Thứ Năm, 5 tháng 4, 2018

Sắc xuân trong thơ mới

Sắc xuân trong thơ mới
Trong bốn mùa, mùa xuân được các nhà Thơ Mới ưu ái nhất. Không gì vui và ấm áp bằng xuân vì xuân là mùa hạnh phúc, mùa tình yêu, mùa lễ hội. Nhưng cũng có những mùa xuân tái tê, mùa xuân tha hương, mùa xuân không mong đợi phảng phất đi về trong Thơ Mới.
Đến với Thơ Mới trước hết là đến với một hồn quê đất Việt. Nó man mác trong khắp những bài thơ xuân.
Trong thơ trung đại mùa xuân mang tính đơn trị, thể hiện qua cách cảm nhận của cái tôi vô ngã, đó là mùa xuân hiện hữu của đất trời. Mùa xuân trong Thơ Mới thể hiện tính đa trị, hoặc được chủ quan hóa đến cao độ, được phổ vào các nét nhân tính hoặc được miêu tả khách quan như một bức tranh quê. Mùa xuân trong “Bức tranh quê” của Anh Thơ là toàn cảnh một vùng quê đồng bằng Bắc Bộ, được chuyển dịch theo nhiều thời khắc: ngày xuân, chiều xuân, đêm xuân, đêm rằm tháng giêng, chiều 30 Tết, đêm 30 Tết, ngày Tết… Bằng tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, Anh Thơ vẽ nên cảnh xuân vừa tĩnh lặng êm đềm vừa cưu mang nhịp sống thanh bình: Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng/ Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi/ Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng/ Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời (Chiều xuân). Cảnh sắc ấy cứ bình lặng đi vào thơ, để cho người ta gọi bà là “nhà thơ của cảnh quê”. Cũng từ một cái nhìn tinh tế như Anh Thơ, sắc xuân trong thơ Đoàn Văn Cừ là những gam màu lung linh, rộn rã: Nước hồ trong xanh suốt đáy pha lê/ Nắng xuân rắc kim vàng trong bụi cỏ (Mùa xuân). Đoàn Văn Cừ nhận ra mùa xuân dựa vào sự thay đổi tinh vi trên trang phục người con gái về nhà chồng. Hồng Diệu cho rằng: “Nếu thơ ta thiếu vắng những bài thơ xuân của Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính (hai phong cách thơ xuân độc đáo) thì phong vị xuân, Tết trong văn chương sẽ nhạt đi bao nhiêu!”

Xào xạc nét quê mùa rất riêng giữa các thi sĩ cùng thời, Nguyễn Bính không chỉ tả mùa xuân mà còn nhận ra linh hồn của mùa xuân. Chính bởi quê mùa mà thơ xuân Nguyễn Bính, có lẽ hơn ai hết, mang đậm hồn Việt. “Mưa xuân” là mưa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ với nét đặc trưng “hoa xoan mưa bụi”. Mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính độc đáo như một sinh thể có linh hồn. Có lúc mưa xuân “giăng tơ trắng ngần”, khi lại “lửng lơ mù sương phảng phất”, có khi mưa cũng biết làm duyên “phơi phới bay”. Nguyễn Bính phát hiện mùa xuân ngay từ những dấu hiệu giao mùa: Đã thấy xuân về với gió đông/ Với trên màu má gái chưa chồng (Xuân về). Mùa xuân tỏa ra từ thơ Nguyễn Bính cái dịu nhẹ của hương cam, cái thanh khiết xuân tình của lúa non đang đến thì con gái, cái tím biếc hoa xoan, cái hanh hao của nắng… Những phong tục mùa xuân đã in sâu vào tâm linh người Việt trở về trong thơ Nguyễn Bính: trẩy hội chùa, những đêm chèo trên sân đình… Thơ xuân Nguyễn Bính là thơ hắt tỏa ánh sáng hoài niệm “chân quê”. Chính ánh sáng ấy đã dẫn lối để cho Nguyễn Bính có nhiều bài thơ xuân làm nao lòng người đọc: “Mưa xuân”, “Xuân về”, “Xuân tha hương”, “Xuân thương nhớ”, “Cô lái đò”, “Chân quê”…
Nguyễn Bính chân quê, mộc mạc nên thấy mùa xuân xanh, Xuân Diệu thiết tha, rạo rực nên nhận ra xuân hồng, còn Hàn Mặc Tử thì yêu xuân trong tột cùng độ chín. Chàng cũng nhận ra hơi thở thầm thì của nàng xuân khi vừa chạm gót từ âm thanh “sột soạt” của tà áo bay đến tiếng hát của các thôn nữ trên sườn đồi và rồi mùa xuân đến độ chín. Hàn Mặc Tử thường tìm về “mùa xuân đầu tiên” để thâu nhận vẻ đẹp nguyên sơ của đất trời mà loài người bao đời đánh mất. Đỗ Lai Thúy cho rằng: “Nhờ tinh thần tôn giáo - vũ trụ, các bài thơ xuân của Hàn Mặc Tử như “Mùa xuân chín”, “Xuân đầu tiên”, “Đêm xuân cầu nguyện” chẳng những giữ được vẻ trinh nguyên của đất trời mà còn đượm một cảm giác huyền bí thiêng liêng của muôn đời. Đó là ánh thiều quang khác lạ của thơ xuân Hàn Mặc Tử so với thơ xuân của các thi sĩ cùng thời”.
Mùa xuân là biểu tượng cho sức sống của đất trời, thiếu nữ là biểu tượng cho sắc đẹp, là mùa xuân của loài người. Cho nên, trong Thơ Mới, mùa xuân hay đi với đôi má hồng thiếu nữ như một sự quy chiếu lẫn nhau.
Trong thơ xuân Nguyễn Bính, hình ảnh đôi má hồng thiếu nữ xuất hiện nhiều, làm bừng ấm cả dòng thơ: Với trên màu má gái chưa chồng (Xuân về); Hình như hai má em bừng đỏ (Mưa xuân); Tóc chị bền xanh má dậy hồng; Chị vẫn môi son, vẫn má hồng (Xuân tha hương). Bài thơ “Mùa xuân xanh” là khúc dạo đầu về mùa xuân thật ấn tượng của Nguyễn Bính. Nhà thơ đã phát hiện ra một thi tứ hết sức độc đáo: sự đợi chờ khí xuân của tạo vật lại diễn ra ngay trên sự lụi tàn. Và trong tương quan ấy, con người cũng đang khao khát chờ đợi xuân tình. Cả vũ trụ như chờ đón mùa xuân, tình xuân. Nguyễn Bính đã dựng lên một chiếc phông choáng ngợp bởi màu xanh: nền trời xanh, cây xanh, lá xanh trên cành, cỏ xanh trên những nấm mộ, xanh xanh những lũy tre làng. Trên cái nền ấy, hình ảnh con người chắc chắn sẽ rất nổi bật, càng nổi bật hơn khi đó lại là hình ảnh thiếu nữ, vị thiên sứ của cái đẹp trần gian. Con người đã giành lấy ngai vị chuẩn mực để buộc thiên nhiên quy chiếu vào mình. Chẳng thế mà có cái nghịch lý: sao trong bát ngát màu xanh ấy, nhân vật trữ tình lại chỉ nhìn thấy một chiếc thắt lưng xanh nhỏ nhoi của người yêu từ rất xa khi vừa mới ra khỏi lũy tre làng. Các nhà điện ảnh, sân khấu hay hội họa chắc chắn sẽ kịch liệt phản đối điều này. Bởi theo lẽ thường, một cái thắt lưng xanh nhỏ xíu ẩn hiện đằng xa thật khó mà nổi bật được trên cái nền xanh của trời, mây, tre, lúa, cỏ xanh mùa xuân. Phải chăng, trong mắt chàng thiên nhiên dù tuyệt mỹ, dù choáng ngợp không thể làm phai nhòa bóng hình của người yêu dấu. Cái thắt lưng xanh ấy quả thật là cái bắt đầu tất cả sự đợi chờ mùa xuân.
Thiết tha chằm bặp với đời, Xuân Diệu nhìn cuộc sống bằng cặp mắt xanh non biếc rờn, nhìn xuân như mùa của hạnh phúc tình yêu với hoa tươi trái ngọt và hương sắc rộn ràng. Đến thời gian cũng đẹp một cách ngưng đọng: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần (Vội vàng). Và không chỉ Xuân Diệu mới khát sống, mới yêu xuân, Hàn Mặc Tử cũng thiết tha không kém. Chàng khao khát được “sống mãi trong mùa xuân nồng ấm”, mong muốn “xe duyên” cho mùa xuân vào thơ mình, lòng mình. Bích Khê thì dạo giữa mùa xuân đầy hoa lá tượng trưng, “luyến màu nhan sắc”, ở đó thi sĩ có thể thỏa sức tận hưởng những đặc ân mà tạo hóa ban tặng: Non xa trăng đã tròn đầy/ Em ơi để mặc lòng ngây lên mùa…
Nhưng Thơ Mới, lọt lòng giữa buổi nước mất nhà tan, không chỉ ôm chứa những mùa xuân tươi xanh, không chỉ dậy lên sắc má hồng thiếu nữ, mà còn tê tái những mùa xuân u hoài.
Xuân có tươi vui nhưng chỉ là thoáng chốc. Cái tươi vui ấy sớm nhường chỗ cho nỗi u hoài thời thế. Tiếng vọng ấy, có lúc, dội vào lòng Chế Lan Viên mỗi độ xuân về: Ai đâu trở lại mùa thu trước/ Nhặt lấy cho tôi những lá vàng/ Với cả hoa tươi muôn cánh rã/ Về đây đem chắn nẻo xuân sang (Xuân). Lưu Trọng Lư đau xót khi mùa xuân trở về còn người xưa thì không bao giờ trở lại: Rồi lại ngày/ Sắc màu: phai/ Lá cành: rụng/ Ba gian: trống/ Xuân đi/ Chàng cũng đi/ Năm nay xuân còn trở lại/ Người xưa không thấy tới. Thế Lữ, người khách lữ hành đi qua trần thế, mà lạc bước vào mùa xuân bồng lai tiên cảnh với tiếng sáo trong lướt trên ánh cỏ xuân tươi. Nhưng nghịch lí thay, đó lại là tiếng sáo sầu thảm: Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi! Xa vắng mênh mông là buồn (Tiếng sáo Thiên Thai). Còn Vũ Đình Liên, mỗi khi hoa đào nở, lại cảm hoài cho một nét văn hóa xuân nay đã phai tàn theo hồn “những người muôn năm cũ”.
Mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính là cả một mùa lỡ làng vì lỗi hẹn: Chờ mãi anh sang anh chẳng sang/ Thế mà hôm nọ hát bên làng/ Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn/ Để cả mùa xuân cũng lỡ làng (Mưa xuân). Đằng sau những gì tươi ấm của những vần thơ chân quê là dư vị đắng cay, nỗi lòng trắc ẩn của một người khách tha hương, suốt đời ôm mộng nhớ thương mà không được báo đáp. Nguyễn Bính cả đời tương tư, lỡ dở ngay cả trong những mùa xuân: Xuân đã sang đò nhớ cố nhân;… Phơi phới mưa sa nhớ cố nhân;… Một cánh đào rơi nhớ cố nhân. Với Nguyễn Bính, không gian tha hương không tồn tại mùa xuân: Kinh kỳ bụi quá xuân không đến, hay: Giữa nơi thành thị gió mưa phai/ Chết dần từng nấc rồi mai mốt/ Chết cả mùa xuân chết cả đời. Thơ Mới quan niệm thời gian là tuyến tính, mỗi khoảnh khắc trôi qua là không trở lại bao giờ. Riêng với Xuân Diệu, thời gian chỉ có hai mùa là mùa xuân, và phần còn lại (bút danh Xuân Diệu cũng chính là sự diệu kỳ của mùa xuân, của tình yêu rồi). Mặc dù đã tự trấn an mình: Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng, nhưng ông hoàng của thơ tình Việt Nam vẫn đau đáu nỗi ám ảnh thời gian, cho nên mới thảng thốt nhìn xuân đi: Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua/ Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già (Vội vàng)…
Với Yến Lan, nói đến mùa xuân là phải nói đến mai như một tâm thức hiện sinh. Mai mang vẻ đẹp mong manh luôn là chứng nhân của những thăng trầm trong cuộc sống, gắn liền với những biến sinh của xã hội, sự hưng phế trong cuộc đời. Phải chăng, Yến Lan đã cầm trên tay cành mai của thiền sư Mãn Giác để rồi có rất nhiều bài thơ hay: “Nỗi khổ của mai”, “Vườn hoang”, “Vóc mai”, “Xuân hoài”, “Xuân tảo”, “Xuân cách”, “Quý mai”, “Đêm xuân trông sao”, “Lụy nhớ”, “Tỉa mai”… Với Hàn Mặc Tử, mùa xuân dù có chín, có thiết tha rạo rực vẫn phảng phất chút gì tiếc nuối xót xa qua hình ảnh người thôn nữ gánh thóc dọc bờ sông đầy nắng khép lại bài thơ. Khí xuân nồng ấm, tình xuân rạo rực càng làm cho thi sĩ thấm thía nỗi cô đơn: Với ngày xuân hờ hững/ Lòng xuân cũng não nề (Tình quê).
Mùa xuân trong Thơ Mới đã được những cái tôi cá thể cảm thụ một cách độc đáo, riêng tư. Sắc xuân bị chi phối bởi cái tôi cô đơn, cách biệt - những cái tôi coi chuẩn mực của cái đẹp là sự tĩnh lặng, u buồn, mong manh và hư ảo. Nó khác với mùa xuân trong thơ cách mạng sau này là mùa xuân của lòng người, của lịch sử và tương lai - mùa xuân ký thác tâm trạng của những cái tôi trữ tình chính trị, như mùa xuân ngời sáng trong thơ Hồ Chí Minh, mùa xuân lộng lẫy trong thơ Tố Hữu. Nó cũng khác với cái mong manh hư ảo của mùa xuân trong thơ thiền và thơ haiku, là mùa xuân vĩnh hằng trong dòng chuyển lưu vô tận, sắc xuân vượt thoát khỏi sự vô thường và biến hoại của cuộc sống mà trở nên huyền ảo, lạ kỳ.
Xuân của đất trời muôn đời vẫn thế, xuân trong lòng người thì mỗi thời lại khác nhau. Sắc xuân trong Thơ Mới mang nặng cảm thức thời gian của con người cá nhân, biểu hiện quan niệm về cuộc đời của lớp trí thức trẻ thời đại “tỉnh - thức” 1932 - 1945. Thơ Mới cho ta sống lại cái không khí náo nức mỗi độ xuân về, cái nuối tiếc, xót xa trong buổi xuân đi. Sắc xuân trong Thơ Mới góp phần kiến tạo lại những nét văn hóa Việt Nam bền vững.
1/ Phạm Trọng Thanh, Ước vọng mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính, báo Tiền Phong, 15/12/2011.
2/ Đỗ Lai Thúy, Con mắt thơ, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1997.
 PHẠM VĂN HỌC
Theo http://vannghequandoi.com.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...