Văn học Việt Nam thế kỷ XX
|
Thông thường lịch sử văn học Việt
nam được phân chia phỏng theo sự phân kỳ của lịch sử, tức là
văn học trung đại, văn học cận đại, văn học hiện đại (bao gồm cả văn
học đương đại). Về phần mình, chúng tôi cho rằng có thể khái quát
nền văn học này vào hai giai đoạn lớn là văn
học từ thế kỷ XIX về trước và văn học thế kỷ XX. Tập sách này đưa
ra một cái nhìn khái quát về giai đoạn thứ hai mà xu thế vận động
của nó còn đang tiếp tục cho tới hôm nay.
Lý do chính để có sự
phân chia như trên: chúng tôi muốn nhìn văn học như một hiện
tượng văn hoá. Các sự kiện lịch sử thường không mấy khi tác động ngay tới văn
học mà phải thông qua văn hóa; mà sự vận động của văn hoá thì thường
chậm rải từ tốn khó xác định bằng những cái mốc rõ rệt. Mượn một thuật ngữ của
nhà nghiên cứu người Nga M. Bakhtin, chúng tôi muốn nói tới những
thời đại lớn trong đời sống tinh thần. Theo sự đọc được còn rất ít ỏi của người
viết thì nhiều bộ văn học sử ở Pháp ở Nga cũng đang áp dụng cách
nhìn văn hóa học như thế này đẻ khảo sát văn chương. Ngay ở Trung
quốc hôm nay,xu hướng tách thế kỷ XX thành một đơn vị độc lập
cũng đang được nhiều nhà nghiên cứu theo đuổi và tỏ ra là có triển
vọng.
Thuận lợi lớn nhất cho việc nhìn lại
văn học Việt Nam thế kỷ XX là ở chỗ đầu thế kỷ XX đánh dấu một
khúc quanh của tiến trình văn hoá, và lịch sử văn học (nằm trong
cái mạch vận động của văn hoá nói chung) rẽ ngoặt sang một bước mới.
Dù đến giữa thế kỷ XX, dân tộc này còn trải qua một cuộc cách mạng
lớn lao lay chuyển mọi nền nếp sẵn có, và mọi hoạt động xã hội sẽ chịu sự chi
phối của một xu hướng mới, song nhìn chung, về nhiều mặt, trong đời sống văn
chương vẫn có một sự liên tục. Đằng sau cái bằng chứng rành rành là gần như
toàn bộ nền văn học thế kỷ này được viết bằng chữ quốc ngữ (so với các thế kỷ
trước viết bằng chữ Nôm hoặc chữ Hán), còn có thể nhận ra hàng loạt sự nhất
quán khác, cũng không kém phần rõ rệt. Tất cả những yếu tố này hợp lại khiến
cho so với các thế kỷ trước văn học thế kỷ XX trở nên khác hẳn, và cả hai tạo
nên một cặp đối lập (cái đối lập rất cần thiết cho người ta trong khoa học
khi muốn làm công việc so sánh).
Sau khi phân tích hoàn cảnh xã hội,nhiều
cuốn sách văn học sử thường đi vào khái quát các trào
lưu chính chi phối sự vận động của lịch sử văn học, nhất là nói kỹ về
các tác giả quan trọng nổi bật trong giai đoạn. Để có
điều kiện nhìn văn học dưới góc độ văn hoá, chúng
tôi muốn cùng bạn đọc tìm tới những đường dây mới: Môi trường văn
học, chủ thể văn học, sự tiếp nhận ảnh hưởng nước ngoài và sự nối
tiếp di sản ông cha. Trước khi dừng lại ở các thể tài như thơ tiểu
thuyết, phê bình văn học, còn có cả một chương nói về hệ thống thể loại
cũng như sự phát triển của ngôn ngữ văn học nói chung
Trong phần căn bản, tập
sách là sự trình bày ngắn gọn những kết quả chúng tôi thu hoạch được khi
khảo sát đối tượng. Để đạt được những kết quả này, chúng tôi phải
xác lập những quan niệm có tính chất chỉ đạo chi phối cách
hiẻu về đối tượng. Phần này được đưa vào phụ lục tập sách.
Khi chúng tôi bắt tay viết tập sách
nhỏ này, bộ phận văn học ở các vùng bị chiếm thời kỳ kháng chiến
chống Pháp cũng như văn học Sài Gòn thời kỳ trước 1975 chưa được
chính thức sưu tầm và nghiên cứu. Trong khi suy nghĩ về sự phát triển của văn
học Việt nam nói chung, chúng tôi vẫn coi đó là một thực tế cần được tính tới
của lịch sử văn học. Tuy nhiên, trong tập sách này, bộ phận văn học đó còn
chưa được tính tới đầy đủ như đáng lẽ nó phải có. Xin được xem đó là một hạn
chế ngoài ý muốn của người biên soạn.
I. MỘT MÔI
TRƯỜNG MỚI HÌNH THÀNH
Suốt thời gian dài hàng mấy thế kỷ
sự sáng tạo văn chương ở ta (nếu không phải là tất cả thì cũng là một phần
đáng kể) loay hoay trong một cái khuôn khá chặt là nhà trường và sự thi cử.
Người ta vẫn làm thơ viết văn, và phải nói là làm rất nhiều nữa. Nhưng thường
chỉ xem đó là một cách nói chí mình ( ngôn chí ), nhân hứng thì viết ra (mạn
hứng) tóm lại là một cách để tu dưỡng tính tình, đôi khi là tự tiêu khiển
(theo nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu “văn nhân vẫn gần với loại thánh hiền hơn
loại nghệ sĩ”). Xét về hiệu quả, tác phẩm viết ra không để cho ai khác đọc
ngoài chính mình, bè bạn mình, và kẻ sẽ chấm bài thi của mình.
Kể ra, cũng có một số người mơ tới
chuyện đưa tác phẩm (nhất là những tác phẩm tương đối dài hơi) ra trước công
chúng, nhưng mơ để mà mơ, giữa dự tính và khả năng thực hiện có một khoảng
chênh lệch khá hơn. Sự phổ biến văn chương lúc ấy gặp muôn vàn khó khăn.
a. Văn tự (kể cả chữ Hán lẫn chữ
Nôm) không thể phổ cập tới đám đông.
b. Không có những công cụ xã hội
như báo chí, xuất bản để thường xuyên đăng tải.
c. Phương tiện thông tin giao tiếp
quá đơn sơ, tốc độ chậm chạp, người ta sống với làng quê của mình nhiều hơn sống
với cả nước, mặc dù vẫn luôn luôn nghĩ đến đất nước. Trong hoàn cảnh ấy, một
tác phẩm văn chương sau khi ra đời thường chỉ được biết tới trong phạm vi
vùng đất nhỏ nào đó, và phải rất lâu thường khi vài chục năm ròng, rồi những
Truyện Kiều, Hoa Tiên, Lục Vân Tiên hoặc thơ Hồ Xuân Hương mới có dịp phổ biến
trên một phạm vi tạm gọi là rộng rãi so với các vùng tác giả sinh sống.
Bước sang thế kỷ XX, dần dà mỗi
ngày một ít, sinh hoạt văn chương trở nên thay đổi khác hẳn.
Trong lòng các đô thị vừa được nhà
cầm quyền thuộc địa ký sắc lệnh thành lập, một lớp công chức mới ra đời, với
những yêu cầu “tối rượu sâm banh sáng sữa bò” của họ. Báo chí sách vở cũng là
một bộ phận không thể thiếu trong yêu cầu đó. Theo nền nếp Âu Tây, rồi các loại
báo chí viết bằng chữ quốc ngữ và các hiệu sách (tiền thân của các nhà xuất bản),
cũng lần lượt xuất hiện. Có “sàn diễn” thì phải có người biểu diễn. Lại nữa,
những “sàn diễn” này hoạt động định kỳ, tức đòi hỏi người ta thường xuyên
cung cấp bài vở. Thế là, sau lớp ký giả thuần tuý, một số nhà văn nhà thơ chọn
việc soạn sách làm một nghề. Với họ, việc sáng tác văn chương không những là
phương tiện kiếm sống đủ nuôi sống bản thân và gia đình, mà còn có thể có
danh, tức được trọng vọng. Một guồng máy sản xuất và tiêu thụ văn chương cứ
thế hình thành và lớn mãi lên, mở rộng mãi ra. Xét trên toàn cục, văn chương
lúc này thật đã thoát khỏi tình trạng “tự phát”, “tự cung tự cấp” ngày xưa, để
trở thành một ngành hoạt động xã hội. Rồi người ta lại nhanh chóng nhận ra rằng
văn chương có sức tác động đáng kể đến tính tình, cách sống, cách nghĩ của bạn
đọc đương thời. Trong tay những người khác nhau, văn chương có thể được lèo
lái theo những phương hướng khác nhau. Nhóm Đông Dương tạp chí, nhóm Nam
Phong, Văn Đoàn Tự Lực… mỗi nhóm như vậy đều có cách riêng trong việc sử dụng
sáng tác để phục vụ cho các mục đích xã hội - chính trị của mình.
Tới sau 1945, thì văn chương lại
càng có dịp thật sự trở thành một lực lượng được tổ chức.
Trong điều kiện của cách mạng và
kháng chiến, khi sức người sức của được tận dụng triệt để, thì cũng là lúc giới
cầm bút được đoàn ngũ hóa chặt chẽ, sự sáng tạo được chỉ đạo sít sao để tạo
thành sức mạnh đóng góp cho sự nghiệp chung.
Còn một khía cạnh nữa trong nếp sống
văn nghệ từ đầu thế kỷ cũng đã hình thành và càng về sau càng được được củng
cố, ấy là việc tạo ra một mặt bằng thống nhất trong cả nước. Nhờ có đường sắt,
nhờ có bưu điện, nhờ có trăm ngàn phương tiện thông tin ngày một hiện đại,
sáng tác của những người cầm bút không còn ở trong tình trạng manh mún từng
vùng trước đây mà sớm gia nhập vào đời sống văn học nói chung. Trước 1945,
Trúc Hà từ Nam bộ đã viết nhiều bài cho Nam Phong, Thanh Tịnh là cộng tác
viên tích cực của Ngày nay, thơ Quách Tấn từ Bình Định, Nha Trang gửi ra Hà Nội
xuất bản… Hồi kháng chiến chống Pháp, sách báo len lỏi đi về giữa các vùng tự
do ở Việt Bắc, Khu Ba, Khu Bốn, Khu Năm. Hồi chống Mỹ, Nguyễn Tuân và Anh Đức,
người ở Hà Nội người ở trong Nam, mấy lần đối thoại với nhau qua làn sóng
phát thanh; và đến nay thỉnh thoảng vẫn thấy báo Văn Nghệ ở Hà Nội đăng tải
những bài do người Việt ở nước ngoài gửi về. Văn chương đã tận dụng được mọi
lợi thế của thời đại thông tin - nói một cách văn hoa, văn chương có cánh, đấy
là cái đặc quyền mà chỉ sự sáng tạo ở thế kỷ này mới có.
Hai loại mô hình đối lập
Theo các nhà nghiên cứu văn hoá, mặc
dù trong thời trung đại trên đất Việt Nam đã có những trung tâm buôn bán sinh
hoạt theo kiểu đô thị, nhưng xét kỹ thì đó chưa thể gọi là đô thị điển hình.
Còn như bước sang thế kỷ XX, những Sài gòn, Hà Nội Hải Phòng
đã phát triển tới mức trở thành những đô thị gần giống
như người ta vẫn thấy ở nhiều nước khác thời hiện đại. Chính sự phát triển đô
thị như thế đã ảnh hưởng tới bản chất cuả văn học trong
hai thời kỳ khác nhau. Xét văn chương như một quá trình sản xuất
thì về căn bản, văn học VN trung đại là một nền sản xuất tự cấp tự
túc. Trên cả nước thị trường văn học chưa hình thành. Hoặc có thể nói
là đã hình thành song còn hết sức yếu ớt. Riêng bộ phận
văn học đô thị tuy đã hình thành, nhưng mới chỉ đóng vai trò một
thứ văn học chầu rìa.
Một mặt phải nhận là những
nhân tài lớn của đất nước như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Gia Thiều, Tú Xương… đều có ở qua đô thị.
Mặt khác nhìn chung thì lực lượng
sáng tác ở đây mỏng mảnh, những tư tưởng văn học xuất
phát ở đây thường bị coi thường
Một sức hút mãnh liệt
Khi đô thị trở thành địa bàn chính
của sự sản xuất văn học thì đồng thời nó cũng là mảnh đất có sức thu hút mãnh
liệt đối với các tài năng. Thử tính toán qua, người ta cũng có thể lập nên một
bảng danh sách khá dài các nhà văn
II. NHỮNG CÔNG CỤ MỚI - BÁO CHÍ VÀ
XUẤT BẢN
Tầm quan trọng
ý nghĩa lớn nhất mà báo chí và xuất
bản mang lại cho đời sống văn chương thế kỷ XX có lẽ là ở chỗ từ đây, sự sáng
tạo vượt qua giai đoạn tự phát vất vưởng, đã trở nên những sản phẩm ra đời tập
trung, có ý thức. Khi hình dung ra việc tác phẩm của mình sẽ xuất hiện trên mặt
báo hoặc trở thành những cuốn sách bày bán khắp nơi cũng tức là lúc người viết
hiểu rằng nó có hàng ngàn hàng vạn công chúng. Từ nay, việc cung cấp thứ thức
ăn tinh thần này có được một nếp sống công nghiệp mà thời trung đại không thể
có.
- Với việc được giới thiệu trên mặt
báo rồi in ra thành cuốn sách riêng, mỗi tác phẩm văn chương in ra trong thế
kỷ XX có một đặc điểm khác so với cuốn truyện, bài thơ xuất hiện thời trung đại:
nó có một cái khung thời gian - không gian cụ thể. Sách viết ra năm nào, in
năm nào ở nhà xuất bản nào, những chi tiết ấy tưởng là nhỏ nhặt không đáng kể,
nhưng thật ra, vẫn là những chỉ số giúp cho người ta xác định giá trị và thấu
hiểu tác phẩm.
- Đứng về bản thân giới sáng tác mà
xét, thì việc xuất hiện các tờ báo, các nhà xuất bản mang lại cho công việc của
họ một sự kích thích cụ thể. Hơn nữa qua các toà soạn các ban biên tập họ có
chỗ để cộng tác cùng làm việc chung. Trong các công trình nghiên cứu lịch sử
văn học, tên của các tờ báo, các nhà xuất bản thường được dùng để chỉ nhóm
phái được hình thành khi ngẫu nhiên khi tự giác chung quanh tờ báo (hay Nxb)
và đã sử dụng tờ báo (hay Nxb) này làm cơ quan ngôn luận: Nhóm Đông Dương tạp
chí, nhóm Nam Phong nhóm Thanh Nghị, nhóm Tri Tân, nhóm Hàn Thuyên v.v…
Trở lại với tình trạng công bố tác
phẩm từ thế kỷ XIX về trước
“Trước khi Pháp sang xâm lược, ở Việt
Nam chưa có báo” (Thư tịch báo chí Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, 1998,
trang 7).
Sách vở in ra thì có khá hơn một
chút: Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu đã nói tới hơn 5.000 đầu sách.
Tuy nhiên, đọc một cuốn như Hà Nội thanh lịch của Hoàng Đạo Thúy (phần sách học)
thì thấy: tới cuối thế kỷ XIX ở Hà Nội cũng chỉ có một ít cửa hàng bán sách,
các cửa hàng này nhân thể lo in sách. “Phần lớn là in sách cổ điển, không phải
trả “bản quyền”. Có khi cả “sách mới”. Người viết hoặc là vì thích văn
chương, hoặc vì muốn “lập ngôn” – nói lời tốt để cho đời – nên cũng không
nghĩ đến “nhuận bút”. Các sách thường sao tay nhiều lần. Nhà in biết tiếng, đến
xin, là được ngay. Bộ y tông tâm lĩnh của Lãn Ông cũng được sao và truyền đi
trước khi được in. Bản in của bộ sách ấy để kín một gian nhà”. Lối in ấn và
ra sách lúc ấy có thể tóm lại ở mấy chữ manh mún, rề rà, bé nhỏ, và khá xa với
khái niệm xuất bản hiện đại.
Báo chí và xuất bản văn chương thời
kỳ sơ khai, từ khi Pháp sang cho tới khoảng 1930
Lịch sử báo chí đi từ công báo sang
các tờ báo phản ánh dư luận xã hội và từ báo tổng hợp sang báo phân
ngành. ở Việt Nam cũng vậy. Trên các báo xuất hiện đầu tiên ở nước
ta, như Gia đinh báo, Nông cổ mìn đàm, Đăng Cổ tùng báo v.v… thỉnh thoảng
cũng có đăng thơ văn, song theo Vũ Ngọc Phan, đó chỉ là “thơ văn của độc giả,
nhà báo đăng theo cách khuyến khích, thật ra chưa đáng kể là thơ văn”. (Nhà
văn hiện đại, quyển I).
Những tờ báo ra đời trước 1932, ít
nhiều có liên quan nhiều đến văn học, bao gồm: Đông Dương tạp chí, Nam Phong,
Phụ nữ tân văn, An Nam tạp chí v.v... Các tờ báo này thường có mục văn uyển
giới thiệu thơ văn mới sáng tác cũng như thơ văn truyền tụng đã lâu, nay được
sưu tầm, ngoài ra, còn có phần văn dịch. Trong việc hình thành nền quốc văn mới
báo chí có gì đó giống như nơi người ta tập tành, để chuẩn bị cho những bước
đi dài rộng hơn.
Riêng về xuất bản, mọi hoạt động
còn có tính cách sơ khai. Thường là các nhà in, các hiệu sách làm việc này
theo lối kiêm nhiệm. Chẳng hạn, ở Sài Gòn, đứng tên sau sách của Trương Vĩnh
Ký là Impremerie de la Mission, hoặc Rey et Curiol, sách của Hồ Biểu Chánh là
nhà in Union, nhà in Xưa nay… ở Hà Nội sách của Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh
là Đông Kinh ấn quán, sách của Phan Kế Bính là nhà in. Lê Văn Phúc v.v… Nhiều
tác giả khác, có sách thì gửi tới các nhà in như Đông Tây, Ngọ báo, Trung Bắc
tân văn, Nghiêm Hàm, Kim Đức Giang, hoặc các hiệu sách như Nam Ký, Nhật Nam…
nhờ họ xin giấy phép để xuất bản. Ngay cả khi có một số cơ sở đứng tên độc lập
lo việc này, thì tính tới trước 1930 hoạt động của họ cũng còn đơn giản, chưa
có chủ trương riêng, chưa tạo ra được những cuốn sách có sắc thái riêng như
chúng ta sẽ thấy trong giai đoạn sau.
Báo chí và xuất bản thời kỳ ổn định
1932 - 1945
- Một mặt, từ thời kỳ này, có những
tờ báo chuyên về văn chương, hoặc chủ yếu là văn chương có khuynh hướng
riêng, lực lượng viết ổn định, để lại dấu ấn trong đời sống văn học như Phong
Hoá, Ngày Nay, Tiểu thuyết thứ bẩy, Tao đàn, Thanh Nghị, Tri Tân. Mặt khác,
các nhà xuất bản tương đối bề thế làm ăn có quy củ cũng bắt đầu hình thành, để
lần lượt tung ra những cuốn sách nổi tiếng trong đó có một số sẽ còn mãi với
lịch sử văn học, đó là các nhà xuất bản Đời Nay, Tân Dân, Mai Lĩnh, Tân Việt
v.v... (Sau này, ở Sài Gòn từ 1954 đến 1975, quá trình này sẽ có dịp tái diễn,
với các tạp chí Bách Khoa, Sánh tạo, Văn, các nhà xuất bản Trí Đăng, An Tiêm…
và ổn định nhất là nhà Khai Trí ).
- Một trong những đặc điểm của quá
trình văn học hiện đại là luôn luôn nổ ra những cuộc tranh luận. Nếu trước
1932, người ta đã thấy mầm mống của những cuộc bàn cãi mà nếu đẩy tới, hẳn sẽ
sôi nổi (Ngô Đức Kế với bài Luận về chính học cùng tà thuyết in lần đầu trên
Hữu Thanh, 1924), thì từ sau 1932, người ta có thể kể ra hàng loạt cuộc tranh
cãi, chung quanh vấn đề quốc học, chung quanh thơ mới thơ cũ, rồi tranh luận
về duy tâm và duy vật, về nghệ thuật vị nhân sinh hay nghệ thuật vị nghệ thuật...
Những cuộc tranh luận này chỉ có thể tiến hành trong điều kiện báo chí văn học
trưởng thành và phân hóa rõ rệt. Chính qua những cuộc tranh luận này, mà một
cây bút đứng trên lập trường văn hóa vô sản như Hải Triều (1908-1954) có dịp
bộc lộ tài năng và nhiệt huyết của mình.
- Ngay từ trước 8/1945, báo chí
cách mạng đã được in ra một số công khai, còn phần lớn bí mật, và lưu hành ở
mức độ khác nhau. Đó là các tờ: Tin tức, Giải phónq, Cứu quốc, Độc lập, Hồn
nước v.v... Trong các tờ báo này, phần văn chương được dành riêng một vị trí
đáng kể trong đó chủ yếu là thơ ca và tiểu luận.
Báo chí và xuất bản sau Cách mạng
tháng Tám
- Hội Văn hóa Cứu Quốc (trong Mặt
trận Việt Minh) ra đời từ 1943. Tới đầu 1945, các thành viên trong tổ chức
này như Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Như Phong, Học Phi, Nguyễn Đình Thi, Trần
Huyền Trân v.v… đã tính tới việc cho ra đời tờ báo chuyên về văn chương của
mình.
Số 1 của tờ Tiên Phong đang được
chuẩn bị thì Cách mạng tháng 8 thành công, và cũng ra công khai, dưới hình thức
bán nguyệt san.
Cũng từ cuối 1945, Hội Văn hóa Cứu
Quốc đã đứng tên xuất bản nhiều cuốn sách như Một nền văn hóa mới, Văn sĩ xã
hội, Luống cày v.v…
Tiếp đó, những năm kháng chiến chống
Pháp: ở Việt Bắc, trước khi Hội Văn nghệ Việt Nam tuyên bố thành lập 6/1948,
tạp chí Văn Nghệ đã ra số 1 (3/1948), và Nhà xuất bản Văn Nghệ. cũng bắt đầu
hoạt động. Ngoài công việc cụ thể, các cơ quan này còn đóng vai trò tập hợp lực
lượng.
Đây cũng là vai trò mà các tờ báo
như Văn nghệ giải phóng, Văn nghệ quân giải phóng, hoặc nhà xuất bản Giải
phóng đảm nhiệm, trong thời gian chống Mỹ.
- Có thể tạm thời kể ra mấy đặc điểm
chính của báo chí và xuất bản văn học, từ sau 1945.
a/ Có lực lượng hùng hậu.
b/ Có sự ổn định cao
c/ Thâm nhập vào các nhà xuất bản tổng
hợp của các địa phương, các ngành nghề, nên tạo ra một hệ thống khá bề thế.
Nếu kể từ khởi nguyên cho tới năm
1945, xứ ta đã có trên 1.000 tờ báo (con số của Tổng tập văn học Việt Nam, tập
20), thì hiện nay, toàn quốc có trên 400 tờ, không nhiều thì ít tờ nào cũng
có trang dành cho văn chương. Như trên đã dẫn, tổng số đầu sách Hán Nôm thuộc
mọi môn loại được kiểm kê thời gian gần đây là trên 5.000, trong khi đó,
trong 50 năm tồn tại của mình, riêng Nxb Văn học đã in ra tới 4.500. Thời tiền
chiến, trong nhiều năm, một cuốn tiểu thuyết như Hồn bướm mơ tiên (loại bán
chạy và có giá trị), chỉ in ra tới 14-15.000 bản gì đó, thì giờ đây, cuốn Gió
lộng của Tố Hữu, riêng trong lần in thứ nhất (1962), số lượng đã lên tới trên
60.000 bản.
Hai lần bùng nổ
Trường hợp của Gió lộng, cũng như Sống
như Anh, Từ tuyến đầu tổ quốc, Cù lao Tràm… cho thấy một sự bùng nổ đáng kể của
xuất bản: bùng nổ trên phương diện số lượng bản in của từng cuốn sách.
Còn từ sau 1986 đến nay, người ta lại
được chứng kiến một sự bùng nổ khác: bùng nổ số lượng đầu sách. Tuy bản in của
từng cuốn sách văn chương quanh quẩn ở con số vài ngàn, và hiện nay đã tụt tới
mức một ngàn, song sách ra nhiều vô kể, bìa đẹp, giấy trắng, ở đó, bên cạnh
sáng tác mới, là các cuốn sách tái bản; bên cạnh sách trong nước là sách dịch
từ nước ngoài. Hầu hết các tác giả cổ điển được dịch in dần dần. Sách của nước
ngoài có những cuốn vừa trở thành sách bán chạy bên Anh bên Mỹ, vài tháng sau
đã được dịch và in ra bằng tiếng Việt. Cố nhiên, sự bùng nổ này, còn nghiêng
về số lượng, mà chất lượng các bản dịch thường chưa được bảo đảm, tuy nhiên
nó cũng là một hiện tượng mới mẻ, con người ở các thế kỷ trước có nằm mơ cũng
không tưởng tượng nổi.
Đất thể nghiệm
Tuy văn chương ra đời trước báo chí
nhưng ở nước nào cũng vậy, từ khi báo chí xuất hiện, nó liền được xem như một
phương tiện hữu hiệu giúp cho sự phổ biến tác phẩm.
Giống như một mâm cỗ, một tờ báo
bao giờ cũng gồm có nhiều món khác nhau, và văn chương chỉ là một trong các
món được dọn. Hơn nữa, báo chí ra theo định kỳ, tờ báo in ra hôm nay, thì
ngày mai đã trở thành cũ. Việc giới thiệu văn chương trên mặt báo thường khi
kèm theo một quy ước ngầm: ở đây nó được phép có cái lỉnh kỉnh, cái bất toàn
của một sản phẩm chưa hoàn thiện.
Thế cho nên, ở nước nào cũng vậy,
các nhà sáng tác thích tìm đến báo chí, xem đó là mảnh đất lý tưởng giúp cho
họ điều kiện đưa tác phẩm tiếp xúc với đồng nghiệp và bạn đọc.
Ở xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX, tình hình cũng không có gì khác. Lúc này, văn học bắt đầu chuyển sang một
bước ngoặt mới. Nó cần có những thể nghiệm liên tục trên các phương diện ngôn
ngữ và thể loại. Vai trò của báo chí với tư cách những bệ phóng thử được tận
dụng tới mức tối đa. Sinh thời Phạm Duy Tốn chưa có tác phẩm được in thành
sách và cả những bài văn biền ngẫu của ông (kiểu Mưa dầm vui cho ai, buồn cho
ai) lẫn các truyện ngắn có giọng văn hiện đại như Sống chết mặc bay đều in
trên Nam Phong. Để hiểu cho kỹ một tác phẩm như Vang bóng một thời của Nguyễn
Tuân chỉ cần so sánh giữa bản in lần đầu trên các tờ Tao đàn, Tiểu thuyết thứ
bảy, với các bản in thành sách về sau. Một tình hình tương tự cũng thấy xảy
ra với nhiều tiểu thuyết phóng sự của Vũ Trọng Phụng. So sánh Tự truyện của
Tô Hoài khi in trên tờ Tác phẩm mới (1970) với khi in thành sách (1973) người
ta thấy có nhiều chỗ được sửa chữa.
Đóng góp thường xuyên
Tuy có những thay đổi cơ bản trong
cách viết, song sự sáng tác văn chương vẫn là hoạt động đã quen thuộc với mọi
người cầm bút ở Việt Nam đầu thế kỷ. Trong khi đó, viết báo là một nghề mới
du nhập, hoàn toàn non nớt. Bởi vậy, trong thời gian đầu, báo phải dựa vào
văn mà tồn tại. Thường lúc đó, người có gan đứng ra xin phép mở tờ báo hoặc
được thuê để làm chủ bút là dân văn chương. Và trong thực tế, nhiều nhà văn
khi mới vào nghề đã tập sự trong nghề báo, một số khác suốt đời vừa viết văn
vừa viết báo: Khái Hưng, Thạch Lam, Vũ Bằng, Xuân Diệu, Chế Lan Viên v.v… Một
người như Ngô Tất Tố, tuyển tập của ông bản in 1998 có 1312 trang, thì trên
400 trang dành cho tiểu phẩm. Chỉ tiếc là số người có may mắn như tác giả Tắt
Đèn quá ít. Con người nhà báo trong nhiều nhà văn thường bị quên lãng.
Dòng chảy liên tục
Từ những tờ báo có tính tổng hợp, dần
dần, trong giới báo chí, thấy tách ra các tờ báo, tạp chí chuyên ngành, và
trong số này, những tờ chuyên về văn chương thường để lại ấn tượng đậm trong
cả giới làm văn cũng như giới báo chí: Phong hoá, Ngày nay, Tao đàn, Tiểu
thuyết thứ bảy (thời tiền chiến), Văn nghệ, Văn Nghệ Quân đội, Tác phẩm mới
(sau 1945), Sáng tạo, Bách khoa, Văn (ở Sài Gòn trước 1975). Từ 1975 trở đi,
nhiều địa phương có Hội Văn nghệ, mỗi hội này có một tờ báo riêng, báo chí
chuyên ngành văn nghệ vì vậy khá nhiều, có những tờ được phổ biến khá rộng
như Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Văn, Sông Hương, Cửa Việt, Đất Quảng v.v.. Trong
khi ấy những tờ báo của các ngành khác, như Thương nghiệp, Đường Sắt, Ngân
hàng, báo của các đoàn thể như Đại đoàn kết, Tiền phong vẫn có trang văn nghệ
của mình, việc này giúp cho các nhà văn có điều kiện hơn bao giờ hết để công
bố các sáng tác mới.
Giả sử thế giới có một bảng xếp hạng,
hẳn có thể đoán là tay nghề của các nhà báo ở ta, cũng
như bóng đá mà hàng ngày chúng ta vẫn xem, chỉ chiếm một vị trí khiêm tốn.
Điều này hoàn toàn là có thể hiểu
được nếu biết rằng nghề báo mới chỉ du nhập vào xã hội VN từ những thập kỷ cuối
của thế kỷ XIX sau đó trở thành một hoạt động bình thường trong xã
hội từ nửa đầu thế kỷ XX. Lịch sử báo chí cũng gần như trùng với lịch sử văn
học hiện đại.
Dẫu rằng nghề làm báo vốn
từ Tây phương truyền sang, song những người đứng ra viết báo đầu
tiên lại ở xứ ta (rõ nhất là ở Hà Nội) lại là các cụ đồ nho biết
chữ Hán (mà người xưa quen gọi là chữ nho). Nói gì thì nói các cụ cũng có một
căn bản văn hoá nào đó. Chữ quốc ngữ lại dễ học với mọi người. Các cụ tìm thấy
trong việc làm báo một điều kiện tốt để thực hiện cái chí đã hấp thụ từ đạo
thánh hiền “nhất ngôn khả dĩ hưng bang“, nói nôm na như con người ngày
nay tức báo chí có thể là một công cụ
tốt để đóng góp cho xã hội và trước tiên là giáo dục quần chúng.
Báo chí lại càng dễ lẫn với văn học là vì thế.
Sự thực thì những nhà báo nổi bật
trong thời kỳ mới có báo, phần lớn lại là những nhà văn.
Bên cạnh những tờ báo do chính quyền
thuộc địa lập ra thì báo chí Việt Nam ban đầu chủ yếu đã là báo
chí tư nhân hoặc mang danh những hội ái hữu nọ kia nhưng thực chất là do tư
nhân thao túng. Người đứng ra xin phép mở toà báo không chỉ muốn làm một công
vịệc có tính cách khai hoá (tên một tờ báo do Bạch Thái Bưởi chủ trương),
mà còn muốn xem báo chí là một cơ quan kinh doanh có lãi. Trong hoàn cảnh ấy, họ
giữ tư cách những ông chủ, còn ký giả thì là kẻ làm
thuê. “Chủ báo quan niệm rằng ký giả là người làm công, ngày hai buổi đến toà
soạn để viết xã luận đưa tin tức trám cho đầy các cột báo “. Đấy là ghi nhận của Hoàng
Tích Chu, một người có công lớn trong việc hiện đại hoá báo chí. Nguyễn Công
Hoan trong Đời viết văn của tôi kể lại một chuyện khá vui:
Những người thực thi việc làm báo
cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Tiếp tục cái ý bảo họ là kẻ làm thuê viết mướn
kiếm ăn lần hồi, Hoàng Tích Chu nói thêm “Những người làm công
nói trên tìm ở đâu ra? Đa số là những nho sĩ nghèo và dốt, những người kiến
thức nông cạn nhưng muốn loè thiên hạ với những câu văn hoa bóng bảy”.
Câu khái quát xanh rờn ấy, như chúng ta nói bây giờ,có cái cơ sở thực tế của
nó. Bởi sự thực là người có gan sang tận Pháp để học nghề như ký giả họ
Hoàng, số đó đếm chưa đầy năm đầu ngón tay. Còn lại toàn vừa làm vừa học, đại
khái trông vào các tờ báo viết bằng tiếng Pháp mà học theo. Tin thế giới thì
dịch theo bản tin yết ở nhà bưu điện.Tin trong nước toàn việc vặt
nào là quan chức thuyên chuyển, vợ chồng đánh ghen, toà án xử rượu lậu… Bên cạnh
những tin tức hổ lốn ấy là những bài thơ phú cuối mùa đặc giọng thù tạc hoặc
những bài xã luận đại cà sa, không ai muốn đọc.
Để hình dung ra công việc hàng
ngày của một người làm báo, không gì bằng đọc lại các hồi ký viết
về Tản Đà lúc làm An nam tạp chí. Tạp chí lay lắt chết đi sống lại
mấy lần. Mà ngay lúc đang sống nó cũng ốm rề ốm rệt. Toà soạn chỉ có một mình
Tản Đà,ông vừa viết bài vừa đi nhà in vừa thu tiền bán báo. Mà lại rất thích
tiếp khách. Gặp người tương đắc, ông có thể sai mấy cậu nhỏ đi mua đồ nhắm về
khề khà chén rượu nói chuyện với khách hàng buổi. Cái cảm giác về
thời gian đang trôi - điều cần nhất với nhà báo - thì Tản Đà chẳng coi ra
gì. Chẳng bao lâu đã tới cái ngày Xuân Diệu về sau còn
nhớ mãi: Ở Quy Nhơn tác giả Thơ thơ mỏi mắt trông đợi mà
mãi chẳng thấy báo ra và càng ngóng càng thấy vô vọng. An
nam tạp chí cũng yểu mệnh như người chủ trì của nó vậy.
Hình ảnh nhà báo trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan…
Trong khi hướng cặp mắt quan sát
người đời tác giả Bước đường cùng không quên dừng lại ở giới báo chí. Ông có
hai thiên truyện khá sắc sảo đó là Tôi chủ báo,anh chủ báo,
nó chủ báo và Ông chủ báo chẳng bằng lòng.
Truyện trên tố cáo cái lý do mỹ miều
mà nhiều nhà giàu đương thời xông vào làm báo, đó là tính hiếu danh. Chẳng những
không quan tâm tới sứ mệnh của ngòi bút mà cả đến cái thực chất của
báo chí họ cũng không hiểu gì cả. Ngày họ đảm đương cái chức danh chủ báo là
ngày họ nhận ra mình bị lừa: Bài vở kém cỏi, người viết xoàng xĩnh, báo ế.
Cách duy nhất để họ thoát ra khỏi cảnh phá sản là đi lừa những anh háo danh
và kém hiểu biết như mình hôm qua để thay mình chèo lái.
Còn truyện dưới thì tố cáo cái mánh
khóe xoay tiền của giới làm báo. Họ sẵn sảng đánh quả tù mù đưa
tin theo lôí nhỏ giọt bôi ra trong nhiều số, cốt để câu khách. Ai không làm
thế bị coi như tay nghề kém cỏi.
Trong khi công kích bọn người lừa đảo
mọi kẻ giàu sang phú quý đang phất lên,một số ký giả lại biến thành một kẻ
làm tiền, lo bán được báo với bất cứ giá nào, chứ chẳng có gì gọi là tâm huyết
với trách nhiệm cả.
… và trong một mẩu chuyện vui của Vũ
Trọng Phụng
Trong các tiểu thuyết của nhà văn
này như Giông tố, Vỡ đê… người ta đã loáng thoáng nhận ra hình ảnh
của kẻ làm báo với sứ mệnh điều tra sự thật từ đó đóng góp vào việc làm sáng
rõ hình ảnh một xã hội vốn nhiều bóng tối. Song là một ngòi bút hoài nghi, Vũ
Trọng Phụng không quên đặt một dấu hỏi khá to trước tư
cách người làm nghề viết báo đương thời. Sao mày không vỡ nắp ơi là tên một
bài viết trên báo Loa 1934 (mới được sưu tầm và in lại trong tập Vẽ nhọ bôi
hề in ra năm 2000). Để nói về tài đổi trắng thay đen của người cầm bút, họ
Vũ dùng bút pháp thậm xưng kể chuyện một nhà báo kiếm ăn quanh một người chết.
Ban đầu anh ta dựng chuyện người kia bị bức tử để tống tiền. Không
được anh ta đánh bài chuồn bằng cách kể rằng hồn người
chết vừa báo mộng cho biết người ấy tự tử vì một cớ vớ vẩn khác. Mọi
chuyện được giải quyết gọn ghẽ tới mức viên tri huyện có liên quan
xem xong phải thì thào “Này, sang năm về hưu tôi cũng muốn mở báo.
Vậy thế nào ngài cũng về giúp việc cho tôi nhé!“.
Trên cái nền chung của một nghề
nghiệp
Trước 1945, trong hoàn cảnh một nước
thuộc địa, ở VN đã có đại học,song các trí thức trẻ sau khi học
xong mấy trường như trường luật trường thuốc phần nhiều
gia nhập vào đội ngũ quan lại hoặc công chức cao cấp lương cao bổng
hậu, nhường việc làm văn làm báo cho các loại trí thức lơp dưới. Nhà văn đồng
thời là nhà báo Vũ Bằng có lần nhận xét báo chí thời ông là một thứ nghề
không thày không trường, cốt biết học lỏm bắt chước là được. Thành
thử, nếu như số phận của những người làm nghề ở đây có phần giống với số phận
những người làm ở các ngành nghề thủ công như làm tranh
dân gian, thêu ren, in ấn, làm đồ gốm, hoặc các đèo kép trong mấy gánh hát
rong… thì cũng là chuyện tự nhiên. Còn cần cho mọi người thì còn tồn tại. Rât
nhiều người có tài có năng khiếu. Song nhìn chung thì vẫn là cách làm cách
nghĩ manh mún luộm thuộm và không ai đủ khả năng
đưa nghề nghiệp lên mức hoàn thiện của một ngành công nghiệp hiện
đại như người ta vẫn thấy ở các nước phát triển.
III. CÁI NHÌN HƯỚNG VÀO THỰC TẠI
1. Ra đời khoảng năm 1804, Sơ kính
tân trang của Phạm Thái (1777-1813) đáng kể là một hiện tượng độc đáo của văn
học dân tộc: trong khi suốt thời trung đại các truyện nôm của ta như Hoa
tiên, Nhị độ mai, Lục Vân Tiên thường phỏng dịch lại các truyện Tàu hoặc lấy
cảm hứng từ sách vở bên Tàu thì Sơ kính tân trang là một thứ tự truyện của
tác giả, địa điểm mô tả là ở Việt Nam, nhân vật là người Việt Nam.
Dù vậy chăng nữa, bút pháp miêu tả
trong Sơ kính tân trang nhìn chung vẫn là một thứ bút pháp ước lệ nó là một
phần của thi pháp văn học trung đại. Nếu ở Truyện Kiều, Nguyễn Du đã cho ta
biết cô Kiều đẹp, qua những câu thơ “Làn thu thủy nét xuân sơn - Hoa ghen
thua thắm liễu hờn kém xanh”, thì ở Sơ kính tân trang Phạm Thái cũng tả người
bằng lối so sánh đó, mà xem ra lại không chau chuốt bằng “Chiều cá nhảy vẻ nhạn
sa - Mặt long lanh nguyệt tóc rà rà mây”.
Đây là một đặc điểm quán xuyến
trong nền văn học ở ta từ thế kỷ XIX về trước, một nền văn học trung đại, mà
trước khi Pháp chiếm Việt Nam, đã có những dấu hiệu bế tắc.
Phải đến đầu thế kỷ này, khi mà cơ
sở xã hội thay đổi theo hướng Âu hóa rồi cả nền văn học đổi hướng theo thì những
khuôn sáo ấy mới được dứt bỏ dần dần. Từ chỗ văn chương tập cổ, văn chương ước
lệ “ở bên ta mà nói chuyện bên Tàu” người ta bắt đầu làm nên một thứ văn
chương nói ngay về cuộc sống bên cạnh mình, nếu có cần lấy mẫu thì chép ngay
cái mẫu sinh động của đời sống, chứ không theo những mẫu sẵn có trong sách vở
nước ngoài. Đứng ở cuối thế kỷ XX nhìn lại, có thể bảo đây là chuyện đương
nhiên, thế nhưng chỉ cần đặt mình vào cuộc sống đầu thế kỷ sẽ thấy đây là cả
một bước chuyển khó khăn, phải có sự nỗ lực của nhiều người mới làm nổi.
2. Mở đầu thiên truyện Thày Lazaro
Phiền (1887), Nguyễn Trọng Quản viết: “Tôi một có ý dụng lấy tiếng thường mọi
người hằng nói mà làm ra một truyện hầu cho kẻ sau coi mà bầy đặt cùng in ra
ít nhiều truyện hay, trước là làm cho trẻ ham vui mà tập đọc, sau là làm cho
các dân các xứ biết rằng người An nam sánh trí sánh tài thì cũng chẳng kém
ai”.
Như vậy, là những tìm tòi nhằm xây
dựng văn chương hiện đại đã có từ cuối thế kỷ trước và bắt đầu ngay ở Nam bộ,
song phải qua thế kỷ XX, và trong không khí của mảnh đất văn học chung quanh
Hà Nội, nó mới diễn ra đầy đủ để đi đến chỗ hoàn thiện. Lúc đầu, người ta còn
viết tiểu thuyết bằng cái giọng của những Chinh đông, Chinh tây, hoặc của Tuyết
hồng lệ sử, có điều, những ảnh hưởng đó của Trung Quốc sẽ sớm bị vượt qua,
các sáng tác viết theo bút pháp phương Tây sẽ nổi hẳn lên. Sở dĩ các truyện
ngắn của Phạm Duy Tốn hoặc tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đến cuối
thế kỷ này còn đọc lại được lý do một phần là vì chúng được viết bằng một tư
duy văn học hiện đại, gần với tư duy con người đương thời. Một lý do nữa khiến
chúng trường tồn: chúng để lại những bằng chứng, những tư liệu về cuộc sống
con người mà ngày nay chúng ta biết rất ít. Chẳng hạn như Tố Tâm, quyển tiểu
thuyết ấy của Hoàng Ngọc Phách không chỉ đáng nhớ vì đã diễn tả tâm lý con
người đương thời, mà còn ghi lại hộ chúng ta những chi tiết cụ thể, nào là Tố
Tâm “bịt khăn tua đen” và “đi xe sắt” nào là Đạm Thủy và Tố Tâm gặp nhau ở
ngoài bãi bể Đồ Sơn bấy giờ là chuyện hoàn toàn mới mẻ!).
3. Tới đầu những năm ba mươi, những
biến chuyển mở ra từ Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Phạm Duy Tốn, Hoàng
Ngọc Phách… nổi lên thành một phong trào rầm rộ. Xu thế hướng vào thực tại trở
nên có sức bao quát, chi phối mọi dòng phái sáng tác, kể cả những dòng khác
nhau nhất.
Mặc dù rất yêu kính Tản Đà, các nhà
Thơ mới thường cũng mang thơ Tản Đà ra chế giễu. Tú Mỡ viết trên Phong hóa:
“Cây tươi tốt lá còn xanh ngắt - Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng - Trên đường
đi nóng rẫy như rang - Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ.”. Trong khi diễn
tả những cảm giác sôi nổi bồng bột của người thanh niên đương thời, các nhà
thơ mới mang vào các sáng tác của mình một không khí Việt Nam, từ “gió nồng
say trên hồ sen dào dạt” đến “con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu”, từ buổi trưa
xao xác tiếng gà tới canh khuya thoảng hương hoa bưởi. Nói như Hoài Thanh,
Thơ mới ra đời là để đáp ứng một nhu cầu của lớp trẻ: nhu cầu được thành thực.
Trong một số sách lịch sử văn học,
Tự lực văn đoàn thường được miêu tả như một nhóm nhà văn đại diện cho chủ
nghĩa lãng mạn, xa rời đời sống. Song công bằng mà nói, chính trong tôn chỉ của
mình, Tự lực văn đoàn đã đặt vấn đề “ca ngợi những nết hay vẻ đẹp của nước mà
có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình
dân”. Và sự thực là cái hấp dẫn ở tác phẩm của họ, không phải chỉ có tình yêu
trai gái, mà còn là những phong cảnh sinh hoạt đời thường: câu chuyện đối đáp
trên một đoạn đường cái quan thuộc vùng quê Bắc Ninh; nếp sống thanh bình ở
những làng xóm trung du, mạn Phú Thọ. Rồi cái vắng vẻ của một phố huyện, vẻ ồn
ào đáng yêu của Hà Nội 36 phố phường. Trước khi trở thành nhàm chán, những
nét hiện thực thơ mộng này đã làm cho nhiều người say mê, chắc chắn nó đã vượt
rất xa so với lối miêu tả mang tính cách chắp nối trong tư duy sáng tác thủa
giao thời, nay còn đọc thấy trong văn xuôi Tản Đà hoặc các tiểu thuyết như Cuộc
tang thương (Đặng Trần Phất) Kim Anh lệ sử (Trọng Khiêm)..v.v..
Việc hướng cái nhìn vào thực tại cố
nhiên chỉ được coi là hoàn chỉnh khi mà các nhà văn như Ngô Tất Tố, Nguyễn
Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao… cho in ra những tác phẩm như
Tắt đèn, Bước đường cùng, Vỡ đê, Bỉ vỏ, Đôi lứa xứng đôi… Không phải ngẫu
nhiên, các tác phẩm này được xếp vào một cái ô chung là chủ nghĩa hiện thực.
Bức tranh thực tại lúc này đòi hỏi phải bao quát hơn, cách hiểu về thực tại
cũng đã sâu sắc hơn: trong chủ nghĩa hiện thực ở đây thường bao gồm cả chủ
nghĩa nhân đạo, tố cáo những thế lực áp bức con người, và nói chung là muốn
cho con người sống ngày một tốt đẹp.
4. Như các nhà nghiên cứu thường nhận
xét, nhìn chung văn học Việt Nam từ khoảng 1920 trở đi có tốc độ biến chuyển
rất mau lẹ. Sở dĩ vậy vì chỉ trong có đâu vài chục năm, nền văn học ấy đã diễn
lại những bước đi của các nền văn học Âu châu trong một thời gian dài từ thế
kỷ XIX về trước, tức là đi qua cả mấy giai đoạn: Chủ nghĩa tình cảm, chủ
nghĩa lãng mạn, rồi bộc lộ một cách đầy đủ hơn ở chủ nghĩa hiện thực.
Trên con đường khám phá ngày một
sâu sắc hơn đời sống, nhằm mang lại cho khái niệm thực tại những ý nghĩa mới,
từ đầu thế kỷ XX, bên phía trời tây thấy hình thành nên khá nhiều xu hướng
nghệ thuật mới, như chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu
thực… và ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến Việt Nam dù là chỉ ở mức độ bé nhỏ,
hoặc tạo nên những biến dạng rất khác nhau (thơ Hàn Mặc Tử, thơ Xuân Thu nhã
tập; những tiểu thuyết như Cát lầy của Thanh Tâm Tuyền hoặc tập truyện Cũng
đành của Dương Nghiễm Mậu ở Sài Gòn trước 1975).
Thế nhưng, một đột biến của lịch sử
đã xảy tới, đó là Cách mạng tháng 8 và hai cuộc kháng chiến kéo dài ba chục
năm. Luôn luôn xã hội có những yêu cầu cấp bách đặt ra với văn học. Những
kinh nghiệm mà văn học đã tích lũy được từ đầu thế kỷ, trong đó có những
thành tựu cụ thể của việc xây dựng nền văn chương theo hướng hiện đại, đòi hỏi
phải được khai thác một cách triệt để. Cái nhìn hướng vào thực tại là một lợi
thế, giúp cho ngòi bút của các nhà văn đáp ứng những nhu cầu mới mẻ đó.
Chưa bao giờ, những thiên truyện,
những bài thơ, có dịp miêu tả kỹ lưỡng đời sống Việt Nam như lúc này. Trước
khi có điện ảnh truyền hình, văn chương đã đóng vai trò một thứ thiết bị ghi
chép đời sống, một thứ bách khoa thư để người ta tra xét, mỗi khi muốn biết
những phương diện khác nhau của đời sống sản xuất và chiến đấu đang diễn ra
hàng ngày. Đọc Tô Hoài (Vợ chồng A Phủ, Mường Giơn… ) để biết sự thức tỉnh của
đồng bào các dân tộc Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp. Đọc Nguyễn Tuân
(Sông Đà) để nhớ lại không khí bạt núi mở đường ở miền Tây đầu những năm 60.
Những buổi họp hợp tác trong văn Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên. Tâm lý anh lính học
trò trong văn Nguyễn Minh Châu. Tiếng cười của các cô thanh niên xung phong
trong thơ Phạm Tiến Duật. Tiếp đó, tới những năm 80 và 90, qua sáng tác của
những Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thân, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp,
Bảo Ninh, Bùi Chí Vinh, Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh v.v… thực tại lại hiện ra với
những chiều cạnh mà trước kia chưa hề có. Bởi lẽ thực tại là vô cùng, cho nên
chỉ đuổi theo nó thì không hề kịp, tới lúc nào đó, người ta phải nghĩ tới những
cách tiếp cận mới hòng nắm bắt được cái bản chất thực sự của đời sống. Nhưng
đó là chuyện của những nền văn học khác, hình thành trong những hoàn cảnh
khác. Còn với văn học Việt Nam thế kỷ XX, thì cách tiếp cận hiện nay vẫn đang
được tiếp tục triển khai và khi nhớ lại thứ văn thơ ước lệ đầy rẫy những từ
chương điển cố ngày xưa… người ta có thể mỉm cười, vì biết rằng như vậy là
mình đã tiến được những bước dài.
Ở chương III cuốn Lều chõng, nhà
văn Ngô Tất Tố có kể lại một cảnh vui vui. Một thầy khoá là Khắc Mẫn viết thư
cho người bạn là Vân Hạc: “Hơn một tháng nay không được gặp anh (…) Nay nhân
dậy sớm, ra thăm vườn hoa thấy một giò lan bạch ngọc mới nở, sự khao khát ấy
lại càng bồn chồn (…) Tôi đang quét lối hoa rụng đợi anh, mong anh đến ngay
cho”. Nhưng đến nơi, Vân Hạc chẳng thấy gì. Gạn hỏi, được Khắc Mẫn trả lời:
- Thì cũng nói thế cho đẹp câu văn,
cần gì phải có hoa có lan mới được? Tôi thấy cổ nhân thường thường viết như vậy
cả.
Giữa lá thư của Khắc Mẫn và nhiều
sáng tác thơ văn cổ, sự chênh lệch về trình độ có khi lên tới một trời một vực,
nhưng quan niệm văn chương thì chỉ có một. Bởi vậy, không phải hoàn toàn vô
lý, khi xem đây là một ví dụ cho thấy sự tách biệt giữa thế giới được miêu tả
trong văn thơ thời trung đại với thế giới thực mà người viết lúc đó đang sống.
Và qua lời từ chối thẳng thừng của Vân Hạc: “Nhưng tôi không thích kiểu đó. Nếu
anh còn chơi với tôi thì phải chừa lối văn sáo bã ấy đi”, người ta có thể
nghe ra tiếng vọng của một cuộc cách tân đang rục rịch. Từ đầu thế
kỷ XX, được sự gợi ý của văn học phương Tây, các nhà văn sẽ bảo nhau làm ra một
nền văn chương mà các thế kỷ trước chưa có: hướng về cái thực, và chỉ viết về
cuộc đời trước mắt.
Đứng ở thời điểm những năm cuối thế
kỷ XX, đầu thế kỷ XXI mà xét, bạn đọc có lẽ thấy câu chuyện viết về đời thực
là quá tất yếu, do đó là quá sơ đẳng không đáng nêu lên thành một thứ định hướng
để mọi người làm văn chương cùng theo. Nay là lúc chúng ta đang khổ vì những
sự ấu trĩ khác, hoặc quan niệm cực đoan cho rằng chỉ viết về cái thực mới
hay, mà bài bác mọi sự tưởng tượng; hoặc hiểu về cái thực một cách đơn nhất,
lẫn cái thực với cái mắt thường nhìn thấy, chỉ chấp nhận cái thực trong khuôn
khổ sẵn có. Thế nhưng, đặt vào địa vị con người đầu thế kỷ này, thì mọi chuyện
có khác. Dám viết về cái thực lúc ấy là to gan lắm!
Ngay trong nhan đề nhiều vở kịch thời
kỳ 30-31, đã thấy bộc lộ mối liên hệ rõ ràng giữa tác phẩm và đời sống đương
thời. Trần Tuấn Khải có vở Kiều đời nay, Tân Việt Tử có vở Trời đất mới, nhân
vật mới, một soạn giả không rõ tên thì có vở Gái tân thời. Lại nữa, chung
quanh một số tác phẩm thường có lưu truyền một số lời đồn đại, chẳng hạn vở
Sóng Đồ Sơn là dựng lại câu chuyện có thực của một gia đình ở phố Phúc Kiến,
vở Ông bảo vì ai là chuyện một bà ở phố Hàng Khay Hà Nội.
Rồi ra, kỹ thuật đưa nguyên mẫu
trong đời sống vào văn chương sẽ được hoàn thiện với các tiểu thuyết và các
phóng sự văn học in ra từ 1932 trở đi.
Cái điều Phùng Tất Đắc giới thiệu Kỹ
nghệ lấy Tây: “đây là những công trình giữ được tài liệu cho đời sau khảo về
đời nay”, không chỉ đúng với tác phẩm của Vũ Trọng Phụng mà còn với tác giả
khác.
Lối viết cổ một đi không trở lại. Từ
sau tháng Tám 1945, văn chương đã khác đi bao nhiêu, duy có xu hướng bắt rễ
vào đời thực thì không những được tôn trọng mà còn được đẩy lên hoàn chỉnh
hơn và áp dụng thật rộng rãi. Khi còn ký bút danh Bùi Đức ái, nhà văn Anh Đức
có một cuốn tiểu thuyết mang tên Một truyện chép ở bệnh viện. Nhà thơ Nguyễn
Đình Thi trong kháng chiến chống Pháp có một bài thơ tình mang tên : Bài thơ
viết cạnh đồn Tây. Nhiều tác phẩm khác của các tác giả khác, cũng có thể mang
các tiêu đề tương tự, bởi nó có liên quan tực tiếp đến bước đường đời mà nhà
văn đã trải.
Cũng nên lưu ý thêm: giữa muôn ngàn
cách thức khác nhau để giúp văn chương gắn với đời thực có một cách mà văn
chương cổ điển rất kỵ, nay lại thường được tận dụng, đó là lối viết đưa cái
tôi vào trang sách, từ ngôi thứ nhất mà kể chuyện. Bản thân đầu đề một số tác
phẩm đã nói lên điều đó: Trước 1945 có Tôi kéo xe, Tôi là mẹ, Tôi thầu khoán,
Tôi cũng không hiểu là làm sao… sau 1945 có Mẫn và tôi, Đại đội trưởng của
tôi, Tôi thăm Campuchia v.v... Các loại hồi ký tự truyện như Những ngày thơ ấu,
Cỏ dại, Cát bụi chân ai… cũng chỉ thế kỷ XX mới thấy nối nhau xuất
hiện.
IV. KHI TAY VIẾT THEO SÁT MIỆNG NÓI
(hay là mấy vấn đề ngôn ngữ văn học)
Một thời so le, khập khiễng
Từ thế kỷ XIX về trước, thứ văn tự
chính thống dùng trong công văn hành chính và trong giáo dục thi cử… ở nước
ta là chữ Hán. Thành thử, cũng là một điều dễ hiểu khi thấy trong kho tàng
văn học do người xưa để lại, phần viết bằng chữ Hán chiếm tỉ trọng lớn hơn cả.
Không hẳn việc này đã là bất lợi
hoàn toàn. Những áng văn chương nổi tiếng như Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại
cáo, các tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Cao Bá Quát, rồi Hoàng Lê nhất thống
chí của Ngô Gia Văn Phái…, còn lại đó, ghi nhận khả năng của ông cha ta trong
việc sử dụng một công cụ xa lạ để phục vụ cho mục đích riêng của xứ sở.
Có điều cũng nên thành thực mà nhận
rằng cái việc các văn nhân trí thức thủa ấy “nói thì nói tiếng nước mình, viết
thì viết chữ nước khác, tay còn không theo được miệng thay” (Phan Khôi), cái
việc tréo giò ấy mang lại không ít tai hại cho công việc sáng tạo. Trong khi
mô phỏng theo văn chương cổ của nước Tàu ông cha ta rành hơn cả trong lĩnh vực
thơ ca, là thể loại văn học mà ở đó ngôn ngữ được giả định là một thứ ngôn ngữ
đặc cách, chứ không phải ở cái dạng thông thường. Còn như văn xuôi, còn tiểu
thuyết với tất cả ưu thế gần đời sống của nó, thì lóp lép, ít ỏi. Đến khi
nghĩ ra chữ nôm lại nảy sinh những vướng mắc khác. Phần do chữ nôm khó quá,
phải thạo chữ Hán, mới dùng được, nên có sự bất tiện. Mặt khác, đặt bên cạnh
chữ Hán, chữ nôm luôn luôn lép về, lâu ngày cái tâm lí “nôm na là cha mách
qué” ăn mãi vào tâm thức con người. Sau mấy ngàn câu Kiều, Nguyễn Du tự nhận
chẳng qua mình chỉ giỏi mua vui từ”những “lời quê” “dông dài”. Không nên coi
đấy là một sự khiêm tốn thuần túy, mà phải thấy nó là cái mặc cảm cố hữu,
chính mặc cảm này đã hạn chế văn học chữ nôm trên mọi phương diện dù rằng ở
đây, vẫn có những kiệt tác làm vẻ vang cho nền văn học dân tộc.
Một cuộc gặp gỡ
Theo các nhà nghiên cứu, các văn bản
chữ quốc ngữ đã ra đời từ thế kỷ XVII, dù phần lớn đó là những tài liệu tôn
giáo. Tiếp đó, đến cuối thế kỷ XIX, với việc người Pháp đặt được nền đô hộ
trên toàn lãnh thổ, sáng tác chữ quốc ngữ cũng được thúc đẩy thêm một bước (ở
đây, không loại trừ tác động của những âm mưu, mà thực dân khởi xướng). Dẫu
sao, nền văn chương quốc ngữ lúc ấy còn rất hạn chế và người ta hoàn toàn có
lý để bảo rằng chữ quốc ngữ đã sinh ra để dành riêng cho nền văn chương Việt
Nam thế kỷ XX. Có thể nói ở đây có một sự tương hợp hoàn toàn giữa nền văn học
theo quan niệm mới và vật liệu để làm nên nền văn học ấy, tức là ngôn ngữ cả
hai đều mới hình thành, non trẻ, không bị ràng buộc bởi quá khứ và giàu tiềm
năng phát triển. ‘Thử tưởng tượng khi đã định làm văn học theo mẫu hình châu
Âu (tức là sáng tác theo những quy phạm mới), mà lại vẫn sử dụng thứ chữ
vuông khó khăn kia, thì mọi chuyện sẽ lúng túng đến thế nào!
Tiền lệ đã không lặp lại
Có dịp giở lại những tờ báo hoặc cuốn
sách ra đời ở Việt Nam đầu thế kỷ này, người ta nhanh chóng nhận ra rằng
trong môi trường thông tin giao tiếp bấy giờ, chữ Hán còn dày đặc. Chẳng những
tên các báo được đặt theo cơ cấu tiếng Hán (Gia Đinh báo, Đăng cổ tùng báo) rồi
có chua “chính văn” chữ Hán bên cạnh, mà trong phần nội dung bài vở, nhất là
những bài chính luận, cũng có những mở ngoặc đơn kèm chữ vuông. Người đời sau
nhìn lướt qua thấy nản lòng. Song với người đương thời, không làm thế là bất
cập. Cho đến trong câu cú văn phong, cái hơi hướng văn Hán cổ - mà rõ nhất là
hơi biến ngẫu - toát lên khi xa khi gần, khiến người tinh ý biết ngay rằng
đây không phải là chỗ yếu của riêng ngòi bút nào, đây là chỗ yếu của cả một
thời đại.
Một mối đe dọa khác, đối với tiếng
Việt văn học lúc mới phôi thai là vai trò chính thống của tiếng Pháp. Thay
cho chữ Hán, giờ đây, nó là thứ chữ của nhà nước. Nó được dạy dỗ một cách kỹ
lưỡng và khoa học trong nhà trường. Một thanh niên đương thời muốn tiến thân,
không thể không thạo tiếng Pháp, lơ mơ thì đi xin việc cũng không dám! Còn
như đối với các nhà trí thức tự do - trong đó có các văn nghệ sĩ - những sách
báo mới nhất (mà họ thường coi là nguồn ánh sáng) cũng chỉ có thể là những cuốn
sách in ở Paris, rồi theo tàu biển qua các thương cảng Sài Gòn, Hải Phòng mà
đến với nội địa.
Không phải ngẫu nhiên, đọc lại tiểu
sử của một cây bút như Đặng Thai Mai, người ta thấy đã có hồi ông viết truyện
ngắn bằng tiếng Pháp, in trên các báo ở Hà Nội. Làm thơ bằng tiếng Pháp có Phạm
Văn Ký, viết tiểu thuyết bằng tiếng Pháp có Cung Giữ Nguyên. Mà đó không phải
là những trường hợp cá biệt giá kể cái tiền lệ của lịch sử được lặp lại, tức
là người đương thời đua nhau làm một nền văn chương Việt - Francophone thì
cũng không phải là không giải thích nổi.
May thay, mọi việc đã diễn ra theo
chiều ngược lại. Vẻ huy hoàng của nền văn chương Pháp mà các nhà văn đã mê mẩn
ngay từ lúc ngồi trên ghế nhà trường, chỉ càng kích thích họ làm nên một nền
văn chương tiếng Việt của xứ sở mình. Âu hóa tư sản khác với Hán hóa phong kiến
có lẽ bắt đầu là ở chỗ ấy.
Cuộc chạy tiếp sức
Có thể nói tình yêu tiếng Việt và
khát vọng xây dựng một nền văn chương hiện đại bằng tiếng Việt đã là một
trong những nhân tố chính yếu làm nên giá trị của nhiều cây bút cũng như làm
nên sự thống nhất của các nhà văn vốn thuộc về các tầng lớp xã hội khác nhau,
và tồn tại ở những thời điểm khác nhau.
Ở đây có một điều khá thú vị là có
một cuộc chạy tiếp sức. Một thế hệ ra đời thường tự khẳng định bằng cách phê
phán thế hệ đi trước, qua đó, tìm ra cách đóng góp riêng của thế hệ mình để
thúc đẩy công cuộc xây dựng tiếng Việt tiến lên một bước mới. Đầu những năm
ba mươi, nhóm Tự Lực văn đoàn chê bai văn chương của những Phạm Quỳnh, Phan Kế
Bính, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc, cho tới văn Tản Đà, văn Hoàng Ngọc Phách
là ảnh hưởng câu văn chữ Hán nhiều quá cũng như văn Hoàng Tích Chu là cộc cằn,
lai Tây. Có biết đâu, chính những người ở nhóm Đông Dương, cũng như nhóm Nam
Phong đã có công nêu ra vấn đề tiếng Việt để dư luận cùng bàn bạc, và truyền
sang mọi người một tình yêu với nền văn học dân tộc; còn Hoàng Tích Chu thì
đã khổ công thể nghiệm, để mang lại cho tiếng Việt một vẻ rắn rỏi, khỏe mạnh.
Đến lượt mình, Tự Lực văn đoàn lại bị những người đi sau chê là văn chương
đài các, trưởng giả – người ta quên rằng một trong nhiều chủ trương của Tự Lực
văn đoàn là “dùng một lối văn giản dị dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật
có tính cách An Nam”, và điều này đã được các thành viên của văn đoàn thực
thi theo những cách thức khác nhau. Quy luật biện chứng, cố nhiên, cũng sẽ
tác động ở đây, thông qua những phủ định liên tiếp. Tự Lực văn đoàn là một bước
phủ định đối với Hoàng Ngọc Phách và Hoàng Tích Chu, thì sau đó, một số nhà
văn thuộc nhóm Tân Dân, như Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Nam Cao, Tô Hoài... lại là
một bước phủ định đối với Tự Lực văn đoàn. Và những đóng góp đã được hình
thành từ Vang bóng một thời, Cai, Chí Phèo, Quê người, Dế mèn phiêu lưu ký… về
sau sang thời cách mạng, sẽ được chính các tác giả của chúng vượt qua. Nhìn
vào tiếng Việt của các tác phẩm văn chương ra đời trong những năm từ 60 trở
đi, chúng ta có thể nhận ra nó đã tiến bộ về nhiều phía, cả cái phía chắc khỏe,
sinh động, gần lời ăn tiếng nói quần chúng, lẫn cái phía khúc chiết chặt chẽ,
đi sát với sự phát triển của tư duy hiện đại. Ngay từ 1957, một nhóm các nhà
nghiên cứu, khi viết Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, đã đưa ra một khái
quát:
“Chỉ cần năm mươi năm cũng đủ cho
văn xuôi Việt Nam từ những bước lững chững mò mẫm thời Trương Vĩnh Ký, Huỳnh
Tịnh Của tiến lên thành một công cụ diễn đạt được cái cảm kích thâm trầm của
Thạch Lam, cái duyên dáng đãi bôi của Đoàn Phú Tứ, cũng như cái tư tưởng hình
tượng chính xác của Tô Hoài (Vợ chồng A Phủ) lẫn cái ý chí cách mạng mạnh mẽ
nhất của Trường Chinh (báo Cờ giải phóng)”. Một trong những dấu hiệu chứng tỏ
sự trưởng thành của tiếng Việt hiện thời : Nay là lúc nó có thể dùng làm chuyển
ngữ để dịch mọi tác phẩm nước ngoài, kể cả những cuốn có sự tìm tòi độc đáo
trên phương diện ngôn ngữ, bao gồm từ Hemingway qua Faulkner, từ Kafka qua
M.Proust… Ở từng văn bản, mức độ thành công của mỗi người dịch có thể khác
nhau nhưng khả năng của tiếng Việt thì đã là điều không ai còn phải nghi ngại.
Những tác động ngược trở lại văn học
Chắc chắn, việc đưa chữ quốc ngữ trở
thành ngôn ngữ văn học duy nhất, là nằm trong xu thế dân chủ của thời đại. Nhờ
sự dễ dàng trong việc học và sử dụng thứ công cụ biểu hiện này, ngay từ trước
1945, nhiều người có tài thuộc các tầng lớp “dưới đáy”, trong xã hội cũ (những
Nguyên Hồng, Tô Hoài v.v…) đã mạnh dạn cầm bút sáng tác, viết ngay về chính đời
sống của đám người quanh mình. Nội dung dân chủ của văn học nhờ thế mà phong
phú hơn, cụ thể hơn, hẳn không ai lấy làm lạ.
Sau nữa, với việc sử dụng một thứ
văn tự dễ dàng, văn học thế kỷ XX, so với các thế kỷ trước, có một sự vượt trội
ghê gớm về số lượng. Đôi khi, như chúng ta thấy, những năm cuối thế kỷ này, sự
phát triển có phần quá đà, sự dễ dàng đang được đồng nghĩa với dễ dãi và nông
nổi, song nhìn chung thì đây vẫn là một xu hướng thuận chiều với sự phát triển
của lịch sử. Khi tính đến cái tác động to lớn của văn học đối với đời sống xã
hội, nói rõ hơn là phần đóng góp đáng kể của nó, trong cuộc chiến tranh giải
phóng thời gian vừa qua, người ta không thể quên vai trò của thứ ngôn ngữ văn
học mà lịch sử đã lựa chọn và nhiều thế hệ tiếp nối đã góp công gây dựng.
Đồng thời với những cuộc luận bàn
xem có hay không có một nền quốc học, hoặc trao đổi về cách thức sáng tác tiểu
thuyết, về sự phân biệt giữa thơ cũ và thơ mới… trong mấy chục năm đầu thế kỷ
XX, có một cuộc tranh luận kín đáo cũng ngấm ngầm diễn ra, và kéo dài, và thu
hút khá nhiều người tham dự, đó là tranh luận về khả năng của tiếng Việt – cả
với tư cách một công cụ giao tiếp trong xã hội nói chung lẫn với tư cách một
thứ ngôn ngữ văn học duy nhất mà nền văn học mới sử dụng (mới ở đây là so với
nền văn học cũ, từ thế kỷ XIX trở về trước).
Đọc lại Nam Phong, người ta tìm thấy
những bài đại loại như Bảo tồn Nam ngữ của Nguyễn Văn Kiêm, Tiếng dùng trong
quốc văn của Nguyễn Văn Ngọc hoặc Bàn về tiếng An nam của Dương Quảng Hàm.
Đọc lại Phụ Nữ tân văn, người ta bắt
gặp một bài đặc giọng Phan Khôi: Đánh cái tư tưởng quái gở tiếng An Nam là
Patois (một thứ thổ ngữ), hoặc các bài khác của cùng tác giả như Sự dùng chữ
Tàu trong tiếng Việt Nam, Lối văn học của bình dân.
Trên Phong hóa, Ngày nay, các thành
viên của nhóm Tự Lực văn đoàn cũng thay nhau viết bài chế giễu những “ông Tây
An nam”, tức những trí thức Tây học thạo tiếng Pháp hơn tiếng mẹ đẻ. Và đây
cũng là một lý do để Tự Lực văn đoàn được dư luận đương thời dành nhiều cảm
tình.
Viết văn bằng tiếng Việt - sở dĩ một
điều ngày nay ai cũng coi là hiển nhiên, mà hồi đầu thế kỷ lại bị đặt thành
câu hỏi, lý do chỉ vì thực tế là suốt thời phong kiến, cả nền văn chương bằng
chữ Hán lẫn văn chương bằng chữ Nôm song song tồn tại, và tới đầu thế kỷ XX,
thì khả năng xây dựng một nền văn chương viết bằng chữ Pháp, tuy thấp nhưng
không phải là không có: vậy là ngay trên sân nhà, tiếng Việt vẫn phải giành
giật lấy vị thế của mình, và chỉ tới thế kỷ XX, chiến thắng của nó mới được
coi là hoàn toàn.
Có thể cắt nghĩa sự toàn thắng ấy bằng
xu thế thời đại.
Trên nét lớn, quá trình chủ yếu diễn
ra trong lòng xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là quá trình hiện đại hoá. Mà
ở nước nào cũng vậy, khi diễn ra quá trình hiện đại hoá cũng là lúc các giá
trị dân tộc được tìm tòi và tôn sùng hơn bao giờ hết. Càng tiếp xúc với thế
giới, người ta càng thấy cần trở lại với chính mình. Thứ nữa, trong lòng một
xã hội hiện đại hoá, các tầng lớp bình dân như có dịp thức tỉnh và đảm đương
thêm nhiều trọng trách của xã hội. ở Việt Nam cũng vậy. Với sự dễ dàng của chữ
quốc ngữ, nhiều đại diện của các tầng lớp bình dân (xưa vốn hoạt động ở khu vực
văn học dân gian) nay bước thẳng vào diễn đàn văn học chính thức. Không có
chuyện viết bằng thẳng vào diễn đàn văn học chính thức. Không có chuyện viết
bằng tiếng Pháp với những nhà văn bình dân ấy; chỗ mạnh của họ, lý do tồn tại
của họ, chỉ là thứ tiếng Việt đầy sức sống mà hàng ngày họ đã sử dụng.
Hiện chưa có ai sưu tầm, nhưng người
ta có thể tìm thấy trên báo chí sách vở in ra từ đầu thế kỉ XX đến nay nhiều
bài thơ nhiều đoạn văn mang tính cách tự bạch, trong đó, các nhà văn nhà thơ
thuộc nhiều thế hệ bày tỏ sự biết ơn của mình đối với ông cha là
người đã sáng tạo nên thứ tiếng nói thiêng liêng mà ngày nay con cháu được thừa
hưởng, và thầm hứa sẽ làm tất cả để giữ gìn thứ ngôn ngữ phong phú sinh động
này.
Cũng nên nói thêm một điều kiện để
tiếng Việt văn học thế kỷ XX có thể phát triển: nay là lúc giao lưu văn hoá
được mở rộng hơn bao giờ hết.
Tiếng Việt, đồng thời với việc sáng
tác, đã được dùng để dịch thuật, và nhờ thế nó có những bước trưởng thành vượt
bậc.
Sau một thế kỷ tự khẳng định, có thể
nói hiện nay tiếng Việt đã có được vị trí mà nó phải có trong lòng xã hội.
Câu hỏi đặt ra với mọi người nói chung, với người viết văn nói riêng không
còn là có sử dụng tiếng Việt hay không, mà là sử dụng thế nào để nó có thể
theo kịp những biến chuyển trong đời sống cũng như trong tư duy người Việt, hơn
nữa, quay trở lại, thúc đẩy cho tư duy đó ngày một phát triển theo hướng hiện
đại. Nhưng có lẽ vì mọi người đều quá bận bịu, nên những cuộc luận bàn theo
hướng này còn khá rời rạc.
V. PHÁC THẢO TIẾN TRÌNH
CỦA DỊCH THUẬT
Một nghịch lý: thoạt đầu dịch là một
cách để phổ biến chữ quốc ngữ
Tương tự như lịch sử báo chí và văn
xuôi, lịch sử dịch thuật Việt Nam bắt đầu từ những năm cuối của thế kỷ XIX và
khởi đi từ Nam Bộ, để rồi sẽ bùng nổ mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XX, chung quanh
các tờ báo ra ở Hà Nội (xem niên biểu đi kèm). Và ở đây, trước khi nói tới
tác động của việc làm sách dịch với giới văn chương hãy nói qua một chút ý
nghĩa xã hội.
Nguyên là, như chúng tôi đã nói ở
bài trước, công cuộc xây dựng nền quốc văn mới khởi sự đồng thời với việc định
hình và làm giàu thêm tiếng nói thông qua chữ quốc ngữ. Song trong thời kỳ đầu,
thứ chữ “đi sát với tiếng nói con người” này chẳng những còn khá thô sơ, mà sự
trình diễn trước công chúng cũng khá nghèo nàn. Lấy gì cho người ta đọc bây
giờ, trong khi sách vở không có? Chính lúc này, sách dịch xuất hiện như một cứu
tinh. Với các tác phẩm dịch, các nhà làm sách nhanh chóng có những vật thay
thế, lấp vào chỗ trống mà sáng tác chưa theo kịp.
Cũng trong quá trình xem xét tác động
xã hội của sách dịch, người ta thấy có thêm một hiện tượng lạ mà chỉ đặt mình
vào hoàn cảnh đương thời mới hiểu nổi: ấy là ngay từ lúc đầu, nguồn sách
Trung Hoa cổ điển được dịch không kém gì sách Pháp, cả ở Sài Gòn lẫn Hà Nội,
nó đều gây được ấn tượng mạnh. Tại sao? Ai cũng biết là nền văn hoá cổ truyền
của Trung Hoa vốn bắt rễ sâu xa vào đời sống tinh thần xứ sở, song sự bắt rễ
đó không phải bằng văn bản, mà bằng những chuyện truyền khẩu. Đại khái có thể
hình dung là nói tới Tam Quốc Chí với Tào Tháo, Quan Công, Lưu Bị, Khổng Minh…
thì không mấy ai không biết. Nhưng trong cả xứ, may ra có vài nhà quan được đọc
các bản in thạch mua ở Tàu về, ngoài ra toàn là “đạo thính đồ thuyết” truyền
miệng với nhau, hoặc phổ biến cho nhau qua các gánh hát rong. Trước thực tế ấy,
một sự khôn ngoan tối thiểu thầm mách với các nhà làm sách rằng nên khai thác
truyện Tàu, xem đó như một biện pháp hiệu nghiệm để thúc đẩy việc học chữ quốc
ngữ. Và thế là cả Canavaggio ở báo Nông cổ min đàm lẫn Nguyễn Văn Vĩnh, khi lập
Hội dịch sách đều nhớ ngay tới Tam Quốc Chí (ở Hà Nội, Tam Quốc do Phan Kế
Bính dịch, nhưng Nguyễn Văn Vĩnh là người gợi ý và nhuận sắc văn bản). Cố
nhiên, về sau, khi chữ quốc ngữ đã phần nào trưởng thành đồng thời việc xây dựng
một nền văn học mới theo hướng Âu hoá đã trở nên một xu thế không thể đảo ngược,
thì việc dịch các tác phẩm Trung Hoa cổ như các bộ Mạnh Tử, hoặc Tả Truyện hoặc
Liêu Trai lại có một ý nghĩa mới: đó là việc các nhà cựu học kiểm kê lại tài
sản tinh thần để bàn giao cho thế hệ sau, như các sách văn học sử vẫn thường viết.
Vấn đề chính: làm quen với nếp sáng
tác mới
Ngoài tác động đối với xã hội, dịch
thuật thời kỳ đầu thế kỷ còn có một ý nghĩa lớn với giới sáng tác văn chương:
đó là một sự tập tành một phen học hỏi trước khi bắt tay thể nghiệm. Quả thực
là giữa những bài thơ Thất ngôn bát cú, tứ tuyệt ngày xưa, với các bài Thơ mới
của Thế Lữ, Xuân Diệu, giữa những thiên truyện in trong Truyền kỳ mạn lục,
Thánh Tông di thảo với các truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Công Hoan viết
đầu những năm 20 là cả một trời cách biệt, bởi vậy, phải có những tác phẩm
làm sẵn để cả người viết lẫn người đọc trông vào mà quen dần. Công cụ hỗ trợ ở
đây, không gì khác, chính là các bản dịch. Không phải ngẫu nhiên, khi đi tìm
ngọn nguồn của Thơ mới, các sách văn học sử không quên nhắc tới bài Con ve và
con kiến của La Fontaine, Nguyễn Văn Vĩnh dịch năm 1914. Hoặc về sau nhắc đến
tiểu thuyết Kim Anh lệ sử của Trọng Khiêm, người ta nhớ ngay Tuyết Hồng lệ sử
do Đoàn Tư Thuật dịch. Thành thử, cũng là một điều tự nhiên khi các sách văn
học sử ấy chép rằng nhà văn từ 1932 về trước ít nhiều đều có dính dáng đến dịch
thuật, bên cạnh những người chuyên về sáng tác như Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách,
Phạm Duy Tốn… thì đời sống văn học ba chục năm đầu thế kỷ được đánh dấu bằng
tên tuổi các dịch giả cần mẫn như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Kế Bính,
Nguyễn Hữu Tiến… Vai trò của họ là vai trò của J. Amyot với văn học Pháp thế
kỷ XVI hoặc của những Nghiêm Phục, Lâm Cầm Nam trong văn học Trung Hoa cuối
thế kỷ XIX, đầu XX.
Dịch thuật trong sự liên hệ với sự
trưởng thành của ngôn ngữ văn học
Cho tới 1932, nền quốc văn mới đúng
hơn là nền văn học viết theo thi pháp phương Tây - đã có những bước biến chuyển
cơ bản. Sau giai đoạn xây nền đắp móng, từ đây, văn học Việt Nam diễn biến
theo quy luật của một thời kỳ ổn định và trưởng thành. Dịch thuật không còn
đóng vai trò đáng kể như trước nữa. Trong cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc
Phan, phần các tác giả sau 1932, không thấy có ai chuyên về dịch thuật (cả một
cây bút có đóng góp lớn như Nhượng Tống cũng không được khảo như một dịch giả,
mà ở đây, như một nhà tiểu thuyết xã hội). Có thể cắt nghĩa tình trạng chững
lại này bằng sự biến chuyển trong ngôn ngữ. Từ khoảng những năm 30 trở đi,
người thành thạo tiếng Pháp đã nhiều, bao gồm hầu hết viên chức nhà nước và
tư nhân những độc giả này có thể đọc thẳng văn học Pháp và văn học thế giới
thông qua tiếng Pháp. Với các nhà văn, nhà trí thức đương thời, khao khát xây
đắp một nền văn học dân tộc vẫn rất lớn, song để làm việc đó, người ta tính tới
sáng tác chứ không tính tới dịch thuật. Kể ra cũng có một vài cố gắng đáng
ghi nhận: các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn người dịch Maugham, người dịch A.
Daudet… cho in dần trên Ngày nay, về sau làm nên tập Hương Xa. Vũ Ngọc Phan
có các bản dịch Đảo giấu vàng, Anna Karénina v.v… Song những cố gắng đó chỉ lọt
thỏm đi, không gây được chú ý của người đương thời, mà về sau cũng không mấy
ai nhắc nhở tới.
Chỉ từ sau 1945, với việc tiếng Việt
trở nên một ngôn ngữ duy nhất được sử dụng trong mối giao tiếp của toàn xã hội,
rồi vai trò của khâu dịch thuật mới được khôi phục trở lại. ở căn cứ địa Việt
Bắc, cũng như trong những vùng tự do khu Tư, khu Năm, trên những trang sách,
trang báo, in bằng giấy dó thô sơ, bên cạnh sáng tác trong nước, đã sớm thấy
có tác phẩm của những B. Polévoi, C. Simonov, N. Ostrovski, I. Ehrenburg, Lỗ
Tấn, Triệu Thụ Lý… Một lần nữa, trong việc xây dựng nền văn học mới - văn học
kháng chiến lúc này đang trong giai đoạn trứng nước - công tác dịch thuật lại
được huy động như một sự hỗ trợ thiết yếu. Tiếp đó, ở Hà Nội, những năm từ
1954 về sau, do sự gần gũi về ý thức hệ, không chỉ những nền văn học đã quen
với xứ ta như như văn học Trung Hoa hoặc đã ít nhiều được biết từ
trước 1945 như văn học Nga được giới thiệu ồ ạt mà cả những nền văn học khá
xa lạ trước kia: Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Đức, Rumani, Bungari v.v… cũng đã có
những đại diện. Rồi nền văn học Mỹ Latinh, từ đầu những năm 60 được dịch ngày
một nhiều hơn. Trong lúc ấy, từ sau 1954, sách dịch ở Sài Gòn lại bùng nổ
theo một kiểu khác: mặc dù kênh chuyển tải chủ yếu vẫn là tiếng Anh và tiếng
Pháp, song ở đây người ta không chỉ dừng lại ở phần văn học cổ điển mà đã
ngày một cập nhật hơn để bước sang phần tác giả và tác phẩm hiện đại.
CHỈ THUỘC RIÊNG VỀ THẾ KỶ XX
Ai cũng biết đối với văn học Việt
Nam từ thế kỷ XIX trở về trước, văn học Trung Hoa luôn luôn đóng vai trò của
một thứ chân trời. Với người Việt lúc ấy, nước ngoài chủ yếu là nước Trung
Hoa, mà đúng hơn, thế giới cũng chỉ gồm có Trung Hoa, luôn luôn người ta lấy
việc không kém gì Trung Hoa làm niềm tự hào. ấy vậy mà bấy giờ việc dịch văn
học Trung Hoa lại hầu như không được đặt ra. Không kể những thứ diễn nôm hoặc
mô phỏng như Truyện Kiều, Hoa Tiên, lục mãi trong kho tàng văn chương cổ, mới
thấy một bản dịch thơ Đường, là bản Tỳ Bà Hành, do Phan Huy Vịnh thực hiện. Mặc
dù bản dịch này đã đạt tới trình độ của một kiệt tác, song sự tồn tại đơn lẻ
của nó không đủ để bảo đảm rằng lúc ấy ta đã có một nền văn học dịch chắc chắn.
Lý do ở đây thật đơn giản: đến cả chữ Hán các cụ xưa cũng gọi một cách hồn
nhiên là chữ ta, thì cái việc tiếp nhận văn chương Tàu trong nguyên bản có gì
là lạ.
Trên ý nghĩa này mà xét, việc có một
bộ phân văn học dịch là sản phẩm riêng chỉ thấy ở văn học Việt Nam thế kỷ XX.
Và nếu như trong một trăm năm qua, bộ phận dịch này có lúc trồi lên sụt xuống,
thì ở thời điểm những năm cuối thế kỷ nhìn lại, vẫn thấy cái hướng chủ yếu là
đi lên. Trong việc có thêm một phân xưởng dịch hoạt động đều đặn, nền văn học
dân tộc như vậy là đã biết đặt mình vào môi trường chung của thế giới và xem
sự phát triển của mình phụ thuộc một phần vào khả năng thu hút những tinh hoa
tốt đẹp của nhân loại.
… Bức tranh một thế kỷ sách dịch
khép lại bằng sự sôi nổi của dịch thuật hơn mười năm gần đây. Sự sôi nổi ấy
nói cho đúng còn ở dạng tự phát và không phải bao giờ các dịch phẩm cũng đạt
đến chất lượng cần thiết: Nay là lúc dịch thuật trở nên một công việc thường
nhật. Người dịch nhiều hơn và nếu như không ai trong họ có được vị trí của những
trí thức lớn, như các bậc tiền bối, thì đó cũng là điều tự nhiên. Hoàn cảnh
giao lưu văn hoá của người Việt với người nước ngoài nay đã có nhiều sắc thái
khác trước. Tuy nhiên, trên đại thể, vẫn có thể bảo các dịch phẩm ngày nay đã
trở thành bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của xã hội. Và sự
giao tiếp cởi mở mà nhiều thế hệ từng ao ước, sự giao tiếp ấy dần dần sẽ được
thực hiện, như xu thế của lịch sử đã quy định.
Niên biểu sơ lược một số sách dịch
cuối thế kỷ XIX đầu XX
1884 (Trương Minh Ký) Chuyện Phan
sa diễn ra quốc ngữ
1887 (Trương Minh Ký) Những cuộc
phiêu lưu của Télémaque
1889 (Trương Vĩnh Ký) Tứ thơ
1901 (Canavaggio) Tam quốc chí diễn
nghĩa
1905 (Phụng Hoàng Sang, Nguyễn
Chánh Sắt) Truyện Nhạc Phi
1906 (Đỗ Thận) Truyện Tây dịch ra
tiếng nôm
1907 (Phan Kế Bính) Tam quốc chí diễn
nghĩa
1913 (Nguyễn Văn Vĩnh) Thơ ngụ ngôn
La Fontaine
1914 (Trần Chánh Chiếu) Tiền căn
báo hậu phỏng theo Le comte de monte Cristo
1915 (Nguyễn Văn Vĩnh) Gil Blas
1918 (Nguyễn Văn Vĩnh) Manon
Lescaut
1920 (Phạm Quỳnh) Le Cid, Horace
1923 (Đoàn Tư Thuật) Tuyết Hồng lệ
sử
1925 (Nguyễn Văn Vĩnh) Những kẻ khốn
nạn
1933 (Nguyễn Đỗ Mục) Đông Chu liệt
quốc
(Theo các tài liệu của Bằng Giang,
Dương Quảng Hàm và một số tác giả khác)
Ngay trong Đăng cổ tùng báo, một
trong những tờ báo ra đời sớm nhất ở Hà Nội những năm đầu thế kỷ XX, người ta
đã đọc được những lời cổ động cho việc dịch: “Chữ quốc ngữ là hồn trong nước
– Phải đem ra tính trước dân ta - Sách các nước, sách Chi-na, chữ nào nghĩa ấy
dịch ra tỏ tưởng (Chi-na đây chỉ Trung Quốc)
Tuy vậy, không phải ngay từ đầu sự
vật đã được gọi bằng cái tên của nó. Để chỉ việc dịch, ban đầu các nhà trí giả
đương thời sử dụng nhiều từ và cụm từ khác nhau: diễn nghĩa, diễn ra quốc ngữ,
dịch ra tiếng nôm. Mãi về sau mới nói gọn lại là dịch.
Theo tài liệu trong cuốn Chữ quốc
ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ XX, bài Con ve và con kiến
lúc đầu được Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra lục bát, về sau, ông mới bám sát nguyên
văn mà dịch như chúng ta thấy trong bản dịch hiện nay đang lưu hành rộng rãi
(có thể coi như một thể nghiệm chuẩn bị cho Thơ mới)
Để xác định tầm quan trọng và mức độ
phổ biến của hoạt động dịch thuật ba mươi năm đầu thế kỷ một nhà nghiên cứu
văn học sử đã nhận xét “Dịch ra quốc ngữ là một cách để luyện câu văn ta cho
có khả năng diễn đạt như câu nước ngoài, nhất là câu Pháp mà mình thấy cần phải
học tập, cũng là để làm mẫu sáng tác cho người mình coi đó mà sáng tác theo.
Tất cả những nhà văn thời này (thời 1907- 1932) đều đã ít nhiều làm công việc
dịch thuật (Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên). Ngoài những
tên tuổi thường được nhắc nhở như Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Hữu
Tiến v.v… nên chú ý đến trường hợp Tản Đà. Ngay khi mới bước chân làm nghề
văn chương, ông đã có các bản dịch Kinh Thi, Đại học.Cuối đời, khi gặp bước
cùng đường mạt lộ, ông lại trở về với việc dịch: đó là các bản dịch Thơ Đường
và Liêu trai chí dị.
Cũng như Tản Đà, hàng loạt nhà văn
Việt Nam khác trong suốt đời văn của mình đã từng có lúc bắt tay vào việc dịch.
Khái Hưng từng dịch Tình tuyệt vọng của Alvers ( Lòng ta chôn một khối tình –
Tình trong giây phút mà thành thiên thu) và S. Maugham; Thế Lữ dịch A.
Cronin, Thạch Lam dịch A. Daudet; Vũ Trọng Phụng dịch V. Hugo v.v…
Từ sau 1945, trong hoàn cảnh mà văn
học Việt Nam cần sự gợi ý trực tiếp từ văn học nước ngoài và sự giao lưu quốc
tế được mở rộng, việc các nhà văn tham gia dịch thuật có thời gian rộ lên:
Nguyễn Tuân dịch Tsékhov, Nguyễn Đình Thi dịch Tagor, Thế Lữ dịch Goethe,
Xuân Diệu dịch Hikmet, Hoàng Trung Thông dịch Maiakovski, Tế Hanh dịch Argon
và éluard v.v…
Cũng từ sau 1945, nhất là từ sau 1954,
một loạt dịch giả tạm gọi là chuyên nghiệp được hình thành và trong số này có
những người sử dụng một thứ tiếng Việt khá linh động, uyển chuyển, từ đó tạo
nên những bản dịch có giá trị lâu dài. Đó là một số tác phẩm dịch của Đoàn
Phú Tứ, Trương Chính, Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Trần Dần, Dương Tường, Phạm Mạnh
Hùng v.v…
Sự bùng nổ của sách dịch cũng là một
trong những đặc điểm của đời sống văn chương ở Sài Gòn từ 1954-1975. Trong số
này, không ít bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, Bùi Giáng, Trần Thiện Đạo, Huỳnh
Phan Anh v.v… gần đây đã được in lại.
Từ 1907, Nguyễn Văn Vĩnh đã xúc tiến
việc thành lập một Hội dịch sách. Nhưng đến nay, tài liệu về Hội này đã mất
mát hết, chỉ trừ có bài diễn văn đọc trong buổi thành lập là còn được giữ lại.
Có lẽ về sau Hội dịch sách ấy đã tan rã.
Hiện nay, một số dịch giả được coi
là hoạt động đều đặn và có cống hiến, thì trở thành Hội viên của Hội Nhà văn
Việt Nam. Hàng năm Hội này cũng có một giải riêng cho các tác phẩm dịch. Thế
nhưng nhìn chung hoạt động dịch vẫn bị coi thường.
Văn hào Nga A.P.Tsékhov có một truyện
ngắn mang tên Một câu đùa.Khi dịch thiên truyện ra tiếng Việt
nhà văn Nguyễn Tuân (trong tập truyệndịch của tác giả này in ra
1957 ) có kèm thêm phụ đề Vẫn tặng H., và ông nói thêm mặc dù
trong nguyên bản không có lời đề tặng này nhưng ông xin phép thêm vào như vậy
“vì một lý do rất cá nhân”.Tóm lại chúng ta có thể đoán nhà văn trong quá trình
làm việc đã gửi gấm rất nhiều tình cảm riêng,đại
khái như dịch để tặng một người thân nào đó và ông đã
xem nó chẵng khác gì các sáng tác của chính mình. Nhiều thiên truyện khác của
Tseskhov như Lão quản Bi, Nỗi nhớ... cũng được ông dịch với sự trân trọng tương
tự.
Trong khoảng ba chục năm cuối đời,Xuân
Diệu đã để một phần công sức to lớn vào việc dịch thơ,bao gồm từ
các nhà thơ cổ điển như S.Pétofi,A.de Musset…. tới các nhà thơ hiện
đại như V.Maiakovski,P.Neruda, N.Guillen…Đặc biệt, có hai người mà
Xuân Diệu quyến luyến hơn cả, thậm chí có thể nói muốn thơ họ được yêu mến
như một nhà thơ Việt - đó là N.Hikmet và B. Dmitrova. Chúng ta biết
rằng khi làm thơ, Xuân Diệu quan niệm thơ phải có vần và có chấm phảy đầy đủ nói
chung ông thiên về một vẻ đẹp rõ ràng.Ay vậy mà khi dịch thơ Hikmet,ông không
quản ngại làm hết sức để truyền đạt đến bạn đọc cái chất
thơ riêng của nhà thơ Thổ Nhĩ kỳ ngay trong cái vẻ tự nhiên như một lời nói
mà chẵng cần vần vè gì.Đến khi dịch Dmitrova,ông cũng thành công trongviệc tạo
ra một thứ thơ gạn lấy tinh chất của đời sống và giữ được một nhịp điệu bên
trong kỳ lạ. Ơ những bản dịch thành công có cảm tưỡng như cả quan niệm về thơ
lẫn cái mỹ cảm chi phối ngòi bút của Xuân Diệu cũng đã thay đổi.Ong
như tự nâng mình lên trước một công chúng có phần chọn lọc
là những người biết yêu và hiểu thơ dịch.
Có thể nói với cả Nguyễn Tuân lẫn
Xuân Diệu,những bản dịch thơ văn nước ngoài nói trên đã là một phần máu
thịt của cuộc đời mỗi người tức một phần tinh hoa mà họ đóng góp
cho nền văn chương viết bằng tiếng Việt.
Thế nhưng trong các tuyển tập cũng
như toàn tập của các tác giả ấy được làm thời gian gần đây, các bản
dịch ấy bị lờ đi coi như không có.Chúng trở thành những đứa con hoang không
có dây dưa gì đến người đã tạo cho chúng một hình hài,một vận mạng.
(Các bản dịch của Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi cũng có số
phận tương tự.Chỉ riêng có toàn tập Vũ Trọng Phụng có đưa vào bản dịch
Lucrece Borgia nguyên tác của V.Hugo và tuyển tập Bùi Hiển có đưa
vào một vài đoạn dịch )
Bên cạnh dịch phẩm của các nhà văn,
kho tàng văn chương tiếng Việt thế kỷ XX còn được làm giàu lên nhờ đóng
góp của các nhà dịch thuật khác. Một Nguyễn Văn Vĩnh đã
từng làm nhiều nghề khác để kiếm sống và chỉ dịch những khi rỗi rãi có thời
gian song nhiều bản dịch của ông hồi đầu thế kỷ đã là những dịch
phẩm mẫu mực, riêng bài thơ Con ve và con kiến ông dịch của La
Fontaine thì đã được phổ biến không kém những bài thơ hay nhất
trong tiếng Việt. Hoặc như bản dịch các bản dịch Tam quốc chí của Phan Kế
Bính,Đông chu liệt quốc của Nguyễn Đỗ Mục đã được đọc khắp chợ
cùng quê,trong khi Tuyết Hồng lệ sử do Mai Nhạc dịch trở thành sách gối đầu
giừờng của nhiều thiếu niên ở đất Hà Thành,còn các bản dịch Ly tao,Tây sương
ký cùng Nam hoa Kinh thì gần như được cả giới cầm bút một thời công nhận là
những tuyệt tác.
Lịch sử cách mạng ở Việt Nam cũng
như Trung quốc và nhiều nước A Phi khác ghi nhận ảnh hưỡng của một cuốn sách
như Người mẹ của Gorki mà bản dịch được phổ biến trong những thời kỳ đen
tối.
Làm sao kể hết được xem đã có bao
nhiêu bạn đọc ở Hà Nội sau 1954 đã đọc Thép đã tôi thế đấy,Những người khốn
khổ,Chiến tranh và hoà bình trong khi bao nhiêu thanh niên ở Sài Gòn trước
1975 tìm thấy sự thông cảm trong các tác phẩm của Satre Camus ?
Chỉ xét riêng về mức độ phổ biến rộng
rãi và tác động lớn lao đến xã hội,công tác dịch thuật đã đáng được đối xử một
cách nghiêm túc.Và các dịch phẩm thành công xứng đáng được xem như một bộ phận
của di sản văn học. Nó phải có chỗ trong những bộ sách như Tổng tập văn học
VN.Nó phải có những hình thức lựa chọn tổng kết riêng của mình
chẳng hạn những bộ tùng thư riêng cho từng thể loại hoặc văn học từng nước.
Những dịch giả xuất sắc của thế kỷ phải được nghiên cứu về mọi mặt để
những dịch giả đi sau trông vào đó mà làm việc.
Thử xét đóng góp của các bản dịch
trên phương diện văn học. Một bản dịch hay bao giờ cũng đồng nghĩa với một bản
dịch có sự xử lý ngôn ngữ một cách thuần thục.Thực tế là trong đời sống văn
chương nhiều nước vẫn có những người chỉ viết sử viết khảo cứu nhưng nếu tác
giả đó có đóng góp vào việc đưa ngôn ngữ dân tộc tiến tới thì họ vẫn được suy
tôn như các nhà văn.
Không kể những Nguyễn Văn Vĩnh,
Nguyễn Đỗ Mục, Nhượng Tống thời trước,ngay trong nửa sau thế kỷ XX,các dịch
giả có tâm huyết gần đây như các vị trong nhóm văn học Lê Quý Đôn
(dịch Những người khốn khổ), Nguyễn Thuỵ ứng (dịch Sông Đông êm đềm),Cao
Xuân Hạo (dịch các tiểu thuyết Tolstoi hoặc truyện ngắn Gorki)
Phan Khôi và Trương Chính (dịch Lỗ Tấn),Trần Thiện Đạo (dịch
Camus ),Huỳnh Phan Anh (dịch Hemingway) và nhiều dịch giả
khác đã sử dụng tiếng Việt theo cái cách vừa giữ được đặc
sắc riêng của nó,vừa tăng khả năng biểu hiện và làm giàu thêm cho
nó.
Có lẽ là do nghĩ vậy nên ở Hội nhà
văn VN hiện nay có cả một ngành là ngành dịch thuật. Nói cách khác đã có sự
công nhận rằng các dịch giả ấy cũng là các nhà văn với nghĩa đầy đủ của chữ ấy.
Nhưng trong thực tế,thì nghề dịch
sách vẫn đang con bị xem thường.Trước 1985, có một hồi các bản dịch
chỉ ghi tên dịch giả bằng những dòng bé tí ở một chỗ kín đáo trong cuốn sách
dịch và trong khi không có chuyện phải lo tác quyền của bản gốc
như bây giờ song các dịch giả cũng chỉ nhận được 50% nhuận bút
thông thường. Đứng đằng sau cách làm đó là một quan niệm cho rằng dịch thuật
chỉ là một loại lao động chân tay giản đơn ai có một chút chăm chỉ là dịch được.
Thành thử mới có hiện tượng là bỏ lửng hoạt động dịch thuật trong quên lãng,
các bộ giáo trình lịch sử văn học rất ít khi nhắc nhở tới đóng góp của giới dịch
thuật đối với sự phát triển của văn học và những thành tựu dịch
không được đặt trong mối quan hệ hưu cơ với các thành tựu sáng tác khác.
Dù không được đánh giá đúng mức,
không được dành chỗ xứng đáng trong các bộ sách mang tính chất tổng
kết thì văn học dịch vẫn cứ tồn tại trong lòng bạn đọc và các bản dịch có giá
trị vẫn luôn luôn được in lại. Có điều theo tôi thấy việc này
đang có tác động không tốt tới đời sống, nó cũng là hậu
quả nhỡn tiền khó lòng tránh khỏi,ấy là trước mắt việc dịch sách đang bị xem
thường một số người không coi là chỗ đứng đắn để lập nghiệp. Tôi có biết một
người có năng khiếu dịch song sau khi tạo được một cái tên đủ để
làm ăn ông chỉ đứng ra làm cai để thuê mướn các sinh viên “sản xuất”
bản dịch còn bản thân thì lại để tâm làm một công việc
ông không thạo lắm là viết tiểu thuyết.Làm ăn ra sao là tuỳ tạng của mỗi người
song qua việc này tôi vẫn cảm thấy giá kể nghề dịch được trân trọng hơn không
chừng nó sẽ thu hút được nhiều tài năng hơn và khiến những người
có tài an tâm làm nghề hơn. Ở một nước mà số người trực tiếp đọc
được sách báo bằng tiếng nước ngoài còn rất ít ỏi như ở ta hiện
nay, dịch thuật phải được xem mhư một trong những ngành hoạt động chủ yếu mà
sự nâng cao chất lượng có vai trò thúc đẩy tới sự sáng tác cũng như làm giàu
thêm đời sống tinh thần bạn đọc.
VI. CẢ MỘT HỆ THỐNG THỂ LOẠI THAY ĐỔI
Hai kiểu tổ chức văn bản
Bằng con mắt thuần túy hình thức mà
xem xét, một trong những đặc điểm đập ngay vào mắt người ta khi đọc các tờ
báo, các loại tạp chí văn chương thời nay ấy là ưu thế rõ rệt về số lượng của
văn xuôi so với thơ.
Một tình hình tương tự cũng thấy xảy
ra ở sách xuất bản. Nền văn học thế kỷ XX lấy văn xuôi làm thể loại chính
trong khi từ thế kỷ XIX về trước, thơ ở vào vị trí trung tâm. Trong Việt Nam
văn học sử yếu, khi giảng về Tính cách nền quốc văn mới đối với nền văn nôm
cũ, Dương Quảng Hàm nêu rõ “Văn nôm cũ hầu hết là vận văn (thơ, ca, phú), hoặc
là biền văn (kinh nghĩa, tứ lục) chứ văn xuôi hầu như không có. Trong nền quốc
văn mới, văn vần tuy cũng có, nhưng chỉ giữ một địa vị nhỏ hẹp, còn văn xuôi
là thể văn mới thành lập lại chiếm phần quan trọng hơn”. Nói cho chi ly ra,
thì ở phương Đông, thời trung đại, văn xuôi không phải là không có, nhưng
ngay ở Trung Quốc một thời gian dài nó cũng chỉ được xếp vào loại sáng tác tầm
thường, phổ cập, không đáng coi trọng, trong khi đó, phải thơ mới được xem là
công cụ chính, không gì thay thế nổi, để biến lời nói thành nghệ thuật. Riêng
ở Việt Nam, ông cha ta cũng không có cách xếp hạng nào khác. Và bởi lẽ ở ta,
phương tiện in ấn lạc hậu, sách in ra khó khăn, nên văn xuôi càng không được
khuyến khích.
Như các nhà nghiên cứu mỹ học thường
khẳng định, các yếu tố hình thức bao giờ cũng có tính nội dung.
Sở dĩ hệ thống thể loại cũ là văn
thơ phú lục, vì đối với ông cha ta bấy giờ xã hội ngưng đọng văn chương chủ yếu
để chở đạo, để nói chí. Tuy đây đó, văn nhân xưa cũng nói tới cái thực nhưng
đó không phải là cái thực của đời sống khách quan mà trước tiên được hiểu là
cái thực trong tâm tưởng. Ngược lại, quy phạm của nền văn chương mới, như
chúng tôi đã trình bày trong một bài viết trước, là “hướng cái nhìn vào thực
tại’ và muốn giúp độc giả cảm thụ đầy đủ cái thực tại đó (không nên quên rằng
đây là cái thực tại của buổi giao thời, một thực tại cũng “đầy chất văn xuôi”
như người ta thường nói).
Một khi xem thực tại như đối tượng
để khai thác, nhìn nó trong khoảng cách gần gũi, tiếp cận với nó một cách tự
nhiên thậm chí đôi khi suồng sã, tức người ta sẵn sàng chấp nhận cả những cái
chưa hay chưa đẹp của thực tại, và nói chung là hướng tới một mỹ cảm phong
phú, chứ không tự khuôn vào cái cao nhã, cái mỹ lệ, như văn chương cổ quy định.
Quả thực, đây là cả một chuyển biến
lớn trong tư duy nghệ thuật.
Đến lượt mình bước chuyển này sẽ
khiến cho bộ mặt từng thể loại cụ thể cũng thay đổi theo. Thơ vượt ra ngoài
khuôn sáo ước lệ, và thay vào đó, chủ trương một chất thơ khá phóng khoáng tự
nhiên: trước mắt chúng ta có Thơ mới. Văn xuôi tự mở cho mình một chân trời rộng
rãi, ở đó ngay từ đầu, có sự đa dạng trong thể tài, kiểu dạng. Và đây, một thể
tài mới là kịch. Nói như Nguyễn Văn Vĩnh, trong Đông Dương tạp chí, thì sân
khấu ta xưa chỉ là một ước thể, “ nghĩa là chỉ dùng những cách phác diễn ra
cho người ta biết việc thế nào mà thôi, chứ không cần phải tả cho in sự thực”.
Theo đà tiến triển của tư duy nghệ thuật mới, con người đầu thế kỷ sẽ viết kịch
theo phương pháp của châu Âu cốt “diễn ra cho người ta trông thấy, nghe thấy,
cho người ta cảm giác một cái quang cảnh đặt ra, đã y như là sự thật vậy”.
Tuy nghệ thuật viết kịch ở ta nhiều mặt còn đang ở trong tình trạng ấu trĩ
nhưng riêng sự có mặt của nó, việc nó gia nhập vào đời sống văn học, đã góp
phần đánh dấu những bước chuyển biến trong hệ thống thể loại mà người ta sẽ
thấy kéo dài trong suốt mấy chục năm ròng.
Sự từ bỏ quyết liệt
và những bước đi tự phát
Giờ đây, lối để tóc ngắn, cũng như
lối phục sức theo kiểu phương Tây, đối với dân ta, đã là một cái gì tự nhiên.
Thế nhưng ở đầu thế kỷ không phải như vậy. Bấy giờ đàn ông có thói quen để
tóc dài, và coi đó là biểu hiện của tấm lòng hiếu thảo đối với bố mẹ. Khi
nghe vận động cắt tóc ngắn, những người có tiếng đứng đắn nói chung khá ngần
ngại. Bất đắc dĩ phải theo thời, trước khi cắt tóc, nhiều người không quên sửa
một mâm lễ cúng, gọi là tạ lỗi với các bậc tiền nhân.
Từ câu chuyện ăn mặc và để tóc
chúng ta dễ dàng hình dung ra bước thay đổi diễn ra trong hình thức văn học:
Những gì người sau coi là tự nhiên, với người đương thời, cũng phải trải qua
rất nhiều rắc rối mới hình thành nổi. Bấy giờ có một nhà nho là Nguyễn Bá Học
(1 857-1 921) ông là tác giả của những truyện ngắn đến nay vẫn được in lại
xem như cái mốc của văn chương đầu thế kỷ: Câu chuyên một tối của người tân
hôn, Chuyện cô Chiêu Nhì, v.v… So với Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn
(1883-1924), các truyện này không được mới bằng. Được cái, ông quyết tâm viết
khác đi so với trước. Chính ông đã có những lời xỉ vả nặng nề với văn thơ cũ.
“Tiểu thuyết, ký sự, luận thuyết,
diễn thuyết là những áng văn chương hữu dụng, còn thơ phú, ca dao, có vần có
điệu chỉ dùng để ngâm nga, không suy ra thực sự, chẳng những vô ích mà lại có
lúc làm cho mê mẩn mất cả tinh thần, tô điểm sai cả cảnh thực.
(…) Ngày nay học trò phải có tư tưởng
cho cao, tập luận nghị cho rộng; phải đọc những sách có kinh luân trong xã hội,
phải bàn những chuyện có quan hệ đến nước nhà, để ngày sau có thể đem học vấn
suy ra việc làm. Còn những lối ngâm hoa vịnh nguyệt, dù hay cho quỷ khốc thần
kinh cũng không đáng một đồng tiền kẽm “.
Khi muốn tự mình khác mình, người
ta hay đi quá đà. Sự nặng lời Nguyễn Bá Học bộc lộ ở đây là một điều dễ hiểu.
Từ sau Nguyễn Bá Học và những người cùng thế hệ với ông, cách thức để các nhà
văn Việt Nam từ bỏ hệ thống thể loại cũ, và bắt tay vào việc viết theo những
quy phạm thể loại mới, sẽ có sắc thái khác. Lấy ví dụ như trường hợp của Nguyễn
Công Hoan (1903-1977). Nhà văn này vốn rất thích thơ Tản Đà, nhưng ông lại sớm
biết rõ tài năng của mình là ở văn xuôi. Và có lẽ, một sự nhạy cảm nào đó, đã
thầm mách bảo với ông rằng thời thế đã khác, lối viết hoa mỹ với lại rưng
rưng cảm động như Tản Đà không ăn khách nữa. Nên ông không làm thơ, mà chỉ viết
truyện, truyện của ông đậm chất văn xuôi, tức là làm rõ cái vẻ tầm thường, vô
vị, và cả những khía cạnh dơ bẩn của đời sống. Chỉ khi lòng thật buồn bã, tự
thấy không được đời hiểu, muốn viết đôi dòng tự mình tâm sự với mình, an ủi
mình, ông mới làm thơ, một thứ thơ cổ lỗ nên ông cũng xếp luôn vào ngăn kéo
chứ không mang động báo bao giờ. Có thể nói, qua Nguyễn Công Hoan, có thể
hình dung cả quá trình các nhà văn Việt Nam đầu thế kỷ từ bỏ hệ thống thể loại
cũ và bắt tay vào viết theo thể loại mới. Nhìn chung, đấy là một quá trình tự
phát, không cần lý luận gì nhiều, thấy viết theo lối nào có người đọc thì họ
sẵn sàng làm theo. Và những vương vấn với thi pháp thể loại cũ, rồi cũng dẹp
bỏ dễ dàng. Từ sau Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Khái Hưng, Tú Mỡ… nhiều thế
hệ nhà văn khác đã đến với văn học, họ làm thơ, viết truyện, viết kịch theo
những quy phạm mới một cách tự nhiên, xem họ viết, người ta không thể không
tưởng tượng là thật ra, cái hệ thống thể loại này mới bắt đầu có từ đầu thế kỷ.
Điều chỉnh và ổn định
Một trong những dấu hiệu đầu tiên của
sự thay thế các thời đại văn học là sự thay đổi mạnh mẽ trong cấu trúc nghệ
thuật của các thể loại cơ bản cũng như toàn bộ hệ thống của chúng. Trên
nguyên tắc, một sự thay đổi về hình thức như thế này, bao giờ cũng
có tính nội dung, tức là do yêu cầu của nội dung đòi hỏi. Và một khi hệ thống
thể loại mới đã được xác lập, cái mới sẽ chỉ ngày càng trở nên ổn định, có thể
có sự điều chỉnh ít nhiều nhưng đó chỉ là điều chỉnh trên phạm vi
hẹp, và không khi nào lại có trường hợp đảo ngược để quay về với cái cũ.
Những quy luật ấy, vốn được rút ra
từ đời sống văn học nhiều nước khác nhau cũng là quy luật chi phối văn học Việt
Nam trong bước chuyển từ thế kỷ XIX sang thế kỷ XX. Điều cần nói thêm ở đây
là tuy cùng xây dựng văn học theo hệ thống thể loại mới, nhưng trong thực tế,
ở mỗi phương pháp sáng tác văn học và trong mỗi thời kỳ, bức tranh thể loại lại
có sắc thái riêng. Nghiên cứu đời sống văn học trước 1945, ai cũng thấy là
thơ mới gắn bó nhiều với trào lưu lãng mạn. Còn ở khu vực của các tác giả mà
ngày nay chúng ta xếp vào trào lưu hiện thực như Nguyễn Công Hoan, Nam Cao,
Vũ Trọng Phụng... thì quả là thơ gần như không có vai trò gì đáng kể. Tiếp
đó, trong văn học sau 1945 có mấy năm kháng chiến chống Pháp, thơ và kịch nở
rộ hơn, văn xuôi và tiểu thuyết có phần thưa thớt. Tại sao? Một mặt cuộc sống
lúc đó đầy chất lãng mạn, con người lúc nào cũng sẵn sàng cất lên tiếng hát
ca ngợi cách mạng. Mặt khác, điều kiện in ấn eo hẹp, các nhà nghệ sĩ muốn đến
với đông đảo công chúng, chỉ có cách sử dụng thơ và kịch là tiện. Còn như về
sau, hoàn cảnh thay đổi, phương tiện in ấn không quá khó khăn nữa, thì văn
xuôi sẽ trở lại đóng vai trò trụ cột. Tuy chỉ mới được xác lập từ đầu thế kỷ
song trước sau hệ thống thể loại mới vẫn đóng vai trò chi phối
sáng tác, bởi nó là phương tiện duy nhất thích hợp với con người hiện đại.
Theo nghĩa rộng văn xuôi bao gồm tất
cả những sáng tác không phải là thơ ( thường có vần và nhất là phải có nhịp
điệu ) cũng như không phải là kịch (viết theo thể đối thoại ).
Theo nghĩa này, cả truyện hoặc tiểu thuyết cũng đều thuộc về văn
xuôi.
Nhưng trong cách hiểu của một
số sách văn học sử,văn xuôi còn có một nghĩa cụ thể hơn. Tiểu thuyết, bao gồm
cả truyện ngắn (đoản thiên tiểu thuyết), được tách
riêng ra như một nhóm độc lập,thành thử phạm vi văn xuôi có bị thu
hẹp lại. Giờ đây nó chỉ còn liên quan đến những sáng tác thường không có cốt
truyện,không có nhân vật và không lấy việc tự do hư cấu
làm thủ pháp hàng đầu.Vả để cho tiện đôi khi người ta sử dụng từ tản văn, một
tiếng gốc Hán mà nghĩa cũng là văn xuôi.
Hịch tướng sĩ văn và
Bình Ngô đại cáo,Vũ trung tuỳ bút và Thượng kinh ký sự, Bài phú hỏng thi và
Bài tựa Truyện Kiều, đó là những ví dụ về sự có mặt của văn xuôi trong văn
chương cổ điển Việt Nam.Khỏi phải nhắc lại ở đây một sự thưc mà ai cũng biết
là từ thế kỷ XIX về trươc văn xuôi ở ta không phát triển.Nếu trong
lịch sử văn học Trung Hoa (nghĩa là cùng mô hình văn học phương Đông ) tản
văn đạt tới đỉnh cao từ thời Tần Hán và càng về sau càng trở nên đa dạng thì ở
ta,bức tranh còn ở dạng hết sức đơn sơ: Ở đây có vấn đề của văn tự nhưng chắc
chắn cũng không thễ bỏ qua những đặc điểm trong tư duy thể loại của
người Việt.
Bước sang thế kỷ XX tình hình ra
sao?
– Trong ba mươi năm đầu thế kỷ tiểu
thuyết chưa bùng nổ mạnh mẽ như về sau,thậm chí truyện ngắn cũng còn thưa thớt,thì
văn xuôi là một thể tài được ưa thích.Nguyễn Văn Vĩnh
viết văn tiểu phẩm,Nguyễn Bá Trác và Phạm Quỳnh viết du ký,Tản Đà viết những
bài báo tuy ngắn nhưng giàu chất nghệ thuật mà khi đưa vào sách ông gọi là
tùng văn (tùng là xốp,lỏng,không bó buộc ) còn Phan Khôi thì tung hoành trong
cái thể văn xuôi mà ngày nay tạm gọi là phiếm luận tạp luận. THế nhưng nhìn
chung, giai đoạn văn học từ 1932 trở về trước thường được coi như
một giai đoạn văn học chuyển tiếp và các cây bút nói trên cũng chẳng ai
chuyên tâm vào những thể văn xuôi mà họ sử dụng.Họ chỉ dùng văn
xuôi để tập tành trước khi viết tiểu thuyết. Có thể nói lúc này
các tác giả văn xuôi nghệ thuật với đúng nghĩa của nó chưa có.
– Những tác giả này chỉ
hình thành từ 1932 về sau.Trong Nhà văn hiện đại,Vũ Ngọc Phan đặt Nguyễn Tuân
và Lãng Nhân Phùng Tất Đăc cạnh nhau và xem họ là những người nối tiếp con đường
mà trước đó Tản Đà và lùi về xa nữa Phạm Đình Hổ đã đi.
Nếu tính cho rộng rãi hơn người ta phải kể đến những đóng góp của Thạch Lam
hay Xuân Diệu.Họ thực sự muốn và dã làm được khá nhiều trong việc mang lại chất
nghệ thuật cho văn xuôi.
Song nói đến giai đoạn
văn học 32-45, người ta thường chỉ nghĩ đến sự bùng nổ của tiểu thuyết
và sự chín tới rực rỡ của Thơ mới.Những tìm tòi trong văn xuôi không thu hút
được nhiều cây bút tham gia. Các nhà văn chỉ nghĩ đơn giản viết văn xuôi là
viết báo để rồi vội vã viết cho xong và chỉ một phần trong những tiểu phẩm họ
đã viết là có chất văn: Ngô Tất Tố là thế mà Vũ Bằng cũng là thế.Ngoại trừ
Nguyễn Tuân mà tên tuổi gắn với thể tuỳ bút thì không thấy có những
trường hợp tương tự( tạm so sánh,chẵng hạn Lỗ Tấn gắn với tạp văn ; Băng
Tâm,Chu Tác Nhân với văn xuôi trữ tình trong văn học Trung Hoa trước 1949…)
- Một trong
những nhu cầu chính đáng của đời sống những năm chiến tranh là cố gắng ghi được
mọi sự diễn biến xảy ra trên khắp chiến trường trên mọi miền đất
nước.Thành thử cũng là một lẽ tự nhiên khi thấy trong đời sống văn học sau
1945 nhiều nhà văn đã tham gia viết bút ký và có lúc như trong thời kỳ trước
sau 1970 ở Hà Nội ký được xem như một thể tài ai cũng phải có nghĩa vụ đóng
góp.Qua hai cuộc chiến tranh nhiều tập ký đã được in ra như Ký sự
Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng,Họ sống và chiến đấu của Nguyễn Khải Người mẹ cầm
súng của Nguyễn Thi, các bài ký như Trận Phố Ràng của Trần Đăng Đường chúng
ta đi của Nguyên Ngọc v…v…
Rồi những cuốn sách như
Ký sự thăm nước Hung (Xuân Diệu ),Như anh em một nhà (Thép Mới
),Bút Ký thăm Trung Hoa (Nguyễn Tuân ), Đường vui xứ bạn (Bùi Hiển ),Thăm
Trung quốc (Chế Lan Viên ) v..v... không gì khác là những biến tướng của thể
du ký có từ thời trước và lại là một ít bằng chứng của thể ký
không hư cấu.
Song có hai điểm cần xem xét : một
là phần lớn các tac giả trên vẫn có vẻ nhân tiện thì viết ký coi
đó là một thứ công viêc làm tay trái chứ chưa ai sống chết với thể
này và hai là không thể quy tất cả văn xuôi nghệ thuật
vào thể ký.Theo đúng nghĩa của nó, tản văn là một khu vực
rộng lớn hơn nhiều ở đó bên cạnh những thể chú
trọng ghi chép đời sống lại có những thể nghiêng hẳn về việc trình bày mổ xẻ
tâm lý của người viết và giữa hai thái cực trên là vô số những tìm
tòi cụ thể khác.
Xét ở sự đa dạng của thể
tài thì hình như ở ta ngay trong thế kỷ XX các thể văn xuôi còn
khá đơn điệu. Và số lượng tác phẩm được viết chỉ chiếm tỉ lệ khiêm tốn.
Giải thích hiện tượng này không có
gì khó khăn lắm. Cái chính là khi bảo rằng cách hiểu về
văn xuôi của thế kỷ XX vẫn chưa thay đổi là bao so với
ông cha từ thế kỷ XIX về trước, chúng ta vẫn chưa biết
rằng đến bao giờ thì văn xuôi mới khai thác hết khả năng mà nó vốn
có.
Thời Pháp thuộc,chương trình văn
chương được giảng ở các trường trung học Việt Nam là văn chương Pháp, trong
đó có một bộ phận đáng kể là kịch bản của các tác giả lớn như Racine,
Córneille, Molière hoặc lùi về sau, Huy go, Muset v.v... Việc này
ít nhiều đóng vai trò gợi mở với những người viết văn nửa đầu thế kỷ. Họ bắt
đầu có ý niệm về một thể tài văn chương mới mà trước đó, ở ta, chưa ai viết.
Trong lúc các kịch tác gia tương
lai đang mấy mò học hỏi, thì những yếu tố của một thể tài sân khấu mới cũng
ngày một nẩy nở. ‘Trên Đông dương tạp chí, khoảng từ 1913 đến 1917, Nguyễn
Văn Vĩnh đã cho in nhiều bản dịch kịch Pháp, trong đó chủ yếu là các vở của
Molière, như Người bệnh tưởng, Người biển lận, Trưởng giả học Iàm sang v.v…
Cũng khoảng thời gian này, một số đoàn kịch Pháp cũng sang Việt Nam biểu diễn.
Những người có đầu óc muốn học hỏi gặp nhau ở ý nghĩ: ta cũng phải xây dựng nền
sân khấu của người mình.
Tháng 9-1921, vở Chén thuốc độc của
Vũ Đình Long được giới thiệu trên tờ Hữu Thanh thi tháng 10 năm ấy được côn.g
diễn ở Hà Nội. Nhiều nhà nghiên cứu thường coi sự kiện trên là cái mốc lớn
trong lịch sử sân khấu hiện đại.
Nhưng ở đây, chúng tôi chỉ muốn nêu
lên một vài nhận xét liên quan đến việc sáng tác kịch bản (với tư cách một thể
loại văn học) Cũng giống như ở tiểu thuyết, thoạt đầu, một số kịch bản Việt
Nam được phóng tác từ kịch nước ngoài; sau đó, những kịch bản thuần Việt mới
xuất hiện.
Văn xuôi tự sự và kịch vốn rất gần
gũi, vì thế, việc chuyển thể từ truyện ngắn truyện vừa rất dễ xảy ra: Từ
1920, một vở kịch mang tên Ai giết người? đã được diễn ở rạp Quảng Lạc. Tác
giả kịch bản nói rõ mình phỏng theo truyện ngắn cùng tên của Mân Châu Nguyễn
Mạnh Bổng in trên Nam Phong.
Về sau, các tiểu thuyết nổi tiếng
như Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Lá ngọc cành vàng… đều có lúc được chuyển thể
đề diễn trên sân khấu.
Một trong những dấu hiệu quan trọng
nhất, chứng tỏ một thể tài văn học đã hình thành: nhiều nhà văn tìm đến thử sức
ở lĩnh vực kịch.
Bắt đầu hình thành một loại tác gia
ở Việt Nam: những nhà viết kịch. Đó là Nam Xương (các vở Chàng ngốc, Ông Tây
An Nam), Vũ Đình Long (Toà án lương tâm, Chén thuốc độc), Vi Huyền Đắc ( Kim
tiền) Đoàn Phú Tứ (Ngã ba). Một số tác giả trên còn viết cả các thể tài khác,
nhưng họ vẫn nổi hơn cả ở lĩnh vực kịch.
Ngược lại, một số tác giả khác, chủ
yếu làm thơ viết truyện, cũng có lúc tạt ngang sang kịch. Thái Phỉ có Học làm
sang, Phùng Bảo Thạch có Văn Sĩ, Vũ Trọng Phụng có Không một tiếng vang, Khái
Hưng có Tục lụy và Đồng bệnh, Thâm Tâm có nhiều kịch ngắn đăng ở Tiểu thuyết
thứ bảy, và báo Bắc Hà. Đó là chưa kể các kịch thơ của Phạm Huy Thông, Hàn Mặc
Tử, Phan Khắc Khoan v.v…
Nền nếp này, từ sau 1945, còn được
tiếp tục. Bản danh sách các nhà văn viết kịch ngày càng được bổ sung. Thuộc
thế hệ trước, ta thấy có Nguyễn Huy Tưởng vốn nổi tiếng từ Vũ Như Tô nay có
thêm Bắc Sơn và Những người ở lại; Học Phi có Chị Hoà; Nguyễn Đình Thi có Con
nai đen, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc; Nguyễn Khải có Cách mạng (ở Sài
Gòn cũ, Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan là vở có nhiều tìm tòi trong ngôn
ngữ thể loại). Thuộc thế hệ mới, có Xuân Trình, Tất Đạt, Lưu Quang Vũ, Nguyễn
Khắc Phục.v.v..
Có điều, trong một hai thập kỷ gần
đây, thấy nẩy sinh một xu thế tự phát: sáng tác kịch bản được xem
như một bộ phận của hoạt động sân khấu hơn là sinh hoạt văn chương. Giới nhà
văn có vẻ không quan tâm đến nó như tình hình từ 1945 về trước và những năm
kháng chiến chống Pháp. Khi nói tới các nhà văn trẻ, người ta không kể được
xem có ai đang viết kịch.
Với tư cách một thể tài văn học ngoại
nhập, số phận kịch có vẻ không may mắn như tiểu thuyết. Đây là một giả định
còn phải được tiếp tục làm rõ.
VII. THƠ VIỆT THẾ KỶ XX – MỘT CUỘC
TÁI SINH
- Ở Tây, họ cũng có văn chương sao?
- Có chứ văn chương họ hay lắm!
- Thế họ có thơ không?
Thơ họ có vần có điệu, có hay bằng thơ “chữ ta” không?
… Trên đây là một cuộc đối đáp ngắn
xảy ra giữa một nhà nho cũ và một trí thức Tây học trong những năm đầu thế kỷ.
Cuộc tiếp xúc giữa hai nền văn minh Đông Tây ở ta lúc này đã không dừng lại ở
văn minh vật chất mà chuyển sang cả lĩnh vực tinh thần. Tâm lí hoang mang bộc
lộ thật dễ hiểu bởi dẫu sao, xưa nay, cái phần văn minh tinh thần ấy (trong
đó bao gồm cả sự sáng tạo trong văn chương, cả văn thơ phú lục) vẫn là điều
khiến con người nơi đây tự hào. Vậy thì lẽ nào mình phải từ bỏ nó để chạy
theo một cái gì nhợt nhạt, vớ vẩn? Sẽ là thả mồi bắt bóng là học đòi vô lý
chăng? Một ít câu hỏi như vậy vẩn vơ trong tâm trí nhiều người. Nó sẽ dẫn đến
tình trạng là suốt ba mươi năm đầu của thế kỷ, trong khi báo chí ra đời và hoạt
động ngày một rầm rộ, tiểu thuyết có những bước tập tành đáng khích lệ, thì
thơ Việt Nam trừ một vài ngoại lệ, nói chung vẫn dẫm chân tại chỗ ở cái dạng
quen thuộc có từ thời các cụ ngày xưa.
Thế rồi, bài thơ Tình già của Phan
Khôi xuất hiện. Nói như Hoài Thanh “Lần đầu tiên trong thành trì thơ cũ hiện
ra một lỗ thủng”. Và thế là chỉ trong dăm năm, một cuộc cách mạng xảy ra và
được hoàn thành một cách nhẹ nhàng. Bởi cái quá khứ dày dặn của nó, trước
1930, thơ khó thay đổi.
Nhưng cũng bởi cái quá khứ dày dặn ấy,
mà một khi đã thay đổi, nền thơ có những bước bột phát mạnh mẽ sinh động.
Trước mắt chúng ta, dường như xảy
ra một cuộc tái sinh.
Cũ mới phân biệt
Để xứng danh với cái nghĩa đầy đủ của
hai chữ Thơ mới, ngay từ bề ngoài, nền thơ được xác lập bởi các nghệ sĩ trẻ
những năm ba mươi có một đặc điểm mà người ta nhận ra một cách dễ dàng: nó
không chịu gò bó theo những quy phạm vốn nổi tiếng là nghiêm ngặt của thơ cũ.
Từng bài thơ ở đây không phải là tiếng vọng của những bài thơ cổ. Dù hay dù dở,
nó có lý do riêng để ra đời để tồn tại. Tự do có lẽ là cảm giác lớn nhất,
toát ra từ mọi phương diện của bài thơ, bao gồm cách hạ vần, cách cắt nhịp
cho đến cái cảm hứng chung, cái tư thế của con người trong hành động sáng tạo
thơ ca của mình. Không phải ngẫu nhiên, các nhà thơ trẻ đầu những năm ba mươi
thường nhấn mạnh rằng sở dĩ phải từ bỏ cái cũ, và làm thơ theo lối mới, vì về
mặt bản thể, lớp người mới đã khác xa hẳn lớp người cũ. Khác trong vui buồn,
yêu ghét, sướng khổ mà cũng là khác trong quan niệm chung về cuộc đời. Trong
sự đa dạng của các phong cách, hình ảnh con người hiện lên trong thơ mới vẫn
có một nét chung: mỗi nhà thơ tự tin hồ hởi nói lên những điều mình cảm, mình
nghĩ. Họ là những cá tính được giải phóng.
Ảnh hưởng và biến đổi
Trong nền thơ Việt Nam từ thế kỷ
XIX trở về trước người ta dễ dàng đọc ra những ảnh hưởng của thơ Trung Hoa.
Và toàn bộ thơ ca cổ điển Việt Nam không gì khác hơn là sự chế định những ảnh
hưởng Trung Hoa kia, để rồi kết hợp với những yếu tố thuần Việt được phát hiện
ngày thêm đầy đủ, mà làm nên một bản sắc dân tộc độc đáo.
Ngay ở điểm này, nền thơ thế kỷ XX
đã tự chứng tỏ chỗ khác của mình. Ảnh hưởng chủ đạo là ảnh hưởng Pháp, nói rõ
hơn là thơ Pháp thể kỷ XIX. Cũng có đôi phen nền thơ bạch thoại của Trung Hoa
thế kỷ XX được giới thiệu để tham khảo, nhưng thơ Pháp mới là cái khuôn mẫu
chính để theo. Thơ Pháp gợi ý đề tài thơ Pháp đóng góp thi liệu, thơ Pháp hướng
dẫn cấu tứ… Nhiều nhà thơ Pháp cổ điển và đương thời, Lamartine, Beaudelaire,
Musset, Rimbaud, Verlaine... trở nên thần tượng chẳng khác những Lý Bạch, Đỗ
Phủ, Tô Đông Pha, Đào Uyên Minh thủa trước. Và các trường phái thơ Pháp, như
lãng mạn, tượng trưng, thi sơn thì theo những con đường khác nhau, và với mức
độ khác nhau ảnh hưởng đến từng nhà thơ, đồng thời cũng giúp cho các trường
thơ nho nhỏ như Thơ điên, Thơ loạn có dịp nẩy nở.
Mặt khác như các nhà nghiên cứu gần
đây đã chỉ rõ, mặc dù cuộc cải cách về thơ những năm ba mươi diễn ra khá quyết
liệt song nó cũng nhanh chóng tìm ra tiếng nói chung với truyền thống. Theo
Hoài Thanh, ngay từ đầu đã có thể chia thơ những năm ba mươi thành ba dòng nhỏ
là dòng thơ Pháp, dòng những nhà thơ ảnh hưởng thơ Đường, và dòng thuần Việt,
và ba dòng này nhiều lúc lại làm công việc hợp lưu với nhau.
Giữa cái ngoại nhập với cái nội địa,
giữa ảnh hưởng mới và ảnh hưởng cũ, như vậy, không có cuộc loại trừ mà là
chung sống để trở nên những yếu tố hữu cơ của một nền thơ Việt Nam mới mẻ.
Đây không chỉ là đặc điểm riêng của thời Thơ mới, mà là của thơ Việt thế kỷ XX nói chung.
Hướng tới phổ cập
Công cuộc tự do hóa thơ ca vừa căn bản hoàn thành vào đầu những
năm bốn mươi thì chỉ mấy năm sau, một sự đột biến đã xảy tới trong xã hội: Cách
mạng. Rồi kháng chiến. Và sau kháng chiến chống Pháp là cuộc chiến tranh chống
Mỹ. Một nguyên tắc lớn của cách mạng là tận dụng mọi phương tiện sẵn có để thúc
đẩy sự nghiệp chung. Và dĩ nhiên, văn học (trong đó bộ phận năng động nhất là
thơ ca) cũng đã có mặt. Thơ được ném vào một trường hoạt động rộng lớn. Người
tham gia sáng tác và thưởng thức ngày một đông đảo, thuộc đủ các tầng lớp khác
nhau trong xã hội. Tính chất phổ cập trở thành một đặc tính được nói tới đầu
tiên, khi bàn về thơ. Có lẽ ở chỗ này người ta có dịp để nghĩ rằng chính sự tự
do hoá thơ ca mà trên kia đã nói, là cách chuẩn bị tết nhất cho sự dân chủ hóa
thơ ca hôm nay (Nếu không phá cách vứt điều luật - Khó cho thiên hạ đến bao giờ
- Tản Đà). Mặt khác, trong quá trình phục vụ cách mạng, các nhà thơ chuyên nghiệp
ngày càng “mài sắc vũ khí”, và có thể nói là mỗi người trong họ đều tìm cách
khai thác bản thân một cách hiệu quả nhất. Hơi thở khỏe mạnh của văn nghệ dân
gian tràn vào thơ. Đồng thời, việc giao lưu với thơ thế giới được làm có bài bản
hơn bao giờ hết (Maiakovski, Néruda, Nazim Hikmet, Aragon, Tagore v.v... mỗi
người trong họ, được giới thiệu trong một tập riêng). Tổng hợp những yếu tố đó
lại, cả nền thơ như đạt tới bước phát triển mới. ở một người như Tố Hữu - lá cờ
đầu của thơ ca cách mạng, người ta cảm thấy những bài hay nhất là những bài vừa
có cốt cách dân tộc, vừa mang hơi thở nồng nhiệt của con người hiện đại.
Sự liên tục của thế kỷ
Mở đầu bài viết có tính cách dẫn luận cho Thi nhân Việt Nam
1932-41, nhà phê bình Hoài Thanh kể ra những thứ chẳng thơ chút nào: hết mũ
tây, giầy tây đèn điện, đồng hồ… đến vải vóc kim chỉ. Lỉnh kỉnh trăm thứ bà giằn
là những mặt hàng người Pháp nhập cảng vào xã hội Việt Nam! Và ông đưa ra một kết
luận khái quát: “Những đồ dùng kiểu mới ấy chính đã dẫn đường cho tư tưởng mới”.
Phải nhận đó là những ý kiến xác đáng!
Nền văn minh vật chất mà phương Tây áp đặt cho xã hội Việt
Nam các thế kỷ trước và đầu thế kỷ này, rút cục là nhân tố cụ thể đẩy tới mọi
biến động diễn ra trong đời sống tinh thần. Nói rằng chúng ta chuyển từ Thơ cũ
sang Thơ mới (và chúng ta viết tiểu thuyết, diễn kịch) cũng giống như chúng ta
chuyển từ lối khăn đóng áo dài sang mặc âu phục “com-lê” “cơ-ra-vát” nghe có gì
thô thiển, nhưng quả thật là ở đây có sự tương ứng. Đó là những hình thức mới,
hơn nữa lại là những hình thức mang tính nội dung, tức có khả năng biểu đạt những
thay đổi đã đến trong cuộc sống.
Có điều khi đã nói về hình thức, thì như các nhà triết học đã
tổng kết, bao giờ ngườI ta cũng phải lưu ý tới tính ổn định của chúng. Và điều
này cũng đúng với những hình thức chúng ta đang nói. Trong sự thay đổi lớn lao
của đời sống dân tộc từ sau 1945, mỗi chúng ta đã tự khác đi rất nhiều. Vậy mà
trước sau chúng ta vẫn ở nhà tây, đi giày tây… như ngày nào, và ngày càng tiếp
nhận thêm nhiều phương tiện kỹ thuật mới để làm phong phú thêm cuộc sống của
mình. Một quá trình tương tự cũng đã xảy ra trong thơ sau 1945. Có thể kể ra một
số hướng tìm tòi rõ rệt như sau:
- Về số câu số chữ trong câu và các niêm luật đi kèm: Nếu thơ
mới 32-41 chủ yếu là thơ bảy chữ và nhất là tám chữ, thì giờ đây, thơ nhiều câu
dài ngắn khác nhau, các thể lục bát và cả bốn chữ, năm chữ xen kẽ
nhau. Với nhiều bài thơ của Hồng Nguyên, Trần Mai Minh, Tố Hữu, Hoàng Cầm người
ta không thấy danh từ nào thích hợp hơn là: thơ tự do.
Về chất liệu đưa vào trong thơ: Tổng kết kinh nghiệm của nhiều
người, Xuân Diệu đề ra lối thơ đưa vào thật nhiều chi tiết đời sống. Trong khi
đó, Chế Lan Viên thích thơ của mình có thêm chất triết luận.
- Về quan niệm thế nào là chất thơ, mối quan hệ giữa thơ và ý
thức, thơ và hiện thực (từ đó dẫn đến các trường phái các chủ nghĩa trong thơ):
Từ kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Đình Thi có mạch thơ riêng mà ông gọi là thơ
đi vào cảm xúc, và xét hơi hưởng thì gần với chủ nghĩa ấn tượng. Trước 1975 ở
Sài Gòn, Thanh Tâm Tuyền, Nhã Ca… ngả sang khai thác phần vô thức và gần đây những
Đặng Đình Hưng, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Hưng, Dương Tường, mỗi người một cách,
thể nghiệm các thủ pháp của thơ hiện đại. Đây chính là cái hưởng tìm tòi được mở
ra từ hồi Xuân thu nhã tập và thơ Hàn Mặc Tử, và mặc dù chưa bao giờ nổi lên rầm
rộ như một phong trào, nhưng những cuộc phiêu lưu này cũng chưa bao giờ bị quên
lãng hoàn toàn.
Như vậy, nền thơ dân tộc từ sau 1945, so với đầu thế kỷ đã
bao đổi khác.
Song sự đổi khác đó vẫn là nằm trong cái mạch được gợi mở từ
những năm ba mươi và nếu đặt bên cạnh thơ các thế kỷ trước, thì toàn bộ thơ thế
kỷ XX vẫn là một sự liên tục, do đó, một sự nhất trí. Thời gian càng đi tới thì
phong trào Thơ mới càng thu gọn lại trong phạm vi một hiện tượng lịch sử, và
hình thức Thơ mới bây giờ không còn gì là mới mẻ nữa. Nhưng cái tinh thần “phá
cách vút điệu luật” của những năm ba mươi – đằng sau đó, là sự cởi mở, là một
quan niệm để ngỏ về thơ, về sự sáng tạo – cái tinh thần tốt đẹp ấy còn được duy
trì trong suốt thế kỉ.
1. Về lực lượng sáng tác
Nhiều nhà văn Việt Nam đến với văn học từ thơ. Ngay một cây
bút thiên về cười giễu việc đời như Nguyễn Công Hoan (1903-1977) cũng coi thơ
là một lĩnh vực thiêng liêng cao cả, thuần khiết vượt lên hơn hẳn sự viết lách
thông thường.
Tính trên số lượng, chỉ trừ thời kỳ 1932-1945, còn nói chung
người làm thơ ở Việt Nam bao giờ cũng đông hơn người viết văn xuôi. Lại còn một
đội ngũ những người làm thơ nghiệp dư thời nào cũng nhiều vô kể! Có thể nói Việt
Nam trong thế kỷ này vẫn là một thi quốc, như các thế kỷ trước ông cha ta vẫn tự
nhận.
Nhưng những người chỉ lo làm thơ, sống chết với thơ không mấy.
Khi trở thành một thành viên của giới sáng tác họ thường có viết thêm văn xuôi,
hoặc đi dịch. Các công việc kia có thể coi như việc làm thường xuyên mà thơ thì
không – họ nghĩ vậy.
Sau đây là một vài con số thống kê cụ thể số lượng tác giả có
thơ in vào các tuyển tập.
- Trong Thi nhân Việt Nam. 1932-1941 của Hoài Thanh và Hoài
Chân in ra lần đầu 1943: 45.
Trong Thơ Việt Nam, tuyển tập 1945-1956 in ra 1956, không đề
người tuyển chọn, nhưng tương truyền, do Xuân Diệu chủ trì: 55.
- Trong Thơ Việt Nam hiên đại (hiện đại với nghĩa bắt đầu từ
những năm 30, và dừng lại ở năm 1975), có tính đến cả một số tác giả ở Sài Gòn
trước 1975, như Bùi Giáng, Nguyên Sa, Tần Hoài Dạ Vũ…, hoặc một vài nhà thơ sống
ở Pháp như Phạm Văn Ký, Thu Trang: 186. Tập này in ra 1993 và đứng tên nhóm chủ
trì gồm Tế Hanh, Ngô Văn Phú, Vân Long.
2. Những con đường tác động của thơ
Theo cách khái quát của cuốn Văn hóa thế kỷ XX (từ điển lịch
sử văn hóa) nguyên bản tiếng Pháp 1995, bản dịch in ở Hà Nội 1999,
thì trong thời đại hiện nay, cũng có cả một dòng thơ diễn xướng, thơ quảng trường,
thơ đọc trước công chúng Maiakovski, Néruda, R.Alberti, Evtouchenko). Song
khuynh hướng chủ yếu có lẽ vẫn là thơ hướng nội, và số thi sĩ “muốn biến thơ
thành một dạng ngôn ngữ thuần khiết để quay về với bản thân”, số đó vẫn đông
hơn hẳn.
Ở Việt Nam, mọi chuyện có khác đi một chút.
Số tác giả thơ chủ trương thơ làm ra chỉ cất để thỏa mãn nhu
cầu cá nhân, số đó rất hiếm, rõ nhất có lẽ chỉ có thể kể Hàn Mặc Tử (1912-1940)
hoặc Trần Dần (1926-1997) ở giai đoạn cuối đời. Nhưng ở hai người này, thơ đã đến
độ “tự chuyển đổi để trở thành một ngôn ngữ khác hẳn, mới lạ, hầu như độc lập với
mặt bằng quy chiếu ở thế giới thực tại” chưa, thì chúng tôi không dám chắc.
Còn từ Tản Đà, Trần Tuấn Khải, qua Xuân Diệu, Nguyễn Bính và
kéo mãi về sau tới Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy… các nhà thơ dù rất khác nhau
song thường gặp nhau ở một điểm: thơ làm ra là để hưởng tới bạn đọc, và nhà thơ
muốn được chia sẻ, thông cảm càng nhiều càng tốt.
3. Về tính phổ cập
Trên nguyên tắc, các nhà thơ và bạn đọc đều hiểu cái làm nên
một bài thơ là chất thơ chứ không phải vần. Một số sáng tác như thơ Nguyễn Đình
Thi thời kỳ đầu hoặc thơ dịch như thư B.Dmitrova (Xuân Diệu dịch) đã được đón
nhận nghiêm chỉnh. Nhưng trong thực tế, một thói quen dai dẳng tồn tại trong
cách sáng tác và cảm thụ thơ của người Việt là thơ nên có vần phải có vần. Yêu
cầu phổ cập buộc thơ đi theo con đường phát triển như vậy.
Mặt khác, sống trong một thế kỷ bận bịu, thơ ca thường phải
gánh vác nhiều công việc do xã hội giao phó.
Giữa yêu cầu xã hội và cái quan niệm “thơ phải có vần” thường
có sự gặp gỡ tự nhiên. Nhưng cũng đôi khi có những chuyện ép buộc kỳ lạ như thơ
Bút Tre.
Đây chỉ là một biểu hiện độc đáo của một xu thế có sẵn và thường
khi người ta không muốn chấp nhận nó là thơ. Nhưng hỏi mấy ai lãng quên hoàn
toàn được “dòng thơ” này khi nghĩ đến thơ?
4. Việc nghiên cứu và tổng kết
Trở lại các thư tịch từ thế kỷ XIX về trước, có thể bắt gặp
nhiều lời bàn về thơ. Nhưng trong văn học trung đại Việt Nam không có riêng một
cuốn sách nào dành riêng cho lý luận thi ca (cỡ như Tùy viên thi thoại của Viên
Mai Trung Quốc).
Ở thế kỷ XX, tình hình cũng không khá gì hơn. Tức là người
làm thơ nhiều, song một người chuyên lo lý luận về thơ thì không có. Chỉ có những
lời bàn ngắn gọn của người trong cuộc, và đến nay cũng chưa được sưu tập hệ thống
hóa lại cho đầy đủ.
Sách viết về lịch sử văn học không thiếu, nhưng các bộ này
thường nghiên cứu cùng một lúc các vấn đề các thể loại khác nhau. Chưa thấy có
cuốn nào dành riêng cho lịch sử thơ ca Việt Nam thế kỷ XX.
Các tuyển tập thơ cũng được làm nhiều nhưng thường rời rạc,
tùy tiện, dễ bị đào thải. Cho đến cuối thế kỷ XX, chưa có một tuyển tập nào tổng
kết được thơ Việt Nam từ sau phong trào Thơ mới mà lại đạt trình độ tương tự
như Thi nhân Việt Nam 1932-1941 của Hoài Thanh và Hoài Chân.
Trong sự biến chuyển chung của văn học thế kỷ XX, mỗi thể loại
lại có những bước đi riêng và số phận riêng.
Với tiểu thuyết, mọi chuyện có vẻ khá đơn giản. Thời gian đầu,
chỉ cần học theo tiểu thuyết Pháp rồi biến báo và tự hoàn chỉnh là đủ. Về sau
khi đã có cốt cách rồi, thì việc tiếp nhận ảnh hưởng của tiểu thuyết Nga - Xôviết
cũng không mấy khó khăn. Suốt một thế kỷ học hỏi và phát triển, hầu như không
có sự cố, tức không có cuốn nào bị kêu là tìm tòi quá đà, là xa lạ với truyền
thống dân tộc.
Nhưng ở bên thơ, tình hình có khác. Truyền thống thơ cũ sừng
sững đứng đó buộc người ta làm gì cũng phải tính tới nó, và mọi tìm tòi phải lấy
nó làm điểm đối chiếu.
Có một sự kiện mà các sách văn học sử thường cho là không
quan trọng nên ít ghi chép: ấy là khoảng những năm hai mươi – ba mươi, có một số
người đã thử dùng tiếng Việt để làm những bài xonnê theo kiểu Pháp. Đây là một
ví dụ, bài Thú cô đầu:
Chà!
tình Cô
đầu
Bực
mình Với
khách
Cuốn chiếu: Cùng
nhau
Séo Khách
khách
Chuyện
ranh Tháng
lương
“Anh anh”
Tiền thiếu Bương!
Kiếu
Bài thơ ký tên Trần Khánh Giư tức Khái Hưng và in trên An Nam
tạp chí của Tản Đà năm 1932. Bình sinh hai người này chưa bao giờ bị kêu vì
tình thần vọng ngoại, công việc mà họ coi là trò đùa đó, thực ra vẫn là một bước
đi thử (chắc chắn còn có nhiều bài được làm song rồi đút ngăn kéo, không tính
chuyện công bố).
Một người khác có sự thể nghiệm rõ rệt hơn là Nguyễn Vỹ.
Trong Thi nhân Việt Nam 1932-1941, ông chỉ được giới thiệu như một người hay
“lòe đời” (chữ của Hoài Thanh và Hoài Chân) mặc dù đã có một bài đáng gọi là kiệt
tác Gửi Trương Tửu. Nhưng đọc thêm một số tài liệu khác, người ta được biết rằng
Nguyễn Vỹ còn có hẳn một tập thơ mang cái tên bằng tiếng Pháp Premières Poésies
- Tập thơ đầu ở đó ông thử viết nhiều bài, khi 6 chữ, khi 12 chữ
nhưng đều có cách bắt vần theo thơ Pháp. Đây là mấy câu trong bài Đền đổ:
Cùng như những Tháp Chàm ấy là những linh từ đời xưa
Đừng chót vót trên gò cao, nguy nga giữa cảnh đồng nội
Mà nay cô đơn ủ rũ đầy vơi sương nắng gió mưa
Đền đã tan tành đổ nát như đa mang nhiều ác tội...
Dần dần những đêm lạnh lẽo, rồi những buổi trưa mùa hè
Một miếng gạch tự nhiên rời mặt tường rồi rơi… trên cỏ
Tiếng rơi vẫn kêu, mà trời đất vẫn điềm tĩnh không nghe
Thương thay! Cái đền linh xưa, nay còn là cái tháp bỏ.
Đúng là tập thơ đầu không được mấy ai hưởng ứng và tác giả
cũng bỏ cuộc luôn. Theo ý chúng tôi Nguyễn Vỹ thất bại không phải chỉ kém tài,
mà ở đây còn có một lý do gì đó bao quát hơn: Nền thơ cũ quá lớn! Người ta
không thể bỗng chốc đoạn tuyệt với nó. Nhiều người gặp nhau ở ý nghĩ. Thơ Việt
phải thay đổi và có thể học thơ Pháp ở lối cảm xúc, hoặc một vài quy cách hiệp
vần, nối câu nối chữ. Nhưng cái phương án bắt đầu lại từ đầu thì dứt khoát bị gạt
bỏ. Câu chuyện người Việt làm thơ theo luật của người Trung Hoa thời Đường chỉ
xảy ra một lần và không bao giờ tái diễn. Nền thơ Việt thế kỷ XX muốn gì thì gì
cũng phải là một sự tiếp tục của mạch thơ dân tộc đã được hình thành.
Có thể nói đây là nguyên tắc chi phối cả định hướng lớn của nền
thơ và tác động tới những tìm tòi cụ thể đã nối tiếp trong vòng hơn sáu chục
năm nay:
Ví dụ thứ nhất: Trong số những thể nghiệm của thơ mấy năm
1932-1935, người ta biết rằng có một mảng thơ gần chất văn xuôi của Nguyễn Thị
Manh Manh, Hồ Văn Hảo… Hoặc sau này, trong thời kháng chiến chống Pháp, Phan
Khôi cũng có bài giới thiệu lối làm thơ học theo giọng dân gian ở bên Trung Hoa
hiện đại (xem tạp chí Văn Nghệ tháng 6/1950). Nhưng trước sau, loại thơ này
không phát triển được. Lý do không gì khác là nó “lục cục, lào cào” không hợp với
thói quen thẩm âm của người Việt.
Ví dụ thứ hai: Có một số thí nghiệm ngôn ngữ thơ vẫn được tiếp
tục, sau khi Thơ mới đã ổn định. Đó là thơ của nhóm Xuân Thu nhã tập, thơ Nguyễn
Đình Thi trong kháng chiến chống Pháp, thơ Thanh Tâm Tuyền, Nhã Ca… ở Sài Gòn
trước 1975, thơ Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt… những năm gần đây. Người ta đặt
tên cho những tìm tòi đó bằng những cái tên khác nhau, thơ ấn tượng,
thơ siêu thực, thơ tiềm thức v.v… và có thể cái ‘danh” chưa xứng với “thực”,
song phải nhận đó là những cố gắng vượt ra ngoài cái mạch thông thường của thơ
mà chúng ta vẫn đọc. Người ta cũng gặp ở đây những nhà thơ có tài, bản thân từng
người đôi khi đã chín trong cái cách của họ. Nhưng những tìm tòi này không tạo
nên dòng chảy liên tục, không làm ra những trường phái rõ rệt, và không đủ sức
lay động nền thơ nói chung. Tại sao? Lý do có thể là vì hoàn cảnh, xã hội chưa
vận động tới mức cần có những đổi mới rộng lớn trong thơ. Nhưng có lẽ còn nên
nói thêm là hình như hồn thơ Việt Nam có cái vẻ riêng, dân ta có thói quen sáng
tác và cảm nhận thơ riêng, nó làm nên một kiểu “tư duy thơ Việt Nam”
và những gì vượt ra ngoài cái mạch thơ quen thuộc ấy, không dễ được chấp nhận.
Nói thế không phải để bảo rằng chỉ có một cách là làm theo cái cũ, mà chẳng qua
nhấn mạnh: Muốn có những thay đổi bền chắc trong thời gian tới luôn luôn chúng
ta phải tự nhận diện lại cho chính xác “cái bản ngã” đã hình thành trong lịch sử.
Giải mã quá khứ là một trong những điều kiện đầu tiên để tạo ra tương lai không
giống với quá khứ.
VIII. TIỂU THUYẾT, MỘT HÀNH TRÌNH
Để giải thích tại sao bản thân vốn là một nhà thơ sau có lúc
lại tạt sang viết văn xuôi, thi sĩ Chile P. Néruda có lần nói nửa đùa nửa thật:
“Đối với riêng mình, tôi chính là kẻ thù tệ hại của văn xuôi tôi. Nhưng sự đời
là thế: Nếu chúng ta đã nói bằng văn xuôi tức chúng ta cần phải viết bằng văn
xuôi”.
Sự thực đó không chỉ đúng với từng cá nhân, mà còn đúng với
các dân tộc.
Nhìn vào sự phát triển nền văn học ở những xứ sở khác nhau,
người ta thấy ở đâu cũng có văn xuôi và bắt đầu thường là những thể đơn giản nhất,
bao gồm từ các ký sự đi đường, nhật ký, thư từ… cho tới truyện về các nhân vật
kiệt xuất, các “dị nhân”, và truyện các vị thánh.
Nhưng tiểu thuyết thì không phải như vậy. Tiểu thuyết đánh dầu
một trình độ nào đó của các nền văn học, khi bản thân nó không chỉ ở dạng nẩy nở
tự phát mà đã có tiến triển trên phương diện lý tính, phương diện tổ chức.
Điều này đã được chứng thực qua nền văn chương cổ ở ta (từ thế
kỷ XIX về trước). Do những bất cập về mặt văn tự, đến cả văn xuôi lúc ấy cũng
ít ỏi, nót chi đến tiểu thuyết. Trên dưới một trăm cuốn truyện thơ nôm, cùng là
vài chục bộ sách viết bằng chữ Hán, mà về mặt tiểu thuyết chỉ mới ở dạng manh
nha – đấy là tất cả gia tài còn lại ở khu vực tự sự và số thực sự có giá trị, số
thường xuyên đến với đông đảo bạn đọc – số đó lại còn nhỏ bé hơn nữa. So với
thơ, sự thua thiệt thấy rất rõ. Nếu bước sang thời kỳ xây dựng nền quốc văn mới,
các nhà thơ ở ta còn chần chừ vì quá khứ sâu nặng, thì với văn xuôi, người ta
có một một thái độ thanh thoát và tự nhiên hơn nghĩa là bắt tay ngay vào việc học
theo tiểu thuyết Pháp để viết, mà chẳng cần ngoái đầu lưu luyến gì nhiều. Dần dần
một tư duy tiểu thuyết cũng đã hình thành, để đưa thể tài này phát triển, thành
một thứ thức ăn thường trực, rất hợp với khẩu vị đám công chúng mới. Khách quan
mà xét chưa bao giờ một thể tài văn học mang tính cách cấy ghép, lại nhập cuộc
để trở thành một bộ phận văn học dân tộc nhanh chóng đến như vậy (ở chỗ này,
người ta có thể liên hệ đến một vài giống cây lưu niên hoặc cây hoa, như xà cừ
(sọ khỉ), hoa sữa, hoa giấy, la-dơn… Chúng đều vốn có gốc gác nước ngoài, nay
đã được thuần hóa thành cây, hoa bản địa).
Những bước tập tành và những ảnh hưởng đã tiếp nhận
Ngoài những đóng góp trên lĩnh vực thi ca Tản Đà còn là người
có công trong một thí nghiệm lớn của các nhà văn hồi đầu thế kỷ là thử viết văn
xuôi theo lối mới. Năm 1915, ông xuất hiện trên Đông Dương tạp chí với mục Một
lối văn nôm. Trước sau 1920, ông cho in mấy cuốn sách mỏng như Giấc mộng con,
Thề non nước cuốn nào cũng đề là tiểu thuyết. Đáng chú ý, là năm 1922, ông có một
cuốn mang tên Tản Đà Tùng Văn. Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, tùng ở
đây có nghĩa là rỗng, xốp; không chắc, không chặt chẽ, và tùng văn không gì
khác, là một thứ văn xuôi ở dạng ấu trĩ.
Đấy có lẽ là một lời thú nhận chân thành về những bước tập
tành mà người trong cuộc chưa hẳn đã bằng lòng, nhưng hậu thế càng về sau, càng
thấy kính phục.
Cũng đồng thời với các tác phẩm trên đây của Tản Đà, trên thị
trường sách báo thấy xuất hiện nhiều áng văn xuôi khác. Hoặc đó là các thứ du
ký như Mạn hạn du ký, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ… Hoặc là các bài văn
xuôi tả tình như Giọt lệ thu, Linh phương ký… Và đáng kể hơn cả, là các đoản
thiên của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn. Cộng với những ảnh hưởng từ dịch thuật
những bước tập tành này là cần thiết và sẽ dẫn đến, từ sau Tố Tâm, sự bùng nổ của
tiểu thuyết những năm 30, bao gồm các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (Nửa chừng
xuân, Đoạn tuyệt, Tiêu sơn tráng sĩ, Gánh hàng hoa, Bướm trắng), tới tiểu thuyết
của các tác giả độc lập khác: Lầm than, Gíông tố, Số đỏ, Bước đường cùng, Sống
nhờ, Những ngày thơ ấu v.v…
Cũng không phải công việc tập tành và tiếp nhận ảnh hưởng như
thế này chỉ làm một lần là xong, mà nó sẽ kéo dài khá lâu. Nhất là mỗi khi thể
tài cần có những bước chuyển, nó lại bắt tay thể nghiệm qua những thể tài kế cận,
cũng như lại ngó ra tiểu thuyết nước ngoài để dựa hơi, lấy sức, tìm gợi ý! Ví dụ
rõ nhất là thời gian kháng chiến chống Pháp và những năm tiếp theo. Trước khi
những tiểu thuyết tương đối chín, tương đối thuần thục như Vợ chồng A Phủ, Trước
giờ nổ súng, Đi bước nữa… ra đời, nền văn xuôi cách mạng lại có dịp thử sức qua
các thể bút ký, ký sự, ghi chép. Mặc dù ngày nay, may lắm, chỉ còn một ít cuốn
của các tác giả tiêu biểu là đôi khi còn được nhắc nhở tới (như Ngược sông Thao
của Tô Hoài, Chuyện biên gíới của Nam Cao, Vĩnh Yên tường thuật của Nguyễn Đình
Thi), song trong thực tế, số lượng các cuốn sách thể ký, mẩy năm kháng chiến in
ra khá nhiều. Về mặt tiếp nhận, do yêu cầu hình thành một thứ thi pháp riêng
cho tiểu thuyết sau cách mạng, các tiểu thuyết Xô-viết và Trung Hoa sẽ được ưu
tiên trong dịch thuật, tuy về sau, tiểu thuyết Âu Mỹ hiện đại, và tiểu thuyết Mỹ
Latinh cũng đã có mặt. Nên nhớ rằng một trong những đặc điểm cốt tử của tiểu
thuyết là ở chỗ không bao giờ chịu đứng yên trong những hình thức có sẵn mà
luôn luôn ở trong tình trạng dang dở đang hình thành. Bởi vậy có thể xem những
bước tập tành và tiếp nhận ảnh hưởng thường xảy ra trong tiểu thuyết Việt Nam
thế kỷ XX cũng là một hiện tượng quy luật. Một khi nó chỉ còn loay hoay theo những
lối mòn, tức nó đang trong giai đoạn bế tắc!
Vị trí vững vàng
Từ thời tiểu thuyết mới xuất hiện, ở phương Đông cũng như ở
phương Tây, thể tài này đều có thời gian bị coi thường và chỉ mãi về sau mới khẳng
định được vai trò bình đẳng với mọi thể tài khác. Riêng ở nước Việt Nam đầu thế
kỉ tình hình có khá hơn một chút. Trong buổi đầu, tiểu thuyết không khỏi có lúc
bị người đương thời chế giễu (ngay trong tác phẩm của những cây bút chuyên nghiệp
như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, người ta vẫn có thể bắt gặp những đoạn tự
giễu hóm hỉnh). Thế nhưng bởi lẽ trước mắt các nhà văn và bạn đọc có mấy thế kỷ
tiểu thuyết Pháp, nên chi thái độ chính thức của xã hội đối với tiểu thuyết là
âm thầm ngưỡng mộ. Trong Tố Tâm, một trong những tiêu chuẩn người ta đánh giá một
cô gái sang trọng hồi ấy là ở sức đọc, và chỉ những cô “có văn chương, có tư tưởng,
đã xem được vài chục bộ tiểu thuyết Pháp”, mới được coi là nhân vật lý tưởng.
Còn đứng ở góc độ giới viết văn có thể nói chỉ các tiểu thuyết gia mới xứng
danh văn sĩ.
Ao ước viết được những cuốn tiểu thuyết để đời luôn luôn là nỗi
ám ảnh trong tâm trí mọi người cầm bút. Bởi vậy, ngay từ thời tiền chiến, cả những
nhà thơ như Nguyễn Bính, những cây bút chuyên vẽ truyện ngắn như Thạch Lam hoặc
chuyên về tùy bút như Nguyễn Tuân cũng có lúc xoay ra viết tiểu thuyết, và về
sau này, trong khói lửa của cuộc chiến tranh các nhà văn vẫn nghĩ về tiểu thuyết
như cái đích phải tới. Trần Đăng say mê với những dự định những phác thảo có
quy mô lớn. Nam Cao và Vũ Bằng vừa gặp nhau đã tính chuyện “viết một cái gì cho
ra hồn”, cỡ như Số đỏ của Vũ Trọng Phụng. ở chiến trường miền Nam những năm chống
Mỹ, Nguyễn Thi âm thầm làm việc và đã ngã xuống khi đang chuẩn bị cuốn tiểu
thuyết lớn của đời mình. Còn biết bao nhiêu nhà văn khác chưa một lần nói ra,
nhưng tất cả tâm trí lúc nào cũng hưởng tới một niềm hy vọng tương tự.
Một hướng phát triển nhất quán
Vượt lên trên những sáng tác cụ thể, thế kỷ XX còn có dịp chứng
kiến một kiểu tư duy tiểu thuyết của người Việt. Đây là cả một vấn đề
lớn, bước đầu chúng tôi chỉ xin phác ra mấy nét sơ lược:
Nếu ở nước nào kia, nói tới tiểu thuyết là nói tới những bộ
sách lớn mười tập, mười lăm tập, với hàng chục thậm chí hàng trăm nhân vật bề bộn
phức tạp, thì ở Việt Nam, nó thường trình diện với một khối lượng khá khiêm tốn.
Mặc dù ở đây, tiểu thuyết cũng được triển khai thành đủ “mặt hàng” khác nhau
(tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết
trinh thám, tiểu thuyết sử thi… và đôi khi cả… tiểu thuyết viễn tưởng) song, ở
thể nào cũng vậy, đại khái một cuốn tiểu thuyết thường chỉ có nghĩa một cuốn
sách vài ba trăm trang, với số lượng nhân vật chính khoảng dăm bảy người gì đó.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan khái quát một cách nôm na “Tiểu thuyết
của ta, nét nó thanh”. Nhà văn Tô Hoài cũng nói rằng truyện dài ở ta (tức tiểu
thuyết) thường là gọn, trong sáng, nhanh.
Tuy nhiên, có lẽ đặc điểm rõ nhất để nhận ra một cuốn tiểu
thuyết ở Việt Nam chính ở sự gắn bó của nó với đời sống hiện thực.
Tính phi quy phạm vốn thuộc về bản chất của tiểu thuyết.
Trong phương thức diễn tả, thể tài này cũng tự dành cho mình một khoảng không rộng
rãi. ở cả phương Đông lẫn phương Tây, người ta có thể nhận ra cùng lúc cả hai
phương thức, một là muốn tiểu thuyết giống y như cuộc đời, và bên kia là lối viết
hư cấu, bịa đặt (theo nghĩa rộng), đúng hơn là miêu tả cái hư ảo, cái dị thường
và xem đó là cách tốt nhất để tìm ra tinh thần của cái đời sống cần nhận thức.
Duy có điều, là từ thế kỷ XIX, ở cả mấy nền tiểu thuyết có
nhiều ảnh hưởng ở Việt Nam (Pháp, Nga…) xu thế chiếm ưu thế vẫn là xu thế gần với
sự thực đời sống. Mặt khác, bản thân con người Việt Nam vốn thiết thực, không
thích để đầu óc phiêu diêu xa xôi mà muốn thông qua sáng tác văn chương nghĩ
ngay về những gì xảy ra trước mắt. Rút cục, không hẹn mà nên, những nhà văn nhà
lý luận hết sức khác nhau trong xu hưởng và thời điểm xuất hiện, song đều cùng
gặp nhau ở một cách hiểu thống nhất về tiểu thuyết. Phạm Quỳnh sớm khuyên các
cây bút đương thời đi vào tiểu thuyết tả chân. Từ Thiếu Sơn, Hải Triều, qua Thạch
Lam, Vũ Trọng Phụng… người nào cũng nhấn mạnh sự gần gũi giữa tiểu thuyết với đời
thường. Từ sau 1945, xu hướng gắn với đời thực đã trở nên phương hướng duy nhất
cho sự phát triển của tiểu thuyết. Chỉ có khác đi đôi chút: nếu hôm qua, hiện
thực có nghĩa đi vào miêu tả những cảnh đời cay đắng của các tầng lớp cần lao,
thì hôm nay, hiện thực có nghĩa là khắc họa cho được những phấn đấu gian khổ của
họ cho sự nghiệp lớn. Đó là nét chung nhất của các tiểu thuyết cách mạng được
ghi nhận trong các sách giáo khoa về văn học: Vỡ bờ và Sóng Gầm, Hòn đất
và Dấu chân người lính, Cù lao Tràm và Gặp gỡ cuối năm, Bến không chồng
và Mảnh đất lắm người nhiều ma v.v…
Ra đời năm 1895, ở SàiGòn, Đại Nam quốc âm tự vi của Huỳnh Tịnh
Của đã có mục từ tiểu thuyết, trong đó thích nghĩa như sau:
Tiểu thuyết = chuyện nói chơi, sách nói về chuyện ngoài, chuyện
đặt để
Trong cách xác định này, đã có ngầm ý bảo rằng đây là loại
phát ngôn không được xem là nghiêm túc, tính xác thực không được bảo đảm. Nó có
vẻ gần với các loại ngoại sử thấy trong văn học Trung Quốc (kiểu Nho lâm ngoại
sử) và có thể do người ta bịa ra (bây giờ gọi là hư cấu).
Một cách quan niệm như thế, có cái hạt nhân chính xác của nó.
Tuy nhiên trong thực tế lúc ấy hai chữ tiểu thuyết vẫn chưa
được dùng nhiều. Một số cuốn sách lẽ ra phải gọi là tiểu thuyết, khi ra mắt bạn
đọc, vẫn được đặt tên theo quan niệm thể loại cũ, ví như Việt trung tiểu lục,
Phan yên ngoại sử, Oán Hồng quần Phùng Kim Huê ngoại sử, Kim thời di sử (theo
cách gọi ảnh hưởng của Trung Quốc, trong mỗi tên gọi nói trên, hai chữ cuối
cùng đóng vai trò xác định thể loại: tiểu lục, ngoại sử, dị sử).
Còn ở Hà Nội khoảng những năm trước sau 1920, thuật ngữ tiểu
thuyết bắt đầu được đùng để gọi một số tác phẩm mang tính tự sự, nhưng cũng
chưa có quy tắc nào cho chặt chẽ. Tình trạng thường gặp là xác định thể loại
theo lối cổ. Ví như Chiêu Quân truyện, Nữ Quân tử diễn nghĩa, chỉ có điều sau
đó mở ngoặc đơn chú thêm bằng tiếng pháp: roman.
Sự phân biệt truyện ngắn và tiểu thuyết lúc ấy còn chưa rõ
ràng, nhiều cuốn sách mỏng mảnh hai, ba chục trang, khổ 13 x 19 cũng có thể gọi
là tiểu thuyết.
Mặt khác, bên cạnh chữ tiểu thuyết lại thường có thêm nhiều
hình dung từ ngụ ý cho biết rõ đây là loại tiểu thuyết gì, ví dụ Ai là thủ phạm?
của Minh Tâm in 1927 ghi rõ “trinh thám tiểu thuyết”, Bức tranh vân cẩu của
Nguyễn Mạnh Bổng cũng in 1927 có chua thêm “cảnh thế ngôn tình tiểu thuyết”, hoặc
Cô hàng mứt của Lê Kim Các in 1929 lại tự nhận là “thời sự tiểu thuyết”.
Mãi sau 1932, người ta mới bảo nhau bỏ đi những chi tiết phụ
trợ đó, để gọi cuốn sách của mình đơn giản là tiểu thuyết.
Cho đến trước 1945, các tiểu thuyết được viết phần nhiều gói
gọn lại trong phạm vị vài ba trăm trang khổ 13×19.
Từ kháng chiến chống Pháp trở đi, trước những biến thiên lớn
lao của đời sống, những nhà văn có lăn lộn nhiều với cuộc kháng chiến mới nghĩ
đèn những bộ tiểu thuyết đài dăm bẩy trăm trang, hàng ngàn trang, bao quát cả một
thời đại.
Nhà văn Nguyễn Tuân, trong bài tùy bút Cháy bản thảo (1950) từng
ghi lại một ý định của Trần Đăng:
“Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Trần Đăng quan niệm nó một
cách chính quy, và nó phải là một pho trường thiên liên tục, chia ra làm nhiều
phần gồm rất nhiều chương. Mỗi chiến dịch anh dự, anh hiểu đó chỉ là một chương
của pho truyện lớn anh định dựng. Và nhân vật dựng sẽ là những thanh niên thuần
túy của thời đại, sẽ là cả những lớp người có dĩ vãng ngược lên những giai đoạn
trước tổng khởi nghĩa và hành động còn kéo dài cả sau thời gian kháng chiến...)
Pho truyện sẽ nhung nhúc những hình ảnh cử động ồn ào ngụy binh, tù binh, hàng
binh; sẽ rầm rập tiếng chuyển chỗ phân phối hoặc tập trung của nhiều binh đoàn
nhiều binh chủng; sẽ ngồn ngộn hơi thở, tiếng nói nỗi lo tình vui của nhiều giống
người Kinh, Thổ, Nùng, Mán, Mường, Mèo, Sạ Phang, Phàn Sinh, Ngái, Trại, Thanh
Y v.v… ; sẽ cuồn cuộn các dòng nước sông Thao, sông Cầu, sông Thương, sông Lục
Nam, sông Kỳ Cùng; và sẽ ầm ầm vang dậy đủ các thứ súng cũ, võ khí mới,
đủ các thứ đạn nội hóa,ngoại hóa, nó bàng bạc đủ các loại cuồng loạn khóc oán
buồn nản của quân đội đế quốc và cũng đủ các kiểu hồn nhiên chiêu đăm các mẫu
tin tưởng và tếu nhộn của chiến sĩ Việt Nam”..
Những ý định này, một phần hình thành, là do những gợi ý trực
tiếp của tiểu thuyết Nga cuối thế kỷ XIX, như Chiến tranh và hòa bình của
L.Tolstôi, hoặc tiểu thuyết thời Xô-viết như Con đường đau khổ của A.Tolstoi,
Paris sụp đổ của I.Ehrenburg mà bản tiếng Pháp được các nhà văn truyền tay nhau
đọc ngay trong kháng chiến. Một danh từ lúc này cũng bắt đầu được thịnh hành
trong giới nghiên cứu và sáng tác: tiểu thuyết sử thi.
Trần Đăng qua đời sớm, nhưng ý định của Trần Đăng được nhiều
nhà văn đồng tình và khoảng 1960, họ đã cho ra những bộ tiểu thuyết nhiều tập.
Nguyễn Huy Tưởng có Sống mãi với thủ đô, Nguyễn Đình Thi có Vỡ
bờ, Nguyên Hồng có Cửa biển v.v… Lui về sau một chút nữa thấy bổ sung thêm Vùng
trời của Hữu Mai, Những tầm cao của Hồ Phương hoặc gần đây, các tiểu thuyết
Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, Bay qua cõi chết và Thăng Long ký của
Nguyễn Khắc Phục.
Trong bản thân độ dài cuốn sách đã có ẩn chứa một phần quan
niệm của các nhà văn về tiểu thuyết. Song nhìn chung đây là cả một câu chuyện
dài, chúng tôi sẽ trở lại vào dịp khác.
Vào khoảng 1926, ở Hà Nội có in ra một cuốn sách nhỏ mang tên
Đời Hoàng Oanh. Cuốn sách kể chuyện một cô gái quá say mê bàn dịch Tuyết Hồng Lệ
sử của Tử Trẩm á năm đó đang phổ biến ở Hà Nội, đến nỗi lấy cuộc đời nhân vật
trong truyện mà vận vào mình, rồi cũng sinh ra phong thương sầu bi mà chết
trong nước mắt. Không phải ngẫu nhiên, Đời Hoàng Oanh có thêm một phụ đề: Một
cái hại của tiểu thuyết.
Đây chỉ là một trong nhiều bằng chứng cho thấy sự nghi ngại của
con người đầu thế kỷ đối với cái thể tài “dở Tây dở Tàu” này. Sự nghi ngại ấy
lây sang cả những người viết văn. Nỗi lòng ai tỏ là tên gọi một truyện ngắn của
Nguyễn Công Hoan trong đó nhân vật chính là mấy cô gái nhà giàu rửng mỡ, đọc
nhiều tiểu thuyết quá, rồi rủ nhau khóc lóc nỉ non trên cái mớ truyện bịa đặt
đó. Ngô Tất Tố từng viết một bài tiểu phẩm kết tội những Đời mưa gió, Đoạn tuyệt,
Lạnh lùng… cho là có liên quan đến các vụ thiếu nữ Hà Thành bỏ nhà ra đi hoặc
lên Hồ Tây tự tử. Các nhà nghiên cứu mới đây còn phát hiện rằng năm 1942, khi dịch
Hoàng Lê nhất thống chí, Ngô Tất Tố đã cố ý bỏ cách phân chia chương hồi và những
câu thơ đặt ở đầu các hồi trong nguyên bản, để người đọc khỏi nghĩ rằng trước mặt
họ là một cuốn tiểu thuyết. Trong Vỡ đê có đoạn tả nhân vật Phú bị bắt giam, được
Kim Dung con gái quan huyện mở khoá cho trốn. Theo Vũ Trọng Phụng, cái cảm quan
chi phối Kim Dung lúc làm công việc tày đình ấy là cảm quan của một người đã đọc
nhiều tiểu thuyết “Lúc ấy tâm hồn Dung say sưa trong cái thi vị của sự dự định,
nó có vẻ tiểu thuyết lắm”. “Một sức mạnh huyền bí của tiểu thuyết làm cho Dung
bạo dạn rón rén đến gần cái ghế của người lính cơ”. Tiểu thuyết lúc bấy giờ thường
được hiểu như là những gì tùy tiện bịa đặt, nghe thì thú mà không thể tin được!
Ấy vậy nhưng trong thực tế, số người đọc tiểu thuyết vẫn ngày
một nhiều. Tế Hanh khép lại bài thơ Dễ thương tả một ngõ nhỏ thanh bình bằng bốn
câu gợi cảm.
Người khách vu vơ ngóng đợi thầm
Dịu dàng thấp thoáng bóng giai nhân
Thói nhà khép nép trong cây lá
Thổn thức thầm xem truyện Tố Tâm
Trong Phê bình và cảo luận in ra lần đầu 1934 nhà văn Thiếu
Sơn từng kể là hễ thấy ông ngồi viết ở nhà, khách quen lại chơi thường bảo:
“Chà! Anh này cũng viết tiểu thuyết nữa”.
Tiểu thuyết đã được đồng nhất với văn học!
Vốn là một “cây tùy bút” xuất sắc viết gì cũng ra tùy bút,
nhưng Nguyễn Tuân không ngần ngại gọi hay cho phép người ta gọi, nhiều thiên
văn xuôi của mình như Đôi tri kỷ gượng, Nhà bác Nguyễn (in trong các tập Mùa gặt
mới I, II 1940 - 1941) là tiểu thuyết và trong hội nghị tranh luận ở Việt Bắc
1949, ông tha thiết khuyên mọi người đừng viết tùy bút nữa, bởi tùy bút dễ chủ
quan lắm, hãy viết tiểu thuyết là hơn.
Xung đột (tập 1) của Nguyễn Khải in báo 1957 chỉ được gọi là
ghi chép, rồi có lúc gọi là truyện, sau mới chính thức được xác định là tiểu
thuyết. Còn Sông Đà của Nguyễn Tuân in ra cuối 1960 lại được Nguyên Ngọc cho là
có chất tiểu thuyết, và bằng cách ấy, khẳng định giá trị tập sách. Hai sự việc
trên xảy ra chẳng qua chỉ chứng tỏ các nhà văn đương thời dành cho tiểu thuyết
một sự trọng vọng hiếm có.
Kể ra, cũng có hồi, đâu khoảng cuối những năm 60 đầu 70, ở Hà
Nội có nổi lên mấy bài báo, cho là tiểu thuyết hư cấu không có giá trị bằng các
loại ký viết về người thực việc thực. Rồi thứ lý luận ngược đời ấy sau không thấy
ai nhắc lại nữa.
Nhưng khi được người ta tỏ ý ngưỡng mộ thì tiểu thuyết lại trở
lại cái tính đỏng đảnh sẵn có. Suốt những năm 90 vừa qua, hầu như không có cuốn
tiểu thuyết nào được thừa nhận và ngay số tiểu thuyết viết ra cũng không là
bao. Các nhà văn còn mải đi viết truyện ngắn và làm những việc khác. Những lời
bàn về tiểu thuyết cũng chỉ thấp thoáng xuất hiện rồi lẫn đi trên mặt báo. Hiện
tượng này đến nay ai cũng thấy, nhưng chưa ai có được cách giải thích thỏa
đáng.
IX. SỰ HIỆN DIỆN CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC
Hai chữ bình văn vốn không xa lạ với những ai thường hay tìm
hiểu văn chương Việt Nam từ thế kỷ XIX trở về trước. Đọc lại những thiên tiểu
thuyết đi vào miêu tả sinh hoạt truyền thống như Lều Chõng, Nhà Nho, Bút nghiên
v.v… người ta được biết rằng khi mà cái nôi của sự sáng tác văn chương còn đang
là các trường học, thì một trong những công việc được thày trò ngày xưa tiến
hành hàng ngày là bình văn. Trò làm bài xong, mang đến trường, đọc to lên để
các cử tọa cùng nghe còn thày và đôi khi là các các bạn thày, thì ngồi thưởng
thức, đến chỗ nào đắc ý, họ sẽ xuýt xoa khen hay, và dành cho bài văn những cái
khuyên đỏ tươi. Có thể coi đây là một hình thức phê bình ở dạng sơ đẳng: sau
khi hoàn thành, các văn bản được mang ra soi sáng và đánh giá một cách tương đối
khách quan. Bởi lẽ sáng tác là một hoạt động liên tục, như trong trường hợp
này, việc bình văn giống như một sự dừng lại để soát xét lại mình, góp phần điều
chỉnh và giúp cho sự sáng tạo ngày một hoàn thiện.
Dẫu vậy, lại cũng phải sòng phẳng mà nói là nhìn chung, ngành
phê bình trong văn chương Việt Nam thời trung đại còn ít có đất để phát triển.
Trong khi ở Trung Quốc người xưa để lại nhiều bộ thi thoại, từ thoại có giá trị
(chẳng hạn Tùy Viên thi thoại), lại có những công trình lý luận độc lập như Văn
Tâm Điêu Long, và cho đến nay, những lời bình luận của Mao Tôn Cương, Thánh
Thán về những bộ sách kinh điển như Thơ Đường, Mái Tây, Thủy Hử, Tam Quốc… còn
làm mê mẫn người đọc, thì ở Việt Nam, quang cảnh hoang vắng hơn nhiều. Những
bài phẩm bình có giá trị không được ghi chép. Một dạng quan trọng hơn, là sách
lý luận văn học, không thấy xuất hiện. Nói chung, không có những công trình dài
hơi, kết quả của một quá trình lao động liên tục. Một ít bài tựa, bài bạt, viết
ở đầu hoặc sau các tập thơ, có nói lên một ít quan niệm nào đó, nhưng những
quan niệm này không được đẩy đến cùng, và gia tài phê bình văn học (bao gồm cả
lý luận, nghiên cứu) còn khá mỏng mảnh, chắc chắn là mỏng hơn nhiều so với sáng
tác. Ở điểm này, phê bình văn học mới nảy sinh trong thế kỷ XX có nét gì đó gần
giống như tình hình bên tiểu thuyết, tức là chỉ từ thế kỷ XX mới bắt
đầu hình thành, bám vào báo chí mà hoạt động; trong phương thức hoạt động
thì dịch có, tự viết ra có, cốt sao cho cái ngành sáng tạo còn đang
mới mẻ này trở hoạt động bình thường và mỗi khi nói tới văn chương, người ta phải
nghĩ tới nó. Chứ chưa thể nói là có được vai trò như thơ vẫn có trong lịch sử
văn học dân tộc.
Khai phá, mở đường
Khi một nền văn chương có sự thay đổi trong mẫu hình và bắt đầu
hoạt động theo những quy trình mới, lẽ tự nhiên nó phải vừa vận hành, vừa suy
nghĩ, luôn luôn phải tính toán về công việc, tìm hiểu thêm về con đường sẽ đi,
những việc đáng làm và không đáng làm. Nhu cầu phê bình văn học lúc này đồng
nghĩa với nhu cầu của sự định hướng và đấy là tình hình đã thấy trong văn học
Việt Nam đầu thế kỷ. Có dịp trở lại với những trang văn chương của các tờ báo
phổ biến trong những năm từ 1930 trở về trước, như Đông Dương tạp chí, Nam
Phong, Phụ nữ Tân Văn, An Nam tạp chí v.v… người ta dễ nhận ra rằng: Ngoại trừ
một số thành tựu như thơ Tản Đà, các thể nghiệm văn xuôi của Phạm Duy Tốn và
Nguyễn Bá Học… thì nhìn chung, các sáng tác hồi ấy đơn sơ, nhiều phần cổ lỗ. Mà
bộ phận văn chương đáng chú ý hơn, ngày nay còn đáng xem lại như những tư liệu
lịch sử lại chính là những bài khảo chứng, giới thiệu, bàn bạc, nhận xét của
Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Nguyễn Đỗ Mục... Hoặc vào những
năm từ 1932 trở đi, khi sự phát triển văn học đã bước những bước vững chắc,
không khí văn đàn lại nhờ vào những cuộc tranh luận mà trở nên hào hứng kỳ lạ:
tranh luận về duy vật và duy tâm; tranh luận về quốc học… Riêng cuộc tranh luận
về thơ mới là một diễn đàn lôi cuốn nhiều người, xứng đáng là bước khai phá hiệu
quả cho một hoạt động mới mẻ.
Từ sau 1945, đời sống văn học được tổ chức chặt chẽ và vai
trò khai phá mở đường của phê bình văn học còn được nhiều lần chứng nghiệm. Chẳng
hạn như hồi 1948-1950, cái thời điểm mà nền văn học mới đang phải nhận đường
(chữ của Nguyễn Đình Thi), trong khi kinh nghiệm từng trải chưa có gì. Chưa bao
giờ như mấy năm này, những người làm văn học luôn luôn bàn bạc, vừa làm vừa
bàn, và nhiều phen đã bàn trước khi làm. Có khi đó là những cuộc tranh luận giữa
một vài cây bút quan trọng (cuộc trao đổi về tranh tuyên truyền và hội họa giữa
Đặng Thai Mai và Tô Ngọc Vân). Có khi đó là những diễn đàn nhiều người tham gia
(Hội nghị tranh luận Việt Bắc 9-1949). Lại có khi, đó là những suy nghĩ mang
tính cách thể nghiệm cá nhân nhưng được nhiều đồng nghiệp chờ đợi các bài viết
về hiện thực mới, về quần chúng phê bình nghệ thuật… của Nguyễn Đình Thi). Thật
là cảm động khi biết rằng, ngay trong điều kiện khu căn cứ địa Việt Bắc bị
phong tỏa, những phương tiện in ấn hết sức thô sơ, cả giới văn nghệ hoạt động
khó khăn, vậy mà giấy mực vẫn được để dành cho việc dịch in các tài liệu phê
bình lý luận nước ngoài, từ các bài viết mang tính chất khái quát của Lénin,
Stalin, Jdanov, Mao Trạch Đông, đến kinh nghiệm sáng tác cụ thể của Ehrenburg,
Simonov, Triệu Thụ Lý, Ngụy Nguy v.v… Theo cái nền nếp được hình thành hồi ở Việt
Bắc, trong các thập kỷ về sau, nhiều cuộc tranh luận được tiếp tục, nhiều cuộc
đấu tranh tư tưởng đã nổ ra, và vai trò của phê bình như một yếu tố góp phần tổ
chức quá trình văn học, vai trò ấy luôn luôn được khẳng định.
Một tấm gương di động
Khi mới vào nghề, trong một lá thư gửi Phan Khôi, nhà phê
bình Thiếu Sơn (1908-1978) có đoạn viết: “Trong văn giới nước nhà, còn một thể
văn ít người chịu lưu ý đến tức là thể văn phê bình: Phê bình nhân vật để khảo
sát lấy cái bản ngã của những người mà quốc dân thường nghe tiếng, đọc văn hoặc
thưởng thức đến những công việc họ làm trong xã hội, Phê bình sách vở để định
giá trị cho những công trình văn nghiệp đã sản xuất ở trong nước”. (trích Phê
bình và cảo luận).
Đây chính là một cách hiểu thông thường về thể tài phê bình
và đã kéo dài trong suốt thế kỷ.
Đồng thời với việc làm phê bình theo nghĩa rộng, bàn bạc định
hướng cho sự phát triển chung của văn học như trên vừa nói công việc phê bình
theo nghĩa hẹp này lôi cuốn nhiều người hơn, bám sát mọi sinh hoạt của văn học
nên có tính chất thường nhật hơn. Trong khi văn học muốn trở nên một tấm gương
phản ánh đời sống xã hội thì bộ phận phê bình muốn trở nên một tấm gương của
chính văn học. Dựa vào báo chí lấy báo chí làm “sàn diễn”, phê bình đã liên tục
làm công việc “vào sổ”, cũng là sơ bộ nhận xét đánh giá các sự kiện diễn ra
hàng tháng, hàng năm. Và ai người để tâm theo đuổi các công việc kể ra cũng
quan trọng, mà trong thực tế lại khá bạc bẽo ấy, người đó có thể được nhận cái
danh hiệu mà trong văn học Việt Nam thế kỷ XIX trở về trước chưa từng có: các
nhà phê bình văn học. ấy là trường hợp của những Thiếu Sơn, Hải Triều, Vũ Ngọc
Phan, Hoài Thanh, Trương Tửu, Lê Thanh, Trương Chính trước 1945 hoặc của Phan Cự
Đệ, Hà Minh Đức, Vũ Đức Phúc, Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh v.v... sau 1945.
Theo cái mạch vốn có của truyền thống
Tìm hiểu đời sống văn học một nước như nước Pháp, người ta được
biết rằng trong thế kỷ XX, phê bình văn học ở đây đã được nâng lên đến mức một
ngành sáng tạo độc lập. Trong khi giải mã bí mật của những hiện tượng lớn trong
văn học không chỉ tác phẩm vừa in ráo mực, mà chủ yếu là tác phẩm trong quá khứ
phê bình có thể sánh ngang với văn chương trong việc khám phá đời sống tinh thần
của con người. Quan sát sự trưởng thành của phê bình văn học Pháp mấy chục năm
gần đây nhiều người đã gặp nhau trong nhận định: thế kỷ XX ở Pháp là thế kỷ của
phê bình văn học.
Riêng ở Việt Nam trong suốt thế kỷ qua, một tập quán khác chi
phối chúng ta, ấy là đặt phê bình trong sự ràng buộc với đời sống văn học trước
mắt (còn việc nghiên cứu văn học quá khứ trả về cho bên khoa học xã hội).
Khi bị ràng buộc như vậy, tính độc lập của nó là một cái gì rất
mong manh (nôm na mà nói, người ta thường bảo phê bình là một thứ ăn theo, sống
bám vào sáng tác, có cũng được mà không có cũng chẳng sao).
Mặt khác, do chỗ chỉ xoay quanh cái sàn diễn thông thường là
báo chí, nên sự tồn tại của phê bình thường gợi cảm giác nóng lạnh thất thường,
và lụn vụn, rời rạc.
Bấy nhiêu lý do cộng lại, khiến cho khi tổng kết đời sống văn
học, loại trừ một hai trường hợp đột xuất như Thi nhân Việt Nam 1932- 1941 của
Hoài Thanh hoặc Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, người ta hơi khó kể ra những
tác phẩm phê bình có giá trị của một công trình trọn vẹn, và nhiều nhà phê bình
đã tồn tại như một cái tên, hơn là tác giả của một hai cuốn sách cụ thể. Một
tình hình như vậy xem ra là phù hợp với trình độ của văn học Việt Nam hôm nay,
nên không thể bỗng chốc thay đổi. Mặc dù ra đời đã gần một thế kỷ, nhưng nghề
phê bình văn học, so với nghề sáng tác làm thơ, viết văn vẫn có nhiều
tính cách nghiệp dư hơn, nhiều người chỉ nhân tiện do viết văn viết báo hoặc do
dạy học mà xoay ra viết phê bình. ở đây duy nhất có một điều có thể tự an ủi:
hóa ra truyền thống bình văn hôm qua vẫn đang tồn tại. Chỉ có chỗ khác là hôm
qua theo cảm tính mà bình miệng với nhau, còn hôm nay là bình có bài bản, có
phương pháp và lời bình được ghi lại trên mặt giấy, để đến với công chúng rộng
rãi.
Khoảng ba chục năm đầu thế kỷ, sáng tác còn đang non yếu nên
phê bìnhvăn học gần như chưa có. Những ngòi bút lúc ấy xuất hiện đều đều trên
báo chí, như Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Tố, Phạm Quỳnh, Phan Khôi (cũng như Dương
Quảng Hàm, Đào Duy Anh, Nguyễn Đổng Chi… viết ở giai đoạn 1930 về sau) thực chất
là những nhà biên khảo hoặc nhà chính luận. Đề tài của họ mở rộng sang cả văn
hóa, dân tộc học, lịch sử (từ thông sử cho tới lịch sử tư tưởng, lịch sử văn học)
Từ 1932 trở đi, báo chí văn học trở nên phong phú, đồng thời
các sáng tác thơ, tiểu thuyết in ra cũng được nhiều hơn, nên lẽ tự
nhiên là phê bình văn học theo nghĩa hẹp, tức phê bình bám sát sinh hoạt văn học
đương thời, mới được triển khai rộng rãi.
Nhưng ban đầu, phê bình văn học cũng chỉ hiện ra dưới dạng những
bài báo nhỏ, do các nhà văn nhà thơ tự viết với nhau, như Lưu Trọng Lư nhận xét
về Thơ Thơ, Khái Hưng giới thiệu Thạch Lam, hoặc Vũ Trọng Phụng viết về Tắt Đèn
của Ngô Tất Tố.
Kể cho chi li, có lẽ chỉ có mấy người sau đây là chuyên viết
phê bình văn học, hoặc có thể viết thêm các thể khác, nhưng nổi hơn cả trên
lĩnh vực phê bình. Đó là Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Trần Thanh Mại, Trương Tửu, Vũ
Ngọc Phan, Trương Chính… Còn Hải Triều và Đặng Thai Mai thì lại nổi lên với tư
cách nhà lý luận.
Từ sau 1945, tình tình diễn biến như sau:
- Thứ nhất, các nhà sáng tác lại tiếp tục “bao sân”. ở Việt Bắc
và sau đó về Hà Nội, Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên,
Hoàng Trung Thông v.v… đã viết đều đều, và trong sự nghiệp của mỗi người đều có
kèm theo một vài tập phê bình tiểu luận.
Thứ hai, bên cạnh đó, dần dần thấy xuất hiện một đội ngũ người
viết phê bình thường xuyên hơn, bao gồm những tên tuổi như Hồng Chương, Nam Mộc,
Hà Xuân Trường, Vũ Đức Phúc, Như Phong, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức v.v… Với tư
cách các cán bộ nghiên cứu hoặc các thày giáo giảng dạy ở bậc đại học, họ mang
lại cho phê bình cái chất lý luận chặt chẽ và cả cái vẻ bề thế của những công
trình dài hơi.
(Nên chú ý là ở Sài Gòn trước 1975, cũng có tình trạng tương
tự, một bên là những bài viết linh hoạt của các nhà văn như Vũ Hạnh, Võ Phiến,
Mai Thảo v.v… bên kia là những chuyên luận dày dặn của Nguyễn Văn Trung, Thanh
Lãng, Phạm Thế Ngũ…).
So với các thể tài cùng xuất hiện ở thế kỷ XX như kịch nói,
tiểu thuyết, thì dẫu sao, hoạt động phê bình cũng mỏng và yếu hơn. Thường phê
bình mới được đọc nhiều ở những bài bàn ngay vào các hiện tượng tức thì, chứ
chưa có những tổng kết có sức thuyết phục. Các cuốn sách có tính chất lý luận
phần nhiều là biên soạn lại từ tài liệu nước ngoài, có biến báo một chút và
liên hệ với tình hình Việt Nam, vậy mà cũng còn quá ít.
Sau nữa, việc tổng kết hoạt động phê bình cũng chỉ được làm một
cách dè dặt. Mãi tới 1993, trong khuôn khổ bộ sách Tuyển tập văn học Việt Nam
sau Cách mạng tháng Tám, một cuốn dành riêng cho phê bình mới được biên soạn với
số lượng tác giả 48 người. Còn như nhìn chung về lý luận phê bình từ đầu thế kỷ
cho tới 1945, số tác giả có bài trong Tổng tập văn học Việt Nam các tập 24a,
24b là 43, và trong Tuyển tập phê bình nghiên cứu của nhóm Nguyễn Ngọc Thiện là
90.
Gọi là thay đổi, tức phải tự mình trở nên khác mình, một việc
không hẳn bao giờ cũng dễ chịu. Bởi vậy, tâm lý thông thường là e ngại và người
ta rất cần nhìn trước nhìn sau để thêm tự tin. Thế là tự nhiên có những cuộc đấu
đầu bàn bạc, trao đổi và đưa lên mặt báo làm thành những cuộc tranh luận. Đây lại
cũng là nét mới thấy rõ ở thế kỷ XX so với các thế kỷ trước. Những năm ba mươi,
một cuộc tranh luận chung quanh thơ mới, thơ cũ đã diễn ra, kết quả là Thơ mới
nhanh chóng xác lập được vị trí vững vàng. Còn hội nghị tranh luận ở Việt Bắc
1949 lại dẫn tới sự thay đổi trong cách nhìn cách viết của các nhà văn đương thời,
qua đó, văn học có sự đáp ứng tốt hơn yêu cầu của hoàn cảnh. Mỗi lần tranh luận
như vậy là một dịp để người ta nói hết với nhau về mọi chuyện, người nghĩ thế
này, người nghĩ thế khác, có người câu nệ rụt rè, có người đi quá xa giới hạn
cho phép. Tất cả những phản ứng có phần cực đoan đó, khi được trình bày công
khai thì là đáng quý và cần thiết để chung quanh rút kinh nghiệm. Trong khoa học
cũng vậy, mà trong văn chương cũng vậy, nhiều khi thất bại của người này lại là
nhân tố tích cực chuẩn bị cho thành công của người khác.
X. NHỮNG BIẾN ĐỔI ĐÃ ĐẾN VỚI CÁC CHỦ THỂ SÁNG TẠO
Cho dù sức viết có hùng hậu đến đâu, thì ở xứ ta, trong thời phong
kiến (từ thế kỷ XIX trở về trước) cũng chưa ai dám coi nghề cầm bút là một nghề kiếm
sống. Thời ấy người ta chỉ nhân thể làm ruộng hay buôn bán, đặt ra mấy câu ca
dao, mấy mẩu chuyện tiếu lâm đọc cho vui, hoặc nhân làm quan dạy học có dịp rỗi
rãi muốn gửi vào bài thơ một ít tâm sự (đôi khi là sáng tác ra cả một truyện
nôm viết bằng thể lục bát). “Một sự tự phát khổng lồ” – đấy là cách nói mà một
số nhà nghiên cứu văn hóa dùng để nói về sự sáng tác văn chương trong thời
trung đại.
Bước sang thế kỷ XX, với việc một trường văn hóa thống nhất
trong cả nước được hình thành, đời sống tinh thần được nảy nở, cách làm văn
chương như ngày xưa không có lý do để tồn tại. Hệ thống báo chí xuất bản mở rộng,
nó cần có thêm người thường xuyên làm việc để thỏa mãn nhu cầu của các tầng lớp
bạn đọc. Thay cho lối viết tự cấp tự túc được đến đâu hay đến đấy, nay người ta
cần đến những người thợ lành nghề, cung cấp bài vở đều đặn. Một lớp người hành
nghề chuyên nghiệp (với những mức độ và cách hiểu về chuyên nghiệp khác nhau)
được hình thành, và đây sẽ là một khía cạnh khiến cho đời sống văn chương trở
nên nhộn nhịp hơn hẳn các thế kỷ trước.
Hai kiểu tồn tại
So sánh đời viết văn của Tú Xương (1870-1907) và Tản Đà
(1889-1939), có thể thấy rõ hai người đều đến với việc sáng tác văn
chương từ một nguyên cớ giản dị; đi thi mà bị trượt. Tú Xương liên tiếp “lỡ hẹn”
với cái danh hiệu cử nhân. Tản Đà thì đến cả tú tài cũng không đỗ! Nhưng sau một
nét chung trong số phận như thế, cách tồn tại của họ trong văn chương khác hẳn
nhau. Để nói về những sinh hoạt nhố nhăng trong thủa giao thời, Tú Xương chỉ có
thể sử dụng những phương tiện quen thuộc từ hồi Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn: văn tự
thì là chữ Hán chữ Nôm và thể tài là mấy lối thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, sau nữa
là thể hát nói, mới phát triển từ hồi Nguyễn Công Trứ. Còn Tản Đà, phần chủ yếu
trong sự nghiệp của ông được viết bằng chữ quốc ngữ. Vả chăng, bên cạnh những
bài thơ độc đáo, Tản Đà còn viết nhiều văn xuôi, mà những áng văn xuôi này lại
được soạn theo lối mới chẳng hạn Giấc mộng con đã có bóng dáng của một truyện
viễn tưởng. Trong khi tác phẩm của Tú Xương chỉ tồn tại theo lối truyền khẩu hoặc
qua những bản chép tay lưu hành trong đám bạn bè thì thơ văn Tản Đà được in ra
trên mặt báo trước khi được đưa vào sách. Bấy giờ đời sống mọi mặt còn rất đạm
bạc. Trên sàn diễn của văn chương đầu thế kỷ, Tản Đà hiện ra như một thứ “kép
nhất”, tức là ông cùng với một vài cây bút nữa, thực đã thao túng đời sống một
thời. Về phương diện thuần túy vật chất mà xét, dù viết nhiều đến đâu, thì với
Tú Xương, viết lách vẫn là chuyện hiếu hỷ giao đãi cho vui, sự tiêu dùng hàng
ngày của ông trông cả vào tài buôn bán của bà Tú (Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ -
Đem chuyện trăm năm trở lại bàn). Còn Tản Đà, mặc dù trải qua đủ cảnh gieo neo
vất vả, song ông lại đã có thể nói rằng mình sinh sống bằng ngòi bút, nuôi sống
bản thân và vợ con bằng thứ “thơ văn bán phố phường”. Chẳng những thế, người ta
còn có thể dự đoán rằng chính do sự thúc ép của sinh kế mà Tản Đà đã phải viết
tả viết hữu như vậy (cuối đời, bí quá ông ngả sang công việc dịch thuật). Tức
là, nói cho to tát, việc mưu sinh thực đã góp phần giải phóng cái tiềm lực sẵn
có ở ngòi bút tác giả. Và đây không phải trường hợp riêng của nhà thơ sông Đà
núi Tản, mà còn là hiện tượng xảy ra với nhiều nhà văn về sau, những Vũ Trọng
Phụng, Lan Khai, Vũ Bằng, Nam Cao, Tô Hoài v.v…
Động cơ sâu xa và những tham vọng chính đáng
Trong Đôi tri kỷ gượng, Nguyễn Tuân từng nói tới trường hợp của
hai thanh niên bỏ quê Thanh Hóa để ra Hà Nội. Họ ra đi với lòng tin cầm chắc rằng
mình hẳn phải là một kẻ có tài. Họ thề với cầu Hàm Rồng và dòng sông Mã là
không lập nên sự nghiệp thì không trở về. Mà sự nghiệp không phải là tài kinh
bang tế thế để cứu nước, cứu dân gì cả. Rất đơn giản, họ chỉ muốn trở thành những
tên tuổi nổi lên trong đời sống văn chương xứ sở.
Có thể là trường hợp Nguyễn Tuân nói ở đây có bị tô vẽ quá
lên một chút. Song quả thực nhiều người viết văn làm thơ ở đầu thế kỷ này đã đến
với nghề với những ý nghĩa tương tự, và đó là chỗ mới mẻ của họ, so với những
người cầm bút của thế kỷ trước. Cái câu tự răn mang đầy tâm huyết của người xưa
Lập thân tối hạ thi văn chương; với con người của thế kỷ XX, chỉ còn lại dư vị
của một câu nói khách khí. Giờ đây cách lập thân trong văn chương cũng được xem
là sang trọng như mọi cách lập thân khác. Với một số người nào
đó, nó lại là cách duy nhất thích hợp để tự khẳng định. Thế thì còn
ngần ngại gì mà người ta không lao tới? Có thể nhận xét một cách bao quát rằng,
từ sau Tản Đà nhiều thế hệ nhà văn thế kỷ XX, bao gồm cả trước và sau 1945, đều
đã nối tiếp vào nghề một cách tự nguyện như vậy. Nếu như những động cơ cá nhân
này lại được kết hợp với những tham vọng chính đáng, như “dùng ngòi bút để phục
vụ quần chúng”, hoặc “góp phần vào việc xây dựng một nền văn học dân tộc phong
phú đặc sắc” thì khả năng của mỗi người sẽ được nhân lên nhiều lần, và đó chính
là trường hợp của các nhà văn mới trưởng thành từ sau 1945, những Trần Hữu
Thung, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Văn Bổng, Hữu Mai, Hồ Phương, Lê Lựu, Ma Văn
Kháng, Thu Bồn, Thanh Thảo v.v… và v.v…
Cũng nên nói thêm là kể từ đầu thể kỷ XX khi sự sáng tạo đã
trở nên một hành động có ý thức và góp phần khẳng định cá nhân rõ rệt như vậy,
tự nhiên trong đời sống sáng tác có sự bùng nổ về mặt số lượng. Điều này bộc lộ
ở cả hai mặt:
1. So với số tác giả xuất hiện trong thời phong kiến, đội ngũ
những người cầm bút từ sau 1900 phải nói là “trùng trùng điệp điệp”, riêng một
thế kỷ XX số lượng đã bằng mười thế kỷ trước cộng lại.
2. Năng suất sáng tác của từng người, lại cũng hơn hẳn. Văn học
cổ điển Việt Nam chưa bao giờ được chứng kiến những cây bút viết nhiều viết khỏe,
tác phẩm tòa ngang dãy dọc đồ sộ như ở thời này (bao gồm từ Lê Văn Trương, Nguyễn
Công Hoan, qua Xuân Diệu, Tô Hoài tới Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Khắc Phục v.v và
v.v…).
Lá rụng về cội
Để ổn định chế độ thực dân sau khi chiếm được ba kỳ của nước
Việt Nam, người Pháp phải dựng nên ở đây một bộ máy hành chính theo kiểu chính
quốc. Nhu cầu giáo dục hình thành từ đấy. Sự đào tạo lúc đầu không theo kịp với
đòi hỏi, bởi vậy, đọc lại hồi ký của người đương thời, người ta không khỏi mỉm
cười khi biết rằng thời ấy chỉ có bằng tiểu học là nhiều thanh niên đã có thể
xin được một chỗ làm công ăn lương nhà nước. Còn các khu vực làm nghề tự do, tức
khu vực báo chí xuất bản thì sao? Kể ra theo truyền thống tôn trọng giá trị
tinh thần mà cha ông để lại, việc cầm bút cũng khá hấp dẫn. Có điều, lương công
chức thời ấy khá cao, thành thử, bao nhiêu tinh hoa xã hội bị bộ máy cai trị
thu hút gần hết (một tài năng lớn như Xuân Diệu cũng có lúc bỏ thơ đi làm tham
tán. Số còn lại sống chết với nghề làm văn làm báo chỉ gồm hai hạng trái ngược,
một hạng thật tâm huyết, và hạng kia, những học trò thi trượt, chỉ có ít tài lẻ
ngoài ra không nghề ngỗng gì? Nhìn lại thế hệ cầm bút đã viết từ trước 1945,
người ta thấy nhiều người trong họ xuất thân từ các loại thư ký hãng buôn, giáo
viên trường tư, hoặc dân tốt nghiệp sơ học yếu lược mà đang thất nghiệp... cuộc
đời xô đẩy họ dạt lại thành từng đám để kiếm sống. Những gì họ viết ra, dẫu sao
cũng không còn giữ được vẻ thiêng liêng, như ở các văn bản mà các cụ xưa viết bằng
chữ Nôm hoặc chữ Hán.
Từ sau 1945, với sự cởi mở trong việc tổ chức lực lượng viết
và xu hướng dân chủ trong quan niệm, nghề văn lại như con đường thênh thang mời
gọi lực lượng trẻ. Đang ở cơ sở (nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội)
do có một ít sáng tác tàm tạm đọc được một số thanh niên liền được chuyển về
công tác ở các cơ quan văn nghệ. Rồi người ta sẽ vừa làm vừa học, học qua các lớp
bồi dưỡng ngắn ngày, hoặc học lẫn nhau trong nghề. Và mặc dù trong một vài chục
năm gần đây, trước khi vào nghề văn, một số bạn trẻ thường đã học xong phổ
thông trung học thậm chí đã tốt nghiệp đại học, thế nhưng nhìn chung thì vẫn phải
nói rằng cái mặt bằng nghề nghiệp của văn chương hiện nay chưa phải là cao và
những người trẻ tuổi kia thường nặng về làm theo lớp cha anh hơn là có những
đóng góp mới lạ.
Kéo dài trong suốt thế kỷ, kiểu hình thành nhà văn như thế
này cũng có thể mang lại cho nền văn học hiện đại một ít thua thiệt nào đó.
Song chỗ thuận của tình hình cũng thấy rất rõ. Thời Pháp thuộc, nhiều nhà văn
đã hướng ngòi bút theo tinh thần dân tộc, dân chủ. Đến khi đất nước có được độc
lập, cả lớp kỳ cựu lẫn lớp mới nhập cuộc đều có nhiều nỗ lực trong việc mang
sáng tác phục vụ nhân dân lao động. Ở những nước nào kia, người ta phải luôn
luôn kêu gọi văn nghệ dấn thân, nhưng ở xứ ta đấy đã là bản chất của nghề nghiệp,
bất cứ ai một khi đã cầm bút sáng tác là coi như đã chấp nhận.
Xuân Diệu từng có hai câu thơ được nhiều người nhắc nhở. Nỗi
đời cơ cực đang giơ vuốt – Cơm áo không đùa với khách thơ. Trong nhiều truyện
ngắn, Nam Cao cay đắng kể lại tình thế bất lực và nông nổi dễ bị bắt nạt của
người cầm bút. Văn sĩ An nam khổ như chó – Nguyễn Vỹ đã nói huỵch toẹt ra như vậy,
trong bài Gửi Trương Tửu.
Trong văn chương Việt Nam thế kỷ XX, vậy là có cả một mạch
sáng tác, ở đó, các nhà văn viết về chính mình. So với văn học trung đại, nay
là lúc chẳng những chủ đề này được khai thác thường xuyên, mà có một điều quan
trọng hơn, những ảo tưởng vốn gắn liền với văn nhân xưa được khắc phục. Sự sáng
tạo được kéo xuống phàm trần. ở đó, một mặt vẫn có cái vẻ thiêng liêng – song mặt
khác, nó cũng hiện ra với tất cả cái vẻ lam lũ, vất vả vốn có. Cái tinh thần hiện
đại đã chi phối các nhà văn trong việc nhìn nhận con người nói chung tới đây lại
tiếp tục gây ảnh hưởng.
NHỮNG SỰ QUÁ ĐÀ VÀ NHỮNG ĐIỀU CHÍNH
Nếu trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, cùng lúc thấy sự
ngự trị của cả hai khuynh hướng là lý tưởng hoá đời sống (thường gọi là chủ
nghĩa lãng mạn) và cực tả những mặt đen tối của đời sống (thường được mệnh danh
là chủ nghĩa hiện thực) thì trong các sáng tác viết về nghề văn, hai khuynh hướng
đó cũng đã có mặt.
Khi hình dung lại cuộc đời cầm bút của mình, Vũ Bằng gọi đó
là Bốn mươi năm nói láo. Nhiều chuyện bất hảo của người làm nghề được ông kể lại
rành rọt trong cuốn hồi ký: nào kéo bè, kéo cánh công kích nhau, nào lúc vội cần
có bài liền tán “vung xích chó”, và thi nhau nói dóc v.v…
Trong Đời viết văn của tôi, Nguyễn Công Hoan cũng cho thấy là
nhiều lúc ông xem giới văn chương như một cái chợ, và kể lại rằng trước 1945,
có những cây bút khiến người ta ghê sợ “như sợ hủi”.
Có điều, nên xem đây chỉ là một nửa sự thực. Ngay trong các hồi
ký nói trên, các tác giả cũng đã trình bày ra một nửa sự thực khác: Vũ Bằng sau
một đời lăn lộn với giới báo chí và văn chương vẫn hết sức tha thiết với nghề
và ao ước nếu được làm người lần nữa, thì vẫn chọn nghề cầm bút. Nguyễn Công
Hoan cũng cảm động ghi nhận trong hồi ký những kỷ niệm đẹp trong đời sáng tác,
và tự thấy rằng đã hết lòng với sứ mạng của mình. Nên biết thêm là Nguyễn Công
Hoan không chỉ là tác giả của những thiên truyện như Cái Tết của các nhà đại
văn hào hoặc Cái lò gạch bí mật chế giễu sự ngây thơ của các đồng nghiệp mà
chính ông đã để thì giờ viết hẳn một cuốn tiểu thuyết như Trên đường sự nghiệp,
trong đó, hình ảnh những người viết văn hiện ra hết sức lãng mạn.
Trong khi đó một cái nhìn phải chăng hơn, mà cũng là cận nhân
tình hơn, ưu ái hơn đối với giới sáng tác là tinh thần chính toát ra qua các
thiên truyện như Mực mài nước mắt của Lan Khai, Những đứa con hoang của Nguyễn
Tuân v.v…
GIỮA MƠ ƯỚC VÀ HIỆN THỰC
Muốn tìm hiểu hình ảnh các nhà văn qua các trang sách được viết
trong nền văn học cách mạng từ sau 1945, trước tiên, nên chú ý đến một sự thực
có liên quan đến thể loại được sử dụng.
Một mặt, để có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải
phóng và xây dựng đất nước, mọi người cầm bút lúc này đều hiểu rằng phải có ý
thức phấn đấu để trở thành những ngòi bút cao quý. Điều này được thể hiện rõ nhất
trong các bài phát biểu mang tính cách chính luận thường xuyên xuất hiện trên
báo chí.
Mặt khác, khi đi vào miêu tả bản thân giới cầm bút như những
người lao động bình thường, thì người ta cũng có chủ ý phác hoạ hình ảnh của đồng
nghiệp với tất cả vẻ sinh động vốn có của đời sống.
Hiện nay, chưa ai đứng ra sưu tầm đầy đủ các sáng tác loại
này (tức là các thiên truyện trong đó người viết văn trở thành nhân vật trung
tâm), song chỉ căn cứ vào một vài cuốn sách đã in, cũng đã có được những ví dụ
chứng minh cho tinh thần nói trên. Chẳng hạn, đây là một tập sách mới in ra năm
2000 mang trên. Truyện ngắn chọn lọc viết về các nhà văn.
ở đây, người ta có thể bắt gặp Người kể chuyện thuê của Nguyễn
Khải, Ghen của Ngô Văn Phú, Nạn văn chương của Nguyễn Phan Hách, Tình vờ của Phạm
Dũng v.v… Truyện thì kể lại những ảo tưởng của người làm nghề, truyện thì phác
hoạ cuộc sống nhếch nhác và những bươn chải kiếm ăn của họ. Đùa có, thật có, mơ
màng đấy mà ứa nước mắt đấy!
Xin nhắc lại rằng cả hai phương diện nói ở đây (mơ tưởng cao
đẹp và thực tế hàng ngày lầm lũi như mọi người) gộp lại mới làm nên bộ mặt thực
của các chủ thể sáng tạo hiện nay.
XI. MỐI QUAN HỆ VỚI VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI: TIẾP NHẬN ĐỂ TRƯỞNG
THÀNH
Nguyễn Khuyến (1835-1909) trong cảnh cáo quan về quê dưỡng
già, nhìn trời đất mùa thu, vừa toan cất bút làm một bài thơ ngâm vịnh, đã vội
giật mình: “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” (chỉ Đào Tiềm, thi sĩ đời
Tấn bên Trung Quốc).
Còn Nguyễn Tuân (1910-1987) thì kể rằng mỗi khi đi giữa phố,
mà thấy trong lòng hưng phấn, cách biểu hiện tình cảm của ông thường là “Tôi
huýt sáo gió. Tôi hát Tây. Tôi ngâm thơ Tàu cổ Hai ví dụ này gặp nhau ở một điểm:
từ lâu những con người bình thường chúng ta đã biết sống hòa thuận với các đại
diện của văn chương nước ngoài, và xem đó là một bộ phận trong đời sống tinh thần
của chính mình.
Còn riêng đối với người sáng tác văn chương, thì những ảnh hưởng
nước ngoài còn có vai trò thiết thực hơn nữa: trong trường hợp này đó là những
gợi ý để tham khảo hoặc noi theo, trong trường hợp kia đó là những nhân tố kích
thích suy nghĩ và đối chiếu. Nếu trong các thế kỷ trước, đối tượng giao lưu chỉ
thu gọn lại trong nền văn học Trung Hoa, thì đến cuối thế kỷ XX, có thể nói là
chúng ta đã mở ra với cả thế giới, và đặt một phần sự phát triển của mình vào
việc khai thác tốt những mối quan hệ rộng rãi đó.
Một sức sống được khẳng định
Có được cái thực tế ấy, trước tiên phải ghi nhận sức sống dẻo
dai của văn học dân tộc. Nhìn toàn cục có thể nói cả trong thời phong kiến cũng
như bước sang thời hiện đại, bi kịch của sự tiếp nhận văn chương Việt Nam là ở
chỗ: cái mới cái lạ thường đến trong khung cảnh không bình thường, nếu chỉ xét
riêng hai nền văn học lớn là văn học Trung Hoa và văn học Pháp, thì phải nói cả
hai đã đến cùng với những thế lực xâm lược. Và sự tiếp nhận đã phải khởi động một
cách khó khăn, nói nôm na là chúng ta bị áp đặt, hoặc một thời gian dài bất đắc
dĩ mà làm theo, sau mới đi đến tự nguyện. Thế nhưng trong thời trung đại cũng vậy
mà sang thế kỷ XX cũng vậy, trước sau nền văn học Việt Nam chẳng những không chịu
tiêu biến đi trước những áp lực quá mạnh bên ngoài mà ngược lại, biết nương
theo hoàn cảnh, tìm ra cái hay cái đẹp của người để tiếp nhận và làm nên chính
mình. ở đây, có một cái gì như là khả năng dễ thích ứng kỳ lạ của văn học dân tộc.
Bằng vào cái sự xốp, sự mềm mại ấy mà chúng ta tiếp đãi và khai thác những ảnh
hưởng bắt gặp. Phong trào Duy Tân đầu thế kỷ; các sáng tác gắn với Đông Kinh
Nghĩa Thục; Tự Lực Văn đoàn và Thơ mới; sự chuyển hướng của văn học những năm
chống Pháp và sự kiên trì của văn học những năm chống Mỹ… hầu như trong bất cứ
hiện tượng quan trọng nào của văn học thế kỷ, những ảnh hưởng nước ngoài đều có
mặt, và khi kín đáo, khi rõ rệt, tìm cách tác động tới văn học ta. Ngược lại, về
phần mình, văn học Việt Nam vẫn luôn luôn giữ được tính độc lập trong các.mối
quan hệ cũ và chủ động tìm tới những quan hệ mới. Lấy một ví dụ: Từ năm 1945,
do nhu cầu của chính trị, văn hóa văn học Việt Nam phải có tiếp xúc
với những yếu tố ngoại lai trước đó còn xa lạ, ở Sài Gòn, tiếp xúc với văn học
Mỹ, và nhất là ở Hà Nội, tiếp xúc với văn học Nga - Xôviết cùng các nước Đông
Âu. Cố nhiên, những cuộc tiếp xúc này diễn ra một cách từ tốn và đã thông qua
cái đã biết mà đến với cái chưa biết (thông qua văn hóa Trung Hoa và Pháp để đến
với Nga - Mỹ…). Nhưng bản thân cái việc không ngán một ai, ai cũng quan hệ,
không chỉ dừng lại ở một cực nào mà mở ra một sự tiếp xúc rộng rãi - một sự đa
dạng hóa quan hệ như người ta thường nói - đã là dấu hiệu cho thấy nền văn
chương xứ ta có sẵn tiềm năng thay đổi và khi cần, sẽ có những sự nhập cuộc hợp
lý.
Tính cách điển hình và hoạt động đa dạng
Theo những tài liệu còn sưu tập được, thì khi văn học Trung
Hoa truyền tới, quả thật văn học Việt Nam còn đang ở trong tình trạng manh nha
và chắc chắn là chưa có cách gì để ghi chép lại. Bởi vậy, trong lịch sử mới có
tình trạng trớ trêu là những tác phẩm ra đời sớm nhất lại viết bằng chữ Hán chứ
không phải chữ Nôm, và thơ thì lúc đầu phổ biến là thơ Đường luật, mãi về sau
trong số các tác phẩm của nền văn học viết, mới có những truyện thơ viết theo
thể lục bát; có thể dự đoán trên đại thể, việc tiếp nhận văn học Trung Hoa lúc
đầu không bao gồm một sự từ bỏ nào cả mà có nhiều phần “tuần tự như tiến”,
ngoài ra, có một thuận lợi, là nó được kéo dài một cách từ tốn, trong hàng mấy
thế kỷ. Nhưng đến khi văn học phương Tây có mặt và gây ảnh hưởng thì tình hình
có khác. Lúc này văn học Việt Nam đã là một thực thể có quy luật vận động
riêng, còn yêu cầu đặt ra là trong thời gian ngắn, tất cả phải được làm lại và
làm khác hẳn cái cách xưa nay vẫn làm. Tình thế thật quá khắc nghiệt. Có điều
cũng chính vì vậy mà có thể nói rằng sự tiếp nhận văn học phương Tây (rõ hơn cả
và trước hết là văn học Pháp) hồi đầu thế kỷ là có tính cách điển hình, nghĩa
là trải qua đủ các pha các giai đoạn mà một quá trình tiếp nhận thường có. Đầu
tiên, tiếp nhận mới có nghĩa là mô phỏng (truyện ngắn Phạm Duy Tốn và một chừng
mực nào đó, thấy ở tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh) tiếp đó, nhờ ở sự tiêu hóa tốt
các bài học, người cầm bút lúc ấy lại nhanh chóng bước sang giai đoạn tự lập, tức
vẫn học hỏi làm theo, song đã biết biến báo một cách khôn khéo. Những thành quả
thời kỳ từ 1932 trở đi là bằng chứng cho thấy rằng năng lực tiếp nhận đã biến
thành bản lĩnh sáng tạo thực thụ. Và tới nửa cuối thế kỷ XX, thì trong hoàn cảnh
của một nước độc lập, phải nói sự tiếp nhận còn mở ra đàng hoàng bề thế hơn bao
giờ hết. Lúc này, mấy việc dưới đây đã được đồng thời thực hiện.
a/ Tìm sự gợi ý từ thơ truyện nước ngoài để có được sáng tác
về các vấn đề mới mẻ trong nước (tham khảo cách viết của Pelévoi, Simonov, Fadéev
để viết về chiến tranh; tham khảo cách viết của Triệu Thụ Lý… để viết về hợp
tác).
b/ Đưa việc dịch thuật tiến lên thành một hoạt động phổ biến,
cung cấp thức ăn tinh thần cho công chúng.
c/ Bắt tay vào việc nghiên cứu văn học nước ngoài, tức là đưa
việc tiếp nhận từ tự phát lên tự giác, qua mình mà hiểu người, và từ tiếp xúc với
người mà tự nhận thức thêm về mình.
Từ khá lâu nhiều tác giả nổi tiếng của văn học nước ngoài, từ
các nhà cổ điển đến các tác giả lớn của thế kỷ XX như Gorki, Brecht, Lỗ Tấn,
Tagore v.v… đã được đưa vào giảng dạy tại trường trung học phổ thông, và các
ngành đại học chuyên về văn chương. Lẽ tự nhiên là khi đã được học, được đọc
như thế những yêu cầu của lớp công chúng trẻ với sáng tác văn chương trong nước
không thể như cũ. Việc tiếp nhận trở nên một tác động sâu xa, nó khiến cho giới
sáng tác cũng phải tìm cách tiến lên cho kịp với mọi hoạt động xã hội nói
chung.
Không ai có thể đứng ngoài
Những năm gần đây, đã xuất hiện nhiều bài báo, nhiều cuốn
sách đi vào nghiên cứu ảnh hưởng văn học nước ngoài (đặc biệt là văn học Pháp)
đối với văn học Việt Nam thế kỷ XX. Một số tác giả theo dõi sự vận động của ảnh
hưởng trong lịch sử (Phan Ngọc, Vũ Đức Phúc, Đỗ Đức Hiểu). Có người phân tích
những thay đổi xảy ra trong ngôn ngữ và hệ thống thể loại (Đặng Anh Đào). Có
người đi vào so sánh một hai tác giả tác phẩm có sự gần gũi rõ rệt, để nhận ra
sự tiếp thu có sáng tạo (như tìm ảnh hưởng của A.Gide với sáng tác của Nguyễn
Tuân, hoặc các nhà thơ Pháp cuối thế kỉ XIX đầu XX với Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử).
Một điều có thể chắc chắn là ngoài những mối quan hệ sâu xa với văn học truyền
thống, thì mối quan hệ của văn học Việt Nam với văn học nước ngoài trong thể kỷ
này phong phú đa dạng hơn rất nhiều so với những gì đã được ghi nhận (ngay cả
những hiện tượng thuần Việt như truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hoặc thơ Nguyễn
Bính, nếu đi sâu vào mọi ngõ ngách, cũng vẫn có thể tìm ra những yếu tố của việc
tiếp nhận; ấy là không kể cách sống cách tồn tại của họ đã là theo kiểu nhà văn
hiện đại, và họ chỉ nổi lên trên cái nền của một giai đoạn văn chương đã dung nạp
nhiều ảnh hưởng đến từ phương Tây).
Rộng ra mà xét, có thể bảo sự tiếp nhận ảnh hưởng từ nước
ngoài, đã là nếp sống của cả một thời đại, và công việc ngày càng được triển
khai rộng thêm ra. Điều thú vị là trong việc này, các nhà văn đương thời và các
nhà nghiên cứu đương thời tìm được sự hỗ trợ của chính lịch sử. Truyện Kiều của
Nguyễn Du không vì có dây dưa với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân mà
bị coi thường. Thế thì không có lý do gì để bảo Sống chết mặc bay của Phạm Duy
Tốn cũng như nhiều câu thơ của Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử do có hơi hướng thơ Pháp
mà bị giảm giá trị. Với một tác giả cũng vậy, mà với cả nền văn học cũng vậy vấn
đề không phải là chúng có hay không có tiếp nhận, mà thực chất câu chuyện ở chỗ
chúng ta đã sử dụng những ảnh hưởng xa lạ để bồi đắp bản sắc của mình ra sao,
và trong cái việc làm rất tinh tế ấy, chúng ta chứng tỏ bản lĩnh sáng tạo của
mình đến đâu.
Việt Nam văn học sử yếu (1942) của DươngQuảng Hàm là sách
giáo khoa dùng cho học sinh ba năm liền ở bậc trung học. ở năm thứ nhất, sau
thiên (phần) viết về văn chương bình dân là thiên viết về ảnh hưởng của nước
Tàu, giảng kỹ về các sách cổ điển như Tứ thư, Ngũ kinh v.v… Đến năm thứ hai thì
thiên t hứ nhất cũng lại mang tiêu đề ảnh hưởng của văn chương Tàu, và đi vào
phân tích sơ bộ tác phẩm của hàng loạt các danh sĩ được biết tới nhiều ở Việt
Nam như Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Lý Bạch, Hàn Dù, Tô Đông Pha. Qua năm thứ ba, lại
có một chương nói về ảnh hưởng của nền văn mới nước Tàu và nền Pháp học đối với
tư tưởng và ngôn ngữ người Nam.
Lối viết này về sau không được các nhà văn học sử tiếp tục.
Ngày nay, ảnh hưởng văn học thường chỉ được nhìn nhận như một cái gì rất nhỏ rất
phụ, may lắm thì được nói thêm vài câu trong các giáo trình.
Song nghĩ kỹ thì thấy Dương Quảng Hàm có cái lý của ông. ảnh
hưởng chính là một trong những nhân tố quyết định bộ mặt của các giai đoạn tiến
triển trong văn học Việt Nam. Ví như, khi nhìn lại thế kỷ XX, thì một trong những
khía canh nổi bật nhất của thời kỳ này cũng là văn học ta thay đổi dưới những ảnh
hưởng mới. Do chịu ảnh hưởng khác, mà tự nhiên bộ mặt văn học cũng khác hẳn trước.
Sau đây là vài khía cạnh có thể mang ra so sánh:
- Về nguồn tiếp nhận: Trong thời trung đại, văn học Trung Hoa
gần như là nguồn ảnh hưởng duy nhất, Trung Hoa đối với ta lúc ấy là đồng
nghĩa với cả thế giới. Bước sang thế kỷ XX, thì trong thời kỳ đầu
văn học Pháp lại thay thế để trở nên yếu tố chủ đạo. Nhưng qua tiếng Pháp, con
người Việt Nam lúc ấy còn có dịp biết một cách sơ lược về một số nền văn học
khác, như cổ Hy Lạp – La Mã, ltalia, Tây Ban Nha, Anh, Nga v.v…
Kế đó, kể từ nửa cuối thế kỷ XX, nguồn ảnh hưởng lại trở nên
phong phú hơn hẳn: Nga, Trung Hoa, Đông Âu, Mỹ, Mỹ Latinh v.v…
- Về tốc độ xâm nhập: Theo những tài liệu nghiên cứu gần đây,
thì ngay từ thời trung đại, giữa Trung Hoa và Nhật Bản đã hình thành một con đường
sách (tương tự như con đường tơ lụa mà người ta vẫn nói) để chuyển giao những
thành quả sáng tác và nghiên cứu.
Nhưng ở Việt Nam tình hình còn rất khiêm tốn, sách từ phương
Bắc chuyển đến chủ yếu thông qua hành lý của các cá nhân, trong đó có một bộ phận
là do các ông quan đi sứ mang về. Vì vậy có hiện tượng đến đời Nguyễn (thế kỷ
XIX) ở Việt Nam có khi các cụ ở ta mới biết mấy cuốn sách được viết từ đời Tống
(thế kỉ XI – XII), hoặc đời Minh (thế kỉ XIV – XVII). Và chắc chắn có hiện tượng
gặp quyển nào thì mang về quyển ấy, chứ không thể có sự lựa chọn một cách hợp
lý.
Bước sang nửa đầu thế kỉ XX, sách báo ở châu Âu về Việt Nam
theo những chuyến tàu biển đều đặn nhập các cảng lớn, hàng loạt nhà văn tiền
chiến nổi tiếng như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân thường theo kỳ hẹn đón tàu về để
có được sách mới in ra ở Pháp, một vài tháng trước.
Tốc độ xâm nhập lại được tăng nhanh khi máy bay trở thành
phương tiện giao thông phổ biến. Tuy nhiên trong nửa cuối thế kỉ XX những ảnh
hưởng không xảy ra một chiều đơn giản, mà lúc này, có thể nói tới hiện tượng cả
văn học trong nước và văn học nước ngoài cùng tồn tại, bước đầu là các bài viết
thông tin trên báo chí, sau đó là những cuốn sách dịch, cả hai đều là những thức
ăn tinh thần thường xuyên của bạn đọc.
- Có một vấn đề đặt ra là cách thức tiếp nhận văn học nước
ngoài ở mỗi thời kỳ ra sao. Trên nguyên tắc thì thời nào việc tiếp nhận cũng là
nhằm làm giàu thêm cho văn học dân tộc và hướng tới việc xây dựng một nền quốc
văn độc lập. Nhưng do tính chất ước lệ và sùng cổ của văn chương trung đại, nên
lúc ấy, chúng ta thấy những ảnh hưởng của Trung Hoa còn hằn lên rõ rệt, cả những
tác phẩm là niềm tự hào của văn học dân tộc như Chinh phụ ngâm, Truyện Kíều
cũng thấy rất nhiều câu thơ xây dựng trên điển cố xuất phát từ những đời Tần đời
Hán. Còn đến thời hiện đại thì khác. Một trong những nguyên tắc bao trùm trong
văn học thế kỷ XX là hướng về đời thực, lấy chất liệu ngay trong cuộc sống thực,
cho nên người ta không bắt buộc phải có hiểu biết về văn học châu âu mới hiểu
được các nhà văn viết quốc ngữ hiện thời. Những ảnh hưởng phát huy ngày một kín
đáo trong khi sự tiếp nhận ngày càng tinh tế, đấy có lẽ là quy luật chi phối sự
tiếp nhận văn học ở thế kỷ XX nói chung chứ không riêng trong văn học Việt Nam.
Ngay từ 1945 về trước, trong nhiều bài viết đăng rải rác trên
báo chí, các tác giả từ Thạch Lam, Lưu Trọng Lư, qua DươngQuảng Hàm, Vũ Ngọc Phan,
Đinh Gia Trinh v v.. đã ghi nhận những ảnh hưởng của văn học Pháp trong việc
hình thành nền quốc vănmới ở Việt Nam. Từ sau 1945, nhất là từ sau 1975, những ảnh
hưởng này lại tiếp tục được các nhà văn nhà nghiên cứu, như Xuân Diệu,
Huy Cận, Phan Ngọc, Đặng Anh Đào v.v. khẳng định.
Còn như đối với ảnh hưởng của văn học Trung Quốc người ta có
vẻ lơ đãng. Chỉ có một thời điểm được lưu ý nhiều hơn cả, đó là hai chục năm đầu
thế kỷ, khi sách vở của các sĩ phu Trung Hoa truyền qua Việt Nam, góp phần vào
việc thổi bùng ngọn lửa Duy Tân khá rầm rộ ở Hà Nội cũng như các tỉnh miền
Trung. Còn sau đó ra sao, ít khi thấy các nhà nghiên cứu nhắc nhở.
Cái cách bỏ qua như thế rõ ràng là không đúng với thực tế. Mặc
dù công nhận rằng những ảnh hưởng nói trên không thể lớn lao, như trong giai đoạn
từ thế kỷ XIX về trước, song phải nói là nó vẫn còn, vẫn rất quan trọng, nó bộc
lộ theo nhiều cách thức khác nhau và kéo dài gần như suốt thế kỷ. Ngoài ảnh hưởng
đối với phong trào Duy Tân, còn có thể kể ra một loạt các hiện tượng khác, nổi
lên trên bề mặt của đời sống văn học:
Từ đầu thế kỷ cho tới 1930 ở Sài Gòn, có cả một phong trào dịch
truyện Tàu (chủ yếu là các tiểu thuyết dã sử). Nhũng Chinh Đông, Chinh Tây,
Bình Sơn lãnh giá, Nhạc Phi v.v đã là những gợi ý để các tác giả đương thời viết
nên những Phan Yên ngoại sử, Việt Nam Anh kiệt, Giọt máu chung tình, Hà Hương
phong nguyệt.
Tương tự như vậy, những tiểu thuyết Tàu dịch ở Hà Nội những
năm hai mươi và chủ yếu in trên Nam Phong, như Tuyết hồng lệ sử, Dư chi phu (chồng
tôi). Quý Phi diễm sử, Tần nương Hoắc nữ… đã không ít thì nhiều ảnh hưởng tới sự
xuất hiện của nhiều tiểu thuyết xuất hiện thuở mới sơ khai, như Kim Anh lệ sử,
Cành hoa điểm tuyết, Giọt nước cành dương v.v… hoặc các tiểu thuyết chương hồi
của Nguyễn Tử Siêu.
Dù lối viết tiểu thuyết theo kiểu Tàu về sau sẽ không được tiếp
tục, nhưng phải nhận sổ sách ra đời và phổ biến như vậy lại có tác động ở những
mặt khác. Thứ nhất nó tập cho đông đảo người đọc quen thưởng thức tiểu thuyết,
và các nhà văn thì thêm hăng hái viết tiểu thuyết. Thứ hai, nó là một bài học
phản diện: hoá ra, vào thời buổi này, lối viết theo kiểu Pháp (mà ví dụ tiêu biểu
là Tố Tâm) lại có triển vọng hơn, hợp với nhu cầu xã hội hơn.
Nhưng đấy chỉ là một khía cạnh của vấn đề. Trong thực tế, mọi
chuyện khá phức tạp. Nếu như suốt những năm ba mươi, văn học Trung Quốc không
được giới thiệu một tác phẩm nào thì từ những năm bốn mươi trở đi, “tiếng dội”
từ từ trở lại: Hoá ra hồi đầu thế kỷ phong trào Âu hoá (theo nghĩa tốt đẹp của
chữ này) cũng được người Trung Quốc thúc đẩy mạnh mẽ, và những thành tựu tiêu
biểu như truyện ngắn Lỗ Tấn, tiểu thuyết Mao Thuẫn. (chẳng hạn cuốn Nửa đêm) kịch
Tào Ngu (các vở Lôi Vũ, Nhật xuất) lại dễ gần gũi với người đọc, người xem kịch
ở Việt Nam. Thế là người ta lại xô đi dịch và đi đọc.
Tiếp đó là phong trào dịch các tác phẩm của nước
Trung Hoa sau 1949 (của các tác giả Triệu Thụ Lý, Ngụy Nguy, Chu Lập Ba, Dương
Bân v.v…)
Hình như những cái mới xuất phát từ các nước phương Tây, một
khi thâm nhập qua con đường Trung quốc, thì đến với người Việt dễ dàng hơn, tự
nhiên hơn. Một khái quát như thế có thể liên quan tới rất nhiều phương diện của
một nền văn học, bao gồm cả nội dung lẫn hình thức, và đòi hỏi một sự khảo sát
thật kỹ lưỡng.
Văn học Trung quốc những năm tám mươi và chín mươi của thế kỷ
XX trở nên phong phú hơn bao giờ hết và người ta lại có thể thấy điều đó một phần
qua những cuốn sách dịch ra tiếng Việt đã in (Từ Đàn ông một nửa là đàn bà của
Trương Hiền Lượng, qua Phế đô của Giả Bình Ao, Gót sen ba tấc của Phùng Ký Tài
hoặc nhiều truyện vừa của Vương Sóc, Lưu Chấn Văn in trên tạp chí Văn học nước
ngoài.v.v.) Nêu lưu ý thêm nay là lúc các bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa như
Tam Quốc, Tây Du, hoặc Phong thần, Thuyết Đường…. Được bày bán thường xuyên;
sách chưởng của Kim Dung và tiểu thuyết Quỳnh Dao tái xuất giang hồ theo đủ mọi
phương thức khác nhau và vẫn dư sức hấp dẫn người đọc còn thị trường sách biên
khảo, sách phổ biến kiến thức cũng tràn ngập những sách dịch từ nguyên bản chữ
Hán: Một khi ảnh hưởng đã không thể chối bỏ thì nó lại cần được nhận thức một
cách tự giác và nghiêm túc.
XII CHIẾM LĨNH VÀ LÀM GIÀU DI SẢN
Nhu cầu và thành tựu
Bước sang giai đoạn lịch sử hiện đại, hầu như ở nước nào trên
thế giới, việc tìm hiểu và khai thác lại di sản cũng được đặc cách lưu ý: Đây
có lẽ là một trong những phương thức tốt nhất để một dân tộc tự khẳng định giữa
những dân tộc khác. Riêng ở Việt Nam, thế kỷ XX lại có vai trò của một thời điểm
thức tỉnh, bởi vậy, việc trở lại với gia tài văn học cha ông có những lý do
riêng để càng được đẩy lên mạnh mẽ. Thời Pháp thuộc, khi bắt tay vào việc xây dựng
nền quốc văn mới tức là làm văn chương theo một cách thức chưa từng quen biết)
các nhà nho thức thời cũng như các trí thức tân học chân chính lúc ấy cần có một
điểm tựa về tâm lý: “xưa kia, ta cũng không kém gì các người…”. Và thế là các cụ
bảo nhau người sưu tầm ca dao tục ngữ (Nguyễn Văn Ngọc), người mô tả phong tục
xưa (Phan Kế Bính), người bắt tay phiên âm và chú giải các tác phẩm cổ điển như
Truyện Kiều (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim), người làm hợp tuyển (Trần Trung Viên với
Văn đàn bảo giám). Đến khi đất nước độc lập rồi bước vào cuộc chiến tranh giải
phóng hơn 30 năm, di sản lại càng được xem trọng, bởi trên nguyên tắc ai cũng
hiểu đó là một trong những tài sản vô giá, chúng ta phải mang xương máu ra mà bảo
vệ. Các bộ lịch sử văn học được viết và in ra đều đều. Từng hiện tượng riêng
trong văn học được chú ý, kể từ sáng tác của cả một vương triều như Thơ văn Lý
Trần tới những tác giả cụ thể (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá
Quát…). Khỏi phải nói là cho tới ngày nay, khi đất nước bước vào giai đoạn xây
dựng trên tất cả các phương diện, thì nhu cầu đặt ra với việc khai thác di sản
lại cao hơn bao giờ hết. Trước khi định làm bất cứ việc gì, ta phải tự hiểu về
ta cái đã. Và cái “ta” ấy nằm ngay trong kho tàng văn hoá nói chung, văn học
nói riêng. Thế là mọi thứ đã sưu tầm đều gắng mang ra công bố và những bộ sách
lớn mang tính cách toàn tập hoặc tổng tập nối tiếp xuất hiện. Tạm làm một sự đối
chiếu thô thiển: Từ mười thế kỷ nay, ông cha ta đã có sáng tác trên văn bản và
lưu truyền qua các thời đại, song chưa bao giờ thấy có một quyển lịch sử văn học
nào chính thức được biên soạn, lịch sử văn chương lúc ấy còn bị đặt lẫn vào các
bộ thông sử. Ngay như công việc tuyển chọn thơ văn và hệ thống hoá chúng lại
trong các tuyển tập, chắc chắn người xưa đã có lưu ý, nhưng vì nhiều lý do khác
nhau, đến nay cũng chỉ còn lại lác đác một vài bộ, cỡ như Việt Nam phong sử của
Nguyễn Văn Mại hoặc Hoàng Việt thi văn tuyển của Bùi Huy Bích. Nhớ lại như vậy
để thấy ngót một trăm năm qua, chúng ta đã làm được khá nhiều mặc dù công việc
đáng ra phải làm còn lớn gấp bội.
Vận hội mới của một thể thơ cũ
Cái mới của thế kỷ XX trong việc tiếp cận di sản trước tiên
là ở quan niệm. Khi đã có quan niệm đúng lại có cách làm phù hợp, người ta luôn
luôn có được những phát hiện mới từ trong quá khứ, do đó, khiến cho di sản ngày
một trở nên giàu có. Sau đây là một ví dụ:
Trong các công trình nghiên cứu hoặc các từ điển văn học, lục
bát thường được xem như một thể thơ có nhịp điệu hài hòa kỳ lạ, rất hợp với
cách thẩm âm và cách suy nghĩ của người Việt. Tóm lại, nói như bây giờ mọi người
hay nói, đấy là một thể thơ “đậm đà bản sắc dân. tộc”. Nhưng nhìn vào văn học
suốt thời trung đại, có một thực tế không thể chối cãi là nó ít được sử dụng
trong việc làm thơ. Ngay cả khi làm thơ nôm - chúng tôi nhấn mạnh đơn vị bài
thơ, thì thể thơ được các nhà thơ cổ điển ưa chuộng vẫn là Đường luật (thất
ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt), hoặc về sau là hát nói. Để văn học dân gian
sang một bên thì thấy đây đó trong kho tàng văn thơ cổ có lạc vào vài bài lục
bát, nhưng không phải là những bài thơ hay, chúng lại quá ít và thường tồn tại ở
dạng truyền khẩu, không dám chắc là có thật (như bài Ngồi rồi muốn trách ông
xanh - Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười… của Nguyễn Công Trứ). Chỉ có một
khu vực mà thể thơ trên sáu dưới tám ấy được sử dụng một cách hào phóng đó là
truyện nôm, ở đó nó đóng vai trò một thứ công cụ giúp cho câu chuyện vận hành
nhịp nhàng và người nghe dễ nhớ. Kể ra mỗi truyện nôm thường cũng có những đoạn
mang đậm chất thơ và nếu trích ra, chúng cũng có thể xứng đáng được gọi là một
bài thơ hay (những đoạn Kiều dặn em, Kiều nhớ nhà… ). Nhưng trong ý định ban đầu
của tác giả, chúng không tồn tại độc lập. Theo quan niệm chặt chẽ của người xưa
về thơ, lục bát không dùng để làm thơ được vì nó quá tự do. Mãi tới Nguyễn Khuyến,
Chu Mạnh Trinh, rồi tới Tú Xương nhất là tới Tản Đà, thì cái nhìn về lục bát mới
thay đổi, có thể nói từ nay nó sẽ được xem ngang hàng với mọi thể thơ khác tức
là có thể đáp ứng những nhu cầu khác nhau của các tác giả trong việc cấu tứ nên
những bài thơ khúc chiết chặt chẽ, đúng nghĩa một tác phẩm độc lập. Từ sau Tản
Đà gần như tất cả những nhà thơ quan trọng của thế kỷ XX (chỉ trừ một vài trường
hợp đặc biệt như Hàn Mặc Tử) người ít người nhiều đều đã ghé qua để thử tài
trong lục bát. Trong số này, có hai người để lại dấu ấn đáng kể nhất, một là
Nguyễn Bính với thứ lục bát duyên dáng như ca dao, một nữa là Huy Cận với những
bài lục bát hàm súc cô đọng như thơ Đường Có lẽ không có gì quá đáng, nếu nói rằng
chỉ trong thế kỷ XX, cái thể thơ dân tộc ấy mới có dịp bộc lộ hết mọi tiềm năng
diễn tả mà nó vốn có. Được giải phóng bởi những quan niệm mới mẻ, nó trở thành
chính mình, nghĩa là một nhân tố hình thức mang đậm ý nghĩa nội dung mà ai cũng
phải công nhận.
Tiềm năng vốn có và ảnh hưởng xa lạ
Những người có lưu tâm tới mỹ thuật đều biết sơn mài là một
chất liệu độc đáo của hội họa Việt Nam, nó cho phép các họa sĩ tung hoành để
phô bày cho hết quan niệm của người Việt về cái đẹp. Tưởng như sơn mài đã có từ
bao đời nay, thì nó mới có được sự gắn bó với chúng ta như thế. Hoá ra ta nhầm.
Cái sẵn có trong nghề làm đồ mỹ nghệ xưa chỉ là sơn ta. Còn việc đưa ngành nghệ
thuật này từ chỗ trang trí đến vai trò một phương tiện biểu hiện độc đáo đa dạng,
thì mới được khởi đầu từ những năm ba mươi (Tô Ngọc Vân đã viết kỹ về sự hình
thành của sơn mài trong báo cáo tại Hội nghị văn hóa toàn quốc ở Việt Bắc,
1948).
Số phận của lục bát trong thơ so với sơn mài trong hội hoạ
cũng có những nét tương tự. Cả hai đều là những khả năng trong quá khứ chưa được
khai thác hợp lý, và nếu như lịch sử trì trệ, thời trung đại cứ kéo dài, thì cả
hai – cũng như nhiều loại di sản khác – tiếp tức bị che lấp trong quên lãng.
Tức là tuy đóng vai trò làm chủ gia sản nhưng thuở xưa ông
cha ta chưa biết hết là mình có những gì, đâu là những báu vật đáng kể cho con
cháu kế thừa, phát huy. Và chỉ sang thế kỷ này, con người hiện đại mới dần dần
có sự kiểm kê phân loại đầy đủ cũng như đánh giá đúng các giá trị đã hình thành
trong quá khứ, và tìm cách để chúng trở thành những truyền thống sinh động. ở
chỗ này, cần ghi nhận vai trò của các yếu tố xa lạ. Chính là trong khi tiếp xúc
ngày càng rộng rãi và gần như không chịu sự chi phối của bất cứ mặc cảm nào như
đã nói ở trong bài trước – các nhà văn nhà thơ thế kỷ XX mới càng cảm thấy nhu
cầu trở về với dân tộc, và gắng làm rõ sự khác người của mình.
Khi các truyền thống bền chặt bên trong một dân tộc có dịp thức
tỉnh thì đây cũng là lúc những sự ảnh hưởng tốt đẹp đến từ nước ngoài hoàn tất
công việc đã được giao phó.
Vai trò của phương pháp mới
Ông cha ta ngày xưa (tức là từ thế kỷ XIX về trước ) không
thiếu tinh thần tự hào về sự sáng tạo văn học và bên cạnh văn thơ, cũng đã bắt
đầu làm các loại sách có tính chất sưu tầm nghiên cứu để hệ thống hoá di sản của
tiền nhân,tuy nhiên ở đây có hai điều phải gọi là hạn chế :1) số lượng những bộ
sách này thực quá ít – theo Trần Văn Giáp sơ bộ thống kê trong cuốn Tìm hiểu
kho sách Hán Nôm t.II, thì số Hợp tuyển thơ văn này chỉ có 13 cuốn cộng
thêm 9 cuốn sưu tầm văn học dân gian trong khi đó sách Thi văn tập tức
là sáng tác của từng tác giả riêng biệt lên tới 129 cuốn và 2) chất lượng các
công trình nghiên cứu sưu tầm này chưa cao bằng chứng là không thấy
cuốn nào ngày nay được phổ biến rộng rãi trong bạn đọc.Phải nhận là
trong việc sưu tầm nghiên cứu này thì thế kỷ XX làm được nhiều việc hơn và chất
lượng cũng khá hơn.Tại sao ? Ơ đây rõ ràng có vai trò của phương
pháp khoa học mới được du nhập từ phương Tây.Lấy một ví dụ đặt
bên cạnh cuốn Việt Nam phong sử hoặc Nam quốc phương ngôn tục ngữ bị lục thì cuốn
Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc in ra lần đầu 1928 là một bước tiến vượt
bậc Đấy là nói cụ thể về sưu tầm. Trong nghiên cứu, tư duy khoa học càng đóng
vai trò sống còn. Mặc dù có thế đứng của người trong cuộc song không
nhà nho nào trước đây kể cả những người sống ở đầu thế kỷ XX đủ sức
khái quát về học thuyết của đạo Khổng đến tầm cỡ như Trần Trọng Kim. Người ta
không thể giải thích điều này nếu không chú ý tới phương pháp,công cụ
và nói chung là quan niệm nghiên cứu được Trần Trọng Kim sử dụng (gần đây bộ
Nho giáo của ông vẫn thường được in lại và bày bán rộng rãi). Nhìn
chung việc áp dụng những phương pháp sưu tầm và nghiên cứu
mới như thế này đã làm cho việc tìm hiểu và khai thác di sản trong thế kỷ XX đạt tới
trình dộ mà các thế kỷ trước không dám nghĩ tới.
Những bộ sách nặng ký
Từ 1932 về trước trong khi việc sáng tác các tác phẩm thơ
văn mới còn đang trong giai đoạn mầy mò thì chính là lúc việc sưu tầm và nghiên
cưú di sản được bắt đầu một cách hiệu quả. Từ Nguyễn Văn Tố tới Phạm Quỳnh từ
Phan Kế Bính tới Tản Đà… và lùi về trước nữa cả Trương Vĩnh Ký lẫn Huỳnh
Tịnh Của mỗi người theo một cách riêng đều muốn làm một
chút gì đó cho lịch sử văn chương, ngôn ngữ của dân tộc và sự thực tất
cả nhứng vấn đề cơ bản từ văn hoá dân gian đến văn chương cổ điển đều được họ xới
ra và mời gọi các thế hệ sau cùng giải quyết.
Tiếp đó như được những thành tựu mọi mặt của tiểu
thuyết và Thơ mới cổ vũ, từ sau 1932 công tác nghiên cứu cũng có được những
công trình tương đối tổng hợp chẳng hạn các bộ Việt Nam văn hoá sử cương của
Đào Duy Anh hoặc Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm cũng như cuốn Truyện
Kiều do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim chú giải.
Trong hoàn cảnh của đất nước có chiến tranh, một điều dễ hiểu
với công việc nghiên cứu sau 1945 là đưa ra cách giải thích mới đối
với di sản nhằm kích thích lòng tự hào dân tộc và động viên tinh thần chiến đấu
của dân chúng. Ngay ở Việt Bắc, phương pháp mác-xít đã được vận dụng để đáp ứng yêu
cầu này của công tác nghiên cứu di sản và trong tay của
những người có kinh nghiệm nó đã dược triển khai khá uyển chuyển với
những tác phẩm như Giảng văn Chinh phụ ngâm của Đăng Thai Mai hoặc Quyền sống của
con người trong Truyện Kiều của Hoài Thanh và về
sau trong Các nhà thơ cổ điển Việt Nam của Xuân Diệu. Do nhu cầu của
giáo dục,nhiều bộ giáo trình được biên soạn những năm 70
như giáo trình của Đại hoc tổng hợp Đại học sư phạm Hà Nội
đánh dấu nhận thức và cách giải thích về di sản của một thời (ở Sài
gòn trước 1975 các bộ sách của Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ, tiếp tục đi theo cái
hướng mà Việt Nam văn học sử yếu đã mở ra từ hồi tiền chiến cũng là những thành
tưu mà những người đi sau phải tham khảo). Thực tế là trong các mặt di sản văn
hoá nói chung thì di sản văn học vẫn là bộ phận được coi trọng nhất
có truyền thống nghiên cứu sớm nhất. Các ngành nghiên cứu lịch sử hoặc tư tưởng,
tôn giáo thường vẫn dựa vào nghiên cứu văn học một phần. Các ngành nghiên cứu
nghệ thuật như các bộ môn lịch sử mỹ thuật lịch sử âm nhạc xem đây
là nơi tạo ra chuẩn mực để so sánh đối chiếu. Chính đấy lại là những
thách thức mà ngành nghiên cứu di sản văn học phải chấp nhận.
Chưa thể bằng lòng
Cho đến nay những cuộc tranh cãi về văn bản Truyện
Kiều vẫn đang được tiếp tục một cách uể oải và một cuốn tiểu sử khoa học về
Nguyễn Du vẫn chưa được biên soạn. Chung quanh hiện tượng thơ Hồ Xuân
Hương chỗ nào là phần có thực chỗ nào là sự huyền thoại
hoá của đời sau? Dịch giả Chinh phụ ngâm khúc là Đoàn Thị Điểm hay
Phan Huy Ích?. Đóng góp của nền văn học VN nửa dầu thế kỷ XIX dưới triều các vị
vua hay chữ của triều Nguyễn là gì? Rồi sự chuyển mình của văn học
VN sang thời hiện đại, tầm vóc thực sự của văn học VN thế kỷ XX - những câu hỏi ấy
cũng như nhiều câu hỏi tương tự vẫn chưa có lời giải đáp
đáng tin cậy và điều này phản ánh một căn bệnh dai dẳng của việc tìm hiểu di sản
văn học ở VN, ấy là việc gì cũng có người làm nhưng không việc gì
làm đến nơi đến chốn. Đã đành nhìn lại thì nhiều công trình nghiên cứu của những Trần
Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Hoa Bằng, Vũ Ngọc Phan…là không tránh khỏi những
luộm thuộm song nhiều cuốn sách in ra gần đây mang danh viện nọ viện kia đứng
tên toàn những giáo sư tiến sĩ nổi tiếng cũng lại luộm thuộm theo một cách
khác.Còn nếu đặt bên một công trình hoàn chỉnh như cuốn Thi nhân Việt Nam
1932-1941 thì người ta lại càng nản lòng.Trong mươi mười lăm năm gần đây có tới
hàng chục tập sách tuyển chọn lại Thơ mới đã được in ra, nhưng chả có cuốn nào
hứa hẹn một cuộc sống lâu dài như tập sách của Hoài Thanh
và Hoài Chân.
Trong hoàn cảnh giao lưu quốc tế được đẩy mạnh,nhu cầu trở lại
với di sản ngày càng là một đòi hỏi cấp bách và chính đáng, song nhìn lại công
việc những năm gần đây thì thấy có vẻ như nhu cầu ấy chưa thể đáp ứng một cách
đầy đủ và đó là một món nợ mà thế kỷ cũ còn để lại cho thế kỷ mới.
Sự hóa thân muôn hình muôn vẻ
Tuy nhiên, có thể nhận thấy là sau một thế kỷ cặm cụi tìm hiểu
nghiên cứu để trở lại với người xưa, quá trình nghiên cứu di sản văn học đã có
tác dụng trên cả hai phương diện:
1. Làm cho đời sống tinh thần con người Việt Nam hôm nay thêm
phần phong phú. Với sự có mặt của di sản, chúng ta cảm thấy mình là những người
có căn có cốt và trong đời sống trước mắt, phải lo gìn giữ những gì thiêng
liêng tốt đẹp mà cha ông đã để lại.
2. Riêng với những người đang cầm bút, nó góp phần vào việc định
hướng sáng tác, tức là giúp cho các nhà văn hiểu thêm chính mình, tự nhận thức
con đường đi chỗ mạnh chỗ yếu và có thể cả những giới hạn của mình.
Hơn thế nữa, phải nói di sản đã vào trong câu trong chữ, trở
thành máu thịt của tác phẩm và làm nên hồn văn của mỗi tác giả nữa.
Trước mắt chúng ta là một bức tranh khá đa dạng. Tuy cùng bắt
rễ vào di sản chung của dân tộc song mỗi nhà văn nhà thơ hôm nay lại như một thứ
cây biết hút ra thứ chất bổ dành riêng cho mình, và đứng ngoài mà nhìn, phải
nói sự hoá thân của di sản vào các cây bút hiện thời quả có khá nhiều cung bậc.
Do chỗ rất thạo cả văn chương chữ Hán của ông cha lẫn nghệ thuật dân gian, những
điệu trống quân, cò lả, các điệu chèo… Khái Hưng tạo cho văn mình những nét duyên
dáng mềm mại, cũng như vẻ tự nhiên hiếm có. Với tư cách một hậu duệ của các nhà
nho tài tử, Nguyễn Tuân từ trẻ đã say mê cả Liêu Trai lẫn thơ Đường, về già lại
thường xuyên đọc lại các bộ sử cổ – việc này ảnh hưởng nhiều mặt tới ông và trước
tiên là việc ông dựng tạo cho mình một văn phong vừa cổ kính, vừa hiện đại.
Trên bầu trời văn học Việt Nam thế kỷ XX, Xuân thu nhã tập của nhóm Phạm Văn Hạnh,
Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh… chỉ thoáng qua như một tia chớp, song vấn đề mà
nó gợi ra lại có tầm vóc lớn, nếu như di sản dân tộc nói riêng, di sản
phương Đông nói chung không lớn lao quyến rũ, thì làm sao có thể tạo
ra được những bước thể nghiệm lạ lẫm như vậy? Trở lên là những ảnh hưởng của
văn học bác học. Đến như những ảnh hưởng phát đi từ văn học dân gian thì lại
còn lớn hơn nữa. Nguyễn Công Hoan cho thấy rằng lối nghĩ lối nói ranh ma táo tợn
của những Trạng Quỳnh, Trạng Lợn không phải là đã tuyệt diệt. Tố Hữu đưa ra một
thứ lục bát gần với tiếng nói của các bà bủ Phú Thọ để ca ngợi các anh Vệ quốc
quân. Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi dễ dàng như những truyện nôm khi đi và viết
về cải cách ruộng đất. Sơn Nam trong cảnh chiến tranh tài liệu thất bát mà vẫn
mày mò nghiên cứu giới thiệu công trình của các bậc tiền bối mấy thế kỷ qua ở
Nam Bộ và biết mang vào một thứ “hương rừng Cà Mâu” chất phác trong các sáng
tác của mình. Cho đến gần đây, lại thấy Nguyễn Duy như là ngả sang giọng xẩm hoặc
Nguyễn Huy Thiệp có những lúc làm cho người ta nhớ tới Hoàng Lê Nhất Thống chí.
Trong đoạn trên, chúng tôi đã ghi nhận sự tiếp nhận ảnh hưởng
nước ngoài như là nếp sống của cả thời đại. Thì hôm nay, lại có thể nói rằng việc
trở lại khai thác di sản, làm giàu cho di sản và làm giàu cho những trang viết
của mình… là một nếp sống còn phổ cập mạnh mẽ hơn trong những người sáng tác,
nhất là ở các thế hệ cầm bút lớp trước với các nhà văn mới bắt đầu viết mươi
năm gần đây, thì việc này hình như có hạn chế hơn (nhưng đây là chuyện còn phải
theo dõi và nghiên cứu cho kỹ mới kết luận được).
Vương Trí Nhàn
Nguồn: vuongtrinhan.blogspot.com
Theo https://www.trieuxuan.info/
|
Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2019
Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm
Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét