy
móc của đồn điền hư hỏng đều qua tay ông chữa, kể cả hệ thống điện nước. Mắt
ông hơi kèm nhèm, nhưng vẫn rất tinh để xem xét và điều chỉnh các chi tiết
trong các ổ máy. Anh Đức và tôi được phân công ở một cái phòng bên cạnh mấy
gian gia đình ông ở nên rất rõ tính nết của ông. Ông cũng chăm làm, và được
giám đốc và phó giám đốc đồn điền rất nể. Bà Tuy buôn bán ở bên chợ Tuyên
Quang, và thu hoạch cũng khá, nên gia đình ông bà sống khá sung túc, nuôi một
cô con gái và cậu con trai ăn học đến nơi đến chốn. Không may cho các gia đình,
bom Mỹ thả xuống hồi Mỹ Nhật đánh nhau đã sát hại cả ông bà. Trong kháng chiến
chống Pháp tôi có gặp lại cô con gái và cô kể lại thảm hoạ xảy đến với gia đình
cô; cô và người em giai phải tự lập, và đã can đảm xây dựng cuộc sống rất có phẩm
chất trong kháng chiến.
Một ông bạn nữa ở đồn điền là ông Q. Ông này không giỏi chuyên
môn lắm nặng về việc hành chính, nhưng có được học ít nhiều ở cấp thành chung
nên sự giao dịch của ông cũng gây được cảm tình với mọi người, kể cả với lão
giám đốc và tay phó giám đốc. Chỉ có một cái tội là ông nghiện thuốc phiện và
làm khổ vợ con về cái nghiện ngập của ông. Nhiều lần ông định bỏ hút, nhưng rồi
tính nào lại tật ấy cơn nghiện lên nó vật vã ông, ông như người sắp chết, thì
bà vợ lại tất tưởi đi tìm xái về cho chồng ngậm cho đỡ cơn...
Kỷ niệm tốt đẹp nhất mà các nhân vật ở đồn điền để lại cho
chúng tôi là ông giáo Tr. Ông Tr. là một vị giáo học có trình độ văn hoá, được
bổ nhiệm về đồn điền để dạy văn hoá cho học sinh trường trung cấp canh nông đặt
tại đồn điền. Ông rất nho nhã, và ham đọc sách báo. Chính anh Đức và tôi đã đến
nhà ông để mượn các số tạp chí Nam phong và một số sách quốc văn khác để đọc
trong những tháng chúng tôi ở đó... Những tháng anh Đức và tôi thực tập ở đồn
điền canh nông, là những tháng đẹp trong đời sinh viên. Ngoài việc nghiên cứu tại
ruộng và vườn thí nghiệm, chúng tôi còn giao du với nhiều bạn quanh vùng, với
các thầy giáo, với các thầy ở bên cái mỏ than nhỏ gần thị xã nữa. Riêng tôi những
ngày chủ nhật, hay đi chơi những cảnh đẹp gần đó, như có lần tôi đã ở suối Yên
Lĩnh suốt một ngày, anh Đức sợ tôi lạc đi đâu phải mang súng săn đi tìm. Nhưng
chính ở suối Yên Lĩnh tôi đã có dịp viết mấy câu thơ tình: “Trưa nay suối biết
nỗi niềm - Vui này đã nguyện đến tìm nước đưa - Lòng vui lừng suối ban trưa -
Nghìn năm rồi lại mơ hồ chiêm bao... Đã 45 năm qua từ buổi trưa Yên Lĩnh ấy.
“Nghìn năm rồi lại mơ hồ chiêm bao!”...
Xuân Diệu với hai nữ thi sĩ Amrita Pritam và Blaga Dimitrova
Anh Xuân Diệu thường nói đùa: “Không biết tôi sinh dưới dấu
hiệu của ngôi sao nào, mà thường tôi được sự che chở của phụ nữ. Đó cũng là lời
đoán bói bài của anh Nguyễn Xuân Khoát cho tôi năm 1939”.
Quả thế, trong đời Xuân Diệu đã gặp rất nhiều phụ nữ tốt bụng
giúp đỡ anh một cách tận tình, mà cũng có thể nói là đã che chở anh, che chở
cái vận mệnh của anh trên đường đời. Có những trường hợp không phải là che chở,
cũng không phải là giúp đỡ, mà là một mối tình cảm bền chặt qua bao nhiêu năm
tháng nó cũng là một nỗi an ủi lớn cho tấm lòng dễ cảm thấy cô đơn của anh.
Năm 1956 anh đi họp Ban chấp hành Hội nhà văn Á Phi (cùng đi
với Nguyễn Công Hoan), tại Niu Đê li, Ấn Độ. Sau cuộc họp anh còn đi tham quan
một số nơi, những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước Ấn Độ mấy nghìn
năm văn hiến. Trong chuyến đi này anh đã gặp và làm quen với nữ thi sĩ Ấn Độ
Amrita Pritam, một nữ thi sĩ khá nổi tiếng. Hai người trao đổi câu chuyện thơ
văn, và sau đó dịch thơ của nhau in trên báo mỗi nước. Bà Amrita Pritam có lẽ
cũng trạc tuổi anh Xuân Diệu (tôi đoán thế vì còn giữ bức ảnh hai người chụp tại
Hội nghị) có một cảm tình nồng thắm với nhà thơ Việt Nam, và bà rất thích mấy
bài thơ của anh Diệu trao tay cho bà (Bản dịch ra tiếng Anh): Xuân không mùa, Lời
kỹ nữ, Chỉ ở lòng ta, Thơ duyên... Bà Pritam đã sửa sang lại chút ít bản dịch
mà anh Diệu đưa và đã cho đăng mấy bài thơ ấy ở trên báo Văn học Ấn Độ. Sau đó
bà thỉnh thoảng gửi thư cho anh Diệu, và có dịp ai sang Việt Nam là bà gửi các
tập thơ của bà tặng người bạn thơ Việt Nam. Mối duyên văn tự ấy kéo dài cho đến
ngày anh Diệu mất. Tôi không biết bà Pritam có nhận kịp thời cái tin người bạn
thơ Việt Nam từ trần không. Tôi đang định sẽ nhờ Sứ quán ta tìm địa chỉ muộn.
Đây là một mối duyên thơ đẹp nồng thắm giữa hai nhà thơ trữ tình bên bờ Ấn Độ
Dương nước trong xanh và sâu thẳm.
Nữ thi sĩ Blaga Dimitrova
Là người Bungari, đã đến Việt Nam những ngày đầu của cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965 nếu tôi không nhớ nhầm). Chị sinh năm 1923,
lúc sang Việt Nam chị đang ở cái tuổi thanh niên thứ hai của chị, còn giữ cái đẹp
lộng lẫy của tuổi thứ nhất.
Gặp chị lần đầu chúng tôi cứ ngỡ là chị mới ngoài ba mươi.
Nhưng cái đẹp Blaga là một cái đẹp có thể nói là một cái đẹp lắng đọng mặc dầu
lộng lẫy, vẫn có nhiều nét thuỳ mị bên cạnh những làn sắc sảo, cái đẹp vừa của
phương Bắc, vừa của phương Nam, có chút gì như pha mầu Tiểu Á. Bởi vì chị đẹp
nên tôi không thể không nhắc đến điều đó, nếu tôi làm lơ không giới thiệu chân
dung hình thể của chị thì cảm thấy như thiếu lễ độ với một giai nhân. Nhưng điều
làm chúng tôi ngay phút đầu cảm mến sâu sắc người bạn thơ của xứ “hoa hồng” là
tình cảm sâu xoáy của chị đối với Việt Nam, đối với cuộc chiến đấu anh dũng và
đầy hy sinh của nhân dân ta. Trong cuộc tiếp xúc chị không nói nhiều, chị đặt
những câu hỏi để nghe những câu trả lời của chúng tôi, của những người chị gặp
dọc đường, của những bộ đội, dân quân chị gặp trên đường hay trong địa đạo.
Blaga cũng như Monica Varnenska, đã sống hết lòng mình cuộc chiến đấu của nhân
dân Việt Nam, hai chị cũng đau xót tận đáy lòng mình những hy sinh mà các chị
đã chứng kiến. Có thể nói thật sự các chị đã vận vào mình cái số mệnh đau
thương và anh dũng của dân tộc Việt Nam. Hai chị và Sara Lidman (nữ sĩ Thuỵ Điển)
tự nhiên đã có một cảm tường gần giống hệt nhau về những ngày sống ở Việt Nam.
Các chị nói: “Ở đây tôi ngủ giấc ngủ dưới một bầu trời đầy bom đạn, một giấc ngủ
thật sự là dưới bom đạn. Nhưng chưa bao giờ tôi lại thấy yên với lòng mình đến
thế, yên với lương tâm đến thế. Đây thật là mảnh đất của lương tâm loài người”.
Riêng Blaga Dimitrova đã viết hơn 100 bài thơ ca ngợi cuộc
chiến đấu đầy hy sinh và anh dũng của nhân dân Việt Nam. Tập thơ này anh Xuân
Diệu đã dịch ra tiếng Việt và xuất bản với nhan đề Vây giữa tình yêu. Tôi xin
nhắc ra đây vài ý thơ trong tập thơ nặng tình nghĩa ấy:
Người đàn bà mang thai: Chị nông dân ơi, chị đang đi trên đường
đê kia, cái bụng to tròn đi trước chị. Việt Nam ơi, người sắp sinh thành một thế
giới mới nào đây!...
Chiếc đàn bầu: đàn bầu một dây, dây đàn căng căng mãi, căng đến
lúc gần như sắp đứt. Và trên dây căng thẳng ấy dội lên những âm thanh thiết tha
huyền diệu. Việt Nam ơi, trên dây đàn của Việt Nam đang nổi lên những giai điệu
thiết tha tân kỳ, huyền diệu làm giàu cho giai điệu của loài người.
Hương biệt ly: ở thị xã Phủ Lý, trong bóng tối đầu hôm, anh
chị nhìn nhau, không nói một lời. Chị hít thở mái tóc của anh, hít tận sâu đáy
phổi cái mùi hương tóc đẫm mồ hôi và bụi đường. Hít thật sâu để rồi mai đây xa
nhau chị thở cái hương biệt ly ấy để mà sống, để mà chờ cho đến ngày gặp lại...
Anh Xuân Diệu và tôi đã hết sức xúc động khi được đọc những bản
thảo đầu các bài thơ mà chị dịch cho chúng tôi nghe qua tiếng Pháp. Có cái gì
đau xé xoét đắng trong giọng thơ của chị, mà chan chứa lòng tin tường, cháy bỏng
lửa căm thù. Cứ ngày ngày, chị tâm sự với Xuân Diệu về những nỗi đau của chị, về
những phấn chấn của chị và thế là hai người bạn thơ như cùng nhau sáng tạo lại
những bài thơ đầy tâm huyết kia ra tiếng Việt.
Có hôm chúng tôi đang ngồi nói chuyện với nhau ở khách sạn Thống
Nhất (Hà Nội), thì máy bay Mỹ ập tới và ba chúng tôi chạy gấp xuống hầm. Chị
Blaga hồi hộp, nhưng không chút sợ hãi nói với chúng tôi:
“Chắc chắn là không chết, nhưng nếu có sập hầm mà cùng nhau
chết trong niềm tin thì cũng là sống mãi....
Tất nhiên là chúng tôi đã không chết, và tối hôm đó Blaga đã
viết một trang nhật ký dài. Nhớ lại những ngày kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sống
với đồng bào, sống với bạn trong chiến đấu hy sinh, sao mà đẹp thế, sao mà nức
lòng thế! Đôi lúc bản thân tôi nhớ lại những giờ phút ấy như hít thở thêm ôxy
vào tim phổi mình.
Blaga Dimitrova yêu thương Việt Nam đến nỗi muốn có một em bé
Việt Nam ở với mình suốt đời, và như vậy là chị đã xin bé Hà, con một đồng chí
công chức nghèo ở Hải Phòng làm con nuôi. Theo chị việc nuôi con nuôi là vật thể
hoá sợi dây tình cảm của chị nối với đất nước đau thương và dũng cảm này. Chị
đã kể câu chuyện của chị với bé Hà trong một quyển tự sự dài mà chúng ta đã dịch
ra bằng tiếng Việt với cái tên Sự phán xét cuối cùng. Quyển này đã được dịch ra
tiếng Pháp và tiếng Anh, và độc giả đều đọc quyển tự sự với một niềm cảm thông
sâu sắc với tác giả và với cuộc chiến đấu của Việt Nam. Tôi kể về Blaga
Dimitrova cặn kẽ như vậy, cũng là kể về mối tình bạn sâu sắc đầy tình nghĩa giữa
chị và nhà thơ Xuân Diệu. Trong những năm gần đây Blaga Dimitrova có lúc ốm nặng
có lúc bệnh nguy kịch tưởng như không qua khỏi, thì anh Diệu đã nhiều lần viết
thư động viên an ủi bạn động viên với tất cả cái suy ngẫm của anh về cuộc sống,
về số mệnh của mỗi con người, về sự phấn đấu của bản thân anh để vượt qua những
lúc đau yếu, những lúc buồn nản nữa... Nghĩa là anh chia xẻ với bạn những lo âu
và những kinh nghiệm sống của mình. Chính Blaga Dimitrova đã nói với tôi và với
anh Tế Hanh rằng những bức thư của anh Diệu thật sự đã giúp chị vượt qua những
lúc khó khăn, vượt qua những phút mà chị tưởng như cụt đường trước mắt. Blaga
Dimitrova đã viết một bài thơ tặng Xuân Diệu, để vào tập thơ của anh Diệu được
dịch ra tiếng Bungari và đã xuất bản tại Sofia năm 1983. Ngày được tin anh Xuân
Diệu mất, Blaga Dimitrova đã tập hợp một số văn nghệ sĩ Bungari cùng chị mang
hoa và hương đến viếng bạn tại sứ quán Việt Nam tại Sofia (tiếc rằng ở sứ quán
không thiết lập bàn thờ cho nhà thơ vừa mất, nên hương và hoa chị trao tay cho
đồng chí đại sứ với những lời chia buồn đầy nước mắt của chị Blaga).
Blaga đang có ý định viết một quyển sách về nhà thơ Xuân Diệu,
nói về đời và đời thơ của nhà thơ, và cũng để kể lại tình bạn, duyên thơ của
hai nhà thơ Bun - Việt.
Anh Diệu hát Huế, hát cải lương và ngâm sa mạc
Như đã kể lại trong chương Tuổi nhỏ của Xuân Diệu, anh Diệu
hát Huế, hát cải lương rất hay đến nỗi thầy trò trường Qui Nhơn liệt anh vào
hàng đào kép cải lương. Lúc chúng tôi mới kết bạn với nhau ở trường Quốc học, một
cái thú của tôi là nghe anh Diệu hát Huế (Nam ai, Nam bằng, Tứ đại cảnh, Phú lục...,
nhất là hát nam bằng) và tôi rất mê cái giọng ngâm sa mạc của anh. Tôi đã từng
nghe ngâm sa mạc trong các đĩa hát Bé ka (các bài anh Khoá, các đoạn Kiều...).
Nhưng đến lúc nghe anh Diệu ngâm thì tôi khám phá ra một chân trời giai điệu mới,
tất cả cái xa vắng nghìn đời tất cả cái mênh mông của cuộc sống thật sự đã được
thể hiện qua giọng luyến láy của anh, và tôi cảm thấy cái sa mạc của cảnh đời của
tình đời qua giai điệu và giọng ngâm. Và tôi cũng thấy cái mênh mông bát ngát của
câu thơ lục bát mà tôi đã thấm nhận qua truyện Kiều và ca dao, một lần nữa lại
được thể hiện lên qua giọng ngâm đầy sáng tạo của bạn. Có mấy lần anh Diệu lười
làm luận Pháp văn (lúc đó anh Diệu học năm thứ ba, tôi học năm thứ nhất tú tài)
nhờ tôi làm hộ, thì tôi mặc cả đùa: “Diệu phải ngâm mấy bài sa mạc cho Cận nghe
thì mới có bài luận làm thay”. Thế là tôi lại được nghe bao nhiêu là bài sa mạc
buổi chiều, buổi tối và khích lệ cho tôi là anh lấy những bài thơ lục bát của
tôi mà ngâm... Tất nhiên là tôi phải làm bài luận thay anh, và những bài ấy
cũng được điểm khá cao, cũng là ngang giá với cái giọng mê ly của anh. Đến
tháng 5-1946 anh được cử tham gia phái đoàn quốc hội sang thăm ngoại giao nước
Pháp, thì anh lại nhờ một bà con Việt kiều ghi vào một đĩa hát bài thơ Ngậm
ngùi của tôi mà anh ngâm sa mạc với một giọng hết sức xúc cảm, thương nhớ, có lẽ
một phần do nội dung của bài thơ, mà một phần cũng do nhớ nước và nhớ bạn ở
nhà.
Tiếc rằng cái đĩa hát ghi giọng sa mạc ấy đã bị cháy cùng cái
rương của tôi gửi ở Hương Khê hồi đầu kháng chiến. Bây giờ Diệu mất rồi, tôi chỉ
còn tìm lại trong trí nhớ, trong tin nhớ cái giọng ngâm mê ly, sâu thẳm của bạn.
Tập 2- M
Những buổi chiều ở trường Quốc học
Khi anh Diệu và tôi mới kết bạn với nhau, thường buổi chiều
sau giờ học, và trước giờ ăn cơm tối, rủ nhau ra sân cỏ rộng phía sau trường,
bãi cỏ này cũng là bãi cỏ đá bóng của học sinh, thường đi dạo chơi với chúng
tôi có anh Nguyễn Định lúc đó học dưới tôi một lớp, và cũng rất mê thơ văn. Ba
chúng tôi đọc cho nhau nghe những bài thơ mới làm, có khi đọc cả những bài đang
làm dở dang. Thật ra tôi với anh Định cố khêu gợi cho anh Diệu đọc những bài
chưa đăng báo của anh. Sân bãi rộng, cỏ xanh mượt, gió hiu hiu se lạnh rất phù
hợp với những buổi “liên hoan thơ” giữa ba chúng tôi. Tôi còn nhớ một chiều,
anh Diệu nhìn mấy cây trinh nữ (tức là cây cỏ thẹn, trong Nam gọi là cây hổ
ngươi), rồi khe khẽ ngâm:
Đỡ mấy đài xiêu, nâng mấy nhị,
Hồn ơi, phong cảnh cũng là ngươi.
Hai câu thơ này ở trong một bài về sau đã in trong tập “Gửi
hương cho gió”. Sở dĩ tôi nhắc hai câu trên là vì nó gợi lên cái không khí man
mác, cái chất thơ tiềm ẩn trong những buổi chiều Quốc học của chúng tôi, cái
bâng khuâng khó tả trong sự hoà nhập giữa tâm hồn của chúng tôi với cái hồn
mênh mang của cảnh vật. Anh Diệu không đàm luận nhiều về cách làm thơ, nhưng mỗi
lần anh đọc xong một bài thơ thì anh Nguyễn Định lại như rút ra những kinh nghiệm
về bố cục, về câu chữ, còn tôi thì nói lên tâm đắc của mình về tứ thơ và ý thơ.
Thật ra cả anh Định và tôi cũng không bình luận gì nhiều, chủ ý là cốt nghe thơ
sáng tác như ở trong lò mới ra. Cũng trong một buổi chiều anh Diệu đã nhẩm đi
nhẩm lại với chúng tôi mấy câu trong bài “ý thư”:
“Những chút hồn buồn trong lá rụng,
Bị nhàu ai tưởng dưới trăm chân.
Trăm hoa giã cánh rơi không tiếng
Chẳng hái mà hoa cũng hết dần..
Anh Diệu ra đảo Cát Bà suýt bị chết đuối ngoài biển
Liền sau Cách mạng tháng Tám, Tổng giám đốc thương chính là
anh Trịnh Văn Bính cử một đoàn viên chức thương chính ra đảo Cát Bà để nắm tình
hình về công việc thuế quan ngoài ấy. Đoàn gồm 4-5 người, trong đó có anh Xuân
Diệu (mặc dù lúc đó anh Diệu không còn là nhân viên thương chính nữa). Lúc trở
về bị một cơn bão nhỏ ập đến bất thường, thuyền tròng trành giữa biển có lúc tưởng
đắm đến nơi, nhưng rồi anh em chở thuyền khéo lèo lái cho nên cũng cập được đến
bờ Hòn Gai, nhưng vào đến gần bãi thì một cơn sóng to hất mấy người xuống nước
ướt như chuột lột. Cùng đi với anh Diệu có đồng chí tham tá nhà Đoan (là anh
Uyên, hiện nay còn sống) về kể chuyện lại rất tỉ mỉ chuyến đi đảo Cát Bà nguy
hiểm ấy. Sở thương chính đã uỷ lạo đoàn cán bộ bằng một bữa cơm... Đó là lần cuối
cùng mà anh Xuân Diệu làm nhiệm vụ “tây đoan” trong đời anh. Suýt nữa thì chết đuối
mất một nhà thơ.
Anh Diệu ngã xe đạp gãy tay
Mùa hè 1943, sau khi đã từ Mỹ Tho về Hà Nội ở với tôi, ở số
nhà 61 Hàng Bông, một hôm tôi đang ngồi theo dõi sự sinh nở của mấy con bọ ăn hại
lá dâu tại Sở nghiên cứu tằm tang, thì được anh giúp việc nhà là anh Hạp đến
báo cho biết là anh Diệu đã ngã xe đạp ở phố Tràng Thi, gãy tay trái, và đã phải
vào bệnh viện để bó bột. Tôi cấp tốc chạy về nhà và vào bệnh viện thì được biết
qua chiếu X quang cả hai xương ở cổ tay đều bị gãy. Bó bột được ba tuần mở ra
xem thử thì xương vẫn chưa liền. Lại phải tháo ra nắn lại và bó bột lại, rất
đau. Lần sau này Bác sĩ Lê Khắc Quyền tự tay bó bột cho anh Diệu, không những hết
sức cẩn thận mà với một lòng trìu mến nhà thơ.
Anh Diệu cứ phải mang cái tay trái bó bột hơn một tháng, và
đã đi vào Sài Gòn với tôi với cái tay bó bột ấy, và ra tiễn tôi ở bờ sông Sài
Gòn lúc tôi đáp ca nô đi lên Phnông-pênh để nghiên cứu việc trồng dâu nuôi tằm
dọc hai bờ sông Mê Công trên đất Campuchia. Anh Diệu về sau nhớ mãi ơn bác sĩ
Quyền và ra tập thơ nào cũng tặng bác sĩ.
Cuộc đời đau khổ của em gái tôi (O Điểu)
Em gái thứ nhất là o Trà, tôi đã có dịp nói đến trong phần kể
về tuổi nhỏ của tôi; em gái thứ hai là o Điểu cũng có một cuộc đời lận đận, đau
khổ. O thông minh, được học ít nhưng học đến đâu nhớ đến đó. Và o cũng chăm làm
như o Trà, đầu tắt mặt tối suốt ngày, đi cày đi bừa, gặt hái, gánh nước, nấu
cơm... Tất cả công việc gia đình là do hai o gánh vác cùng mẹ tôi, không một lời
than van, không một phút uể oải hoặc chán nản.
O Điểu sọi người, trong làng ngoài xóm nhiều người muốn hỏi
làm vợ, muốn xin làm dâu. Cân nhắc mãi sau cùng bố mẹ tôi gả o cho con ông T.C ở
xóm giữa.
Nhà ông T.C. khá giả, bản thân ông T.C. lại kiêm nghề thuốc bắc,
cho nên gia đình cũng có vẻ “sang trọng”. Anh D. chồng o Điểu cũng có học chút
ít, lúc đầu cũng thương yêu vợ, nhưng không hiểu về sau chuyển biến trong gia
đình thế nào mà anh ta nghe bố mẹ đâm ra hắt hủi vợ. Ông T.C. thì đặc biệt tàn
tệ, đòi đuổi o về nhà, mà giữ lại con là cháu ruột của ông. O Điểu về nhà than
thở với bố mẹ tôi, mẹ tôi dặn o cứ kiên trì, mong anh D. hồi tâm, và cũng mong
ông bà T.C. sẽ biết điều mà không hành hạ con dâu nữa. Nhưng sự kiên nhẫn của o
Điểu chỉ mang lại những trận đòn của ông gia, những lời chửi mắng của chồng.
Sau cùng o phải làm đơn ly dị (sau Cách mạng tháng Tám). Toà đã xử cho o được
nuôi con, đứa con gái đầu tên là Kh. nay đã lấy chồng và đã có con. O Điểu từ
đó “bôi vôi” vào gia đình ông T.C. không bao giờ thèm đi qua ngõ nữa. Sau khi
giải phóng miền Bắc, tôi về đón mẹ, o Điểu ra Hà Nội ở với tôi, và tôi đã tạo
điều kiện cho o đi học làm y tá. O làm y tá ở công trường được 3 năm thì được
cơ quan cho đi học y sĩ. Tốt nghiệp y sĩ o về phục vụ một trường cao đắng và có
đời chồng thứ hai với một đồng chí người Nam bộ, quê ở Bến Tre, cán bộ quản lý
một khách sạn. Đời chồng sau có ba con một trai hai gái. Anh Th., chồng o lại
chết sớm, o phải chịu thương chịu khó nuôi ba con trong sự túng thiếu.
Kỷ niệm về Nguyễn Nhược Pháp
Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp là con nhà báo và nhà văn Nguyễn
Văn Vĩnh, mẹ anh là một đồng bào dân tộc Tày. Anh là bạn thân của nhà thơ Phạm
Huy Thông từ lúc hai người còn học ở trường Trung học An be Sa rô. Phạm Huy
Thông thì viết những bài thơ có tính chất hùng tráng (Tiếng địch sông Ô, Con
voi già, Tần hồng châu...) và một số bài thơ trữ tình như Anh Nga và tập Tần Ngọc...
Nhưng những bài đạt nhất của Huy Thông là những bài mang hơi tráng ca.
Còn Nguyễn Nhược Pháp thì khác hẳn Huy Thông viết những bài
thơ vừa trữ tình nhẹ nhàng, vừa mang tính hu-mua, tính hóm hỉnh kín đáo, biểu
hiện rõ rệt ở tập Ngày xưa mà anh cho xuất bản năm 1934, lúc tôi còn học năm thứ
hai ban thành chung. Tập Ngày xưa gồm có mười mấy bài, sách in mỏng với một cái
bìa tím nhạt, trông rất cảm tình, quyển sách cũng nhẹ nhàng, kín đáo như một
bóng người xưa hiện về trong phòng học của một thư sinh. Sách về đến Huế tôi
mua ngay một quyển, đọc liền một mạch và rất quyến luyến với một số bài mà tứ
thơ cũng như nghệ thuật câu thơ hấp dẫn tôi ngay: Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Chùa
Hương, Đi sứ, Tay ngà... Tôi nhập tâm ngay từng đoạn thơ của bài Sơn Tinh Thuỷ
Tinh:
Thuở ấy trời mây còn u ám
Sông núi còn vang um tiếng thần
Con Vua Hùng Vương thứ mười tám
Mỵ Nương, đẹp như tiên trên trần
Hay đâu thần tiên đi lấy vợ
Sơn tinh, Thuỷ Tinh lòng tơ vương
Hai thần trước cửa thành thi lễ
Mỵ Nương chớp mắt, lòng hơi kiêu
Nhưng có một nàng mà hai rể
Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều
Mấy câu thơ của bài thơ vừa buồn cười vừa bâng khuâng:
Mỗi năm Thuỷ Tinh dâng nước bể
Dục núi hò reo, đòi Mỵ Nương
Trần gian đâu có người dai thế
Cũng bởi thần yêu nên khác thường...
Tôi có cảm tình ngay với thơ Nguyễn Nhược Pháp và tôi đã viết
một bài bình luận về tập Ngày xưa mà anh Hoài Thanh đã cho đăng ngay ở trang
văn nghệ của báo Tràng An. Đến lúc anh Diệu ở Hà Nội về học năm thứ ba ban tú
tài ở Huế, và lúc đó tôi học năm thứ nhất, thì gần hè Nguyễn Nhược Pháp vào
thăm Huế, đi xem các lăng tẩm và có tìm gặp cho được Xuân Diệu mà anh đã đọc những
bài thơ đăng trên báo Phong hoá và báo Ngày nay. Tiếc rằng lần ấy hai người
không kịp gặp nhau, và Nguyễn Nhược Pháp có nhờ anh Hoài Thanh nhắn lại với
Xuân Diệu những lời thăm hỏi thân thiết nó là mối duyên văn tự chắp nối giữa những
người bạn văn thuở đó, càng nung nấu một hoài bão đối với tiếng nước nhà. Nguyễn
Nhược Pháp cũng khá giỏi tiếng Pháp và cũng có viết một vài bài báo bằng tiếng
Pháp, nhưng anh chuyên tâm trau dồi tiếng Việt; ngoài một số ít bài thơ, anh đã
viết một số truyện ngắn ý nhị đăng trong báo Tinh hoa và một vài vở kịch trong
đó có vở Người học vẽ. Văn xuôi của Nguyễn Nhược Pháp cũng mang nhiều chất thơ
nhẹ nhàng kín đáo, hóm hỉnh mà thật ra thầm cảm động. Lúc anh Xuân Diệu trở ra
Hà Nội học luật và dạy văn ở trường Thăng Long thì hai người gặp nhau nhiều lần,
đàm luận rất tâm đắc về văn thơ và tiền đồ văn học nước nhà. Nguyễn Nhược Pháp
lúc đó đã nhiễm bệnh lao, và anh cũng đã nói với anh Diệu rằng anh biết anh sống
không còn bao năm, cho nên một vài mối tình của anh anh chủ động để dang dở. Mắt
Nhược Pháp có lẽ vì thế luôn luôn đượm một vẻ buồn xa vắng mặc dầu rất sáng, rất
tinh anh. Nhà anh ở gần trường Bưởi, lộng gió hồ Tây càng làm vẻ xa vắng của
đôi mắt anh xa thẳm thêm. Anh mất năm 1938, vừa tròn 24 tuổi, “lòng trong trắng
như hồi còn thơ”, theo lời bình luận của Hoài Thanh khi nhắc đến thơ anh...
Kỷ niệm về Mạnh Phú Tư
Anh Xuân Diệu và tôi bắt đầu quen anh Mạnh Phú Tư khi anh được
giải thưởng văn chương của Tự lực văn đoàn về quyển tiểu thuyết Sống nhờ. Lúc
đó chúng tôi ở phố Hàng Bông (số nhà 61); thỉnh thoảng Mạnh Phú Tư đến chơi, và
có ngủ đêm lại; có những đêm ba chúng tôi rủ nhau đi xem chiếu bóng ở rạp Êđen ở
phố Tràng Tiền, ở rạp Magiettic ở phố Đồng Khánh (Hàng Bài ngày nay); khuya về
chúng tôi leo cột điện để vào phòng không muốn phiền người nhà dưới phải mở cửa.
Mắt Mạnh Phú Tư hơi hiếng, nên lúc nói chuyện anh cứ nhìn nghiêng nghiêng, như
người hơi nặng tai. Mạnh Phú Tư và hai chúng tôi lại cũng có một người bạn
chung là Bằng Vân. Anh Bằng Vân dạo ấy bắt đầu viết văn, đang rèn văn bình luận
văn học theo kiểu Thánh Thán bình các sách tài tử của văn học cổ điển Trung Quốc.
Văn bình luận của Bằng Vân cũng có giọng hào phóng, sảng khoái phóng túng và
cũng hơi “nói trạng” như giọng văn Thánh Thán. Anh đã dùng lối văn bình luận ấy
bình gần nửa Truyện Kiều; tiếc rằng anh đã mất sớm trong những ngày đầu cách mạng,
do một sự rủi ro. Bà cụ mẹ vợ anh Bằng Vân rất thương Mạnh Phú Tư, rất quí cái
anh chàng nhà văn ăn nói thủ thỉ, khiêm nhường mà rất lịch lãm chuyện đời, bà cụ
cũng có ý muốn gả con gái út cho anh Mạnh Phú Tư, hoặc làm mối cho một người
cháu.
Nhưng câu chuyện bắt mối chưa khởi đầu thì anh Mạnh Phú Tư đã
có một cuộc tình duyên “rất tiểu thuyết”. Số là anh đã yêu một người con gái
cùng quê, lúc đó mới 17 tuổi người xinh đẹp, vẻ mặt thuỳ mị, nhưng mang một tấm
lòng rất sôi nổi, rất lãng mạn và có một quan niệm tự do luyến ái rất mô đéc.
Ông cụ bà cụ cô người yêu của Mạnh Phú Tư không bằng lòng về mối tình duyên của
hai anh chị. Cảm thấy hạnh phúc của mình có thể bị đe doạ, hai người đã có ý định
bỏ nhà trốn đi, tất nhiên là không cho hai gia đình biết. Thế rồi bố mẹ cô gả
cô cho một người trong làng. Đúng ngày cưới thì anh Mạnh Phú Tư và người yêu trốn
biệt, đi ẩn dấu tại nhà quen ở Hà Nội. Hai nhà (ở huyện Thanh Hà) sùng sục đi
tìm, nhưng làm sao mà tìm được đôi chim uyên ương giữa trời Hà Nội mênh mông nhất
là khi đôi tình nhân này lại được nhà văn Vũ Ngọc Phan và chị Phan là nhà thơ Hằng
Phương che giấu rất kín trong nhà hàng tháng trời. Âu đó cũng là một cách Mạnh
Phú Tư và người yêu “sống nhờ”. Và hai người không có giấy giá thú đã nghiễm
nhiên trở thành vợ chồng dưới sự che chở của tác giả Nhà văn hiện đại. Anh Mạnh
Phú Tư chết đi lúc còn rất trẻ, mới 46 tuổi, sau khi giải phóng Hà Nội mấy năm.
Anh chị có nhiều con và tất cả đều đã trưởng thành, mỗi lần dựng
vợ gả chồng cho con (tôi cũng không còn nhớ là mấy lần), chị đều mời anh Diệu
và tôi đến dự. Anh mất một cách nhẹ nhàng, không phải quằn quại bởi một bệnh
kéo dài. Sau một đêm, anh ngủ khuya, sáng dậy người ta đã thấy anh nằm bất tỉnh
trên giường, chắc là đứt mạch máu não mà không ai biết. Mấy năm sau khi anh mất,
có một đêm tôi nằm chiêm bao thấy Mạnh Phú Tư, trong chiêm bao tôi vẫn thấy anh
mắt hiêng hiếng nói giọng thủ thỉ và đang kể lại những mẩu chuyện của đời mình.
Tôi có ghi giấc chiêm bao ấy bằng mấy vần lục bát sau đây:
Chiêm bao thấy bạn Phú Tư
Tay cầm một quyển “Sống nhờ” nằm xem
Tôi nhìn bảo bạn: “Cố lên!
Thứ ơi viết nốt những thiên sau này”
“Tao còn đâu nữa hỡi mày!
Chết rồi khôn sống lại ngày trần gian”
Thứ (1) nhìn khóe mắt chứa chan,
Yêu đời như thuở lầm than vào đời
Mắt nghiêng, héo nửa nụ cười
Vẫn nguyên cu Thứ cách mười mấy năm
Bây giờ Thứ chết Thứ nằm
Trong chiêm bao cũng không nhầm âm dương
Chết rồi, còn nuối, còn thương,
Chiêm bao đọc lại từng chương “Sống nhờ”.
Quen nhau mười mấy năm xưa
Chưa xong quyển sách, bây giờ Thứ đâu.
2 giờ - 2 giờ 25. Sáng ngày 1-9-1959, Huy Cận
Chú thích:
(1) Tên khai sinh của Mạnh Phú Tứ là Phạm Văn Thứ
Một sự thua lỗ của nhà xuất bản Huy Xuân
Hồi đó, cuối năm 1939, anh Diệu và tôi ở trên gác 40 Hàng
Than. Bỗng một hôm có người ăn bận quần áo ta nhưng chân đi giày Tây gõ cửa, muốn
gặp chúng tôi người đó tự giới thiệu là Nhượng Tống, ở Hà Nam lên. Chúng tôi có
nghe thấy tên Nhượng Tống một vài lần trên vài tờ báo, và biết anh ta là một
người khá thâm nho và đã từng dịch hay nhiều bài thơ Đường nhất là thơ Đỗ Phủ.
Lúc đó chúng tôi chưa biết quá trình hoạt động chính trị của anh.
Sau này chúng tôi mới rõ Nhượng Tống đã từng tham gia hoạt động
Quốc dân Đảng hồi đầu (Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học), và về sau con đường
chính trị của anh đã thoái hoá, và dẫn anh đi vào hoạt động chính trị phản động,
trái với quyền lợi của dân tộc.
Nhưng lúc anh đến gặp chúng tôi thì chỉ là chuyện văn chương.
Anh nghe nói chúng tôi có nhà xuất bản Huy Xuân, nên anh muốn chúng tôi xuất bản
bản dịch Tây sương ký của anh, mà anh mang theo hôm đó. Ngồi nói chuyện một lúc
và nghe anh đọc vài đoạn bản dịch Mái tây thì chúng tôi thấy quả thật là một bản
dịch hay đặc biệt là những đoạn dịch thơ trong tác phẩm của Vương Thực Phủ - Rồi
anh cao hứng ghi vào quyển vở nháp thơ của anh Xuân Diệu bài Nguyệt vịnh trích ở
Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần.
Nguyên văn chữ Hán như sau:
NGUYỆT VỊNH
Thanh huy dục yểm liệu ưng nan
Ánh tử quyên quyên phách tự hàn
Nhất phiến châm xao thiên lý bạch
Bán luân kê xướng ngũ canh tàn
Lục xoa giang thượng thu văn địch
Hồn tú lâu đầu giả ỷ lan
Bác đắc trường nga ưng tự vấn
Như hà bất xử vĩnh đoản loan...
Bản chữ Hán anh viết chữ rất đẹp, đúng là nét bút của một nhà
nho lão luyện. Bản dịch của anh như sau:
Khó mà dấu được vẻ thanh thanh
Ngấn lạnh lùng thay, bóng khéo xinh
Nghìn dặm chày khua đều một sắc
Nửa vừng gà gáy nhạt năm canh
Tơi xanh mặt sóng thu nghe sáo
Vạt thắm trên lầu đêm tựa mành
Sao chẳng để cho tròn trặn mãi
A Hằng đâu cũng khó làm thinh.
Quả thật là một bài dịch hay, rất nhuần nhuyễn có những câu
như câu 3 câu 4 tưởng như là nguyên văn bằng tiếng Việt... Thế rồi ba chúng tôi
bàn việc xuất bản tập Tây sương ký do Nhượng Tống dịch. Anh cũng không đặt điều
kiện gì phức tạp, chỉ cần một số tiền để tiêu, vì lúc đó anh đang túng. Trao đổi
vài lời, anh Diệu đưa cho Nhượng Tống 90 đồng bạc Đông Dương, xem như là mua bản
thảo dịch. Chín mươi đồng bạc Đông Dương là số tiền khá lớn lúc ấy, giá trị bằng
mười một tạ gạo, vì mỗi tạ gạo trị giá có 8 đồng. Anh Diệu và tôi cũng nói
thêm: Nếu xuất bản mà có lãi khá thì cũng sẽ đưa anh thêm, không để cho anh thiệt
thòi đâu... Anh Nhượng Tống nhận tiền vui vẻ ra về, có lẽ cũng vì cảm kích trước
cách xứ sự có lý có tình của hai nhà thơ, chủ “nhà xuất bản Huy Xuân”.
Câu chuyện không dừng ở đó. Ít lâu sau, đầu năm 1940, sau khi
anh Xuân Diệu đã vào Mỹ Tho làm tham tá nhà đoan, một hôm anh Lê Văn Vang, chủ
nhà xuất bản Tân Việt (ở phố Nhà Chung) đến gặp tôi và nói: “Nghe anh và anh Diệu
có mua được bản dịch Tây sương ký của Nhượng Tống. Tôi cũng có một bản dịch
tương tự, nếu có thể anh cho tôi mượn bản của Nhượng Tống để tra cứu thêm vài
chỗ cho chính xác Hai anh giúp tôi thì rất cám ơn”. Tôi với anh Diệu đều có
quen anh Lê Văn Vang ở Mỹ Tho. Tôi cũng không nghĩ quanh co gì và đưa ngay bản
dịch của Nhượng Tống cho nhà xuất bản Tân Việt mượn. Thế rồi, mấy tháng sau thấy
Tân Việt cho phát hành bản Mái tây do Nhượng Tống dịch, đúng như bản mà Nhượng
Tống đã bán cho chúng tôi. Thế là nhà xuất bản Huy Xuân bị mất không chín mươi
đồng bạc Đông Dương. An ủi là một bản dịch hay được ra đời.
Mấy tháng làm thầy phù đạo ở phố Quan Thánh, Hà Nội
Tháng 10 năm 1939 tôi ra học trường Cao đẳng Nông lâm, cùng ở
pô pốt với anh Diệu ở gác 40 Hàng Than. Mặc dù được học bổng mỗi tháng 25 đồng Đông
Dương, tôi vẫn nhờ người ta giới thiệu làm thầy phụ đạo cho học sinh trung cấp
của một gia đình ở phố Quan Thánh. Đây là gia đình một ông quan huyện ở Sơn
Tây, nhưng có nhà biệt thự khá sang trọng ở phố Quan Thánh, đằng sau đường xe
điện chạy. Học sinh của tôi là hai cô gái học trường Sainte-marie và cậu con
trai út học ở trường Bưởi. Hai chị em học cùng một lớp. Mỗi tuần cứ chiều thứ
năm là tôi đến giảng thêm những bài Pháp văn mà hai cô đã học ở trường, và chiều
thứ bẩy thì tôi đến phụ đạo cho cậu con trai út cũng về môn Pháp văn và thỉnh
thoảng bày cho cậu ta làm những bài toán khó. Hai cô con gái không phải là người
đẹp, nhưng cũng có duyên, nhất là cô em có đôi má lúm đồng tiền khi mỉm cười
thì rất tươi và nói chuyện rất tế nhị, có khi là ý nhị nữa. Thường tôi đến giảng
bài thì hai cô gái ngồi cùng một phía đối diện với tôi, và tôi giảng đến đâu
tôi bảo hai cô ghi chép những ý chính đến đó. Chương trình mấy tháng đó đang học
về văn thơ lãng mạn Pháp ở thế kỷ thứ 19. Tôi phải giảng lại những bài thơ nổi
tiếng của Lamartine, của Victor Huygo, Musset, Vigny (như các bài: Cái hồ, Đêm
trên biển, Đêm tháng năm, Chiếc tù và). Tôi giảng các bài thơ này theo cách cảm
thụ của tôi, diễn tả cảm xúc của tác giả qua sự cảm xúc của tôi, chứ không theo
sát sự hướng dẫn giảng bài của sách giáo khoa Pháp... Có lẽ vì vậy mà những giờ
giảng bài của tôi có một sức hấp dẫn riêng, làm cho hai cô học trò nghe rất
chăm chú, có lúc mắt hai cô như dán vào miệng giảng bài của tôi, quên cả ghi
chép, tôi lại phải nhắc cần ghi lời thầy giảng. Bà Huyện mẹ hai cô, thường ở
nhà những buổi tôi đến giảng, và thỉnh thoảng lại pha nước trà ra mời thầy.
Chắc là bà Huyện cũng biết rõ tôi không chỉ là sinh viên trường
cao đẳng Nông lâm mà còn là một nhà thơ đã bắt đầu nổi tiếng. Bà tiếp tôi rất lịch
sự, rất quý nể và có lần bà mời tôi chủ nhật đến dùng cơm với gia đình, nhưng
tôi thoái thác một phần vì tôi bận, nhưng một lẽ nữa là tôi không muốn đi sâu
vào những mối quan hệ xã hội phức tạp với những người giàu, với những ông
quan... Cậu con trai út thì rất quý thầy, mỗi lần tôi đến giảng là cậu đã đón
ngay từ ngoài ngõ và kể chuyện học hành ở lớp cho tôi nghe với thái độ trìu mến
như đối với một người anh... Thế rồi có một buổi chiều thứ năm, như thường lệ
tôi đến để giảng bài cho hai cô thì thấy cả nhà đi vắng, chỉ một mình cô em gái
ra đón tôi vào phòng học, không thấy bà huyện, cũng không thấy cậu em út. Tôi
ngồi vào chỗ thường ngồi của tôi, lưng ngoảnh ra cửa sổ đối diện với phía tường
là chỗ hai cô thường ngồi nhìn ra phía tôi cũng tức là nhìn ra cửa sổ. Cô em
gái rất tự nhiên đến ngồi bên cạnh tôi để nghe thầy giảng bài. Tôi luống cuống
một vài phút, rồi tôi nói: “Cô về ngồi chỗ cũ, để tôi giảng và như vậy cô dễ
nghe và dễ ghi chép”. Cô cứ ngồi yên, một lúc sau cô nói: “Em ngồi thế này, nghe
gần hơn, hiểu mau hơn”. Tôi đành phải tiếp tục giảng bài, nhưng trong người thấy
hơi bối rối. Tôi nhớ chiều hôm đó, tôi giảng bài Thung lũng quê hương của
Lamartine. Tôi vẫn phân tích sâu sắc và say sưa ý thơ và hình tượng thơ của tác
giả, nhưng dường như có chút rung động hơn lần trước, và cô học trò của tôi cứ
ngoảnh mặt nhìn chằm chặp vào miệng tôi, làm tôi ngượng và đỏ mặt, hai tai nóng
bừng. Lúc bấy giờ chưa hết giờ dạy, nhưng tôi đứng phắt dậy, nói là cần về sớm
vì có chút việc bận đã hẹn trước, vả lại bài thơ tôi cũng đã giảng xong mọi điều
cần giảng. Vừa lúc tôi đứng dậy thì bà huyện ở trong nhà đẩy cửa đi ra, chào
tôi niềm nở và nói: “Sao thầy về vội quá?” rồi nhìn cô con gái bà nói: “Sao con
chẳng ý tứ gì, ngồi cạnh thầy như thế có phải làm phiền thầy không mà thầy phải
rút ngắn giờ giảng!”. Nói xong bà tủm tỉm cười, cái cười vừa lịch sự, vừa khó
hiểu... Như thế nghĩa là lúc cô con gái đến ngồi sát bên tôi, và trong suốt giờ
tôi giảng bài mà cô con gái chăm chăm nhìn tôi thì bà mẹ từ buồng trong đã ghé
mắt quan sát... May là tôi “vững vàng” không có một sự sa ngã, đắm say nào cả
trong giờ phút giảng thơ lãng mạn, nếu không thì bà huyện đã có thể có cớ gán
ghép tôi với cô con gái khá có duyên của bà... Chiều thứ bảy tuần đó tôi đến
không phải là để giảng bài cho cậu con út, là để nói với bà huyện là tôi bận học
quá không thể đến giảng bài phụ đạo cho các con của bà được. Chiều hôm đó hai
cô con cùng ở nhà, nghe tôi nói vậy thì sửng sốt, cố nài tôi tiếp tục đến dạy
cho hai cô, riêng cô em thì đôi mắt long lanh chớp nhiều và khóe mắt hơi ướt. Tất
nhiên là bà huyện cũng có lời luyến tiếc và trả cho tôi một số tiền khá hậu, gấp
hai gấp ba số tiền đã thoả thuận trước... Đến lúc tôi đậu kỹ sư, 1942, tôi có
trở lại thăm gia đình bà huyện, thì được biết cô chị đã lấy chồng, lấy một ông
tri huyện trẻ, còn cô em còn tiếp tục học, và còn chờ... Cô gặp lại tôi có vẻ
ngượng nghịu, tôi thăm hỏi qua rồi chào ra đi...
9/7/2006Huy Cận
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét