Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu
Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử phần 1
|
Lời đầu sách
Sinh thời, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử,
Nguyễn Bính chả mặn mà lắm về con đường nghệ thuật của nhau. Phát biểu về
nhau, đây đó, cũng có những lời cơm chưa thật lành canh chưa thật ngọt. Âu đó
cũng là sự thường. Xác tín nghệ thuật vốn là những chuyện hoàn toàn chủ quan,
mà những cá tính lớn lại vẫn thường cực đoan. Có thế thì họ mới đủ kiên định
dấn thân "tới bến" trên những nẻo đi riêng.
Dầu sao, sự ấy chỉ còn là câu chuyện
của thế kỷ trước.
Giờ đây, ở thế giới bên kia, hẳn
các vị đã rộng rãi vô tư với nhau hơn.
Còn ở thế giới bên này, tôi xin được
mời họ ngồi chung một chiếu. Trong các nhà Thơ Mới, Xuân Diệu thì "mới
nhất", còn Nguyễn Bính "quen nhất", trong khi Hàn Mặc Tử lại
"lạ nhất". Về sắc điệu trữ tình, một người là "thi sĩ của tình
yêu", một người là "thi sĩ của thương yêu", còn người kia là
"thi sĩ của đau thương". Người này cầm cờ nhóm "Xuân
Huy", người kia lĩnh xướng "dòng thơ quê", người còn lại cai
trị "trường thơ loạn". Tôi không định ép họ vào bộ "tam đa bất
đắc dĩ" của Thơ Mới. Nhưng tôi nghĩ, sau bao thăng trầm như thế, ba vị vẫn
nắm giữ ba kỷ lục lớn ấy, giờ ngồi chung một cỗ hẳn sẽ vui lắm! Họ sẽ quí
nhau và thương nhau hơn!
Thực mà nói, khi chọn những gương mặt
tiêu biểu nhất của Thơ Mới, người ta đã đưa ra những danh sách khác nhau. Người
này chọn top 9, người kia chọn top 7, lại có người chọn top 5, rồi top 4...
Dù 4 hay 5, 7 hay 9, có thể sót người này, có thể thiếu người kia, nhưng ở
đâu tôi cũng thấy danh sách không thể vắng mặt Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc
Tử. Nếu vắng họ, Thơ Mới sẽ ra sao nhỉ? Thật không thể hình dung nổi. Có thể
gọi đó là ba cái chân kiềng của Thơ Mới. Nhưng, tôi thích hình dung họ là đỉnh
"Tam đảo", "Ba vì" của Thơ Mới hơn.
Tôi chọn top 3 này là bởi thế.
Tuy được viết có phần phóng túng
theo lối tiểu luận pha chân dung, và phần viết về từng vị mang những tiêu đề
không giống nhau, nét đậm nét nhạt ở mỗi người cũng không phải nhất nhất như
nhau, nhưng về thực chất, đều là sự tiếp cận Thế giới nghệ thuật của mỗi thi
sĩ.
Nghĩ cũng vui, ở thời thị trường
này, mỗi mốt mới loang đi thật siêu tốc. Dạo một loáng đường có thể gặp nhan
nhản Thế giới giày, Thế giới kính, Thế giới mũ, Thế giới thời trang, Thế giới
vi tính... Vào một sạp sách cũng Thế giới âm nhạc, Thế giới phụ nữ, Thế giới
Đẹp... Một lĩnh vực hẹp như nghiên cứu phê bình văn chương cũng khá tràn lan:
Thế giới nghệ thuật thơ, Thế giới nghệ thuật nhà văn, Thế giới nghệ thuật Nam
Cao, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Tố Hữu...
"Thế giới nghệ thuật" phải
chăng là một cái mốt thời thượng?
Không hẳn.
Từ lâu nó đã được sử dụng trong tiếp
nhận nghệ thuật. Nó được dùng khi con người có nhu cầu diễn đạt ý niệm về cái
chỉnh thể bên trong của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác
phẩm, toàn bộ sáng tác của một tác giả, một vệt thể loại đi xuyên sự nghiệp một
tác giả, một trào lưu...). Có nhiều cách quan niệm về Thế giới nghệ thuật của
người nghệ sĩ. Thi pháp học xem đó là một thế giới được tạo ra trong nghệ thuật.
Nó hoàn toàn khác thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người
dù nó phản ánh thế giới ấy. Cụ thể, mỗi thế giới nghệ thuật như một mô hình
nghệ thuật về thế giới, ứng với một cách quan niệm, một cách cắt nghĩa về thế
giới. Thế giới nghệ thuật như thế bao gồm một quan niệm nghệ thuật về con người,
một không gian nghệ thuật riêng, một thời gian nghệ thuật riêng, và một hình
thức ngôn ngữ tương ứng. Có người quan niệm thế giới nghệ thuật là chỉnh thể
bao gồm một quan niệm thẩm mỹ, một hệ thống đề tài được tiếp cận và xử lý theo những khuynh hướng nghệ thuật nào đó. Lại có người cho rằng thế giới nghệ
thuật là một chỉnh thể bao gồm hai hệ thống hình tượng chính: hình tượng cái
tôi và hình tượng thế giới được biểu hiện trong một hình thức ngôn từ nhất định.
Mỗi quan niệm đó đều dựa trên những lý lẽ riêng, chúng khắc phục và làm giàu
lẫn nhau.
Thế giới nghệ thuật được nói đến ở
cuốn sách này chính là thế giới nghệ thuật của một nhà văn. Nó bao giờ cũng
là một chỉnh thể, có cấu trúc nội tại, được kiến tạo theo một nguyên tắc thống
nhất, theo những qui luật riêng. Tìm hiểu một nhà văn không thể không tiếp cận
thế giới nghệ thuật của anh ta trên tính thống nhất toàn vẹn đó. Mà, xét đến
cùng, thế giới nghệ thuật của nhà văn chính là một thế giới hình tượng sống động
(với tất cả tính phong phú đa dạng và tính hệ thống tinh vi của nó), chứa đựng
một quan niệm nhân sinh và thẩm mĩ nào đó, được xây cất bằng vật liệu ngôn từ.
Như vậy, thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ vừa là hiện thân của tư tưởng và
thi pháp nhà văn. Thế giới ấy tất cũng vận động, biến chuyển theo sự vận động
biến chuyển của tư tưởng nghệ sĩ. Bởi thế, nó dứt khoát là một kiến trúc vừa
tĩnh vừa động. Diện mạo của thế giới nghệ thuật chính là bức chân dung tinh
thần của người nghệ sĩ.
Tiếp cận thế giới nghệ thuật của ba
đỉnh cao này, tôi đã chọn điểm xuất phát là quan niệm ấy.
Thế giới nghệ thuật của một thi sĩ
Lãng mạn [1] có thể qui về ba hệ thống hình tượng chính là: Tôi - Người Tình
- Thế giới. Đối với các nam thi sĩ, bộ ba đó thường là: Tôi - Em - Thế giới.
Trong đó, hình tượng cái tôi là hạt nhân, là mấu chốt. Vì tiếng nói lãng mạn,
trước hết, là tiếng nói của cái tôi. Khát vọng tinh thần quan trọng vào bậc
nhất của một cái tôi Lãng mạn còn có thể là gì khác hơn tình yêu. Nên người
tình là một đối ảnh của cái tôi ấy, cả hai gắn với nhau như hình với bóng.
Và, tất nhiên, như ở bất cứ phạm trù văn học nào, hai con người kia bao giờ
cũng tồn tại trong một thế giới nhất định. Thế giới ấy gồm cả thiên nhiên và
cuộc đời. Cái tôi Lãng mạn có lẽ đã đồng hoá thế giới theo lối chủ quan nhất.
Nó thành thế giới của cái tôi, thế giới trong cái tôi. Diện mạo của hình tượng
thế giới, do vậy, là sự phóng chiếu theo những kiểu nào đó của cái tôi kia.
Có thể sự đậm nhạt của mỗi hình tượng đó ở từng thi sĩ không như nhau, nhưng
bộ ba ấy khó mà thiếu được nhau. Cho nên Tôi - Người Tình - Thế giới đối với
một thi sĩ nói chung, thi sĩ Lãng mạn nói riêng bao giờ cũng là tam diện nhất
thể.
Nhìn kỹ vào từng cá thể của bộ ba
hình tượng kia, đều có thể thấy mỗi một hình tượng bao giờ cũng là một chỉnh
thể tạo bởi sự thống nhất của các đối cực, bao gồm cả tương tranh và chuyển
hoá lẫn nhau. Mỗi hình tượng là một nhất thể trên cơ sở đa nguyên. Các đối cực
như thế là nền tảng cho tính thống nhất trong một chỉnh thể nghệ thuật.
Tôi đã cố gắng đi vào vương quốc của
từng vị theo cái mô hình nôm na ấy về thế giới hình tượng của họ.
Tác giả lớn được tạo bởi những tác
phẩm lớn. Nói ở một chiều khác, những phẩm chất nghệ thuật lớn phải kết tinh
vào những tác phẩm lớn. Mỗi một đỉnh cao được đề cập ở đây sẽ được soi rọi kĩ
hơn vào những tác phẩm thực sự là đỉnh cao của họ. Đây cũng là dịp chúng ta
hình dung tầm vóc vĩ mô của mỗi vị qua thế giới vi mô. Sau phần viết về mỗi
thi sĩ đều có phần viết về những thi phẩm xuất sắc nhất của họ. Tất nhiên,
danh sách những tác phẩm như thế ở đây vẫn có thể nối dài thêm.
Cuốn sách hoàn thành cũng nhờ được
sự cổ vũ nhiệt tình và góp ý kiến quí báu của nhiều người. Nhân đây, người viết
xin bày tỏ lời cám ơn đối với những bậc thầy, thân nhân, bạn hữu và nhà xuất
bản đã tạo nhiều điều kiện cho cuốn sách được ra đời.
Với khả năng còn hạn chế, chắc chắn
cuốn sách còn có sai sót, người viết mong được người đọc gần xa chỉ giáo
thêm, nhờ đó, hi vọng lần in sau sách sẽ được hoàn thiện hơn.
Văn chỉ, đầu hạ Quí mùi 2003
Tác giả
Xuân Diệu tù nhân của chữ Tình
1. Phiếm đàm về cái tên Xuân Diệu
Nhiều khi tôi cứ nghĩ lẩn thẩn:
Xuân Diệu chỉ có thể là... Xuân Diệu.
Cái tên của một con người căn bản
là võ đoán. Cha mẹ đặt cho thì cứ đặt vậy chứ nó có chế định gì đến tính cách
hay số phận của người ấy đâu. ấy thế rồi dần dần nó thành cái mũ đội lên một
đời người, đúng như cách hình dung của Gamzatôp. Người biết sống phải làm
vinh danh cho cái tên của mình. Sống sao cho xứng danh. Cứ thế, ngày lại
ngày, cái tên lại có một sức chi phối vô hình nào đó với đời sống của người
mang tên ấy.
Cũng na ná như thế (na ná thôi!) là
bút danh của nhà văn. Nó là yếu tố hoàn toàn nằm ngoài thế giới nghệ thuật của
anh ta. Nhưng rồi cùng với thời gian hay cùng với một nguyên nhân quỉ quái
nào đó, nó lại trở thành một phần hợp nên cái chỉnh thể nghệ thuật ấy. Không
phải chỉ như một cái tem, cái nhãn, cái biển dán lên một kiện hàng, một căn
nhà, một khu vườn... người ta có thể bóc đi hay thay thế tuỳ thích. Trái lại,
nó thực sự thành một cái gì như là máu thịt, như là hồn vía của một cõi tinh
thần mà người ấy để lại. Nó gắn bó đến nỗi: nếu chỉ cần thay đổi cái tên kia
đi, thì chúng ta thấy mất mát nhiều lắm, nếu không nói là cái thế giới nghệ
thuật kia cơ chừng biến dạng. Thử hình dung tác giả của những bài thơ Mời trầu,
Bánh trôi nước, Chơi đu, Khóc ông Phủ Vĩnh Tường, Thiếu nữ ngủ ngày... lại
không có cái tên là Hồ Xuân Hương thì sẽ ra sao nhỉ? Rồi tác giả của cái chùm
Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm lại không có tên là Nguyễn Khuyến, tác giả của những
Chí Phèo, Sống mòn, Lão Hạc... lại không có tên là Nam Cao, tác giả của Gió lạnh
đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan, Hai đứa trẻ, Cô hàng xén, Đêm ba mươi, Nắng
trong vườn... lại không có tên là Thạch Lam v.v... thì như là không thể hình
dung nổi. Nó phải thế, không thể khác thế.
Có quy luật nào đây? Ban đầu cái
tên tác giả chỉ như một danh xưng để tránh lẫn lộn. Để xác định chủ quyền của
kẻ sáng tạo. Thế rồi nó thành một sinh thể nghệ thuật. Cái tên hùn sức sống
vào thế giới nghệ thuật ấy. Đến một ngày kia thì chính thế giới nghệ thuật đó
lại đem sức sống cho cái tên. Nói đúng hơn, chúng truyền sức sống cho nhau. Bạn
sẽ bảo: do kí ức của người đọc cả thôi. Đúng thế, chính là bởi kí ức vốn ưa
những "nhập nhằng" của người đọc mà hình thành một qui luật tiếp nhận
oái oăm thế. Qui luật gì vậy? Còn có thể là gì ngoài sự chuyển hoá và đồng
hóa giữa Tên và Người, giữa Văn và Người. Nó là dấu hiệu ấu trĩ của trình độ
đọc văn chăng? Không. Đó là mối liên hệ tương sinh đẹp đẽ thuộc về cơ chế đồng
sáng tạo của người tiếp nhận.
Và câu hỏi của chúng ta: nếu tác giả
của những Thơ Thơ và Gửi hương cho gió, Phấn thông vàng, Trường Ca... lại
không phải mang cái tên Xuân Diệu thì sẽ ra sao? Chắc sẽ khó mà hình dung được.
Nó sẽ là một sự trái khoáy, thậm chí quái gở vậy.
Tôi cho rằng riêng trường hợp Xuân
Diệu, thi sĩ của Tình yêu, thì xem ra cái tên còn như là tiền định nữa. Biết
đâu đấy?
Khác với tên người vốn do cha mẹ đặt
cho, bút danh nghệ sĩ thường là tự đặt. Dấn thân vào nghiệp bút nghiên, nhiều
người vẫn loay hoay tìm cho mình những bút danh ưa thích để gửi gắm những ẩn
ý, có lúc như một kí thác thiêng liêng, một tín niệm bí hiểm, có khi lại chỉ
là một trò tinh nghịch ngộ nghĩnh. Xuân Diệu không thế. Bút danh Xuân Diệu vốn
là tên cúng cơm (đầy đủ là Ngô Xuân Diệu). Đặt cho con trai mình cái tên khai
sinh ấy, người cha vốn là ông đồ Nghệ đâu có định tiên liệu xa xôi gì về
tương lai của nó. Cho nên, xem chừng cái tên Xuân Diệu thuộc về sự lựa chọn của
một duyên nghiệp hơn là của một người cha. Trong đó như chứa sẵn cả cái bản mệnh,
cái căn số của một kẻ rồi đây sẽ thành thi sĩ ái tình rồi vậy.
Thì cái lõi của Xuân là Tình. Mùa
xuân đối với vạn vật chẳng phải là mùa tình sao? Mà không chỉ là sự qui nạp
giản đơn giữa ngôn từ và thực tại như thế không thôi. Chữ xuân vẫn được dùng
với rất nhiều nghĩa, mà chẳng biết thật chính xác nghĩa nào có trước nghĩa
nào có sau. Ngoài những nghĩa thông dụng chỉ thời gian của trời đất (mùa
xuân), thời gian của tuổi người (tuổi xuân), còn nhiều nghĩa liên quan đến
"tình sự" của con người. Có khi là chỉ việc ân ái (chúng em việc
xuân chưa trải, nhụy thắm còn phong - Truyền kì mạn lục), chỉ cái nõn nường của
con người (Chơi xuân có biết xuân chăng tá / Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không - Đu,
Mười hai bà mụ ghét chi nhau / Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu - Quan thị), có
khi lại chỉ lạc thú tình ái (Mặc người mây Sở mưa Tần / Những mình nào biết
có xuân là gì - Kiều; Đá kia còn biết xuân già giặn / Chả trách người ta lúc
trẻ trung - Vịnh ông Chồng bà chồng). Trong Hán ngữ đại từ điển, thì nghĩa thứ
sáu của chữ Xuân là chỉ tình dục nam nữ [2] . Chả biết, ngẫu nhiên được suy
thành tiền định hay tiền định thường mang bộ mặt ngẫu nhiên, mà Xuân lại
chính là Tình như thế? Ai dám chắc rằng chỉ hoàn toàn là ngẫu nhiên?
Phải chăng thần tình ái đã nhập vào
chữ Xuân trong cái tên cha sinh mẹ đẻ của thi sĩ để làm một cuộc đày ải vừa
huyền nhiệm vừa bí hiểm đối với hồn thơ này? Phải chăng chữ Xuân kia là một
thứ bùa phép vô hình?
Nếu chỉ dừng ở đó không thôi, e rằng
chỉ thuần là chuyện phiếm.
Cái tên ấy, oái oăm thay, lại cặp với
một khía cạnh sâu xa kín khuất khác: con người tự nhiên của Xuân Diệu.
Lý giải một nghệ sĩ, chúng ta thường
chỉ chú trọng đến con người xã hội mà ít lưu tâm đến con người tự nhiên. Đành
rằng xã hội là bình diện quan trọng. Nhưng con người tự nhiên không phải là
không can thiệp rất sâu vào sáng tác của một nghệ sĩ. Mà lắm khi, chính con
người tự nhiên bẩm sinh kia mới là nền tảng gốc rễ. Người ta đã nói rất nhiều
đến bệnh đồng tính của những nghệ sĩ nổi tiếng. Và thấy ra "căn bệnh"
đã chi phối một cách ngấm ngầm cảm xúc và cảm hứng sáng tạo của họ.
Những người gần Xuân Diệu cũng đã
nói nhiều về cái "Tình Trai" [3] của ông. Nghĩa là do một cơ cấu
tâm thể bẩm sinh thế nào đó mà ở Xuân Diệu không chỉ có khao khát ái tình đối
với người khác giới, mà còn có cả khát khao với người cùng giới. Ngoài
"tình gái", còn có cả "tình trai". Cả hai đều mãnh liệt.
Càng về sau, "tình trai" có phần mạnh hơn. Mà trong thực tế, cả hai
niềm khát khao này chả mấy khi được đáp ứng. Càng mãnh liệt lại càng vô vọng,
càng vô vọng lại càng mãnh liệt. Nên nó thực sự là một bi kịch trong lòng
Xuân Diệu. Nghĩa là nó luôn tồn tại trong ông như một cơn khát dai dẳng không
chịu lìa bỏ, không chịu buông tha. Lúc nào cũng chì chiết bức xúc. Lúc nào
cũng dày vò hành hạ. Về con người đời thường, đó là một thiệt thòi, một đau
khổ [4] . Nhưng về con người nghệ sĩ, thật oái oăm, nó lại có vai trò của một
tố chất bẩm sinh. Thậm chí, nó là một phương diện - phương diện ngang trái -
làm nên tài năng khác thường của Xuân Diệu. Cái nhìn phân tâm học của Phreud
cũng đã giúp con người soi sáng hiện tượng này. Những nhu cầu, đòi hỏi mãnh
liệt bị dồn nén thành những bức xúc, những ẩn ức bao giờ cũng tìm cách giải
toả ở một lĩnh vực nào đó một cách vô thức. Trường hợp một nghệ sĩ, thì nó giải
toả trong thế giới huyễn tưởng của cõi sáng tạo. Cách giải toả là thăng hoa
trong hưng phấn nghệ thuật. Do nhu cầu giải toả là một cơn khát không bao giờ
nguôi ngoai, nên, đương nhiên, nó thành một nguồn trữ lượng không bao giờ vơi
cạn dành cho nghệ sĩ. Chính cơn khát ấy đã xui khiến Xuân Diệu của chúng ta
tìm đến thơ tình như một giải toả, một thăng hoa vô bờ bến.
Cố nhiên, sẽ thật ngớ ngẩn khi bảo
rằng: cứ mang bi kịch này tất trở thành nghệ sĩ.
Thành hay không còn phụ thuộc vào
con người xã hội trong anh ta nữa. ở trường hợp Xuân Diệu, thì cái khía cạnh
giời đày ấy đã thực sự là một động lực quan trọng. Con người tự nhiên và con
người xã hội trong ông đã chuyển hoá và giáo hoá nhau như thế nào đó, để cuối
cùng chúng chỉ hiện ra trong cùng một tiếng nói chung, tiếng nói của một hồn
thơ dồi dào bao khát khao luyến ái. Phải, dù nguyên uỷ là tình nào -
"tình gái" hay "tình trai"- đi nữa, thì khi đã thăng hoa
vào nghệ thuật, hoá thân vào những thi phẩm làm say lòng người, nó chỉ có một
diện mạo duy nhất đó là niềm luyến ái sôi nổi, mãnh liệt khôn thoả khôn
nguôi. Bấy giờ, làm sao phân biệt được. Mà phân biệt để làm gì?
Đã nghĩ về chuyện này, không thể
không đối diện với những thói thường. Nhiều người cứ sợ đọc văn chớ nên gặp
người, chớ nên biết kĩ về người, bởi như thế sẽ có hại cho cả đôi bên. Nhưng
trường hợp có hại chỉ xảy ra với ai mà con người thực không đủ sức bảo hành
cho phát ngôn của họ thôi, chỉ những ai mà tư cách không đủ sức làm trữ kim
cho sáng tác thôi. Còn thì có phương hại gì đâu. Biết thêm về cuộc đời của
Xuân Diệu, kể cả những chuyện kín chuyện hở của ông nữa... có ảnh hưởng gì đến
tình yêu ta dành cho thơ ông đâu. Thậm chí biết rõ hơn, chúng ta càng thấy
thương, thấy quý ông hơn. Sợ thế, là có phần ngây thơ, coi thường người đọc,
và cũng chưa thấu triệt khả năng sàng lọc mang tính thanh lọc riêng của tiếp
nhận nghệ thuật. Vả lại, không chịu biết tới những điều này thì cũng khó mà
lí giải được thấu đáo bao nét độc đáo của thơ Xuân Diệu. Nhà văn Tô Hoài đã
có nhận xét rất tri âm về bạn mình: "Xuân Diệu có một tình yêu riêng
không bao giờ biết tuổi, từ xa xưa đến giờ vẫn tơ vương, vẫn thanh xuân, vẫn
thiết tha.". Và đã có những lời khuyến cáo thật đáng ghi nhớ đối với người
đọc: "Ai yêu thơ Xuân Diệu, hiểu được thơ tình não nùng của Xuân Diệu,
không phân biệt trai gái, phải thấu nỗi niềm và duyên nợ của nhà thơ, suốt đời
nhớ thương và chờ đợi. Không bao giờ sầu não thất vọng, không bao giờ già,
mãi mãi ban đầu." [5]
Nói vậy, cũng cần dè chừng một
khuynh hướng không thật vô tư khi đề cập đến hiện tượng đồng tính ở Xuân Diệu.
Gần đây một vài bài báo không giấu được sự thích thú khi khui ra những
"bí mật đời tư" kiểu ấy của Xuân Diệu. Lối đưa tin thóc mách cứ như
đang "bật mí" chuyện gì động trời lắm. Thực ra, họ đang lấy những
chuyện đáng được thông cảm của một con người ra để rao bán. Họ biến những
chuyện sâu kín và cả những đau khổ nữa của một thi sĩ đáng kính ra "kiếm
chuyện làm quà" để tặng cho thói tò mò của đám độc giả ưu tọc mạch. Họ
không giấu được cái giọng khoái chí khi "ngớ người" ra rằng rất nhiều
thơ tình Xuân Diệu có gốc từ... tình trai. Làm như là tình trai thì những thi
phẩm ái tình ấy chả còn mùi mẽ nghĩa lí gì vậy. Chúng ta cám ơn những bạn hữu
của Xuân Diệu đã cho người đọc biết những điều kín khuất, đặng lí giải sâu sắc
hơn về văn nghiệp của thi sĩ. Nhưng chúng ta không khỏi đau buồn và xấu hổ
khi thấy đây đó những nụ cười khoái trá kiểu như vậy của những kẻ "buôn
chuyện".
Thực ra, đọc Thơ thơ và Gửi hương
cho gió làm sao có thể bảo được bài này là tình trai, bài kia là tình gái!
Làm sao có thể căn cứ vào tên người được Xuân Diệu đề tặng toàn là đàn ông để
khẳng định hàm hồ rằng các thi phẩm ấy là kết quả của những tình yêu đồng
tính! Vả lại, cứ cho đó là tình trai đi, thì khát khao luyến ái ấy không phải
khát khao của con người hay sao? Khát khao luyến ái dành cho đối tượng nào chẳng
là luyến ái. Có gì không chính đáng và lành mạnh đâu! Cái nhìn phi nhân bản,
phi nhân văn dễ coi đó là lạc loài, quái gở. Đừng kì thị thế. Người đồng tính
cũng là con người. Tình cảm trong lành của họ cũng là tình cảm của người. Đừng
vì sự may mắn của mình mà vô tâm với những đồng loại rủi ro. Huống chi, dù xuất
phát từ mối luyến ái nào đi nữa, khi nó đã kết tinh thành những tiếng thơ làm
say mê người đọc bao thế hệ, thì nó vẫn cứ là những tiếng lòng chân chính
đáng được chia sẻ trân trọng.
2. Chữ Tình của Xuân Diệu
Trong đời có khối người mang chữ
Xuân trong tên mình. Nhưng mấy ai có cái đời bị cột chặt vào chữ Tình như
Xuân Diệu đâu?
Sinh ra là để dành cho thơ Tình, từ
lâu, Xuân Diệu đã được người ta phong tặng những danh hiệu xứng đáng: nào
hoàng tử của tình yêu, nào ông vua thơ tình, nào đệ nhất tình nhân...! Những
danh hiệu được tấn phong kia không chỉ do cao hứng. Trái lại, hoàn toàn có
căn cứ ở số lượng và chất lượng, ở tính chất và tinh chất, ở nồng độ và cường
độ của tiếng thơ Xuân Diệu viết về tình yêu.
Tôi không định nói lại ở đây những
điều đã quá quen ấy.
Và nếu chỉ nói thế không thôi cũng
coi như chưa nói gì nhiều về Xuân Diệu vậy.
Tôi muốn đề cập Xuân Diệu ở một
bình diện khác: riêng một chữ Tình thôi.
Ban đầu, chữ tình kia là một đặc sản
oan trái của con người Xuân Diệu. Về sau, khi đã lâm vào cõi sáng tạo, thì
chính chữ tình ấy đã làm nên diện mạo và tầm vóc Xuân Diệu. Nói khác đi chữ
tình này đã sáng tạo nên Xuân Diệu. Nó vừa năn nỉ khiêu gợi vừa ngoảnh mặt phụ
bạc. Nó biến Xuân Diệu thành vị hoàng tử của vương quốc ái tình, cũng khiến
ông luôn bị vây khốn và lưu đày trong vòng ái ân. Nó biến ông thành tình nhân
mà cũng thành nạn nhân của tình ái. Nó buộc ông thành thi nhân đồng thời
thành triết nhân của tình yêu. Cho nên, nói Xuân Diệu là tù nhân của một chữ
Tình có lẽ đầy đủ hơn - tù nhân tự nguyện mà cũng là định mệnh. Như là nghiệp
dĩ vậy. Thi sĩ đã đăng quang và đã bị cầm tù trong cùng một chữ tình. Ra
ngoài chữ tình, Xuân Diệu không còn thực là Xuân Diệu nữa. Xuân Diệu đánh mất
mình. Chỉ có điều cần phải hiểu đầy đủ về chữ tình kia như thế nào thôi. Nhìn
nhận về một chữ tình đầy quyền năng đó của thi sĩ chính là điều cốt yếu của
bài viết này.
Hãy bắt đầu từ Cảm niệm triết học của
Xuân Diệu.
Trong sáng tạo nghệ thuật, vẫn có một
vấn đề được gọi là Cảm niệm triết học. Đó là quan niệm triết học đã hoá thân
vào cảm quan nghệ thuật của người nghệ sĩ. Nó không tồn tại dưới dạng một ý
thức triết học hàn lâm, mà là thứ triết học nghiệm sinh, được nảy nở và tồn
sinh từ trải nghiệm trong trường đời của kẻ sáng tạo. Nó tồn tại trong nghệ
thuật và bằng nghệ thuật. Nó là sự thống nhất cả quan niệm nhân sinh lẫn quan
niệm mĩ học của nghệ sĩ. Nếu khía cạnh nhân sinh chủ yếu là quan niệm riêng về
hạnh phúc, thì khía cạnh thẩm mỹ lại chủ yếu là quan niệm riêng về cái đẹp.
Chúng chuyển hoá sang nhau. Ngòi bút nghệ sĩ chuyển động một phần rất lớn là
bởi lực tác động của cảm niệm này. Vì thế, nó là nền móng, là xương cốt của một
thế giới nghệ thuật. Nó là phần triết nhân ngay trong con người thi nhân. Bước
vào một thế giới nghệ thuật mà chưa khám phá điều đó thì không thể hình dung
được thực sự diện mạo độc đáo của nó.
Nhưng cảm niệm triết học của Xuân
Diệu không phải là một sản phẩm rơi xuống từ trời. Trái lại, nó được nảy nở
và tưới tắm trong thời đại của mình: thời đại Thơ Mới.
Cuộc cách tân hùng hậu trong nghệ
thuật của Thơ Mới bắt nguồn từ một cuộc đổi thay vĩ đại trong quan niệm nhân
sinh và thẩm mĩ. "Đầu têu" là ý thức cá nhân. Điều này không có gì
mới nữa. Tôi sẽ không lí giải sự ra đời của ý thức này. Đó là việc đã được luận
giải ở nhiều công trình khác. Có điều là, nói đến ý thức này, nhiều khi chúng
ta cứ yên chí với sự chung chung. Đúng là thời đại Thơ Mới là thời đại của
cái Tôi. Nhưng điều cốt yếu của cái Ta và cái Tôi là gì? Tiếng nói thường trực
của chúng là gì? Những câu hỏi ấy không phải lúc nào cũng có những lời đáp
cho thật rành mạch. Thực tế, trong mỗi con người, về căn bản, nếu ý thức cộng
đồng là tiếng nói của Bổn phận, thì ý thức cá nhân về căn bản là tiếng nói của
Khát vọng. Chúng song hành theo tương quan vừa chuyển hoá, vừa tương tranh
nhau. Nếu Bổn phận lấy hi sinh bản thân làm hạnh phúc, thì Khát vọng lấy việc
được là mình làm hạnh phúc. Trước đó, trong đời sống tư tưởng của con người
Việt Nam, ý thức cá nhân luôn bị che khuất, bị chèn ép đến cớm nắng, còi cọc.
Nó èo uột đến tưởng chừng không có. Lúc này, nó trỗi dậy. Nó đòi sống. Đòi được
sống và được đi đến tận cùng những quan niệm riêng, những sở trường, những
khao khát riêng của mình. Chưa bao giờ như lúc này, người ta mới thấy quí cái
nhân thân, nhân dạng, nhân vị và nhất là nhân cách của mình đến thế. Người ta
mới thấy tiếc mình, xót mình đến thế. Người ta mới thiết tha với việc được là
mình. Mới thấy khuất mình trong bóng tối ngàn năm là vô lí, hoà tan đến mức
tan biến vào đám đông không tên là bi kịch, trở thành những phiên bản phi căn
cước là đau khổ. Hơn bao giờ hết, khoa học và triết học mới tiếp thu được đã
giúp cho người ta nhận thức sâu sắc về cá nhân trước nhân thế, thời thế, và
thân thế của mình. Con người thấu rõ hơn bao giờ hết cái hữu hạn, cái mong
manh, cái phù du đến tàn nhẫn của nhân sinh. Càng đối diện với sự vô nghĩa của
kiếp người, người ta càng muốn gia tăng ý nghĩa cho đời người. Phải làm tròn
bổn phận. Nhưng cũng phải thực hiện khát vọng. Không thể đánh mất mình. Phải
được là mình. Phải dám là mình. Toàn xã hội cơ hồ bừng tỉnh. Y như cá nhân
bây giờ mới được xã hội lần đầu tiên phát hiện. Có thể nói, đó là cuộc trỗi dậy
lần thứ nhất của ý thức cá nhân ở xứ ta (sự trỗi dậy thứ hai chính là sau cuộc
chiến chống Mỹ - tất nhiên, theo một kiểu khác, một tính chất khác). Theo đó,
một quan niệm hạnh phúc mới cũng chính thức nảy sinh: được là mình, được hết
mình đó là hạnh phúc. Thơ Mới chính là tiếng nói trữ tình của sự bừng tỉnh
đó. Tuy nhiên, không chỉ có niềm hân hoan một bề. Song hành với niềm hoan hỉ,
cũng còn bao băn khoăn dằn vặt nữa. Âu đó cũng là quy luật.
Dường như, mỗi một cuộc bùng nổ thực
sự về văn hoá đều đánh dấu một sự trưởng thành nào đó trong ý thức cá nhân.
Màu sắc cá nhân mỗi thời một khác. Có thể nói sự đồng khởi về ý thức cá nhân
bấy giờ cũng là sự bùng nổ của ý thức Trẻ. Nếu coi Thơ Mới là một cuộc cách mạng,
thì đó là cuộc Cách mạng Trẻ. Tôi không muốn dùng chữ Tuổi trẻ, vì chữ này
không bao hết, do đó có thể gây hiểu lầm.
Người ta thường nhìn sự bùng nổ của
Thơ mới chỉ như cuộc giao tranh Mới - Cũ. Động lực làm nên cách mạng là xung
đột Mới - Cũ. Điều này là đúng. Tương tranh liên tục giữa Cũ và Mới luôn là một
động lực muôn thuở của tiến hoá và tiến bộ. Và bản thân chữ "Thơ Mới"
cũng đã chứa đựng ý niệm đó.
Nhưng, tôi muốn nhìn thêm ở khía cạnh
khác: xung đột Già - Trẻ.
Đừng vội cho rằng tôi định gây chia
rẽ thế hệ. Điều tôi định nói không hẳn là xung đột giữa thế hệ trẻ - thế hệ
già, cũng không hẳn tuổi trẻ - tuổi già. Mà xung đột giữa thế giới Trẻ - thế
giới Già. Cội nguồn của nó là ý thức trẻ - ý thức già, trìu tượng hơn một
chút là: chất trẻ - chất già. Suốt hàng mấy nghìn năm, thời gian vẫn trôi,
các thiên niên kỉ vẫn nối đuôi nhau lừng lững trôi qua, mà xã hội hầu như
không thay đổi. Tình trạng được Tố Hữu gọi là "không đổi nhưng mà trôi cứ
trôi" [6] khiến cho xã hội trở thành già nua, cằn cỗi. Một thế giới già
nua trường cửu. Thống ngự toàn xã hội là một hệ ý thức văn hoá thẩm mĩ đã trở
nên già cỗi, thủ cựu. Chính nó bóp nghẹt sự phát triển. Chất trẻ, dòng máu trẻ,
luồng sinh khí trẻ cứ sớm bị lão hoá, ngưng trệ, tê liệt. Tình trạng phong bế
mãn tính. Cuộc tiếp xúc với Phương Tây hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tạo
ra một thời buổi gió Âu mưa Mĩ điên đảo. Nhưng nào ngờ, đó lại là cơ hội ngoài
ý muốn của kẻ ngoại xâm. Cái dòng máu và luồng sinh khí trẻ đã tụ thành cái mầm,
vốn náu đâu đó, liền hấp thu ngay những dưỡng chất cho mình từ chính những
cơn mưa gió điên đảo ấy để tạo nên một sức trẻ cường tráng mà xé toang cái lớp
vỏ già nua. Thế là, sức trẻ trong cơ thể dân tộc đã bùng lên xé bỏ lớp vỏ
già. Thế giới trẻ giao tranh với thế giới già. Một cuộc cải lão hoàn đồng, một
cuộc lột xác. Nhìn bề ngoài cũng có thể thấy, không phải ngẫu nhiên mà, về mặt
chủ thể sáng tạo, văn hoá hiện đại được làm nên bởi những người trẻ, phong
trào Thơ mới được làm bởi những người trẻ. Nhà thơ Hoàng Hưng xác nhận:
"lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, thế hệ trẻ đồng thanh cất cao giọng
khẳng định mình trước sự lỗi thời của già nua, thủ cựu. Sức sống tươi mới dài
lâu của Thơ Mới là ở đó" [7] . Công chúng của thơ Mới cũng là công chúng
trẻ. "Ngày nay người thanh niên Việt Nam đang đi tìm thi nhân của mình
như con đi tìm mẹ" - Lưu Trọng Lư hoàn toàn đoan chắc như vậy. Không chỉ
chuyện lực lượng. Nhìn sâu hơn vào các bình diện thuộc về bản thể của Thơ Mới,
cũng đều thấy rất rõ nó thuộc về Trẻ. Sự khác biệt mười mươi giữa "các cụ
ta" và "chúng ta" về thị hiếu thẩm mĩ, về luyến ái quan, về điệu
sống... được vạch ra một cách táo tợn trong bài diễn thuyết của Lưu Trọng Lư tại
Hội khuyến học Qui nhơn tháng 6-1934, về thực chất, là sự khác biệt giữa ý thức
già và ý thức trẻ [8] . Không phải ngẫu nhiên mà phát súng đầu tiên bắn vào
thành trì của thơ Cũ, cú mổ chí mạng thứ nhất làm thủng cái vỏ đá vôi của thơ
cũ lại chính là bài thơ của Phan Khôi. Bài thơ có tên là Tình Già nhưng kì thực
lại nói đến một thứ Tình Trẻ. Nó như một "xúc phạm" đối với điệu cảm
xúc già nua. Nó là sự châm ngòi khai chiến của nguồn sống trẻ đầy xung lực với
cái thế giới già cỗi lỗi thời.
Cái Tôi cá nhân cá thể của Thơ Mới
là tiếng lòng trẻ, nguồn sống trẻ, điệu sống trẻ.[Wd1]
Nhìn tổng thể, Trẻ là động lực cách
tân, là mục tiêu cách tân. Về mặt tự nhiên, Trẻ là đại diện cho tiến hoá. Về
mặt xã hội, Trẻ là đại diện cho tiến bộ, tức là lực lượng và tinh thần của cải
cách và phát triển. Về mặt triết học, trẻ là cái tất sẽ nảy sinh khi cái già
đã hoàn mãn - nghĩa là kết thúc chu trình tồn tại của nó. Về mặt thẩm mĩ, lúc
này, trẻ là chuẩn mực của cái đẹp. Trẻ là cốt tuỷ của đẹp. Cái đẹp được phát
hiện và cảm nhận bởi cái nhìn trẻ. Trẻ là chủ thể (thế hệ thi sĩ trẻ), trẻ là
công chúng (lớp trẻ đi tìm thi nhân của mình), trẻ là nội dung (cảm xúc trẻ),
trẻ là đối tượng bao trùm (phát hiện vẻ đẹp trẻ, khám phá tinh thần trẻ), trẻ
là hình thức (tìm hình thức mới mẻ, làm trẻ những thể loại già nua, làm trẻ
ngôn ngữ...) [9] . Trẻ là một phạm trù thẩm mỹĩ mới. Trẻ là một nội dung văn
hoá mới. Trẻ hóa chính là hiện đại hóa.
Thực ra, già - trẻ vốn là xung đột
thường hằng trong đời sống một cộng đồng. Nhưng do thời điểm lịch sử, nó lại
trở thành một xung đột vĩ đại, có tính thời đại. Về đại cục, nó là xung đột
giữa hai thời đại, hai lớp người: thời đại cũ của lớp cựu học và thời đại mới
của lớp tân học. Có thể thấy trong mối xung đột thời ấy, có sự dồn nén rất
nhiều mâu thuẫn muôn thuở: Cũ - Mới, Lạc hậu - Tân tiến, Cổ hủ - Hiện đại, tuổi
Già - tuổi Trẻ... Nói đại cục là vì, nhìn cục bộ có thể thấy ngay trong lớp cựu
học không phải không có những mầm trẻ, trong khi giữa lứa tân học lại không
hiếm những đầu óc già cỗi thủ cựu. ở đây, tuổi tác cũng không phải là phân biệt
tuyệt đối. Bằng chứng là tác giả Phan Khôi, người khai hỏa cho cuộc cách mạng
trẻ này khi viết Tình già đâu còn là người trẻ tuổi nữa - sinh năm 1887, lúc
này ông đã ngoại tứ tuần, thậm chí săm sắp ngũ tuần rồi - cái chính là chất
trẻ, hồn trẻ trong họ Phan. Cho nên, cuộc cách mạng này là cuộc trỗi dậy, đồng
khởi của nguồn sống trẻ trong lòng dân tộc này, nhằm làm trẻ hoá gương mặt
già nua của đất nước nghìn năm.
Phát hiện đáng giá nhất về cá nhân
lúc này, hoá ra, là phát hiện về nguồn sống trẻ. Như thế, được làm cá nhân,
trước tiên và quan trọng nhất, là được sống trọn vẹn cái chất trẻ của mình.
Nguồn sống trẻ đã làm dấy lên trào lưu trẻ. Họ muốn trẻ cho mình và muốn trẻ
cho cả giống nòi. Trong xã hội bấy giờ có phong trào "vui vẻ trẻ
trung" bị thực dân lợi dụng, bị bẻ lái làm lệch mục tiêu. Nhưng, nhìn
toàn cục, trẻ vẫn là tinh thần phục hưng chân chính của thời đại đó.
Quan niệm của Xuân Diệu cũng thuộc
về "mẫu số chung "ấy.
Khẳng định thời đại Thơ Mới nói
chung và Xuân Diệu nói riêng đã phát hiện ra nguồn trẻ, tuổi trẻ có vẻ như một
điều vô lí. Cả loài người và từng con người từ thượng cổ đến giờ, trừ ít người
chết yểu, có ai không từng sống quãng tuổi trẻ của đời mình? Rồi cũng đâu có
ít những tư tưởng ca ngợi tuổi trẻ, khuyến cáo việc hưởng thụ tuổi trẻ? Nhưng
điều ngỡ như vô lí ấy lại là thực tế. Người ta vẫn nói: loài người đã yêu và
đã hôn nhau từ hàng ngàn năm nay, nhưng phải đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷỉ
XX, Rodin nhà điêu khắc Pháp thiên tài với hàng loạt bức tượng tình yêu vừa
hơ hớ nõn nường vừa thần tiên thanh khiết, mới lần đầu tiên phát hiện ra cái
hôn kì diệu đó sao? Cũng như thế Thơ Mới và Xuân Diệu đã phát hiện ra tuổi trẻ
bằng một tinh thần nhân văn trước đó hoàn toàn chưa thấy, bằng cái nhìn hoàn
toàn mới: cái nhìn cá nhân, cái nhìn trẻ.
Nhưng, đâu mới thực là "tử số
riêng" của Xuân Diệu?
Trước hết, có thể thấy cảm niệm triết
học của Xuân Diệu là cả một hệ thống khá toàn vẹn và sống động. Xuân Diệu có
ham muốn được trình bày công khai thành những tuyên ngôn. Nghĩa là con người
triết nhân trong Xuân Diệu cũng có ý muốn "lập thuyết".
Phát hiện ra tuổi trẻ và dùng tuổi
trẻ để đo đếm, định giá tất tật những phương diện thiết cốt của cõi nhân
sinh, đó chính là điểm đầu tiên thuộc "tử số riêng" của Xuân Diệu.
Tuổi trẻ của đời người ông gọi là Thanh niên: "Thanh niên ơi, người đang
ở cùng ta", gọi là xuân thì: "Ôi! Thanh niên! người mang hết xuân
thì / Hình ngực nở, nụ cười tươi, màu tóc láng". Đối với Xuân Diệu, mất
thời trẻ, mất thanh niên là rơi vào cô đơn: "Cô đơn quá, bởi không còn
ngươi nữa!", là mất đi sự sống: "Sự sống đi như hương bỏ hoa chiều".
Thậm chí, mất thanh niên là mất tất cả: "Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất",
"Không còn ngươi, thôi cái gì cũng mất /... Người đã mất, thôi cái gì
cũng hết". Xuân Diệu là người hiểu thấu hơn ai hết cái vô giá cũng như
giới hạn của tuổi trẻ. Nói Xuân Diệu ca tụng tuổi trẻ, không sai, nhưng không
trúng. Mà phải nói là ca tụng Trẻ, hiểu theo nghĩa ca tụng chất trẻ: ý thức
trẻ, sức vóc trẻ, vẻ đẹp trẻ, điệu sống trẻ, nguồn sống trẻ [10]. Trẻ là
tinh hoa của sự sống, tinh hoa của cuộc đời. Trẻ là hiện thân toàn năng và
toàn quyền của sự sống. Trẻ mới làm nên và mới đạt tới hạnh phúc. Nói khác
đi, hạnh phúc cá nhân chính là Trẻ. Trẻ là thời hoàng kim của cá thể. Trẻ là
cái mệnh giá bao trùm của một kiếp tồn sinh. Trẻ là ngọn lửa nồng nàn nhất. Sống
mãnh liệt huy hoàng là trẻ. Sống quẩn quanh le lói là già. Trẻ là đoá hoa kỳ diệu nhất mà tạo hoá ban cho mỗi người và cõi đời. Tóm lại, về phương diện
nhân sinh, trẻ là hạnh phúc; về phương diện thẩm mỹ, trẻ là cái đẹp. Trẻ là hạnh
phúc đã đầy, trẻ cũng là vẻ đẹp hoàn hảo.
Tôn vinh trẻ, tôn thờ trẻ, Xuân Diệu
thực sự là thi sĩ của hồn trẻ, tuổi trẻ, là triết nhân của tinh thần trẻ, nguồn
sống trẻ.
Người ta thường chỉ hiểu tuổi trẻ với
cái nghĩa như một quãng đời trẻ trung nhất, sức vóc sung mãn nhất, tinh thần
khoẻ khoắn nhất. Đời mỗi cá nhân vốn đã ngắn ngủi, tuổi trẻ lại càng ngắn ngủi
hơn. Khát vọng đẹp đẽ nhất của đời người chỉ có thể đạt được khi còn trẻ mà
thôi. Xuân Diệu đã hiểu như thế và đã trình bày thành quan niệm trong thi phẩm
Vội vàng (xem thêm phần phân tích thi phẩm này ở mục Thẩm bình tác phẩm).
Nhưng chính Xuân Diệu cũng đã vượt qua cách hiểu thường tình ấy. Không phải cứ
vào độ thành niên thì người ta trẻ. Không phải cứ thể chất cường tráng là trẻ.
Cũng không phải cứ tinh thần khoẻ mạnh là trẻ.
Do đào sâu hơn vào bí mật của sự sống,
Xuân Diệu có khám phá riêng: hạt nhân của Trẻ là Tình, nhất là ái tình.
Điều này có lôgic của nó.
Cái gì khiến người ta trẻ? Ba yếu tố
chính: tuổi tác, sức vóc và khát vọng. Nhưng yếu tố nào sắm vai quyết định?
Tuổi tác chăng? cũng cần. Sức vóc chăng? cũng cần. Nhưng cần hơn cả vẫn là
Khát vọng. Chính khát vọng làm nên nguồn sống trẻ, điệu sống trẻ. Mang khát
khao là trẻ, ngừng khao khát là già. Lửa tâm còn rực cháy, khi ấy người ta trẻ.
Và người ta bắt đầu già vào cái lúc tắt lửa lòng. Trẻ đồng nghĩa với Khát vọng
là vậy.
Mà khát vọng mãnh liệt nhất, ngọn lửa
lòng cháy bỏng nhất của con người khó có thể là gì khác hơn khát vọng tình
yêu, ngọn lửa tình yêu. Bởi thế, Tình làm nên Trẻ. Tình yêu là năng lượng trẻ,
là nguồn sống trẻ, nguồn sáng trẻ. Tình yêu là sức trẻ, là sắc trẻ. Xuân Diệu
đã say sưa trình bày cảm nhận và quan niệm đó của mình: "Rộn tuổi trẻ dưới
ánh đèn ngây ngất / Reo ái tình trong nhịp máu phân vân", "Lòng
xuân chín ửng trên đôi má / Thiếu nữ làm duyên đứng mỉm cười.", "ái
tình đem máu lên hoa diện / Thi sĩ đi đâu cũng mỉm cười"... Quãng đời trẻ
của con người bắt đầu khi nào? Khi ái tình thức dậy. Sự dậy thì về thân xác
đem đến cho cá thể một sức vóc tráng kiện, nhưng cũng dễ chỉ như một chú gà tồ
lộc ngộc. Sự dậy thì về tâm hồn mới khiến người ta thành thanh niên. Mà dậy
thì tâm hồn là gì nếu không phải là khi "lần đầu rung động nỗi thương
yêu" - nghĩa là, những rung động tình ái? Ái tình đốt lên nguồn sống trẻ,
khi ấy người ta trẻ. Còn lúc ái tình tắt lặng, ái tình ra đi, ấy là khi nguồn
sống trẻ đã rời bỏ ta rồi.
Như thế, phát hiện quan trọng nhất
về cá nhân lại chính là phát hiện về tình yêu. Tình yêu là phẩm chất, là tài
sản quan trọng nhất của mỗi cá thể, cũng là bản sắc cá nhân. Nếu trong tình
yêu anh không được là mình thì tức là chẳng ở đâu anh được là mình. Rút cục,
về mặt nhân sinh, hạnh phúc là tình yêu, còn về mặt thẩm mĩ, cái đẹp cũng là
tình yêu. Hạt nhân của cái "tử số riêng" trong quan niệm của Xuân
Diệu cũng chính là điểm ấy.
Chưa hết. Nếu chỉ dừng ở đấy không
thôi, e rằng vẫn chưa đủ nhận chân cái bản nguyên của tình yêu trong quan niệm
Xuân Diệu.
Hãy đi vào bản nguyên ấy.
Tôi cho rằng chữ "tình
yêu" đương dùng như hiện nay không giúp ta hiểu thật trúng về chữ
"tình" của Xuân Diệu. Thứ nhất, chữ tình yêu vừa có xu hướng nới rộng
vừa có phần hạn hẹp. Rộng, vì có thể theo cái nghĩa "Người yêu người sống
để yêu nhau" (Tố Hữu). Tức là nó nói đến tình yêu nói chung gồm cả tình
đôi lứa, tình đồng bào, đồng loại... Hẹp, vì nó chỉ nói được mỗi tình yêu của
người khác giới. Còn thứ tình đồng giới, đồng tính ta lại không gọi bằng chữ
"tình yêu" này. Thứ hai, chữ tình yêu thường được ta hiểu đậm về
tinh thần, nhạt về thể xác (nhất là cùng với nó luôn có một chữ để tách bạch
là "tình dục"), và cũng hay có thiên hướng đạo đức hoá - yêu gắn với
hành động chăm lo, lam làm, tranh đấu... tỉ như "chúng ta yêu nhau chiến
đấu suốt đời / chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người" (Nguyễn Đình Thi),
"Càng yêu em anh càng hăng say, xây cho nhà cao, cao mãi..." (Phan
Huỳnh Điểu). Trong khi đó, tình yêu theo quan niệm Xuân Diệu lại chủ yếu được
tô đậm ở hưởng thụ ái ân:"Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự" (Giục
giã), "Hãy sát đôi đầu hãy kề đôi ngực / hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn
dài/ Những cánh tay hãy quấn riết đôi vai / Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt
/ Hãy khắng khít những cặp môi gắn chặt / Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng
/ Trong say mê anh sẽ bảo em rằng / Gần chút nữa thế hãy còn xa lắm" (Xa
cách)... Đó là một nội dung nhân bản vĩnh viễn của tình yêu.
Nỗ lực nắm bắt Xuân Diệu từng khiến
giới nghiên cứu tìm đến chữ "giao cảm". Phải nói rằng chữ
"giao cảm" có một khả năng bao gồm rất rộng. Dung tích của nó chứa
được khắp cả các nguồn tình cảm thể hiện ra thành các lĩnh vực hoạt động
phong phú của Xuân Diệu. Muốn đầy đủ, phải bao quát Xuân Diệu bằng khái niệm
"niềm khát khao giao cảm với đời". Trong đó, tình yêu được nhìn nhận
như là "mối giao cảm kì diệu nhất" [11] . Đây là cách xuất phát từ
cái chung để nhận diện cái riêng, thấy cái chung chi phối cái riêng. Ái tình
được nhìn nhận là phần bốc nhất trong nguồn rượu giao cảm.
Có thể bổ sung một điểm xuất phát
khác: từ cái riêng để nhận diện cái chung. Tôi cho rằng tất cả những nguồn
tình cảm khác của Xuân Diệu đều do ái tình rất đặc biệt của ông chi phối.
Tôi muốn trả tình yêu về với bản
nguyên của nó: khát khao luyến ái. Phải, luyến ái là cái nghĩa thông thường
nhất, nguyên sơ nhất, cốt lõi nhất mà cũng nhân bản nhất. Trường hợp Xuân Diệu,
tình ái lại càng là luyến ái. Thứ nhất, chữ luyến ái vẫn giữ được nguyên vẹn
tính sắc dục và khuynh hướng thụ hưởng ái ân muôn thuở của ái tình. Thứ hai,
chữ luyến ái bao được cả tình gái cả tình trai trong khát khao của thi sĩ
này. Và, thứ ba, cũng là điểm đặc biệt hơn cả, ở Xuân Diệu, mọi phương diện
tình cảm khác đều có cơ được luyến ái hoá. Chẳng phải vậy sao! Tình bằng hữu
thì: "Những bước song song xéo dặm trường / Đôi hồn tươi đậm ngát hoa
hương / Họ đi tay yếu trong tay mạnh / Nghe hát ân tình giữa gió sương...
Thây kệ thiên đường và địa ngục / Không hề mặc cả, họ yêu nhau." (Tình
trai). Với cuộc đời thì: "Tay ân ái như những làn thân thể / Đã ôm đời
vào ngực để mơn ru". Với quần chúng thì: "Trời ơi, quần chúng quá
tình nhân!". Với thiên nhiên thì: "Buổi chiều hôm ấy đáng muôn hôn
/ Hôn gió hôn mây với cả hồn / Hôn cái khúc đường, hôn cả bóng / Hàng cây
xanh biếc dưới hoàng hôn". Với sự sống thì: "Ta muốn ôm / Cả sự sống
mới bắt đầu mơn mởn; / Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, / Ta muốn say cánh
bướm với tình yêu, / Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều / Và non nước, và
cây, và cỏ rạng, / Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, / Cho no
nê thanh sắc của thời tươi; / - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào
ngươi!"... Đó đâu còn là những cách biểu cảm mà ta thường thấy con người
vẫn ứng xử trong tình bằng hữu, tình đồng bào, tình yêu thiên nhiên tạo vật.
Đó là những cuộc tình tự ái ân. Đó là những cuộc luyến ái. Các luồng tình cảm
khác nhau ấy dường như đều hiện lên theo cung cách, trong màu sắc của ái
tình. Thật lạ. Nhưng không phải không hiểu được. Hiện tượng "biến tướng"
trong cảm xúc ấy ở Xuân Diệu có thể lí giải được bằng một cơ chế tinh thần
riêng. Như đã nói, do một cấu trúc tâm thể đặc biệt, ở Xuân Diệu có niềm khao
khát nhân đôi. Nó dồi dào, sung mãn gấp bội so với người bình thường. Đồng thời,
do khát khao ấy hầu như không được giải toả trên thực tế, nên nó luôn tồn tại
như một cơn khát cồn cào đầy tính nhục cảm. Niềm khát khao lạ lùng đó đã chế
ngự một cách khá "độc tài, độc đoán" đối với những cảm xúc khác. Nó
cuốn phăng các dòng tình cảm khác theo mình, rồi nhuộm phần lớn các cung bậc
cảm xúc thành màu luyến ái. Điều này chẳng phải là một nét độc đáo trong thế
giới tình cảm của thi sĩ này sao?
Như vậy, Xuân Diệu đã nói lên sâu sắc
nhất tinh thần của thời đại cái Tôi khi tôn vinh Trẻ, khi bày tỏ Khát vọng, đặc
biệt là bày tỏ niềm khát khao Luyến ái không bờ bến, không mệt mỏi của mình.
3. Luyến ái - Sống - Thơ và Bất tử
Ngoài cái phần nảy nở nhờ dưỡng khí
của thời đại, quan niệm của Xuân Diệu vẫn có những phần thuộc vào cái
"gen" riêng, không lệ thuộc thời thế. Nó là phần phi thời gian. Và
như đã nói, cảm niệm của Xuân Diệu, từ trong chiều sâu của nó, là một hệ thống
ràng rịt mà nhất quán. Luyến ái, sống, thơ và bất tử ở thi sĩ này có một mối
liên hệ như vậy. Nó nằm ngoài thời gian.
Nghiên cứu nghệ thuật, người ta thấy
có thực tế oái oăm: một ám ảnh khiến nhiều nghệ sĩ đã trở thành tài năng lớn
là ám ảnh về cái chết, ám ảnh hư vô. Cái chết sẽ chấm dứt mọi kiếp sống, hư
vô sẽ làm vô nghĩa mọi đời người. Sáng tạo là cuộc chống trả với hư vô, là cuộc
vật lộn với cái chết. Sáng tạo vừa là trải nghiệm hư vô, vừa để vượt thoát
cái chết... Xuân Diệu cũng bị ám ảnh bởi cái chết từ rất sớm. Ngay hồi còn là
cậu học sinh tiểu học, Xuân Diệu đã day dứt nhiều về cái chết. Cậu thiếu niên
ấy luôn thấy cái chết ở phía trước, chờ đợi mình cuối con đường. Nó là cái kết
cục phũ phàng không thể né tránh. Đối diện với cái chết, một ham muốn vừa
thông thường vừa phi thường trỗi dậy mãnh liệt trong lòng: ham muốn bất tử.
Người ta có thể bất tử bằng cách nào? Chỉ có một cách: vượt ra ngoài sự chế định
của không gian và thời gian. Nhưng đó là điều bất khả. Người xưa đã cất công
tìm thuốc trường sinh, đã bền bỉ tu tiên, đã cẩn trọng ướp xác... mong siêu
vượt được thời gian. Nhưng chỉ là ảo tưởng. Trên đà tìm kiếm, Xuân Diệu có
nghĩ đến Nguyễn Du. Và một câu Kiều đã đem đến cho chú thiếu niên tài hoa lời
mách bảo: "Kiều rằng những đấng tài hoa / Thác là thể phách còn là tinh
anh". Thể phách không thể không tiêu tan. Còn chăng, hoạ chỉ có tinh
anh. Vậy là, lối đi vào bất tử đã hé mở trước mắt chàng thi sĩ trẻ tuổi. Chữ
"tinh anh" vốn có nghĩa là linh hồn theo quan niệm duy tâm. Xuân Diệu
không muốn thế. Thi sĩ cấp cho nó một nghĩa duy vật: tinh anh là tinh hoa của
sự sống người. Xuân Diệu cũng không muốn bất tử bằng danh vọng, không muốn
lưu lại hậu thế chỉ như một cái tên gắn liền với một công danh giống như quan
niệm của người đồng hương thuộc thế kỉ trước:"Làm trai sống ở trong trời
đất / Phải có danh gì với núi sông" (Nguyễn Công Trứ). Xuân Diệu muốn
lưu lại tinh hoa của sự sống mình trong hậu thế. Có như thế mới thật là đang
được sống với đời, như thế mới thật là bất tử. Xuân Diệu hoàn toàn tin rằng
cái chết chỉ hư vô hoá được những gì thuần là thể phách, còn với tinh hoa
này, cái chết bất lực. Chỉ có phần tinh hoa của sự sống người mới siêu vượt
được thời gian.
Thế nào là sự sống người? Các triết
nhân và thi nhân đưa ra những câu trả lời khác nhau. Ai cũng thừa nhận có một
sự sống người trong từng cá thể, và lặng lẽ kiếm tìm. Xuân Diệu cũng có những
kiếm tìm riêng khi đối diện với cây đàn, ngọn nến và mặt hồ. Đúng là một cây
đàn treo trên vách không phải là cây đàn sống. Đàn chỉ sống khi những dây tơ
rung lên phát ra những âm giai, tấu lên những bản đàn. Âm giai là sự sống của
đàn. Ngọn nến đặt trên bàn không phải là ngọn nến sống. Nến chỉ sống khi nó
đang cháy lên để toả sáng. Cháy sáng là sự sống của nến. Mặt hồ lặng sóng
không phải mặt hồ sống, đó là mặt hồ ngủ, là "mặt nước thu lờ". Hồ
chỉ sống khi sóng bắt đầu xao xuyến. Sóng là sự sống của hồ.
Sự - sống - người trong mỗi một cá
thể cũng thế. Nó là sóng, là lửa sáng, là những âm giai. Người đề cao lao động
và đấu tranh cho rằng sự sống người ấy là đấu tranh và lao động [12] . Người
đề cao trí tuệ bảo rằng sự sống người ấy là tư duy. Chả thế mà con người đã
được định nghĩa là "cây sậy biết tư duy". Chả thế mà có mệnh đề nổi
tiếng: "Tôi tư duy vậy tôi tồn tại". Còn người đề cao tình cảm thì
nhất quyết sóng ấy, lửa ấy, âm giai ấy là cảm xúc. Không xem nhẹ lí trí, tư
duy, nhưng Xuân Diệu đề cao tình cảm, cảm xúc. Với Xuân Diệu, cảm xúc là sự -
sống - người. Cảm xúc nồng nàn, cao cả, sâu sắc chính là tinh hoa của sự sống
người. Cảm xúc như thế chỉ đến với những cá thể nào biết sống mãnh liệt:
"Sống toàn tim, toàn trí, sống toàn hồn / Sống toàn thân và thức nhọn
giác quan / Và thức cả trong giấc nồng phải ngủ / Sống, tất cả sống, chẳng
bao giờ đủ". Đây đúng là một cương lĩnh của cái thời đại mà cá nhân đang
lên tiếng đòi được sống là mình, sống hết mình. Chính nó là nguồn sống trẻ.
Chính nó khởi lên cái "nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non
lặng lẽ này".
Nhưng đâu là phần thiết cốt nhất
trong cảm xúc của con người?
Câu trả lời của Xuân Diệu: đó chỉ
có thể là niềm khát khao luyến ái! Cái âm giai mãnh liệt nhất, ngọn lửa chói
sáng nhất, làn sóng sôi động nhất trong cảm xúc cá nhân còn có thể là gì hơn
niềm khát khao luyến ái. Bởi thế khát khao luyến ái là phần tinh chất nhất của
sự sống người vậy. Sống mãnh liệt chính là yêu mãnh liệt đó thôi! Có như thế
ta mới thấy rằng "Bài thơ tuổi nhỏ" của thi sĩ lâu nay chưa được hiểu
thật đúng cái nghĩa bề sau bề sâu bề xa [13] của nó. "Làm sao sống được
mà không yêu / Không nhớ không thương một kẻ nào?". Tình yêu không phải
là điều kiện sống, mà tình yêu phải là bản chất sống. Làm sao có thể nói được
rằng anh đang sống một khi lòng anh không có tình yêu. Yêu là sống, sống là
yêu [14] . Thiết tưởng ý thơ kia cũng có giá trị tương đương với mệnh đề:
"Tôi yêu vậy tôi tồn tại". Mệnh đề này chưa được một lần phát biểu
ra trực tiếp, nhưng với những ý thơ đó, nó đã thực sự là một tư tưởng triết học
ẩn sâu con người nghệ sĩ Xuân Diệu. Chính nó là kim la bàn vừa hữu hình vừa
vô hình chi phối cái hành trình tái tạo sự sống bằng thơ của Xuân Diệu. Mang
trong mình một tư tưởng triết học có tầm vóc nhân văn như thế, chẳng phải
Xuân Diệu rất xứng đáng là một triết nhân của tình yêu hay sao?
Và chúng ta cũng biết chân lí thú vị
này: khi người ta là tình nhân thì cũng đồng thời là thi nhân. Khi niềm luyến
ái tràn ngập trong lòng, người ta đang sống trạng thái yêu đương, cũng chính
là đang sống trạng thái thơ. Mỗi trạng thái ấy là một khoảnh khắc sống. Mỗi
trạng thái ấy chính là một mảnh tâm hồn. Xuân Diệu muốn lưu lại hậu thế bằng
những mảnh tâm hồn như vậy (chứ không phải chỉ như một cái tên!). Nhưng trạng
thái đó cũng dễ tiêu tan một khi cái khoảnh khắc mãnh liệt nhất trôi qua. Muốn
giữ được nó, cần phải có cái gì ngưng tụ lại, kết tinh lại. Và cái ấy chính
là thơ. Quan niệm thơ của Xuân Diệu cũng hình thành từ những suy nghiệm như
thế. Thơ là những trạng thái sống mãnh liệt. Bản thân những trạng thái đó đã
là thơ. Việc viết ra những bài thơ chỉ là công đoạn cuối cùng: ngưng kết thơ
vào trong ngôn ngữ mà thôi. Mỗi bài thơ sẽ là một mảnh hồn Xuân Diệu lưu lại
hậu thế: "Nhưng sách này, tôi để cả trái tim / Giở cho khéo kẻo lòng tôi
động vỡ / Hồn người tình mỏng lắm xếp cho êm...Nếu trang giấy có động tình
tuyết bạch / ấy là tôi dào dạt với âm thanh / Hồn thắc mắc vẫn đi về với sách
/ Dưới tay ai xem lại nỗi lòng mình" (Lời thơ vào tập gửi hương). Càng
có nhiều thơ hay càng có thể sống mãi cùng hậu thế.
Vậy là sống, luyến ái, thơ và bất tử
chẳng những ràng rịt với nhau, mà xem ra, là đồng chất, thậm chí, đồng nghĩa.
Trong đó, khát khao luyến ái là cái tia lửa, cái âm giai, cái làn sóng của sự
sống người truyền linh hồn cho tất cả. Ta hiểu vì sao Xuân Diệu sống mãnh liệt
đến từng khoảnh khắc bằng trái tim "yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ /
Phải nói yêu trăm bận đến ngàn lần". Ta cũng hiểu vì sao chàng thi sĩ
này "trong hơi thở chót dâng trời đất / vẫn cứ si tình đến ngất
ngư". Nghĩa là vẫn sống cho đến tận lúc... chết ! Và, hiển nhiên là cả
sau khi... đã chết.
Nguồn: Ba đỉnh cao Thơ Mới:
Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử. Tiểu luận, phê bình của Chu Văn Sơn.
Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003.
Chú thích:
[1] Giới học thuật Việt Nam vẫn dùng
chữ Lãng mạn với hai nghĩa: 1) nghĩa rộng, là chỉ toàn bộ thơ của Phong trào
Thơ Mới, với nghĩa này, thơ Lãng mạn đồng nghĩa với Thơ Mới; 2) nghĩa hẹp, là
chỉ một trường phái thơ, phân biệt với các trường phái khác như Cổ điển, Thi
sơn, Tượng trưng, Siêu thực... Chữ Lãngmạn này dùng với nghĩa rộng.
[2] Xem thêm Đào Thái Tôn, Báo Văn
Nghệ số Tết, 2- 1998
[3] Đọc thêm Hoàng Cát, Đặng Vương
Hưng, và nhất là Tô Hoài trong Cát bụi chân ai, Nxb Tác phẩm mới, Hà nội,
1992.
[4] Hiện nay, trong xã hội chúng ta,
vẫn chưa có một quan niệm và cảm thông thật đúng mức dành cho những con người
thiệt thòi ấy. Phần đông vẫn còn mang nặng thành kiến.
[5] Tô Hoài, Cát bụi chân ai, Nxb Hội
nhà văn, 1992, tr. 176-177
[6] Tố Hữu, Nhớ đồng, Từ ấy, Văn hoá
cứu quốc xuất bản, 1946.
[7] Hoàng Hưng, “Về Thơ Mới”, sách
Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, NXB Giáo dục, 1994, tr. 58.
[8] "Có một điều chắc chắn là
những điều kiện bên ngoài đã biến thiên thì tâm hồn của con người cũng đổi
thay. Những sự đau thương, buồn chán, vui mừng, yêu ghét của chúng ta không
còn giống như những sự đau thương, buồn chán, vui mừng, yêu ghét của ông cha
ta nữa, đó là một sự thật. Các cụ ta xưa sống trong cuộc đời giản dị êm đềm,
sinh hoạt dễ dàng, tiếp xúc ít ỏi, nên tâm hồn các cụ cũng đơn sơ, nghèo nàn,
phẳng lặng, khô khan như cuộc đời các cụ, gia dĩ văn hóa Tàu tràn sang, đưa đến
cho ta những kỷ luật nghiêm khắc, hẹp hòi của Khổng giáo... Các cụ ta chỉ
thích cái bóng trăng vàng rọi ở trên mặt nước; ta lại thích cái ánh mặt trời
buổi sáng lấp lánh, vui vẻ ở đầu ngọn tre. Các cụ ta ưa màu đỏ choét; ta lại
ưa những màu xanh nhạt... các cụ bâng khuâng vì một tiếng trùng đêm khuya; ta
lại nao nao vì một tiếng gà lúc đúng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ
các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; còn ta thì cho là mát mẻ như đứng trước
một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ chỉ là hôn nhân, nhưng đối với ta
thì trăm hình, muôn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình gần
gũi, cái tình xa xôi, cái tình chân thật, cái tình mộng ảo, cái tình ngây
thơ, cái tình già giặn, cái tình trong giây phút, cái tình thiên thu..."
[9] Nguyễn Xuân Sanh gọi đó là
"Nỗi niềm cảm xúc, cung bậc tư duy nghệ thuật thanh xuân". Ngay cả
các thi sĩ đi ra từ lối cũ cũng được trẻ hoá rất nhiều: "Một số thi sĩ của
vườn thơ Đường luật, của các mùa thơ cổ điển không phải không có chút phong vị
hồi xuân nhân bước tao phùng với những tháng ngày Thơ mới". Thể loại
cũng được làm trẻ, ngôn ngữ cũng được làm trẻ. "Thơ mới tạo ra ngôn ngữ
mới. Tiếng Việt trẻ lại với thơ... Tiếng Việt đến thơ Mới đã đổi thịt thay da
một lần nữa... Thơ mới đã sáng tạo ra một số thể loại thơ và đã đổi mới,
"trẻ hoá" nhiều thể thơ cũ" - Huy Cận, sáu mươi năm sau nhìn lại,
đã nghiệm rất rõ như vậy.
[10] Bằng trực cảm, Hoài Thanh cũng
đã cảm được rất trúng điều này, khi viết: Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống
rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này." (Thi nhân Việt
Nam). Tiếc là, ông chưa khái quát, chưa hệ thống và định danh thành nguồn sống
Trẻ thôi.
[11] Người đầu tiên đề xuất chữ giao
cảm này là nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh. Trong bài "Xuân Diệu và niềm
khát khao giao cảm với đời" (Báo Văn nghệ số 29/ 10.7.1985), ông viết:
“Thơ Xuân Diệu nói giao cảm đầy đủ hơn là nói yêu".
[12] Thép Mới có bài viếng Xuân Diệu
in trên báo Nhân Dân với nhan đề "Là thi sĩ nghĩa là... lao động".
[13] Chữ dùng của Chế lan Viên.
[14] Sau này nhà văn Nga Valentin
Raxputin cũng có tư tưởng gần như thế khi viết cuốn Yêu như là sống.
|
4. Thế giới của chữ Tình
Thế giới thơ Xuân Diệu là thế giới của chữ Tình.
Thế giới nghệ thuật của một thi sĩ trữ tình thường là một hệ
thống gồm ba hình tượng cơ bản Tôi - Người tình - Thế giới. Với các nam thi sĩ,
bộ ba ấy thường là Tôi - Em - Thế giới. Do sự chi phối của chữ Tình, bộ ba ấy ở
Xuân Diệu sẽ có diện mạo cụ thể và đồng bộ: Tôi là một tình nhân - em là một
giai nhân và thế giới là một trường tình (Xem H1 và H2[Wd1]). Tất nhiên chúng tồn
tại trong thế song sinh và chuyển hoá sang nhau. Đồng thời mỗi hình tượng đều
có mặt đối lập biện chứng của nó.
Tôi
Cái tôi phải là hình tượng trung tâm, là hạt nhân của một thế
giới thơ trữ tình. Nó là hình ảnh phóng chiếu từ con người thực của tác giả
theo nguyên tắc điển hình hoá. Nhưng có lẽ nó là cái con người tâm linh của tác
giả được hình tượng hoá, là cái phần khát vọng thẩm mĩ sâu kín trong tác giả được
nhân hình hoá thì đúng hơn. Dù có cội nguồn thế nào đi nữa thì trong văn bản
thơ, trong một thế giới thi ca, nó cũng hiện ra như một con người với nhân dạng,
nhân cách khá rõ rệt. Người ta có thể nhận ra nó qua những nét tự hoạ, qua tư
thế trữ tình và giọng điệu trữ tình chủ đạo của hệ thống thi phẩm.
Có người cho rằng nét độc đáo của cái Tôi Xuân Diệu là sự
phân cực. Tôi không nghĩ thế. Trong thực tế, một sự vật nói chung, một hình tượng
nghệ thuật nói riêng, bao giờ cũng có phân cực với sự thống nhất giữa các mặt đối
lập. Là một hình tượng sống động, nên cái tôi nào cũng là sự hoà hợp của các đối
cực, bao hàm cả chuyển hoá và xung đột. Phân cực không phải là nét riêng mà là
điểm chung của mọi cái tôi. Nét độc đáo của từng thi sĩ nói chung, Xuân Diệu
nói riêng, phải được tìm ở chỗ: diện mạo riêng biệt của các cặp đối cực trong từng
trường hợp là gì.
Trong số phận "tù nhân chung thân" của một chữ
Tình, cái tôi Xuân Diệu hiện ra với hai bản tướng luôn "khắc nhập khắc xuất":
vừa là tình nhân vừa là triết nhân. Cũng đến với tình yêu bằng cả hai con người
ấy, nhưng nếu ở Tagore, thi hào Ấn Độ, tác giả Thơ Dâng, con người triết nhân đậm
hơn, thì ở Xuân Diệu, phần đậm hơn lại là con người tình nhân. Dù "với bạn
ân tình hay với cảnh", thì bao giờ cái tôi ấy cũng thèm khát một luyến ái
vô biên: "Nơi nào ta cũng kiếm vô biên".
Là tình nhân thì cái tôi trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió gồm
đủ cả hai con người : một gã tình si và một kẻ thất tình. Cả hai đều bị cầm tù
trong cái lưới vô hình của tình ái.
Cần nói ngay một điều thật tế nhị: chàng tình nhân ấy thích tự
họa mình theo chuẩn mực... nữ phái. Vẻ đẹp nữ dường như là lí tưởng. Nó đã chi
phối ngòi bút tạo hình của Xuân Diệu một cách âm thầm và độc đoán. Ông gọi vẻ đẹp
nam bằng "kiều diễm", cái từ vốn là độc quyền của người nữ:"Hỡi
chàng trai kiều diễm mải vui ca". Ông lấy người nữ ra làm chuẩn thẩm mĩ
cho người nam: "Người thuở ấy du dương từng kiểu bước/ Thân hình thon khoá
buộc dải hương la/ Son phấn dịu dàng tay áo thướt tha / Chàng trai trẻ cũng
xinh dường thiếu nữ". Chàng gió "đa tình như một khách thừa
lương" thì dù được gọi bằng "công tử" song vẫn hoàn toàn được vẽ
bằng dáng điệu, cốt cách, y phục một công nương, một tiểu thư: "Chàng gió
lạ đi khuya về khuất nẻo / Nghe tiếng thơm liều liệu đến tìm hương / Cánh du
lang tha thướt phấn qua tường / áo công tử giải là vương não nuột"... Và
không ít chỗ khó mà phân biệt được diện mạo nhân vật được khắc hoạ thuộc về
phái mạnh hay phái yếu: "Em đẹp khi em phồng nét ngực / Hít không gian và
ngó thẳng trời xa / Khi cánh tay ôm cả dải ngân hà / Chân vút thẳng sắp lên đường
vượt trải / Em đẹp quá khi mày em nhíu lại / Cặp mày xanh như rừng biếc chen
cây / Em thanh thơi như buổi sáng đầu ngày / Em mạnh mẽ như buổi chiều giữa hạ"
(Đẹp). Dường như, đối với Xuân Diệu cái đẹp không phân chia phái tính. Không có
phái nam, không có phái nữ, chỉ có một phái thôi: phái Đẹp. Bất phân nam nữ, miễn
là Đẹp. Mà, như đã phân tích ở trên, lõi của đẹp lại là luyến ái. Nên phái tính
không còn quan trọng, miễn sao nó tiềm ẩn niềm luyến ái và đáp ứng được khát
khao luyến ái. Nói cách khác, niềm luyến ái ở thi sĩ hướng tới cái đẹp riêng -
cái đẹp phi phái tính. Nó là một nguyên uỷ sâu xa của niềm khát khao dành cho cả
tình gái lẫn tình trai của thi sĩ. Đây là hiện tượng ít thấy. Nhưng không phải
khó hiểu. Chắc chắn thị hiếu đặc biệt này có liên quan đến con người tự nhiên
thầm kín của Xuân Diệu. Thông thường, một thi sĩ thuần nam [1] , vẫn hay tự hoạ
mình với những vẻ nam nhi thật nổi bật và đầy kiêu hãnh. Đồng thời, khắc hoạ
người tình của mình cũng làm sao nổi bật những nét thuần nữ. Cả hai hình ảnh đều
là sản phẩm của một nam tính thuần. Nhưng hẳn là, cấu trúc tâm thể đặc biệt đã
khiến cấu trúc tinh thần của Xuân Diệu có một phần nam tính nào đó được nữ hoá
chăng? ở đây, phần đó phải chăng là một nửa thị hiếu về cái đẹp? Vẻ đẹp giới
(giới tính) không còn những ranh giới thật rành rẽ nữa. Cả hai dường như bị
nhoè lẫn. Xuân Diệu đã yêu đã khắc hoạ hình tượng thi ca bằng thị hiếu kì lạ
đó.
Mặt khác, chân dung những tình lang của Xuân Diệu cũng phảng
phất nhiều nét cổ điển. Không chỉ vì thi sĩ có dùng thi liệu của văn học cổ. Mà
trong hình bóng các tình lang hào hoa phong nhã ấy cứ thấy thấp thoáng bóng
dáng của những Kim Trọng, Trương Quân Thụy, Giả Bảo Ngọc, Phạm Thái... Điều này
cũng dễ hiểu, vì đây chính là các nhân vật "dễ thương" mà Xuân Diệu từng
say mê thuở thiếu thời. Ấn tượng cực kì sâu đậm về những nhân vật ấy đã được
tâm thức nghệ sĩ lưu giữ nhào nặn theo một kiểu nào đó làm thành một mẫu gốc. Mẫu
gốc kia đã hoá thân vào các tình lang dưới ngòi bút Xuân Diệu.
Đối cực thứ nhất ở cái tôi tình nhân đó, hiển nhiên phải là
Gã tình si. Gã tự khai phả hệ mình thuộc "nòi tình" mang
"gien" tình, mang ngọn lửa tình từ lúc chưa sinh, từ khi chưa có tuổi:
"Thuở xưa kia là con của mặt trời / Tôi có lửa ở trong mình nắng dội / Tôi
đã yêu từ khi chưa có tuổi / Lúc chưa sinh vơ vẩn giữa vòng đời". Gã tự hoạ
mình với diện mạo một tình lang đầy quyến rũ: "Mặt tươi, môi đậm", với
"đầu mây gợn, mắt mây qua", với đôi tay ái ân:"Tay ân ái như những
làn thân thể - Đã ôm đời vào ngực để mơn ru", với vòng tay ham hố:"Ta
muốn ôm / Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn / Ta muốn riết mây đưa và gió lượn",
với đôi chân mê si:"Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất".... Lúc nào cũng
sẵn sàng tận hưởng "anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự ", sẵn sàng tận
hiến "gửi hương cho gió". Còn toàn thân thì luôn choáng ngợp trong những
rung động kì diệu đến lả mình: "tất cả tôi run rẩy tựa dây đàn". Gã
tình si luôn thành thực với những sở trường và sở đoản "chết người" của
mình:"Tôi khờ dại lắm ngu ngơ quá / Chỉ biết yêu thôi chẳng hiểu
gì"... Với các "tố chất" giời cho mà cũng là giời đầy như vậy,
cái tôi tình si ấy luôn tuyệt đối hoá tình yêu, và sẵn sàng tung ra nhiều quan
niệm có thể nói là táo tợn gây hấn với luyến ái quan cũ kĩ của cái thế giới già
nua đương thời: "Tài năng chi, Danh vọng kể mà chi, / Kể chi Tiền với một
kẻ mê si / Chỉ thấy nghĩa trong ái tình vĩnh viễn", "Tôi không biết,
không biết gì nữa cả / Chỉ yêu nhiều là tôi biết mà thôi", "Tôi đã
yêu từ khi chưa có tuổi... Tôi sẽ yêu khi đã hết tuổi rồi... Kẻ đa tình không cần
đủ thịt da / Khi chết rồi thì tôi sẽ yêu ma". Đúng là tuyên ngôn của cơn
khát vĩnh viễn, cơn khát luyến ái.
Nhiều người đã hoàn toàn có lí khi nói đến sự thực này: Xuân
Diệu coi tình yêu như một tôn giáo. Nếu xem tôn giáo, từ căn nguyên của nó, như
là nhu cầu của con người đối với những giá trị tuyệt đối, thì tình yêu ở Xuân
Diệu quả là tôn giáo. Thứ tôn giáo lãng mạn, tôn giáo nghệ sĩ. Cũng cần phải
nói thêm rằng trong "tôn giáo tình yêu" của Xuân Diệu, phần đời vẫn đậm
hơn phần đạo, phần thế tục trần ai vẫn đậm hơn phần thánh thiêng huyền nhiệm.
Đây cũng là điều khác nhau khá căn bản giữa tác giả Thơ thơ với tác giả Thơ
dâng. Cũng phải thôi, quan niệm tình yêu của họ đâu có giống nhau. Tagore nói
nhiều về khiêm cung dâng hiến, còn Xuân Diệu nói nhiều đến hưởng thụ ái ân. Với
Xuân Diệu, tình yêu là một thứ tôn giáo, mà ở đó ông vừa là tín đồ, vừa là giáo
chủ; đối tượng của ông không phải là chúa, mà trước sau, cũng chỉ là một tín đồ
"quá ngoan đạo" mà thôi. Đến với tình yêu, trước hết và quan trọng nhất,
là để giao tình, để thụ hưởng ân ái, đúng như khát khao luyến ái muôn đời trên
trần thế. Một tình yêu như vậy không thể thiếu nhục cảm: "Hãy sát đôi đầu
hãy kề đôi ngực / Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài / Những cánh tay hãy quấn
riết đôi vai / Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt / Hãy khắng khít những làn môi
gắn chặt / Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng / Trong say mê anh sẽ bảo em rằng
/ Gần chút nữa thế hãy còn xa lắm". Nhưng nhục cảm không phải là tất cả.
Tinh thần mới là cái đích cao hơn của nguồn thụ hưởng, cái tôi thèm "uống
tình yêu dập cả môi" ấy còn muốn uống nguồn hạnh phúc tận cùng:"Nên
lúc môi ta kề miệng thắm / Trời ơi ta muốn uống hồn em". Không phải của
thánh thần, cũng không phải của ma quỉ, tình yêu mà kẻ tình si kia đang thể hiện
là tình yêu của con người trần thế. Ngay khi Xuân Diệu mới xuất hiện, người ta
đã nhận ra như thế. Điều này không mới.
Nhưng chàng cũng luôn là kẻ thất tình - đây là cực thứ hai của
chàng tình nhân. Đã luôn sống nỗi cô đơn cố hữu của kiếp người, lại còn thường
xuyên rơi vào cô đơn vì tình phụ, nên ở Xuân Diệu ta thường thấy nỗi cô đơn
nhân đôi. Càng say đắm lắm càng cô đơn nhiều. Càng hi vọng thì càng nhiều thất
vọng. Điều oái oăm là ở chỗ cuồng nhiệt đam mê lại toàn chỉ gặp lạnh lẽo, hững
hờ: "Lòng anh là một cơn mưa lũ / Đã gặp lòng em là lá khoai". Bị vây
giữa cô đơn, cái tôi ấy muốn bứt phá, vượt thoát khỏi buồn sầu đơn côi. Nó đã
tìm đến tình yêu với bao cao vọng. Nhưng vô ích "Muốn trốn sầu đơn muôn vạn
kiếp / lại tìm sa mạc của tình yêu". Cho nên bộ dạng của cái tôi ấy đổi
thay thật thê thảm. Bộ dạng ấy, một mặt, bộc lộ ra trực tiếp trong nhân hình, mặt
khác, cũng hay vận vào những đồ vật, những con vật như những hoá thân. Khi si
tình thì "Lòng ta như ngựa trẻ không cương / Con ngựa trẻ ngất ngây đường
diệu viễn". Nhưng khi thất tình thì "lòng như chiếc thuyền hư không bến
đỗ", như "con chim không tổ / lòng cô đơn hơn một đứa mồ côi".
Lúc mê si thì kiêu hãnh lạc quan "nghìn buổi sáng bình minh xe chỉ thắm /
đem lòng tôi ràng rịt với xuân tươi.", còn khi thất tình thì thê thiết kêu
than: "Cô đơn muôn lần, muôn thuở cô đơn", và "Ta nằm đây như một
ải quan xa", thậm chí "Trái tim buồn như một bãi tha ma". Nhiều
khi, kẻ thất tình ấy lẩn vào người khác: viên tướng trẻ bó gối, cung nữ, công
chúa chưa chồng, đứa trẻ mồ côi, cô kĩ nữ... Nghĩa là những phân thân tủi sầu từ
cùng một kẻ cô đơn. Nhiều người cứ muốn giải thích bằng lí do xã hội. Rằng cái
tôi ấy rơi vào đau khổ vì lòng Xuân Diệu tràn ngập khát khao luyến ái vô tư mà
gặp phải xã hội đồng tiền dửng dưng, ghẻ lạnh. Làm như chỉ có xã hội trước kia
mới có sự dửng dưng trong tình ái. Không phải vậy. Đây là bi kịch muôn thuở của
con người và tình yêu. Mà chính Xuân Diệu cũng có lúc đã ý thức về nó một cách
cay đắng:"Người ta khổ vì thương không phải cách / Yêu sai duyên và mến chẳng
nhằm người / Có kho vàng nhưng tặng chẳng tuỳ nơi / Người ta khổ vì xin không
phải chỗ". Có phải tình yêu lúc nào cũng được đền đáp đâu. Có phải sự si
mê nào cũng được đón nhận bằng một tấm lòng tương xứng đâu. Có phải cặp nào
cũng "phải duyên nhau" để mà "thắm lại" đâu. Chuyện "lệch
pha", "khác kênh" dẫn tới vô duyên, thậm chí dẫn tới tình trạng
"xanh như lá bạc như vôi" thì thời nào cũng có. Ngộ ra cái bi kịch
truyền kiếp ấy, chính kẻ thất tình đã rất tủi hờn mà than rằng: "Người si
muôn kiếp là hoa núi, / Uổng nhụy lòng tươi tặng khách hờ". Vả chăng, bi kịch
này còn thuộc về cái tạng riêng của chính cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là, "thất
tình" đã như cái mầm vốn sẵn nằm trong những tâm hồn quá nhạy cảm. Đã là kẻ
luôn "giấu sẵn một linh hồn hiu quạnh", thì chỉ cần một chút hẫng hụt,
một chút thờ ơ là lập tức rơi vào trạng thái đơn côi:"tôi một mình đối diện
với tình không / Để lắng nghe tiếng khóc mất trong lòng". Và cứ thế để mặc
cho sầu bi như một con ác điểu cắn xé bao mảnh lòng đa cảm của mình: "Sầu
ơi sầu em có biết diều hâu / Đã ăn xé một lòng thơ non dại"...
Nếu con người tình nhân là nhất thể hợp nên bởi sự chuyển hoá
và xung đột giữa hai đối cực là gã tình si và kẻ thất tình, thì đến lượt nó, ở
cấp cao hơn, con người tình nhân lại là một đối cực hợp với một đối cực khác là
con người triết nhân để làm nên hình tượng một cái tôi Xuân Diệu toàn vẹn. Con
người tình nhân mải yêu đương, bận luyến ái; còn con người triết nhân thì ngẫm
nghĩ đúc kết. Con người tình nhân cuống quýt vội vàng bước đi và thường xuyên vấp
ngã; con người triết nhân thì quan sát để rút ra những bài học, những kinh nghiệm
nhân sinh. Là triết nhân, Xuân Diệu hay băn khoăn tìm bản chất, nguồn cội của
tình yêu, sức mạnh, giới hạn và ý nghĩa của ái tình... "Làm sao cắt nghĩa
được tình yêu / Nào có gì đâu một buổi chiều / Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt /
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu", "Tình yêu muôn thuở vẫn là
hương", "Yêu là chết ở trong lòng một ít / vì mấy khi yêu mà chắc được
yêu", "Xa là chết, hãy tặng tình lúc sống"... Người xưa có triết
lí dễ sợ: "Đời là bể khổ tình là dây oan". Thì từ niềm khát khao gặp
toàn những vô vọng của mình, chàng tình nhân bèn cất tiếng triết nhân mà tung
ra một triết lí thật dễ thương: "Mà cảnh đời là sa mạc vô liêu / mà tình
ái là sợi dây vấn vít". Không những thế, triết nhân còn là sự lên tiếng của
cái ham muốn lập thuyết thẳm sâu trong Xuân Diệu. Ông tìm cách cắt nghĩa sự nảy
sinh tình duyên của con người, rằng: sở dĩ tình duyên có thể nảy nở giữa hai cá
thể xa lạ là bởi thế giới này là thế giới của yêu đương, thế giới sẽ xe duyên
cho đôi lứa. Rằng: tất cả đang trong một cuộc giao duyên lớn, thì con người phải
bén duyên nhau là điều tất yếu. Lại nữa, tình duyên nảy nở còn bởi mỗi cá thể
sinh ra đều mang trong mình niềm cô đơn cố hữu của kiếp người; nên muốn thoát
khỏi nỗi cô đơn, chỉ có thể đến với nhau, bén duyên nhau, cưới lòng nhau. Theo Xuân
Diệu, tình yêu là hạnh phúc kì diệu nhất, tình yêu cũng là phương cách duy nhất
giúp con người thoát khỏi cô đơn. Nhưng rồi lại cũng chính Xuân Diệu nhận ra rằng:
hoà hợp là tương đối, còn cô đơn mới là tuyệt đối; tình yêu là sức mạnh vạn
năng, nhưng tình yêu cũng có những giới hạn không thể nào khắc phục. Thậm chí,
ngay cả khi hai cá thể, hai thân xác đã hoà vào nhau làm một, không còn khoảng
cách gì, thì triết nhân Xuân Diệu thấy vẫn cứ còn khoảng cách: "Trong say
mê anh sẽ bảo em rằng / gần chút nữa thế hãy còn xa lắm", "Em là em
anh vẫn cứ là anh / Chẳng thể nào qua vạn lí trường thành của hai vũ trụ chứa đầy
bí mật". Triết nhân ấy còn thấy: bi kịch phổ biến nhất của con người là bi
kịch "lực bất tòng tâm"; bi kịch ấy hiện ra phũ phàng nhất không phải
ở đâu khác, mà chính là trong tình yêu. Sau này Xuân Diệu sẽ có dịp nói rõ về
điều đó:"Muốn gần mãi mãi không xa / Muốn ôm nhau mãi thật là đau
thương", hay "Núi cao chót vót chon von / Anh xây xây mãi không tròn
tình yêu". Còn bây giờ, cũng một đúc kết ấy thôi, nhưng cái tôi đây không
nói bằng những triết ngôn bình tĩnh. Mà lời đúc kết của triết nhân Xuân Diệu lại
nói bằng giọng than thở cay đắng của một tình nhân: "Người si muôn kiếp là
hoa núi / Uổng nhụy lòng tươi tặng khách hờ", "Tình đã cho không lấy
lại bao giờ","Từ ngàn xưa, người ta héo, than ôi / Vì mang phải một sắc
lòng tươi quá"... Có khi ngay trong khẳng định quả quyết của một triết
nhân, vẫn nguyên giọng hổn hển của một tình nhân: "Gấp đi em anh rất sợ
ngày mai / đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn". Và thường khi, tuyên
ngôn sống hùng hồn của một tình nhân nhập giọng vào triết luận diết dóng của
triết nhân: "Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt
trăm năm"... Thế đấy, phần lớn những triết lí của Xuân Diệu thích xoáy vào
khía cạnh bi kịch của tình yêu. Con người triết nhân thường sống dậy mãnh liệt
khi cái tôi ấy đang trải qua những khổ đau mất mát của kẻ thất tình.
Phải chăng thất tình dễ khiến người ta thành triết nhân của
tình ái?
Ai đó đã hình dung về tình yêu thật... dễ sợ: tình yêu như một
con vật lạ, đói thì nó sống còn no thì nó chết. Có thể nói, đó là nghịch lí
quái đản của tình yêu. Dường như tình yêu chỉ là tình yêu trong khao khát. Khao
khát không đáp đền. Khi được đền đáp đã đầy thì nó lập tức... nguội tắt. Những
cơn đói dày vò trái tim, ấy là lúc tình yêu mãnh liệt nhất. Hãy đọc kĩ mà xem,
tiếng lòng Xuân Diệu hoặc là nỗi khát cháy, hoặc là nỗi quạnh hiu. Đằng nào
cũng là những cơn đói. Đằng thì đói cồn cào, đằng thì đói rời rã. Hiếm có phút thoả
lòng, hiếm có phút no. Xuân Diệu đã sống đến tận cùng hai cực đói ấy. Nhưng
Xuân Diệu chỉ là mình khi những cơn đói - khát ấy hành hạ. Không được đền đáp,
đó là cái giá mà Xuân Diệu phải trả một cách tiền định cho tiếng thơ mình. Nói
Xuân Diệu là tù nhân của chữ tình không hẳn là cách nói lạ hoá. Do cấu trúc tâm
thể đặc biệt, khát khao luyến ái thức dậy quá sớm. Thậm chí nó như cái mầm lửa
bẩm sinh, gặp ngọn gió thời đại đã nhanh chóng bốc thành đám cháy. Rồi suốt đời
ngọn lửa ấy cứ thiêu đốt không thôi. Đã có lúc tôi nghĩ dường như thi sĩ được
sinh ra dưới ngôi sao... "ái tinh". Hay khi vừa sinh ra đã chịu lời
nguyền của bà mụ nào đó, bà đã dáng xuống đời thi sĩ một thứ bùa chú, nên suốt
đời thi sĩ chỉ "loanh quanh" trong vương quốc của chữ Tình. Hát ca
rên rỉ trong vườn tình, ngâm ngợi than thở trong trường tình. Thậm chí, tôi đã
hình dung số mệnh như một ác thần đã gieo vào lòng thi sĩ một cơn khát cháy
lòng rồi trói chân cạnh nguồn nước trong mát. Cơn khát khiến cho thi sĩ nhìn ra
tất cả sự thần tiên của nguồn nước mà một người bình thường không thấy. Càng
khát, lại càng trong mát thần tiên. ấy thế mà chẳng thể nào uống được. Bằng
cách đó, thần đã duy trì cơn khát. Bằng cách đó, kẻ khát cứ luôn phải hát lên
những lời ca từ chính cơn khát của lòng mình. "Trời cao trêu nhử chén xanh
êm / Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm". Cái ác ý của trời cao là cứ
trêu nhử suốt đời như thế. Nói cách khác, để chống lại nỗi tuyệt vọng giá băng,
Xuân Diệu luôn đốt lên hi vọng. Và oái oăm thay, hi vọng không được đáp đền, mà
ngọn lửa của nó lại thiêu đốt tâm can thi sĩ. Thế nên cái tôi ấy cứ triền miên
trong cơn sốt luyến ái bất tận. Cái tôi kia không tự làm cho mình hạ sốt được.
Tình Xuân Diệu vĩnh viễn đơn phương. Nhưng đơn phương lại mới thực là Xuân Diệu.
Vì những lẽ đó, thơ tình Xuân Diệu phần lớn là lời "rao tình",
"mời yêu", chứ chưa phải là sự trải nghiệm thực sự trong tình trường.
Cũng có thể nói, thơ tình Xuân Diệu phần lớn là "tự tình".
Em
Coi tình yêu là cái duy nhất có ý nghĩa, nhưng tín đồ Xuân Diệu
không xem người yêu như một đức chúa, để chiêm bái phụng thờ. Niềm luyến ái đầy
tính trần thế đã khiến Xuân Diệu đưa nàng về đúng nghĩa: Người Tình. Một người
tình trần thế.
Nghiên cứu thơ trữ tình, người ta thấy có hiện tượng phổ biến
này: trong mỗi chàng thi sĩ đều sống một người đàn bà. Người đàn bà ấy là hiện
thân cho vẻ đẹp mà thi sĩ tìm kiếm tôn thờ. Là cái đẹp bằng xương bằng thịt.
Người ta gọi đó là Nàng Thơ, là người tình lí tưởng của thi sĩ. Thế giới hình
tượng thi ca được xem là sản phẩm sinh ra từ cuộc hôn phối âm thầm của hồn thi
sĩ và người đàn bà huyền diệu đó. Đồng thời, những hình bóng giai nhân trong
sáng tạo của thi sĩ có thể đa dạng, nhiều hình vẻ, nhưng xét đến cùng, đều chỉ
là những bóng dáng khác nhau của cùng một người đàn bà ấy. Muốn biết thi sĩ
khao khát vẻ đẹp nào, chỉ cần dựng lại nguyên vẹn chân dung người tình kia.
So với nhiều thi sĩ khác, Xuân Diệu không phải là người ham
khắc họa "đối tượng" của mình (Tự họa vẫn là cảm hứng mãnh liệt nhất!).
Cho dù không nhiều, vẫn đủ cho chúng ta hình dung về nàng. Gọi là
"nàng" vì, dù xuất phát từ tình nào thì, vào trong thế giới thi ca,
cái tôi Xuân Diệu vẫn trong vai một tình lang, "đối tượng" vẫn được gọi
bằng em và chủ yếu hiện ra với diện mạo thiếu nữ.
Người tình đương nhiên phải là một giai nhân. Song giai nhân
của mỗi thi nhân một khác. Cả Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử đều tìm đến "gái
quê", mà chất quê mỗi người vẫn một khác. Gái quê của Nguyễn Bính phải là
những cô gái còn giữ được những nền nếp chân quê, mang trong mình những mối
tình quê, duyên quê. Còn gái quê của Hàn Mặc Tử lại là những cô gái xuân tình
mà trinh khiết. Người tình của cái tôi Xuân Diệu không thuộc gái quê. Trái lại,
đầy chất đô thị đài các. Nàng phải là một giai nhân yêu kiều kiêu sa. Nàng phải
là hiện thân của kiều diễm. ấy là "những nàng hây hẩy tròn đôi tám".
Ta có thể thấy nàng với thân hình cẩm thạch hoàn mĩ: "Chỉ là tình, nhưng
tôi rất mê man / Gồm vũ trụ gửi nơi hình cẩm thạch", với "da thịt du
dương", đôi "má ngọc", "ngón tay thơ" mà mỗi cử chỉ đều
ban ra một làn ánh sáng : "ánh sáng ban từ một nét tay". Y phục của
nàng hoặc là những "xiêm nghê nổi gió lùa" lối cổ hay những y phục lối
tân thời : "tà áo mới cũng say mùi gió mới". Khi nàng xuất hiện thì
"một luồng ánh sáng xô qua mặt / thắm cả đường đi rực cả đời". Nàng
bước qua rồi mà vẫn lưu lại mãi ánh nhìn xao xuyến thần tiên:"Rặng mi dài
xao động ánh dương vui", lưu lại mãi nét cười sáng trăng rằm: "Em vui
đi răng nở ánh trăng rằm"... Vậy là, trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió
nàng hiện ra như một tình nhân đầy quyến rũ mời mọc. Có thể thấy, thi sĩ
"mới nhất trong các nhà Thơ Mới" này tạo ra ở hình tượng giai nhân một
điệu sống theo lối mới, với thủ pháp khắc hoạ mới. Nhưng về chuẩn thẩm mĩ, vẻ đẹp
giai nhân của Xuân Diệu lại nghiêng về cổ điển. Vẫn là vẻ đẹp thục nữ thuở nào:
"Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm / hây hây thục nữ mắt như thuyền", vẫn
là vẻ đẹp Quỳnh Như, Thuý Kiều, vẻ đẹp Bao Tự, Ly Cơ, Dương Quí Phi, Tây Thi...
Những hình ảnh mà văn chương cổ điển đã lưu lại trong kí ức tuổi thơ có thể xem
là mẫu gốc cho hình tượng giai nhân của Xuân Diệu.
Đấy là một đối cực.
Nàng còn hiện ra với một đối cực khác : giai nhân hờ hững phụ
phàng. Xuân Diệu đã ví sự xa vời và bí ẩn của nàng với vực thẳm, với trời xa từng
đem đến cho cái tôi kia biết bao thất vọng :"đôi mắt của người yêu, ôi vực
thẳm !/ ôi trời xa vừng trán của người yêu / Ta thấy gì đâu sau sắc yêu kiều /
Mà ta riết trong đôi tay thất vọng". Ví sự hờ hững lạnh lùng với lá khoai
:"Lòng anh là một cơn mưa lũ / Đã gặp lòng em là lá khoai". Ví sự nhạt
tình của nàng như màu phai hương tản :"Và như màu theo nắng nhạt hương
phai / Theo gió mất tình người đà tản mác". Sự vô tình lạnh nhạt nhiều khi
phũ phàng như một tội ác :"Em đã xé lòng non cùng giấy mới / Mây đầy trời
hôm ấy phủ sơn khê", "Em ác quá ! lòng anh như tự xé...". Nhiều
khi cái tôi tình si ấy đã kêu lên đầy hận sầu hờn oán :"Hỡi lòng dạ sâu xa
như vực thẳm"... Vì thế mà tình yêu đã bao lần bị dập tắt :"Mà trái
tim đã ghê dáng hững hờ / Đã chung phận của tro tàn bếp lạnh"... Tóm lại:
quyến rũ mời mọc và hờ hững phụ phàng là các đối cực tạo nên hình tượng giai
nhân - tình nhân của Xuân Diệu. Đây cũng là hai biểu hiện phổ biến mà ta vẫn thấy
ở những người tình muôn thuở. Điều này làm nên khía cạnh trần thế của hình tượng
người tình.
Và chúng ta cũng thấy tương quan lôgic giữa hình tượng cái
tôi và hình tượng giai nhân.
Hai cặp đối cực ở hai hình tượng này có quan hệ nhân quả với
nhau. Nếu khía cạnh quyến rũ của giai nhân luôn "thôi miên" cái tôi
kia khiến cho gã tình si luôn thức dậy với cõi lòng tràn ngập khát khao luyến
ái, thì khía cạnh lạnh nhạt hững hờ lại muốn dập tắt ngọn lửa ái ân trong cái
tôi ấy, gieo vào lòng nó nỗi cô đơn, biến nó thành một kẻ thất tình. Sự chuyển
hoá trong hình tượng cái tôi được khởi thuỷ từ đổi thay trong hình tượng giai
nhân. Giai nhân trở thành lí do sống của cái tôi ấy. Chúng đi đôi với nhau như
đối ảnh của nhau trong thế giới thi ca này. Mối tương quan máu thịt đó cho ta
thấy: một hệ thống hình tượng của thơ trữ tình bao giờ cũng tồn tại trong tính
cấu trúc của nó mà tạo nên một chỉnh thể sống động. Và ở trường hợp Xuân Diệu,
ta đã thấy thật nhỡn tiền, rằng hai hình tượng ấy nuôi sống nhau bằng một
"thực đơn" duy nhất: niềm luyến ái. Nhìn riêng từng cá thể: luyến ái
dồi dào khiến cái tôi rời bỏ nỗi cô đơn để hiển hiện như một gã tình si ; luyến
ái nguội tắt, ấy là khi cái tôi kia chường ra bộ dạng một kẻ thất tình. Cũng
như thế, khát khao luyến ái dâng lên, giai nhân hiện ra thật toàn vẹn là một
người tình đắm say quyến rũ - "ngừng mắt lại để trao cười bỡ ngỡ / ấy là
máu báo tin lòng sắp mở". Còn khi luyến ái như hương đã tản mác đi, nàng sẽ
chỉ là lá khoai, mặc cho cái tôi kia trút xuống những trận lòng. Nhìn song quan
cả cặp cũng thế. Khi luyến ái tràn ngập trong tim, họ hiện ra như một đôi lứa
đang miệt mài hút nhuỵ của mỗi giờ tình tự; trái lại luyến ái suy giảm, "hạ
đường huyết", thì lập tức "em là em anh vẫn cứ là anh", hai khối
cô đơn một vạn lí trường thành băng giá. Rõ ràng, họ là nhân vật của luyến ái
và chỉ của luyến ái thôi. Bởi thế họ chính là cặp nhân vật hết sức điển hình
cho lứa đôi muôn thuở, cũng tức là điển hình cho Thơ Mới Lãng mạn.
Thế giới
Và cũng bởi thế, cái thế giới mà trong đó họ tồn tại chỉ có
thể là một Tình trường. Vâng, như một lôgic tất yếu, thế giới bao quanh đôi
tình nhân đó phải là môi trường dành riêng cho tình ái.
Trước đây, tiếp cận thế giới thơ ca của một thi sĩ, người ta
thường hay tách bạch ra thành hai đối tượng chính là con người và thiên nhiên.
Thiên nhiên vẫn được nhìn như những bức tranh phong cảnh, được xem là sản phẩm
của niềm thiết tha với quê hương xứ sở, của ngòi bút thi sĩ tinh tế tài hoa. Thế
rồi, khi Thi pháp học được ứng dụng rộng rãi, người ta lại có thiên hướng phân
lập thiên nhiên trong hai phạm trù chính để xem xét là thời gian nghệ thuật và
không gian nghệ thuật. Những lối tiến hành như thế cũng đã được áp dụng vào trường
hợp Xuân Diệu và đã thu được những kết quả nhất định. Ví như, việc phân tách
thành ba diện mạo của thế giới Xuân Diệu: "thế giới của du dương",
"thế giới âu sầu mù mịt", "thế giới của sự chuyển hoá tàn lụi
chóng vánh" [2] . Hay khảo sát riêng về không gian, người ta đã thấy trong
Xuân Diệu có "không gian hiện thực", "không gian mộng tưởng".
Trong mỗi không gian như thế lại phân lập thành không gian vườn, phố, đường xá,
sông, nắng, sương..., không gian đêm, mộng, khát vọng, chia lìa [3] ...
Ở đây, tôi muốn nhận diện theo một hướng khác.
Tôi cũng nghĩ rằng từ khi có con người thì thế giới thuộc về
con người. Một thế giới được nhân hoá. Con người đồng hoá thế giới xung quanh bằng
cách áp đặt vào nó cái tôi của mình. Nó trở thành thế giới của cái tôi và thế
giới trong cái tôi. Điều này rõ nhất trong thơ Lãng mạn. Cơ chế đồng hoá của từng
nghệ sĩ thường là qui chiếu sự phong phú của thế giới bên ngoài về một mẫu gốc
nào đó. Mẫu gốc này nằm sâu trong tâm thức nghệ sĩ và chi phối việc cảm nhận thế
giới xung quanh của anh ta một cách âm thầm. Kết quả là hình ảnh thế giới đi
vào trong nghệ thuật của nghệ sĩ đều qua khuôn hình của mẫu gốc ấy. ở chiều ngược
lại, khi cầm bút sáng tạo, mỗi cảnh trí thiên nhiên được tạo ra đều như những
phân thân, hoá thân, những biến thể khác nhau của cùng một mẫu gốc kia mà thôi.
Cội nguồn của những mẫu này thường là những ấn tượng đầu lòng về khung cảnh
thiên nhiên thực thời thơ ấu và ấn tượng ban sơ về những cảnh trí thiên nhiên
được mô tả trong các tác phẩm nghệ thuật được tiếp xúc đầu đời. Chúng được tích
hợp và nhào nặn theo những cách rất riêng mà tạo nên cái mẫu gốc cho từng tâm hồn
nghệ sĩ.
Việc tìm mẫu gốc không phải lúc nào cũng dễ dàng. Có những
nghệ sĩ tiểu sử của họ cung cấp được cho ta những tư liệu để thực hiện sự truy
tìm. Nhưng không hiếm trường hợp, ta không thể biết tí gì về quãng niên thiếu của
họ. Vả chăng, việc hình thành những mẫu gốc như thế cũng không phải giản đơn
theo một cơ chế dịch chuyển trực tiếp hoàn toàn tương đồng: ngoài đời thế nào
vào trong nghệ thuật sẽ thế ấy. Trái lại, nó rất biến hoá. Vì thế, lối đi thông
thường và quyết định nhất trong việc truy tìm mẫu gốc của mỗi thi sĩ vẫn phải
là "qui đồng mẫu số chung" của tất cả những cảnh sắc riêng rẽ, dựa
trên sự lặp lại có tính qui luật của chúng. Lối đi này tất sẽ dẫn người nghiên
cứu đến với hình ảnh tổng quát nào đó, bao trùm lên những "tử số
riêng". Nó chính là mẫu gốc vậy. Mẫu gốc này sẽ thống nhất các mảnh không
- thời gian riêng rẽ, cắt xẻ, tách rời về một tổng thể, vì thế nó cũng sẽ qui tụ
các quan niệm căn bản của nghệ sĩ về một mối. Muốn nắm quan niệm tổng thể của
nghệ sĩ, không thể không truy tìm mẫu gốc đó. Trường hợp Hàn Mặc Tử là khung cảnh
động cát gần chợ Chua me Bình Sơn, Quảng Ngãi, cùng với vườn địa đàng trong
Kinh thánh, rồi Đào Nguyên, Thiên Thai trong văn chương Đạo giáo được đọc thời
thơ ấu. Chúng đã hoá thân trong nhau tạo nên cái diện mạo phổ biến là "chốn
nước non thanh tú" trở đi trở lại đầy biến hoá trong thơ Hàn. ở Huy Cận là
khung cảnh sông nước gò đồi miền sơn cước Ân Phú, Hương Sơn, Hà Tĩnh, mà thi sĩ
từng có một tuổi thơ buồn ở đó, đã sắm vai trò một mẫu gốc như thế để thi sĩ
tái tạo trong thơ mình một thiên nhiên tạo vật hoang sơ và hiu quạnh. ở Nguyễn
Bính, nắm vai trò này là cảnh sắc thôn Vân... Tôi chưa được biết đầy đủ về tuổi
thơ Xuân Diệu, nhưng qua một số hồi kí của chính Xuân Diệu và hồi kí những bạn
bè, thân nhân của ông cũng có thể thấy, trong tuổi nhỏ thi sĩ tương lai vốn đã
có những ấn tượng hết sức sâu sắc về cảnh trí mà rồi đây nó sẽ làm thành mẫu gốc
cho hình tượng thiên nhiên tạo vật trong thơ ông. Một trong những ám ảnh thơ ấu
đã đóng vai trò tế bào đầu tiên phôi thai nên cái mẫu gốc của thi sĩ phải kể đến
là cái vườn hoa đẹp đến mê li của ông Chín Cưỡng ở đó những cây đa to, cây me đẹp
mà chú bé con Xuân Diệu gọi là "thượng thuý lâu", có những vạt cành
hoang trong nắng chiều, có những loài hoa thược dược, hoa huệ, nhất là hoa lài:
"Bồn hoa lài ở cạnh giếng nhà ông Chín Cưỡng tạo cho tôi một cái mê li...
đêm trăng cái bồn hoa lài hiện lên như một cảnh kì ảo... có thể nói tôi đã
chung chạ với từng đoá hoa một, và hoa vào trong thơ tôi", những đêm trăng
Qui Nhơn, đêm trăng Huế sau này cũng sẽ đem vào thơ Xuân Diệu những nét huy
hoàng nguy nga và huyền diệu của nó. Những ấn tượng đó đã hoà huyết với nhau tạo
nên cái mẫu gốc là "vườn tình" trong thơ Xuân Diệu. Đồng thời những ấn
tượng về miền quê hiu quạnh và bãi tha ma Gò Bồi mà những năm tuổi thơ, cậu bé
Xuân Diệu đã từng đưa tang chú Cự sẽ đem vào hồn thơ Xuân Diệu cảm nhận về một
diện mạo khác của cuộc đời, tương phản với vườn tình: "Cách nhà tôi không
xa có một cái gò, người ta chôn nhiều người chết ở đó. Có những cây gai có trái
như con mắt mèo mà người ta gọi là cây mắt mèo, tất cả gợi lên một không khí
hoang vu", "Những cảnh xa xa, mờ mờ, buồn buồn, lãng mạn trong thơ
văn của tôi là lấy ở nông thôn mà tôi đã sống" [4] . Nhưng không thể loại
bỏ được ảnh hưởng rất sâu đậm của những thiên tình sử lừng danh mà Xuân Diệu đã
say đắm thuở thiếu thời Hồng lâu mộng, Kim Bình Mai, Tây sương ký... của Tàu,
Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Hoa Tiên... của ta, Rômêô và Juliet, Tristan và
Idơ, Mariuyt và Côdet... của Tây. Những cảnh sắc tạo vật thiên nhiên trong đó
đã được tâm hồn Xuân Diệu hấp thụ theo một kiểu riêng nào đó, không thể không
tham gia chế tác nên cái mẫu gốc của hồn thơ này. Nhưng tất cả những nguồn khác
nhau ấy sẽ không nói lên được điều gì, nếu như không có những hoá thân thật sự
vào trong thơ thi sĩ. Đọc Xuân Diệu, sau muôn vàn những cảnh sắc cụ thể, những
mảnh cắt xẻ của không gian, chung qui, vẫn có thể thấy, thế giới qua con mắt
Xuân Diệu hiện ra như một tình trường với hai diện mạo tổng quát phổ biến:
"mảnh vườn tình ái" và "sa mạc cô liêu" (chữ dùng của chính
Xuân Diệu là "vô liêu" - Mà cảnh đời là sa mạc vô liêu. Nhưng người
đương đại ít dùng. Căn cứ vào nghĩa chữ và nội dung hình tượng, thiết nghĩ thay
bằng "cô liêu" dễ cập nhật hơn). Mảnh vườn tình ái là diện mạo thế giới
khi mà tạo vật thiên nhiên hiện vẻ tình tứ ngập tràn, khiến con người khát khao
luyến ái. Còn hoang mạc cô liêu lại là diện mạo khác khi mà thế giới xung quanh
cái tôi ấy hiện vẻ trống vắng hoang liêu cô quạnh, khiến con người rơi vào cô
đơn. Trong thơ Xuân Diệu hai diện mạo này không hoàn toàn phân liệt nhau, mà
chuyển hoá, thậm chí, có lúc đan xen nhau. Rất có thể, đây không chỉ là ấn tượng
tuổi thơ, mà ám ảnh này còn được hình thành bởi một con người đặc biệt: quá
giàu khát khao luyến ái. Niềm luyến ái mãnh liệt và thường trực đến nỗi đã chi
phối việc phân lập toàn bộ thế giới xung quanh thành hai diện mạo ấy. Bởi xét đến
cùng "tiêu chí" phân loại chỉ là một chữ Tình thôi. Nó đã thành cặp mẫu
gốc để cảm quan Xuân Diệu qui chiếu và qui nạp thế giới đa dạng này (Xem H3)
Trước tiên, hãy bước vào Mảnh vườn tình ái. Có thể thấy vườn
là hình ảnh trở đi trở lại khá nhiều trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió:
"Vườn cười bằng bướm, hót bằng chim", "Vườn non sao ! Đường cỏ rộng
bao nhiêu", "Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá / ánh sáng tuôn đầy
các lối đi", "Trăng ở đó, đất vườn thêu bóng lá"... Đây không chỉ
là mật độ xuất hiện dày của một vài khu vườn nào đó. Mà nó còn là cái ấn tượng
bao trùm về thế giới này trong mắt Xuân Diệu. Khi cần khái quát, chính Xuân Diệu
sẽ gọi đó là "Vườn tình ái": "Đem chim bướm thả vào vườn tình
ái"... Đây là diện mạo căn bản của hình tượng thế giới trong thơ Xuân Diệu.
Nhìn kĩ có thể thấy Vườn tình ái chính là hình ảnh một thế giới đương khi
"tình thổi gió màu yêu lên phấp phới", khi "vạn vật nức xuân
tâm". Nói cách khác, đó là thế giới trong trạng thái dậy tình. Trong đó, vạn
vật thì giao duyên với nhau, con người cũng đang bén duyên, giao cảm, giao tình
với nhau. Tình yêu đã thức dậy trong lòng vạn vật. Khát khao luyến ái làm cho cỏ
cây, hoa lá, thảo mộc, chim muông, sông nước, mây trời... tất tật đều rạo rực đắm
đuối. Những "Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên / Cây me ríu rít cặp chim
chuyền / Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá / Thu đến nơi nơi động tiếng huyền",
những "tối bầu trời đắm sắc mây", "huy hoàng trăng rộng nguy nga
gió / xanh biếc trời cao bạc đất bằng", "Những lời huyền bí toả lên
trăng / Những ý bao la rủ xuống trần"... Diễn ra trong lòng cái vũ trụ
mênh mông đó, là cảnh tượng luyến ái ngây ngất. ở đây là cảnh: "Cây tìm
nghiêng xuống cánh hoa gầy / Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ / nghiêng xuống
đường rêu một tối đầy /... những tiếng ân tình hoa bảo gió / Gió đào thỏ thẻ bảo
hoa xuân", ở kia là "ánh sáng ôm choàng những ngọn cao / cây vàng
rung nắng là xôn xao / gió xuân phơ phất bay vô ý / đem đụng cành mai sát nhánh
đào". Chỗ khác lại là "con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu / lả lả cành
hoang nắng trở chiều"... Đêm nào cũng thấy "gió canh khuya như nghìn
ngón tay ôm / trăng mối lái phủ màng tơ thơ mộng". Khuya nào cũng là lúc
muôn vạn hoa đêm xao xuyến động tình... Con người bước vào chốn này thì không
ai còn có thể cầm lòng "vô tâm" được nữa: "Buổi ấy lòng ta nghe
ý bạn / Lần đầu rung động nỗi thương yêu","Vô tâm - nhưng giữa bài
thơ dịu / anh với em như một cặp vần", vì thế mà "lòng anh thôi đã cưới
lòng em"... Có lẽ không cần phải nhọc công dẫn chứng nhiều, ta cũng có thể
thấy rằng: dù cảnh trí có thể rất đa dạng với những mảnh cắt xẻ góc vườn, khóm
cây, khung cửa, góc phố, con đường, dòng sông, mặt hồ... tất cả chỉ là những
"mảnh vỡ", những địa chỉ khác nhau, những biến thể, biến tướng khác
nhau của cùng một hình tượng bao trùm: vườn tình ái.
Trong đó, luyến ái đã phổ cho vạn vật luồng sinh khí riêng của
nó. Tạo vật từ lớn lao nhất đến nhỏ nhoi nhất đều đang đồng loạt đưa duyên,
giao duyên, bén duyên nhau. Luyến ái làm nên điệu sống của chúng. Luyến ái làm
nên vẻ đẹp của chúng. Giăng mắc lên tất thảy là một "nỗi yêu trùm không giới
hạn / Dịu dàng toả xuống tự trời xanh". Theo với "trăng ngà lặng lẽ
như buông tuyết", lan toả theo những khúc nhạc thơm, những khúc nhạc hường,
vườn tình cứ mở rộng mãi vào thế giới của du dương, thế giới huyền diệu, của mộng
và thơ. Vì thế mà, có lúc, Xuân Diệu đã coi đó là cuộc hoà thơ kì diệu của sự sống,
coi cả thế giới là một bài thơ dịu, một bài thơ tình mênh mông:"Chúng tôi
ngồi giữa một bài thơ / Một bài thơ mênh mông như vũ trụ / Đầy khói hương xưa,
tràn ân ái cũ", "Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ / Lạc giữa niềm êm
chẳng bến bờ". Khi ấy, kẻ yêu đương cảm nhận rất rõ rằng "khí trời
quanh tôi làm bằng tơ, / khí trời quanh tôi làm bằng thơ"...
Ngay hồi Thơ thơ sắp ra, Thế Lữ đã cảm nhận thấy cái diện mạo
này của thế giới thơ Xuân Diệu, khi cho rằng ở đó tràn ngập Xuân và Tình. Quả
đúng là như vậy. Nhưng, như ở trên kia đã nói, lõi của Xuân chính là Tình. Nguồn
sống bên trong là tình, biểu hiện ra ngoài là vẻ xuân. Cho nên, tổng hợp hơn,
phải nói rằng thế giới Xuân Diệu là thế giới của chữ Tình. Tất thảy đều là
Tình. Tình đem đến nguồn sống. Tình đem đến vẻ đẹp: "tình thổi gió màu yêu
lên phấp phới", "ái tình đem máu lên hoa diện / thiếu nữ nhìn đâu
cũng thấy cười". Trong thế giới Xuân Diệu, cười là lúc tình tứ ngập lòng,
nó là vẻ đẹp xuân tình của tuổi trẻ. Bước tới đâu cũng gặp những nụ cười của
hoa cỏ, bướm chim và con người. Nhờ tất cả dậy men tình ái mà vườn tình tràn đầy
ánh sáng huy hoàng, âm thanh thi vị, màu sắc thơ mộng, hơi ấm khiêu gợi, hương
thơm quyến rũ... Lúc nào cũng sẵn bày những bữa tiệc trần gian, lúc nào cũng mời
mọc những bước chân đôi lứa, lúc nào cũng hết mình tô điểm cho các cuộc tình tự
thần tiên của những lứa đôi...
Có thể thấy, vào lúc hoàng kim, ánh sắc bao trùm của vườn
tình ái này là "thắm". Tất thảy mọi thứ ở đây đều "thắm":
cây thắm, hoa thắm, gió thắm, trời thắm, đường thắm, mây thắm, môi thắm, miệng
thắm, tin thắm, tên thắm, tuổi thắm... hoặc biến thái khác của thắm là đào, hường,
biếc: gió đào, nhạc hường, lá biếc... Đây đúng là một đặc điểm nổi bật trong cảm
quan Xuân Diệu. Trong tiếng ta, chữ "thắm" không chỉ là từ tương
đương với sắc đỏ, nó còn là trạng thái rực rỡ tươi ròng như có hồn của màu sắc:
đỏ thắm, xanh thắm, vàng thắm, hồng thắm..., nó cũng là trạng thái hài hoà hạnh
phúc lý tưởng: tình thắm, duyên thắm - "Có phải duyên nhau thì thắm lại"
(Hồ Xuân Hương). Dường như, trong thơ Xuân Diệu, "thắm" gồm cả mọi sắc
thái đẹp đẽ nhất của nó. Thắm là vẻ xuân tình sung mãn nhất. Thắm là luyến ái
ngất ngây dào dạt nhất. Vì thế mà vườn tình cũng mời mọc khiêu gợi nhất:
"Tóc liễu buông xanh quá mĩ miều / Bên hàng hoa mới thắm như kêu / Nỗi gì
âu yếm qua không khí, / Như thoảng đưa mùi hương mến yêu", "Trời đã
thắm lẽ đâu vườn cứ nhạt / Đắn đo gì cho lỡ mộng song đôi"... Bởi thế, vườn
tình cũng là vườn thắm chứ sao!
Để làm hiện lên diện mạo vườn tình, chỉ có ánh sắc không thôi
chưa đủ. Muốn men tình ái dậy lên, muốn tình thổi gió màu yêu lên phấp phới, phải
cần có một trường liên tưởng tương hợp nữa. Liên tưởng của Xuân Diệu cũng được
điều hành bởi chữ Tình, bởi khát khao luyến ái. Điểm tụ của mạch liên tưởng
Xuân Diệu là tình nhân và tình tự. Nghĩa là từng tạo vật thiên nhiên, từng nét
cảnh riêng rẽ thường được cảm nhận thông qua vẻ đẹp của tình nhân:"Trăng từ
viễn xứ đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn", "Chen lá lục những búp
lài mở nửa / Hớp bóng trăng đầy miệng nhỏ xinh xinh", "Tóc liễu buông
xanh quá mĩ miều"... Nói Xuân Diệu lấy con người ra làm chuẩn mực cho cái
đẹp tự nhiên là có lí. Nhưng, cái người cụ thể mang đậm màu sắc Xuân Diệu phải
nói là tình nhân: yêu kiều và tình tứ. Đồng thời, tạo vật cũng thường được qui
chiếu về vẻ đẹp của những cuộc tình tự. Điều này buộc cái nhìn của thi sĩ phải
phân lập vạn vật thiên nhiên thành những cặp đôi. Nhưng nếu chỉ là các cặp đôi
không thôi chưa đủ, mà còn phải là quan hệ giữa chúng là gì. Trong cái nhìn
thiên nhiên của thi sĩ Hồ Chí Minh, cũng có sự phân lập thành những cặp đôi:
"Núi ấp ôm mây mây ấp núi", "Vạn trùng núi đỡ vạn trùng
mây", "Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn", "Trăng lồng cổ
thụ bóng lồng hoa"... Nhưng các động thái trong đó nghiêng về quan hệ bằng
hữu, bầu bạn. Nên đó chỉ có thể là thiên nhiên thân ái. Còn quan hệ của các cặp
đôi ở Xuân Diệu là tình tự. Đã tình tự thì không thể thiếu nhục cảm. Có thế mới
thành ái ân. Thiên nhiên Xuân Diệu là thiên nhiên luyến ái:"ánh sáng ôm
choàng những ngọn cao / Cây vàng rung nắng lá xôn xao", "Tháng giêng
ngon như một cặp môi gần", "Này hoa ngọc đã giật mình trắng muốt /
Thoảng tay tình gió vuốt bỗng lao đao", "Gió nọ mà bay lên nguyệt
kia", "Sương nương theo trăng ngừng lưng trời", "Một tối
trăng cao gieo mộng tưởng / Vào lòng gió nhẹ thẩn thơ bay", "Những tiếng
ân tình hoa bảo gió / Gió đào thỏ thẻ bảo hoa xuân", "Gió chắp cánh
cho hương càng toả rộng / Xốc nhau đi vào khắp cõi xa bay / Mà hương bay thì
hoa tưởng hoa bay", v.v...
Hãy nán lại đôi chút với cặp câu nổi tiếng này: "Con đường
nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu / Lả lả cành hoang nắng trở chiều", đủ để dừng việc
minh họa về mảnh vườn tình ái.
Hoài Thanh đã có những cảm nhận tinh tế về vẻ thơ mộng được tạo
bởi bút pháp mơ hồ hoá tinh vi ở đó. Còn cái chúng ta quan tâm lại là vẻ quyến
luyến tình tứ đặc biệt của nó. Hình tượng bao trùm là một con đường xinh xắn
thơ mộng, lả lơi tình tứ đang để ngỏ như mời mọc những bước chân đôi lứa. Nhưng
nó được hợp nên bởi nhiều nét cảnh. Và nếu nhìn kĩ có thể thấy các tạo vật
thiên nhiên đều đi đôi với nhau thành cặp đang luyến ái tình tự. Con đường cùng
gió, cành hoang cùng nắng. Vẻ tình tự không chỉ được toả ra từ những chữ
"xiêu xiêu", "lả lả" được Xuân Diệu vay mượn và biến đổi từ
câu Kiều nổi tiếng vốn diễn tả cái giây phút không cầm lòng được đang muốn
"xé rào" của chàng Kim, còn nàng Kiều lại ý tứ né mình gìn giữ:"Sóng
tình dường đã xiêu xiêu / Xem trong âu yếm có chiều lả lơi". Mà tình tự
toát lên từ mọi động thái tinh vi ở đây: nhỏ nhỏ, xiêu xiêu, lả lả, trở chiều.
Chữ "xiêu xiêu" gợi vẻ si mê của gió với con đường, chữ "lả lả"
lại tóm được cái dáng điệu cành hoang đang lả mình vào lòng nắng. Chữ "nắng
trở chiều" không chỉ nói lối tài hoa tinh tế về bước di chuyển của thời
gian, mà còn diễn tả được cái dáng ne né mình khá mơ hồ, đầy ý tứ của nắng trước
cái cử chỉ lả lơi đa tình của cành hoang. Ngay chữ "nhỏ nhỏ" cũng vậy.
Thoạt trông tưởng chỉ là một tính từ, gần như "nhỏ" và "nho nhỏ"
tả tính chất, tức là cái vóc dáng nhỏ nhắn đã định hình và hoàn toàn tĩnh của
con đường. Không hẳn thế. Chữ "nhỏ nhỏ" này còn là một động thái.
Trong câu "Một chiếc linh hồn nhỏ / Mang mang thiên cổ sầu", bằng biện
pháp láy từ láy âm, thi sĩ Huy Cận đã tạo ra chữ "mang mang". Từ
"mang" vốn là động từ với nghĩa là chứa đựng, đem chở. Khi thành
"mang mang" nó đã hoá ra một động - tính từ. Lời thơ vì thế giàu
nghĩa hơn. Nó vừa có nghĩa động từ: một chiếc linh hồn nhỏ mà chứa cả một thiên
cổ sầu, vừa có nghĩa tính từ: trong linh hồn nhỏ ấy thấy mênh mang cả một thiên
cổ sầu. Xuân Diệu cũng dùng biện pháp đó mà tạo từ "nhỏ nhỏ" thành một
tính - động từ [5] . Nó không chỉ có nghĩa tính từ: con đường nhỏ. Mà đáng nói
hơn là nghĩa động từ: con đường đang tự làm cho mình nhỏ hơn, thon thả hơn,
xinh xắn hơn. Nghĩa là con đường đang làm duyên để sánh cùng với gió. Chữ
"lả lả" thì rõ là cách "phi tang" rất Xuân Diệu [6] . Vay
chữ "lả lơi" của Tố Như làm vốn, nhưng Xuân Diệu đã sinh lợi cho chữ,
bằng cách biến nó thành từ láy nguyên. Nhờ đó "lả lả" hoà điệu được với
các từ láy trong văn cảnh đều là láy nguyên - chúng phụ hoạ nhau tạo nên không
khí tình tứ. Đồng thời, nếu bê nguyên si chữ "lả lơi", một động thái
vốn của con người, thì cành hoang sẽ nhân hình hoá (biện pháp nhân hoá) hẳn ra
quá lộ liễu. Ngòi bút tinh vi của Xuân Diệu đã mơ hồ hóa đi khi tạo chữ "lả
lả", nhằm làm cho khía cạnh nhân hình hoá mờ đi. Cành hoang chỉ ẩn hồn người
chứ không nhất thiết phải hiện hình người. Vẻ si tình của cành hoang, nhờ đó
mà, kín đáo và tế nhị biết bao nhiêu. Rõ ràng, không khí tình tứ bao trùm cảnh
vật đã được dâng lên từ mọi động thái tình tự luyến ái của những cặp đôi ấy.
Con đường kia mới quyến rũ mời mọc làm sao! Thật xứng là con đường cho đôi lứa
sánh duyên trong mảnh vườn tình ái.
Tương phản với "Mảnh vườn tình ái" là cảnh quan
"sa mạc cô liêu". Đây không phải sa mạc theo nghĩa đen của chữ vốn gợi
ra một vùng cát đá hoang vu mênh mông. Mà là diện mạo thế giới lúc hoang liêu
cô quạnh khiến con người rơi vào trống vắng cô đơn. "Bãi xa cũng muốn làm
sa mạc, / Chẳng muốn ai đi - buồn, hỡi lòng!", "Muốn trốn sầu đơn
muôn vạn kiếp / Lại tìm sa mạc của tình yêu", "Để tôi làm kẻ qua sa mạc
/ Tạm lánh hè gay ; - thế cũng vừa", "Họ chứa nhớ thương và; - mỗi tối
/ ấy là sa mạc của buồng hoa", "Mà tình ái là sợi dây vấn vít / Mà cảnh
đời là sa mạc vô liêu"...Nếu "vườn tình ái" là dương bản, thì
"sa mạc cô liêu" là âm bản. Sự tương phản này khá toàn diện: vườn
tình ái là thế giới tình tứ hạnh phúc, vạn vật từng cặp đôi đang giao duyên,
giao cảm, tất cả hình sắc, ánh sáng, thanh âm, hương vị đều tươi mát nồng thắm,
con người hẹn hò gặp gỡ và tươi cười thụ hưởng ái ân, thời điểm của nó thường
là bình minh, chiều mộng hay đêm trăng...; sa mạc cô liêu lại là thế giới đơn
côi bất hạnh, vạn vật chia rời li tán thành từng cá thể lẻ loi, tất cả đều nhạt
nhoà u uất, con người chia lìa xa cách, buồn sầu trơ trọi với cô đơn, thời điểm
của nó thường là những chiều thưa lạnh hoặc đêm giá băng: "Không gì buồn bằng
những buổi chiều êm/ Mà ánh sáng đang hoà cùng bóng tối / Gió lướt thướt kéo
mình qua cỏ rối, / Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành / Mây theo chim về dãy
núi xa xanh / Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ,/ Không gian xám tưởng sắp
tan thành lệ.../Anh một mình nghe tất cả buổi chiều / Vào chầm chậm ở trong hồn
hiu quạnh"... Ta có thể gặp ở Thơ thơ và Gửi hương cho gió nhiều biến thể
của sa mạc cô liêu, ví như "cõi trần lạnh": "Trên trần lạnh thẩn
thơ dăm bóng nhạt", "chiếu xa vắng": "Chiếu xa vắng một
mình ta ở giữa", có lúc còn là "chăn im lặng", "chăn bóng tối",
"gối âm thầm", "ải quan xa": "Ta nằm đây như một ải
quan xa", v.v... Dù là gì cũng vẫn là một không gian trống vắng, lẻ loi,
cô quạnh, lạnh lẽo.
Trong tương quan với hình tượng cái tôi, nếu "vườn tình
ái" dành cho "kẻ tình si", thì "sa mạc cô liêu" là thế
giới của "kẻ thất tình". Chúng gắn bó với nhau như cá với nước vậy.
Nói đến hai diện mạo này của thế giới Xuân Diệu không thể
không nói đến một quan niệm rất riêng về thời gian của thi sĩ. Ngay từ khi mới
xuất hiện với những thi phẩm đầu tiên, người đọc đã thấy Xuân Diệu bị ám ảnh bởi
thời gian. Và từ bấy đến nay, người ta cũng đã khám phá ra nhiều khía cạnh thú
vị xung quanh cái "phong cách thời gian" của thi sĩ. Người ta thấy
chàng tình nhân Xuân Diệu trình bày rõ hơn ai hết quan niệm mới về thời gian của
thời đại mình. Trước, là quan niệm thời gian tuần hoàn, nay các thi sĩ Thơ Mới
thấy rõ ra thời gian tuyến tính. Nó không những không trở lại, mà mỗi khoảnh khắc
trôi qua là mất đi vĩnh viễn, như con người vĩnh viễn mất đi một phần đời. Người
ta thấy ra tất cả sự hà khắc: "Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua / Xuân
còn non nghĩa là xuân sẽ già"... Nhưng đấy chưa phải điều thật đặc biệt.
Thi sĩ có làm cho gấp gáp hơn những đơn vị đo thời gian giây phút, ngày đêm,
năm tháng, mùa vụ... thì cũng vẫn chưa phải là điều thật đáng nói. Đáng nói là
Xuân Diệu chia lại bốn mùa trong năm thành hai thôi: mùa xuân và mùa còn lại.
Mà phần còn lại hầu như không có, vì bốn mùa đều có thể thành xuân:"Xuân ở
giữa mùa đông khi nắng hé / Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa / Giữa mùa thu
khi gió sáng bay vừa/ Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng". Vậy là,
trong vườn tình chỉ tồn tại duy nhất một mùa - mùa xuân. Đúng hơn, là mùa tình.
Bởi luyến ái làm nên xuân, tình là cốt lõi là hồn vía của xuân:"Bình minh
quá mỗi khi tình lại hứa / Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta... Kể chi mùa thời
tiết với niên hoa / Tình không tuổi và xuân không ngày tháng".
Nhưng Xuân Diệu chia như vậy có lẽ chỉ nhằm mục đích tuyệt đối
hoá tình ái. Thế thì e rằng tất cả sẽ ngưng đọng. Trong thực tế thời gian vẫn
trôi và thi sĩ luôn bị dòng chảy trôi đó dày vò hành hạ.
Vậy, thi sĩ đã đo đếm dòng chảy trôi lạnh lùng tàn nhẫn kia bằng
cách nào? Trong triết học, Becxông có đưa ra một quan niệm mới về thời gian đó
là "thời biến". Còn nhà thi sĩ của chúng ta xây cất lên cái thế giới
nghệ thuật riêng của mình bằng quan niệm thời gian khác lạ: "thời sắc".
Tất nhiên đây là quan niệm thời gian của một thi sĩ. Khước từ cái quan niệm thời
gian ba thì quen thuộc quá khứ - hiện tại - tương lai, Xuân Diệu tâm niệm về thời
gian hai thì: thời tươi và thời phai. Nói cho đúng, cái ý niệm "thời sắc"
này chi phối Xuân Diệu riết róng và thường trực hơn mọi ý niệm thời gian khác.
Cho nên, trong thế giới nghệ thuật của thi sĩ, "thời sắc" là ý niệm
thời gian bao trùm, thôn tính những ý niệm thời gian kia. Quan niệm này xuất
phát từ niềm thiết tha vô bờ của nhà nghệ sĩ Lãng mạn với vẻ đẹp vườn tình của
thế giới. Mà sâu xa hơn là thiết tha với nguồn sống trẻ, vẻ đẹp trẻ của thế giới
này. Nó là thời gian gắn liền với nhan sắc son trẻ của mỗi sự vật. Độ xuân thì
chính là thời tươi, lúc vạn vật tràn đầy thanh - hương - sắc, con người cần phải
ý thức triệt để điều đó mà mau mau tận hưởng: "Cho chếnh choáng mùi thơm,
cho đã đầy ánh sáng / Cho no nê thanh sắc của thời tươi". Thời phai là độ
phai tàn phôi pha, vạn vật đều phải sợ: "Chim rộn ràng chợt đứt tiếng reo
thi / phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa". Không chỉ là hai thì tuần tự như
hai mùa lớn luân phiên lấp kín cái chu kì thường niên. Mà thời tươi và thời
phai gắn liền với nhan sắc mong manh của mỗi một sự vật. Nhan sắc thắm là thời
tươi, nhan sắc nhạt là thời phai. Nhân tố thúc đẩy sự vận hành thời gian hai
thì này không thể là gì khác hơn niềm luyến ái. Tình nồng thắm làm nên thời
tươi, tình lặng tắt làm nên thời phai. Mạch vận hành của "thời sắc"
này cũng quyết định đến sự biến đổi biện chứng trong thế giới nghệ thuật Xuân
Diệu. Nếu thời tươi đang làm cho một cảnh trí thiên nhiên trở thành "mảnh
vườn tình ái", thì thời phai là lúc vườn tình đang suy biến, phôi pha,
phai lạt để trở thành "sa mạc cô liêu". Vì thế không khỏi có lúc giữa
vườn tình mà đã thấp thoáng lảng vảng đó đây cái bóng cô liêu của sa mạc kia rồi:
"Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá / Hai người nhưng chẳng bớt bơ
vơ", "Trăng ngà lặng lẽ như buông tuyết / Trong suốt không gian tịch
mịch đời", "Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi / Khắp sông núi vẫn
than thầm tiễn biệt"... Khi "Những vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu
hài" thì đó là lúc Vườn tình ái sắp sửa thành Sa mạc cô liêu. Âu đó cũng
là biện chứng vì, như các cụ dạy, một khi trong âm có dương, thì trong dương tất
cũng có âm - "trong gặp gỡ đã có mầm li biệt", "đời trôi chảy
lòng ta không vĩnh viễn". Trong "thời tươi" đã ngầm chứa cái mầm
của "thời phai". Suy cho cùng, tình ái, niềm luyến ái là nhân tố điều
hành dòng thời gian hai thì đặc biệt này trong vương quốc thi ca Xuân Diệu.
Như thế, "vườn tình ái" và "sa mạc cô
liêu" vốn là những hình ảnh thực, đầy ấn tượng đối với thi sĩ, đã được tâm
thức thơ ca Xuân Diệu dùng như cặp hình ảnh tổng quát để phân lập và qui chiếu
thế giới này. Cặp hình ảnh tổng quát ấy đối lập với nhau một cách biện chứng.
Nghĩa là chúng vừa tương phản nhau vừa chuyển hoá sang nhau làm nên hình tượng
một thế giới toàn vẹn và sống động của Xuân Diệu.
Tóm lại, toàn bộ thế giới nghệ thuật Xuân Diệu từ hình tượng
cái tôi, hình tượng giai nhân, đến hình tượng thế giới đều được sinh ra từ chữ
Tình. Nói sát sạt hơn là sinh ra từ niềm khát khao luyến ái. Luyến ái là kiến
trúc sư đảm trách mọi khâu từ mẫu hình tượng, lựa chọn nguyên liệu, đến điều
hành xây cất mà sáng tạo ra toàn bộ vương quốc thơ Xuân Diệu. Luyến ái là chúa
sáng thế, chính nó mới là đấng hoá công tạo ra diện mạo không gian riêng, thời
gian riêng. Chính nó thổi hồn trẻ, truyền nguồn sống trẻ, điệu sống trẻ cho vạn
vật mà làm nên cõi yêu Xuân Diệu. Nói thế giới Xuân Diệu là thế giới của chữ
Tình là như thế. Xuân Diệu tạo ra nó bằng tâm huyết của mình để "cất giữ
tuổi trẻ mình ở đó", để được sống mãi cùng mai hậu. Đừng vội dùng những nhận
thức giáo điều để phê phán rằng quan niệm ấy là phiến diện, hay lệch chuẩn, là
khuyến dụ con người chạy theo tiếng gọi của tình yêu. Mỗi nghệ sĩ chân chính dựng
lên cái thế giới nghệ thuật của mình bao giờ cũng dựa trên một quan niệm riêng
nào đó. Thì đây là cái quan niệm của riêng Xuân Diệu. Xuân Diệu không bắt những
người khác ý phải theo ông. Thế giới ấy chỉ dành cho những ai đồng điệu, thanh
khí, tri kỉ. Nó giúp con người thêm một lần nhận chân về ý nghĩa đích thực của
sự sống trong cõi nhân sinh này. Thế thôi.
5. Xuân Diệu và thơ Tượng trưng
Phong tặng cho Xuân Diệu danh hiệu "mới nhất trong các
nhà Thơ Mới", không phải là một tấn phong hào phóng. Nhưng căn cứ chủ yếu
của Hoài Thanh là nội dung cảm xúc, điệu cảm xúc tiêu biểu.
Coi Xuân Diệu là một đỉnh cao, không thể không nói đến một
nhà cách tân hình thức.
Hình dung về sự sôi động bộn bề của Thơ Mới, cùng diện mạo phức
tạp của nó, người ta đã nói đến sự đua chen và chuyển hoá của ba dòng lớn: dòng
Việt, dòng Đường và dòng Pháp. Nhưng Thơ mới là một cuộc cách mạng, cách tân, nằm
trong cả trào lưu canh tân, hiện đại hoá rộng khắp đương thời. Hiện đại hoá vào
lúc này có nội dung khá xác định là Âu hoá, Tây hoá. Bởi thế chủ lưu của Thơ mới
đương nhiên là dòng Pháp.
Thơ Việt đã diễn lại trong vòng mười năm cái chặng đường mà
Thơ Pháp đã đi suốt một trăm năm. Không phải thơ Việt mạnh hơn. Đơn giản thơ Việt
đã được tọa hưởng kì thành. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, nếu không có một tiềm
năng dồi dào, một bản lĩnh vững vàng, thơ Việt không thể tiếp nhận gọn ghẽ và
có tiến trình gia tốc lớn đến vậy. Đậm nhạt khác nhau, nhưng hầu hết các trường
phái thơ hiện đại của Pháp đều đã tác động đến thơ Việt. Cả Thi Sơn, Lãng mạn
[7] , Tượng trưng, Siêu thực... đều đã ảnh hưởng đến những cây bút khác nhau của
Thơ Mới. Nhưng trong đó, người ta thấy trường phái có sức mê hoặc nhất, thâm nhập
sâu bền, sắc bén nhất chính là chủ nghĩa Tượng trưng với Baudelaire (1821 -
1867).
Lớp thi sĩ hướng ra phương Tây để học tập mà làm mới thơ mình
quả là đông đảo. Không thể nói ai ai cũng nhuần nhuyễn. Cũng khó tránh được những
mức độ bắt chước mù quáng, tiếp thu sống sít, mô phỏng vội vàng, lai căng lố
lăng... Bởi vì bên cạnh những bản lĩnh lớn cũng không hiếm kẻ thiếu bản lĩnh,
bên cạnh những tài năng lớn cũng khối kẻ thiếu tài năng. Nhưng cuối cùng, những
non kém đều yểu mệnh. Chỉ có những thành tựu những đỉnh cao là trụ được với thời
gian. Có thể nói trong dòng Pháp này, Xuân Diệu giành được ngôi vị vẻ vang nhất.
Xuân Diệu đã tiếp thu được những tinh hoa của thơ Pháp, nhất là tinh thần Lãng
mạn và Tượng trưng, kết hợp với những tinh hoa của thơ truyền thống để cách tân
thơ mình. Trong cuộc hôn phối Đông - Tây này, Xuân Diệu là trường hợp nhuần
nhuyễn vào bậc nhất.
Người ta đã từng lấy làm lạ rằng trước khi trở thành nhà Thơ
Mới, thì Xuân Diệu đã đi khắp những con đường mà một nhà thơ cũ đã từng đi. Bắt
đầu văn chương từ hồi nhỏ, cứ thế học tiểu học rồi trung học Xuân Diệu đều sáng
tác âm thầm, cần cù và quyết liệt. Ông đã làm ca dao, viết dân ca, viết tuồng,
hát nói, làm từ, phú, văn tế, thơ Đường, v.v... Vậy là, Xuân Diệu cũng đã đi lại
trong mấy năm trời cái chặng đường hàng nghìn năm của thơ truyền thống. Đó là
cái giá cần phải trả để trở thành một nhà Thơ Mới. Dường như mọi cách tân chắc
chắn và bền vững đều không thể thiếu được cái tiền đề là phải làm chủ truyền thống.
Trước khi trở thành nhà cách tân lớn trong hội hoạ với chủ nghĩa lập thể,
Picasso đã mất nhiều năm trời trải qua tất cả những bước đường truyền thống. Nhờ
đó mà bản lĩnh cách tân của ông càng ngạo nghễ hơn, quyết liệt hơn. Những tiếng
nói tân kỳ trong sáng tạo của ông càng dồi dào, nhuần nhuyễn hơn.
Có nghĩa là nghệ thuật Thơ Mới của Xuân Diệu đã bắt rễ rất
sâu trong cội nguồn truyền thống. Điều này không phải là một khẩu hiệu chơi, một
tín niệm suông. Là Thơ Mới nhưng thơ Xuân Diệu đã thu hút nhiều tinh tuý của
thơ ca dân gian, thơ ca cổ điển. Từ cả cấp độ thi hứng, thi cảm, thi tứ, đến
thi liệu, thi pháp, thậm chí cả ngôn từ. Xuân Diệu đã tự làm giàu ngòi bút của
mình bằng tất cả những gì mà một thi sĩ có thể tổng hợp để tạo ra chất lượng mới
cho sản phẩm của mình. Hãy thử nhìn vào đôi câu thơ, chỉ đôi câu này thôi:
"Mây biếc về đâu bay gấp gấp / Con cò trên ruộng cánh phân vân" (Thơ
duyên). Để có sợi tơ óng ánh này, con tằm đã phải tiêu tốn bao nhiêu thứ dâu.
Đôi câu thơ diễn tả cái trạng thái của thế giới cặp đôi đang chuyển thành thế
giới li cách chia rời. Mây biếc đang vội vã bay đi, bỏ trời lại phía sau, bỏ
rơi con cò một mình trên ruộng. Con cò lẻ loi côi cút nhìn theo mà phân vân
không biết về đâu kịp trước khi bóng tối kéo về (Khung cảnh còn thêm "Chim
nghe trời rộng dang thêm cánh / Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần"). Đó
là hình ảnh một cá thể bơ vơ trong thế giới cô quạnh của cõi đời sa mạc cô
liêu. Xuân Diệu đã huy động thật nhiều nguyên liệu truyền thống, rồi tái tạo lại
bằng cách thổi hồn của mình, của thế hệ mình vào đó, đồng thời chế tác bằng một
thi pháp mới. Đôi khi quen đà trượt qua, ta không để ý rằng "mây biếc"
là một hình ảnh phi hiện thực, phi lí. Trong thực tế, không thể bói ra được mây
biếc. Nhưng tạo ra sự phi hiện thực này không phải Xuân Diệu là đầu têu. Đầu
têu là dân gian. Ca dao từng có câu: "Trên trời có đám mây xanh /ở giữa
mây trắng xung quanh mây vàng...". Quan sát hiện thực, con mắt thiên văn
khẳng định: có trời xanh chứ không có mây xanh. Do phản quang, do cảm nhiễm,
người ta thấy mây vàng, mây trắng, mây đen, mây đỏ... nhưng quyết không có mây
xanh. Tạo ra sự phi lí này, tác giả dân gian muốn ngầm nói về con mắt si tình một
khi nhìn vào cảnh vật thì cái gì cũng ngũ sắc lung linh, vả chăng lối nói phi
lí trong tình ái đôi khi cũng là một lối dẫn dụ mê hoặc, cuốn đối tượng vào niềm
đắm say của mình (chả thế mà một gã si tình khác cũng ăn nói rất phi lí:
"Đêm qua tát nước đầu đình / Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa
sen..."!). Từ "mây xanh" của dân gian sang "mây biếc"
của Xuân Diệu không hoàn toàn tương đương. Đúng là trong thực tế, Xuân Diệu thường
tạo ra những tương đương bằng thủ pháp "đánh tráo ngôn từ". Ví như
trong bài Biển sau này, thi sĩ có câu: "Anh không xứng là biển xanh /
Nhưng cũng xin làm bể biếc". Thoạt nghe, cứ tưởng "kẻ nói" khiêm
nhường, hoàn toàn nhún mình. Cứ thoang thoảng, "kẻ nghe" dễ tưởng bở
rằng chàng khiêm tốn hạ mình. Không phải thế: "biển" thành "bể",
"xanh" thành "biếc", đâu có cao thấp gì khác nhau. Em là em
anh vẫn cứ là anh đấy thôi. Song, ở trường hợp Thơ duyên, lại không thế.
"Mây xanh" thành "mây biếc" là thủ pháp gia tăng nghĩa.
Trong văn cảnh này, biếc giàu nghĩa hơn xanh. Biếc không chỉ có màu mà còn có
ánh. Khả năng biểu đạt giàu hơn. Trong ánh nhìn theo đầy tiếc nuối của con cò
vào thời khắc ấy mây bay càng xa khỏi tầm nhìn thì lại càng lộng lẫy hơn, không
chỉ có màu xanh mà còn lung linh cả những ánh biếc. Mây không chỉ bay đi mà dường
như còn mang những ánh sáng cuối cùng của một ngày bay đi mất. Rõ ràng, từ ca
dao bay vào Thơ Mới, qua tâm hồn Xuân Diệu, áng mây kia đã được điểm tô lại
thêm thắm sắc tươi màu. Nhìn cho kĩ, áng mây cũng còn bay về từ Đường thi. Cả
"Bạch vân thiên tải không du du" của Thôi Hiệu, cả "Cô vân độc
khứ nhàn" của Lí Bạch... đều mang trong nó cái điệu sống nhàn với những
tiêu dao phiêu bồng của thi nhân thời đại trước. Nhưng khi bay vào thơ Xuân Diệu,
thì nó không còn nhởn nhơ, phiêu du, nhàn nhã được nữa. Thời Thơ Mới đã khiến
nó phải tăng tốc rồi: "Mây biếc về đâu bay gấp gấp". Nghĩa là Xuân Diệu
đã phổ vào nó cái điệu hồn của thời đại ấy. Hai chữ "gấp gấp" không
chỉ nói được cảm nhận về thời gian gấp gáp, chiều đang xuống, hoàng hôn và bóng
tối đang về. Không chỉ chứa trong nó cái quan niệm đã hoàn toàn khác xưa về thời
gian của lớp người mới. Mà còn thấy rõ điệu sống và hơi thở của cái tôi Xuân Diệu
lúc nào cũng cuống quýt "mau đi thôi!", "mau với chứ! vội vàng
lên với chứ!", "gấp đi em!"... Vậy là bằng điệu hồn Lãng mạn,
Xuân Diệu đã bắt nhập được khí vị lãng mạn trong thơ xưa, rồi biến đổi đi, đặng
kí thác vào đó sắc điệu thời đại mình. Nghĩa là, theo cách nói của chính Xuân
Diệu, vật chứng đã được "phi tang".
Hình ảnh con cò cũng thế. Con cò trên ruộng kia là con đẻ của
cuộc luyến ái giữa truyền thống và hiện đại, phương đông và phương tây. Trước hết
nó là đứa con được sinh ra từ con cò mẹ vẫn bay lả bay la từ mấy nghìn năm nay
trên đồng quê xứ sở này và trong vô vàn khúc ca dao. Nhưng trong ca dao, dù là
hiện thân của đời sống khổ cực nhọc nhằn, của tình yêu, phẩm cách hay thân phận...
thì con cò vẫn chỉ là biểu tượng của người nông dân thôi. Con cò này không thế.
Dù có đứng trên ruộng thì nó vẫn là hiện thân cho cái tôi Thơ Mới. Nó gợi ta nhớ
đến con nai cũng trong cảnh ngộ tương tự, một tâm tư tương tự: "Tôi là con
nai bị chiều đánh lưới / Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối". Thì con nai
này và con cò kia chẳng qua chỉ là hai biến thể khác nhau của cùng một cái tôi
cô đơn Xuân Diệu mà thôi. Vậy là, con cò mẹ trong ca dao sinh ra con cò con này
cho Thơ Mới, mang huyết thống ấy, nhưng nó đã nhập cư hoàn toàn vào Thơ Mới rồi.
Lại nữa, truy tầm lai lịch, còn thấy bóng dáng Cổ điển của
nó. Chả thế mà ngay khi nó mới ra giàng, Hoài Thanh đã nhận ra: "Từ con cò
của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà
cánh phân vân có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới". Lối
phê bình ấn tượng đã đem đến cho tác giả Thi nhân Việt Nam một lời bình thật
hay. Dù vậy, cũng mới dừng trong ấn tượng. Tinh thần của thời đại này, đòi hỏi
những mỹ cảm đầy ấn tượng cần phải soi tỏ bằng duy lí nữa. Từ Vương Bột đến
Xuân Diệu, khoảng cách quả là hơn ngàn năm. Nhưng còn hai thế giới? Chẳng nhẽ
là khung cảnh Trung Hoa và khung cảnh Việt Nam ư? Không phải. Mà là hai thế giới
nghệ thuật. Chúng ta đều biết, Thơ Đường là một thời đại huy hoàng của nghệ thuật
Trung Hoa. Nó được xây dựng và phát triển trên một hệ thống quan niệm triết học
và mỹ học riêng. Nói hết những điều ấy không phải là mục đích của phần liên hệ
này. ở đây chỉ lẩy vài khía cạnh nhỏ có liên quan trực tiếp. Xuất phát từ cặp
phạm trù gốc Âm - Dương, mà có những cặp tương ứng: Tĩnh - Động, Hư- Thực, Lạnh
- Nóng, Vơi - Đầy, Gần - Xa... Nếu quan niệm âm dương tiêu trưởng coi âm là gốc
của vũ trụ, thì tĩnh cũng được xem là gốc của thế giới này. Cảm nhận và thể hiện
cái tĩnh đời đời và sâu thẳm là một nguyên tắc mỹ học phổ biến, chi phối nghệ
thuật thời đại ấy. Thơ Đường lại tỏ ra hết sức sở trường trong việc nắm bắt cái
tĩnh mênh mông và sâu xa của tạo vật. Để làm được điều đó, đòi hỏi phải có những
thao tác thi pháp tương ứng. Thơ Đường thường nhìn cá thể trong mối hoà đồng với
toàn thể. Và khi muốn diễn tả cái tĩnh lại thường dùng cái động. Con cò của
Vương Bột trong cái buổi chiều thơ Đường kia đang đồng hành với thời gian, đang
hoà nhịp với không gian. Nghĩa là cá thể đang hoà cùng toàn thể: "Lạc hà dữ
cô lộ tề phi / Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc" (Con cò cùng với ráng
chiều bay về phía trước / Nước thu hoà với trời thu một màu). Tuy cò bay (động)
nhưng không hề làm cho trời chiều nhìn từ gác Đằng Vương bị khuâý động. Trái lại,
càng làm cho nó thanh tĩnh hơn bao gìơ hết. Trong khi đó, thế giới Thơ Mới được
xây dựng từ hệ thống quan niệm triết học và mĩ học hoàn toàn khác. Tư tưởng cá
nhân đã làm cho vũ trụ quan thay đổi, người ta luôn thấy con người mới là trung
tâm, sự tồn tại cá nhân mới là gốc, đồng thời luôn thấy cá thể tách khỏi toàn
thể, thậm chí con người như những cá thể bơ vơ, lạc loài, bị toàn thể bỏ rơi.
Vì thế mà cô đơn là tiền định, là căn bản, là vĩnh viễn. Khao khát vượt thoát
cô đơn là thường trực, không nguôi, không tắt. Cả lòng người, và lòng tạo vật đều
xáo động. Vì thế, xôn xao trở thành điệu hồn của Thơ Mới. Nắm bắt cái xôn xao
ngấm ngầm trong lòng người và tạo vật là một tâm nguyện thiết tha của Thơ Mới.
Bằng trực cảm, Hoài Thanh đã nhận thấy: "chưa bao giờ thơ Việt Nam lại buồn
và nhất là xôn xao như thế". Nếu có nói tĩnh thì bên trong cái tĩnh vẫn
náu cái động, cái xôn xao ấy. Con cò của Xuân Diệu thực là cá thể của Thơ Mới.
Nó bị mây chiều và cả trời chiều bỏ rơi, ngay cả thời gian, "cái đoàn giây
phút" kéo nhau vội vàng đi cũng không đoái hoài, cũng dửng dưng lạnh nhạt.
Bị toàn thể bỏ rớt lại sau, cá thể ấy đứng sầu trên ruộng như con nai nhỏ bị bỏ
mặc trên rừng chiều vậy. Không bay là tĩnh. Nhưng ẩn sau cái tĩnh kia là cả một
cõi lòng đầy xáo động, đầy phân vân. Thế là, bay từ thơ Đường về đến Thơ Mới,
con cò kia đã được hoán cốt thoát xác, mang một sinh mệnh mới, một dáng điệu
hoàn toàn mới rồi.
Chưa hết, chúng ta còn biết, đối ngẫu là một hình thức tổ chức
lời thơ, câu thơ phổ biến thời cổ điển. Dạng chuẩn là phải "đối chan
chát", nghĩa là phải đối toàn phần. Chối bỏ thơ cũ, các nhà Thơ Mới không
dại gì mà ngoảnh mặt với tất cả. Nhưng phép đối được kế thừa với các mức độ
khác nhau. Chẳng hạn Huy Cận dùng rất đậm tay. Lối dùng cũng chưa xa mấy so với
các cụ xưa: "Sóng gợn Tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước
song song", "Nắng xuống trời lên sâu chót vót / Sông dài trời rộng bến
cô liêu"... Vì cả lí do này mà người ta thấy phong vị cổ điển Đường thi
trong Lửa thiêng rất dồi dào. Xuân Diệu cũng có nhiều lúc dùng lối ấy:
"Người giai nhân: bến đợi dưới cây già / Tình du khách: thuyền qua không
buộc chặt". Song, lối tiêu biểu cho Xuân Diệu hơn cả phải là lúc đã phi
tang khá sạch sẽ. Nghĩa là những lúc tác giả không câu nệ đối xứng đến mức đối
chọi, mà chỉ mượn ở đối xứng cái tinh thần tương xứng mà thôi. "Mây biếc về
đâu bay gấp gấp / Con cò trên ruộng cánh phân vân" thuộc dạng ấy. Suy cho
cùng, cặp câu được tổ chức theo lối đối ngẫu. Nhưng chẳng dại gì tuyệt đối, mà
chỉ là tương... đối. Nghĩa là chỉ đối một số bình diện thôi. Về điểm nhìn, câu
trên: bầu trời - câu dưới: mặt đất. Về sự vật, câu trên: mây bay - câu dưới: cò
đậu. Về động thái, cả hai đều được diễn tả bằng từ láy, nhưng nếu trên là láy
nguyên "gấp gấp", thì ở dưới láy vần "phân vân". Nó tạo ra
một bức tranh toàn vẹn mà vẫn rất tự nhiên, chứ không nhất thiết phải gò vào
đăng đối. Đối ngẫu dường như đã hoàn toàn được phi tang. Nhìn vào thi liệu,
dùng chim chiều và mây chiều để gợi cảnh hoàng hôn, gợi bóng tà dương vốn là lối
dùng thi liệu đậm chất Cổ điển. Thơ Mới cũng chẳng kiêng chê. Họ luôn dùng và
có biến đổi. Nhưng Huy Cận còn gần các cụ lắm: "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
/ Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa". Còn Xuân Diệu, nhìn cho kĩ, cũng vẫn
thi liệu đó thôi: "Mây biếc về đâu bay gấp gấp / Con cò trên ruộng cánh
phân vân", song mấy ai nghĩ rằng nó thoát thai từ cổ điển đâu.
Vậy đấy, để nhả ra thứ tơ óng chuốt hiện đại là Thơ Mới, con
tằm thi sĩ đã ngốn vào mình biết bao thứ dâu xanh truyền thống. Không có cái
quãng lặn lội qua tất cả những thể văn thơ cũ, làm sao Xuân Diệu có thể trở
thành nhà thơ "mới nhất trong các nhà Thơ Mới"?
Song le, Xuân Diệu chỉ thực sự trở thành Xuân Diệu sau khi tiếp
xúc với thơ Pháp, nhất là sau khi gặp Baudelaire.
Thơ Pháp nói chung mang đến cho Xuân Diệu chất Lãng mạn hiện
đại. Tác giả Hoa ác (Les fleus du mal) đem đến cho Xuân Diệu chất Tượng trưng.
Ngay điểm này đã thấy bản lĩnh của Xuân Diệu. Say mê Baudelaire, ảnh hưởng rất
nhiều, nhưng Xuân Diệu không tuyệt đối hoá, càng không bị tác giả "Hoa
ác" thôn tính. Ai nghiên cứu Baudelaire đều thấy ông có thái độ tẩy chay
thơ Lãng mạn, ông đã không ngần ngại miệt thị bằng hình ảnh này: "Thơ lãng
mạn dễ dãi như một kĩ nữ". Xuân Diệu không ảnh hưởng thái độ quá khích đó.
Cũng không phải ông học Baudelaire tất tật, trái lại, có chọn lọc.
Phải thừa nhận ông tổ của chủ nghĩa tương trưng Pháp với tập
"Les fleurs du mal" có ảnh hưởng rất mạnh đến lứa thi sĩ này. Không
ít người đã bị "bóng đè" thành cớm nắng, ngọng nghịu. Còn những người
khác chia nhau các ảnh hưởng. Căn cứ vào nội dung tập thơ và nghĩa chữ mà chữ
"mal" đã được dịch rất khác nhau. Ngoài nghĩa thông dụng nhất là
"ác"(Hoa ác), nó đã được dịch thành các nghĩa"tội lỗi" (Những
bông hoa tội lỗi), "xấu" (những bông hoa của điều xấu), "kì dị"
(Những bông hoa kì dị), "đau thương" (những bông hoa của đau
thương)... Có thể đó là các sắc thái khác nhau hợp nên tổng nghĩa của chữ
"mal". Mỗi thi sĩ chịu ảnh hưởng lại tâm đắc về một vài sắc thái nào
đó. Do tạng của mình, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên nghiêng về "đau
thương" và "kì dị", rồi đẩy lên đến "kinh dị". Bích
Khê lại mê cái "kì dị" và" xấu". Trong khi đó Đinh Hùng và
Vũ Hoàng Chương lại hấp thụ nghiêng về khía cạnh đau thương và tội lỗi... Còn
Xuân Diệu say mê tác giả "Hoa ác" chủ yếu vì cảm quan tương ứng
(Correspondance) của ông. Có thể nói, Xuân Diệu đã làm một điều táo bạo là tác
hợp Baudelaire với Lãng mạn (cái mà chính chủ soái của chủ nghĩa tượng trưng
luôn thành kiến). Xuân Diệu đã mượn cảm quan tương ứng của Tượng trưng để diễn
đạt cái tinh thần Lãng mạn của mình. Cả hai đã giao cảm luyến ái nhau đắm say
trong hồn thơ và thi pháp Xuân Diệu.
Đọc kỹ, có thể thấy rằng, trong các điểm nổi bật của thuyết
"tương ứng", Xuân Diệu đã tâm đắc nhất với hai điểm. Một là, quan niệm
về tính thống nhất sâu xa và huyền bí của vũ trụ này. Chả thế mà, đó đây trong
thơ Xuân Diệu, vẫn có hình tượng một thi sĩ bị quyến rũ trước vẻ huyền bí sâu
xa của vũ trụ vô bờ, cảm giác huyền bí luôn nối từ sâu thẳm của tâm linh thi sĩ
với đáy sâu của tạo vạt thiên nhiên: "Gió sáng bay về thi sĩ nhớ / Thương
ai không biết đứng buồn trăng / Huy hoàng trăng rộng nguy nga gió / Xanh biếc
trời cao bạc đất bằng", "Bốn bề ánh nhạc biển pha lê / Chiếc đảo hồn
tôi rợn bốn bề / Sương bạc làm thinh khuya nín thở / Nghe sầu âm nhạc tới sao
Khuê", "Những lời huyền bí bốc lên trăng / Những ý bao la rủ xuống trần",
"Hư vô bóng khói trên đầu hạnh", "Phất phơ hồn của bông hường /
Trong hơi phiêu bạc còn vương máu hồng", "Chúng tôi lặng lẽ bước
trong thơ / Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ / Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng
quá...", "Trăng ngà lặng lẽ như buông tuyết / Trong suốt không gian tịch
mịch đời"... Tính thống nhất trong sự âm u huyền bí của nó đã mở thế giới
Xuân Diệu sâu mãi vào cái thăm thẳm của cõi vô biên trong hoàn vũ. Nhưng đến đó
đôi khi ta cũng thấy ớn lạnh vì nó cũng là cõi tịch mịch, thấp thoáng đâu đây
cái bóng của hư vô. Ta lại thèm trở về với những điều ấm nóng trên mặt đất trần
thế. Hai là, sự tương giao tương ứng của các giác quan. Không phải ngẫu nhiên
mà Xuân Diệu đã đề từ cho bài thơ Huyền diệu của mình bằng câu thơ chứa đựng
quan niệm nổi tiếng của Baudelaire: "Les parfums, les couleurs et les sons
se repondent " (Hương vị, màu sắc và âm thanh tương ứng với nhau). Trước
Baudelaire, không phải thơ ca hoàn toàn chưa biết đến sự hoán cải giác quan.
Nhưng bấy giờ, còn là một ý thức nghiêng về tự phát, vả chăng nó cũng mới chỉ dừng
lại như vài thao tác chuyển đổi cảm giác còn có phần "manh động" hạn
chế. Baudelaire đã lập thuyết cho điều đó, nâng nó thành một chủ nghĩa. Tương ứng
giác quan thành một phương thức phổ biến của tư duy nghệ thuật tượng trưng. Nhờ
công cụ tư duy mới này mà biên giới của thơ mở rộng hơn bao giờ trước thi sĩ.
Nó cho phép thi nhân đi mãi vào cõi vô hình để mang về những hình sắc diễm ảo.
Với phép màu nhiệm của tương giao, thi sĩ đã thực sự đi vào thế giới huyền diệu
làm những cuộc phiêu lưu kì thú mà sự phân liệt giác quan không thể nào giúp
con người có thể thâm nhập được qua biên giới của nó: "Này lắng nghe em
khúc nhạc thơm... Và hãy buông cho khúc nhạc hường / Dẫn vào thế giới của du
dương / Ngừng hơi thở lại xem trong ấy / Hiển hiện hoa và phảng phất
hương","Tôi muốn tắt nắng đi/ Cho màu đừng nhạt mất / Tôi muốn buộc
gió lại / Cho hương đừng bay đi", "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần",
"Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi / Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt"...
Nếu Lãng mạn là những cơn lũ cảm xúc tuôn trào mãnh liệt và lối tạo hình
nghiêng về mỹ thuật mà chủ yếu là hội hoạ và điêu khắc, thì Tượng trưng là sự
thăng hoa cảm giác, nó giúp cho cảm xúc được chưng cất kĩ hơn và đường nét tạo
hình được tinh giản hơn nhờ phát huy triệt để nhạc tính của ngôn từ. Xuân Diệu
đã tạo ra cuộc tương phùng nhuần nhuyễn Lãng mạn với Tượng trưng để tạo nên tiếng
nói thi ca của mình. Những cơn lũ cảm xúc được chưng cất thành những li rượu tượng
trưng: "Ta muốn ôm: / Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn / Ta muốn riết mây
đưa và gió lượn / Ta muốn say cánh bướm với tình yêu / Ta muốn thâu trong một
cái hôn nhiều / Và non nước, và cây, và cỏ rạng / Cho chếnh choáng mùi thơm,
cho đã đầy ánh sáng / Cho no nê thanh sắc của thời tươi / Hỡi xuân hồng ta muốn
cắn vào ngươi". Những bức tranh đầy chất tạo hình được phổ thêm chất nhạc:
"Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang / Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng /Đây
mùa thu tới mùa thu tới / Với áo mơ phai dệt lá vàng". Những hình tượng trực
quan qua giao ứng của cảm giác đầy ám gợi đồng loạt thăng hoa: "Trăng từ
viễn xứ / đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn", "Mây vắng, trời
trong, đêm thủy tinh/ Linh lung bóng sáng bỗng rung mình/ Vì nghe nương tử
trong câu hát/ Đã chết đêm rằm theo nước xanh"...
Điều rất đáng kể trong việc làm chủ phép tương giao này của
Xuân Diệu là thi sĩ không chỉ dừng lại ở sự chuyển đổi cảm giác mà đã đi xa
hơn: tạo ra sự giao thoa cảm giác. Đây là điểm thần diệu trong thi pháp của thi
sĩ này. Học phép tương giao, phần đông vẫn quẩn quanh với thuật đắp đổi cảm
giác. Nghĩa là dùng một cảm giác này để thế chỗ một cảm giác khác mà ám gợi sự
vật. Ví như "Một tiếng chim kêu sáng cả rừng" (Khương Hữu Dụng). Xuân
Diệu cũng dùng thuật này rất phổ biến:"Đã nghe rét mướt luồn trong
gió", "Rồi hãy buông cho khúc nhạc hường", "Khắp xương
nhánh chuyển một luồng tê tái","Khi chiều giăng lưới qua muôn gốc
cây", v.v... Nhưng trình độ bậc thầy của Xuân Diệu phải tìm ở chỗ giao
thoa cảm giác. Tức là thủ pháp đem các cảm giác khác nhau đồng hiện trong cùng
một sự kiện thi ca, sự kiện ngôn ngữ, dựa trên việc khơi dậy tính đa nghĩa của
ngôn từ. Ví như chữ "lung linh" chỉ là cảm giác đơn (mônô) chỉ thuần
là thị giác, diễn tả hình ảnh ánh sáng nhún nhẩy, rung rinh. Xuân Diệu đảo
thành "linh lung" vừa khiến cho nó huyền bí hơn, vừa gia tăng được cảm
giác cho từ. Cùng với cảm giác thị giác, "linh lung" còn chứa cả xúc
giác, ánh sáng không chỉ nhún nhẩy mà kèm với nó còn cả những thoáng rùng mình:
"Linh lung bóng sáng bỗng rung mình". Hay các chữ "rợn",
"khơi vơi" gồm trong mỗi từ không chỉ có thị giác và xúc giác mà còn
có gì xa xăm hơn thế nữa: "Mắt tìm thêm rợn ánh khơi vơi", "Chiếc
đảo hồn tôi rợn bốn bề"...
Hãy nhìn kỹ vào một câu, một câu thôi, trong Nguyệt Cầm. Diễn
tả từng tiếng đàn nguyệt bằng cảm nhận thi ca, Xuân Diệu viết: "Mỗi giọt
rơi tàn như lệ ngân". Có thể nói đây là câu thơ rất tiêu biểu cho tư duy
thơ tượng trưng. Tư duy tượng trưng có thiên hướng tạo ra những hình tượng thơ
với dạng thức một hình thể nhưng chứa nhiều hình ảnh. Hình thể "giọt"
trong câu thơ này chứa nhiều hình ảnh thi ca. Là giọt đàn (âm thanh), cũng là
giọt trăng (ánh sáng), là giọt lệ (nước mắt) mà cũng là giọt bạc lỏng lung linh.
Chữ "giọt" đã làm hữu hình hoá âm thanh vô hình. Chữ "tàn"
cho thấy âm thanh kia là ánh sáng. Thính giác thị giác cứ liên tục thế chỗ,
chuyển đổi, "chuyển kênh" qua nhau. Nhưng đến chữ "lệ ngân"
thì các cảm giác ở đây đã hoàn toàn đồng hiện giao thoa. Bởi trong văn cảnh
này, chữ ngân phát ra cả hai nét nghĩa: vừa là động từ, với nghĩa là ngân nga -
mỗi giọt rơi tàn như tiếng ngân của giọt lệ, vừa là danh từ theo nghĩa Hán Việt
là bạc - mỗi giọt rơi tàn như một giọt bạc ánh trong không trung. Chọn nghĩa câu
thơ không thể theo lối loại trừ. Nghĩa của câu không phải là một trong hai nét
nghĩa. Trái lại, nếu nghĩa của chữ "ngân" là sự giao động bất tuyệt của
cả hai nét nghĩa ấy, thì nghĩa của cả câu cũng phải là sự xe quyện đan dệt của
cả hai làn nghĩa đó. Tức là một thứ nghĩa cộng hưởng, giao thoa. Nhờ lối viết ấy
mà câu thơ giàu nghĩa hơn (stereo) lung huyền ảo hơn, tinh vi hơn. Không chỉ
trong Nguyệt Cầm, ở nhiều thi phẩm khác, Xuân Diệu cũng đã đạt đến sự làm chủ
nhuần nhuyễn như thế đối với phép tương giao. Phép tương giao huyền diệu cũng
đã giúp Xuân Diệu đi mãi vào thế giới của tình yêu, của hồn yêu, của những niềm
luyến ái sâu thẳm và tinh vi, nghĩa là thế giới cũng đầy huyền diệu của từng cá
thể. Vì thế, một đặc sản phương Tây đã gia nhập được vào thơ Việt, nó làm giàu
thêm cho thơ Việt chúng ta. Nghĩa là trong Xuân Diệu đã thực sự có một cuộc cưới
lòng giữa truyền thống phương Đông và hiện đại phương Tây - "Lòng anh thôi
đã cưới lòng em" (Thơ duyên)
Có lẽ tôi đã quá dài dòng về thi sĩ của chúng ta.
Nhưng một đỉnh cao như Xuân Diệu thì nói dài bao nhiêu vẫn là
chưa đủ.
Bởi đúng như một đỉnh cao, Xuân Diệu luôn mời gọi và hứa hẹn
những người đến. Thêm một người
đến là Xuân Diệu thêm một lần được sống. Đến dài hay đến ngắn
đều quí. "Mở miệng vàng và hãy nói yêu tôi/ Dù chỉ là trong một phút mà
thôi". Đó là tâm nguyện đau đáu lúc sinh thời của thi sĩ này.
Văn chỉ, Quí Dậu - Quí Mùi
Chu Văn Sơn
Chú thích:
Chú thích:
[1] Khái niệm "thuần nam" chỉ tương đối. Trong lĩnh
vực nghệ thuật, người ta vẫn hay nói đến hiện tượng này: một nghệ sĩ muốn sáng
tạo thì trong người cần phải có cả nam tính và nữ tính với một tỉ lệ, một tương
quan nào đó. Sản phẩm nghệ thuật đích thực được xem như con đẻ từ cuộc hôn phối
giữa hai phần nam và nữ tính đó của cõi tinh thần. Cuộc hôn phối kia được xem
như một cơ chế bí ẩn tạo nên động lực sáng tạo cho con người nghệ sĩ. Còn với
con người sinh hoạt, thì nó không ảnh hưởng như thế. Trường hợp Xuân Diệu, như
đã được đề cập, hẳn là thuộc về những "ca" đặc biệt hơn, khác rất xa
với hiện tượng thông thường. Cuộc "hôn phối" này chi phối từ con người
sinh học, sinh hoạt đến con người tâm lí, từ động lực sáng tác đến quan niệm
cái đẹp, từ cảm xúc thẩm mĩ đến hình tượng thẩm mĩ v.v...
[2] Xem Lê Quang Hưng, Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời
kì trước 1945, NXB ĐHQGHN, 2002.
[3] Xem Lý Hoài Thu, Thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám,
1945. NXB Giáo dục 1997.
[4] Huy Cận, Hồi kí song đôi, NXB Hội nhà văn, 2002, tr. 125
và 127.
[5] Trịnh Công Sơn đã tỏ ra rất am tường vẻ đẹp của ngôn ngữ
khi cho rằng việc phân lập tách bạch giữa động từ và tính từ cũng như các dạng
khác nhiều khi khá giả tạo. (Theo Nam Dao, Một cõi Trịnh Công Sơn, NXB Thuận
Hóa và Trung Tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2002)
[6] Nhiều lần Xuân Diệu nói vui rằng học tiền nhân nhuần nhuyễn
cũng như "ăn trộm" mà biết "phi tang" vậy.
[7] Chữ Lãngmạn này dùng với nghĩa hẹp.
Thẩm bình tác phẩm của Xuân Diệu
Thơ duyên
Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên,
Cây me ríu rít cặp chim chuyền.
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,
Thu đến - nơi nơi động tiếng huyền.
Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu,
Lả lả cành hoang nắng trở chiều.
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn,
Lần đầu rung động nỗi thương yêu.
Em bước điềm nhiên không vướng chân,
Anh đi lững đững chẳng theo gần,
Vô tâm - nhưng giữa bài thơ dịu,
Anh với em như một cặp vần.
Mây biếc về đâu bay gấp gấp,
Con cò trên ruộng cánh phân vân.
Chim nghe trời rộng dang thêm cánh,
Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần.
Ai hay tuy lặng bước thu êm,
Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm,
Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy,
Lòng anh thôi đã cưới lòng em.
(Rút từ tập Tuyển tập thơ Xuân Diệu, T.1, NXB Văn học, 1983 )
1. Bén duyên với Thơ duyên
Nếu Thơ Duyên là một bài thơ rất Xuân Diệu, thì xem ra những
lời bình mà tác giả Thi nhân Việt Nam dành cho thi phẩm này cũng rất Hoài Thanh
[1] . Cơ chừng chỉ nhờ những ấn tượng mà ngòi bút bình thơ tài hoa tinh tế kia
lẩy ra, nhiều người mới tìm đọc toàn bài. Còn trước đó ít ai ngó ngàng đến cả
thi phẩm. Cho đến khi giành được một chỗ xứng đáng trong sách giáo khoa phổ
thông trung học, người ta mới thấy Thơ duyên được giới phê bình si mê hơn. Thơ
Duyên vậy là bén duyên với Hoài Thanh mà vẫn luôn mặn duyên với giới phê bình!
Như cái tên của nó, Thơ duyên có một bình diện nội dung rất dễ
thấy là sự xúc động trước cuộc giao duyên huyền diệu của cả thế gian này, mà
nhìn kĩ chính là sự hoà quyện của ba mối tơ duyên chính: thiên nhiên với thiên
nhiên, con người với thiên nhiên và con người với con người. Cảm hứng giãi bày
đó đã thu hút mối quan tâm của hầu hết những ngòi bút phê bình kia. Thế cũng dễ
hiểu. Cảm hứng này đã khiến bài thơ hiện ra như một thể sống động tràn ngập cảm
xúc. Ở đó, những biến thái mơ hồ nhất của thiên nhiên và của con người đều được
thể hiện bằng ngòi bút thật tinh tế. Ở mạch cảm hứng đó quả là thấy rất rõ một
nét đặc trưng của hồn thơ Xuân Diệu, ấy là "sự bồng bột của Xuân Diệu được
phát biểu ra đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi" [2] . Nhưng
chính vẻ đẹp có phần phô ra này đã làm khuất chìm đi một bình diện nội dung
khác, cũng hết sức quan trọng, thậm chí chính nó mới làm nên cái duyên thầm của
Thơ duyên: nội dung cắt nghĩa. Lớp nội dung này không phải hoàn toàn chưa được
biết đến. Nhưng nó đòi hỏi phải được quan tâm chu đáo hơn, tận tình hơn. Bởi phần
lớn bí mật của thi phẩm này hãy còn nằm im ở đó.
Bạn đừng vội vàng lắc đầu rằng: sự rung động hồn nhiên của
tâm hồn mới là phần căn bản của thơ, còn lí giải, cắt nghĩa chỉ là thứ yếu, vì
rằng "lí" chỉ là sở đoản của thơ. Điều bạn vừa nghĩ chắc bạn đinh
ninh là một thứ hiển nhiên? Không hẳn đâu. Nếu cứ tuyệt đối hoá thì vô tình bạn
đã phạm phải sai lầm: vừa làm nghèo tiếng nói vốn phong phú của thơ, vừa làm
nghèo cả chính Xuân Diệu. Cắt nghĩa mọi thứ, nhất là tình yêu, có thể nói, là
ham muốn lớn suốt cả đời Xuân Diệu. Dẫu có lúc thi sĩ than: "Làm sao cắt
nghĩa được tình yêu", nhưng ta cũng đừng vội tin rằng đó là lời thú nhận về
sự bất lực. Đơn giản vì, ngay sau lời than vẩn vơ đó thi sĩ đã cắt nghĩa luôn rồi
đấy thôi [3] . Không chỉ thế, mà ông còn theo đuổi việc cắt nghĩa tình yêu hết
cả một đời. Cho nên, cứ nhìn kĩ mà xem, chẳng phải ý hướng cắt nghĩa, lập lí đã
đi vào hình thức tổ chức của mọi bài thơ Xuân Diệu đó sao? Bên dưới mạch xúc cảm
sôi nổi, bồng bột ta vẫn thường gặp một mạch luận lí ở mức nào đó, mà đôi khi
là cả... lí sự nữa! Tóm lại, những dài dòng này, chỉ nhằm để khẳng định rằng:
Thơ duyên còn là một vỡ lẽ, một khám phá về tơ duyên đã được nảy nở thế nào giữa
hai cá thể vốn xa lạ trên cõi sống này.
2. Cảm quan nghệ thuật Xuân Diệu
Ý tưởng cắt nghĩa của Thơ duyên có lẽ đã khởi nguồn từ một cội
rễ sâu xa hơn: cảm quan nghệ thuật của Xuân Diệu. Có thể hiểu cảm quan như là lối
cảm nhận riêng trong đó chứa đựng quan niệm và cách cắt nghĩa riêng về thế giới
của người nghệ sĩ. Trong những trường hợp thật điển hình, cảm quan ấy thường đọng
lại trong những hình mẫu tổng quát nào đó. Nó khiến cho cảnh quan thế giới đi
vào tâm hồn người nghệ sĩ được khúc xạ qua hình mẫu ấy, được qui chiếu vào hình
mẫu ấy. Do đó khi hiện hình trong sáng tạo, thế giới xung quanh sẽ hiện ra như
những biến thể, những hoá thân, phân thân khác nhau của cái hình mẫu ấy. Dĩ
nhiên phải là những biến thể cực kì sống động. Đọc Xuân Diệu, thì thấy thế giới
dường như được qui chiếu về hai hình mẫu tổng quát: Mảnh vườn tình ái và Sa mạc
vô liêu [4] . Hình ảnh tạo vật thiên nhiên hết sức đa dạng và sống động trong
thơ ông chỉ là những hoá thân, những biến thể khác nhau của hai hình ảnh ấy mà
thôi. Thực ra, chúng chỉ là hai phía đối lập biện chứng của cùng một cảm quan
nghệ thuật Xuân Diệu. Bởi vì, hai hình ảnh tổng quát này vừa tương sinh lại vừa
tương khắc - chúng tương phản nhau nhưng lại chuyển hoá sang nhau. ở phía này,
thế giới hiện ra như một mảnh vườn tình ái, trong đó vạn vật đang rạo rực đắm
say, đang giao duyên tình tự với nhau - Tình thổi gió màu yêu lên phấp phới;
bao trùm lên là một bầu sinh khí ngập tràn ánh sáng và hơi ấm. ở phía kia, thế
giới lại hiện ra trong diện mạo một hoang mạc vô liêu, tất cả cứ như một cõi
hoang vắng, sinh khí suy biến tiêu tán - và cảnh đời là sa mạc vô liêu; tạo vật
thành lẻ loi, trống trải, lạnh lẽo, âm u, âu sầu. Nếu mảnh vườn tình ái là
thiên nhiên gợi tình, thì hoang mạc vô liêu là thiên nhiên gợi buồn. Một đằng
đánh thức dậy trong con người khát khao luyến ái yêu đương, một đằng lại đánh
thức nỗi cô đơn cố hữu trong từng cá thể. Dù gợi tình hay gợi buồn, thế giới
xung quanh đều dẫn lối cho con người đến một cái đích duy nhất thôi: tình yêu!
Bởi chỉ đến với tình yêu con người mới được thoả những khát khao tình ái, cũng
chỉ đến với tình yêu mỗi cá thể mới vượt thoát được nỗi cô đơn. Có thể nói,
trong thiên nhiên tạo vật của Xuân Diệu luôn giăng mắc hai sợi tơ như thế và sẵn
sàng xe duyên cho mọi lứa đôi. Tơ duyên nảy sinh giữa những cá thể vốn xa lạ
nhau chính là ý muốn của một thế giới như vậy. Một ý muốn không ai có thể cưỡng
được. Không phải tơ duyên hình thành từ kiếp trước một cách siêu hình theo quan
niệm nhà Phật. Mà chính tạo vật thiên nhiên quanh chúng ta đây đã xe duyên cho
con người. Đó là một quan niệm rất trần thế của Xuân Diệu.
Hoàn toàn có thể coi, Thơ duyên là sự thu nhỏ của Thế giới
Xuân Diệu vào khuôn khổ một thi phẩm.
3. Thơ duyên, tình và tứ
Nếu như tứ được hiểu như là sự hoá thân của ý vào toàn thể
thi phẩm mà trước hết là vào hình tượng bao trùm, thì cái ý cắt nghĩa này đã
chi phối hoàn toàn cấu tứ của Thơ duyên.
Theo tôi, trong một tứ thơ điều quan trọng nhất không hẳn là
ý, không hẳn là hình, cũng không hẳn là hình chứa đựng ý. Mà là cái quá trình ý
hoá thân vào hình, tức là một sự chuyển hoá. Sự chuyển hoá này khiến cho thi phẩm
là cấu trúc động, trong đó, theo mạch tuyến tính của lời thơ, tình ý vừa hiện
hình vừa chuyển hoá vào hình tượng thơ một cách hợp lí và trọn vẹn.
Hãy nhìn vào mạch cấu tứ. Đầu tiên là xuyên qua bố cục của
nó. Cảm hứng cắt nghĩa dường như đã chọn cho thi phẩm này một bố cục phù hợp, với
hai phần khá rõ rệt. Phần đầu, ba khổ; phần sau, hai khổ. Mỗi phần đều có một
trình tự gần giống nhau: bắt đầu là một bức tranh thiên nhiên, sau đấy là sự
chuyển biến thầm kín bên trong nhân vật trữ tình. Mỗi phần ngầm lí giải về một
lí do hình thành tơ duyên của con người. Hai phần nội dung này nối liền nhau vừa
theo bước đi của thời gian, vừa theo bước chuyển trong tâm tình của nhân vật.
Nhân vật trong vai chủ thể ở đây là một nam nhân trong cái thời khắc thật nhạy
cảm: một cậu bé đang thành một chàng trai. Chủ thể vừa đón nhận tinh tế những
âm vọng từ thiên nhiên, vừa lắng nghe những biến thái tinh vi mơ hồ nhất của hồn
mình - chủ yếu là những biến thái tế vi trong cảm xúc luyến ái. Nghĩa là, vừa cảm
nhận bằng dòng mĩ cảm về cái duyên ẩn hiện trong thiên nhiên, vừa cắt nghĩa bằng
mạch lí giải về mối duyên càng lúc càng tượng hình rõ nét trong con người.
Cùng với bố cục, ta có thể thấy hai hệ thống hình tượng (cảnh
và người) cứ từng bước chuyển hoá. Chẳng phải ở trung tâm của bài thơ là một
đôi thiếu niên đi từ chiều mộng đến chiều thưa hay sao? Cảnh chuyển làn từ
"mảnh vườn tình ái" thành "hoang mạc vô liêu", và trên con
đường ấy, thoạt tiên con người còn là những kẻ vô tâm, thế rồi thiên nhiên cứ
biến họ dần thành kẻ hữu tình. Theo sự chuyển hoá đó, các nội dung cắt nghĩa
(ý) cũng thâm nhập xe quyện vào từng phần của mạch thơ. Theo bước chân của họ,
mà cũng là theo nhịp thời gian, cứ từng bước, trong lòng mỗi cá thể kia, luyến
ái nảy sinh, tơ duyên nảy nở, gắn kết họ thành đôi lứa. Nghĩa là thế giới xung
quanh cứ đồng lòng xe duyên cho họ. Mạch vận động như thế chẳng phải chính là
trình tự cấu tứ của Thơ duyên hay sao?
4. Bén duyên tất sẽ "cưới lòng"
Hãy đi vào từng phần của thi phẩm.
Bắt đầu bằng một buổi chiều - một buổi chiều rất Xuân Diệu:
Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên
Cây me ríu rít cặp chim chuyền
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến - nơi nơi động tiếng huyền
Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều
Thuộc về hai khổ thơ, nhưng sáu câu thơ liền mạch này đã dựng
lên một bức tranh thiên nhiên quyến rũ. Và nhìn kĩ mà xem, đó chẳng phải là một
mảnh vườn tình ái hay sao?
Thế giới Xuân Diệu là thế giới của chữ Tình. Cho nên vườn
tình ái là gương mặt tập trung nhất, sống động nhất của thế giới ấy. Trong mảnh
vườn kia, vạn vật đang dậy men tình ái, tất cả đều khát khao ân ái. Tạo vật ở
đó tất phải được phân lập thành những cặp đôi. Mà đáng nói hơn là quan hệ giữa
những cặp đôi kia phải là quan hệ luyến ái. Có như thế mới thành thơ yêu. (Xin
mở ngoặc đơn : cần phải nói thật rõ điều này vì rằng phân lập thành những cặp
đôi chưa phải là quyết định. Thơ của nhiều người khác cũng có phân lập kiểu ấy.
Nói ngay trong thơ Hồ Chí Minh, những "Núi ấp ôm mây mây ấp núi",
"Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây", "Chòm sao đưa nguyệt vượt lên
ngàn" , v.v... chẳng phải cũng là cặp đôi đó sao? Song, nhìn kĩ thì các cặp
đôi ở thơ Bác nghiêng về quan hệ bạn bầu, bằng hữu. Nên đó không thuộc phạm trù
thơ tình). Thiên nhiên thật khéo đặt bày! Là vườn tình ái nên phải đủ cả địa chỉ
dành cho loài vật và con người. Điểm nhìn trong thi phẩm cứ dịch chuyển dần từ
địa chỉ này sang địa chỉ khác. Bắt đầu, tất phải từ những gì thiên nhiên nhất.
Cho nên bốn câu đầu nghiêng về cảnh trí dành cho cuộc giao duyên của loài vật,
mà tâm điểm là cây me đương lúc thu về. Câu thơ đầu, từng chữ một sáng nghĩa
nhưng kết vào thành chuỗi thì như bị tối, bị nhoè. Tất cả trở nên mơ hồ. Nghĩa
câu thơ chỉ tỏ dần khi ta đọc câu tiếp: Cây me ríu rít cặp chim chuyền. Thì ra
đây là duyên cớ. Vì có cặp uyên ương đang tình tự mà câu chữ trở nên đắm đuối.
Nhánh cây nơi đôi chim chọn không còn là nhánh vô tình, vô tri. Nó biến thành
điểm hẹn tình yêu, thành địa chỉ luyến ái. Liên tưởng thơ bèn biến nó thành
nhánh duyên - nơi giao duyên và cũng thật duyên dáng. Lời tình tự ríu rít kia
cũng đâu còn là những tiếng kêu vô nghĩa! Nó đã là tiếng lòng của đôi lứa. Nó
là lời tình tự. Nó thành cuộc hoà thơ. Và như thế chẳng đủ cho một chiều thực
thành chiều mộng sao? Chiều thơ mộng hay chiều trong cõi mộng thì cũng thế
thôi. Rõ ràng câu thơ được viết bằng một ngữ pháp rất Xuân Diệu. Đúng như cảm
nhận của Hoài Thanh, ngay từ câu thơ đầu này, Xuân Diệu đã sẵn sàng làm "mất
đi một tí rõ ràng để được thêm rất nhiều thơ mộng" - tức là thủ pháp mơ hồ
hoá.
Dầu sao, cây me, mới chỉ là địa chỉ dành cho cuộc hẹn hò tình
tự của loài vật. Đối diện với cảnh tình tứ ở đấy lòng người có xao động nhưng
chưa phải là những xao động thật mãnh liệt. Cái nhìn của nhân vật trữ tình di
chuyển từ cây me sang con đường. Đây mới là địa chỉ dành cho hò hẹn của con người:
Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều
Một con đường xinh xắn duyên dáng với những đường nét tình tứ.
Tất cả đều đang ở trạng thái say men luyến ái. Các động thái ở đây đều là những
biến thái tinh vi của cảm xúc luyến ái. Con đường với gió thành một cặp. Cành
hoang và nắng lại thành một cặp khác. Con đường đang làm cho mình thon thả,
đang làm duyên để sánh cùng với gió. Gió thì xiêu xiêu như cái dáng của chàng
Kim trong buổi tự tình với Thuý Kiều - "Sóng tình dường đã xiêu xiêu / Xem
trong âu yếm có chiều lả lơi". Cành hoang như lả mình vào nắng, trong khi
nắng ý tứ né mình gượng tránh, chưa muốn đón nhận một cử chỉ lả lơi, mà thi sĩ
diễn tả bằng cái điệu đến là yêu kiều "nắng trở chiều". Điệu ấy vừa tả
sắc nắng mang trong nó cái bóng di chuyển của thời gian, vừa thể hiện được cái
tình tứ mà đoan trang của nắng. Tất cả cứ quấn quýt quyến luyến nhau khiến cho
con đường hiện ra đúng là con đường để ngỏ, mời mọc những bước chân đôi lứa. Đối
diện với cảnh tượng đầy những khiêu gợi luyến ái ấy, ai có thể cầm lòng được
đây?
Lạc vào vương quốc của yêu đương, chàng thiếu niên nhận ra một
biến đổi thật kì diệu vừa diễn ra trong lòng, và ý tưởng cắt nghĩa loé lên những
vỡ lẽ đầu tiên:
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn
Lần đầu rung động nỗi thương yêu
Có một ranh giới thật mơ hồ mà cũng thật rõ rệt giăng qua hai
chữ buổi ấy và lần đầu đánh dấu một đột biến trong tâm hồn. Khi những luyến ái
đầu đời thức dậy, nó lập tức biến một cậu bé thành một chàng trai. Cùng với nó
ta thấy một cuộc "đảo chính" trong lối xưng hô. Kiểu xưng hô của cậu
bé bị phế truất, thì kiểu xưng hô đĩnh đạc của một tình nhân cũng bắt đầu tiếm
quyền: Ta - Bạn thành Anh - Em. Giọng cắt nghĩa nổi trội lên:
Em bước điềm nhiên không vướng chân
Anh đi lững đững chẳng theo gần.
Vô tâm - nhưng giữa bài thơ dịu
Anh với em như một cặp vần
Từ vô tâm đã hoá thành hữu ý. Vào mảnh vườn tình ái ấy, làm
sao còn có thể vô tâm. Trước đó chỉ một chút thôi, em còn điềm nhiên, nghĩa là
em dửng dưng, chẳng bận lòng. Anh cũng còn lững đững, thả những bước lững thững
với thái độ hờ hững. Nào ai đã để ý đến ai đâu! Nhưng chúng ta đã vào trong chiều
mộng, đang đi giữa một cuộc hoà thơ, một bài thơ. (Ở một bài khác Xuân Diệu
cũng viết về thiên nhiên xung quanh trong ẩn dụ lớn là bài thơ thế này: Chúng
tôi ngồi giữa một bài thơ / Mộy bài thơ mênh mông như vũ trụ). Trong bài thơ ấy,
nghĩa là trong cuộc hoà thơ của sự sống ấy, anh với em như một cặp vần. Đây là
một sáng tạo tinh tế mà láu lỉnh của Xuân Diệu. Suốt từ dân gian qua trung đại
đến hiện đại, những cặp biểu tượng về đôi lứa được tạo ra không kể xiết. Nhưng
cặp vần? Có lẽ đây là lần đầu tiên. Đang ở trong một cuộc hoà thơ, một bài thơ,
thì còn gì hợp hơn, thi vị hơn khi ví anh với em như một cặp vần. Nó nói được
cái ý không thể tách lìa và cũng không thể tách nhau. Vần chỉ là vần khi đi
thành cặp đôi thôi. Vậy là trời đất đã hoàn thành việc xe duyên, tơ duyên đã buộc
hai kẻ vô tâm vào một cặp vần.
Ấy mới là lý do thứ nhất.
Chưa hết, sự cắt nghĩa của Xuân Diệu còn triệt để hơn. Phần
sau còn là một lí do nữa, hợp thành sự hoàn hảo mà đất trời muốn xe kết cho lứa
đôi. Cũng thiên nhiên, nhưng ở đây cảnh lại hoàn toàn tương phản. Trên kia
thiên nhiên là Mảnh vườn tình ái, thì đây là hoang mạc vô liêu. Trong thiên -
nhiên - gợi - tình, đầy một niềm rạo rực đắm say. Ở thiên - nhiên - gợi - buồn,
lại đầy một nỗi đìu hiu quạnh vắng. Gợi tình thì đôi chim ríu rít, gợi buồn lại
chỉ có một con cò. Thiên nhiên của những cặp đôi đã nhường chỗ cho thiên nhiên
của ly tán chia rời:
Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân
Chim nghe trời rộng dang thêm cánh
Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần.
Vì bài thơ được viết theo dòng thời gian tự nhiên từ chiều mộng
đến chiều thưa tương ứng với các cảnh như thế mà chúng ta dễ quên đi sự phân lập
có chủ ý giữa hai cảnh sắc là mảnh vườn tình ái và hoang mạc vô liêu. Nhưng
nhìn kĩ sẽ thấy rất rõ sự thay thế của hai thiên nhiên ấy. Tất cả giờ đây đều
trống trải, lạnh lẽo, lẻ loi... buồn. Khổ thơ đầy phấp phỏng! Nó gợi ta nhớ đến
câu thơ: Tôi là con nai bị chiều đánh lưới / Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối
(Khi chiều buông lưới). Cả con nai ấy, cả con cò này đều chỉ là hai biến thể
khác nhau của cùng một Cái Tôi cô đơn Xuân Diệu mà thôi. Trống trải, người ta cần
nương tựa; lạnh lẽo, người ta cần hơi ấm; lẻ loi người ta cần có đôi. Tất cả chỉ
là những biểu hiện của trạng thái cô đơn cố hữu. Làm sao có thể vượt thoát được
nỗi cô đơn bất hạnh này? Tất cả những nhu cầu ấy chỉ được đáp ứng một khi con
người đi đến tình yêu. Chẳng phải đây là lí do thứ hai ư? Tơ duyên cần phải
hình thành bởi đó là phương cách duy nhất để con người vượt thoát nỗi cô đơn.
Đến đây, Xuân Diệu đã có thể kết luận chung cho toàn bộ sự cắt
nghĩa của mình, để khép lại toàn bài:
Ai hay tuy lặng bước thu êm
Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm
Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy
Lòng anh thôi đã cưới lòng em.
Khi nhu cầu cắt nghĩa nổi trội thì lối diễn đạt luận lí lôgíc
cũng giành lấy chủ quyền. Bốn câu thơ kia hoàn toàn có thể khôi phục lại thành
một câu văn xuôi nhiều mệnh đề, thể hiện một kết luận như đinh đóng cột: Ai có
ngờ đâu chiều thu diễn ra bình lặng thế, ngỡ không có một biến cố gì lớn lao
khuấy động, tuy chẳng có người thứ ba là mai mối, chỉ cần trông thấy chiều hôm
như thế, thì lòng anh đã gắn kết với lòng em rồi. Chữ thôi đã nói cái thế không
thể cưỡng lại, không thể còn đảo ngược, một sự đã rồi. Còn chữ cưới lòng nói được
một cuộc đính ước ngầm, một cuộc hôn nhân bí mật của hai tâm hồn. Nó diễn tả được
cái trạng thái tế nhị Tình trong như đã mặt ngoài còn e của những cặp uyên ương
mà Nguyễn Du từng nói hai trăm năm trước đó thôi. Vậy đấy, tất cả cứ diễn ra
"như không" mà kì thực chứa đựng bao biến đổi ngấm ngầm mà kì diệu!
Một sự cắt nghĩa rất Xuân Diệu! Vừa tinh tế vừa tinh quái!
Vội vàng
Tặng Vũ Đình Liên
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian;
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng chợt tắt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! chẳng bao giờ nữa...
Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
(Rút từ tập Thơ Thơ, 1938)
1. Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái Xuân Diệu có lẽ
là vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân Việt nam, Hoài Thanh đã thấy "Xuân
Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt".
Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tựa đề Vội vàng, hẳn đó phải
là một cách tự bạch, tự hoạ của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình.
Thực ra, cái điệu sống vội vàng cuống quýt của Xuân Diệu bắt
nguồn sâu xa từ ý thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người, về cái chết
như là kết cục không thể tránh khỏi mai hậu. Sống là cả một hạnh phúc lớn lao
kì diệu. Mà sống là phải tận hưởng và tận hiến! Đời người là ngắn ngủi, cần
tranh thủ sống. Sống hết mình, sống đã đầy. Thế nên phải chớp lấy từng khoảnh
khắc, phải chạy đua với thời gian. Ý thức ấy luôn giục giã, gấp gáp.
Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết học ấy.
Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần
nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc rất "ngại" cặp kè với
chính luận. Thế nhưng, nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu cầu lập thuyết lại không
thể không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên thuộc loại thơ cảm xúc.
Nhưng đọc kĩ sẽ thấy thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính luận. Nếu như cảm xúc
làm nên cái nội dung hình ảnh, hình tượng sống động như mây trôi nước chảy trên
bề mặt của văn bản thơ, thì dường như yếu tố chính luận lại ẩn mình, lặn xuống
bề sâu, làm nên cấu tứ của thi phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên,
nhuần nhị. Vội vàng cũng thế. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột có lúc
đã thực sự là một cơn lũ cảm xúc, cuốn theo bao nhiêu hình ảnh thi ca như gấm
như thêu của cảnh sắc trần gian. Nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ,
trình bày cả một quan niệm nhân sinh về lẽ sống vội vàng. Có lẽ không phải thơ
đang minh hoạ cho triết học. Mà đó chính là cảm niệm triết học của một hồn thơ.
2. Mục đích lập thuyết, dạng thức tuyên ngôn đã quyết định đến
bố cục của Vội vàng. Thi phẩm khá dài, nhưng tự nó đã hình thành hai phần khá
rõ rệt. Cái cột mốc ranh giới giữa hai phần đặt vào ba chữ "Ta muốn
ôm". Phần trên nghiêng về luận giải cái lí do vì sao cần sống vội vàng. Phần
dưới là bộc lộ trực tiếp cái hành động vội vàng ấy. Nói một cách vui vẻ: trên
là lý thuyết, dưới là thực hành! Điều dễ thấy là thi sĩ có dụng ý chọn cách
xưng hô cho từng phần. Trên, xưng "tôi" - lập thuyết, đối thoại với đồng
loại. Dưới, xưng "ta" - đối diện với sự sống. Trình tự luận lí có xu
hướng cắt xẻ bài thơ. Nhưng hơi thơ bồng bột, giọng thơ ào ạt, sôi nổi như thác
cuốn đã xoá mọi cách ngăn, khiến thi phẩm vẫn luôn là một chỉnh thể sống động,
tươi tắn và truyền cảm.
Mở đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ
của thi sĩ. ấy là ước muốn quay ngược qui luật tự nhiên - một ước muốn không thể:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
Muốn "tắt nắng", muốn "buộc gió" thật là
những ham muốn kì dị, chỉ có ở thi sĩ. Nhưng làm sao cưỡng được qui luật, làm
sao có thể vĩnh viễn hoá được những thứ vốn ngắn ngủi mong manh ấy? Cái ham muốn
lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta một lòng yêu bồng bột vô bờ với cái thế giới
thắm sắc đượm hương này.
Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó
bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian. Được
cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng
hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường đầy sắc hương đó hiện
diện trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đang lúc lên hương,
vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy
khiêu gợi. Xuân Diệu cũng hưởng thụ theo một cách riêng. ấy là hưởng thụ thiên
nhiên như hưởng thụ ái tình. Yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên
nhiên.
Hãy xem cách diễn tả vồ vập về một thiên nhiên ở thì xuân sắc,
một thiên nhiên rạo rực xuân tình:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Có lẽ trước Xuân Diệu, trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác
"Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Nó là cảm giác của ái ân tình
tự. Cảm giác ấy đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn tơ non đầy một sức
sống thanh tân kia sao mà quyến rũ - tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ
không thể cưỡng được của một một người tình rạo rực, trinh nguyên.
Hai mảng thơ đầu kế tiếp nhau đã được liên kết bằng cái lôgic
luận lí ngầm của nó. Thi sĩ muốn "tắt nắng", muốn buộc gió chính vì
muốn giữ mãi hương sắc cho một trần thế như thế này đây. Hương sắc là cái sinh
khí của nó, là vẻ đẹp, là cái nhan sắc của nó. Tất cả chỉ rực rỡ trong độ xuân
thì. Mà xuân lại vô cùng ngắn ngủi. Và thế là mảng thơ thứ ba của phần luận giải
đã hình thành để nói về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của xuân thì trong sự sống
và cái xuân thì của con người. Phải, cái thế giới này lộng lẫy nhất,
"ngon" nhất là ở độ xuân; còn con người cũng chỉ hưởng thụ được cái
"ngon" kia khi còn trẻ thôi. Trong khi đó, cả hai đều vô cùng ngắn ngủi,
thời gian sẽ cướp đi hết thảy. Có lẽ cũng lần đầu tiên, thơ ca Việt Nam có được
cái quan niệm này:
Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già
Con người thời trung đại lấy sinh mệnh vũ trụ để đo đếm thời
gian. Nên hình như họ yên trí với quan niệm thời - gian - tuần - hoàn, với cái
chu kì bốn mùa, cũng như cái chu kì ba vạn sáu nghìn ngày của kiếp người. Hết một
vòng, thời gian lại quay về điểm xuất phát ban đầu. Con người hiện đại lấy sinh
mệnh cá thể làm thước đo thời gian. Nên họ sống với quan niệm thời - gian - tuyến
- tính. Thời gian như một dòng chảy vô thuỷ vô chung mà mỗi một khoảnh khắc qua
đi là mất đi vĩnh viễn. Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định:
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !
Không chỉ dùng sinh mệnh cá thể, Xuân Diệu còn đo đếm thời
gian bằng cái quãng ngắn ngủi nhất của sinh mệnh cá thể: tuổi trẻ. Tuổi trẻ đã
một đi không trở lại thì làm chi có sự tuần hoàn.
Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự
có mặt của con người quá ư ngắn ngủi hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp người,
Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ:
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời
Không chỉ quan niệm, mà ngay cả cảm giác cũng hết sức mới lạ.
Xuân Diệu đã đem đến một cảm nhận đầy tính "lạ hoá" về thời gian và
không gian:
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt...
Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép "tương
giao" (Correspondance) của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt
để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới, trước hết là thời
gian và không gian. Có những câu thơ mà cảm giác được liên tục chuyển qua các
kênh khác nhau. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác: "Mùi tháng
năm" - thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương - chẳng thế mà thi sĩ cứ
muốn "buộc gió lại" ư - hương bay đi là thời gian trôi mất, là phai lạt
phôi pha! Một chữ "rớm" cho thấy khứu giác đã chuyển thành thị giác.
Nó nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ. Chữ "vị" liền đó, lại cho thấy cảm
giác thơ đã chuyển qua vị giác. Và đây là một thứ vị hoàn toàn phi vật chất:
"vị chia phôi"! Thì ra chữ "rớm" và chữ "vị" đều
từ một hình ảnh ẩn hiện trong cả câu thơ là giọt lệ chia phôi đó. Giọt lệ thường
long lanh trên khoé mắt người trong giờ phút chia phôi. Giọt lệ thành hiện
thân, biểu tượng của chia phôi. Vì sao thời gian lại mang hương vị - hình thể của
chia phôi? ấy là những cảm giác chân thực hay chỉ là trò diễn của ngôn ngữ theo
kịch bản của phép "tương giao"? Thực ra cái tinh tế của Xuân Diệu là ở
chỗ này đây. Thi sĩ cảm thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại
để trở thành quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Trên mỗi thời khắc đều
đang có một cuộc ra đi như thế, thời gian đang chia tay với con người, chia tay
với không gian và với cả chính thời gian. Tựa như một phần đời của mỗi cá thể
đang vĩnh viễn ra đi. Từng phần đời đang chia lìa với cá thể. Cho nên thi sĩ
nghe thấy một lời than luôn âm vang khắp núi sông này, một lời than triền miên
bất tận: "than thầm tiễn biệt". Không gian đang tiễn biệt thời gian!
Và thời gian trôi đi sẽ khiến cho cái nhan sắc thiên nhiên diệu kì này bước vào
độ tàn phai. Một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi!
Và, một điều rất đáng nói đã bộc lộ đây đó trong thi phẩm này
là: do dùng tuổi trẻ để đo đếm thời gian, nên ở Xuân Diệu đã xuất hiện một ý niệm
thời gian khá đặc biệt, đó là thì sắc. Thời gian được nhìn ở phía nhan sắc, gắn
với nhan sắc của sự vật. Vì thế mà với hồn thơ này, thời gian, về thực chất
không có ba thì phân lập rành rẽ với quá khứ - hiện tại - tương lai, mà chỉ có
hai thì luôn tranh chấp và chuyển hoá thôi đó là thời tươi và thời phai. Nó
không phải là hai mùa. Không phải Xuân Diệu lược qui bốn mùa vào hai mùa. Mà là
hai thì của mỗi một tạo vật thiên nhiên. Thời tươi: vạn vật thắm sắc, thời
phai: vạn vật phôi pha, phai lạt. Vật nào trong trần thế này cũng trải qua hai
thì ấy. Tất cả những ý niệm thời gian khác như năm tháng, mùa vụ, phút giây...
dường như đều tan trong cái ý niệm thì sắc tổng quát đó. Mà ta thấy ở đây, nó
hiện diện trong sự đối lập của "độ phai tàn" (thời phai) và "thời
tươi":
- Chim rộn ràng chợt dứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa.
- Cho no nê thanh sắc của thời tươi.
Có thể nói ý niệm thì sắc này đã chi phối toàn bộ nhỡn quan
Xuân Diệu đối với việc cảm nhận vẻ đẹp của thế giới trong sự trôi chảy vô thủy vô chung của nó.
Thế đấy, không thể buộc gió, không thể tắt nắng, không thể cầm
giữ được thời gian, thì chỉ có một cách thực tế nhất, khả thi nhất là chạy đua
với thời gian, là tranh thủ sống:
Chẳng bao giờ! Ôi chẳng bao gì nữa...
Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm
Đến đây, phần luận giải cuả tuyên ngôn Vội vàng đã đủ đầy luận
lí!
Phần cuối của bài thơ là lúc tuyên ngôn được hiện ra thành
hành động, ấy là Vội vàng trong hình thái sống của cái tôi cá nhân cá thể này.
Bài thơ được kết thúc bằng những cảm xúc mãnh liệt, bằng những ham muốn mỗi lúc
mỗi cuồng nhiệt, vồ vập. Đó là cả một cuộc tình tự với thiên nhiên, ái ân cùng
sự sống. Chỉ có thể diễn tả như thế, Xuân Diệu mới phô diễn được cái lòng ham sống,
khát sống trào cuốn của mình:
Ta muốn ôm:
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
Nếu chọn một đoạn thơ trong đó cái giọng sôi nổi, bồng bột của
Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất, thì đó phải là đoạn thơ này. Ta có thể nghe thấy
giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong đoạn thơ ấy. Nó hiện
ra trong những làn sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa, song song, thành những
đợt sóng vỗ mãi vào vào tâm hồn người đọc. Câu thơ Ta muốn ôm chỉ có ba chữ, lại
được đặt ở vị trí đặc biệt: chính giữa hàng thơ, là hoàn toàn có dụng ý. Xuân
Diệu muốn tạo ra hình ảnh một cái tôi đầy ham hố, đang đứng giữa trần gian,
dang rộng vòng tay, nới rộng tầm tay để ôm cho hết, cho khắp, gom cho nhiều nữa,
nhiều nữa, mọi cảnh sắc mơn mởn trinh nguyên của trần thế này vào lòng ham muốn
vô biên của nó. Cái điệp ngữ:"Ta muốn" được lặp đi lặp lại với mật độ
thật dày và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động
thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn: ôm - riết - say - thâu
- cắn. Có thể nói, câu thơ "Và non nước, và cây, và cỏ rạng" là không
thể có đối với thi pháp trung đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với
người xưa, đó sẽ là câu thơ vụng. Tại sao lại thừa thãi liên từ "và"
đến thế? Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ
"và" hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu
khí của thi sĩ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa
là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc ham hố, tham lam đang
trào lên mãnh liệt trong lồng ngực yêu đời của thi s !
Câu thơ:
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ như vậy. Từ
"cho" điệp lại với nhịp độ tăng tiến, nhấn mạnh các động thái hưởng
thụ thoả thuê: chếnh choáng - đã đầy - no nê. Sóng cứ càng lúc càng tràn dâng,
cao hơn, vỗ mạnh hơn, đẩy cảm xúc lên tột đỉnh:
- Hỡi Xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !
Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhuỵ đã no nê đang lảo
đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một tình lang trong một cuộc tình chếnh choáng
men say.
Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc, phải sống vội
vàng. Thế là, Vội vàng chính là cách duy nhất để đến với hạnh phúc, là chính hạnh
phúc và dường như cũng là cái giá trả cho hạnh phúc vậy! Xuân Diệu quả đã mang
trong mình nguồn sống trẻ. Xuân Diệu là thi sĩ của nguồn sống trẻ. Ta hiểu vì
sao, khi Xuân Diệu xuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ!
Văn Chỉ, xuân 1996
Chú thích:
[1] Đó là lời bình cho đôi câu "Con đường nhỏ nhỏ gió
xiêu xiêu / Lả lả cành hoang nắng trở chiều" và "Mây biếc về đâu bay
gấp gấp / Con cò trên ruộng cánh phân vân" mà ai cũng tấm tắc khen tài
trong Thi nhân Việt Nam.
[2] Lời Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam.
[3] Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!/ Có nghĩa gì đâu một buổi
chiều/ Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt / Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu... (‘Vì
sao”, Thơ thơ)
[4] Những cụm từ này mượn của chính Xuân Diệu. Từ trong tâm thức,
tác giả đã có các ý niệm khái quát ấy tuy là tự phát: "Đem chim bướm thả
vào vườn tình ái" (Phải nói) và "Và cảnh đời là sa mạc vô liêu"
(Yêu)
Thẩm bình tác phẩm của Xuân Diệu (tiếp theo)
Đây mùa thu tới
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng:
Đây mùa thu tới - mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng.
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;
Những luồng run rẩy rung rinh lá...
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.
Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ...
Đã nghe rét mướt luồn trong gió...
Đã vắng người sang những chuyến đò...
Mây vẩn từng không chim bay đi.
Khí trời u uất hận chia ly.
ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì.
(Rút trong tập Thơ Thơ, 1938)
Thơ là thu của lòng người, thu là thơ của đất trời. Câu nói
ngỡ như một trò chơi chữ này của người xưa hoá ra đã thể hiện được mối tương
thông kì lạ giữa mùa thu và thơ ca. Có phải vì thế mà trong bốn mùa, thơ ca
thiên vị với mùa thu hơn cả và mùa thu cũng ban tặng cho thi nhân nhiều thi tứ
hơn? Mùa thu gắn bó với thi ca đến nỗi chỉ cần xem xét thơ viết về mùa thu qua
các thời đại cũng có thể thấy được phần nào các thời đại thơ ca. Kể tên những
áng thơ thu đẹp nhất trong thơ Việt, người ta phải nhắc đến những Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Tản
Đà, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu... và không thể không nhắc đến
Xuân Diệu. Thoạt nhìn, dễ nghĩ Xuân Diệu chỉ là thi sĩ của mùa xuân. Thậm chí,
đọc bài Xuân không mùa, chúng ta có thể quyết rằng: Xuân không mùa - ấy là Xuân
Diệu! Thực thì, Xuân Diệu còn là thi sĩ của mùa thu. Không chỉ vì ông nhiều bài
thơ thu đặc sắc. Điều cốt yếu là, với thi sĩ, Xuân hay Thu cũng đều là mùa
Tình.
Nói thế, không có nghĩa là Xuân Diệu không dành một quan niệm
riêng cho cái mùa của những bông cúc vàng ẩn dật này. Trong cảm quan của thi
sĩ, thiên nhiên cũng như một giai nhân đầy nhan sắc. Thời kì rực rỡ hoàng kim
là thuộc về mùa xuân. Qua hạ vào thu là bước vào kì tàn phai. Một sự tàn phai
không thể tránh khỏi. Mùa thu là mùa phôi pha. Nhưng đối với thi sĩ này, thì
ngay trong độ phai tàn, giai nhân ấy vẫn cứ kiêu sa, đài các, lộng lẫy. Đây mùa
thu tới có lẽ là thi phẩm được nảy sinh trực tiếp từ cảm quan ấy.
Cũng không riêng chuyện cảm quan. Đây mùa thu tới còn thuộc về
một cảm hứng rất Xuân Diệu: cảm hứng nghiêng về thời gian. Như cái tên của nó,
Đây mùa thu tới đã chọn một thời điểm riêng để đến với mùa thu. ấy là thời điểm
giao mùa. Chỉ cần làm một so sánh nhỏ với chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến sẽ thấy
rõ hơn cảm hứng này của Xuân Diệu. Trong chùm thơ nổi tiếng của mình, Tam
nguyên Yên Đổ viết về một mùa thu đã hoàn toàn định hình, đã ngự trị từ lâu ở
làng cảnh Việt Nam. Thi nhân chỉ đi tìm kiếm những gì là đặc trưng nhất để vẽ
lên bức tranh thu. Nghệ thuật của Nguyễn Khuyến có phần nghiêng về không gian,
nghiêng về cái tĩnh. Còn thi sĩ Xuân Diệu thì chờ cái lúc mùa thu từ phương xa
về, đáp xuống xứ sở này, dần dần từng bước xâm chiếm toàn bộ thiên nhiên, cây cỏ
và con người. Ngòi bút Xuân Diệu bám từng bước đi của thời gian, nắm bắt cái
dáng vẻ, cái trạng thái sự vật đang ngả dần sang thu, đất trời cứ thu dần thu dần
để thành thu hẳn. Nghệ thuật Xuân Diệu, rõ ràng, nghiêng về thời gian, nghiêng
về cái động.
Trong cái thế giới riêng của bài thơ, cảnh sắc đầu tiên mà
mùa thu xâm chiếm là rặng liễu - nó lập tức biến thành liễu thu: Rặng liễu đìu
hiu đứng chịu tang / Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng. Hành trình xâm lấn của
mùa thu, từ đó, dường như cứ lan dần, loang dần ra những khu vườn, những rặng
núi, những dòng sông, những tầng trời... và cuối cùng, nó xâm chiếm lòng người.
Khi đã tràn ngập những tâm hồn thiếu nữ, ấy là lúc mùa thu đã đi trọn một con
đường của nó. Và, mùa thu tới, cảnh sắc cũng theo đó phôi pha. Sắc lá rũa phai
đi, cành nhánh gầy guộc đi, trăng ngẩn ngơ đi, dáng núi nhạt nhoà hơn, sông vắng
vẻ hơn, khí trời lạnh lẽo hơn, lòng người u sầu hơn... Khi những thiếu nữ cũng
"buồn không nói, tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì", ấy là lúc mùa thu đã
làm xong phần việc của nó: chuyển toàn bộ xứ sở này thành thu. Chẳng phải mùa
thu cũng là mùa phai đó ư? Như thế, hành trình của mùa thu cũng chính là trình
tự cấu tứ của Đây mùa thu tới.
Ta vừa thấy dấu ấn Xuân Diệu in đậm lên tổng thể tứ thơ. Ta
còn thấy dấu ấn ấy in cả lên từng chi tiết nhỏ nhất của bài thơ nữa.
Đúng là mỗi thi sĩ thường tìm cho mình những tín hiệu riêng để
nhận biết mùa thu. Người xưa thấy thu về trong một chiếc lá ngô đồng rụng. Nguyễn
Du thấy thu về trong sắc đỏ lá phong. Nguyễn Khuyến nhận ra thu trong dáng cần
trúc lơ phơ. Lưu Trọng Lư nghe thấy tiếng thu trong tiếng lá kêu xào xạc. Nguyễn
Đình Thi nhận ra thu trong làn hương cốm mới. Trần Đăng Khoa biết thu về khi
hoa cau rụng vào những thoáng heo may... Còn Xuân Diệu? ấy là dáng liễu. Khi rặng
liễu bắt đầu mang dáng đứng chịu tang, thi sĩ biết rằng mùa thu đã hiện diện ở
xứ sở này:
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới - mùa thu tới:
Với áo mơ phai dệt lá vàng.
Chúng ta biết Thơ Mới bắt đầu mới trong cảm xúc. Cảm xúc mới
nảy nở, bùng nổ, nó phải kiếm tìm thi pháp mới. Ở Xuân Diệu - "mới nhất
trong các nhà Thơ mới" - cảm xúc và thi pháp đã giúp nhà thơ làm mới những
thi liệu cũ. Nét dễ thấy ở đây là một lối liên tưởng mới. Chính lối liên tưởng
này đã tạo ra một vẻ đẹp mới cho đối tượng cũ. Ai cũng biết, liễu là hình ảnh
đã quá quen thuộc trong thơ cổ điển. Trong Truyện Kiều thật nhiều những dáng liễu
đẹp:
- Lơ thơ tơ liễu buông mành
- Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
Trong các câu thơ trên của Nguyễn Du, liễu có phần nghiêng về
vẻ đẹp khách quan, liễu hiện lên chủ yếu bằng vẻ đẹp của bản thân liễu. Nhà Thơ
Mới Xuân Diệu không chịu làm thế. Ông đã "áp đặt" vào liễu một vẻ đẹp
chủ quan, liễu mang trong nó vẻ đẹp người. Dáng liễu là dáng người. Từng dòng
lá liễu rủ xuống mang trong nó những dòng tóc đang buông xuống và trăm nghìn giọt
lệ đang tuôn xuống. Tâm trạng liễu là tâm trạng người. Cảm nhận liễu, người ta
cứ thấy phảng phất trong liễu bóng dáng những giai nhân đài các, kiêu sa mà âu
sầu buồn bã. Trước Xuân Diệu, xem ra, chưa có một dáng liễu nào giống thế. Trước
tín hiệu báo mùa ấy, thi sĩ đã kêu lên: Đây mùa thu tới mùa thu tới. Câu thứ ba
đúng là một tiếng reo. Nhưng không phải reo vui như có người tưởng. Làm sao có
thể reo vui khi cảnh buồn đến thế. Đó chỉ có thể là tiếng reo ngỡ ngàng. Vì sững
sờ nhận ra thế là mùa thu đã về, ngay nhỡn tiền đây thôi. Cũng còn vì: dẫu là
mùa tàn phai, mà thu vẫn cứ yêu kiều thế - Với áo mơ phai dệt lá vàng. Trong cảm
nhận của Xuân Diệu, mùa thu vốn vô hình đã trở nên hữu hình. Và, dường như mùa
thu cũng về trong bóng hình, phong thái của của một giai nhân. Ta không nhìn thấy
rõ khuôn mặt nàng, nhưng ta nhận ra nàng trong cái vũ điệu bay đến và trong sắc
áo hư ảo, chừng như dệt bằng lá vàng và nắng vàng của nàng:
Đây mùa thu tới mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng
Nó gợi ta nhớ đến hình ảnh trăng trong bài thơ Lời kĩ nữ,
cũng dáng điệu ấy, phong thái ấy:
... Trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn.
Cảm xúc thẩm mỹ mới về mùa thu của Xuân Diệu, rõ ràng, đã gắn
liền với một khía cạnh thi pháp mới, đó là một trường liên tưởng tân kì: vẻ đẹp
tạo vật thiên nhiên được qui chiếu về vẻ đẹp của những giai nhân.
Chỉ bốn câu đầu đã là bức tranh thu trọn vẹn và mới mẻ. Không
chỉ thế, lắng nghe kĩ còn thấy trong bức tranh kia đang ngân lên một điệu nhạc
nào nữa. Đúng thế, Xuân Diệu đã triệt để khai thác nhạc tính của ngôn ngữ để tạo
ra chất thơ và chuyển tải cảm xúc của mình. Chúng ta đều biết chủ trương của
thi phái tượng trưng là xem nhạc tính như yếu tố huyền diệu bậc nhất của ngôn từ.
Thơ thoát ra từ sự giao động bất tuyệt giữa âm thanh và ý nghĩa của chuỗi ngữ
ngôn. Tinh thần này thấm rất sâu vào Xuân Diệu. Có thể nói trong suốt thi nghiệp
của mình, Xuân Diệu đã tỏ ra là thi sĩ nắm được cái hồn của tiếng Việt. Những
sáng tạo của Xuân Diệu về âm điệu trong khổ thơ này có thể xem là một minh chứng.
Người đọc có thể dễ dàng nhận thấy ba chuỗi vần được phối hiệp nhuần nhuyễn với
nhau trong khổ thơ. Vần "iu" (cận thể là "yêu") với các từ:
liễu, đìu, hiu, chịu...; vần "an" (cận thể là "ang") với:
tang, ngàn, hàng, vàng...; vần "uôn" (cận thể là"uông") với:
buồn, buông, xuống... Đáng nói là chúng vừa kế tiếp vừa đan xen, gợi được thế
nương theo nhau, nối đuổi nhau, vừa díu dan ràng níu, vừa trì kéo lẫn nhau,
giúp Xuân Diệu tạo hình được những dòng lá liễu đang rủ xuống và cả những thân
liễu như đang muốn trùng xuống, trĩu xuống tựa hồ những dáng liễu buồn sầu
không mang nổi tâm trạng của chính mình. Cả nhịp điệu ở câu thứ ba cũng phụ họa
vào lối tạo hình ấy. Câu thất ngôn thường đi nhịp 2/2/3. ở đây Xuân Diệu ngắt
thành 4/3:
Đây mùa thu tới / mùa thu tới
Cơ hồ nhịp điệu đã mô phỏng được cả ngữ điệu của một tiếng
kêu ngỡ ngàng, cả vũ điệu luân chuyển nào đó rất vô hình của mùa thu nữa.
(Trong khổ tiếp theo, ta còn được thấy việc khai thác nhạc tính như thế trong
chuỗi phụ âm "r" khi Xuân Diệu viết "Những luồng run rẩy rung
rinh lá"). Dùng âm nhạc của ngôn ngữ để tạo hình như vậy, Xuân Diệu đã tỏ
rõ thi pháp tượng trưng ngấm vào ngòi bút của mình nhuần nhị như thế nào.
Tuy nhiên, nói đến Xuân Diệu là còn phải nói đến một hồn thơ
nhạy cảm với những biến thái tinh vi mơ hồ trong hồn người và hồn tạo vật. Mùa
thu chạm vào rặng liễu và làm liễu biến đổi. Mùa thu đi vào vườn, cảnh vật
trong vườn cũng từng bước biến suy. Trong cái vẻ biến đổi quen thuộc, thi nhân
đã nhận ra những điều thật khó thấy:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Tôi không muốn nói đến vẻ tân kì, vẻ Tây trong việc dùng các
chữ "hơn một" và "rụng cành". Điều muốn nói và đáng nói hơn
chính là chữ "rũa" [1] . Có người đã hiểu đây là chữ "rữa".
Không phải! Xuân Diệu đâu có diễn tả sự phân huỷ của xác lá. Điều thi nhân muốn
diễn tả tinh vi và thanh nhã hơn nhiều: sự phôi pha trên màu lá. Cũng nói về sự
chuyển mùa bằng việc chuyển màu trên thảo mộc cỏ cây, Nguyễn Du từng có câu:
Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
Cùng thời với Xuân Diệu, Nguyễn Bính cũng viết:
Ngày qua ngày lại qua ngày
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng
Sau này, Tố Hữu cũng có những câu tinh tế:
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Gần nhau đến thế mà mỗi chữ vẫn mang một sắc thái riêng, một
vẻ thần tình riêng. "Nhuốm" mới bắt đầu, đang diễn ra, chưa hoàn kết;
còn "nhuộm" hình như đã kết thúc, hoàn tất. Một chữ xem chừng động
hơn, nói được nỗi buồn lan ra từ cuộc chia li Kiều - Thúc vương phủ lên rừng
phong, khiến màu cây biến sắc. Chữ "nhuộm" có lẽ tĩnh hơn (dĩ nhiên
là trong văn cảnh này), nói cái thời gian của kẻ tương tư dài đằng đẵng đến nỗi
đủ làm cây héo úa, làm người héo hon. Chữ "đổ" lại nhấn mạnh sắc thái
mau lẹ. Những ngày cuối của mùa xuân, phách hãy còn xanh. Thế mà khi những tiếng
ve đầu tiên của mùa hè cất lên, rừng phách đã nhất loạt trổ hoa vàng. Ngỡ có ai
đem đổ cả một bình màu lớn khiến rừng phách kia lênh láng sắc vàng. Và cũng
trong những tiếng ve ấy, hoa phách rụng như trút vàng xuống đất, như những cơn
mưa hoa, cơn mưa vàng vậy.
Còn câu thơ và chữ nghĩa Xuân Diệu thì sao? Thi sĩ này không
lặp lại sự biến màu trên toàn cục, mà có phần nghiêng về sự biến màu trên mỗi
chiếc lá. Thậm chí sự phôi pha trong từng hạt diệp lục. Chữ "rũa" là
thế. Ta không chỉ thấy mùa thu về trên những vòm là, những dòng sông, những
chân trời, những tầng trời. Mà còn thấy thu đến trong từng hạt diệp lục đang
phai màu. Nếu màu xanh thuộc về mùa hạ, thì màu đỏ là mùa thu. Trên từng chiếc
lá, thi sĩ thấy thu về và đương tranh chấp với mùa hạ. Màu đỏ lấn tới đâu làm
màu xanh phôi pha tới đó. Mùa thu lan tới đâu, mùa hạ lùi bước tới đó.
"Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh", câu thơ như đã thu nhỏ cả cuộc đổi
mùa lớn lao vào một góc vườn, vào từng chiếc lá đang phai.
Cũng ở trong vườn, trước một hình ảnh ngỡ quá quen thuộc này,
vẫn có những cảm nhận thật mới lạ:
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh
Có người đã hiểu sự cách tân của Xuân Diệu ở đây là: thay vì
gọi "luồng gió" thi sĩ đã gọi là "luồng run rẩy" (!) Nếu
thi sĩ có làm thế thật, thì cũng chẳng mới được là bao. Nhưng, cái Xuân Diệu định
nói ở đây chính là luồng run rẩy. Vâng, chính là thoáng rùng mình của những
thân cành mảnh mai gầy guộc trước làn hơi giá của mùa thu đang lan trong không
trung một cách vô hình. Cảm nghe được cả những sóng âm mang hơi thu mơ hồ ấy,
thì những nhánh cây mùa thu kia thật nhạy cảm biết nhường nào. Luồng rung động toàn
thân ấy gợi ta nhớ đến cái thoáng "Linh lung bóng sáng bỗng rung
mình" hay cái trạng thái "Tất cả tôi run rẩy tựa dây đàn",
"Khắp xương nhánh chuyển một luồng tê tái"... rất đặc trưng cho thi cảm
Xuân Diệu. Như một người quay phim tinh tế, thi sĩ đã ghé sát ống kính của thơ
mình để đặc tả thật cận cảnh, khiến cho những cành nhánh nhỏ nhoi mảnh mai nhất
cũng như đang run rẩy lên tựa dây đàn trên dòng thơ. Và ta có thể thấy rõ không
chỉ bằng thị giác mà bằng cả thính giác và xúc giác nữa cái luồng rung động
tinh vi ấy đang truyền theo nhịp rung qua một chuỗi bốn âm "r" kế tiếp.
Cứ kỹ lưỡng tinh vi như thế, Xuân Diệu thả hồn mình cảm nhận
những nét đang tượng hình, đang hiện hình trong mỗi tạo vật thiên nhiên càng
lúc càng lan xa mãi:
Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ...
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió...
Đã vắng người sang những chuyến đò
Đến đây ta mới thật sự bị cái giá lạnh của mùa thu xâm chiếm,
cái cảm giác thu đã thành sắc nét trên da thịt ta. Mùa thu cứ lan ra, xa nhất,
rộng nhất, cao nhất với dòng sông, ngọn núi, với mây trời, cánh chim và cả nàng
trăng nữa. Nhưng chỉ đến khi xâm chiếm tâm hồn các thiếu nữ thì mùa thu mới chiếm
ngự được nơi sâu nhất của cõi này:
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì
Mùa thu - mùa phôi pha đã gieo buồn vào hồn người? ĐÃ đánh thức
dậy nỗi cô đơn? Tựa cửa nhìn xa với khao khát lứa đôi? Hay mùa phôi pha phai lạt
đang đánh thức dậy một dự cảm mơ hồ về cái độ phai tàn tuy còn xa xôi mà đã như
diễu qua nhỡn tiền đó? Làm sao ta biết được! Chỉ biết rằng khuất sâu trong cái
dáng "buồn không nói", "tựa cửa nhìn xa" ngỡ bất động kia lại
chất chứa biết bao xôn xao thấm thía vào bậc nhất của cõi thu này.
Nguyệt Cầm [2]
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần,
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm,
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh.
Linh lung bóng sáng bỗng rung mình,
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.
Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời;
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người ...
Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề ...
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.
(Rút từ tập Gửi hương cho gió, 1945)
1. Nguyệt Cầm và mối thâm giao Thơ - Nhạc
Là một người sành thơ vào bậc nhất ở nước Nam này, Xuân Diệu
đã định giá thơ bằng nhiều thước đo. Có lần, vạch một ranh giới dứt khoát giữa
cái Hay và cái Tiêu biểu, ông quyết rằng: nếu chọn bài tiêu biểu nhất của mình,
Xuân Diệu chọn Biển, còn chọn bài hay nhất, thì sẽ chọn Đây mùa thu tới, Thơ
duyên, Lời kỹ nữ và đặc biệt là Nguyệt Cầm. Hay, theo quan niệm của Xuân Diệu
phải là sự hài hòa tuyệt vời giữa nội dung và hình thức.
Việc tự bình bầu của tác giả đã gặp gỡ với cuộc bình chọn của
đông đảo những người có uy tín về thơ đương đại. Trong danh sách trưng cầu ý kiến
của nhiều chuyên gia gồm cả sáng tác, phê bình, nghiên cứu, giảng dạy, ở phần
Xuân Diệu, Nguyệt Cầm cũng được xếp ngôi đầu bảng [3] .
Thuộc thế hệ sau, một thi sĩ có nhiều cách tân về hình thức
thơ cuối thế kỷ này, anh Thanh Thảo, cũng trầm trồ ngưỡng mộ "Nguyệt Cầm
thuộc dạng siêu thơ"... Thi sĩ này đã không ngần ngại cho đó là một kiệt
tác. Tôi nghĩ thời gian có thể còn sàng lọc tước bỏ. Sang thế kỷ sau, chưa chắc
tác phẩm được tôn vinh bây giờ còn giữ nguyên được địa vị. Nhưng có lẽ Nguyệt Cầm
sẽ vẫn cứ là cái đỉnh chóp của sự nghiệp thi ca của nhà thơ “mới nhất trong các
nhà Thơ Mới” này thôi. Bầu Nguyệt Cầm vào hàng tinh hoa của Thơ Mới và thơ Việt,
hẳn không phải là lá phiếu vội vàng.
Trước khi phân tích Nguyệt Cầm như một kiến trúc thi ca toàn
bích với một thi pháp tinh xảo (và ở đây chỉ phân tích theo hướng này, còn những
hướng khác đã có khá nhiều bài phân tích), có lẽ cần xem xét thi phẩm này trong
cái đề tài đã ám ảnh hầu hết các nhà Thơ Mới, đồng thời cũng hiến dâng cho họ rất
nhiều áng thơ hay: ấy là Nhạc. Về cảm hứng, thi ca đã khai thác nhạc ở cả hai
phía: Người chơi nhạc và bản thân nhạc. ở phía này, là sự ngất ngây trước vẻ đẹp
thần tiên của tiếng nhạc, ở phía kia, là sự đắm say trước tài hoa và xót xa cho
những thân phận ca kỹ, vốn “cùng một lứa bên trời lận đận”. Thơ coi nhạc vừa là
đối tượng mô tả vừa là phương tiện diễn tả. Tôi muốn nói, thi ca cũng đã dùng đến
âm - nhạc - của - ngôn - ngữ làm phương tiện để diễn tả ngôn - ngữ - của - âm -
nhạc. Cố nhiên, với các mức độ khác nhau! Song phải đến các thi sĩ Tượng trưng
thì mối tương giao thơ - nhạc mơí được lý thuyết hoá. Chủ trương nổi tiếng của
thi phái này là khai thác triệt để nhạc tính của ngôn ngữ. Thậm chí họ đã từng
định nghĩa: “Thơ là sự giao động bất tuyệt giữa âm thanh và ý nghĩa” (Pôn
Valêry). Từ những hậu thuẫn lý thuyết, tư duy thơ Tượng trưng đã thoả sức tung
hoành trong nhạc như một lãnh địa đặc quyền. Vì thế, viết về nhạc, nhiều người
đã say sưa dùng nhạc của ngôn từ để mô phỏng nhạc của âm nhạc. Ở những trường hợp
thành công, người đọc có cái khoái thú được đọc một bài - thơ - về - nhạc trong
một - bản - nhạc - thơ (chẳng hạn Tỳ bà hay Nhạc của Bích Khê). Nhưng cũng
không ít trường hợp mải chạy theo nhạc của thơ mà đánh rơi mất bản thân thơ.
Khi ấy xúc cảm về nhạc của thi nhân đã bị lấn át, chèn ép và khô héo trước kỹ
thuật về nhạc của người thợ ngôn từ.
Một hồn thơ như Xuân Diệu không thể không viết về nhạc. Cảm hứng
lớn về nhạc của Xuân Diệu là đi mãi vào cái thế giới bên trong nhạc. Thi sĩ đã
cho nó một tên riêng là “thế giới của Du Dương”.
Hãy tự buông cho khúc nhạc hường
Dẫn vào thế giới của Du Dương
Thực ra, đó chính là thế giới mà một thi sĩ khác - Hàn Mặc Tử
- đã chính thức định danh là Thế giới Huyền diệu. Đắm mình trong nhạc là rời bỏ
thế giới thực tại để đi vào thế giới huyền diệu. Thế giới ấy ở đây chỉ biểu hiện
trong nhạc và bằng nhạc. Dường như mỗi nhạc khí là một cánh cửa, một con đường
vô hình mở vào thế giới nhạc. Nói đúng hơn, mỗi nhạc cụ kia giấu trong nó một
thế giới đầy bí mật, chỉ cần tấu lên là thế giới ấy sẽ mở ra. Không phải thế giới
hoang đường cổ tích; không phải cõi thực, không phải cõi mộng; không phải cõi
âm, không phải cõi dương... ấy là thế giới trong tâm linh được âm nhạc đánh thức.
Với bài Huyền diệu, hồn thơ Xuân Diệu mới chỉ khởi hành, đẩy cánh cửa vào thám
hiểm thế giới ấy. Còn ngay sau đó, thi sĩ đã có cuộc lãng du chính thức vào thế
giới du dương của Nhị Hồ. Và giờ đây là phiêu diêu vào thế giới riêng của Nguyệt
Cầm [4] . Tìm kiếm ý nghĩa đích thực của thi phẩm này, xin đừng lạc vào những
giá trị quen thuộc như lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, hay tình
yêu đôi lứa, v.v.. Mà tất thảy đều đã hoà tan vào một niềm thơ duy nhất, thành
mối tương giao kỳ diệu giữa hồn người, hồn nhạc và hồn tạo vật. Có thể xem thi
phẩm là sự thăng hoa của hồn thơ vào thế giới huyền diệu của Nguyệt Cầm.
2. "Linh lung"- hồn vía của Nguyệt Cầm
Đọc bài thơ này, hẳn ai cũng phải phân vân trước chữ “linh
lung”. Không ít người đã nghĩ là in lộn. Vì thế mà nhiều bản in đã “lật xuôi” lại
thành “lung linh”. Không ngờ, cái việc ngỡ xuôi kia, té ra, là ngược. Phải
chăng Xuân Diệu đã dùng phép lạ hoá để làm xiếc ngôn từ? Xuân Diệu không phù
phiếm thế. Ngôn từ phải vặn mình lạ vậy là do nhu cầu bộc lộ những cảm giác
tinh vi. Lung linh chỉ là sự lay động, nhún nhảy, rung rinh của những làn ánh
sáng. Một cảm giác thuần tuý thị giác. Trong khi đó, những gì mà hồn thơ quá ư
bén nhạy này cảm nhận được trong cùng một khoảnh khắc lại là một phức hợp nhiều
cảm giác tinh vi. Xuân Diệu muốn chữ mình dùng phải làm sống dậy cùng lúc cả
cái luồng run rẩy lẫn cái luồng gai gợn bí ẩn tựa như một thoáng rùng mình ớn lạnh.
Nghĩa là phải gồm chứa các cảm giác thuộc cả thị giác lẫn xúc giác. Linh lung,
vì thế, cứ ánh rợn lên, khơi vơi, tê giá, huyền hoặc ma quái.
Phải, Linh lung chính là Nguyệt Cầm!
Bước vào Nguyệt Cầm là bước vào một thế giới linh lung. Mọi ảnh
hình đều rợn sáng. Cả ánh sáng của âm thanh, cả âm thanh của ánh sáng đều tan
ra trong từng làn sóng âm tê buốt, tưới lên da ta, len lấn vào tâm trí ta. Cả
trăng sao, sóng nước, mây trời, sỏi đá, cả sương bạc, cả canh khuya, cả nàng
Nương Tử, cả bến Tầm Dương, cả hồn ta... tất tật đều vừa hiển hiện vừa tan ra
trong biển nhạc trong suốt của Nguyệt Cầm không bờ không bến. Tất cả đều diễm ảo,
hư huyền, chơi vơi, vô định. Không còn cõi này, không còn cõi khác, không còn
hiện tại, không còn quá khứ, không còn hữu thể, không còn vô thể... chỉ còn có
Nguyệt Cầm. Cả thương, nhớ, hận, sầu đều phổ vào trong ánh nhạc tê ngời. Vĩnh cửu
tan cùng khoảnh khắc, phù du giao ứng vĩnh hằng. Tất cả đều rợn ánh khơi vơi
trong đêm nhạc Nguyệt Cầm. Âm nhạc đến từ trăng lạnh, gieo từng chấm lạnh, từng
dòng giá lạnh trong suốt vào hồn ta, để rồi khi đã dâng tràn, âm nhạc lại cuốn
hồn ta trôi dạt mãi vào vô biên, đến tận bến bờ của sao Khuê. Từ hư không, âm
nhạc đã cất tiếng và tiếng nhạc lại mang hồn ta phiêu diêu về lại cõi hư không.
Nối cái nhỏ nhoi hữu hạn với cái vô tận vô cùng. Đó chẳng phải là sự thăng hoa
huyền diệu vào bậc nhất của hồn người ư?
3. Nguyệt Cầm với thi pháp "Giao thoa - cộng hưởng"
Nhờ đâu Nguyệt Cầm có được sự thăng hoa như vậy? Phải chăng
chỉ trông cậy thuần tuý vào phép Tương giao? Nói Xuân Diệu dùng Tương giao để
viết nên Nguyệt cầm, cố nhiên, đúng. Nhưng điều ấy đúng hầu như với mọi thi phẩm
của nhà Thơ Mới này.
Thế, đâu là thi pháp riêng của Nguyệt Cầm? Đó là lối viết tạm
gọi bằng “Giao thoa - cộng hưởng”.
Vâng, gọi như thế là muốn mượn câu chữ của ngành nhạc cho dễ
hợp với đối tượng vốn là một nhạc khí thôi. Còn thực chất, đó là lối tổ chức
ngôn từ và tạo thi ảnh sao cho thi phẩm thực sự là một kiến trúc nghệ thuật mà:
nghĩa chữ có sự cộng hưởng của nhiều
làn nghĩa khác nhau,
thi ảnh có dạng : một hình thể gồm
nhiều hình ảnh giao thoa nhau,
và tất cả được thực hiện dựa trên sự
giao thoa cộng hưởng của các kênh cảm giác (chứ không chỉ là sự chuyển đổi cảm
giác thông thường).
Mà điều thật kinh ngạc là toàn bộ thao tác thi pháp có vẻ phức
tạp ấy đều tan vào lòng một sinh thể sống động với bao cảm giác mong manh nhất,
bao cảm xúc hư thoảng nhất của thi nhân. Tức là, trực giác của Xuân Diệu đã điều
khiển thi pháp một cách thần diệu, khiến cho thi phẩm cứ thăng hoa như một điệu
hồn, linh lung như một kiến trúc ngôn từ kỳ ảo.
Do đâu mà Xuân Diệu đã tìm đến thi pháp này? Có lẽ do sự xui
khiến của bản thân cái tên Nguyệt Cầm. Cây đàn được người xưa gọi là Nguyệt Cầm
có thể chỉ đơn thuần bởi hình tròn của bầu đàn. Nhưng với hồn thơ Tượng trưng
Xuân Diệu, thì không chỉ thế. Nguyệt Cầm là cả một cơ duyên, cả một nguồn thi hứng.
Bản thân cái tên nhạc khí đã là cộng hưởng - giao thoa rồi.
Hãy nhìn cái tên ấy từ góc độ tổ chức ngôn từ. Là một tổ hợp
từ ghép đơn giản, nhưng Nguyệt cầm cùng lúc phát ra nhiều tín hiệu nghĩa khác
nhau: a) một nhạc khí; b) cuộc giao duyên trăng - đàn; c) một bản đàn (đàn khúc
nguyệt cầm); d) tiếng đàn trong đêm trăng v.v... Các làn nghĩa này có thể nhận
được không mấy khó khăn. Nhưng cái kỳ diệu của hồn thơ là cảm nghe được mối
giao tình của bản thân ngôn ngữ và mối tương giao giữa ngôn ngữ với nhạc. Về từ
tố, đó đơn giản chỉ là sự cộng ghép nguyệt (trăng - ánh sáng) và cầm (đàn - âm
thanh). Nhưng bản thân tính danh Nguyệt Cầm đã là cuộc giao duyên về ngữ âm của
ngôn từ. nguyệt và cầm đều là những âm gốc Hán, nghiêng về sắc thái trầm đục,
âm u. Cho nên chúng lập tức gắn bó với nhau thành hợp thể để cùng cất giữ sâu
trong ngữ âm của mình một thế giới huyền bí. Đồng thời, chúng còn là mối giao
tình về ngữ nghĩa. nguyệt và cầm là khởi nguyên cho một thế giới làm bằng ánh
sáng và âm thanh: gồm cả âm thanh của ánh sáng (nhạc của trăng), cả ánh sáng của
âm thanh (trăng của nhạc).
Chúng ta biết, bất cứ nhạc khí nào cũng diễn tả thế giới này
bằng sự diễn tấu đầy biến hoá của hai phạm trù âm thanh là: Văn và Vũ (tương ứng
với âm - dương, nóng - lạnh) cả hai hoà giọng mới làm nên tiếng nói của nhạc.
Đàn Nguyệt cũng có dây Văn và dây Vũ của nó. Cảm hứng của Xuân Diệu về Nguyệt cầm
có lẽ khởi đầu bằng cảm nhận về sự tương phùng nào đó giữa nguyệt - cầm với văn
- vũ (phải chăng nguyệt tương ứng với văn, còn cầm tương ứng với vũ?). Hai phạm
trù âm thanh đó của nhạc khi vào Nguyệt cầm đã được diễn tả tương ứng bằng
Trăng và đàn với những biến ảo thật tinh vi, được thực hiện bằng tư duy thơ.
Nên thi phẩm không phải dạng thơ vịnh lại hình hài thực của cây đàn nguyệt quen
thấy trong truyền thống, mà tạo ra hình tượng thi ca về thế giới nguyệt cầm
theo lối Tượng trưng.
4. "Giao thoa - Cộng hưởng", nhìn từ vĩ mô đến vi
mô
4.1. Chữ "nhập" khởi đầu cho tất cả
Bài thơ gồm 4 khổ, được tổ chức theo đà tăng tiến. Từ khổ 1 đến
khổ 4, có thể thấy: Về thời gian: ngày một khuya khoắt; về không gian: càng lúc
càng tràn đầy với mọi bề cao - rộng - sâu theo sự toả lan của nhạc; về cảm
giác: mỗi lúc một ghê lạnh, rợn ngợp; về cảm xúc: càng đêm càng buồn sầu, nhung
nhớ, đơn côi ... Tất cả những mạch đó của thi tứ xe quyện với nhau và thống nhất
trong một thể sống động bởi cùng một thi pháp Giao thoa - cộng hưởng.
Tuy nhiên, khổ đầu tiên có một địa vị tối quan trọng. Chỉ cần
tập trung phân tích khổ đầu trong mối liên hệ dọc ngang với ba khổ còn lại,
cũng đủ cho ta hình dung về độ chín của thi pháp Xuân Diệu.
Nhất là câu nhập đề. Những nét độc đáo của thi pháp này (mà về
sau sẽ phát huy trong toàn bộ thi phẩm) dường như đã hiện ra ngay ở câu đầu.
Câu khởi đầu là những suy cảm về sự ra đời huyền hoặc của cây đàn nguyệt và
cách cất tiếng của nó. Có thể ví câu đầu như cái tế bào đầu tiên mang trong nó
"hệ gen" của hình thức toàn thi phẩm. Nói một cách khác, thi pháp gọi
bằng giao thoa - cộng hưởng ngay ở đây đã ra tay rồi:
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Câu thơ dựng lên một ngữ cảnh huyền hoặc, bí ẩn không dễ tường
minh. Ta hãy bắt đầu bằng chữ “nhập”. Vì mọi chuyện cũng khởi sự từ chữ này. Thế
giới nhạc của Nguyệt Cầm bắt đầu từ sự sống động của nhạc khí. Nhưng cây đàn ấy
bắt đầu sống cái sinh mệnh đàn từ bao giờ? Từ lúc trăng nhập vào dây cung vậy!
Đây là động thái huyền nhiệm, diễn tả sự nhập hồn, nhập thần... Nó xui ta nhớ đến
nghi lễ hô thần nhập tượng khi hoàn thành những pho tượng Phật giáo. Nguyên là:
tượng được tạc xong, chưa linh, bởi mới chỉ có phần thân xác tượng; phải sau
khi được thần linh nhập vào, tượng mới là hiện thân của đức Phật. Cũng như thế,
trong hình dung theo lối thi ca của Xuân Diệu, đàn vừa được làm ra, mới chỉ có
thân xác. Phải khi trăng nhập vào dây cung, mới có hồn đàn. Từ cái khoảnh khắc
mầu nhiệm ấy, đàn mới bắt đầu sống cái thân phận Nguyệt cầm. Tự bấy giờ, mỗi nốt
Nguyệt Cầm tấu lên sẽ là cộng hưởng của âm thanh và ánh sáng. Mỗi nốt nhạc sẽ
sinh thành từ sự giao duyên kỳ bí đó của Nguyệt và Cầm.
Sau chữ “nhập” như thế, Trăng và Đàn đã đồng thể. Nhưng cái
điểm giao tình của chúng là đâu? ở nơi chữ “cung” vậy. Sự giao thoa ngôn từ
cũng chính thức bắt đầu từ chữ đó. “Cung” vừa thuộc về đàn vừa thuộc về trăng. ở
đây, vị trí của nó là bắc cầu, ngữ nghĩa của nó là giao thoa. Nếu ngắt theo nhịp
2-2-3, thì đó là “cung nguyệt lạnh” (nghiêng về “cung trăng”), mà ngắt theo nhịp
2-3-2 thì sẽ là “dây cung” (nghiêng về “cung đàn”). Thi vị độc đáo của nó chính
là sự giao động bất tuyệt giữa hai bề ngữ nghĩa ấy. Phải chăng cung nguyệt cầm
chính là sự cộng hưởng của cả cung trăng lẫn cung đàn? Hai hình ảnh nhập vào một
hình thể? nhập thành một duyên phận?
Hoà điệu với nhịp thơ, còn phải kể đến một yếu tố khác là âm
thanh. Câu thơ là một chuỗi âm thanh gây thành một ấn tượng rõ rệt. Không phải
ngẫu nhiên, cả câu có 3 thanh trắc, thì cả ba đều là thanh nặng: nhập, nguyệt,
lạnh. Nhất là hai dấu "nặng" liền nhau trĩu xuống ở cuối câu, cảm
giác lạnh từ thanh âm của các nốt "nặng" ấy toát ra đã làm lạnh suốt
cả chuỗi âm thanh của câu thơ, mở đầu cho cả gam lạnh rồi đây sẽ trùm lên khắp
cả Nguyệt Cầm [5] .
Như vậy, bằng chữ “nhập” và câu thơ nhập đề kỳ lạ, Xuân Diệu
đã ngầm lý giải (hay khám phá ra) cái tính linh kỳ bí của Nguyệt cầm. Câu thơ
đã chính thức dẫn dụ người đọc vào cái thế giới huyền diệu của nguyệt cầm .
4.2. Cộng hưởng nhạc - thơ, trăng - đàn
Có thể nói, nhờ phát huy cao độ thi pháp của mình, Xuân Diệu
đã tạo sự cộng hưởng lạ lùng giữa nhạc - thơ, trăng - đàn.
Một khi đã sống như một sinh mệnh, thì Nguyệt cầm bắt đầu lên
tiếng. Tiếng nói của mọi cây đàn đều là “So vần dây vũ dây văn”:
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần;
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Có thể xem hai câu đây là thứ tiếng nói rất riêng của cây đàn
này. Cây Nguyệt cầm đang so vần dây vũ dây văn của nó đó thôi!
Về nội dung, hai câu này tả không-gian-trăng-nhạc [6] bằng
các cung bậc khác nhau của tình đàn. Nhưng về thi pháp: mỗi câu kia, với từng
nhịp ngắt, tựa như một chuỗi âm hình kế tiếp vang lên như cách tấu đàn. Đó là
điều đáng nói. Ta hãy đi sâu hơn một chút vào cấu trúc ngôn ngữ của nó để thấy
sự cộng hưởng giữa thơ với nhạc, giữa nhạc của ngôn ngữ với ngôn ngữ của nhạc.
Phép song song của ngôn ngữ thơ, phép đối ngẫu của thơ cổ,
phép tương giao của thơ Tượng trưng cùng với tính đa nghĩa của ngôn từ thơ, qua
bàn tay của Xuân Diệu, đã quyện vào nhau trong thi pháp “giao thoa - cộng hưởng”.
Theo cái nhìn truyền thống, hai câu thơ vừa dẫn trên đây chỉ là một cặp đối ngẫu
rất quen. Song, xem kĩ, thì lạ. Lạ vì, có lẽ, âm nhạc đã xâm nhập vào thi ca.
Tiết nhịp là nét lạ trước nhất. Câu thơ thất ngôn bị cắt rời thành ba nhịp
thông thường. Nhưng điều không thông thường là: mỗi nhịp vừa là một tiết của
câu lớn, vừa như một câu bé độc lập. Thủ pháp trùng điệp vào hùa với thủ pháp
ngắt nhịp đã vừa "băm nhỏ" vừa "xâu chuỗi" từng câu. Ba chủ
từ câu trên đều là “trăng”, ba chủ từ câu dưới đều là “đàn", mỗi chủ từ đều
điệp lại ba lần. Còn vị từ của chúng (thương, nhớ, ngần, buồn, lặng, chậm) đều
là các động thái/cảm xúc của trăng, của đàn (hay của người): Trăng thương
/trăng nhớ / hỡi trăng ngần // Đàn buồn / đàn lặng / ôi đàn chậm. Vừa ngắt lại
vừa điệp. Mỗi câu cắt thành ba vế. Mỗi vế vo thành một câu con. Vừa rời ra, vừa
tiếp nối.
Điều này, xét về mặt tuyến tính, đã tạo ra hai chuỗi lời thơ
như hai chuỗi thanh âm kế tiếp. Tựa như tác giả đã mô phỏng một chuỗi nốt đàn nối
theo nhau tấu lên từ Nguyệt cầm. Cứ nốt sau lại thiết tha hơn nốt trước. Bởi vậy,
hai dòng thơ liên tục như hai nét nhạc tấu lên từ hai dây. Có phải chuỗi âm ở
câu trên vang lên từ dây thanh (văn) [trăng... - trăng... - trăng...], chuỗi âm
ở câu dưới vang lên từ dây trầm (vũ) [đàn... - đàn... - đàn...]? Hai chuỗi âm
giai cứ đuổi nhau, hô ứng với nhau lan toả vào không gian.
Còn xét về mặt tổ chức văn bản, ở khía cạnh thị giác, hai câu
vốn song hành đối ứng nhau thành cặp trên dưới. Từng cặp tiết đoạn (trên - dưới)
của đôi câu thơ như thế gợi chúng ta nghĩ đến từng cặp hợp âm theo nguyên tắc
chồng âm của âm nhạc: trăng thương - đàn buồn // trăng nhớ - đàn lặng // hỡi
trăng ngần - ôi đàn chậm. Tựa như một âm bổng (cao) chồng lên một âm trầm (thấp)
tạo thành một nốt chồng âm chơi theo lối hợp âm giống như trong âm nhạc vậy. Và
tất nhiên, ở đây, dạng hợp âm của nốt chồng âm ấy chỉ có thể là ánh sáng
(trăng) chồng hợp lên âm thanh (đàn). Câu trên và câu dưới cứ song hành đối ứng
như thế, diễn tả những cung bực và sắc thái cảm xúc như thế, có khác nào sự
song tấu giữa dây Vũ và dây Văn trên cây Nguyệt cầm. Nó khiến ta thấy ra, ở
đây, thi sĩ đã dùng cả ngôn ngữ của âm nhạc để làm giàu thêm cho âm nhạc của
ngôn ngữ. Đồng thời cũng thấy một sự giao duyên thú vị giữa thơ Đường và thơ Tượng
trưng trong ngòi bút thơ Xuân Diệu.
*
Hình thức giao thoa còn được lặp lại với những biến thức kì
thú của nó ở khổ ba. ở đây, chủ yếu là sự giao thoa giữa trăng với đàn, âm
thanh với ánh sáng để diễn tả những cộng hưởng tinh vi trong cảm xúc:
Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời.
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận.
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người.
Tôi muốn đề cập đến câu 3 và câu 4 của khổ này. Cả hai đều có
thể ngắt theo nhịp 3/4. Hai câu là một cặp đối, và mỗi câu cũng ngắt thành hai vế
đối. Hình thức đối ngẫu thường tạo ra hai vế biệt lập theo quan hệ đối xứng. ở
câu 3 này, đối ngẫu chỉ còn tương đối. Sự giao thoa về nghĩa đã làm cho hai vế
đối ngẫu tràn sang nhau. Hãy bắt đầu bằng hai vế lớn: long lanh tiếng sỏi /
vang vang hận. Ta thấy rõ tính cộng hưởng: vế trước là hình ảnh ánh sáng (thị
giác), vế sau là âm thanh (thính giác). Sự tương xứng rõ nhất là ở hai từ láy
Long lanh (ánh sáng) / vang vang (âm thanh). Tuy nhiên, "tiếng sỏi"
không chịu đứng yên ở vế bên này, không chịu yên với các nghĩa đơn là tiếng sỏi
long lanh và mối hận vang vang. Nó đã ngầm giao kết với vế bên kia để phát sinh
một nghĩa khác: "tiếng sỏi (cũng) vang vang hận”. Tức là cả hai làn nghĩa
đã sóng sánh giao thoa với nhau. Ta cảm/nghe tiếng sỏi va xiết đang long-lanh-sáng,
đồng thời, đang vang vang lên một mối hận nào đó giữa canh khuya. Nhìn sâu vào
ngay trong một vế cũng thấy lạ lùng: tiếng sỏi vốn trầm đục, đâu có trong trẻo
mà có thể có một cảm giác tương ứng của thị giác là “long lanh”. Phải chăng đó
là những viên sỏi đọng trăng trên lối khuya? Những viên sỏi long lanh nơi lòng
bến Tầm Dương? Hay là các nốt đàn cứ từng giọt rơi long lanh, tròn vo như dáng
sỏi? Ta không thể nói quyết được nó nghiêng về nghĩa nào. Trong âm nhạc của
Nguyệt cầm, nó cứ long lanh một chất thơ như thế, khước từ mọi sự lý giải bằng
lý tính của người đọc thơ. Nhờ cách ấy, nó đã tạo ra cái linh lung kì ảo của
ngôn từ. Đến câu thứ tư, tính đối ngẫu còn rõ hơn nữa. Hai vế vừa là sự song tấu:
Văn - Vũ, vừa là sự cộng hưởng: trăng nhớ (ánh sáng) và nhạc nhớ (âm thanh). ấy
là hai phía thị giác và thính giác hợp nên từng âm giai Nguyệt cầm. Tất cả cứ
làm cho không gian nhạc tràn ngập những linh lung.
4.3. Cộng hưởng trong thi ảnh
Trên đây, ta vừa lần theo dọc bài thơ để thấy sự chi phối của
thi pháp "Giao thoa - cộng hưởng" với các biến thức của nó trên bình
diện tổ chức vĩ mô của thi phẩm, mà những tín hiệu đầu tiên đã nhấp nháy ngay từ
khổ thứ nhất.
Giờ, ta lại trở về khổ thứ nhất, để tìm kiếm điểm xuất phát của
một nét khác, cũng thuộc thi pháp này: cộng hưởng ngay trong một thi ảnh.
Để kết lại khổ đầu tiên, Xuân Diệu đã tái tạo hình ảnh mỗi âm
giai Nguyệt Cầm thực sự là một giọt đàn:
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm,
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
Khi dây Văn dây Vũ hoà với nhau, khi Đàn và Trăng hòa tấu
trong cùng một tiếng nói của Nguyệt cầm, thì mỗi âm giai hiện hình thành một giọt.
Âm thanh vô thể, ánh trăng là ảo thể. Khi chúng hoà vào nhau, lại sinh ra hình
thể là giọt. ở đây, Giọt là sự kết tinh, sự tượng hình của âm thanh và ánh
sáng. Nói cách khác, giọt này ra đời bởi sự giao tình giữa ánh sáng và âm
thanh. Để có hình thể giọt, Xuân Diệu đã tái tạo bằng cách biến cái vô hình
thành hữu hình. Điều này chưa lạ. Bởi chỉ đơn giản là chuyển thính giác qua thị
giác. Giọt vốn là hình thể lỏng, nhưng khi có thể “rơi tàn”, thì nó đã hoá
thành giọt ánh sáng. Người ta có thể hình dung như giọt âm thanh cất mình rời
khỏi dây đàn bay liệng trong khoảng không, long lanh sáng, rồi rơi dần, tàn dần
trong không gian. Vậy nên giọt đàn cũng là giọt trăng. Tuy nhiên, thi ảnh thật
sự thăng hoa là ở vế sau bằng một so sánh lạ: như lệ ngân. Thì ra, hình thể giọt
là sự đồng hiện của giọt đàn - giọt trăng - giọt lệ. Nghĩa là một hình thể mà
chứa nhiều hình ảnh. Đây chính là một vẻ đẹp rất quan trọng của thơ tượng
trưng. Nhưng, sao lại giọt lệ? Mỗi thanh âm tấu lên là một giọt lệ đàn ư? Không
hẳn. Trong mối liên hệ kín đáo của thi tứ, giọt lệ này đã ứa ra từ mối hận muôn
đời của những kiếp cầm ca tài hoa bạc mệnh, của những nàng Nương tử đã chết đêm
rằm theo nước xanh, của mối hận sầu từ những kiếp Tỳ Bà một thuở Tầm Dương. Lời
đàn còn là sự lên tiếng của những mối hận truyền đời ấy. Mặt khác, mối hận cũng
đã ký thác vào hồn đàn, vào dây cung nguyệt lạnh làm nên cái sinh mệnh, cái
tính linh bí ẩn của Nguyệt cầm. Vậy là tiếng nói của cây Nguyệt Cầm được hợp
thành bởi cả trăng - đàn - mối hận thầm. Trách chi, tất cả cứ linh lung ma
quái.
Đồng thời, trong bài thơ, ở mỗi khổ ta đều thấy hình ảnh nhạc
tuôn trào chan chứa không gian để cuối cùng thành một bể âm thanh, thành biển
pha lê Bốn bề ánh nhạc biển pha lê - Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề. Thì ra cái đại
dương sóng sánh ở cuối bài thơ đã được làm đầy từ muôn vàn giọt kia kế tiếp
tuôn rơi suốt từ đầu nguồn thi phẩm đó.
4.4. Giao thoa về nghĩa chữ
Cuối cùng, tôi muốn nói đến một khía cạnh khác của thi pháp ấy:
giao thoa nghĩa chữ. Đây hẳn là lối giao thoa cộng hưởng ở cấp tinh vi nhất của
kiến trúc thi ca. Hai kênh cảm giác của thi sĩ đã giao thoa ngay trong một từ. ở
câu đầu, đó là từ "lệ ngân". Tính đa nghĩa của ngôn từ thơ được dịp
thăng hoa. Chữ “ngân” là sự giao ứng giữa hai làn ngữ nghĩa. Vừa là danh từ với
nghĩa là bạc - mỗi giọt đàn đọng trăng như một giọt lệ ánh bạc. Vừa là động từ
với nghĩa là ngân nga - mỗi giọt đàn là tiếng ngân nga của giọt lệ. Vậy, chữ
“ngân” là hợp thể có sự giao thoa của cả hai: ánh sáng và âm thanh. Người đọc
không thể hiểu theo cái lối chọn một trong hai nghĩa và loại bỏ nghĩa còn lại của
nó. Mà, nghĩa đích thực của từ, ở ngữ cảnh này phải là sự tích hợp của cả hai bề
ngữ nghĩa đó. Nói khác đi, là nó luôn chấp chới giữa hai làn nghĩa. Cũng có thể
coi đó là sự dao động ngữ nghĩa trong ngôn từ. Ta sẽ còn thấy lại nét thi pháp
này ở những đoạn dưới. Chẳng hạn các từ “linh lung”, "ánh nhạc", “rợn”...
Chúng đều là hợp thể với sự giao thoa của thị giác với thính giác hoặc xúc
giác.
Sự giao thoa này được Xuân Diệu sử dụng như một nét chủ công
trong thi pháp ở đây. Trong toàn bài “Nguyệt cầm” ta còn gặp nhiều biến thức của
nó. Có cả giao động giữa chủ thể và đối tượng, cả giao động giữa chủ từ và trạng
từ:
- Linh lung bóng sáng bỗng rung mình
- Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người
- Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Trong những câu trên đây, trước những trạng thái rung mình,
nhớ, làm thinh, nín thở có thể hiểu chủ thể là bóng sáng, là trăng, là nhạc, là
sương bạc, là khuya. Nhưng cũng có thể hiểu tất cả các trạng thái ấy đều thuộc
cùng một chủ thể duy nhất: cái tôi thi nhân. Mà cũng có thể hiểu chính cái tôi
của thi nhân đã tan mình trong nhạc, đã thành cái siêu tôi để đồng nhất, đồng
thể với những tạo vật hư hư thực thực đó! Làm sao mà rành mạch được! Chỉ biết rằng,
bằng cách ấy, hình bóng cái tôi trở nên nhạt nhoà hư ảo, dường có lại dường
không!
Rồi những đêm thuỷ tinh, biển pha lê, sầu âm nhạc... cũng đều
là sự linh lung ngữ nghĩa như vậy. Nói riêng ba chữ sầu âm nhạc, chẳng hạn. Là
sầu từ âm nhạc, hay sầu trong âm nhạc, sầu của âm nhạc, hay sầu bằng âm nhạc...?
Mỗi chữ vừa là sự hội hợp, chồng chất của các nét nghĩa vừa là sự giao thoa bất
tuyệt của các làn nghĩa ấy. Chính dạng thức dao động bất tận của các bề nghĩa,
các làn nghĩa như thế đã góp mình tạo nên cái linh lung đặc biệt của thế giới
Nguyệt Cầm.
Vậy là cái thế giới ánh nhạc kia vẫn không ngừng toả lan,
không ngừng giao ứng. Từng giọt đàn - từng giọt trăng - từng giọt lệ - từng gợn
sóng âm - từng làn sóng thuỷ tinh tê lạnh cứ từ Nguyệt Cầm lan xa mãi, xa mãi.
Và cuối cùng đã biến cả không gian và thời gian thành biển pha lê không bờ
không bến. Mỗi giọt đàn để lại một thoáng rợn mình, một chút giá băng lên toàn
thân ta, thấu vào tận hồn ta. Những cảm nhận hoàn toàn tinh thần của thị giác
và thính giác đã trộn vào nhau thật ma quái để gây thành một tác động xúc giác
rờn rợn nơi làn da. Những mong manh mơ hồ của cõi tinh thần đã biến thành cảm
giác tê ngời, buốt giá khắp toàn thân, toàn trí, toàn hồn ta. Mỗi tiếng thơ vào
đây đều theo lối thăng hoa, mỗi chữ, mỗi lời cất lên từ tơ lòng thi sĩ đều tựa
như mỗi âm giai cất mình khỏi dây tơ đàn linh lung bay vào thế giới huyền diệu
vô biên, vô lượng. Âm giai nào cũng là những ánh nhạc rợn sáng, rợn mình. Hồn
ta tự bao giờ cũng đã hoá thành một hòn cô đảo run rẩy, trôi dạt trong âm nhạc
vô biên cùng với mảnh hồn bé bỏng tan trôi của thi sĩ: chiếc đảo hồn tôi rợn bốn
bề- sương bạc làm thinh khuya nín thở - nghe sầu âm nhạc tới sao Khuê. Chia tay
với Nguyệt Cầm dường như các tế bào khắp thân mình ta vẫn chưa thôi ớn lạnh,
chưa hết rên thầm...
Hà Nội, 1994 - 1998
Nguồn: Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu - Nguyễn Bính -
Hàn Mặc Tử. Tiểu luận, phê bình của Chu Văn Sơn. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội,
2003.
__
[1]Về văn bản, cho đến nay, sách giáo khoa Văn 11 (năm 2002)
còn in là "rủa", điều này cho thấy soạn giả chưa cập nhật về thông
tin. Ở đây, chúng tôi theo bản in trong tập Thơ Thơ, NXB Đời nay, 1938 và bản
in trong Tuyển tập Xuân Diệu (Tập 1), NXB Văn học, 1983. Đây là những văn bản
sinh thời tự tay Xuân Diệu chăm sóc sửa chữa. Về "lai lịch" của chữ,
nhiều người vẫn coi lúc đầu Xuân Diệu viết là "rủa" bởi muốn học theo
cách dùng chữ trong thơ Pháp, diễn tả sự xung đột gay gắt của sắc màu. Nhưng về
sau, tự nhận thấy chữ "rủa" như thế vừa quá Tây, vừa không được nhã lắm
theo mỹ cảm truyền thống, nên thi sĩ đã sửa lại thành "rũa". Nó vẫn
diễn tả được xung đột, vận động, mà lại giàu thi vị hơn. Nếu quả như thế, thì
có thể xem từ "rủa" đến "rũa" là một minh chứng rất thuyết
phục cho quá trình Việt hoá trong nghệ thuật tu từ của nhà thi sĩ vẫn được xem
là "rất Tây" này. Tuy nhiên, gần đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh
lại cho biết trong một lần trò chuyện với Xuân Diệu, thi sĩ đã "rất tức"
mà nói rằng: chưa bao giờ ông viết là "rủa" cả!
[2]Đã in trong Tạp chí ngôn ngữ, số 2 / 2001, với tựa đề
"Nguyết Cầm - sự thăng hoa của hồn thơ Xuân Diệu" (Vài suy nghĩ về cấu
trúc nghệ thuật của thi phẩm Nguyệt Cầm).
[3]Xem nhiều tác giả, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi
ca, Nxb Giáo dục, 1993
[4]Có thể nói, xét về một mặt nào đó, Nhị Hồ là một tiền đề,
thậm chí một tiền thân của Nguyệt Cầm. Một chút so sánh sẽ giúp ta khu biệt rõ
hơn những nét riêng của Nguyệt Cầm. Là những bài thơ hay nhất về Nhạc của Xuân
Diệu, nhưng hai thi phầm này được viết khá xa nhau: NHị hồ thuộc phần đầu tập
Thơ thơ (1938 ), còn Nguyệt cầm lại mở đầu tập Gửi hương cho gió (1945). Mỗi
bài thơ là một trình độ chiếm lĩnh khác hẳn của tư duy thơ đối với cái cõi vô
hình, huyền hồ, hư thoảng của nhạc. Về độ dài, Nhị Hồ dàn ra tới 7 khổ thơ,
Nguyệt cầm đúc vào 4 khổ. Về cơ cấu không gian, ở Nhị Hồ 3 khổ đầu dựng lên
không gian ngoài tiếng đàn (khung cảnh đêm nghe đàn ), rồi mới dựng lên không
gian trong tiếng đàn ở 4 khổ sau - hai không gian này hoàn toàn tách rời. Trong
khi ở Nguyệt Cầm, không gian trong và ngoài tiếng đàn ngay từ đầu đã hoàn toàn
xâm nhập lẫn nhau, giao ứng với nhau, thực tại đi về cùng huyền diệu. Cái tôi
tác giả ở Nhị Hồ hiện ra thành một nhân vật trữ tình rành rẽ, lần lượt với hai
trạng thái: ban đầu tỉnh trong cõi thực để nghe nhạc (3 khổ đầu) về sau mộng
như một chàng Từ Thức cất mình bay vào “Thế giới của Du Dương” bên trong nhạc
(4 khổ sau), ở Nguyệt cầm cái tôi ấy dường như đã tan ra trong nhạc, không còn
hình hài toàn thể của nhân vật trữ tình, mà cuối cùng chỉ thấy một phần tử vi
mô và mong manh nhất của nó dưới dạng ẩn dụ là “Chiếc đảo hồn tôi...” trôi dạt,
phiêu tán trong đại dương âm thanh ánh bạc xô mãi tới vô biên. Như vậy, “Chiếc
đảo hồn tôi” đây như hạt bụi mỏng bơ vơ, lênh đênh trong cõi thiên hà. Tan mình
vào âm nhạc Nguyệt cầm, cái tôi ấy chỉ còn lại những tiếng rên tê buốt trước những
tác động băng giá rợn ngời của tiếng đàn (Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi ). Về
sắc điệu, lối trữ tình của Nhị Hồ còn dựa rất nhiều vào tự sự, kể lể, ở Nguyệt Cầm,
chất trữ tình ấy thăng hoa từ đầu đến cuối. Về kỹ thuật của vật liệu ngôn từ,
ngay ở những câu được xem là hay của Nhị Hồ, vẫn thấy nhạc tính của ngôn từ được
huy động lộ liễu (Sương nương theo trăng ngừng lưng trời - Tương tư nâng lòng
lên chơi vơi), nhạc tính của Nguyệt Cầm không bị lộ cơ theo lối ấy, trái lại nó
đã được chưng cất trong trực giác và xúc cảm để đạt đến độ tự nhiên nhuần nhuyễn.
[5]Phan Huy Dũng đã có cảm nhận thú vị về khía cạnh vật liẹu
lạnh và lối diễn tả lạnh của thi phẩm này. Xem tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số
2-1997.
[6]Chú ý, về sự biến hoá của trăng và không gian trăng, từ
câu mở đầu đến hai câu này, có sự ngược chiều. Câu mở: Trăng nhập vào dây cung
nguyệt lạnh (1), hồn trăng từ trời xa sà xuống, nhập vào thế giới âm u bí mật của
đàn; đến câu này: Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần (2), trăng lại từ
lòng nguyệt cầm, từ dây tơ đàn bay lên, mở ra cái bát ngát của không gian
trăng. Câu 1: trăng của trời; Câu 2: trăng của nhạc. Câu 1: dần tối sẫm; câu 2
bừng thoáng sáng. Đó là không gian bên ngoài hay bên trong tiếng đàn? Chúng ta
không chia tách được. Ngay từ đầu nó đã hoà lẫn vào nhau.
Nguyễn Bính và "kiếp con chim lìa đàn"
1. Nguyễn Bính trong mỗi chúng ta
Nỗi nhớ của con người thường gắn liền với một cái cớ nào đó.
Hễ gặp duyên cớ kia là nhớ nhung cứ thế mà thức dậy, mà da diết. Tôi thường nhớ
tới Nguyễn Bính mỗi độ xuân về. Nhất là lúc mưa xuân. Đấy cũng là lúc rời phố
xá, tôi trở về quê nhà ăn tết với người thân. Tôi cứ thấy Nguyễn Bính về theo từng
chấm mưa rắc bụi lên cỏ cây hoa lá, lên những võng tơ nhện óng ánh sương giăng
mắc vệ đường, vệ đê, bụi hoang nơi đồng nội. Bấy giờ những nẻo đường quê dường
như mềm hơn, mịn hơn. Những làn bụi từng bị rang khô dưới nắng hè, từng lầy lụa
trong mưa dầm tháng bảy, từng xáo cuộn cùng xác lá trong gió heo may tháng mười
giờ đã yên nằm trên mặt đường ẩm mát. Lấy móng tay gợi lên thì xốp tơi như lòng
khoai lang bột đồng màu. Những hàng xoan se mình tím tái trong suốt mùa đông bỗng
tươi da, nhựa đang chuyển mình lên những chồi hẹn nhú. Nước giếng khơi như bỗng
trong đầy. Hoa bưởi rắc phấn vàng xuống tóc người dừng bước... Ở đâu tôi cũng
thấy Nguyễn Bính. Cái gì cũng nhắc về Nguyễn Bính. ấy là lúc đã về tới cố
hương, về với tuổi thơ xưa. Nguyễn Bính cứ lãng đãng theo tôi trên mỗi bước đường
làng. Tôi trò chuyện cùng ông như với một cố nhân, một người vẫn ở mãi chốn
quê, chỉ có mình là bỏ quê phiêu dạt. Nguyễn Bính là làn mưa xuân rắc mình lên
chốn hương thôn, là lá dâu xanh dập dờn bướm vàng cuối bãi. Nguyễn Bính là chiếc
lá lìa cành đầu ngõ, là chiếc mo cau rụng vội góc vườn. Nguyễn Bính là sắc nắng
chiều man mác trên mỗi thân cau, là ngọn mồng tơi ngập ngừng nơi lưng giậu.
Nguyễn Bính là tiếng trống chèo động lòng đêm hội, là cỗ tam cúc thắc thỏm giao
thừa. Nguyễn Bính là mảnh khăn điều trẩy hội chùa, là cây lụa trắng đang về chợ
làng xa. Nguyễn Bính là nỗi hờn tủi của những con đò. Nguyễn Bính là tiếng thở
than của mỗi tấm liếp. Nguyễn Bính là những mảnh đời lỡ làng sau mỗi luỹ tre lối
xóm. Nguyễn Bính là nỗi đoái trông của mỗi vườn cam mái gianh. Nguyễn Bính là
đôi mắt đau đáu trong thẳm sâu lòng người xa xứ... Tôi nhớ Nguyễn Bính như là
khắc khoải về xa xưa, về hiện tại của chính mình. Tôi, một đứa con sống trong
lòng Tổ quốc còn thế. Trách chi cái anh chàng Việt kiều Hoàng Chính nào kia ở
cuối thế kỉ hai mươi lênh đênh xứ người, nhớ về Tổ quốc là nỗi nhớ Tiếng Việt,
nhớ tiếng mẹ đẻ, là nhắc nhau nhớ đến Nguyễn Bính: Mười một năm trời đi biệt xứ
/ Em còn nhớ tiếng Việt Nam không?/ Lòng còn xôn xao Thơ Nguyễn Bính? / Chuyện"Thôn
Đoài ngồi nhớ thôn Đông" (Gửi vầng trăng lưu lạc). Nguyễn Bính là tiếng vọng
cội nguồn trong lòng kẻ lưu lạc. Nguyễn Bính là tiếng trở mình của rặng tre
trong lòng kẻ tha hương. Nguyễn Bính còn là cái tiếng Việt trong lòng đứa con
xa đất mẹ... Ai đó nói trong mỗi chúng ta đều có một người nhà quê. Sau bấy
nhiêu năm, tưởng cũng có thể nói, trong mỗi chúng ta đều có một Nguyễn Bính, kể
cả những ai muốn chối bỏ điều đó. Sức đeo bám của Nguyễn Bính trong hồn mỗi người
Việt lớn hơn chúng ta tưởng rất nhiều. Sau ca dao có lẽ chỉ Nguyễn Bính mới có
nổi sức đeo bám này. Hồn quê trong mỗi chúng ta bây giờ chẳng phải còn có tên
là Nguyễn Bính ư?
Và khi rời khỏi cố hương ra với đời sống của mình chốn đô thị,
tôi cũng luôn thấy nhớ Nguyễn Bính. Các đô thị càng mọc lên, các cao ốc càng chất
ngất, càng thấy nhớ Nguyễn Bính. Nguyễn Bính như là cái gì đang mất lại vừa như
một cái gì không thể mất. Là cái vô hình luôn hiện hữu, là cái hiện hữu mà vô
hình.
*
Nhưng cái tên Nguyễn Bính đến với tôi từ bao giờ?
Người ta thường thích nhớ về "cái thuở ban đầu lưu luyến
ấy". Tất nhiên, có khi nhớ được, có khi chẳng còn nhớ nổi, tất cả cứ nhoè
lẫn nhạt nhoà. Phần mình, với Nguyễn Bính, thì tôi chẳng thể nào quên. U tôi,
chị tôi có ru tôi bằng Nguyễn Bính hay không? Kí ức thuở nằm nôi, nằm võng
không thấy vọng lên câu nào. Còn như Kiều, Chinh phụ, Trương Chi, Hoàng Trừu, Tống
Trân, Phạm Tải... thấy nhiều hơn. Trong tuổi thơ tít tắp của mình ở xứ Thanh,
tôi thường đi phụ giúp u tôi làm trên lò gốm. U tôi là thợ vần, cả đời tay thì
vo đất sét, chân thì đạp bàn xoay, cùng thợ chuốt làm ra đủ thứ chum, vại, thửng,
hũ, cóng, ang... Các bà thợ vần, thợ chuốt vừa làm vừa tán đủ thứ chuyện, rồi
hát hò, ngâm thơ, rồi tranh cãi nhau về nghĩa lí của câu tục ngữ này, câu thành
ngữ nọ. Hôm ấy, một chị thợ chuốt còn trẻ, sau khi chuyện vãn, đã cất lời ngâm
một đoạn khá não nùng mùi mẫn: "Em ơi em ở lại nhà / Vườn dâu em đốn mẹ
già em thương...". (Phải khi vào cấp ba tôi mới biết nó là "Lỡ bước
sang ngang"). Đến chỗ "đêm nay là trắng ba đêm...", chị ta ngâm
tiếp là "Chị thương chị kiếp con chim lạc đàn". Lập tức, tôi nghe thấy
tiếng phản đối của một bác thợ lò:"con chim lìa đàn chứ sao lại lạc".
Đang ngâm, bị cắt ngang, khác nào bị chẹn họng, và chắc là không chịu được cái
giọng chỉnh kẻ cả, chị kia cãi lại gay gắt: Cái ông này, vô duyên! Người ta nói
chim lạc đàn chứ ai nói lìa đàn bao giờ! Thế mà cũng đòi sửa! Bác thợ lò thấy cần
phải đè bẹp đối thủ, phải thắng triệt để nên ra điều sành sỏi chữ nghĩa: Lạc
thì thường, thì non nghĩa. Lìa mới lạ, mới già nghĩa, chữ mới chín. Đang bay
cùng mà phải lìa khỏi đàn, thì mới đau chứ ..". Rồi bác ta còn bảo, nếu
không chịu, mai sẽ mang nguyên văn lên cho xem. Chị ngâm thơ đành ấm ức mà im lặng.
Cũng mãi sau này, tôi mới ngớ ra rằng, đó có lẽ là cuộc tranh
luận về ngôn ngữ thơ đầu tiên mà mình được chứng kiến.
Bởi cái lẽ "đầu tiên" ấy mà găm rất sâu vào lòng
trí non nớt của tôi cái hình ảnh con chim lìa đàn. Nó cô lẻ. Nó côi cút. Thoi
thót suốt tuổi thơ tôi. Lúc bấy, tôi không ngờ, và có lẽ ngay cả Nguyễn Bính
khi viết câu ấy cũng không thể ngờ "con chim lìa đàn" đã thành chân
dung tự hoạ (hay tự ám?) da diết nhất của Nguyễn Bính.
Thực ra, khi đọc thi sĩ này, thấy bướm trắng bướm vàng bay loạn
trong thơ ông, một đôi người bèn coi bươm bướm là biểu tượng chuẩn nhất cho
Nguyễn Bính. Đúng là hồn thơ này cũng có ngất ngây chuyện bướm hoa, cũng sinh
ra những bóng bướm quyến rũ. Nhưng cũng tựa như dáng chập chờn của nó, bươm bướm
chỉ thuộc vào cái phần tình tang lẳng lơ, phần bâng quơ phù hoa của vườn thơ
Nguyễn Bính thôi. Một lúc khác, Nguyễn Bính có ví nỗi cô đơn nhục nhằn trên đường
đời của mình với con ngựa và người chị với chiếc thuyền nan - Em vốn đường dài
thân ngựa lẻ / Chị thì sông cái chiếc đò nan / Quê người đứng ngóng mây lưu lạc
/ Bến cũ nằm nghe sóng lỡ làng. Nguyễn Bính sinh năm Mậu Ngọ (1918). Ví mình
như con ngựa không chỉ là ý thức về thân thế long đong của mình, mà trong đó
còn chứa cả một ý niệm về cái bản mệnh giời đày của mình nữa. Vẫn biết thân ngựa
lẻ kia cũng chỉ là biến thể của cùng một cái tôi Nguyễn Bính. Song con chim lìa
đàn vẫn cứ ám hơn cả. Nó vận vào thân phận nhiều trái ngang của thi sĩ. Nó mới
thực sự là chân dung tinh thần chan chứa những sầu tủi của Nguyễn Bính. Mà trước
hết là chân dung tự họa của cái Tôi trữ tình thi sĩ. Đó chẳng phải là một cá
nhân đang tách ra khỏi bầy đàn, một cá thể đang tách khỏi đoàn thể, cái Tôi
đang tách khỏi cái Ta? Nhưng với con chim kia, đó không phải là một cuộc vùng
lên cao ngạo, bứt phá bướng bỉnh, vượt thoát bất cần. Mà đó là sự chia lìa. Nó
không thể không tách ra, nhưng cái nó cảm thấy rõ khi vừa tách ra không phải vũ
trụ dành riêng cho sự tung hoành, trái lại, là sự chơi vơi, là nỗi đơn côi. Lìa
đàn là đánh mất điểm tựa vững chắc, mất vòng tay ôm ấp chở che. Lìa đàn, chưa
tìm thấy mình đã đánh mất mình. Lìa đàn, bơ vơ giữa cõi, lưu lạc tìm đàn. Và
hình ảnh con chim lìa đàn ấy thực sự là một ám ảnh trong tâm thức thi sĩ. Nó
còn bay mãi trong hồn thơ Nguyễn Bính với những bóng dáng khác nhau: "Lẻ
loi thân nhạn sang nam ấy" ,"Thân em chẳng khác con chim non / Bơ vơ
trong xứ người xa lạ", "Sầu nghiêng theo cánh chim lìa tổ / Biết lạc
về đâu lòng hỡi lòng?"...
2. Ra đời trong biến thiên
Bằng lòng với những ấn tượng chủ quan, xem ra là điều không
thể. Cần phải trả Nguyễn Bính về với thời đại của ông, về với cuộc biến thiên
chưa từng có ở chốn nước non bình lặng này [1] hồi đầu thế kỉ trước. Nguyễn
Bính là con đẻ của cuộc biến thiên ấy hay nhân cuộc biến thiên này mà cái anh
chàng thôn dân nghìn đời đất Việt đã lỡ bước sang ngang, đã hoá con chim lìa
đàn mà thành ra Nguyễn Bính?
Cuộc biến thiên tầm cỡ như vậy, bao giờ cũng vừa là một cơn
bão tàn phá vừa là một cơn trở dạ của lịch sử. Nghĩa là bao giờ cũng có hai mặt
biện chứng: huỷ diệt và sinh thành. Sức mạnh phá hoại sẽ phá vỡ và phế bỏ nhiều
cái cũ, mặt khác cũng nhân đó mà nhiều cái mới nảy nở sinh sôi. Phá huỷ dọn đường
cho sinh thành, sinh thành biện minh cho huỷ diệt. Nó chi phối thực tại đời sống
như một qui luật không thể cưỡng được. Tất cả đều bị cuốn vào quĩ đạo vừa vô
hình vừa hữu hình của nó. Cuộc biến thiên đó muốn đập vỡ một thế giới cũ để cho
một thế giới mới ra đời. Nên điều thật khó tránh là, trong những cái bị tàn phá
một cách say sưa, sẽ lẫn vào không ít những giá trị thiêng liêng thuộc vào hàng
bảo vật của giống nòi. Không chỉ trên qui mô toàn xã hội, mà ngay trong mỗi một
con người cũng đương diễn ra một cuộc biến thiên ngấm ngầm: con người mới đang
đòi phải phế bỏ con người cũ. Mà chia lìa con người cũ bao giờ cũng đau đớn. Bởi
thế trong xã hội cũng như trong mỗi cá thể, đều hình thành hai thế lực: cách
tân và bảo thủ, hai ham muốn: một đằng quyết giành quyền sống một đằng quyết giữ
quyền sống [2] . Tương ứng với nó là hai thái độ, hai tâm thế thời đại: háo hức
cái mới và lưu luyến cái cũ. Trong cái háo hức, bên cạnh sự táo bạo nhạy bén,
có cả những nôn nóng vội vàng. Trong niềm lưu luyến, song hành với thái độ thủ
cựu khư khư ôm lấy những phản giá trị đã cổ hủ, lỗi thời, kệch cỡm, là nỗi thiết
tha đến day dứt khắc khoải trước những giá trị có nguy cơ bị phá phách, tiêu huỷ,
biến suy. Mỗi tâm thế đều là một nguồn mạch trữ tình lớn của thời đại. Niềm thiết
tha khắc khoải ngấm ngầm trong xã hội và lòng người kia cho đến 1918 đã tìm thấy
người thi sĩ của nó. Làng Thiện vịnh, xứ đồng trũng chiêm khê mùa thối Vụ bản,
Nam Định đã sinh ra cho nền thi ca Việt một cậu bé mà lớn lên sẽ lãnh cái sứ mạng
thi sĩ kia. Nguyễn Bính là sự cất tiếng của con người Việt nghìn đời trong cuộc
biến thiên vĩ đại mà đầy đau đớn đó. Và đây cũng là một lí do giúp ta hiểu vì
sao, thơ Nguyễn Bính vẫn luôn làm xao động mọi tấm lòng Việt, tâm hồn Việt.
*
Mà con người Việt nghìn đời trong mỗi chúng ta là ai nếu
không phải là con người tiểu nông với tất cả ưu nhược của nó? Trong một xã hội
mấy nghìn năm "không đổi nhưng mà trôi cứ trôi" đó, anh chàng tiểu
nông kia vẫn sống yên ổn. Đến nỗi ta những tưởng đó đã là cái bản thể bất di bất
dịch. Nhưng trước cơn biến thiên lung lay đến tận cội rễ, chàng tiểu nông không
thể còn yên ổn. Không thể như cũ, lại chưa thể theo mới. Ngậm ngùi với cái cũ,
hoang mang trước cái mới. Bồn chồn, xốc xáo, không yên định là cõi lòng của nó.
Nguyễn Bính là tiếng lòng bất an của anh chàng tiểu nông, là tiếng lòng bất an
của thời đại. Đứt rễ khỏi đất cũ, chưa bén rễ vào đất mới, lòng thời héo hon,
lá thời héo úa. Nguyễn Bính là tiếng lòng héo hắt của cuộc biến thiên kia.
Nền tảng tinh thần muôn đời của anh tiểu nông là con người cố
kết, ý thức bầy đàn. Bầy đàn là chỗ dựa cho mỗi cá thể. Bầy đàn là vướng víu,
nhưng bầy đàn là bình ổn. Bầy đàn là chốn giam thân, bầy đàn cũng là chốn nương
thân. Cá thể bay nhanh trong bầy đàn, cá thể bay chậm cùng bầy đàn. Bầy đàn nhất
nhất quyết định sức mạnh cá thể. Nhưng cơn biến thiên này đã khiến cá thể không
muốn và không thể dựa dẫm vào bầy đàn. Mỗi cá thể cần phải là chính nó. Kẻ háo
hức thì hân hoan thấy mình thoát khỏi kiềm toả của bầy. Kẻ nặng căn thì sầu tủi
vì thấy mình phải lìa khỏi đàn. Nguyễn Bính là tiếng nói sầu tủi của con chim
lìa đàn ấy.
Trong đời sống cổ truyền giá trị cá nhân được xác định dựa
vào việc làm tròn bổn phận. Bổn phận là lẽ sống, cũng là điểm tựa bao đời. Bổn
phận có thể là một ngáng trở, nhưng cũng là một bấu víu. Bổn phận vừa là cánh
tay bó riết vừa là vòng tay âu yếm. Bổn phận khiến cá nhân phải hi sinh, bổn phận
cũng làm nên sự cao cả cho cá nhân. Nhưng, trong cơn biến thiên này, tiếng nói
của khát vọng nhất tề trỗi dậy. Đôi cánh khát vọng muốn tuông ra khỏi dây nhợ bổn
phận. Thời trước, mỗi cuộc giao tranh giữa khát vọng và bổn phận thường được dẹp
yên bằng ý thức hi sinh. Còn giờ đây cá nhân lại xác định giá trị của mình ở tầm
vóc của khát vọng. Cho nên cuộc giao tranh hoặc biến thế giới tinh thần thành một
đấu trường đẫm máu không có hồi kết, hoặc kết thúc bằng thất bại tủi sầu của bổn
phận. Khát vọng chiến thắng. Nhưng là một chiến thắng đầy mặc cảm tội lỗi, dai
dẳng không nguôi.
Nguyễn Bính là tiếng nói của cái tôi mang nặng mặc cảm đó.
Nội dung bao trùm của mặc cảm kia là gì?
Có thể nói đó là mặc cảm lỡ dở.
2. Cái tôi lỡ dở
Hơn chục năm trước, khi khởi thảo những mẩu đầu tiên về Nguyễn
Bính (phân tích bài thơ Xa cách, viết với Nguyễn Đăng Điệp), tôi chủ trương
khái quát Nguyễn Bính bằng hai chữ "lỡ làng". Phần vì nó là chữ trở
đi trở lại rất nhiều trong Nguyễn Bính, phần vì thấy đây là một bi kịch lớn,
bao trùm lên thế giới thơ của thi sĩ này. Giờ đây, đọc vào Nguyễn Bính sâu hơn
rồi, nhận rõ hơn tầm vóc của thi sĩ, tôi thấy chữ "lỡ làng" đuối
nghĩa, đuối sức như con đò bé không còn chở Nguyễn Bính sang ngang được nữa. Chữ
"lỡ làng" hợp với phận gái hơn, lại quá nghiêng về chuyện tình duyên.
Trong khi, ngay cả lúc nước mắt lưng tròng - chỉ vài ngày hoen ướt đã hỏng mất
một khăn hồng - thì Nguyễn Bính vẫn cứ là phận trai. Với lại, nỗi sầu tủi của
Nguyễn Bính phải đâu chỉ có chuyện duyên phận lỡ làng, mà còn cả sự nghiệp dở
dang - "Em đi dang dở đời mưa gió / Chị ở vuông tròn phận lãnh cung",
"Dang dở một thân nơi đất khách / Tết này ta lại ngắm hoa suông"...
Vì thế tôi thấy chữ "lỡ dở" ưu thế hơn. Không phải vì muốn đổi một từ
láy sang một từ ghép cho nén, cho đúc. Mà quan trọng là phải chữ ấy mới cưu
mang được thân phận Nguyễn Bính, nghĩa là mới gồm được mọi hẩm hiu về cả duyên
phận lẫn danh phận của cái tôi kia. Tìm đến chữ này để gọi Nguyễn Bính, tôi giật
mình vì thấy: Tạ Tỵ trong cuốn Mười vẻ mặt văn nghệ đầu những năm 70 của thế kỉ
trước đã tìm đến nó khi gọi Nguyễn Bính là "thiên tài lỡ dở". Nhưng
xem kĩ, thấy chữ Tạ Tỵ nghiêng về cái nghĩa chỉ con người thực: hoàn cảnh đã tạo
ra Nguyễn Bính như là một thi tài dở dang, với một thái độ tiếc rẻ gần với Phan
Ngọc - "Nguyễn Bính chỉ còn thiếu một hiểu biết Tây học nên không thành nổi
nhà thơ đầu đàn..." [3] . Và chỉ có thế.
Phần mình, dùng chữ "lỡ dở", tôi không chỉ muốn nói
thơ Nguyễn Bính là sự lên tiếng của những cảnh ngộ oan nghiệt, những thân phận
ngang trái. Mà quan trọng hơn, Nguyễn Bính là thi sĩ của cái lỡ dở, như một phạm
trù trữ tình vậy. Bởi vì "lỡ dở" đâu chỉ là chuyện của riêng Nguyễn
Bính, riêng của thời đại Nguyễn Bính, mà sau này và mãi mãi nó vẫn là một thảm
trạng phổ biến của cõi nhân sinh. Có phải trên thế gian, thân phận nào cũng may
mắn, cũng vinh hoa cả đâu. Ngay cả những kẻ nhiều hanh thông may mắn, có phải
không từng nếm mùi lỡ dở đâu! Song hành với sự thành đạt của nhân gian, bao giờ
cũng là sự lỡ dở. Mà đã lỡ dở, làm sao tránh khỏi tủi sầu bi phẫn. Bởi thế, đây
quả là một nguồn lệ vẫn ngấm ngầm đây đó trong lòng thế nhân. Có điều, ở Nguyễn
Bính, ở thời Nguyễn Bính, bi kịch ấy sắc sói hơn, đắng đót hơn. Ông sinh ra dường
như để dành cho sự lỡ dở. Trời đày ông để ông phải làm tròn cái sứ mệnh oái oăm
đó. Từ thân thế mình, Nguyễn Bính đã cất lên tiếng nói về một bi kịch trùm cả
thời thế, mà mở ra tới cùng, cũng là một bi kịch nhân thế. Nếu thân thế Nguyễn
Bính hanh thông, hẳn đã không có nghiệp thơ Nguyễn Bính.
*
Nghiên cứu tiểu sử nhiều nhà văn, lắm lúc thấy nghi ngờ cái
tín điều đã thành mặc nhiên trong truyền thống: văn là người. Thực ra, chẳng phải
nhọc lòng hoài nghi. Nó vẫn mặc nhiên là tín điều. Có chăng, cần phải hiểu thế
nào về người thôi. Sự đồng nhất giản đơn con người sinh hoạt với con người văn
chương thì rất dễ gây thất vọng, hẫng hụt. Bởi văn là sự lên tiếng của con người
tâm linh, con người khát vọng. Khát vọng chân chính của một con người chính là
biểu hiện tập trung cho bản chất của người ấy. Và do đó tầm vóc khát vọng cũng
quyết định phần lớn tầm vóc của cá nhân. Tôi chưa biết anh là ai, nhưng hãy bộc
bạch khát vọng của mình, tôi sẽ biết anh là ai. Cho nên, văn là người, là cái
con người ấy. Tức con người bên trong, con người bề sâu, con người khát vọng.
Nhà văn Nguyễn Khải có lần nói, không phải định thanh minh cho mình hay cho ai,
rằng: đối với anh nghệ sĩ, phần tốt đẹp, cao quí nhất của tâm hồn đã trút vào
văn chương hết rồi. Còn những gì thể hiện trong sinh hoạt đời thường, đôi khi
chỉ là phần cặn bã của hắn mà thôi. Nguyễn Bính cũng thế thôi. Người ta đã kể
ra chả ít chuyện nhếch nhác, bê tha, lôm loam của Nguyễn Bính trong sinh hoạt,
giao du. Đời thường lắm chỗ sao mà trái cựa trái khoáy với con người trong văn
chương đến thế. Nhưng bức chân dung tinh thần đích thực là thuộc về cái tôi bề
sâu của nghệ sĩ. Cái tôi ấy tự hoạ trong văn chương ngay cả khi nó không hề tự
giác. Nguyễn Bính đã trút vào thi ca tất cả những khát vọng sâu kín và cao quí
nhất của mình. Cho nên chả vì cái bã bên ngoài mà nghi ngờ cái hồn bên trong.
Cũng bởi sự không thể đồng nhất này mà trong nghiên cứu nghệ thuật mới cần phân
biệt con người thi sĩ (ngoài đời) và cái tôi thi sĩ (trong văn). Cái tôi ấy là
sự chung đúc của khát vọng. Nói cách khác, cái tôi là khát vọng thi sĩ được
nhân hình hoá.
Và, theo tôi, cũng như những hình tượng nghệ thuật khác, hình
tượng cái tôi là một nhất thể được tạo bởi sự hoà hợp (gồm cả tương tranh và
chuyển hoá) của các đối cực.
*
Lỡ dở tạo nên cái tôi kia bắt đầu do sinh bất phùng thời. Hãy
xuất phát từ nền tảng nhân cách của cái tôi được gọi bằng anh chàng nhà quê, là
gã chân quê Nguyễn Bính: một thôn dân - nho sinh. Nhận diện cái tôi Nguyễn
Bính, nhiều người chỉ thấy đó là một thôn dân. Nghĩa là chỉ thấy một phía. Mà
chỉ thế thôi, thì chưa ra Nguyễn Bính. Không phải một thôn dân thuần tuý, Nguyễn
Bính là thôn dân - nho sinh. Cái ta vẫn gọi là hồn quê Nguyễn Bính không phải một
đơn chất. Trái lại, là hợp chất: con người thôn dân và con người nho sinh quyện
với nhau trong một điệu hồn chung. Từ con người thực ngoài đời thành cái tôi
trong thơ ca, Nguyễn Bính không chỉ mang theo cái lai lịch "con nhà nho
cũ", mà chất nho sinh còn hiện rất rõ trong cốt cách của cái tôi ấy. Biểu
hiện tập trung nhất của nó hẳn là giấc mơ quan trạng.
Có thể nói, cái tôi ấy suốt đời vương vấn giấc mơ quan trạng.
Trong thơ Nguyễn Bính, giấc mơ quan trạng luôn song hành với giấc mơ thanh đạm
thanh bình. Bởi thế, nó trở thành giấc mộng đôi: cả con người nho sinh và con
người thôn dân cùng mơ chung một giấc mơ về "thời trước". Thời trước
với chàng thôn dân là thời "trai hiền bạn với gái đồng trinh", thời của
"Hoa và rượu" - "Đời say men rượu thơm hoa rụng", thời
"Thanh đạm" vợ chồng thuận hoà, bạn bè tri kỉ: "Nhà gianh thì sẵn
đấy / Vợ xấu có làm sao / Cuốc kêu ngoài bãi sậy / Hoa súng nở đầy ao / Mấy sào
vườn đất mới / Giồng dâu và giồng cam / Không ngại xa người tới / Thăm tôi tôi
cám ơn / Làng bên sẵn rượu ngon / Đêm nay ta đối ẩm / Tre nhà đương cữ ấm / Tha
hồ là măng non / Đường làng không tiện xe / Sớm mai người hãy trẩy / Cây nguyệt
nằm suông mãi / Tôi xin đàn người nghe"... Cảnh sống êm đềm thế chẳng phải
là mơ ước nghìn đời của bất cứ thôn dân nào?
Còn với anh chàng con nhà nho cũ, thì "thời trước"
là thời vợ tần tảo tầm tang, chồng dùi mài kinh sử, thời của giấc mơ hồ điệp,
thời của hiển đạt vinh hoa. Hoặc trạng nguyên trở thành phò mã:"Ngựa bạch
buông chùng áo trạng nguyên... lòng trạng lâng lâng màu phú quí, chờ "công
chúa cài trâm thả tú cầu". Hoặc quan trạng vinh qui về làng: "Chồng
tôi cưỡi ngựa vinh qui / Hai bên có lính hầu đi dẹp đường / Tôi ra đứng tận gốc
bàng / Chồng tôi cưỡi ngựa cả làng ra xem", hạnh phúc thật là trọn vẹn, đã
đầy, viên mãn: "Đêm qua mới thật là đêm / Ai đem giăng sáng giãi lên vườn
chè"... Đó là cái thời lí tưởng mà nho sinh nào cũng hằng mơ ước, khát
khao, hi vọng. Thời ấy đáp ứng được cho con người cả chuyện công danh lẫn chuyện
nhân duyên, cả khao khát nhân sinh của một con người, cả nhu cầu thẩm mỹ của một
nghệ sĩ.
Dù đã vào thơ theo qui luật điển hình hoá, nhưng một cái tôi
bao giờ cũng nảy nở từ con người thực ngoài đời của thi sĩ. Vốn là con nhà nho
cũ gắn với thôn quê, "thời trước" đương nhiên là cái mẫu lí tưởng của
Nguyễn Bính. Nhưng cái "thời trước" kia chỉ còn trong cổ tích, trong
truyện nôm khuyết danh, trong những tích chèo mà không khí thanh bình vinh hoa
của nó từng tưới tắm cho mơ mộng của Nguyễn Bính một thời. Ngày thì theo đòi
búi tó củ hành với cậu ruột mình một nho sĩ thôn Vân, đêm thì chìm đắm trong những
hội chèo thôn Đoài làng Đặng. Giờ đây, cuộc biến thiên lạnh lùng này đã bứt thế
giới mộng kia khỏi hiện thời, thẳng tay ném vào dĩ vãng. Nó đã vĩnh viễn thành
thế giới của hoài niệm. Bi kịch của cái tôi ấy ở chỗ: là con người của "thời
trước", nhưng lại sinh ra ở thời này. Tây học đã trục xuất Hán học khỏi
đương thời, Hán học đành ôm hận lủi thủi đi về quá vãng. "Bây giờ thời thế
biến thiên / Nhà vua không lấy trạng nguyên nữa rồi". Thậm chí, "Khoa
cử bỏ rồi thôi hết trạng / Giời đem hoa cỏ trả vườn tiên. "Lỡ duyên búi tó
củ hành / Trường thi Nam Định biến thành trường bay". Hình ảnh đầy hấp dẫn
của những Tống Trân, Nguyễn Hiền vĩnh viễn xa vời. Nhưng điều oái oăm là: Nguyễn
Bính chỉ có thể được sinh ra bởi cuộc biến thiên đầy mất mát ấy. Giống như sự hỏng
thi trường kì mới sinh ra Tú Xương vậy. Nếu không chúng ta có thể có thêm một
quan trạng một ông nghè ông cống nữa để rồi những học vị chức danh ấy tan ra
mây khói, và sẽ hoàn toàn không có một thi sĩ chân quê, không thể nào có nổi một
tác giả "Lỡ bước sang ngang".
Nhưng cái tôi Nguyễn Bính không chịu lìa bỏ hẳn. Và đây chính
là một khía cạnh điển hình cho tâm trạng lãng mạn. Chỗ này, cái nhìn lí giải
đòi hỏi chúng ta phải xem xét rộng hơn một chút. Trước kia, người ta thấy mối bất
hoà với thực tại chỉ là cơ sở tâm lí riêng của khuynh hướng lãng mạn. Thực ra,
bất hoà với thực tại là cơ sở tâm lí phổ biến của nghệ sĩ. Nếu niềm khát khao một
hình thái lý tưởng lúc nào cũng thiêu đốt lòng nghệ sĩ, thì cũng có thể nói, bất
hoà với thực tại phải được xem như thuộc tính nghệ sĩ. Tất nhiên chữ bất hoà cần
được hiểu với các cung bậc khác nhau: không thoả mãn, không bằng lòng, không
hoà nhập, không chấp nhận thực tại. Nếu bằng lòng với thực tại, tức là lí tưởng
đã bị tiêu tan. Do đó niềm khát khao khiến anh thành nghệ sĩ cũng tiêu tan rồi.
Nhưng vì sao bất hoà? vì nghệ sĩ bao giờ cũng thấy thực tại chưa đáp ứng được cả
nhu cầu tồn sinh lẫn nhu cầu thẩm mĩ. Nghĩa là chưa đáp ứng được khát khao về hạnh
phúc và khát khao về cái đẹp. Thậm chí, trước một thực tại nào đó, ở mức cực
đoan tột cùng, nó còn thấy thực tại thù địch với hạnh phúc chân chính của con
người, thù địch với cái đẹp. Thế là, từ một gốc chung là mối bất hoà, mà các
khuynh hướng nghệ thuật có những ứng xử khác nhau. Sự khác nhau bao trùm của
các khuynh hướng, có thể nói, cũng bắt đầu từ những phép ứng xử. Lãng mạn thì
đào sâu vào chủ quan vẽ ra một thực tại trong mơ ước để thay thế thực tại bên
ngoài. Hiện thực lại đi thẳng vào thực tại ngoài đời để phân tích nó, phanh
phui nó, phê phán nó. Trong khi khuynh hướng cách mạng dường như lại muốn cải
biến nó. Vậy thực tại một kẻ lãng mạn mơ ước là thế nào? Đó là thực tại trong hồi
tưởng, huyễn tưởng, viễn tưởng. Hồi tưởng đưa nó về với quá khứ vàng son, với
thời oanh liệt, phục hiện lại những dư âm dư ảnh, những hình sắc còn sót lại của
một thời, mà nó cho rằng chỉ ở đó, cái đẹp và hạnh phúc mới tồn tại. Huyễn tưởng
dẫn nó vào cõi yêu, cõi tiên, cõi ma, cõi đạo, vào tiền kiếp. Viễn tưởng lại dẫn
nó đến một tương lai xán lạn mãi tận tít mù khơi... Cái tôi Lãng mạn Nguyễn
Bính thì tìm về đâu? Về "thời trước" - "Thời trước làm sao thật
thái bình". "Thời trước" thực là thiên đường đối với một thôn
dân - nho sinh. Chàng chỉ còn đến được với cái thiên đường riêng ấy của mình bằng
một cách duy nhất: mơ thôi. Nguyễn Bính đã không ít lần ngán ngẩm kêu lên:
"Nhưng mộng mà thôi, mộng mất thôi!". Tuy nhiên, mơ mộng lại là một đời
sống, một lối thoát tinh thần không thể thiếu của gã thôn dân - nho sinh lỡ thời
ấy.
Đó mới chỉ là một phía của bi kịch lỡ dở.
Không thể thành quan trạng với giấc mộng vinh hoa, không thể ở
thôn hương với giấc mơ thanh đạm. Cả gã nho sinh lẫn gã thôn dân đều đã mất đi
cái đích của mình. Cả hai nhất trí đồng tâm rời khỏi quê mình, dấn thân vào quê
người. Trên con đường tha hương ấy, họ đã hoà vào một nhân cách mới, một diện mạo
mới: thi sĩ lãng tử. Và thế là mở ra một bi kịch mới. Nó là bi kịch tiếp nối mà
cũng là bi kịch nhân đôi. Gã thi sĩ giang hồ này muốn nhập cuộc mà không xong. Đời
sống giang hồ đòi hỏi kẻ lãng tử phải quăng thân vào phong trần cát bụi, lấy
lênh đênh làm đời sống, làm hạnh phúc. Muốn thế, phải có máu phiêu lưu. Trong
khi đó, phiêu lưu lại không có sẵn trong gien tiểu nông của gã giang hồ bất đắc
chí này. Nên tình trạng tinh thần của gã là sợ phiêu lưu mà lại dấn bước giang
hồ. Chàng thi sĩ này không tìm thấy chất thơ thông thường của tiêu dao tang bồng,
không thấy cái thú siêu thoát lãng mạn của ngao du sơn thuỷ. Trái lại, mỗi bước
lênh đênh là một bước long đong. Dù chỉ là "giang hồ vặt", thì kẻ
giang hồ vẫn luôn chỉ thấy mình bị vây khốn giữa bao bất trắc, chỉ thấy cám cảnh
cho cái phận nổi trôi giời đày của mình, chỉ cảm thấy thật chua chát: giang hồ
là một cuộc đày ải - "Cúi mặt soi gương chén rượu đầy / Bốn mắt nhuộm
chung màu lữ thứ...Không hiểu vì đâu hai đứa lại / Chung lưng làm một chuyến đi
đày".
Cũng không có sẵn trong gien tiểu nông kia cái cao ngạo của một
cá nhân khi thoát li khỏi bầy đàn. Rời bỏ mái nhà sinh trưởng, cái tôi lên đường,
sau cái khoảnh khắc cảm thấy tự do hết sức ngắn ngủi, nó lập tức cảm thấy trống
phía sau lưng, hẫng dưới chân bước. Tình trạng của nó là tình trạng của một con
diều đứt dây. Bơ vơ là cái thường xuyên dày vò nó. "Bơ vơ trong xứ người
xa lạ", "Trơ vơ trên bến nước sông đầy"... Lòng nó không có cái
hùng tâm tráng chí kiểu trượng phu hành đạo vì nghĩa lớn, đã đành. Mà ngay cả
cái lâng lâng khoái thú của một cái tôi đang lên đường tìm kiếm bản thân cũng
không có. Không có phấn hứng thấy thế là mình đã trưởng thành, đã tách khỏi
"bầu nước ối" của mái nhà sinh trưởng. Cái mà nó thấy đúng là: Xểnh
nhà ra thất nghiệp, như bao người mẹ tiểu nông vẫn ái ngại cho con cái.
Trong cái gien tiểu nông đó cũng không có sẵn cái lạnh lùng của
kẻ sẵn sàng khước từ bổn phận để mặc sức đuổi theo khát vọng. Khi ở thì thấy
khát vọng là trên hết, bổn phận là vướng víu. Khi đi bỗng thấy khát vọng là ích
kỉ, bổn phận mới thiêng liêng. Thế là mặc cảm lỗi đạo hành hạ nó, càng bước đi
xa càng nặng nề trầm trọng. Lỗi đạo với quê hương, lỗi đạo với gia đình. Nó thấy
mình là kẻ tệ bạc, phụ bạc: "Bỏ lại vườn cam bỏ mái gianh / Tôi đi dan díu
với kinh thành", Đứa thương cha yếu thằng thương mẹ / Cha mẹ chiều chiều
con nước mây", nhiều khi cái tôi ấy đã nức nở trong day dứt vì té ra mình
là đứa con hư đốn bất nghĩa: "Con đi mười mấy năm trời / Một thân bé bỏng
nửa đời gió sương / Thầy đừng nhớ mẹ đừng thương / Cầm như đồng kẽm qua đường
đánh rơi / Thày mẹ ơi! Thày mẹ ơi / Tiếc công thày mẹ đẻ người con hư...".
Tóm lại, là giang hồ trong mặc cảm. Mặc cảm bơ vơ. Mặc cảm lỗi đạo, tệ bạc. Khí
chất và lương tâm của con người tiểu nông cổ truyền trong thâm căn cố đế của
cái tôi kia bị xốc xáo lên trong cơn biến thiên đó.
Có thể nhận rõ hơn diện mạo của cái tôi Nguyễn Bính trong
tương quan với đương thời.
Cái Tôi Thơ mới thường nghiêng về sự hả hê bởi được giải
phóng khỏi cái Ta. Nếu cô đơn, thì thường là khi phải đối diện với vũ trụ mênh
mông, khi không có một cái Tôi khác để gắn bó. Nguyễn Bính khác. Trước hết, về
Nguyễn Bính mà nói bằng cô đơn, không ra. Nguyễn Bính là nỗi đơn côi. Khác nhau
có một chữ, nhưng là hai hồn vía. Không phải ngẫu nhiên mà mặc cảm chia lìa, mặc
cảm bơ vơ lại bám riết lấy tâm tư Nguyễn Bính suốt cả đời không chịu buông tha.
Nhìn đâu cũng thấy chia lìa: "Con sào đẩy sóng thuyền nan lìa bờ",
"Chị thương chị kiếp con chim lìa đàn", "Chán chường như lũ tàn
quân lìa thành", "Những cuộc chia lìa khởi tự đây", "Anh em
li tán lâu dần thành ra", "Lìa cành theo gió lá luồn qua song",
"Sầu nghiêng theo cánh chim lìa tổ"... Nhìn đâu cũng thấy côi cút,
đơn chiếc, vô định: "Hồn đơn chẳng có nơi nương tựa", "Hồn đơn
quằn quại xác gầy", "Muôn vàn đơn chiếc đổ vào đầu tôi", "Một
người đi mấy mươi người nhớ thương", "Ta đi nhưng biết về đâu chứ",
"Anh đi đó ! Anh về đâu?", "Nào biết về đâu kẻ ngước xuôi",
"Biết lạc về đâu lòng hỡi lòng"... Điều này không thể không có nguyên
uỷ sâu xa từ ẩn ức mồ côi của Nguyễn Bính (mới ba tháng đã mất mẹ, rồi cha đi
bước nữa, phải ở với người cậu, dù có được bù đắp đến đâu thì bản tính đa cảm của
thi sĩ vẫn cứ trầm mình trong mặc cảm côi cút, bơ vơ). Nhưng mặc cảm này, oan
trái thay, lại khiến cho hồn thi sĩ cảm nhập được và mang chở được nỗi niềm lỡ
dở của cả thời đại ấy. Nghĩa là nỗi côi cút đầy bất hạnh kia bỗng trở thành cái
giá oan nghiệt mà Nguyễn Bính phải trả cho cái nghiệp thi sĩ của mình. Hay nói
theo giọng khách quan thì nhờ bi kịch cá nhân mà Nguyễn Bính đã cảm thông với
bi kịch của thời đại. Vì thế, cái Tôi Nguyễn Bính là nỗi đơn côi vì mất đi điểm
tựa thiêng liêng nơi cái Ta. Lìa khỏi cái Ta, cái Tôi ấy dày vò về Mất hơn là tự
mãn về Được. Đơn côi trong tình ái. Đơn côi giữa xứ người. Đơn côi giữa đô thị.
Đơn côi cả khi đã về tới cố hương.
Về bình diện văn hóa, Nguyễn Bính là con đẻ của cuộc hôn nhân
đầy lỡ dở giữa nền văn minh đô thị hiện đại với văn minh thôn dã cổ truyền.
Khác xa với những cái tôi thuần đô thị, Nguyễn Bính là cái tôi - phản - đô - thị.
Lúc nào cũng mang nặng mối "sầu đô thị". Cứ tưởng Nguyễn Bính chỉ là
đứa con ra đời từ cuộc hôn phối giữa làn mưa xuân trong lành với giậu mồng tơi
dân dã. Nào ngờ lẫn trong làn mưa kia có chút bụi kinh thành. Cái chút bụi mơ hồ
đã âm thầm lớn lên thành ý hướng giang hồ. Và chính nó đã xúi giục Nguyễn Bính
lên đường dấn thân vào cát bụi với những cuộc giang hồ vặt, khi sa vào bất đắc
chí. Sang đò, bước lên bậc bến thứ nhất để vào thế giới đô thị quê người, Nguyễn
Bính đã gửi lại bên kia bờ tất cả vườn cam mái gianh, bướm trắng tơ vàng, giàn
giầu hàng cau... Nhưng rốt cuộc, Nguyễn Bính lại bắt đầu cuộc tìm kiếm chính những
thứ ấy giữa phố xá đô thành mà không tự biết. Hẳn nhiên, làm sao có thể thấy những
thứ ấy trong cát bụi chốn này. Con đường kiếm tìm loanh quanh kia tất lại dẫn
cái tôi ấy trở về với nơi mình từ giã.
Nhưng, một khía cạnh rất đáng nói là: bi kịch của cái tôi kia
không có tận cùng. Sinh ra từ cuộc tình đương giữa hồi dang dở giữa Đô thị và
Thôn quê như thế, Nguyễn Bính đã cố chạy theo tìm sự cưu mang của từng phía,
nhưng cả hai đều chối bỏ, mỗi bên phụ phàng theo một cách riêng. Thoạt đầu ánh
sáng kinh thành huyễn hoặc, anh chàng chân quê đã tưởng có thể gửi mình vào đó,
tìm thấy trong hứa hẹn của nó những vinh hoa. Nhưng cuối cùng, chỉ là phù hoa:
"Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng / Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị".
Chán chường, chàng tìm lại chốn quê. Nguyễn Bính về quê không phải như Đào Uyên
Minh "qui khứ lai từ" bởi quá chán ngán cảnh luồn cúi nơi trường đào
mận. Không phải như một nhà nho thành đạt và chán ngán, về quê theo lẽ xuất xử
hành tàng, về ở ẩn lánh đời. Mà cái Tôi Nguyễn Bính về quê như một người suốt đời
băn khoăn đi kiếm cách sống cho mình, suốt đời tìm kiếm công danh và chỗ đứng
trong cái cuộc sống văn minh đô thị. Mà cuối cùng tay trắng vẫn hoàn tay trắng.
Công danh dở dang, duyên phận lỡ làng. Cố hương ngỡ bình lặng muôn đời là thế
cũng không dung được một kẻ đã ngập hẳn về thôn ổ mà chẳng thể rửa sạch khỏi
lòng mối sầu đô thị ăn sâu. Yêu lắm lắm những gì chân mộc của cố hương, nhưng
giữa kẻ hồi hương và đất cũ đã có những ngăn cách vô hình không thể vượt qua:
Không còn ai ở lại nhà / Hỏi còn ai nữa? để hoa đầy vườn / Trăng đầy ngõ, gió đầy
thôn / Anh về quê cũ có buồn không anh?... Một lần lỡ bước sang ngang là đơn
côi vĩnh viễn. Nguyễn Bính là cái lỡ dở muôn đời ấy. Nó là một bi kịch không
biên giới.
Trên bình diện đạo đức đơn thuần, cái tôi Nguyễn Bính là con
đẻ từ sự lỡ dở của bổn phận và khát vọng, của chữ hiếu và chữ tình. Thời ấy, chữ
tình được viết hoa và tô đậm hẳn lên, chữ hiếu mờ hẳn đi lùi lại sau hàng. Chữ
tình muốn chia bào giã từ chữ hiếu, "em ơi em ở lại nhà / vườn dâu em đốn
mẹ già em thương... Miếu thiêng vụng kén người thờ / Nhà hương khói lạnh chị nhờ
cậy em". Nhưng vừa quay gót đã gục đầu xuống, úp mặt vào hai bàn tay mà nức
nở tức tưởi: "úp mặt vào hai bàn tay/ Chị tôi khóc suốt một ngày một
đêm". Cái Tôi muốn khẳng định mình, nhưng khi từ giã mái nhà sinh trưởng,
xa rời vòng tay của cái Ta, nó vừa thấy đơn côi yếu ớt lại vừa thấy mình là kẻ
phụ rẫy đáng chê trách. Những bổn phận thiêng liêng ngày trước ràng buộc là thế.
Mỗi khi cần chọn lựa, bao giờ nó cũng giành được vị thế độc tôn, tất cả những
thứ khác đều phải nhượng bộ hy sinh. Nay khát vọng cá nhân bùng nổ, nó thấy
mình là hơn hết thảy. Nó đòi phải được sống đã đầy. Nhưng ở trường hợp Nguyễn
Bính, nó dứt áo ra đi chỉ để đạt được sự lỡ làng, còn bản thân nó thì luôn luôn
dang dở. Lỡ bước sang ngang, bổn phận đã không tròn, khát vọng cũng chẳng
thành. Dang dở vĩnh viễn. Nói ý thức cá nhân ở Nguyễn Bính khác xa với những
trường hợp khác là thế. Nó không phải tiếng nói tự tôn, tự kiêu, tự đại một chiều
cực đoan. Không phải cái Tôi hiếu thắng khi thoát khỏi cái Ta. Mà nó là cái tôi
đầy mặc cảm. Lúc nào nó cũng thấy mình là kẻ tệ bạc với cái Ta đó. Thèm được
thoát ly khỏi cái Ta cố kết. Nhưng chưa thoát li đã lập tức thấy mình là kẻ sao
mà bạc tình. "Mẹ cha thì nhớ thương mình / Mình đi thương nhớ người tình
xa xôi". Nhưng mà lại không thể khác. Cho nên mỗi bước đi trên đường đời
là một bước ngoái lại thăm thẳm phía sau,"Thầy ơi đừng chặt vườn chè / Mẹ
ơi đừng bán cây lê con giồng"... mỗi cuộc đi là một cuộc dày vò đày ải
chính mình. Hành trình lìa quê cũng là hành trình của ăn năn, của khắc khoải cố
hương. Chưa đi đã thấy ngay là mình vừa đánh mất một cái gì thiêng liêng hệ trọng
nhất của đời mình, của cuộc sống này.
Tóm lại, cái tôi Nguyễn Bính từ bỏ quê để luôn khắc khoải nhớ
quê, tìm vào đô thị để chán chường đô thị, tìm kiếm công danh chỉ gặp dở dang,
theo đuổi tình duyên chỉ gặp lỡ làng. Dứt bỏ bổn phận để chạy theo khát vọng: bổn
phận không tròn, khát vọng tan vỡ. Cái gì của nó cũng lỡ dở. Cho nên Nguyễn
Bính là cái tôi lỡ dở của thời đại ấy. Tôi cho rằng chính Nguyễn Bính, chứ
không phải ai khác, mới là nhà Thơ Mới mang đầy đủ tấn bi kịch của thời đại
mình. Một tâm trạng bất đắc chí mênh mông dằng dặc.
Cái tôi Nguyễn Bính vẽ ra trong thế giới nghệ thuật của mình
là một người cả đời cứ lang thang kiếm tìm chính mình. Càng đi, dường như càng
lầm lạc, càng đi càng không thấy. Mọi hứa hẹn đều chỉ là ảo ảnh. Công danh, Hạnh
phúc đều không thấy? Đều không dành cho mình? Đều không có? Cuối cùng cái tôi ấy
hi vọng tìm thấy mình (tìm thấy mình hay tìm lại được mình? có lẽ là cả hai)
khi đã về lại nơi mà mình đã từ bỏ một cách vội vàng nông nổi. Nhưng rồi Nguyễn
Bính đã không tìm thấy. Không có chỗ nào cho mình. Đô thị không. Thôn quê
không. Quê người không. Quê mình cũng không. Lìa đàn cũng có nghĩa là lạc loài.
Nguyễn Bính là sự lỡ dở trọn kiếp con chim lìa đàn không chỉ trong cái thời đại
lỡ dở đó.
4. Cố hương, cố nhân, cố viên
Tôi vẫn cho rằng thế giới nghệ thuật của một thi sĩ lãng mạn,
xét đến cùng, là sự đan dệt của ba hệ thống hình tượng cơ bản: Tôi - Người tình
- Thế giới. Trong đó đóng vai trò trung tâm và quyết định đến toàn bộ diện mạo
của thế giới nghệ thuật ấy phải là hình tượng cái Tôi. Bởi vì, cũng lại xét đến
cùng, toàn bộ thế giới nghệ thuật của một nghệ sĩ chính là thế giới tâm tình của
nghệ sĩ được tượng hình hoá, hình sắc hoá mà thôi. Hình tượng Người Tình, về thực
chất là một đối ảnh của chính cái tôi thi sĩ. Còn thế giới xung quanh bao giờ
cũng là thế giới thuộc về cái tôi: hoặc cái tôi ấy đang phổ lòng mình vào thế
giới, hoặc cái tôi ấy thấy thế giới xung quanh vận vào mình. Đối với một nam
thi sĩ, bộ ba ấy là Tôi - Em - Thế giới. Chúng chẳng qua chỉ là tam diện nhất
thể mà thôi. Nói một cách khác, thế giới nghệ thuật của nghệ sĩ là một cõi thống
nhất, trong đó bất cứ một hình sắc nào cũng mang khí huyết hồn vía của cái Tôi
kia. Thế giới Nguyễn Bính không nằm ngoài qui luật chung đó. Cái Tôi Nguyễn
Bính sẽ phổ những lỡ dở của nó vào mọi hình sắc của cõi thơ ấy, mà đồng hoá tất
cả thành những vang bóng của cùng một cái tôi, kể cả cố nhân, cố hương và cố
viên.
Tôi muốn phức tạp hoá một chút xung quanh chữ "cố".
Chữ cố đầu tiên với Nguyễn Bính phải là "cố thủ". Phải, thi sĩ của hồn
quê đã cố giữ cho được chân quê. Chân quê với hồn thơ Nguyễn Bính tựa như đất mẹ
đối với thần Ăngtê vậy. Nó là truyền thống, là giá trị văn hoá, là lẽ sống, là
nguồn sống đối với hồn thơ quê. Nó là "của tin còn một chút này", là
vật thiêng, là bảo vật của đất quê. Cố giữ với hi vọng nó sẽ thoát khỏi cơn biến
thiên. Vật đổi sao dời, tao đoạn qua đi, rồi vẫn sẽ còn chân quê thuần khiết.
Nhưng ngay cả lúc "van em em hãy giữ nguyên quê mùa", thi sĩ cũng đã
thấy thật khó tin là nó không thay đổi. Trong cơn biến thiên ấy, "cả đến
ông giời cũng đổi thay”.... kia mà! Nếu quả có một đức tin bất di bất dịch rằng
chân quê bất chấp thời thế, dù có biến thiên thế nào, nó vẫn cứ là một hằng số,
thì chắc chắn đã không có Nguyễn Bính. Thơ Nguyễn Bính là tiếng nói của lo âu
chứ không phải của đức tin. Nó nghiêng về bồn chồn, phấp phỏng, hoang mang hơn
là đinh ninh, xác tín, kiên định. Cơn biến thiên đang làm cho tất cả những gì
Nguyễn Bính cố níu giữ trở thành xưa cũ. Nó gỡ khỏi tay, giằng khỏi tay Nguyễn
Bính tất cả những gì thân thương nhất ném trả vào dĩ vãng.
Vì thế, mới có chữ "cố" thứ hai. Cố là
"cũ", là"xưa". Phải, nói đến Nguyễn Bính là phải nói đến
"Cố hương", "cố nhân". Mà nằm sâu trong lòng cố hương là
"cố viên" (vườn cũ, vườn xưa), và nơi lưu giữ những kỉ niệm từng có với
cố nhân cũng là "cố viên". Cố hương, cố nhân và cố viên là những hình
bóng da diết nhất trong cái vẫn được gọi bằng chân quê của Nguyễn Bính.
Một trong những nét giúp chúng ta phân biệt rất rõ Nguyễn
Bính với các nhà Thơ Mới khác là quan niệm luyến ái. Quan niệm luyến ái của
Nguyễn Bính nghiêng về truyền thống: tình yêu gắn liền, thậm chí đồng nhất với
hôn nhân. Nhân duyên trong thơ Nguyễn Bính không có chủ trương những cái tình gần
gũi, cái tình xa xôi, cái tình trong giây phút, cái tình ngoài thiên thu [4]
... theo điệu sống hiện đại mà những cái tôi thuần đô thị bấy giờ chủ trương và
hăng hái. Trái lại, chưa gì đã toan tính chuyện trăm năm. Cứ thích trói buộc
nhau vào hôn nhân với những cau trầu "Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông / Cau
thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào!". Vì thế mà, phải đận cau héo, giầu
vàng thì đôi bên trầm luân trong nước mắt của mặc cảm phụ phàng. Thế giới tình
yêu của chàng thôn dân - nho sinh là một thế giới hoà hợp êm đềm dựa trên một
luyến ái quan truyền thống. Nhưng cơn biến thiên đã làm cho cái thế giới tình
yêu cổ truyền kia bị vỡ vụn. Cái tôi thành một tình nhân lỡ dở. Thế là tất tật
mọi thứ đều lỡ dở theo.
Ngoài hình tượng cái tôi, nhân vật của Nguyễn Bính thuộc về
hai đối tượng lớn: tình nhân lỡ dở và những thân phận lỡ dở khác. Nghĩa là, thế
giới Nguyễn Bính đều là những mảnh đời lỡ dở. Tình nhân lỡ dở có hai dạng: thứ
nhất, không có được - do lỡ dở mà giai nhân chẳng thành tình nhân; thứ hai,
không giữ được - do một lỡ dở nào dó mà tình nhân đã trở thành cố nhân. Tất cả
khiến cho mọi cuộc tình của cái tôi ấy [5] đều dang dở lỡ làng.
Này là những giai nhân có tên: nào Oanh (Oanh, Nhớ Oanh), nào
Dung (Oan nghiệt), nào Nhi (Hoa và rượu)... Này là những giai nhân không tên:
nào cô hái mơ già, người con gái ở lầu hoa, những cô gái miền sông Hương núi Ngự,
người hàng xóm, người con gái vườn Thanh... Có những trường hợp do nàng lạnh
lùng quá, giấc mộng nhân duyên cứ thế trôi xuôi rồi tuột mất: "Cô hái mơ
ơi / Chẳng trả lời nhau lấy một lời / Cứ lặng mà đi rồi khuất bóng / Rừng mơ
hiu hắt lá mơ rơi", "Rồi như sông Nhuệ lạnh lùng trôi / Cô lạnh lùng
đi chẳng trả lời / Những tiếng lòng chàng tha thiết gọi / ở trên gác vắng lạnh
lùng ơi !". Có lúc chính những dẩm dở không đâu đã làm ra dang dở. ấy là
cái đám cô nàng nhà lắm bưởi nhiều hoa. Ngày nào cũng cất công "đường gần
tôi cứ đi vòng cho xa" rồi, thế mà ma xui quỉ khiến thế nào lại "lên
cơn sĩ diện hão", suy bụng ta ra bụng người: "Một hôm thấy cô cười cười
/ Tôi yêu yêu qúa nhưng hơi mất lòng /Biết đâu rồi chẳng nói chòng: / Làng này
khối đứa phải lòng mình đây", thế là lỡ duyên: "Từ ngày cô đi lấy chồng
/ Gớm sao có một quãng đồng mà xa / Bờ rào cây bưởi không hoa / Qua bên nhà thấy
bên nhà vắng teo". Cũng có khi do nàng bèo bọt quá "Nàng bèo bọt quá
em lăn lóc","Em đi dệt mộng cùng người / Lẻ loi xuân một góc trời
riêng anh", vả chăng, em cũng không phải là không bèo bọt: "Hàng xóm
có người con gái lẻ / ý chừng duyên nợ với nhau đây / Chao ôi ba bốn tao ân ái/ Đã đủ tan tành một kiếp trai/ Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ/ Đành phụ nhau
thôi kẻo đến ngày/ Khăn gói gió đưa sang xứ lạ/ Ai cười cho được lúc chia
tay". Mà thường khi là do những cách trở xa xôi "Nhớ Oanh tôi nhớ cô
Oanh/ Xa xôi cách trở hỏi tình thắm phai". Rất nhiều khi là bởi những
cách trở không đâu: "Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/ Cách nhau cái giậu mùng tơi
xanh rờn". Có thế thôi mà hai người đành sống giữa cô đơn, và rồi cuối
cùng mùng tơi cách trở đã hoá thành âm dương cách trở: "Đêm qua nàng đã chết
rồi / Nghẹn ngào tôi khóc qủa tôi yêu nàng". Họ vĩnh viễn chẳng thể thành
đôi lứa. Đau đớn tiếc thương thì đà quá muộn. Cũng không ít cuộc họ đã có được
nhau, họ đã thề thốt đủ đằng, nhưng rồi những dự cảm mơ hồ về rủi ro, những ám ảnh
khôn nguôi về nghèo túng, lo sợ vì đồng tiền làm cho khốn đốn, hay đơn giản chỉ
vì những xui khiến tối tăm nào đó... thế là kẻ lỡ duyên, người lỡ thì, đâm ra lỡ
cả đôi đường. Giai nhân lỡ dở hoá thành cố nhân: "Xây bao nhiêu mộng thế
mà / Đến nay phải gọi người là cố nhân".
Không biết do mình lỡ dở nên chỉ toàn chú ý đến những phận lỡ
dở - đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu? đồng bệnh tương liên? "cùng
một lứa bên trời lận đận"? - hay do những kiếp lỡ dở cứ ám vào mình, mà thế
giới nhân vật Nguyễn Bính toàn những mảnh đời lỡ dở. Người mẹ goá này tiễn con
đi lấy chồng (Lòng mẹ), người mẹ goá khác đang dằn lòng uỷ thác bầy con dại cho
đứa con gái lớn để mình đi bước nữa (Bước đi bước nữa), ông chồng chết non
trăng trối người vợ trẻ những lời đắng chát (Giối giăng), cô gái miền rừng van
xin người yêu:"Nhà em cách bốn quả đồi / Cách ba ngọn suối cách đôi cánh rừng
/ Nhà em xa cách quá chừng / Em van anh đấy anh đừng thương em". Cô gái phải
cầm lòng từ chối lời ngỏ của người yêu vì gia cảnh nặng nề, "Chưa trọn đạo
con, tròn nghĩa chị / Lòng nào dám tưởng đến duyên tơ". Rồi thì cô lái đò,
anh lái đò dang dở giấc mộng tình duyên, dở dang giấc mơ quan trạng, dở dang đến
mọi toan tính đường đời: "Lang thang anh dạm bán thuyền / Có người giả
chín quan tiền lại thôi". Rồi nàng trinh nữ vội lìa đời khi mới chớm xuân
xanh, ngang trái tang thương đến nỗi cái tôi ấy tưởng như cả "kinh thành
Hà nội chít khăn xô"... Nhưng có lẽ điển hình nhất cho những mảnh đời lỡ dở
đó phải là cô gái trong "Mưa xuân" và người chị "Lỡ bước sang
ngang" (Nhiều bài khác Nguyễn Bính sẽ gọi đích danh là chị Trúc - Thư gửi
chị Trúc, Khăn hồng, Xuân Tha Hương, Xuân lại tha hương, Xuân vẫn tha hương). Một
cô bé vừa mới thành thiếu nữ khi những hạt mưa xuân đầu tiên lất phất bay về,
lòng phơi phới nhận lời hẹn đầu tiên, vội vàng đến với cuộc hò hẹn đầu đời. Thế
mà lỡ: "Chờ mãi anh sang anh chả sang / Thế mà hôm nọ hát bên làng / Năm
tao bảy tuyết anh hò hẹn / Để cả mùa xuân cũng lỡ làng". Thật là sái! Cuộc
lỡ dở đầu đời ấy rồi sẽ như cái điềm chẳng lành, cái dớp định mệnh dễ làm dang
dở cả những mùa xuân sau. Mình em lầm lụi trên đường về / Nào ngắn gì đâu một dải
đê / áo mỏng che đầu mưa nặng hạt / Một mình thêm tủi với canh khuya". Một
người chị "đã liều nhắm mắt đưa chân" đến hai lần sang ngang mà lỡ bước
vẫn hoàn lỡ bước. Cuộc tình thứ nhất kết thúc bằng: "Mười năm gối hận bên
giường / Mười năm nước mắt bữa thường thay canh /Mười năm đưa đám một mình /
Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên / Mười năm lòng lạnh như tiền / Tim đi hết
máu cái duyên không về". Thế rồi một chàng nghệ sĩ xuất hiện. Và chị lại
quyết định sang ngang. Nhưng rồi tình cũng đoạn: "Rồi đêm kia lệ ròng ròng
/ Tiễn đưa người ấy sang sông, chị về / Tháng ngày qua cửa buồng the / Chị về
nhặt cánh hoa lê cuối mùa", "Thế là tàn một giấc mơ / Thế là cả một
bài thơ não nùng"... Những mảnh đời lỡ dở, ngang trái, oan nghiệt cứ châu
tuần xung quanh cái tôi ấy. Mỗi bước đi trên đường đời là lại gặp những số phận
dang dở lỡ làng. Thế giới thơ Nguyễn Bính chan đầy nước mắt đau thương. Đọc thơ
Nguyễn Bính ai cũng phải mủi lòng cám cảnh.
Nhìn kỹ có thể thấy họ vừa là nạn nhân của cơn biến thiên
trong thời ấy, vừa là nạn nhân của một thứ tiền duyên nghiệp chướng nào đó.
Trong những năm được học chữ Hán cùng người cậu, hẳn các môn "nho y lý số",
chẳng ít thì nhiều, cũng đã nhập tâm vào cái anh chàng con nhà nho cũ kia. Để rồi
lớn lên, cái nhìn lí số cũng nhuốm lên nhỡn quan của Nguyễn Bính, khiến thi sĩ
nhìn nhận và lí giải cả mình và những thân phận lỡ dở như là bi kịch trớ trêu của
số mệnh: "Trót đà mang số sinh ly / Bao giờ tôi mới được về cố
hương?", "Còn tôi giời bắt làm thi sĩ", "Mẹ thì mất sớm giời
đày làm thơ", "Ai bảo mắc vào duyên bút mực / Suốt đời mang lấy số
long đong"... Tất cả những con người ấy đều bị số phận đày đoạ trong nỗi lận
đận bởi chữ tình chữ duyên. "Đoái thương thân chị lỡ làng / Đoái thương phận
chị dở dang những ngày", "Mẹ cũng không mong sướng lấy mình / Nhưng
mà số phận bắt điêu linh"... Điều này cho thấy bi kịch lỡ dở biểu hiện
trong thế giới thi ca Nguyễn Bính dường như vượt ra ngoài vòng thời thế, mà nó
là chuyện của nhân thế. Nói cách khác, định mệnh đã chọn cái thời ấy để đày họ
vào vòng trầm luân của cơn biến thiên.
Cũng phải thấy thêm rằng, thế giới nhân vật Nguyễn Bính rất gần
gũi với những thân phận đau khổ trong văn học dân gian, đặc biệt là bao người
phụ nữ tủi phận tủi duyên trong những bài hát than thân. "Thân em như hạt
mưa sa / Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày", "Em như giếng nước bên
đàng / Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân", "Thân em như miếng
cau khô / Người thanh tham mỏng người thô tham dày","Nụ tầm xuân nở
ra xanh biếc / Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay", "...", ...Các
môtip dân gian đã từ ca dao dân ca nhập thân vào thơ Nguyễn Bính. Những mảnh đời
lỡ dở hôm nay như là sự nối dài tự nghìn xưa. Những số phận nổi chìm, lận đận
dang dở về công danh, lỡ làng về tình duyên nghìn đời nay sau những luỹ tre,
bên những bến nước, những dòng sông... bao giờ cũng khiến con người xót xa cám
cảnh. Vào cuộc biến thiên ấy, có thể họ có thêm những màu sắc mới, nhưng họ vẫn
là những chị em ruột rà của những cô gái xưa, từng gửi lòng vào những tiếng hát
than thân làm héo hắt những luỹ tre, dang dở những cánh đồng, goá bụa những
thân cò thân vạc... Đúng là Nguyễn Bính viết nhiều về những mối duyên quê,
nhưng là mối duyên lỡ dở oan trái. Nguồn lệ chảy trong thơ Nguyễn Bính vẫn chảy
bao đời trong tiếng hát than thân.
Vì tha hương nên mới có cố hương. Cố hương chính là quê hương
trong lòng kẻ tha hương. Có lẽ luôn ở trong nỗi khắc khoải của đứa con xa nên
hình ảnh quê hương mới thân thương đến thế. Tôi không muốn nói rằng, trong lòng
những người tại quê thì quê hương không đẹp. Nhưng đúng là niềm canh cánh, nỗi
day dứt, cùng những đau đáu khắc khoải đã choàng lên hình sắc quê kiểng những
chất thơ mà người không phải xa quê chẳng thể nào có được. Có thể vì miếng cơm
manh áo, vì những xô đẩy trong đời, con người phải rời bỏ quê hương bản quán,
phải li hương. Tiếng gọi bức xúc nhất bấy giờ là một tiếng gọi có phần ích kỉ:
làm sao để sướng hơn. Nhưng rồi xa quê, con người nhân bản, con người tình
nghĩa thức dậy. Nó thức dậy khi trong lòng ta vỡ ra một khoảng trống không gì
bù lấp được. Khoảng trống thăm thẳm ấy chính là nỗi quê. Là nỗi vắng thiếu một
điểm tựa trong tâm linh. Nó là một nỗi mồ côi. Mồ côi quê quán. Và nỗi hoài
hương trở dậy, cồn lên trong lòng. Bấy giờ trong lòng con người lại thống thiết
một tiếng gọi khác, tiếng gọi hoàn thiện nhân cách, bản ngã. Như thế, thời ấu
thơ ta sống trong lòng quê, khi đi xa, quê sống trong lòng ta. Càng đi xa, quê
càng thao thức trong lòng. Càng khổ nghèo càng thương nhớ. Quê thức dậy nghĩa
là quá khứ thức dậy. Nghĩa là con người đang sống về ngày trước. Nhớ quê cũng
chính là nhớ mình. Nhớ quê là đời sống bản thể, nếu như ai cũng thật sự có một
bản thể. Nhớ quê là nhớ một phần đời của mình. Là nhớ cái thiên đường tuổi nhỏ.
Vì thế, kẻ nhớ quê là kẻ bị mất thiên đường và đang khao khát trở lại thiên đường.
Không phải chỉ được sống tuổi thơ trong sung sướng, trong tươi đẹp thì nó mới
là thiên đường. Niềm luyến tiếc những phần đời đã qua bao giờ cũng có chức năng
cải biến tất cả thành thiên đường hạnh phúc, bất chấp những cay đắng khổ ải.
Không ai yêu sống, thiết tha sống bằng một người sắp phải lìa bỏ cuộc sống.
Cũng như thế, có lẽ không ai yêu quê nhớ quê bằng một kẻ phải xa quê, mất quê.
Nguyễn Bính là tiếng nói cố hương trong kẻ xa xứ. Nguyễn Bính là nỗi hoài hương
dằng dặc trong lòng kẻ li hương.
Tô Hoài đã thật tinh nhậy khi khẳng định rằng: "Chỉ có
quê hương mới tạo nên được từng chữ từng câu Nguyễn Bính (...) Thơ và cuộc đời
ràng buộc nhà thơ. Trước sau và mãi mãi, Nguyễn Bính vốn là nhà thơ của tình
quê, chân quê, hồn quê" [6] . Niềm thiết tha với quê hương là cội rễ của
những sáng tạo Nguyễn Bính nhất. Nhưng, phải nói thêm, niềm thiết tha kia chỉ
thực sự thức dậy khi cái tôi ấy xa quê. Quê hương trong Nguyễn Bính chính là cố
hương. Hơn thế nữa, là cố hương trong mặc cảm lỡ dở lưu đày: "Trót đà mang
số sinh li / Bao giờ tôi mới được về cố hương". Mặc cảm ấy đã khiến cho
Nguyễn Bính tạo ra hình tượng thế giới trong thơ với diện mạo tổng quát như là
trường lưu lạc lưu đày của những thân phận lỡ dở: "Em vốn đường dài thân
ngựa lẻ / Chị thì sông cái chiếc đò nan / Quê người đứng ngóng mây lưu lạc / Bến
cũ nằm nghe sóng lỡ làng".
Đã thành trường lưu lạc thì đương nhiên mặc cảm này cũng sẽ
khiến cảm quan thi ca Nguyễn Bính làm nốt phần việc tiếp theo: phân lập thực tại
thành hai miền không gian đối lập: quê mình - quê người. Cái tôi luôn là kẻ
trôi dạt từ miền không gian này đến miền không gian kia như những chuyến giang
hồ nhưng thực ra là những chuyến lưu đày, vừa bởi chuyện áo cơm, vừa do sự đẩy
đưa của cảnh đời, sự run rủi của số phận. Đến đâu cũng chỉ toàn lỡ dở. Chân bước
tới quê người, lòng gửi nơi quê nhà. Quê người có khi được gọi theo đúng lời kẻ
quê là "thiên hạ", có khi là "xứ người": "Bơ vơ trong
xứ người xa lạ", "Mấy thu mưa gió ngoài thiên hạ", "Quê người
đắng khói, quê người cay men". Trong cái gọi là "quê người" ấy,
đô thị là vùng nhân sinh gây sầu tủi nhất. Có lẽ trong cảm nhận của cái tôi
kia, đô thị là hoàn toàn tương phản, thậm chí thù địch với thôn hương. Nếu quê
mình là thiên đường thì quê người là chốn lưu đày. Nếu quê mình là nơi đoàn tụ,
thì quê người là chốn lưu lạc. Nếu quê mình là vun trồng nuôi dưỡng, thì quê
người, nhất là đô thị lại tàn phá tiêu huỷ. Nếu quê mình là thanh đạm bình ổn,
thì đô thị quê người là nhiễu loạn bấp bênh. Nếu quê mình là thôn ổ nghĩa tình,
thì quê người là "cái biển tiền người ta". Nếu quê mình là đất lành
nôi ấm, thì quê người là cái "sòng đời". Hình tượng thế giới trong
thơ Nguyễn Bính là sự đối lập ấy, nhiều khi cực đoan đến gay gắt. Coi cái tôi
Nguyễn Bính là cái - tôi - phản - đô - thị, một phần không nhỏ còn bởi chính điều
đó.
Quê mình, quê nhà của Nguyễn Bính hiện lên tập trung nhất ở
gương mặt của thôn Vân, từ cảnh sắc đến con người, từ nhịp sống đến mọi nguồn sinh
thú, tất tật đều bình dị mà thần tiên: "Thôn Vân có biếc có hồng / Hồng
trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều / Đê cao có đất thả diều / Giời cao lăm lắm
có nhiều chim bay / Quả lành nặng trĩu từng cây / Sen đầy ao cá cá đầy ao sen /
Hiu hiu gió quạt trăng đèn / Với dăm trẻ nhỏ thả thuyền ta chơi / Ăn gỏi cá
đánh cờ người / Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân./ Ơi thôn Vân hỡi thôn
Vân / Nơi nao kết dải mây Tần cho ta / Từ nay khi nhớ quê nhà / Thấy mây Tần biết
đó là thôn Vân.". "Ở đây vô số những trời xanh / Và một con sông chảy
rất lành / Và những tâm hồn nghe rất đẹp / Từng chung sống dưới mái nhà tranh /
Sao chẳng về đây múc nước sông / Tưới cho những luống có hoa trồng / Xuân sang
hoa nụ rồi hoa nở / Cánh bướm vờn hoa loạn phấn hương / Sao chẳng về đây có bạn
hiền / Có hương có sắc có thiên nhiên / Sống vào giản dị ra tươi sáng / Tìm thấy
trong lòng một cảnh tiên.". Ở chính giữa thôn Vân thân thương ấy là
"Nhà tôi": "Nhà tôi có một vườn dâu / Có giàn đỗ ván có ao cấy cần
? Hoa đỗ ván nở mùa xuân /Lứa dâu tháng tháng, lứa cần năm năm / Em tôi là gái
mười lăm / Quét sân chạy chợ chăn tằm sớm trưa / Thầy tôi dạy học chữ nho / Dạy
dăm ba đứa học trò loanh quanh / Có gì, tiếng cả nhà thanh / Cơm ăn đủ bữa, áo
lành đủ thay...".
Có thể nói đó là thiên đường chân quê của Nguyễn Bính. Người
ta vẫn thấy, trong dòng thơ quê, nổi lên những gương mặt Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá
Lân, Anh Thơ... Ai cũng viết về quê với những nét thật trìu mến. Đoàn Văn Cừ trội
về tập tục quê, Bàng Bá Lân nổi về sinh hoạt quê, Anh Thơ vẫn được coi là mạnh
về cảnh quê. Còn Nguyễn Bính dường như thâu gồm tất cả vào mình thành một thứ
là hồn quê. Nguyễn Bính không thiếu cảnh sắc, không thiếu phong tục, cũng không
thiếu đời sống trốn quê kiểng. Nhưng viết về bất cứ cái gì, Nguyễn Bính cũng gọi
dậy cái hồn. Chính niềm thiết tha khắc khoải của một kẻ tha hương đã là ngọn
gió nâng đỡ cho cánh diều hồn quê trong Nguyễn Bính luôn bay lượn. Chính niềm
khắc khoải ấy mới mang lại hồn vía cho mỗi nét bút viết về chân quê của Nguyễn
Bính. Căn nhà kia, mảnh ao kia, mảnh vườn kia, luống hoa, ruộng dâu nữa... có
gì ghê gớm đâu mà bỗng nhiên lay động đến vậy? Đúng thế, chúng không được vẽ
theo lối mĩ lệ hoá, tân kì hoá. Nhưng chúng sống trong một khí quyển riêng, hiện
ra trong một vầng sáng riêng của mảnh hồn Nguyễn Bính. Mảnh hồn mang trong nó
những dự cảm lo âu, những nỗi bất an của kẻ tha hương, nỗi bơ vơ của kẻ mất
thiên đường. Nó chỉ còn biết tìm ở chốn kia, ở những thứ quê mùa kia sự bấu víu
duy nhất. Đó cũng là mảnh hồn mồ côi bản quán hương thôn.
Có lẽ, cố viên là điểm tụ day dứt nhất của hồi ức cố hương.
Viết về Nguyễn Bính, nhiều người đã đề cập đến vườn, như một môtip lặp đi lặp lại,
một tín hiệu mang nhiều giá trị thẩm mĩ của thi sĩ. Điều ấy cho thấy việc tiếp
cận Nguyễn Bính đã đi vào chiều sâu. Tiếc rằng, việc hình dung về nó đôi khi lại
chệch ra ngoài vùng thi cảm Nguyễn Bính. Đúng là đối với một thôn dân, nếu ruộng
nghiêng về chức năng sản xuất, thì vườn lại nghiêng về chức năng văn hoá. Nhưng
dùng kí ức tập thể của tộc người Việt để giải thích, rằng quá trình dịch chuyển
của người Việt là đi từ vườn xuống ruộng, theo nguyên lí tâm linh cái gì cũ hơn
thì thiêng hơn, nên Nguyễn Bính viết về vườn nhiều hơn ruộng, thì đã thông thái
một cách vô lối. Thơ Tagor (Ấn Độ), Thơ Lorka (Tây Ban Nha), thơ Puskin,
Êxênhin, Paxternac (Nga), thơ Ôcxtaviô Pat (Mêhicô), thơ Rôngxa,Veclen,
Apôline, (Pháp)... cũng đầy rẫy những vườn thì sao? Rồi cũng là thi sĩ Việt
nam, những Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa... viết
rất nhiều về ruộng thì sao? Trong họ không có kí ức tập thể của người Việt ư?
Tôi cho rằng cần phải tìm nguyên nhân ở chỗ khác. Trước hết là từ đặc trưng của
khuynh hướng Lãng mạn. Cũng hướng tới cái Khổ của con người, nhưng khuynh hướng
lãng mạn chưa quan tâm nhiều đến cái khổ của lao động. Lao động chưa phải là đề
tài thực sự của lãng mạn. Cái họ quan tâm nhiều hơn là nỗi khổ vì cô đơn của
con người. Nếu quan tâm đến nỗi khổ trong lao động, hẳn nó phải nói đến ruộng
nhiều hơn, vì nỗi nhọc nhằn trong vườn chẳng thấm gì so với trên ruộng. Đây
cũng là điều phân biệt Nguyễn Bính với ca dao dân ca. Và quan trọng hơn là
nguyên nhân từ chính Nguyễn Bính. Là thôn dân, nhưng Nguyễn Bính thuộc tip thôn
dân - nho sinh. Đời sống hàng ngày ít gắn với ruộng, trái lại, gắn với vườn nhiều
hơn. Đồng thời, nó cũng còn là cái tạng riêng của mỗi tâm hồn nữa. Có thể cùng
trong một môi trường sinh trưởng, nhưng người này nặng nợ với vườn, người kia lại
tha thiết với ruộng. Bởi vậy mà chúng có những vị thế khác nhau trong ký ức và
trong thi ca từng người.
Nói ngay Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, cả ba đều có những
ám ảnh vườn, nhưng mỗi vị một khác. Với Xuân Diệu là vườn tình, nó có bóng dáng
của những hoa viên, nơi dành riêng cho luyến ái trần thế. Với Hàn Mặc Tử, vườn
lại là "chốn nước non thanh tú", có bóng dáng những vườn Êđen trong
Kinh thánh, hay Đào nguyên trong văn chương Đạo giáo. Dù là tình tiên duyên tục
thì vẫn cứ là vườn tình. Còn Nguyễn Bính, vườn là quê. Dù nhiều khi gắn với giấc
mơ quan trạng, về thời trước (Thời trước, Xóm ngự viên, Bóng bướm, Truyện cổ
tích, Hoa và rượu...), thì vườn vẫn là gốc quê, chân quê: "Hoa chanh nở giữa
vườn chanh / Thầy u mình với chúng mình chân quê". Vườn là cố hương:
"Sương phủ lưng đồi rặng núi xa / Thương ôi, lữ khách nhớ quê nhà / Mấy
thu mưa gió ngoài thiên hạ / Vườn cũ còn chăng cúc nở hoa?". Vườn là cái
nôi của tình mẫu tử: "Vườn cũ hoa mai chắc nở rồi / Cánh mai an ủi đến xa
xôi / Mẹ ơi! một sớm thăm hoa rụng / Nhặt giữ giùm con dăm cánh thôi!". Vườn
là hương hoả tiên tổ, là chốn đi về, là nơi bén rễ đầu tiên, cũng là nơi bám rễ
cuối cùng của đứa con trôi dạt chân trời góc biển: "Xin thầy mẹ cứ yên tâm
/ Đừng thương nhớ một vài năm con về / Thầy ơi đừng chặt vườn chè / Mẹ ơi đừng
bán cây lê con trồng". Trong lời van xin ấy, ta có thể nghe thấy rõ nỗi bất
an của một linh hồn trước nguy cơ bị bật gốc khỏi cố hương, nguy cơ bị tước đi
điểm bấu víu cuối cùng. Ta có thể thấy rõ hơn về ý nghĩa của cố viên đối với
Nguyễn Bính, khi cái tôi ấy có ý thức rành mạch mà chua xót về vườn nhà mình
(quê mình) và vườn nhà người (quê người): "Em giồng được một cây lê / Hẹn
bốn năm nữa thì về hái hoa / Nhưng là vườn đất người ta ?Mình là khách trọ một
và đêm thôi". Dù hoa có đẹp thì lòng vẫn cứ dửng dưng, lạnh lẽo, vì đó là
hoa vườn người, nở cho người, mang tết đến cho người, chứ đâu phải cho mình:
"Hoa mai quán trọ trắng như sương / Chen với hoa đào dưới khóm dương...
Quán trọ xuân này hoa lại nở / Lại ngồi xem tết tết người ta". Nỗi chua
xót này là mối tâm cảm của một lữ thứ, một kẻ đơn côi. Nhưng ta cũng thấy âm u ẩm
ướt trong ấy, mối xúc động kiểu tâm lí tư hữu thuộc con người tiểu nông - chỉ
thực sự thấy an vui khi nó là "của mình". Lãng mạn Nguyễn Bính, căn bản,
vẫn là lãng mạn tiểu nông.
Mà, nhớ về vườn thì không thể vắng thiếu những cây cỏ thảo mộc
thân thương. Đọc thơ Nguyễn Bính có thể thấy hiện tượng phổ biến này: mỗi thi
phẩm thường có một nền tảng không gian vườn tược, và mỗi một mối tình hay gắn với
một cái cây. Vườn kia, cây kia có khi là nơi nảy nở, có khi là chốn tiêu tan,
có khi là chứng nhân, có khi là nạn nhân của một mối duyên lỡ dở nào đó. Nào là
cây chanh: "Hoa chanh nở giữa vườn chanh", cây cam: "Ra vườn nhặt
những hoa cam rụng / Về bỏ đầy nồi cất nước hoa", cây bưởi: "Bờ rào
cây bưởi không hoa / qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo", cây mai:
"Nhà nàng ở gốc cây mai trắng", cây dương: "Nhà ta ở dưới gốc
cây dương", nào là cây cau, giàn giầu: "Nhà em có một giàn giầu /Nhà
anh có một hàng cau liên phòng", cây chè: "Sáng giăng chia nửa vườn
chè / Một gian nhà nhỏ đi về có nhau", cây dâu: "Cành dâu cao lá dâu
cao / Lênh đênh bóng bườm trôi vào mắt em", cây mùng tơi: "Nhà nàng ở
cạnh nhà tôi / Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn", rồi thì cây xoan:
"Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay / hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy...Bữa ấy
mưa xuân đã ngại bay / Hoa xoan đã nát dưới chân giày", cây lê:
"Tháng ngày qua cửa buồng the / Chị ngồi nhặt cánh hoa lê cuối mùa",
mà chả ít khi là cây không tên: "Ngày qua ngày lại qua ngày / Lá xanh nhuộm
đã thành cây lá vàng"... Không ít tứ thơ được lập theo cách xoay quanh những
cái cây nào đó (Chân quê, Qua nhà, Tương tư, Mưa xuân, Cô hái mơ, Người hàng
xóm, Thời trước v.v...).
Lối cấu tứ ấy khiến cho không gian trong mỗi bài thơ Nguyễn
Bính từa tựa như một sân khấu nhỏ, trên đó bài trí một cảnh quê, mà ở trung tâm
của cảnh bao giờ cũng phải là một cái cây nào đó, vừa để tạo cảnh trí, vừa như
một đạo cụ để nhân vật của một mối duyên quê lỡ dở tựa vào mà thổ lộ tâm tư. Ví
như thi phẩm "Ngày trước", cấu tứ xoay quanh vườn chè, "Mưa
xuân" xoay quanh hoa xoan, "Cô hái mơ" xoay quanh rừng mơ, hay
"Qua nhà" xoay quanh cây bưởi: Thi phẩm mở ra những hứa hẹn với cây
bưởi đầy hoa: "Lối này lắm bưởi nhiều hoa / Đi vòng để được qua nhà đấy
thôi ", nhưng rồi lỡ dở. Nàng đi lấy chồng mất rồi, thế là bưởi ta cũng
không ra hoa nữa. Những thứ khác cũng buồn lây mà cô quạnh trống không: "Bờ
rào cây bưởi không hoa / Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo". Đặc điểm này
cho thấy phần sâu sắc nhất trong hồn thơ Nguyễn Bính hoàn toàn thuộc về đất
quê. Quê không chỉ đi vào cảnh vào tình, mà đã can thiệp rất sâu vào cấu trúc
hình tượng cũng như cấu tứ của các thi phẩm.
Niềm thiết tha với cố hương cũng đem lại cho hồn thơ Nguyễn
Bính một phân lập tương ứng về thời gian. Trong bốn mùa, Nguyễn Bính nghiêng về
Xuân hơn cả. Mùa hạ thường đem lại cho thi sĩ những ức chế, mùa thu mùa đông khắc
sâu niềm mất mát khổ đau. Chỉ có mùa xuân mới thực là mùa của hồn thơ Nguyễn
Bính. Điều này cũng dễ hiểu. Mùa xuân là lúc thời gian bắt đầu một vòng quay mới.
Đất quê lại vào kỳ mang mẻ sinh sôi. Cả xứ đồng lại khởi sắc. Thiên nhiên hồi
sinh sau những ngày tháng già cỗi tiêu điều. Lộc xuân nảy nở trong đất, trong
cây, trong hồn người. Sau những nhọc nhằn vất vả, người quê được chút mát mặt
đón xuân. Người ta tạm quên đi những nỗi lo đồng tiền bát gạo tháng ba ngày tám
để sống trong rộn ràng lễ hội. Những đêm tình mùa xuân đây đó nơi những đám hội
chèo, bên những vệ đê, trong những vườn cam, dưới những gốc bưởi... Mùa xuân
còn là mùa của cuộc đoàn tụ thiêng liêng đối với kẻ tha hương. Nhất là vào dịp
tết, vẫn cứ trôi dạt xứ người thì cái tôi ấy càng thấm thía nỗi đơn côi. Những
lúc như thế, tỉnh rượu tàn canh, tiếng gọi cố hương càng dội sâu vào cõi lòng
trống hoang cô quạnh. Mùa xuân là mùa của nỗi hoài hương dằng dặc (Xuân tha
hương, Xuân lại tha hương, Xuân vẫn tha hương...). Ta hiểu vì sao, cái duyên
quê của cố hương trong thơ Nguyễn Bính chỉ đậm đà vào lúc xuân về: "Đã thấy
xuân về với gió đông/ Với trên màu má gái chưa chồng/ Bên hiên hàng xóm cô
hàng xóm/ Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong/ Từng đàn con trẻ chạy xun xoe/
Mưa tạnh trời quang nắng mới hoe /Lá nõn cành non ai tráng bạc/ Gió về từng trận
gió bay đi/ Thong thả nhân gian nghỉ việc đồng/ Lúa thì con gái mượt như
nhung/ Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng/ Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng/
Trên đường cát mịn một đôi cô/ Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa/ Gậy trúc dắt
bà già tóc bạc/ Tay lần tràng hạt miệng nam mô".
Có thể nói, khi phân lập thành quê mình - quê người, Nguyễn
Bính đã có những quan niệm thật dứt khóat. Quê người có thể có các mùa, nhưng
không thể có mùa xuân. Đặc biệt, khi quê người lại là đô thị, kinh kì thì nhất
định: "Kinh kì bụi quá xuân không đến". Chẳng những không có xuân, mà
đó còn là chốn chôn vùi những mùa xuân: "Giữa nơi thành thị gió mưa phai /
Chết dần từng nấc, rồi mai mốt / Chết cả mùa xuân, chết cả đời". Mùa xuân
chỉ về với quê mình. Mùa xuân là độc quyền của quê mình. Quê mình như một xứ sở
vĩnh viễn xuân. Đó không hẳn là sự thiên vị trong cảm nhận thời gian của cái
tôi tiểu nông nhất nhất coi "làng mình là hơn cả". Xét đến cùng, nó
xuất phát từ mặc cảm lỡ dở, mặc cảm đơn côi của một con chim lìa đàn "bơ
vơ trong xứ người xa lạ", hoài niệm cố hương đã làm cho mảnh đất quê hiện
lên với bao ưu ái. Như là nơi cứu rỗi cho linh hồn côi cút bơ vơ.
Đối với Nguyễn Bính, chất thơ quyến rũ nhất của đất trời xuân
chính là mưa xuân. Mưa xuân là đặc sản của thiên nhiên xứ bắc, cũng là đặc sản
của hồn thơ Nguyễn Bính. Hoàn toàn có thể gọi Nguyễn Bính là thi sĩ của mưa
xuân. Trong màn mưa xuân, cố hương hiện lên thân thương thế mà cũng thần tiên đến
thế. Trong số những thi sĩ viết về mưa xuân, chỉ có Nguyễn Bính mới có cái ngơ
ngác này: "Nào ai nhìn thấy rõ mưa xuân / Tơ nhện vừa giăng tơ trắng ngần
/ Bươm bướm cứ bay không ướt cánh...Lá ngửa lòng tay hoa đón mưa", cũng chỉ
có Nguyễn Bính nghe ra giọng chuông ẩm ướt, mới nhận thấy thời gian luyến không
gian, luyến cảnh bằng màn tơ phảng phất lơ lửng, nửa như sương đậm nửa mưa thưa
ấy: "Làng bên ẩm ướt giọng chuông mờ / Chiều xuân lưu luyến không đành hết
/ Lơ lửng mù sương phảng phất mưa". Không biết Nguyễn Bính phải cám ơn mưa
xuân hay mưa xuân phải mang ơn Nguyễn Bính, khi những lời thơ mang được hồn mưa
nhập vào hồn Việt. Nhất là những câu: "Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay / Hoa
xoan lớp lớp rụng vơi đầy". Đọc những câu như thế mới thấy ngay trong cả
những gì mơ hồ không đâu nhất, vẫn cứ rưng rưng lên những điệu hồn quê, phơi phới
lên những nét duyên quê. Quyện trong hơi thơ ấy có nhịp tim đầy hi vọng của cô
gái quê sắp đi đến cuộc hò hẹn đầu đời, mà xem ra còn lẫn cả nỗi phấp phỏng của
một cái tôi vốn đầy dự cảm lo âu về những lỡ dở cứ đợi con người đâu đó nữa.
Tôi muốn nói, ngay trong từng hạt mưa xuân hư thoảng đương tô điểm cho cố
hương, cũng mang một phần hồn cái tôi lỡ dở. Nó khiến cho niềm cố hương tha thiết
đến se lòng.
[1]Chữ dùng của Hoài Thanh, trong Thi nhân Việt nam
[2]Chữ của Hoài Thanh, trong Thi nhân Việt nam
[3]Phan Ngọc, “Ảnh hưởng văn học Pháp tới văn học Việt nam
trong giai đoạn 1932-1940”, Tạp chí Sông Hương, số 3+4/1992.
[4]Chữ dùng của Lưu Trọng Lư, Bài diễn thuyết tại nhà khuyến
học Qui nhơn (tài liệu đã dẫn)
[5]Phải nói là "của cái tôi ấy" là để tránh đánh đồng
con người thi sĩ ngoài đời và cái tôi thi sĩ trong thơ. Nhà thơ Trúc Đường, anh
trai Nguyễn Bính, tiết lộ rằng: Nguyễn Bính chỉ hiện ra như một nạn nhân đáng
thương trong thơ thôi. Còn ngoài đời, Nguyễn Bính "gặt hái" không phải
là ít.
[6]Tô Hoài, “Lời giới thiệu”, Tuyển tập Nguyễn Bính, NXB Văn
học Hà nội, 1986, tr.19-23.
Văn chỉ, 1997-2002
Chu Văn Sơn
Nguồn: Ba đỉnh cao Thơ Mới:
Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử.
Tiểu luận, phê bình của Chu Văn Sơn.
Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003.
Theo https://www.trieuxuan.info/
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét