Đã nghe tiếng sấm phía trời xa
Thơ vốn có sẵn trong tự nhiên, trong từng trạng thái tình cảm
con người và xã hội. Tín hiệu của nó phát ra chỉ có những người giàu tình cảm
lãng mạn và sự trải nghiệm mới có thể nhận được, ghi chép lại và chia sẻ với mọi
người. Tiếng Việt là ngôn ngữ giàu âm thanh, màu sắc, tiết tấu và nhạc điệu. Nhờ
đó thơ tạo nên sự êm đềm, trầm bổng, du dương và có thể dữ dội, phản ánh tối ưu
các trạng thái tình cảm con người.
Phải nói ngay từ đầu, thơ dứt khoát phải có vần điệu, nếu
không nó sẽ bị nhầm với văn xuôi giàu hình ảnh nghệ thuật. Từ sự gợi ý của bài
thơ khách quan, nhà thơ chủ quan tiếp nhận chất thơ, sáng tạo ra bài thơ của
mình, ứng từng tâm trạng, khi cần diễn tả và những gửi gắm. Để chia sẻ với nhiều
người, các nhà thơ có nhiều cách dẫn dắt cho người đọc tiếp cận. Một trong những
cách thịnh hành và có hiệu quả là sử dụng thơ vần điệu. Thơ vần điệu được tổng
kết có mấy dạng: Thơ Đường luật; Thơ lục bát; Thơ song thất lục bát; Thơ bốn chữ;
Thơ năm chữ; Thơ sáu chữ; Thơ bảy chữ và Thơ tám chữ. Nói ngắn lại thơ vần điệu
có luật. Đặc điểm chung của các dạng thơ này là do con người đặt ra luật dựa
vào thanh trắc, bằng vốn giàu có trong tiếng Việt. Con người phải biết luật
thơ, cùng với cảm xúc tràn đầy mới làm được thơ.
Theo lý giải của nhà văn Trung Quốc, Tưởng Tử Long: “Việt Nam
có rất nhiều nhà thơ là có hai nguyên nhân: một là, người VN giàu tình cảm lãng
mạn bẩm sinh, hai là ngôn ngữ tiếng Việt dễ viết thơ” (1). Tôi muốn nói thêm với
thơ vần điệu, vì thơ có luật nên người biết luật cũng có thể làm thơ. Việc đặt
ra luật, phù hợp văn hóa, phong tục, tập quán, thói quen của người VN. Một
phương thức thể hiện thơ đặc sắc, tạo ra hiệu quả to lớn tác động đến tâm tư,
tình cảm của con người, góp phần làm phong phú cho tâm hồn người và nền thơ VN.
Nhiều nhà thơ vừa viết thơ vần điệu vừa viết thơ nhạc điệu trọng vần. Thơ nhạc
điệu trọng vần là loại thơ không tuân theo luật do con người đặt ra mà tuân thủ
nhạc của trái tim, thanh trắc, bằng của ngôn ngữ hòa trong cảm xúc với không
cùng trước thiên nhiên, trước tình cảm, số phận con người. Thơ vần điệu đã có
công lớn, khẳng định trên thi đàn và trong lòng bạn đọc, nó là dòng chảy chính
của thơ VN ngót cả trăm năm. Nó là một cơ thể sống, có tính lịch sử. Nó ra đời
có điều kiện. Khi các điều kiện đổi thay thì nó cũng phải thay đổi. Thơ vần điệu
không mất đi mà nó vẫn tồn tại nhưng không phải là vị trí chủ đạo của nền thơ.
Điều này không ai có thể níu kéo và mặc định khác được. Nó thuộc về khách quan.
Đã có sự phân hóa trong nhận thức về thơ vần điệu, luật thơ
đã bó thơ, tạo ra những giọng thơ ít thay đổi dẫn tới sự nghèo nàn về giọng điệu.
Trong những không gian, thời gian khác nhau, luật trắc, bằng đã làm cho thơ vần
điệu có nhạc điệu ít khác nhau. Luật thơ đã làm cho thơ bị hao hụt đi nhiều.
Người đọc có thể biết trước những câu, những vần tiếp theo khi đọc câu thơ đầu.
Luật thơ cố định mà thực tiễn vận động không ngừng, tình cảm con người cũng
thay đổi theo thời gian. Ngay cả văn hóa dân tộc cũng bị sàng sảy sao cho thích
hợp với thời con người sinh sống. Mâu thuẫn giữa thơ vần điệu luật hóa và thực
tiễn rộng lớn, tình người nhiều cung bậc, ngày càng gay gắt. Luật thơ ngày càng
xơ cứng, thơ vần điệu ngày càng gò bó. Gây cảm giác phẳng phiu, nhàn nhạt. Khi
con người có nhiều mục tiêu, quá trình đi tìm mình thì ngày càng xa thơ vần điệu.
Kể từ khi Nguyễn Bính viết “Gửi vợ miền Nam” đến nay, rất ít
gặp thơ song thất lục bát. Nhà thơ nào cũng thấy làm thơ lục bát khó hay. Nhiều
nhà thơ lứa sau 1975, mới đầu làm thơ vần điệu sau chỉ làm thơ nhạc điệu trọng
vần. Nhiều nhà thơ trẻ không viết thơ vần điệu. Nhà thơ Hữu Thỉnh khi nói về
thơ Nguyễn Quang Thiều, đã: “khước từ mọi sự véo von nhễ nhại, du dương tội
nghiệp” có lẽ ông đã nói đến sự lỗi thời của thơ vần điệu chăng. Nhiều nhà thơ
lớp kháng chiến cảm thấy khó hiểu hoặc chưa cô đọng, thừa chữ, thừa câu trong
thơ trẻ. Thậm chí có người không xem đó là thơ. Thẩm mỹ các nhà thơ không chỉ sự
phân hóa mà đã có sự lạc mất nhau. Khi đọc thơ Nguyễn Quang Thiều, Trần Đăng
Khoa cho thơ “Thiều tây quá. Thiều nhìn cái gì cũng thành Tây, ngay cả khi nhìn
những người đánh giậm… Đọc anh ta cũng có cái thú, là luôn được chiêm ngưỡng
gương mặt của chính mình của một người ngoại quốc” (2). Có bạn đọc khi đọc bài
thơ “Người đàn bà gánh nước sông” của Nguyễn Quang Thiều, thì thất vọng hoàn
toàn: “Khi tiếp xúc với văn bản bài thơ này, tôi lập tức thất vọng với cái danh
xưng “hay nhất thế kỷ 20” của nó”(3)
Nhiều tập thơ ra đời đầu thế kỷ 21, thậm chí được giải thưởng
hàng năm của HNV, nếu viết theo lối mới, thơ nhạc điệu trọng vần, lập tức bị phản
đối. Có nhà thơ đã bước đi trên con đường khác thơ vần điệu, trước sự phân hóa
đã có phần phân vân quay lại. Mai Văn Phấn trong “hoa giấu mặt”, một tập thơ từng
bài thơ đều ba câu! Anh từng viết thơ vần điệu. Nhưng những bài thơ hay nhất của
anh lại thuộc về thơ nhạc điệu có vần. Cũng như thơ Nguyễn Quang Thiều, thơ Mai
Văn Phấn ít được độc giả hoan nghênh. Bạn đọc chỉ yêu những bài thơ vần điệu
trước đây của họ. Có nhà thơ dành nhiều “tâm huyết” dịch lại những bài thơ nhạc
điệu trọng vần mà ông cho là loại thơ “vô lối, tắc tị” ra thơ vần điệu, in trên
tạp chí nhà văn.(4). Sự lạc nhau trong thẩm mỹ thơ thể hiện điển hình nhất là sự
phản ứng của các nhà thơ và bạn đọc khi nhiều nhà thơ và nhà phê bình đề cao
trong đánh giá thơ Hoàng Quang Thuận.
Môi trường thơ thiếu đi sự bền vững và tăng sự phân hóa, hình
như đã tạo ra tiếng sấm mơ hồ từ phía chân trời xa. Thơ vần điệu chừng mực bị
lung lay vị trí chủ đạo của nó. Nhiều nhà thơ trong đó có Nguyễn Hoàng Sơn, năm
2005, đã dự đoán “thơ Việt Nam cận kề một cuộc cách mạng mới”. Sau đó ông lại
cho là mình dự đoán sai. Thật ra, dự đoán chỉ thể hiện phần nào sự nhạy cảm của
nhà thơ chứ không phải nhận định của nhà khoa học. Thơ vần điệu được sinh ra có
điều kiện quy định và khi nó nhường vị trí cũng có những điều kiện phù hợp. Nếu
lịch sử yêu cầu đổi gác thì người đổi nó gác cũng đủ khẳng định sự xuất hiện của
mình. Đó là thơ nhạc điệu trọng vần. Thơ nhạc điệu trọng vần sẽ chiếm vị trí chủ
đạo nhưng chưa phải lúc này. Bởi vì những điều kiện quy định sự ra đời của nó
chưa hoàn chỉnh.
Điều kiện thời đại đã mở ra rộng lớn, nước ta đã hội nhập với
thế giới phẳng và thực tế đã đa phương quan hệ. Sự giao thoa văn hóa trong môi
trường toàn cầu hóa, chắc chắn xẩy ra hai điều, một là những gì thích hợp với
thời đại thì tồn tại và hai là tiếp thu văn hóa tiên tiến của thế giới làm
phong phú mình. Sự sàng lọc khắt khe liên tục xẩy ra. Khoa học - công nghệ phát
triển vũ bão, chẳng những làm thay đổi tính chất sản xuất mà còn làm thay đổi cả
tập quán và văn hóa. Kinh tế nước ta, hiện còn phụ thuộc đến 80% đầu vào sản xuất
và nhiều nước len lỏi tìm mọi cách hợp lý bảo hộ kinh tế nước mình. Nước ta vẫn
chưa ra khỏi nước nông nghiệp lạc hậu. Cơ cấu kinh tế thuộc diện lạc hậu nhất
thế giới. Cơ chế thị trường đã đặt mọi thành viên trong xã hội hướng về lợi nhuận,
lợi ích của đơn vị mình, của chính mình. Đồng tiền đã lên ngôi. Kinh tế thị trường
đã tác động hai mặt ngày càng mạnh mẽ. Tính hoang dã của nó chỉ bị thu hẹp bớt
khi có sự quản lý tốt của nhà nước. Thực tế hiện nay, các tập đoàn kinh tế, các
doanh nghiệp nhà nước chao đảo trong nợ nần. Những Vinashin, Vinalines…thua lỗ,
nợ hàng nghìn tỷ đồng. Nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu ngày càng nặng nề mà
khả năng khắc phục hạn chế. Tình người trong cơ chế thị trường bị phân hóa nặng
nề. Một bộ phận rơi vào vô cảm.
Nền giáo dục nước nhà đang chưa có lối ra. Những học sinh giỏi
dự thi Olympia, phải đến 90% không trả lời đúng câu hổi liên quan tới thơ. Nhiều
sinh viên tôi chứng kiến, họ gần như không biết thơ VN! Người về hưu ngày càng
nhiều và đa số có học và biết luật làm thơ. Những người làm thơ tăng lên đột biến.
Thơ Đường trở lại. Công nghệ in ấn và nhu cầu xuất bản cá nhân được đáp ứng tối
đa. Nhưng yếu tố bên trong đang tự bó mình.
Thơ nhạc điệu trọng vần đã có từ thời thơ mới và cả một phần
thơ kháng chiến. Từ Phan Khôi, Nguyễn Vỹ, Hồng Nguyên, Hữu Loan, Nguyễn Đình
Thi, Hữu Thỉnh, Chính Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Tùng, Thạch Quỳ, Trần Vàng
Sao, Lê Chí v.v…Một số nhà thơ trong thời Mỹ như Thanh Tâm Tuyền…Đội ngũ mới
khá đông đảo, dứt khoát hướng về phía trước như Nguyễn Quang Thiều, Tuyết Nga,
Đinh Thị Như Thúy, Lê Văn Ngăn, Phan Hoàng, Vũ Trọng Quang, Đỗ Doãn Phương, Trần
Quang Quý… nhiều nhà thơ trẻ như Huỳnh Thúy Kiều, Vũ Thanh Hoa, Lê Vĩnh Tài…
Tuy vậy, thơ nhạc điệu trọng vần vẫn chưa át được dư luận và
vào vị trí chủ đạo. Bởi vì, thơ vần điệu đã thôi miên không chỉ bạn đọc mà ngay
cả một số nhà phê bình thơ.. Cuộc sống mở ra và phát triển nhanh, dữ dội, những
công cụ thẩm định đã cũ, chưa được bổ sung đầy đủ. Thơ chỉ là một phương diện
mà muốn hiểu nó người đọc cần nhiều phương diện kiến thức hơn. Thơ bị chi phối
và kết quả bởi nhiều mối quan hệ, nhưng ai quan tâm ít quan hệ sẽ bất lực trước
tính đa phương của thơ. Cuộc sống con người có nhiều mục tiêu. Thế giới thơ
không chỉ hướng về cái chung mà hướng sự khám phá tới cái riêng mỗi cá nhân.
Thiếu đội ngũ phê bình thơ quyết liệt vừa nhận ra vừa bảo vệ và dắt dẫn bạn đọc
đến với thơ nhạc điệu trọng vần. Nhiều bạn đọc ngày nay dễ mất hướng khi thơ từ
chối luật do con người đặt ra và trở về với sự bẩm sinh của thơ. Dù là thơ nào
thì hai đức tính vẫn đòi hỏi hoàn chỉnh, đó là tính hiện đại và tình dân tộc.
Thơ vần điệu đã tiếp thu tối đa tính dân tộc nên đã thôi miên được bạn đọc. Thơ
nhạc điệu trọng vần tiến xa về tính hiện đại nhưng tính dân tộc lại nhạt nhòa.
Đó cũng có thể là nguyên nhân xa khiến thơ nhạc điệu trọng vần xa lạ ít nhiều
trong bạn đọc phổ thông.
Đã nghe tiếng sấm xa, nhưng cơn mưa chưa đến. Cơn mưa chưa đến
chứ không phải không đến. Thơ vần điệu đang còn giới hạn cuối cùng của nó nên
chưa thể nhường ngôi… Thời gian bao lâu thật khó đoán định nhưng nhất định đến
khi thơ nhạc điệu trọng vần sẽ ở vị trí chủ đạo trên thi đàn Việt Nam…
Vương Cường



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét