Nhân những ngày văn hóa Nga đang diễn ra tại Việt Nam, Triệu
Lam Châu xin đăng lại trên Sân trời của mình truyện dịch Vương quốc chim hoạ mi (Triệu Lam Châu dịch) của nhà văn Nga xuất sắc K. Pauxtốpxky (1892 - 1968).
Pauxtốpxky và Sôlôkhốp là hai nhà văn được Hội nhà văn Liên Xô đề cử để dự Giải
Nô ben văn học năm 1965. Và năm ấy giải Nôben văn học đã được trao cho nhà văn
Sôlôkhốp (Nga) – tác giả Bộ tiểu thuyết Sông Đông êm đềm.
Truyện dịch Vương quốc chim họa mi đã được trao Giải nhất
toàn quốc trong cuộc thi dịch văn học năm 1994, do Hội nhà văn Việt Nam, Báo
Văn nghệ và Nhà xuất bản Văn học tổ chức.
Xin trân trọng gửi tới Quý vị và bạn đọc gần xa…
VƯƠNG QUỐC CHIM HOẠ MI (*)
Nơi phía trên lò sưởi tại bức tường nhà của nhà
văn Sêkhốp (1) ở thành phố Yanta, có treo một bức tranh phong cảnh rất bình dị
của hoạ sĩ Lêvitan (2). Tranh vẽ một đống cỏ giữa buổi hoàng hôn muộn mùa thu,
khi những hạt sương chiều lạnh lẽo đọng trên cành lá.
Lêvitan gửi lại cho Sêkhốp bức tranh này như một
tặng phẩm gợi nhớ về nước Nga xa xưa yêu dấu.
Bức tranh ấy rất bình dị, bình dị như mọi bức tranh
Lêvitan. Ta có thể đứng ngắm hàng một, hai giờ liền những bức tranh kia, mà cuối
cùng vẫn không hiểu nổi đâu là sức mạnh của những sắc màu đượm buồn ấy, đâu là
bí ẩn của người họa sĩ lặng thầm chinh phục trái tim ta.
Bí ẩn (nếu điều đó có thể gọi là bí ẩn) ở chỗ Lêvitan
đã thể hiện tất cả sức mạnh tình yêu của chúng ta đối với Tổ Quốc thân yêu. Ông
cho chúng ta thấy một tình yêu sâu lắng, mà từ trước tới nay chưa được biểu hiện
đầy đủ sắc độ của nó.
Miền trung nước Nga là một vùng đất kỳ lạ. Cứ ngắm kỹ
gió mang bộ trang phục lá của rừng tới chân trời thu xanh ra sao, hay chứng kiến
đôi mắt cậu bé có mái tóc bạch kim với chiếc còi trong tay, sáng lên niềm hạnh
phúc rụt rè thế nào, cái cậu bé đang ngồi trên sườn đồi cát và khẽ huýt sáo
vang kia – dẫu chỉ chứng kiến ngần ấy thôi, thì trái tim ta lập tức sẽ bị chinh
phục mãi mãi bởi vẻ đẹp sáng tươi, tinh khiết như mạch nước nguồn của miền đất ấy.
Làm sao cưỡng lại được uy lực sâu xa của nước Nga đối
với con người. Hàng triệu người đã tìm thấy Tổ Quốc thứ hai của mình là nước
Nga.
Cuộc đời Lêvitan đã khẳng định hoàn toàn điều đó. Đối
với tôi, khi đã ở tuổi trưởng thành, miền trung Nga là vùng đất đẹp nhất thế
gian. Điều ấy lúc đầu đã làm chính bản thân tôi ngạc nhiên, vì tôi vốn lớn lên ở
miền nam.
Lúc hai mươi tuổi, lần đầu tiên tôi nhìn thấy miền
trung Nga. Hồi đó là mùa thu. Tôi đi từ Kiép đến Matxcơva. Ở gần Matxcơva tôi
nhìn qua cửa sổ toa tàu thấy một dòng sông nhỏ xanh đậm một màu chàm kỳ ảo, được
phủ đầy lá vàng. Tôi nhoài người ra cửa sổ và lòng bỗng nghẹn lại. Hồi ấy tôi
chưa hiểu vì sao mình lại nghẹn ngào như thế.
Giờ đây tôi hiểu rõ rằng lúc ấy mình nghẹn ngào vì
sung sướng, vì được tiếp xúc bất ngờ với vẻ đẹp của đất nước trong không gian
se lạnh hơi thu ngoài cửa sổ.
Mặt trời tháng chín tỏa ánh dìu dịu xuống gương mặt
tôi. Lòng choáng ngợp tôi ngắm nhìn những khu rừng huyên náo, nét rung rinh của
những cây bạch dương và hoàn diệp liễu, ánh ngời của những con suối long lanh,
những đồng cỏ mượt, những cánh rừng thông trải rộng đến chân trời, những ngọn
núi xa xanh với những con đường vòng leo lên đỉnh theo hình xoắn chôn ốc, mà đường
nét của chúng đều đặn cân đối như những bức tường điện Kremlanh.
Quê hương mới lần đầu tiên thoáng hiện và làm mê hoặc
hết cõi lòng tôi như thế đấy.
Ngày sau đó trong lần đầu tiên tới Matxcơva, tôi đến
thăm Viện bảo tàng hội họa Trêchiacốp. Vừa bước vào phía bên sườn gian trên, bất
chợt lòng tôi lại nghẹn ngào. Nước mắt bỗng trào ra ràn rụa (lúc ấy tôi rất ngượng
vì nước mắt của mình) – trước mặt tôi đây là bức tranh “Mùa thu vàng” của
Lêvitan. Bức tranh ấy đi vào trong tiềm thức của tôi, như sự biểu lộ một vẻ đẹp
trang trọng và cao thượng, mà trước đó thậm chí tôi không thể tin rằng lại có một
vẻ đẹp như vậy tồn tại trên thế gian này.
Suốt cả bảy ngày ở Matxcơva khi ấy, tôi đều đến Viện bảo
tàng kia để lặng lẽ, nao lòng và kinh ngạc chiêm ngưỡng tranh Lêvitan.
Tất cả đều xao động trong tâm hồn tôi. Tôi cảm thấy rằng
có một điều gì đó thật bí ẩn đã đến với tôi. Song hồi đó tôi chưa thể hiểu nổi
điều ấy là gì.
Sự kiện trọng đại nhất xảy ra trong đời tôi, ấy là việc
tôi đã tìm ra mảnh đất yêu dấu của mình. Tôi đã yêu nó đến tận đường gần cuối
cùng trên từng chiếc lá sồi nhỏ bé. Tôi đã sẵn sàng hiến dâng cho miền đất ấy tất
cả sức mạnh tâm hồn và trái tim trẻ trung của tôi.
Ý nghĩa thực sự của những từ như “Mảnh đất thiêng
liêng”, “Quê hương”, “Tổ Quốc” lần đầu tiên đến với tôi vào hồi đó.
Từ đấy đến giờ miền trung Nga đối với tôi thực sự là một
mảnh đất thiêng liêng. Tôi thường hình dung thấy nó như lần đầu tiên mình đã gặp:
Nó được bao phủ bởi một tấm lưới bàng bạc mùa thu quý giá và đầy ánh lấp lánh dịu
nhẹ của mặt trời.
Để hiểu thấu được Lêvitan, ta phải đắm mình vào lòng
sâu Tổ Quốc và giao hòa trực tiếp với tất cả những gì gọi là chất thơ của tâm hồn
ông.
Lần “gặp gỡ” đầu tiên giữa tôi với Lêvitan là ở Viện bảo
tàng hội hoạ Trêchiacốp. Song còn có một cuộc gặp gỡ nữa gây ấn tượng rất mạnh,
một trong những cuộc gặp gỡ “bên trong” (nếu có thể nói được như vậy) với người
hoạ sĩ đã mất từ lâu. Thực tế đã không có những cuộc gặp gỡ ấy, nhưng tôi vẫn
thường có cảm giác rằng Lêvitan như đã ở nơi đây và chỉ có ông mới có thể biểu
hiện cho chúng ta thấy vẻ đẹp lộng lẫy của Tổ Quốc: Những khoảng trời xanh lam
im ắng cùng với mặt nước sông, hồ lặng gió, như chờ đáp lại tiếng kêu của bầy
chim di cư.
Cuộc gặp gỡ ấy xảy ra trong rừng hoang cách Matxcơva
không xa. Đó là nơi hẻo lánh, đường đi tới đấy rất xấu. Tôi đành phải đi xe ngựa
và đi đò ngang qua những dòng sông giữa rừng để tới nơi ấy.
Mùa xuân đã trôi qua. Bầu trời đêm xanh dịu lấp lánh
trên những cánh rừng màu xám. Cả bầu không khí cứ thoang thoảng mùi hương ẩm ướt
lành lạnh của cỏ cây đã nảy lộc hết mình.
Tôi thiếp đi trên xe. Sau đó tôi thức dậy bởi tiếng xe
kêu cót két, rồi nó dừng lại trên bờ cát dốc hướng xuống bến sông. Người xà ích
uể oải gọi:
- Ê, Ximiôn, cho sang đò đi!
- Được, được! – Một giọng khàn khàn trả lời từ trong màn
sương. – Lại một tay láu táu nữa đến làm hoảng loạn cả đàn chim của tôi. Kẻ thô
tục vẫn hoàn toàn thô tục.
- Xui xẻo quá! – Người xà ích nói đùa. – Chỉ mong sao khỏi phải
qua cái bến đò quái quỷ ở rừng chim này. Quả thật đây là vương quốc chim hoạ
mi.
Chúng tôi cùng im lặng. Bên kia sông, phía trên những
ngọn cây sẫm tối đã bắt đầu hửng sáng.
Ánh bình minh tinh khiết le lói xuất hiện trên bầu trời.
Thấp hơn một chút, ở tận mép bờ trái đất có treo một vầng trăng lung linh mờ ảo.
“Lêvitan đấy!” – Không hiểu sao tôi chợt nghĩ thế và
trái tim tôi lại bỗng xao động như thời thanh xuân.
Xung quanh đều rất im lặng. Hẳn người đưa đò chưa định
chở chúng tôi sang sông. Ông chỉ ngáp mỗi một lần.
Bất chợt trong lùm cây có một cái gì đấy thận trọng
kêu leng keng, như thể ai đó đang rung một chiếc chuông nhỏ xíu. Lập tức ngay
lúc ấy liền vang lên tiếng chim họa mi cao vút, lan tỏa trên sông, rồi đổ vào
khoảng giữa lùm cây hoa súng và xuxác (3).
Chim hoạ mi nín lặng để nghe ngóng, rồi sau đó lại thả
xuống dòng sông những âm thanh mới lạ và nực cười, như thể nó xả ra khỏi cổ họng
mình những giọt sương đêm…
- Này, đã nghe thấy gì chưa? – Người xà ích hỏi. – Bây giờ nó
phân tán đi những gì mình có. Sau đó chúng lại tụ về - đấy chính là một cái đẹp.
- Đồ vô giáo dục! – Một giọng khàn khàn bỗng vang lên từ
trong màn sương. – Còn chờ đến cậu giải thích nữa. Hãy im nghe nào. Bây giờ nó
sẽ hót bài “Tiếng sáo”. Cậu hãy giữ chắc con ngựa của mình, kẻo nó phóng đi mất.
Người xà ích không tức giận. Anh ta chỉ nói thầm với
tôi:
- Bây giờ mới là khởi đầu.
Quả thật, một phút sau đấy, trong các bụi liễu dọc hai
bờ sông đều vang lên tiếng hót của cả bầy chim hoạ mi như theo một hiệu lệnh nhất
định.
Có lẽ nhờ được bắt đầu như thế, nên buổi sớm mai đã ửng
hồng lên nhanh hơn. Đã hiện rõ sắc màu đỏ tươi của những áng mây treo lơ lửng từ
đêm qua trên khắp cả vùng rừng.
Tiếng chim hoạ mi líu lo náo động. Bình minh đã mở những
chân trời mờ ảo của mình. Hình như ở phương đông lúc ấy, nơi sau mái rừng vòng
cung kia là một miền đất không tên bình lặng, rực rỡ ánh hào quang.
“Bình minh Lêvitan…”
Sau đó chúng tôi đi đò qua sông, rồi cùng ngồi một lúc
bên chiếc lều của người đưa đò.
Với vẻ tự hào ông chỉ cho tôi xem sáng chế cuối cùng của
mình, đó là một cái hố tròn nhỏ, phía trên miệng được che bởi mấy cành liễu.
- Đấy! – Người đưa đò nói. – Hình mẫu cuối cùng của tôi ở đó.
Ở Matxcơva các anh có tủ lạnh, thì ở đây tôi cũng có tủ lạnh. Anh thử thò tay
xuống xem. Lạnh buốt lắm! Con gái tôi mang sữa đến cho bố. Sữa để trong này
chưa được chua mấy đâu. Con gái tôi kia kìa, nó còn nhỏ dại lắm.
Tôi ngoái lại nhìn thấy một đứa bé gái đang ngủ trên tấm
phản gỗ.
Cô bé mỉm cười trong mơ. Tia mặt trời đầu tiên thắm
như sơn màu vàng da cam, rơi xuống những nhành lá khô của mái lều.
Cô bé thở dài trong mơ. Tôi cứ liên tưởng rằng cả đất
nước đều giống cô bé ấy: Vui tươi, nhút nhát mà nhạy cảm với đôi mắt màu tro và
mái tóc vàng. Và tôi lại hớp và những bông hoa trắng của cây dâu tây.
Tôi lại nghĩ về Lêvitan và nhận ra rằng trên quê hương
yêu dấu của mình mọi điều đều tốt đẹp, kể nhớ về Lêvitan với lòng biết ơn cùng bao nỗi vấn vương…
Rừng thông trải dài bên kia sông. Tất cả trong rừng đều rất niềm nở: Cả những người có ngoại hình xấu xí, bình dị nhất cho đến những chiếc tai nấm ruýt-xuyn (4) nhơm n cả những bông hoa rừng yếu ớt. Nếu ai
đó nói rằng chúng ta không bao giờ được gặp ông nữa, hẳn nhiều người sẽ cảm thấy
đớn đau…
K. Pauxtốpxky
Triệu
Lam Châu dịch







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét